Formosa cần bồi thường 1.000 tỷ USD và đóng cửa Formosa Hà Tĩnh

Formosa cần bồi thường 1.000 tỷ USD và đóng cửa Formosa Hà Tĩnh

 TS Nguyễn Thị Hải Yến, CHLBĐ

Cơ sở khoa học tính toán thiệt hại thảm họa sinh thái tại vùng biển miền Trung Việt Nam từ thảm họa Formosa Vũng Áng: 1000 tỷ USD và không Formosa.

Cấu trúc bài viết này gồm 5 phần:

Phần 1: cung cấp thông tin về lượng và chất các hệ sinh thái biển Việt Nam, đặc biệt là ở dọc bờ biển 4 tỉnh miền Trung nơi bị ảnh hưởng trực tiếp từ thảm họa Formosa Vũng Áng. Mục đích cung cấp cho cơ sở tính toán thiệt hại;

Phần 2: cung cấp phương pháp tính toán các giá trị của các hệ sinh thái biển làm cơ sở chuyển đổi sang các giá trị thiệt hại;

Phần 3: cung cấp chi tiết tính toán thiệt hại về mặt sinh thái của các hệ sinh thái dọc bờ biển 4 tỉnh miền Trung làm cơ sở để Việt Nam yêu cầu Formosa bồi thường thiệt hại. Đồng thời cũng cung cấp thông tin để thấy rằng sự thiệt hại môi trường và tài nguyên khủng khiếp như thế nào, từ những chính sách đầu tư ngu xuẩn. Cũng là thông điệp để các nhà đầu tư đã, đang và muốn có đầu tư vào Việt Nam cần phải cẩn trọng cam kết bảo vệ môi trường thay vì lợi dụng chính quyền, qua mặt người dân;

Phần 4: cung cấp thông tin về việc sử dụng tiền cho việc đền bù, đặc biệt là công việc bảo đảm an sinh của ngườì dân và nghiên cứu khoa học nhằm phục hồi lại chức năng sinh thái của các hệ sinh thái biển;

Phần 5: kết luận và yêu cầu.

1. Phân bố và những giá trị của các hệ sinh thái biển (rừng ngập mặn, cỏ biển và san hô) của Việt Nam

1.1. Đa dạng sinh học biển Việt Nam

Vùng biển Đông Nam Á được đánh giá là vùng biển bậc nhất của của hệ sinh thái biển trên thế giới về mức độ đa dạng thành phần loài sình vật. Hình 1 bản đồ hệ số đa dạng sinh học dựa trên chỉ số Shannon’s Index (SI) (hệ số đo lường mức đa dạng về thành phần giống loài các sinh vật biển) được Tổ chức Môi trường Thế giới UNEP đánh giá và xếp loại năm 2014. Nằm giáp ngay với Philippines và gần với Indonesia, tuy nhiên, mức độ đa dạng sinh học của hệ sinh thái biển của Việt Nam lại kém hơn rất nhiều so với mức độ đa dạng sinh học của Philippines và Indonesia. Điều này là do yếu tố kiến tạo địa tầng tự nhiên. Vùng biển từ Quảng Ngãi ra tới Quảng Ninh và vùng biển Kiên Giang chỉ số SI được đánh giá từ 5,4 đến 6,5 với vùng mở rộng ra cả vùng bên ngoài quần đảo Hoàng Sa hoặc sang tới vùng biển của Campuchia. Tuy nhiên, vùng từ Quảng ngãi trở vào Vũng Tàu, chỉ số SI không thay đổi nhưng chỉ một dải hẹp sát bờ, còn lùi ra vài chục km mức độ đa dạng sinh học đã giảm xuống chỉ ở mức 4,3 đến 5.4. Đặc biệt vùng biển của vùng ĐBSCL (Đồng bằng sông Cửu Long), chỉ số SI chỉ còn đạt 3,2 đến 4.3 [1].

clip_image002Hình 1: Bản đồ biểu diễn chỉ số Shannon’s Index of Biodiversity năm 2014 (Nguồn UNEP)

1.2. Hệ sinh thái rừng ngập mặn

Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển kéo dài dọc đất nước lên đến 3290 km. Tuy nhiên, sự phân bố và độ phủ (diện tích) cũng như năng suất sinh học của hệ sinh thái rừng ngập mặn (RNM) của Việt Nam lại rất hẹp và thấp. Hình 2. Phân bố và năng suất sinh học (NSSH) RNM chủ yếu phân bố ở vùng ĐBSCL. NSSH của RNM ở vùng ĐBSCL và vùng miền Trung từ Nghệ An đến Đà Nẵng tuy chỉ ở mức trung bình của thế giới nhưng lại là những vùng có NSSH cao của RNM Việt Nam. Vùng RNM của các tỉnh ven biển phía bắc NSSH tương đối thấp. Ở Việt Nam đã ghi nhận 35 loài chủ yếu và 40 loài tham gia rừng ngập mặn [2]. Vùng ven biển Bắc Trung Bộ (BTB), gồm 6 tỉnh (Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế) có 30.974 ha đất ngập mặn, trong đó có 1.885 ha có RNM, 2.505 ha đất nuôi trồng thủy sản (NTTS), và 26.584 ha đất tiềm năng trồng RNM hoặc NTTS [3].

clip_image003Hình 2: Bản đồ phân bố và năng suất sinh học rừng ngập mặn Việt Nam năm 2014 (Nguồn: UNEP) [4].

1.3. Hệ sinh thái cỏ biển

Khác với các loài rong biển là thực vật bậc thấp. Cỏ biển là những thực vật bậc cao, tổ chức cơ thể phân chia thành thân rễ lá. Hệ sinh thái cỏ biển thường phân bố rất rải rác nơi nền đáy cát, hoặc cát với rất ít bùn, nhiều ánh sáng. Cỏ biển phân bố ở vùng nước sâu thường không quá 6 m. Thành phần loài cỏ biền rất ít. Hình 3 cho thấy ở vùng biển đa dạng nhất Philippines chỉ đạt 12-15 loài. Ở vùng biển Bắc Trung Bộ của Việt Nam số loài chỉ đạt ở mức 3-6, vùng từ Phú Yên đến Ninh Thuận thành phần loài có thể tăng lên đến 7-9. Trong khi đó vùng bờ biển của ĐBSCL nơi biển đục do phù xa nhiều không là môi trường thích hợp cho những loài cỏ biển sống đáy cần nhiều ánh sáng để quang hợp phát triển. Ở Việt Nam đã tìm được 16 loài cỏ biển. Diện tích cỏ biển tại 4 tỉnh miền Trung nơi bị ảnh hưởng trực tiếp từ thảm họa Formosa Vũng Áng là 2.170 ha (Bảng 1)

Bảng 1: Diện tích cỏ biển phân bố ở vùng biển 4 tỉnh miền Trung Hà Tĩnh, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế và Đà Nẵng [5].

clip_image005

clip_image007

Hình 3: phân bố (năm 2015) và mức độ đa dạng thành phần loài (năm 2003) của hệ sinh thái cỏ biển ở Việt Nam (Nguồn: UNEP) [6].

1.4. Hệ sinh thái san hô

Hệ sinh thái san hô, đó là một hệ sinh thái đặc thù, ở đó san hô là những loài động vật phát triển nên một nền đáy đá, đá vôi, là động vật nhưng các loài san hô đều phải sống cộng sinh với các loài tảo (ngoại trừ các loài san hô sừng phát triển ở các vùng biển sâu). Chính vì thế, hệ sinh thái san hô thường phân bố ở những vùng biển có độ sâu không quá 30 m, nơi cường độ ánh sáng trong nước có thể đáp ứng như cầu quang hợp của các loài tảo sống cộng sinh. Hình 4 biểu diễn sự phân bố của san hô ở biển Việt Nam và ở 4 tỉnh miền Trung từ Nghệ An đến Đà Nẵng [7].

clip_image009Hình 4: Phân bố của hệ sinh thái san hô ở vùng biển Việt Nam và 4 tỉnh miền Trung năm 2015 (Nguồn: UNEP)

Theo số liệu của UNEP thì tổng diện tích phân bố của san hô toàn cầu là 284.300 km2. Indonesia và Philippines là hai quốc gia có diện tích san hô lớn nhất khoảng hơn 20.000 km2. Trong đó Việt Nam đứng ở vị trí 35 về diện tích san hô trên thế giới, với tổng diện tích là 1270 km2 so với Indonesia và Philippines. Trung Quốc đứng thứ 31 với diện tích là 1510 km2 [8].

Vùng biển Việt Nam tập trung khoảng 340 loài san hô trong tổng số 800 loài của thế giới, phân bố rộng rãi từ Bắc tới Nam. Rạn san hô biển tập trung với mật độ cao ở vùng biển Nha Trang, Trường Sa, Hoàng Sa, biển Hòn Mun-Khánh Hòa. Sống cùng với hệ sinh thái này là trên 2000 loài sinh vật đáy và cá trong đó khoảng 400 loài cá san hô cùng nhiều hải sản có giá trị kinh tế cao như tôm hùm, bào ngư, trai ngọc, hải sâm… Ở Vịnh Hạ Long, phát hiện được 205 loài san hô cứng, 27 loài san hô mềm. Ở Côn Đảo, có 219 loài san hô, tập trung thành khu vực lớn kèm theo 160 loài cá san hô [9].

Cùng với hai hệ sinh thái RNM và cỏ biển, hệ sinh thái san hô đóng góp giá trị kinh tế cao nhất hành tinh về giá trị sinh thái. Nếu quản lý tốt 1 km2 hệ sinh thái san hô hàng năm có thể cung cấp 15 tấn cá và các loại đặc hải sản. Giá trị sinh thái và giá trị về đa dạng sinh học của hệ sinh thái san hô (TEEB = the Economisc of Ecosystems and Biodieversity) là khoảng 1.25 USD/ha/năm từ dịch vụ du lịch, bảo vệ đới bờ, bảo vệ sinh học và nguồn lợi thủy sản [10].

2. Phương pháp đánh giá các giá trị kinh tế của các hệ sinh thái biển

Một nghiên cứu tổng kết đánh giá những giá trị sinh thái của 9 hệ sinh thái đặc biệt toàn cầu dưới sự kết hợp giữa các trường đại học đến từ Mỹ, Anh, Châu Âu và các tổ chức Liên Qiệp Quốc như UNEP và Viện Nghiên cứu Tài nguyên môi trường của Châu Âu năm 2012 đăng trên tạp chí Ecosystem Service, Elsevier [11]. Dựa vào kết quả của 320 nghiên cứu cho 300 điểm nghiên cứu cứu trên toàn cầu, với bốn nhóm thông số của 22 thông số (Bảng 2) và chi tiết hóa thành 90 thông số cụ thể để đo lường giá trị sinh thái của 10 loại hình sinh thái.

Bảng 2: Các nhóm và thông số đánh giá giá trị

clip_image011

10 loại hình sinh thái đặc trưng được tổng kết từ 300 điểm nghiên cứu bao gồm: 1) Vùng biển xa bờ = open sea (14); 2) Hệ sinh thái san hô = coral reefs (94); 3) Hệ sinh thái ven bờ = coastal systems (28); 4) Hệ sinh thái đất ngập nước ven biển = coastal wetlands (139); 5) Hệ sinh thái đất ngập nước ngọt = inland wetlands (168); 6) Hệ sinh thái sông hồ = Rivers and lakes (15); 7) Hệ sinh thái rừng nhiệt đới = tropical forest (96); 8) Hệ sinh thái rừng ôn đới = temperate forest (58); 9) Hệ sinh thái rừng gỗ = woodlands (21); 10) Hệ sinh thái đồng cỏ = grass lands (32). Các giá trị trung bình, lớn nhât và nhỏ nhất của mỗi loại hình sinh thái biểu diễn ở Bảng 3. Bốn hệ sinh thái trong khung màu đỏ là các hệ sinh thái biển. Sẽ được sử dụng để thảo luận và tính toán cho Phần 3 áp dụng cho đánh giá thiệt hại của thảm họa Formosa Vũng Áng.

Bảng 3: Giá trị sinh thái của 10 loại hình sinh thái (USD/ha/năm tính vào thời điểm giá USD năm 2007)

clip_image013

Việc tính toán này được tính theo các tỷ số để cần bằng tôi đa giữa các vùng miền, giữa các hệ sinh thái, và được qui đổi từ tiền địa phương ra đồng Đô la tại thời điểm năm 2007.

Như vậy:

Hệ sinh thái vùng biển xa bờ có tổng số giá trị kinh tế là 491 USD/ha/năm, thấp nhất trong 4 hệ sinh thái biển và ven bờ. Trong đó có giá trị tổng và các giá trị cho các nhóm thông số từ 1 đến 4 là: 491 USD = 102 + 65 + 5 + 315 USD.

Hệ sinh thái san hô có giá trị vượt lên rất nhiều so với các hệ sinh thái khác. Trong đó tổng giá trị và lần lượt các giá trị đóng góp cho các nhóm thông số từ 1 đến 4 là: 352.249 USD = 55.724 + 171.478 + 16.210 + 108.837 USD.

Hệ sinh thái ven bờ có giá trị tổng và các giá trị cho các nhóm thông số là: 28.917 USD = 2.396 + 25.847 + 375 + 300 USD.

Hệ sinh thái đất ngập nước ven bờ có giá trị tổng và các giá trị cho các nhóm thông số là: 193.845 USD = 2.998 + 175.515 + 17.138 + 2.193 USD

Kết quả chi tiết giá trị đóng góp của mỗi loại hình sinh thái ứng với mỗi thông số của 4 nhóm thông số và 22 thông số chi tiết với giá trị trung bình. Đây là bảng dữ liệu thuyết phục để sử dụng tính toán cho thảm họa Formosa Vũng Áng thiệt hại lên các hệ sinh thái ven biển 4 tỉnh miền Trung, và cũng là cơ sở tính toán phân phối tiền đền bù cho người dân, cũng như tiền lưu trữ cho an sinh xã hội liên quan đến sự mất mát cho đến khi phục hồi của các hệ sinh thái này. Đa dạng sinh học và mức độ phân bố của các hệ sinh thái biển Việt Nam hầu hết đều nằm ở ngưỡng trung bình so với thế giới. Vì thế giá trị trung bình ở Bảng 4 là thuyết phục áp dụng cho thực tế ở Việt Nam.

Bảng 4: Tính toán chi tiết giá trị sinh thái cho mỗi 22 thông số của mười loại hình sinh thái (USD/ha/năm)

clip_image015

3. Tính toán thiệt hại sinh thái do thảm họa Formosa Vũng Áng

Theo thông báo của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà ngày 30 tháng 6 về thảm họa Formosa Vũng Áng, thì tổng thiệt hại diện tích san là 400 ha, chiếm 50% diện tích san hô phân bố ở 4 tỉnh miền Trung bị ảnh hưởng. Mặc dù ông Trần Hồng Hà cùng quan chức Chính phủ cho rằng hệ sinh thái RNM không bị ảnh hưởng và không tính hệ sinh thái cỏ biển trong khu vực. Nhưng kết quả người dân cho biết nhiều nơi RNM bị chết. Vì thế trong bài này việc tính toán được dựa trên diện tích thống kê của các báo cáo khoa học trong nước.

Vùng biển xa bờ, tại thời điểm này chưa có đánh giá về ảnh hưởng của chất thải Formosa đến vùng biển xa bờ.

Hệ sinh thái san hô: 400 ha san hô đã bị chết, tại thời điểm chính quyền Hà Nội điều tra, tháng 5 và tháng 6 năm 2016. Tuy nhiên, việc đánh giá ảnh hưởng lên hệ sinh thái san hô sẽ còn phải tiếp tục. Những chỗ san hô chết hiện nay là do nồng độ quá cao của độc tố, chết do sốc. Nhưng dư lượng của chất độc vẫn còn tồn dư nhiều trong trầm tích đáy và rất nhiều hấp thụ vào những khoang cơ thể của san hô. Chỉ cần một lượng rất nhỏ [độc tố này – BVN] san hô sẽ âm thầm chết. Việc đánh giá ảnh hưởng của độc tố từ xả thải của Fomosa xảy ra hồi đầu tháng 4 năm 2016 cần phải tiến hành lên hàng chục năm. Việc tính toán thiệt hại ở bài viết này đối với hệ sinh thái san hô mới chỉ dừng lại ở mức thiệt hại trước mắt. Dựa vào thông tin Phần 2, 1 ha san hô một năm cung cấp 352.249 USD = 55.724 + 171.478 + 16.210 + 108.837 theo 4 nhóm thông số đánh giá ở trên ta sẽ có kết quả áp dụng cho 400 ha, san hô bị phá hủy do thảm họa Formosa Vũng Áng và áp dụng cho 50 năm với hy vọng sự phục hồi của hệ sinh thái san hô, kết quả thu được như ở Bảng 5.

Hệ sinh thái ven bờ, chỉ môi trường ven bờ nói chung. Với 20 hải lý (= 37,04 km) chiều ngang tính từ bờ biển ra. Vùng ảnh hưởng mà độc tố đã quét dọc theo bờ biển 4 tỉnh miền Trung là 250 km. Như vậy tổng diện tích vùng ven bờ cũng là hệ sinh thái ven bờ là 30,04 km (rộng) × 250 km (dài) = 9.260 km2 (=926.000 ha). Tính toán cho mặt nước, thì tổng diện tích mặt nước sẽ là 926.000 ha. Và với hệ sinh thái ven bờ có giá trị tổng và các giá trị cho các nhóm thông số là: 28.917 USD = 2.396 + 25.847 + 375 + 300 USD. Vì dòng hải lưu và biển mở, nên trường hợp này tính toán áp dụng cho 1 năm. Kết quả ở mục 3.1 Bảng 5. Tuy nhiên, ảnh hưởng vùng này đối với hệ sinh thái nền đáy sẽ được trù đi diện tích cỏ biển là 2.170 ha, và 800 ha san hô, và cũng áp dụng cho ít nhất là 30 năm (cơ sở từ thảm họa Minamita). Ta có kết quả thiệt hại đối với hệ sinh thái ven biển từ thảm họa Formosa Vũng Áng như mục 3.2 Bảng 5.

Ở Bảng 1, ta có 2.170 ha hệ sinh thái cỏ biển nằm trong vùng bị tàn phá bởi thảm họa Formosa Vũng Áng. Với kết quả từ Phần 2: Hệ sinh thái đất ngập nước ven bờ có giá trị tổng và các giá trị cho các nhóm thông số là: 193.845 USD = 2.998 + 175.515 + 17.138 + 2.193 USD. Và cũng áp dụng cho 30 năm (cơ sở từ thảm họa Minamita). Ta có kết quả như ở Bảng 5.

Ở mục 1.2, ta có có 30.974 ha đất ngập mặn nằm trong vủng Bắc Trung Bộ, trong đó có 1.885 ha có RNM, 2.505 ha đất nuôi trồng thủy sản (NTTS), và 26.584 ha đất chưa sử dụng. Và cũng áp dụng với hệ sinh thái đất ngập nước ven bờ, và 30 năm như tình toán cho cỏ biển. Ta sẽ có kết quả lần lượt cho giá trị thiệt hại lên RNM, đất NTTS và đất chưa sử dụng như mục 4.2, 4.3 và 4.4 Bảng 5 như sau.

Bảng 5. Thiệt hại sinh thái của thảm họa Formosa Vũng Áng lên hệ sinh thái biển đọc 4 tỉnh miền Trung (đơn vị: USD)

clip_image017

Ghi chú: (NA: không áp dụng)

4. Sử dụng và quản lý tiền đền bù

Theo phương pháp tính toán như ở Phần 2 và kết quả ở Bảng 5, thì:

4.1. Sử dụng

+ Số tiền thiệt hại hơn 70 tỷ USD ở cột (1) Bảng 5, là những giá trị được tính bằng những giá trị hàng hóa, có giá cả trực tiếp ở thị trường (direct market values). Phần này chính là nguồn tài nguyên phục vụ trực tiếp cho những người dân có những hoạt động liên quan đến đánh bắt và tiêu thụ các sản phẩm do đánh bắt từ biển ít nhất 50 năm, nghĩa là 3 thế hệ người Việt phải tối thiểu đam bảo cuộc sống cũng gia đình như việc học hành của con cái. Phần này bổ sung cho phần tính toán của luật sư Lê Văn Luân và Trịnh Mộc Thường [12, 13]. Một phần sẽ được dùng chi trả cho việc nghiên cứu phục hồi nguồn dược liệu và phục hồi nguồn gene từ môi trường biển.

Trong khi đó số thiệt hại ở các cột (2) (3) (4) là những giá trị không trực tiếp từ thị trường (indirect maker values), nó mang nặng giá trị chức năng phục vụ của các hệ sinh thái.

+ Số tiền thiệt hại hơn 889 tỷ USD ở cột (2) Bảng 5, chính là sự thiệt hại vì mất đi qui luật tự nhiên về chức năng cân bằng sinh thái. Nghĩa là sau khi bị thảm họa, các hệ sinh thái biển này không còn chức năng tự nhiên của nó. Khoản thiệt hại này chiến gần hết số tiền thiệt hại. Số tiền thiệt hại này sẽ được dùng trong các hoạt động nghiên cứu và xây dựng cho mục đích phục hồi các chức năng tự nhiên của các hệ sinh thái.

+ Số tiền thiệt hại hơn 27 tỷ USD ở cột (3) Bảng 5, chính là số sự thiệt hại do các sinh vật mất đi vùng sinh sản, và sâu xa hơn là mất đi nguồn gene khi quá trình sinh sản đã bị ảnh hưởng. Số tiền này sẽ được sử dụng trong các nghiên cứu phục hồi các bãi sinh sản và vườn ươm sinh thái dưới đáy biển.

+ Số tiền thiệt hại hơn 12 tỷ USD ở cột (4) Bảng 5, chính là số tiền thiệt hại đối với các dịch vụ du lịch và liên quan du lịch biển, và các nhu cầu về giải trí nghệ thuật liên quan biển. Một phần số tiền này sẽ được sử dụng để chi trả cho các hoạt động du lịch biển, và các dịch vụ phục phụ du lịch kèm theo. Một phần số tiền này sẽ được sử dụng cho các hoạt động nhằm duy trì và phát triển các loại hình nghệ thuật liên quan đến biển.

4.2. Quản lý

– Số tiền này sẽ được quản lý bằng một ủy ban độc lập do dân bầu ra, thành phần là những người đại diện của những nhóm bị tổn thương bao gồm cả các ngư dân, nhà khoa học, nhà nghệ thuật…

– Nhóm đại diện quản lý đại diện này phải xây dựng lộ trình và kế hoạch sử dụng số tiền này và các hoạt động đảm bảo an sinh và phục hồi sinh thái cho chặng đường 30 và 50 năm.

– Tất cả mọi hoạt động của ủy ban này cùng việc sử dụng số tiền này phải được trưng cầu và giám sát của người dân.

5. Kết luận và yêu cầu

– Áp dụng 50 năm phục hồi của san hô và 30 năm phục hồi của các hệ sinh thái cỏ biển, RNM (chủ yếu là nền đáy) thìtổng thiệt hại qui ra USD sẽ là 1.000.553.486.297 (1000 tỷ USD) không bao gồm tiền nạo hút cải tạo môi trường. Yêu cầu chính quyền Hà Nội cung cấp báo cáo điều tra chi tiết để các nhà khoa học đánh giá độ tin cậy về thông báo kết quả của chính quyền. Nếu không người dân có quyền đòi Formosa bồi thường như tính toán trong bài viết này. Và quan trọng là KHÔNG FORMOSA.

– Việc áp dụng 30 năm cho sự phục hồi đối với các hệ sinh thái cỏ biển, RNM, vùng ven biển và đất ngập nước khác, là dựa trên cơ sở dữ liệu từ thảm họa thủy ngân ở Vinh Minamita. Mức thiệt hại này sẽ giảm đi theo số năm, tùy thuộc vào mức độ hút nạo đáy biển rửa tấy chất độc mà Formosa thực hiện.

Yêu cầu chính quyền Hà Nội cung cấp tên theo danh thức hóa học của gần 300 loại hóa chất mà Formosa nhập và sử dụng. Từ đó sẽ giúp người dân và các nhà khoa học giám sát việc tẩy rửa chất độc mà Formosa sẽ thực hiện.

– Bản tính toán này được dựa trên mức tái tạo của hệ sinh thái san hô là 50 năm, và với diện tích 400 ha. Tuy nhiên, thực tế việc chính quyền Hà Nội kết luận chỉ 400 ha san hô bị ảnh hưởng là không thỏa đáng. Những mảng san hô chưa bị chết trắng đang đứng đó đã không còn chức năng sinh thái nữa, chúng có thể sẽ chết dần mòn trong tương lai.

– Việc bỏ qua thiệt hại về RNM và hệ sinh thái cỏ biển cũng như các hệ sinh thái khác, càng chứng tỏ chính quyền Hà Nội không thực tâm trong việc kiềm soát xả thải của Formosa cũng như việc bảo về tài nguyên thiên nhiên của VN.

N.T.H.Y.

__________

Chú thích:

[1] http://data.unep-wcmc.org/

[2] (http://de.slideshare.net/NinhHuong/rng-ngp-mn)

[3] http://xttm.agroviet.gov.vn/Site/vi-vn/76/tapchi/141/145/824/Default.aspx

[4] http://data.unep-wcmc.org/datasets/39

[5] http://lrc.tnu.edu.vn/upload/collection/brief/46439_842015103129hesinhthaicobien.pdf.

[6] http://data.unep-wcmc.org/datasets/9

[7] http://data.unep-wcmc.org/datasets/1

[8] http://coral.unep.ch/Coral_Reefs_files/reef%20area%20by%20country%20.jpg

[9] http://www.biendong.net/the-gioi-dai-duong/tai-nguyen-bien/1366-tim-hiu-h-sinh-thai-rn-san-ho.html

[10] http://coral.unep.ch/Coral_Reefs.html

[11] http://ac.els-cdn.com/S2212041612000101/1-s2.0-S2212041612000101-main.pdf?_tid=8e95a3cc-41b5-11e6-9be1-00000aab0f02&acdnat=1467616051_aac27473c311f348bf70cf7bb9040a6b.

[12] và [13] https://anhbasam.wordpress.com/2016/07/03/8999-uoc-tinh-mot-phan-thiet-hai-kinh-te-do-formosa-gay-ra/

Nguồn : https://anhbasam.wordpress.com/2016/07/05/9022-formosa-can-boi-thuong-1-000-ty-usd-va-dong-cua-formosa-ha-tinh/

Ác mộng

Ác mộng

Nguyễn Tiến Dân

7-7-2016

Ở xứ Cù lần, có một lão nông, họ Tập. Tham và ác, nổi tiếng. Ngứa mắt, là lão đánh người – Không thích, là có thể, giết người ta như ngóe. Dòng tộc, cũng chẳng từ. Riêng cái khoản ngu, lão vô đối thủ. Ngu lâu – dốt bền. Ngu từ đời này, sang đời khác và chưa hề có dấu hiệu, sẽ hạ nhiệt. Quê lão, “chó ăn đá – gà ăn sỏi”. Thu hoạch, thất thường – Đói, triền miên. Đã thế: chồng, rượu chè – vợ, cờ bạc – con, nghiện ngập. Lấy đâu ra, của ăn – của để. Nghèo, kiết xác. Nhưng cả nhà, vẫn thường xuyên đi vay nặng lãi, để ăn chơi. Ăn, tàn bạo – chơi, ngông cuồng. Đã thế, ăn và chơi cái gì, cũng phải, “xứng tầm khu vực và thế giới”. Quí ai, lão đem mấy hòn đá ra, đục sơ – đẽo vội, làm thành tượng. Sau đó, đặt cùng đường. Thiếu chỗ trang trọng, cầu ao và chuồng lợn, cũng có thể được huy động, để đặt những “hình nhân thế mạng” đó.

Ra ngoài đường, mắt la – mày lét. Nhìn thấy của cải và tiền bạc của thiên hạ, là tối mắt lại. Từ cha tới con – từ vợ tới chồng, đông đàn – dài lũ, gọi nhau kéo đến. Quanh ra – quanh vào, bằng mọi cách, phải lừa đảo và ăn cướp cho bằng được, mới thôi. Đã nghèo, lại còn vô giáo dục. Cho nên, ai cũng chỉ nghĩ đến mình và chỉ nghĩ đến tiền. Họ, giành giật nhau miếng ăn và đánh nhau vỡ đầu, chỉ vì chỗ ở. Việc chung, chẳng ai ngó ngàng.

Đẻ con ra, không cho chúng đi học. Nhưng lại mơ, chúng sẽ có tiền bạc và danh vọng, Vì thế, dùng Kim Ngân, để đặt tên cho con gái. Với mong muốn, nó sẽ có nhiều vàng bạc làm của hồi môn. Để, dễ lấy chồng – Đặt tên cho con trai, là Phú Trọng. Với mong muốn, sau này, nó vừa giàu sang, vừa phú quí. Tam khoanh – tứ đốm, chỉ dám mạnh bạo xó nhà. Bước chân ra khỏi cửa, so vai – rụt cổ, hèn đến mức, không thể hèn hơn. Nhưng, vẫn chọn những cái tên Hùng – Dũng, để đặt cho con của mình. Hy vọng hão huyền, “cái áo, sẽ làm nên thày tu” – cái tên, sẽ giúp chúng, đổi đời (!). Những lúc nông nhàn, cả nhà xúm vào đan lờ. Rồi, treo lên ngọn cây đa cuối làng. Để, đơm cá. Dân gian, vì thế, tránh xa các con của chàng. Họ, gắn thêm cái biệt danh “lờ”, vào sau tên của mỗi đứa. Cho khỏi lẫn, với Thiên hạ. Tỷ như, Trọng lờ.

Hùng – Dũng – Sang – Trọng, tuy là 4 anh em ruột thịt. Nhưng, chúng tranh nhau ăn, như chó và chỉ bằng mặt, chứ chẳng bằng lòng với nhau, bao giờ.

Trong 4 anh em, Trọng lờ, là thằng tinh ranh nhất. Mắt lờ đờ, nhưng mũi thính hơn chó. Làm thợ xây, cho đến gần chót đời. Nhưng, nó không xây hoàn chỉnh được, bất cứ 1 cái gì. Cho dù, đó chỉ là, cái chuồng gà. Bù lại, những trò đá cá – lăn dưa và những mánh mung của bọn ma cà bông – ma cà chớp, nơi đầu đường – xó chợ, nó thạo lắm. Nó biết, gia tài lớn nhất của cả nhà, là cái quyển Sổ đỏ, mà bố nó, đang nắm trong tay và anh em nó, đừng có hòng, xơ múi gì ở đó. Nó nung nấu quyết tâm: Triệt cho bằng hết, cùng 1 lúc, cả bố mẹ, lẫn 3 thằng em. Để, giành lấy quyển Sổ đỏ đó. Một ngày kia, nó nghĩ ra 1 kế.

Nó mang rượu thịt, sang kết nghĩa anh em, với thằng Hoa du côn. Trùm băng đảng, ở cái làng, có tên là Thành Đô. Vừa khéo, thằng Hoa kia, cũng đang tính kế, thôn tính nhà nó. Lưu manh, gặp kẻ cướp. Chúng quấn nhau, như vợ chồng sam. Thằng Hoa nhận lời, sẽ cho nhân sâm, à quên, nhân-ngôn (Trong chữ Hán, hai chữ nhân  và ngôn ghép lại thành chữ tín  ; nhân- ngôn, ám chỉ thạch tín), vào giếng nước ăn của nhà Trọng. Đổi lại, thằng Hoa, sẽ được chia một phần, miếng đất hương hỏa nhà Trọng. Với công thức: “16+4”. Tan cuộc, thằng Hoa, y kế và y ước, thi hành. Bố mẹ Trọng lờ, dùng nước giếng ấy, bị ngộ độc và lăn đùng ra chết. Ba đứa em, nhất định, không chịu uống. Trọng sai con, vật ngửa 3 chú ra, rồi đổ nước vào mồm. Ba chú, giẫy đành đạch. Rồi theo nhau, về với ông bà – ông vải. Vật nuôi, dùng nước giếng ấy, ngẹo đầu – ngẹo cổ, mà chết. Cây trồng, tưới nước giếng ấy, thối gốc – trốc rễ, mà chết. Khiến cho, chuồng nhà Trọng lờ, bị bỏ không – ruộng nhà Trọng lờ, bị bỏ hóa. Cả nhà Trọng lờ, vô kế sinh nhai. Chẳng ai, còn thiết tha với ruộng vườn. Ai cũng muốn, bỏ đi biệt xứ. Kết quả, trên cả mức trông đợi. Cả thằng Hoa lẫn thằng Trọng, đều “múa tay trong bị”. Chúng hẹn nhau, sau lễ thất tuần của ông bà Tập, sẽ chia, “chiến lợi phẩm”. Trọng lờ còn muốn, dạm bán nốt cho thằng Hoa, cái phần còn lại của mình.

Thất tuần của bố mẹ, Trọng lờ, vay nóng của thằng Hoa, để làm rềnh rang và linh đình. Rạp, bắc từ đầu làng, tới cuối xã – Cỗ bàn, cùng với ruồi nhặng, ê hề. Chỗ này, là các bà già, với áo tứ thân, ngồi bổ trầu và nghe quan họ – Chỗ kia, các chú choai choai, mồ hôi nhễ nhại, quay cuồng trong tiếng nhạc Disco tưng bừng – Kèn tây, thi thanh cùng sáo nhị. Hàng Tổng và hàng Huyện, kéo đến chật ních. Ai cũng muốn xem, Trọng lờ, “báo Hiếu” cho bố mẹ nó, như thế nào. Trong cái đám đông ấy, chẳng thể thiếu, thằng Hoa và con vợ mắt lác của nó. Chúng, cũng mang lễ sang cúng bái và tiện thể, hỏi thằng Trọng, định bán nốt phần còn lại của mình, với giá bao nhiêu. Nhưng, vừa đặt lễ lên ban thờ, chưa kịp khấn vái, nó chợt giật nảy mình: Trong cái đám khói hương nghi ngút, nó và những người dự lễ, nhìn rõ mồn một, Bao công hiện về. Cạnh đó, là ông bà Tập. Nó sợ đến mức, ngã khuỵu xuống. Nó biết, giờ phán quyết, đã tới.

Lần đầu tiên trong đời, nó mở miệng, xin lỗi nạn nhân. Có bao nhiêu tiền lẻ trong túi, nó lập cập, móc ra bằng hết, để trên ban thờ của 2 ông bà. Coi như, đền bù cho những tội lỗi, mà nó đã cố ý gây ra. Về sự cố, đã bỏ thuốc độc, vào giếng nước nhà ông bà Tập, nó vừa khóc lóc – vừa thanh minh:

– Chủ mưu, là thằng Trọng. Tôi, chỉ là kẻ thừa hành. Tội tôi, nhẹ hều. Tôi chỉ bỏ thuốc độc vào giếng. Đâu có múc nước đó, đổ vào mồm nạn nhân. Chính nạn nhân, tự giết mình. Bởi, không uống nước đó, họ đâu có chết. Tương tự, vật nuôi – cây trồng chết, cũng chính bởi người nhà của ông bà Tập, dùng nước giếng ấy, mà gây ra. Đâu có bàn tay trực tiếp của tôi. Tóm lại, tôi chỉ nhận tội, đầu độc cái giếng nước, nhà ông bà Tập. Suy cho cùng, cái giếng nước ấy, chỉ là vật vô tri – vô giác. Tôi không có tội, gây ra những cái chết của nhà họ và không nhận tội “hủy hoại môi trường” nhà họ. Chính vì, những lẽ đó: Tôi chỉ có trách nhiệm, đền bù, cho việc tẩy độc cái giếng và “hỗ trợ”, cho thằng Trọng lờ, chuyển nghề. Thợ xây như nó, vất vả quá. Dùng tiền đền bù của tôi, sau “ba bảy – hai mốt ngày”, nó sẽ lột xác, để trở thành… Kiến trúc sư. Chuyên đi thiết kế chuồng xí, cho cái loài chó – lợn. Lĩnh vực ấy, chưa có ai làm. Một mình – một chợ, tha hồ mà phát tài. Ăn trắng – mặc trơn, sung sướng trọn đời. Xin Bao Công, mở lượng hải hà, mà tha bổng. Và, xin ngài làm chứng, bắt gia đình nhà thằng Trọng y ước, mà chia đất cho tôi.

Đến lượt, thằng Trọng. Mắt nó, đảo như rang lạc. Nó xiêu vẹo, tiến đến gần cái ban thờ. Việc đầu tiên, nó vươn tay, quơ hết số tiền mà thằng Hoa vừa đặt lên đó, cho vào túi. Đoạn, nhổ nước bọt vào ngón tay, rồi chấm lên mắt. Sau đó, nỉ non:

– Thưa Bao Công, thưa bố mẹ, cùng toàn thể chư vị. Tập Phú Trọng tôi, tuy thất học, nhưng hiểu câu, “một lời nói, một đọi máu” của giới giang hồ. Tôi mà không chia đất cho thằng Hoa, cả nhà tôi, sẽ sạch sành sanh, không còn 1 mống. Cái nhà này, ở vào thế “cù địa”. Nơi giáp giới của nhiều Quốc gia. Ai đến trước, sẽ dễ dàng, khống chế được cả Thiên hạ. Thế đất, đẹp như thế. Đương nhiên, bị nhiều kẻ nhòm ngó. Thằng Hoa, hay chú Sam mũi lõ, cũng đều muốn độc chiếm. Không trước – thì sau, nhà ta, cũng phải bán. Ai bán được và bán cho ai, với cái giá cao hơn, người ấy tài. Tuy bất tài và thất Đức, nhưng bán cho thẳng Hoa, tôi vẫn còn giữ lại được 4 phần gia sản của Tổ tiên. 16 phần còn lại, nhường cho nó. Đó là cái giá, để giữ “môi trường Hòa bình và Hữu nghị”. Giúp tôi, có được sự “ổn định về chính trị”, để hưởng trọn vẹn, cả 4 phần kia. Mà, không phải chia cho bất cứ 1 ai trong dòng tộc. 4 phần đó, nếu nhường nốt, vợ chồng thằng Hoa, cam kết: Sẽ nuôi không, cả lò – cả ổ nhà tôi. Cái giá ấy, rất hời. Xin đừng lên án tôi, “mại gia cầu vinh”. Tôi thề, không bao giờ, táng tận lương tâm, để làm cái việc đó. Đơn giản, tầm của tôi, chỉ biết mại gia để mà ăn chơi. Chứ nào có biết, vinh – nhục, nó là cái gì. Lên án tôi, trong cuộc mua bán – đổi chác này, thì dễ. Nhưng, hãy chìa bàn tay của quí vị, ra trước mặt và hãy nhìn vào đó: Chúng ta, rặt 1 lũ mặt ngay – tay đờ. Chơi với chú Sam mũi lõ, chú ấy bắt chúng ta, phải tự làm lấy mà ăn. Có mà, bỏ mẹ.

Thằng Hoa kia, bỏ thuốc độc, định giết hết cả nhà ta. Về lí, “sát nhân giả tử” (giết người, phải đền mạng). Nhưng do cảnh giác cao độ, nên tôi vẫn còn sống nhăn – sống nhở. Nhà ta, chưa bị tuyệt diệt. Vả lại, thằng Hoa đã nhận lỗi và đã đền bù xứng đáng. Từ xưa đến nay, cả họ Tập nhà mình, ai ai cũng có lòng nhân nghĩa– khoan dung – độ lượng. Chúng ta, chỉ đánh người chạy đi. Chúng ta, quyết không đánh kẻ chạy lại. Cho dù, mục đích chạy lại của chúng, là ăn cướp hay giết người. Người chết, thì cũng đã chết rồi. Bao Công có giết thêm 2 chúng tôi, cũng chẳng thể, làm cho bố mẹ – anh em – gà chó… nhà chúng tôi sống lại. Với tất cả những lí lẽ đó, xin Bao Công tha chết cho chúng tôi. Và, xin chứng thực, cho cái hợp đồng, mua bán – đổi chác của chúng tôi.

Nghe, chuyện thằng Trọng nói – Nhìn, việc thằng Trọng làm: Bao Công, uất nghẹn. Ngài, cho ông bà Tập, nói lời cuối. Cả đám Hiếu, nín lặng.

Ông bà Tập, luống cuống. Ngồi ở đây, nhưng tâm trí của họ, còn để ở tận đẩu – tận đâu. Cờ bạc, là nghiệp chướng của họ. Xuống Âm phủ, vẫn không thể dứt ra được. Mọi ý nghĩ, chỉ hướng về số tiền lô đề, mà họ đang nợ đầm đìa và đám chủ nợ, đang vây quanh, bắt phải trả. Liếc xuống, thấy thằng Trọng, nhấm nháy ra hiệu, sẽ tắc tế vàng mã cho ông bà. Thế là, quên hết. Cả hai, quỳ xuống. Xin Bao công, tha chết cho thằng Trọng. Với cớ, nó là thằng cùng đinh duy nhất còn lại, để lo việc cúng tế cho ông bà. Tiện thể, xin tha nốt cho thằng Hoa du côn. Với cớ, không có nó, thằng Trọng, lấy cứt mà đổ vào mồm. Cuối cùng, xin Bao Công, nói với Diêm vương, mỗi ngày, mở Xổ số, 2 đận.

Bao Công lắc đầu: “Ti tiện, đến chết, vẫn là đồ ti tiện”. Đoạn, Ngài quay xuống, phủ dụ đám đông:

– Ngồi trên Thiên đình, nhưng hàng ngày, ta vẫn nghe đài và đọc báo của nhà Sản, ở xứ Cù lần. Có lần, ta nghe 1 thằng mặt dầy, nói rằng: “Sống nghèo – hèn, trong công bằng – yên bình. Vạn lần tốt hơn giàu sang – phú quí, trong bon chen và hỗn loạn”. Nghèo – hèn, khoan nói. Ta cứ tưởng, ít ra, các người cũng được sống trong yên bình. Bởi vậy, từ lâu, không đáo qua đây. Hôm nay, vô tình ghé qua, ta mới biết, sự thực, không phải là như vậy. Ta đã nhìn thấy: trong đám dân chúng, ai cũng bị dán băng keo vào mồm. Đó, là cái giá phải trả, để có được, cái gọi là “yên bình”. Ta, xấu hổ thay, cho cái sự hèn hạ của các ngươi. Môi trường sống của các ngươi, đã bị nhiễm độc toàn diện và nặng nề. Các người, sắp chết cả nút đến nơi. Thế mà, vẫn nghe lời phỉnh phờ của thằng Trọng: im lặng, để giữ “sự ổn định chính trị”. Sao không biết bảo nhau, đập chết, hai cái thằng súc sinh đó đi. Cùng lắm, cũng phải biết, tự gỡ cái băng keo ở mồm ra. Rồi, đem cái nỗi oan ức này, kêu đến Cửu trùng? Bây giờ, ta sẽ thay các ngươi, đem 2 thằng Trời đánh – Thánh vật này, về phủ Khai Phong. Để, điều tra. Các người yên tâm, ta sẽ không điều tra trong “ba vạn – chính nghìn” ngày, như bọn nhà Sản, nơi Hạ giới đâu. Ngay ngày mai, ta sẽ đem chúng, ra sân vận đông Hàng Chiếu. Để, xét xử công khai. Cửa, ta mở tự do. Các người, rủ nhau đến, mà dự. Đến đó, các người, sẽ chứng kiến Chân lý: “lưới Trời lồng lộng – thưa mà khó lọt”. Tiện thể, ai có oan ức gì, gửi đơn cho Công Tôn Sách. Ta sẽ cứu xét luôn, cả thể.

Nghe thế, cả đám đông ào lên. Thoáng cái, Công Tôn Sách, đã bị đẩy đi, tít tận đằng nào. Gớm, yên bình gì, mà lắm oan khiên đến thế. Mình cũng muốn nhảy lên, để gửi đơn. Khốn nỗi, người thì bé – tính lại ngờ nghệch. Bởi thế, bị giẫm đạp tơi bời và bị đấm đá túi bụi.

Đau qua, mở choàng mắt ra. Trước mặt mình, là Sư tử. Mắt sáng quắc – tóc dựng ngược. Mụ thượng cẳng chân – hạ cẳng tay, đánh mình không thương tiếc. Vừa đánh – vừa la hét, như đang lên cơn điên. Mụ tóm tóc, hỏi mình: “Tối qua, lão đã mua thuốc liều chính hiệu, ở tiệm nào?”. Té ra, trong cơn mơ, mình đã đạp nàng, văng ra khỏi giường.

Đành phải thanh minh, bằng cách, kể lại giấc mơ. Kể thì dứt, nhưng chuyện, nào đã hết. Nàng tức giận, hỏi mình:

– Tóm lại, lão có gửi được đơn của nhà mình, hay không?

– Cậu đánh tớ, như đập mẹt. Đau quá, phải tỉnh. Tỉnh rồi, sao gửi được nữa?

Sư tử vồn vã:

– Thế thì, “anh ơi hãy ngủ, em hầu quạt cho”. Mơ tiếp đi, rồi nhớ chen thật lực vào. Đứa nào cản đường, anh cứ đánh bỏ mẹ nó đi. Tội vạ đâu, anh chịu nhé. Em, ứ chịu thay anh. Và, nhớ cho kĩ, câu này: Không gửi được đơn, đừng về.

Trời đất – Quỷ thần ơi! Lười nhác như mình, mà được ngủ tiếp, thì thích lắm. Nhưng, tỉnh dậy, mà nói rằng, “không tìm thấy Bao Công”, có mà no đòn.

Trở đi, mắc núi – trở lại, mắc sông. Ai ơi, cứu mình với.

Nguyễn Tiến Dân

Tạm trú tại: 544 đường Láng – quận Đống đa – Hà nội

Điện thoại: 0168-50-56-430

BÀI HỌC TRỰC QUAN VỀ LÒNG YÊU THƯƠNG

BÀI HỌC TRỰC QUAN VỀ LÒNG YÊU THƯƠNG

LM Inhaxiô Trần Ngà

Tại một khúc đường vắng trên con đường từ Giê-ru-sa-lem đến Giê-ri-cô có một khách bộ hành bị trọng thương đang quằn quại rên siết.  Khúc đường nầy xưa nay vẫn thường xảy ra những vụ cướp của giết người nghiêm trọng.  Hẳn đây lại là một nạn nhân khác do bọn cướp gây ra.

Một hy vọng loé lên trong đầu óc nạn nhân khi anh ta thoáng thấy có một khách bộ hành đang tiến lại gần.  Khi người bộ hành gần đến, niềm hy vọng càng dâng cao vì đây là một vị Tư Tế.  Ngài vốn thông làu lề luật yêu thương, chắc chắn ngài sẽ đoái thương cứu chữa anh ta.  Nhưng rồi vị Tư Tế cố tình rảo bước cho nhanh, lánh qua một bên mà đi thẳng, để mặc anh nằm đó.

Một lát sau, có một thầy Lê-vi đi qua, vị nầy đảo mắt nhìn nạn nhân rên siết, nhưng rồi cũng vội vàng rảo bước cho nhanh, có lẽ ông ta sợ rằng bọn cướp còn lảng vảng đâu đây, sẽ trấn lột hết những gì ông ta mang trên mình và sẽ đánh đập ông nhừ tử như người khốn khổ kia.  Thôi, khôn hồn thì rảo bước cho nhanh, mau qua khỏi nơi nguy hiểm nầy.

Cuối cùng, có tiếng lừa lộp cộp đâu đây vọng lại, rồi vị khách đi đường thứ ba xuất hiện. Đây là người dân Sa-ma-ri.  Chẳng hy vọng gì nơi hạng người như thế, hạng người xưa nay vẫn mang tiếng là quân lạc đạo chẳng ra gì.

Thế nhưng, người Sa-ma-ri nầy lại cho lừa dừng lại, bước xuống cúi mình trên nạn nhân, cảm thương thân phận người xấu số.  Ông mở hành trang lấy rượu rửa sạch vết thương, lấy dầu xoa bóp những nơi bầm tím, rồi vực nạn nhân lên lừa của mình, quay trở về quán trọ.  Đến nơi, ông lo liệu cơm cháo thuốc men, săn sóc nạn nhân như lo cho người thân yêu của mình.  Sáng hôm sau, vì công việc gấp rút đòi buộc, ông phải vội lên đường; nhưng trước khi ra đi, ông trao tiền cho chủ quán và dặn dò: “Xin ông lo chăm sóc người nầy giùm tôi cho chu đáo, còn tốn phí thêm bao nhiêu, khi trở về tôi sẽ hoàn lại cho ông”.

***********************************

Điều tuyệt vời nơi con người nhân ái nầy là đức tính sẵn sàng phục vụ.  Phục vụ tức thời không so đo tính toán.  Phục vụ bất cứ lúc nào, trong bất cứ hoàn cảnh nào.

Đang lúc phải đi về Giê-ri-cô cho nhanh trước khi trời tối, mà phải dừng lại tại một nơi không ngờ trước, bày tỏ tình thương mến một nạn nhân xa lạ bằng những chăm sóc hết sức ân cần chu đáo, bất chấp hiểm nguy cho tính mạng mình, chấp nhận mất mát thời giờ, tiền của, đành để cho vợ con chờ đợi sốt ruột ở nhà, gác bỏ qua bên bao nhiêu công việc cấp bách… thì đây quả là một con người hy sinh cao thượng hiếm có.

Bài dụ ngôn về người Sa-ma-ri nhân lành nầy đáng được xem là tinh hoa của lề luật, là cốt tuỷ của nền luân lý ki-tô giáo, là minh họa hay nhất cho lề luật yêu thương, là tấm gương soi cho tất cả những người con cái Chúa.

Giữ luật yêu thương không chỉ là tâm niệm luật ấy trong lòng đêm ngày như những kinh sư và biệt phái.  Giữ luật yêu thương không phải là lặp lại luật ấy trên môi, đeo câu luật yêu thương trên tay, trên trán hay dán lên khung cửa ra vào như những người Do Thái xưa kia thường làm.

Nhưng giữ luật yêu thương chủ yếu là cúi xuống trên những mảnh đời bất hạnh để ủi an chăm sóc, là chia cơm sẻ áo, là trở thành người tôi tớ phục vụ tha nhân bất cứ khi nào họ cần.

***********************************

Lạy Chúa Giê-su,

Chúa là bậc Thầy khôn ngoan lỗi lạc.  Qua bài Tin Mừng nầy, Chúa dạy chúng con  một bài học trực quan rất sinh động về yêu thương: Yêu thương là cúi xuống chăm sóc người bất hạnh bất cứ lúc nào, bất kể nơi nào, như người Sa-ma-ri đã thực hiện.

Xin ban thêm cho chúng con đức tin và lòng yêu mến.  Tin Chúa hiện diện nơi mọi người, đặc biệt là nơi những người cùng khổ và đem hết khả năng để phục vụ và yêu mến họ, vì khi thực hành như thế là chúng con đang làm cho chính Chúa.

LM Inhaxiô Trần Ngà

Anh chị Thụ & Mai gởi

NHỮNG ĐÒI HỎI THIẾT YẾU ĐỂ TRỞ THÀNH MÔN ĐỆ TRƯỞNG THÀNH

 NHỮNG ĐÒI HỎI THIẾT YẾU ĐỂ TRỞ THÀNH MÔN ĐỆ TRƯỞNG THÀNH

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Trong quyển tiểu sửcủa mình, Morris West cho rằng, ở một độ tuổi nhất định nào đó của cuộc đời, tự điển tâm linh của chúng ta đơn giản chỉ còn ba câu: Cám ơn!  Cám ơn!  Cám ơn!  Ông đúng nếu chúng ta hiểu trọn vẹn thế nào là sống với tấm lòng biết ơn.  Biết ơn là đức hạnh cao nhất, là nền tảng cho các thứ hạnh khác, kể cả tình yêu.  Và nó còn đồng nghĩa với thánh thiện.

Biết ơn không chỉ là điều xác định sự thánh thiện, mà còn xác định cả sự trưởng thành.  Chúng ta trưởng thành khi đạt đến mức độ biết sống biết ơn.  Nhưng điều gì sẽ cho chúng ta được như thế?  Điều gì cho chúng ta một sự trưởng thành nhân bản sâu sắc hơn?  Tôi muốn nêu ra đây mười đòi hỏi chính yếu cả trong sự trưởng thành nhân bản lẫn trưởng thành Kitô giáo:

  1. Sẵn sàng đảm nhận hơn nữa những phức tạp đời sống với lòng cảm thông: Trong cuộc sống, có rất ít điều trắng đen hoặc đơn giản là xấu tốt rõ ràng, kể cả trong tâm hồn và động cơ của chúng ta.  Sự trưởng thành làm cho chúng ta nhìn nhận, thông hiểu và chấp nhận sự phức tạp này với lòng cảm thông để, như Chúa Giêsu, chúng ta khóc những giọt nước mắt thông hiểu cho những đô hội hỗn loạn và những tâm hồn phức tạp của chính chúng ta.
  2. Ghen tương, giận dữ, chua cay, thù ghét phải được biến đổi, không ăn miếng trả miếng. Bất kỳ nỗi đau hay áp lực nào không được biến đổi, thì chúng sẽ được chúng ta lan truyền tiếp.  Khi đối diện với ghen tương, giận dữ, chua cay, thù ghét, chúng ta phải như người lọc nước, giữ độc tố bên trong, chỉ để cho giòng nước tinh khiết chảy ra ngoài, chứ đừng làm như sợi dây điện, cứ để điện năng xuyên qua mà không lọc.
  3. Hãy mềm dẻo chịu đựng hơn là để tâm hồn chai cứng: Chịu đựng và khiêm nhường luôn có trong chúng ta, nhưng cách chúng ta đáp trả, tha thứ hay chua cay, sẽ định rõ mức độ trưởng thành và chân tướng của chúng ta.  Đây có lẽ là phép thử cao nhất cho đạo đức của chúng ta: Liệu lòng khiêm tốn của tôi sẽ làm mềm dịu hay chai cứng tâm hồn tôi đây?
  4. Tha thứ: Đến cuối cùng, chỉ có một điều kiện để được vào thiên đàng (cũng như để sống trong cộng đồng nhân loại), chính là sự tha thứ.  Có lẽ trong nửa sau cuộc đời mình, việc khiến chúng ta phải đấu tranh nhiều nhất chính là hành động tha thứ: Tha thứ cho những ai đã làm chúng ta tổn thương, tha thứ cho bản thân vì những khiếm khuyết, và tha thứ cho Thiên Chúa vì dường như Ngài đã bất công để chúng ta kiệt lực khi đối diện với thế giới này.  Trong tất cả, đòi hỏi đạo đức lớn nhất chính là đừng để mình chết đi với một tâm hồn chua cay và bất dung.
  5. Sống biết ơn: Là một vị thánh nghĩa là được kích động bởi lòng biết ơn, không hơn không kém. Đừng để ai lừa mình với tư tưởng cho rằng lòng sốt sắng với chân lý, với giáo hội, và ngay cả với Thiên Chúa có thể cao hơn hay ít ra cũng ngang với đòi hỏi không nhân nhượng là chúng ta phải luôn luôn biết sống trong tâm tình biết ơn.  Thánh thiện là sống biết ơn.  Không có lòng biết ơn, chúng ta sẽ thấy mình đang làm những điều đúng cho những động cơ sai lầm.
  6. Chúc phúc hơn là chúc dữ: Chúng ta trưởng thành khi chúng ta khẳng định mình bằng điều mà chúng ta hướng đến hơn là điều mà chúng ta chống lại và đặc biệt sự trưởng thành của chúng ta được đánh dấu khi chúng ta, như Chúa Giêsu, biết tìm đến tha nhân và nhìn họ với cặp mắt chúc lành (“Xin Chúa chúc lành cho bạn!”) hơn là chúc dữ (“Bạn nghĩ bạn là ai vậy”?)  Có khả năng khen ngợi hơn là phê phán là dấu hiệu cho thấy mức độ trưởng thành của mỗi người.
  7. Sống minh bạch và lương thiện: Chúng ta không bình thường khi khư khư ôm giữ các bí mật bệnh hoạn nhất của mình, nhưng chúng ta sẽ sống lành mạnh khi chúng ta sống lương thiện.  Như Martin Luther đã từng nói, chúng ta cần “phạm tội một cách dũng cảm và chân thật.”  Sự trưởng thành không có nghĩa là chúng ta trở nên hoàn hảo hay vô tội, nhưng có nghĩa là chúng ta sống chân thật.
  8. Cầu nguyện bằng cảm xúc lẫn theo nghi thức: Nguồn năng lượng chúng ta cần để cho mình sống trong lòng biết ơn và tha thứ không nằm ở sức mạnh của ý chí nhưng ở ân sủng và cộng đoàn.  Chúng ta được vậy là nhờ cầu nguyện.  Chúng ta trưởng thành khi biết mình bất lực và biết nhờ đến sức mạnh Thiên Chúa, cũng như khi biết cầu nguyện với tha thân để cho toàn thế giới cũng sẽ cầu nguyện như vậy.
  9. Mở rộng vòng tay hơn bao giờ hết: Chúng ta trưởng thành khi định nghĩa được ai là gia đình mình (Ai là anh chị em tôi?) theo một cách đại kết, liên tôn, không phân biệt tư tưởng, không kỳ thị.  Chúng ta chỉ trưởng thành khi biết thương xót như Thiên Chúa giàu lòng thương xót, mặt trời chiếu cho cả người mình thích và không thích.  Đến một lúc, chúng ta phải thay thế các áp phích cổ động yêu thương bằng những cái chậu cái khăn để cùng tắm chung một dòng nước.
  10. Hãy ở đúng vị thế của mình, và để Thiên Chúa bảo vệ bạn:  Xét tận cùng, tất cả chúng ta đều yếu ớt, chỉ nhờ vào may rủi, và vô vọng, không bảo vệ những người chúng ta yêu mến, và cả chính chúng ta nữa.  Chúng ta không thể bảo đảm sự sống, an toàn, ơn cứu rỗi, hay sự tha thứ cho chính mình hay cho những người mình yêu thương.  Sự trưởng thành dựa trên việc chấp nhận sự thật này hơn là cứ mãi lo lắng về nó.  Chúng ta chỉ có thể làm hết sức mình, bất kể quãng đời nào, vị thế nào, giới hạn hay khiếm khuyết của mình, và tin rằng như vậy là đủ, tin rằng nếu chúng ta ngã xuống nơi chiến điểm của mình, trong chân thật, trong khi đang làm nhiệm vụ được giao, thì chính Thiên Chúa sẽ lo cho phần còn lại.

Thiên Chúa là một bậc cha mẹ yêu thương vô vàn, tràn đầy thông hiểu, và hoàn toàn cảm thông. Chúng ta trưởng thành và tự do thoát khỏi những lo lắng sai lầm, khi chúng ta hiểu được và tin tưởng sự thật đó.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

. FORMOSA: SAO CÁC NGƯỜI NHAM HIỂM và TÀN ĐỘC VỚI ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM NHƯ VẬY?

FORMOSA: SAO CÁC NGƯỜI NHAM HIỂM và TÀN ĐỘC VỚI ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM NHƯ VẬY?

Bùi Văn Bồng

Lời ngỏ gửi Lãnh đạo Tập đoàn FORMOSA: SAO CÁC NGƯỜI NHAM HIỂM và TÀN ĐỘC VỚI ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM NHƯ VẬY?

Nguyễn Đăng Quang

7-7-2016

H1Nhân dân Việt Nam ta, đặc biệt là ngư dân Hà Tĩnh, chẳng đợi đến buổi họp báo Chính phủ chiều 30/6/2016 mới biết thủ phạm gây ra thảm hoạ cá chết, biển chết ở biển miền Trung, mà ngay từ đầu tháng 4/2016, họ đã xác định chính các ngươi là nguyên nhân và thủ ác của thảm hoạ này! Người dân còn khẳng định cá chết suốt dọc trên 200 km bờ biển 4 tỉnh miền Trung không chỉ là cái đích mà nhà ngươi nhắm đến, mà đấy chỉ là khúc dạo đầu thử nghiệm cho kể hoạch diệt chủng mà các ngươi sẽ làm trong thời gian tới đối với dân tộc và đất nước này!

Ấy vậy, tại buổi họp báo cũng như trong các văn bản liên quan, bọn các ngươi đều đạo đức giả, chỉ thú nhận qua loa. Thảm hoạ môi trường biển miền Trung vô cùng nguy hiểm và trầm trọng như vậy mà các ngươi chỉ gọi đó là “sự cố” môi trường, đổ cho các nhà thầu phụ ẩn danh, rồi nói lời xin lỗi và cam kết bỏ ra 500 triệu USD để “bồi thường” thiệt hại cho “sự cố” này mà thôi! Sao các ngươi trơ tráo quá vậy? Các ngươi tưởng thế là êm xuôi hay sao? Người dân Việt Nam đã đọc văn bản lời xin lỗi của các ngươi, nhưng chưa có văn bản pháp lý (Thỏa thuận hoặc Hợp đồng) bằng giấy trắng, mực đen, dấu đỏ, trong đó nêu cụ thể các chi tiết, điều kiện, các bước bồi thường như các mục chi trả, cách thức và thời gian bồi thường, v.v…

Các ngươi xưa nay nổi tiếng là gian hùng, thớ lợ và luôn tìm cách “đi đêm” với bất cứ kẻ nào. Thế giới đều đã biết và luôn cảnh giác với các ngươi! Do vậy, ta yêu cầu các người phải công khai văn bản này cho công luận và mọi bên liên quan, đặc biệt là các ngư dân miền Trung là những nạn nhân trực tiếp của thảm họa này, được biết. Đây không chỉ là đòi hỏi của dư luận, mà đây là bổn phận và trách nhiệm pháp lý mà các ngươi đương nhiên phải tuân thủ! Các ngươi phải công bố mọi văn bản đã thỏa thuận với nhau về việc bồi thường này! Điều đó sẽ tốt không chỉ cho các ngươi mà còn tốt cho cả Chính phủ Việt Nam ta nữa! Nếu không, ta xin nói thẳng, cái kịch bản cúi đầu xin lỗi và cam kết bồi hoàn 500 triệu USD công bố trong buổi họp báo 30/6/2016 không phải là cao kiến, là thượng sách gì đâu mà là một kịch bản rất tồi, rất trơ trẽn và hạ sách của các ngươi và đồng bọn mà thôi!

Nhân đây ta cũng nói để các ngươi biết là việc Chính phủ Việt Nam chấp nhận lời xin lỗi và đồng ý nhận số tiền 500 triệu USD bồi thường của các ngươi trong khi chưa điều tra, thống kê đầy đủ các thiệt hại của người dân về vật chất, tinh thần, sức khỏe và cả sinh mạng nữa, và cũng chưa điều tra thống kê các tổn thất về kinh tế và du lịch biển, cũng như các chi phí cho việc tẩy sạch môi trường, khôi phục (hoàn nguyên) sinh thái vùng đáy biển,v.v… là một sự vội vàng đáng tiếc! Song người dân có thể thông cảm với quyết định này, nhưng nếu các người không biết điều, tiếp tục lợi dụng sự khoan dung của người khác, thì nhân dân ta sẽ không tha thứ cho bọn các ngươi đâu! Ngay cả việc các ngươi chưa bị tuyên phạt, chưa bị tạm đình chỉ hoạt động cũng như chưa bị khởi tố hình sự cũng là một ưu ái và nhân nhượng không nhỏ của Chính phủ mặc dù người dân không đồng tình!

Mọi người đều biết: Huỷ hoại môi trường là một tội danh nghiêm trọng trong mọi Bộ Luật Hình sự của các quốc gia trên thế giới. Huỷ hoại môi trường đến mức gây ra thảm hoạ môi sinh, làm ngưng trệ cuộc sống của con người trên một vùng rộng lớn suốt dọc 200km bờ biển 4 tỉnh miền Trung (có thợ lặn đã chết vì lặn xuống vùng nước thải độc, nhiều ngư dân phải cấp cứu vì bị trúng độc do ăn phải tôm, cá, mực bị nhiễm độc), làm cho môi trường sống của hàng triệu người bị đe dọa trầm trọng trong hàng chục năm! Đó không chỉ là tội ác đơn thuần mà là tội ác diệt chủng, là tội ác chống lại loài người!

Thảm hoạ cá chết chỉ là phần nổi của tảng băng chìm tội ác mà các ngươi đã gây ra đối với ngư dân 4 tỉnh miền Trung. Cái phần chìm rất lớn của tảng băng tội ác này chính là sự nguy hại cho cuộc sống sau này: Đó là nền tảng sự sống, hệ sinh thái trong lòng và dưới đáy biển mà các ngươi vừa huỷ diệt sẽ để lại hậu quả và di chứng kéo dài ít nhất là hàng chục năm cho đến nửa thế kỷ, sẽ rất khó hồi phục! Tội ác này các ngươi đã gây ra có thể nói là “trời không dung, biển không tha” đâu!

Ta nghe nói, bọn ngươi đã bị các cơ quan chức năng Việt Nam xác định là thủ phạm gây thảm hoạ cá chết, biển chết ngay từ cuối tháng 4/2016, nhưng vì nhiều lý do tế nhị khác nhau – chủ quan cũng như khách quan – nên đã không thể công bố sớm cho đến khi có được một kịch bản khả dĩ mà các bên liên hệ có thể chấp nhận được! Như vậy đã đủ nhân từ với các ngươi chưa? Trước đó, các ngươi còn trịch thượng, thông qua kẻ phát ngôn, ngang ngược và hỗn hào thách thức nhân dân và Thủ tướng Việt Nam là: Chỉ có thể chọn CÁ hoặc THÉP! Các người đã nhận được câu trả lời đanh thép là dân chọn CÁ SẠCH và MÔI TRƯỜNG SẠCH, chứ không chọn THÉP!  Nếu các ngươi thú nhận tội lỗi ngay từ đầu, công khai nhận trách nhiệm, không đổ tội cho khách quan, sẽ giúp cho Chính phủ đỡ bối rối và lúng túng, tránh được những sự việc đáng tiếc và không dễ quên giữa chính quyền và người dân trong 3 tháng căng thẳng này, ta tin rằng mọi chuyện có thể đã khác, chắc sẽ “lành” hơn cho các ngươi cũng như các bên liên hệ!

Ta thực sự không hiểu lý do tại sao Formosa Plastics các ngươi nổi tiếng là tập đoàn kinh doanh vô luân, sẵn sàng làm bất cứ điều gì để đạt lợi nhuận tối đa, là kẻ nổi danh đầu độc môi trường sinh thái, bị cả thế giới xua đuổi và bị nguyền rủa ngay tại chính quê hương, đất nước các ngươi, lại được rước về đây để thực thi kế sách đầu độc dân tộc này? Phải chăng các ngươi ỷ thế của kẻ lắm của, nhiều tiền, bỏ ra chút ít để mua những kẻ tham nhũng bản địa táng tận lương tâm, trong người không còn dòng máu con Lạc, cháu Hồng nào, để có được những ưu đãi đủ thứ:  Từ địa điểm dự án (Vũng Áng-Sơn Dương) có vị trí chiến lược rất nhạy cảm về quân sự, cho đến thời hạn đầu tư vượt khung lên đến 70 năm, từ giá thuê đất rẻ mạt cho đến mức thuế quan cực thấp,v.v… , tất cả đều vượt ngoài khuôn khổ pháp lý. Các ngươi tưởng thế là có thể yên tâm che mắt được thế gian sao?  Ai chứ người dân Việt Nam thừa tỉnh táo và cảnh giác đối với các ngươi, không bao giờ cho các ngươi và bọn tay sai thực hiện kế sách nham hiểm mà bọn ngươi ấp ủ xưa nay!

Ta thẳng thắn khuyên các ngươi: Hãy tự nguyện rời bỏ và mang theo mọi ý đồ tội ác của các ngươi khỏi xứ sở này đi vì ở đây không một ai hoan nghênh các ngươi cả, ngoại trừ bọn quan tham, bọn bán nước hại dân! Chừng nào các ngươi có mặt trên đất nước này thì nguy cơ dân tộc Việt Nam ta bị các ngươi đầu độc luôn luôn hiện hữu, môi trường sống và biển sạch rồi sẽ sớm bị các ngươi bức tử một lần nữa! Ta cũng thừa biết, tội ác này không dễ thực hiện nếu các ngươi không có sự tiếp tay, bao che, đồng lõa của bọn quan chức bản địa xấu xa, có chức có quyền! Vịêc này, nhân dân ta sẽ tính sổ sau với chúng. Nhưng lúc này nếu các ngươi công bố danh sách tên tuổi, chức vụ, bằng chứng cụ thể bọn này thì sẽ là tình tiết giảm nhẹ tội lỗi cho các ngươi sau này!

Các ngươi đừng tưởng bỏ ra 500 triệu USD là có thể xóa sạch mọi tội ác các ngươi đã gây ra. Số tiền đó có thể làm hài lòng ai đó, chứ quyết không lừa dối được các ngư dân là nạn nhân nói riêng và nhân dân Việt Nam nói chung! Cho đến nay, tổng thiệt hại về mặt vật chất và tinh thần của hơn 1 triệu ngư dân 4 tỉnh miền Trung đã có ai thống kê đầy đủ đâu? Ta e rằng 500 triệu USD kia không đủ kinh phí cho riêng việc tảy sạch môi trường biển miền Trung chứ đừng nói đến việc bồi thường thiệt hại cho trên 1 triệu ngư dân đâu? Số tiền 500 triệu USD này nghe đâu các ngươi còn tính cả cho kinh phí “hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cho hơn 1 triệu ngư dân 4 tỉnh miền Trung và gia đình của họ”, trong đó có việc “ưu tiên cho bà con ngư dân đi xuất khẩu lao động ”!? Các ngươi thật là nham hiểm cùng cực! Các ngươi đã đẩy đuổi được gần 3.000 người dân ở Sơn Dương – Vũng Áng đi rồi, nay còn định lợi dụng thảm họa này sẽ “hốt” luôn cả 1 triệu ngư dân 4 tỉnh miền Trung vĩnh viễn rời xa ngư trường để các ngươi dễ bề thao túng, làm chủ vùng biển chiến lược này của đất nước ta ư? Nếu mưu kế quỷ quyệt này thành công, Nhà nước ta sẽ lấy ai đây để thay thế “những cột mốc chủ quyền di động trên biển” nhằm bảo vệ ngư trường truyền thống và biên cương biển đảo của Tổ quốc Việt Nam ta đây? Tội ác đầu độc môi trường biển miền Trung đã chưa đủ mức “trời không dung, biển không tha” hay sao mà các ngươi còn dùng quỷ kế “ dùng người Việt đuổi người Việt” để dễ bề cướp nước ta trắng trợn như vậy? Các ngươi thực sự là những kẻ nham hiểm và tàn độc đến cùng cực đối với đất nước này!

Mặc dù các người đã quá tàn độc với dân tộc ta, nhưng vì “đại cục”, ta muốn đưa ra lời khuyên thẳng thắn là các ngươi hãy sớm tự nguyện cuốn xéo khỏi đất nước này trước khi qua muộn, nếu không các ngươi sẽ phải gánh chịu những rủi ro và khả năng hiện hữu như sau:

1 – Trước mắt, Cục Thuế tỉnh Hà Tĩnh và Tổng cục Thuế-Bộ Tài chính sẽ sớm tiến hành truy thu tất cả các khoản thuế mà các ngươi còn thiếu hoặc chây ỳ chưa chịu nạp. Ta nghe nói con số này có thể lên tới hàng ngàn tỷ VNĐ!  Ấy là chưa nói đến khả năng họ sẽ khởi kiện các ngươi ra tòa vì tội “trốn thuế”, vì họ đã có đầy đủ bằng chứng trong hồ sơ!

2 – Sau đó các ngươi chắc chắn sẽ phải đối mặt với vụ kiện dân sự tập thể mà nguyên đơn là các nạn nhân là ngư dân 4 tỉnh miền Trung. Họ sẽ đòi bồi thường thiệt hại vật chất, tinh thần, sức khỏe và tính mạng do tội ác các ngươi đã gây ra mà các ngươi đã thừa nhận (trong văn bản xin lỗi nhân dân VN ngày 28/6/2016!). Tòa sẽ căn cứ vào mức thiệt hại thực tế của các nạn nhân để đưa ra mức bồi thường. Ta tin rằng, riêng mức bồi thường dân sự này chắc chắn sẽ lớn hơn nhiều, chứ không phải chỉ là mức 500 triệu USD mà các ngươi đã thỏa thuận khống và trọn gói kia đâu!

3- Và rồi tiếp theo sau đó các ngươi sẽ phải đương đầu với khả năng (ta dùng từ khả năng, nhưng ta tin chắc đây là hiện thực) sẽ có những hội đoàn và cá nhân Việt Nam yêu cầu khởi tố hình sự các ngươi trước các Tòa án Việt Nam và nếu các ngươi né được ở đây thì Tòa Hình sự ở Đài Loan hoặc một Tòa Hình sự quốc tế khác sẽ thụ lý các đơn kiện này! Hẳn các ngươi sẽ thừa biết hậu quả sẽ như thế nào nếu luật pháp xử lý hình sự tội ác này! Các ngươi sẽ không chỉ phải bồi thường mà các ngươi sẽ còn bị phạt vạ một số tiền không nhỏ vì đã gây ra tội ác thảm họa môi trường, các ngươi sẽ phải bỏ ra không phải là 500 triệu USD mà chắc chắn sẽ gấp hàng chục lần số tiền đó để khắc phục hậu quả, hoàn nguyên môi trường biển!  Hơn nữa, và đây là điều quan trọng, rồi trong số các ngươi sẽ có kẻ lĩnh án tù, tập đoàn FORMOSA sẽ bị buộc phải ngừng hoạt động hoặc đóng cửa vĩnh viễn, lúc đó hẳn các ngươi sẽ lâm vào vũng lầy phá sản!

Các ngươi đừng tưởng có thể dễ “chạy” để khỏi bị khởi tố hình sự bằng túi tiền của các ngươi đâu. Vì nếu các cơ quan tư pháp có chức năng tố tụng không chịu khởi tố hình sự các ngươi thì chính họ sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự vì tội cố ý bỏ lọt tội phạm vì đã “Không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội” theo quy định tại Điều 294 Bộ luật Hình sự năm 1999 và tại Điều 369 Bộ luật Hình sự năm 2015. Ta thiết nghĩ trên đời chẳng có mấy ai vì nhân đạo hay lý do nào đó mà chạy tội cho thủ phạm để rồi chính mình sẽ bị truy tố và phải ngồi tù thay cho thủ phạm đâu! Do vậy các ngươi đừng có đắc thắng và vội ảo tưởng!

Trên là vài lời ngỏ của cá nhân người viết gửi Ban lãnh đạo Tập đoàn Formosa Plastics ở Đài Loan, ở Trung Quốc lục địa cũng như ở Việt Nam. Ta mong các ngươi nghiêm túc lắng nghe và thật sự phục thiện, sớm hồi tâm và hối cải!

Hà Nội, ngày 7/7/2016.

Suy nghĩ bên đèn đỏ ở Nara

Suy nghĩ bên đèn đỏ ở Nara

Trần Trung Đạo (Danlambao) – …Những hiện tượng bất nhân, độc ác giữa người và người đang thấy tại Việt Nam chỉ là quả chứ không phải là cây và do đó hái dăm trái thối hay thậm chí hái hết trái trên cây đi nữa sang mùa khác chúng sẽ được sinh ra. Tội ác sẽ không bao giờ xóa được khi các nguyên nhân gây ra tội ác vẫn còn tồn tại. 

Và nguyên nhân chính của mọi thảm trạng trên đất nước ngày nay là cơ chế độc tài CS. Do đó, thay đổi mà Việt Nam cần là thay đổi cơ chế CS đang thống trị Việt Nam bằng một chế độ tự do dân chủ làm tiền đề cho công cuộc phục hưng toàn diện Việt Nam…
*

Hai tuần trước trên đường từ cố đô Nara về lại Kyoto, chiếc xe bus du lịch dừng trước đèn đỏ của một ngã tư. Một toán học sinh Nhật khoảng lớp sáu hay lớp bảy băng qua đường. Nhật Bản đang vào mùa hè và học sinh còn nghỉ học nhưng các em hình như đang trở về từ một sinh hoạt tập thể nên đều mặc đồng phục áo trắng quần xanh.

Đèn bắt đầu chớp. Ba em cuối cùng trong toán cố vượt theo bạn dù tiếng chuông trên trụ đèn đã báo sắp hết giờ dành cho người đi bộ. Dĩ nhiên xe bus tiếp tục dừng để các em đi qua hết. Ba em cuối cùng băng nhanh qua đường nhưng thay vì chạy theo cùng các bạn, các em dừng lại, sắp hàng ngang nghiêm chỉnh hướng về phía xe bus và cúi gập người xuống để xin lỗi và cám ơn anh tài xế.

Nhìn học sinh Nhật, người viết chợt nhớ thế hệ mình ngày xưa. Học trò miền Nam được dạy không chỉ cúi đầu thôi mà còn vòng tay để chào, cám ơn hay xin lỗi các bậc trưởng thượng. Trên đường, khi gặp một đám tang đi qua, chúng tôi được dạy phải đứng nghiêm trang và dở mũ xuống nếu đội mũ, cúi đầu kính tiễn biệt người quá cố cho đến khi xe tang qua hẳn mới tiếp tục đi. Khi thầy hay cô vào lớp, chúng tôi được dạy cả lớp phải đứng dậy chào và chờ cho đến khi thầy hay cô ngồi xuống, chúng tôi mới được ngồi. Khi có người lớn tuổi đến nhà, chúng tôi được dạy phải vòng tay cúi chào thưa theo đúng thứ bậc so với cha hay so với mẹ. Dù đang đi đâu, khi nghe tiếng Quốc Ca cất lên, từ một trại lính hay một công sở nào đó, chúng tôi được dạy phải đứng lại nghiêm chỉnh để chào cho đến khi bài Quốc Ca chấm dứt. Mỗi sáng thứ Hai trên bảng đen trong lớp học bao giờ cũng bắt đầu bằng một câu châm ngôn đầu tuần thắm đậm tình dân tộc như “uống nước nhớ nguồn”, “ăn trái nhớ kẻ trồng cây” hay tương tự và chúng tôi được dạy phải dành vài phút đầu tuần để học về ý nghĩa của câu châm ngôn đó. Trong giờ Công Dân Giáo Dục, chúng tôi được dạy trung thành với tổ quốc Việt Nam chứ không phải với riêng một đảng phái nào. Trên tường của trường Trần Quý Cáp ở Hội An nơi người viết học và hầu hết trường trung học, tiểu học ở miền Nam đều có hàng chữ chạy dài “Ngày nay học tập, ngày mai giúp đời”. Và rất nhiều lễ nghi, phép tắc đạo lý đáng quý, đáng giữ gìn khác.

Hôm trước, Nguyễn Hồng Quốc, một bạn học lớp đệ Tam (lớp 10) ở Trung Học Trần Quý Cáp kể lại trên Facebook “Qua Trần Trung Đạo mình có được thông tin về thầy Phan Đình Trừng sau 44 năm không gặp, thầy dạy sử và công dân mình thời trung học đệ nhị cấp, thầy có giọng nói hùng hồn đầy tự tin nghe thầy giảng bài thật thú vị… năm Đệ Tam vào giờ công dân thầy kêu mình lên dò bài, thầy đặt trên bàn lá Quốc kỳ thầy bắt mình tay phải đặt lên lá cờ, tay trái đặt lên ngực đọc lời tuyên thệ “Tôi là công dân VNCH nguyện tuyệt đối trung thành với Tổ quốc Xin thề. Xin thề”. Mình đọc thật to và dõng dạc được thầy cho 20 điểm trên 20… Thấm thoát đã 44 năm rồi từ một đứa học trò hồn nhiên vô tư ngày nào giờ đây tóc đã hoa râm”. 

Câu chuyện rất bình thường của 44 năm trước nhưng kể lại cho các thế hệ hôm nay nghe giống như chuyện cổ tích.

Miền Nam phải chịu đựng chiến tranh và tàn phá nhưng vẫn cố gắng hết sức để duy trì và phát huy các giá trị nhân bản trong chừng mực còn phát huy được. Từ những hố hầm bom đạn, bông hoa tự do dân chủ vẫn cố nở ra, vẫn cố vươn lên. Nhựa nguyên nuôi dưỡng thân cây non đó là Hiến pháp VNCH.

Hiến pháp VNCH do chủ tịch Quốc hội Lập hiến Phan Khắc Sửu ký ngày 18 tháng 3 năm 1967 ghi rõ: “Ý thức rằng sau bao năm ngoại thuộc, kế đến lãnh thổ qua phân, độc tài và chiến tranh, dân tộc Việt Nam phải lãnh lấy sứ mạng lịch sử, tiếp nối ý chí tự cường, đồng thời đón nhận những tư tưởng tiến bộ để thiết lập một chánh thể cộng hòa của dân, do dân và vì dân, nhằm mục đích đoàn kết dân tộc, thống nhất lãnh thổ, bảo đảm Độc lập Tự do Dân chủ trong công bằng, bác ái cho các thế hệ hiện tại và mai sau.” 

Những yếu tố nào làm cho người Nhật ngày nay được nhân loại khắp năm châu kính nể?

Câu trả lời dễ dàng và nhanh chóng mà ai cũng có thể đáp là nhờ nền tảng văn hóa Nhật. Thật ra câu trả lời đó chỉ đúng một phần. Nền văn hóa của một đất nước chỉ xứng đáng được kính trọng khi nền văn hóa đó không chỉ là kết tụ giá trị văn hóa riêng của dân tộc mà còn phải phù hợp với giá trị văn minh chung của thời đại.

Không ai phủ nhận Đức là quốc gia có nền văn hóa cao nhất tại Châu Âu. Trước năm 1945, Đức là một trong ba quốc gia được nhiều giải Nobel nhất. Bao nhiêu triết gia, khoa học gia, văn sĩ, thi sĩ nổi tiếng thế giới đã sinh ra ở Đức. Nhưng chế độ Quốc Xã Hitler do chính nhân dân Đức bầu lên lại là một trong vài kẻ giết người tàn bạo nhất trong lịch sử loài người và chà đạp lên mọi giá trị văn minh của nhân loại.

Nhật Bản trước năm 1945 cũng vậy. Nhật Bản có giá trị văn hóa cao, một dân tộc có kỷ luật nghiêm khắc nhưng không phải là một nước văn minh nhân bản. Bước chân của đạo quân Nhật đi qua cũng để lại những điêu tàn, thảm khốc từ Mãn Châu, sang Triều Tiên, xuống Mã Lai, Singapore, Việt Nam không khác gì vó ngựa của đạo quân Mông Cổ đi qua trong nhiều trăm năm trước. Cơ quan mật vụ Nhật tại Singapore tàn sát khoảng 50 ngàn người dân Singapore một cách không phân biệt. Chính sách đồng hóa thay tên đổi họ đối với Triều Tiên là một bằng chứng tội ác khó quên. Nạn đói tại Việt Nam năm 1945 với hàng triệu đồng bào miền Bắc chết thảm thương một phần là do chính sách ác độc tịch thu thóc để nuôi ngựa của quân đội Nhật.

Do đó, câu trả lời chính xác, chính hiến pháp dân chủ 1946 đã làm cho nước Nhật hoàn toàn thay đổi, giúp cho người Nhật biết kính trọng con người, không chỉ riêng con người Nhật như trước đây, và tôn trọng luật pháp mà chính họ đặt ra.

Phần nhập đề của Hiến Pháp 1946 khẳng định chính phủ do dân và vì dân của Nhật Bản sẽ hợp tác hòa bình với tất cả các quốc gia trên thế giới trong ánh sáng tự do dân chủ, đặt chủ quyền của nhân dân làm căn bản cho hiến pháp và kính trọng sâu sắc của Nhật về quyền của con người được sống trong tự do và không sợ hãi. Tóm lại, cơ chế chính trị thời đại chuyên chở trong Hiến Pháp Nhật 1946 hội nhập hài hòa với văn hóa Nhật và làm cho dân tộc Nhật khác đi trong nhãn quan thế giới.

Việt Nam cần thay đổi gì? 

Con thuyền Việt Nam đang phải chở một cơ chế chính trị độc tài, lạc hậu về mọi mặt so với đà tiến của văn minh nhân loại, một nền giáo dục hủy diệt mọi khả năng sáng tạo, một xã hội tham nhũng thối nát trong đó giới lãnh đạo thờ ơ trước đòi hỏi bức thiết của nhân dân và nhân dân không có niềm tin nơi giới lãnh đạo.

Việt Nam cần thay đổi. Ai cũng có thể đồng ý như vậy, nhưng thay đổi gì trước? Đổi mới kinh tế? Cải cách giáo dục? Chống tham nhũng? Nới lỏng chính trị? Không. Một mảnh ván, một lớp sơn không làm chiếc thuyền chạy nhanh hơn.

Như người viết đã viết trong bài trước, những hiện tượng bất nhân, độc ác giữa người và người đang thấy tại Việt Nam chỉ là quả chứ không phải là cây và do đó hái dăm trái thối hay thậm chí hái hết trái trên cây đi nữa sang mùa khác chúng sẽ được sinh ra. Tội ác sẽ không bao giờ xóa được khi các nguyên nhân gây ra tội ác vẫn còn tồn tại.

Và nguyên nhân chính của mọi thảm trạng trên đất nước ngày nay là cơ chế độc tài CS. Do đó, thay đổi mà Việt Nam cần là thay đổi cơ chế CS đang thống trị Việt Nam bằng một chế độ tự do dân chủ làm tiền đề cho công cuộc phục hưng toàn diện Việt Nam.

07.07.2016

Trần Trung Đạo

danlambaovn.blogspot.com

Ân Nghĩa & Oán Hận

Ân Nghĩa & Oán Hận

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

tuongnangtien's picture

RFA

Sau gần một thập niên giữ chức Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hà Nội, ông Nguyễn Thế Thảo đã hạ … cánh an toàn, và để lại (hơi) nhiều điều tai tiếng. Người kế nhiệm, ông Nguyễn Đức Chung, tuy mới nhận việc chưa lâu nhưng đã được dân chúng và nhiều ban ngành đoàn thể “hoan nghênh” và “ngợi khen” không ngớt – theo như nguyên văn cách dùng từ của giới truyền thông thuộc nhà nước Việt Nam:

Hôm nay, Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Đức Chung sẽ ký quyết định tuyển dụng đặc cách vợ của phi công Trần Quang Khải vào dạy tại trường Chu Văn An.

Trước nỗi đau, mất mát to lớn về con người sau khi sự ra đi của phi công, Đại tá Trần Quang Khải (thuộc Trung đoàn không quân 923, Quân chủng Phòng không – Không quân, đóng tại sân bay Sao Vàng, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa) gặp nạn khi luyện tập nghiệp vụ, Chủ tịch UBND TP Hà Nội đã có quyết định kịp thời để động viên, chia sẻ với thân nhân gia đình phi công Trần Quang Khải vơi đi nỗi đau, vượt lên khó khăn trong cuộc sống...

Trước việc làm kịp thời của người đứng đầu chính quyền UBND TP Hà Nội, Bộ Giáo dục và Đạo tạo cũng hết sức ghi nhận và hoan nghênh về chủ trương rất kịp thời này của Chủ tịch Nguyễn Đức Chung cùng  các sở, ban ngành liên quan.

Sau khi biết được chủ trương rất kịp thời từ Chủ tịch Nguyễn Đức Chung, nhiều bạn đọc đã gửi những lời cảm ơn, chia sẻ về nghĩa cử cao đẹp đáng ngợi khen của vị lãnh đạo này.

Thiếu tướng Nguyễn Đức Chung (trái) nhận lời chúc mừng của người tiền nhiệm Nguyễn Thế Thảo. Ảnh và chú thích: báo Kinh Doanh 

Công luận, buồn thay, vẫn có dăm ba điều tiếng (eo sèo) về “nghĩa cử cao đẹp đáng ngợi khen của vị lãnh đạo này.”

     – Lã Yên:

“Rõ ràng đây là việc làm cảm tính, không phân biệt chuyện công tư, và quan trọng là    không dựa vào điều luật nào cả. Việc này ban đầu tưởng hay nhưng hóa dỡ, nó sẽ khiến nhiều người không phục, không công bằng, nó giống như một sự ban ơn, sẽ tạo một tiền lệ không tốt.

Một câu hỏi được đặt ra là, vậy người thân của những phi công hi sinh trên chiếc Casa có được đặc cách gì đó không? Rồi những người lính khác hi sinh trong khi làm nhiệm vụ sẽ thế nào? Hay như những ngư dân “cột mốc sống bảo vệ chủ quyền” bị bắn chết trên biển ai tiếc thương họ? ai vinh danh họ? ai trợ giúp gia đình họ?”

     – Mạc Văn Trang:

“Trong lúc gia đình liệt sĩ Khải đau đớn, tang gia bối rối, tập trung hết tình cảm, sức lực vào lo đám tang, thì mọi sự thông cảm, giúp đỡ hay thực hiện chính sách [nên làm] sao cho tế nhị, không làm xáo động tâm trạng tang gia…

Nếu ông Chủ tịch Hà Nội quan tâm, thì đến thăm viếng, chia buồn và nói riêng, hoặc để lại dòng chữ cho vợ liệt sĩ, rằng xin chị an lòng, sẽ sắp xếp chị vào làm giáo viên Hà Nội… Việc gì ông phải tuyên bố rùm beng, đưa vào trường Chu Văn An, rồi cho báo đài đưa tin ầm ĩ? Người ta có quyền nghĩ, ông lợi dụng việc này để quảng cáo cho ông là chính!”

Tôi thât tiếc là đã không thể đồng tình với những ý kiến (trái chiều) thượng dẫn. Theo Wikipedia tiếng Việt thì ông Nguyễn Đức Chung hiện đang là Ủy Viên Trung Ương Đảng khóa XII mà Đảng thì có nguyên cả một đội ngũ dư luận viên chuyên “đánh bóng lư đồng.” Chủ Tịch Thành Phố Hà Nội, do đó, cần chi phải tự vái mình – trừ trường hợp ông có chu cầu muốn “quảng cáo” thêm (cho nó chắc ăn) như vị Chủ Tịch Nước, với bút danh Trần Dân Tiên, ngày trước.

Tôi cũng rất tiếc là Đảng đã không trao cho Nguyễn Đức Chung những trọng trách lớn lao hơn – ở tầm mức quốc gia – để cả nước được nhờ (chứ không riêng gì vợ con của phi công Trần Quang Khải) vào “quyết định kịp thời” và “nghĩa cử cao đẹp đáng ngợi khen” của ông.

Xin đơn cử một thí dụ, một “quyết định muộn màng.” Ngày 29 tháng 3 năm 2016 vừa qua, báo Quân Đội Nhân Dân hân hoan thông báo:

“Từ ngày 1-1-2016, các chế độ, chính sách đối với dân công hỏa tuyến tham gia kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế được quy định tại Quyết định số 49/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ được thực hiện trên phạm vi toàn quốc…

Các đối tượng đáp ứng đủ các điều kiện thì được hưởng chế độ trợ cấp một lần; chế độ bảo hiểm y tế và chế độ trợ cấp mai táng phí. Trợ cấp một lần từ 2 đến 3,5 triệu đồng…

Dưới 1 năm, mức trợ cấp bằng 2.000.000 đồng; đủ 1 năm đến dưới 2 năm, mức trợ cấp bằng 2.700.000 đồng; từ đủ 2 năm trở lên, mức trợ cấp bằng 3.500.000 đồng…”

Nữ dân công hỏa tuyến & nhiệm  vụ quốc tế. Ảnh: tạp chí Tài Chánh

Tôi sinh trưởng ở miền Nam, nơi mà người ta chỉ cần làm ngày là đủ, chớ không ai phải tranh thủ làm đêm (làm thêm giờ nghỉ) và phải làm luôn “nhiệm vụ quốc tế” (nữa) nên không biết chi về công tác của lực lượng “dân công hoả tuyến” cả. Lò mò tìm hiểu thì được ông Hà Xuân Định, Chính Trị Viên Đại Đội Dân Công Hỏa Tuyến Mặt Trận B5, cho biết như sau:

“Nhiệm vụ đầu tiên của dân công hỏa tuyến lúc bấy giờ là tiếp tế đạn trực tiếp cho chiến trường, nơi diễn ra các trận đánh ác liệt, giằng co giữa ta và địch…

Riêng đoàn dân công Quảng Bình phục vụ vận chuyển đã đạt 135% kế hoạch đề ra. Trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu xuất hiện những tập thể, cá nhân tiêu biểu như Đại đội 2 do đồng chí Hồ Thị Thu Hiền chỉ huy liên tục vận chuyển gạo, đạn, tải thương phục vụ chiến đấu đạt hiệu suất cao, sau đợt phục vụ chiến dịch, đơn vị được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhì; đồng chí Dương Văn Tiên (xã Phú Trạch) thường xuyên gùi hàng với mỗi chuyến 100 kg; đoàn xe đạp thồ của tỉnh Thanh Hóa đạt năng suất vận chuyển cao.

Chiếc xe đạp thồ của anh Nguyễn Đức Thọ (huyện Đông Sơn – Thanh Hóa) chở mỗi chuyến trên 500 kg… Những chiến công của lực lượng dân công hỏa tuyến các địa phương Quân khu 4 đã góp phần quan trọng vào thắng lợi lịch sử của chiến dịch Đường 9 – Nam Lào…”

Qúi đồng chí Hồ Thị Thu Hiền, Dương Văn Tiên,  Nguyễn Đức Thọ  … nếu còn sống sót, và vẫn còn giữ được những huân chương chiến công (làm bằng) thì họ sẽ là đối tượng của Quyết Định số 49 (ký vào ngày 14 tháng 10 năm 2015) và sẽ được hưởng chế độ trợ cấp một lần … từ 2 đến 3,5 triệu đồng” …

Thiệt là tình nghĩa và tử tế hết biết luôn. Thảo nào mà ông nhà báo Duy Đức phải thốt nên đôi lời cảm kích:

Quyết định 49 của Thủ tướng Chính phủ mang đậm tính nhân văn, phù hợp đạo lý, truyền thống dân tộc, thoả lòng mong ước của hàng vạn dân công hoả tuyến qua các thời kỳ trong cả nước. Những chàng trai cô gái tuổi mười tám, đôi mươi ngày ấy nay đã vào tuổi 60, thậm chí có cả những người đến tuổi “xưa nay hiếm.

Sự “cảm kích” của ông Đức khiến tôi nhớ đến những câu thơ, viết về những cô Thanh Niên Xung Phong, của thi sĩ Anh Ngọc:

Có những người leo núi
Vượt qua dốc Cổng Trời
Là những cô con gái
Qua tuổi mình ba mươi…

Cơn sốt rét triền miên
Tóc mọc rồi lại rụng
Mùa xuân thành báo động
Đoá hoa nhầu trên tay…

Đi qua tuổi ba mươi
Nhọc nhằn và lặng lẽ
Bao ước mơ giản dị
Mà sâu thẳm không cùng

Hơn mọi sự anh hùng
Là điều này nhỏ bé
Làm vợ và làm mẹ

Tuổi ba mươi chối từ …

Dân công hỏa tuyến, thanh niên xung phong san lấp hố bom do địch bắn phá tại đường Trường Sơn. Chú thich:Báo Tin Tức.  Ảnh: Hữu Ngôi-TTXVN

Sau cuộc chiến – nếu sống còn – những “đoá hoa nhầu,”  hay những quả chanh khô (theo như cách nói bạc bẽo của đời thường) có tên gọi là nữ TNXP đều trở thành những con số không tròn trĩnh: không chồng, không con, không nhà, và không chế độ!

Ông Nguyễn Đức Chung còn khá trẻ, hoạn lộ còn dài. Hy vọng, sẽ có lúc vị CTUBNDTPHN được giữ chức Thủ Tướng để “kịp thời” ký một cái Quyết Định về “chính sách được hưởng chế độ” cho đám TNXP. Họ đã “đi qua tuổi ba mươi, nhọc nhằn và lặng lẽ.” Phần lớn (nay) đang bước vào tuổi bẩy mươi, cũng lặng lẽ và nhọc nhằn không kém mà vẫn chưa được hưởng chế độ gì ráo trođi – dù chỉ một lần, và rất tượng trưng!

Hiện tượng cá chết nhìn qua Luật Sinh Tồn của dân tộc

Hiện tượng cá chết nhìn qua Luật Sinh Tồn của dân tộc

 Lê Minh Nguyên

Hiện tượng cá chết xuất hiện ở bốn tỉnh miền Trung bắt đầu từ ngày 6/4/2016 và trãi dài từ Hà Tỉnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế. Chất độc theo dòng hải lưu và lây lan sang các tỉnh phía nam như Quảng Nam-Đà Nẵng và đi vào sợi dây chuyền thực phẩm như rong rêu, nghêu, sò, cá, chim, muối… và tiếp tục hiện hữu như trầm tích kéo dài nhiều thập niên để tương tác vào dây chuyền thực phẩm, gây ung thư lên sức khoẻ người dân như đã xảy ra trước đây ở nhiều nơi trên thế giới mà điển hình là Vịnh Minamata bên Nhật kéo dài hơn nửa thế kỷ (bit.ly/29dA2I0).

Do đặc tính của chế độ là bưng bít và tuyên truyền nên đại nạn này, nó ảnh hưởng trực tiếp lên sức khoẻ của hàng triệu người dân, phải mất gần ba tháng mới được chính quyền chính thức công bố hôm 30/6/2016. Sự công bố là kết quả của một sự thương lượng kín giữa chính quyền CSVN và công ty Hưng nghiệp Formosa Hà Tĩnh (FHS – Formosa Hatinh Steel Corporation), nạn nhân hoàn toàn bị gạt ra bên ngoài làm kẻ bàng quan. Theo luật sư Trần Vũ Hải, mặc dù FHS đã chịu trách nhiệm và nhận lỗi, nhưng vẫn chưa chân thành, họ vẫn cho rằng trách nhiệm của họ không lớn mà đó là bởi lỗi của các nhà thầu phụ (bit.ly/29ewRMu).

Số tiền 500 triệu đôla bồi thường là một sự móc ngoặc của CSVN và FHS, nó được nặn ra (mà không cho biết căn cứ vào đâu) để CSVN chứng tỏ là có thực thi vai trò lãnh đạo, hơn là giải quyết một cách có trách nhiệm vấn đề, vì nó quá nhỏ và gần như vô nghĩa so với sự sinh tồn của hàng triệu dân mà nhiều khía cạnh sinh tử khác không được minh bạch chỉ ra. Các chuyên gia cho rằng vụ việc chưa thể kết thúc tại đây vì những tác động lâu dài vẫn còn đó và chưa rõ hướng khắc phục. Cựu Thứ trưởng Bộ Tài Nguyên và Môi trường GS Đặng Hùng Võ nói rằng đền bù mới chỉ giải quyết được “cái ngọn của vấn đề” (bit.ly/29dMJ5w).

Luật Sinh Tồn nhấn mạnh đến khía cạnh giao thoa giữa sinh vật với môi trường sống. Môi trường sống quyết định không gian sinh tồn và quan năng biến cải quyết định sự sinh tồn hay sự tuyệt chủng của sinh vật. Hai vấn đề then chốt của sinh tồn là môi trường có còn hổ trợ cho sự sống của sinh vật hay không và sinh vật có khả năng biến cải theo sự thay đổi của môi trường hay không (với điều kiện môi trường tuy thay đổi nhưng còn sinh khí).

Áp dụng vào trường hợp cá chết, ta thấy FHS đã huỷ diệt môi trường sống của ngư dân, điển hình là CSVN nói sẽ dùng một phần trong số tiền này để “chuyển đổi nghề nghiệp sang khu vực dịch vụ, thương mại, nông nghiệp…” cho khoảng một triệu ngư dân bị ảnh hưởng. Nó giết đi ngành nghề chiến lược của một quốc gia biển, nghề vừa phục vụ sự sinh tồn cá nhân của ngư dân, vừa phục vụ sự sinh tồn của dân tộc trong việc bảo vệ ngư trường và biển đảo, giết với giá rẻ mạt $500/người (bit.ly/29dOrUO).

Đây có thể không phải là vô tình mà là chủ ý của FHS, nhưng FHS đã không ngờ rằng thay vì gây ra tác hại từ từ thì độc tố lại giết tất cả trong một vùng rộng lớn, từ sinh vật nước cạn đến sinh vật nước sâu. Sự chủ ý đã được lộ ra mà điển hình là ngay sau khi sự cố nổ bùng, ông Chu Xuân Phàm, Giám đốc đối ngoại FHS, hôm 25/4 trả lời kênh truyền hình VTC News, nói rằng Hà Tĩnh “không thể được cả hai nên phải lựa chọn, hoặc là nhà máy thép, hoặc là cá tôm”, chứng tỏ FHS đã biết điều chết cá này từ trước. Nếu dân không đánh bắt cá được thì làm sao Việt Nam tranh chấp được ở Hoàng Sa, khi đội quân triệu người đã bị đối phương tiêu diệt? (bit.ly/29dQzM8).

Khối dân tộc Việt ở bốn tỉnh miền Trung giờ đây đứng trước ngã ba của Luật Sinh Tồn, khi vùng đất nước này (hay không gian sinh tồn) đang mất dần sinh khí. Không gian sinh tồn này tồn tại cơ bản là nhờ vào yếu tố biển, vì nơi đây đất hẹp dựa lưng Trường Sơn và khô cằn sỏi đá. Nay yếu tố biển không còn nữa thì quan năng biến cải phải như thế nào nếu không muốn bị diệt vong?

Trước ngã ba đường này Luật Sinh Tồn bảo rằng dân ta phải Tranh Đấu, trong gene của dân tộc Việt thì cái code tranh đấu đã được khắc ghi từ khi dân tộc này hiện hữu. Dân tộc phải tranh đấu với thiên nhiên, với kẻ thù đe doạ sự sinh tồn, dù đó là Trung Quốc, là FHS hay CSVN. Dân tộc ta là dân tộc biển, với bờ biển dài xinh đẹp đã bảo vệ sự sinh tồn của dân ta từ nghìn năm, ngày nay CSVN đã cho dựng lên trên 30 nhà máy gây ô nhiễm thay vì là các trung tâm du lịch, chưa kể các nhà máy điện nguyên tử dự trù xây ở Ninh Thuận sau này. Nó chỉ phục vụ quyền lợi của Đảng CSVN qua tham nhũng đậm trong các chương trình xây dựng bạc tỷ đôla và qua phát triển bằng mọi giá để phục vụ việc nắm quyền mà không cần biết đến không gian sinh tồn và dòng sống của dân tộc sẽ bị di hại ra sao!

Luật Sinh Tồn bảo rằng dân ta phải tranh đấu chống chính sách diệt chủng dân tộc Việt Nam của Cộng sản TQ, chống những kẻ đang tiếp tay cho chính sách này là FHS và CSVN. Và để chiến thắng trong cuộc tranh đấu này, chúng ta phải có sức mạnh, khả năng biến cải và sự hợp quần.

Sức mạnh ở đây là sức mạnh hợp lực của toàn dân ta ở bên trong và bên ngoài Việt Nam. Sự biến cải để chúng ta sử dụng được lợi thế của môi trường như làm sao cho thế giới và nhất là Hoa Kỳ hiệp lực để bảo vệ sự sinh tồn của ta, hay sự đương đầu bất cân xứng (asymmetrical) với đối thủ mạnh hơn ta (David chống Goliath), thí dụ VN có thể trang bị 2,000 hoả tiễn BrahMos dọc bờ biển với giá khoảng 2 triệu đôla/quả (hay 4 tỷ đôla) để tạo không gian “không cho tiếp cận/từ chối vào vùng” (A2/AD – Anti-Access/Area Denial), một phiên bản MAD của VN (Mutual Assured Destruction) để TQ biết rõ rằng sự sinh tồn của dân VN cũng là sự sinh tồn của dân TQ. Nếu thương lượng được với Ấn Độ để sản xuất tại VN, nó có thể rẻ hơn nhiều và số lượng có thể gấp đôi hơn. Vì có cùng kẻ thù, Ấn Độ có thể chia sẻ bản quyền cho VN. Sự hợp quần gây sức mạnh của dân ta sẽ dễ thực hiện hơn với những quốc gia có cùng cảnh ngộ, như Nhật, Phi, Ấn, vì họ đang là nạn nhân của một TQ xâm lược.

Các đại cường có khuynh hướng làm ra luật của họ chứ không muốn tuân theo luật do nước khác làm ra, hay chấp nhận phán quyết của ai đó cho dù là Toà án Quốc tế, cũng như không muốn xin lỗi ai. TQ đang có cung cách này và HK đã có từ lâu. Lịch sử của VN phần lớn là đấu tranh sinh tồn với TQ, dân tộc Việt đã tìm cách thoát khỏi sự đồng hoá của TQ nhờ vào năng lực biến cải, từ văn tự đến văn minh. Ông Robert D. Kaplan trong quyển Asia’s Cauldron nhận xét rằng nếu dân Việt không biến cải để tiếp cận với các nền văn minh khác như Ấn Độ và Hồi giáo thì đã bị TQ đồng hoá từ lâu.

Chủ nghĩa Cộng sản đặt nặng nghĩa vụ quốc tế hơn quyền lợi quốc gia. Luật Sinh Tồn của dân tộc lấy quyền lợi quốc gia dân tộc làm nền tảng cho sự sinh tồn của công dân. Trong vấn đề cá chết, sự sinh tồn của công dân và của cả dân tộc bị đe doạ, mối đe doạ lớn nhất là chính quyền (qua Đảng CSVN) không bảo vệ dân mà chỉ lo độc quyền lãnh đạo, nó đưa đến chính quyền móc ngoặc với tư bản cá mập cá xà và chỉ lo làm đẹp lòng kẻ muốn tiêu diệt dân tộc VN.

Luật Sinh Tồn thôi thúc sự tranh đấu của dân ta và không chấp nhận sự diệt chủng. Để lấy lại không gian sinh tồn, như truyền thống dân tộc đã chứng minh, sự khởi nghĩa thường phát xuất từ các tỉnh Miền Trung, nơi mà sự sinh tồn của dân tộc dễ bị đe doạ và dễ bị ảnh huởng nặng nề, vì không gian sinh tồn khắc nghiệt hơn miền Bắc và miền Nam.

Đã đến lúc dân tộc đứng lên bảo vệ sự sinh tồn và các tỉnh đang mất không gian sinh tồn của miền Trung ra tay phất cờ chủ đạo.

L.M.N.

Nguồn: bit.ly/29eaF8Z

(http://leminhnguyen-articles.blogspot.com/2016/07/hien-tuong-ca-chet-nhin-qua-luat-sinh.html?m=1)

clip_image002

‘Ngậm miệng’ vụ ngư dân bị ép nhận ‘Biển Đông của Trung Quốc’

‘Ngậm miệng’ vụ ngư dân bị ép nhận ‘Biển Đông của Trung Quốc’

Người Việt

3-7-2016

Ông Võ Văn An (trái) thuyền trưởng tàu đánh cá mang số hiệu QB 93694 đang bị Trung Quốc tạm giữ. Hình: Người Lao Động.

HÀ NỘI (NV) – Vẫn chưa thấy Bộ Ngoại Giao Việt Nam lên tiếng phản đối về việc Trung Quốc bắt hai tàu đánh cá và 17 ngư dân, ép họ ký vào các văn tự thừa nhận Biển Đông của Trung Quốc.

Hôm 16 tháng 6, một chiến hạm của hải quân Trung Quốc đã phối hợp với ba tàu đánh cá của Trung Quốc bắt giữ hai tàu đánh cá một mang số hiệu QB 93694 và một mang số hiệu QB 93480 với 17 ngư dân khi hai tàu này đang đánh cá ở vịnh Bắc bộ.

Cả hai tàu lẫn 17 ngư dân cùng bị áp giải về đảo Hải Nam. Tại đó, mỗi ngư dân bị ép ký 8 tờ giấy. Riêng hai thuyền trưởng, mỗi người bị ép ký hàng trăm tờ giấy. Tất cả đều viết bằng Hán tự nhưng một tờ trong số đó có tiếng Việt, ghi sẵn câu: “Tôi xác nhận biển Đông và Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc.”

Các nạn nhân kể rằng, không ai dám từ chối ký vì những kẻ “thi hành công vụ” của Trung Quốc dọa rằng, ai không ký thì không những không được thả mà còn bị đánh.

Sau năm ngày tạm giữ 17 ngư dân, Trung Quốc đã đẩy 17 ngư dân xuống tàu đánh cá mang số hiệu QB 93480 để họ tự tìm đường về. Tàu mang số hiệu QB 93694 vẫn đang bị Trung Quốc tạm giữ.

Chỉ có vài tờ báo tại Việt Nam đề cập đến sự kiện này. Ngày 25 tháng 6, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Việt Nam xác nhận, hải cảnh Trung Quốc có thông báo cho Việt Nam về việc bắt giữ hai tàu đánh cá QB 93480, QB 93694 và 17 ngư dân. Bộ Ngoại Giao Việt Nam đã chỉ đạo Đại Sứ Quán Việt Nam tại Trung Quốc “làm việc với các cơ quan hữu trách của Trung Quốc đề nghị nhanh chóng thả các tàu đánh cá và ngư dân Việt Nam.”

Phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Việt Nam nói thêm rằng, đối với thông tin ngư dân Việt Nam bị Trung Quốc ép ký các văn tự công nhận Biển Đông và Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc mà báo giới cung cấp, Bộ Ngoại Giao Việt Nam đã chỉ đạo Đại Sứ Quán Việt Nam tại Trung Quốc “làm rõ để có các phản ứng phù hợp.” Đến nay, Bộ Ngoại Giao Việt Nam vẫn còn im lặng, chưa lên tiếng phản đối ít nhất là về việc bắt giữ tàu đánh cá và ngư dân Việt Nam.

Vụ hai tàu đánh cá QB 93694, QB 93480 và 17 ngư dân ở Quảng Bình bị bắt khi đang đánh cá ở vịnh Bắc Bộ như đã kể xảy ra đúng vào ngày Việt Nam nhờ Trung Quốc hỗ trợ tìm kiếm hai phi cơ bị rơi và chín sĩ quan không quân mất tích.

Ngoài việc cử một tàu chuyên tìm kiếm – cứu nạn của Trung Tâm Tìm Kiếm-Cứu Nạn Trung Quốc ra Biển Đông trong ngày 16 tháng 6, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Trung Quốc cho biết thêm, từ 17 tháng 6, không quân Trung Quốc đã điều động ba phi cơ, hải quân Trung Quốc đã điều động bốn chiến hạm (một tàu ngầm, một khu trục hạm, hai trục lôi hạm), cảnh sát biển Trung Quốc đã điều động ba tàu vào vịnh Bắc Bộ “hỗ trợ nhân đạo.” Theo yêu cầu của Bộ Quốc Phòng Trung Quốc, các quân khu Quảng Tây và Hải Nam cũng đã ra lệnh cho các tàu đánh cá có vũ trang – vốn được Trung Quốc tổ chức thành “dân quân trên biển” đến vịnh Bắc Bộ.

Không rõ chiến hạm và những tàu đánh cá có vũ trang nào trong số này đã bắt giữ hai tàu đánh cá QB 93694, QB 93480. Cho đến nay, vì vẫn còn ba sĩ quan không quân mất tích nên có thể sẽ phải chờ lâu hơn mới thấy Bộ Ngoại Giao Việt Nam lên tiếng phản đối. (G.Đ)

Lời nói thực tế của một nhóm người già

Cùng quí bạn hiền, bài viết này thấy hay hay chí lý, ứng dụng cho đời sống của mỗi chúng ta nên gởi đến quý vị bạn hiền đọc cho vui, có thể quý vị đã đọc qua rồi nhưng có đọc lại thì cũng không phải là điều vô ích. Bài này có tính cách chia sẻ đến quý vị để tham khảo chứ không phải lời khuyên răn hay dạy bảo . 

Cám ơn nhiều .

Lời nói thực tế của một nhóm người già

Có một tổ ấm của riêng ta, chưa đến lúc chết, xin nhớ muôn ngàn lần chớ bỏ mất nó đi.

Có một người bạn đời thân thiết, phải cùng đối đãi và chăm sóc tốt cho nhau,

Có một cái thân thể, tự mình phải biết bảo trọng, có một cái tâm thái tốt, tự mình vui sướng!

Chúng ta đã già rồi! Nhưng mà hiện tại sức khoẻ vẫn còn tốt, đầu óc hãy còn minh mẫn, già rồi trông cậy vào ai! Phải phân chia ra nhiều giai đoạn mà nói.

Giai đoạn thứ nhứt

Sau khi đã về hưu, tuổi từ 60 đến 70, sức khoẻ cũng như điều kiện hãy còn tốt. Thích ăn gì thì ăn, thích mặc gì thì cứ mặc, thích chơi đùa gì thì cứ chơi đùa, chẳng nên tự bạc đãi mình, vì những ngày giờ này sẽ không còn là bao lâu nữa, cần phải nắm lấy (cơ hội). Nắm giữ một ít tiền, giữ lại căn nhà, biết tự an bài tốt cho con đường sau cùng của mình.

Tình trạng kính tế của con cái được tốt là của chính chúng, con cái hiếu thuận là phẩm hạnh tốt của chúng. Chúng ta chẳng nên cự tuyệt sự giúp đỡ của con cái, không nên cự tuyệt sự hiếu kính của chúng.Nhưng quan trọng nhứt là phải biết tự nương tựa vào chính mình, tự an bài tốt cho sinh hoạt của chính chúng ta.

Giai đoạn thứ hai

Qua hết đoạn tuổi bảy mươi (tức ở vào tuổi bát tuần) mà không có bệnh hoạn gì, cuộc sống hãy còn được tự do, đó là không có những vấn đề gì lớn xảy ra, nhưng phải nên nhớ rằng mình đúng là đã già rồi, thể lực và tinh lực sẽ không còn tốt nữa, các phản ứng tự nhiên của mình cũng sẽ từ từ xấu đi.

Nên ăn cơm chậm lại để đề phòng mắc nghẹn; đi đứng cần chậm lại để đề phòng bị té ngã.

Chẳng nên tranh hơn người, cần biết tự chăm sóc cho chính bản thân mình!

Đừng nên đi “quán xuyến” việc này việc kia, lo lắng sinh hoạt của con cái. Có người còn đi giữ cháu nội cháu ngoại nữa.

Cần phải biết “ích kỷ” một chút để, tự chăm sóc, trông coi chính mình.

Mọi việc phải biết để cho nó hoà theo tự nhiên, phải làm tí công việc quét dọn rác, phải biết cố gắng giữ gìn cho cái trạng thái sức khoẻ của mình được lâu dài hơn.

Để cho cái năng lực tự chủ về cuộc sống của mình có thể kéo dài thêm, không phải nhờ vào sự chăm sóc của người khác, thì có phải là tốt hơn không?

Giai đoạn thứ ba

Sức khoẻ đã suy yếu rồi, phải cần đến người giúp chăm sóc cho mình, việc này nhất định phải được chuẩn bị từ trước, tuyệt đại đa số con người ít ai tránh khỏi được cái cửa ải này.

Phải biết điều chỉnh tốt cho lòng mình, phải biết thích ứng với hoàn cảnh, sinh lão bịnh tử, với cái Tử là cái việc thường tình của đời người.

Ta cứ thản nhiên mà đối diện với nó, vì đó là cái đoạn cuối của đời người, chẳng có gì mà phải sợ nó, đã có chuẩn bị trước rồi, thì chẳng có chi mà cảm thấy phải khó chịu.

Hoặc là vào viện dưỡng lão, hoặc là mướn người đến nhà trông coi chăm sóc cho mình, lượng sức lượng tình mà làm, nhất định là phải có biện pháp.

Nguyên tắc là chẳng nên “làm khổ” con cái của mình, đừng để con cái mang nặng cái tâm lý không tốt, làm thêm nhiều công việc nhà, gánh nặng thêm sự tốn hao tài chánh hạn hẹp của gia đình.

Tự mình phải biết khắc phục thêm một chút, cái cuộc đời nầy của mình, cái gì khổ, cái gì khó khăn cũng đã qua rồi, hãy tin tưởng rằng cái đoạn đường nhân sinh cuối cùng cũng sẽ dễ dàng mà bước qua.

Giai đoạn thứ tư

Đầu óc ta minh mẫn, bệnh tật đeo mang không cách nào thoát khỏi, lúc mà cái phẩm chất của sinh mạng đến điểm tệ hại nhất, phải biết dám đối diện với cái chết, cương quyết không để người nhà phải lao khổ tái cứu sinh, không để bà con thân hữu phải chịu hứng chịu những hao tốn vô ích.

“Già rồi” trông cậy vào ai? Chính mình, chính mình, lại vẫn là chính mình. 

Già rồi thì phải làm sao?

Tại sao lại có cái ý nghĩ nầy, đó là do bởi tôi luôn nhận thấy, người già trên 80, không cần phải hạn chế đồ ăn của họ phải thanh đạm, cũng không cần phải giảm cân, ăn được là quan trọng nhứt

Muốn ăn gì thì cứ ăn, có thể cho là ăn được những món ngon của thế gian nầy, để cho cuộc sống càng thêm vui sướng và thích thú. Hạn chế người già không được làm cái nầy, ăn cái kia là đi ngược lại cái nhân tính của con người, mà lại cũng chẳng có gì gọi là căn cứ khoa học cả.

Trên thực tế, càng ngày càng có nhiều hiển thị chứng cứ của khoa học là, người già cần ăn ngon thêm một chút, cần mập thêm một tí, để cho cơ thể họ có thêm năng lực để đối kháng bệnh tật, đối kháng tính trầm cảm.

Tôi mong ước là, các cụ lão niên đều có thể hưởng thụ được sự tốt đẹp của đoạn cuối con đường nhân sinh của chính mình, mà không phải lưu lại bất cứ một điều gì hối tiếc.

Có thể cũng đừng kỳ vọng chờ đợi để lại cho thế hệ kế tiếp.

Lời kết luận:

Câu nói đúng của tục ngữ: “biết lo về tài chánh thì không nghèo, có kế hoạch thì không rối rắm, có chuẩn bị thì không bận rộn”. Chúng ta với tư cách là lão niên “dự bị quân” đã có ý tốt chuẩn bị hay chưa?

Chỉ cần sự việc chưa xảy ra, phải có chuẩn bị cho tốt, sau nầy sẽ khỏi phải lo lắng cho cuộc sống ở tuổi xế chiều.

Thứ nhất: Lão Kiện

Sự chuẩn bị trước tiên là cái khả năng làm cho sức khỏe tốt ở tuổi già, ngày thường cần chú ý đến “tam dưỡng”:

1-ăn uống dinh dưỡng,
2-chú trọng bảo dưỡng,
3-phải biết tu dưỡng.

Thứ hai: Lão Cư

a/- Đối với sự việc cùng con cháu ở chung, phải rán nhẫn nhịn bằng cách im hơi lặng tiếng trong cuộc sống, chi bằng

b/- Vui sống hưởng thụ với cuộc sống đơn lẻ độc thân, bất luận là trong thành phố hay khu ngoại ô, những nơi thích hợp cho chính bản thân mình, đồng thời là nơi có những quán ăn gần nhà mà mình ưa thích nhứt. 

Thứ ba: Lão Bổn

– Đã nuôi dưỡng được con cái, mà không thể có cách nào để dưỡng già. Là cha mẹ của người ta thì phải nhớ biết tự lập tự cường, chưa vào trong quan tài thì đừng bao giờ chia gia sản.

Anh chị Thụ & Mai gởi

Formosa và những kẻ ‘bảo hoàng’

Formosa và những kẻ ‘bảo hoàng’

Nguoi-viet.com

Ngu dân Quảng Bình chôn cá chết do nước thải của nhà máy thép Formosa ở Hà Tĩnh gây ra. (Hình: Vo Thi Dung/VNA via AP)

Ngư dân Quảng Bình chôn cá chết do nước thải của nhà máy thép Formosa ở Hà Tĩnh gây ra. (Hình: Vo Thi Dung/VNA via AP)

Tạp ghi Huy Phương

“Nói chuyện cá là…

tổn hại cho đất nước mình!”

(Võ Nhân Tuấn)

Nếu độc giả mấy lâu nay quan tâm về thảm họa cá chết ở miền Trung xin bỏ chút thời giờ vào xem đoạn phim “Việt Nam – Cái Chết Của Cá” do đài truyền hình PTS, Đài Loan, thực hiện. Cuốn phim có nhiều tài liệu người Việt cần biết và giới truyền thông của Đài Loan đã tỏ ra can đảm và tôn trọng thiên chức của nghề làm báo. Chúng ta cũng biết Fomosa có đến 70% cổ phần của tập đoàn Formosa Đài Loan, 25% của Công Ty Thép Đài Loan, 5% còn lại là của Nhật, vì dù là cùng dân Đài Loan, giới truyền thông không đứng về phía tội ác. Giới truyền thông Việt Nam, trong khi đó là phía nạn nhân, đã không có can đảm nói lên sự thật, vì “trông chờ vào nhà văn, nhà báo của Việt Nam nói lên tiếng nói của người dân giống như chuyện thần thoại giữa thời hiện đại.”

Cuốn phim của PTS cho thấy hai điều:

1-Đáng lý ra nhà máy gang thép Formosa được xây dựng tại khu công nghiệp Lý Sơn, Vân Lâm, Đài Loan, nhưng bị dân chúng phản đối vì vấn để xả thải làm ô nhiễm môi trường, trong khi đó, chính phủ và đảng CSVN đã chấp thuận cho Formosa, một đại công ty đã lãnh giải Black Planet Adward 2009, vào mở nhà máy tại Việt Nam. Như vậy Việt Nam hôm nay là chỗ cho thiên hạ đổ rác, và chính quyền Việt Nam là kẻ mồm cá ngão, sẵn sàng ngoác miệng ra ăn… bẩn.

2-Những ngôi nhà sát biển bị phá bỏ, và chính phủ bắt dân Hà Tĩnh di dời với số đền bù quả nhỏ, để dành đất cho Fomosa thuê trong thời gian 70 năm, để lấy tiền bỏ túi. Chính phủ đóng cửa trường, cửa chợ không cho trẻ em học hành và dân chúng sinh hoạt, để thúc đẩy ngư dân, những người đã bám biển từ đời cha ông ở đây, phải đi sâu vào đất liền, tức là bỏ biển.

Cuối cùng thì thủ phạm Formosa đã nhận tội: là nguyên nhân vụ cá chết ở bốn tỉnh miền Trung và xin biếu phong bì $500 triệu như là một lời xin lỗi, nhưng vẫn ngoan cố, cho đây chỉ là một sơ suất: “Thừa nhận có sự cố chập điện liên quan đến việc vận hành của quá trình kích hoạt vi sinh ở khu xử lý nước thải. Đây là khâu quyết định việc có xử lý được phenol hay không. Hệ thống này tê liệt dẫn đến nước thải bị đổ ra biển mà chưa qua xử lý.”

Giải thích trên có nghĩa là Formosa vẫn tồn tại, và nước thải vẫn thải, cá chết vẫn chết, và dân đói vẫn đói!

Cái lưỡi câu Formosa gắn mồi “bôi trơn” đã kẹt trong họng nhà cầm quyền rồi, làm sao nhả ra được. Cứ thấy thái độ cuống quýt của ông Võ Nhân Tuấn, thứ trưởng Bộ Tài Nguyên & Môi Trường, thì đủ biết. Khi phóng viên VTV, một loại phóng viên “người nhà,” hỏi về chuyện cá chết, ông Tuấn đã hốt hoảng đứng dậy, xua tay, đòi tắt máy như ai đó vừa chạm vào “long mạch” ngôi mộ tổ tiên: “Anh nói với em, nói chuyện cá là… tổn hại cho đất nước mình!”

Trong khi chưa có một cuộc điều tra, nghiên cứu về nguyên nhân cá chết, (*) thì ông Võ Nhân Tuấn không căn cứ trên một dữ kiện khoa học nào, đã mạnh miệng phát ngôn những lời “cứu chúa” vô trách nhiệm rằng: “Cá chết là do thủy triều đỏ chứ không phải Formosa!” Bây giờ Formosa nhận “lỗi tại tôi mọi đàng,” thì trơ rõ ra cái mặt “bảo hoàng” của một viên chức chính phủ, hoàn toàn vô trách nhiệm! Cùng một giuộc với nhau, ông Đặng Ngọc Sơn, phó chủ tịch UBND Hà Tĩnh, thêm vào: “Bà con yên tâm ăn thủy sản, tắm biển Vũng Áng.” Những câu nói quyết tâm bảo vệ Formosa trên đây hẳn phải có lý do, mà không ngoài lý do, những người này đã được “đấm mõm.”

Trước khi Formosa nhận lỗi và bồi thường, chính phủ Việt Nam rõ ràng là chưa có một cuộc khảo sát, nghiên cứu về phía mình, cũng chưa có một cuộc thống kê về tổn thất tại chỗ và tổn hại trong tương lai, để có bằng chứng kiện Formosa ra tòa, trục xuất hay đòi bồi thường thỏa đáng. Dư luận có cảm tưởng Việt Nam đang cù cưa, giấu nhẹm mọi chuyện, trong giai đoạn điều đình, thỏa hiệp, không phải để có lợi cho nhân dân, mà có lợi cho tập đoàn thống trị đất nước hiện nay.

Vì sao trong lúc chính phủ đang im hơi lặng tiếng, thì phát ngôn nhân của họ là ông Mai Tiến Dũng, bộ trưởng chủ nhiệm văn phòng chính phủ, lại vội vàng tỏ ra thái độ xuýt xoa, chạy quanh, rào trước đón sau, kiểu sợ làm đau mình, đau mẩy, tội nghiệp cho thân chủ: “Việc nhận lỗi của Formosa Hà Tĩnh đã thể hiện thái độ trước việc vi phạm, nên việc đưa vụ án ra khởi tố hay không thì chính phủ Việt Nam sẽ cân nhắc. Hy vọng nhân dân sẽ có thái độ khoan hồng độ lượng, thể hiện sự cao thượng đối với Formosa.”

Rõ ràng là hiện nay đảng CSVN (chính phủ là đảng) có khuynh hướng bao che cho Formosa vì tiền, có thái độ “bảo hoàng hơn vua.” Trước khi Formosa nhận lỗi thì ông Võ Nhân Tuấn đã nhanh nhẩu khẳng định không phải lỗi Formosa, một thái độ đáng ê mặt, và ông nên biết liêm sỉ, rời bỏ chức vụ là vừa. Mặt khác, vì sao ông Mai Tiến Dũng lại có thái độ xót xa, “ruột để ra, da đem vào” bằng cách xin nhân dân khoan hồng, độ lượng cho Formosa, trong khi hậu quả việc xả thải vẫn còn sờ sờ ra đó.

Nhìn chung, trước tình trạng biển chết ở miền Trung, chính phủ Việt Nam chưa có cuộc điều tra đúng đắn, chưa công bố lý do, trước khi Formosa đứng ra nhận lỗi. Chính Phủ Việt Nam cũng chưa có một cuộc điều tra về tổn thất của đất nước, để có một con số chính xác về sự thiệt hại hôm nay và lâu dài, căn cứ vào đó để khởi tố, đòi bồi thường thiệt hại. Nhìn chung, đây chỉ là một lối điều đình giữa các đối tác làm ăn, mà không đếm xỉa đến vận mạng của đất nước, và đời sống của người dân.

Rồi sao? $500 triệu bồi thường cho ai? Formosa vẫn còn đó. Cá vẫn chết, biển vẫn vậy! Dân than phiền có gạo ăn, nhưng cá chết, muối nhiễm độc ăn với gì? Ngư dân không có vườn rau, không có ruộng lúa. Bộ Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn đề xuất phối hợp với Bộ Lao Động – Thương Binh và Xã Hội để có chính sách đào tạo nghề, chuyển đổi nghề cho bà con ngư dân. “Nếu ngư dân không đi khai thác sẽ lên bờ để làm những nghề phù hợp với điều kiện và có thể tăng thu nhập, trong đó bộ đề xuất cố gắng mỗi hộ gia đình có được một người đi xuất khẩu lao động.”

Chính phủ “hỗ trợ cho ngư dân đổi nghề,” nghĩa là dân nghề biển đã có trên trăm năm bám biển, bây giờ chính phủ hỗ trợ cho đổi nghề. Ngư dân thường thường làm nghề cha truyền con nối, ít được học hành, 10 tuổi đã lên thuyền theo cha, ông ra biển. Bây giờ, vì Formosa, chính phủ khuyến khích cho “đổi nghề phù hợp và tăng thu nhập!” Đổi nghề như thế nào? Có sức thì làm thuê, phụ hồ, chạy xe ôm, chạy xe ba gác, người ít vốn, không đủ sức khỏe thì đi buôn đậu phụng rang, đi bán me xoài cóc ổi, bán trái cây dạo. Và nghề phổ biến, thu nhập cao, ổn định như Giàng Seo Phử, bộ trưởng chủ nhiệm Ủy Ban Dân Tộc đã nói là nghề đi làm thuê và bán vé số rất phổ biến nhưng có thu nhập cao. Vậy thì còn đợi gì mà không cho ngư dân bốn tỉnh cá chết vào đổi nghề ở vùng đồng bằng sông Cửu Long?

Không tạo ra nổi công ăn việc làm cho dân chúng, chính quyền, qua Bộ Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn lại khuyến khích mỗi gia đình có được một người đi xuất khẩu lao động.

Nhà cầm quyền không lo chuyện Formosa tác hại, mà đang tính chuyện bồi thường và hỗ trợ cho dân chài đổi nghề, nghĩa là đảng CSVN đã “chọn nhà máy thép thay vì chọn cá” như đại diện Formosa, ông Chu Xuân Phàm đã nói. Câu nói thách thức, ngang ngược như vỗ vào mặt Việt Nam, vì Formosa đã nắm tẩy của những viên chức cấp cao của Việt Nam, vì mùi tanh của đồng tiền, trước sau, luôn luôn tìm cách bênh vực, che chở cho Formosa, một cách vừa ngốc nghếch vừa thiếu đạo đức.

-“Nhân dân để biển lại cho Formosa, hãy cầm vài triệu bồi thường rồi đi đi, vào Sài Gòn bán vé số, chạy xe ôm, sang Lào làm thuê, hay kiếm một chân đi xuất khẩu lao động cho khuất mắt!”

Con cá sống vì nước sạch, kẻ “bảo hoàng” trong chính quyền Cộng Sản sống nhờ đồng bạc bẩn nhiễm chì của Formosa!

(*) Ông Ted Osius, đại sứ Mỹ, đưa ra lời ngỏ chính thức với lãnh đạo Hà Nội là Hoa Kỳ có thể giúp đỡ tìm hiểu nguyên nhân gây thảm họa và góp phần khắc phục hậu quả, nhưng Hà Nội đã từ chối. Cũng như chính quyền Việt Nam không chấp thuận lời đề nghị giúp đỡ tương tự của văn phòng LHQ tại Việt Nam.