Những tín hiệu vui của một nền dân chủ – Khi Cộng sản tự ăn đuôi của họ

Nhiều người cho rằng Việt Nam với mức dân trí không cao và sẽ còn rất lâu mới chạm tay đến dân chủ, cũng như chế độ Cộng sản sẽ còn tồn tại rất lâu tại Việt Nam do dân trí thấp. Nhất là sau vụ Formosa xả độc vào biển, mọi việc vẫn chết lặng, người ta lại thất vọng hơn. Tôi thì lại nghĩ khác, chưa bao giờ tôi thấy tin tưởng và an tâm như hiện tại. Sự tin tưởng và an tâm của tôi không đến từ những phân tích hàn lâm, cũng không phải những thảo luận giấy bút mà là thực tế tương tác, đi từ đầu đường xó chợ cho đến thị thành, tôi cảm nhận được Việt Nam sẽ sớm chạm tay vào nền dân chủ đích thực. Và chưa bao giờ ý thức dân chủ tại Việt Nam lại mạnh như hiện tại. Và tôi cũng rất mừng vì cây dân chủ Việt Nam không bị chết non!

Vì sao tôi lại nói Việt Nam sớm chạm tay vào dân chủ? Và vì sao cây dân chủ Việt Nam chưa bị chết non?

Ở câu hỏi thứ nhất vì sao Việt Nam sẽ sớm chạm tay vào dân chủ, có ba dấu hiệu căn bản để nhìn thấy điều đó: Sự bất tín nhiệm của người dân đối với nhà nước theo chiều kích phân tích, mổ xẻ; Người dân Việt Nam đã vượt qua được giai đoạn hỗn mang của đám đông và tĩnh tại hơn; Ý thức về bản thân và xã hội mà mình đang sống.

Ở khía cạnh sự bất tín nhiệm của người dân, từ những năm 1990, thậm chí trước đó, người dân cũng đã hiểu rằng mình bị lừa dối bởi chế độ Cộng sản, tuy nhiên tỉ lệ quá thấp và không có độ lan tỏa, thậm chí mỗi người dân tự biến mình thành một thứ công an của chế độ, lề lối và thói quen đấu tố từ những năm giữa thập kỉ 1950 ở miền Bắc không những giảm đi mà còn tăng lên rất mạnh trong thời đoạn này.

Ngược lại, từ những năm 1990 về sau, càng ngày, người dân càng ý thức, càng thấy được sự nguy hiểm và man trá của chế độ cầm quyền nhưng người ta sợ cho an toàn bản thân, mạng sống và chấp nhận im lặng để giữ mạng sống. Và đây là giai đoạn giữa người dân với nhà nước đẩy nhau ra xa, chia hai thái cực, người dân luôn nhận thấy mối nguy hiểm rình rập từ thực thể gọi là nhà cầm quyền. Đồng thời, khi người dân cảm thấy sợ và không còn thân thiện, đẩy nhà nước về một phía thì cũng là lúc mà nhà nước, kẻ cầm quyền cảm thấy đủ an toàn để tác oai tác quái.

Chỉ trong vòng chưa đầy hai mươi năm tác oai tác quái theo đúng nghĩa của khái niệm này, nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam nhanh chóng đẩy đất nước xuống vực của nợ nần, ô nhiễm và băng hoại đạo đức. Có hàng nhiều thế hệ, tầng lớp bị ảnh hưởng bởi cơn tác oai tác quái của nhà cầm quyền. Có thể nói rằng đây là thời đoạn mà người dân nhận rõ mặt kẻ bán nước, hại dân và tham lam rõ nét nhất. Đương nhiên, sự mất niềm tin được chuyển hóa thành hành động cánh mạng chưa công khai diễn ra khắp hang cùng ngõ hẻm.

Bên cạnh đó, sự tác động không nhỏ của báo chí dân chủ hải ngoại, mô hình xã hội dân sự, các trào lưu dân chủ và khuynh hướng dân chủ trong các tôn giáo đã nhanh chóng tạo hiệu ứng hành động. Từ Giáo Xứ Thái Hòa đến Cồn Dầu, Vinh – Nghệ An hay gia đình anh Đoàn Văn Vươn ở Hải Phòng, nhân dân ở Văn Giang, Hưng Yên cho đến hàng ngàn dân oan ở các vườn hoa trong thủ đô Hà Nội và những cuộc biểu tình đầu tiên là hai đầu đất nước gồm Sài Gòn, Hà Nội, sau đó nhiều thành phố khác cũng đứng lên biểu tình kêu gọi bảo vệ môi trường, kêu gọi dân chủ… Những cuộc biểu tình và tuần hành này chỉ dừng ở mức biểu thị thái độ chứ chưa đi đến cách mạng. Nhưng theo tôi đó mới là tín hiệu đáng mừng.

Bởi lẽ, tâm lý đám đông được giảm thiểu đến mức cuối, dường như mọi hiệu ứng đám đông đã được thay thế bằng hiệu ứng thị giác, người ta thay vì hưởng ứng biểu tình ngay thì lại quan sát biểu tình, phân tích, tìm hiểu và nhận ra được rất nhiều vấn đề. Mà quan trọng nhất là người dân tự chuyển hóa mình trở thành nhà truyền thông, sẵn sàng tuyên truyền dân chủ khi cần thiết mặc dù bản thân chưa hề tham gia biểu tình hoạc hoạt động dân chủ. Điều này hứa hẹn một đại bộ phận nhân dân có tư duy dân chủ thực sự và không bị hớp hồn bởi hiệu ứng đám đông. Và cũng cho thấy khi cây dân chủ Việt Nam đơm bông kết trái sẽ là một mùa trái từ một cái cây đã đủ trưởng thành chứ không phải dạng trái non, trái rượng (nói theo cách của người nông dân).

Và khi mọi thứ đã đủ chín muồi, một cuộc cách mạng dân chủ ghé đến cũng chưa muộn. Nhưng dù sao, hiện tại, các tín hiệu dân chủ đang ngày càng rất mạnh vầ tôi không ngần ngại để nói rằng mỗi người nông dân, ngư dân đã chính thức trở thành nhà dân chủ mà bây giờ, nhà cầm quyền có dùng tiền tấn để đấm họ cũng chẳng xi nhê gì. Họ có thể nhận tiền, có thể gật đầu với nhà cầm quyền nhưng chắc chắc có cơ hội thì họ là người xông lên lật đổ chính quyền đầu tiên. Điều này khác hẳn với kiểu nhận ơn mưa móc của chế độ trong những năm trước thập niên 1990.

Cuộc đấu tranh của những học sinh trung học phổ thông ở Tây Nguyên hay Hà Tĩnh nhằm phản đối học phí cao, tuy nhìn bên ngoài chỉ đơn giản là phản ứng của học sinh về vấn đề chi phí học tập nhưng thực ra sâu xa bên trong của nó chất chứa vấn đề ý thức hệ. Nếu như học sinh ở Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, Quảng Bình, đặc biệt là Hà Tĩnh đồng loạt không đến lớp để phản đối học phí cao thì học sinh ở Tây Nguyên, đặc biệt là Buôn Ma Thuộc mạnh mẽ hơn, các học sinh ở Chu Văn An, Cư Jut và nhiều trường khác đã biểu tình ngay trước cổng trường, đã phát tờ rơi kêu gọi phản đối chính sách dạy phụ đạo và học phí cao.

Điều này khiến cho nhà cầm quyền Cộng sản phải vào cuộc, công an phải tổ chức điều tra thừ ai đứng đằng sau các em học sinh để “xúi giục” và “động cơ nào” đã khiến các học sinh dám phản đối mạnh mẽ. Trong khi đó, có một thực tế hết sức buồn cười, khi tìm hiểu, tiếp xúc với các học sinh ở Bắc miền Trung và Tây Nguyên, tiếp xúc với gia đình các em thì tôi có chung kết quả là cha mẹ các em không hề xúi các em, các em hành động tự phát vì chỉ có chính các em mới thấy được sự vô lý và bất cập của nền giáo dục mình đang học. Để có được điều nay, các em đã phân tích từ các mô hình giáo dục dân chủ thông qua phương tiện báo chí nước ngoài, qua internet.

Và đồng hành cùng các học sinh để đấu tranh lại là các cựu học sinh, sinh viên. Như vậy, có thể thấy rằng thay vì cầu toàn, cố gắng học cho xong tấm bằng để kiếm việc làm thì các em đã biết suy tư về thân phận cá nhân cũng như thân phận xã hội, đất nước. Điều này sở dĩ có được là nhờ vào máu tham của người Cộng sản, sự tham nhũng quá mức cũng như tham quyền cố vị và dốt nát của một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên Cộng sản đã dẫn đến tình trạng thất nghiệp tràn lan. Lẽ ra công việc đó phải dành cho một tiến sĩ thực học hay một cử nhân thực học thì đám quan chức này đã chạy chọt, lo lót để có tiến sĩ, cử nhân và tiếp tục ngồi ghế lãnh đạo. Chỗ ngồi chật kín, gây ra thừa ra một khối trí thức thất nghiệp. Và đây là lúc trí thức tự phản tỉnh mạnh nhất.

Sự phản tỉnh của trí thức luôn song hành với sự phản tỉnh của người nông dân. Bởi hơn ai hết, người nông dân, nhà nông là cái nôi của những trí thức, con nhà nông ước mơ học hành đỗ đạt để đổi đời, nhà nông phải chảy máu mắt để theo đuổi ước mơ và tương lai của con cái họ. Khi mọi sự vỡ lẽ, nhà nông thấu hiểu hơn ai hết cái ách đang đè trên cổ mình.

Nhưng có một điểm khác biệt giữa Việt Nam và nhiều nước độc tài khác, đó là hành động cách mạng. Mặc dù cùng chung một xuất phát điểm, nhưng Ai Cập hay Libya, Venezuela… đều đã hoàn tất cuộc cách mạng của họ, Việt Nam thì chưa. Vì dsao? Vì tâm thức của Việt Nam, cho đến thời điểm này vẫn là tâm thức nông nghiệp, khác với tâm thức công nghiệp hay tâm thức thương nghiệp của Hồng Kông chẳng hạn. Cái khác của người nông dân là họ làm việc rất thủng thẳng, chậm rãi nhưng chắc chắn. Trước khi gieo một đám sạ thì làm bờ cỏ cho sạch, làm cỏ xong lại cày đất, rồi chờ nước bệ tới mới ngâm giống, bừa ruộng, làm mặt bằng mà cấy, sạ. Mấu chốt của vấn đề là chờ nước bệ.

Người nông dân có thể cuốc đất trước khi gieo sạ một thời gian dài nhưng chỉ ngâm giống khi có nước bệ. Vấn đề dân chủ Việt nam hiện tại là người ta chưa nhìn thấy nước bệ nên chưa ai chấp nhận ngâm giống để rồi cây lúa nảy mầm, ủ đi ủ lại mà chết non. Vấn đề hiện tại là tư duy dân chủ, não trạng dân chủ hầu như đã chan hòa trong đời sống nhân dân và nhà cầm quyền Cộng sản thì đang mỗi ngày tự ăn đuôi của họ. Một cuộc cách mạng dân chủ diễn ra tại Việt Nam thì ắt hẳn phải là cuộc cách mạng làm thay đổi mọi thứ tận gốc rễ, nó khác xa những gì người ta nghi hoặc!

Biểu tình phản đối Formosa xả thải ra sông Quyền

Biểu tình phản đối Formosa xả thải ra sông Quyền

RFA
2016-09-19

songquyen-protest-622.jpg

Hôm Chủ nhật 18/9/2016, nhiều người dân Kỳ Anh, Hà Tĩnh, tuần hành phản đối việc công ty Formosa xả thải xuống sông Quyền.

Ảnh chụp từ màn hình video youtube

Biểu tình phản đối Formosa xả thải ra sông Quyền

02:38/05:24

Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Vào ngày 18/9/2016, rất đông người dân ở giáo xứ Dũ Yên đã biểu tình để phản đối Formosa cũng như phản đối việc chính quyền cho công ty Formosa xả thải ra sông Quyền.

Xả thải ra sông Quyền

Sáng Chủ nhật 18/9, gần 2.000 người thuộc tổ dân phố Tây Yên thuộc xứ Dũ Yên, phường Kỳ Thịnh, Thị xã Kỳ Anh đã đứng lên biểu tình phản đối Formosa “xả chất thải chảy qua sông Quyền trước khi đổ ra biển”.

Trước đó vào ngày 9/9, tại buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh Hà Tĩnh, nhiều đại biểu của Hà Tĩnh kiến nghị với Bộ trưởng Tài nguyên Môi trường Trần Hồng Hà cần phải cho nước thải của công ty TNHH Hưng nghiệp Gang thép Formosa Hà Tĩnh xả ra khu vực sông Quyền (con sông này nằm cạnh khu công nghiệp Formosa) để dễ quản lý.

Sau đó phó bí thư thường trực tỉnh ủy Hà Tĩnh ông Trần Nam Hồng đã làm văn bản, dự án để xả thải ra sông Quyền trước khi cho chất thải của Formosa đổ ra biển.

Khi nhận được thông tin đó từ chính quyền tỉnh Hà Tĩnh là đang phê duyệt về dự án này thì người dân ở đây đã rất phẫn nộ và không còn tin vào chính quyền.

Việc Formosa xả thải đã làm cho ngư dân của 4 tỉnh miền Trung bị thiệt hại rất nặng nề, nguy cơ nhiễm bệnh cao, nhiều người mất việc làm, gia đình điêu đứng, trong khi nhiều hộ ngư dân lại chưa nhận được bất kỳ sự hỗ trợ nào từ chính quyền, nay chính quyền lại muốn nước thải đó đổ ra sông.

Cầu nguyện cho những người đang khổ đau

 Cầu nguyện cho những người đang khổ đau

Dongten.net

Có ai khổ như tôi không? Trời ơi, ai có thấu! Đó là những lời thường thốt ra ngoài miệng hoặc gặm nhấm tâm hồn người đang đau khổ. Khi buồn khi khổ, thời gian là những chuỗi dường như vô tận. Người ta muốn thoát ra mà không biết cách nào và khi nào có thể. Thế mà, người Kitô hữu lại đi tôn thờ một Đấng bị treo trên thập giá. Thế mà, Hội Thánh lại đi suy tôn Thánh giá. Hình như có cái gì đó sai sai ở đây!

cau-nguyen

Có những người đang đau khổ vì chiến tranh loạn lạc. Họ phải rời bỏ quê hương, đơn giản vì nếu không thì sẽ chết. Họ phải bỏ lại đằng sau tất cả những gì là truyền thống, gia đình, người thân. Họ sống trong tình trạng người còn người mất, trong một tương lai vô định.

Có những người đang đau khổ vì chưa có đủ nước uống, cơm ăn, áo mặc; vì bệnh tật, vì không được học hành. Họ sống cùng cực trong cuộc đời chật vật với kế sinh nhai.

Có những người đang đau khổ vì bị gạt ra bên lề xã hội, vì bị người thân coi như người dưng nước lã, vì bị tổn thương đến độ không dám tin ai.

Có những người đang đau khổ vì dù có tất cả của cải tài năng mà lại sống trong tình trạng trống rỗng mất hết ý nghĩa.

Có những người đang đau khổ mà không biết mình đang đau khổ. Đó là những kẻ khủng bố, tự hào về những chiến tích giết người và phá huỷ.

Lại có những con người sẵn lòng chịu khổ để toả cho đời hương thơm dịu ngọt. Họ kín múc sức mạnh từ nơi Thầy Giêsu chí thánh. Thay vì tự gặm nhấm nỗi đau, thay vì lây lất với câu hỏi: ai làm cho tôi đau khổ; thì họ tìm thấy lời đáp cho một lời mời: tôi có thể giúp ai bớt khổ. Khi không lấy mình là tâm điểm cuộc sống, khi bắt đầu biết nhìn người và biết thương người, người ta có một lối khác để thấy nỗi đau.

Giêsu vào đời vì tình yêu mến và đón nhận những đau khổ của phận người. Suy cho kỹ, hiếm có ai khổ bằng Giêsu. Ngẫm cho sâu, khó có ai vui như Giêsu. Có lẽ Giêsu là người hùng lý tưởng mà người ta kỳ vọng! Khi thấy Thầy Giêsu nổi tiếng trong lời nói và việc làm, người ta từng nghĩ như thế. Ít ai chú ý rằng, Giêsu ấy đã sống âm thầm suốt 30 năm. Ít có ai muốn nghe Thầy nói về cuộc khổ nạn. Lại càng ít người nhớ được rằng, Thầy đã nói về sự phục sinh và Thầy sẽ phục sinh. Chẳng thế, mà đến chân thập giá, người ta đều chạy trốn.

Nhiều người vào đời với tình yêu mến, nhưng tình yêu ấy rất bé nhỏ và mong manh. Người Việt thường nói, quá tam ba bận. Phêrô thì hỏi Thầy: phải tha đến mấy lần, đến 7 lần không. Phêrô không thể hiểu được cái kiểu tha đến 70 lần 7 của Thầy. Trên đường vác thập giá, người ta thì chạy trốn, có mấy chị em đạo đức vẫn đi theo Thầy, họ khóc thương cho một người Thầy đáng kính mà lại bị xử bất công. Cũng vì tình thương mến ấy, mà các chị em đi viếng mộ Thầy, để thăm xác của người Thầy đã khuất. Nhưng trong tình người, dường như cái chết là chấm dứt tất cả. Chẳng thế, mà hai môn đệ Emmau đã trở về quê sau khi Thầy của họ chết. Vì với họ, thế là hết. Bao nhiêu lý tưởng và kỳ vọng vào người Thầy này đã tiêu tan. Giờ chẳng còn gì.

Tình yêu mến của Giêsu không dừng lại ở cái chết, mà vượt qua cái chết để tới phục sinh. Tình yêu ấy hoá giải khổ đau thành niềm vui tinh tuyền. Cái khó chấp nhận lại là then chốt, đó là đón nhận Thập giá như là Thánh giá. Người ta mãi đau khổ vì người ta muốn nhanh hạnh phúc. Làm ăn chân chính thì lâu giàu, làm ăn bất chính thì giàu nhanh mà chết cũng nhanh. Ăn chơi thì nhanh vui mà khổ thì không ai đỡ được.

Đứng dưới chân Thập giá, Gioan đã giải nghĩa được thập giá nhờ ngắm nhìn Thầy, nhờ lời Thầy đã nói, nhờ những kỷ niệm sống cùng Thầy. Mẹ Maria đã đứng vững trong niềm hy vọng lớn lao cho dù dường như là chẳng còn gì hy vọng.

Con đường Giêsu khó hiểu và khó sống, vì người được gọi thì nhiều mà người được chọn thì ít, người theo đến cùng lại càng ít hơn. Cái khó nằm nơi con người chứ không nơi Thiên Chúa. Ngày nay, nhiều người thích đọc lướt, xem qua, nghe thử, trải nghiệm cho biết… Phong cách ấy là một phần của cuộc sống tươi đẹp, nhưng nếu phong cách ấy bao trùm toàn bộ cuộc sống, thì sẽ chẳng còn chỗ dành cho tha nhân và Thiên Chúa, vì tình thân với Giêsu và tình người có giá trị vô lượng chứ không hề là kiểu xã giao thoáng qua.

Lạy Chúa, Chúa thấu biết sự cùng khổ của con. Xin đồng hành cùng con, xin ban cho con sức mạnh, để con thấy cuộc đời này không chỉ toàn đau khổ mà còn có nhiều niềm vui, để con đồng cam cộng khổ với anh chị em con, để con sống niềm vui phục sinh của Chúa ngay trong những thử thách khổ đau của cuộc đời.

Tứ Quyết SJ

Đau khổ trong tương quan với Thiên Chúa

 Đau khổ trong tương quan với Thiên Chúa

Dongten.net

where-is-god-suffering

Một lần nếm trải đau khổ là một lần chúng ta được vững vàng hơn, và một lần vượt qua được đau khổ là một lần chúng ta thấy được giá trị đích thực của đau khổ. Đau khổ là cách mà Thiên Chúa vẫn dùng để dạy dỗ và tôi luyện chúng ta, bởi con đường chật hẹp luôn là con đường đi tới vinh quang. Thế nên, đừng vì lo sợ mà né tránh đau khổ, nhưng hãy xem đau khổ như là món quà Thiên Chúa trao ban để chúng ta được thông phần với Ngài.

Nói đến đau khổ thì ai trong chúng ta cũng ngán ngẩm và mong ước chúng đừng bao giờ đến với mình. Đau khổ vật chất làm cho chúng ta thường quy hướng về sự no thỏa, còn đau khổ tinh thần thì làm cho tâm hồn chúng ta luôn tha thiết đến sự bình an. Dù là đau khổ kiểu gì, chúng ta vẫn luôn sống trong sự khao khát được lấp đầy những điều thiếu thốn; và chính cái khao khát đó mới làm cho con người chúng ta luôn phải tìm kiếm. Giá trị của những đau khổ không phải là sự chứng tỏ khả năng của mỗi con người khi đương đầu với đau khổ, và tìm mọi cách để vượt qua; nhưng là một sự khám phá ra Thiên Chúa trong nhiều chiều kích khác nhau.

Nếu nhìn đau khổ như một tai ương phải đón nhận vì hệ quả của việc chúng ta đã làm, thì trong suy nghĩ của chúng ta luôn mang nặng tư tưởng của một sự trừng phạt. Tâm trí của chúng ta sẽ không bao giờ thanh thoát bởi sự giằng co giữa cái thiện và cái ác; việc thiện hay việc ác chúng ta làm không còn mang những giá trị vĩnh cửu nữa, mà chỉ vì hệ quả của chúng mà thôi. Như thế, đau khổ hoàn toàn là sự tiêu cực và vô ích đối với con người.

Nếu nhìn đau khổ như một hành trình huấn luyện cần phải có, chúng ta sẽ từng bước khám phá những điều thật tuyệt vời nơi Thiên Chúa. Chẳng bao giờ Thiên Chúa lại gởi đến cho chúng ta sự đau khổ để đòi hỏi chúng ta phải chịu đựng trong đau đớn. Chúng ta đau khổ thì chính Ngài còn đau khổ gấp bội và chúng ta đau đớn vì chịu đựng thì chính Ngài còn đau đớn hơn nhiều. Trong mỗi đau khổ, hình ảnh của Thiên Chúa chẳng khác gì những bóng râm phủ trên đỉnh đầu, để chúng ta nhận ra sự che chở của Ngài; hay những cơn mưa rào đẩy lui sự oi bức, để chúng ta được tắm gội trong tình Ngài. Bóng râm và mưa rào là những cách mà Thiên Chúa làm dịu bớt những căng thẳng và những thiêu đốt trong lòng chúng ta khi phải đối diện với đau khổ. Có khi đó chỉ là một niềm vui nho nhỏ bất chợt ập đến, xóa đi những phiền muộn của chúng ta; cũng có khi chỉ là một cử chỉ bác ái của tha nhân làm cho lòng chúng ta được thanh thản. Để rồi từ đó, chính Thiên Chúa dạy dỗ chúng ta nơi đau khổ ấy. Khám phá ra được điều Thiên Chúa muốn nói với chúng ta nơi đau khổ là một hành trình thú vị mà Thiên Chúa rất thích chúng ta thực hiện.

Khởi đi từ sự thinh lặng là điều hết sức cần thiết! Thinh lặng ở đây không có nghĩa là chúng ta không buồn nói chuyện với ai, hay không quan tâm đến ai; nhưng là dành những giờ phút đối diện với Thiên Chúa trong thinh lặng. Chính những giờ phút này giúp chúng ta nhìn lại mọi sự trong tương quan với Thiên Chúa, và cách thức Ngài dẫn chúng ta đi. Nếu chúng ta càng ngỡ ngàng bao nhiêu trước sự hướng dẫn của Ngài, thì chúng ta càng phải dành nhiều thời gian hơn để được sáng tỏ ý Ngài. Đau khổ luôn luôn để lại trong chúng ta những dấu ấn. Nếu chúng ta gắng sức giải quyết đau khổ bằng khả năng của riêng mình; thì những dấu ấn ấy thường nghiêng về chiều hướng hận thù, ghen ghét và thậm chí mất hết niềm tin. Ngược lại, nếu chúng ta để Thiên Chúa hướng dẫn chúng ta, thì tâm hồn chúng ta lại được khắc nét bởi chính dấu ấn tình yêu của Ngài.

Đau khổ sẽ còn tiếp diễn trong hành trình sống của mỗi người chúng ta nơi trần gian này. Thiên Chúa mong muốn chúng ta đón nhận đau khổ như những món quà bổ dưỡng trên con đường về quê trời. Vì thế, chúng ta hãy biết giang rộng đôi tay để đón nhận và sẵn sàng tuân theo sự hướng dẫn của Thiên Chúa. Đó là cách để chúng ta sống niềm vui thật trong đau khổ, và đón nhận đau khổ trong niềm tin vững bền.

Therese Trần Thị Kim Thoa

Sử dụng hiệu quả người tài tại Việt Nam: câu hỏi lớn chưa có lời giải đáp

Sử dụng hiệu quả người tài tại Việt Nam: câu hỏi lớn chưa có lời giải đáp

Thanh Trúc, phóng viên RFA
2016-09-17

20160912001427-anh3.jpg

Thi tuyển Giám đốc Sở Xây dựng Đà Nẵng, tháng 6 năm 2015.

 Courtesy of TTXVN

Sử dụng hiệu quả người tài tại Việt Nam: câu hỏi lớn chưa có lời giải đáp

03:12/08:07

Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Vấn đề làm sao sử dụng hiệu quả người có tài tại Việt Nam tiếp tục là câu hỏi lớn chưa có lời giải đáp. Nhiều hội thảo được tổ chức để giới hữu trách và những nhà quản lý cùng nhau tìm lối ra cho vấn đề.

Khó khăn

Tại diễn đàn “Người Tài, Người Nhà” ở Hà Nội mới đây, vụ trưởng Vụ Giáo Dục Chuyên Nghiệp trực thuộc Bộ Giáo Dục Đào Tạo Việt Nam, tiến sĩ Hoàng Ngọc Vinh, đặt vấn đề “Một chuyên viên, một vụ trưởng, một thứ trưởng chất lượng cao là như thế nào, chưa lượng hóa được thì làm sao tuyển chọn và trong dụng”. Ông cho rằng Việt Nam còn mù mờ trong việc chọn người tài.

Vẫn theo ý kiến của tiến sĩ Hoàng Ngọc Vinh, trong cơ quan hành chính, nhân tài phải là người có năng lực chu toàn nhiệm vụ, có tiềm năng sáng tạo, có khả năng giải quyết vấn đề một cách hiệu quả. Bên cạnh đó, nhân tài còn là người có khả năng dự báo, phân tích tình huống, đưa ra những quyết định hay hướng giải quyết tối ưu.

Tuy nhiên thực tế cho thấy số người có thể đáp ứng những tiêu chuẩn đó vẫn thiếu vắng.

Người dân quan tâm làm thế nào để bộ phận hành chính công phục vụ nhân dân với tiêu chí quan trọng nhất là vì dân và trong sạch.
– Giáo sư Chu Hảo

Giáo sư tiến sĩ Hồ Sĩ Quý, viện trưởng Viện Thông Tin, Khoa Học Và Xã Hội, có ý kiến đối với nhận định của ông Hoàng Ngọc Vinh:

“Đúng quá chứ còn gì nữa, ông ấy nói như thế là chính xác, phản ánh đúng tình hình. Những chuyện như là đào tạo, bồi dưỡng, phát hiện, sử dụng… tôi cho cái khâu nặng nề nhất ở ta hiện nay là chuyện sử dụng.

Việc sử dụng gắn liền với cơ chế nhà nước và gắn liền với môi trường của người tài, cho nên rất khó sử dụng và người tài cũng khó phát huy. Nói chung là tôi đồng ý với ý kiến đó nhưng nói thế thì vẫn là lý thuyết. Còn năng lực, chính sách, giải quyết các tình huống, thái độ ứng xử, độ thông minh về cảm xúc EQ hay IQ thì những thứ đó trong thực tiễn nó thể hiện nhiều hơn chứ còn lượng hóa thì người ta đã lượng hóa cả rồi.”

Giáo sư Chu Hảo, nguyên thứ trưởng Bộ Khoa Học Công Nghệ Việt Nam:

Ở Việt Nam mình gọi là công tác tổ chức cán bộ nhưng ở nước ngoài người ta gọi là công tác phát triển nguồn nhân lực cho nền hành chính công. Chính cái khác biệt ấy cũng gây ra tình trạng không tốt cho việc tuyển chọn người tài. Ở Việt Nam, những chuẩn mức của vị trí công tác đó cũng được đặt ra nhưng theo tôi là nó còn quá là chung chung. Mô tả công việc, mô tả trách nhiệm của từng công tác đó chưa được chuẩn hóa một cách cụ thể, rõ ràng. Việc đánh giá theo những chuẩn mức không rõ ràng như vậy rất khó khăn.

Những bất cập, những khó khăn, thậm chí cả những tệ nạn hiện có trong nền hành chính công của chúng ta xuất phát chủ yếu từ việc lựa chọn không đúng người vào những chức vụ trong nền hành chính công đó. Tôi nghĩ đấy là vấn nạn lớn của đất nước hiện nay.

Điều mà người dân quan tâm làm thế nào để bộ phận hành chính công phục vụ nhân dân với tiêu chí quan trọng nhất là vì dân và trong sạch. Điều đó vẫn là mảng tối trong hệ thống hành chính công của nước ta hiện nay.”

Không giúp người tài phát huy năng lực

Đối với nhà nghiên cứu văn hóa và cũng là dịch giả, thạc sĩ Đinh Gia Hưng, giảng viên Đại Học Kinh Tế Đà Nẵng, tìm kiếm và tuyển chọn nhân tài vào các vị trí lãnh đạo của bộ máy công quyền là một vấn đề quan trọng song không hoàn toàn là một vấn đề khó khăn:

000_APH2001071753268.jpg

Người trẻ học cách sử dụng internet trong một khóa học miễn phí được tổ chức tại Hà Nội. Ảnh chụp ngày 17 tháng 7 năm 2001. AFP PHOTO

“Trách nhiệm chủ chốt ở tất cả mọi ngành, mọi tầng lớp cũng như ở khía cạnh chính trị và xã hội đều phải là người tài cán, hơn hẳn người khác về tài năng, nhân cách, bản lĩnh .

Vấn đề nhận diện được người tài và chọn người tài vào trong hệ thống quản lý của xã hội cũng như quốc gia không phải là vấn đề khó khăn. Có nghĩa những nhà lãnh đạo tìm người tài thì không khó nhưng vấn đề là người ta không chọn người tài đó. Phải đặt ra một hệ thông tương ứng để người tài làm việc một cách hiệu quả nhất. Hệ thống đó chưa có tại Việt Nam.

Có thể khẳng định Việt Nam biết rất rõ ai là người tài, ai không là người tài. Vấn đề là lãnh đạo bổ nhiệm người nào, dựa trên hệ giá trị nào, hệ giá trị của người dân và chính quyền hay là hệ giá trị của một nhóm cá nhân thôi. Mấu chốt nhất là nằm ở chỗ đó.”

Đặt để một người có tài vào không đúng chỗ, ngược lại đặt để người kém khả năng vào một vị trí không tương xứng, thạc sĩ Đinh Gia Hưng góp ý tiếp, chẳng khác nào mang một con cá thả vào môi trường nước không thích hợp với thể loại và tầm vóc của nó:

Cho vào vùng nước nông thì tất nhiên con cá đó sẽ không thể hiện được sức mạnh của nó theo ý tạo hóa được. Ngược lại một con cá rất yếu lại đưa nó vào vùng biển rất sâu và rộng thì nó sẽ chết chìm ở đó, kéo theo những hệ lụy khác.”

Cũng tại diễn đàn “Người Tài, Người Nhà”, tiến sĩ Hoàng Ngọc Vinh còn cho rằng nhận diện người tài kém, mù mở trong tuyển chọn, đặt không đúng chỗ vào những việc không xứng với khả năng là những lý do khiến người có tài chán nản bỏ đi.

Thực tế tình trạng này ảnh hưởng nhiều nhất đến những thành phần du học sinh hoặc nghiên cứu sinh từ nước ngoài trở về. Anh Đặng Ngọc Sơn, từng đi du học ở Đức, hiện làm việc tại Hà Nội:

Ở Việt Nam có câu truyền miệng là “nhất hậu duệ, nhì quan hệ, ba tiền tệ”. Người đi du học về rõ ràng là không đủ thời gian để thích ứng được với môi trường trong nước. Bản thân khi họ về thì trong nước cũng không tạo điều kiện để có thể sắp xếp cho họ một vị trí hợp với khả năng của họ. Chính vì vậy nó như kiểu là một người bất đắc chí. Tôi được đi học, tôi được đào tạo một cách chính qui, tôi có năng lực thực sự nhưng tôi về lại không được làm cái việc đó. Sáng xách ô đi tối xách về, đồng lương thì không đủ, mọi thứ nó dẫn đến chán nản.

Tình trạng ở các cơ quan nhà nước là thân hữu rồi họ hàng các thứ bổ nhiệm cho nhau, đưa nhau lên.
– Tiến sĩ Vũ Ngọc Xuân

Gần như những người được đi du học và có năng lực thực sự họ không muốn về bởi họ biết có về chăng nữa thì cơ hội để có thể phát triển và thể hiện năng lực gần như là không có. Đấy là theo ý kiến đồng chí Vinh, nó tương đối chính xác theo thực tế xã hội Việt Nam hiện giờ.”

Tiến sĩ Vũ Ngọc Xuân, giảng viện Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội, từng sang du học tại Hoa Kỳ, đồng ý là cơ chế của Việt Nam không giúp người tài phát huy năng lực của họ:

Bởi vì họ không thể bổ nhiệm một người có tài năng mà qua thi tuyển lên đến chức vụ cao được. Ở các nước phát triển thì có thể một người tài qua thi tuyển được bổ nhiệm lên làm giám đốc hoặc tổng giám đốc. Ở Việt Nam thì cơ chế nhà nước không cho phép cái việc như thế, cho nên dẫn đến cái cơ chế là không trọng dụng nhân tài.

Ở Việt Nam bây giờ có mà nhận ra được người tài thì người đứng đầu cũng không thể tuyển dụng và bổ nhiệm vào vị trí ngay được vì hệ thống văn bản pháp luật liên quan không cho phép. Không có cơ hội cũng như môi trường để cho người tài có thể phát huy được là cái chung cả nước như thế.

Ngoài ra còn có tình trạng ở các cơ quan nhà nước là thân hữu rồi họ hàng các thứ bổ nhiệm cho nhau, đưa nhau lên. Thực tế bắt tay vào triển khai thì còn nhiều bất cập, thiếu sự quyết liệt của người đứng đầu.”

Liên quan ít nhiều đến câu chuyện tuyển dụng và thu hút nhân tài vào bộ máy công quyền ở Việt Nam, tại một buổi hội thảo bàn tròn trực tuyến bao gồm những nhà giáo dục vừa qua, ông Hoàng Minh Sơn, hiệu trưởng Đại Học Bách Khoa Hà Nội, đề xuất ý kiến mới là Việt Nam nên hỗ trợ người giỏi trở về nước hơn là chỉ bỏ tiền cử người đi học để rồi xảy ra trường hợp nhiều người không muốn trở về sau khi đã tốt nghiệp.

Văn hóa khinh bỉ là gì? ( RFA)

 Khi nó đã vô liêm sỉ rồi, dây thần kinh xấu hổ đã đứt rồi thì nó màng gì tới chuyện văn hóa khinh bỉ? Đây chẳng qua là một lời nói mị dân.
– Giáo sư Tương Lai

 Bản thân anh tham nhũng thì bị khinh bỉ là đúng rồi nhưng có gì mới? Bây giờ khinh bỉ là khinh bỉ cái cơ chế nào cái nguồn gốc nào nó đẻ ra tham nhũng.
– Giáo sư Tương Lai

Mời xem:

Văn hóa khinh bỉ là gì?  ( RFA)

Một xác người đi qua dưới ánh mặt trời

Một xác người đi qua dưới ánh mặt trời

                Phạm Trung Tuyến

15/09/2016

xac-nguoi

Hôm qua, khi mới nhìn thấy bức ảnh cái xác của một người đàn bà bó chiếu buộc sau chiếc xe máy chạy trên đường, tôi đã lặng người đi vì xót xa cho thân phận con người. Rồi sau đó là cảm giác gai người vì nghĩ đến chặng đường 60km từ Thành phố Sơn La về huyện Quỳnh Nhai

Trên hành trình chiếc xe chở xác đi qua, bao nhiêu người đã nhìn thấy tận mắt hình ảnh đó? Đó là một hình ảnh thách thức mọi giá trị sống mà con người chúng ta đã vun đắp, xây dựng qua hàng trăm, hàng ngàn thế hệ.

Nhưng mà chiếc xe máy chở xác người ấy cứ thế mà đi qua bao nhiêu ánh mắt, như một ảo giác, như một điều không thật, như một đoạn phim.

Người nhà của người đàn bà đã chết ấy, người đàn ông đã lái chiếc xe máy với cái xác bó chiếu trên yên xe suốt 60 km ấy, có thể anh ấy chẳng còn nghĩ được gì ngoài sự kết thúc của một quá trình đã rất nhiều khổ đau.

Người phụ nữ ấy đã chết vì lao phổi, một thứ bệnh của người nghèo, vì tuyệt vọng sau quá trình chạy chữa kéo dài và xin ra viện để về nhà chờ chết, rồi chết trên đường đi.

Người thân của chị có lẽ không bất ngờ về điều đó, anh đưa chị về, theo cái cách mà anh có thể làm, trong khả năng, giản đơn như đặt một dấu chấm trên dòng đời.

Nhưng một xác người đi qua dưới ánh mặt trời suốt cả một hành trình hơn 60 km, trong trạng thái đó, là một hình ảnh không thể bất nhẫn hơn.

Dấu chấm hết cho cuộc đời người đàn bà ấy, dấu chấm cho những tháng ngày kiệt quệ theo đuổi việc cứu chữa người thân của gia đình chị, lại là những dấu hỏi về ý nghĩa cuộc đời những con người đã vô tình nhìn thấy hình ảnh cuối cùng của chị.

Rốt cuộc thì cuộc sống của chúng ta, quá trình làm người của chúng ta có ý nghĩa gì khi thờ ơ nhìn thân xác đồng loại của mình trong trạng thái khốn cùng đi qua như thế?

Bao nhiêu con người đã nhìn thấy hình ảnh đó dưới ánh mặt trời trên suốt hành trình dài 60 cây số? Bao nhiêu cái chép miệng, bao nhiêu cái nhún vai, bao nhiêu ý nghĩ về sự đáng thương, về sự nghèo khó được thầm nhủ trong đầu? Theo thông tin từ bệnh viện thì người phụ nữ ấy đã chết sau khi ra viện, trên đường về nhà.

Bức ảnh chụp cái xác chị trên yên xe máy tại thành phố Sơn La. Như vậy, là người nhà chị đã bó chiếu và buộc xác chị lên xe máy ngay trên đường phố Sơn La, giữa ban ngày.

Bao nhiêu người đã chứng kiến quá trình đó và quay đi? Bao nhiêu tiền cho một chuyến xe để đưa cái xác ấy tử tế trở về nhà? Có thể gia đình người phụ nữ đó quá nghèo để nghĩ tới việc thuê một chiếc xe.

Nhưng bao nhiêu con người chứng kiến sự việc đó, họ đều nghèo tiền bạc, hay nghèo lòng trắc ẩn?

Một người đàn ông chở xác người đi qua dưới ánh mặt trời, lầm lũi suốt hành trình 60 cây số. Đó là một hình ảnh khốn cùng không phải của riêng thân phận người đàn bà đã chết, không phải sự khốn cùng của một gia đình nghèo.

Đó là sự khốn cùng của một xã hội nghèo nàn lòng trắc ẩn, nghèo nàn tính người, nghèo nàn sự sẻ chia.

Người đàn bà ấy chết rồi. Chị không còn cảm thấy đau khổ vì thân phận của mình nữa. Mọi nỗi đau chị đã để lại hết cho cõi nhân gian này, cho những người mà số phận bắt họ phải chứng kiến hình ảnh cái xác của chị được đưa đi như thế.

Người đàn bà ấy đã sống một cuộc sống quá khổ sở rồi, chị đã thoát khỏi cuộc sống ấy rồi, với chị, được đưa về quê bằng xe tang tử tế, hay nằm ngang yên xe máy thực có khác gì nhau?

Chỉ có chúng ta, những người vẫn đang sống nốt  cuộc đời của mình là sẽ phải nghĩ suy về hạnh phúc và khổ đau của tháng ngày trước mắt.

“Được đi học thì đừng ăn cắp!”

ĐỂ NHỚ MỘT THỜI …. : “Được đi học thì đừng ăn cắp!”

“Được đi học thì đừng ăn cắp!”

khai-tri

Nhà sách Khai Trí trên đường Lê Lợi – Sài Gòn. 1969

Tản văn dưới đây của nhà thơ Đỗ Trung Quân đã làm nhiều cư dân mạng xúc động và thú vị. Ông gợi lên hình ảnh của tiệm sách Khai Trí và người chủ của nó, một nơi thân quen trong lòng người Sài Gòn yêu chữ nghĩa.

…Tủ sách ở nhà không còn đủ cho thằng nhóc nữa. Nó cũng hết tuổi thiếu niên từ lâu, nó nhảy lên Sài Gòn tìm được chỗ này nơi rừng sách mênh mông, nơi có thể cắm mặt vào sách từ sáng tới chiều miễn… không được mang ra mà quên trả tiền. Tiếng lóng của Sài Gòn là “đọc cọp“ như xem cine không mua vé, lẫn vào đám xếp hàng để chuồn vào gọi là “xem cọp”. Ông chủ hiệu sách ngồi trên lầu 2. Người Sài Gòn thường gọi là “ông Khai Trí”; lâu dần chỉ người trong giới mới nhớ tên thật của ông: Nguyễn Hùng Trương. Xuất thân không được học hành nhiều nhưng con người này sẽ trở thành một trong những biểu tượng “Khai Trí” cho nhiều thế hệ học sinh, sinh viên Sài Gòn bằng nhà sách danh tiếng của mình.

Đấy là một buổi chiều Sài Gòn sầm mưa, màu thành phố hệt như màu “chiều tím” của Đan Thọ – Đinh Hùng. Dường như tôi đã chúi mũi ở giá sách này rất lâu, một trăm khổ thơ lục bát của tác phẩm mới xuất bản “Động hoa vàng” dường như còn thơm mùi mực. Tôi buộc mình phải học thuộc lòng nó vì lý do duy nhất: không đủ tiền mua ấn phẩm, mà ca khúc “Đưa em tìm động hoa vàng” mà danh ca Thái Thanh đang làm ngây ngất mọi tín đồ của quán cà phê Sài Gòn khi ấy. Nhưng trời đã tối, chỉ mới thuộc đến khổ thơ thứ 78. Chàng trai trẻ quyết định một quyết định chưa từng có trước đó trong đời: ăn cắp sách.

Tập thơ lận sau lưng áo học trò ra cửa.

Ông Hùng Trương ngồi sau chiếc bàn cũng chật đầy sách, hầu hết đều ngổn ngang chưa sắp xếp, có đủ mọi thể loại. Có lẽ đấy là những cuốn sách được tịch thu lại từ những kẻ… thó sách như tôi. Giọng ông trầm, ôn tồn, âm miền Nam:

“Em học lớp mấy? Là học trò sao lại đi ăn cắp? Ăn cắp gì cũng xấu hiểu chưa? Tôi coi sổ thấy em mới phạm lần đầu ở đây nên cho em về. Ráng làm người tốt, được đi học thì đừng thành ăn cắp nghen em!”

Tôi bước khỏi Khai Trí mặt cúi gằm, chưa bao giờ đời mình xấu hổ đến thế.

Hơn 30 năm sau, tôi bước vào căn nhà nhỏ trên đường Điện Biên Phủ. Ông Khai Trí sau nhiều năm sống ở nước ngoài nay về Sài Gòn. Ông chưa thôi nung nấu tâm nguyện mở lại nhà sách, dù sau 1975 nhà sách của ông bị tịch biên, hàng tấn sách của ông bị tiêu hủy hoặc phát tán vào tay ai không rõ. Tội danh dành cho ông ngày ấy là “truyền bá văn hóa Mỹ-Ngụy độc hại”. Chuyến về thăm này, ông nhờ người liên lạc với tôi và mời đến. Tôi ngạc nhiên không rõ điều gì.

Ông già và gầy hơn xưa. Chỉ sự ung dung, điềm đạm của một người thành lập một nhà sách danh tiếng nhất Sài Gòn là còn nguyên vẹn. Ông đưa một bản in tay bài thơ “Quê hương-bài học đầu cho con” để xin tác giả ký tên. Ra là thế!

Nhưng tôi chưa ký ngay, tôi dò hỏi ông trong ký ức liệu bao nhiêu đứa học trò ăn cắp sách ngày xưa tại nhà sách của ông, được ông tha về, ông còn nhớ nổi? Ông già hiền lành lắc đầu, “ Sao nhớ nổi thưa ông!”

Và tôi dẫn ông về buổi chiều nhá nhem tối của Sài Gòn hơn 40 năm trước, “Nó đây thưa ông, đứa học sinh ăn cắp tập thơ Phạm Thiên Thư được ông tha cho với lời khuyên bảo ân cần.”

Tôi ký tên vào bản thơ duy nhất của ông, còn hơn cả thế, nó còn dòng chữ ghi thêm “cảm ơn ông với lời khuyên ngày xưa-đã được đi học thì đừng ăn cắp”

Ông Khai Trí đã mất sau đó vài năm. Giấc mộng mở lại “Khai Trí” của ông không thành. Nhìn lại bức hình nhà sách cũ của ông những năm 69 – 70, nhớ ông, tôi viết những dòng này.

(Đỗ Trung Quân – sài gòn tháng tám – 2012)
Nguồn: baotreonline

Vài lời của người post

Đọc tâm tình của tác giả, tôi dưng dưng nước mắt… Dễ gì mà trong một bài viết ngắn, độc giả gặp được tới hai tâm hồn đẹp: tâm hồn của nhân vật trong câu chuyện và tâm hồn của tác giả viết câu chuyện … thẳng thắn và can đảm…. thật đẹp

From: Do Tan Hung

Thay đổi tư duy quản lý đất đai

 Thay đổi tư duy quản lý đất đai

Nam Nguyên, RFA
2016-09-16

RFA

 danoan-622.jpg

Những oan ức được viết lên biểu ngữ, trang phục tố cáo những việc làm sai trái của chính quyền địa phương.

by Nguyễn Tường Thụy

Thay đổi tư duy quản lý đất đai

Mọi người được phép tích tụ ruộng đất, câu chuyện thần tiên đi ngược lại chủ trương phân chia ruộng đất và hạn điền mà Nhà nước Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện trong hơn 60 năm qua, nay có dấu hiệu chuyển biến.

Chiến lược phát triển nông thôn

Đảng Cộng sản Việt Nam đã phát đi tín hiệu này qua phát biểu của ông Nguyễn Văn Bình, Trưởng ban Kinh tế Trung ương tại Hội nghị Phát triển Doanh nghiệp Nông nghiệp trong tiến trình tái cơ cấu nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới, được tổ chức hôm 8/9 tại Hà Nội.

Trong cuộc phỏng vấn qua điện thoại vào tối ngày 15/9/2016, Tiến sĩ Đặng Kim Sơn, nguyên Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn, từ Hà Nội phát biểu:

“Trước đây đã nói nhiều về việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế, bây giờ Chính phủ nhấn mạnh rất nhiều đến vấn đề gọi là chuyển đổi mô hình quản lý của Nhà nước sang mô hình gọi là Nhà nước kiến tạo, Nhà nước xây dựng.

Thế thì đây chính là lúc để Chính phủ xem xét tạo nên những chính sách đột phá, trong đó đặc biệt có mảng đất đai. Tất nhiên là thay đổi luật không phải dễ dàng và nhanh chóng được nhất là Luật Đất đai vừa mới sửa đổi, nhưng mà những chính sách đột phá có lẽ phải bắt đầu từ bây giờ, để trong tương lai có thể điều chỉnh những điều quan trọng về đất đai.”

Muốn sản xuất lớn phải có diện tích đất đai lớn, nếu hạn điền như hiện nay thì không thể nào làm lớn được.
GS Võ Tòng Xuân, Cần Thơ

Cần sửa Luật Đất đai

Báo SaigonTimes Online trích lời ông Nguyễn Văn Bình nói rằng mô hình kinh tế hộ giúp Việt Nam thoát cảnh đói ăn trở nên khá giả hơn, nay đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử. Bây giờ nông nghiệp Việt Nam phải chuyển qua sản xuất hàng hóa lớn để tham gia vào thị trường và chuỗi giá trị toàn cầu.

Ông Nguyễn Văn Bình khẳng định là trong thời gian sớm nhất Ban kinh Tế Trung ương cùng các Bộ ngành hữu quan sẽ đề xuất Bộ Chính trị, Ban Bí thư thông qua hai chủ trương lớn là tích tụ ruộng đất và đẩy mạnh kinh tế hợp tác trong sản xuất nông nghiệp.

Cảnh nhân dân ngồi chờ bên ngoài các cơ quan nhà nước

Cảnh nhân dân ngồi chờ bên ngoài các cơ quan nhà nước

Cho phép tích tụ ruộng đất thì cần phải sửa Luật Đất đai, đây là phản ứng tích cực của Giáo sư Võ Tòng Xuân, chuyên gia nông nghiệp nổi tiếng trên báo mạng Một Thế Giới ngày 14/9/2016.

Vị Giáo sư gắn bó với đồng bằng sông Cửu Long nói với nhà báo, xin trích nguyên văn:

“Muốn sản xuất lớn phải có diện tích đất đai lớn, nếu hạn điền như hiện nay thì không thể nào làm lớn được. Mà chỉ khi sản xuất lớn mới cơ giới hóa được, mới nâng cao năng suất, hạ giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm.

Qua đó, nông nghiệp Việt Nam mới có được thương hiệu, mới có được những sản phẩm thống nhất, đặc trưng và thúc đẩy công nghiệp hóa nông nghiệp, nâng cao đời sống của người nông dân.”

Những vấn đề cốt lõi

Nhận định về sự thay đổi quan trọng trong quan niệm đất đai của giới chức cao cấp của Đảng, Phó Hiệu trưởng trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội, Giáo sư Tiến sĩ Vũ Văn Hóa phát biểu:

“Tích tụ ruộng đất ở Việt Nam không giống như các nước Âu Mỹ bởi vì đất đai họ rộng và tài nguyên nó khác. Việt Nam đặt ra vấn đề tích tụ ruộng đất tuy nhiên phải từng bước một.

Từ trước đến nay chưa có chính sách như thế thì bây giờ phải sửa đổi. Tất cả những văn bản pháp quy có liên quan đến ruộng đất, vấn đề sở hữu, vấn đề canh tác rồi là việc chuyển đổi quyền sở hữu đó như thế nào, hay sử dụng như thế nào.

Việt Nam hiện nay chỉ có quyền sử dụng chứ không có quyền sở hữu đất đai. Thế cho nên phải sửa đổi Hiến pháp cũng như các chính sách, tôi nghĩ tuyên bố là một đàng, còn làm được vấn đề đó lại là một giai đoạn dài và cần sửa đổi hàng loạt chính sách có liên quan đến ruộng đất, cũng như đến sở hữu và sử dụng ruộng đất tiếp theo.”

Tuyên bố là một đàng, còn làm được vấn đề đó lại là một giai đoạn dài và cần sửa đổi hàng loạt chính sách có liên quan đến ruộng đất.
TS Vũ Văn Hóa, Hà Nội

Trên báo chí, TS Đặng Kim Sơn, nguyên Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn nhiều lần nhấn mạnh muốn tích tụ được đất đai thì phải giải quyết được 3 vấn đề cốt lõi.

Trao đổi với chúng tôi, ông nhấn mạnh tới điều rất quan trọng để tạo nên một nền nông nghiệp mới có năng suất cao hơn, có hiệu quả cao hơn, hướng vào giá trị gia tăng và phát triển bền vững, là phải thay đổi các điều kiện để tổ chức sản xuất nông nghiệp. TS Đặng Kim Sơn giải thích:

“Thứ nhất phải rút được lao động ra khỏi nông thôn. Phải đưa được đông đảo đội ngũ lao động trong nông nghiệp tham gia vào lao động phi nông nghiệp, nhưng mà trên vị thế rất là sẵn sàng, trên một vị thế rất cân bằng để mà họ có thể tham gia vào thị trường lao động chính thức.

Thứ hai khi đã rút được nhiều lao động ra khỏi nông thôn rồi thì phải tích tụ đất đai lại vào tay những người biết làm ăn, những người có điều kiện làm ăn.

Trên cơ sở đó khi mà trang trại rộng hơn lớn hơn và nông dân có điều kiện để gắn bó với nhau thành các hợp tác xã, thì lúc đó mới có điều kiện để kéo các doanh nghiệp càng nhiều càng tốt từ các lĩnh vực khác đầu tư vào nông nghiệp nông thôn và tạo điều kiện cho ngay bản thân những người làm ăn giỏi ở nông thôn khởi nghiệp, chuyển sang làm ăn kinh doanh phi nông nghiệp.

Có như thế mới tạo ra được thị trường kết nối được sản xuất trong nông nghiệp Việt Nam với thị trường trong nước và thị trường thế giới, mới có thể đưa được nghề mới vào, mới có thể tạo ra nguồn đầu tư mới, nguồn vốn quan trọng mà đủ sức tạo sức bật mới cho nông nghiệp.”

Đã mất 20 hơn năm

Với chính sách ruộng đất của Nhà nước Xã hội Chủ nghĩa, Việt Nam hiện nay có hơn 14 triệu nông dân với 70 triệu thửa ruộng, diện tích canh tác trung bình toàn quốc chỉ khoảng 1.000 mét vuông đầu người.

Miền Bắc và miền Trung rất ít đất, một gia đình nhiều nhân khẩu có thể có những mảnh ruộng nhỏ bé và không liền kề. Tình hình ở miền Nam, đặc biệt là vùng đồng bằng sông Cửu Long có khá hơn, nhưng đại đa số hộ nông dân có diện tích canh tác dưới 1 héc ta tức dưới 10.000 mét vuông.

Khi phát tín hiệu là Đảng sẽ cho phép tích tụ ruộng đất, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương Nguyễn Văn Bình tự bạch rằng, Việt Nam đã chậm trễ hơn 20 năm, khi tiếp tục duy trì mô hình phát triển nông nghiệp trên nền tảng kinh tế hộ.

Theo lời ông Bình, từ những năm 90 của thế kỷ trước, Việt Nam đã tự túc lương thực và còn dư để xuất khẩu hàng triệu tấn mỗi năm.

Sự chậm trễ vừa nêu dẫn tới hậu quả ngày nay là nông dân vẫn nghèo dù không đói và tăng trưởng trong lĩnh vực nông nghiệp hầu như đã tới ngưỡng, không những không tăng mà đang suy giảm, nhất là khi đối diện thiên tai, biến đổi khí hậu.

Ở Việt Nam không chỉ thị trường đất đai chưa hoàn chỉnh mà cả thị trường lao động cũng chưa hoàn chỉnh. Đây là hai chân phải đi song song trong quá trình đổi mới chính sách đất đai.
TS Đặng Kim Sơn

Khi nào nông dân chịu bỏ đất?

Khi vấn đề tích tụ ruộng đất được đặt ra với ưu tiên cao, giới đảng viên bảo thủ e ngại trở lại thời kỳ nông dân không ruộng và chế độ địa chủ thuê tô.

Điều này đã được ông Nguyễn Văn Bình trấn an tại Hội nghị phát triển Nông nghiệp ngày 8/9/2016 vừa qua. Trưởng Ban Kinh tế Trung ương khẳng định phải tích tụ được ruộng đất mà vẫn bảo đảm được quyền lợi của người nông dân.

Trên báo mạng Một Thế Giới, Giáo sư Võ Tòng Xuân nhấn mạnh rằng, Nhà nước cần phải hoàn thiện luật, tích tụ ruộng đất để sản xuất chứ không phải đầu cơ, tích trữ, lạm dụng quyền sở hữu, sử dụng đất. Theo đó, cần phải cấm tích tụ ruộng đất theo kiểu bắt bí, ép buộc để mua rẻ đất, lập dự án treo, phân lô bán nhằm làm giàu bất chính vì lợi ích của một nhóm người nào đó.

Trả lời chúng tôi, TS Đặng Kim Sơn, nguyên Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn nhận định:

“Điều lo ngại chính của những nhà hoạch định chính sách là những trường hợp tích tụ đất vào tay người sử dụng đất có hiệu quả. Nhưng trong khi đó lại không tạo được việc làm cho những người đã giao đất đi, không có sinh kế hợp lý cho những người này và có thể làm tăng tỷ lệ thất nghiệp hoặc giảm thu nhập của người nông dân.

Thay vì sản xuất nhỏ bây giờ tập trung sản xuất lớn, nhưng mà những người lao động rút ra khỏi đất đai phải được đào tạo nghề, phải được vay vốn, phải được hướng dẫn kỹ thuật, phải được tạo ra việc làm ở những lãnh vực phi nông nghiệp có thu nhập ổn định.

Làm thế nào mà hai việc ấy diễn ra song song được thì câu chuyện ấy mới là an toàn. Điều lo ngại là điều kiện ràng buộc về tốc độ của quá trình tích tụ đất đai nó bị phụ thuộc rất nhiều nữa là phần của thị trường lao động.

Ở Việt Nam không chỉ thị trường đất đai chưa hoàn chỉnh mà cả thị trường lao động cũng chưa hoàn chỉnh. Đây là hai chân phải đi song song trong quá trình đổi mới chính sách đất đai. ”

Rõ ràng Việt Nam đã quá chậm và thiếu chuẩn bị trong công cuộc tái cơ cấu nền kinh tế, đặc biệt kinh tế nông nghiệp. Giới chuyên gia cho rằng chặng đường phía trước còn xa để tới được cuộc đổi mới đột phá về tích tụ ruộng đất.

Nhưng theo TS Đặng Kim Sơn, người dân rất năng động họ đã tự mình tìm ra phương cách riêng để thực hiện việc tập trung đất đai sản xuất lớn, thí dụ như mô hình cánh đồng lớn ở đồng bằng sông Cửu Long.

Hay sự kiện ở miền Bắc, người dân gom đất lại và cho người có điều kiện làm ăn thuê, người cho thuê nhận được tiền thuê đất hay hoa màu tương đương với lợi tức mà trước kia họ tự canh tác.

Vẫn theo TS Đặng Kim Sơn, trong khi chờ đợi khung pháp luật hoàn thiện, người nông dân dù chỉ có quyền sử dụng đất, không có quyền sở hữu đất nhưng họ vẫn hành xử với đất và đầu tư vào đất như là những người chủ thực sự.

Phỏng vấn ĐGM Phaolô Nguyễn Thái Hợp về môi trường biển ô nhiễm Miền Trung và hướng giải quyết ra sao?

Phỏng vấn ĐGM Phaolô Nguyễn Thái Hợp về môi trường biển ô nhiễm Miền Trung và hướng giải quyết ra sao?

httpv://www.youtube.com/watch?v=1KOFV1mpZAI

LM Trần Công Nghị, Giám đốc VietCatholic Network, hôm nay đã có cuộc phỏng vấn với Đức Cha Phaolô Nguyễn Thái Hợp, giám mục giáo phận Vinh về tình hình môi trường biển nhiễm độc Miền Trung.

Trước tiên Linh mục Giám đốc gửi lời chào thăm Đức Cha Phaolô và hiệp thông với giáo phận Vinh trước những khó khăn và thảm trạng môi trường mà giáo phận Vinh đang phải gánh chiụ.

Linh mục giám đốc cho biết hiện nay giáo dân cũng như đồng bào Việt Nam ở hải ngoại hướng nhìn về tổ quốc với đầy những âu lo sau những biến động kinh hoàng về môi trường ô nhiễm ở miền Trung.

Linh mục nhận định rằng: Trước những cuộc tuần hành hòa bình để đưa ra những yêu cầu chính đáng của người dân trong giáo phận Vinh, là nơi chịu những thiệt hại về môi sinh nặng nhất trong vụ Formosa; và thái độ xuyên tạc, vu cáo của các phương tiện truyền thông nhà nước Việt Nam đối với anh chị em giáo dân và đặc biệt là đối với cá nhân Đức Cha, mọi người hết sức quan ngại.

Và Linh mục giám đốc cảm ơn Đức Cha giáo phận Vinh đã dành thì giờ trả lời cuộc phỏng vấn ngày hôm nay.

Sau đây là những câu hỏi của Linh mục Trần Công Nghị với Đức Cha Nguyễn Thái Hợp:

  1. Thưa Đức Cha, dù ở xa ngàn dặm chúng con cũng có thể hình dung ra được tình trạng bế tắc của các ngư dân đã mất hết ngư nghiệp, đi đánh bắt cá về không ai mua, làm muối cũng không có nơi tiêu thụ. Xin Đức Cha cho chúng con biết thêm những thông tin cập nhật về tình trạng khó khăn mà người dân trong vùng đang phải đương đầu.
  2. Thưa Đức Cha, bên cạnh những khó khăn về mặt kinh tế của người dân bốn tỉnh miền Trung, âu lo của nhiều người là khả năng nhiễm độc tố ảnh hưởng đến sức khoẻ của người dân trong vùng và trên một bình diện rộng lớn hơn. Đức Cha nghĩ sao về quan ngại này, thưa Đức Cha?
  3. Trước những khó khăn như thế, vậy mà mới đây các quan chức chính quyền lại muốn đánh lừa dân chúng, nói rằng nước biển sẽ tự làm sạch! Và còn đi tắm biển nữa để cho dân biết rằng hết nguy hại rồi… Thực là hoang tưởng! Đức Cha nhận định thế nào về hướng giải quyết của nhà cầm quyền Việt Nam, thưa Đức Cha?
  4. Có những thông tin trái chiều về số tiền bồi thường của Formosa, Đức Cha có thể soi sáng cho chúng con hiểu thêm về vấn đề này không? Theo Đức Cha, hướng giải quyết hợp tình, hợp lý về vấn đề này là gì?
  5. Đức Cha đã và đang can đảm lên tiếng kêu đòi công lý và hòa bình cho anh chị em giáo dân của mình. Chúng con rất thán phục Đức Cha. Tông Huấn Niềm Vui Phúc Âm mời gọi chúng ta đừng vô cảm trước tiếng kêu của người nghèo, đừng ngoảnh mặt làm ngơ trước nỗi đau của người khác. Nhưng chúng con biết là ở Việt Nam các phương tiện truyền thông thường xuyên tạc câu nói của Đức Bênêđíctô thứ 16, “Người Công Giáo tốt là người công dân tốt” với một thâm ý rõ rệt là muốn đẩy lui tôn giáo vào sâu trong chiều kích cá nhân, không quan tâm tới đời sống xã hội và quốc gia, không ưu tư gì tới sự lành mạnh của các cơ chế dân sự và tối hậu là im lặng trước những sai trái của chế độ. Chúng con rất mong được nghe ý kiến của Đức Cha rõ ràng và dứt khoát về vấn đề này.
  6. Theo thói quen cố hữu, “người ta” thường vu cáo những ai dám lên tiếng đấu tranh cho người nghèo, và cho nhân quyền. Xin Đức Cha cho biết tình trạng các linh mục hay các giáo của Đức Cha đang dân dấn thân nói lên sự thật và tranh đấu cho công lý hiện có đang gặp những khó khăn nào từ phía chính quyền không?
  7. Đức Cha hay giáo phận Vinh có nhận được sự ủng hộ tinh thần hay vật chất nào không?

Nguồn: http://www.vietcatholic.net/News/Html/189988.htm

Quấn chiếu chở thi thể về nhà bằng xe máy, cần lắm một lời xin lỗi!

 Quấn chiếu chở thi thể về nhà bằng xe máy, cần lắm một lời xin lỗi!

Ngày đăng: 15/09/2016

Dongtenvietnam

can-lam-mot-loi-xin-loi

Hình ảnh khiến dư luận xôn xao trên mạng xã hội. Nguồn: tuoitre.vn

Chị Lò Thị P thương mến,

Hôm nay báo chí đưa tin cảnh đau lòng về sự ra đi của chị. Đau lòng vì chúng tôi nhìn hình thi thể của chị được quấn chiếu chở về nhà bằng xe máy. Hình ảnh ấy để lại nỗi đau thương và nhiều uẩn khúc vì đâu chị lại chịu cảnh bi đát như thế? Trên hết, lúc này chúng tôi cầu nguyện cho linh hồn chị thật nhiều. Mong chị được nghỉ yên nơi vĩnh hằng!

Là vợ của một người chồng đã chết vì căn bệnh HIV, chị đến bệnh viện trong tình trạng suy kiệt rất nặng, không đi đứng được, thậm chí gọi thì hiểu nhưng không nói được. Là bệnh nhân 40 tuổi, chị chỉ nặng 32 kg… Là người nghèo, dĩ nhiên chị không thể đến những bệnh viện sang trọng để điều trị dưỡng bệnh. Do đó, chị được người nhà đưa đến Bệnh viện Lao và bệnh phổi Sơn La cách nhà chị khoảng hơn 100km.

Trước hình ảnh thi thể của chị trên xe máy, Bộ Y tế đã vào cuộc để xác minh xem lỗi thuộc về bệnh viện hay người nhà chị. Ông giám đốc Bệnh viện này cho rằng: “Thời điểm ra viện, bệnh nhân P. có mạch, huyết áp, tri giác bình thường, đi và nói được. Vì thế bệnh viện cho ra viện chứ không phải vô cảm. Chúng tôi cũng hỏi đến 4 lần là có cần xe không thì gia đình nói không mà đi xe ôm. Tuy nhiên sau này chúng tôi mới biết bệnh nhân tử vong sau khi rời bệnh viện 30km.”

Trong khi đó, anh chị là ông Muôn nói rằng: “Thời điểm ra viện chị P. rất yếu, phải dìu mới đi được, chỉ nói được thều thào là ‘cho em về nhà’.” Tại sao bệnh viện không cho xe cứu thương đưa chị về nhà? Anh chị bảo ông không có tiền và cũng không biết việc này, bệnh viện cũng không thông báo, nên ông đành thuê xe ôm. Trên đường về nhà được 30 km thì chị ra đi…! Không có tiền thuê xe, anh chị đành cuốn thi thể chị trong mảnh chiếu và chở chị về nhà bằng xe máy. Do để hở chân của chị nên người dân chụp được hình ảnh đau lòng này.

Quanh câu chuyện đau đớn của chị, người dân không khỏi băn khoăn: “bệnh viện hay gia đình chị đúng? Ai hợp tình, ai đúng lý!?” Trước khi có câu trả lời, hẳn là cần lắm một lời xin lỗi chân thành gửi đến chị. Mong chị thứ lỗi cho những điều đáng tiếc đã xảy ra với chị. Chỉ thầm ước sao trên đất nước mình vắng bóng những câu chuyện não lòng như thế! Để mỗi ngày, chúng ta đối xử với nhau xứng đáng với nhân phẩm của một con người. Dù giàu sang hay nghèo hèn, khỏe mạnh hay ốm đau, chúng ta đều là con người cần được yêu thương và trợ giúp, được chăm sóc và tôn trọng, chị nhỉ!

Chúng tôi tiếp tục cầu nguyện cho chị được nghỉ yên trên Thiên Quốc.

Giuse Phạm Đình Ngọc SJ 

bình luận

Phạm Công Thạnh ·

Hóc Môn, Hồ Chí Minh, Vietnam

cái khẩu hiệu ” lương y như từ mẫu” đã bị tháo gỡ và vứt bỏ hết rồi, vào BV nếu bạn không có tiền tạm ứng, thì có ai cứu bạn họ vô tâm vô cảm hết rồi. người nhà của chị đã ngậm ngùi làm theo cách của những người nghèo, và rồi chị cũng an lòng thôi, bằng lòng với số phận kiếp nghèo thà chết ngoài đường xác nằm trên xe máy, còn hơn nếu chị chết trong BV thì bao nhiêu thủ tục mà người nhà chị phải chạy theo phải ký những cam kết mà họ không muốn, rồi những dịch vụ chuyển xác mai táng nhảy vào. Tiền đâu để trang trải

Hop Nguyen ·

Làm việc tại MOL (company)

Lậy Chúa xin đừng để trái tim chúng con trở nên chai đá, xin cho chúng con biết rung cảm trước mỗi sự việc xảy ra xung quanh con.

Việt Nam trước đổi mới vòng hai

Việt Nam trước đổi mới vòng hai

Nguyễn Quang Dy

“Đổi mới hay là chết”. Đó là khẩu hiệu đặt ra trước đổi mới vòng một (cởi trói). Nay cần đặt ra trước đổi mới vòng hai (cải cách thể chế) như “Báo cáo Việt Nam 2035” đã khuyến nghị. Đất nước đang đứng trước một loạt nan đề như những quả bom nổ chậm chờ phát nổ. Phải đổi mới thể chế trước khi quá muộn. Không còn lối thoát nào khác.

Tóm lược bối cảnh

Đổi mới vòng một (1986-1990) là giai đoạn khởi đầu cải cách ở Việt nam. Đó là những năm tháng khó quên khi người Việt Nam nếm trải làn gió đổi mới và mở cửa tràn đầy hy vọng, như một thử nghiệm cách mạng “từ trên xuống” (top-down). Nhưng đáng tiếc, phong trào đổi mới đã chết yểu (short-lived) vì thỏa thuận Thành Đô (9/1990) đồng nghĩa với đóng cửa và giữ nguyên trạng chính trị. Có thể rút ra hai bài học kinh nghiệm: Một là Việt Nam chỉ thực sự đổi mới khi nào bị dồn đến chân tường. Hai là đổi mới “từ trên xuống” sẽ không toàn diện và không triệt để, khi ý thức hệ và thể chế chính trị vẫn không thay đổi.

Nhưng dù sao, đó là một cuộc tập dượt bổ ích. Lần đầu tiên người Việt Nam thoát khỏi bầu không khí ngột ngạt của chế độ bao cấp với sự bần cùng về vật chất lẫn tinh thần. Việt Nam đứng trước nan đề “đổi mới hay là chết” khi bức tường Berlin và CNCS tại Liên Xô-Đông Âu sụp đổ. Ông Nguyễn văn Linh vừa là người có công dẫn đầu đổi mới, vừa là người có tội khởi xướng Thành Đô. Nay cải cách đã hết đà, và thành quả đổi mới trong 2 thập niên 1990 và 2000 đã bị triệt tiêu gần hết, vì thể chế chính trị. Thỏa thuận Thành Đô đã đem lại cho Việt Nam cái “vòng kim cô”, chứ không phải cái “phao cứu sinh”.

Trung Quốc là cường quốc kinh tế lớn thứ hai thế giới. Nhưng gần đây các học giả hàng đầu đánh giá Trung Quốc đã phát triển “kịch đường” và đang ở “màn chót” (end game) trước khi sụp đổ. Mô hình phát triển của “Nền độc tài dẻo dai” (resilient authoritarianism) đã hết đà, đang trả giá. Việt Nam là bản sao của mô hình Trung Quốc, nhưng yếu kém hơn, và phụ thuộc quá nhiều vào họ. Muốn tránh “bẫy thu nhập trung bình” và tụt hậu, Việt Nam phải đổi mới cơ chế toàn diện (vòng hai) và từng bước thoát Trung.

Liệu lúc này Việt Nam đã bị dồn đến chân tường chưa? Trước cơ hội và yêu cầu cấp bách phải đổi mới vòng hai (Reform 2.0), liệu Việt Nam có sẵn sàng đổi mới toàn diện và triệt để, bao gồm đổi mới cả thể chế kinh tế lẫn chính trị? Đó chính là nội dung đề cương đổi mới của “Báo cáo Việt Nam 2035” (do MPI và World Bank chủ trì). Thực ra, báo cáo này cần điều chỉnh lại thành “Báo cáo Việt Nam 2025”. Tôi đồng ý với quan điểm của giáo sư Kenichi Ohno: Tầm nhìn kế hoạch đặt ra quá xa (tới 2035), không thực tiễn.

Nhưng đã nhiều tháng qua, kể từ khi báo cáo được công bố, và phát biểu của Bộ trưởng Bùi Quang Vinh (tại Đại hội Đảng), vẫn chưa thấy dấu hiệu triển khai. Tại sao? Thứ nhất, thái độ của Chính quyền đối với “Báo cáo Việt Nam 2035” thiếu nghiêm túc (không ra phản đối, cũng không hẳn ủng hộ). Thứ hai, các nhóm lợi ích chưa muốn đổi mới vòng hai, mà muốn hoãn binh và câu giờ để tranh thủ “chuyến tàu vét”. Thứ ba, Trung Quốc không muốn Việt Nam đổi mới, vì sợ giảm phụ thuộc vào họ, ngả theo Mỹ và phương Tây.

Phải chăng ban lãnh đạo mới đang triển khai “chống tham nhũng” để mở đường đổi mới vòng hai? Hay là các nhóm lợi ích tiếp tục tranh giành quyền lực? Hãy điểm lại thực trạng đất nước và những lý do gây ách tắc để cản đường đổi mới vòng hai.

Bức tranh toàn cảnh: Báo động đỏ!

Tiếp tục tranh giành quyền lực

Nhân ngày lễ Quốc khánh, nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang có một bài viết đáng chú ý (Trước tương lai, sao thể yên lòng”, Trương Tấn Sang, Tuổi Trẻ, 2/9/2016). Vấn đề không phải ông Sang viết cái gì (những cụm từ quen thuộc như “tư bản thân hữu”, “lợi ích nhóm”, “sân sau gia đình”… có “bóng dáng” của những cán bộ quản lý cấp cao…) mà là tại sao lại viết cái đó vào lúc này? Có phải ông Sang kêu gọi chống tham nhũng là dấu hiệu lãnh đạo nhận thức ra vấn đề và đang tìm biện pháp để cải cách (như tiến sĩ Lê Đăng Doanh nhận xét) hay chỉ nhằm ủng hộ ông Nguyễn Phú Trọng, để loại trừ thế lực ông Nguyễn Tấn Dũng (như nhà báo Phạm Chí Dũng nhận định)? Phải chăng đích nhắm của hai ông không phải chỉ có Trịnh Xuân Thanh và Vũ Huy Hoàng, mà còn Đinh La Thăng, và hơn thế nữa?

Bàn cờ chính trị Việt Nam đang diễn biến khó lường, làm bầu không khí cuối hè thêm ngột ngạt, khó đoán được chuyện gì sẽ xảy ra (như hệ quả không định trước). Người ta có cảm giác một biến cố chính trị lớn sắp bùng nổ trong nay mai. Nhưng khả năng bùng nổ (explosion) hầu như không có, và khả năng tự suy xụp (implosion) là nhiều hơn, thường do nội bộ choảng nhau chứ không phải do kết quả đấu tranh của lực lượng dân chủ (còn non yếu, khó khả thi). Người ta đồn đoán có thế lực ngầm bảo vệ Trịnh Xuân Thanh (như một quân bài) để thách thức quyền lực của TBT Nguyễn Phú Trọng, rằng đó là một thế lực đủ mạnh mới cứu được Thanh, và đang chuyển sang thế phản công. Dù đúng hay sai, nó phản ánh khủng hoảng lãnh đạo vẫn tiếp diễn (sau Đại hội Đảng), nhưng với mức độ bạo lực còn cao hơn.

Những cái chết bí ẩn của Tư lệnh quân khu 2, tướng Lê Xuân Duy (trong bệnh viện) sau 3 tháng được bổ nhiệm, của 3 lãnh đạo tỉnh Yên Bái trong một vụ ám sát kiểu giang hồ (18/8), và của phạm nhân Dương Chí Dũng (trong trại giam) là những dấu hiệu bất ổn. Trận đấu giữa thế lực TBT Nguyễn Phú Trọng và thế lực ngầm bảo vệ Trịnh Xuân Thanh làm mất lá bùa chống tham nhũng (bên ngoài), và làm bộc lộ bản chất đấu tranh quyền lực vì lợi ích nhóm (bên trong). Trận đấu này huy động mọi phương tiện, không chỉ các ban/ngành chức năng, mà còn cả thế giới mạng và thế giới ngầm. Nó làm người ta nhớ lại cuộc đấu tranh khốc liệt đầy kịch tính trước và trong Đại hội Đảng, tuy đã tạm dừng sau khi phe ông Nguyến Tấn Dũng chịu thua cuộc và rút lui, nhưng nay đang có dấu hiệu bùng phát trở lại.

Phải chăng vấn nạn tham nhũngvẫn ổn định” nên khó chống? Transparency International công bố chỉ số tham nhũng của Việt Nam xếp thứ 112/168, với điểm số 31/100 (không đổi từ 2012). Có lẽ chống tham nhũng chỉ là cái cớ để thanh trừng nội bộ. Vì năng lực chống tham nhũng của Viêt Nam kém xa Trung Quốc, nên “chưa đánh chuột đã vỡ bình”. Vụ xử lý Trịnh Xuân Thanh là một ví dụ (case study), làm kế sách chống tham nhũng của TBT Nguyễn Phú Trọng có nguy cơ đổ bể, và làm chìm đi các vụ án khác như Phạm Công Danh, Nguyễn Thị Nguyệt Hường, và Châu Thị Thu Nga (khai chạy vào Quốc hội mất 30 tỷ đồng).

Kinh tế và tài chính bất ổn

Hiện nay, nợ công, nợ xấu, và thâm hụt ngân sách là nỗi ám ảnh hàng đầu của lãnh đạo. Theo Tổng cục Thống kê, tính đến cuối 2015, con số dư nợ công (tuyệt đối) lên đến 2.608 nghìn tỷ VNĐ, và con số nợ công/GDP (tương đối) ở mức 62,2%, sát ngưỡng 65% của Quốc hội. Theo đồng hồ đo nợ công toàn cầu của tạp chí Economist, mỗi người Việt Nam phải gánh 1.039 USD nợ công, tăng gần 4 lần so với 279 USD (năm 2006).

Ngày 4/7/2016, TVTK cho biết thâm hụt ngân sách của Việt Nam trong nửa đầu 2016 là 82,9 nghìn tỷ VNĐ (tương đương 3,7 tỷ USD) do tăng chi thường xuyên và trả nợ đến hạn. Tổng thu ngân sách giai đoạn này đạt 425,6 nghìn tỷ đồng, trong khi chi ngân sách lên đến 508,5 nghìn tỷ đồng. Theo Bộ Tài chính, mức chi thường xuyên năm nay là 67% mức chi ngân sách, so với con số 50% mức chi ngân sách năm ngoái (2015).

Trong khi đó nhập siêu và lệ thuộc vào Trung Quốc chưa có dấu hiệu giảm. Ví dụ, nhập siêu từ Trung Quốc (năm 2015) là 32,3 tỉ USD, tăng 12,5% (so với 2014). Nếu tính cả con số nhập lậu là 20 tỷ USD, thì tổng giá trị nhập siêu từ Trung Quốc lên đến 52 tỷ USD (năm 2015). Kinh tế Việt Nam vẫn phụ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc. Ví dụ, các nhà thầu Trung Quốc nắm tới hơn 90% các gói thầu EPC của 77/106 các dự án lớn thuộc các ngành trọng điểm. Việt Nam phải nhập hơn 60% nguyên liệu đầu vào từ Trung Quốc.

Hiện nay, tuy TPP chưa triển khai nhưng Trung Quốc đã “đi tắt đón đầu” tuồn hàng hóa ế thừa sang thị trường Việt Nam để xuất khẩu cho họ (proxy), biến Việt Nam không những thành bãi rác công nghiệp mà còn thành chợ trung chuyển để biến hàng hóa “made in China” thành “made in Vietnam”. Nhiều người Việt tham tiền đang tiếp tay cho người Trung Quốc. Họ mua nhà đất, lập công ty ma, lấy vợ sinh con, vơ vét nguyên liệu, tiêu thụ hàng hóa ế thừa? Phải chăng đây là “ma trận” người Trung Quốc từng bước thôn tính Việt Nam?

Cùng với đà suy thoái kinh tế trong những năm qua, hàng trăm ngàn doanh nghiệp đã bị phá sản và giải thể, do hệ quả của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, cũng như bất ổn vĩ mô trong nước. Đà suy thoái này vẫn tiếp tục. Theo TCTK, số doanh nghiệp ngừng hoạt động (trong 2015) là gần 81.000, tăng mạnh ở mức 19% (so với 2014). Trong quý I/2016, số doanh nghiệp ngừng hoạt động lên tới 20.044 (tăng 23,9% so với cùng kỳ năm ngoái).

Dòng người và dòng vốn ra đi

Do hệ quả của suy thoái kinh tế và bất ổn chính trị, ngày càng nhiều người Việt bỏ đất nước ra đi. Theo số liệu của UN DESA, từ 1990 đến 2015 có 2.558.678 người Việt đã di cư (trung bình mỗi năm có 100 nghìn người ra đi). Riêng đi Mỹ có 1,3 triệu người, Úc có 227,3 ngàn, Canada có 182,8 ngàn, Pháp có 125,7 ngàn, Đức có113 ngàn, và Hàn Quốc có 114 ngàn. Cách thức di cư ngày càng đa dạng và quy mô ngày càng lớn. Nguyên nhân chủ yếu do mất lòng tin, và môi trường sống ở Việt Nam ngày càng bất ổn. Doanh nhân ra đi để “phân tán rủi ro”, và quan chức ra đi để “bảo vệ tài sản” (chủ yếu do tham nhũng).

Việt Nam có khoảng 100 ngàn sinh viên theo học ở 49 quốc gia, trong đó 90% là du học tự túc. Tính đến tháng 10/2015, tại Mỹ có 28.883 sinh viên VN, tại Úc có 28.524 sinh viên VN. Hầu hết sinh viên Việt đi du học không trở về, dẫn đến chảy máu chất xám. Nhiều công ty khởi nghiệp của giới trẻ Việt Nam có bằng cấp trong lĩnh vực kinh doanh IT và Internet đang chạy qua Singapore, vì quy định luật pháp ở Việt Nam có nhiều bất cập. Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan bức xúc, “Vậy lấy ai xây dựng đất nước này đây?”

Trong tổng số hơn 2,5 triệu người Việt di cư, số người định cư ở nước ngoài bằng vốn đầu tư đã tăng lên đáng kể. Ví dụ, loại visa EB-5 (dành cho các đối tượng có vốn đầu tư vào Mỹ) đã tăng chóng mặt so với các loại visa khác (như EB-1 và EB-2). Số lượng người Việt được cấp visa EB-5 từ 6.418 suất (năm 2014) đã tăng vọt lên 17.662 suất (năm 2015). Dòng người (và dòng tiền) ra đi là hiện tượng “bỏ phiếu bằng chân”, phản ánh khủng hoảng lòng tin của người dân, bao gồm sinh viên, trí thức, doanh nhân, và quan chức.

Theo báo cáo của GFI, trong giai đoạn 2004-2013, có gần 93 tỷ USD chạy ra khỏi Việt Nam một cách bất hợp pháp. Tính trung bình mỗi năm có hơn 9,29 tỷ USD chạy ra khỏi Việt Nam. Với số lượng tiền này, Việt Nam đứng ở vị trí thứ 18 trong số 149 quốc gia đang phát triển theo xếp hạng của GFI về số lượng tiền phi pháp chảy ra nước ngoài. Tại thời điểm năm 2013, lượng tiền được chuyển bất hợp pháp ra khỏi Việt Nam lên tới 17,837 tỷ USD, gấp hơn 4 lần lượng tiền được chuyển khỏi VN năm 2004 là 4,034 tỷ USD.

Theo Tiến sĩ Vũ Quang Việt (chuyên gia LHQ), trong vòng 6 năm (2008-2013) đã có 33 tỷ USD chạy khỏi Việt Nam một cách bất hợp pháp, rất khó kiểm soát (như đầu tư chui, du học tự túc, mua tài sản, buôn lậu, rửa tiền, hoán đổi bằng đồng tiền ảo…). Hàng trăm cá nhân và tổ chức Việt Nam có tên trong “Hồ sơ Panama” và “Offshoreleakes”. Tuy nhiên, đây mới chỉ là phần nổi của tảng băng chìm trong bức tranh toàn cảnh Việt Nam.

Tiềm ẩn thảm họa môi trường

Trong khi dự án thép Formosa (Vũng Áng, Hà Tĩnh) đã gây ra thảm họa môi trường, vẫn còn vô phương cứu chữa, thì một dự án thép khác có quy mô không thua kém Formosa (10,6 tỷ USD) đang nổi lên đe dọa phá nốt môi trường biển miền Trung. Đó là dự án thép Hoa sen Cà Ná (Ninh Thuận) do tập đoàn Hoa Sen (HSG) là chủ đầu tư. Cả hai dự án thép khủng nói trên đều có quy mô quá lớn, cùng tiềm ẩn rủi ro gây ô nhiễm môi trường và đe dọa an ninh quốc gia, vì có cùng bàn tay nhà thầu Trung quốc (MCC/CISDI).

Nhiều câu hỏi vẫn chưa được giải đáp: (1) Tại sao HSG đầu tư vào thép khi giá thép giảm, thị trường dư thừa (đặc biệt là Trung Quốc)? (2) HSG lấy đâu ra tiền để đầu tư lớn như vậy (có “nguồn vốn lạ” nào không)? (3) HSG sử dụng công nghệ/thiết bị Trung Quốc, và nhà thầu Trung Quốc, thì khác gì với Formosa? (4) HSG làm thế nào để không gây ô nhiễm môi trường, đảm bảo các quy chuẩn môi trường quốc gia/quốc tế? (5) Bộ Công thương dựa trên cơ sở và quy trình nào để đưa dự án thép Cà Ná “vào quy hoạch”? (phát biểu của ông Trương Thanh Hoài, Vụ trưởng Vụ Công nghiệp Nặng, Bộ Công thương).

Như vậy, bất chấp bài học đau đớn về Formosa, dự án HSG Cà Ná có thể được ưu ái cấp phép, vì lý do tương tự như Formosa. Thứ nhất, đằng sau chủ đầu tư là nhóm lợi ích (nghe nói ông Vũ chủ tịch HSG là anh em cọc chèo với Bộ trưởng Bộ Công thương). Họ có thể thao túng quy trình thẩm định và bất chấp phản biện. Thứ hai, đằng sau nhóm lợi ích có bàn tay Trung Quốc (nhà thầu MCC/CISDI) được chính phủ Trung Quốc chống lưng. Họ có thể dùng đòn bẩy chính trị và tài chính để thao túng chính quyền (như Formosa).

Đối với ông Vũ (và nhóm lợi ích), đây là cơ hội cuối cùng như “chuyến tàu vét” nên “ngu gì mà không làm thép!” Thái độ của ông Vũ làm người ta nhớ đến ông Phàm với câu nói nổi tiếng “chọn cá hay thép”. Còn đối với Trung Quốc, “ngu gì” mà họ không tuồn thép dư thừa sang Việt Nam để xuất khẩu (nhân tiện tuồn luôn chất thải độc hại sang đổ). “Ngu gì” mà họ không câu kết với nhau để hai bên cùng có lợi, “vì đại cục”.

Nếu vì lý do nào đó mà chính quyền bất chấp dư luận phản biện, vẫn cấp phép cho dự án thép HSG Cà Ná, thì đó là dấu hiệu tự sát. Một Formosa đã đủ gây ra thảm họa môi trường và khủng hoảng chính trị-xã hội, nay có hai Formosa thì chưa biết quy mô thảm họa và khủng hoảng sẽ khủng khiếp đến đâu. Nếu nhà đầu tư HSG và chính quyền vẫn vô cảm và vô minh, đặt lợi ích nhóm của họ (và “vì đại cục”) lên trên lợi ích quốc gia, thì thật vô vọng. Nếu không cải cách thể chế, sẽ còn nhiều Formosa nữa. Đó là bi kịch tái diễn.

Vì vậy, nhiều dự án từ trước tới nay tuy tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm môi trường, nhưng vẫn được cấp phép triển khai, bất chấp phản biện của giới khoa học và phản đối của dư luận. Ví dụ, dự án bauxite Nhân Cơ và Tân Rai (Đắc Nông), wolfram Núi Pháo (Thái Nguyên), nhiệt điện Vĩnh Tân (Bình Thuận), nhiệt điện Duyên Hải (Trà Vinh), nhiệt điện và dầu khí Nhơn Trạch 1 và 2 (Đồng nai), nhà máy giấy Lee & Man (Hậu Giang), và nhiều dự án thủy điện và khai thác khoáng sản khác đã và đang hủy hoại môi trường Việt nam. Vì sao quy hoạch và cấp phép lại có tình trạng lộn xộn, hỗn loạn, “vô chính phủ?” như vậy?

Các dự án đầu tư lớn phải chú ý đến Tài nguyên Thiên nhiên và Tài nguyên Con người, là một khái niệm đang được các nước tiên tiến trên thế giới coi là tiêu chí hàng đầu trong quá trình phát triển. Nếu các nhà đầu tư hay quan chức chính phủ nào không biết quý trọng tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên con người, để biết cách khai thác và quản lý dự án một cách khoa học và có trách nhiệm thì họ sẽ hủy hoại tương lai của dân tộc.

Văn hóa và giáo dục xuống cấp

Văn hóa xuống cấp và khủng hoảng giáo dục là một vấn nạn. Theo Bộ KH-CN, cả nước có 24.300 tiến sĩ và 101.000 thạc sĩ. Theo VUSTA, số giáo sư, tiến sĩ của Việt Nam nhiều nhất Đông Nam Á. Nếu tính từ cấp thứ trưởng trở lên, số người có bằng tiến sĩ ở Việt Nam cao gấp 5 lần Nhật Bản. Nhưng tại sao đất nước vẫn tụt hậu? Chất lượng nguồn nhân lực và năng suất lao động của VN vẫn bị đánh giá là thấp nhất khu vực? Theo thống kê của Bộ LĐ-TB-XH, 225.500 cử nhân và thạc sĩ bị thất nghiệp (chiếm 20%).

Bộ máy công chức của Việt Nam quá lớn, không ngân sách nào chịu nổi. Theo bà Phạm Chi Lan, bộ máy hành chính hiện có khoảng 2,8 triệu công chức, viên chức. Nếu cộng cả số người hưởng lương hưu trí, thì có 7,5 triệu (chiếm 8,3% dân số). Nếu tính cả các tổ chức quần chúng (trả lương từ ngân sách) thì có 11 triệu người. Trong khi đó, bộ máy hành chính của Mỹ chỉ có 2,1 triệu công chức (tuy dân số Mỹ gấp 4 lần VN).

Theo Uỷ ban An toàn Giao thông, trong 9 ngày nghỉ Tết (2016), cả nước có hơn 400 vụ tai nạn giao thông, làm hơn 300 người chết. Trong 3 ngày lễ Quốc khánh (2-4/9/2016), có 71 vụ TNGT, làm 33 người chết, 59 người bị thương. Bình quân mỗi năm có 8,700-11,500 người chết, mỗi tháng có 900-1,000 người chết, mỗi ngày có hơn 30 người chết, do TNGT. Theo Wikipedia, Việt Nam có tỉ lệ chết do TNGT vào loại cao nhất thế giới. Không có cuộc chiến tranh nào bị nhiều thương vong như tai nạn giao thông ở Viêt Nam. Nguyên Bộ trưởng giao thông Đinh La Thăng ví tai nạn giao thông nguy hiểm “như sóng thần”!

Lễ hội là vấn nạn “cờ đèn kèn trống”. Theo Bộ VH-TT-DL, mỗi năm nước ta có 7.966 lễ hội, bình quân mỗi ngày có 20 lễ hội. Nhiều lễ hội đã trở thành tệ nạn, thừa bạo lực và thiếu văn hóa. Dịp Tết 2016, có hàng nghìn vụ đánh nhau làm hơn 5000 người phải nhập viện. Rượu bia là một tác nhân gây ra bạo lực và tai nạn giao thông đường bộ. Theo Eurowatch, mỗi năm trung bình một người Việt uống 32 lít bia, cả nước uống hơn 3 tỷ lít. Nếu quy ra tiền thì người Việt uống bia tốn hơn 3 tỷ USD/năm. Năm 2015, người Việt uống 3,4 tỷ lít bia, 68 triệu lít rượu, tăng 10% so với 2014. Việt Nam đã trở thành nước tiêu thụ rượu bia nhiều nhất Đông Nam Á và đứng thứ ba Châu Á (chỉ sau Trung Quốc và Nhật Bản).

Biển Đông lại dậy sóng

Việc Trung Quốc bất ngờ đem dàn khoan HD 981 tới Trường Sa gây sốc dư luận (5/2014), lặng lẽ san lấp và quân sự hóa các đảo tại Biển Đông để thay đổi nguyên trạng, là TUYÊN CHIẾN BẰNG HÀNH ĐỘNG, tạo ra một bước ngoặt làm thay đổi cục diện Biển Đông. Trong khi Trung Quốc hành động quyết liệt thì Mỹ và đồng minh phản ứng không đủ quyết liệt. Những tuyên bố và hành động của Mỹ (như tuần tra FONOP) để triển khai “xoay trục” vẫn là “tiếng kèn ngập ngừng”, không đủ làm Trung Quốc chùn bước.

Để đáp trả Trung Quốc “gậm nhấm” để chiếm Biển Đông như “chuyện đã rồi”, phán quyết của PCA (12/7/2016) là TUYÊN CHIẾN BẰNG LỜI của cộng đồng quốc tế. Tuy không có cơ bắp, nhưng PCA có vai trò lá cờ hiệu và tiếng kèn thúc trận để tập hợp lực lượng, làm Trung Quốc cô lập, Mỹ và đồng minh quyết liệt hơn. Trung Quốc rất lo ngại, tìm mọi cách phá thế “cờ vây”, và triển vọng hình thành một liên minh chiến lược “tứ cường” mới gồm Mỹ-Nhật-Ấn-Úc, làm trụ cột cho một khối “NATO mới” ở Châu Á-TBD.

Để đối phó, Trung Quốc một mặt mua chuộc Campuchia làm lá bài chính trị phá đồng thuận ASEAN, mặt khác ráo riết mua chuộc và lôi kéo Nga làm lá bài chiến lược, để thiết lập trục chiến lược Trung-Nga nhằm đối trọng với chiến lược “xoay trục” của Mỹ, hình thành thế cờ vây cô lập Trung Quốc. Cuộc tập trận hải quân Trung-Nga diễn ra tại Biển Đông (12-19/9/2016) là bước khởi đầu để Trung Quốc răn đe Mỹ và đồng minh. Sau hội nghị G20, và sau khi Nga tuyên bố ủng hộ Trung Quốc, liệu Trung Quốc có dám manh động, vượt “lằn ranh đỏ” (red line) để quân sự hóa Scaborough Shoal và áp đặt ADIZ hay không?

Trong khi liên liên minh bốn nước Mỹ-Nhật-Ấn-Úc còn đang hình thành (Ấn Độ đã tích cực hơn nhưng Úc còn lưỡng lự, sợ Bắc Kinh trả đũa), thì trục chiến lược Trung-Nga vẫn còn lỏng lẻo như “cuộc tình một đêm” của hai kẻ “đồng sàng dị mộng”. Thách thức của bàn cờ Biển Đông là kẻ nào quyết liệt hơn sẽ thắng. Kẻ nào thắng và làm chủ Biển Đông sẽ làm chủ Châu Á-TBD. Và kẻ nào làm chủ Châu Á-TBD sẽ làm chủ thế giới.

Sau phán quyết của PCA, tuy Trung Quốc bị cô lập nhiều hơn, nhưng ASEAN cũng bị Trung Quốc phân hóa và thao túng mạnh hơn (sử dụng lá bài Campuchia). Ai cũng biết hết năm nay ông Obama sẽ kết thúc nhiệm kỳ cuối và vai trò “tổng thống vịt què” của mình, trong khi tranh cử tổng thống còn đầy ẩn số, chưa biết ai thắng, và chưa biết chính sách của chính quyền mới về TPP và chiến lược “xoay trục” sẽ ra sao. Phát biểu của Chủ tịch Nước Trần Đại Quang tại “Đối thoại Singapore” (30/8) phản ánh bức xúc của nhiều nước về nguyên tắc đồng thuận đang làm vô hiệu hóa ASEAN. Trong khi đó, chuyến thăm Trung Quốc của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc (10-15/9/2016) cũng chỉ nhằm duy trì nguyên trạng.

Lời kết: Trò chơi kết thúc!

Khi nhìn lại bức tranh toàn cảnh Việt Nam, người ta có cảm tưởng như điểm lại danh sách những quả bom nổ chậm. Khi các phe phái choảng nhau là lúc chế độ dễ sụp đổ. Tám phát súng K59 tại Yên Bái giống như một quả bom cảnh báo tình trạng mất lòng tin, mất kiểm soát, và mất chính danh của chế độ, phải dùng bạo lực kiểu giang hồ thanh toán lẫn nhau. Sẽ còn nhiều vụ Yên Bái khác, và lần sau không phải chỉ có K59.

Nhưng vụ Yên Bái (và các vụ khác) bỗng nhiên bị mờ nhạt và chìm đi trước vụ Trịnh Xuân Thanh đang nổi lên như một vở bi hài kịch có những “cảnh nóng” thu hút rất đông người xem. Ai cũng tò mò, vì sao Trịnh Xuân Thanh chạy thoát? Vì sao cộng tác với “Người Buôn Gió” phản pháo lại tổng hành dinh của Đảng? Thực ra Thanh chỉ là một quân bài. Đằng sau Thanh chắc có một thế lực mạnh đang tập hợp lực lượng để phản công, nếu không phải để lấy lại những gì đã mất tại Đại hội Đảng, thì để bảo vệ những gì còn lại.

Phe nào cũng muốn giành quyền bính, vì họ biết đây là cơ hội cuối cùng để làm “chuyến tàu vét”, trước khi chuồn. Trong khi hô khẩu hiệu “trung với nước, hiếu với dân” hay “chống diễn biến hòa bình”, thì họ lặng lẽ chuyển tiền ra nước ngoài để đầu tư, cho con du học và xin định cư cho gia đình tại Mỹ hay một nước phương Tây.

Phe nào thắng thì nhân dân cũng thua, vì người dân chỉ là công cụ bị lợi dụng. Nhưng một khi người dân bị dồn đến đường cùng, họ có thể trở thành “Quả bom Đoàn Văn Vươn” (Tiên Lãng, Hải Phòng) hay “Tiếng súng Đặng ngọc Viết” (Thái Bình). Những cuộc biểu tình nhỏ lẻ phản đối Formosa có thể bị trấn áp, nhưng những cuộc biểu tình lớn hàng vạn người được tổ chức chặt chẽ và ôn hòa (như tại Vinh) lại là câu chuyện khác.

Chính quyền càng tìm cách bảo vệ và cứu vãn chế độ, thì càng làm cho chế độ nhanh sụp đổ. Càng chống lại thay đổi, thì thay đổi càng đến nhanh hơn. Đó là một nghịch lý của chế độ toàn trị tại Trung Quốc và Việt Nam, mà David Shambaugh gọi giai đoạn này là “màn chót”. Nếu Trung Quốc là chế độ “Độc tài Hoàn hảo” (Perfect Dictatorship) thì Việt Nam là “Imperfect Dictatorship” (không hoàn hảo). (“The Perfect Dictatorship: China in the 21st Century”, Stein Ringen, Hong Kong University University Press, 2016).

Nói cách khác, trò chơi kết thúc. Tranh giành quyền lực đang biến sân khấu chính trị Việt Nam thành rạp xiếc. Thật bi hài đến thế là cùng. Nếu vụ Trịnh Xuân Thanh không phải là “màn chót” thì thế nào mới là “màn chót”? Những nguyên nhân cản trở đổi mới cũng chính là những lý do cấp bách phải đổi mới vòng hai, vì “đổi mới hay là chết!”

15/9/2016

N.Q.D.

Nguồn: http://viet-studies.info/kinhte/NQuangDy_DoiMoiVongHai.htm