Bệnh Minamata

Bệnh Minamata

BINH MINAMATA

 

 

 

 

 

 

 

Bệnh Minamata – Wikipedia tiếng Việt

Minamata disease – Wikipedia, the free encyclopedia

Vịnh Minamata, xinh đẹp thuộc tỉnh Kumamoto (Nhật Bản), nơi xảy ra thảm họa môi trường Minamata -30KM- vào năm 1950; do nhiễm hóa chất từ Công ty Chisso thải ra, chưa bằng 50% so sánh với FORMOSA,- 128KM.-

Người NHẬT tận lực ngay lập tức vét đáy biển? làm trong sạch môi trường. Tai sao vét đáy biển?

Vì rằng, mỗi khi có sóng ngầm, lớp trầm tích độc hại đang lắng đọng, nằm yên dưới đáy sẽ trỗi dậy, cuộn lên trên bề mặt mà khi “trời trong, biển lặng”, chúng ta cứ tưởng là biển sạch.

Lúc bấy giờ, với sự lao động miệt mài, chăm chỉ & đầy ý chí, họ đã MẤT 23 NĂM ĐỂ ĐÁNH BẮT, TIÊU HỦY HẾT SỐ CÁ ĐÃ NHIỄM ĐỘC, ĐỒNG THỜI MẤT 14 NĂM RÒNG RÃ ĐỂ NẠO VÉT, XỬ LÝ SỐ BÙN NHIỄM ĐỘC dưới lòng vịnh Minamata với kinh phí lên tới 48,5 tỉ yên. Họ đã dùng tàu hút trầm tích đáy biển, lấy chất độc xyanua & phenol ra khỏi biển.

Thế nhưng, ngày ấy, với sự thận trọng trong cách xử lý chất độc, đất nước Nhật đã không ngăn cản được bệnh Minamata, một căn bệnh khủng khiếp nhất của mọi thời đại.

Máu của những người tắm biển, ăn cá & các sinh vật vỏ cứng từ vịnh Minamata đã bị nhiễm xyanua & phenol nhưng họ không hề hay biết.

Và một thời gian không lâu, người dân của thành phố Minamata thơ mộng, xinh đẹp thuộc tỉnh Kumamoto (Nhật Bản) bỗng phát bệnh, tay, chân bị liệt, run lẩy bẩy, tai điếc, mắt mờ, nói lắp bắp, rú lên đau đớn vì co thắt. Những đứa trẻ sơ sinh bắt đầu bị liệt não, điếc, mù, đầu nhỏ, sống thoi thóp trong què quặt & dị dạng.

Thảm họa biển nhiễm độc tại vịnh Minamata đã đi vào lịch sử như một vết hằn đau đớn & khủng khiếp nhất của nhân loại.

MINAMATA 4

MINAMATA 2

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

MINAMATA 3

MINAMATA 1

THIÊN SỨ CỦA LÒNG CHÚA THƯƠNG XÓT

THIÊN SỨ CỦA LÒNG CHÚA THƯƠNG XÓT

 TRẦM THIÊN THU

Chúa Nhật 4.9.2016, Giáo Hội Công Giáo hân hoan kính chào một vị Thánh mới: Mẹ Têrêsa Calcutta (thành phố Kolkata, Ấn Độ, 1910-1997).  Mẹ Têrêsa được mệnh danh là “Thiên Sứ của Thiên Chúa.”  Cả cuộc đời Mẹ đấu tranh cho giá trị nhân phẩm của những con người nghèo khổ nhất, đã nêu gương luân lý làm cầu nối các khoảng cách về văn hóa, giai cấp và tôn giáo.  Một con người có vóc dáng nhỏ bé nhưng lại có trái tim “cực đại” và đầy lòng nhân ái.  Bà nói: “Ngay cả những người giàu cũng khao khát tình yêu, muốn được quan tâm, muốn có ai đó thuộc về mình.”

Cha mẹ của bà là người Albani.  Bà sinh ngày 26.8.1910 tại Shkup (nay là Skopje), thuộc Cộng hòa Nam Tư (Macedonia), trước đó là Yugoslavia, với tên “cúng cơm” là Agnes Gonxha Bojaxhiu. Bà là con út trong 3 người con.

Lúc bà 7 tuổi, cha của bà bị giết, nên bà quan tâm chính trị.  Tuổi thiếu niên, bà là thành viên của nhóm bạn trẻ trong Giáo Xứ, gọi là nhóm Tương Tế Tôn Giáo (Sodality), dưới sự hướng dẫn của một linh mục Dòng Tên, bà cảm thấy quan tâm việc truyền giáo.  Lúc 17 tuổi, bà gia nhập Dòng Nữ tử Loreto ở Ireland, một dòng chuyên về giáo dục, rồi bà được gởi tới Bengal năm 1929 để vào Nhà Tập.  Bà chỉ lõm bõm tiếng Anh nhưng vẫn khấn lần đầu, với tên dòng là Têrêsa (chọn theo tên của Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu).

Đến năm 1950, Nữ Tu Têrêsa lập Dòng Truyền Giáo Bác Ái (Dòng Thừa Sai Bá Ái,  Missionaries of Charity).  Bà nhận Giải Nobel Hòa bình năm 1979 và nhận Giải Bharat Ratna ( भारत रत्न, nghĩa là “Viên Ngọc Ấn Độ”, giải thưởng cao nhất của Ấn Độ dành cho người dân) năm 1980.  Trước đó, năm 1962, bà đã được chính phủ Ấn trao giải Padma Shri.  Trong những thập niên kế tiếp bà được trao tặng các giải thưởng lớn như Giải Jawaharlal Nehru về Hiểu Biết Quốc Tế năm 1972.

Trong thời kỳ Ấn Độ bị người Anh đô hộ (British Raj), trường Loreto nhận rất ít người Ấn, đa số là người Hindu Bengal, con gái các gia đình có thế lực ở Calcutta, nhưng đa số giáo viên vẫn là các nữ tu gốc Ai-len.  Nữ tu Têrêsa không thuộc Dòng Nữ tử Loreto nữa nhưng thỉnh thoảng bà vẫn về thăm.  Bà dạy ở các trường nữ khác trong 3 năm trước khi (như bà nói) “theo Chúa đến với người nghèo khổ.” Theo các nữ sinh nói, sự gián đoạn đó không hoàn toàn thân thiện, ít là phần các Nữ Tu Dòng Loreto.

THANH TERESA

Hình ảnh Nữ Tu Têrêsa nhỏ bé, với tấm khăn choàng Sari (trang phục của phụ nữ Ấn) xõa xuống vai và lưng, bước đi trên đường đá đỏ, trông thật giản dị và khiêm nhường.  Bà luôn có một hoặc hai Nữ Tu choàng sari đi theo.  Bà là con người kỳ lạ của thế kỷ 20.  Có thể bà “khác người” vì chúng ta không thấy Nữ Tu nào choàng sari như vậy.  Nhưng đó là thói quen của Nữ Tu Têrêsa vùng Calcutta, bà “quên” mình là người Albani để hòa nhập và hoàn toàn nên giống các phụ nữ Ấn.

Chính phủ đã “ầm ĩ” chống truyền giáo nhưng chưa bao giờ làm khó các Nữ Tu truyền giáo.

Đầu thập niên 1950, các học sinh không có đạo ở Nhà Loreto đã nghi ngờ ý định của Mẹ Têrêsa trong việc giúp đỡ các trẻ em đường phố hoặc trẻ mồ côi.  Bà đang cứu vớt chúng để “dụ” đưa chúng vào đạo Công Giáo?  Cứ hai tuần một lần, Mẹ Têrêsa nói chuyện để vận động phụ nữ không phá thai và bảo vệ sự sống.

Dự định của Mẹ Têrêsa là chăm sóc những người bệnh ở thời kỳ cuối, những người đến Đền Kalighat để được chết gần “thánh địa.”  Mẹ Têrêsa không mong kéo dài sự sống cho họ, nhưng buồn về tình trạng nhơ uế và cô độc của họ trong thời gian cuối đời.  Mẹ Têrêsa quan ngại về tỷ lệ tử vong và ám ảnh về cách chết của họ, ngược với quan niệm của người Hindu về sự tái sinh và sự chết là được giải thoát khỏi maya.

Mẹ Têrêsa lập một trại phong (Leprosarium) ở ngoại ô Calcutta, trên khu đất do chính phủ cấp.  Bà là người lý tưởng hóa hơn là người lập dị.  Người phong cùi bị coi thường không chỉ ở Calcutta mà ở khắp Ấn Độ, đến vài xu lẻ cũng không ai muốn bố thí cho họ.  Ai cũng sợ bị lây nhiễm.  Từ đó, người ta cũng có ánh mắt không thiện cảm với Mẹ Têrêsa.

Từ năm 1970, Mẹ Têrêsa trở nên một nhân vật nổi tiếng thế giới với các hoạt động nhân đạo cứu giúp người nghèo và những người sống trong hoàn cảnh tuyệt vọng, một phần cũng nhờ cuốn sách và bộ phim tư liệu tựa đề “Something Beautiful for God” ( Điều Tốt Đẹp Dành Cho Chúa ) của Malcome Muggeridge.

Bà không chỉ là người loan báo Tin Mừng, mà còn là một “lương y” tận tình chăm sóc người phong cùi.  Cách dấn thân của bà đã thay đổi người dân Calcutta, chính các Nữ Tu Dòng Loreto cũng trở lại tìm bà.

Dân Calcutta rất quý mến Mẹ Têrêsa.  Các chị em học ở trường nữ Loreto hồi thập niên 1970 đều trở nên các bà vợ tốt, có địa vị trong xã hội và tình nguyện hoạt động xã hội theo ý định của Mẹ Têrêsa, nhất là vì trại phong.  Những năm sau, Mẹ Têrêsa rất tin tưởng những phụ nữ tốt nghiệp trường Loreto.

Số phận những người vận động luân lý dễ bị tổn thương vì các thay đổi của thói đạo đức giả hoặc tùy tiện của các chiến dịch.  Những kẻ gièm pha đã kết tội Mẹ Têrêsa là phóng đại cảnh nghèo khổ của dân Calcutta.  Mẹ Têrêsa luôn phải phải đấu tranh, dù vẫn bị người ta chỉ trích nhưng hoạt động của bà không suy giảm.  Thậm chí bà còn thành công và cảm hóa chính những người đã nghi ngờ hoặc những người ghen ghét bà.  Chính Mẹ Têrêsa đã thay đổi nhiều trái tim, đó là phép lạ thực sự vĩ đại.

Mẹ Têrêsa nói: “Ở Tây phương có sự cô đơn, điều mà tôi gọi là bệnh-phong-của-Tây-phương.  Bằng nhiều cách, nó còn tệ hơn người nghèo của chúng tôi tại Calcutta.  Tôi không bao giờ từ chối một đứa trẻ nào, không bao giờ, dù chỉ một.”

Năm 1950, cũng là năm Mẹ Têrêsa lập Dòng Truyền Giáo Bác Ái, Đức Giáo Hoàng Piô XII đã phê chuẩn Dòng này.  Cuối thập niên 80, Mẹ Têrêsa cũng đã từng có những lần sang thăm Việt Nam, một số Giáo Xứ ở Sàigòn như Thanh Đa, Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp Kỳ Đồng, Mai Khôi Tú Xương… đã được vinh dự đón tiếp Mẹ hoặc đến hiệp dâng Thánh Lễ giữa cộng đoàn.

Vì tuổi cao sức yếu, Mẹ Têrêsa qua đời ngày 5.9.1997, sau hơn nửa thế kỷ phục vụ những người cùng đinh trong xã hội trong Đức Ái của Chúa Giêsu.

Mẹ Têrêsa được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tôn phong Chân Phước ngày 19.10.2003.

Mẹ Têrêsa là nhân chứng sống động của Lòng Chúa Thương Xót. Thật tuyệt vời và phấn khởi, nhưng cũng thực sự mắc cỡ, khi nhớ lại lời nhận xét của Mẹ: “Người nghèo KHÔNG CẦN chúng ta THƯƠNG HẠI, họ cần TÌNH YÊU và CẢM THÔNG.  Họ cho chúng ta nhiều hơn chúng ta cho họ.  Trong thời gian khó khăn của Ấn Độ, chúng tôi xin một số người tình nguyện từ khắp nơi đến giúp. Nhiều ngàn người đã đến, và khi họ ra về, họ có chung nhận xét là họ đã đem về nhiều hơn là đem cho.  Có một lần ờ Calcutta, chúng tôi nhặt được năm người đang hấp hối, trong đó có một người phụ nữ bệnh quá nặng.  Tôi muốn ngồi với chị trong giờ phút cuối cùng.  Tôi đặt tay tôi lên tay chị.  Chợt chị tỉnh ra, nhìn tôi, không than đói, không than khát, nhưng cười và nói lời cảm ơn trước khi nhắm mắt từ giã cuộc đời”.

Lạy Mẹ Têrêsa, xin ban cho chúng con trái tim nhân hậu như Mẹ để chúng con yêu thương mọi người, nhất là những người nghèo khổ, những người bị ruồng bỏ, những người bị ngược đãi, … Chúng con cầu xin nhân Danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ giàu lòng thương xót của chúng con. Amen.

 TRẦM THIÊN THU

VN đứng áp chót trong bảng xếp hạng ‘chỉ số tử tế’

VN đứng áp chót trong bảng xếp hạng ‘chỉ số tử tế’

(Sự kiện) – Việt Nam xếp thứ 124 trên tổng số 125 quốc gia được điều tra, chỉ sau mỗi Libya – đất nước bất ổn ở Trung Đông.

Bảng xếp hạng “Chỉ số tử tế quốc gia” của nhà cố vấn chính sách độc lập Simon Anholt vừa được công bố ngày 24/6. Bảng xếp hạng “Chỉ số tử tế” toàn cầu được công bố nhằm đánh giá mức độ đóng góp của các nước cho thế giới. Theo bảng này, Việt Nam xếp thứ 124 trên tổng số 125 quốc gia được điều tra.

Theo tờ The Economist, bảng xếp hạng “Good Country Index” (tạm dịch: Chỉ số quốc gia tử tế) được dựa trên khoảng 35 bộ dữ liệu, chia thành 7 lĩnh vực: Đóng góp về khoa học công nghệ, đóng góp về văn hóa, đóng góp vào hòa bình và an ninh thế giới, trật tự thế giới, bảo vệ môi trường hành tinh, đóng góp vào sự phồn vinh và bình đẳng của thế giới, đóng góp về y tế sức khỏe.

 ybia - nước đang trong cuộc nội chiến kéo dài hơn 3 năm qua - bị đánh giá là có
Lybia – nước đang trong cuộc nội chiến kéo dài hơn 3 năm qua – bị đánh giá là có “chỉ số tử tế” thấp nhất trong tổng 125 quốc gia được xếp hang.

Mức độ đóng góp này được tính trên nền mức độ giàu nghèo của các nước theo tỷ lệ thu nhập quốc dân, nhằm tránh khỏi sự phân biệt giàu nghèo giữa nước lớn và nước bé.(Tức là nước nghèo có đóng ít hơn cũng có thể được tính ngang bằng nước giàu mà đóng góp nhiều hơn).

Theo bảng xếp hạng công bố, Ireland được coi là quốc gia “tử tế” nhất hành tinh, xếp ở vị trí thứ nhất, tiếp sau đó là Phần Lan, Thụy Sĩ, Hà Lan và New Zealand. Mỹ, quốc gia được coi là cường quốc số một thế giới chỉ được xếp ở vị trí 21 trong bảng này.

Ở cuối bảng xếp hạng, Việt Nam đứng thứ 124/125 quốc gia được điều tra, chỉ sau mỗi Libya – đất nước bất ổn ở Trung Đông.

Cụ thể, về khoa học công nghệ, Việt Nam đứng thứ 89/125, với tỷ lệ đóng góp tương đối là âm, trong đó bằng sáng chế có tỷ lệ đóng góp gần như bằng không.

Về mặt văn hóa, Việt Nam đứng thứ 76/125, được đánh giá khá tốt về mặt xuất khẩu đồ sáng tạo nghệ thuật.

Ở chỉ số đóng góp cho hòa bình thế giới, Việt Nam chỉ đứng thứ 103/125. Trong chỉ số này, Việt Nam được đánh giá cao vì mức xuất khẩu vũ khí thấp nhưng bị đánh giá kém ở lĩnh vực an toàn Internet và đóng góp tài chính cho quân đội Liên Hợp Quốc.

Việt Nam đứng thứ 123/125 trong chỉ số trật tự thế giới và bảo vệ môi trường (hành tinh và khí hậu). Đặc biệt, Việt Nam bị đánh giá rất thấp trong chỉ số thải độc ra môi trường.

Một chỉ số khả quan hơn là sự đóng góp vào phồn vinh và bình đẳng kinh tế giới giới, xếp thứ 79/125. Về đóng góp cho y tế và sức khỏe thế giới, Việt Nam đứng thứ hạng 111/125 bởi hiện vẫn đang nhận rất nhiều từ viện trợ nước ngoài về thuốc chữa bệnh, vắc xin. Tuy vậy, Việt Nam được đánh giá là có đóng góp cho Tổ chức Y tế thế giới (WHO).

 Bảng xếp hạng
Bảng xếp hạng “chỉ số tử tế quốc gia” được tờ The Economist đồ họa rút gọn lại.

Theo chuyên gia tư vấn chính sách Simon Anhold, bảng xếp hạng này được đưa ra nhằm mục đích khuyến khích các “quốc gia bình thường” tự coi mình là một thành viên của cộng đồng quốc tế chứ không phải là một đất nước riêng lẻ.

Chuyên gia tư vấn chính sách Simon Anhold

Ông này cho rằng kiểu tư duy “chỉ biết đến mình” chỉ đem lại sự bất lợi, và ông đưa ra một câu chuyện hài hước để minh họa cho điều này. Ông kể: “Một con gà trong một ngôi làng ở Trung Quốc bị cúm. 20 năm trước, đó chỉ là tin xấu cho con gà và gia đình của nó, thế nhưng ngày nay nó đe dọa đến sự sống còn của cả nhân loại vì quá trình toàn cầu hóa”.

Chuyên gia tư vấn này giải thích thêm: “Ngày nay, các quốc gia ngày càng phát triển hơn, nhưng thế giới và hành tinh này cùng toàn thể nhân loại trên đó thì ngày càng trở nên tệ hại hơn. Việc các nước chỉ chăm chăm chú trọng vào bản thân mình có thể dẫn đến tình trạng ích kỷ không vì cộng đồng quốc tế”.

Tuy nhiên, bảng xếp hạng này chỉ là đánh giá chủ quan của riêng chuyên gia tư vấn Anhold mà không thông qua bất cứ một tổ chức chuyên xếp hạng, đánh giá có uy tín nào, nên nó chỉ có giá trị về mặt tham khảo. Ngoài ra, một số người cũng tỏ ra hoài nghi về cách thức chấm điểm và xếp hạng của chuyên gia này, đồng thời cho rằng nó không phản ánh đúng thực tế đang diễn ra tại một số quốc gia.

Tổng hợp

TƯ CÁCH CÔNG DÂN

TƯ CÁCH CÔNG DÂN

FB Mạc Văn Trang

2-9-2016

Ngày 2/9/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, câu đầu tiên trích từ bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Tiếp đó Hiến pháp của nước Việt Nam DCCH được công bố 1946, Điều 10 quy định rõ ràng các quyền tự do cá nhân: “Công dân Việt Nam có quyền: tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”…

Những điều tuyên bố trên đã hơn 70 năm, do oái oăm của lịch sử, đến nay vẫn là những mong ước của nhân dân ta, xét về TƯ CÁCH CỦA CÔNG DÂN.

Tư cách công dân, theo nghĩa thông thường là người có ý thức, thái độ và hành vi đúng đắn trong việc thực hiện các NGHĨA VỤ và QUYỀN LỢI trong mối quan hệ với nhà nước, với Tổ quốc, với xã hội và với chính bản thân mình.

Về NGHĨA VỤ với Tổ quốc, với nhà nước, với xã hội – cái này dân ta thấm thía lắm rồi. Ngày trước toàn dân ta đã “đem hết tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải ra để bảo vệ nên độc lập”, “thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”, đã “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” để giành và giữ độc lập cho Tổ quốc. Ngày nay, hàng ngày, hàng giờ dân ta vẫn luôn phải ra sức “đóng”, “nộp”, “chấp hành”, “kê khai”, “trình báo”, “thực hiện”, “thi hành”, “truy thu”… mọi thứ do nhà nước từ trung ương đến tỉnh, huyện, xã, thôn đưa ra. Người dân đã và đang kiệt sức vì nghĩa vụ đóng góp.

Còn về QUYỀN LỢI, dường như dân mình ít khi quan tâm, đòi hỏi, có khi không ý thức rõ mình có những quyền gì! Có lẽ dân ta nhớ nhất là “quyền đi bầu”, vì loa, đài chỉ ra rả nhắc quyền ấy suốt những ngày bầu cử. Nhưng bầu ai thì “Đảng chọn, dân bầu”, biết trước rồi, nên cũng chỉ là cái quyền hờ, thành nghĩa vụ đối với chính quyền là chủ yếu, để có con số đẹp: 99,9% cử tri đi bỏ phiếu… lập kỷ lục khùng nhất thế giới.

Dưới thời phong kiến, đế quốc cai trị, dân ta phải thực hiện các nghĩa vụ rất nặng nề, nhưng ý thức đòi quyền công dân thì rất thấp. Nhà thơ Tản Đà đã từng thốt lên: “Dân hai lăm triệu, ai người lớn/ Nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con”, hay “Cũng bởi thằng dân ngu quá lợn/ Cho nên quân nó dễ làm quan” (1927).

Ngày nay những quyền công dân được ghi trong Hiến pháp 2013 cũng rất đầy đủ, rất đẹp, nhưng thực tế dân ta đã ý thức và đấu tranh để được hưởng những quyền đó như thế nào? Bà con hãy đọc một số điều trong Hiến pháp và liên hệ thực tế xem những điều sau đây được hiện thực hóa trong đời sống thế nào?

“Điều 14 (Hiến pháp 2013)

1. Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.

2. Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.

Điều 16

1. Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật.
2. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội.

Điều 17

1. Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam.
2. Công dân Việt Nam không thể bị trục xuất, giao nộp cho nhà nước khác.
3. Công dân Việt Nam ở nước ngoài được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ.

Điều 19:

Mọi người có quyền sống. Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật.

Điều 20:

1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm.

2. Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt, giam, giữ người do luật định.

Điều 22

1. Công dân có quyền có nơi ở hợp pháp.
2. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó đồng ý.
3. Việc khám xét chỗ ở do luật định.

Điều 23

Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định.

Điều 24

1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.

2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

3. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật.

Điều 25

Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định.

Điều 26

1. Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới.

2. Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội.

3. Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới.

Điều 27

Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Việc thực hiện các quyền này do luật định.

Điều 28

1. Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước.

2. Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân.

Điều 29

Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân.

Điều 30

1. Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật.

3. Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác.

Điều 31

1. Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

2. Người bị buộc tội phải được Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, công bằng, công khai. Trường hợp xét xử kín theo quy định của luật thì việc tuyên án phải được công khai.

3. Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm.

4. Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa.

5. Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự. Người vi phạm pháp luật trong việc bắt, giam, giữ, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý theo pháp luật”. (hết trích)

Một người dân chưa ý thức rõ về những quyền này, không bức xúc khi những quyền đó chưa được thực, không có hành động đấu tranh đòi thực thi những quyền đó thì chưa trưởng thành về tư cách công dân.

Tư cách công dân không chỉ đòi hỏi người dân có nhận thức và thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ trong hiện tại, mà còn thể hiện trách nhiệm với những di sản của tổ tiên, cha ông để lại và trách nhiệm với tương lai của đất nước, của các thế hệ mai sau.

Một người lãnh đạo, đại diện cho các công dân phải thể hiện một tư cách công dân tiêu biểu, nêu gương cho quốc dân. Một người chỉ biết thu vén cho lợi ích cá nhân, gia đình, phe nhóm, không đấu tranh, chăm lo cho quyền lợi của mọi công dân, của Tổ quốc, của xã hội thì không xứng đáng là người lãnh đạo, hơn nữa còn nêu gương xấu về tư cách công dân.

Cũng vì thế ở các nước văn minh, người lãnh đạo có sai lầm, khuyết điểm, phạm vào tư cách công dân, họ phải từ chức, hoặc bị cách chức ngay, vì nêu gương xấu về tư cách công dân. Đã nêu gương xấu mà còn tiếp tục lãnh đạo quốc gia thì tác hai vô cùng đến các công dân khác.

Cho nên có người chức lớn, quyền cao, chức danh đầy mình mà tư cách công dân thấp bé, vì vụ lợi “ngậm miệng ăn tiền”, “mũ ni che tai”, trở nên ích kỷ, hèn nhát; ngược lại có những em bé mà thể hiện tư cách công dân lớn lao. Ta còn nhớ 2 anh em cậu bé người Hy Lạp, anh 7 tuổi, em 5 tuổi, khi nghe quốc hội bàn bán một hòn đảo đi để trả nợ, 2 em đã “mổ lợn” lấy tiền để dành đem nộp tại ngân hàng trung ương với tuyên bố: Mỗi người dân hãy góp tiền trả nợ, không được bán hòn đảo. Ông Chủ tịch quốc hội đã mời 2 em lên gặp, và hỏi, vì sao lại làm vậy? Cậu bé 7 tuổi thọc tay túi quần, ưỡn ngực nhìn thẳng vào mái đầu bạc của ông Chủ tịch đang cúi xuống lắng nghe: Cháu không muốn các bác bán hòn đảo để trả nợ. Tổ quốc không phải để bán! Đó, tư cách công dân của một em bé đã thức tỉnh ý thức công dân cả một dân tộc.

Còn ở ta, tư cách công dân có được tôn trọng và phát huy, khi Khai quốc công thần Đại tướng Võ Nguyên Giáp 3 lần viết thư can ngăn dự án bô – xít Tây Nguyên, nhưng quốc hội hay chính phủ chẳng ai thèm đoái hoài; 62 nhân sĩ trí thức tiêu biểu dâng kiến nghị lên Đại hội Đảng CSVN lần thứ XII, chẳng được hỏi han, còn bị bêu là “suy thoái tư tưởng đạo đức”, và cho đám DLV chửi bới là phản động, ăn tiền, tay sai cho nước ngoài… Một môi trường như vậy, làm sao hình thành và phát triển được tư cách công dân. Tư cách công dân không trưởng thành thì đám dân chúng vẫn là một bầy người “không chịu lớn”, như lời thơ của cô giáo Trần Thị Lam:

“Đất nước mình ngộ quá phải không anh
Bốn ngàn tuổi mà dân không chịu lớn
Bốn ngàn tuổi mà vẫn còn bú mớm
Trước những bất công vẫn không biết kêu đòi” …

Tư cách công dân ngày nay còn đòi hỏi ý thức mình là một công dân toàn cầu/ công dân quốc tế. Liên hiệp quốc đã khuyến cáo mỗi quốc gia phải giáo dục cho công dân nước mình, nhất là thế hệ trẻ có nhân thức, thái độ, hành vi là một công dân toàn cầu. Một GS Nhật đã phát biểu: Nước nào có nhiều công dân toàn cầu sẽ là nước dẫn đạo thế giới. Như vậy suy ra, những nhà lãnh đạo quốc gia nào nặng chủ nghĩa dân tộc cực đoan hẹp hòi, chỉ lo tranh giành lợi ích cho đất nước mình, bất chấp lợi ích của các quốc gia khác, bất chấp luật pháp quốc tế, thì họ không có tư cách công dân quốc tế, nước họ to, những tư cách công dân quốc tế của họ thấp bé, không được nhân loại tôn trọng, làm sao đủ tư cách dẫn đạo thế giới.

Trở lại với mỗi bà con ta, mỗi người dân không chỉ biết thực hiện đầy đủ nghĩa vụ mà còn phải có nhận thức, thái độ, hành động đòi hỏi thực hiện đầy đủ quyền công dân của mình, để bản thân mình và con cháu mình có tư cách công dân, tức là trưởng thành. thành “người lớn”.

Về quảng cáo

‘Biển chết nhưng ngư dân không thất nghiệp”?

‘Biển chết nhưng ngư dân không thất nghiệp”?

Cát Linh, phóng viên RFA
2016-09-01

000_DQ900.jpg

Ngư dân Việt Nam tại đồn cảnh sát Thái Lan sau khi bị giam giữ do đánh bắt cá trái phép tại vùng biển miền nam Thái Lan của Narathiwat vào ngày 1 tháng 8 năm 2016.

 AFP Photo

‘Biển chết nhưng ngư dân không thất nghiệp”?

03:28/06:29

Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Ngày 27 tháng 8 vừa qua, tại hội nghị báo cáo tiến độ kê khai, thống kê thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra, bà Nguyễn Thị Hải Vân, Cục trưởng cục việc làm đã cho rằng số người thất nghiệp do sự cố xả thải của công ty luyện gang thép không cao. Lý do mà bà đưa ra là “người Việt Nam không ngồi một chỗ”, cho nên họ vẫn đi tìm kiếm việc làm.

Sự thật có đúng như báo cáo đưa ra trong hội nghị hay không và có thuyết phục được người dân hay không?

Như thế nào là thất nghiệp?

“Theo điều tra của chúng tôi thì tỉ lệ thất nghiệp do Formosa xả thải giết biển miền Trung không cao”, đó là nguyên văn lời phát biểu của bà Nguyễn Thị Hải Vân, Cục trưởng cục việc làm tại hội nghị báo cáo tiến độ, thống kê thiệt hại do sự cố môi trường tại Thừa Thiên-Huế ngày 27 tháng 8, được báo mạng “một thế giới” trích lại. Để làm rõ và thuyết phục những người có mặt tại hội nghị về kết quả điều tra của Bộ lao động-Thương binh-Xã hội, bà Vân đề cập cả đến bản tính “chịu thương chịu khó” của người Việt Nam xưa nay.

Theo lời giải thích của bà, người Việt Nam không chịu ngồi một chỗ nên cho dù xảy ra sự cố ô nhiễm môi trường nặng nề, ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống sinh nhai của họ là ngư trường, thì họ vẫn đi tìm kiếm việc làm khác.

Với đặc điểm của người Việt Nam là không ngồi một chỗ thì cách nói thế là cách nói suy diễn của bà ấy thôi, còn việc làm có chính thống hay không là vấn đề khác.
– Tiến sĩ Ngô Trí Long

 

Chính vì điều này, những con số về tỉ lệ thất nghiệp sau sự cố mà bà Vân đưa ra trong buổi hội nghị được bà cho là “những con số phản ảnh của sự cố nhưng thất nghiệp không nhiều.

Những con số được đưa ra thể hiện sự chênh lệch không nhiều giữa tỷ lệ thất nghiệp trước và sau sự cố ô nhiễm môi trường biển. Ảnh hưởng nhiều nhất là Quảng Bình thì trước sự cố là 2,1% và sau đó là khoảng 16,4%.

Chuyên gia kinh tế, Tiến sĩ Ngô Trí Long, không đồng tình với con số thất nghiệp do Bộ Lao động-Thương binh- Xã hội cập nhật. Từ Sài Gòn, ông nói với đài Á Châu Tự do về nhận định của ông trước lý do bà Cục trưởng cục việc làm đã đưa ra.

“Với đặc điểm của người Việt Nam là không ngồi một chỗ thì cách nói thế là cách nói suy diễn của bà ấy thôi, còn việc làm có chính thống hay không là vấn đề khác. Việc làm có tạo ra thu nhập chính đáng hay không mới là cái quan trọng. Nói rằng hiện nay tỷ lệ thất nghiệp ở Việt Nam rất là ít nhưng thực tế? Không như ở các nước khác có số liệu thống kê rất rõ ràng, đăng ký thất nghiệp rất rõ ràng.”

Theo Tiến sĩ Ngô Trí Long, nếu một người dân không có việc làm ổn định trong một thời gian nhất định, chẳng hạn một tháng chỉ có thể làm việc vài ngày, thì người đó không thể gọi là không thất nghiệp. Bên cạnh đó, theo ông, tính năng động thể hiện ở việc làm của người đó có thực chất hay không.

Tính dây chuyền

Theo thống kê của báo trong nước, các tỉnh ven biển miền Trung, cụ thể là Hà Tĩnh, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế có đến 60, 70% ngư dân làm nghề đánh bắt gần bờ. Từ khi xảy ra sự cố ô nhiễm môi trường biển hồi đầu tháng 4 đến nay, tất cả tàu đánh bắt cá của ngư dân phải nằm bờ. Bên cạnh những ngư dân là người chịu ảnh hưởng trực tiếp, phải kể đến những công việc, ngành ngề khác có liên quan đến ngư trường và thuỷ hải sản cũng bị tác động nặng nề.

Vài ngày trước, Hiệp hội thuỷ sản Việt Nam cho biết rằng nhiều hợp đồng xuất khẩu hải sản của Việt Nam bị đối tác nước ngoài huỷ bỏ vì lo ngại cá tôm bị nhiễm độc sau tai hoạ môi trường Vũng Áng.

Nhà hoạt động Trần Bang từ Sài Gòn cho biết.

“Có một số người đã vào Sài Gòn để xin việc, vì họ có thuyền, có đồ dùng cũng không đi đánh cá được. Mà cũng đánh cá về thì cũng không bán được, không ai mua. Thế mới thấy môi trường nó ảnh hưởng sát sao đến đời sống người dân, đến miếng ăn, nước uống, khí thở.”

Có một số người đã vào Sài Gòn để xin việc, vì họ có thuyền, có đồ dùng cũng không đi đánh cá được. Mà cũng đánh cá về thì cũng không bán được, không ai mua.
– Trần Bang

 

“Có mấy người ở Ninh Thuận, Bình Thuận cũng điện thoại cho tôi bảo phải đóng cửa Formosa. Cứ nghĩ rằng bây giờ người dân tại vùng đó không dám ăn cá biển thì mới thấy cái khủng khiếp thế nào. Thế rồi nhiều người ở Sài Gòn đi mua mắm, muối tích trữ. Cái nước mắm bây giờ làm bằng cá nhiễm độc thì 6 tháng sau ra nước mắm. 1 năm sau mình mua thì ăn phải nước mắm độc. Muối cũng vậy.”

Không còn khả năng sinh sống bằng cái nghề cha truyền con nối, họ bắt buộc phải đi làm ăn xứ khác.

Một người dân từng làm nghề đi biển ở Huế, hiện đang phải mưu sinh ở tận thủ đô Vieng Chăn, Lào, cho đài Á Châu tự do biết rằng, không phải chỉ một mình anh phải bỏ xứ đi tìm nghề ở nơi khác.

“Từ ngày biển chết đến giờ, có nhiều người phải qua đây, có nhiều người vào Sài Gòn, qua Mã Lai… Giờ người ở quê đi hết vì quê hương không có việc gì làm hết. Tiền không có, ở quê không có việc làm, biển thì chết, cá bán không có ai mua. Như tôi thì đi Lào tìm việc làm.”

Không dễ dàng

Thế nhưng, điều này không đồng nghĩa với việc cho thấy tinh thần tự lực tự cường, chịu thương chịu khó của người Việt Nam. Những ngư dân của 4 tỉnh ven biển miền Trung phải tìm việc xứ khác vì họ thất nghiệp trên chính mảnh đất cha sanh mẹ đẻ của mình. Họ thất với cái nghiệp mà gia đình nhiều thế hệ của họ đã đeo bám từ lâu đời để sinh nhai.

Tiến sĩ Ngô Trí Long lên tiếng đề nghị rằng “Phải dám nhìn thẳng vào sự thật để có giải pháp xử lý chứ không phải đứng ở góc độ của người khách quan để đánh giá sự việc.” Như thế là hoàn toàn không thuyết phục.

Chúng ta phải đi vào thực tế cuộc sống của ngư dân miền biển, những nơi đã bị thảm hoạ môi trường để thấy được vấn đề.
– Tiến sĩ Ngô Trí Long

 

“Hiện nay môi trường biển do Formosa gây ra ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống mưu sinh, coi như là cá không sử dụng được. Cho nên người ta phải đi mưu sinh nơi khác. Chúng ta phải đi vào thực tế cuộc sống của ngư dân miền biển, những nơi đã bị thảm hoạ môi trường để thấy được vấn đề. Hiện nay do tác động của nó đã ảnh hưởng đến công ăn việc làm của họ, họ không biết tìm việc làm gì.”

Nếu những người đấu tranh cho môi trường và đời sống của các ngư dân vùng biển nói rằng “Biển sạch là khi cá tôm trở lại” thì có lẽ những người ngư dân bốn tỉnh miền Trung cũng có thể nói rằng: “Ngư dân không thất nghiệp là khi tàu thuyền có thể ra khơi”?

Hội đồng Liên tôn Việt Nam lên án nhà cầm quyền

Hội đồng Liên tôn Việt Nam lên án nhà cầm quyền

Cát Linh, phóng viên RFA
2016-09-02

hooidonglientonvn.png

hoidonglientonvn.png

Photo: RFA

Hội đồng Liên tôn lên án đảng Cộng sản Việt Nam

02:57/07:50

Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Hội đồng Liên tôn Việt Nam vừa ra tuyên bố lên án chính sách đàn áp tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong suốt 71 năm cầm quyền. Tuyên bố ký hôm 30 tháng 8 vừa qua.

Mục đích

Theo nội dung của bản tuyên bố do Hội đồng Liên tôn Việt Nam đưa ra để nói về thực trạng tôn giáo trong nước trong 71 năm qua cho biết, nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam luôn coi tôn giáo là những thế lực thù nghịch, các giáo hội là những thành phần cần phải tiêu diệt.

Linh mục Phe-ro Phan Văn Lợi, thành viên của Hội đồng liên tôn Việt Nam cho biết trong 71 Đảng Cộng sản đặt quyền cai trị lên đất nước, thì các tôn giáo là lực lượng luôn gây những lo lắng cho nhà cầm quyền. Theo linh mục, lý do vì tôn giáo là những thế lực tinh thần và là một sự cản trở đối với ách độc tài của Cộng sản, với chế độ vô luật và vô luân. Chính vì vậy, nhân dịp này Hội đồng liên tôn Việt Nam muốn nhìn lại 71 năm qua và những điểm chính, nhất là đối với thời điểm hiện tại, Đảng Cộng sản đã làm gì đối với các tôn giáo.

“Cái chủ trương của Cộng sản 71 năm qua như nhau đối với tôn giáo, luôn luôn làm cho tôn giáo phải bị tiêu diệt. Có nơi thì họ dùng bạo lực vũ khí, như bắt giam, thủ tiêu, quản thúc. Rồi có những trường hợp họ dùng bạo lực hành chánh, tức những luật lệ làm cho các tôn giáo, các chức sắc của tôn giáo bị tê liệt. Đó là mục đích của chúng tôi.”

Cái chủ trương của Cộng sản 71 năm qua như nhau đối với tôn giáo, luôn luôn làm cho tôn giáo phải bị tiêu diệt. Có nơi thì họ dùng bạo lực vũ khí, như bắt giam, thủ tiêu, quản thúc.
– LM Phan Văn Lợi

 

Trong bản tuyên bố nêu rõ những trường hợp của các chức sắc tôn giáo phải chịu nhiều sách nhiễu, đàn áp, bắt bớ hoặc cấm cản vô lý trong sinh hoạt tôn giáo và hoạt động cá nhân. Trường hợp mục sư Nguyễn Công Chính được nhắc đến trong bản tuyên bố và mục sư Nguyễn Hoàng Hoa nhấn mạnh thêm rằng.

“Bản án dành cho ông hết sức nặng nề. Có thể nói đây là một áp đặt lên để tiêu diệt giáo hội này ngay từ lúc đầu.”

Ông cho biết bản tuyên ngôn được những đại diện của năm tôn giáo ở Việt Nam đưa ra nhằm phản ảnh thực trạng và tình hình thực tế và khó khăn vẫn còn tồn tại.

“Bản tuyên bố cũng xin nói rõ lên để cho dư luận trong và ngoài cũng như các nước tự do về dân chủ nhân quyền và tôn giáo có sự cầu nguyện đặc biệt, phản ánh cho chúng tôi để chính phủ Việt Nam thay đổi chính sách tự do tôn giáo đúng nghĩa của nó.”

Bản tuyên bố của Hội đồng liên tôn Việt Nam lần này nhắc đến rất nhiều những trường hợp bị đàn áp, sách nhiễu đối với các chức sắc và hoạt động tôn giáo của các tôn giáo thuần tuý và độc lập ngoài sự quản lý của nhà cầm quyền. Theo Hoà thượng Thích Không Tánh, bên cạnh nội dung chính nói về dân chủ và nhân quyền thì thực tế trong 71 năm qua, không thể kể hết những việc sách nhiễu, xâm phạm, hoặc lấy đất đai của tôn giáo. Cụ thể là những sự việc diễn ra trong thời gian gần đây

“Nhân dịp rằm tháng 7 gần đây của bên Phật giáo thì công an bao vâycô lập chùa Liên Trì, không cho phật tử đến lễ. Phía linh mục Phan Văn Lợi cũng bị công an giả dạng ném đồ dơ vào nhà. Phía chức sắc bên Phật giáo Hoà Hảo đi tham dự những khoá niệm Phật thì bị họ bao vây, hành hạ rất nặng nề.”

Ảnh hưởng

Thời gian qua, phản ứng của người dân trong nước thể hiện trong các hoạt động dân sự và diễn biến xã hội có thể thấy rằng, các tôn giáo đã có tiếng nói mạnh hơn và sự liên kết chặt chẽ, cụ thể là Hội đồng liên tôn quốc nội cùng với chức sắc của 5 tôn giáo lớn ở Việt Nam. Linh mục Phe-ro Phan Văn Lợi cho biết.

“Chúng tôi cố gắng liên kết với nhau và cố gắng có những lời nói, phát biểu, văn kiện chung để cho đồng bào thấy rằng tôn giáo cần phải đứng với nhau để lo việc đạo và việc đời. Không những đòi tự do tôn giáo mà còn tự do nhân quyền cho con người.”

Chúng tôi cố gắng liên kết với nhau và cố gắng có những lời nói, phát biểu, văn kiện chung để cho đồng bào thấy rằng tôn giáo cần phải đứng với nhau để lo việc đạo và việc đời.
– LM Phan Văn Lợi 

 

Việc đoàn kết 5 tôn giáo trong Hội đồng liên tôn được Hoà thượng Thích Không Tánh nhìn nhận là một quá trình có nhiều khó khăn dưới chế độ độc tài toàn trị của nhà cầm quyền Việt Nam

“Bởi vì dưới chế độ tài toàn trị theo chủ trương duy vật vô thần của Cộng sản, nên bằng mọi cách họ cô lập, đánh phá và triệt tiêu hết tôn giáo chân truyền hoặc chính thống, độc lập nhằm mục đích để cho giao hội quốc doanh chịu thần phục dưới sự điều khiển của nhà cầm quyền Cộng sản thôi.”

Những năm gần đây, các tôn giáo đã lên tiếng rất nhiều về các hành vi bắt bớ không đúng pháp luật, những sách nhiễu, đàn áp bạo lực đối với tín đồ.

Linh mục Phan Văn Lợi cho biết “khi nhà nước Việt Nam ra Luật về tín ngưỡng tôn giáo, hoặc ra dự thảo Hiến pháp mới thì các tôn giáo đã phản bác rất mạnh mẽ.

Khó khăn

Những đàn áp do nhà cầm quyền Việt Nam áp dụng đối với các tìn đồ tôn giáo được Hội đồng liên tôn Việt Nam đề cập đến trong bản tuyên bố trên hai phương diện, lý thuyết và thực tế. Trong đó, Luật tôn giáo tín ngưỡng, một phương pháp mà Hoà thượng Thích Không Tính gọi đó là “cái vòng kim cô” dùng để đàn áp các tôn giáo được đặt ra như một khó khăn lớn cho tôn giáo Việt Nam. Ông nói:

“Đánh giá chung thì luật mới còn có thể khó khăn và khắc khe hơn. cho nên đa phần người ta nhận định là không có sự đổi mới hay không có sự thay đổi gì về luật tự do tín ngưỡng này. Nó gần như là một vòng kim cô hay cái dây tròng vào để thắt nút lại, để cuối cùng tất cả phải chịu cơ chế xin và cho. Chứ không thể có vấn đề tự do tối thiểu.”

Chúng tôi có tham khảo vì thấy có những điểm bất cập, không khác gì lắm với những văn bản và nghị định cũ.
– Mục sư Nguyễn Hoàng Hoa 

 

Mục sư Nguyễn Hoàng Hoa có cùng nhận định:

“Chúng tôi có tham khảo vì thấy có những điểm bất cập, không khác gì lắm với những văn bản và nghị định cũ. Có những câu lúc đầu như mở nhưng rồi có những điều khoản chi tiết cột lại. Đây cũng không nằm ngoài cơ chế xin-cho như những văn bản cũ.”

Theo những vị chức sắc tôn giáo mà chúng tôi nói chuyện thì cho dù Luật Tín ngưỡng- tôn giáo trong thời gian tới sẽ là một trong những khó khăn cho sinh hoạt của của các tôn giáo tại Việt Nam, họ vẫn kiên định sống đạo, hành đạo và truyền đạo như tự bao đời nay nhằm đáp ứng nhu cầu tâm linh của người dân.

Trong mọi lúc hãy giữ lòng cao thượng,

Suy Tư Tin Mừng Tuần thứ 23 thường niên năm C 04/9/2016

 

                                                            Tin Mừng: (Lc 14: 25-33)

 

Có rất đông người cùng đi đường với Đức Giêsu. Người quay lại bảo họ:

 

“Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được. Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được. “Quả thế, ai trong anh em muốn xây một cây tháp, mà trước tiên lại không ngồi xuống tính toán phí tổn, xem mình có đủ để hoàn thành không? Kẻo lỡ ra, đặt móng rồi mà không có khả năng làm xong, thì mọi người thấy vậy sẽ lên tiếng chê cười mà bảo: “Anh ta đã khởi công xây, mà chẳng có sức làm cho xong việc. Hoặc có vua nào đi giao chiến với một vua khác, mà trước tiên lại không ngồi xuống bàn tính xem mình có thể đem một vạn quân ra, đương đầu với đối phương dẫn hai vạn quân tiến đánh mình chăng? Nếu không đủ sức, thì khi đối phương còn ở xa, ắt nhà vua đã phải sai sứ đi cầu hoà. Cũng vậy, ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được.

& & & 

 

“Trong mọi lúc hãy giữ lòng cao thượng”,

“không tỵ hiềm, không giận dữ ghen tuông.

Xoá hận-thù bằng mọi dấu yêu thương,

Mỗi kinh-nghiệm là một thày dậy dỗ.”

(Dẫn từ thơ Nguyên Đỗ)

Mai Tá lược dịch.

 

“Giận dữ, ghen tương cùng tỵ hiềm xót xa”, nhất nhất đều là những đau thương đuối ngã trên đường đời. Con đường lâu nay vẫn thắm đượm nhiều kinh nghiệm cần lướt thắng. Lướt bằng yêu thương. Thắng bằng tha thứ. Bằng cách giữ lòng cao thượng như Chúa dạy, suốt hôm nay. Lời Chúa dạy hôm nay, thoạt nghe ta tưởng như đó là nghịch lý, rất khó nghe. Nghịch lý và khó nghe, là bởi nếu không thận trọng ta những tưởng Chúa dạy phải giận hờn ghét ghen. Ghét vợ ghét con, ghét cha mẹ ghét cả người thân ta cứ tưởng là có ghét như thế, mới được gần gũi với Chúa. Với Cha.

 

Không. Không phải thế. Trình thuật hôm nay, thánh sử Luca muốn diễn bày quyết tâm của  các đồ đệ theo Chúa. Thánh sử diễn tả bằng những lời lẽ rất triệt để. Điều, thánh nhân muốn nói, là: khi đã dấn bước theo chân Chúa, con dân nhà Đạo cũng nên dứt khoát tư tưởng, cho trọn tình trọn nghĩa. Trọn tâm can. Trọn tình vẹn nghĩa, tức chấp nhận lối cảm nghiệm rất sâu sắc về cuộc đời. Cảm nghiệm để rồi, đem thái độ sống ấy vào chính con đường mòn ta đi, trong cuộc đời.

 

Đọc Tin Mừng thánh Luca với đầu óc hoàn toàn cởi mở, không theo theo nghĩa đen. Không thành kiến rất tối, người đọc hẳn sẽ nhận ra rằng thánh Luca không có ý bảo: hãy ghét hết mọi người. Hoặc, ghét bỏ chính mình. Ngược lại, thánh sử kêu gọi người người hãy yêu thương giùm giúp lẫn nhau. Yêu thương giùm giúp mà chẳng cần tìm hiểu hoặc cứu xét xem người ấy là ai. Người ấy có đáng yêu không. Cũng chẳng cần xét xem người ấy có là họ hàng người thân, không.

 

Những gì Đức Kitô căn dặn nơi trình thuật, đã đưa ta về lại với xác tín ta vẫn có từ trước. Đặc biệt hơn cả, là: dụ ngôn kể về người Sa-ma-ri tốt bụng, mới đề cập hồi tuần trước. Điều này còn ghi rõ nơi lời nguyện cầu “Lạy Cha”, Chúa vẫn khuyên.

 

Xem như thế, đã là đồ đệ theo chân Chúa, hết thảy đều phải tâm niệm câu nói nằm lòng “tứ hải giai huynh đệ”. Tức, anh em bốn bể đều người nhà. Con cái muôn phương đều một Cha. Người Cha yêu thương. Cha trên trời. Đó là điều Đức Chúa dạy tất cả các người con dưới thế: hãy yêu thương nhau như con một nhà.

 

Trình thuật hôm nay, nhấn mạnh đến nền tảng của Đạo: tương quan với Chúa. Tương quan – hiệp thông với Chúa, phải được dẫn chứng bằng đường lối ta cư xử với các người anh, người chị cùng một Cha. Đường lối cư xử, tức cách xử sự của những người con cùng Cha trên trời, không tùy vào hệ thống quân giai rắc rối, như ở đời. Cũng chẳng tách bách họ hàng như gia tộc. Tương quan và hiệp thông với Chúa, không thể cân đong đo đếm bằng những danh xưng/chức tước, tiền bạc của cải, hoặc tôn giáo, nghề nghiệp, hoặc giai cấp xã hội. Tương quan với Chúa, là tâm tình thân thương trìu mến được diễn bày với người dưng khác họ, ở đâu xa. 

 

Trình thuật hôm nay, còn bàn về tương quan ta đang có giữa những người anh em đồng hội đồng thuyền, sống gần gũi với ta. Trong tương quan đối xử, điều quan trọng không nằm ở chỗ: người này người kia đánh giá thế nào về ta. Nhưng, bằng vào mức độ ta quan tâm chăm sóc mọi người đến thế nào. Quan tâm chăm sóc ấy còn được gọi là lòng yêu thương xót xa thể hiện bằng cử chỉ và tâm tình khi ta tiếp xúc với những người dưng khác họ, mà thôi.

 

Ai tìm sự bình an hài hoà nơi thái độ quan tâm chăm sóc những người ngoài luồng, ngoài Đạo, thì người ấy sẽ cảm nghiệm được điều mà thánh Phao-lô khẳng định trong thư gửi cộng đoàn tín hữu Do thái: “Nơi mà anh chị em phải đến, đó chính là núi Sion. Là chốn thành đô của Thiên Chúa cùng với toàn thể Hội thánh ở nơi đó mỗi người là “trưởng tử” và là công dân của Nước Trời.”

 

Trình thuật hôm nay cũng nhấn mạnh thêm điều này: chúng ta đương nhiên là đã yêu thương người thân thuộc cùng giòng họ. Không cần nói cũng biết. Nhưng, điều hệ trọng Chúa ân cần dặn dò, là: nếu ta chỉ yêu thương đùm bọc người thân yêu ruột thịt mà thôi, như thế hoàn toàn không trọn nghĩa, vẫn chưa đủ.

 

Giả như, ta chỉ thỏa mãn ước nguyện của người thân yêu/ruột thịt mà thôi, chẳng đoái hoài đến nhu cầu và thân phận của người dưng khác họ nào khác, tức là ta đã bất công với gia đình rộng lớn gồm những người con cùng Cha trên trời. Nếu không nhận ra người anh người chị trong gia đình lớn như người thân thuộc, ta không thể nào trở thành đồ đệ của Thầy Chí Thánh. Bởi, như thánh sử Luca ghi rõ:“Mỗi lần các ông từ chối không chăm sóc những người anh chị em của Ta, tức là các ông từ chối chính Ta.

 

Nếu chỉ yêu thương đùm bọc mỗi giòng họ người thân của mình, thôi. Đó là thứ “ghét bỏ” mà Đức Giê-su không muốn con cái và đồ đệ Ngài thực hiện. Nói tóm lại, là người theo Chúa đích thật, ta phải nhận ra sao bản của Thầy Chí Thánh nơi tất cả những người anh người chị thân thương hoặc chỉ người dưng khác họ, không hơn không kém.

 

Yêu thương đùm bọc Đức Giê-su nói đến, còn được thánh Phao-lô bổ túc bằng thư tâm tình xin anh Phi-lê-môn nhận người dưng khác họ là nô lệ Ônêximô làm người anh em thân thuộc: “Tôi xin anh cho đứa con sinh ra trong cảnh xiềng xích, xin gửi về anh để xin anh đón nhận như người ruột thịt.” (Plm 1: 10-14).

 

Tình yêu thương mà thánh nhân đề cập là tha thứ cho những gì nô lệ Ô-nê-xi-mô đã làm. Nay người nô lệ ấy đã trở thành anh em cùng nhà. Nhà của tín hữu Đức Kitô Nhân Hiền. Ở nơi đó, mọi người coi nhau như anh em ruột thịt.

 

Cuối cùng, cởi bỏ mọi hình thức thân cận, ruột thịt là để ta có được tự do mà theo đuổi sự thật. Sự thật về lòng yêu thương đùm bọc luôn thăng hóa. Và, khi đã thăng hóa trong yêu thương như thế, mọi người theo chân Chúa sẽ tự tạo cho mình niềm phấn khởi sẵn sàng lập một hành trình. Hành trình luôn “có lòng cao thương; không tỵ hiềm, không giận dữ ghen tuông”. Nhưng, xóa bỏ hận thù bằng mọi dấu yêu thương.

 

Lm Richard Leonard sj biên-soạn  –

Mai Tá lược dịch.

 

Lìa nhau cho tim bốc cháy,

 Lìa Nhau –   Nguyễn Đức Quang

      httpv://www.youtube.com/watch?v=V6d3E1tdlzs

Chuyện phiếm đọc trong tuần thứ 23 mùa thường niên năm C 04/9/2016

“Lìa nhau cho tim bốc cháy,”

Thù sâu lan khắp ư lan khắp địa cầu.
Lìa nhau cho nhau giá buốt,

Tình thương chôn dưới chôn dưới hận sầu
Lìa nhau đem theo đói khát nhục nhằn,
Lìa nhau cho giấc dài trở trăn.”

(Nguyễn Đức Quang – Lìa Nhau)

(Lc 12: 32/ 12: 50)

 Trần Ngọc Mười Hai

Còn nhớ, có lần bầu bạn trong nhóm sinh-hoạt văn-học/nghệ-thuật thuộc loại “bỏ túi” ở Sydney, Úc Châu có nói với bần-đạo bầy tôi đây, rằng: “Chừng như nhạc Việt mình ít có giai-điệu ồn-ào, vui-tươi/nhộn-nhịp như nhạc của người nước ngoài, đấy chứ?” Có lẽ vì nơi quê-hương ta xảy ra quá nhiều chiến-tranh và chia-cắt khiến người mình mới “lìa nhau” ra như thế!

Nghe hỏi, bỉ-nhân đây bèn lục-lạo các bài mình từng trích-dẫn khi viết “phiếm” mới thấy rằng: nhận-định trên đây rất ư là thực-tế. Nó đúng thực và tinh-tế như nhận-xét của người xưa thời thực-dân từng minh-chứng bằng những ca-từ lặp đi lặp lại đến buồn đau với những cụm-từ “lìa nhau” và “lìa nhau” như câu hát tiếp:

“Lìa nhau cho gian nan.

Lìa nhau cho bẽ bàng.

Lìa nhau cho gian dối lan tràn.

Lìa nhau cho non nước bước phiêu lưu.


Lìa nhau cho nhau luống đất,

ngày nay không lúa,

không lúa không mầu.
Triều sông dâng theo uất ức,

tràn lan trôi khắp, trôi khắp quê sầu.

Lìa nhau đem theo tiếng nói ngọt ngào.
Lìa nhau cho chút lòng làm cao.
Đàn trâu đi bơ vơ, bên nhà xiêu nước mắt mờ.
Lìa nhau cho kiếp sống xác xơ.
(Nguyễn Đức Quang – bđd)

Áp-dụng vào sinh-hoạt phụng-vụ nhà Đạo, nhiều lúc và lắm khi câu nhận-định trên xem ra cũng tương-tự.

Chẳng nói giấu gì bạn đọc hoặc các bạn không thích đọc mà chỉ thích hát hoặc nghe câu ca/tiếng hát xưa/cũ thời ông bành-tổ của bần-đạo vẫn được nghe hoài và hát mãi những lời cầu sau thánh-lễ rất Misa mừng kính Đức Maria, như:

Lạy Mẹ xin yên ủi chúng con luôn luôn.
Mẹ từ bi xin phá những nỗi u buồn.
Vì đời con gieo rắc biết bao đau thương.
Và tràn lan gai góc vướng trên con đường.

Ơ, Mẹ rất nhân từ,

Mẹ quên sao được hôm xưa.
Lời Mẹ hứa khi ở trên núi kia.
Lúc mà Chúa sinh thì,

Mẹ đứng âu sầu lặng yên.
Là Mẹ chúng con,

Mẹ xin lĩnh quyền.”

(Nguyễn Khắc Xuyên – Lạy Mẹ Xin Yên Ủi)

Câu hát trên đây, lại đã đưa dẫn bần-đạo đi vào một rừng sách gồm các cuốn có những giòng tư-tưởng/nhận-định khá “lìa nhau” như sau:

“Thật cũng lạ, là: có những tuyên-ngôn cho rằng bất cứ văn-bản viết bằng chữ nào trong lịch-sử gồm lập-trường hoặc từ-vựng đều chứa đựng “Lời của Chúa” hết. Khẳng-định như thế, tức bảo rằng Thiên-Chúa cũng rất giống con người là ở chỗ: Ngài cũng có khả-năng nói bằng lời cho một dân-tộc nào đó rất cá-biệt bằng thứ ngôn-ngữ mà dân-tộc ấy hiểu được và từ đó hiểu rằng Thiên-Chúa cũng đầu-tư vào các chi-tiết vụn-vặt của đời sống phàm-trần một cách thân-thương, mật-thiết rất đặc-biệt.

 Quả thật rất rõ là: tuyên-ngôn ấy lâu nay vẫn được thế-giới Tây-Phương luôn coi đó là Thánh Kinh của Đạo Chúa. Trong khi đó, các đạo-giáo khác cũng làm như thế, thì Đạo Chúa lại chẳng bao giờ coi các “tuyên-ngôn” của bạn đạo mình một cách nghiêm chỉnh hết. Nói khác đi, thì bất cứ tuyên-ngôn tương-tự xuất từ cội-nguồn ngoài Kitô-giáo rõ-ràng đều bị coi là phi-lý. Không cần phải đi đâu xa mới nhận ra được điều này mỗi lần tín-hữu Đạo Chúa tụ-tập nhau ở nhà thờ để cử-hành Tiệc lễ người nghe đều thấy câu “Đó là Lời Chúa” trước khi người đọc sách kết-thúc một đoạn trích ở Kinh Sách.

 Quả thật, khi tuyên-xưng lời kết một bài đọc trong Tiệc Thánh-thể bằng các cụm-từ như thế, người nghe đọc lại sẽ hoan-hỉ thưa: “Tạ ơn Chúa”, rất rõ rệt.

 Ở một số Giáo-hội có cơ-cấu ít kiên-cố hoặc tập-trung nhấn mạnh về Phúc Âm hơn, thì người đọc Tin Mừng Tân-Ước lại sẽ kết-thúc bằng một tuyên-ngôn khác, như vẫn bảo: “Xin Đức-Chúa Trời ban thêm ơn lành cho việc đọc Lời của Ngài ở nơi đây.”

Khi người đọc câu tuyên-ngôn này bằng tiếng Anh, người đọc bao giờ cũng dùng đại-từ giống “đực” để chỉ Đức Chúa Trời. Như thế có nghĩa: Thiên-Chúa là nam-nhân. Điều này không gây cho các Hội-thánh bất cứ một quan-ngại chút nào hết. Nhưng, riêng bản thân tôi, lại thấy đó là chuyện dị kỳ, khó chấp-nhận…” (X. Tgm John Shelby Spong, A claim that cannot endure, Exposing the Bible’s Texts of Hate to Reveal the God of Love, Harper Collins Publishers 2005 tr. 15-16)

Nhận-định của Tổng-giám-mục Anh-giáo John Shelby Spong trích-dẫn ở trên, có lẽ đối với một số tín-hữu khác đạo hoặc khác giáo-phái thấy đó là lý-do gây nên sự “chia lìa” giữa những người cùng thờ GiaVê Thiên-Chúa.

Bần-đạo bầy tôi đây thật sự không lấy đó làm điều, bèn tự-nhủ: hay ta thử nghe thêm ít câu hát hoặc đọc lại vài truyện kể nào đó may ra cũng thấy được lằn sáng cuối đường hầm thay cho việc ngồi đó cứ nghĩ đến chia rẽ với “Lìa nhau” cũng được đấy. Nghĩ vậy, nên bần-đạo lại mời bạn và mời tôi, ta nghe thêm đôi câu khác trong nhạc bản “Lìa nhau” ở trên, như bên dưới rồi hãy xem:

“Lìa nhau mây đen lớp lớp,

về đây che khuất, che khuất mẹ hiền
Mẹ buồn nhìn đời khốn khó,

đàn con gieo thêm lắm, thêm lắm ưu phiền.


Mẹ khuyên khuyên con tiếng nấc nghẹn ngào:
à ơi con hỡi đừng lìa nhau.
Đạn bay trên non cao,

hay đạn tuôn về xóm nghèo
Lìa nhau cho non nước tiêu điều.”

(Nguyễn Đức Quang – bđd)

Đã “lìa nhau mây đen lớp lớp” thế rồi, thì còn gì nữa mà khuyên với nhủ mấy đứa con “tiếng nấc nghẹn ngào”? “Lìa nhau cho non nước tiêu-điều”, rày như tác-giả là Tổng Giám Mục John S. Spong  lại nói lên đôi điều khá sầu buồn nhận thấy ở Kinh Sách, như sau:

“Vốn xác-tín rằng Đạo Chúa có cơ-chế tổ-chức đã và đang đòi-hỏi sức-mạnh/quyền-uy cho Giáo-phái của mình mà phần lớn các đòi hỏi ấy lạ bén rễ sâu nơi tuyên-ngôn Kinh thánh bảo rằng tiếng/giọng và Lời của Chúa không còn được ai nghe thấy tận bên trong Sách thánh nữa.

 Chính vì thế, nay tôi mời gọi mọi người hãy cùng nhau leo lên đỉnh núi để từ đó ta có thể xem xét/ngắm nhìn cơn gió đầy uy-lực cực-kỳ, coi xem các trận động đất và lửa ngọn tàn-phá không chỉ mỗi thần-tượng tín-điều bắt buộc mọi người phải tin, nhưng cả đến Kinh thánh, Giáo-hội, nhất nhất vẫn có thói-quen che-đậy không cho ta thấy được những gì thật sự là Thực-chất của Thiên-Chúa.

 Và khi mọi sự đã bị tàn-phá đến vỡ toang rồi, thì hy-vọng của tôi sẽ là: cả chúng ta nữa lúc đó cũng sẵn sàng để vẫn còn nghe được tiếng/giọng nhỏ-nhẹ của sự lặng-thinh vốn dĩ khuyến-khích ta trở về với lời gọi mời mà theo tôi, đó là bản-chất của những gì có nghĩa trở-nên đồ-đệ của Đức Giêsu. Và rồi, ta có bổn-phận dựng-xây một thế-giới trong đó mỗi người và mọi người đều có thể sống đầy-đặn hơn, yêu-thương một cách phung-phí hơn nữa và trở thành con người mà Thiên-Chúa muốn mỗi người trở nên như thế.

 Bằng lời gọi mời này, ta sẽ phản-đối tất cả những gì làm cho cuộc sống của bất cứ ai cũng không bị suy-giảm, giản-lược dù có khác-biệt về giòng giống, sắc-tộc, bộ-lạc, giới-tính hoặc hướng-chiều về phái-tính khác hoặc ngay đến đạo-giáo nữa.”(Xem thêm Tgm John Shelby Spong, A Claim that Cannot Endure, sđd tr. 25-26)

Xét lập-trường và nguyên-nhân gây nên việc “Lìa nhau” theo ý đấng bậc ở trên xong, nay ta lại mời nhau đi vào vườn thượng-uyển có những hoa thơm/cỏ lạ đầy những Lời Vàng Ngọc của bậc thánh-hiền khi xưa từng nhất-quyết:

“Anh em tưởng rằng

Thầy đến để ban hoà bình cho trái đất sao?

Thầy bảo cho anh em biết:

không phải thế đâu,

nhưng là đem sự chia rẽ.

Vì từ nay,

năm người trong cùng một nhà sẽ chia rẽ nhau,

ba chống lại hai, hai chống lại ba.”

(Lc 12: 51-52)

Sống hài-hoà/bình-an hay đầy những cảnh “Lìa nhau” như thế, đó là tiền-đề và phản-đề của một biện-chứng bàn về cuộc sống thực ở đời của nhà Đạo. Đấng Thánh-hiền nói thế là để cảnh-giác người đọc và nghe Lời Ngài. Để rồi, tác-giả Tin Mừng lại ta dẫn về tổng-đề rất “có hậu” như sau:

“Hỡi đoàn chiên nhỏ bé,

đừng sợ!

vì Cha anh em

đã vui lòng ban Nước của Ngài

cho anh em.”

(Lc 12: 32)

Vâng. “Nước” của Ngài đã được ban cho ta như thế rồi. Còn gì đâu nữa mà âu sầu, sợ sệt! Vâng. Nghe những Lời chắc-nịch của Ngài thế rồi, nay ta cứ tiếp-tục mời nhau dấn bước vào vùng trời đầy truyện kể để tìm cho ra câu nói hoặc cốt truyện ý-nhị dù truyện kể có hơi cường-điệu hoặc nhàm-chán như một triết-thuyết, vẫn không ngại.

Vậy thì, ta cứ đi thẳng vào truyện kể nói về sự thật ở đời cũng rất “Lìa nhau”, như sau:

“Truyện kể, là về người lính nọ, cuối cùng ra cũng đã trở về với gia-đình sau nhiều trận-chiến ác-liệt ở Việt Nam , vào thời ấy, như sau:

 Từ San Francisco, anh con trai gọi điện cho cha mẹ mình, rằng:

-Ba mẹ ơi, con đã về lại quê nhà rồi, nhưng con có một chuyện muốn xin với ba mẹ. Con có người bạn đang trong cảnh ngặt-nghèo nên muốn đưa anh ấy về nhà cùng sống với con.

-Chắc chắn rồi, hỡi con trai yêu quý, cha mẹ anh vui vẻ nói: Ba mẹ rất muốn gặp bạn của con”.

-Nhưng có điều con muốn nói trước với ba mẹ là: bạn con bị thương khá nặng trong chiến tranh. Anh ta hơi đãng trí và chỉ còn mỗi cánh tay và một chân thôi. Anh không có nơi nào để về sống, và con muốn anh ấy đến sống với gia đình ta, ba mẹ nghĩ sao?

-Ấy chết! Ba mẹ xin lỗi con, con trai yêu quí của Ba mẹ… Có lẽ ta có thể giúp anh ấy tìm nơi nào khác để sinh sống cũng được vậy!…

-Không đâu, ba mẹ à, con muốn anh ấy đến ở chung với gia đình mình cơ.

-Con à! Con có biết là con đang yêu cầu ba mẹ làm một điều quá sức hay không? Đem về nhà mình người bạn tàn tật như vậy sẽ là gánh nặng khủng khiếp cho ba mẹ đấy. Ba mẹ còn có cuộc sống riêng-tư của mình nữa chứ, ba mẹ không thể để điều ấy làm ảnh hưởng tới cuộc sống riêng của gia-đình ta. Ba nghĩ: con hãy về nhà và quên anh bạn của con đi. Anh ấy rồi cũng sẽ tìm ra cách tự lo-liệu cho cuộc sống của mình đấy thôi…

 Lúc ấy, người con bèn gác điện thoại, không nói gì nữa. Cha mẹ anh không nghe thấy gì từ đầu giây bên kia nữa. Song, ít ngày sau, họ đột-nhiên nhận được cú điện-thoại từ đồn cảnh sát San Francisco gọi về bảo cho biết: Con trai ông bà đã qua đời sau khi bị ngã từ ban-công trên cao-ốc xuống đất, cảnh sát đã thông-báo cho ông bà như vậy. Cảnh sát San Francisco quyết được rằng đây chắc chắn là một vụ tự-vẫn có suy-tính.

 Cha mẹ người lính trẻ, trong cơn đau-đớn tột bực, đã vội bay tới San Francisco và ông bà được dẫn tới nhà xác thành-phố để nhận-diện thi-thể của người con trai. Họ nhận-diện đúng là anh ta, người con trai yêu quý của hai ông bà. Nhưng đột nhiên, hai ông bà kinh-hãi không thốt nên lời, khi nhận thấy điều mà trước đó họ không hề hay biết, đó là: con họ chỉ còn duy-nhất có một tay và một chân thôi.”

 Thế rồi, những giọt nước mắt đau thương/ân-hận đã bắt đầu tuôn, nhưng tất cả đều đã quá muộn. Cha con gia-đình này, nay đã “lìa nhau” không được sống chung với nhau nữa, dù có muốn.” (Truyện kể lan nhanh qua điện-thư vi-tính rất thường ở thời này)    

 Truyện kể chỉ có thế. Không nhàm và cũng chẳng chán, vẫn như chuyện thường ngày ở huyện, mà lại là huyện Tây Phương rất cực-lạc. Nhưng người kể hôm nay lại đã gửi đến người nghe, một cảm-nhận như sau:

Bạn đừng bao giờ đối xử phân-biệt/kỳ-thị với người khác. Bởi, bạn sẽ không biết được người thực sự bị tổn-thương đây là ai hết. Hãy cứ bao-dung/độ-lượng với mọi người và nghiêm-khắc với chính mình! Nếu mọi người trong ta đều có thể để lòng bao-dung/nhân-ái với người lạ giống như người thân của mình, thì thế giới này rồi đây sẽ tốt đẹp dường bao.”

 Bởi, với lòng từ-bi/bao-dung, ta có đủ sức để mài/dũa bất cứ hòn đá vô-tri vô-giác nào đi nữa thành viên ngọc quí lung-linh chiếu sáng. Ta cũng sẽ đủ sức biến những việc khó-khăn thành dễ-dàng; đủ sức biến người tầm-thường hay khuyết-tật thành vĩ-nhân, cũng không khó.” (Bạch Mỹ sưu-tầm)

 Truyện kể gọn nhẹ là như thế. Thi-ca âm-nhạc ở đâu cũng như vậy. Cũng có câu ca hoặc điệu hát thoạt nghe có vẻ âu-sầu/buồn-bã, nhưng hễ nghe hoài, nghe kỹ sẽ không còn thấy nhàm thấy chán như ai đó đã cất lên giai-điệu đầy hưng-phấn, quyết-tâm như sau:

“Đừng sợ bạn ơi hãy đứng thẳng lên.
ca ngợi quê hương của chúng ta.
bằng niềm tin chứa chan trong tim,

người thanh niên.

Đừng sợ bạn ơi hãy đứng thẳng lên.
Cuộc đời đang dang tay đón ta.
Bằng yêu thương ta đi xóa tan,  

mọi căm hờn.

Đừng ngồi yên, nghe tiếng khóc quanh mình
đừng ngồi yên, trên nhung gấm vô-tình hỡi bạn thân!
đừng vùi lương tri dưới gót chân.
đừng nhìn tha-nhân

đang kêu gào chống ngục tù xin công bằng, đòi cơm áo.

Đừng đùa vui khi đói khát vẫn còn.
đừng đùa vui khi áp-bức vẫn còn, nhân-loại ơi!
Đừng làm quê hương thêm tả tơi.
Đừng khoe-khoang trên những xác người
đã ngã gục chết cho đời được thêm vui.

 “Đừng sợ bạn ơi hãy đứng thẳng lên!
Ngợi ca quê hương của chúng ta.
Bằng niềm tin chứa chan trong tim,  

người thanh niên.

Đừng sợ bạn ơi hãy đứng thẳng lên.
Cuộc đời đang giang tay đón ta.
Bằng yêu thương ta đi xóa tan mọi căm hờn.

(Lê Hựu Hà – Bài Ca Tuổi Trẻ)

Đúng thế. Dẫu có ra sao, cũng đừng sợ! Sợ gì mà không hát lại những câu ca buồn-bã rất “lìa nhau” hoặc chia-lìa như sau:

“Lìa nhau cho nhau luống đất,

ngày nay không lúa,

không lúa không mầu.
Triều sông dâng theo uất ức,

tràn lan trôi khắp, trôi khắp quê sầu.

Lìa nhau đem theo tiếng nói ngọt ngào.
Lìa nhau cho chút lòng làm cao.
Đàn trâu đi bơ vơ, bên nhà xiêu nước mắt mờ.
Lìa nhau cho kiếp sống xác xơ.
(Nguyễn Đức Quang – bđd)

Vâng. Thế đó là niềm vui có gọi mời “Đừng sợ bạn ơi!” gặp thấy trong mọi nỗi buồn cuộc đời, dù rất chán. Và, dù có “Lìa nhau cho tim bốc cháy những ‘thù sâu lan khắp địa cầu”. Cả vào khi ta hát những câu “Lìa nhau đem theo tiếng nói ngọt-ngào”, “chút lòng làm cao”, “nước mắt mờ”, “xác xơ”, một kiếp sống rất ơ-hờ, thờ-ơ, rất đáng chán!

Trần Ngọc Mười Hai

Nhiều lúc thấy đời mình

Cũng khá nhàm và hơi chán

nhưng không sợ.

Vẫn đầu cao mắt sáng

Nhìn về phía trước có tương-lai mầu hồng

đầy sức sống,

Rất miên-trường. 

LÀM MÔN ĐỆ CỦA CHÚA

LÀM MÔN ĐỆ CỦA CHÚA

ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt

MON DE CUA CHUA

 

 

 

 

 

 

 

 

Ai trong chúng ta cũng mong ước được làm môn đệ của Chúa.  Ai cũng muốn theo chân Chúa.  Nhưng ta có thực sự hiểu làm môn đệ Chúa là như thế nào không?  Hôm nay Chúa chỉ cho ta thấy rõ điều đó.

Làm môn đệ là một việc làm nghiêm túc.  Đây không phải là một cảm tính bồng bột nhất thời.  Nhưng là một việc lâu dài.  Chúa Giêsu ví việc làm môn đệ theo Chúa với việc “xây dựng một cây tháp” và việc “chiến đấu với kẻ thù.”  Xây dựng cây tháp là một việc làm lớn lao.  Chiến đấu với kẻ thù là việc làm nghiêm trọng.  Vì thế cần phải ngồi xuống suy tính cho cẩn trọng, chi li.  Cũng thế việc làm môn đệ của Chúa là một việc làm nghiêm túc, vừa lớn lao như sự nghiệp cả đời, vừa nghiêm trọng vì ảnh hưởng tới cả định mệnh.  Vì thế phải ngồi xuống suy tính cho kỹ lưỡng để có thể theo Chúa đến cùng.  Phải suy tính kỹ lưỡng vì làm môn đệ là từ bỏ đến tận cùng.

Làm môn đệ là từ bỏ đến tận cùng.  Môn đệ không phải là kẻ hiếu kỳ cưỡi ngựa xem hoa.  Môn đệ không phải là kẻ tài tử nay làm mai không.  Môn đệ là người đi theo thày suốt đời, sống như thày trong mọi sự.  Chính vì thế mà phải coi thày là thần tượng duy nhất.  Chính vì thế mà phải từ bỏ tất cả, không chỉ người thân mà từ bỏ cả chính bản thân với những ý nghĩ riêng tư.  Để không những đi theo thày, sống như thày mà con ăn nói như thày, suy nghĩ như thày nữa.  Kitô hữu là người mang Chúa Kitô trong mình.  Muốn có Chúa Kitô trong mình, ta phải loại bỏ tất cả những gì không phải Chúa ra khỏi mình.  Điều này chắc chắn không dễ dàng.  Nhưng ta an tâm, vì Chúa Giêsu không chỉ đòi hỏi ta.  Người đã đòi hỏi chính mình trước.  Chúa Giêsu không chỉ đòi ta vác thánh giá. Chính Người đã vác thánh giá trước.  Ta sẻ cảm thấy dễ dàng vì chỉ việc làm như Chúa Giêsu.

Làm môn đệ là làm như Chúa Giêsu.  Nếu Chúa Giêsu đòi hỏi ta từ bỏ, chính Người đã từ bỏ trước.  Người đã từ bỏ trời cao để xuống đất thấp.  Người đã từ bỏ địa vị làm Thiên Chúa để xuống thế làm người.  Sự từ bỏ được thấy rõ qua việc Chúa tự nguyện sống nghèo khổ, tự nguyện nhận lấy tội lỗi của loài người và tự nguyện chết thay loài người.  Khốc liệt nhất là Người đã từ bỏ ý riêng để hoàn toàn vâng theo ý Chúa Cha.  Cuộc chiến đấu khốc liệt đã thấy trong vườn Giêtsimani, khi nhìn thấy trước cái chết đau đớn tủi nhục sắp tới, Người run sợ muốn lẩn tránh bỏ cuộc, nên đã tha thiết cầu xin Chúa Cha:“Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi uống chén đắng này.”  Nhưng cuối cùng, Chúa đã từ bỏ ý riêng, vâng theo ý Cha, sẵn sàng ra đi chịu chết: “Nhưng đừng theo ý con, xin vâng ý Cha mà thôi.”

Nhờ hoàn toàn từ bỏ ý riêng, vác thánh giá đi đến cùng, Chúa Giêsu đã hoàn thành công việc của Chúa Cha trao phó, đem ơn cứu độ đến cho mọi người.  Người môn đệ, khi hoàn toàn từ bỏ chính mình, sẽ nên một với Chúa Kitô, cộng tác vào công cuộc cứu độ của Chúa.

ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt

From : langthangchieutim

DANH NGÔN của MẸ TERESA CALCUTTA (1910-1997)

  DANH NGÔN của MẸ TERESA CALCUTTA (1910-1997)

  1. Bạn có thể làm gì để xây dựng hòa bình thế giới? Hãy về nhà và yêu thương gia đình của mình.
  2. Tình yêu bắt đầu ở nhà; tình yêu sống trong nhà, và đó là vì sao thế giới hôm nay lại nhiều khổ đau và bất hạnh đến như thế… Con người ngày nay dường như ai cũng quá vội vã, lo lắng muốn đạt được những bước tiến xa hơn và của cải nhiều hơn, và đại loại như thế, đến nỗi con cái có quá ít thời gian với cha mẹ mình. Cha mẹ chúng có quá ít thời gian dành cho nhau, và hòa bình thế giới bị chia cắt bắt đầu từ mái ấm.
  3. Nếu bạn phán xét người khác, bạn chẳng còn thời gian để yêu thương họ nữa.

 St Teresa Calcutta

  1. Chúng ta hãy luôn gặp nhau với nụ cười, bởi nụ cười là điểm bắt đầu của yêu thương.
  2. Quan trọng không phải chúng ta cho đi bao nhiêu, mà là chúng ta dành bao nhiêu sự yêu thương để cho đi.
  3. Không phải tất cả chúng ta đều làm được những điều vĩ đại. Nhưng chúng ta có thể làm những điều nhỏ nhặt với tình yêu vĩ đại.
  4. Tình yêu là loại quả của cả bốn mùa, và nằm trong tầm với của mọi bàn tay.
  5. Đừng nghĩ rằng để chân thật, tình yêu phải phi thường. Điều chúng ta cần là yêu mà không mệt mỏi.
  6. Việc tốt là những mắt xích tạo nên sợi xích tình yêu.
  7. Tôi tìm ra một nghịch lý, rằng nếu bạn yêu sâu sắc tới mức đau đớn, sẽ chẳng thể có thêm đau đớn nữa, chỉ có thêm tình yêu.
  8. Những lời tử tế có thể ngắn và dễ nói, nhưng tiếng vọng của chúng thực sự vĩnh cửu.
  9. Chúng ta cảm thấy điều chúng ta đang làm chỉ là một giọt nước trong đại dương. Nhưng đại dương sẽ ít hơn chỉ bởi thiếu đi giọt nước ấy.
  10. Nếu bạn không thể làm trăm người đỡ đói, chỉ cần một mà thôi.
  11. Một mình tôi không thể thay đổi thế giới, nhưng tôi có thể ném hòn đá lên mặt nước để tạo nhiều con sóng.
  12. Đời là cơ hội, hãy nắm bắt. Đời là cái đẹp, hãy mê say. Đời là giấc mơ, hãy hiểu rõ. Đời là thách thức, hãy đương đầu. Đời là nghĩa vụ, hãy hoàn thành.  Đời là trò chơi, hãy nhập cuộc. Đời là lời hứa, hãy giữ gìn.  Đời là khổ đau, hãy vượt qua.  Đời là bài hát, hãy hát ca. Đời là tranh đấu, hãy chấp nhận. Đời là bi kịch, hãy đối diện.  Đời là phiêu lưu, hãy mạo hiểm. Đời là may mắn, hãy đón lấy.  Đời quá quý giá, đừng phá hủy nó. Đời là đời, hãy đấu tranh vì nó.

—————–
Chúa Nhật 4-9-2016, trực tiếp Lễ Tuyên Thánh Mẹ Teresa Calcutta:

http://saltandlighttv.org/specialcoverage/mother-teresa.

Xem thêm:
http://www.simonhoadalat.com/suyniem/suyniem/CacThanh/MeTeresaCalcutta.htm

BỎ và NHẬN

BỎ và NHẬN

(Chúa Nhật XXIII TN, năm C)

Hạnh phúc không có nghĩa là sở hữu mọi thứ hoàn hảo, mà là biết can đảm nhìn xa hơn các khuyết điểm của mình và của người khác. Thật là không dễ, thế nên mới phải cố gắng không ngừng, từng giây, từng phút… Hãy cố gắng nhận thức về quá khứ của mình – dù xấu xa và hèn hạ, cứ hy vọng và vững tin vào tương lai, rồi chấp nhận mình là chính mình. Đó là một cách từ bỏ và chấp nhận.

Tác giả Brian Tracy (sinh ngày 5-1-1944 tại Vancouver, Canada), một người viết về chủ đề tự-giúp-bản-thân, nhận định: “Món quà lớn nhất mà bạn có thể trao cho người khác là tặng phẩm của tình yêu vô điều kiện và sự chấp nhận – The greatest gift that you can give to others is the gift of unconditional love and acceptance”. Sự chấp nhận ở đây là cách chấp nhận vui vẻ chứ không miễn cưỡng.

Có nhiều động từ cần thiết, nhưng có lẽ BỎ và NHẬN là hai động từ quan trọng: Bỏ những cái xấu xa để nhận những điều tốt lành. Cần phải khôn ngoan kẻo hóa thành “thả mồi, bắt bóng”. Với các Kitô hữu có dạng “cao cấp” hơn: từ bỏ chính mình và đón nhận thập giá của cuộc đời (của mình và của người). Quả là “căng” thật đấy!

Thánh tiến sĩ Teresa Avila nói: “Cái gọi là đầy tớ trung thành của Thiên Chúa chính là ở trong việc yêu người như yêu chính mình, có một ý chí cương quyết không lay động, liên tục sống theo Thánh Ý của Thiên Chúa, giữ cho tâm hồn khiêm tốn, mộc mạc và trông cậy vào Thiên Chúa”. Thánh nhân không trực tiếp dùng chữ “bỏ” và “nhận”, nhưng chúng ta vẫn khả dĩ nhận thấy bóng dáng của hai động thái đó.

Tác giả sách Khôn Ngoan thân thưa cầu nguyện: “Lạy Chúa, nào có ai biết được ý định của Thiên Chúa? Nào có ai hiểu được Đức Chúa muốn điều chi? Chúng con vốn là loài phải chết, tư tưởng không sâu, lý luận không vững. Quả vậy, thân xác dễ hư nát này khiến linh hồn ra nặng, cái vỏ bằng đất này làm tinh thần trĩu xuống vì lo nghĩ trăm bề” (Kn 9:13-15).

Phàm nhân là vậy, như Chúa Giêsu đã nói: “Tinh thần thì hăng say, nhưng thể xác lại yếu hèn” (Mt 26:41). Chỉ là bụi cát nhỏ nhoi, nay còn, mai mất, thế mà lúc nào cũng chỉ muốn nổi loạn, bởi vì “cái tôi” luôn to lớn nên lúc nào cũng phải hơn người khác, kém thua một chút là khó chịu, thậm chí còn dám “coi trời bằng vung” nữa. To gan, lớn mật thật!

Từ bỏ “cái tôi” là từ bỏ chính mình. Thật là khó. Khó lắm! Nhưng không bỏ không được, vì nó xấu, là cái đáng ghét (Pascal). Vả lại, không bỏ nó thì không thể nên người mới, không biến đổi thành con người mới thì không thể hoàn thiện, không hoàn thiện thì không thể lên trời và không thể nên thánh.

Tác giả sách Khôn Ngoan so sánh: “Những gì thuộc hạ giới, con đã khó mà hình dung nổi, những điều vừa tầm tay, đã phải nhọc công mới khám phá được thì những gì thuộc thượng giới, có ai dò thấu nổi hay chăng? Ý định của Chúa, nào ai biết được, nếu tự chốn cao vời, chính Ngài chẳng ban Đức Khôn Ngoan, chẳng gửi thần khí thánh? Chính vì thế mà đường lối người phàm được sửa lại cho thẳng, cũng vì thế mà con người được dạy cho biết những điều đẹp lòng Ngài, và nhờ Đức Khôn Ngoan mà được cứu độ” (Kn 9:16-18).

Những thứ phàm tục chẳng là gì, thế mà vẫn nhiêu khê và bí ẩn, huống chi những điều trên trời, chúng ta chẳng thể nào hiểu được khi còn đang “tạm trú” nơi thân xác này. Không ai trường sinh, bất tử. Đó là điều chắc chắn, là quy luật muôn thuở. Thế mà người ta có ngán gì đâu. Máu sôi và bốc lên tới chỏm rồi, nếu có “xả láng, sáng về sớm” cũng chỉ là chuyện nhỏ. Và như đã nói trên đây, trời cũng chỉ như “cái vung” mà thôi!

Thánh Vịnh dẫn chứng rạch ròi: “Chúa bắt phàm nhân trở về cát bụi, Ngài phán bảo: ‘Hỡi người trần thế, trở về cát bụi đi!’. Ngàn năm Chúa kể là gì, tựa hôm qua đã qua đi mất rồi, khác nào một trống canh thôi! Ngài cuốn đi, chúng chỉ là giấc mộng, như cỏ đồng trổi mọc ban mai, nở hoa vươn mạnh sớm ngày, chiều về ủ rũ tàn phai chẳng còn” (Tv 90:3-6). Đó là sự thật. Đời người tưởng dài mà ngắn, chẳng khác chi đóa phù dung, sớm nở và tối tàn, thế mà đổi màu sắc liên tục – tượng trưng thất tình và lục dục của con người. (*)

Khôn cũng chết, dại cũng chết, biết mới sống. Người biết là người khôn ngoan, biết biến đổi cái bình thường và tầm thường trở nên siêu phàm. Tác giả Thánh Vịnh là người khôn ngoan nên đã biết cầu nguyện chí lý: “Xin dạy chúng con đếm tháng ngày mình sống, ngõ hầu tâm trí được khôn ngoan. Lạy Chúa, xin trở lại! Ngài đợi đến bao giờ? Xin chạnh lòng thương xót những tôi tớ Ngài đây. Từ buổi mai, xin cho đoàn con được no say tình Chúa, để ngày ngày được hớn hở vui ca” (Tv 90:12-14). Cầu nguyện chân thành như thế thì làm sao Thiên Chúa chối từ cho đành! Cầu nguyện như vậy là khôn ngoan, còn “người thiếu khôn ngoan là kẻ ngu đần” (Hc 19:23). Sách Huấn Ca cho biết thêm: “Bước đầu của khôn ngoan là kính sợ Đức Chúa. Lòng kính sợ Đức Chúa là tuyệt đỉnh của khôn ngoan” (Hc 1:14 & 18). Đức khôn ngoan vô cùng quan trọng trong cuộc sống!

Phàm nhân có khôn ngoan tới mức nào cũng chẳng là gì, có làm được công to việc lớn cũng chẳng đáng chi. Tại sao? Bỏi vì ai cũng chỉ là tội nhân, là những kẻ xấu xa, không đáng gì trước mặt Thiên Chúa chí thánh. Do đó, ai cũng cần cậy nhờ Lòng Thương Xót của Thiên Chúa, nghĩa là phải khiêm nhường cầu nguyện: “Xin cho chúng con được vui hưởng lòng nhân hậu của Chúa là Thiên Chúa chúng con. Việc tay chúng con làm, xin Ngài củng cố, xin củng cố việc tay chúng con làm” (Tv 90:17).

Khiêm nhường bao nhiêu cũng không đủ, kiêu ngạo một chút là quá thừa. Công sức nỗ lực hoàn thiện bao ngày mà lên mặt khoe khoang một chút là tiêu tan hết. Kiêu ngạo như que diêm nhỏ bé, nhưng nó vẫn có thể thiêu rụi cả một tòa nhà nguy nga tráng lệ.

Tương tự, đốm-lửa-kiêu-ngạo cũng có thể thiêu rụi cả lâu-đài-khiêm-nhường mà chúng ta đã dày công xây dựng – nếu bất cẩn. Thật chí lý với lời nhắc nhở của tiền nhân: “Cẩn tắc vô ưu”.

Trong thư gởi cho ông Philêmôn, Tông đồ Phaolô tha thiết yêu cầu: “Tôi là Phaolô, một người đã già và hơn nữa, một người đang bị tù vì Đức Kitô Giêsu, tôi van xin anh cho đứa con của tôi, đứa con tôi đã sinh ra trong cảnh xiềng xích, đó là Ônêximô” (Plm 9b-10).

Thánh Phaolô có quyền nhưng không muốn dùng quyền để hành người khác, đó là thể hiện đức khiêm nhường. Thánh nhân nói rõ ràng với ông Philêmôn: “Tôi xin gửi nó về cho anh; xin anh hãy đón nhận nó như người ruột thịt của tôi. Phần tôi, tôi cũng muốn giữ nó ở lại với tôi, để nó thay anh mà phục vụ tôi trong khi tôi bị xiềng xích vì Tin Mừng. Nhưng tôi chẳng muốn làm gì mà không có sự chấp thuận của anh, kẻo việc nghĩa anh làm có vẻ miễn cưỡng, chứ không phải tự nguyện” (Plm 12-14). Đó là tôn trọng người khác. Có khiêm nhường mời khả dĩ tôn trọng người khác, biết tôn trọng người khác là dám từ bỏ mình, từ bỏ mình là yêu thương người khác.

Vì yêu thương tha nhân, vì xót thương “đứa con tình thần”, Thánh Phaolô sẵn sàng hạ mình mà cầu xin người khác: “Nó đã xa anh một thời gian, có lẽ chính là để anh được lại nó vĩnh viễn, không phải được lại một người nô lệ, nhưng thay vì một người nô lệ thì được một người anh em rất thân mến; đối với tôi đã vậy, phương chi đối với anh lại càng thân mến hơn biết mấy, cả về tình người cũng như về tình anh em trong Chúa. Vậy, nếu anh coi tôi là bạn đồng đạo, xin anh hãy đón nhận nó như đón nhận chính tôi” (Plm 15-17). Động thái thật tốt đẹp!

Trình thuật Lc 14:25-33 cho viết hai động thái – NHẬN và BỎ: “vác thập giá mình mà đi theo Đức Giêsu” và “từ bỏ hết những gì mình có”.

Thánh sử Luca cho biết rằng hôm đó có rất đông người cùng đi đường với Đức Giêsu. Ngài quay lại bảo họ: “Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa thì không thể làm môn đệ tôi được. Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi thì KHÔNG THỂ làm môn đệ tôi được”. Chắc chắn Ngài không “xúi dại” chúng ta, không bắt chúng ta bất nhân mà bất hiếu với cha mẹ hoặc coi thường các thân nhân, vì Ngài rất nhân hậu, và Ngài cũng không hề bắt chúng ta không chăm lo cho sự sống của mình.

Người Việt có câu: “BÁN anh em xa, MUA láng giềng gần”. Có người sửa là “vắng anh em xa…”, vì cho rằng chữ “bán” nặng nề quá. Thật ra không phải vậy, tiền nhân muốn đặt hai vế với hai động từ đối lập: Bán và Mua. Còn chữ “xa” ở đây là xa cách về địa lý, chứ không là “xa” theo nghĩa bóng – chẳng hạn, bà con xa, họ hàng xa. Còn láng giềng thì phải gần, không có láng giềng xa.

Chúa Giêsu không hề tính toán với chúng ta về lòng yêu thương, về lòng thương xót, nhưng Ngài dạy chúng ta phải biết tính toán tỉ mỉ, rạch ròi. Ngài phân tích với hai ví dụ cụ thể:

“Ai trong anh em muốn xây một cây tháp, mà trước tiên lại không ngồi xuống tính toán phí tổn, xem mình có đủ để hoàn thành không? Kẻo lỡ ra, đặt móng rồi mà không có khả năng làm xong thì mọi người thấy vậy sẽ lên tiếng chê cười mà bảo: ‘Anh ta đã khởi công xây, mà chẳng có sức làm cho xong việc’. Hoặc có vua nào đi giao chiến với một vua khác, mà trước tiên lại không ngồi xuống bàn tính xem mình có thể đem một vạn quân ra, đương đầu với đối phương dẫn hai vạn quân tiến đánh mình chăng? Nếu không đủ sức, thì khi đối phương còn ở xa, ắt nhà vua đã phải sai sứ đi cầu hoà”.

Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng. Tiền nhân dạy như vậy. Đó là người khôn ngoan. Chúa Giêsu cũng muốn chúng ta phải cố gắng sống khôn ngoan để đối đầu với ba thù (xác thịt, thế gian, ma quỷ). Tuy nhiên, “thằng quỷ” ranh ma nhất chính là “thằng” ở gần chúng ta nhất: xác thịt – tức là chính chúng ta, chứ “chẳng ai trồng khoai đất này”. Thảo nào Chúa Giêsu luôn muốn chúng ta phải cố gắng từ bỏ nó, bằng mọi giá. Cuối cùng, Chúa Giêsu kết luận: “Cũng vậy, ai trong anh em KHÔNG TỪ BỎ hết những gì mình có thì KHÔNG THỂ làm môn đệ tôi được”.

Ai cũng có cách quan sát. Người ta quan sát Chúa Giêsu và người khác, nhưng với ác ý là xoi mói và tìm cách bắt bẻ, chúng ta cũng thường làm như vậy với nhau; còn Chúa Giêsu, Ngài quan sát để biết tình huống ra sao mà “gỡ rối” cho người khác.

Tiền nhân ví von: “Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam”. Quả thật, Việt ngữ cũng chí lý lắm: TÔI là TỒI, vì TÔI thích TỐI nên lắm TỘI. Toàn là mẫu tự T, thật là “tê” quá chừng, vừa TÊ vừa TÁI. Theo ngoại ngữ, chữ Santa (thánh nhân) nếu hoán vị các mẫu tự sẽ biến thành Satan (ma quỷ), một làn ranh mong manh. Kỳ lạ quá, và cũng đáng sợ quá!

Việt ngữ của chúng ta không thể hoán vị theo dạng này, nhưng Việt ngữ lại có dạng “độc đáo” khác, ví dụ: Tôi tưởng mình TIN YÊU nhưng tôi chỉ là YÊU TINH; tôi tưởng mình là người biết LẮNG NGHE, nhưng tôi chỉ muốn người khác phải LẮNG xuống, còn tôi không NGHE ai ráo trọi; tôi muốn người khác THẤU HIỂU hoàn cảnh của tôi, còn tôi có THẤU cũng không chịu HIỂU cho họ. Ui da, lạy Chúa tôi!

Lạy Thiên Chúa, xin giúp con biết rõ con để con can đảm từ bỏ “cái tôi” của con, và có thể đón nhận mọi thập giá của cuộc đời này, xin cũng giúp con biết rõ Ngài để con yêu mến Ngài, quyết tâm hành động để có được Ngài mãi mãi. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

TRẦM THIÊN THU

————————–

(*) THẤT TÌNH gồm: Hỉ, Nộ, Ai, Lạc, Ái, Ố, Dục; LỤC DỤC gồm: (1) Sắc Dục: ham muốn thỏa mãn đôi mắt; (2) Thính Dục: ham muốn thỏa mãn đôi tai; (3) Hương Dục: ham muốn thỏa mãn cái mũi; (4) Vị Dục: ham muốn thỏa mãn cái miệng; (5) Xúc Dục: ham muốn thỏa mãn thể lý; (6) Pháp Dục: ham muốn thỏa mãn ý nghĩ.

Chống tham nhũng ở nước tôi là thế này…

Facebook Hồ Ngọc Dũng shared Chân Trời Mới Media‘s photo.

Image may contain: 1 person , text

Chân Trời Mới Media

Chống tham nhũng ở nước tôi là thế này…
———-
Trưa nay, trong lúc trò chuyện với vị Thẩm phán Toà Thượng Thẩm số 4 ở Hoa Kỳ sang làm việc tại Việt Nam, bà hỏi tôi các vụ án chống tham nhũng ở đây được xét xử thế nào.

Tôi trả lời rằng chống tham nhũng ở nước tôi không theo cơ chế tự động của luật pháp, mà phải được các nhân vật lãnh đạo đảng cộng sản ở cấp cao bật đèn xanh trước, bởi lẽ người ta dùng cái gọi là chống tham nhũng chỉ để đấu đá nội bộ, chứ không phải để chống tham nhũng thật.

Vị thẩm phán Mỹ tỏ vẻ ngạc nhiên. Tôi phải giải thích rằng ở nước tôi hầu như quan chức nào cũng tham nhũng, kể cả nhân viên điều tra và thẩm phán xét xử án tham nhũng, vậy chống ai bây giờ?
Vị thẩm phán càng không hiểu. Tôi đành tự nhủ rằng có lẽ tại vì nước tôi là nước lạ, có nhiều đặc thù riêng, không giống ai!

Status: Lê Công Định
Hình: Internet