Hôm nay cá chết. Và ngày mai.

 Hôm nay cá chết. Và ngày mai.

Phạm Đình Trọng

Muốn nuốt chửng vĩnh viễn dải đất Việt Nam thì phải xóa sổ dân tộc Việt Nam. Gần ngàn năm đô hộ xứ Giao Chỉ, Đại Hán âm thầm và quyết liệt loại trừ dân tộc Việt bằng đồng hóa và đã thất bại.

Dù bị hòa máu, pha loãng dòng máu Việt trong dòng máu Hán. Dù kẻ sĩ, tinh hoa người Việt bị giết, bị bắt đưa về phương Bắc. Dù văn bia điển tích gốc gác người Việt bị đập, gia phả bị đốt, bị vơ vét đưa đi mất tích. Dù bao nhiêu thế hệ người Việt nối tiếp nhau phải học lễ nghi, phong tục, văn hóa Đại Hán. Nhưng văn minh sông Hồng ở ca dao, tục ngữ, ở lời hát ru của mẹ, ở câu chuyện cổ tích của bà, ở lịch sử dân tộc, ở huyết thống ông cha, ở khí thiêng sông núi đã lặn trong máu người Việt không bao giờ phôi phai. Văn minh sông Hồng không chói lọi nhưng đặc sắc và bền bỉ vẫn song song tồn tại cùng nền văn minh Đại Hán. Nền văn minh sông Hồng còn, dân tộc Việt Nam còn.

Thời tối tăm mông muội đã không thể đồng hóa. Trong ánh sáng văn minh, trong kỉ nguyên công nghệ và tin học, trong thế giới phẳng càng không thể thôn tính bằng đồng hóa. Nung nấu tham vọng “Bình thiên hạ” của những hoàng đế Đại Hán, Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Đào, Tập Cận Bình không thể đi lại con đường loại bỏ người Việt bằng đồng hóa, bằng cái chết tâm hồn thì phải loại bỏ người Việt bằng cái chết thể xác.

Mao Trạch Đông dùng ý thức hệ giai cấp kích động những người cộng sản Việt Nam đẩy dân tộc Việt Nam vào những cuộc chiến tranh liên miên. Hết “đánh Mĩ đến người Việt cuối cùng”, “đánh cho Mĩ cút”, lại người Việt giết người Việt, “đánh cho ngụy nhào”. Rồi người Việt truy bức, đấu tố, hãm hại người Việt ngay trên đất Việt và người Việt truy đuổi người Việt đến cùng trời cuối đất. Nước Việt tan hoang. Người Việt, kẻ chết thây rải kín đất, mộ bia nghĩa trang liệt sĩ trắng xóa khắp nước. Kẻ sống li tán tan tác khắp năm châu bốn biển.

Mao Trạch Đông diệt người Việt bằng chiến tranh bằng cái chết tức thì. Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Đào, Tập Cận Bình diệt người Việt bằng chất độc trong miếng ăn, trong nước uống, trong đồ dùng làm người Việt tuyệt tự không thể sinh sản và mần bệnh hiểm lặn vào cơ thể mang cái chết chậm đến không thể chữa chạy!

Nhìn hình ảnh xác cá biển chết rải trắng trải dài hàng trăm kilomet lập lờ mép nước biển từ Hà Tĩnh đến tận Quảng Nam do chất độc China tháo xuống biển từ Vũng Áng, Hà Tĩnh, mảnh đất nhượng dài hạn hơn nửa thế kỉ cho người Tàu tôi lại nghĩ đến ngày mai của những người Việt Nam mang mần bệnh do nhiễm chất độc China đang sống lay lắt trên khắp dải đất Việt Nam.

Ôi, có phải số phận con cá ở dải biển miền Trung hôm nay là số phận người dân Việt ngày mai?

P.Đ. T.

Tác giả gửi BVN.

Lại Chuyện Tháng Tư

Lại Chuyện Tháng Tư

S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến

RFA

tuongnangtien

Tác giả câu thơ thượng dẫn là một chính khách rất tài tử, và vô cùng mờ nhạt. Không mấy ai nhớ rằng ông đã từng giữ những chức vụ như Thủ Tướng, Phó Tổng Thống, và Tổng Thống trong thời Đệ II Cộng Hoà – ở miền Nam Việt Nam.

Dân chúng ở miền đất này thường chỉ nhớ đến Trần Văn Hương như một người lập dị. Ổng hay đi làm bằng xe đạp, trong thời gian là Ðô Trưởng Sài Gòn, và thỉnh thoảng lại sáng tác ra những câu thơ (hơi) kỳ cục:

Ngồi buồn gãi háng, dái lăn tăn…

Ở miền Bắc phần lớn quí vị chính khách đều hành nghề cách mạng một cách bền bỉ, liên lỉ và chuyên nghiệp hơn nhiều. Họ cũng sính chuyện thơ văn hơn, và cách họ làm thơ (hoặc viết văn) cũng gây lôi thôi phiền phức nhiều hơn – cho cả đống người!

Khi ngồi buồn, họ không gãi háng. Lúc rảnh rỗi, họ cũng không chịu viết văn hay làm thơ chỉ để đọc chơi thôi. Văn thơ của họ khiến cho cả nước phải bận lòng, và không ít người phải bỏ mẹ, hay bỏ mạng! Xin đơn cử một thí dụ, một câu thơ nổi tiếng hơn, của một chính khách tăm tiếng (và tai tiếng) hơn nhiều:

Bỗng nghe vần thắng vút lên cao…

Nói theo ngôn ngữ của binh pháp thì tác giả câu thơ vừa dẫn, ông Hồ Chí Minh, là một người cư an tư nguy . Ông Trần Văn Hương thì ngược lại. Ổng cư nguy tư an. Nói cách khác, và nói theo kiểu miền Nam, là thằng chả lè phè hết biết luôn!

Nghiêm túc, khẩn trương, hiếu chiến và hiếu thắng…không phải là quan niệm sống riêng của ông Hồ. Thi
đua lập chiến công dâng Đảng, đánh cho Mỹ cút đánh cho ngụy nhào, một người làm việc bằng hai, nghiêng đồng cho nước chẩy ra ngoài… là chỉ thị của “trên” đưa xuống và nửa nước bắt buộc phải (triệt để) tuânhành.

Lè phè cũng không phải là thái độ sống chỉ có nơi ông Trần Văn Hương. Ðó là cung cách chung của hầu hết người dân miền Nam. Sự khác biệt giữa ông Trần Văn Hương và dân chúng, có chăng, chỉ là mức độ.

Không mấy người dân miền Nam, lúc buồn, chịu ngồi gãi háng (suông) như ông Tổng Thống. Họ thường vừa gãi háng vừa nhậu lai rai (vài xị) cho vui – nếu là đàn ông. Họ đánh tứ sắc, đi coi cải luơng, hoặc đi cầm đồ để mua sầu riêng ăn chơi cho đỡ ghiền – nếu là đàn bà, ở đô thị. Và họ đi Hồng Kông hay Nhựt Bổn để mua đồ lót và son phấn, nếu là bà lớn. Họ đi buôn lậu (không chừng) nếu là ông lớn. Và cả đám
đều hân hoan chơi tạt lon, thả diều, đá banh, đá bóng, đá dế, đá cầu, đá kiện, đá cá lia thia hay lắc bầu cua cá cọp – nếu là con nít nhỏ, ở thành phố.

Chuyện đánh đấm là “chuyện riêng” của môt giới người, tụi lính. Hứng chịu bom đạn, tai ương của chiến tranh là nỗi bất hạnh riêng của một số người khác nữa – đám nông dân.

Những chiến dịch hay phong trào hoàn thành kế hoạch nhỏ, nhi đồng cứu quốc, thay trời làm mưa, quyết tâm thu hoạch vượt chỉ tiêu vụ này vụ nọ… nếu phát động ở miền Nam (e) sẽ không có người tham gia, và tác giả của chúng – chắc chắn – sẽ bị dân chúng cũng như báo chí chửi cho… tắt bếp!

Chuyện Nam – Bắc đánh nhau kết thúc ra sao, vào ngày 30 tháng tư năm 1975, mọi người đều rõ. Viết thêm nửa chữ cũng thừa.

Cuộc chiến tàn. Theo sự hứa hẹn của quí vị lãnh tụ (của phe thắng trận) thì từ đây ta sẽ xây dựng đất nước gấp muời lần hơn, ta cũng sẽ đi tắt đón đầu nhân loại, và ta sẽ chuyển đổi từ ăn no mặc ấm qua ăn sang mặc đẹp…

Chuyện dân Việt ăn mặc (sang trọng và đẹp đẽ) ra sao để từ từ rồi tính tới nhưng riêng về cách họ dùng lon, thay gáo, uống nước thì ngó bộ quá tốn công và rất…cầu kỳ – theo như ghi nhận của nhà văn Bùi Ngọc Tấn:

“Lần về phép này Bá có thêm một thứ quà đặc biệt văn minh khác: Những vỏ đồ hộp nước giải khát các loại. Các mầu xanh, đỏ, hồng, da cam, vàng, lon Heineken, lon Coca Cola, Pepsi Cola, những lon Tiger, San-Miguel, những lon nước ngọt đã uống cạn mà trong những lần xuống tầu đi nước ngoài anh lượm được cho vào túi ni lông mang về…

Anh Vận chọn ra những vỏ đẹp nhất, mỗi loại một chiếc, không móp, không méo, đem ra giếng súc rửa sạch rồi bầy vào tủ. Và nhặt bốn vỏ lon khác, mỗi chiếc một mầu bảo lũ trẻ con mài trên nền xi măng trong nhà. Mấy đứa trẻ lao vào mài theo đúng hướng dẫn của anh. Tiếng sào sạo sạo sạo ghê người. Chẳng mấy chốc, cái nắp hộp rời ra. Anh xếp bốn chiếc vỏ hộp lên bàn, nở nụ cười mãn nguyện:

– Làm cốc uống nước…

Những chiếc vỏ hộp trên bàn, trong tủ, những dấu vết ấy của văn minh làm nhà anh cứ sáng trưng lên, khác hẳn mọi nhà chung quanh. Nhà anh đã có hơi hướm của một thế giới khác, một thời đại khác khi các nhà chung quanh vẫn còn đang triền miên thời làm nương, thời lúa nước.

Và đến khi lũ trẻ được thoải mái chơi nghịch những vỏ lon còn lại mới thật tưng bừng. Đúng là một ngày hội…” (Bùi Ngọc Tấn. Biển Và Chim Bói Cá. Hội Nhà Văn. Hà Nội: 2008, 436 – 437).

Điều kiện sống, cũng như niềm vui “tưng bừng” trong “ngày hội” của dân Việt, như vừa được mô tả – dường như – có làm cho một số người cảm thấy bất an, hoặc không được hài lòng cho lắm. Tác phẩm Biển Và Chim Bói Cá (trong một buổi hội thảo, do công ty Nhã Nam tổ chức, vào ngày 20 tháng 3 năm 2009) đã được “bình” và “phê” như sau:

“… chi tiết rất quan trọng trong tiểu thuyết. Nhưng đưa quá nhiều chi tiết mà chưa được tổ chức một cách chặt chẽ như Bùi Ngọc Tấn, theo anh không hẳn đã là một thành công. Thanh Sơn cũng nhấn mạnh, sự ngồn ngộn của chi tiết khiến độc giả rất khó đọc, rất mệt để đọc đến những dòng cuối cùng.”

Có lẽ, người ta chỉ cảm thấy bớt mệt (và thở phào nhẹ nhõm) khi Hà Linh – người viết bài tường thuật thượng dẫn – cho biết thêm rằng “Biển và chim bói cá lấy bối cảnh thời bao cấp.” Thiệt là mừng hết lớn.

Đó là một thời đã qua rồi!

Lịch sử đã sang trang. Chuyện cầu cạnh, bon chen, cậy cục, vay muợn, chạy chọt cho có cơ hội được bước xuống tầu viễn dương – làm một chuyến viễn du, hay nói một cách lịch sự và lịch sử là Đông Du – đi đến những chân trời xa lạ (để mang về những cái chai và lon.. rỗng) không còn phải là đặc quyền của riêng một giới người nào nữa.

Hai muơi năm sau, kể từ lúc “Đảng dũng cảm và quyết tâm đổi mới,” vào năm 2006, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng còn lớn tiếng hô hào toàn dân “hãy bước ra biển lớn.” Mệnh lệnh của ông đã khiến cho dư luận (hết sức) xôn xao và (vô cùng) phấn khích – trong một thời gian rất dài – qua diễn đàn Vươn Ra Biển Lớn, trên Tuổi Trẻ Online.

Nhiều năm sau nữa, sau khi thuyền (đã) ra cửa biển, cuộc sống – xem chừng – cũng không khác trước là bao. Hãy thử đọc một đoạn văn khác, của một ngòi viết khác, về sinh hoạt của một vùng đất khác – ở Việt Nam – bây giờ:

“Cả bản xôn xao khi thấy người lạ xuất hiện. Đám trẻ con hầu hết không quần áo, hoặc trên mình chỉ mang một trong hai thứ, mặt mày chúng trông bẩn thỉu, lem luốc và chi chít vết ruồi vàng bọ chó cắn.

Tôi hỏi thăm đường đến nhà mấy giáo viên cắm bản, nhưng chẳng có ai biết nói tiếng Kinh cả. Nhìn về phía cuối bản, tôi bỗng thấy một lá cờ đỏ bay phấp phới, đoán rằng đấy chắc là khu vực lớp học, tôi lại nặng nề lê bước về phía đó. Mấy thầy cô giáo thấy tôi xuất hiện, họ không khỏi ngỡ ngàng. Với họ, sự xuất hiện của người Kinh ở bản biên giới này hình như hiếm lắm…

Có lẽ cuộc sống người dân tộc La Hủ ở Pa Ủ cũng đơn giản như chính những ngôi nhà mái tranh vách phên của họ. Đơn giản đến lo ngại như những liếp phên cứ rung lên bần bật bởi gió rừng. Ở những túp lều bé nhỏ đến chật chội vì quá đông người đó, mỗi nơi lại có một câu chuyện về hoàn cảnh và những số phận con người. Cuộc sống của mỗi gia đình ngày hai bữa sáng, tối phải lót dạ một cách dè dặt với canh sắn, ngô đồ, còn măng và rau sắn thì dường như ngự trị bữa
ăn…, để có một nồi cơm độn sắn cũng hết sức khó khăn!
(“Thương Lắm Những Búp Non Ở Trên Cành”) Mạnh Hà, phóng viên TTXVN tại Lai Châu).

Ảnh: Báo Lai Châu

Thôi chết mẹ! Vậy là khi tầu hạ thủy – vì lu bu nhiều chuyện quá – Đảng và Nhà Nuớc đã quên (hú) những người dân ở miền sâu, miền xa, miền rừng núi rồi. Đúng
không?

– Thưa không! Cả đống còn đang đứng (lóng ngóng) trên bờ, chớ đâu có riêng chi mấy đám dân bản địa.

Trong một cuộc chất vấn dành cho những đại biểu quốc hội, Bộ Trưởng Nông Nghiệp Cao Đức Phát cho biết ở thôn quê “vẫn còn hàng trăm nghìn đồng bào chỉ được ăn cơm khi ngày lễ, ngày tết, khi bị ốm!”

Như vậy là đám nông dân, ở miền xuôi, cũng bị bỏ lại luôn sao?

– Chắc bi họ đông quá nên mang theo (e) quá tải chăng?

– Thế còn đám công nhân?

Xin đọc qua đôi dòng tường thuật của ký giả Nguyễn Bay:

Một ngọn đèn dầu, cái giỏ nhựa đựng đồ nghề đấm bóp, giác hơi, chiếu cói, gối hoa trải sẵn hoặc chỉ là một tấm áo mưa. Thợ giác hơi quanh KCN Tân Tạo đa số là nữ với các ‘chiếu’ trên vỉa hè, ven đường, thậm chí chỉ một mô đất giữa ruộng; hoạt động từ 18g30 đến 3-4 giờ sáng…

Gần một năm nay, các “chiếu” giác hơi ngày một dài thêm hàng cây số (đường đi Long An, An Sương). Lúp xúp trong bụi cây, bờ cỏ, chúng tôi nhận ra nhiều thợ vốn là công nhân… Những khi tan ca, họ lẫn vào dòng thợ ‘chào hàng’… Tiền công 10.000 – 15.000 đồng/lần, bằng nửa ngày công… làm thợ.

Dẫy chiếu “ngày một dài thêm” vì vật giá mỗi lúc một tăng mà đồng lương thì không. Lương bổng công nhân Việt Nam không thể nâng cao hơn vì những người lãnh đạo ở xứ sở này đã lựa chọn một … quốc sách thấp – theo lời ông Hồ Xuân Lâm, trưởng phòng quản lý lao động các khu chế xuất – khu công nghiệp TP.HCM:

Chúng tôi đã có cuộc họp với Hiệp hội Doanh nghiệp Đài Loan và tư vấn cho họ hãy trả lương cao hơn để tránh đình công. Họ nói là rất muốn trả cao hơn nhưng không thể vì quy định lương của Chính phủ Việt Nam quá thấp, các đối tác nước ngoài dựa vào đó kềm giá đơn hàng nên có muốn cũng không thể tăng hơn được.

Nói tóm lại – và vẫn nói theo kiểu miền Nam – là thuyền đã ra cửa biển … mình ên! Nhắc đến miền Nam, tôi lại chợt nhớ đến những chuyến tầu (bay) vội vã rời khỏi Sài Gòn – vào tháng Tư, bốn muơi năm trước – năm 1975. Trên một số những con tầu này chỉ có qúi ông qúi bà tai to mặt lớn (cùng với của cải, thân nhân và gia nhân của họ) mà thôi.

Bây giờ, sau khi bước ra biển lớn, kiểm điểm lại cũng chỉ thấy duới thuyền không có ai khác – ngoài những kẻ cầm quyền, cùng với hành lý, thân nhân và gia nhân của họ. Thuyền đi càng xa, khoảng cách giàu nghèo (rõ ràng) càng rộng. Ông bạn Lê Diễn Đức gọi đó là sự đểu cáng thời vươn ra biển lớn.

Phải đốt cả dẫy Trường Sơn, phải hy sinh đến cái lai quần, và hàng chục triệu mạng người – thuộc mấy thế hệ kế tiếp nhau – chỉ để đổi lấy sự đểu cáng như thế thì (đ… mẹ) không chửi thề sao được chớ.

Sự khốn nạn là kim chỉ nam của chế độ?

Sự khốn nạn là kim chỉ nam của chế độ?

Blog RFA

VietTuSaiGon

22-4-2016

Ông Nguyễn Văn Quý. Nguồn: FB Phạm Nguyên Trường

Vì sao phải nói rằng sự khốn nạn là kim chỉ nam của chế độ? Có lẽ phải quay trở lại câu chuyện của hai người đàn ông gặp xui xẻo trong tuần qua, mặc dù đây không hẳn là câu chuyện điển hình về tính khốn nạn nhưng nó mới nhất và cũng là ví dụ sinh động về điều nay.

Câu chuyện thứ nhất: Ông Nguyễn Văn Tấn phải nộp phạt 17 triệu đồng vì chưa kịp trình giấy phép kinh doanh của quán Xin Chào mà chỉ mới trình giấy hẹn cấp phép kinh doanh. Và sau khi có đầy đủ giấy tờ kinh doanh thì ông bị công an và viện kiểm sát huyện Bình Chánh, Sài Gòn truy tố hình sự về an toàn thực phẩm trong lúc quán Xin Chào chưa có khách hàng nào bị ngộ độc thực phẩm hay bị ảnh hưởng sức khỏe vì ăn uống ở đây.

Và vụ thứ hai: Ông Nguyễn Văn Bỉ, một nông dân nghèo, đang sống trong căn nhà cấp bốn xây theo diện nhà tình nghĩa cất chòi nuôi vịt và cũng bị công an, viện kiểm sát Bình Chánh khởi tố hình sự vì đã cất chòi nuôi vịt không có phép và ông có thể bị ghép tội xây dựng nhà trái phép. Mặc dù việc xây dựng nhà trái phép cũng không phải là tội hình sự.

Ở các hai câu chuyện của ông Tấn và ông Bỉ có những điểm chung: Quyết định khởi tố do ông Nguyễn Văn Quý – Trưởng công an Bình Chánh ký và hoàn tất hồ sơ khởi tố bởi Viện kiểm sát huyện Bình Chánh; Cả hai ông đều bị khởi tố hình sự trong lúc mọi tình tiết vi phạm (nếu có) của hai ông đều không thể đi đến khởi tố hình sự; Cả hai ông đều là người lao động chân chính và bị hại bởi công an, viện kiểm sát.

Thử đặt ngược vấn đề: Tại sao gần đây, bất kỳ vụ việc gì cũng có thể bị hình sự hóa? Và những vụ hình sự hóa trên đây nói lên điều gì?

Ở câu hỏi thứ nhất, hỏi mà cũng là trả lời, chắc chắn sắp tới đây, ngành công an sẽ bằng mọi giá hình sự hóa tất cả mọi chuyện. Vì hơn bao giờ hết, lòng dân đã hoàn toàn trống rỗng với chế độ Cộng sản. Và đây là mối nguy lớn nhất của đảng Cộng sản Việt Nam. Người dân đã thấy rõ ruột gan của nhà cầm quyền, thậm chí họ hiểu rõ tâm tính của kẻ cai trị họ.

Ông Tấn, chủ quán Xin Chào dù có mù mờ cũng thừa hiểu rằng ông đang sống trong chế độ mà công an có thể viện bất kì lý do nào đó để hù dọa ông, mục đích hù dọa là để kiếm phong bì, mè nheo, vòi vĩnh. Nhưng ông đã chơi quá cứng, đã làm đúng theo những gì pháp luật qui định nên bọn họ không xơ múi được gì, chuyển qua chơi bẩn với ông. Chuyện này không lạ!

Còn ông Bỉ, chuyện này chắc chắn là ông bị hình sự hóa rồi. Vì kinh nghiệm những vụ như Đoàn Văn Vươn đã cho thấy người dân sẵn sàng cho nổ tung bình gas để bày tỏ chính kiến trước những bất công do nhà cầm quyền mang lại. Người dân sẵn sàng để cho bình gas và bom xăng nói thay cho nỗi uất ức, bất công mà họ đã gánh chịu.

Chính vì người dân không còn tin tưởng vào nhà cầm quyền, vào đảng lãnh đạo nên nỗi sợ hãi của đảng Cộng sản đang ngày càng lớn dần. Dùng thủ đoạn hay dùng những đòn bẩn để hại dân nếu nói đơn giản thì đó là biểu hiện của tính tiểu nhân, của kẻ hèn hạ nhưng nếu nói rộng ra trên một đất nước thì đó là nỗi sợ hãi và mặc cảm đã thành hình. Càng sợ hãi mất chế độ thì đảng cầm quyền càng trở nên hung tợn và càng mặc cảm nhân dân hết tin vào mình thì đảng Cộng sản càng trở nên đê hèn trong các thủ đoạn.

Và người ta càng dùng thủ đoạn bao nhiêu, càng dữ tợn bao nhiêu càng cho thấy có quá nhiều thứ lỗi tương đương đang được che giấu, bọc kín bấy nhiêu. Ví dụ như khi so sánh câu chuyện giữa quán Xin Chào và tập đoàn Tân Hiệp Phát, mặc dù khác nhau về cấp độ và nhiều vấn đề khác nhưng có chung một vấn đề là cung cấp thực phẩm và nước uống, đều liên quan đến chuyện ăn uống.

Chủ quán Xin Chào bị đẩy vào tình tiết hình sự mặc dù chưa có bất kì thức ăn hay thức uống nào của ông Tấn cung cấp cho khách hàng bị hỏng. Trong khi đó, Tân Hiệp Phát đăng ký kinh doanh hàng sản xuất từ nguyên liệu thuần Việt nhưng lại dùng hương liệu và nguyên liệu của Trung Quốc, tung ra thị trường hàng trăm sản phẩm lỗi, có nguy cơ xấu cho sức khỏe. Nhưng những ai tố Tân Hiệp Phát đều phải vào tù. Ở đây, chỉ có một vấn đề duy nhất là ông Tấn của quán Xin Chào không có cái dù che chở, còn Tân Hiệp Phát thì khác!

Kế đến, vụ ông Bỉ, giả sử ông Bỉ cố tình làm nhà ở trên diện tích đất che chòi vịt, thì tương đương vụ ông Bỉ có đến cả trăm vụ xây dựng nhà, biệt thự trong rừng cấm, trong khu bảo tồn quốc gia, trong khu quân sự từ Ba Vì cho đến Hải Vân. Và chắc chắn những biệt thự xây dựng trong Ba Vì hay Hải Vân không có giấy phép xây dựng.

Nhưng chủ của những căn nhà ở Ba Vì hay Hải Vân có bị gì đâu?! Thậm chí bắt họ dở nhà chưa chắc họ đã dở. Trong khi đó, một người nghèo đang sống trong căn nhà tình nghĩa, muốn che một cái chòi trên mảnh đất hoang, không phải là rừng cấm, cũng không phải là khu vực quân sự để nuôi vịt thì bị ghép tội hình sự để mang ra tố tụng.

Giả sử ông Bỉ đang là chủ tịch huyện Bình Chánh mà che một cái chòi nuôi vịt thì không chừng ông đã thành anh hùng lao động, thành tấm gương thanh liêm và cao quí của một đảng viên Cộng sản và được ca ngợi không hết lời. Rất tiếc ông Bỉ là một người nghèo, đến đất nuôi vịt cũng không thuê nổi nên mới sinh sự ra vậy. Giả sử nếu ông có một cái phong bì dày cộm bỏ vào túi những kẻ nhũng nhiễu ông thì cớ sự không đến nỗi như vậy!

Hay ví dụ như ông Bỉ là ông Bríu Liếc, ông đang làm Bí thư huyện ủy giống ông Liếc thì ông có đào hầm miên mang dưới cái trại vịt cũng chẳng đến nỗi gì, nếu báo chí phát hiện thì ông Bỉ sẽ nói rằng ông thật là buồn cười cho xã hội, ông đào hầm để chưng cất rượu và Viện kiểm sát Bình Chánh hay Chủ tịch huyện, Trưởng Công an huyện sẽ nói rằng chưa bao giờ nghe nói đến cái hầm nào dưới chuồng vịt và hình như cái chuồng vịt dã chiến đó mới mọc cách nay mấy ngày thôi, không có vấn đề gì!

Vì sao lại có chuyện tréo ngoe như vậy? Bởi vì sự khốn nạn đã thấm vào từng chân tơ kẽ tóc, đã luân chuyển trong huyết quản của chế độ. Những kẻ tuy ngồi ghế quyền lực, tuy làm nhiệm vụ phục vụ xã hội thông qua bộ máy nhà nước và làm cho xã hội tốt đẹp hơn lại chính là những kẻ tội lỗi, thậm chí là những kẻ khốn nạn, lưu manh ra mặt và sẵn sàng đạp dân đen xuống hố để vừa lòng cấp trên hoặc để trả thù vì người ta đã không biết điều với y, đã không cho y thứ y muốn, không đút lót, hối lộ với y.

Và vì sao lại có quá nhiều lẻ khốn nạn trong chế độ Cộng sản? Bởi đơn giản, chế độ Cộng sản hình thành và phát triển trên nền tảng của sự khốn nạn. Sự khốn nạn vốn dĩ là kim chỉ nam của chế độ. Khi cả một hệ thống trưởng thành nhờ vào sự khốn nạn thì sự khốn nạn càng phát triển, chế độ càng tồn tại lâu dài. Ngược lại, giả sử đất nước Việt Nam bỗng dưng trở nên tử tế trong vòng mười ngày, nửa tháng, điều đó sẽ kéo theo hệ quả là chế độ Cộng sản không còn dấu vết nào trên đất nước này!

Độc quyền quyền lực và vấn đề đạo đức

 Độc quyền quyền lực và vấn đề đạo đức

Quốc Phương BBC Việt ngữ

  • BBC    TS. Nguyễn Thị Từ Huy Nguyễn Thị Từ Huy cho rằng có vấn đề về mặt đạo đức nếu một thể chế một đảng, và chế độ chuyên chính nắm quyền lực độc tôn quá lâu dài.

Việc nắm giữ quyền lực chính trị một cách độc tôn và quá lâu dài trong xã hội ngày nay có thể là một vấn đề về đạo đức đối với những chủ thể độc quyền quyền lực trong các thể chế một đảng và chế độ chuyên chính, theo một nhà nghiên cứu triết học chính trị từ Paris, Pháp.

Một chính thể ‘độc tài độc đảng’ ngày nay, để bảo tồn quyền lực chính trị, có thể rơi vào trường hợp ‘vi phạm đạo đức’, khi dùng Hiến pháp để quy định quyền lãnh đạo tuyệt đối và bất biến của đảng mình, vẫn theo ý kiến này.

Trong cuộc phỏng vấn qua văn bản dành cho BBC hôm 23/4/2016, Tiến sỹ Nguyễn Thị Từ Huy, nhà nghiên cứu chính trị – xã hội Việt Nam, từ Đại học Paris Diderot, Pháp cũng đưa ra cảnh báo về hậu quả xã hội đối với một nền thống trị ‘độc tài toàn trị’ nếu sử dụng thủ đoạn ‘nói dối’ để nắm, giữ quyền lực.

“ Sức mạnh của kẻ bạo chúa được thiết lập trên sự hèn yếu và khiếp nhược của những người tự nguyện chấp nhận ách cai trị của hắn. Chính là do được những người dân tình nguyện ủng hộ mà kẻ độc tài có thể củng cố và mở rộng quyền lực vô giới hạn

Etienne de La Boétie “

“Dối trá mang tính chất căn nguyên của chế độ, một chế độ mà Hiến pháp tuyên bố rằng nhân dân có quyền làm chủ, nhưng quyền lực lại chỉ thuộc về một đảng chính trị duy nhất. Và sự dối trá này sẽ dẫn tới đâu?”, Tiến sỹ Từ Huy đặt vấn đề.

“Dẫn tới sự xói mòn dần tất cả các tiêu chuẩn đạo đức, sự sụp đổ mọi tiêu chí của sự tử tế, và sự hủy diệt trên diện rộng niềm tin vào những giá trị như sự thật, trung thành với nguyên tắc, sự thật thà, vị tha và danh dự…”

Vì sao còn tồn tại?

Mở đầu cuộc trao đổi với BBC, nhà nghiên cứu triết học chính trị trả lời câu hỏi: Tại sao các thể chế được cho là các nền độc tài, và chế độ chuyên chính vẫn còn tồn tại ngày nay ở một số nơi trên thế giới, hay là vì vẫn có những hình thức ‘độc tài’ hay ‘chuyên chính’ chấp nhận được với nhân loại?

Tiến sỹ Nguyễn Thị Từ Huy: Để trả lời câu hỏi này của ông cần phải làm một seminar nhiều kỳ, do tính phức tạp của vấn đề. Ở đây tôi xin phép chỉ nêu một trong số các nguyên nhân khiến cho các nền độc tài vẫn đang tiếp tục tồn tại. Nguyên nhân này không phải do tôi tìm ra, mà nó đã được trình bày trong bản luận văn nổi tiếng, “Luận văn về sự nô lệ tự nguyện” (Discours de la servitude volontaire), được Etienne de La Boétie viết vào thế kỷ XVI. Tôi nhắc lại nguyên nhân này, vì nó vẫn còn đúng cho cả thế giới hiện tại nơi chúng ta đang sống.

Stalin

Tranh cãi về công tội của các nhà độc tài và các chế độ chuyên chính mà họ nắm giữ có thể sẽ còn kéo dài trong lịch sử nhân loại.

Etienne de La Boétie đưa ra câu trả lời cho chính cái câu hỏi mà ông đặt ra cho tôi ngày hôm nay. Chàng trai 18 tuổi ấy viết luận văn này nhằm tìm hiểu một hiện tượng xã hội đã khiến cho một đầu óc tự do vô cùng ngạc nhiên: đôi khi trong lịch sử nhân loại đã xảy ra việc hàng bao nhiêu con người, bao nhiêu đô thành, bao nhiêu quốc gia lại chịu phục tùng một kẻ chuyên chế duy nhất, trong khi mà kẻ đó chỉ có thể có quyền lực khi những người bị áp bức chấp thuận trao quyền ấy cho hắn, và bao nhiêu người đã trao quyền lực cho kẻ chuyên chế để hắn làm hại mình. Thật ngạc nhiên khi thấy hàng triệu, hàng triệu người bị chế ngự, cam chịu cúi đầu phục tùng một người duy nhất. Tại sao có thể xảy ra một chuyện như vậy ?

Câu trả lời mà La Boétie tìm ra nằm ở trong mấy chữ này: “sự nô lệ tự nguyện”. Ông chỉ ra rằng sức mạnh của kẻ bạo chúa được thiết lập trên sự hèn yếu và khiếp nhược của những người tự nguyện chấp nhận ách cai trị của hắn. Chính là do được những người dân tình nguyện ủng hộ mà kẻ độc tài có thể củng cố và mở rộng quyền lực vô giới hạn của hắn.

La Boétie viết: “Chính là nhân dân đã tự nguyện chịu khuất phục và tự cắt cổ mình.” “Nếu mọi người không tuân lệnh nữa thì kẻ chuyên chế sẽ thất bại.”

Điều quan trọng mà La Boétie chỉ ra là: Nhân dân không cần phải đấu tranh, không cần dùng tới bằng bạo lực, chỉ cần không phục tùng, không tuân lệnh thôi là chế độ độc tài đã không thể tồn tại được nữa.

Chẳng phải điều này ngày nay vẫn đúng hay sao ? Hãy nhìn vào một sự việc vừa xảy ra: Hội nghị cử tri và hiệp thương vòng 3 của bầu cử Quốc hội kỳ này. Chẳng phải những người dân địa phương, và nhất là ban tổ chức bầu cử địa phương, Mặt trận Tổ quốc, đã tuân lệnh trên và dùng thủ đoạn để loại gần như tất cả ứng viên tự do, kể cả những người mà uy tín trong cộng đồng dân cư là không thể phủ nhận, và nếu xét từ quan điểm của chính quyền, họ không bị xếp vào hàng ngũ bất đồng, như Trần Đăng Tuấn, Nguyễn Cảnh Bình (việc cử tri của Nguyễn Cảnh Bình làm kiến nghị về kết quả bỏ phiếu là một việc có rất nhiều ý nghĩa)?

“ Chế độ độc tài là sản phẩm kết hợp giữa kiểu tư duy nô lệ và sự vô liêm sỉ của những người hưởng lợi từ hệ thống

Nguyễn Thị Từ Huy “

Trong khi nếu người dân và Mặt trận Tổ quốc bỏ phiếu cho những người đó thì họ cũng chẳng mất gì, có chăng chỉ mất xiềng xích nô lệ.

Thông tin về sự kiện này đã có nhiều, không cần phải nhắc lại. Ở đây, khi đề cập đến điều này tôi chỉ muốn xác nhận rằng những gì mà La Boétie nói từ thế kỷ XVI vẫn còn đúng cho thế giới hiện nay. Chỉ cần công dân làm đúng bổn phận của mình, chỉ cần như thế thôi (chứ không cần phải dùng đến bạo lực) thì quyền lực độc tài đã có thể bị vô hiệu hóa. Và cũng chẳng ai có thể trừng phạt họ được, bởi chẳng có lý do gì để trừng phạt họ khi họ làm việc theo bổn phận và lương tâm. Nhưng thực tế thì La Boétie nói hoàn toàn chính xác: quyền lực độc tài được củng cố bởi vì mọi người bị chìm đắm trong “sự nô lệ tự nguyện”.

Cũng theo La Boétie, muốn thoát khỏi sự nô lệ tự nguyện này, để đi tới thoát khỏi ách cai trị của kẻ độc tài, chỉ cần có một điều thôi: chỉ cần nhân dân muốn có tự do. Chỉ cần có ý muốn tự do.

Tại sao La Boétie cho rằng chỉ cần người dân muốn có tự do là đủ để khiến cho hệ thống độc tài sụp đổ ? Có lẽ chúng ta sẽ trở lại với ý tưởng này vào một dịp khác.

Sản phẩm của ‘cầm tù’?

BBC: Phải chăng thể chế, chế độ độc tài, ở một góc độ nào đó, là sản phẩm của tư duy bị ‘cầm tù’ và sự cầm tù của tư duy con người?

Mao Trạch Đông

Một người dân Trung Quốc cầm trong tay một bức hình của cố Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông với dòng chữ đề “Phụng sự nhân dân” bên ngoài một Văn phòng tiếp người dân khiếu nại.

Trở lại với vụ việc hội nghị cử tri và hiệp thương vòng 3 của bầu cử Quốc hội ta sẽ thấy rằng: Khi ta chứng kiến những người dân ở một xã nghèo không bầu cho luật sư Lê Luân, với những lý do hết sức ấu trĩ, do bị ảnh hưởng bởi hệ thống tuyên truyền các cấp, ta có cảm giác gần như là xót xa, bởi họ bị giới hạn trong một nhận thức nhất định nên mới làm như vậy.

Hiện tượng người dân ủng hộ chế độ độc tài do sự hạn chế của nhận thức có thể trùng hợp với điều mà ông gọi là “tư duy bị cầm tù”, xét từ phía nạn nhân, và “sự cầm tù tư duy con người”, xét từ phía những người cố tình tạo ra xiềng xích cho tư duy của người dân. Điều đáng nói là những người muốn trói buộc tư duy của người khác dường như không biết rằng chính tư duy của họ cũng bị cầm tù.

Nhưng khi ta chứng kiến cảnh đấu tố của những luật sư, của những người thuộc giới trí thức, khi ta chứng kiến cảnh kiểm phiếu diễn ra trong một ngôi miếu hoang, bất chấp mọi chuẩn mực hành chính, luật pháp, lương tâm và đạo lý, thì cảm giác được gợi lên chắc chắn không còn là xót xa nữa, mà là phẫn nộ. Đó cũng có thể là phản ứng xảy ra khi ta phải nghe những phát biểu của một đại biểu Quốc hội nhấn mạnh “cái hay” của hoạt động vi hiến do Quốc hội khóa 13 thực hiện khi bãi nhiệm toàn bộ chính phủ không có lý do.

Trong những trường hợp này, vấn đề không còn ở chỗ “tư duy bị cầm tù” nữa, mà vấn đề phải được gọi tên đúng như cách mà Hannah Arendt đã gọi (khi bà lý giải vì sao chủ nghĩa toàn trị có thể vận hành): sự vô liêm sỉ.

Sự vô liêm sỉ của những người tạo nên cái mạng lưới hỗ trợ cho trung tâm quyền lực toàn trị. Vô liêm sỉ, bởi những người đó hiểu rõ sự thối nát và phản nhân đạo của hệ thống, nhưng vẫn bảo vệ nó bất chấp sự hiểu biết của chính họ.

“ Một chính thể độc tài độc đảng ngày nay, để bảo tồn quyền lực chính trị, có thể rơi vào trường hợp vi phạm đạo đức, khi dùng Hiến pháp để quy định quyền lãnh đạo tuyệt đối và bất biến của đảng mình 

Nguyễn Thị Từ Huy “

Vậy, để trả lời câu hỏi này của ông, có thể nói, chế độ độc tài là sản phẩm kết hợp giữa kiểu tư duy nô lệ và sự vô liêm sỉ của những người hưởng lợi từ hệ thống. Theo La Boétie thì hai yếu tố này có liên quan đến nhau, trong một chừng mực nào đó, cái này là nguyên nhân của cái kia: Thói hám lợi và sự vô liêm sỉ dẫn đến tư duy nô lệ, và ngược lại.

BBC: Một nền độc tài kéo dài trên dưới một thế kỷ, hay gần như thế, trong thế giới ngày nay, mà không cho phép một lực lượng chính trị nào khác trong nhân dân và xã hội được cạnh tranh chính thức, hoặc chia sẻ quyền lực, thì có vấn đề gì đáng bàn về đạo đức hay không?

Ông đặt vấn đề rất đúng: điều đó quả là thuộc về phạm trù đạo đức. Các chế độ độc tài cổ điển, mà La Boétie bàn đến trong bản luận văn đã nêu ở trên, khác với một số nền độc tài trong thế giới đương đại của chúng ta ở điểm căn bản mà tôi sẽ đề cập tới sau đây.

Những kẻ chuyên chế cổ điển, dù đoạt được quyền lực theo cách nào (do được dân bầu lên, do dùng vũ lực – thắng trận trong chiến tranh hoặc trong các cuộc tranh đoạt quyền lực, do được kế thừa theo dòng dõi), và dù sử dụng quyền lực theo ý muốn cá nhân bất chấp luật pháp, thì giữa lời nói và hành động cũng còn có sự trùng hợp. Bởi vì những kẻ độc tài cổ điển quan niệm rằng mình có quyền lực tối cao, còn người dân buộc phải phục tùng. Và nhân dân, một khi chấp nhận sự cai trị thì cũng thừa nhận mình bị cai trị.

Điều này khiến cho một vị vua như Louis XIV có thể tuyên bố: “Nhà nước chính là ta”. Như vậy, trung tâm quyền lực được xác định rõ, và kẻ độc tài tự nhận mình là độc tài. Sự việc được gọi đúng tên của nó.

Đạo đức bị hủy diệt

Việt Nam

Xã hội Việt Nam đang trong một quá trình chuyển đổi, với nhiều giá trị, chuẩn mực đang được thiết lập hoặc tái sắp xếp.

Nhưng một chính thể độc tài độc đảng ngày nay, để bảo tồn quyền lực chính trị, có thể rơi vào trường hợp vi phạm đạo đức, khi dùng Hiến pháp để quy định quyền lãnh đạo tuyệt đối và bất biến của đảng mình. Mặt khác, cũng trong Hiến pháp, lại quy định rằng nhân dân có quyền làm chủ, lại quy định rằng Nhà nước là của dân, do dân, và vì dân.

Nghĩa là chính đảng độc tài không thừa nhận tính chất độc tài của quyền lực do mình nắm giữ, và muốn nhân dân tin rằng đây là một chính thể dân chủ trong đó người dân có quyền tự do quyết định. Nhưng trên thực tế, nhân dân bị lệ thuộc vào quyền lực của đảng độc tài. Như vậy, trung tâm quyền lực không được xác định rõ, và đảng độc tài chối bỏ tính chất độc tài của mình. Sự việc không được gọi đúng tên của nó.

Hiến pháp 2013 của Việt Nam là một ví dụ điển hình cho trường hợp này. Điều 2 và điều 3 của Hiến pháp này quy định quyền lực thuộc về nhân dân. Nhưng điều 4 lại quy định quyền lãnh đạo tuyệt đối của đảng cộng sản. Những điều luật này, trên thực tế, loại trừ nhau, điều luật này khiến cho điều luật kia bị vô hiệu hóa. Và điều luật này sẽ khiến cho điều luật kia trở thành dối trá.

Nếu nhân dân có quyền làm chủ thì quyền lãnh đạo của đảng cộng sản không thể là tuyệt đối và vĩnh viễn. Bởi vì trong trường hợp này, nhân dân có thể lập nhiều đảng khác nhau và có thể chọn bất cứ đảng nào làm lãnh đạo, theo ý muốn của mình. Ngược lại, nếu đảng cộng sản có quyền lãnh đạo tuyệt đối và vĩnh viễn thì có nghĩa nhân dân không có quyền chọn lãnh đạo cho mình. Trường hợp Việt Nam cho thấy điều 2 và điều 3 Hiến pháp 2013 chỉ là những lời nói dối.

Khủng hoảng tinh thần và đạo đức vẫn sẽ còn tiếp tục, cho đến một ngày người dân Việt Nam tự nhủ: đủ rồi, dối trá thế đủ rồi, tự hủy diệt mình như thế đủ rồi, chúng ta cần một cuộc sống đúng nghĩa, sống trong sự trung thực, lương thiện và với phẩm giá xứng đáng

TS. Nguyễn Thị Từ Huy

Vì thế, đúng như cách đặt vấn đề của ông, việc một nền độc tài dùng hiến pháp để chính danh hóa quyền lực của mình là một sự vi phạm đạo đức, do tính chất dối trá của nó. Đây là sự dối trá mang tính chất căn nguyên của chế độ, một chế độ mà Hiến pháp tuyên bố rằng nhân dân có quyền làm chủ, nhưng quyền lực lại chỉ thuộc về một đảng chính trị duy nhất. Và sự dối trá này sẽ dẫn tới đâu?

Nó chỉ có thể “dẫn tới sự xói mòn dần tất cả các tiêu chuẩn đạo đức, sự sụp đổ mọi tiêu chí của sự tử tế, và sự hủy diệt trên diện rộng niềm tin vào những giá trị như sự thật, trung thành với nguyên tắc, sự thật thà, vị tha và danh dự. Cuộc sống – trong quá trình đồi phong bại tục như thế, tức là quá trình có xuất xứ từ việc người ta mất hết mọi hy vọng và mất hết niềm tin rằng cuộc sống có một ý nghĩa nào đó – phải chìm xuống mức tồn tại sinh học, chẳng khác gì cây cỏ. […] Giá phải trả là tinh thần bị tê liệt, tình thương không còn và cuộc đời bị tàn phá. […] Giá phải trả là sự khủng hoảng cả về mặt tinh thần lẫn đạo đức.”

Kết luận này tôi trích lại của Vaclav Havel, bởi ông ấy nói quá chính xác, nếu ta quy chiếu nhận định này về thực tế của chúng ta ngày nay. Hãy nhìn những đàn cá đang chết trên quê hương. Cá phải chết là bởi đời sống tinh thần của con người đã chết, trách nhiệm đã chết, đạo đức của con người đã bị hủy diệt.

Khủng hoảng tinh thần và đạo đức vẫn sẽ còn tiếp tục, cho đến một ngày người dân Việt Nam tự nhủ: đủ rồi, dối trá thế đủ rồi, tự hủy diệt mình như thế đủ rồi, chúng ta cần một cuộc sống đúng nghĩa, sống trong sự trung thực, lương thiện và với phẩm giá xứng đáng.

Hoặc là cho đến một ngày những người lãnh đạo hiểu ra những nguy hiểm, những sự hủy diệt mà họ đang gây ra cho dân tộc, cho chính họ, và cho con cháu của họ, để đi tới quyết định áp dụng một nền chính trị cho phép phục hồi các giá trị đạo đức và tinh thần, đảm bảo một đời sống trong sạch và lành mạnh cho toàn xã hội, cho phép xây dựng và phát triển quốc gia một cách vững mạnh; nghĩa là đi tới một quyết định sáng suốt như quyết định mà ông Thein Sein đã thực hiện ở Miến Điện.

Tiến sỹ Nguyễn Thị Từ Huy có bằng tiến sĩ văn chương bảo vệ tại Pháp năm 2008 và từng giảng dạy tại một số trường đại học ở Việt Nam. Hiện bà đang làm luận án tiến sĩ về triết học chính trị tại Đại học Paris Diderot, Pháp.

MỘT PHÓNG VIÊN NGƯỜI ĐỨC VIẾT VỀ VIỆT NAM CS…

MỘT PHÓNG VIÊN NGƯỜI ĐỨC VIẾT VỀ VIỆT NAM CS…

Cuốn sách Đức: “A reporter’s love for a wounded people” của tác giả Uwe Siemon-Netto đã được viết xong và đang chờ một số người viết “foreword” và endorsements.

Bản dịch cũng đã xong, được phép của tác giả chúng tôi xin giới thiệu đoạn kết rất xúc động mà tác giả đã nói lên ước muốn cùng với người Việt Nam nuôi dưỡng niềm hy vọng một ngày không xa Tự Do Dân Chủ sẽ trở lại với quê hương khốn khổ của chúng ta:

 Đoạn kết

Hậu quả của khủng bố và đức hạnh của hy vọng

Hơn 40 năm đã trôi qua kể từ khi tôi giã biệt Việt Nam. Vào năm 2015, thế giới sẽ chứng kiến kỷ niệm lần thứ 40 “chiến thắng” của Cộng sản và nhiều người sẽ gọi đó là ngày “giải phóng.”

Ga xe lửa Huế, nơi một đầu máy và một toa hành lý khởi hành chuyến tầu tượng trưng 500 thước mỗi buổi sáng vào lúc 8 giờ sẽ không còn đáng đi vào kịch trường của sự phi lý nữa. Nó đã được phục hồi đẹp đẽ và sơn phết lại mầu hồng. Một lần nữa, tương tự như những ngày dưới sự thống trị của người Pháp, nó là nhà ga xe lửa đẹp nhất vùng Đông Dương và tài xế tắc-xi không phải chờ đợi vô ích bên ngoài.

Mười chuyến tầu thong dong chạy qua mỗi ngày, năm chuyến xuôi Nam và năm chuyến ra Bắc. Gộp chung lại chúng được mệnh danh một cách không chính thức là Tàu Tốc Hành Thống Nhất.

Chẳng lẽ nào tôi lại không mừng vui? Chuyện này có khác nào bên Đức khi bức tường Bá Linh đổ xuống và những bãi mìn biến mất, và nay những chuyến tầu cao tốc phóng ngược xuôi giữa hai xứ nguyên là Cộng sản bên Đông và Dân chủ bên Tây với tốc độ lên tới 200 dặm một giờ?

Hiển nhiên là tôi rất vui khi chiến tranh kết thúc và Việt Nam được thống nhất và phát triển, những chuyến xe lửa đã hoạt động trở lại và các bãi mìn đã được tháo gỡ.Nhưng đến đây thì sự tương đồng với nước Đức chấm dứt.

Nước Đức hoàn thành sự thống nhất, một phần nhờ người dân tại Đông Đức đã lật đổ chế độ độc tài toàn trị bằng những cuộc biểu tình và phản kháng ôn hòa, một phần nhờ vào sự khôn ngoan của các nguyên thủ quốc tế như các vị Tổng thống Ronald Reagan và George G.W. Bush, của Thủ tướng Helmut Kohl, của lãnh tụ Sô Viết Mikhail Gorbachev, và cũng phần khác vì sự sụp đổ có thể đoán trước được của hệ thống xã hội chủ nghĩa sai lầm trong khối Sô Viết. Không có ai bị thiệt mạng trong tiến trình này, không một ai bị tra tấn, chẳng có ai phải vào trại tù và cũng không có ai bị buộc phải trốn chạy.
Có một khuynh hướng khó hiểu, ngay cả trong số các vị học giả đáng kính của phương Tây đã diễn tả sự kiện Cộng sản cưỡng chiếm miền Nam như là một cuộc “giải phóng.” Điều này đặt ra một câu hỏi: giải phóng cái gì và cho ai?

Có phải miền Nam đã được “giải phóng” khỏi sự áp đặt một nhà nước độc đảng toàn trị được xếp hạng chung với những chế độ vi phạm tồi tệ nhất thế giới về các nguyên tắc tự do tôn giáo, tự do phát biểu, tự do ngôn luận, tự do hội họp và tự do báo chí?

Một cái thứ giải phóng gì đã làm chết 3,8 triệu người dân Việt từ 1954 đến 1975 và đã buộc hơn một triệu người khác phải trốn ra khỏi đất nước, không những từ miền Nam bại cuộc mà cả từ những bến cảng miền Bắc và làm từ 200.000 đến 400.000 người gọi là thuyền nhân bị chết đuối?

Có phải là hành động giải phóng không khi xử tử 100.000 người lính miền Nam và viên chức chính phủ sau ngày Sài Gòn thất thủ? Phải chăng chỉ là một màn trình diễn nhân đạo của bên thắng cuộc bằng cách lùa từ một triệu đến 2 triệu rưỡi người miền Nam vào các trại tù cải tạo, trong đó có khoảng 165.000 người mất mạng và hàng ngàn người khác đã bị tổn thương sọ não lâu dài và bị các vấn đề tâm thần do hậu quả của tra tấn, theo một cuộc nghiên cứu của một nhóm học giả quốc tế do Bác sĩ tâm thần Richard F. Molina của đại học Harvard dẫn đầu?

Từ giữa những năm 1960, những tay bịa đặt chuyện huyền thoại về chính trị và lịch sử của phương Tây, hoặc ngây thơ hoặc bất lương, đã chấp nhận lời giải thích của Hà Nội rằng cuộc xung đột là một cuộc “chiến tranh nhân dân.” Cũng đúng thôi nếu chấp nhận định nghĩa của Mao Trạch Đông và Võ Nguyên Giáp về cụm chữ đó. Nhưng theo luật văn phạm về sở hữu tự theo cách Saxon Genitive qui định thì “chiến tranh nhân dân” phải được hiểu là cuộc “chiến tranh của nhân dân.”

Thực tế không phải như vậy. Ðã có khoảng 3,8 triệu người Việt Nam đã bị giết giữa các năm 1954 và 1975. Khoảng 164.000 thường dân miền Nam đã bị thủ tiêu trong cuộc tru diệt bởi Cộng sản trong cùng thời kỳ, theo nhà học giả chính trị Rudolf Joseph Rummel của trường Đại học Hawaii. Ngũ Giác Ðài ước tính khoảng 950.000 lính Bắc Việt và hơn 200.000 lính VNCH đã ngã xuống ngoài trận mạc, cộng thêm 58.000 quân Hoa Kỳ nữa.

Đây không thể là một cuộc chiến tranh của nhân dân mà chính là chiến tranh chống nhân dân.

Trong tất cả những lập luận đạo đức giả về cuộc chiến Việt Nam ta gặp quá thường trong vòng 40 năm qua, cái câu hỏi quan trọng nhất đã bị mất dấu hay AWOL, nếu dùng một từ ngữ viết tắt quân sự có nghĩa là “vắng mặt không phép,” câu hỏi đó là: Dân Việt Nam có mong muốn một chế độ Cộng sản hay không? Nếu có, tại sao gần một triệu người miền Bắc đã di cư vào Nam sau khi đất nước bị chia cắt năm 1954, trong khi chỉ có vào khoảng 130.000 cảm tình viên Việt Minh đi hướng ngược lại?

Ai đã khởi đầu cuộc chiến tranh? Có bất kỳ đơn vị miền Nam nào đã hoạt động ở miền Bắc hay không?Không. Có du kích quân miền Nam nào vượt vĩ tuyến 17 để mổ bụng và treo cổ những người trưởng làng thân cộng, cùng vợ và con cái họ ở đồng quê miền Bắc hay không? Không.

Chế độ miền Nam có tàn sát cả một giai cấp hàng chục ngàn người trên lãnh thổ của họ sau năm 1954 bằng cách tiêu diệt địa chủ và các đối thủ tiềm năng khác theo cách thống trị theo lối Sô Viết của họ hay không? Không.

Miền Nam có thiết lập chế độ độc đảng toàn trị hay không? Không.

Với cương vị một người công dân Đức, tôi không can dự gì đến cuộc chiến này, hay nói theo lối người Mỹ là “I have no dog in this fight” (tôi chẳng có con chó nào trong vụ cắn lộn này cả). Nhưng, nhằm chú giải cho cuốn sách

“Lời nguyện của nhà báo”, tương tự như các phóng viên kỳ cựu có lương tâm, lòng tôi đã từng và vẫn còn đứng về phía dân tộc Việt Nam nhiều đau thương.

Lòng tôi hướng về những người phụ nữ tuyệt vời với tính tình rất thẳng thắn và vui vẻ; hướng về những người đàn ông Việt Nam khôn ngoan và vô cùng phức tạp đang theo đuổi giấc mơ tuyệt hảo theo phong cách Khổng giáo; hướng về các chiến binh giống như trẻ con đi ra ngoài mặt trận mang theo cái tài sản duy nhất là một lồng chim hoàng yến; hướng về các góa phụ chiến tranh trẻ với cơ thể bị nhào nặn méo mó chỉ vì muốn bắt một tấm chồng lính Mỹ nhằm tạo một ngôi nhà mới cho con cái và có thể cho chính họ, còn hơn là đối mặt với độc tài Cộng sản; hướng về nhóm trẻ em bụi đời trong thành thị cũng như ngoài nông thôn săn sóc lẫn nhau và những con trâu đồng. Với trái tim chai cứng còn lại, lòng tôi thuộc về những người trốn chạy khỏi lò sát sinh và vùng chiến sự, luôn luôn đi về hướng Nam mà không bao giờ về hướng Bắc cho đến tận cùng, khi không còn một tấc đất nào vắng bóng Cộng sản nữa để mà trốn. Tôi đã chứng kiến họ bị thảm sát hay bị chôn sống trong những ngôi mồ tập thể và mũi tôi vẫn còn phảng phất mùi hôi thối của những thi thể đang thối rữa.

Tôi không có mặt vào lúc Sài Gòn thất thủ sau khi toàn bộ các đơn vị Quân Lực VNCH, thường xuyên bị bôi bẩn một cách ác độc bởi truyền thông Hoa Kỳ, giờ đây bị những đồng minh người Mỹ của họ bỏ rơi, đã chiến đấu một cách cao thượng, biết rằng họ không thể thắng hay sống sót khỏi trận đánh cuối cùng này. Tôi đang ở Paris, lòng sầu thảm khi tất cả những chuyện này xẩy ra và tôi ước gì có dịp tỏ lòng kính trọng năm vị tướng lãnh VNCH trước khi họ quyên sinh lúc mọi chuyện chấm dứt, một cuộc chiến mà họ đã có thể thắng: Lê Văn Hưng (sinh năm 1933), Lê Nguyên Vỹ (sinh năm 1933), Nguyễn Khoa Nam (sinh năm 1927), Trần Văn Hai (sinh năm 1927) và Phạm Văn Phú (sinh năm 1927).

Khi tôi viết đoạn kết này, một ký giả đồng nghiệp và một loại học giả sinh năm 1975 khi Sài Gòn bị thất thủ, đã tự tạo cho bản thân một thứ tên tuổi bằng cách bêu xấu tội ác chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam. Vâng, họ thật đáng bị bêu xấu. Đúng, đó là sự thật. Mỹ Lai có thật. Tôi biết, tôi đã có mặt trong phiên tòa mặt trận khi Trung úy William Calley bị kết án là có tội.

Tôi biết cái tiêu chuẩn đếm xác chết được tôn sùng bởi đầu óc méo mó của các cấp chỉ huy quân sự cũng như dân sự thời đại Mc Namara tại Washington và bản doanh Hoa Kỳ tại Sài Gòn đã làm tổn hại hàng ngàn mạng sống của người dân vô tội.
Nhưng không có hành vi tàn ác nào của các đơn vị rối loạn Hoa Kỳ và VNCH có thể sánh bằng cuộc tàn sát do lệnh nhà nước giáng xuống đầu người miền Nam nhân danh Hồ Chí Minh. Những tội ác mà cho đến ngày nay những kẻ kế thừa thậm chí vẫn không thừa nhận vì không ai có cái dũng cảm hỏi họ: Tại sao các anh thảm sát tất cả những người vô tội mà các anh rêu rao là đi chiến đấu để giải phóng họ?

Với tư cách một người Đức, tôi xin được thêm một đoạn chú thích như sau: tại sao các anh giết người bạn của tôi là Hasso Rüdt von Collenberg, tại sao lại giết các bác sĩ người Đức ở Huế, và anh Otto Söllner tội nghiệp mà “tội ác” duy nhất là dạy trẻ em Việt Nam cách điều khiển một ban nhạc hòa tấu?

Tại sao các anh bắt cóc những thanh niên thiện nguyện Knights of Malta, làm cho một số bị chết trong rừng rậm và số khác thì bị giam cầm tại Hà Nội?

Tại sao các anh không bao giờ tự xét lương tâm về những hành động đó, theo cách những người Mỹ chính trực trong khi họ đã được xác định một cách đúng đắn là họ thuộc về phía lẽ phải trong cuộc Đại Chiến Thứ Hai, vẫn bị dằn vặt bởi cái di sản khủng khiếp để lại vì đánh bom rải thảm những khu dân cư trong nước Đức và tấn công bằng bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki?

Hồi tưởng lại cuộc thử thách trên con đường mòn Hồ Chí Minh trong tạp chí Der Spiegel, cô y tá Tây Đức Monika Schwinn nhớ lại cuộc gặp gỡ với các đơn vị chiến đấu Bắc Việt trên đường xuống phía Nam như là một trong những kinh nghiệm khủng khiếp nhất. Cô diễn tả cái cường độ của mối hận thù trên khuôn mặt của những tên lính đó và cô viết chính những tên Việt Cộng canh chừng phải khó khăn lắm mới ngăn chận họ không giết những người Đức ngay tại chỗ.

Không có ai sinh ra là biết hận thù cả. Sự thù hận chỉ có thể có được do dậy dỗ. Nuôi dưỡng tính giết người trong lòng thanh niên là một khuôn phép huấn luyện chỉ có trường phái chủ nghĩa toàn trị là giỏi nhất.Trong cuốn tiểu sử rất hay nói về tay chỉ huy SS Heinrich Himmler, sử gia Peter Longerich diễn tả là ngay cả gã sáng lập viên cái lực lượng tàn độc gồm những tên côn đồ mặc đồ đen cũng khó lòng buộc thuộc hạ vượt qua sự kiềm chế tự nhiên để thi hành lệnh thảm sát Holocaust (Longerich. Heinrich Himmler. Oxford: 2012).

Chính cái ánh mắt thù hận của những tên sát nhân Bắc Việt tại Huế làm ám ảnh những người tôi phỏng vấn hơn cả. Nhưng dĩ nhiên phải dành nhiều thời gian với họ, chịu sự đau khổ cùng họ, tạo niềm tin và trò chuyện với họ thì mới khám phá ra cái cốt lõi của một phần nhân tính con người, một hiểm họa về mặt chính trị và quân sự vẫn còn quanh quẩn bên chúng ta từ bốn thập niên qua. Chỉ phán ý kiến về nó từ trên tháp ngà đài truyền hình New York hay các trường đại học Ivy League thì không bao giờ đủ cả.

Trong một cuốn sách gây chú ý về đoàn quân Lê Dương Pháp, Paul Bonnecarrère đã kể lại cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Đại tá đầy huyền thoại Pierre Charton và Tướng Võ Nguyên Giáp sau khi Pháp thất trận tại Điên Biên Phủ (Bonnecarrère. Par le Sang Versé. Paris: 1968). Charton là tù binh trong tay Cộng sản Việt Minh. Giáp đến thăm Charton nhưng cũng để hả hê. Cuộc gặp gỡ xẩy ra trong một lớp học trước mặt khoảng 20 học viên đang tham dự một buổi tuyên truyền chính trị.

Cuộc đối thoại giữa hai nhân vật đối chọi nhau đã xẩy ra như sau:
Giáp: “Tôi đã đánh bại ông, thưa Đại tá!”
Charton: “Không, ông không đánh bại tôi, thưa Đại tướng. Rừng rậm đã đánh bại chúng tôi… cùng sự hỗ trợ các ông đã nhận được từ người dân bằng các phương tiện khủng bố.”

Võ Nguyên Giáp không ưa câu trả lời này và cấm các học viên không được ghi chép nó. Nhưng đó là sự thật, hay chính xác hơn: đó là một nửa của sự thật. Cái nửa kia là các nền dân chủ như Hoa Kỳ đúng là không được trang bị về chính trị và tâm lý để theo đuổi một cuộc chiến trường kỳ. Sự nhận thức này, cùng với cách sử dụng các phương tiện khủng bố đã trở thành trụ cột trong chiến lược của Võ Nguyên Giáp. Hắn đã đúng và hắn đã thắng. Thậm chí nguy hiểm hơn nữa là ngày nay các chế độ toàn trị đang chú ý đến điểm này.

Cho đến tận ngày hôm nay tôi vẫn còn bị ám ảnh bởi cái kết luận tôi bắt buộc phải rút ra từ kinh nghiệm về Việt Nam là: khi một nền văn hóa bê tha hủ hóa đã mệt mỏi về lòng hy sinh, nó sẽ có khả năng vứt bỏ tất cả. Nó đã chín mùi để bỏ rơi một dân tộc mà đáng lẽ nó phải bảo vệ. Nó còn thậm chí sẵn sàng xóa đi những mạng sống, sức khoẻ về thể chất và tinh thần, nhân phẩm, trí nhớ và danh thơm của những thanh niên đã được đưa ra mặt trận.

Điều này đã xẩy ra trong trường hợp các cựu chiến binh Việt Nam. Tác động của sự khiếm khuyết đã ăn sâu trong các nền dân chủ tự do này rất đáng sợ vì cuối cùng nó sẽ phá hỏng chính nghĩa và tiêu diệt một xã hội tự do.
Tuy nhiên tôi không thể kết thúc câu chuyện ở đây bằng điều tăm tối này được. Là một người quan sát về lịch sử, tôi biết là lịch sử, mặc dù được khép kín trong quá khứ, vẫn luôn luôn mở rộng ra tương lai. Là một Ki-Tô hữu tôi biết ai là Chúa của lịch sử.

Chiến thắng của Cộng sản dựa vào những căn bản độc ác: khủng bố, tàn sát và phản bội. Hiển nhiên tôi không biện minh cho chuyện tiếp tục đổ máu nhằm chỉnh lại kết quả, cho dù có khả thi đi chăng nữa. Nhưng là một người ngưỡng mộ tính kiên cường của dân tộc Việt Nam, tôi tin là họ sẽ cuối cùng tìm ra phương cách ôn hòa và các lãnh tụ chân chính để họ có thể thoát khỏi những tay bạo chúa. Có thể sẽ phải mất nhiều thế hệ, nhưng điều đó sẽ xẩy ra.

Trong ý nghĩa này, tôi bây giờ chỉ muốn xếp hàng vào đoàn xích-lô bên ngoài ga xe lửa Huế vào năm 1972, nơi chẳng có người khách nào quay trở lại. Chỗ của tôi ở đâu bây giờ? Tôi còn lại gì nữa ngoài niềm hy vọng?

BHUTAN – VIỆT NAM

BHUTAN – VIỆT NAM

 Lm. VĨNH SANG, DCCT,

 Tri’ch EPHATA 690

Những ngày qua, cùng với những tin tức nóng hổi khác, mạng thông tin toàn cầu truyền đi một video dài khoảng 19 phút, video này ghi lại bài chia sẻ của ông Tshering Tobgay, Thủ Tướng

nước Bhutan tại một hội nghị của tổ chức TED Talk. Đây là một cộng đồng học thuật uy tín và bài phát biểu được coi là gây chấn động. Nội dung bài chia sẻ về vấn đề môi trường, những thành tựu của Bhutan về môi trường và những thao thức cũng như cố gắng của quốc gia này mong muốn đóng góp cho môi trường toàn cầu.

Nếu có thể được nên xem toàn bộ video này để thấy được Bhutan đã và đang cống hiến những gì cho môi trường sống của nhân loại. ( http://video.thanhnien.vn/thoi-su/toan-van-bai-phat- bieu-gay-chan-dong-cua-thu-tuong-bhutan-60613.html ). Cảm giác đầu tiên của tôi là ngưỡng mộ vị Thủ Tướng của đất nước này. Gần 20 phút ở nghị trường ông hoàn toàn làm chủ hội nghị. Phong thái đơn giản, dí dỏm, ngôn ngữ bình dị gần gũi, kiến thức dàn trải bao phủ vấn đề trình bày, khả năng Anh ngữ lưu loát, với bằng ấy thứ ông đủ thuyết phục và làm cho mọi người say sưa theo dõi. Chúng ta nghe nhiều tràng pháo tay dành cho bài nói chuyện này, những tán thưởng và khâm phục thực sự của các khán giả có tầm hiểu biết sâu rộng, đến từ nhiều quốc gia, không hề vỗ tay một cách gượng ép, vỗ theo quán tính và theo công thức chỉ đạo như chúng ta luôn thấy trong các hội nghị ở Việt Nam mình. Dĩ nhiên bản lĩnh của vị Thủ Tướng này làm ta liên

tưởng đến các quan chức kém cỏi và tầm thường của chúng ta mỗi khi xuất hiện trước công chúng.

Cảm giác tiếp theo là cảm giác mang tên… buồn tủi. Từ một đất nước tự hào rừng vàng biển

bạc, ngày nay sạch trắng cả biển lẫn rừng, không chỉ mất rừng trong phần đất của mình mà còn sang cả nước láng giềng phá rừng xẻ núi. Mấy ngày nay cá chết trắng bờ biển, những con cá to cả chục ký lô nằm phơi thây cho ruồi muỗi bu quanh. Bhutan ra chỉ tiêu diện tích được rừng che phủ là 60%, nhưng thực tế là 72%. Nhờ có rừng, Bhutan gìn giữ được sự đa dạng sinh học; nhờ có rùng, Bhutan tăng khả năng hấp thụ CO2, làm giảm khả năng hiệu ứng nhà kính; nhờ có rừng, Bhutan sản xuất điện sạch dư dùng và bán sang các nước lân cận. Quá cảm phục Bhutan và quá buồn tủi cho đất nước mình.

 Bhutan miễn phí trong việc đào tạo và giáo  dục, miễn phí cho mọi công dân, không một ai phải đóng tiền hết, lên đại học có những sinh viên chăm ngoan còn được miễn phí. Bhutan miễn phí toàn bộ các dịch vụ y tế cho mọi công dân. Bhutan miễn phí điện cho các miền thôn quê… Quá buồn tủi khi nhìn về đất nước mình !

Đứng trước một đất nước tan hoang cả trong lẫn ngoài, trong thì xuống cấp toàn diện, cả cả lương tri, ngoài thì mất đảo, mất biển, mất đất, mất rừng.

Môi trường sống bị đầu độc trầm trọng.  Là người Kitô hữu chúng ta lắng nghe tiếng Chúa. Thông Điệp Laudato Si dạy ta những gì ? Thủ phạm gây ra sự tàn phá môi trường là ai ? Đâu là thái độ phải có của người Kitô hữu. Đức Thánh Cha khi phân tích cho chúng ta về sự vô ý thức gây tàn phá môi trường rồi đề nghị chúng ta phải được học hỏi linh đạo môi trường và thay đổi cách ứng xử với môi trường, Đức Thánh Cha cũng không ngần ngại vạch ra cho chúng ta thấy một nền kinh tế chỉ nhắm đến lợi nhuận, lợi ích nhóm, một nền kinh tế thực dân áp đặt trên các nước nghèo biến họ thành những bãi rác công nghiệp, và những chế độ đôc tài là những nguyên nhân chính, nguyên nhân lớn nhất gây ra tàn phá môi trường. Giáo Hội cùng lúc giáo huấn và giúp nhân loại gìn giữ ngôi nhà chung, Giáo Hội còn có bổn phận lên tiếng cảnh báo mạnh mẽ về những hệ thống kinh tế và những thể chế phá hoại này.

 Thách đố quá lớn lao nhưng là thách đố của Lòng Tin hôm nay.

 Lm. VĨNH SANG, DCCT,

21.4.2016

KHÔNG

KHÔNG

 Lang Thang Chiều Tím

Không!  Không!  Tôi không còn yêu em nữa.
Không!  Không!  Tôi không còn yêu em nữa.
Không!  Không!  Tôi không còn yêu em nữa em ơi.

Tình đời thay trắng đổi đen.  Tình đời còn lắm bon chen.
Tình đời còn lắm đam mê.  Nên tình còn lắm ê chề.

Tình mình có nghĩa gì đâu.  Tình mình đã lắm thương đau.
Tình mình gian dối cho nhau.  Thôi đành hẹn lại kiếp sau.

Không!  Không!  Tôi không còn, tôi không còn yêu em nữa.
Không!  Không!  Tôi không còn, tôi không còn yêu em nữa.
Không!  Không!  Tôi không còn, tôi không còn yêu em nữa em ơi…..

Nguyễn Ánh 9

****************************************

Có lẽ không người Việt nào sống ở Sài gòn vào những năm 1969-1970 mà không biết đến nhạc phẩm “Không” của nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9.  Bản nhạc ra đời như một câu trả lời cho thắc mắc của Khánh Ly: “Ông có còn thương người ấy?”  Người ấy là mối tình đầu khi nhạc sĩ mới 18 tuổi.  Hai người tình thơ trẻ bị cuốn vào niềm đam mê choáng váng và mãnh liệt.  Nhưng dường như là số phận, những mối tình quá đẹp, thường khó vẹn toàn.  Gia đình cô gái không đồng ý cho con mình yêu anh nhạc sĩ nghèo, sống lang bạt kỳ hồ.  Ngăn không được lòng đôi trẻ, cha mẹ cô dùng kế ly gián, gây nghi ngờ hờn giận cho hai người, rồi đưa cô gái sang Pháp sống, hòng ngăn cản mối tình “rồ dại” với chàng nhạc sĩ.

Năm 1965, người nhạc sĩ lập gia đình và tin tưởng những giông bão của mối tình đầu sẽ ngủ yên.  Nhưng thực tế, trái tim ông đã không còn cảm giác sau mối tình đầu, bởi tình yêu đã vĩnh viễn câm lặng.  Năm 1974, ông gặp lại người tình xưa khi cô về Sài Gòn, cô vẫn một mình, vẫn yêu ông và chẳng oán trách gì.  Đã lỡ làng, có xót xa thì cũng đành sống cho hết bi kịch một kiếp người.  Họ lại xa nhau, lần này là mãi mãi, để vùi chôn những dấu yêu xưa cũ vào đáy lòng mình, nhức buốt, cho tới hơi thở cuối cùng.

Ca khúc “Không” được Khánh Ly thu lần đầu trên đĩa nhựa Tình ca quê hương và cũng chính nhạc phẩm “Không” đã đưa Elvis Phương “lên sao” ở thập kỷ 70, sau đó nổi tiếng đến mức công chúng gọi Nguyễn Ánh 9 là ông “Không”.

****************************************

Ở hải ngoại, tôi thường được nghe bài“Không” đã được hòa âm (remix) lại sau này với điệu nhạc Disco giật gân, nhanh vui và dồn dập.  Trong đĩa video ca nhạc Asia, ca sĩ Mai Lệ Huyền đã lột tả tận chân chữ “không” của bài nhạc với khuôn mặt lạnh lùng, một cái ngoắt đầu qủa quyết, cái khoát tay mạnh mẽ, đôi môi mím chặt, thêm với ánh mắt hờn căm của kẻ bị tình phụ.  Tất cả được phụ họa thêm bằng những pha ánh sáng trắng đen chớp tắt liên hồi, tiếng trống chát chúa từng nhịp một.  “Không”, dứt khoát là không!  Không còn yêu thương, luyến tiếc!  Cũng chẳng tiếc thương chi mối tình đã lắm thương đau.  Dù chẳng biết ai gian dối với ai?  Dù chẳng hiểu mối tình đang đẹp sao trở thành “có nghĩa gì đâu?”  Ai là kẻ bon chen và gây ra lắm ê chề?  Chẳng hiểu vì sao, người nghe chỉ cảm nhận được một âm điệu “không” dứt khoát và rõ ràng.  Một tiếng “không” chát chúa chói tai!  Một tiếng “không” lạnh lùng bẽ bàng!  Không là không!  Trăm lần không, ngàn lần không!  Đừng hy vọng đợi chờ!  Đừng năn nỉ luyến lưu….  Nếu có chăng, chỉ là kiếp sau!  Nghe tiếng “không” mạnh mẽ quyết liệt này, thì dù chưa muốn chia tay, dù còn vấn vương, người yêu cũng đành phải ngậm ngùi ra đi…

Trong một dịp tình cờ tôi được đọc một bài phỏng vấn của nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 về tác phẩm “Không” bất hủ này.  Thật ngạc nhiên khi khám phá ra cả một tâm tư thầm kín của tác giả gởi gắm trong hồn thơ nốt nhạc.  Đó không phải là một chữ “không” dứt khoát quyết liệt, bẽ bàng như người ta thường được nghe và hiểu sau này.  Bản nhạc nguyên thủy được soạn với điệu Slow Rock lả lướt, tình tứ du dương, tiếng nhạc réo rắt nhẹ nhàng diễn tả một chữ “không” đầy ẩn ý mời gọi.  Hiểu chữ “không” này như thế nào, điều đó tùy thuộc vào độ rung cảm của tâm hồn và nhịp đập của con tim.  Tim tôi và tim em, hai kẻ trong cuộc đã từng một thời yêu thương!  Với tác giả, đó là một chữ “không” giận lẫy, đầy trách móc nhưng không dứt khoát.  Một chữ “không” để hở!  Nói “không” nhưng không phải là “không!”  “Không” đó nhưng đầy hàm ý chờ đợi, đẩy em đi nhưng lại muốn kéo em về.  Mấy nốt cuối cùng của điệp khúc “tôi không còn yêu em nữa, em ơi…..” được kéo dài ra, luyến láy nói lên cái tâm tình xao xuyến chờ đợi, như dằng co, như muốn kéo áo người đừng đi.  Nếu tình đã gian dối, lắm thương đau, nhiều ê chề thì hẹn chi đến kiếp sau?  Mâu thuẫn!  Gian dối một kiếp, một đời chưa đủ hay sao?  Lúc giận nói thế, nhưng không phải thế!  Bởi còn yêu mới giận.  Nói “không” để lòng bớt đau, nói giận để lòng bớt thương, nói hận để lòng bớt nhớ!  Phủ định để tự khẳng định!  Người yêu có hiểu lòng kẻ nói “không”?  Người đi có hiểu lòng kẻ ở?  Nghĩa chữ “không” vời vợi đầy đau khổ, tuyệt vọng nhưng vẫn chờ đợi, oán trách nhưng vẫn yêu đậm sâu.  Ai kia nếu có hiểu mới gọi là yêu!

Chữ “không” bí ẩn của nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 trong ca khúc “Không” đã được thế hệ sau hòa âm lại, hiểu theo nghĩa trắng đen của thời đại, nhưng lại lệch lạc với tâm tình của tác giả gởi gắm trong đó.  Cả một con tim sôi sục yêu thương được diễn tả bằng giọng hờn giận nhẹ nhàng của điệu nhạc Slow Rock tình tứ, trách đó nhưng yêu đó, giận đấy nhưng vẫn đợi đây đã được chuyển sang nhịp giật gân, dồn dập như hối thúc người ta đi cho lẹ, như muốn thanh toán mối tình cho xong để còn tính chuyện khác.  Cả một trời ẩn ý được che dấu dưới chữ “không” ai oán não nùng, nào có ai thấu hiểu nỗi lòng của kẻ nói chữ “không” nếu không được nghe chính tác giả tâm sự?

****************************************

Chữ “không” huyền bí nhiều ý làm tôi liên tưởng đến chữ “không” của Thiên Chúa.  Thưở ban sơ, Ngài đã nói “không”, con người sẽ phải chết và đuổi ra khỏi vườn địa đàng sau khi loài người phạm tội bất tuân.  Nhưng sau đó, Con Một của Thiên Chúa lại chết để con người được sống.  Quả là một chữ “không” mâu thuẫn!  Một cái chết ô nhục khổ đau trên thập tự đồi Golgotha năm xưa của Chiên Thiên Chúa đã nói lên bao điều.  Không những thế, Người Con Một đó đã đến thế gian truyền rao một thông điệp về tình yêu thâm sâu vô biên của Thiên Chúa Cha.  Rằng Thiên Chúa đã yêu thương loài người đến nỗi đã ban Người Con Duy Nhất cho thế gian.  Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người đã dám thí mạng sống mình vì bằng hữu.  Ôi, một chữ “yêu” nhiệm mầu!  Một Thiên Chúa quyền năng sáng tạo muôn loài muôn vật từ hư không, nhưng lại bó tay “không” thể cứu chuộc con người nếu “không” có sự hợp tác của con người.  Một chữ “không” khó hiểu!

Thật không dễ dàng để đối diện với chữ “không” phũ phàng của Đấng mà mình đã đặt trọn tin yêu!  Đã bao lần, Thiên Chúa nói “không” với tôi trong cuộc sống này, mỗi khi tôi xin nhưng không được, tìm nhưng không thấy, gõ cửa nhưng không được mở.  Tôi phải hiểu nghĩa chữ “không” này như thế nào đây?  Xin thành công chỉ gặp toàn thất bại, xin Chúa chữa lành bịnh tật thì thấy bịnh nặng thêm, xin hạnh phúc lại gặp toàn khổ đau.  Xin cho đường đời êm ả bên những đứa con ngoan hiền thì gia đình tan tác, con cái vô đạo nghĩa.  Tại sao và tại sao?  Ngay cả khi tôi xin những điều tốt lành cho phần hồn mình và của những người thân thương, Thiên Chúa vẫn nói: “Không, chưa phải lúc!”

Thật không dễ dàng để thông hiểu chữ “không” đầy cay đắng của Thượng Đế quyền uy.  Tôi cần phải nhìn lên thập giá Chúa Giêsu, ngước mặt lên trời cao để nhìn thẳng vào ánh mắt của Đấng đã nói “không”, để hiểu tâm tình của Ngài đằng sau chữ “không” đáng ghét kia.  Thiên Chúa cũng đã từng nói “không” với Người Con duy nhất của Ngài trong vườn Cây Dầu.  Ngài đã “không” cất chén đắng cho Giêsu nhưng Ngài ban thêm sức mạnh và nguồn an ủi thiêng liêng cho Giêsu.

Trong phút giây đối đầu với sự chết, Chúa Giêsu cũng đã từng có tâm tình bị bỏ rơi bởi Người Cha yêu dấu, nhưng Ngài đã không bỏ cuộc và sau cùng Ngài đã chiến thắng.  Trong men cay chua chát của thất bại, lạ thay tôi nhận ra đức khiêm nhường trổ sinh hoa trái.  Trong thể xác ốm yếu bịnh hoạn, tôi thấy linh hồn mình tỉnh thức sống gần Chúa hơn.  Dãy dụa trong bể khổ, tôi thấy mình chán ghét thế gian hào nhoáng, lòng hướng về một hạnh phúc viên miễn hơn.  Đi trên đường đời gập ghềnh sóng gió, người mang đầy thương tích, tôi thấy mình bám chặt vào Chúa hơn và ngỡ ngàng nhận ra đức tin cậy mến của mình sáng rực như bó đuốc trong đêm đen.  Phải chăng qua chén đắng của chữ “không”, Thiên Chúa đang dạy dỗ tôi nhiều điều.  Ngài giúp tôi lớn hơn trong đời sống thiêng liêng và mở mắt tâm hồn tôi để nhìn thấy được những điều cao cả thuộc về thượng giới hơn?

Có lẽ khi chữ “yêu” kết hợp với chữ “không” sẽ giúp người trong cuộc hiểu rõ nghĩa từ thâm sâu huyền nhiệm của chữ “không” hơn.  Tùy theo mức độ “yêu” để hiểu nghĩa chữ “không”.  “Không” đi một mình thì thuần túy chỉ là “không” đúng nghĩa trắng đen, chẳng cần phải“yêu” cũng có thể hiểu.  Nhưng “không” đi với hơi thở của con tim, với ánh mắt tha thiết yêu thương, với độ rung cảm của linh hồn, chữ “không” chắc hẳn không còn là “không” nữa.  Người trong cuộc sẽ hiểu tại sao Thiên Chúa lại nói “không” với mình, khi Thiên Chúa đã dám cho đi cái qúy nhất của Ngài.  Chắc hẳn phải có lý do ẩn khuất đằng sau chữ “không” đắng chát kia.  Nghĩa chữ “không” vời vợi khó hiểu!  Có lẽ cần phải “yêu” nhiều hơn nữa mới có thể hiểu được chữ “không” của Thiên Chúa Tình Yêu.

Phêrô và Giuđa, cả hai cùng theo Thầy ròng rã ba năm trời, trực tiếp nghe những lời giáo huấn từ miệng Thầy, hiểu rõ tấm lòng yêu thương vị tha của trái tim Thầy.  Đến giây phút thử thách, cả hai cùng phản bội tình yêu của người Thầy yêu dấu.  Một người bán Thày cho các tư tế, còn một thì leo lẻo chối Thày giữa đám đông.  Với tình yêu, sự phản bội nào cũng xấu xa như nhau.  Cuối con đường, cả hai đã hoà âm lại chữ “không” theo hai nghĩa khác nhau.  Giuđa hiểu rằng Thầy đã nói “không” với mình.  Thế là hết, là xong mối tình thầy trò ba năm!  Không còn con đường nào khác cho kẻ phản bội, và ông đã tự mình đi đến ngõ cụt của chữ “không” lối thoát đó bằng cách tự tìm đến cái chết oan nghiệt.  Phêrô thì can đảm hơn để nhìn lên ánh mắt của Thầy và đọc được một sứ điệp trái ngược.  “Không, cho dù con xấu xa phản bội, Thầy vẫn yêu thương con.  Không, đừng bỏ đi, con ơi!  Cho dù con vấp ngã chối Thầy nhưng Tình Yêu chấp nhận cái tốt lẫn cái xấu.  Không, con phải đứng lên bằng chính đôi chân của mình!  Cho dù con phản bội nhưng Thầy vẫn thứ tha và chờ đợi…  Không, con không được bỏ cuộc!  Thầy và anh em vẫn cần con và mong con quay về….”  Thế là Phêrô cất bước trở lại với anh em, với sứ mạng Thầy đã giao phó và cuối cùng đã chết vì người Thầy mình đã một thời chối bỏ.  Phải chăng vì Phêrô yêu Thầy hơn Giuđa yêu Thầy, nên ông hiểu nghĩa chữ “không” đúng với tâm tình của Thầy hơn?

Hai cách hiểu chữ “không” khác nhau dẫn đến hai kết cục khác nhau.  Dù hai cách hiểu hay nghìn cách hiểu, ý tưởng của tác giả cũng chỉ có một.  Thiên Chúa là Đấng trung thành với lời hứa, với những gì Ngài đã nói.  Ngài hằng mong muốn nhân loại nhìn lên cái chết ô nhục đau thương của Người Con Một trên thập giá, để hiểu cho đúng ý nghĩa yêu thương của trời cao, để mỗi khi gặp phải chữ “không” lạnh lùng trong cuộc sống thì đừng vội tuyệt vọng chán nản, đừng vội bỏ cuộc và đừng bao giờ diễn dịch chữ “không” cao siêu nhiệm mầu của Thiên Chúa theo ý phàm tục riêng mình.  Tác giả Nguyễn Ánh 9 trong bài phỏng vấn đã kêu gọi ca sĩ khi trình bày nhạc phẩm “Không”, hãy tôn trọng tâm tình của người viết nhạc và linh hồn bài hát.  Ca sĩ là người dùng nghệ thuật âm nhạc, giọng hát, cách diễn đạt để lột tả cho trọn vẹn ý tưởng của tác giả gởi gắm trong ca khúc đó chứ không phải phiên dịch lại theo ý mình.  Cùng là một thân phận nghệ sĩ, chắc hẳn Thiên Chúa cũng có một tâm tình như nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9.  Mong sao thế nhân hiểu cho đúng, diễn tả cho trọn cái tâm tình của Thiên Chúa gởi gắm trong những tác phẩm nghệ thuật của Ngài, mà đỉnh cao của những tác phẩm nghệ thuật đó chính là cây thánh giá cheo leo trên đồi Golgotha năm xưa và Lời Yêu Thương được gói ghém trong cuốn Thánh Kinh.

Qua tình khúc “Không” của điệu Slock Rock, người nghe cảm nhận được nỗi đau, vị chát, men cay, sự thất bại ê chề của người nói chữ “không,” hơn là kẻ được nghe chữ “không.”  Mâu thuẫn thay, tôi lại cảm nhận được nỗi tuyệt vọng cay đắng của người nghe chữ “không,” nhưng chưa bao giờ tôi thử tìm hiểu xem cõi lòng của Thiên Chúa ra sao khi Ngài phải nói chữ “không” với tôi!  Đến bao giờ tôi mới hiểu được tâm sự của người nói chữ “không?”  Chẳng biết tôi có thể hiểu được hay không, khi tôi cứ mãi gục xuống trong cơn đau của mình?

****************************************

KHONG

Lạy Thiên Chúa là Đấng thấu hiểu mọi sự, con viết bài này cho vơi bớt cơn đau,  cho quên nỗi ưu phiền vì Chúa cũng đang nói “không” với con trong lúc này đây.  Linh hồn con đang bên bờ tuyệt vọng vì không hiểu sao Chúa cứ mãi nói “không!”  Con không muốn xin gì thêm nữa vì đã quá mỏi mệt, vì dư âm đắng ngắt của chữ “không” vẫn còn đọng nơi đầu môi.  Con chỉ xin một điều duy nhất là cho con biết luôn cậy trông và phó thác vào tình yêu thẳm sâu nhiệm mầu của Chúa.  Gọi là nhiệm mầu vì đôi lúc con không hiểu được tình yêu đó.  Phần còn lại, Chúa muốn cho gì thì cho, vì Chúa đã trao ban Người Con duy nhất của Ngài cho con rồi thì chắc Chúa chẳng tiếc gì những thứ khác nữa.  Amen!

Lang Thang Chiều Tím

MƯỜI THỨ DÙ CÓ GIA TÀI BẠC TRIỆU CŨNG KHÔNG MUA ĐƯỢC

 MƯỜI THỨ DÙ CÓ GIA TÀI BẠC TRIỆU CŨNG KHÔNG MUA ĐƯỢC

Jordi Al Emany là người sáng lập một công ty tư nhân. Vừa qua, ông đã đăng một bài trên mạng xã hội, nói rằng tiền tài không phải vạn năng, có 10 thứ cho dù có gia tài bạc triệu cũng không mua được. Bài viết đã nhanh chóng nhận được sự hoan nghênh trên cộng đồng mạng, mọi người đều tán thành.

Chúng ta hãy cùng xem, rốt cuộc là những điều gì mà cho dù là tỉ phú thế giới cũng không thể mua được?

1. Khỏe mạnh

Đạt Lai Lạt ma:
Nhân loại, vì kiếm tiền mà hy sinh sức khỏe. Vì chữa bệnh mà hy sinh tiền tài. Sau đó, vì lo lắng tương lai nên không cách nào hưởng thụ hiện tại. Cứ như vậy mà không cách nào sống cho hiện tại. Khi còn sống, họ quên rằng cuộc đời là ngắn ngủi. Đến khi chết, mới phát hiện mình chưa từng một lần sống thật tốt.

2. Tình thương

Tagore:
Lúc thoát khỏi cảnh nghèo khó, chúng ta sẽ có được tiền tài của mình nhưng để có được khoản tiền này, chúng ta đã mất đi bao nhiêu thiện tâm, bao nhiêu cái đẹp và bao nhiêu sức lực chứ!

3. Niềm vui
Nhà chính trị, nhà khoa học về vật lý, điện từ, nhà phát minh Mỹ Franklin:
Tiền tài không thể khiến người ta vui vẻ, vĩnh viễn sẽ không vì trong
bản chất của nó không hề tồn tại cái gọi là vui vẻ. Người có được càng nhiều, lại càng muốn nhiều hơn.

4. Chính trực

Nhà tiểu thuyết người Anh – Douglas Adams:
Lúc thật sự phục vụ người khác, điều cần thiết mà tiền tài không thể
nào mua sắm hay đong đếm, đó chính là sự chân thành và chính trực.

5. Tôn trọng

Nhà triết học người Mỹ – Ayn Rand:
Tiền tài là công cụ để tồn tại, thái độ của bạn đối với công việc cũng
chính là thái độ của bạn đối với cuộc đời của chính mình. Nếu công
việc kiếm sống là sa đọa, bạn đã hủy diệt ý nghĩa tồn tại của chính
mình. Bạn đã từng cầm qua đồng tiền bất nghĩa chưa? Đã từng vì giành thêm chút lợi nhuận mà giễu cợt người khác chưa? Hoặc là hạ thấp tiêu chuẩn đạo đức của mình? Vì để có thể sống qua ngày bạn đã làm những việc không nên làm? Nếu là như vậy, tiền tài cũng không mang đến dù chỉ một chút niềm vui. Đồ vật bạn mua sẽ trở thành một loại sỉ nhục mà không phải là kính trọng; là một loại căm hận mà không phải thành tựu.
Như vậy, bạn sẽ cho rằng tiền tài là một loại tội ác bởi vì bạn không
thể nào có được sự tự tôn từ nó.

6. Nội tâm thanh tĩnh
Doanh nhân nổi tiếng tại Mỹ – Richard M. DeVos:
Tiền tài không thể nào mua được sự thanh bình trong nội tâm, nó không thể chữa trị mối quan hệ bị xé rách, hoặc làm cho cuộc sống không ý nghĩa trở nên ý nghĩa.

7. Đạo đức

Ký giả kiêm tác giả người Mỹ – George Lorimer:
Thứ có thể mua được bằng tiền dĩ nhiên là tốt nhưng không nên quên rằng điều không thể mua được bằng tiền sẽ càng tốt hơn.

8. Giáo dục

Phóng viên kiêm tác giả người Mỹ – Neil de Grasse Tyson:
Con người không dùng sự cảm thông và chia sẻ để cảm nhận tình cảm và ýnghĩ của người khác hay những sinh vật khác trên trái đất, có lẽ giáo dục chính quy của chúng ta nên thêm vào giáo dục sự cảm thông và chia sẻ. Thử tưởng tượng, nếu giáo dục gồm có đọc, viết, toán học, cảm thông và chia sẻ, thì thế giới này sẽ không còn như cũ nữa.

9. Trí tuệ
Steve Jobs nhà sáng lập Apple:
Tôi không phải vì kiếm tiền mà quay về Apple. Thần may mắn vẫn luôn quan tâm đến tôi; năm 25 tuổi, tôi đã kiếm được tài sản 100 triệu đô-la. Lúc ấy rất rõ ràng rằng tôi sẽ không bị tiền tài nô dịch. Bởi vì tôi chắc chắn không có khả năng tiêu hết số tiền kia, hơn nữa, tôi cũng không dùng tiền tài để kiểm chứng trí tuệ của mình.

10. Giác ngộ tâm linh
Người vô danh:
Tiền tài có thể mua phòng ốc để ở nhưng không thể mua được một mái nhà ôn hòa; nó có thể mua một chiếc giường nhưng không mua được một giấc ngủ thoải mái dễ chịu; nó có thể mua một chiếc đồng hồ nhưng không mua được thời gian; nó có thể mua được quyển sách nhưng không mua được tri thức; nó có thể mua máu huyết nhưng không mua được sức khỏe.
Vì vậy, tiền tài không phải là vạn năng.

Tranh chấp Biển Đông thu hút sự chú ý của cả thế giới

 Tranh chấp Biển Đông thu hút sự chú ý của cả thế giới

Gia Minh, PGĐ Ban Việt ngữ RFA
2016-04-21

phu-lam-622.jpg

Trung Quốc đưa thêm chiến đấu cơ tới đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa, hình ảnh vệ tinh của ImageSat International chụp được hôm mùng 7 tháng 4 và được các viên chức quốc phòng Hoa Kỳ chứng thực ngày hôm 12/4/2016.

Screen capture

Your browser does not support the audio element.

Biển Đông tiếp tục thu hút chú ý không chỉ của những quốc gia có tranh chấp chủ quyền trong khu vực mà có thể nói của cả thế giới. Một số động thái gần nhất trong khu vực và hàm ý của chúng được nhận định ra sao?

Trung – Mỹ “lời qua – tiếng lại”

Trung Quốc chính thức xác nhận vào ngày chủ nhật 17 tháng tư vừa qua về việc đưa máy bay quân sự ra đá Chữ Thập thuộc quần đảo Trường Sa. Ngay lập tức sau đó, Hoa Kỳ lên tiếng.

Bắc Kinh cho rằng máy bay phản lực được đưa đến để làm nhiệm vụ nhân đạo cấp cứu đưa ba công nhân bị ốm về đảo Hải Nam. Tuy nhiên phát ngôn nhân Ngũ Giác Đài, đại úy Jeff Davis, trong văn bản trả lời hãng thông tấn CNN thắc mắc sao Trung Quốc lại sử dụng máy bay quân sự cho một dịch vụ dân sự như thế.

Ngay sau đó Bộ Quốc Phòng Trung Quốc lên tiếng phản bác cho rằng trong trường hợp có công dân cần cấp cứu trên đất Hoa Kỳ thì phía Mỹ có sử dụng máy bay quân sự không. Ngoài ra Bộ Quốc phòng Trung Quốc nhắc lại Bắc Kinh có chủ quyền không thể tranh cãi tại khu vực Biển Đông và Hoa Kỳ không được quyền bình luận gì về hoạt động xây dựng những công trình của Bắc Kinh tại đó.

Chuyện lời qua tiếng lại đối với việc Trung Quốc đưa máy bay chiến đấu ra đá Chữ Thập nơi có đường băng mới xây dựng diễn ra chẳng bao lâu sau khi bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ Ash Carter công du Philippines nhân đợt diễn tập quân sự hỗn hợp thường niên giữa đôi bên, rồi lên thăm tàu sân bay USS John C Stennis vào lúc đang có mặt ở Biển Đông.

“ Tôi nghĩ chuyện Trung Quốc tìm mọi cách và mọi hoạt động để thực hiện cho được, bằng được chính sách chiến lược của họ là khống chế và độc chiến Biển Đông. Dùng Biển Đông để vươn lên trở thành một siêu cường quốc tế trong việc cạnh tranh với vị trí siêu cường của Hoa Kỳ.
-TS Trần Công Trục”

Trong khoản cùng thời gian, phía Trung Quốc loan tin phó chủ tịch quân ủy trung ương Phạm Trường Long cũng có chuyến thăm đến khu vực Trường Sa; cũng như Bắc Kinh tiến hành thử nghiệm hỏa tiển đạn đạo tầm xa tại Biển Đông.

Giáo sư Ngô Vĩnh Long, Khoa Sử- Đại học Maine ở Hoa Kỳ có nhận định về những hoạt động liên tục lâu nay của Trung Quốc tại khu vực Biển Đông như sau:

“Đã từ lâu rồi Trung Quốc muốn quân sự hóa cả Biển Đông. Kể từ khi chiếm được đảo Phú Lâm thì họ cho rằng có thể chặn được Mỹ và các nước khác. Đó là yết hầu của Biển Đông; nhưng sau này khi tham vọng của họ ‘lớn lên’, họ đánh chiếm thêm các đảo ở Trường Sa nữa. Thế nhưng rồi họ thấy vẫn chưa đủ nên đánh thêm Scaborough. Họ chặn hết tất cả những đường từ phía nam lên phía bắc.”

Tiến sĩ Trần Công Trục, một nhà nghiên cứu Biển Đông tại Việt Nam cũng có ý kiến:

“Tôi nghĩ chuyện Trung Quốc tìm mọi cách và mọi hoạt động để thực hiện cho được, bằng được chính sách chiến lược của họ là khống chế và độc chiến Biển Đông. Dùng Biển Đông để vươn lên trở thành một siêu cường quốc tế trong việc cạnh tranh với vị trí siêu cường của Hoa Kỳ. Đó là điều không bao giờ thay đổi. Điều đó thể hiện qua những điều họ đã làm trong thực tế. Và cho đến bây giờ, mặc dù họ có những tiến bộ ngoại giao, những hoạt động ngoại giao; họ nói với thế giới họ rất ‘thiện chí, rất biết điều, làm này nọ …’; nhưng trong thực tế họ hoàn toàn ngược lại. Đó là điều mà không ai mà có thể nhầm tưởng nữa. Chính những động thái vừa rồi càng chứng tỏ Trung Quốc quyết tâm thực hiện, rút ngắn khoảng cách để họ có thể thực hiện tiến lên làm chủ Biển Đông theo chiến lược của họ.”

Thêm phương tiện, vũ khí

Ngoài những diễn tiến như vừa nêu, hai phía Mỹ – Trung còn có nhiều hoạt động khác như Hoa Kỳ thông báo cùng Philippines tuần tra chung thường xuyên hơn tại Biển Đông. Washington cung cấp cho Manila khinh khí cầu trinh sát có gắn radar giúp thu thập thông tin và phát hiện biến động ở Biển Đông.

000_Hkg9812263.jpg

Đảo nhân tạo do Trung Quốc xây dựng ở Biển Đông, ảnh minh họa chụp hôm 15/5/2014.

Truyền thông Bắc Kinh cho biết từ ngày 7 tháng tư vừa qua, Trung Quốc cũng tiến hành tập trận tại khu vực Biển Đông với phương pháp mới như thực tập trong môi trường điện tử.

Trên đảo Phú Lâm mà Trung Quốc gọi là Vĩnh Hưng thuộc Hoàng Sa, hình ảnh vệ tinh mới nhất được hãng Fox News công bố vào ngày 13 tháng tư thì một phi đội 16 chiến đấu cơ J-11 của Trung Quốc được đưa đến đảo này. Trên đảo còn có hệ thống radar và dàn phóng tên lửa đất đối không.

Nhận định của giáo sư Ngô Vĩnh Long về việc Trung Quốc tăng cường xây dựng căn cứ và đưa các loại vũ khí đến những nơi được cải tạo, xây dựng ở Biển Đông như sau:

“Một khi thấy có cớ là họ làm tới, làm tới bởi vì đứng về mặt lịch sử và luật pháp mà nói thì họ (Trung Quốc) không có gì có thể biện minh cho sự chiếm đóng của họ được hết. thành ra họ phải dùng sự có mặt về quân sự của họ. Tất nhiên họ phải đưa vũ khí, đưa máy bay quân sự đến (để) họ cho đó là một sự đã rồi. Thành ra khi ‘sự đã rồi’ thì thế giới phải đương đầu với họ mà họ nghĩ thế giới không dám! Đây có thể gọi là một ‘game of chicken’, một cách nói ‘tao ngang như vậy thì làm gì tao!’

Thế nhưng theo tôi nghĩ về lâu về dài, vấn đề này sẽ bất lợi cho Trung Quốc vì đến một lúc nào đó thế giới cũng phải nghĩ cách đương đầu với Trung Quốc như thế nào.”

Khả năng đụng độ

Chuyên gia Carlyle Thayer thuộc Học viện Quốc Phòng Úc, từ khi tình hình Biển Đông trở nên căng thẳng, từng đưa ra hình ảnh so sánh khu vực như một chiếc bồn tắm, những vũ khí thả xuống đó như đồ chơi thì thế nào chúng cũng đụng nhau.

“ Tôi nghĩ Trung Quốc có làm gì thì làm trước chứ không phải sau khi có phán quyết (của tòa). Nếu làm sau thì có vẻ thách đố luật pháp quốc tế quá; cho nên làm trước như là một sự đã rồi.
-GS Ngô Vĩnh Long”

Một số ý chuyên gia đưa ra nhận định nếu trong thời gian tới khi Tòa Trọng tại Thường trực Liên Hiệp Quốc tại La Haye đưa ra phán quyết cho vụ kiện đường đứt khúc 9 đoạn và bất lợi nghiêng về phía Trung Quốc thì Bắc Kinh sẽ cho tuyên bố vùng nhận dạng phòng không tại khu vực Biển Đông.

Tuy nhiên theo người chuyên nghiên cứu vấn đề Biển Đông như giáo sư Ngô Vĩnh Long, thì Bắc Kinh chắc hẳn sẽ ra tay trước khi có phán quyết của tòa quốc tế:

“Tôi nghĩ Trung Quốc có làm gì thì làm trước chứ không phải sau khi có phán quyết (của tòa). Nếu làm sau thì có vẻ thách đố luật pháp quốc tế quá; cho nên làm trước như là một sự đã rồi. Cho nên từ đây đến khi có phán quyết, Trung Quốc sẽ gia tăng sự hiện diện của họ tại Trường Sa; cũng như đưa vũ khí thêm vào Hoàng Sa để đe dọa. Nhưng tôi nghĩ sau khi có phán quyết rồi thì thế cờ sẽ thay đổi.

Đặc biệt Việt Nam sau khi có phán quyết sẽ ủng hộ phán quyết và ủng hộ Philippines, rồi cùng Philippines lên tiếng mạnh thì Trung Quốc phải giữ gìn một chút chứ nếu Trung Quốc thách thức quá thì sẽ bất lợi cho Trung Quốc.”

Truyền thông Trung Quốc vào ngày 18 và 19 tháng tư vừa qua loan tin về chuyến thăm Nga của ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị. Hai quan chức đứng đầu ngành ngoại giao của chính quyền Mátxcơva và Bắc Kinh lặp lại kêu gọi không quốc tế hóa tranh chấp tại khu vực Biển Đông. Tờ South China Morning Post nói rõ là Bắc Kinh tìm kiếm sự ủng hộ của Nga trong việc chống lại phán quyết của tòa án quốc tế về vụ Philippines kiện đường đứt khúc 9 đoạn của Trung Quốc trên Biển Đông.

Trong cùng thời gian, quốc vụ khanh phụ trách vấn đề Đông Á của Bộ Ngoại giao Anh, ông Hugo Swire, lên tiếng cho rằng Trung Quốc cần phải tuân thủ phán quyết của tòa quốc tế trong vụ bị Philippines kiện. Theo ông này thì đây là cơ hội để Manila và Bắc Kinh tái tục đối thoại về tranh chấp tại khu vực Biển Đông.

Có thể nói không phải đến lúc này mà kể từ khi vẽ ra bản đồ đường đứt khúc 9 đoạn hối năm 1947 Trung Quốc thể hiện rõ mưu đồ chiếm Biển Đông. Những động thái ngày càng trở nên quyết đoán khi nền kinh tế của Hoa Lục vươn lên vị trí hạng nhì thế giới chỉ sau Hoa Kỳ. Mọi động thái liên tục của Bắc Kinh trong thời gian qua theo giới chuyên gia đang là nỗ lực muốn chứng tỏ khả năng quân sự mạnh như khả năng kinh tế mà Trung Quốc đã tạo ra được cho đến lúc này.

Có thật ‘nợ công VN vẫn an toàn’?

Có thật ‘nợ công VN vẫn an toàn’?

Chuyên gia Nguyễn Văn Phú nói “không biết dựa vào đâu mà báo Việt Nam nói tổng nợ công Việt Nam vẫn còn trong ngưỡng an toàn”

Một chuyên gia tài chính bình luận với BBC về việc truyền thông Việt Nam thường đưa tin ‘nợ công vẫn trong ngưỡng an toàn’.

Theo Báo cáo của Chính phủ Việt Nam trước Quốc hội (tháng 3/2016), nợ công của Việt Nam năm 2015 chiếm 62,2% GDP, trong đó nợ nước ngoài chiếm 43,1% GDP.

Hôm 22/4, trả lời BBC Tiếng Việt, chuyên gia tài chính Nguyễn Văn Phú, từ thành phố Strasbourg, Pháp, cho hay: “Vấn đề cốt lõi cho chính sách kinh tế tài chính của Việt Nam là nợ công, nhất là nợ nước ngoài của Việt Nam”.

“Những con số nợ nước ngoài, theo ngoại tệ (như đồng yen hoặc đôla) đang là thách thức đáng kể cho chính sách hối đoái của Ngân hàng Nhà nước.”

“Điều này đặt nền kinh tế vào thế lưỡng nan: nếu các ngoại tệ tăng giá so với đồng tiền Việt Nam (đồng yen Nhật đã tăng giá, còn đồng đôla Mỹ hiện đang dưới sức ép tăng giá), tuy đây là điều tốt cho xuất khẩu, nó lại gây sức ép lên khả năng chi trả nợ nước ngoài, vì nợ nước ngoài trở nên cao hơn trước.”

Mỗi người Việt đang gánh gần 30 triệu đồng nợ công

Tiến sĩ kinh tế nói thêm: “Tôi không biết dựa vào đâu mà các báo Việt Nam hay nói tổng nợ công Việt Nam vẫn còn trong ngưỡng an toàn, dưới 65% GDP. Theo tôi được biết, có nhiều nghiên cứu đưa ra các con số ngưỡng an toàn thấp hơn nhiều.”

“Sức ép nợ công có thể dẫn đến khủng hoảng nợ công, gây vỡ nợ, nhất là nợ nước ngoài, khi đó ảnh hưởng kinh tế và xã hội sẽ rất lớn. Trường hợp của Argentina năm 1998 – 2002 và Hy Lạp từ năm 2010 đến nay là những ví dụ điển hình.”

Theo ông Phú, những biện pháp nhằm giảm nợ công là: siết chặt chi tiêu công; tập trung chi tiêu công vào đầu tư phát triển; và giảm thâm hụt ngân sách nhà nước.

“Báo cáo của Chính phủ ghi, chi tiêu công năm 2015 cho đầu tư phát triển chỉ chiếm 21% trong tổng chi ngân sách nhà nước (trong khi đó có tới 66,4% là chi tiêu thường xuyên), đây là con số khá thấp (so với con số 27,5% trong tổng chi ngân sách nhà nước năm 2012). Về thâm hụt ngân sách thì nó đã là -6,1% trong năm 2015, đây là con số rất cao so với các nước trong khu vực,” ông Phú bình luận.

Thời báo Kinh tế Sài Gòn hôm 20/4 dẫn Báo cáo kinh tế vĩ mô Quý 1 năm 2016 của của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương cho hay nghĩa vụ trả nợ công lên tới 418.000 tỷ đồng năm 2015.

“Nguyên nhân là do giai đoạn 2010 – 2012, Chính phủ vay nợ ngắn hạn nhiều, chủ yếu bằng trái phiếu kỳ hạn 1 – 2 năm. Đây sẽ là áp lực rất lớn đối với chi ngân sách nhà nước, nếu phát hành trái phiếu chính phủ không đạt mục tiêu đề ra”.

“Rủi ro kỳ hạn và mất khả năng thanh toán tạm thời có thể xảy ra. Đó có thể là lý do khiến Bộ Tài chính phải vay Ngân hàng Nhà nước 30.000 tỷ đồng và phát hành 1 tỷ đôla Mỹ trái phiếu riêng cho Vietcombank trong năm 2015”, báo này viết

Ngoại giao Mỹ nói gì với sinh viên VN?

Ngoại giao Mỹ nói gì với sinh viên VN?

Phần hỏi đáp giữa ông Blinken với sinh viên diễn ra trong khoảng 20 phút.

Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ Antony Blinken đã phát biểu tại Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội và trả lời các câu hỏi của sinh viên tại đây.

Đây là một trong những điểm dừng chân của ông và phái đoàn Hoa Kỳ được tổ chức trước chuyến thăm của Tổng thống Hoa Kỳ Obama đến Việt Nam dự kiến trong tháng 5/2016 này.

Một sinh viên năm thứ ba tại trường này hỏi rằng chính sách châu Á của Tổng thống Obama có phải là kiềm chế Trung Quốc hay không?

Ông Blinken trả lời: “Không, chúng tôi không có chính sách kiềm chế Trung Quốc. Chúng tôi hoanh nghênh sự trỗi dậy của Trung Quốc như một quốc gia hùng mạnh và một thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.

“Khi một nước trỗi dậy như vậy thì có các quốc gia khác lo sợ trước sự trỗi dậy của một cường quốc và họ có thể phối hợp với nhau để ngăn chặn sự trỗi dậy của cường quốc kia. Và cường quốc kia có thể ứng xử trái với các chuẩn mực.

“Điều đó đã không xảy ra với Hoa Kỳ, Hoa Kỳ đã xây dựng một hệ thống để thực hiện trách nhiệm của mình và tôi hy vọng Trung Quốc cũng sẽ làm như vậy.

“Hoa Kỳ và Trung Quốc đã có hợp tác trong nhiều năm trên nhiều lĩnh vực. Hoa Kỳ tuân thủ các qui tắc và chuẩn mực quốc tế và Hoa Kỳ hy vọng các nước cũng tuân thủ các qui tắc và chuẩn mực đó.

“Chẳng hạn như tôn trọng quyền tự do đi lại về hàng hải và hàng không và nếu Trung Quốc làm được như vậy thì các nước sẽ hoan nghênh sự trỗi dậy đó.

“Còn nếu Trung Quốc cứ đơn phương thực hiện các lợi ích của mình mà quay lưng lại thì sẽ không có lợi cho Trung Quốc và cho thế giới”.

Có nhiều câu hỏi của sinh viên liên quan tới chiến lược tái cân bằng của Hoa Kỳ tại khu vực châu Á Thái Bình Dương.

Một sinh viên khác hỏi về chiến lược tái cân bằng của Hoa Kỳ tại khu vực ra sao khi Hoa Kỳ sẽ có bầu cử với chính quyền mới trong năm nay.

Ông Blinken nói: “Ngay cả khi có sự thay đổi thì vẫn cần có tính nhất quán trong chiến lược bất kể ai là người thắng cử và bởi vì chúng tôi có lợi ích trong khu vực này.”

Trước đó ông Blinken cũng nhấn mạnh về việc Hoa Kỳ tiếp tục tăng cường các chính sách trong chiến lược tái cân bằng của Washington tại châu Á Thái Bình Dương.

“Chúng tôi tăng cường với các đối tác đồng minh như Nhật Bản, Hàn Quốc và Philippines và hợp tác với các đối tác mới nổi lên như Việt Nam.

“Chúng tôi hợp tác với các nước Asean và thông qua cơ chế đa phương để thực hiện chiến lược tái cân bằng của chúng tôi.

“Ngày mai tôi sẽ tới Indonesia và sẽ gặp đại sứ các nước trong khu vực để bàn thảo một số thách thức trong khu vực,” Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ Antony Blinken nói.

Năm ngoái, trong bài phát biểu tại Tổng lãnh sự quán Hoa Kỳ ở TP Hồ Chí Minh, ông Blinken nói: “Chúng tôi thường xuyên thảo luận về chủ đề nhân quyền với các quan chức cao cấp của Việt Nam. Chúng tôi nhận ra rằng đã có một số bước tiến quan trọng, tích cực trong lĩnh vực này, và điều quan trọng là thừa nhận chúng”.

“Dù vậy, chúng tôi tiếp tục có mối quan tâm thực sự về một số trường hợp nhà hoạt động bị giam giữ, đe dọa, đánh đập vì bày tỏ quan điểm chính trị. Đó là một vấn đề thực sự. Chúng tôi trao đổi trực tiếp với những người trong chính phủ Việt Nam để bày tỏ những quan ngại”.

Việt Nam tiếp tục nằm gần cuối bảng Tự do Báo chí Thế giới 2016

Việt Nam tiếp tục nằm gần cuối bảng Tự do Báo chí Thế giới 2016

VOA

Trà Mi

20-4-2016

Xếp hạng của VN trên RSF: 175/180. Nguồn: Tổ chức phóng viên không biên giới.

Việt Nam tiếp tục nằm trong các nước chót bảng về Tự do Báo chí 2016 do Tổ chức Phóng viên Không biên giới (RSF) vừa công bố hôm nay.  Vị trí của Việt Nam năm nay vẫn duy trì ở hạng 175 như năm ngoái trên tổng số 180 quốc gia được khảo sát, nhưng về điểm số đánh giá, Việt Nam bị sụt mất 1.64 điểm so với năm rồi.

Trưởng phụ trách khu vực Châu Á trong RSF, ông Benjamin Ismail, cho VOA Việt ngữ biết:

“Dù Việt Nam vẫn duy trì mức hạng như năm ngoái nhưng tình hình tự do báo chí năm nay tại Việt Nam tệ đi rất nhiều thể hiện rõ qua điểm số bị sụt bởi chiến dịch đàn áp không nương tay của nhà cầm quyền đối với các blogger, các ký giả độc lập không có cùng quan điểm với nhà nước. RSF tiếp tục kêu gọi chính phủ Việt Nam cải thiện quyền tự do báo chí. Chúng tôi sẽ tiếp tục vận động quốc tế lưu tâm hơn nữa về tình hình tự do báo chí của Việt Nam nói riêng và tình hình nhân quyền Việt Nam nói chung.”


Tổ chức bảo vệ ký giả và bênh vực cho quyền tự do báo chí thế giới có trụ sở tại Pháp nhận xét thông tin độc lập duy nhất ở Việt Nam là từ các blogger và các ký giả công dân nhưng họ đã bị biến thành mục tiêu của các hình thức tấn công vô cùng khắc nghiệt trong chiến dịch đàn áp của nhà cầm quyền kể cả việc sử dụng bạo lực công an.

Một số dẫn dụ cụ thể được RSF đưa ra để minh chứng cho tình trạng thiếu tự do báo chí tại Việt Nam bao gồm tất cả truyền thông nội địa đều được đặt dưới sự kiểm soát và chỉ thị của đảng cộng sản; quyền tự do sử dụng Internet bị hạn chế bởi Nghị định 72 trong khi quyền tự do thông tin và tự do ngôn luận bị ngăn trở bởi các điều khoản bao quát, mơ hồ trong Bộ luật Hình sự như Điều 258 ‘lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước.’

RSF nói các điều luật này cho phép nhà cầm quyền bóp nghẹt mọi hình thức bất đồng chính kiến tại Việt Nam, nơi toàn bộ báo chí-truyền thông đều thuộc quốc doanh.

Trong 10 năm qua, Việt Nam luôn bị liệt kê vào nhóm tồi tệ nhất ở cuối bảng Chỉ số Tự do Báo chí Thế giới thường niên do RSF thực hiện. Giới phân tích nói điều này thể hiện chính sách không lay chuyển của Hà Nội trong việc đàn áp quyền tự do báo chí, không hề có sự cải thiện hay thay đổi đáng kể nào.

Ngoài tên của quốc gia Việt Nam, tên của các nhân vật lãnh đạo hàng đầu tại Việt Nam cũng bị RSF liệt kê vào danh sách ‘Kẻ thù của Internet’ liên tục trong những năm vừa qua.

Như các phúc trình khác trên thế giới về nhân quyền Việt Nam, các báo cáo của Phóng viên Không biên giới luôn bị Hà Nội xem là ‘xuyên tạc’, ‘thiếu khách quan’, ‘không phản ánh đúng tình hình.’

Chính phủ Việt Nam khẳng định quyền tự do báo chí được tôn trọng với hàng trăm ấn phẩm báo chí-truyền thông đa dạng được phép xuất bản.

Tuy nhiên, những người chỉ trích nói hàng trăm báo đài tại Việt Nam làm theo lệnh của một tổng biên tập là đảng cộng sản để phản ánh tiếng nói một chiều của nhà cầm quyền, phục vụ cho bộ máy tuyên truyền của nhà nước, và ca ngợi chế độ.

Kể từ năm 2002, Phóng viên Không Biên giới khảo sát và công bố xếp hạng Tự do Báo chí Thế giới để đo lường mức độ tự do báo chí tại 180 quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn cầu dựa trên các tiêu chí như tính đa nguyên, phương tiện truyền thông độc lập, môi trường truyền thông và tự kiểm duyệt, môi trường pháp lý, tính minh bạch, cơ sở hạ tầng, và tình trạng vi phạm.

Được xem là thước đo về tự do báo chí toàn cầu, Chỉ số Tự do Báo chí Thế giới năm nay cho thấy Châu Âu dẫn đầu về khu vực có tự do báo chí tốt nhất trên thế giới. Lần đầu tiên khu vực Châu Phi chiếm vị trí thứ nhì, dẫn trước Châu Mỹ. Tiếp theo sau là Châu Á và Đông Âu/Trung Á. Bắc Phi và Trung Đông là khu vực có ký giả bị đàn áp nhiều nhất trên thế giới.

3 nước EU đứng đầu bảng xếp hạng tự do báo chí năm nay bao gồm Phần Lan, Hà Lan, và Nauy.

Các quốc gia cuối bảng là Việt Nam, Trung Quốc, Syria, Turkmenistan, Bắc Triều Tiên, và Eritrea.