Ra đi mà không hẹn ngày về !!!

From Facebook: Phan Thị Hồng added 2 new photos — with Hoang Le Thanh
Ra đi mà không hẹn ngày về !!!

Theo số liệu của UN DESA (United Nations Department of Economic and Social Affairs – Vụ Liên hiệp quốc về vấn đề kinh tế và xã hội), từ 1990 đến 2015 có 2.558.678 người Việt di cư ra nước ngoài. Trung bình mỗi năm có 100 nghìn người di cư.

Việt Nam nằm trong top 10 quốc gia di cư nhiều nhất khu vực Đông Á – Thái Bình Dương (tính đến 2013).

Hầu hết người Việt di cư đến các nước phát triển, trong đó đông nhất là Mỹ (1,3 triệu), Úc (227,3 nghìn), Canada (182,8 nghìn), Pháp (125,7 nghìn), Hàn Quốc (114 nghìn), Đức (113 nghìn).

Trong năm 2015, có 2,67% công dân Viêt Nam sinh sống tại nước ngoài.

Quyền tự do cư trú và di cư là quyền chính đáng của mọi công dân, là chuyện bình thường của mọi xã hội. Nhưng hiện tượng nhiều người bỏ đất nước ra đi ồ ạt như hiện nay tại Việt Nam là chuyện bất bình thường.

Quy mô di cư của người Việt ngày càng lớn, cách thức di cư ngày càng đa dạng và phức tạp. Người dân ra đi chủ yếu vì khủng hoảng lòng tin và môi trường sống không an toàn (thực phẩm, môi trường, giáo dục, an ninh, … bất ổn).

Hơn 100 ngàn du học sinh (hầu hết là giỏi và xuất sắc) học ở 49 quốc gia, trong đó có 90% du học tự túc. Riêng tại Mỹ có 28.883 sinh viên, tại Úc có 28.524 (tính đến 10/2015). Liệu có bao nhiêu nhân tài mang kiến thức đã học hỏi về xây dựng Tổ quốc quê hương !?

Nói cách khác: Liệu chính quyền cộng sản có sử dụng tài năng và chất xám của những nhân tài người Việt theo đúng chuyên môn của họ !?

Trí thức ra đi vì cảm thấy thiếu tự do dân chủ, tuyệt vọng và bất lực vì đất nước chậm đổi mới và phát triển. Doanh nhân ra đi để “phân tán rủi ro”. Quan chức (tham nhũng) ra đi để bảo vệ tài sản, …

Theo hồ sơ Panama, 92 tỷ USD đã được chuyển phi pháp ra khỏi Việt Nam (năm 2015 là hơn 9 tỷ). Đó là những con số thất thoát quá lớn.

Một xã hội mà mỗi con người không cảm thấy được an toàn, được bảo vệ, được ủng hộ thì việc chọn một không gian, một quốc gia mới, một quốc tịch mới tốt đẹp hơn sẽ thành hiện thực.

Tất cả những người ra đi mà không hẹn ngày về là do đâu ?
Câu trả lời dành cho nhà cầm quyền tại Việt Nam.

Hình đồ họa: Bản đồ di cư của người Việt. Biểu tượng chấm hoa chỉ những quốc gia, vùng lãnh thổ có người Việt sinh sống. Nguồn: IOM.

Phan Thị Hồng's photo.
Phan Thị Hồng's photo.

Về một thứ văn hoá không biết xấu hổ

Về một thứ văn hoá không biết xấu hổ

Có quan chức, có cả nhà khoa học hôm trước còn đứng ra bênh vực chuyện chặt cây không sai, cái cây trồng ở bên đường không phải là cây mỡ, việc Formosa không sai, cá chết là do thuỷ triều đỏ…, sau đó lại nói ngược lại, lại nhảy xuống biển tắm rồi nói biển đã sạch, biển có khả năng tự đào thải độc tố… Xin lỗi, lúc đó tôi lại nhớ câu nói dân gian “cầu cho những đứa nói điêu mồm nó mọc mụn hết”. Điên lắm.

_____

FB Phạm Quang Long

29-8-2016

Phó Hiệu trưởng và Hiệu trưởng Trường ĐHKHXH&NV (1996-2001); Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội (2001-2005); Giám đốc Sở Văn hoá Hà Nội (2005-2013).

Tôi mượn ý của cuốn sách “Về một nền văn hoá biết xấu hổ” do NXB Văn học ấn hành để nói về thứ văn hoá ứng xử không biết xấu hổ đang lan nhanh như bệnh dịch hiện nay.

Xấu hổ là một trạng thái tự nhận thức của con người khi thấy hành vi của mình không phù hợp với chuẩn mưc thông thường, cảm thấy có lỗi, thấy mình không xứng đáng với vị trí, cái danh mình đang mang. Vị trí và cái danh ấy, nhiều khi không phải danh vị xã hội mà chỉ giản đơn là một con người.

Những người đã lớn tiếng bênh vực những chuyện sai ở bộ này, tỉnh kia, công ty nọ… là đúng quy trình, là không sai nhưng trong thực tế, những cái sai ấy rõ lắm, lớn lắm, phơi bày ra hết cả khía cạnh pháp lý lẫn đạo lý trước bàn dân thiên hạ rồi. Thế mà họ vãn xưng xưng như những chuyện ấy chả liên quan gì đến mình. Có lẽ họ đã luyện được công phu “thiết bì công” như Kim Dung nói, da mặt dầy hơn da voi, nên mới dám nói như vậy. Các cụ dạy cực đơn giản mà minh triết ” vừa mắt ta, ra mắt người”. Với họ, chỉ cần vừa mắt ta thôi còn người khác thế nào, họ không cần đếm xỉa. Loại này, các cụ định danh rồi: ” Quân vô loài”. Đã là quân vô loài thì còn gì để nói nữa! Chúng đâu phân biệt được phải trái đúng sai mà ngượng?

Tiền mồ hôi nước mắt làm ra, đem gửi ngân hàng, bị đánh cắp từ ngân hàng, thế mà đại diện Ngán hàng bảo: ” chúng tôi thực hiện đúng quy định pháp luật. Tiền mất là do có kẻ ăn cắp. Chúng tôi đã báo cơ quan công an điều tra. Cơ quan chức năng sẽ trả lời khi có kết quả”. Chao ôi, đến thế thì để có cuộc sống yên lành sao gieo neo quá. Ai bảo vệ mình đây? Chả thế mà khi có chuỵện này nọ xảy ra, nhiều người chọn cách tự xử vì không biết trông cậy vào ai.

Công dân có vướng mắc quyền lợi với đại diện công quyền. Thế là bị o ép đủ kiểu, thậm chí bị khởi tố. Dư luận làm rát quá, người ta kỷ luật người làm sai. Tưởng rằng công lý được phục hồi. Ai dè, người ta lại tìm lỗi khác tiếp tục truy đuổi vì những lý do như con kiến. Thôi, đành chọn con đường tránh ” quan” như tránh voi cho yên tấm thân thôi. Vụ “Xin chào”đấy.

Có quan chức, có cả nhà khoa học hôm trước còn đứng ra bênh vực chuyện chặt cây không sai, cái cây trồng ở bên đường không phải là cây mỡ, việc Formosa không sai, cá chết là do thuỷ triều đỏ…, sau đó lại nói ngược lại, lại nhảy xuống biển tắm rồi nói biển đã sạch, biển có khả năng tự đào thải độc tố… Xin lỗi, lúc đó tôi lại nhớ câu nói dân gian “cầu cho những đứa nói điêu mồm nó mọc mụn hết”. Điên lắm.

Những chuyện tương tự nhiều lắm. Tôi cũng không muốn làm phiền lòng ai vì những chuyện chẳng hay ho này. Tôi chỉ muốn nói là căn bệnh mất khả năng thấy hổ thẹn, tự thấy mình có lỗi đang trầm trọng. Nó không chỉ xảy ra với đám ” dân gian” mà đã thấm vào đám công chức, trong đó có cả công chức cao cấp, cả người đã được học hành. Mà đau nhất là nó lại ngấm vào hệ thống, có ở nhiều nơi lắm.

Làm sao đây để dân khí công chức đừng rơi xuống mức mà trước đây ngay cả những kẻ thất phu cũng không mắc phải? Trong chuyện này mỗi chúng ta cũng có trách nhiệm vì đã rủ áo, khoanh tay đứng ngoài, những tưởng cứ tránh xa nó, cứ không dối trá thì mình sẽ được yên ổn. Ta đã nhầm và phải gánh chịu những sai lầm của chính mình.

5 phép lạ chứng tỏ có Thiên Chúa

5 phép lạ chứng tỏ có Thiên Chúa

Hằng ngày, phép lạ vẫn không ngừng xảy ra xung quanh chúng ta. Thế giới chúng ta đang sống đầy các phép lạ của Thiên Chúa. Nếu bạn suy nghĩ về công cuộc sáng tạo của Ngài, bạn sẽ vô cùng kinh ngạc.

  1. SỰ SỐNG HUYỀN NHIỆM

Mỗi ngày xảy ra hàng ngàn lần, đó là khi một “mầm sống con người” được tạo ra, và sau 9 tháng 10 ngày, mầm sống này là một con người ra đòi. Phép lạ sự sống không là một hoạt động bình thường, mà là một hoạt động chứa đầy chứng cớ về thiết kế của Thiên Chúa dành cho chúng ta. Thiết kế hoàn hảo của một con người theo điều kiện hợp lý tạo nên một trứng thụ tinh, bắt đầu hình thành một bộ nhiễm sắc thể và hệ gen riêng, không ai giống ai. Và như vậy, hơi thở đầu tiên của một thai nhi bắt đầu một linh hồn mới, một sự sống mới và một mục đích mới. Đó là một phép lạ thực sự kỳ diệu của Thiên Chúa.

  1. TRÁI ĐẤT KỲ LẠ

Kích cỡ của trái đất rất hoàn hảo, chính xác tới mức nếu bất cứ thứ gì hơi khác một chút thôi, nó có thể làm hư hại, thậm chí là làm cho trái đất không còn tồn tại. Rất chính xác, tầng nitrogen và oxygen rộng 50 dặm (khoảng 80,5 km) trên mặt trái đất, nếu nhỏ hơn thì sẽ không có tầng khí quyển. Rất chính xác, nếu mặt trời gần hơn thì trái đất sẽ bị thiêu rụi, nếu xa hơn thì trái đất sẽ lạnh cóng. Vị trí trái đất chỉ lệch đi một chút thì mặt trời sẽ làm cho trái đất không có bất cứ sự sống nào. Mặt trăng cũng giữ vai trò quan trọng đối với sự hiện hữu của chúng ta, vì nó chịu trách nhiệm về thủy triều và giử ổn định quá trình xoay của trái đất. Và hiện tượng trọng lực cũng vậy… Đó là điều mà khoa học không thể giải thích. Trái đất thực sự là điều bí ẩn, là phép lạ của Thiên Chúa.

  1. CHUỖI FIBONACCI

FIBONACCI.jpg

Chúng ta có thể nhân biết Thiên Chúa qua toán học và khoa học, cái mà người ta gọi là “Chuỗi Fibonacci” (Fibonacci Squence), thường được gọi là “Dấu Tay của Chúa” (God’s Fingerprint). Sự kỳ diệu toán học này chứng tỏ rằng có Tỷ Lệ Thức Thiên Chúa (Divine Proportion) biểu lộ trong thiên hình vạn trạng, những con số và những kiểu mẫu, ở các vật sống động và không sống động. Người ta phát hiện chuỗi số tạo nên một kiểu rất thú vị. Chuỗi này bắt đầu với các con số 0, 1, 1, 2, 3, 5, 8, 13, 21, 34, 55, 89, 144, và tiếp tục tới vô cực. Mỗi con số tìm được thêm vào hai chữ số khác. Một hình chữ nhật có chiều rộng và chiều dài của bất kỳ hai số của chuỗi này, tạo nên một “hình chữ nhật hoàn hảo”. Khi “hình chữ nhật hoàn hảo” này biến thành các hình vuông dựa vào Chuỗi Fibonacci và được phân chia bằng một cung, chúng ta sẽ thấy một hình xoắn ốc. Đó là sự quan trọng được tìm thấy. Chẳng hạn, hoa hướng dương, vỏ sò, sóng biển, nụ hoa, cánh hoa, quả dứa (trái thơm), sao biển,… đều được hình thành bằng thiết kế chính xác này. Mẫu điển hình của loại này được đặt ngay trên đầu chúng ta… ngay cả hình xoắn của Giải Ngân Hà cũng được định hình bằng chuỗi thiết kế chính xác này. Nó cho chúng ta biết rằng tác phẩm của Thiên Chúa có ở khắp nơi trong vũ trụ này. Đó là các phép lạ của Thiên Chúa.

  1. CƠ THỂ CON NGƯỜI

Chúng ta biết rằng cơ thể của chúng ta chứa 70% nước, nhưng đó chỉ là một trong nhiều yếu tố kỳ diệu về cơ thể con người. Thần kinh chuyển động nhanh tới 170 dặm/giờ (khoảng 273,6 km), bạn có bất ngờ không? Khứu giác của chúng ta còn ngửi thấy mùi với vận tốc nhanh hơn như thế. Nó chịu trách nhiệm điều chỉnh nhiệt độ không khí khi chúng ta hít thở, giữ cho cơ thể chúng ta có nhiệt độ hợp lý để có thể sống. Chúng ta thay đổi và phát triển các tế bào da cứ 27 ngày một lần – nghĩa là hơn 1.000 lớp da trong suốt đời người. Lạ chưa? Chúng ta là một bộ máy được điều chỉnh toàn phần tùy vào chức năng theo một trạng thái hài hòa hoàn hảo. Cơ thể con người là một kiệt tác kỳ diệu, một mê cung hoàn hảo, chỉ có bậc siêu quần “cõi trên” mới có thể phân chia tuyệt vời như vậy. Cơ thể chúng ta là phép lạ của Thiên Chúa.

  1. VŨ TRỤ BAO LA

Vũ trụ bao la có nhiều bí ẩn mà con người chẳng bao giờ tìm hiểu hết. Nó rất rộng, rộng tới vô cực, trong đó có thế giới mà chúng ta chỉ có mơ mà thôi. Có hàng tỷ tỷ ngôi sao trên bầu trời. Giải Ngân Hà này được tạo ra bởi Giải Ngân Hà khác. Bạn có tin rằng mặt trời lớn tới mức chứa được 1 triệu trái đất? Trong một mặt trời có nhiều thế giới khác. Thật là kỳ diệu! Nếu bạn tìm chứng cớ về sự hiện hữu của Thiên Chúa, không cần tìm đâu xa, cứ nhìn vào bầu trời ngay trên đầu bạn. Ai đã đi máy bay thì sẽ nhận ra Thiên Chúa.

TRẦM THIÊN THU

(Chuyển ngữ từ Beliefnet.com)

“HÃY MỜI NHỮNG NGƯỜI NGHÈO KHÓ, TÀN TẬT, QUÈ QUẶT, ĐUI MÙ…

“HÃY MỜI NHỮNG NGƯỜI NGHÈO KHÓ, TÀN TẬT, QUÈ QUẶT, ĐUI MÙ…”

Lm. LÊ QUANG UY, DCCT,

Trích EPHATA 708

Hôm nay, đúng vào Chúa Nhật Giáo Hội mở ra Năm Thánh Thể, tôi được dự một bữa tiệc Thánh

Thể nhớ đời ! Hơn hai mươi năm trước, mấy anh em trẻ Nhóm Mai Khôi chúng tôi một hôm chia sẻ Lời Chúa bất ngờ gặp phải đoạn Lc 14, 12 – 14:

“Đức Giêsu nói với kẻ đã mời Người rằng: “Khi nào ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối, thì đừng kêu bạn bè, anh em, hay bà con, hoặc láng giềng giàu có, kẻo họ cũng mời lại ông, và như thế ông được đáp lễ rồi. Trái lại, khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù. Họ không có gì đáp lễ, và như thế, ông mới thật có phúc: vì ông sẽ được đáp lễ trong ngày các kẻ lành sống lại”

Hồi đó, chỉ ngồi vòng tròn chia sẻ với nhau được những cảm nghiệm chung chung vậy thôi, chứ đem ra thực hành, sống cụ thể từng câu từng chữ đoạn Lời Chúa này một cách sát sườn theo kiểu thầy Phanxicô nghèo khó đã từng sống mười mấy thế kỷ trước, thì cánh trẻ Giáo Dân chúng tôi xin thú thật là… chịu thua ! Cũng dễ hiểu là vì dạo ấy ai cũng nghèo, giữ được một chân công nhân viên Nhà Nước ăn gạo bao cấp đã là may, lo mà “lao động là vinh quang, lang thang là… chết đói”, còn hơi sức đâu mà nghĩ đến chuyện đãi đằng thù tạc ?!?

Thế rồi thời gian cứ trôi qua vùn vụt, nay bản thân tôi đã là Linh Mục được hơn 6 năm, thi thoảng lại chạnh lòng nhớ chuyện xưa rồi nghiệm với chuyện nay, tự dưng thấy ngường ngượng làm sao ấy. Mình tu DCCT là một Dòng đi với người nghèo, luôn miệng nói về người nghèo mà sao vẫn cứ… chẳng thấy nghèo tí nào ! Lâu lâu có dịp vui trong Dòng, mừng một vị Thánh nào đó, hoặc tạ ơn với các tân khấn, tân chức, kim ngân khánh v.v…, lễ xong thì đương nhiên cũng phải có lạc, dù tiệc tùng chẳng sa hoa tốn kém quá đáng, nhưng ăn uống nhộn nhịp xong, về phòng phải nằm nghỉ cho đỡ mệt vì ăn quá no, cười quá nhiều, ngẫm nghĩ lại thấy canh cánh một trăn trở. Nhìn tới nhìn lui trong bàn tiệc, thấy toàn là các Đức Cha, các Cha, các Soeurs, các Thầy, các ân nhân và những người quen biết gần xa, đạo cao đức trọng, súng sính áo Dòng hoặc veston, soirée, ai cũng đẹp, ai cũng sang ! Đâu rồi người nghèo ? Đâu rồi những người bị dạt sang một bên trong xã hội, chìm vào bóng tối quên lãng ?

Có lần tôi với cha Khởi Phụng và cha Tiến Lộc đem câu Lời Chúa nói trên đề nghị với Bề Trên một Dòng Nữ thuộc vào hàng nổi tiếng sống nghèo. Các chị thấy hay quá, đúng quá, nhưng không biết xoay trở ra sao. Đành cứ phải mời cho đủ các Đức Cha, các Cha, đại diện các Dòng Nam Nữ, và đương nhiên là ân nhân thân hữu, không dám quên sót ai, sợ phật lòng. Mà đã có các Đấng các Bậc cỡ đó thì đương nhiên tiệc tùng phải thịnh soạn linh đình, không thôi người ta cười cho, không đáng mặt một Nhà Dòng tổ chức kỷ niệm bao nhiêu năm hiện diện tại Việt Nam. Bữa tiệc hôm ấy, không hiểu có phải tôi trót chủ quan chăng, thấy các chị lạc lõng lúng túng một cách đáng thương giữa những chuyện dựng rạp ăn uống văn nghệ xôm trò như thế ! Mấy tuần sau có dịp trở lại thăm Nhà Dòng, nói chuyện mới thấy dư âm ngày vui ấy chẳng còn

lại gì, may mà các chị vẫn giữ được cung cách nghèo.

Đang định đợi đến dịp 2005 DCCT kỷ niệm 80 năm có mặt ở Việt Nam, anh em chúng tôi đánh bạo đề nghị với Bề Trên của mình xem sao, thì không ngờ năm nay Nữ Đan Viện Biển Đức ( Bénédictine) lại mừng 50 năm. Mới ngỏ ý sơ qua, chị Bề Trên Tố Hương chịu ngay, lại thấy vui vẻ hăng hái ra mặt, coi bộ còn hào hứng phấn khởi hơn cả bữa tiệc đãi Đức Hồng Y, các Linh Mục, Tu Sĩ đại diện các Dòng Nam Nữ tổ chức vào sáng thứ bảy hôm qua. Cả Dòng Biển Đức hơn 60 chị già trẻ được huy động để chuẩn bị thật chu đáo. Bản thân tôi được các chị ân cần nhờ đứng ra mời… ( xin lỗi, dùng nguyên văn Lời Chúa hơi bị thẳng thừng chói tai một chút ) toàn là những anh chị em “nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù”, còn thêm cả các em câm điếc, mồ côi cơ nhỡ nữa chứ ! Ngày vui ấy đã đến trong sự nao nức của cả đôi bên: người mời lẫn kẻ được mời. Sáng hôm nay, Chúa Nhật 31.10.2004, lũ lượt những Gia Đình, những Nhóm, những Mái Ấm người khuyết tật đổ về một góc nhỏ sát bên cảnh chợ đời Thủ Đức, làm xôn xao khu vườn lâu nay thanh vắng tịch mịch chỉ dành riêng cho khách Tịnh Tâm.

Bàn Thờ thay vì đặt trên bục cao, đã được dời xuống cho gần sát bên những hàng xe lăn xe lắc.

Anh em DCCT được dịp “đổ quân” về đồng tế: cha Hữu Phú, cha Văn Quang, cha Thanh Bích, tôi, thầy sáu Xô Băng, thêm một lô các thầy Học Viện áo Dòng đen cổ trắng thắt chuỗi chỉnh tề. Những chiếc áo dài Biển Đức màu cà-phê sữa hiền hòa nhu mì ngồi hẳn một cánh, còn lại là hàng trăm anh chị em và các cháu khuyết tật. Bài ca nhập lễ được cất lên trong tiếng đàn của một em khiếm thị Mái Ấm Thiên Ân:

“Lạy Chúa, chúng con về từ bốn phương trời…”

Bài đọc sách Khôn Ngoan do Phước, tay organ khiếm thị, đọc bằng những đầu ngón tay lướt nhanh nhẹ nhàng trên những hàng chữ Braille. Câu đáp  “Nguồn ánh sáng và Ơn Cứu Độ của tôi chính là Chúa, Halleluia” được chọn hát vào giờ chót, tuy không đúng với Thánh Vịnh hôm nay, nhưng sao lại khớp đến thế với tâm tình, với bầu khí hiện tại, bởi không ai có thể phủ nhận rằng những con người đã mất đôi mắt, đã chẳng còn thấy được ánh sáng cuộc đời này, lại được Chúa âu yếm tặng cho một đôi mắt của tâm linh xem ra tỏ tường hơn nhiều những đôi mắt người bình thường chúng ta ! Bài đọc Thánh Thư Thêxalônica bị chậm lại một chút vì chị Thủy, một Tân Tòng bại liệt của Gia Đình Emmanuel gắng gượng mãi mới chống nạng được tới giảng đài. Giọng chị cất lên lanh lảnh đầy xác tín:

“Danh của Chúa chúng ta là Đức Giêsu, sẽ được tôn vinh nơi anh em, và anh em được tôn vinh nơi Người…” Vâng, hôm nay đã ứng nghiệm lời Thánh Phaolô, Thiên Chúa không chỉ là sẽ, mà là đã và đang được tôn vinh nơi nghị lực vượt thắng số phận nghiệt ngã của những anh chị em khuyết tật. Hóa ra họ bị tật mà không hề bị khuyết, họ tràn đầy “ân sủng của Thiên Chúa chúng ta” ! Sau khi thầy sáu Xô Băng công bố Tin Mừng, lần lượt mỗi cha đồng tế đều ngỏ lời với cộng đoàn, mỗi người một ý, xoay quanh chuyện ông Dakêu được Chúa gọi đích danh mà đổi đời… Không còn là những mẩu bài giảng ngăn ngắn nữa, mà là những lời bộc bạch thật thà… Cha Thanh Bích kết thúc ngắn gọn: “Xin cám ơn anh chị em khuyết tật, hôm nay, chính chúng tôi lại được nhận quá nhiều…”

Nhìn xuống những hàng xe lăn, tôi bắt gặp những ánh mắt rưng rưng, nếu còn thời gian cho anh chị em khuyết tật lên tiếng, không khéo họ lại cũng nói: “Xin cám ơn các cha các thầy, xin cám ơn các soeurs Biển Đức, chúng con đâu có phải là bạn bè, anh em, hay bà con, Lễ càng chẳng phải là ân nhân, là láng giềng giàu có của Nhà Dòng, chúng con cũng đâu có gì để đáp lễ Nhà Dòng, chúng con chỉ là những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù, câm điếc, mồ côi cơ nhỡ… vậy mà sao chúng con lại được mời đến đây như thế này ?”

Đến phần Kinh Lạy Cha, mười lăm chiếc áo xanh các em khiếm thính trường Thuận An, Lái Thiêu, của mẹ Nhiệm, dì Ngọc Lan, Dòng Saint Paul, tiến lên bục cao chếch phía sau bàn thờ.

Đang khi cộng đoàn cố gắng kềm chậm lại tốc độ đọc Kinh Lạy Cha vẫn quen ào ào đều đều trong các Thánh Lễ lâu nay, thì các em bắt đầu… múa ! Vâng, múa Kinh Lạy Cha ! Em nào còn phát âm được thì vừa múa các cử điệu vừa vươn cổ, vận dụng hết độ rung dây thanh quản để ú ớ thật rập ràng: “Lạy Cha chúng con ở trên Trời… Xin Cha cho chúng con hôm nay…”

Không kềm được nữa rồi, tôi trào nước mắt, cha già Hữu Phú run run nghẹn ngào, các soeurs, cả những anh chị em ngồi xe lăn, cả các bạn sinh viên tình nguyện cũng bật khóc ! Chúa ơi ! Chúa nghe rõ tiếng các em đấy chữ ? Chúa hiểu hết lòng các em đấy chứ ? Thế này thì từ nay, chúng con, những người không bị câm, những người vẫn tự hào có tiếng có tiếng, có giọng hay ho, nhất là cánh Tu Sĩ Linh Mục chúng con, sẽ chẳng còn dám khơi khơi đọc Kinh Lạy Cha như một

cái máy vô cảm. Chúng con đã hiểu đây đâu có phải là một câu kinh để đọc rổn rảng qua loa, mà là một lời khẩn nguyện Thiên Chúa là Cha của chúng con hẳn hoi !

Rước Lễ cũng đặc biệt, các cha các thầy phải len lỏi giữa những vòng bánh xe lăn, những chiếc

giường di động, những cặp nạng ngổn ngang, những bàn tay cụt ngón, những đôi mắt đeo kính đen, để trao Mình Thánh Chúa cho từng anh chị em khuyết tật giữa tiếng hát Kinh Hòa Bình: “Lạy Chúa, xin hãy dùng con như khí cụ Bình An của Chúa,… để con rọi ánh sáng vào nơi tối tăm, đem niềm vui đến chốn u sầu…”

Đi trao Mình Thánh Chúa, các cha các thầy chúng tôi mới khám phá hôm nay có không ít những

anh chị em không phải là Công Giáo. Họ đến đây đâu phải vì tò mò hay để được phát chẩn, họ đến trước hết là vì được ân cần trân trọng, cho dù các Soeurs Biển Đức chẳng tốn một đồng xu để làm các thiệp mời giấy lụa, kế nữa, quan trọng hơn, họ đến vì mang máng đoán biết sẽ có cơ may làm quen với một người Thầy, người Bạn Chân Tình là… Giêsu.

Đến phiên các chị Biển Đức cất lên bài ca Tạ Ơn 50 năm hết sức mộc mạc dung dị. Từng lời hát,

từng nét nhạc không đệm đàn, không hề được luyện thanh điêu luyện cho nó xứng tầm những dịp long trọng thế này, vậy mà cứ vút cao, vút cao, len giữa những mái tranh, đong đưa với những ngọn tre, rồi lại như xà xuống, lay động cả những cánh cỏ xanh và những viên sỏi nhỏ trên lối đi quanh co…

Kết thúc là “Mẹ ơi, đời con dõi bước theo Mẹ…” Ừ nhỉ, sẽ luôn có Mẹ dắt đoàn mù chúng con bám vai nhau rồng rắn vào đời, sẽ luôn có Mẹ cùng bập bẹ ú ớ với chúng con bài ca Magnificat, sẽ có Mẹ đẩy phía sau những chiếc xe lăn chở đầy Tin Vui đến thăm mọi người ! Đúng là sau lễ thì cũng vẫn cứ phải có lạc, nhưng hôm nay, ở đây không có súp măng cua, không có bát bửu, không có bánh hỏi thịt quay, không có những tiếng dzô dzô dị hợm của bia bọt, không có những tiếng đập bao khăn mặt lốp bốp như pháo, không có những lời chúc tụng sáo rỗng đến tội nghiệp ! Chỉ là cơm canh xào nấu đời thường, y như ở nhà, chỉ khác là đông quá, vui quá đi thôi. Văn nghệ dã chiến thì hấp dẫn vô cùng, khiến chẳng ai còn mải nói chuyện riêng ồn ào, quên cả lia đũa để trố mắt dỏng tay nghe các em Mái Ấm Huynh Đệ Như Nghĩa của các dì Phan Sinh hát. Chú “Dakêu” Y Beo người Bahnar đeo kính đen biểu diễn nổ máy xe lam bằng miệng,

nghe thầy Phong, cô Hải cùng đệ tử Thiên Ân giới thiệu: “Ở Mái Ấm của chúng tôi, niềm vui nhân gấp đôi”, nghe Gia Đình Halleluia làm cử điệu hát vang: “Ta chỉ có một Chúa trên Trời là Cha, ta chỉ có một Đức Kitô là Thầy, còn chúng ta là anh em !”

Ở đầu bài viết này, tôi đã có nhắc đến hôm nay Giáo Hội đã mở đầu một Năm Thánh của Bí Tích

Thánh Thể. Và tôi đã tâm sự rằng mình được dự một bữa tiệc Thánh Thể nhớ đời! Tôi không quá lời mà cường điệu đâu. Anh em trẻ trong Học Viện DCCT chúng tôi đã từng được cha già Hữu Phú dạy môn Phụng Vụ truyền cho cái diệu cảm về Thánh Lễ, thì hôm nay đây, chúng tôi

cảm được cái diệu của một bữa tiệc do Chúa thết đãi là thế nào. Với Thánh Lễ, qua Thánh Lễ, Chúa dọn ra cho chúng ta một đại tiệc thịnh soạn với hai món vô giá là Lời và Mình Máu

của Giêsu, con trai yêu dấu của Người. Nói hai chứ chỉ là một, Lời và Mình Máu đều là Sự Sống Thần Linh từ Thiên Chúa đem xuống mời con người chúng ta thưởng thức, nhận lấy làm lương thực nuôi cuộc đời mình, thậm chí, dùng làm toa thuốc chữa trị những căn bệnh tưởng là nan y trầm kha. Nghe no, ăn no, uống no rồi, Chúa Cha không để yên cho đàn con ngồi đó chơi không, Người muốn chúng ta về lại đời, vào lại đời, đến phiên mình cũng phải mở tiệc thết đãi anh chị em của mình bằng chính thực đơn Sự Sống mình đã được hưởng dùng miễn phí. Cái

câu “Ite… Go… Allez… Hãy đi…” ở cuối Thánh Lễ như một lời Sai Đi mới thấm thía quá chừng ! Nhất là trong

bối cảnh Năm Thánh Truyền Giáo của Việt Nam 2004 đã sắp mãn..,

Tạ ơn Chúa Giêsu với lời nhắn gửi sát sườn: “Hãy nhớ mời những người nghèo khó, tàn tật, què

quặt, đui mù…” Cám ơn các chị Biển Đức đã đi tiên phong mở đường để chúng ta có quyền hy vọng sẽ có nhiều Giáo Xứ, nhiều Dòng Tu, trong đó có cả DCCT chúng tôi, nhiều cộng đoàn, nhiều gia đình Kitô hữu cũng biết mở tiệc “mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù…”, không chỉ đến ăn cơm canh xào nấu, mà còn hơn thế nữa, mời dự tiệc Lời và Mình Máu Giêsu. Ngẫm nghĩ thấy lo lo. Bởi năm nay 2004 sắp qua, năm tới 2005 sắp đến, chắc chắn có rất nhiều Giáo Xứ gốc dân di cư, nhiều Dòng Tu sẽ kỷ niệm 50 năm chào đời. Sẽ liên tục tiệc tùng linh đình hai ba ngày liền sau những Thánh Lễ Tạ Ơn. Chẳng ai có quyền ngăn cản cấm đoán chuyện ăn uống, nhưng e rằng tìm mỏi mắt mà không thấy Chúa đâu giữa sơn hào hải vị thơm

phức và bia bọt lênh láng ! Thôi, bài viết đã miên man lê thê lắm rồi, xin được kết bằng lời Kinh Nguyện cùng Thánh Biển Đức mà các chị đã in trên mẫu ảnh kỷ niệm tặng kèm một xâu chuỗi Mai Khôi xinh xinh mười hạt:

“Lạy Thánh Tổ Biển Đức, năm xưa dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Linh, ngài đã đi vào sa mạc Subiaco để chỉ tìm một mình Thiên Chúa. Xin ngài cầu giúp chúng con biết đi vào nội tâm, để nhờ Chúa Thánh Thần và Lòng Tin Cậy Mến, chúng con cảm nếm được sự ngọt ngào của Tình Yêu Thiên Chúa. Ước gì, một khi tâm hồn chúng con trở nên rỗng không, chúng con được đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô: gương mẫu Khiết Tịnh, Khó Nghèo và Vâng Phục.

Nhờ đó, Ơn Gọi Cứu Thế của chúng con làm nảy sinh nhiều hoa quả cho Hội Thánh và cho mọi

người, hầu tất cả đều nhận biết, mến yêu và làm vinh danh Chúa Cha hơn. Amen. Halleluia”.

Lm. LÊ QUANG UY, DCCT,

Chúa Nhật 31.10.2004

httpv://www.youtube.com/watch?v=wPPEhOhyce4

Hinh Anh Giup Do Xe Lan Cho Nguoi Tan Tat

CẦU XIN BÌNH AN CHO QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU

CẦU XIN BÌNH AN CHO QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU

 + Gm. GB Bùi Tuần

  1. Mỗi ngày, tôi vẫn thường theo dõi tình hình của Đất Nước tôi.

Dân tộc tôi trên Đất Nước tôi luôn sống động. Đồng bào tôi mỗi ngày mỗi lên đường. Tất cả đều đi trong lịch sử. Lịch sử là rất phức tạp. Có ánh sáng và cũng có bóng tối. Có leo lên và cũng có trượt xuống. Có nụ cười và cũng có nước mắt. Có xây dựng và cũng có tan vỡ. Chúa cho tôi chút khả năng biết đón nhận vào lòng mình những gì là thảm cảnh của cuộc sống con người hôm nay. Tôi đau cái đau của đồng bào tôi.

  1. Tôi vẫn cầu xin Chúa cho Đất Nước tôi.

Những ngày này, hơn bao giờ hết, Chúa dạy tôi hãy cầu nguyện nhiều hơn cho Quê Hương tôi được sự Bình an. 

  1. Chúa Muốn tôi hãy góp phần vào việc đem lại sự Bình an cho Quê Hương tôi.

Tôi nhận biết mình có quá nhiều giới hạn. Nhưng Chúa dạy, thì tôi xin vâng thực thi những gì Chúa muốn nơi tôi.

Ở đây, tôi xin được chia sẻ vắn tắt vài điều quan trọng, mà Chúa dạy tôi làm, để góp phần vào Bình an cho đất nước Việt Nam yêu dấu của tôi.

Tất cả các việc này đều dựa vào gương Đức Mẹ Maria. 

  1. Việc thứ nhất  là cầu nguyện.

Cầu nguyện nói đây là sự gặp gỡ thinh lặng trong trái tim với Chúa.

Khi gặp gỡ thinh lặng trong trái tim với Chúa, tôi cảm thấy một khát vọng được sinh lại, được đổi mới nhờ Chúa Thánh Thần. Và thực sự, Chúa Thánh Thần ngự đến. Người hiện diện. Người sắp xếp nội tâm tôi. Người cho thấy con đường tôi phải đi. Người cho tôi một trái tim như rất mới, để tôi biết yêu thương như Đức Mẹ xưa. 

  1. Việc thứ hai là lắng nghe lời Chúa.

Chúa không dạy tôi là ưu tiên phải rao giảng Lời Chúa. Đức Mẹ xưa đã rất chăm chú lắng nghe Lời Chúa, và suy gẫm Lời Chúa.

Khi tôi chăm chú lắng nghe Lời Chúa, tôi mới thấy rõ ơn gọi của tôi là kho tàng ở cõi đời đời.

Kho tàng đó là Tám Mối Phúc và thánh giá Chúa Giêsu. 

  1. Việc thứ ba là dấn thân phục vụ với tâm hồn bình an, vui vẻ.

Khi tôi dấn thân phục vụ với tâm hồn bình an vui vẻ, tôi thấy gương Đức Mẹ xưa. Mẹ nhận thức mình là thiểu số, và là thiểu số rất nghèo. Nhưng Mẹ coi chính sự nghèo khó của thiểu số đó lại có khả năng đem lại bình an cho những người xung quanh. Nhờ Mẹ có Chúa ở cùng Mẹ. Do vậy, Mẹ không có tham vọng làm những chuyện bành trướng, chinh phục đấu tranh, lôi kéo ồn ào.

 7.  Ba việc trên đây đòi tôi phảicó sự tập luyện về phấn đấu nội tâm.

Phấn đấu đó được nói lên trong kinh Hoà Bình của thánh Phanxicô: “Lạy Chúa từ nhân, xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người”.

Có những câu rất đẹp, như:

“Đem yêu thương vào nơi oán thù.

“Đem thứ tha vào nơi lăng nhục.

“Đem an hoà vào nơi tranh chấp.

“Đem chân lý vào chốn lỗi lầm”. 

  1. Nhưng để thực hiện cái đẹp của những câu trên, tôi phải là người tập luyện cam go, để từ bỏ chính mình và nhất là phải có rất nhiều ơn Chúa. Nói tắt làphải có một trái tim như trái tim của Đức Mẹ Maria. Trái tim Mẹ mang sự hiện diện của Thiên Chúa yêu thương. Người ta sẽ không đón nhận được sự hiện diện đó bằng lý luận, nhưng chỉ bằng tấm lòng khiêm nhường, khó nghèo, khao khát. Tôi cũng cầu xin như vậy. 
  1. Khi góp phần xây dựng Bình an cho Quê Hương bằng những việc trên đây, tôi rút ra kinh nghiệm này:

Hãy lấy sự thiện mà đẩy lùi sự ác. Hãy lấy yêu thương mà đẩy lùi ghen ghét. Hãy đề cao lòng thương xót Chúa hơn là nhấn mạnh đến vai trò của tội lỗi. 

  1. Đức Mẹ đứng bên thánh giá Chúa Giêsu chịu đóng đinh,đó là hình ảnh Mẹ dạy tôi hãy nên giống như vậy, để góp phần vào việc đem lại Bình an cho Quê Hương tôi. Nghĩa là tôi phải chịu khó làm như Mẹ. 
  1. Ngoài ra,tôi cũng phải tỉnh thức, biết dùng ơn Chúa ban cho hiện giờ. Tôi nhớ lại đoạn Phúc Âm sau đây của thánh Luca, nói về sự dân Do Thái đã không biết dùng ơn Chúa ban để có Bình an: “Khi đến    gần Giêrusalem và trông thấy thành, Đức Giêsu khóc thương mà nói: Phải chi ngày hôm nay ngươi nhận ra những gì đem lại bình an cho ngươi. Nhưng hiện giờ, điều ấy còn bị che khuất, mắt ngươi không trông thấy được.

Thật vậy, sẽ tới những ngày quân thù đắp luỹ chung quanh, bao vây và công hãm ngươi tư bề. Chúng sẽ đè bẹp ngươi và con cái ngươi đang ở giữa ngươi, và sẽ không để hòn đá nào trên hòn đá nào. Vì ngươi đã không nhận biết thời giờ ngươi được Thiên Chúa viếng thăm” (Lc 19,41-44). 

  1. Tôi cầu mong cho những lời trên không bao giờ sẽ được thực hiện ở bất cứ nơi nào trên Quê Hương Việt Nam yêu dấu của tôi. Rất mong mọi người đều nhận biết thời giờ Chúa viếng thăm để ban Bình anchính là lúc này. Chúng ta hãy biết nghe, và biết hoán cải đời sống ngay chính hôm nay. Kẻo rồi mất bình an sẽ là thảm cảnh đau đớn cho Đất Nước, cho Hội Thánh, cho các gia đình, cho từng cá nhân. 
  1. Ở Lộ Đức, ở Fatima, Đức Mẹ đã rất tha thiết kêu gọisự hoán cải đời sống.

Tại Việt Nam, Đức Mẹ cũng đã và đang dùng nhiều cách để kêu gọi sự hoán cải đời sống. Đó là con đường dẫn tới Bình an.

 Long Xuyên, ngày 18.8.2016

+ Gm. GB Bùi Tuần

Từ: vongtaysongnguyen

TÌNH YÊU QUAN TRỌNG HƠN PHÉP TẮC

TÌNH YÊU QUAN TRỌNG HƠN PHÉP TẮC

Lữ Khách

Tôi lớn lên trong gia đình có đạo, được giáo dục trong một khuôn khổ, phép tắc “đi thưa, về trình”; nói một câu “dạ, thưa” đến hai ba lần. Tôi giáo dục con cái tôi theo nề nếp này, vì tôi nghĩ đây là phong tục tốt cần phải giữ. Nhưng tôi đã đi quá lố. Tôi coi trọng hình thức lễ nghĩa hơn tình yêu. Tôi thiếu lòng thương xót cho đứa con gầy guộc đang nằm trên giường bệnh, không biết còn đi đứng lại bình thường được hay không…

Ngày đầu vào nhà thương, sau vài giờ truyền nước biển và thuốc, con tôi bị sốt, lạnh run cầm cập, đắp ba bốn cái mềm cũng không đủ ấm. Bác sĩ cho uống Tylenol và chích thêm thuốc cầm đau. Khi cô y tá tiêm thuốc vào cánh tay nhỏ xương xẩu, con tôi la nhói lên vì đau. Mắt con đỏ hoe, rướm nước mắt. Nhìn con lòng tôi quặn đau. Tôi không cầm được nước mắt, để các giòng lệ rơi, tôi cố giữ giọng để trấn an con:

– Con ráng chút nữa, sắp hết thuốc rồi!

Sau gần năm tiếng khi chai thuốc đã cạn, cô y tá mới tháo ống nước biển nơi cánh tay của con ra. Đến lúc này con tôi đã mệt lả người. Khuôn mặt lừ đừ, không thần sắc vì từ khi nhập viện lúc trưa cho đến giờ đã hơn mười giờ đêm, con tôi chưa có gì lót lòng. Chứng bệnh đã làm liệt các dây thần kinh ở đôi chân và đôi tay của con. Người con không khác gì cọng bún mềm, rã rượi. Con tôi chẳng buồn ăn uống và cũng lười trả lời các câu hỏi của tôi. Nếu có trả lời, con chỉ nói cộc lốc một hai câu, quên kềm theo hai tiếng “dạ, thưa”. Khi đó tôi cảm thấy như bị xúc phạm vì con đã thiếu lễ phép. Nhưng khi ý tưởng đó vừa dứt, ý nghĩ khác chợt đến: con bị đau như thế, ăn ngủ không được, làm sao mà nhớ để dạ với thưa. Vô lý! Ngày hôm sau con đã khỏe, ăn uống được chút đỉnh. Mỗi lần nhờ tôi giúp việc gì, con tôi đều lễ phép nói: 

– “Dạ thưa Ba…Cám ơn Ba…”

Đêm về tôi mở lại đoạn phim của ngày hôm qua, trở lại cái khúc tự ái bị xâm phạm. Tôi tìm mọi lý lẽ để bênh vực cho lối suy nghĩ “chính đáng” của mình. Nhưng cũng cùng lúc ấy, lòng tôi bị thổn thức, xốn xang. Tôi mất bình an. Tiếng nói của Thần Dữ gợi lên lòng tự ái, tự kiêu, đem cái truyền thống phép tắc đã có từ nghìn xưa, lôi tôi trở về theo phe nó. Trong lúc lòng tôi đang phân vân chưa biết nghe theo tiếng nói của Thần Lành hay Thần Dữ, thì lời Chúa đến với tôi: “Trên hết mọi sự hãy làm vì đức yêu thương.” Tôi nghe những lời này rất nhiều lần, từ tai này sang tai kia. Nhưng chưa bao giờ tôi dừng lại để cảm nghiệm hay để sống những lời này. Tôi thấy mình thật vô lý khi đòi hỏi nơi con một điều qúa đáng. Đã bao lần tôi nằm co quắp ôm bụng, nhăn nhíu mặt mày vì cơn đau bao tử, tôi có được mấy lời nhã nhặn với vợ con của tôi? Mãi đến hôm nay, tôi mới thật sự thấm hiểu Lời Hằng Sống này. Mới biết rằng bao lâu nay tôi đã đặt sai thứ tự trong cuộc sống. Tình yêu quan trọng hơn hết mọi sự, quan trọng hơn phép tắc ngàn lần!

 Bạn thân mến!

Những biến cố đau thương: bệnh tật, chia ly, chết chóc xẩy ra trong cuộc sống, trong gia đình, cho mỗi người chúng ta không hẳn là một điều xấu nếu được nhìn bằng con mắt đức tin; khi chúng ta biết lắng đọng tâm hồn để tìm thánh ý Chúa qua từng biến cố.

***

Lạy Chúa, cám ơn Chúa đã mở mắt tâm hồn con, giúp con nhận ra chỉ có Tình Yêu là quan trọng nhất, là cao qúi nhất trên cuộc đời này. Xin Chúa gíup con luôn biết khiêm nhường để nhận và sửa sai những lỗi lầm của con, để mỗi ngày con được trở nên giống Cha trên trời là Đấng hiền lành và khiêm nhường trong lòng. Amen.

Lữ Khách

Ngọc Nga sưu tầm

NHẬN VÀ CHO

NHẬN VÀ CHO

Giuse Ngô Văn Chữ, S.J.

Khi Đức Giêsu đón nhận năm chiếc bánh và hai con cá, Ngài dâng lời cảm tạ rồi đưa cho các môn đệ của Ngài.  Ngài không trực tiếp đi phát phân bánh và cá cho năm ngàn người đàn ông, mấy ngàn người phụ nữ và các em nhỏ.  Thánh Matthêu thuật lại rằng Đức Giêsu đưa bánh và cá cho các môn đệ và dặn họ thay Ngài đi phân phát bánh và cá cho tất cả mọi người được ăn no nê (Mt 14:19b).

Mời anh chị em cùng tôi thử nhìn ngắm thánh Simon Phêrô đi phát bánh.  Phêrô nhận bánh tình thương và cá ân sủng nơi Đức Giêsu và đi phân phát.  Ngài thấy một cụ già lúc nào cũng chăm chú nghe Thầy mình giảng dạy, chắc cụ là người thèm khát Lời Chúa và là người tốt: “Cụ ăn cho no nghe, cụ cứ dùng thoải mái.”  Ngài vui vẻ đi phân phát và thích thú trong công việc này.  Phêrô gặp một anh chàng đi theo thầy trò mình để xem phép lạ.  Ngài không ưa hắn lắm nhưng cũng đưa bánh và cá cho hắn cho xong việc.  Nhưng anh chàng này lại tham lam đòi nhiều bánh mới chịu, Ngài phải cự thì hắn mới thôi.  Ngài đang chuẩn bị trao bánh cho một người khác thì phát giác tên này là đầy tớ của ông Thượng tế, “Tao dứt khoát không phát cho mày,” Phêrô nghĩ bụng, “Đừng hòng mà mày có một miếng, cho mày chừa để lần sau đừng đi theo bọn tao để lấy tin tức về báo cáo.”  Phêrô thầm nghĩ như vậy và chẳng muốn phát, nhưng Ngài chợt nhớ lời dặn của Thầy mình: “Anh chị em nhớ phân phát cho mọi người ăn no nê nghe.”  Nhớ lời Thầy và cuối cùng Phêrô đã phát.  Một lần nữa Phêrô gặp một ông Pharisêu, Ngài thầm nghĩ tên này thì không cách nào mà phát được, thầy mình nói câu gì thì nó cũng xuyên tạc, nó nói chặn họng, nó là một tên phá rối.  Thầy mình cự với nó không biết bao nhiêu lần, nó là kẻ thù không đội trời chung của mình, thầy mình chưởi nó là đồ cái thứ mồ mả tô vôi thế mà nó cứ chai mặt đi theo để nói xiên nói xẹo, chắc chắn không bao giờ mình phát bánh và cá cho nó.  Nhưng khi Phêrô quay lại bắt gặp ánh mắt đầy tình thương của Thầy và nhớ lại lời dặn dò kỹ lưỡng của Thầy khi trao bánh và cá cho mình: “ Phêrô ơi, anh nhớ phát cho tất cả mọi người, đừng chừa một ai, và hãy cho họ được ăn no nê.”  Phêrô dù không muốn phát bánh tình thương và cá ân sủng cho những người Ngài không ưa, nhưng rồi cũng đã ban phát như ý Thầy mình mong muốn.

********************************

Chúng ta thử hình dung một môn đệ theo Chúa Giêsu, giả sử tên G. chẳng hạn, cũng nhận bánh và cá từ tay thầy.  Nhìn mẩu bánh và cá trên tay, y nghĩ rằng chừng nấy người thì biết phát cho ai, họa may chỉ đủ cho mình dùng, và y cất bánh và cá vào túi.  Vì chỉ nhận và cất đi, nên phép lạ không thể xảy ra.  Phép lạ xảy ra khi người môn đệ đón nhận và biết phân phát, cho đi.  Như biển hồ Galilê và biển chết chẳng hạn, biển hồ Galilê nhận nước từ các đồi núi đổ xuống và nó phân phát nước qua sông Giođan đến biển chết, vì biển hồ Galilê nhận và chuyển nước nên lúc nào cũng có nước mới, và cá mới sống được.  Còn biển chết vì nó chỉ nhận nước từ sông Giođan và giữ lại đó nên trở thành nước ao tù và không tạo vật nào có thể sinh tồn.

Theo trình thuật của Thánh Matthêu, khi các môn đệ nhận bánh và cá từ tay Đức Giêsu để đi phân phát, họ chỉ đón nhận bằng hai tay của mình chứ không dùng thúng để hứng.  Nhưng khi đang phân phát thì họ mới sững sờ chứng kiến phép lạ xảy ra, họ phát hoài mà không hết và các môn đệ ngỡ ngàng!  Phép lạ chỉ xảy ra khi các môn đệ nghe theo lời dặn và hợp tác với thầy để đi phân phát bánh và cá.  Đức Giêsu không nói với họ nhận bánh cá để ăn, nhưng là để phân phát.  Nếu họ chỉ giữ lại để ăn thì phép lạ không thể xảy ra.  Họ đã vâng nghe làm theo Lời Thầy và được cảm nghiệm tình yêu, ân sủng, phép lạ và quyền năng của Thiên Chúa.

Anh chị em thân mến, đâu là những chiếc Bánh Ân Sủng và Cá Tình Thương mà Thiên Chúa đã đưa cho bạn và tôi với lời dặn: “Con nhớ đi phân phát cho tất cả người tốt lẫn kẻ xấu được ăn no nê?”  Cái gì cản trở bạn và tôi ban phát Bánh Tình Yêu và Cá Ân Sủng như lòng Chúa mong ước?  Đâu là những cảm nghiệm niềm vui thiêng liêng khi bạn và tôi gạt bỏ ý riêng của mình để làm theo Thánh Ý Chúa?

****************************

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết đón nhận Tình Yêu và Ân Sủng của Chúa ban nhưng không và biết lên đường phân phát cho tất cả mọi người, kẻ tốt lẫn người xấu, cho người con thương con mến, cũng như cho người con ghét, con không ưa, như Chúa đã dặn dò khi Chúa trao Bánh Tình Yêu và Cá Ân Sủng cho con.  Con đã đón nhận tình thương và ân sủng Chúa một cách nhưng không, xin Chúa cũng cho con ơn can đảm để quảng đại cho đi không mà tính toán.  Amen!

Giuse Ngô Văn Chữ, S.J.

BIỂN ĐÔNG: TỪ XUẤT HIỆN “ĐƯỜNG LƯỠI BÒ” ĐẾN NAY.

From: Lam Phung
BIỂN ĐÔNG: TỪ XUẤT HIỆN “ĐƯỜNG LƯỠI BÒ” ĐẾN NAY.

(Có tham khảo tài liệu của ông Đỗ Ngọc Uyển, Morgan Hill, California).

Năm 1949, Trung Hoa Dân Quốc (Tưởng Giới Thạch) rút ra Đài Loan, Đảng CSTQ ở lục địa thành lập nước CHND Trung Hoa, sử dụng tiếp bản đồ hình lưỡi bò 11 đoạn do Trung Hoa QG xuất bản tháng 2/1948. Năm 1953, cắt đi một đoạn trong Vịnh Bắc bộ (còn 10 đoạn), sau cắt thêm đoạn nữa thành 9 đoạn hiện nay.

Trong Đại chiến II, Nhật chiếm một số đảo ở Hoàng Sa, Trường Sa (HS-TS). Tháng 8/1945, Nhật bại trận, quân Nhật rút khỏi VN, ngày 26/8/1945 cũng rút khỏi các đảo chiếm đóng. Lúc này, VN vẫn thuộc quyền Pháp đô hộ, về danh nghĩa Pháp có nhiệm vụ bảo vệ HS-TS. Khi Pháp trả độc lập cho VN, Hiệp ước Élysée ngày 8/3/1949 bàn giao HS-TS cho Chính quyền Quốc gia VN(14/10/1950).

Về phía TQ, với tư cách phe Đồng minh, ngày 27/8/1945, TQ chỉ định Tướng Lư Hán sang giải giới quân Nhật ở Bắc VN và ở lại 3 năm vãn hồi an ninh. Đầu 1946, TQ cử Lâm Tuân và hạm đội đi “tiếp thu” những đảo Nhật bỏ lại ở HS-TS. Không ai biết chính xác những đảo nào Nhật đã chiếm. Một nhân viên thuộc Bộ Địa chất và Khoáng sản TQ tên Bạch Mi Sơ cùng đi đã vẽ một họa đồ tượng trưng bằng hình 11 đoạn, chiếm 80% diện tích biển Đông (cả HS-TS). Khi đoàn về, bản vẽ này được áp dụng in bản đồ đầu tiên, Vụ Biên giới và Lãnh thổ, Bộ Nội vụ TQ xuất bản tháng 2/1948 ghi: “Tác giả: Bạch Mi Sơ (Bộ Địa chất), năm sinh: 1946; nơi sinh: Trung Hoa Dân Quốc; người lập khai sinh “Nam Hải chư đảo vị trí đồ”.

Đường lưỡi bò vẽ tùy tiện, không theo quy ước thiết kế bản đồ, không phóng chiếu hệ thống toạ độ, không chính xác địa lý…, do đó, không có giá trị pháp lý biên giới. Biết điều này, TQ ngụy tạo “giá trị lịch sử”: khẳng định là di sản ngàn đời tổ tiên truyền lại (từ nhà Hán cách hơn hai ngàn năm…), là sự thật lịch sử không thể tranh cãi… Thật ra, bản đồ đó mới chỉ xuất hiện tại TQ cách đây 68 năm.

Ngày 4/9/1958, TQ tuyên bố bề rộng lãnh hải 12 hải lý áp dụng toàn lãnh thổ TQ, gồm bờ biển với đất liền, đảo ngoài khơi, đảo phụ cận, quần đảo Bành Hồ, các quần đảo: Đông Sa, Tây Sa, Trung Sa, Nam Sa và các đảo khác thuộc TQ. Trên cơ sở này, TQ xác định đường cơ sở lãnh hải, cấm máy bay, tàu bè nước ngoài xâm nhập nếu TQ chưa cho phép.

Từ 5/9 đến 8/9/1951, Hội nghị San Francisco ký kết Hòa ước với Nhật, có đại diện 51 nước tham dự. Ngoại Trưởng Gromyko (Liên Xô) đề nghị trả chủ quyền HS-TS cho TQ. Kết quả: 48 phiếu bác bỏ, có ba phiếu thuận (Liên Xô, Tiệp Khắc, Ba Lan). Nhật bỏ phiếu trắng. Ngày 7/9/1951, Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Trần Văn Hữu (Quốc gia VN) tuyên bố HS-TS là lãnh thổ VN, không đại diện nào tại hội nghị phản đối. Ngày sau, Hòa ước được ký kết. Điều 2, đoạn 7 ghi rõ: “Nhật Bản từ bỏ chủ quyền, danh nghĩa và tham vọng đối với các quần đảo Paracel và Spratly” (khoản f). Ông Trần Văn Hữu đã ký Hòa ước này.

Ngày 14/9/1958, Thủ tướng Phạm Văn Đồng (VN Dân chủ Cộng hòa) gửi một công hàm điện báo đến Thủ tướng Quốc vụ viện TQ, đến 21/9/1958, Đại sứ VN DCCH tại TQ Nguyễn Khang trình công hàm lên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao TQ Cơ Bàng Phi: “…Chính phủ nước VN DCCH ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4/9/1958, của CP Nước CHND Trung Hoa, quyết định về hải phận 12 hải lý của TQ. CP Nước VN DCCH tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của TQ trong mọi quan hệ với nước CHND Trung Hoa trên mặt biển…”. (Trong lúc chủ quyền hai quần đảo này chính thức do VN Quốc gia ở phía Nam quản lý. Ngày nay, TQ cho rằng công hàm là bằng chứng cho thấy VN đã công nhận chủ quyền của TQ với HS-TS).

Sau khi ký Hiệp định Paris 1973, Hoa Kỳ rút Hạm đội 7 và thiết bị quân sự ra khỏi HS, không liên quan việc tranh chấp tại đây, Bộ Ngoại giao TQ ra tuyên bố HS-TS là lãnh thổ TQ và tố cáo Việt Nam Cộng hòa chiếm đóng trái phép. Phía VNCH ra tuyên bố đáp trả ngược lại. Trận chiến diễn ra. Do không cân sức, hải quân VNCH đã thất bại. Ngày 19/1/1974, TQ chiếm trọn HS. (Theo tiến sĩ Balazs Szalontai – Hungary: TQ quyết định chiếm quần đảo HS trước khi VNCH sụp đổ – nghĩa là trước khi VN DCCH có thể chiếm).

Ngày 14/3/1988; sau khi thuộc sự quản lý của CHXHCN VN, tiếp tục đánh dấu thất bại của Hải quân QĐND VN ở một số đảo thuộc quần đảo TS trong trận đánh với TQ. Gần tháng sau, tại quần đảo TS, Đại tướng Lê Đức Anh thề: …xin hứa trước đồng bào cả nước, xin nhắn nhủ với các thế hệ mai sau: quyết tâm bảo vệ bằng được Tổ quốc thân yêu, bảo vệ bằng được quần đảo TS – một phần lãnh thổ và lãnh hải thiêng liêng…”.

Trên cơ sở UNCLOS, đường lưỡi bò xâm phạm vùng biển đặc quyền kinh tế (Exclusive Economic Zone, EEZ) 4 quốc gia: VN, Brunei, Malaysia và Phillipines. Là quốc gia thành viên UNCLOS, tháng 2/2013, Phillipines nộp đơn kiện TQ tính phi pháp đường lưỡi bò tại Tòa Hòa giải Trọng tài Quốc Tế (thường trực tại The Hague). TQ tuyên bố: bản chất vụ kiện là tranh chấp chủ quyền các thực thể quần đảo TS. Do đó, Tòa án trên không có thẩm quyền xét xử tranh chấp lãnh thổ, TQ không tham gia vụ kiện, không bị ràng buộc quyết định của Tòa. TQ cho rằng họ có đầy đủ chủ quyền lịch sử với các đảo biển Đông và tài nguyên trong đường lưỡi bò.

Sau ba năm thụ lý, ngày 12/7/2016, Tòa án ban hành án lệnh có hai điều luật liên quan sau:

1. TQ không có cơ sở pháp lý đòi chủ quyền lịch sử các nguồn tài nguyên trong đường lưỡi bò, tuyên bố của TQ đi ngược lại Công ước của LHQ về Luật Biển (United Nations Convention On The Law Of The Sea).

2. Cơ chế giải quyết tranh chấp của UNCLOS cho phép một bên đơn phương khởi kiện bên còn lại ra tòa (Phụ lục VII). Điều này cũng bác bỏ tuyên bố của TQ: “Tòa Trọng tài đượcthành lập theo yêu cầu đơn phương của Manila, không có thẩm quyền xem xét đơn kiện, phán quyết của Tòa này đưa ra là vô giá trị và không có tính chất ràng buộc pháp lý”.
Với phán quyết trên, tranh chấp biển Đông đã được QT hóa, không còn là vấn đề hai bên giải quyết như TQ nói.

Sau án lệnh, TQ bác bỏ phán quyết của Tòa án Hòa giải Thường trực QT (Permanemnt Court of Arbitration), tuyên bố không tuân thủ, trở thành quốc gia ngoài vòng luật pháp QT, không xứng đáng là cường quốc, thành viên của HĐ Thường trực Bảo an LHQ.
Ngày 13/6/2016, TQ ban hành sách trắng bác bỏ phán quyết trên và vẫn khẳng định chủ quyền lịch sử với các đảo ở biển Đông, HS-TS… Bảy hòn đảo mà TQ chiếm là những cồn cát, vỉa đá (rock reef), vỉa san hô (coral reef) nửa nổi nửa chìm hoặc hoàn toàn chìm và chỉ nổi lên khỏi mặt nước khi thủy triều xuống như đảo Gạc-ma (Johnson South Reef). Vì không thể định cư, trồng trọt, chăn nuôi, sinh sống nơi đây, theo UNCLOS, không tính trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

Là quốc gia thành viên (state member) UNCLOS, nhưng TQ phớt lờ các nguyên tắc, bồi đắp thành đảo nhân tạo, thiết lập tiền đồn quân sự. Tuy biết phi lý, TQ vẫn đòi có vùng đặc quyền KT 200 hải lý và thềm lục địa ngoài 200 hải lý với các đảo nhân tạo, làm chủ tài nguyên cả khu vực.

Hoa Kỳ theo luật pháp QT đã đưa chiến hạm tuần tra thường lệ ở biển Đông bảo vệ quyền tự do hàng hải, cách bờ biển 2 hải lý chứ không phải 12 hải lý. Khi vào quần đảo TS, chiến hạm tuần tra tiến sát đảo nhân tạo, TQ cho là Hoa Kỳ khiêu khích và gây căng thẳng.

Ngày 2/8/2016, Tòa án Tối cao TQ đưa ra phán quyết 4 điều sau:
1/ Những ai bị bắt khi đang đánh bắt cá trái phép trong vùng biển của TQ có thể bị tù tới một năm, và vùng biển này bao gồm cả vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng kinh tế đặc quyền và thềm lục địa.

2/ Phán quyết này dựa trên luật pháp TQ và Công ước LHQ về Luật Biển (UNCLOS).

3/ Các tòa án nhân dân sẽ tích cực thực thi quyền tài phán trong vùng biển chủ quyền TQ, hỗ trợ ban ngành hành chính quản lý biển hợp pháp, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và lợi ích TQ.

4/ Phán quyết này bảo đảm về pháp lý cho lực lượng chấp pháp nghề cá.

Mặt khác, TQ vận động một số nước trong Asean và các nước khác hưởng lợi từ TQ ủng hộ tuyên bố của họ.

Tiếp tục chờ xem diễn biến vụ việc.

L.P

No automatic alt text available.

ĐÔI MÔI CƯỜI.

Kimtrong Lam
ĐÔI MÔI CƯỜI.

Đôi môi cười biết bao nguồn hạnh phúc
Ngầm chở chuyên cuộc sống thật bình an
Đến với nhau lời lẽ luôn dịu dàng
Đừng trù ếm xin ban cho lời chúc…

Đôi môi cười vẫn luôn là mạch sống
Bởi trời ban riêng cho mỗi con người
Nhận lúc mới sinh nhưng tại mình lười
Bỏ quên mất nụ cười không manh động…

Đôi môi cười chúng ta luôn trải rộng
Phát từ tim chất chứa cũng từ tim
Nên khởi động cùng nhau khỏi bị dìm
Đời vất vả…nụ cười luôn mơ mộng…

Đôi môi cười gởi đến mọi người thân
Cùng chung hưởng ấm êm và hạnh phúc
Để mỗi ngày yêu thương thêm thuần thục
Chân lý đó không xa…lại rất gần…

Liverpool.27-8-2016
Song Như.

 DOI MOI CUOI

‘Bún bò Huế’

‘Bún bò Huế’

Nguoi-viet.com

Một tô bún bò Huế. (Hình: Wikipedia.org)

Một tô bún bò Huế. (Hình: Wikipedia.org)

Tạp ghi Huy Phương

“… Cha mạ ơi! Tụi hắn đem bán cả biển, rừng, đất đai của tổ tiên chưa đủ lòng tham, chỉ còn một món ăn quê hương nghèo khó nghìn đời của mạ tui, tụi hắn còn giành giật cho là tài sản của mình, đăng ký với Cục Sở Hữu Trí Tuệ Ba Đình, ban hành quy chế quản lý và sử dụng, để từ ni, ai bán bún bò Huế thì phải xin phép lũ hắn, mấy thằng ‘cán ngố’ Thừa Thiên-Huế! Răng mà tham lam, độc ác tận mạng rứa Trời! Mả cha cái đồ vô hậu!”

Nếu mạ tôi còn sống, bà sẽ chửi cách Huế như vậy, sau khi nghe tin Ủy Ban Nhân Dân Thừa Thiên-Huế “cưỡng chế” món bún bò Huế đã có tự nghìn xưa. Hơn nữa đối với những người này, những người vô liêm sỉ, phải dùng loa phường, loa khóm mà chửi ra rả suốt ngày như kiểu “chửi mất gà” may ra mới đã nư!

Đối với người Việt Nam, bún bò Huế không phổ biến bằng món phở. Phở là của cả một miền, miền Bắc, không phải của Hà Nội, Hải Phòng hay Hải Dương. Thời còn Tây, người ta đã nói tới phở Bắc rồi, dưới cái tên Tây là “Soup Tonkinoise” để phân biệt những gì của Annam (Trung Kỳ) và Cochinchine (Nam Kỳ). Nhất là sau ngày miền Bắc di cư, chạy nạn Cộng Sản, thì phở Bắc tràn lan trong Nam, đuổi cả món mì, hủ tiếu chạy có cờ. Ngày nay, đã mất chữ “Bắc” rồi, nói đến phở là nói đến Việt Nam hay người Việt, khách ngoại quốc ai ăn rồi cũng muốn trở lại.

Nói chung, bún bò Huế không phát triển phổ biến bằng phở, chẳng qua vì khó nấu và cũng khó ăn, vì bún bò không những cay mà còn đậm mùi sả, mùi ruốc. Bằng chứng là sau này, khi Tổng Thống Mỹ Bill Clinton thăm Việt Nam, người ta mời ông đi ăn phở chưa chẳng ai dám mời ông ăn thử một tô bún bò.

Bún bò là món đặc trưng của thành phố Huế, nơi có sông Hương, núi Ngự, và cầu Trường Tiền, thành ra không ai gọi là bún bò Thừa Thiên. Vượt qua đèo Hải Vân thì đã có món mì Quảng thống trị, đi vô nữa rồi mới có nem Ninh Hòa…

Ngày trước, ở Huế có bún bò CLB Thể Thao, bún bò Nhà Hát Lớn, bún bò Nam Giao, Đà Nẵng có bún bò Tổng Liên Đoàn Lao Động, Pleiku có bún bò Nhà Xác (vì nó nằm trong bệnh viện), Đà Lạt có bún bò Cây Số 4… Không nóng, không cay không phải là bún bò. Tô bún bò nguyên lai không có huyết, không có chả, cũng không ăn với rau, với giá hay với bắp chuối. Những thứ đó ăn kèm theo thì con chi là mùi vị bún bò.

Bún bò Huế còn có một cái tên gọi nữa là “bún bò giò heo.” Nói chữ “bún bò giò heo” thì người ta bỏ chữ Huế đi theo. Cũng nên hiểu “giò” đây là chân hay cẳng, chứ không phải “giò” là “chả” theo cách nói của người Bắc! Người ăn có quyền lựa chọn loại giò: giò khoanh (phần trên có thịt, có xương, có da), giò móng (phần dưới có móng,) gió búp (chỉ có thịt và da).

Cái quê mùa của cách ăn bún bò ngon là chỉ dùng một đôi đũa mà không có muỗng, nghĩa là vừa ăn vừa húp sùm sụp, thỉnh thoảng lại cắn trái ớt nghe cái bụp. Khi một o bán bún bò dừng gánh, múc cho bạn một tô bún, cầm trên tay, không có một cái bàn để tô bún xuống thì làm sao mà dùng muỗng. Cũng là món ăn dùng bún, tôi nghĩ tô bún riêu cua ở quán đầu làng, bên cạnh gốc cây đa của miền Bắc cũng không ai dùng muỗng.

Bây giờ người ta cho lối húp là quê mùa, mất lịch sự nhưng ăn bún, ăn phở mà không húp là mất ngon!

Người Việt Nam có lối ăn canh là phải húp sùm sụp, “Đầu tôm nấu với ruột bầu, chồng chan vợ húp, gật đầu khen ngon!” Người Nam ăn bánh bèo, bánh khọt là phải “húp nước mắm,” thì người Trung ăn bún bò mà dùng muỗng là tô bún mất ngon, phải húp.

Ở đâu cũng có quán bún bò, có tiệm bún bò, nhưng chỉ ở Huế ngày xưa, mới có một “trung đội bún bò gánh” từ An Cựu, mỗi buổi sáng tỏa lên thành phố Huế. Mấy o gánh bún bò phải đi chân đất để vừa đi vừa chạy, nhưng luôn luôn mặc áo dài, đó là đặc tính truyền thống của xứ Huế dù là buôn thúng bán bưng, như những o bán rao bánh bèo, bánh ướt, bánh bột lọc, bán bắp nấu hay những o bán đậu hũ… Một đầu gánh là thúng bún, gia vị, chén bát và cả một cái chậu đựng nước rửa tô (Huế gọi là đọi). Một đầu là nồi bún đang nóng, đặt trên mấy cục gạch có mấy thanh củi đang cháy. Một đầu gióng còn giắt một cái đòn (ghế nhỏ) để người bán hàng có thể ngồi mà múc bún cho khách ăn.

Bún bò gánh được coi là bún bò bình dân, giá rẻ. Ngày xưa còn nhỏ, đã nhiều lần tôi được ăn bún bò gánh chứ chưa bao giờ được bước chân vô tiệm bún bò.

Trong hồi tưởng, những tô bún bò gánh của những ngày xa xưa ấy, sao mà ngon đến thế, mà năm thì mười họa mới được ăn một lần. Tô bún bò gánh quá khiêm nhường, miệng tô thì to mà đít tô thì nhỏ, húp mấy miếng là đã hết. Miếng thịt cắt nhỏ, cái móng heo còn xẻ đôi, thèm thuồng thật nhưng làm gì có được tô thứ hai.

Lớn lên rồi, đi tứ phương, vẫn không thấy tô bún bò nào ngon bằng tô bún bò gánh của o Năm, mụ Ba… trong ngõ ngách dĩ vãng ngày xửa ngày xưa. Có người nói đó là cảm giác không thật, chẳng qua vì ngày xưa đói, nghèo mà thèm ăn, nên cái gì cũng ngon, cũng thơm, đậm đà khua rộn ràng con mắt đói nhìn, lỗ mũi thở sâu và cái lưỡi hít hà.

Có thật vậy không? Xin hãy cho tôi lại những ngày tháng cũ.

Bây giờ không ai còn cho tôi một chút riêng tư, vạt đất sau hè là của nhà nước, ngọn rau, củ sắn là thuộc hợp tác xã, miếng thịt, con cá là đồ quốc doanh. Người ta cưỡng chế cả đất đai, ruộng vườn, ao hồ sông rạch, gọi là cướp ngày có dùi cui, súng đạn. Bây giờ trong văn phòng có máy lạnh, vô công rồi nghề, họp hành cho lắm, mới nẩy ra cái sáng kiến “ích quốc lợi dân,” nghìn năm chưa ai nghĩ ra, là lấy cái món ăn của ông cha làm vật sở hữu của phe đảng mình.

Chỉ là một món ăn dân dã, mà họ tiếm đoạt, coi như đây là một sở hữu trí tuệ, mà họ làm chủ, ai dùng thì phải làm đơn xin phép, như đã từng có những lá đơn xin đi ở tù, xin tạm vắng, xin tạm trú.

Tờ giấy làm ra từ thớ thịt của gỗ rừng, nhưng lá rừng không ghi hết tội ác của họ.

Đây chỉ mới là bún bò Huế, món trí tuệ sở hữu của Ủy Ban Nhân Dân Thừa Thiên-Huế, rồi đây còn bánh canh Nam Phổ, bánh bèo Nam Giao… cho các huyện ủy địa phương mấy nơi này.

“Mạ ơi! Còn một món cơm Âm Phủ, thôi thí cô hồn cho họ luôn cho hợp tình, hợp lẽ, mạ hí!”

Chiều buông trên giòng sông Cửu Long

Chiều buông trên giòng sông Cửu Long
Như một cơn ước mong, ơi chiều.
Về đâu ơi hàng cây gỗ rong,
Nghiêng mình trên sóng sông yêu kiều.
(Phạm Duy – Chiều Về Trên Sông)

(1 Côrinthô 1: 17-18)

 Trần Ngọc Mười Hai

Chiều về đâu không về, sao cứ về trên sông, đến như thế? Nhất thứ là sông Cửu Long những chín con rồng có “ước mong”, có “gỗ rong” “nghiêng mình trên sóng sông (rất) yêu-kiều”.

Buồn đâu không buồn, sao lại “bỗng dưng theo đò ngang quá giang thương chiều” một nỗi buồn, tựa hồ như ca-từ còn hát tiếp ở bên dưới:

“Buồn tôi không vì sao bỗng dưng
Theo đò ngang quá giang thương chiều
Bởi vì thương nhiều nên nhớ (ơ) tình yêu
Bởi vì đời còn nhiều khi là mơ

Bởi vì đời còn nhiều khi thành thơ
Có khi vui lững lờ
Có khi tuôn sầu u
Bởi vì chiều buồn chiều về giòng sông
Bởi vì tình đời nào chỉ thù oán
Hãy cất tiếng ca cho đời thêm (ý) buồn
Hãy cất tiếng ca cho lòng thôi khô héo
Chiều buông trên giòng sông cuốn mau
Thương đời thương lẫn nhau trong chiều.”

(Phạm Duy – bđd)

Vâng. Chiều buồn rất ư là như thế. Thế, có nghĩa: nếu cứ “giang” theo lời ca tiếng hát của nghệ-sĩ, văn-học, thì chắc người đọc và người nghe sẽ cứ thế mà hát mãi những câu ca “bọt bèo”, “mến yêu” như người hát cứ ca hoài ca mãi đến như sau:

 “Về đây bọt bèo muôn khắp nơi.
Vui buồn cho có đôi không nhiều.
Ngày mai sông về quê mến yêu.
Cho trùng dương cũng theo hương chiều.
Bể sầu không nhiều nhưng cũng (ư) đủ yêu..
(Phạm Duy – bđd)

Vâng. Hôm nay, nhờ nghe đi nghe lại bài “Chiều Về Trên Sông” của nhạc sĩ họ Phạm tên Duy mà bầy tôi đây bèn nảy ra ý-định viết về những chuyện buồn xóm nhỏ đọc ở đâu đó, như một cảm-nghiệm ta truyền cho nhau, như sau:

“Truyện là truyện kể về ông bố dượng như thế này:

Ông ấy đã hơn 50 tuổi, lấy mẹ tôi cũng vì muốn tìm người bầu bạn lúc tuổi già. Ông không có điểm gì nội trội ngoài khả năng nấu ăn và tấm lòng chân thật, nhưng khi tiếp xúc với ông, tôi mới thật sự hiểu ra hai chữ “người nhà”.

Sau khi bố tôi mất được ba năm, ông ấy đã đến nhà tôi. So với người cha của tôi, ông ấy tầm thường đến nỗi chẳng có ưu điểm gì đáng để nói đến. Nhưng mà, người mẹ ngoài 50 tuổi cần có một người bầu bạn, mà yêu cầu của người già đã ngoài 50 tuổi đối với một nửa kia rất nhiều khi chỉ cần phẩm cách tốt là được rồi.

Về mặt này ông ấy có đủ điều kiện, bởi ông là người tốt nổi tiếng gần xa, là người thật thà chất phác. Cái hôm gặp gỡ lần đầu tiên với mẹ tôi, ông rất bối rối. Bởi vì ông biết rất rõ rằng mọi phương diện của mình đều không có ưu thế: nhà thì chật hẹp, tiền lương thì ít, chẳng qua chỉ là một công nhân phổ thông nghỉ hưu, hơn nữa nhà của cậu con trai vừa mới kết hôn cũng cần đến sự giúp đỡ của ông.

Nói thật lòng, mẹ tôi cũng chỉ là vì nể mặt người mai mối nên mới quyết định đến gặp ông ấy. Và cuối cùng mẹ đã sinh ra thiện cảm đối với ông bởi tài nghệ nấu nướng của ông.

Sau khi gặp mặt, ông ấy nói: “Bà Lý này, tôi biết điều kiện của bà rất tốt, không thiếu gì cả, thật tôi không có gì đáng để gửi tặng bà. Nhưng dù thế nào, chúng ta cũng hãy thử quen nhau xem sao, chiều nay bà hãy ở lại nhà tôi dùng bữa cơm đạm bạc nhé!”.

Tấm lòng chân thành của ông khiến mẹ tôi không nỡ từ chối, và bà đã ở lại. Ông không để bà động đến một tay, đã làm một bát canh với bốn loại rau, đặc biệt là món bí ngô nấu thịt, mẹ tôi đã ăn ngon đến không nỡ đặt đũa xuống.

Trước khi đi, ông đã nói với mẹ tôi rằng: “Sau này nếu như muốn ăn nữa, thì hãy đến đây. Nhà tôi tuy không khá giả lắm, nhưng chiêu đãi món bí ngô thì không tốn công phí sức chút nào”. Về sau, mẹ tôi lần lượt gặp mấy người lão niên khác nữa, nhưng mà, tuy điều kiện của mỗi người đều tốt hơn ông ấy, nhưng cuối cùng mẹ tôi vẫn chọn ông.

Lý do thật ra cũng được xem là ích kỷ, bà ấy đã phục vụ và chăm sóc ba tôi hơn nửa đời người rồi, lần này bà muốn một lần làm đối tượng được người ta chăm sóc lại. Cứ như vậy, ông ấy và mẹ tôi đã đến với nhau… Người ngoài hay là người nhà?

Hôm đó, ông ấy, mẹ tôi, thêm tôi nữa, còn có gia đình ba người của con trai ông cùng dùng một bữa cơm với nhau. Tôi đặc biệt sắp xếp bữa cơm này trong một khách sạn năm sao sang trọng, trên bề mặt thì thấy là vì để bày tỏ sự coi trọng đối với ông, thật ra là muốn thông qua đó mà thể hiện vai vế của mình.

Khi rời khỏi khách sạn, ông nhẹ nhàng nói với tôi: “Từ nay chúng ta đã là người nhà với nhau rồi, là hai bố con đấy! Sau này nếu con muốn mời bố ăn cơm thì chỉ việc đi đến những quán ăn bên đường là được rồi, ở đó bố sẽ ăn được thoải mái hơn, lòng không bị đau và cũng không thấy tiếc tiền”.

Chính biểu lộ tình cảm chân thành của ông đã làm tổn thương cái tâm hư vinh giả dối của tôi, khiến tôi cảm thấy đấu trí với một người thật thà, giống như một người lớn lấy kẹo để dụ dỗ một đứa con nít vậy, thật là vô sỉ chẳng còn gì để nói nữa.

Ông ấy đã chăm lo cho mẹ tôi rất tốt, bà ấy mỗi lần gặp tôi đều bảo cần phải giảm cân, đó là một giọng điệu hạnh phúc. Ông ấy nấu ăn thật sự rất ngon. Một lần nọ, khi cùng ăn cơm với mọi người, tôi không nhịn được nói với vợ rằng: “Lần sau khi chú Đường làm cơm, em hãy ở bên cạnh mà học hỏi một chút”.Trong sắc mặt của vợ vốn không hề có phần muốn học, trái lại còn có mấy phần tức giận.

Ông vội vàng đứng ra giải vây, ông nói: “Một đời này của bố đều không làm được gì tốt cả, chỉ có chút tài nghệ làm được mấy món ăn, các con đều là những người làm chuyện đại sự, tuyệt đối đừng có học theo ta, nếu như muốn ăn, thì hãy đến đây, đến bất cứ lúc nào cũng được. Làm cơm này, sợ nhất là cơm mình làm không có người ăn”.

Hôm đó khi chúng tôi đi về, ông ấy đã gói rất nhiều đồ do chính tay ông làm bảo chúng tôi mang về, vừa cầm lấy tay tôi vừa nói: “Đừng có khen cơm của bố nấu ngon nữa, nói thật lòng, hễ có người nói đến ưu điểm này thì bố thấy ngại lắm. Một người đàn ông chỉ biết nấu ăn, còn những phương diện khác thì lại không làm được trò trống gì cả, đây đâu thể nói là ưu điểm được”.

Trên đường về nhà, tôi đã kể lại cho vợ nghe những lời này của ông. Cô ấy nói: “Người như ông ta, trời sinh là số phải phục vụ người ta, trời sinh chính là bằng lòng cúi đầu đến sát mặt đất. Mẹ chúng ta có phúc khí, già rồi còn làm một hoàng thái hậu”.

Tôi vừa lái xe, vừa dùng mắt liếc nhìn vợ, cảm nhận sự khinh thường của vợ đối với ông ấy, trong lòng lại không biện giải gì cho ông. Rốt cuộc, ông trước sau vẫn là một người ngoài mà. Xấu hổ. Hôm tôi dọn sang nhà mới, ông ấy và mẹ tôi đã đến nung đáy nồi (một tập tục khi dọn nhà) cho chúng tôi. Ông đã làm theo tập tục nung đáy nồi một cách cẩn thận kỹ càng đâu vào đấy. Nhưng mà, đợi đến lúc ăn cơm, ông lại không xuất hiện trên ghế dành cho bề trên, tìm khắp nơi đều không thấy ông ấy, gọi điện thoại cho ông, cũng là ở trong tình trạng khóa máy.

Dường như đã tính toán kỹ thời gian, khi khách khứa đi hết cả, ông đã quay trở lại, cẩn thận dọn dẹp đống bát đĩa bừa bộn đó, đem những đồ ăn còn thừa lại đựng trong hộp cơm mà ông đã chuẩn bị sẵn, để đem về nhà ăn.

Mẹ không mong ông làm như vậy, cảm thấy tủi thân cho ông, ông nhỏ tiếng nói thầm với bà rằng:

-Buổi tối anh sẽ nấu cơm mới cho em, những cái này anh sẽ tự ăn hết.

Mẹ nói:

-Làm gì mà ngày nào cũng phải ăn cơm thừa rau thừa như vậy chứ? Anh có biết rằng em thấy anh làm như vậy, trong lòng rất khó chịu hay không?

Ông ấy đã an ủi mẹ tôi rằng:

-Em tuyệt đối đừng có thấy khó chịu, để anh nhìn thấy lãng phí như vậy, trong lòng anh mới không dễ chịu. Tiền của Thụ Tán (tên của tôi) đều rất vất vả mà đánh đổi lấy, chúng ta không giúp con nó được gì cả, vậy thì hãy gắng sức tiết kiệm thay cho nó.

Lời của ông khiến cho mẹ tôi day dứt, sau đó bà ấy quyết định nói với tôi. Nghe thấy mẹ nói thay cho ông ấy trong điện thoại, lúc đó cảm giác trong lòng tôi rất phức tạp, đồng thời cũng vì phần phức tạp này của mình mà cảm thấy rất xấu hổ.

Dần dần, thiện cảm đối với ông ấy mỗi lúc một nhiều hơn. Có những lúc, thậm chí có phần ỷ lại, ông ấy vẫn luôn âm thầm làm rất nhiều chuyện cho chúng tôi, thay ống nước bị hư trong nhà, mỗi ngày đưa cháu đến nhà trẻ và rước cháu về nhà, khi mẹ nằm viện ông ấy đã không ngủ không nghỉ mà chăm sóc bà, mãi đến sau khi xuất viện mới nói với chúng tôi.

Chỉ là không ngờ rằng có một ngày, ông cũng ngã bệnh, hơn nữa bệnh còn nghiêm trọng đến thế. Trên đường ông ấy đưa con của tôi đến nhà trẻ đã đột nhiên ngã xuống – bệnh tai biến mạch máu não, bán thân bất toại mà nằm trên giường.

Tôi, còn có con trai của ông ấy, ban đầu đều rất tích cực đối với việc trị liệu của ông, chúng tôi mong ông mau chóng khỏe lại, vẫn có thể chịu mệt nhọc vất vả mà phục vụ cho chúng tôi giống như trước đây. Nhưng mà, ông đã không bao giờ đứng dậy được nữa. Trước đây ông chỉ biết mỉm cười, không ngờ giờ đây đã biến thành yếu ớt như vậy, lúc nào cũng chảy nước mắt.

Mẹ chăm sóc cho ông, ông khóc; chúng tôi đẩy xe lăn dẫn ông đi chơi vùng ngoại ô, ông khóc; nhiều lần nằm viện, nhìn thấy tiền bị tiêu đi như nước, ông khóc. Cuối cùng có một ngày, ông đã dùng con dao cạo râu ra sức cắt cổ tay của mình. Cấp cứu trong suốt 5 giờ đồng hồ, ông mới giằng co từ trong cõi chết trở về, rất mệt mỏi, cũng rất tuyệt vọng.

Điều thật sự không ngờ rằng, người đầu tiên bỏ ông ấy đi lại chính là con trai của ông. Con trai của ông rất ít khi đến thăm ông, sau này còn không chịu ló mặt ra một lần. Mỗi lần gọi điện thoại anh ta đều nói rằng mình đã đi công tác, trở về sẽ ghé thăm ông.

Điều khiến tôi không ngờ hơn nữa, mẹ tôi vào lúc này cũng nói rằng bà muốn chia tay với ông. Hai người vốn dĩ cũng chưa có chính thức, chỉ là chuyện vỗ mạnh một cái mỗi người mỗi ngả. Mẹ nói với tôi rằng: “Mẹ đã già rồi, không lo nổi cho ông ấy nữa. Mẹ không giúp được gì cho con cả, nhưng cũng không thể lượm một người cha tàn phế về, làm liên lụy con được”.

Đây chính là hiện thực tàn nhẫn. Tôi không muốn để mẹ tôi làm người ác, thế là tôi đành phải nhẫn tâm đóng vai kẻ ác, quyết định tự mình đến nói ra chuyện chia tay này. Tôi nói với ông, người vốn đang nằm trong bệnh viện rằng:

-Chú Đường, mẹ con bệnh rồi.

Nước mắt của ông lại tuôn trào ra như mưa, tôi gắng sức nói ra những lời tàn nhẫn:

-Chú biết đấy, mẹ con cũng đã có tuổi rồi. Những ngày này, bà ấy đối với chú như thế nào, chú cũng đã thấy rồi. Chú tiếp tục chảy nước mắt gật đầu. Tôi lại nói tiếp:

-Chú Đường, chúng con còn phải đi làm nữa, mẹ con sức khỏe lại không được tốt. Chú xem như vậy có được không, sau khi xuất viện, chú hãy về nhà của chú, con sẽ thuê một người đến săn sóc cho chú. Đương nhiên, tiền sẽ do con trả, con cũng sẽ thường xuyên đến thăm chú. Khi nói đến đây, chú không khóc nữa. Chú gật đầu liên hồi, nói một cách cảm kích:

-Nếu được như vậy thì tốt quá, nếu được như vậy thật đúng là tốt quá. Không cần người giúp đỡ, thật sự không cần…

Tôi bước ra đến khuôn viên của bệnh viện lại chảy nước mắt, không rõ đó là cảm giác nhẹ nhõm sau khi được giải thoát, hay là trong lòng có nỗi day dứt không nói thành lời. Tôi đã mời một người giúp việc cho ông ấy, trả trước chi phí trong một năm. Sau đó, tôi lại đến nhà ông ấy, thuê công nhân tu sửa lại nhà của ông một chút, tôi đã cố gắng làm đến trọn nhân trọn nghĩa. Không phải vì ông, chỉ vì an ủi nỗi bất an trong lòng. Cái ngày ông ấy xuất viện trở về nhà, tôi không có đi, mà là bảo tài xế trong đơn vị đến đón ông.

Sau khi tài xế trở về đã nói với tôi rằng:

-Chú Đường nhờ tôi nói tiếng cảm ơn với anh, còn bảo rằng ngay cả con trai ruột của chú, cũng không làm được như vậy.

Những lời này, đã an ủi tôi ít nhiều, khiến tôi cảm thấy nhẹ nhõm phần nào, nhưng loại an ủi này vốn không có duy trì được bao lâu. Ngày xuân lạnh buốt. Ngày tết không có ông ấy ở nhà, chúng tôi thấy có chút buồn tẻ, không còn có một người bằng lòng vùi đầu vào trong nhà bếp, làm đủ các loại món ăn cho chúng tôi.

Chúng tôi ngồi ăn cơm tất niên trong khách sạn năm sao, nhưng lại không cảm nhận được cái hương vị nồng ấm của ngày tết nữa. Con trai trên đường về nhà nói:

-Con muốn ăn món cá chép do ông nội làm.

Vợ tôi nháy mắt ra hiệu cho con trai đừng có nói nữa, nhưng mà, con trai trái lại quậy càng dữ dội hơn:

-Tại sao mọi người lại không để cho ông nội về nhà đón tết, mọi người thật đúng là xấu xa mà!.

Vợ tôi tức giận giáng cho con trai một cái bạt tai thật mạnh. Nhưng cái bạt tai đó giống như là đang đánh vào mặt vậy, khắp mặt sưng lên đau đớn. Một câu nói của con trai, khiến cho điều chúng tôi tự thấy an ủi đều đã sụp đổ tan tành.

Tôi từ trong kính chiếu hậu, nhìn thấy đôi mắt của mẹ cũng đang đỏ hoe. Không nghĩ cũng hiểu, đó là ngày 30 tết buồn tẻ biết mấy. Tôi thấy rất nhớ năm ngoái, cái năm mà ông ấy vẫn còn ở nhà chúng tôi, một gia đình ấm cúng hạnh phúc, luôn được xây dựng trong sự phó xuất lặng lẽ của một người.

Không biết giờ này, chú Đường đang đón tết với ai? Liệu có nhớ đến chúng tôi chăng? Liệu có vì sự vô tâm của chúng tôi mà trong lòng cảm thấy tủi thân?

Về nhà. Sau khi tiếng trống đầu xuân vang lên, tôi lái xe đi đến chỗ của chú Đường. Ông ấy bước những bước chân tập tễnh ra mở cửa cho tôi, nhìn thấy tôi, miệng đang nở nụ cười, trong mắt lại đẫm lệ.

Đi vào ngôi nhà lạnh lẽo của ông, nước mắt của tôi cũng không thể ngăn lại được nữa. Tôi cầm điện thoại lên gọi cho con trai của ông ấy, sau khi mắng chửi cho anh ta một trận, bắt đầu gói sủi cảo cho ông.

Người giúp việc đã về nhà đón tết rồi, trên đầu giường đã chuẩn bị sẵn điểm tâm đủ cho ông ấy dùng đến ngày 15, trong lòng tôi cũng thầm trách mẹ. Những chiếc sủi cảo nóng hổi cuối cùng đã khiến trong nhà ông ấy có được một chút không khí ấm cúng của ngày tết. Chúng tôi cứ ăn một miếng sủi cảo, nước mắt của cả lại lã chã tuôn rơi.Buổi sáng tinh mơ của ngày mùng một, tôi lảo đảo rời khỏi căn nhà của ông, tôi đã uống rượu, đậu xe ngay dưới lầu của nhà ông ấy, một mình đi trên con đường lạnh tanh, trong lòng đầy rẫy thê lương. Điện thoại reo lên, là vợ gọi đến:

-Anh ở đâu vậy hả?

Tôi phát hỏa lần nữa:

-Tôi đang ở trong nhà của một ông lão cô độc, nghe rõ chưa hả? Chúng ta là loại người gì vậy hả?

Khi ông ấy có thể đi lại được, chúng ta lợi dụng người ta; bây giờ ông không cử động được nữa, chúng ta lại gửi trả về. Lương tâm của chúng ta phải chăng đã bị chó ăn mất rồi, vậy mà còn đòi học theo người ta nói nhân nghĩa đạo đức, tôi khinh!

Ở trên đường cái, tôi mắng chửi bản thân mình thật tệ hại, mắng đủ rồi, mắng mệt rồi, tôi không chút do dự mà chạy trở lại, cõng ông ấy trên lưng rồi đi ra bên ngoài. Ông giãy giụa, hỏi tôi:

-Con làm vậy là sao?.

Tôi lấy giọng điệu chắc nịch mà nói với ông rằng:

-Về nhà.

Ông nội mà, chính là để chúng ta yêu thương

Ông ấy đã trở về. Người cảm thấy vui nhất là con trai tôi. Nó vừa ôm vừa hôn ông, luôn miệng đòi ăn món cá chép, đòi ăn món bánh quai chèo, muốn làm thẻ siêu nhân.

Vợ lôi tôi vào trong phòng, hỏi tôi:

-Anh điên rồi sao? Ngay đến cả con trai ông ta còn không lo cho ông ta, anh dẫn ông ta về nhà làm gì vậy?

Tôi không còn nổi nóng nữa, ôn hòa nhã nhặn nói với cô ấy:

-Con trai ông ấy làm chuyện không đúng, đó là chuyện của anh ta, không nên lấy đó làm cái cớ để chúng ta bỏ rơi ông ấy. Anh không yêu cầu em phải xem ông ấy như bố chồng của mình, nhưng mà, nếu như em yêu anh, nếu như em biết nghĩ cho anh, thì hãy xem ông ấy như người nhà, bởi trong lòng của anh, ông ấy chính là người nhà, chính là người thân, bỏ rơi ông ấy thì rất dễ dàng, nhưng không giấu được nỗi day dứt trong tâm. Anh muốn tâm mình được thanh thản một chút, chỉ đơn giản vậy thôi.

Cùng một lời này, khi nói với mẹ, bà nước mắt như mưa, nắm chặt lấy tay tôi nói rằng: Con trai à, mẹ thật không ngờ con lại có tình có nghĩa như vậy.

Tôi nói: Mẹ, mẹ yên tâm đi. Nói hơi khó nghe một chút, cho dù sau này có một ngày, mẹ mà đi trước chú ấy, con cũng sẽ phụng dưỡng chú ấy đến cuối đời, với thu nhập của con hiện giờ, nuôi chú ấy nào là chuyện khó gì? Thêm một người thân, thì có gì không tốt chứ?

Một lúc sau, con trai tôi đi vào xin tôi: Bố ơi, đừng có gửi ông nội về nữa. Sau này, con sẽ chăm sóc ông ấy. Sau này bố già rồi, con cũng chăm sóc bố mà!

Tôi ôm con trai vào trong lòng, trống ngực đập thình thịch, thật may là vẫn chưa quá muộn, còn may chưa để lại một ý nghĩ bất hiếu trong lòng của con.

“Ông nội mà, chính là để cho chúng ta yêu thương, sao lại gửi đi được nữa!”. Tôi mở miệng nói đùa với con trai, để củng cố niềm tin vững chắc cho nó…

Đọc xong, bạn có lĩnh ngộ được đạo lý giản dị trong đó hay không? Thật ra cha mẹ vốn đòi hỏi không nhiều, chỉ là một lời chào hỏi: “Cha, mẹ hôm nay có khỏe không?”, chỉ cần mua một ít thức ăn khuya, nấu một bữa tối đơn giản, trước khi ngủ đắp chăn cho họ, trời lạnh thêm áo ấm, đeo găng tay giúp họ, chỉ những cử chỉ rất nhỏ thôi cũng sẽ khiến họ thấy ấm áp vui vẻ rất lâu.

Có những lúc, tôi thường hay nghĩ: “Tôi mong con cái của tôi sau này sẽ đối xử với tôi thế nào đây?”. Tôi tin rằng, đời người là một vòng tuần hoàn; bây giờ bạn đối đãi với cha mẹ như thế nào, sau này con cái của bạn cũng sẽ đối xử với bạn như vậy.

Bạn thân mến, trên đời này ân tình khó trả nhất chính là ân tình của cha mẹ, mong chúng ta đều có thể lấy tâm hiếu thuận mà chăm sóc cho cha mẹ, lấy tâm cảm ân mà hiếu thuận với cha mẹ!

Sinh mệnh không đòi hỏi chúng ta phải trở thành người tốt nhất, mà chỉ đòi hỏi chúng ta cố gắng hết sức mà thôi! Cây muôn lặng mà gió chẳng ngừng, con muốn tận hiếu nhưng song thân không còn nữa. Chuyện khó chờ đợi nhất trên đời này, chính là hiếu kính cha mẹ, đừng đợi đến khi mất đi rồi mới hối tiếc rằng bản thân ngày trước không biết trân quý…” (Tiểu Thiện chuyển dịch từ Cmoney.tw)

Vâng. Phiếm luận đường dài bao giờ cũng gồm đầy những truyện kể để kể cho nhau nghe. Không cần biết, nhà Đạo mình có thích nghe đọc truyện ấy hay không. Kể truyện ở đây, là để hợp giọng với Đức Phanxicô hôm ấy đã có lời khích-lệ giới trẻ ở Krakow, Ba lan nhân dịp Đại Hội Trẻ ở đây, rằng:

“Hôm ấy, Đức Giáo Hoàng Phanxicô kể cho giới trẻ biết rằng các em được mời gọi không phải để trở thành những củ khoai nằm dài nơi ghế nệm ở phòng khách, sống cuộc sống nhàm chán/tẻ nhạt mà là để lại dấu vết tinh-hoa của mình với lịch-sử và không để ai khác định-đoạt tương-lai của chính mình.

 Tựa hồ trận đấu túc-ầu, cuộc sống “chỉ đưa người chơi bóng vào với lối chơi chủ-động chứ không phải ngả dài trên dãy ghế thưởng-thức, thật êm ấm”. Thế-giới hôm nay đòi hỏi các em đây giữ vững vai-trò chủ-đạo trong lịch-sử, bởi lẽ cuộc sống bao giờ cũng rất đẹp khi ta chọn sống cuộc sống của ta một cách trọn-vẹn và chọn để lại dấu-tích của mình ở trong đó…”

 Nói thế rồi, Đức Giáo Hoàng còn mời gọi mọi người có mặt ngày hôm đó, hãy nắm chặt tay nhau  mà nguyện-cầu trong thinh-lặng, trao về cho Thiên-Chúa cuộc phấn-đấu nội-tâm của chính mình, một phấn-đấu mà mỗi người trong ta vẫn mang nặng trong tâm can của chính mình. Đức Giáo-Hoàng còn cảnh-giác các bạn trẻ thuộc nhóm hành-hương hôm ấy là đừng để mình rơi vào cảnh bại-liệt rút từ sự lẫn-lộn giữa mối phúc-hạnh với “ghế nệm êm-ả”.

 Bởi như ngài nói: ghế nệm vẫn luôn hứa-hẹn sự êm-ả, thoải-mái và an-toàn trong khi nó chỉ là hình-thức âm-thầm của bại-liệt khiến cho các người trẻ, nam cũng như nữ, cứ trở-thành những người “đờ-đẫn”, đến chóng mặt…

 Đức Giáo-hoàng đã khích-lệ đám người hành-hương nhớ rằng mình không được gọi mời để sống “tẻ-nhạt” với đời và trong đời, nhưng để lại dấu-tích độc-đáo trong cuộc đời. Bởi, khi ta chọn lối sống êm-ả và thoải-mái, là ta sẽ phải trả giá rất cao là mất đi sự tự-do dành cho mình.

 Thay vào đó, ta được mời gọi dấn bước vào con đường đầy tính “khùng-điên” của Thiên-Chúa là đường hối-thúc mọi tín-hữu Đức Ki-tô thực-hiện việc từ-bi/bác-ái bằng cả thân-xác và thần-tính của chính mình. Thiên-Chúa muốn tất cả mọi người chúng ta thấy được rằng: cùng với ta, thế-giới này phải trở nên khác-biệt. Bởi, nếu ta không cống-hiến những gì tốt/đẹp nhất của chính mình, thì thế-giới này sẽ chẳng bao giờ trở nên khác-biệt hết.

 Và, Đức Phanxicô lại cũng kêu mời những người đã trưởng-thành hãy dạy-dỗ cho thế-hệ trẻ biết cách “sống có khác-biệt trong tương-quan đối-thoại, biết trải-nghiệm cuộc sống đa văn-hoá, đừng trở-thành mối đe-doạ cho ai hết nhưng là cơ-hội để mọi người vươn lên.

 Vì thế nên, người trẻ hôm nay sẽ là những người lên án chúng ta nếu ta chọn-lựa cuộc sống như bức tường/thành cứng-ngắc, thứ cuộc sống đầy hận-thù, một cuộc sống chiến-tranh, rất lạnh nhạt. Hãy có can-đảm mà bảo với chúng tôi rằng: xây nhiều cầu nối bao giờ cũng dễ hơn xây tường thành kiên-cố.” (X. Junno Arocho Estevez, Francis Urges Youth: Follow the ‘Path of Craziness’ of our God, The Catholic Weekly 07/8/2016, tr. 28)

Còn nhớ, thánh Phao-lô tông-đồ cũng từng gọi công cuộc giảng-rao tình thương-yêu của Thiên-Chúa như sự điên rồ đối với những người đang hư-đốn, như sau:

“Quả vậy,

Đức Kitô đã chẳng sai tôi đi làm phép rửa,

nhưng sai tôi đi rao giảng Tin Mừng,

và rao giảng không phải bằng lời lẽ khôn khéo,

để thập giá Đức Kitô khỏi trở nên vô hiệu.

Thật thế,

lời rao giảng về thập giá là một sự điên rồ

đối với những kẻ đang trên đà hư mất,

nhưng đối với chúng ta là những người được cứu độ,

thì đó lại là sức mạnh của Thiên Chúa.”

(1 Côrinthô 1: 17-18)

Điều nghịch-lý/nghịch-thường ở cuộc sống hôm nay, là: rất nhiều người cứ trùm chăn êm ả ngả dài trên ghế dựa phòng khách, chứ không hăng-say lao mình vào công-cuộc giảng-rao như ngây như dại theo kiểu bậc thánh-hiền của Đức Chúa.

Thế nên, các đấng bậc nhà Đạo lại vẫn luôn kêu gọi hết mọi người già/trẻ, lớn/bé gái/trai hãy hăng say sống cuộc sống rất điên rồ trong rao-giảng tình-thương-yêu của Thiên Chúa với con người.

Hăng-say/rồ-dại như mô-tả của bậc thánh-hiền chốn nhà Đạo, còn là ảnh/hình về một động-thái phải có trong cuộc sống thường-nhật của mỗi người và mọi người. Hăng-say/rồ-dại, còn là mục-tiêu ta nhắm tới mỗi khi làm việc gì đó cho thế-giời cuộc-đời đang hăng-say/rồ-dại với những chuyện viển-vông, không tưởng chẳng mang lợi ích cho ai hết.

Hăng-say/rồ-dại còn là và phải là thái-độ sống rất “Tri-Thiên-Mệnh” như đề-nghị của một đấng bậc khác Đạo, khác văn-minh, văn-hoá ở trời Đông, là Đức Đạt Lai Lạt Ma, như sau:

“Khi trong tay anh nắm chặt vật gì mà không buông xuống, thì anh chỉ có được mỗi thứ ấy, vật ấy mà thôi. Nhưng, nếu anh chịu buông nó xuống, thì anh mới có cơ-hội chọn-lựa những thứ khác. Thế nên, Tri-Thiên-Mệnh là:

Sức mạnh của trẻ thơ là tiếng khóc. 

Sức mạnh của đàn bà là phẩn nộ. 

Sức mạnh của người ăn trộm là vũ khí. 

Sức mạnh của vua chúa là quyền uy. 

Sức mạnh của kẻ ngu là áp đảo. 

Sức mạnh của bậc hiền trí là cảm hóa. 

Sức mạnh của người đa văn là thẩm sát. 

Sức mạnh của sa môn là nhẫn nhục .”

Bởi chúng ta không thể thay đổi được thế giới xung quanh, nên chúng ta đành phải sửa đổi chính mình, đối diện với tất cả bằng lòng từ bi và tâm trí huệ.

 Ra đời hai tay trắng. 

Lìa đời trắng hai tay. 

Sao mãi nhặt cho đầy. 

Túi đời như mây bay.”

 Thành thật đối diện với mâu thuẫn và khuyết điểm trong tâm mình, đừng lừa dối chính mình. Sự khác biệt giữa con người là do mức tiến hóa khác nhau qua các kiếp sống. Có khi nào ta thù ghét một kẻ kém ta đâu? Suy luận rằng: “vạn vật đồng nhất”, ta sẵn sàng tha thứ cho kẻ khác, vì họ không hiểu biết, không ý thức hành động của mình, vả lại họ và ta nào có khác nhau đâu.

Khi ta hiểu rằng: “nhất bổn tám vạn thù”, ta nhìn vạn vật như chính mình, từ loài người qua loài thú, thảo mộc, kim thạch, và ý thức rằng mọi vật đều có sự sống, đều có Thượng đế ngự ở trong,  ta sẽ cởi bỏ thành kiến, mở rộng lòng thươngđến muôn loài”.

Là con Phật, nếu không nói được những gì Phật nói, hãy im lặng như chánh pháp, đừng nói những lời ác, xuyên tạc, bịa đặt, vu khống, làm tổn hại kẻ khác. Nếu không làm được những gì Phật làm, hãy im lặng và lắng nghe, quán sát, học hỏi những thiện tri thức, đừng vọng động làm những điều thương tổn đến tha nhân”.

Ác khẩu, mãi mãi đừng để nó thốt ra từ miệng chúng ta, cho dù người ta có xấu bao nhiêu, có ác bao nhiêu. Anh càng nguyền rủa họ, tâm anh càng bị nhiễm ô, anh hãy nghĩ, họ chính là thiện tri thức của anh.

Người mà trong tâm chứa đầy cách nghĩ và cách nhìn của mình thì sẽ không bao giờ nghe được tiếng lòng người khác. Khi trong tay anh nắm chặt một vật gì mà không buông xuống, thì anh chỉ có mỗi thứ ấy, nếu anh chịu buông xuống, thì anh mới có cơ hội chọn lựa những thứ khác. 

Nếu một người luôn khư khư với quan niệm của mình, không chịu buông xuống thì trí huệ chỉ có thể đạt đến ở một mức độ nào đó mà thôi.” (Đức Đạt Lai Lạt Ma phát-biểu trong một bài pháp ngắn, nhưng thâm sâu)

 Ngắn, nhưng thâm-sâu, còn là ý-lực của bài hát ta đã trích. Nay, lại sẽ mời bạn và mời tôi, ta sẽ hát thêm và hát mãi lời bài hát “Chiều Về Trên Sông”, có nỗi buồn như sau:

“Chiều buông trên giòng sông Cửu Long”
Như một cơn ước mong, ơi chiều.
Về đâu ơi hàng cây gỗ rong,
Nghiêng mình trên sóng sông yêu kiều.

Buồn tôi không vì sao bỗng dưng.
Theo đò ngang quá giang thương chiều.

Bởi vì thương nhiều nên nhớ (ơ) tình yêu.
Bởi vì đời còn nhiều khi là mơ.
Bởi vì đời còn nhiều khi thành thơ.
Có khi vui lững lờ.
Có khi tuôn sầu u.
Bởi vì chiều buồn chiều về giòng sông.
Bởi vì tình đời nào chỉ thù oán.

Hãy cất tiếng ca cho đời thêm (ý) buồn.
Hãy cất tiếng ca cho lòng thôi khô héo.
Chiều buông trên giòng sông cuốn mau.
Thương đời thương lẫn nhau trong chiều.”

(Phạm Duy – bđd)

 Buồn, nhưng vẫn “thương đời thương lẫn nhau trong chiều”. Thế đó là lời kết đẹp, xin được gửi đến bạn, đến tôi và mọi người, ở trong đời.

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn suy nghĩ rất lung

về lời kêu gọi của Đức Giáo Tông hay ai đó

rất an-toàn, cụ-thể, đầy thương mến.

“Trời có mây cao với gió thanh,

Suy Tư Tin Mừng Tuần thứ 22 thường niên năm C 28/8/2016

                                                Tin Mừng: (Lc 14: 1, 7-14)

Một ngày Sabát kia, Đức Giêsu đến nhà một ông thủ lãnh nhóm Pharisêu để dùng bữa: họ cố dò xét Ngài.

Ngài nhận thấy khách dự tiệc cứ chọn cỗ nhất mà ngồi, nên nói với họ dụ ngôn này:

“Khi anh được mời đi ăn cưới, thì đừng ngồi vào cỗ nhất, kẻo lỡ có nhân vật nào quan trọng hơn anh cũng được mời, và rồi người đã mời cả anh lẫn nhân vật kia phải đến nói với anh rằng: “Xin ông nhường chỗ cho vị này. Bấy giờ anh sẽ phải xấu hổ mà xuống ngồi chỗ cuối. Trái lại, khi anh được mời, thì hãy vào ngồi chỗ cuối, để cho người đã mời anh phải đến nói: “Xin mời ông bạn lên trên cho. Thế là anh sẽ được vinh dự trước mặt mọi người đồng bàn.Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên.

Rồi Đức Giêsu nói với kẻ đã mời Ngài rằng:

Khi nào ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối, thì đừng mời bạn bè, anh em, hay bà con, hoặc láng giềng giàu có, kẻo họ cũng mời lại ông, và như thế ông được đáp lễ rồi. Trái lại, khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù. Họ không có gì đáp lễ, và như thế, ông mới thật có phúc: vì ông sẽ được đáp lễ trong ngày các kẻ lành sống lại.

 

“Trời có mây cao với gió thanh,

Đất đầy sự nghiệp những tay lành.

Cũng như phơi phới đi vào tiệc,

Bữa tiệc đôi ta, một tâm-tình.”

(Dẫn từ thơ Xuân Diệu)

 Trình thuật hôm nay, thánh Luca không cũng có kể nhưng không chỉ mỗi tiệc về tiệc, về tình mà còn về Vương Quốc Nước Trời. Chính đó, là mục tiêu mà mọi con dân nhà Đạo đều nhắm tới. Về tiệc hôm nay, nhóm Pharisêu vẫn muốn xem Đức Chúa làm những gì, vào ngày Sabát. Và, Chúa có lẽ đã bị chỉ trích, vào lúc Ngài mở lời.

Lời Ngài mở, không nhằm đối đáp với bọn người xấu chỉ muốn hỏi xem Ngài có những hành vi chống lại lề luật không. Lời Ngài, là về dụ ngôn với những ảnh hình, rất thực tế. Thực tế như sự thực đang diễn ra trước mắt gồm các thực khách đến dự. Và một thực tế khác, là: Đức Chúa vẫn ngồi cùng bàn với đủ mọi hạng người: từ kẻ giàu sang quyền thế, đến người nghèo hèn, tội phạm. Ngài đến với hết mọi người. Ngài đến như giọt nắng giọt mưa đổ tưới trên đầu mọi thần dân.

Lời Ngài nói bằng dụ ngôn, nhằm đáp ứng lề lối mà thực khách thời đó vẫn hành xử, khi vào tiệc. “Họ chỉ muốn chọn chỗ nhất mà ngồi.”(Lc 14: 7)  Vào thời buổi này, các buổi tiệc do quan “lớn” khoản đãi, đều có định chỗ trước cho khách ngồi vẫn là chuyện thực tế, rất ý nhị. Các đấng bậc có vai vế quan trọng được xếp chỗ gần chủ nhà. Có tiệc, chủ nhà còn định chỗ bằng cách để thẻ bìa có đề tên.

Lời Ngài tỏ bày hôm nay, đảo lộn mọi trật tự của đời thường. Đức Chúa vẫn thường khuyên dạy: “khi được mời đi ăn, thì đừng ngồi vào chỗ nhất”. Làm theo như thế, kẻ bon chen cạy cục sẽ không tránh khỏi tình trạng khó xử.Và, đôi lúc cảm thấy phẩm giá con người bị xuống thấp. Nếu làm theo đề nghị của Ngài, chắc cũng có người sẽ coi đó như hành động dưới cơ, thiếu tự tin. Tình cảnh này được coi như một tai ương giao tế đến bất ngờ. Nhưng ở đây, khi Đức Giê-su kể dụ ngôn, Ngài không cố ý khuyên ta nên hành xử hoàn toàn từng chữ theo nghĩa đen.

Điều Ngài muốn nhủ, là: ở nơi Vương Quốc Nước Trời, việc chọn chỗ nhất nơi bàn tiệc là chuyện không nên, dễ ngộ nhận. Bởi, ý nghĩa và tinh thần của Vương Quốc Nước Trời không qui vào vị thế xã hội mà thứ đời phàm lúc nào cũng đổi thay. Với nhà Đạo, chuyện quan trọng chỉ nằm ở chỗ: làm sao duy trì được tương quan giữa chúng ta với Chúa, và với mọi người cho tốt đẹp.

Đừng quá bận tâm đến vị thế chỗ ngồi. Hoặc, thứ bậc, địa vị, sắc tộc, tôn giáo, nghề nghiệp hoặc giai cấp. Vị thế đích thực trong tương quan với Chúa, không thể cân đo đong đếm bằng nghề nghiệp, chức tước hoặc danh xưng. Nhưng, bằng độ sâu độ dài của tình yêu. Bằng  quyết tâm phục vụ Chúa qua giao tế với người đời, sống quanh ta.

Điều quan trọng khác, không phải là: hỏi xem mọi người nghĩ thế nào về mình, coi mình là ai hoặc đối xử với mình như thế nào. Nhưng, là dựa vào mức độ chăm sóc tỏ bày tình thương yêu của ta đến người khác. Đến cả những người dưng khác họ, nữa.

Thái độ và lối hành xử mà Đức Chúa vẫn khuyên mọi người nên có, lại được củng cố thêm bằng lời thư thánh Phaolô gửi cho giáo đoàn Do Thái, rất rõ ràng: “Anh chị em đã lên núi Sion, tới thành đô Thiên Chúa” (Dt 12: 22).

Đoạn cuối truyện kể hôm nay, Chúa hướng thẳng về phía người thủ lãnh nhóm Pharisêu. và bảo họ: “Khi các ông đãi khách ăn trưa ăn tối, thì đừng mời bạn bè, hay bà con láng giềng giàu có, kẻo họ cũng mời lại các ông”. (Lc 14: 12)

Thời buổi này, lời nhủ của Chúa có thể áp dụng cho các vị có chức, có tiền. Cả trong Đạo, lẫn ngoài đời ta chỉ nên mời những người nghèo khó, thân cô thế cô, những người không có khả năng tham dự bất cứ bữa tiệc nào. Dù linh đình hay thanh bạch hoặc chỉ nên mời mọc những người không có khả năng mời trở lại. Hoặc, những người không có ý định mua chuộc, hay tham ô, nhũng lạm. Tức, họ chẳng làm gì có sức có quyền để ta nhờ vả, thăng tiến bản thân trong thang cấp cầm quyền.

Điều mà trình thuật nay muốn nói, là: hãy hoạt động để kiến tạo một xã hội tốt đẹp hơn. Xã hội mang hình vòng cung, hay quả cầu. Trong vòng cung trái cầu ấy, không ai ở quá cao. Cũng chẳng có người ở nơi rốt hết. Tức là, mọi người đều có quyền lợi đồng đều, như nhau. Mọi người đều ở vị thế tương đối khá, để có thể san bớt cho những người còn thiếu thốn, nợ nần. Và, nếu đặt một bàn tròn ở giữa, thì mọi người đều có thể với tay chung phần, dự tiệc vui không thua kém ai. Bữa tiệc mà trong đó mọi người đều ngang phần. Đó là Nước Trời ở trần gian.

Có lẽ, sẽ có người cho đây là chuyện viển vông, không tưởng. Chỉ là chuyện viển vông, nếu nghĩ rằng chuyện ấy sẽ xảy đến ngày một ngày hai. Hoặc, vào thế hệ kế tiếp. Thế nhưng, xã hội như thế là Nước trời đích thực, ta có thể bắt đầu trước nhất với mái ấm gia đình mình. Sau đó, lan tỏa ra từng nhóm nhỏ mà ta đang sinh hoạt, chung sống. Cộng đoàn giáo xứ tại địa phương là ví dụ rất cụ thể cho xã hội ấy. Một Nước Trời ở trần gian. Một xã hội có thể thực hiện được.

Vào Tiệc Thánh, ta vẫn thực hiện điều này khi san sẻ bánh và rượu đã thành Mình Máu Chúa. San sẻ thực phẩm nuôi sống linh hồn và cũng san sẻ chuyện trò tâm giao với nhau bên bàn tiệc của lòng mến, agapè.

Vào thời tiên khởi, cộng đoàn các thánh vẫn làm thế. Và ngày nay, nhiều nơi trong các giáo xứ, người đồng Đạo vẫn sống như thế. Đó là điều Chúa muốn mọi người thực hiện. Ai làm rồi, thì cứ tiếp tục. Đó là thực trạng của Hội thánh hôm nay. Đó là Nước Trời ở đây. Bây giờ. Là, tình huống rất Đạo. Là, bữa tiệc rất phải lẽ hợp với Đạo. Đạo của Chúa. Đạo làm người.

 Lm Richard Leonard sj biên-soạn  –

Mai Tá lược dịch.