Lìa nhau cho tim bốc cháy,

 Lìa Nhau –   Nguyễn Đức Quang

      httpv://www.youtube.com/watch?v=V6d3E1tdlzs

Chuyện phiếm đọc trong tuần thứ 23 mùa thường niên năm C 04/9/2016

“Lìa nhau cho tim bốc cháy,”

Thù sâu lan khắp ư lan khắp địa cầu.
Lìa nhau cho nhau giá buốt,

Tình thương chôn dưới chôn dưới hận sầu
Lìa nhau đem theo đói khát nhục nhằn,
Lìa nhau cho giấc dài trở trăn.”

(Nguyễn Đức Quang – Lìa Nhau)

(Lc 12: 32/ 12: 50)

 Trần Ngọc Mười Hai

Còn nhớ, có lần bầu bạn trong nhóm sinh-hoạt văn-học/nghệ-thuật thuộc loại “bỏ túi” ở Sydney, Úc Châu có nói với bần-đạo bầy tôi đây, rằng: “Chừng như nhạc Việt mình ít có giai-điệu ồn-ào, vui-tươi/nhộn-nhịp như nhạc của người nước ngoài, đấy chứ?” Có lẽ vì nơi quê-hương ta xảy ra quá nhiều chiến-tranh và chia-cắt khiến người mình mới “lìa nhau” ra như thế!

Nghe hỏi, bỉ-nhân đây bèn lục-lạo các bài mình từng trích-dẫn khi viết “phiếm” mới thấy rằng: nhận-định trên đây rất ư là thực-tế. Nó đúng thực và tinh-tế như nhận-xét của người xưa thời thực-dân từng minh-chứng bằng những ca-từ lặp đi lặp lại đến buồn đau với những cụm-từ “lìa nhau” và “lìa nhau” như câu hát tiếp:

“Lìa nhau cho gian nan.

Lìa nhau cho bẽ bàng.

Lìa nhau cho gian dối lan tràn.

Lìa nhau cho non nước bước phiêu lưu.


Lìa nhau cho nhau luống đất,

ngày nay không lúa,

không lúa không mầu.
Triều sông dâng theo uất ức,

tràn lan trôi khắp, trôi khắp quê sầu.

Lìa nhau đem theo tiếng nói ngọt ngào.
Lìa nhau cho chút lòng làm cao.
Đàn trâu đi bơ vơ, bên nhà xiêu nước mắt mờ.
Lìa nhau cho kiếp sống xác xơ.
(Nguyễn Đức Quang – bđd)

Áp-dụng vào sinh-hoạt phụng-vụ nhà Đạo, nhiều lúc và lắm khi câu nhận-định trên xem ra cũng tương-tự.

Chẳng nói giấu gì bạn đọc hoặc các bạn không thích đọc mà chỉ thích hát hoặc nghe câu ca/tiếng hát xưa/cũ thời ông bành-tổ của bần-đạo vẫn được nghe hoài và hát mãi những lời cầu sau thánh-lễ rất Misa mừng kính Đức Maria, như:

Lạy Mẹ xin yên ủi chúng con luôn luôn.
Mẹ từ bi xin phá những nỗi u buồn.
Vì đời con gieo rắc biết bao đau thương.
Và tràn lan gai góc vướng trên con đường.

Ơ, Mẹ rất nhân từ,

Mẹ quên sao được hôm xưa.
Lời Mẹ hứa khi ở trên núi kia.
Lúc mà Chúa sinh thì,

Mẹ đứng âu sầu lặng yên.
Là Mẹ chúng con,

Mẹ xin lĩnh quyền.”

(Nguyễn Khắc Xuyên – Lạy Mẹ Xin Yên Ủi)

Câu hát trên đây, lại đã đưa dẫn bần-đạo đi vào một rừng sách gồm các cuốn có những giòng tư-tưởng/nhận-định khá “lìa nhau” như sau:

“Thật cũng lạ, là: có những tuyên-ngôn cho rằng bất cứ văn-bản viết bằng chữ nào trong lịch-sử gồm lập-trường hoặc từ-vựng đều chứa đựng “Lời của Chúa” hết. Khẳng-định như thế, tức bảo rằng Thiên-Chúa cũng rất giống con người là ở chỗ: Ngài cũng có khả-năng nói bằng lời cho một dân-tộc nào đó rất cá-biệt bằng thứ ngôn-ngữ mà dân-tộc ấy hiểu được và từ đó hiểu rằng Thiên-Chúa cũng đầu-tư vào các chi-tiết vụn-vặt của đời sống phàm-trần một cách thân-thương, mật-thiết rất đặc-biệt.

 Quả thật rất rõ là: tuyên-ngôn ấy lâu nay vẫn được thế-giới Tây-Phương luôn coi đó là Thánh Kinh của Đạo Chúa. Trong khi đó, các đạo-giáo khác cũng làm như thế, thì Đạo Chúa lại chẳng bao giờ coi các “tuyên-ngôn” của bạn đạo mình một cách nghiêm chỉnh hết. Nói khác đi, thì bất cứ tuyên-ngôn tương-tự xuất từ cội-nguồn ngoài Kitô-giáo rõ-ràng đều bị coi là phi-lý. Không cần phải đi đâu xa mới nhận ra được điều này mỗi lần tín-hữu Đạo Chúa tụ-tập nhau ở nhà thờ để cử-hành Tiệc lễ người nghe đều thấy câu “Đó là Lời Chúa” trước khi người đọc sách kết-thúc một đoạn trích ở Kinh Sách.

 Quả thật, khi tuyên-xưng lời kết một bài đọc trong Tiệc Thánh-thể bằng các cụm-từ như thế, người nghe đọc lại sẽ hoan-hỉ thưa: “Tạ ơn Chúa”, rất rõ rệt.

 Ở một số Giáo-hội có cơ-cấu ít kiên-cố hoặc tập-trung nhấn mạnh về Phúc Âm hơn, thì người đọc Tin Mừng Tân-Ước lại sẽ kết-thúc bằng một tuyên-ngôn khác, như vẫn bảo: “Xin Đức-Chúa Trời ban thêm ơn lành cho việc đọc Lời của Ngài ở nơi đây.”

Khi người đọc câu tuyên-ngôn này bằng tiếng Anh, người đọc bao giờ cũng dùng đại-từ giống “đực” để chỉ Đức Chúa Trời. Như thế có nghĩa: Thiên-Chúa là nam-nhân. Điều này không gây cho các Hội-thánh bất cứ một quan-ngại chút nào hết. Nhưng, riêng bản thân tôi, lại thấy đó là chuyện dị kỳ, khó chấp-nhận…” (X. Tgm John Shelby Spong, A claim that cannot endure, Exposing the Bible’s Texts of Hate to Reveal the God of Love, Harper Collins Publishers 2005 tr. 15-16)

Nhận-định của Tổng-giám-mục Anh-giáo John Shelby Spong trích-dẫn ở trên, có lẽ đối với một số tín-hữu khác đạo hoặc khác giáo-phái thấy đó là lý-do gây nên sự “chia lìa” giữa những người cùng thờ GiaVê Thiên-Chúa.

Bần-đạo bầy tôi đây thật sự không lấy đó làm điều, bèn tự-nhủ: hay ta thử nghe thêm ít câu hát hoặc đọc lại vài truyện kể nào đó may ra cũng thấy được lằn sáng cuối đường hầm thay cho việc ngồi đó cứ nghĩ đến chia rẽ với “Lìa nhau” cũng được đấy. Nghĩ vậy, nên bần-đạo lại mời bạn và mời tôi, ta nghe thêm đôi câu khác trong nhạc bản “Lìa nhau” ở trên, như bên dưới rồi hãy xem:

“Lìa nhau mây đen lớp lớp,

về đây che khuất, che khuất mẹ hiền
Mẹ buồn nhìn đời khốn khó,

đàn con gieo thêm lắm, thêm lắm ưu phiền.


Mẹ khuyên khuyên con tiếng nấc nghẹn ngào:
à ơi con hỡi đừng lìa nhau.
Đạn bay trên non cao,

hay đạn tuôn về xóm nghèo
Lìa nhau cho non nước tiêu điều.”

(Nguyễn Đức Quang – bđd)

Đã “lìa nhau mây đen lớp lớp” thế rồi, thì còn gì nữa mà khuyên với nhủ mấy đứa con “tiếng nấc nghẹn ngào”? “Lìa nhau cho non nước tiêu-điều”, rày như tác-giả là Tổng Giám Mục John S. Spong  lại nói lên đôi điều khá sầu buồn nhận thấy ở Kinh Sách, như sau:

“Vốn xác-tín rằng Đạo Chúa có cơ-chế tổ-chức đã và đang đòi-hỏi sức-mạnh/quyền-uy cho Giáo-phái của mình mà phần lớn các đòi hỏi ấy lạ bén rễ sâu nơi tuyên-ngôn Kinh thánh bảo rằng tiếng/giọng và Lời của Chúa không còn được ai nghe thấy tận bên trong Sách thánh nữa.

 Chính vì thế, nay tôi mời gọi mọi người hãy cùng nhau leo lên đỉnh núi để từ đó ta có thể xem xét/ngắm nhìn cơn gió đầy uy-lực cực-kỳ, coi xem các trận động đất và lửa ngọn tàn-phá không chỉ mỗi thần-tượng tín-điều bắt buộc mọi người phải tin, nhưng cả đến Kinh thánh, Giáo-hội, nhất nhất vẫn có thói-quen che-đậy không cho ta thấy được những gì thật sự là Thực-chất của Thiên-Chúa.

 Và khi mọi sự đã bị tàn-phá đến vỡ toang rồi, thì hy-vọng của tôi sẽ là: cả chúng ta nữa lúc đó cũng sẵn sàng để vẫn còn nghe được tiếng/giọng nhỏ-nhẹ của sự lặng-thinh vốn dĩ khuyến-khích ta trở về với lời gọi mời mà theo tôi, đó là bản-chất của những gì có nghĩa trở-nên đồ-đệ của Đức Giêsu. Và rồi, ta có bổn-phận dựng-xây một thế-giới trong đó mỗi người và mọi người đều có thể sống đầy-đặn hơn, yêu-thương một cách phung-phí hơn nữa và trở thành con người mà Thiên-Chúa muốn mỗi người trở nên như thế.

 Bằng lời gọi mời này, ta sẽ phản-đối tất cả những gì làm cho cuộc sống của bất cứ ai cũng không bị suy-giảm, giản-lược dù có khác-biệt về giòng giống, sắc-tộc, bộ-lạc, giới-tính hoặc hướng-chiều về phái-tính khác hoặc ngay đến đạo-giáo nữa.”(Xem thêm Tgm John Shelby Spong, A Claim that Cannot Endure, sđd tr. 25-26)

Xét lập-trường và nguyên-nhân gây nên việc “Lìa nhau” theo ý đấng bậc ở trên xong, nay ta lại mời nhau đi vào vườn thượng-uyển có những hoa thơm/cỏ lạ đầy những Lời Vàng Ngọc của bậc thánh-hiền khi xưa từng nhất-quyết:

“Anh em tưởng rằng

Thầy đến để ban hoà bình cho trái đất sao?

Thầy bảo cho anh em biết:

không phải thế đâu,

nhưng là đem sự chia rẽ.

Vì từ nay,

năm người trong cùng một nhà sẽ chia rẽ nhau,

ba chống lại hai, hai chống lại ba.”

(Lc 12: 51-52)

Sống hài-hoà/bình-an hay đầy những cảnh “Lìa nhau” như thế, đó là tiền-đề và phản-đề của một biện-chứng bàn về cuộc sống thực ở đời của nhà Đạo. Đấng Thánh-hiền nói thế là để cảnh-giác người đọc và nghe Lời Ngài. Để rồi, tác-giả Tin Mừng lại ta dẫn về tổng-đề rất “có hậu” như sau:

“Hỡi đoàn chiên nhỏ bé,

đừng sợ!

vì Cha anh em

đã vui lòng ban Nước của Ngài

cho anh em.”

(Lc 12: 32)

Vâng. “Nước” của Ngài đã được ban cho ta như thế rồi. Còn gì đâu nữa mà âu sầu, sợ sệt! Vâng. Nghe những Lời chắc-nịch của Ngài thế rồi, nay ta cứ tiếp-tục mời nhau dấn bước vào vùng trời đầy truyện kể để tìm cho ra câu nói hoặc cốt truyện ý-nhị dù truyện kể có hơi cường-điệu hoặc nhàm-chán như một triết-thuyết, vẫn không ngại.

Vậy thì, ta cứ đi thẳng vào truyện kể nói về sự thật ở đời cũng rất “Lìa nhau”, như sau:

“Truyện kể, là về người lính nọ, cuối cùng ra cũng đã trở về với gia-đình sau nhiều trận-chiến ác-liệt ở Việt Nam , vào thời ấy, như sau:

 Từ San Francisco, anh con trai gọi điện cho cha mẹ mình, rằng:

-Ba mẹ ơi, con đã về lại quê nhà rồi, nhưng con có một chuyện muốn xin với ba mẹ. Con có người bạn đang trong cảnh ngặt-nghèo nên muốn đưa anh ấy về nhà cùng sống với con.

-Chắc chắn rồi, hỡi con trai yêu quý, cha mẹ anh vui vẻ nói: Ba mẹ rất muốn gặp bạn của con”.

-Nhưng có điều con muốn nói trước với ba mẹ là: bạn con bị thương khá nặng trong chiến tranh. Anh ta hơi đãng trí và chỉ còn mỗi cánh tay và một chân thôi. Anh không có nơi nào để về sống, và con muốn anh ấy đến sống với gia đình ta, ba mẹ nghĩ sao?

-Ấy chết! Ba mẹ xin lỗi con, con trai yêu quí của Ba mẹ… Có lẽ ta có thể giúp anh ấy tìm nơi nào khác để sinh sống cũng được vậy!…

-Không đâu, ba mẹ à, con muốn anh ấy đến ở chung với gia đình mình cơ.

-Con à! Con có biết là con đang yêu cầu ba mẹ làm một điều quá sức hay không? Đem về nhà mình người bạn tàn tật như vậy sẽ là gánh nặng khủng khiếp cho ba mẹ đấy. Ba mẹ còn có cuộc sống riêng-tư của mình nữa chứ, ba mẹ không thể để điều ấy làm ảnh hưởng tới cuộc sống riêng của gia-đình ta. Ba nghĩ: con hãy về nhà và quên anh bạn của con đi. Anh ấy rồi cũng sẽ tìm ra cách tự lo-liệu cho cuộc sống của mình đấy thôi…

 Lúc ấy, người con bèn gác điện thoại, không nói gì nữa. Cha mẹ anh không nghe thấy gì từ đầu giây bên kia nữa. Song, ít ngày sau, họ đột-nhiên nhận được cú điện-thoại từ đồn cảnh sát San Francisco gọi về bảo cho biết: Con trai ông bà đã qua đời sau khi bị ngã từ ban-công trên cao-ốc xuống đất, cảnh sát đã thông-báo cho ông bà như vậy. Cảnh sát San Francisco quyết được rằng đây chắc chắn là một vụ tự-vẫn có suy-tính.

 Cha mẹ người lính trẻ, trong cơn đau-đớn tột bực, đã vội bay tới San Francisco và ông bà được dẫn tới nhà xác thành-phố để nhận-diện thi-thể của người con trai. Họ nhận-diện đúng là anh ta, người con trai yêu quý của hai ông bà. Nhưng đột nhiên, hai ông bà kinh-hãi không thốt nên lời, khi nhận thấy điều mà trước đó họ không hề hay biết, đó là: con họ chỉ còn duy-nhất có một tay và một chân thôi.”

 Thế rồi, những giọt nước mắt đau thương/ân-hận đã bắt đầu tuôn, nhưng tất cả đều đã quá muộn. Cha con gia-đình này, nay đã “lìa nhau” không được sống chung với nhau nữa, dù có muốn.” (Truyện kể lan nhanh qua điện-thư vi-tính rất thường ở thời này)    

 Truyện kể chỉ có thế. Không nhàm và cũng chẳng chán, vẫn như chuyện thường ngày ở huyện, mà lại là huyện Tây Phương rất cực-lạc. Nhưng người kể hôm nay lại đã gửi đến người nghe, một cảm-nhận như sau:

Bạn đừng bao giờ đối xử phân-biệt/kỳ-thị với người khác. Bởi, bạn sẽ không biết được người thực sự bị tổn-thương đây là ai hết. Hãy cứ bao-dung/độ-lượng với mọi người và nghiêm-khắc với chính mình! Nếu mọi người trong ta đều có thể để lòng bao-dung/nhân-ái với người lạ giống như người thân của mình, thì thế giới này rồi đây sẽ tốt đẹp dường bao.”

 Bởi, với lòng từ-bi/bao-dung, ta có đủ sức để mài/dũa bất cứ hòn đá vô-tri vô-giác nào đi nữa thành viên ngọc quí lung-linh chiếu sáng. Ta cũng sẽ đủ sức biến những việc khó-khăn thành dễ-dàng; đủ sức biến người tầm-thường hay khuyết-tật thành vĩ-nhân, cũng không khó.” (Bạch Mỹ sưu-tầm)

 Truyện kể gọn nhẹ là như thế. Thi-ca âm-nhạc ở đâu cũng như vậy. Cũng có câu ca hoặc điệu hát thoạt nghe có vẻ âu-sầu/buồn-bã, nhưng hễ nghe hoài, nghe kỹ sẽ không còn thấy nhàm thấy chán như ai đó đã cất lên giai-điệu đầy hưng-phấn, quyết-tâm như sau:

“Đừng sợ bạn ơi hãy đứng thẳng lên.
ca ngợi quê hương của chúng ta.
bằng niềm tin chứa chan trong tim,

người thanh niên.

Đừng sợ bạn ơi hãy đứng thẳng lên.
Cuộc đời đang dang tay đón ta.
Bằng yêu thương ta đi xóa tan,  

mọi căm hờn.

Đừng ngồi yên, nghe tiếng khóc quanh mình
đừng ngồi yên, trên nhung gấm vô-tình hỡi bạn thân!
đừng vùi lương tri dưới gót chân.
đừng nhìn tha-nhân

đang kêu gào chống ngục tù xin công bằng, đòi cơm áo.

Đừng đùa vui khi đói khát vẫn còn.
đừng đùa vui khi áp-bức vẫn còn, nhân-loại ơi!
Đừng làm quê hương thêm tả tơi.
Đừng khoe-khoang trên những xác người
đã ngã gục chết cho đời được thêm vui.

 “Đừng sợ bạn ơi hãy đứng thẳng lên!
Ngợi ca quê hương của chúng ta.
Bằng niềm tin chứa chan trong tim,  

người thanh niên.

Đừng sợ bạn ơi hãy đứng thẳng lên.
Cuộc đời đang giang tay đón ta.
Bằng yêu thương ta đi xóa tan mọi căm hờn.

(Lê Hựu Hà – Bài Ca Tuổi Trẻ)

Đúng thế. Dẫu có ra sao, cũng đừng sợ! Sợ gì mà không hát lại những câu ca buồn-bã rất “lìa nhau” hoặc chia-lìa như sau:

“Lìa nhau cho nhau luống đất,

ngày nay không lúa,

không lúa không mầu.
Triều sông dâng theo uất ức,

tràn lan trôi khắp, trôi khắp quê sầu.

Lìa nhau đem theo tiếng nói ngọt ngào.
Lìa nhau cho chút lòng làm cao.
Đàn trâu đi bơ vơ, bên nhà xiêu nước mắt mờ.
Lìa nhau cho kiếp sống xác xơ.
(Nguyễn Đức Quang – bđd)

Vâng. Thế đó là niềm vui có gọi mời “Đừng sợ bạn ơi!” gặp thấy trong mọi nỗi buồn cuộc đời, dù rất chán. Và, dù có “Lìa nhau cho tim bốc cháy những ‘thù sâu lan khắp địa cầu”. Cả vào khi ta hát những câu “Lìa nhau đem theo tiếng nói ngọt-ngào”, “chút lòng làm cao”, “nước mắt mờ”, “xác xơ”, một kiếp sống rất ơ-hờ, thờ-ơ, rất đáng chán!

Trần Ngọc Mười Hai

Nhiều lúc thấy đời mình

Cũng khá nhàm và hơi chán

nhưng không sợ.

Vẫn đầu cao mắt sáng

Nhìn về phía trước có tương-lai mầu hồng

đầy sức sống,

Rất miên-trường. 

LÀM MÔN ĐỆ CỦA CHÚA

LÀM MÔN ĐỆ CỦA CHÚA

ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt

MON DE CUA CHUA

 

 

 

 

 

 

 

 

Ai trong chúng ta cũng mong ước được làm môn đệ của Chúa.  Ai cũng muốn theo chân Chúa.  Nhưng ta có thực sự hiểu làm môn đệ Chúa là như thế nào không?  Hôm nay Chúa chỉ cho ta thấy rõ điều đó.

Làm môn đệ là một việc làm nghiêm túc.  Đây không phải là một cảm tính bồng bột nhất thời.  Nhưng là một việc lâu dài.  Chúa Giêsu ví việc làm môn đệ theo Chúa với việc “xây dựng một cây tháp” và việc “chiến đấu với kẻ thù.”  Xây dựng cây tháp là một việc làm lớn lao.  Chiến đấu với kẻ thù là việc làm nghiêm trọng.  Vì thế cần phải ngồi xuống suy tính cho cẩn trọng, chi li.  Cũng thế việc làm môn đệ của Chúa là một việc làm nghiêm túc, vừa lớn lao như sự nghiệp cả đời, vừa nghiêm trọng vì ảnh hưởng tới cả định mệnh.  Vì thế phải ngồi xuống suy tính cho kỹ lưỡng để có thể theo Chúa đến cùng.  Phải suy tính kỹ lưỡng vì làm môn đệ là từ bỏ đến tận cùng.

Làm môn đệ là từ bỏ đến tận cùng.  Môn đệ không phải là kẻ hiếu kỳ cưỡi ngựa xem hoa.  Môn đệ không phải là kẻ tài tử nay làm mai không.  Môn đệ là người đi theo thày suốt đời, sống như thày trong mọi sự.  Chính vì thế mà phải coi thày là thần tượng duy nhất.  Chính vì thế mà phải từ bỏ tất cả, không chỉ người thân mà từ bỏ cả chính bản thân với những ý nghĩ riêng tư.  Để không những đi theo thày, sống như thày mà con ăn nói như thày, suy nghĩ như thày nữa.  Kitô hữu là người mang Chúa Kitô trong mình.  Muốn có Chúa Kitô trong mình, ta phải loại bỏ tất cả những gì không phải Chúa ra khỏi mình.  Điều này chắc chắn không dễ dàng.  Nhưng ta an tâm, vì Chúa Giêsu không chỉ đòi hỏi ta.  Người đã đòi hỏi chính mình trước.  Chúa Giêsu không chỉ đòi ta vác thánh giá. Chính Người đã vác thánh giá trước.  Ta sẻ cảm thấy dễ dàng vì chỉ việc làm như Chúa Giêsu.

Làm môn đệ là làm như Chúa Giêsu.  Nếu Chúa Giêsu đòi hỏi ta từ bỏ, chính Người đã từ bỏ trước.  Người đã từ bỏ trời cao để xuống đất thấp.  Người đã từ bỏ địa vị làm Thiên Chúa để xuống thế làm người.  Sự từ bỏ được thấy rõ qua việc Chúa tự nguyện sống nghèo khổ, tự nguyện nhận lấy tội lỗi của loài người và tự nguyện chết thay loài người.  Khốc liệt nhất là Người đã từ bỏ ý riêng để hoàn toàn vâng theo ý Chúa Cha.  Cuộc chiến đấu khốc liệt đã thấy trong vườn Giêtsimani, khi nhìn thấy trước cái chết đau đớn tủi nhục sắp tới, Người run sợ muốn lẩn tránh bỏ cuộc, nên đã tha thiết cầu xin Chúa Cha:“Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi uống chén đắng này.”  Nhưng cuối cùng, Chúa đã từ bỏ ý riêng, vâng theo ý Cha, sẵn sàng ra đi chịu chết: “Nhưng đừng theo ý con, xin vâng ý Cha mà thôi.”

Nhờ hoàn toàn từ bỏ ý riêng, vác thánh giá đi đến cùng, Chúa Giêsu đã hoàn thành công việc của Chúa Cha trao phó, đem ơn cứu độ đến cho mọi người.  Người môn đệ, khi hoàn toàn từ bỏ chính mình, sẽ nên một với Chúa Kitô, cộng tác vào công cuộc cứu độ của Chúa.

ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt

From : langthangchieutim

DANH NGÔN của MẸ TERESA CALCUTTA (1910-1997)

  DANH NGÔN của MẸ TERESA CALCUTTA (1910-1997)

  1. Bạn có thể làm gì để xây dựng hòa bình thế giới? Hãy về nhà và yêu thương gia đình của mình.
  2. Tình yêu bắt đầu ở nhà; tình yêu sống trong nhà, và đó là vì sao thế giới hôm nay lại nhiều khổ đau và bất hạnh đến như thế… Con người ngày nay dường như ai cũng quá vội vã, lo lắng muốn đạt được những bước tiến xa hơn và của cải nhiều hơn, và đại loại như thế, đến nỗi con cái có quá ít thời gian với cha mẹ mình. Cha mẹ chúng có quá ít thời gian dành cho nhau, và hòa bình thế giới bị chia cắt bắt đầu từ mái ấm.
  3. Nếu bạn phán xét người khác, bạn chẳng còn thời gian để yêu thương họ nữa.

 St Teresa Calcutta

  1. Chúng ta hãy luôn gặp nhau với nụ cười, bởi nụ cười là điểm bắt đầu của yêu thương.
  2. Quan trọng không phải chúng ta cho đi bao nhiêu, mà là chúng ta dành bao nhiêu sự yêu thương để cho đi.
  3. Không phải tất cả chúng ta đều làm được những điều vĩ đại. Nhưng chúng ta có thể làm những điều nhỏ nhặt với tình yêu vĩ đại.
  4. Tình yêu là loại quả của cả bốn mùa, và nằm trong tầm với của mọi bàn tay.
  5. Đừng nghĩ rằng để chân thật, tình yêu phải phi thường. Điều chúng ta cần là yêu mà không mệt mỏi.
  6. Việc tốt là những mắt xích tạo nên sợi xích tình yêu.
  7. Tôi tìm ra một nghịch lý, rằng nếu bạn yêu sâu sắc tới mức đau đớn, sẽ chẳng thể có thêm đau đớn nữa, chỉ có thêm tình yêu.
  8. Những lời tử tế có thể ngắn và dễ nói, nhưng tiếng vọng của chúng thực sự vĩnh cửu.
  9. Chúng ta cảm thấy điều chúng ta đang làm chỉ là một giọt nước trong đại dương. Nhưng đại dương sẽ ít hơn chỉ bởi thiếu đi giọt nước ấy.
  10. Nếu bạn không thể làm trăm người đỡ đói, chỉ cần một mà thôi.
  11. Một mình tôi không thể thay đổi thế giới, nhưng tôi có thể ném hòn đá lên mặt nước để tạo nhiều con sóng.
  12. Đời là cơ hội, hãy nắm bắt. Đời là cái đẹp, hãy mê say. Đời là giấc mơ, hãy hiểu rõ. Đời là thách thức, hãy đương đầu. Đời là nghĩa vụ, hãy hoàn thành.  Đời là trò chơi, hãy nhập cuộc. Đời là lời hứa, hãy giữ gìn.  Đời là khổ đau, hãy vượt qua.  Đời là bài hát, hãy hát ca. Đời là tranh đấu, hãy chấp nhận. Đời là bi kịch, hãy đối diện.  Đời là phiêu lưu, hãy mạo hiểm. Đời là may mắn, hãy đón lấy.  Đời quá quý giá, đừng phá hủy nó. Đời là đời, hãy đấu tranh vì nó.

—————–
Chúa Nhật 4-9-2016, trực tiếp Lễ Tuyên Thánh Mẹ Teresa Calcutta:

http://saltandlighttv.org/specialcoverage/mother-teresa.

Xem thêm:
http://www.simonhoadalat.com/suyniem/suyniem/CacThanh/MeTeresaCalcutta.htm

BỎ và NHẬN

BỎ và NHẬN

(Chúa Nhật XXIII TN, năm C)

Hạnh phúc không có nghĩa là sở hữu mọi thứ hoàn hảo, mà là biết can đảm nhìn xa hơn các khuyết điểm của mình và của người khác. Thật là không dễ, thế nên mới phải cố gắng không ngừng, từng giây, từng phút… Hãy cố gắng nhận thức về quá khứ của mình – dù xấu xa và hèn hạ, cứ hy vọng và vững tin vào tương lai, rồi chấp nhận mình là chính mình. Đó là một cách từ bỏ và chấp nhận.

Tác giả Brian Tracy (sinh ngày 5-1-1944 tại Vancouver, Canada), một người viết về chủ đề tự-giúp-bản-thân, nhận định: “Món quà lớn nhất mà bạn có thể trao cho người khác là tặng phẩm của tình yêu vô điều kiện và sự chấp nhận – The greatest gift that you can give to others is the gift of unconditional love and acceptance”. Sự chấp nhận ở đây là cách chấp nhận vui vẻ chứ không miễn cưỡng.

Có nhiều động từ cần thiết, nhưng có lẽ BỎ và NHẬN là hai động từ quan trọng: Bỏ những cái xấu xa để nhận những điều tốt lành. Cần phải khôn ngoan kẻo hóa thành “thả mồi, bắt bóng”. Với các Kitô hữu có dạng “cao cấp” hơn: từ bỏ chính mình và đón nhận thập giá của cuộc đời (của mình và của người). Quả là “căng” thật đấy!

Thánh tiến sĩ Teresa Avila nói: “Cái gọi là đầy tớ trung thành của Thiên Chúa chính là ở trong việc yêu người như yêu chính mình, có một ý chí cương quyết không lay động, liên tục sống theo Thánh Ý của Thiên Chúa, giữ cho tâm hồn khiêm tốn, mộc mạc và trông cậy vào Thiên Chúa”. Thánh nhân không trực tiếp dùng chữ “bỏ” và “nhận”, nhưng chúng ta vẫn khả dĩ nhận thấy bóng dáng của hai động thái đó.

Tác giả sách Khôn Ngoan thân thưa cầu nguyện: “Lạy Chúa, nào có ai biết được ý định của Thiên Chúa? Nào có ai hiểu được Đức Chúa muốn điều chi? Chúng con vốn là loài phải chết, tư tưởng không sâu, lý luận không vững. Quả vậy, thân xác dễ hư nát này khiến linh hồn ra nặng, cái vỏ bằng đất này làm tinh thần trĩu xuống vì lo nghĩ trăm bề” (Kn 9:13-15).

Phàm nhân là vậy, như Chúa Giêsu đã nói: “Tinh thần thì hăng say, nhưng thể xác lại yếu hèn” (Mt 26:41). Chỉ là bụi cát nhỏ nhoi, nay còn, mai mất, thế mà lúc nào cũng chỉ muốn nổi loạn, bởi vì “cái tôi” luôn to lớn nên lúc nào cũng phải hơn người khác, kém thua một chút là khó chịu, thậm chí còn dám “coi trời bằng vung” nữa. To gan, lớn mật thật!

Từ bỏ “cái tôi” là từ bỏ chính mình. Thật là khó. Khó lắm! Nhưng không bỏ không được, vì nó xấu, là cái đáng ghét (Pascal). Vả lại, không bỏ nó thì không thể nên người mới, không biến đổi thành con người mới thì không thể hoàn thiện, không hoàn thiện thì không thể lên trời và không thể nên thánh.

Tác giả sách Khôn Ngoan so sánh: “Những gì thuộc hạ giới, con đã khó mà hình dung nổi, những điều vừa tầm tay, đã phải nhọc công mới khám phá được thì những gì thuộc thượng giới, có ai dò thấu nổi hay chăng? Ý định của Chúa, nào ai biết được, nếu tự chốn cao vời, chính Ngài chẳng ban Đức Khôn Ngoan, chẳng gửi thần khí thánh? Chính vì thế mà đường lối người phàm được sửa lại cho thẳng, cũng vì thế mà con người được dạy cho biết những điều đẹp lòng Ngài, và nhờ Đức Khôn Ngoan mà được cứu độ” (Kn 9:16-18).

Những thứ phàm tục chẳng là gì, thế mà vẫn nhiêu khê và bí ẩn, huống chi những điều trên trời, chúng ta chẳng thể nào hiểu được khi còn đang “tạm trú” nơi thân xác này. Không ai trường sinh, bất tử. Đó là điều chắc chắn, là quy luật muôn thuở. Thế mà người ta có ngán gì đâu. Máu sôi và bốc lên tới chỏm rồi, nếu có “xả láng, sáng về sớm” cũng chỉ là chuyện nhỏ. Và như đã nói trên đây, trời cũng chỉ như “cái vung” mà thôi!

Thánh Vịnh dẫn chứng rạch ròi: “Chúa bắt phàm nhân trở về cát bụi, Ngài phán bảo: ‘Hỡi người trần thế, trở về cát bụi đi!’. Ngàn năm Chúa kể là gì, tựa hôm qua đã qua đi mất rồi, khác nào một trống canh thôi! Ngài cuốn đi, chúng chỉ là giấc mộng, như cỏ đồng trổi mọc ban mai, nở hoa vươn mạnh sớm ngày, chiều về ủ rũ tàn phai chẳng còn” (Tv 90:3-6). Đó là sự thật. Đời người tưởng dài mà ngắn, chẳng khác chi đóa phù dung, sớm nở và tối tàn, thế mà đổi màu sắc liên tục – tượng trưng thất tình và lục dục của con người. (*)

Khôn cũng chết, dại cũng chết, biết mới sống. Người biết là người khôn ngoan, biết biến đổi cái bình thường và tầm thường trở nên siêu phàm. Tác giả Thánh Vịnh là người khôn ngoan nên đã biết cầu nguyện chí lý: “Xin dạy chúng con đếm tháng ngày mình sống, ngõ hầu tâm trí được khôn ngoan. Lạy Chúa, xin trở lại! Ngài đợi đến bao giờ? Xin chạnh lòng thương xót những tôi tớ Ngài đây. Từ buổi mai, xin cho đoàn con được no say tình Chúa, để ngày ngày được hớn hở vui ca” (Tv 90:12-14). Cầu nguyện chân thành như thế thì làm sao Thiên Chúa chối từ cho đành! Cầu nguyện như vậy là khôn ngoan, còn “người thiếu khôn ngoan là kẻ ngu đần” (Hc 19:23). Sách Huấn Ca cho biết thêm: “Bước đầu của khôn ngoan là kính sợ Đức Chúa. Lòng kính sợ Đức Chúa là tuyệt đỉnh của khôn ngoan” (Hc 1:14 & 18). Đức khôn ngoan vô cùng quan trọng trong cuộc sống!

Phàm nhân có khôn ngoan tới mức nào cũng chẳng là gì, có làm được công to việc lớn cũng chẳng đáng chi. Tại sao? Bỏi vì ai cũng chỉ là tội nhân, là những kẻ xấu xa, không đáng gì trước mặt Thiên Chúa chí thánh. Do đó, ai cũng cần cậy nhờ Lòng Thương Xót của Thiên Chúa, nghĩa là phải khiêm nhường cầu nguyện: “Xin cho chúng con được vui hưởng lòng nhân hậu của Chúa là Thiên Chúa chúng con. Việc tay chúng con làm, xin Ngài củng cố, xin củng cố việc tay chúng con làm” (Tv 90:17).

Khiêm nhường bao nhiêu cũng không đủ, kiêu ngạo một chút là quá thừa. Công sức nỗ lực hoàn thiện bao ngày mà lên mặt khoe khoang một chút là tiêu tan hết. Kiêu ngạo như que diêm nhỏ bé, nhưng nó vẫn có thể thiêu rụi cả một tòa nhà nguy nga tráng lệ.

Tương tự, đốm-lửa-kiêu-ngạo cũng có thể thiêu rụi cả lâu-đài-khiêm-nhường mà chúng ta đã dày công xây dựng – nếu bất cẩn. Thật chí lý với lời nhắc nhở của tiền nhân: “Cẩn tắc vô ưu”.

Trong thư gởi cho ông Philêmôn, Tông đồ Phaolô tha thiết yêu cầu: “Tôi là Phaolô, một người đã già và hơn nữa, một người đang bị tù vì Đức Kitô Giêsu, tôi van xin anh cho đứa con của tôi, đứa con tôi đã sinh ra trong cảnh xiềng xích, đó là Ônêximô” (Plm 9b-10).

Thánh Phaolô có quyền nhưng không muốn dùng quyền để hành người khác, đó là thể hiện đức khiêm nhường. Thánh nhân nói rõ ràng với ông Philêmôn: “Tôi xin gửi nó về cho anh; xin anh hãy đón nhận nó như người ruột thịt của tôi. Phần tôi, tôi cũng muốn giữ nó ở lại với tôi, để nó thay anh mà phục vụ tôi trong khi tôi bị xiềng xích vì Tin Mừng. Nhưng tôi chẳng muốn làm gì mà không có sự chấp thuận của anh, kẻo việc nghĩa anh làm có vẻ miễn cưỡng, chứ không phải tự nguyện” (Plm 12-14). Đó là tôn trọng người khác. Có khiêm nhường mời khả dĩ tôn trọng người khác, biết tôn trọng người khác là dám từ bỏ mình, từ bỏ mình là yêu thương người khác.

Vì yêu thương tha nhân, vì xót thương “đứa con tình thần”, Thánh Phaolô sẵn sàng hạ mình mà cầu xin người khác: “Nó đã xa anh một thời gian, có lẽ chính là để anh được lại nó vĩnh viễn, không phải được lại một người nô lệ, nhưng thay vì một người nô lệ thì được một người anh em rất thân mến; đối với tôi đã vậy, phương chi đối với anh lại càng thân mến hơn biết mấy, cả về tình người cũng như về tình anh em trong Chúa. Vậy, nếu anh coi tôi là bạn đồng đạo, xin anh hãy đón nhận nó như đón nhận chính tôi” (Plm 15-17). Động thái thật tốt đẹp!

Trình thuật Lc 14:25-33 cho viết hai động thái – NHẬN và BỎ: “vác thập giá mình mà đi theo Đức Giêsu” và “từ bỏ hết những gì mình có”.

Thánh sử Luca cho biết rằng hôm đó có rất đông người cùng đi đường với Đức Giêsu. Ngài quay lại bảo họ: “Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa thì không thể làm môn đệ tôi được. Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi thì KHÔNG THỂ làm môn đệ tôi được”. Chắc chắn Ngài không “xúi dại” chúng ta, không bắt chúng ta bất nhân mà bất hiếu với cha mẹ hoặc coi thường các thân nhân, vì Ngài rất nhân hậu, và Ngài cũng không hề bắt chúng ta không chăm lo cho sự sống của mình.

Người Việt có câu: “BÁN anh em xa, MUA láng giềng gần”. Có người sửa là “vắng anh em xa…”, vì cho rằng chữ “bán” nặng nề quá. Thật ra không phải vậy, tiền nhân muốn đặt hai vế với hai động từ đối lập: Bán và Mua. Còn chữ “xa” ở đây là xa cách về địa lý, chứ không là “xa” theo nghĩa bóng – chẳng hạn, bà con xa, họ hàng xa. Còn láng giềng thì phải gần, không có láng giềng xa.

Chúa Giêsu không hề tính toán với chúng ta về lòng yêu thương, về lòng thương xót, nhưng Ngài dạy chúng ta phải biết tính toán tỉ mỉ, rạch ròi. Ngài phân tích với hai ví dụ cụ thể:

“Ai trong anh em muốn xây một cây tháp, mà trước tiên lại không ngồi xuống tính toán phí tổn, xem mình có đủ để hoàn thành không? Kẻo lỡ ra, đặt móng rồi mà không có khả năng làm xong thì mọi người thấy vậy sẽ lên tiếng chê cười mà bảo: ‘Anh ta đã khởi công xây, mà chẳng có sức làm cho xong việc’. Hoặc có vua nào đi giao chiến với một vua khác, mà trước tiên lại không ngồi xuống bàn tính xem mình có thể đem một vạn quân ra, đương đầu với đối phương dẫn hai vạn quân tiến đánh mình chăng? Nếu không đủ sức, thì khi đối phương còn ở xa, ắt nhà vua đã phải sai sứ đi cầu hoà”.

Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng. Tiền nhân dạy như vậy. Đó là người khôn ngoan. Chúa Giêsu cũng muốn chúng ta phải cố gắng sống khôn ngoan để đối đầu với ba thù (xác thịt, thế gian, ma quỷ). Tuy nhiên, “thằng quỷ” ranh ma nhất chính là “thằng” ở gần chúng ta nhất: xác thịt – tức là chính chúng ta, chứ “chẳng ai trồng khoai đất này”. Thảo nào Chúa Giêsu luôn muốn chúng ta phải cố gắng từ bỏ nó, bằng mọi giá. Cuối cùng, Chúa Giêsu kết luận: “Cũng vậy, ai trong anh em KHÔNG TỪ BỎ hết những gì mình có thì KHÔNG THỂ làm môn đệ tôi được”.

Ai cũng có cách quan sát. Người ta quan sát Chúa Giêsu và người khác, nhưng với ác ý là xoi mói và tìm cách bắt bẻ, chúng ta cũng thường làm như vậy với nhau; còn Chúa Giêsu, Ngài quan sát để biết tình huống ra sao mà “gỡ rối” cho người khác.

Tiền nhân ví von: “Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam”. Quả thật, Việt ngữ cũng chí lý lắm: TÔI là TỒI, vì TÔI thích TỐI nên lắm TỘI. Toàn là mẫu tự T, thật là “tê” quá chừng, vừa TÊ vừa TÁI. Theo ngoại ngữ, chữ Santa (thánh nhân) nếu hoán vị các mẫu tự sẽ biến thành Satan (ma quỷ), một làn ranh mong manh. Kỳ lạ quá, và cũng đáng sợ quá!

Việt ngữ của chúng ta không thể hoán vị theo dạng này, nhưng Việt ngữ lại có dạng “độc đáo” khác, ví dụ: Tôi tưởng mình TIN YÊU nhưng tôi chỉ là YÊU TINH; tôi tưởng mình là người biết LẮNG NGHE, nhưng tôi chỉ muốn người khác phải LẮNG xuống, còn tôi không NGHE ai ráo trọi; tôi muốn người khác THẤU HIỂU hoàn cảnh của tôi, còn tôi có THẤU cũng không chịu HIỂU cho họ. Ui da, lạy Chúa tôi!

Lạy Thiên Chúa, xin giúp con biết rõ con để con can đảm từ bỏ “cái tôi” của con, và có thể đón nhận mọi thập giá của cuộc đời này, xin cũng giúp con biết rõ Ngài để con yêu mến Ngài, quyết tâm hành động để có được Ngài mãi mãi. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

TRẦM THIÊN THU

————————–

(*) THẤT TÌNH gồm: Hỉ, Nộ, Ai, Lạc, Ái, Ố, Dục; LỤC DỤC gồm: (1) Sắc Dục: ham muốn thỏa mãn đôi mắt; (2) Thính Dục: ham muốn thỏa mãn đôi tai; (3) Hương Dục: ham muốn thỏa mãn cái mũi; (4) Vị Dục: ham muốn thỏa mãn cái miệng; (5) Xúc Dục: ham muốn thỏa mãn thể lý; (6) Pháp Dục: ham muốn thỏa mãn ý nghĩ.

Chống tham nhũng ở nước tôi là thế này…

Facebook Hồ Ngọc Dũng shared Chân Trời Mới Media‘s photo.

Image may contain: 1 person , text

Chân Trời Mới Media

Chống tham nhũng ở nước tôi là thế này…
———-
Trưa nay, trong lúc trò chuyện với vị Thẩm phán Toà Thượng Thẩm số 4 ở Hoa Kỳ sang làm việc tại Việt Nam, bà hỏi tôi các vụ án chống tham nhũng ở đây được xét xử thế nào.

Tôi trả lời rằng chống tham nhũng ở nước tôi không theo cơ chế tự động của luật pháp, mà phải được các nhân vật lãnh đạo đảng cộng sản ở cấp cao bật đèn xanh trước, bởi lẽ người ta dùng cái gọi là chống tham nhũng chỉ để đấu đá nội bộ, chứ không phải để chống tham nhũng thật.

Vị thẩm phán Mỹ tỏ vẻ ngạc nhiên. Tôi phải giải thích rằng ở nước tôi hầu như quan chức nào cũng tham nhũng, kể cả nhân viên điều tra và thẩm phán xét xử án tham nhũng, vậy chống ai bây giờ?
Vị thẩm phán càng không hiểu. Tôi đành tự nhủ rằng có lẽ tại vì nước tôi là nước lạ, có nhiều đặc thù riêng, không giống ai!

Status: Lê Công Định
Hình: Internet

Ra đi mà không hẹn ngày về !!!

From Facebook: Phan Thị Hồng added 2 new photos — with Hoang Le Thanh
Ra đi mà không hẹn ngày về !!!

Theo số liệu của UN DESA (United Nations Department of Economic and Social Affairs – Vụ Liên hiệp quốc về vấn đề kinh tế và xã hội), từ 1990 đến 2015 có 2.558.678 người Việt di cư ra nước ngoài. Trung bình mỗi năm có 100 nghìn người di cư.

Việt Nam nằm trong top 10 quốc gia di cư nhiều nhất khu vực Đông Á – Thái Bình Dương (tính đến 2013).

Hầu hết người Việt di cư đến các nước phát triển, trong đó đông nhất là Mỹ (1,3 triệu), Úc (227,3 nghìn), Canada (182,8 nghìn), Pháp (125,7 nghìn), Hàn Quốc (114 nghìn), Đức (113 nghìn).

Trong năm 2015, có 2,67% công dân Viêt Nam sinh sống tại nước ngoài.

Quyền tự do cư trú và di cư là quyền chính đáng của mọi công dân, là chuyện bình thường của mọi xã hội. Nhưng hiện tượng nhiều người bỏ đất nước ra đi ồ ạt như hiện nay tại Việt Nam là chuyện bất bình thường.

Quy mô di cư của người Việt ngày càng lớn, cách thức di cư ngày càng đa dạng và phức tạp. Người dân ra đi chủ yếu vì khủng hoảng lòng tin và môi trường sống không an toàn (thực phẩm, môi trường, giáo dục, an ninh, … bất ổn).

Hơn 100 ngàn du học sinh (hầu hết là giỏi và xuất sắc) học ở 49 quốc gia, trong đó có 90% du học tự túc. Riêng tại Mỹ có 28.883 sinh viên, tại Úc có 28.524 (tính đến 10/2015). Liệu có bao nhiêu nhân tài mang kiến thức đã học hỏi về xây dựng Tổ quốc quê hương !?

Nói cách khác: Liệu chính quyền cộng sản có sử dụng tài năng và chất xám của những nhân tài người Việt theo đúng chuyên môn của họ !?

Trí thức ra đi vì cảm thấy thiếu tự do dân chủ, tuyệt vọng và bất lực vì đất nước chậm đổi mới và phát triển. Doanh nhân ra đi để “phân tán rủi ro”. Quan chức (tham nhũng) ra đi để bảo vệ tài sản, …

Theo hồ sơ Panama, 92 tỷ USD đã được chuyển phi pháp ra khỏi Việt Nam (năm 2015 là hơn 9 tỷ). Đó là những con số thất thoát quá lớn.

Một xã hội mà mỗi con người không cảm thấy được an toàn, được bảo vệ, được ủng hộ thì việc chọn một không gian, một quốc gia mới, một quốc tịch mới tốt đẹp hơn sẽ thành hiện thực.

Tất cả những người ra đi mà không hẹn ngày về là do đâu ?
Câu trả lời dành cho nhà cầm quyền tại Việt Nam.

Hình đồ họa: Bản đồ di cư của người Việt. Biểu tượng chấm hoa chỉ những quốc gia, vùng lãnh thổ có người Việt sinh sống. Nguồn: IOM.

Phan Thị Hồng's photo.
Phan Thị Hồng's photo.

Về một thứ văn hoá không biết xấu hổ

Về một thứ văn hoá không biết xấu hổ

Có quan chức, có cả nhà khoa học hôm trước còn đứng ra bênh vực chuyện chặt cây không sai, cái cây trồng ở bên đường không phải là cây mỡ, việc Formosa không sai, cá chết là do thuỷ triều đỏ…, sau đó lại nói ngược lại, lại nhảy xuống biển tắm rồi nói biển đã sạch, biển có khả năng tự đào thải độc tố… Xin lỗi, lúc đó tôi lại nhớ câu nói dân gian “cầu cho những đứa nói điêu mồm nó mọc mụn hết”. Điên lắm.

_____

FB Phạm Quang Long

29-8-2016

Phó Hiệu trưởng và Hiệu trưởng Trường ĐHKHXH&NV (1996-2001); Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội (2001-2005); Giám đốc Sở Văn hoá Hà Nội (2005-2013).

Tôi mượn ý của cuốn sách “Về một nền văn hoá biết xấu hổ” do NXB Văn học ấn hành để nói về thứ văn hoá ứng xử không biết xấu hổ đang lan nhanh như bệnh dịch hiện nay.

Xấu hổ là một trạng thái tự nhận thức của con người khi thấy hành vi của mình không phù hợp với chuẩn mưc thông thường, cảm thấy có lỗi, thấy mình không xứng đáng với vị trí, cái danh mình đang mang. Vị trí và cái danh ấy, nhiều khi không phải danh vị xã hội mà chỉ giản đơn là một con người.

Những người đã lớn tiếng bênh vực những chuyện sai ở bộ này, tỉnh kia, công ty nọ… là đúng quy trình, là không sai nhưng trong thực tế, những cái sai ấy rõ lắm, lớn lắm, phơi bày ra hết cả khía cạnh pháp lý lẫn đạo lý trước bàn dân thiên hạ rồi. Thế mà họ vãn xưng xưng như những chuyện ấy chả liên quan gì đến mình. Có lẽ họ đã luyện được công phu “thiết bì công” như Kim Dung nói, da mặt dầy hơn da voi, nên mới dám nói như vậy. Các cụ dạy cực đơn giản mà minh triết ” vừa mắt ta, ra mắt người”. Với họ, chỉ cần vừa mắt ta thôi còn người khác thế nào, họ không cần đếm xỉa. Loại này, các cụ định danh rồi: ” Quân vô loài”. Đã là quân vô loài thì còn gì để nói nữa! Chúng đâu phân biệt được phải trái đúng sai mà ngượng?

Tiền mồ hôi nước mắt làm ra, đem gửi ngân hàng, bị đánh cắp từ ngân hàng, thế mà đại diện Ngán hàng bảo: ” chúng tôi thực hiện đúng quy định pháp luật. Tiền mất là do có kẻ ăn cắp. Chúng tôi đã báo cơ quan công an điều tra. Cơ quan chức năng sẽ trả lời khi có kết quả”. Chao ôi, đến thế thì để có cuộc sống yên lành sao gieo neo quá. Ai bảo vệ mình đây? Chả thế mà khi có chuỵện này nọ xảy ra, nhiều người chọn cách tự xử vì không biết trông cậy vào ai.

Công dân có vướng mắc quyền lợi với đại diện công quyền. Thế là bị o ép đủ kiểu, thậm chí bị khởi tố. Dư luận làm rát quá, người ta kỷ luật người làm sai. Tưởng rằng công lý được phục hồi. Ai dè, người ta lại tìm lỗi khác tiếp tục truy đuổi vì những lý do như con kiến. Thôi, đành chọn con đường tránh ” quan” như tránh voi cho yên tấm thân thôi. Vụ “Xin chào”đấy.

Có quan chức, có cả nhà khoa học hôm trước còn đứng ra bênh vực chuyện chặt cây không sai, cái cây trồng ở bên đường không phải là cây mỡ, việc Formosa không sai, cá chết là do thuỷ triều đỏ…, sau đó lại nói ngược lại, lại nhảy xuống biển tắm rồi nói biển đã sạch, biển có khả năng tự đào thải độc tố… Xin lỗi, lúc đó tôi lại nhớ câu nói dân gian “cầu cho những đứa nói điêu mồm nó mọc mụn hết”. Điên lắm.

Những chuyện tương tự nhiều lắm. Tôi cũng không muốn làm phiền lòng ai vì những chuyện chẳng hay ho này. Tôi chỉ muốn nói là căn bệnh mất khả năng thấy hổ thẹn, tự thấy mình có lỗi đang trầm trọng. Nó không chỉ xảy ra với đám ” dân gian” mà đã thấm vào đám công chức, trong đó có cả công chức cao cấp, cả người đã được học hành. Mà đau nhất là nó lại ngấm vào hệ thống, có ở nhiều nơi lắm.

Làm sao đây để dân khí công chức đừng rơi xuống mức mà trước đây ngay cả những kẻ thất phu cũng không mắc phải? Trong chuyện này mỗi chúng ta cũng có trách nhiệm vì đã rủ áo, khoanh tay đứng ngoài, những tưởng cứ tránh xa nó, cứ không dối trá thì mình sẽ được yên ổn. Ta đã nhầm và phải gánh chịu những sai lầm của chính mình.

5 phép lạ chứng tỏ có Thiên Chúa

5 phép lạ chứng tỏ có Thiên Chúa

Hằng ngày, phép lạ vẫn không ngừng xảy ra xung quanh chúng ta. Thế giới chúng ta đang sống đầy các phép lạ của Thiên Chúa. Nếu bạn suy nghĩ về công cuộc sáng tạo của Ngài, bạn sẽ vô cùng kinh ngạc.

  1. SỰ SỐNG HUYỀN NHIỆM

Mỗi ngày xảy ra hàng ngàn lần, đó là khi một “mầm sống con người” được tạo ra, và sau 9 tháng 10 ngày, mầm sống này là một con người ra đòi. Phép lạ sự sống không là một hoạt động bình thường, mà là một hoạt động chứa đầy chứng cớ về thiết kế của Thiên Chúa dành cho chúng ta. Thiết kế hoàn hảo của một con người theo điều kiện hợp lý tạo nên một trứng thụ tinh, bắt đầu hình thành một bộ nhiễm sắc thể và hệ gen riêng, không ai giống ai. Và như vậy, hơi thở đầu tiên của một thai nhi bắt đầu một linh hồn mới, một sự sống mới và một mục đích mới. Đó là một phép lạ thực sự kỳ diệu của Thiên Chúa.

  1. TRÁI ĐẤT KỲ LẠ

Kích cỡ của trái đất rất hoàn hảo, chính xác tới mức nếu bất cứ thứ gì hơi khác một chút thôi, nó có thể làm hư hại, thậm chí là làm cho trái đất không còn tồn tại. Rất chính xác, tầng nitrogen và oxygen rộng 50 dặm (khoảng 80,5 km) trên mặt trái đất, nếu nhỏ hơn thì sẽ không có tầng khí quyển. Rất chính xác, nếu mặt trời gần hơn thì trái đất sẽ bị thiêu rụi, nếu xa hơn thì trái đất sẽ lạnh cóng. Vị trí trái đất chỉ lệch đi một chút thì mặt trời sẽ làm cho trái đất không có bất cứ sự sống nào. Mặt trăng cũng giữ vai trò quan trọng đối với sự hiện hữu của chúng ta, vì nó chịu trách nhiệm về thủy triều và giử ổn định quá trình xoay của trái đất. Và hiện tượng trọng lực cũng vậy… Đó là điều mà khoa học không thể giải thích. Trái đất thực sự là điều bí ẩn, là phép lạ của Thiên Chúa.

  1. CHUỖI FIBONACCI

FIBONACCI.jpg

Chúng ta có thể nhân biết Thiên Chúa qua toán học và khoa học, cái mà người ta gọi là “Chuỗi Fibonacci” (Fibonacci Squence), thường được gọi là “Dấu Tay của Chúa” (God’s Fingerprint). Sự kỳ diệu toán học này chứng tỏ rằng có Tỷ Lệ Thức Thiên Chúa (Divine Proportion) biểu lộ trong thiên hình vạn trạng, những con số và những kiểu mẫu, ở các vật sống động và không sống động. Người ta phát hiện chuỗi số tạo nên một kiểu rất thú vị. Chuỗi này bắt đầu với các con số 0, 1, 1, 2, 3, 5, 8, 13, 21, 34, 55, 89, 144, và tiếp tục tới vô cực. Mỗi con số tìm được thêm vào hai chữ số khác. Một hình chữ nhật có chiều rộng và chiều dài của bất kỳ hai số của chuỗi này, tạo nên một “hình chữ nhật hoàn hảo”. Khi “hình chữ nhật hoàn hảo” này biến thành các hình vuông dựa vào Chuỗi Fibonacci và được phân chia bằng một cung, chúng ta sẽ thấy một hình xoắn ốc. Đó là sự quan trọng được tìm thấy. Chẳng hạn, hoa hướng dương, vỏ sò, sóng biển, nụ hoa, cánh hoa, quả dứa (trái thơm), sao biển,… đều được hình thành bằng thiết kế chính xác này. Mẫu điển hình của loại này được đặt ngay trên đầu chúng ta… ngay cả hình xoắn của Giải Ngân Hà cũng được định hình bằng chuỗi thiết kế chính xác này. Nó cho chúng ta biết rằng tác phẩm của Thiên Chúa có ở khắp nơi trong vũ trụ này. Đó là các phép lạ của Thiên Chúa.

  1. CƠ THỂ CON NGƯỜI

Chúng ta biết rằng cơ thể của chúng ta chứa 70% nước, nhưng đó chỉ là một trong nhiều yếu tố kỳ diệu về cơ thể con người. Thần kinh chuyển động nhanh tới 170 dặm/giờ (khoảng 273,6 km), bạn có bất ngờ không? Khứu giác của chúng ta còn ngửi thấy mùi với vận tốc nhanh hơn như thế. Nó chịu trách nhiệm điều chỉnh nhiệt độ không khí khi chúng ta hít thở, giữ cho cơ thể chúng ta có nhiệt độ hợp lý để có thể sống. Chúng ta thay đổi và phát triển các tế bào da cứ 27 ngày một lần – nghĩa là hơn 1.000 lớp da trong suốt đời người. Lạ chưa? Chúng ta là một bộ máy được điều chỉnh toàn phần tùy vào chức năng theo một trạng thái hài hòa hoàn hảo. Cơ thể con người là một kiệt tác kỳ diệu, một mê cung hoàn hảo, chỉ có bậc siêu quần “cõi trên” mới có thể phân chia tuyệt vời như vậy. Cơ thể chúng ta là phép lạ của Thiên Chúa.

  1. VŨ TRỤ BAO LA

Vũ trụ bao la có nhiều bí ẩn mà con người chẳng bao giờ tìm hiểu hết. Nó rất rộng, rộng tới vô cực, trong đó có thế giới mà chúng ta chỉ có mơ mà thôi. Có hàng tỷ tỷ ngôi sao trên bầu trời. Giải Ngân Hà này được tạo ra bởi Giải Ngân Hà khác. Bạn có tin rằng mặt trời lớn tới mức chứa được 1 triệu trái đất? Trong một mặt trời có nhiều thế giới khác. Thật là kỳ diệu! Nếu bạn tìm chứng cớ về sự hiện hữu của Thiên Chúa, không cần tìm đâu xa, cứ nhìn vào bầu trời ngay trên đầu bạn. Ai đã đi máy bay thì sẽ nhận ra Thiên Chúa.

TRẦM THIÊN THU

(Chuyển ngữ từ Beliefnet.com)

“HÃY MỜI NHỮNG NGƯỜI NGHÈO KHÓ, TÀN TẬT, QUÈ QUẶT, ĐUI MÙ…

“HÃY MỜI NHỮNG NGƯỜI NGHÈO KHÓ, TÀN TẬT, QUÈ QUẶT, ĐUI MÙ…”

Lm. LÊ QUANG UY, DCCT,

Trích EPHATA 708

Hôm nay, đúng vào Chúa Nhật Giáo Hội mở ra Năm Thánh Thể, tôi được dự một bữa tiệc Thánh

Thể nhớ đời ! Hơn hai mươi năm trước, mấy anh em trẻ Nhóm Mai Khôi chúng tôi một hôm chia sẻ Lời Chúa bất ngờ gặp phải đoạn Lc 14, 12 – 14:

“Đức Giêsu nói với kẻ đã mời Người rằng: “Khi nào ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối, thì đừng kêu bạn bè, anh em, hay bà con, hoặc láng giềng giàu có, kẻo họ cũng mời lại ông, và như thế ông được đáp lễ rồi. Trái lại, khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù. Họ không có gì đáp lễ, và như thế, ông mới thật có phúc: vì ông sẽ được đáp lễ trong ngày các kẻ lành sống lại”

Hồi đó, chỉ ngồi vòng tròn chia sẻ với nhau được những cảm nghiệm chung chung vậy thôi, chứ đem ra thực hành, sống cụ thể từng câu từng chữ đoạn Lời Chúa này một cách sát sườn theo kiểu thầy Phanxicô nghèo khó đã từng sống mười mấy thế kỷ trước, thì cánh trẻ Giáo Dân chúng tôi xin thú thật là… chịu thua ! Cũng dễ hiểu là vì dạo ấy ai cũng nghèo, giữ được một chân công nhân viên Nhà Nước ăn gạo bao cấp đã là may, lo mà “lao động là vinh quang, lang thang là… chết đói”, còn hơi sức đâu mà nghĩ đến chuyện đãi đằng thù tạc ?!?

Thế rồi thời gian cứ trôi qua vùn vụt, nay bản thân tôi đã là Linh Mục được hơn 6 năm, thi thoảng lại chạnh lòng nhớ chuyện xưa rồi nghiệm với chuyện nay, tự dưng thấy ngường ngượng làm sao ấy. Mình tu DCCT là một Dòng đi với người nghèo, luôn miệng nói về người nghèo mà sao vẫn cứ… chẳng thấy nghèo tí nào ! Lâu lâu có dịp vui trong Dòng, mừng một vị Thánh nào đó, hoặc tạ ơn với các tân khấn, tân chức, kim ngân khánh v.v…, lễ xong thì đương nhiên cũng phải có lạc, dù tiệc tùng chẳng sa hoa tốn kém quá đáng, nhưng ăn uống nhộn nhịp xong, về phòng phải nằm nghỉ cho đỡ mệt vì ăn quá no, cười quá nhiều, ngẫm nghĩ lại thấy canh cánh một trăn trở. Nhìn tới nhìn lui trong bàn tiệc, thấy toàn là các Đức Cha, các Cha, các Soeurs, các Thầy, các ân nhân và những người quen biết gần xa, đạo cao đức trọng, súng sính áo Dòng hoặc veston, soirée, ai cũng đẹp, ai cũng sang ! Đâu rồi người nghèo ? Đâu rồi những người bị dạt sang một bên trong xã hội, chìm vào bóng tối quên lãng ?

Có lần tôi với cha Khởi Phụng và cha Tiến Lộc đem câu Lời Chúa nói trên đề nghị với Bề Trên một Dòng Nữ thuộc vào hàng nổi tiếng sống nghèo. Các chị thấy hay quá, đúng quá, nhưng không biết xoay trở ra sao. Đành cứ phải mời cho đủ các Đức Cha, các Cha, đại diện các Dòng Nam Nữ, và đương nhiên là ân nhân thân hữu, không dám quên sót ai, sợ phật lòng. Mà đã có các Đấng các Bậc cỡ đó thì đương nhiên tiệc tùng phải thịnh soạn linh đình, không thôi người ta cười cho, không đáng mặt một Nhà Dòng tổ chức kỷ niệm bao nhiêu năm hiện diện tại Việt Nam. Bữa tiệc hôm ấy, không hiểu có phải tôi trót chủ quan chăng, thấy các chị lạc lõng lúng túng một cách đáng thương giữa những chuyện dựng rạp ăn uống văn nghệ xôm trò như thế ! Mấy tuần sau có dịp trở lại thăm Nhà Dòng, nói chuyện mới thấy dư âm ngày vui ấy chẳng còn

lại gì, may mà các chị vẫn giữ được cung cách nghèo.

Đang định đợi đến dịp 2005 DCCT kỷ niệm 80 năm có mặt ở Việt Nam, anh em chúng tôi đánh bạo đề nghị với Bề Trên của mình xem sao, thì không ngờ năm nay Nữ Đan Viện Biển Đức ( Bénédictine) lại mừng 50 năm. Mới ngỏ ý sơ qua, chị Bề Trên Tố Hương chịu ngay, lại thấy vui vẻ hăng hái ra mặt, coi bộ còn hào hứng phấn khởi hơn cả bữa tiệc đãi Đức Hồng Y, các Linh Mục, Tu Sĩ đại diện các Dòng Nam Nữ tổ chức vào sáng thứ bảy hôm qua. Cả Dòng Biển Đức hơn 60 chị già trẻ được huy động để chuẩn bị thật chu đáo. Bản thân tôi được các chị ân cần nhờ đứng ra mời… ( xin lỗi, dùng nguyên văn Lời Chúa hơi bị thẳng thừng chói tai một chút ) toàn là những anh chị em “nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù”, còn thêm cả các em câm điếc, mồ côi cơ nhỡ nữa chứ ! Ngày vui ấy đã đến trong sự nao nức của cả đôi bên: người mời lẫn kẻ được mời. Sáng hôm nay, Chúa Nhật 31.10.2004, lũ lượt những Gia Đình, những Nhóm, những Mái Ấm người khuyết tật đổ về một góc nhỏ sát bên cảnh chợ đời Thủ Đức, làm xôn xao khu vườn lâu nay thanh vắng tịch mịch chỉ dành riêng cho khách Tịnh Tâm.

Bàn Thờ thay vì đặt trên bục cao, đã được dời xuống cho gần sát bên những hàng xe lăn xe lắc.

Anh em DCCT được dịp “đổ quân” về đồng tế: cha Hữu Phú, cha Văn Quang, cha Thanh Bích, tôi, thầy sáu Xô Băng, thêm một lô các thầy Học Viện áo Dòng đen cổ trắng thắt chuỗi chỉnh tề. Những chiếc áo dài Biển Đức màu cà-phê sữa hiền hòa nhu mì ngồi hẳn một cánh, còn lại là hàng trăm anh chị em và các cháu khuyết tật. Bài ca nhập lễ được cất lên trong tiếng đàn của một em khiếm thị Mái Ấm Thiên Ân:

“Lạy Chúa, chúng con về từ bốn phương trời…”

Bài đọc sách Khôn Ngoan do Phước, tay organ khiếm thị, đọc bằng những đầu ngón tay lướt nhanh nhẹ nhàng trên những hàng chữ Braille. Câu đáp  “Nguồn ánh sáng và Ơn Cứu Độ của tôi chính là Chúa, Halleluia” được chọn hát vào giờ chót, tuy không đúng với Thánh Vịnh hôm nay, nhưng sao lại khớp đến thế với tâm tình, với bầu khí hiện tại, bởi không ai có thể phủ nhận rằng những con người đã mất đôi mắt, đã chẳng còn thấy được ánh sáng cuộc đời này, lại được Chúa âu yếm tặng cho một đôi mắt của tâm linh xem ra tỏ tường hơn nhiều những đôi mắt người bình thường chúng ta ! Bài đọc Thánh Thư Thêxalônica bị chậm lại một chút vì chị Thủy, một Tân Tòng bại liệt của Gia Đình Emmanuel gắng gượng mãi mới chống nạng được tới giảng đài. Giọng chị cất lên lanh lảnh đầy xác tín:

“Danh của Chúa chúng ta là Đức Giêsu, sẽ được tôn vinh nơi anh em, và anh em được tôn vinh nơi Người…” Vâng, hôm nay đã ứng nghiệm lời Thánh Phaolô, Thiên Chúa không chỉ là sẽ, mà là đã và đang được tôn vinh nơi nghị lực vượt thắng số phận nghiệt ngã của những anh chị em khuyết tật. Hóa ra họ bị tật mà không hề bị khuyết, họ tràn đầy “ân sủng của Thiên Chúa chúng ta” ! Sau khi thầy sáu Xô Băng công bố Tin Mừng, lần lượt mỗi cha đồng tế đều ngỏ lời với cộng đoàn, mỗi người một ý, xoay quanh chuyện ông Dakêu được Chúa gọi đích danh mà đổi đời… Không còn là những mẩu bài giảng ngăn ngắn nữa, mà là những lời bộc bạch thật thà… Cha Thanh Bích kết thúc ngắn gọn: “Xin cám ơn anh chị em khuyết tật, hôm nay, chính chúng tôi lại được nhận quá nhiều…”

Nhìn xuống những hàng xe lăn, tôi bắt gặp những ánh mắt rưng rưng, nếu còn thời gian cho anh chị em khuyết tật lên tiếng, không khéo họ lại cũng nói: “Xin cám ơn các cha các thầy, xin cám ơn các soeurs Biển Đức, chúng con đâu có phải là bạn bè, anh em, hay bà con, Lễ càng chẳng phải là ân nhân, là láng giềng giàu có của Nhà Dòng, chúng con cũng đâu có gì để đáp lễ Nhà Dòng, chúng con chỉ là những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù, câm điếc, mồ côi cơ nhỡ… vậy mà sao chúng con lại được mời đến đây như thế này ?”

Đến phần Kinh Lạy Cha, mười lăm chiếc áo xanh các em khiếm thính trường Thuận An, Lái Thiêu, của mẹ Nhiệm, dì Ngọc Lan, Dòng Saint Paul, tiến lên bục cao chếch phía sau bàn thờ.

Đang khi cộng đoàn cố gắng kềm chậm lại tốc độ đọc Kinh Lạy Cha vẫn quen ào ào đều đều trong các Thánh Lễ lâu nay, thì các em bắt đầu… múa ! Vâng, múa Kinh Lạy Cha ! Em nào còn phát âm được thì vừa múa các cử điệu vừa vươn cổ, vận dụng hết độ rung dây thanh quản để ú ớ thật rập ràng: “Lạy Cha chúng con ở trên Trời… Xin Cha cho chúng con hôm nay…”

Không kềm được nữa rồi, tôi trào nước mắt, cha già Hữu Phú run run nghẹn ngào, các soeurs, cả những anh chị em ngồi xe lăn, cả các bạn sinh viên tình nguyện cũng bật khóc ! Chúa ơi ! Chúa nghe rõ tiếng các em đấy chữ ? Chúa hiểu hết lòng các em đấy chứ ? Thế này thì từ nay, chúng con, những người không bị câm, những người vẫn tự hào có tiếng có tiếng, có giọng hay ho, nhất là cánh Tu Sĩ Linh Mục chúng con, sẽ chẳng còn dám khơi khơi đọc Kinh Lạy Cha như một

cái máy vô cảm. Chúng con đã hiểu đây đâu có phải là một câu kinh để đọc rổn rảng qua loa, mà là một lời khẩn nguyện Thiên Chúa là Cha của chúng con hẳn hoi !

Rước Lễ cũng đặc biệt, các cha các thầy phải len lỏi giữa những vòng bánh xe lăn, những chiếc

giường di động, những cặp nạng ngổn ngang, những bàn tay cụt ngón, những đôi mắt đeo kính đen, để trao Mình Thánh Chúa cho từng anh chị em khuyết tật giữa tiếng hát Kinh Hòa Bình: “Lạy Chúa, xin hãy dùng con như khí cụ Bình An của Chúa,… để con rọi ánh sáng vào nơi tối tăm, đem niềm vui đến chốn u sầu…”

Đi trao Mình Thánh Chúa, các cha các thầy chúng tôi mới khám phá hôm nay có không ít những

anh chị em không phải là Công Giáo. Họ đến đây đâu phải vì tò mò hay để được phát chẩn, họ đến trước hết là vì được ân cần trân trọng, cho dù các Soeurs Biển Đức chẳng tốn một đồng xu để làm các thiệp mời giấy lụa, kế nữa, quan trọng hơn, họ đến vì mang máng đoán biết sẽ có cơ may làm quen với một người Thầy, người Bạn Chân Tình là… Giêsu.

Đến phiên các chị Biển Đức cất lên bài ca Tạ Ơn 50 năm hết sức mộc mạc dung dị. Từng lời hát,

từng nét nhạc không đệm đàn, không hề được luyện thanh điêu luyện cho nó xứng tầm những dịp long trọng thế này, vậy mà cứ vút cao, vút cao, len giữa những mái tranh, đong đưa với những ngọn tre, rồi lại như xà xuống, lay động cả những cánh cỏ xanh và những viên sỏi nhỏ trên lối đi quanh co…

Kết thúc là “Mẹ ơi, đời con dõi bước theo Mẹ…” Ừ nhỉ, sẽ luôn có Mẹ dắt đoàn mù chúng con bám vai nhau rồng rắn vào đời, sẽ luôn có Mẹ cùng bập bẹ ú ớ với chúng con bài ca Magnificat, sẽ có Mẹ đẩy phía sau những chiếc xe lăn chở đầy Tin Vui đến thăm mọi người ! Đúng là sau lễ thì cũng vẫn cứ phải có lạc, nhưng hôm nay, ở đây không có súp măng cua, không có bát bửu, không có bánh hỏi thịt quay, không có những tiếng dzô dzô dị hợm của bia bọt, không có những tiếng đập bao khăn mặt lốp bốp như pháo, không có những lời chúc tụng sáo rỗng đến tội nghiệp ! Chỉ là cơm canh xào nấu đời thường, y như ở nhà, chỉ khác là đông quá, vui quá đi thôi. Văn nghệ dã chiến thì hấp dẫn vô cùng, khiến chẳng ai còn mải nói chuyện riêng ồn ào, quên cả lia đũa để trố mắt dỏng tay nghe các em Mái Ấm Huynh Đệ Như Nghĩa của các dì Phan Sinh hát. Chú “Dakêu” Y Beo người Bahnar đeo kính đen biểu diễn nổ máy xe lam bằng miệng,

nghe thầy Phong, cô Hải cùng đệ tử Thiên Ân giới thiệu: “Ở Mái Ấm của chúng tôi, niềm vui nhân gấp đôi”, nghe Gia Đình Halleluia làm cử điệu hát vang: “Ta chỉ có một Chúa trên Trời là Cha, ta chỉ có một Đức Kitô là Thầy, còn chúng ta là anh em !”

Ở đầu bài viết này, tôi đã có nhắc đến hôm nay Giáo Hội đã mở đầu một Năm Thánh của Bí Tích

Thánh Thể. Và tôi đã tâm sự rằng mình được dự một bữa tiệc Thánh Thể nhớ đời! Tôi không quá lời mà cường điệu đâu. Anh em trẻ trong Học Viện DCCT chúng tôi đã từng được cha già Hữu Phú dạy môn Phụng Vụ truyền cho cái diệu cảm về Thánh Lễ, thì hôm nay đây, chúng tôi

cảm được cái diệu của một bữa tiệc do Chúa thết đãi là thế nào. Với Thánh Lễ, qua Thánh Lễ, Chúa dọn ra cho chúng ta một đại tiệc thịnh soạn với hai món vô giá là Lời và Mình Máu

của Giêsu, con trai yêu dấu của Người. Nói hai chứ chỉ là một, Lời và Mình Máu đều là Sự Sống Thần Linh từ Thiên Chúa đem xuống mời con người chúng ta thưởng thức, nhận lấy làm lương thực nuôi cuộc đời mình, thậm chí, dùng làm toa thuốc chữa trị những căn bệnh tưởng là nan y trầm kha. Nghe no, ăn no, uống no rồi, Chúa Cha không để yên cho đàn con ngồi đó chơi không, Người muốn chúng ta về lại đời, vào lại đời, đến phiên mình cũng phải mở tiệc thết đãi anh chị em của mình bằng chính thực đơn Sự Sống mình đã được hưởng dùng miễn phí. Cái

câu “Ite… Go… Allez… Hãy đi…” ở cuối Thánh Lễ như một lời Sai Đi mới thấm thía quá chừng ! Nhất là trong

bối cảnh Năm Thánh Truyền Giáo của Việt Nam 2004 đã sắp mãn..,

Tạ ơn Chúa Giêsu với lời nhắn gửi sát sườn: “Hãy nhớ mời những người nghèo khó, tàn tật, què

quặt, đui mù…” Cám ơn các chị Biển Đức đã đi tiên phong mở đường để chúng ta có quyền hy vọng sẽ có nhiều Giáo Xứ, nhiều Dòng Tu, trong đó có cả DCCT chúng tôi, nhiều cộng đoàn, nhiều gia đình Kitô hữu cũng biết mở tiệc “mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù…”, không chỉ đến ăn cơm canh xào nấu, mà còn hơn thế nữa, mời dự tiệc Lời và Mình Máu Giêsu. Ngẫm nghĩ thấy lo lo. Bởi năm nay 2004 sắp qua, năm tới 2005 sắp đến, chắc chắn có rất nhiều Giáo Xứ gốc dân di cư, nhiều Dòng Tu sẽ kỷ niệm 50 năm chào đời. Sẽ liên tục tiệc tùng linh đình hai ba ngày liền sau những Thánh Lễ Tạ Ơn. Chẳng ai có quyền ngăn cản cấm đoán chuyện ăn uống, nhưng e rằng tìm mỏi mắt mà không thấy Chúa đâu giữa sơn hào hải vị thơm

phức và bia bọt lênh láng ! Thôi, bài viết đã miên man lê thê lắm rồi, xin được kết bằng lời Kinh Nguyện cùng Thánh Biển Đức mà các chị đã in trên mẫu ảnh kỷ niệm tặng kèm một xâu chuỗi Mai Khôi xinh xinh mười hạt:

“Lạy Thánh Tổ Biển Đức, năm xưa dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Linh, ngài đã đi vào sa mạc Subiaco để chỉ tìm một mình Thiên Chúa. Xin ngài cầu giúp chúng con biết đi vào nội tâm, để nhờ Chúa Thánh Thần và Lòng Tin Cậy Mến, chúng con cảm nếm được sự ngọt ngào của Tình Yêu Thiên Chúa. Ước gì, một khi tâm hồn chúng con trở nên rỗng không, chúng con được đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô: gương mẫu Khiết Tịnh, Khó Nghèo và Vâng Phục.

Nhờ đó, Ơn Gọi Cứu Thế của chúng con làm nảy sinh nhiều hoa quả cho Hội Thánh và cho mọi

người, hầu tất cả đều nhận biết, mến yêu và làm vinh danh Chúa Cha hơn. Amen. Halleluia”.

Lm. LÊ QUANG UY, DCCT,

Chúa Nhật 31.10.2004

httpv://www.youtube.com/watch?v=wPPEhOhyce4

Hinh Anh Giup Do Xe Lan Cho Nguoi Tan Tat

CẦU XIN BÌNH AN CHO QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU

CẦU XIN BÌNH AN CHO QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU

 + Gm. GB Bùi Tuần

  1. Mỗi ngày, tôi vẫn thường theo dõi tình hình của Đất Nước tôi.

Dân tộc tôi trên Đất Nước tôi luôn sống động. Đồng bào tôi mỗi ngày mỗi lên đường. Tất cả đều đi trong lịch sử. Lịch sử là rất phức tạp. Có ánh sáng và cũng có bóng tối. Có leo lên và cũng có trượt xuống. Có nụ cười và cũng có nước mắt. Có xây dựng và cũng có tan vỡ. Chúa cho tôi chút khả năng biết đón nhận vào lòng mình những gì là thảm cảnh của cuộc sống con người hôm nay. Tôi đau cái đau của đồng bào tôi.

  1. Tôi vẫn cầu xin Chúa cho Đất Nước tôi.

Những ngày này, hơn bao giờ hết, Chúa dạy tôi hãy cầu nguyện nhiều hơn cho Quê Hương tôi được sự Bình an. 

  1. Chúa Muốn tôi hãy góp phần vào việc đem lại sự Bình an cho Quê Hương tôi.

Tôi nhận biết mình có quá nhiều giới hạn. Nhưng Chúa dạy, thì tôi xin vâng thực thi những gì Chúa muốn nơi tôi.

Ở đây, tôi xin được chia sẻ vắn tắt vài điều quan trọng, mà Chúa dạy tôi làm, để góp phần vào Bình an cho đất nước Việt Nam yêu dấu của tôi.

Tất cả các việc này đều dựa vào gương Đức Mẹ Maria. 

  1. Việc thứ nhất  là cầu nguyện.

Cầu nguyện nói đây là sự gặp gỡ thinh lặng trong trái tim với Chúa.

Khi gặp gỡ thinh lặng trong trái tim với Chúa, tôi cảm thấy một khát vọng được sinh lại, được đổi mới nhờ Chúa Thánh Thần. Và thực sự, Chúa Thánh Thần ngự đến. Người hiện diện. Người sắp xếp nội tâm tôi. Người cho thấy con đường tôi phải đi. Người cho tôi một trái tim như rất mới, để tôi biết yêu thương như Đức Mẹ xưa. 

  1. Việc thứ hai là lắng nghe lời Chúa.

Chúa không dạy tôi là ưu tiên phải rao giảng Lời Chúa. Đức Mẹ xưa đã rất chăm chú lắng nghe Lời Chúa, và suy gẫm Lời Chúa.

Khi tôi chăm chú lắng nghe Lời Chúa, tôi mới thấy rõ ơn gọi của tôi là kho tàng ở cõi đời đời.

Kho tàng đó là Tám Mối Phúc và thánh giá Chúa Giêsu. 

  1. Việc thứ ba là dấn thân phục vụ với tâm hồn bình an, vui vẻ.

Khi tôi dấn thân phục vụ với tâm hồn bình an vui vẻ, tôi thấy gương Đức Mẹ xưa. Mẹ nhận thức mình là thiểu số, và là thiểu số rất nghèo. Nhưng Mẹ coi chính sự nghèo khó của thiểu số đó lại có khả năng đem lại bình an cho những người xung quanh. Nhờ Mẹ có Chúa ở cùng Mẹ. Do vậy, Mẹ không có tham vọng làm những chuyện bành trướng, chinh phục đấu tranh, lôi kéo ồn ào.

 7.  Ba việc trên đây đòi tôi phảicó sự tập luyện về phấn đấu nội tâm.

Phấn đấu đó được nói lên trong kinh Hoà Bình của thánh Phanxicô: “Lạy Chúa từ nhân, xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người”.

Có những câu rất đẹp, như:

“Đem yêu thương vào nơi oán thù.

“Đem thứ tha vào nơi lăng nhục.

“Đem an hoà vào nơi tranh chấp.

“Đem chân lý vào chốn lỗi lầm”. 

  1. Nhưng để thực hiện cái đẹp của những câu trên, tôi phải là người tập luyện cam go, để từ bỏ chính mình và nhất là phải có rất nhiều ơn Chúa. Nói tắt làphải có một trái tim như trái tim của Đức Mẹ Maria. Trái tim Mẹ mang sự hiện diện của Thiên Chúa yêu thương. Người ta sẽ không đón nhận được sự hiện diện đó bằng lý luận, nhưng chỉ bằng tấm lòng khiêm nhường, khó nghèo, khao khát. Tôi cũng cầu xin như vậy. 
  1. Khi góp phần xây dựng Bình an cho Quê Hương bằng những việc trên đây, tôi rút ra kinh nghiệm này:

Hãy lấy sự thiện mà đẩy lùi sự ác. Hãy lấy yêu thương mà đẩy lùi ghen ghét. Hãy đề cao lòng thương xót Chúa hơn là nhấn mạnh đến vai trò của tội lỗi. 

  1. Đức Mẹ đứng bên thánh giá Chúa Giêsu chịu đóng đinh,đó là hình ảnh Mẹ dạy tôi hãy nên giống như vậy, để góp phần vào việc đem lại Bình an cho Quê Hương tôi. Nghĩa là tôi phải chịu khó làm như Mẹ. 
  1. Ngoài ra,tôi cũng phải tỉnh thức, biết dùng ơn Chúa ban cho hiện giờ. Tôi nhớ lại đoạn Phúc Âm sau đây của thánh Luca, nói về sự dân Do Thái đã không biết dùng ơn Chúa ban để có Bình an: “Khi đến    gần Giêrusalem và trông thấy thành, Đức Giêsu khóc thương mà nói: Phải chi ngày hôm nay ngươi nhận ra những gì đem lại bình an cho ngươi. Nhưng hiện giờ, điều ấy còn bị che khuất, mắt ngươi không trông thấy được.

Thật vậy, sẽ tới những ngày quân thù đắp luỹ chung quanh, bao vây và công hãm ngươi tư bề. Chúng sẽ đè bẹp ngươi và con cái ngươi đang ở giữa ngươi, và sẽ không để hòn đá nào trên hòn đá nào. Vì ngươi đã không nhận biết thời giờ ngươi được Thiên Chúa viếng thăm” (Lc 19,41-44). 

  1. Tôi cầu mong cho những lời trên không bao giờ sẽ được thực hiện ở bất cứ nơi nào trên Quê Hương Việt Nam yêu dấu của tôi. Rất mong mọi người đều nhận biết thời giờ Chúa viếng thăm để ban Bình anchính là lúc này. Chúng ta hãy biết nghe, và biết hoán cải đời sống ngay chính hôm nay. Kẻo rồi mất bình an sẽ là thảm cảnh đau đớn cho Đất Nước, cho Hội Thánh, cho các gia đình, cho từng cá nhân. 
  1. Ở Lộ Đức, ở Fatima, Đức Mẹ đã rất tha thiết kêu gọisự hoán cải đời sống.

Tại Việt Nam, Đức Mẹ cũng đã và đang dùng nhiều cách để kêu gọi sự hoán cải đời sống. Đó là con đường dẫn tới Bình an.

 Long Xuyên, ngày 18.8.2016

+ Gm. GB Bùi Tuần

Từ: vongtaysongnguyen

TÌNH YÊU QUAN TRỌNG HƠN PHÉP TẮC

TÌNH YÊU QUAN TRỌNG HƠN PHÉP TẮC

Lữ Khách

Tôi lớn lên trong gia đình có đạo, được giáo dục trong một khuôn khổ, phép tắc “đi thưa, về trình”; nói một câu “dạ, thưa” đến hai ba lần. Tôi giáo dục con cái tôi theo nề nếp này, vì tôi nghĩ đây là phong tục tốt cần phải giữ. Nhưng tôi đã đi quá lố. Tôi coi trọng hình thức lễ nghĩa hơn tình yêu. Tôi thiếu lòng thương xót cho đứa con gầy guộc đang nằm trên giường bệnh, không biết còn đi đứng lại bình thường được hay không…

Ngày đầu vào nhà thương, sau vài giờ truyền nước biển và thuốc, con tôi bị sốt, lạnh run cầm cập, đắp ba bốn cái mềm cũng không đủ ấm. Bác sĩ cho uống Tylenol và chích thêm thuốc cầm đau. Khi cô y tá tiêm thuốc vào cánh tay nhỏ xương xẩu, con tôi la nhói lên vì đau. Mắt con đỏ hoe, rướm nước mắt. Nhìn con lòng tôi quặn đau. Tôi không cầm được nước mắt, để các giòng lệ rơi, tôi cố giữ giọng để trấn an con:

– Con ráng chút nữa, sắp hết thuốc rồi!

Sau gần năm tiếng khi chai thuốc đã cạn, cô y tá mới tháo ống nước biển nơi cánh tay của con ra. Đến lúc này con tôi đã mệt lả người. Khuôn mặt lừ đừ, không thần sắc vì từ khi nhập viện lúc trưa cho đến giờ đã hơn mười giờ đêm, con tôi chưa có gì lót lòng. Chứng bệnh đã làm liệt các dây thần kinh ở đôi chân và đôi tay của con. Người con không khác gì cọng bún mềm, rã rượi. Con tôi chẳng buồn ăn uống và cũng lười trả lời các câu hỏi của tôi. Nếu có trả lời, con chỉ nói cộc lốc một hai câu, quên kềm theo hai tiếng “dạ, thưa”. Khi đó tôi cảm thấy như bị xúc phạm vì con đã thiếu lễ phép. Nhưng khi ý tưởng đó vừa dứt, ý nghĩ khác chợt đến: con bị đau như thế, ăn ngủ không được, làm sao mà nhớ để dạ với thưa. Vô lý! Ngày hôm sau con đã khỏe, ăn uống được chút đỉnh. Mỗi lần nhờ tôi giúp việc gì, con tôi đều lễ phép nói: 

– “Dạ thưa Ba…Cám ơn Ba…”

Đêm về tôi mở lại đoạn phim của ngày hôm qua, trở lại cái khúc tự ái bị xâm phạm. Tôi tìm mọi lý lẽ để bênh vực cho lối suy nghĩ “chính đáng” của mình. Nhưng cũng cùng lúc ấy, lòng tôi bị thổn thức, xốn xang. Tôi mất bình an. Tiếng nói của Thần Dữ gợi lên lòng tự ái, tự kiêu, đem cái truyền thống phép tắc đã có từ nghìn xưa, lôi tôi trở về theo phe nó. Trong lúc lòng tôi đang phân vân chưa biết nghe theo tiếng nói của Thần Lành hay Thần Dữ, thì lời Chúa đến với tôi: “Trên hết mọi sự hãy làm vì đức yêu thương.” Tôi nghe những lời này rất nhiều lần, từ tai này sang tai kia. Nhưng chưa bao giờ tôi dừng lại để cảm nghiệm hay để sống những lời này. Tôi thấy mình thật vô lý khi đòi hỏi nơi con một điều qúa đáng. Đã bao lần tôi nằm co quắp ôm bụng, nhăn nhíu mặt mày vì cơn đau bao tử, tôi có được mấy lời nhã nhặn với vợ con của tôi? Mãi đến hôm nay, tôi mới thật sự thấm hiểu Lời Hằng Sống này. Mới biết rằng bao lâu nay tôi đã đặt sai thứ tự trong cuộc sống. Tình yêu quan trọng hơn hết mọi sự, quan trọng hơn phép tắc ngàn lần!

 Bạn thân mến!

Những biến cố đau thương: bệnh tật, chia ly, chết chóc xẩy ra trong cuộc sống, trong gia đình, cho mỗi người chúng ta không hẳn là một điều xấu nếu được nhìn bằng con mắt đức tin; khi chúng ta biết lắng đọng tâm hồn để tìm thánh ý Chúa qua từng biến cố.

***

Lạy Chúa, cám ơn Chúa đã mở mắt tâm hồn con, giúp con nhận ra chỉ có Tình Yêu là quan trọng nhất, là cao qúi nhất trên cuộc đời này. Xin Chúa gíup con luôn biết khiêm nhường để nhận và sửa sai những lỗi lầm của con, để mỗi ngày con được trở nên giống Cha trên trời là Đấng hiền lành và khiêm nhường trong lòng. Amen.

Lữ Khách

Ngọc Nga sưu tầm

NHẬN VÀ CHO

NHẬN VÀ CHO

Giuse Ngô Văn Chữ, S.J.

Khi Đức Giêsu đón nhận năm chiếc bánh và hai con cá, Ngài dâng lời cảm tạ rồi đưa cho các môn đệ của Ngài.  Ngài không trực tiếp đi phát phân bánh và cá cho năm ngàn người đàn ông, mấy ngàn người phụ nữ và các em nhỏ.  Thánh Matthêu thuật lại rằng Đức Giêsu đưa bánh và cá cho các môn đệ và dặn họ thay Ngài đi phân phát bánh và cá cho tất cả mọi người được ăn no nê (Mt 14:19b).

Mời anh chị em cùng tôi thử nhìn ngắm thánh Simon Phêrô đi phát bánh.  Phêrô nhận bánh tình thương và cá ân sủng nơi Đức Giêsu và đi phân phát.  Ngài thấy một cụ già lúc nào cũng chăm chú nghe Thầy mình giảng dạy, chắc cụ là người thèm khát Lời Chúa và là người tốt: “Cụ ăn cho no nghe, cụ cứ dùng thoải mái.”  Ngài vui vẻ đi phân phát và thích thú trong công việc này.  Phêrô gặp một anh chàng đi theo thầy trò mình để xem phép lạ.  Ngài không ưa hắn lắm nhưng cũng đưa bánh và cá cho hắn cho xong việc.  Nhưng anh chàng này lại tham lam đòi nhiều bánh mới chịu, Ngài phải cự thì hắn mới thôi.  Ngài đang chuẩn bị trao bánh cho một người khác thì phát giác tên này là đầy tớ của ông Thượng tế, “Tao dứt khoát không phát cho mày,” Phêrô nghĩ bụng, “Đừng hòng mà mày có một miếng, cho mày chừa để lần sau đừng đi theo bọn tao để lấy tin tức về báo cáo.”  Phêrô thầm nghĩ như vậy và chẳng muốn phát, nhưng Ngài chợt nhớ lời dặn của Thầy mình: “Anh chị em nhớ phân phát cho mọi người ăn no nê nghe.”  Nhớ lời Thầy và cuối cùng Phêrô đã phát.  Một lần nữa Phêrô gặp một ông Pharisêu, Ngài thầm nghĩ tên này thì không cách nào mà phát được, thầy mình nói câu gì thì nó cũng xuyên tạc, nó nói chặn họng, nó là một tên phá rối.  Thầy mình cự với nó không biết bao nhiêu lần, nó là kẻ thù không đội trời chung của mình, thầy mình chưởi nó là đồ cái thứ mồ mả tô vôi thế mà nó cứ chai mặt đi theo để nói xiên nói xẹo, chắc chắn không bao giờ mình phát bánh và cá cho nó.  Nhưng khi Phêrô quay lại bắt gặp ánh mắt đầy tình thương của Thầy và nhớ lại lời dặn dò kỹ lưỡng của Thầy khi trao bánh và cá cho mình: “ Phêrô ơi, anh nhớ phát cho tất cả mọi người, đừng chừa một ai, và hãy cho họ được ăn no nê.”  Phêrô dù không muốn phát bánh tình thương và cá ân sủng cho những người Ngài không ưa, nhưng rồi cũng đã ban phát như ý Thầy mình mong muốn.

********************************

Chúng ta thử hình dung một môn đệ theo Chúa Giêsu, giả sử tên G. chẳng hạn, cũng nhận bánh và cá từ tay thầy.  Nhìn mẩu bánh và cá trên tay, y nghĩ rằng chừng nấy người thì biết phát cho ai, họa may chỉ đủ cho mình dùng, và y cất bánh và cá vào túi.  Vì chỉ nhận và cất đi, nên phép lạ không thể xảy ra.  Phép lạ xảy ra khi người môn đệ đón nhận và biết phân phát, cho đi.  Như biển hồ Galilê và biển chết chẳng hạn, biển hồ Galilê nhận nước từ các đồi núi đổ xuống và nó phân phát nước qua sông Giođan đến biển chết, vì biển hồ Galilê nhận và chuyển nước nên lúc nào cũng có nước mới, và cá mới sống được.  Còn biển chết vì nó chỉ nhận nước từ sông Giođan và giữ lại đó nên trở thành nước ao tù và không tạo vật nào có thể sinh tồn.

Theo trình thuật của Thánh Matthêu, khi các môn đệ nhận bánh và cá từ tay Đức Giêsu để đi phân phát, họ chỉ đón nhận bằng hai tay của mình chứ không dùng thúng để hứng.  Nhưng khi đang phân phát thì họ mới sững sờ chứng kiến phép lạ xảy ra, họ phát hoài mà không hết và các môn đệ ngỡ ngàng!  Phép lạ chỉ xảy ra khi các môn đệ nghe theo lời dặn và hợp tác với thầy để đi phân phát bánh và cá.  Đức Giêsu không nói với họ nhận bánh cá để ăn, nhưng là để phân phát.  Nếu họ chỉ giữ lại để ăn thì phép lạ không thể xảy ra.  Họ đã vâng nghe làm theo Lời Thầy và được cảm nghiệm tình yêu, ân sủng, phép lạ và quyền năng của Thiên Chúa.

Anh chị em thân mến, đâu là những chiếc Bánh Ân Sủng và Cá Tình Thương mà Thiên Chúa đã đưa cho bạn và tôi với lời dặn: “Con nhớ đi phân phát cho tất cả người tốt lẫn kẻ xấu được ăn no nê?”  Cái gì cản trở bạn và tôi ban phát Bánh Tình Yêu và Cá Ân Sủng như lòng Chúa mong ước?  Đâu là những cảm nghiệm niềm vui thiêng liêng khi bạn và tôi gạt bỏ ý riêng của mình để làm theo Thánh Ý Chúa?

****************************

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết đón nhận Tình Yêu và Ân Sủng của Chúa ban nhưng không và biết lên đường phân phát cho tất cả mọi người, kẻ tốt lẫn người xấu, cho người con thương con mến, cũng như cho người con ghét, con không ưa, như Chúa đã dặn dò khi Chúa trao Bánh Tình Yêu và Cá Ân Sủng cho con.  Con đã đón nhận tình thương và ân sủng Chúa một cách nhưng không, xin Chúa cũng cho con ơn can đảm để quảng đại cho đi không mà tính toán.  Amen!

Giuse Ngô Văn Chữ, S.J.