MÙA XUÂN TÂY TẠNG VÀ CÂU CHUYỆN NHỮNG DÒNG SÔNG

MÙA XUÂN TÂY TẠNG VÀ CÂU CHUYỆN NHỮNG DÒNG SÔNG

Ngô Thế Vinh

Hình 1: Đức Dalai Lama và Cực Thứ Ba của Trái Đất. nguồn: activeremedy.org

Hình 1: Đức Dalai Lama và Cực Thứ Ba của Trái Đất. nguồn: activeremedy.org

Gửi Nhóm Bạn Cửu Long

If Tibet dries, Asia dies. Nghĩa là: Nếu Tây Tạng khô hạn, Châu Á chết

CỰC THỨ BA CỦA TRÁI ĐẤT

Khoảng ba trăm triệu năm trước, Tây Tạng còn nằm dưới đáy biển Tethys nguyên là một đại dương mênh mông bao trùm cả diện tích Châu Á và Ấn Độ. Do hành trình va chạm dữ dội của hai khối tiền lục địa Gondwanaland và Laurasia tạo nên cơn địa chấn với sức ép khổng lồ từ khối đất Ấn Độ dồn lên phía bắc tạo thành dãy Hy Mã Lạp Sơn và Cao nguyên Tây Tạng.

Với lịch sử địa chất ấy, Tây Tạng là vùng đất cao từ 3500 tới 5000 m – được mệnh danh là “xứ tuyết”, “nóc của trái đất”, hay “Cực Thứ Ba / Third Pole” — hai cực kia là Bắc Cực và Nam Cực. Tây Tạng với diện tích hơn một triệu km2 gần bằng Tây Âu nhưng cô lập với thế giới bên ngoài bởi ba bề núi non hiểm trở: phía nam là dãy Hy Mã Lạp Sơn, phía tây là rặng Karakoram, phía bắc là các rặng Kunlun và Tangla; riêng phía đông cũng bị cắt khoảng bởi các dãy núi không cao và lũng sâu và thoải dần xuống tới biên giới Trung Hoa, ráp gianh với hai tỉnh Tứ Xuyên và Vân Nam.

Phía tây bắc, Tây Tạng là một vùng đất hoang đông giá, gần như không người no-man’s-land trải dài hơn 1200 km từ tây sang đông. Phía nam là vùng núi non với thảo nguyên, nơi sống của dân du mục với các đàn cừu dê và những con bò Yaks.  Phía đông là tỉnh Kham và đông bắc là tỉnh Amdo (quê hương của Đức Dalai Lama thứ 14) là vùng trù phú và đông dân nhất. Thứ đến là vùng đất phía nam khí hậu bớt khắc nghiệt, nơi có con Sông Yarlung Tsangpo với những phụ lưu như một mạch sống.

Người nông dân Tây Tạng chủ yếu trồng lúa mạch và khoai tây là hoa màu phụ. Khí hậu thay đổi thất thường như mưa đá, đông giá nên mùa màng luôn luôn bị hư hại. Nguồn thực phẩm ổn định hơn là nuôi gia súc ngoài đàn bò Yaks còn có trừu, dê và gà để lấy trứng. Tsampa làm từ bột lúa mạch sấy là món ăn thường nhật của người Tây Tạng. Quốc gia Tây Tạng là hình ảnh mênh mông của những thảo nguyên với núi cao và lũng sâu, bầu trời thường thì trong xanh như ngọc. Cho tới cuối thế kỷ 19, nếp sống của họ vẫn vậy như từ hàng ngàn năm trước.

XỨ SỞ CỦA ĐẠO PHẬT

Đạo Phật du nhập vào Tây Tạng 12 thế kỷ sau khi Phật Thích Ca nhập niết bàn, khoảng thế kỷ thứ 7 sau Công nguyên. Khí Tông Cương Tán (Songtsen Gampo) là một tù trưởng tài ba đã thống nhất được các bộ lạc trên cả một vùng băng tuyết tới chân Hy Mã Lạp Sơn; ông cưới công chúa Nepal làm hoàng hậu và chính nàng công chúa này đã du nhập đạo Phật vào Tây Tạng. Tây Tạng thời kỳ ấy là một quốc gia hùng mạnh khiến vua Trung Hoa đời Nhà Đường cũng phải xin cầu hòa và gả công chúa cho Khí Công Cương Tán, nàng công chúa gốc Hán này cũng đem đạo Phật vào Tây Tạng. Đạo Phật từ đó đã phát triển rất mạnh trên vùng đất mới, hòa nhập với tín ngưỡng Bon đa thần để biến thể thành một thứ đạo Phật cao siêu và thần bí.

Tới thế kỷ 14 một vị chân tu tên Tống Cáp Ba – Tsongkhapa đã sáng lập nên phái Hoàng Mão Hoàng Y của Phật giáo chính thống Tây Tạng. Sau khi ông mất, người kế thừa cũng là một vị chân tu tên Gendun Drup được toàn thể giới tăng lữ suy tôn làm Dalai Lama (Lama là một từ Tây Tạng có nghĩa là bậc thầy), ông có công phát huy đạo Phật đồng thời cũng xây dựng được một nền hành chánh kết hợp với giáo quyền trị vì quốc gia Tây Tạng. Vị đại sư mưu trí này đã đặt ra quy luật tái sanh của Dalai Lama theo đó khi chết linh hồn vị Dalai Lama sẽ nhập vào một trẻ sơ sinh như hiện thân của Bồ Tát Quán Thế Âm – Bodhisatva  Avalokitesara.

Tới thế kỷ 16, do các giáo phái lại chống đối nhau dẫn tới sự can thiệp của quân Mông Cổ, sau đó thì chính Đại Hãn Mông Cổ là Altan Khan do cảm phục kiến thức cao sâu của vị đại sư nên cũng xin quy y, đồng thời phong tước cho vị Lama là Dalai Lama – Dalai là từ Mông Cổ có nghĩa biển cả, bao hàm kiến thức mênh mông.

Đây là thời kỳ cực thịnh của Phật giáo Tây Tạng ghi dấu bằng công trình xây cất Lâu Đài Mùa Đông – Cung Điện Potala 1000 phòng của các vị Dalai Lama, được coi như một kỳ quan kiến trúc của thế giới.

Nhưng về phương diện lịch sử thì ngôi Chùa Jokhang mới là di tích cổ kính nhất, được xây dưới triều vua Khí Tông Cương Tán, nơi chứa tượng Phật do công chúa Nepal thỉnh về. Kỳ quan của Jokhang không phải chỉ là các tượng Phật mà là tấm bia đá dựng trước chùa như di tích lịch sử về một quá khứ hùng mạnh của quốc gia Tây Tạng, đã từng gây khốn đốn cho các vua Trung Hoa đời nhà Đường. Trên tấm bia là bản hiệp ước được phê chuẩn bởi Đại Hoàng đế Tây Tạng và Hoàng đế Trung Hoa vào năm 821- 822 khắc bằng hai thứ tiếng Tây Tạng và Trung Hoa với nội dung [Hình 2]:

“Thỏa thuận cùng nhau về sự liên minh giữa hai quốc gia… tìm cách ngăn ngừa những nguyên nhân gây tàn hại cho hai xứ sở bây giờ và mai sau, để mang lại hòa bình lâu dài cho thần dân hai nước. Thỏa ước được khắc trên bia này để cho các thế hệ tương lai được biết tới.” (1)

h2Hình 2: Jokhang, ngôi chùa có lịch sử hơn 1,300 năm ghi dấu một thời kỳ hưng thịnh của quốc gia Tây Tạng. Tấm bia ghi bản hiệp ước giữa Đại Hoàng đế Tây Tạng và Hoàng đế Trung Hoa vào năm 821- 822 đã bị phá huỷ. Jokhang, cùng với lâu đài Potala được UNESCO đưa vào danh sách Di sản Thế giới. Nguồn: internet

Giữa thời kỳ hưng thịnh của quốc gia Tây Tạng [618-907] nơi đầu nguồn Sông Mekong thì lúc ấy Việt Nam lại đang phải sống trong tối tăm nhục nhã dưới ách thống trị của người Tàu với cái tên An Nam Đô Hộ Phủ. Việt Nam đã bị nô lệ Tàu tổng cộng 1050 năm trước khi lấy lại được nền tự chủ với các triều đại Ngô, Lê, Lý, Trần.

Nhưng rồi cũng không tránh được lẽ thịnh suy, những thế kỷ sau đó Tây Tạng lại bị Trung Hoa xâm lấn, thủ đô Lhasa thường xuyên bị chiếm đóng. Đến đầu thế kỷ 20, nhân lúc triều đình Mãn Thanh bị cuộc Cách Mạng Tân Hợi của Tôn Dật Tiên lật đổ, nhân dân Tây Tạng đã lại vùng lên và tuyên bố độc lập nhưng bị đàn áp và đã gặp phải sự thờ ơ đến tàn nhẫn của thế giới. Trung Hoa cho dù dưới thể chế chánh trị nào vẫn xem Tây Tạng như phần lãnh thổ của họ.

MỘT TÂY TẠNG ĐAU THƯƠNG

Năm 1933 khi vị Dalai Lama 13 viên tịch, tương truyền rằng người ta thấy mặt ngài ngoảnh về hướng đông bắc, phía tỉnh Amdo. Kết hợp với một số điềm báo triệu khác, các vị trong hội đồng giáo phẩm tới được ngôi làng Takster tỉnh Amdo và họ đã tìm ra đứa trẻ hai tuổi là đứa con thứ tư trong một gia đình nông dân nghèo khó, và sau một chuỗi những trắc nghiệm thử thách, cậu bé Tenzin Gyatso sinh ngày 6 tháng 7 năm 1935, được công nhận là hiện thân của Đức Dalai Lama thứ 14.

Amdo lúc đó đang thuộc quyền kiểm soát của quân Trung Quốc nên phải trải qua hai năm thương thuyết khó khăn, cậu bé Tenzin Gyatso mới được rời Amdo lên thủ đô Lhasa và được đưa vào Cung Điện Mùa Hè Norbulingka rồi Cung Điện Mùa Đông Potala để được nuôi dưỡng và giáo dục đúng theo giáo lý bởi những vị cao tăng uyên bác. Trong thời gian đó, một quan nhiếp chính được chỉ định để lo việc nước.

Tình hình càng trở nên tệ hại khi Tưởng Giới Thạch bị thua phải chạy ra đảo Đài Loan (1949), Hồng Quân chiếm trọn Hoa Lục đồng thời cũng xua quân vào cưỡng chiếm Tây Tạng với chiêu bài “giải phóng nhân dân Tây Tạng đang bị giai cấp phong kiến áp bức.”

Và đã có ngay từng đợt hàng trăm ngàn binh lính Trung Cộng tiến vào Tây Tạng, kéo theo sau là gia đình của họ. Khác xa với hứa hẹn ban đầu bảo đảm tự do tín ngưỡng và phong tục tập quán của dân Tây Tạng, họ mở ngay chiến dịch chống tôn giáo, đồng thời thi hành “chánh sách tàm thực/ tầm ăn dâu” không ngừng di dân gốc Hán vào đất nước Tây Tạng.

Năm 1950, do nhu cầu cấp bách của thời cuộc, ở cái tuổi mới 16, Tenzin Gyatso đã phải rất sớm đứng ra đảm đương mọi trách nhiệm chánh trị điều hành quốc gia Tây Tạng.  Năm 1954, Gyatso bị đưa sang Trung Quốc gặp Mao Trạch Đông trong ý muốn thuyết phục vị Dalai Lama trẻ tuổi ấy chấp nhận một xứ sở Tây Tạng sát nhập vào trật tự nước Trung Hoa.

Trước nguy cơ diệt vong, năm 1959 nhân dân Tây Tạng lại nhất loạt nổi dậy, nhưng đã bị Hồng Quân trấn áp và tàn sát không thương tiếc. Trong cuốn tự truyện Tự Do Trong Lưu Đầy – Freedom in Exile, Tenzin Gyatso viết:

“Trong gần một thập niên, ở cương vị người lãnh đạo chánh trị và tôn giáo cho dân tộc Tây Tạng, tôi đã cố gắng tái tạo mối liên hệ hòa bình giữa hai quốc gia Tây Tạng và Trung Hoa, nhưng trách vụ ấy không thể hoàn thành. Tôi đi tới kết luận là tôi sẽ phục vụ dân tộc tôi được nhiều hơn nếu tôi sống ở nước ngoài.” (1)

Đức Dalai Lama thứ 14 đã dẫn hơn một trăm ngàn dân Tây Tạng vượt biên giới thoát sang Ấn Độ. Bất chấp sự chống đối và cả hăm dọa của Bắc Kinh, chánh phủ Ấn vẫn giúp định cư số người Tây Tạng lưu vong này nơi thị trấn Dharmasala dưới chân rặng Hy Mã Lạp Sơn. Một chánh phủ lưu vong Kashag được hình thành như niềm hy vọng sống còn đối với người dân Tây Tạng trong nước.

Phía Trung Quốc bất kể nguyện vọng dân Tây Tạng ra sao, họ vẫn sát nhập quốc gia này vào “Nước mẹ vĩ đại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.” Tháng 9 năm 1965, Bắc Kinh tuyên bố lập “Vùng tự trị Tây Tạng – Tibetan Autonomous Region” trực thuộc nước Trung Hoa. Điều ấy có nghĩa là quốc gia Tây Tạng bị Bắc Kinh xoá tên trên bản đồ thế giới.

Và rồi các giai đoạn thảm khốc nhất đã diễn ra trong suốt thập niên sau đó khi có cuộc Cách Mạng Văn Hóa. Cả một di sản văn hóa của dân tộc Tây Tạng bị tận diệt một cách công khai và có hệ thống bởi những đoàn Vệ Binh Đỏ. Các đền đài tu viện bị phá trụi, các tranh tượng tôn giáo bị hủy hoại. Hàng chục ngàn người Tây Tạng bị kết tội “phản động” vì không chịu lên án Đức Dalai Lama và từ bỏ đức tin của họ.

Theo thống kê của Trung Cộng (1982) có 3.87 triệu người Tây Tạng, nếp sống đơn sơ và hiếu khách nhưng họ là một dân tộc đang phải sống trong nô lệ và chịu nỗi khổ đau vô hạn “trong nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa”.

h3Hình 3: Uống nước nhớ nguồn. Ngay sau cuộc nổi dậy của nhân dân Tây Tạng 1959 bị Bắc Kinh đàn áp đẫm máu khiến Đức Dalai Lama và hơn 100,000 người Tây Tạng phải tỵ nạn sang Ấn Độ. Việt Nam Cộng Hoà lúc ấy đã tức thời gửi lúa gạo sang cứu trợ. Lúa gạo ấy đã được gieo trồng từ nguồn nước con Sông Mekong. Đức Dalai Lama đã tiếp Phái đoàn Việt Nam tại Darjeeling, Ấn Độ. Từ trái: Gs Lê Xuân Khoa Tổng thư ký Hội Văn hoá Á Châu, Thượng toạ Thích Trí Dũng, Đức Dalai Lama, và Phó Chủ tịch Quốc Hội VNCH Cổ Văn Hai. (4)

Tháng 10 năm 1987, không còn kiên nhẫn hơn được nữa, dân Tây Tạng lại vùng dậy và cũng lại bị quân chiếm đóng Trung Cộng đàn áp tàn bạo. Đã có khoảng 1.2 triệu người Tây Tạng bị giết, một con số thật khủng khiếp nếu so với tổng số dân Tây Tạng chưa tới 4 triệu.

Để phối hợp với các cuộc đấu tranh ở trong nước, Đức Dalai Lama đã rời Dharmasala và du hành qua nhiều quốc gia trên thế giới để nói lên nguyện vọng được sống trong độc lập và tự do của nhân dân Tây Tạng.

Tenzin Gyatso chỉ nhận mình là một nhà sư giản dị, không bao giờ tự huyền thoại hóa mình là Phật Sống. Bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào, vẫn luôn luôn là một con người nhu hòa không định kiến, vượt lên trên mọi khen chê. Ông là một con người giàu lòng từ bi, hơn thế nữa là con người của tự do. Với tinh thần bất bạo động linh hoạt – active non-violence, ông luôn luôn cố gắng tái tạo mối liên hệ tin cậy và hòa bình với phía thù nghịch cho dù Bắc Kinh không từ một thủ đoạn nào để gây tai tiếng và bôi nhọ ông.

h4Hình 4: Jampa Yeshi, tên người thanh niên Tây Tạng đang chạy như một ngọn đuốc trên một đường phố New Dehi 26.3.2012 đòi tự do cho nhân dân Tây Tạng. Từ 2009 tới 2016, đã có 153 nhà sư và thường dân Tây Tạng tự thiêu phản kháng sự chiếm đóng của Trung Quốc. Nguồn: AP, photo by Manish Swarup

Cho dù gần đây Trung Cộng cho xây dựng lại một số chùa chiền ở Tây Tạng bề ngoài như một “sửa sai sau Cách Mạng Văn Hóa” nhưng chỉ là để phát triển kỹ nghệ du lịch; cùng một lúc họ cho gài công an chìm vào khắp các tu viện, đi xa hơn nữa Bắc Kinh còn cấm người trẻ đi tu và đồng thời cưỡng bách các vị sư già ngoài 60 tuổi phải về hưu trong khi vẫn không ngừng rêu rao “Tự do tôn giáo là điều được ghi trong hiến pháp”.

Nếu chỉ viếng thăm Tây Tạng “như một khách du lịch” và đi theo đoàn du khách với cô hướng dẫn người gốc Hán thì mọi sự đều rất êm thấm, cũng như một số khách Tây Phương – kể cả chánh trị gia lão thành Edward Heath cựu thủ tướng Anh, được Bắc Kinh tổ chức cho đi thăm Tây Tạng, khi trở về nói mọi chuyện ở đó đều tốt đẹp. Họ nói thật qua những điều dàn dựng và được phép cho thấy. Và bao giờ cũng vậy, những điều cho thấy ấy là một sự dối trá trắng trợn.

TÂY TẠNG VÀ BÀI HỌC AN NAM ĐÔ HỘ PHỦ

Trong khoảng hơn 20 năm từ 1995, kể từ khi có mối quan tâm về con Sông Mekong dài hơn 4,800 km ấy, về phương diện địa dư chính trị/ geopolitics, người viết luôn luôn xem Tây Tạng như một quốc gia, và con Sông Mekong chảy qua 7 quốc gia – thay vì 6. Nếu không kể Tây Tạng như một quốc gia đầu nguồn, một cách vô thức, cộng đồng quốc tế đã mặc nhiên hợp thức hoá dã tâm của Bắc Kinh muốn xoá Tây Tạng trên bản đồ thế giới.

Trong buổi lễ trao Giải thưởng Nhân quyền Robert F. Kennedy ngày 9 tháng 11 năm 1998 tại Đại Học Georgetown, Đức Dalai Lama tỏ ý ao ước được viếng thăm Việt Nam năm 2000. Điều đặc biệt hơn nữa là Đức Dalai Lama còn có đề nghị với các học giả Việt Nam hãy cung cấp cho các nhà sử học Tây Tạng những sử liệu liên quan tới mối quan hệ giữa Việt Nam – Trung Hoa và Việt Nam – Tây Tạng.

Và ai cũng hiểu rằng Đức Dalai Lama muốn nhân dân Tây Tạng tìm đến “Bài học Việt Nam”, làm thế nào dân tộc Việt vẫn lấy lại được nền tự chủ sau cả ngàn năm đã bị người Tàu đô hộ và quyết tâm đồng hóa. Đó như một “thông điệp hy vọng” của những người dân Tây Tạng đang bị Trung Quốc áp bức như hiện nay. (4)

Nhưng cũng để thấy ngay một khác biệt sâu xa giữa hai quốc gia Việt Nam và Tây Tạng. Trong hơn một ngàn năm bị đô hộ ấy, Trung Hoa chưa có nạn nhân mãn, Việt Nam vẫn là xứ xa xôi còn bị coi là man di chưa xuống xa tới Đồng Bằng Sông Cửu Long, chưa phải đối đầu với “chính sách tàm thực di dân Hán hóa” như thảm trạng hiện nay của Tây Tạng, khiến dân Tây Tạng đang mau chóng trở thành thiểu số trong biển người Hán ngay trên chính quê hương của họ. Với chiêu bài dân chủ nhân danh quyền tự quyết, nếu có một cuộc trưng cầu dân ý diễn ra trên đất nước Tây Tạng do Bắc Kinh chủ xướng, thì đó là một “cuộc tự sát” mà không một người dân Tây Tạng nào có thể ngây thơ chấp nhận.

Đã 16 năm kể từ năm 2000, Đức Dalai Lama năm nay cũng đã hơn 81 tuổi, và không có cuộc viếng thăm nào của Đức Dalai Lama tới Việt Nam. Chấp nhận hay không cuộc viếng thăm ấy là một thử thách can đảm đối với nhà cầm quyền Cộng sản Hà Nội. Đó cũng là thước đo mức tự chủ của Việt Nam đối với Trung Quốc.

TÂY TẠNG MẠCH SỐNG CỦA CHÂU Á

Các con sông lớn như mạch sống cho toàn vùng Châu Á đều bắt nguồn từ Cao nguyên Tây Tạng. (2)

Phía tây, gần rặng núi Kailash là hai con Sông Indus và Sutlej chảy về hướng tây nam và giao thoa với ba con sông khác để hình thành vùng châu thổ Punjab giữa hai nước Ấn và Hồi.

Phía nam là con Sông Yarlung Tsangpo hay “nguồn tinh khiết” còn được mệnh danh là “con sông cao nhất thế giới”, với các ghềnh thác xuyên dãy Hy Mã Lạp Sơn, rồi chảy qua Ấn độ, Bhutan và Bangladesh, con sông mang tên Brahmaputra trước khi đổ vào Vịnh Bengal, thuộc Ấn Độ Dương.

Phía đông là khởi nguồn của các con sông lớn khác: Sông Dương Tử 6,500 km dài nhất Châu Á chảy về hướng đông theo suốt chiều ngang lãnh thổ Trung Hoa tới Thượng Hải, còn Hoàng Hà thì chảy về hướng bắc rồi sang đông tới Thiên Tân – Tianjin, và cả hai cùng đổ ra biển Trung Hoa.

Phía nam là hai con Sông Irrawaddy và Salween chảy xuống Miến Điện theo hướng bắc nam trước khi đổ vào Biển Andaman, những con đập thuỷ điện Made-in China nay đang bắt đầu xiềng xích và huỷ hoại hệ sinh thái của hai con sông Miến Điện này. [Hình 5]

h5Hình 5: Quốc gia Tây Tạng, nơi phát xuất những con sông lớn của Châu Á. Nguồn: Meltdown in Tibet, Michael Buckley, Palgrave MacMillan 2014

Riêng con Sông Mekong dài hơn 4,800 km, mang nhiều tên khác nhau, bắt nguồn từ Tây Tạng: có tên Dza-Chu có nghĩa “nguồn nước của đá,” tiếp tục chảy về hướng nam băng qua những hẻm núi sâu của tỉnh Vân Nam với tên Trung Hoa là Lancang Jiang “con sông xanh cuộn sóng,” qua đến biên giới Lào Thái mang một tên khác Mae Nam Khong “con sông mẹ,” xuống Cam Bốt lại mang một tên khác nữa Tonle Thom “con sông lớn” cuối cùng chảy qua Việt Nam mang tên Cửu Long “chín con rồng” với hai nhánh chính là Sông Tiền và Sông Hậu đổ ra Biển Đông bằng chín cửa sông, và nay chỉ còn bảy.

Cũng để thấy một con Sông Mekong hoang dã không còn nữa khi 6 con đập dòng chính khổng lồ Vân Nam đã hoàn tất, và 12 con đập hạ lưu Lào và Cam Bốt đang lần lượt được triển khai, cùng với những kế hoạch thuỷ lợi nguy hiểm là chuyển dòng lấy nước trên suốt chiều dài con Sông Mekong. Hậu quả là sự suy thoái của toàn thể hệ sinh thái lưu vực Sông Mekong và Đồng Bằng Sông Cửu Long thì khô hạn, nhiễm mặn và đang chết dần.

TIẾNG NÓI BẢO VỆ MÔI SINH

Đức Dalai Lama không chỉ là vị lãnh đạo tinh thần của dân Tây Tạng, ông còn là tiếng nói của “từ tâm” luôn luôn đấu tranh cho nhân quyền và bảo vệ môi sinh cho toàn hành tinh này.

Với quốc gia Tây Tạng, Đức Dalai Lama đã giành ưu tiên cho bảo vệ môi sinh thay vì thay vì những vấn đề chính trị nóng bỏng.

“Lịch trình chính trị có thể hoãn lại 5 – 10 năm nhưng cộng đồng quốc tế cần tập trung quan tâm tới biến đổi khí hậu trên Cao nguyên Tây Tạng: khối băng tuyết đang tan rã, nạn phá rừng, và ô nhiễm nguồn nước do những dự án khai thác hầm mỏ, là những vấn đề cấp thiết, không thể chờ đợi.”

Đức Dalai Lama đã nói với Đại sứ Hoa Kỳ Timothy Roemer như vậy trong một gặp gỡ ở New Delhi, thủ đô Ấn Độ vào tháng 8, 2009. Nguồn: Wikileaks Cables, the Guardian 10-8-2009

Từ trên đầu nguồn, những con sông lớn Châu Á đang bị Trung Quốc phá huỷ một cách toàn diện và có hệ thống: với khí thải từ các nhà máy gây hiệu ứng nhà kính khiến khối băng tuyết đang tan rã, rồi nạn phá rừng tự sát / suicidal deforestation, tới các kế hoạch khai thác hầm mỏ đại quy mô, tàn phá sinh cảnh, gây ô nhiễm các nguồn nước; những con sông trên Cao nguyên Tây Tạng cũng đang bị Trung Quốc xiềng xích bởi những con đập thuỷ điện và người dân Tây Tạng thì bị đuổi ra khỏi vùng đất đang sinh sống của họ.

h6Hình 6: Hâm Nóng Toàn Cầu trên Tây Tạng; Nếu Tây Tạng khô hạn, Châu Á chết. Nguồn: Meltdown in Tibet, Michael Buckley, MacMillan 2014

Hoa Lục xác nhận là sẽ xây các con đập lớn trên thượng nguồn Sông Yarlung Tsangpo – Brahmaputra, trước khi con sông ấy chảy sang Ấn Độ, Bhutan và Bangladesh. Brahmaputra là dòng sông huyết mạch của bao nhiêu triệu cư dân của 3 quốc gia này.

Giới chức Hoa Lục cho biết họ sẽ còn xây thêm những con đập khác giữa các quận hạt Sangro và Jiacha. Khi hoàn tất, tổng số công suất của những con đập thủy điện này sẽ “nhiều lần lớn hơn” công suất con đập Tam Hiệp (Three Gorges Dam) lớn nhất thế giới trên sông Dương Tử. Nguồn năng lượng mới này tương đương với 100 triệu tấn than đá, hoặc bằng toàn trữ lượng dầu khí trên Biển Đông. Yan Zhiyong, tổng giám đốc Nhóm Tham vấn Thủy điện Trung Quốc (China Hydropower Engineering Consulting Group) nhận định: “Tây Tạng là nguồn dự trữ thủy điện lớn nhất so với các tỉnh khác của Trung Quốc. Chuyển điện từ Tây Tạng sang các tỉnh miền Đông sẽ giải quyết vấn đề thiếu năng lượng của Trung Quốc”.

Anant Krishnan, nhà ngoại giao cao cấp của Ấn Độ cho rằng kế hoạch xây đập tràn lan của Bắc Kinh, cho dù đó là trong lãnh thổ Trung Quốc — thực ra là trong lãnh thổ quốc gia Tây Tạng, chắc chắn sẽ ảnh hưởng tác hại tới mối quan hệ đối với các quốc gia hạ nguồn. Rồi ông ta cũng không quên so sánh:

Ấn Độ bị báo động vì những con đập trên sông Yarlung Tsangpo- Brahmaputra, cũng giống như với các quốc gia Thái Lan, Lào, Cam Bốt và Việt Nam đối với những con đập Vân Nam trên thượng nguồn Sông Lancang – Mekong”.

h7Hình 7: Cứu Tây Tạng là cứu mạch sống Châu Á. Nguồn: International Campaign for Tibet

Cho dù đang có những mối lo âu về sự tồn vong của quê hương nhưng Đức Dalai Lama cũng rất quan tâm tới những vấn đề chung của nhân loại. Ông đề cập tới vấn đề môi sinh với một tầm nhìn xa và trong mối tương quan toàn cầu và luôn luôn muốn “giữ xanh” hành tinh này, qua thông điệp nhân Ngày Môi Sinh Thế Giới / World Environment Day [06.05.1986]:

“Hòa bình và sự sống trên trái đất đang bị đe dọa bởi những hoạt động của con người thiếu quan tâm tới những giá trị nhân bản. Hủy hoại thiên nhiên và các nguồn tài nguyên thiên nhiên là do hậu quả của lòng tham lam và thiếu tôn kính đối với sự sống trên hành tinh này… Chúng ta dễ dàng tha thứ cho những gì đã xảy ra trong quá khứ do bởi u minh. Nhưng ngày nay do hiểu biết hơn, chúng ta phải duyệt xét lại với tiêu chuẩn đạo đức là phần gia tài nào mà chúng ta thừa hưởng, phần nào chúng ta có trách nhiệm sẽ truyền lại cho thế hệ mai sau.”

NGÔ THẾ VINH

California, ngày 11.01.2017

_____

Tham khảo:

1/ Freedom in Exile; The Autobiography of The Dalai Lama. Tenzin Gyatso, Hodder & Stoughton Ltd, London, 1990.

2/ Meltdown in Tibet: China’s Reckless Destruction of Ecosystems from the Highlands of Tibet to the Deltas of Asia. Michael Buckley. Palgrave MacMillan, New York, 2014   

3/ Global Ecology and the Made in China Dams; Ngô Thế Vinh, Viet Ecology Foundation 2010; http://vietecology.org/Article.aspx/Article/62

4/ The Nine Dragons Drained Dry, The East Sea in Turmoil. Ngô Thế Vinh, Viet Ecology Press, Người Việt Books, Nxb Giấy Vụn 2016.

Đôi dòng suy nghĩ

Đôi dòng suy nghĩ

Chỉ còn 20 hôm nửa là đến ngày Tết cổ truyền của dân tộc , nhìn cảnh người Việt tỵ nạn

chen chút  nhau về VN để ai là người Việt tự do đều không khỏi xót xa .

Nhớ lại trước kia Ông  Cựu Thủ Tướng Singapore Lý Quang Diệu chỉ mong ước sao cho

Singapore được như » Sài Gòn – Hòn Ngọc Viễn Đông « .

Ngày nay Singapore đã là quốc gia « giàu có nhất Á Châu » .

Trước kia , Nam Hàn có hoàn cảnh chia cắt  giống Nam VN , nhưng cho đến thời Đệ 1 Cộng Hoà

đời sống của người Hàn Quốc còn thua xa Miền Nam VN .

Ngày nay Hàn Quốc đã trở thành « 1 trong 10 quốc gia phát triển nhất TG » .

Còn VN , với 63 năm ở Miền Bắc , 42 năm ở Miền Nam , dưới ách thống trị của

đảng cướp vc đã trở thành  «  quốc gia nghèo nàn lạc hậu , xã hội băng hoại ,

đạo đức ,luân lý suy đồi và hoạ diệt vong ngày càng kề cận  « .

Dẩu rằng VN thật dồi dào tài nguyên : nông , lâm , khoáng ,thuỷ sản  , nhân lực

và chất xám , nhưng tại sao  VN lại trở nên như thế ???  .

Là người có công tâm thì ai cũng biết đó là do « chế độ phi nhân vc » gây nên.  .

Lịch sử mấy nghìn năm của VN chưa có thời nào đen tối  như dưới thời XHCN của vc ,

Theo luật đời thì « kẻ hung bạo nào rồi cũng bị huỷ diệt » ,  nhưng tại sao cho đến nay

vc vẫn tồn tại ???  .

Đan cử trong năm 2015 vc nhận được 11 tỉ đô la kiều hối .

Trong khi từ 1991 đến 2011 , TC đầu tư vào VN    4,3 tỉ đô la tổng số vốn đầu tư  , 2,2 tỉ

tổng số vốn điều lệ ( theo tài liệu luận án thạc sĩ kinh tế của BÀ Nguyễn Thu Hằng – thuộc

Đại Học Kinh Tế ) .

Như vậy là trong 20 năm TC đã đầu tư vào VN chỉ tròm trèm 1 /2 kiều hối vc nhận được trong

năm 2015 của người Việt hải ngoại gửi về .

Còn người VN ở hải ngoại vì tình nghĩa đồng bào giúp đở.

Không phải là tất cả người Việt tự do ở hải ngoại đã mất đi lý tưởng đấu tranh để

giải thể chế độ phi nhân vc , nhưng  thật đau lòng để biết là  số người  đã

tiếp tay giúp cho đảng cướp vc  tồn tại  , ngày càng thêm đông đảo  .

Họ là ai ? – «  là những kẻ đã tự phản bội cái tư cách tỵ nạn «  , gồm :

  • Những người chưa từng nếm mùi địa ngục của các trại tù cải tạo, vùng kinh tế mới,
    hay những cuộc vượt biên , vượt biển hải hùng ( vì đã thoát đi từ 1975) .
  • Những ngài HOđã quên cái quá khứ  trong lao tù cs , về VN để hưởng thụ
    trên của các cháu gái khốn khổ tuổi đáng cháu ngoại , cháu nội .
  • Những Bà đã quên đi vết rách do hải tặc gây nên, về VN để khoe áo gấm hoặc  hưởng
    thụ những đặc sản của quê hương .
  • Những  kẻ vì háo danh , hám lợi về VN  .
  • ………………………

VC dự trù năm 2016 sẽ thu về 12 tỉ đô la kiều hối , nhưng chỉ được “biếu” có 9 tỉ .
Thất thu 3 tỉ đô la. Tại sao người Việt tự do của chúng ta lại không đánh vào chỗ đó ? .

Vấn đề của VN ta  ,đừng mong quốc gia nào khác làm thay . Hảy đồng tâm  «  KHÔNG VỀ VN
(trừ lý do chính đáng ) KHÔNG GỬI TIỀN VỀ VN «  , tạo thời cơ để dân trong nước thức tỉnh và
vùng lên . Chắc chắn trong 1, 2 năm chế độ vc sẽ sụp.
Nhân vô thập toàn , ai trong đời cũng có lúc hành xử không đúng , tôi viết lên đôi dòng này
không nhằm chỉ trích mà chỉ mong thức tỉnh những ai còn nghĩ đến tiền đồ tổ quốc  , trong khả năng
góp phần xây dựng lại đất nước  , đừng để quá muộn rồi hối tiếc cũng vô ích

HQ.tkd

Quan điểm tôn giáo của người sáng lập facebook

Quan điểm tôn giáo của người sáng lập facebook

Có nhiều người nghĩ rằng, người sáng lập facebook, Mark Zuckerberg, là một người vô thần. Điều đó từng là sự thật, nhưng có lẽ, bắt đầu có sự thay đổi nơi con người này.

Vào dịp lễ Giáng sinh vừa qua, Mark Zuckerberg đã tổ chức Giáng sinh và gửi những lời chúc tốt lành qua trang facebook từ gia đình của mình đến mọi người. Anh viết trên trang cá nhân:

“Mừng Chúa Giáng Sinh và mừng lễ Hanukkan[1] từ Priscilla, Max, Beast và tôi”

Một trong những người theo dõi facebook của Mark khi đọc những dòng này đã hỏi: “Anh không phải là người vô thần sao?”.

Mark trả lời: “Không, tôi được nuôi dạy như một người Do Thái Giáo, và rồi, tôi đã thắc mắc về nhiều thứ, nhưng bây giờ tôi tin rằng, tôn giáo rất quan trọng.”

Nhìn sơ lược tiểu sử của Mark, người ta thấy rằng anh được nuôi dạy trong gia đình Do Thái Giáo Cải Cách. Cha mẹ của anh tham dự các sinh hoạt tại đền thờ Beth Abraham tại Tarrytown, New York. Anh được học trong một trường tôn giáo và được dạy dỗ những lễ nghi Do Thái giáo.

Nhưng, bây giờ niềm tin của anh ra sao? Tôn giáo mà anh nói rất quan trọng đó là tôn giáo nào? Hay đó chỉ là “chiêu bài” trong kinh doanh của nhà tỷ phú này?

Còn nhớ, năm 2010, sau khi tham dự hội nghị Wisdom 2.0 bàn về đề tài “Sống một cách tỉnh táo trong thời đại kỹ thuật số” (Living mindfully in digital age)người sáng lập Facebook đã mời các chuyên gia từ đại học Berkeley, Yale và Stanford đến giảng cho các nhân viên của mình về những triết lý trong Phật giáo.

Cũng liên quan đến Phật giáo, trên trang Christian Time vào tháng 10/2015 đã tường thuật về Mark:

“… anh đã đưa hình ảnh anh đang cầu nguyện tại chùa Tháp Đại Nhạn tại Tây An, Trung Quốc lên trang cá nhân. Anh nói rằng, anh cầu nguyện cho vợ của mình là Priscilla, một người theo Phật giáo. Anh miêu tả Phật giáo như “triết lý và tôn giáo đầy kinh ngạc”. Anh nói rằng, anh muốn tìm hiểu nhiều về phật giáo.”

Mùa hè, năm 2015, anh thông báo, quyển sách anh dùng cho câu lạc bộ sách trên facebook của anh là quyển “The Varieties of Religious Experience” (Tạm dịch: Những loại kinh nghiệm tôn giáo) của William James.

Trong quyển sách này, William Jame đã phê bình những nhà khoa học hoài nghi về những điều vô hình. Những điều vô hình này không thể diễn tả được như là một phần của thực tại thể lý. Tác giả quyển sách nhận xét, toàn bộ đời sống tiềm thức của mỗi người, những xung động, niềm tin, những dự cảm đều hướng đến một kết quả, và điều gì đó trong mỗi người hoàn toàn biết rằng, kết quả này chính xác hơn bất kỳ một cuộc bàn luận mang tính suy lý logic chắc chắn nào.

Gần đây, tháng 08/2016, Mark và vợ đã gặp gỡ Đức Thánh Cha Phanxicô tại Vatican. Sau cuộc gặp gỡ, anh đã thể hiện lòng cảm mến với Đức Thánh Cha và viết trên trang cá nhân:

“Chúng tôi đã nói với Đức Thánh Cha rằng, chúng tôi thực sự cảm phục thông điệp về lòng thương xót và nhân ái của ngài, cũng như cách thế mới mẻ Đức Thánh Cha đã tìm thấy để nối kết mọi người thuộc mọi niềm tin trên thế giới.”

Qua những hoạt động trong thời gian qua, có thể thấy, Mark đang bắt đầu mở ra với đức tin và quan tâm hơn đến tôn giáo. Với những cảm nhận mới mẻ trong tôn giáo, hy vọng rằng, ông chủ của Facebook sẽ nhận ra được chân lý trong tôn giáo, đặc biệt, anh sẽ khám phá ra đức tin Công giáo mà anh đã có trải nghiệm trong chuyến thăm Vatican vừa qua.

Theo Ncregister

Một quyển sách mới về cuộc đời của ĐHY Nguyễn Văn Thuận

 Một quyển sách mới về cuộc đời của ĐHY Nguyễn Văn Thuận

httpv://www.youtube.com/watch?v=tlz-hNZZct0

Sau Năm Thánh Lòng Thương Xót Chúa, những câu chuyện về lòng can đảm, sự tha thứ và lòng trung tín với Thiên Chúa tiếp tục trở thành điểm nhấn. Một trong những câu chuyện đó là câu chuyện về cuộc đời ĐHY Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận.

Cuộc đời ĐHY đã trải qua 13 năm tù đày, trong đó có 9 năm bị biệt giam. Nhà văn Teresa Gutiérrez de Cabiedes đã viết về những năm tháng này của ĐHY trong quyển sách có nhan đề: “Van Thuan, Free Behind Bars”. (Tạm dịch: Văn Thuận: Tự Do Sau Những Chấn Song). Quyển sách kể về tấm gương trung kiên của ngài trong những hoàn cảnh khó khăn nhất.

Teresa Gutiérrez De Cabiedes 

“Ngài không bao giờ từ bỏ. Ngài đã tha thứ cho những người ai trừng phạt ngài cách vô lý. Chính tình yêu với kẻ thù địch thúc đẩy ngài biến đổi đời sống của mình. Tôi nghĩ rằng, điều này chỉ có thể giải thích bằng một tình yêu siêu nhiên, một tình yêu đến từ Thiên Chúa.”

ĐHY Thuận đã viết ba quyển sách khi ngài còn ở trong tù. Một trong những quyển sách đó là “Đường Hy Vọng” diễn tả niềm cậy trông xác tín vào Thiên Chúa nơi ngài trong những hoàn cảnh khó khăn nhất.

Câu chuyện cuộc đời ngài là một phác họa chi tiết về đời sống của một Kitô hữu bị bách hại nhưng không bao giờ chối bỏ đức tin của mình.

Teresa Gutiérrez De Cabiedes 

“Cách đây vài năm, tôi có nói chuyện với Đức TGM Pamplona (Tây Ban Nha). Ngài đã kể cho tôi nghe câu chuyện về ĐHY Thuận, bạn của ngài. Câu chuyện về ĐHY Thuận giúp chúng tôi hiểu biết về cách Thiên Chúa giải phóng chúng ta ra khỏi xiềng xích tù đày. Tôi thấy rằng, cuộc đời của ngài như một quyển tiểu thuyết, tôi cần phải kể câu chuyện cuộc đời của ngài!”

ĐHY Thuận được trả tự do vào ngày 21/12/1988. Sau đó, ngài đến Roma. Khi gặp ngài, thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã chào đón ngài và nói, Đức Kitô là nguồn cậy trông cho chúng ta trong mọi cơn gian nan thử thách.

Teresa Gutiérrez De Cabiedes 

“Ngài rất thông minh, nói được nhiều ngôn ngữ và có uy tín với nhiều người, nhưng điều đánh động tôi là ngài dù bị tước đoạt mọi thứ, nhưng luôn dựa vào Thiên Chúa và dần dần biến đổi tận căn những ai gặp gỡ ngài”

Đây cũng là quyển sách mà tác giả muốn gửi đến mọi người, đặc biệt là những người bạn của ĐHY Thuận, nhân Ngày Sách Thế Giới.

Biết tôi là ai không?

Biết tôi là ai không?

Tác giả: Bùi Bảo Trúc
(Thư gửi Bạn ta)

Cho mãi đến mấy hôm trước, tôi mới tìm ra được câu trả lời cho một câu hỏi tôi bị hỏi từ hơn ba mươi lăm năm trước.

Một bữa đang ngồi trong quán cà phê ở Sàigon, thì tôi bị một người đàn ông gây sự và cuối cùng ông ta quăng ra cho tôi câu hỏi : “Ông biết tôi là ai không ?”

Quả thật lúc ấy, tôi không biết ông ta là ai thật. Ông không phải là một tài tử, một nhà văn, hay một chính trị gia nổi tiếng để tôi phải biết. Tôi đành ngồi đó, chịu thua ông, không có câu trả lời.
Ít lâu sau, tôi được cho biết ông là đàn em của một quan chức lớn, và nhờ đó, ông thỉnh thoảng đem chút “hào quang” vay mượn được để hù dọa những người yếu bóng vía như tôi.

Sang đến Mỹ, thỉnh thoảng tôi cũng bị hỏi câu hỏi đó, mà đau cho những người đó, cả Mỹ lẫn Việt, tôi không bao giờ có câu trả lời cho câu hỏi đó của họ cả. Họ thì nghĩ tôi phải biết họ, mà thật tình, tôi thì không hề biết họ bao giờ. Và cứ mỗi lần bị những nhân vật như thế cật vấn, thì tôi chỉ biết ngẩn mặt ra, giả bộ lục lọi cái trí nhớ thảm hại của tôi để tìm câu trả lời cho người nổi tiếng nhưng vô danh và không ai thèm biết đó.

Mấy tháng trước, trong chuyến về lại Los Angeles, California , tôi phải ghé lại Newark, New Jersey để đổi máy bay. Phi cơ của tôi bị trễ hơn một tiếng. Hành khách có một số rất bực bội vì công việc bị xáo trộn do sự chậm trễ của máy bay gây ra.

Tại quầy bên cạnh cổng 112, một tiếp viên dưới đất của công ty đang cố giải quyết những yêu cầu, khiếu nại của khách hàng thì bỗng nhiên một hành khách có vẻ tức tối lắm, lấn lên phía trên, len qua mặt mấy người khác và ném tấm vé lên quầy.

Ông ta nói lớn rằng ông ta muốn được cho bay chuyến sớm nhất và phải xếp cho ông ta ngồi hạng nhất. Người tiếp viên trả lời rằng cô xin lỗi về những phiền nhiễu mà chuyến bay gây ra cho ông, nhưng cô cũng phải giải quyết những hành khách tới trước và hứa là sẽ giúp ông khi đến lượt ông.
Nhưng ông khách không bằng lòng, ông hỏi như hét vào mặt cô, rõ ràng là để cho các hành khách khác cũng nghe được. Ông hỏi đúng câu mà tôi cũng bị hỏi mấy lần : “Cô biết tôi là ai không ?” (Do you know who I am ?).

Thì ra người Mỹ, trẻ và xinh như cô tiếp viên cũng bị hạch hỏi bằng câu đó chứ chẳng riêng gì tôi. Tôi liền cố lắng tai nghe xem cô tiếp viên ở quầy trả lời như thế nào để biết mà ứng phó sau này.

Người phụ nữ này, vẫn tươi cười, cầm chiếc micro của hệ thống khuếch âm lên và nói lớn bằng giọng rành rẽ rằng: “Ở quầy 112, có một vị hành khách không biết mình là ai, quí hành khách ai có thể giúp ông ta biết được căn cước hay thân thế của ông, xin tới quầy 112.”

Ông khách tự nhiên, vì chính câu hỏi của ông, biến thành một bệnh nhân tâm thần, một người mắc Alzheimer, một người lãng trí, tâm lý, thần kinh thác loạn, lẫn lộn bản thể, không còn nhớ mình là ai, tên gì, ở đâu nữa. Và lúc ấy thì đám hành khách đang sốt ruột đứng trước quầy đều phá ra cười.

Ông khách điên tiết, chỉ mặt người tiếp viên ở quầy và bật ra một câu chửi thề tục tĩu : “Đ.M. mày” (F..k you) .

Người phụ nữ ở quầy, không một chút giận dữ, bằng giọng bình thản, trả lời ông nguyên văn như thế này : “I’m sorry, sir, but you’ll have to stand in line for that, too”. (Thưa ông, chuyện đó, chuyện ông đòi giao hợp với tôi, ông cũng phải xếp hàng chờ đến lượt mới được.)

Chao ôi, hay biết là chừng nào ! Thế mà tôi không nghĩ ra từ bao nhiêu năm nay để mà ấm ức không nguôi.

Bây giờ, nếu người đàn ông ngày xưa ở Saigon hay dăm ba người khác đặt lại câu hỏi đó với tôi, thì tôi đã có ngay được câu trả lời học được của người tiếp viên phi hành ở phi trường Newark, New Jersey hai hôm trước.

Tác giả: Bùi Bảo Trúc
(Thư gửi Bạn ta)

Một bài viết thật hay, đầy đạo lý. cho cả đời lẫn đạo.

Một bài viết thật hay,  đầy đạo lý cho cả đời lẫn đạo.

Bạn hỏi mình : Có kiếp trước hay không?
Sao mỗi con người sanh ra lại khác nhau đến thế?
Có kẻ đẹp kẻ xấu. Có người khôn người ngu. Có đứa sang đứa hèn.
Nhưng bạn ơi, xấu – đẹp, khôn – ngu, sang – hèn … là do bạn nhìn nó như vậy.
Chứ bản thân mỗi người đều là mỗi tuyệt tác đấy thôi.
Máu ai cũng đỏ. Nước mắt ai cũng trong. Trái tim ai cũng đập.
Sự phân biệt đến do bạn nhìn như vậy.

Bạn lại hỏi mình : Có kiếp sau hay không?
Mình mới hỏi lại : Bạn cần kiếp sau để làm gì?
Để thấy người sống thiện được đền đáp, người tội lỗi bị dầu sôi, người tu đạo được giải thoát.
Nhưng bạn ơi, đâu cần tới kiếp sau.
Nhân quả nhãn tiền.
Chỉ do bạn không thấy.

Bạn có bao giờ nhìn sâu vào cuộc sống.
Người có lòng Từ, khuôn mặt sẽ dịu nhẹ bao dung, vòng tay sẽ ân cần rộng mở.
Kẻ thủ ác, trong tim chứa đầy lửa dữ. Tự đốt mình, đâu cần địa ngục xa xôi. Đôi mắt láo liên, hằn những đường gân máu. Luôn cau mày, luôn nhức nhối thân tâm.

Ai xức nước hoa, người sẽ thoang thoảng hương thơm.
Trái tim ai đẹp sẽ lung linh như vầng trăng ấy.

Và bạn ơi, phút giây này hạnh phúc.
Được mỉm cười, được chiêm ngắm đổi thay.
Tìm cầu chi nữa quá khứ vị lai.
Chẳng nơi nào đẹp như bây giờ hiện tại.
Cành sen trắng đang rưng rưng trong nắng.
Biết mỉm cười lấp lánh đoá Vô Ưu.

” Đừng bao giờ giữ lại một cái gì mà chờ cơ hội đặc biệt cả. Mỗi ngày sống đã là một cơ hội đặc biệt rồi!”

Tôi suy đi nghĩ lại câu nói này, và nó đã thay đổi cuộc đời tôi.
Hiện nay tôi đọc sách nhiều hơn trước và bớt dọn dẹp nhà cửa.

Tôi ngồi trước mái hiên mà ngắm cảnh chứ không buồn để ý đến cỏ dại mọc trong vườn.

Tôi dành nhiều thì giờ cho gia đình và bạn hữu hơn là cho công việc.
Tôi hiểu rằng cuộc đời là những cảm nghiệm mình cần phải nếm.
Từ ngày ấy, tôi không còn cất giữ một cái gì nữa.

Tôi đem bộ ly pha lê ra sử dụng mỗi ngày; tôi mặc áo mới để đi siêu thị, nếu mình bỗng thấy thích.

Tôi không cần dành nước hoa hảo hạng cho những ngày đại lễ, tôi xức nước hoa khi nào mình thấy thích.

Những cụm từ như “một ngày gần đây” và “hôm nào” đang bị loại khỏi vốn từ vựng của tôi

Điều gì đáng bỏ công, thì tôi muốn xem, muốn nghe, muốn làm ngay bây giờ.

Tôi không biết chắc là vợ của bạn tôi hẳn sẽ làm gì nếu cô ấy biết trước rằng mai đây mình không còn sống nữa. (một ngày mai mà tất cả chúng ta xem thường)

Tôi nghĩ rằng cô ấy hẳn sẽ mời mọi người trong gia đình, mời bạn bè thân thích đến.

Có thể cô sẽ điện cho vài người bạn cũ và làm hòa hay xin lỗi về một chuyện bất hòa trước đây.

Tôi đoán rằng cô ấy sẽ đi ăn các món Tàu (vì cô rất thích ăn đồ Tàu!)
Chính những chuyện vặt vãnh mà tôi chưa làm khiến cho tôi áy náy, nếu tôi biết rằng thì giờ tôi còn rất có hạn.
Tôi sẽ rất áy náy vì không đi thăm một vài người bạn mình cần phải gặp mà cứ hẹn lần hồi.

Áy náy vì không nói thường hơn với những người thân của mình rằng mình yêu thương họ.

Áy náy vì chưa viết những lá thư mà mình dự định ‘hôm nào’ sẽ viết.
Giờ đây, tôi không chần chờ gì nữa, tôi không hẹn lại và không cất giữ điều gì có thể đem lại niềm vui và nụ cười cho cuộc sống chúng tôi.

Tôi tự nhủ rằng mỗi ngày là một ngày đặc biệt. Mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút đều đặc biệt cả.

Nếu bạn nhận được thư này, ấy là vì có một ai muốn điều hay cho bạn, và vì bạn cũng có quanh mình những người bạn quý yêu.

Nếu bạn quá bận đến độ không thể dành ra vài phút gửi đến cho ai khác và tự nhủ: “ mai mốt tôi sẽ gửi” thì mai mốt đó có thể là một ngày thật xa hoặc là bạn không bao giờ gửi được.

Việt Nam đã “hết cửa” rồi

Việt Nam đã “hết cửa” rồi

Trần Nhật Phong (Danlambao) – Một vài bạn trẻ ở Sài Gòn lại inbox cho tôi, nói rằng kể từ ngày có mạng xã hội, họ được tiếp cận khá nhiều thông tin, và trở nên hoang mang trước hoàn cảnh hiện nay của Việt Nam, từ chuyện chính quyền CSVN nhu nhược với chủ quyền biển đảo cho đến sự phát triển kinh tế èo uột, khác hẳn với những gì họ được học hỏi từ mái trường xã hội chủ nghĩa, câu hỏi của những người bạn trẻ là Việt Nam sẽ đi về đâu trước nhũng vấn nạn xã hội, công quyền không thể giải quyết.

Tôi không phải là một kinh tế gia, có thể giải đáp được thắc mắc của các bạn, tuy nhiên tôi rất mừng là các bạn đã bắt đầu biết hoang mang, tức là các bạn đã nhìn ra được sự “bất ổn” trong hệ thống tư duy của đảng cộng sản, ở đây tôi chỉ nói với các bạn trên quan điểm của một người sống qua nhiều quốc gia, đi nhiều nơi, và từ những ghi nhận trong cuộc sống, chia sẻ lại với các bạn góc nhìn của tôi mà thôi.

Tôi sinh hoạt lâu năm với các anh chị em trong giới nghệ sĩ, đặc biệt là những nghệ sĩ trình diễn văn hóa cổ truyền như Cải Lương, Hồ Quảng, trong số này có một nam nghệ sĩ là đàn em của bà xã tôi, chuyên môn thủ “vai ác” trong các tuồng cải lương từ xã hội cho đến tuồng cổ.

Có một lần ngồi ăn nhậu với nhau, tôi hỏi anh rằng, sao chuyên môn chọn những “vai phản diện” mà không tranh thủ những vai chánh, anh cười đáp “Anh biết rồi, trong ngành của mình hiện nay, có 2 ông thần đã ôm trọn vai chánh trên hàng ngàn cuốn video là Vũ Linh và Kim Tử Long, nếu em chọn vai chánh đó nữa thì cạnh tranh… mệt lắm, còn đóng vai “kép nhì” thì làm sao khán giả nhớ đến em là ai? Trong một vở tuồng, khán giả chỉ luôn nhớ đến ông kép chánh và ông kép ác thôi, nên thay vì chọn vai chánh để cạnh tranh với 2 ông thần kia, em chọn vai “phản diện” cho chắc ăn”.

Lúc đó tôi khá ngỡ ngàng, nhưng rồi hiểu ngay, đây chính là nguyên tắc mà ngạn ngữ Trung Hoa đã từng có “tri kỷ tri bỉ, bách chiến bách thắng”, biết rõ bản thân của mình, biết rõ sở trường của mình, biết rõ đối phương thì sẽ thành công.

Tôi kể câu chuyện này cho các bạn nghe, là muốn nói đến Việt Nam, đất nước có truyền thống văn hóa “lúa nước” kể từ ngày lập quốc đến nay, so với Nhật Bản, Hàn Quốc hay Đài Loan, rõ ràng về địa lý Việt Nam hơn hẳn những quốc gia hay vùng lãnh thổ này, một bên là biển, một bên là rừng và cao nguyên bao la bát ngát, có thể nói lá một thế mạnh và sở trường về nông, hải sản.

Theo các bản báo cáo của Liên Hiệp Quốc, kể từ cuối thập niên 90 (bắt đầu từ 1999) đến nay, hầu như năm nào cơ quan này cũng báo động về tình trạng thiếu thực phẩm trên thế giới, nhất là đối với những quốc gia đông dân như Ấn Độ, Trung Quốc thì nạn thiếu thực phẩm càng trầm trọng, và năm nào họ cũng nhập cảng hàng trăm tỷ Mỹ kim các mặt hàng nông sản và hải sản, để cung ứng cho nhu cầu của dân chúng.

Nếu là một cơ chế lãnh đạo quản lý đất nước tốt, có tầm nhìn và hiểu rõ đất nước mình có lợi thế gì, thì tôi nói với các bạn Việt Nam hôm nay đã trở thành một cường quốc về kinh tế dựa trên nông, hải sản xuất cảng, nhưng đáng tiếc, Việt Nam hôm nay đã sắp sửa thua cả Lào và Cam Bốt chỉ vì những kẻ cai trị “ngu dốt, ích kỷ và tham lam”.

“Ngu dốt” là không hiểu rõ đất nước mình có thế mạnh gì? sở trường gì? Chỉ nhìn thấy Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore hay Nhật Bản giàu có nhờ công nghiệp thì vội vã chạy theo và “đòi” biến Việt Nam thành quốc gia công nghiệp. Các quốc gia và vùng lãnh thổ trên chỉ là những đảo quốc, hoặc hàng năm phải đương đầu với động đất, sóng thần, nên họ không còn lựa chọn nào khác là chọn công nghiệp để phát triển, ngay cả Nhật Bản còn phải tạo ra những đảo nhân tạo để trồng lúa, thì các bạn đủ hiểu thực phẩm chính là nguồn gốc cho sự an toàn đời sống của người dân, và ở những nơi này, nếu các bạn có dịp đi qua sẽ thấy rằng giá cả thức ăn luôn mắc mỏ hơn những thứ khác.

Thay vì dùng nguồn vốn ODA hay FDI để phát triển hạ tầng cơ sở cho nông nghiệp, thay vì “thua lỗ ngàn tỷ” cho các dự án thép, Boxite, ngân hàng, tốn cả ngàn tỷ cho những tượng đài vô bổ, số tiền đó hàng năm đầu tư vào máy móc hiện đại cho ngành nông sản và hải sản của Việt Nam, giúp nông dân và ngư dân có phương tiện thay cho sức người, sức trâu, khai thác gổ và trồng thêm rừng, thì có phải Việt Nam ít nhất đã trở thành một quốc gia cung cấp thực phẩm trong khu vực quan trọng, và hôm nay Việt Nam đâu có bị tan hoang vì phá rừng, vì ô nhiễm môi sinh, vì nước sông ở đồng bằng sông Cữu Long đâu có tình trạng bị “ngập mặn”. Cái “ngu dốt” của những kẻ cầm quyền chính là điểm này.

“Tham lam” là vì những kẻ mang thẻ đảng từ trung ương đến địa phương, nếu phát triển đúng hướng thì làm sao họ có tiền sắm xe hiệu cho bản thân và gia đình, làm sao có đất đai bán “quyền sử dụng” cho “nhà đầu tư”, và biến tài sản của dân tộc thành tài sản riêng của từng đảng viên. Việt Nam hiện nay nằm trong tình trạng “cha chung không ai khóc”, mỗi một kẻ lên nhiệm đều vơ vét cho đủ “sở hụi” trước khi “thuyên chuyển” qua nơi khác, có tên đảng viên nào chịu nhận trách nhiệm đâu, từ bộ công thương, bộ công an, bộ quốc phòng cho đến cái gọi là mặt trận tổ quốc, cứ lấy đất đai xây resort, xây sân goft xây nhà máy thép và xây… tượng đài để dục khoét, thu tiền bỏ túi riêng, “ai chết mặc bay”, tao thu tiền bỏ túi, đây chính là hiện trạng của Việt Nam, cai trị đất nước chỉ là những kẻ “tham lam”.

“Ích kỷ” là biết bản thân ngu dốt, không có khả năng quản lý và lãnh đạo đất nước, nhưng vẫn bám vào cái “hiến pháp thổ tả” để độc quyền cai trị đất nước, độc quyền dành những món lợi cho gia đình của đảng viên, còn mọi thứ nợ công, nghèo đói thì đạp cho… dân đen lãnh. Chỉ vì “ích kỷ” cho nên Việt Nam hôm nay, những người có khả năng đều bỏ chạy ra khỏi đất nước, khi họ không có cơ hội đóng góp trong các vị trí lãnh đạo chỉ vì họ không có thẻ đảng, thì họ đem cái học và khả năng của họ đóng góp cho quốc gia khác, để bản thân và gia đình của họ được thăng tiến, được hãnh phúc vì họ đóng góp đúng khả năng của họ và họ được quyền hưởng thụ cuộc sống tốt đẹp hơn.

Nếu các bạn hỏi tôi với hoàn cảnh Việt Nam hiện nay, do độc đảng nên “quota” xuất cảng bị hạn chế, ô nhiễm môi trường khiến cho các mặc hàng nông, hải sản bị trả về, dệt may cạnh tranh không nổi với Indonesia, Miến Điện và Trung Quốc, từ nam chí bắc môi trường bị ô nhiễm nặng nề ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân vì rừng bị tàn phá, vì biển bị nhiễm kim loại vì nước sông bị “ngập mạn”, thì chừng nào Việt Nam mới khắc phục được tình trạng này, tôi có thể nói với các bạn rằng, ngay cả bây giờ cộng sản sụp đổ, thì cứu vãn lại môi trường của Việt Nam, cũng phải mất từ 70 năm đến cả trăm năm chứ không phải chỉ vài năm là có thể làm được.

Ngay cả nơi tôi đang sinh sống là tiểu bang California, từ thập niên 70, chính phủ tiểu bang đã dự đoán mức ô nhiễm sẽ tăng cao với mực độ dân số ngày càng tăng và xe cộ nhiều, đã ra nhiều đạo luật và chính sách để gìn giữ môi trường, mà đến hôm nay so với Việt Nam đương nhiên chúng tôi sống trong bầu không khí sạch sẽ hơn, nhưng nếu so với Hawaii hay một số tiểu bang nông nghiệp khác, thì chỉ số ô nhiễm của California vẫn cao hơn, chúng tôi mất hơn 40 năm mà chỉ giữ được vậy, huống hồ chi Việt Nam chính sách bảo vệ môi trường không có, không rõ ràng, thiếu dụng cụ, thiết bị bảo vệ môi trường, thiếu cả “người lãnh đạo có tầm nhìn” thì các bạn nghĩ Việt Nam sẽ mất bao nhiêu năm để phục hồi?

Đừng để những kẻ cầm quyền “bịp bợm” các bạn về những ngôn ngữ tô hồng, “nổ” và “lấp liếm” nữa, cứu được các bạn và gia đình của các bạn, chỉ có bản thân các bạn thôi, còn nếu không đủ khả năng, bản lãnh để đứng lên thay đổi xã hội nơi các bạn ở, thì cách tốt nhất là tìm đường… chạy, nghèo chạy theo kiểu nhà nghèo, có tiền chạy theo kiểu có tiền, vì với cơ chế lãnh đạo hiện nay, Việt Nam đã không còn lối thoát nào khác, chỉ cho người dân có bầu không khí trong sạch và ăn no thôi cũng chưa được, đừng nói chi đến cái gọi là “cường quốc công nghiệp”, suy nghĩ gẩm cho thật kỷ rồi quyết định cho chính bản thân các bạn nhé, chúc các bạn một năm mới “rung chuông” ăn tết một cách “hạnh phúc với đảng và nhà nước” nhé.

Trần Nhật Phong

danlambaovn.blogspot.com

Made in China sắp kết thúc.

From facebook:  Kimtrong Lam
Made in China sắp kết thúc.

i Today News – Ngót nghét bốn mươi năm qua kể từ khi Đặng Tiểu Bình chính thức đổi mới nền kinh tế của Trung Cộng bằng cách chấp nhận “mở cửa” để đón nhận nền kinh tế thị trường vào nước này qua chính sách Bốn Hiện Đại Hóa đưa Trung Cộng đã thăng tiến nhanh.
Tuy nhiên nền kinh tế Trung Cộng vươn lên được nhờ vào những yếu tính sau:
– Sức lao động nhiều và rẻ
– Sự ma mãnh trong hối đoái
– Hỗ trợ (trợ giá) của nhà nước tuy đã vào WTO
– Chấp nhận làm đại công xưởng chế tạo cho thế giới Tây phương (great manufacturing) để hấp thụ đầu tư và thu hút việc làm về với Tàu
Cán cân thuơng mãi của Mỹ bị thâm hụt đối với Trung Cộng tăng quá cao nhất là sau khi Tàu vào Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới WTO.
Từ cuối thập niên 1990 đến nay số thâm thủng càng về sau càng tăng cao không kéo xuống được. Cho đến nay hàng triệu công ăn việc làm ở Mỹ bị mất do hàng chục ngàn hãng xưởng trong khu vực chế xuất (manufacturing sectors) của Mỹ bị đóng cửa.

Sự kiện thâm thủng ngoại thuơng của Mỹ đối với Trung Cộng đẩy con số thặng dư ngoại tệ của Bắc Kinh riêng tại Mỹ lên đến 3 trillions. Chính đây là lý do tại sao Trung Cộng là chủ nợ lớn đối với công phiếu Hoa Kỳ.
Hàng hóa xuất cảng của Trung Cộng chủ yếu là hàng hóa tiêu dùng giá rẻ, sản xuất bằng công lao động tại các khu vực chế xuất đang chiếm lĩnh dần thị trường thế giới với cái ‘mác’ Made in China.
Dấu hiệu thời đại huy hoàng của hàng hoá chế xuất của Trung Cộng sắp kết thúc

Hiện nay chính phủ Hoa Kỳ liên tục chỉ đích danh Trung Cộng là thủ phạm về vấn đề xâm nhập và đánh cắp sở hữu trí tuệ của Hoa kỳ, mức độ xâm phạm về phía Trung Cộng từ tỷ lệ 50% đến con số không ngờ là 80%. Trị giá mất mát về việc đánh cắp cùng xâm nhập vùng – miền Internet Protocol làm thiệt hại cho Mỹ lên ngót 300 tỷ đô la hàng năm!
Vấn đề này đang làm cho các công ty trọng yếu của Mỹ như Dow Chemicals, Caterpillar, GE, và Ford đang rục rịch chuyển các cơ xưởng về lại Hoa kỳ

Ngay Google cũng loan báo rằng kỹ thuật công nghệ giải trí Nexus Q phải sản xuất tại Hoa Kỳ và chuyện này bắt buộc Apple phải rục rịch đi theo.
Sự mất cắp an toàn thông tin kỹ thuật làm thiệt hại kinh tế cho Mỹ khiến các đại công ty Mỹ phải “hồi hương” chưa hẳn là vấn đề chính cho NGÀY TÀN CỦA NỀN KINH TẾ HÀNG RẺ CỦA TÀU.

Sức ép chính trị, sự đòi hỏi lấy lại cân bằng công ăn việc làm cho dân từ quốc hội Mỹ, không phải là nguyên nhân chính cho NGÀY TÀN của thời đại hoàng kim “hàng rẻ dỗm” của Trung Cộng mà sự khai sinh những phát minh kỹ thuật tân kỳ sẽ là cái dao “sát thủ” nền kinh tế Đại Sản Xuất của một nứơc Trung Hoa ma đạo về thương mãi.

BA PHÁT KIẾN VỀ KỸ THUẬT TÂN KỲ làm hồi sinh khu vực kinh tế chế xuất của Mỹ

Thời gian qua hàng triệu việc làm đã mất ở nước Mỹ nhưng thứ công việc này lại xuất hiện ở Trung Cộng (hay một số nước khác), xong đem ngược lại Mỹ. Quy trình này sẽ không còn nữa.

Chậm nhất là đầu thập niên tới (1920) Kỹ thuật cao của Mỹ sẽ ứng dụng 3 công nghệ vượt trội
1- Robotics / người máy để hạ giá thành phẩm,
2- thông minh nhân tạo /Artificial Intelligence-AI
3- kỹ thuật ba chiều /3D Printing.
Những phát triển kỹ thuật này sẽ làm nhu cầu xử dụng nhân công và xí nghiệp tại Trung Hoa không cần nữa vì ở Mỹ không cần xí nghiệp và nhân công loại này.

1- ROBOTICS- NGƯỜI MÁY
Vào năm 2011 chính phủ TT Obama đã tài trợ thành công chương trình Phát Kiến Người máy Quốc gia (National Robotics Initiative), một nỗ lực to lớn nhằm đưa người máy giúp nhiều cho công nhân tại Mỹ giúp gia tăng năng suất, an toàn, và tránh nguy hiểm ngộ độc cho công nhân.

Ngay trong lĩnh vực nông nghiệp thế hệ robotics này sẽ giúp nông dân Hoa Kỳ tăng nông phẩm, tránh bệnh cây, tránh độc tố và ô nhiễm môi sinh nhất là gia tăng năng suất cho nông nghiệp Mỹ Hiện tại và trong vài năm nữa vai trò người máy lãnh nhiệm vụ thay thế con người rất nhiều.
Người máy thật đa năng. Vắt sữa bò cũng người máy, giải phẫu trong y học cũng người máy, chiến đấu trong quân sự và ngay cả lái máy bay phản lực…

Chúng ta đừng cho rằng giá thành nguòi máy làm ra sản phẩm trong thế hệ robotics này là cao hơn giá thành người thợ hiện nay đang quần quật làm tại các xí nghiệp chế xuất tại Trung Cộng.

Đối với người máy, thành phẩm người thợ của CS Tàu làm ra chỉ là “trò chơi trẻ nít”. Đối với thế hệ người máy mới này, nó sẽ làm dễ hơn, nhanh hơn và giá thành rẻ hơn người làm.
Ngay tổ hợp Foxconn Technology Group Đài Loan sẽ cho ra đời một triệu người máy trong 3 năm để làm một khối lượng công việc mà cả toàn khối nhân công tại Trung Cộng làm hiện tại

Sự thay thế như thế làm người ta so sánh giá nhân công tại của Trung Hoa lục địa trở nên đắt hơn. Ngay cả những đời xe hiện đại nhất hiện nay ví dụ Tesla Model S, được chế tạo tại Silicon Valley một nơi ở đắt địa nhất tại Hoa kỳ, thì robots sẽ đảm nhiệm việc lắp ráp sẽ hạ giá thành.

2. SỰ THÔNG MINH NHÂN TẠO (ARTIFICIAL INTELLIGENCE-AI)
Giả sử, bạn đang ngồi trước computer, phác họa ra một mốt quần áo hợp thời trang nào đó, hay họa ra một kiến trúc bắt mắt hợp với thị trường vân vân, tuy có dùng computer nhưng đây là sự thông minh của bạn, của con người vì bạn dùng trí óc phán xét- quyết định -chọn lựa trên computer để phác họa. Giờ đây trí thông minh nhân tạo là những software sẽ thế trí óc của bạn làm chuyện này; có nghĩa là những bộ óc nhân tạo này sẽ thế bộ não bạn điều khiển computer.

Phát minh này thật ra bị lãng quên trong thập niên 1980s. Những công ty khổng lồ điện toán như IBM ứng dụng nó và thấy rõ hiệu năng đáng kinh ngạc của “trí thông minh nhân tạo” như vừa nói ở trên

Chúng ta thấy ứng dụng hiện nay của AI nằm ở khả năng những chiếc xe tự lái, ngay cả khả năng nhận ra giọng nói hay nhận ra khuôn mặt đang ứng dụng hiện nay trên facebook. Làm việc tại nhà sẽ có sự giúp đỡ về những bộ não nhân tạo thế con người trong tạo thành sản phẩm.
Khi Mỹ sở hữu được những thế hệ những “bộ não nhân tạo AI ” này thì họ không cần đưa các hãng điện toán qua tận Trung Cộng để thuê mướn các kỹ sư Trung Hoa với giá lương thấp. AI sẽ giúp Mỹ có nhiều sản phẩm giá thành hạ và tinh xảo hơn cùng ít hư hao hơn.

3- SỰ PHÁT TRIỂN CỦA KỸ THUẬT IN 3 CHIỀU- 3D Printing
Định nghĩa ban sơ của 3D Printing là kỹ thuật ứng dụng trong chế tạo, sự xử lý một thành phẩm qua 3 chiều của vật thể thông qua những thông số từ máy điện toán. Tiến trình xử lý 3D là một tiến trình đồ họa điện toán khối vật thể nay được chia ra nhiều lớp phẳng kế tiếp rất mỏng chồng nhau cho đến khi thành hình dạng của vật thể.

Kỹ thuật 3D printing rất phong phú, nó có khả năng kiến tạo bất cứ thứ gì, từ nghệ thuật tới đồ chơi ngay chuyện nó phác hoạ ra các bộ phận cơ thể giả cho con người như tai, mũi, da, gân… cho con người
Trong quá trình làm ra thành phẩm hiện nay, thật ra còn nhiều vấn đề khá bất hợp lý, uổng phí vật chất, thời gian trong chờ đợi.

Chúng ta lấy ví dụ thô thiển nhất- nào gọt một thanh gỗ, nào đẽo một khối sắt, nào xay nào chà để có vật liệu trước khi bị uốn nắn thành một sản phẩm dùng được.

Chuyện này là nguyên nhân tạo ra sự tăng giá thành do hao phí thời gian cùng nguyên vật liệu mà ra. Nói theo cách khác, càng nhiều phức tạp thì càng nhiều công lao động và nỗ lực đầu tư vào trong một sản phẩm
Hiện nay kỹ nghệ 3D Printing có thể tạo ra các dụng cụ cơ khí, trang bị y khoa, trang sức và ngay cả áo quần, thậm chí còn tạo kiểu cho nhiều robot mới khác.
Khoảng cuối thập niên này, nền kinh tế Hoa kỳ sẽ có thừa kỹ thuật 3D tân tiến sản xuất những mặt hàng trước đây từng đầu tư nhiều công lao động trong nghề nghiệp.

Không còn là chuyện viễn tưởng, vào thập niên tới kỹ thuật 3D Printing sẽ nắm phần chủ động trong xây dựng hàng loạt nhà cửa, thiết bị điện tử v v… với giá thành hạ hơn nếu so làm tại Trung Cộng mang về lại Mỹ.
Trong thập niên tới Hoa kỳ sẽ thấy sự xuất hiện của nhiều vật liệu làm từ kỹ nghệ cao cấp như carbon nanotubes,(sợi carbon siêu nhỏ), ceramic-matrix nanocomposites, (sợi carbon thế hệ mới) . Tựu trung, chúng sẽ cho ra đời những sản phẩm mới có tính chịu đựng lâu dài, bền với năng suất rất cao so với hiện nay.

Dù cho Trung Cộng có được kỹ thuật tự hành từ robotics, Trí Thông Minh Nhân AI và kỹ thuật 3D chăng nữa, quan niệm tải nguyên liệu tới Trung Hoa làm xong chở lại qua Mỹ sẽ không còn hiện hữu

Kết Luận

Trung Cộng hiện nay có nhiều lý do để lo âu cho nền kinh tế với vô số công xưởng chế xuất đại công xửong xử dụng nhân công đại loạt như hiện nay. Nền kinh tế quá nóng của dạng này hiện nay đã có đáp số. Khi nền kinh tế Mỹ đang ý thức “về ngưồn” cộng với những phát minh kỹ thuật cao cấp nhất trong đó có 3 kỹ thuật Robotics, AI và 3D như vừa nói ở trên là một trong những nguyên do làm nguyên do làm kinh tế của Bắc Kinh đang khựng lại

Trung Hoa đang lo ngại các khu vực chế xuất sẽ trở lại Mỹ chậm lắm là trong thời gian tới sau bầu cử 2016 này.

Chúng ta tiên liệu sẽ có những công việc ra đi từ Mỹ nhưng không trở lại vì những công việc đó không còn tồn tại nữa do nền sản xuất mới Hoa Kỳ đang lên lại với sự phát triển 3 ngành kỹ thuật hiện đại vừa trình bày ở trên.
Kỹ thuật mới đang tạo ra hàng loạt công việc mới, mức lương cao hơn tại Mỹ.Thời gian này chúng ta sẽ chứng kiến ngày tàn của nền kinh tế HÀNG “DỔM” của Bắc Kinh.

Đinh hoa Lư

Lệnh miệng

Lệnh miệng

FB Nguyễn Thông

7-1-2017

Ảnh cụ Trương Vĩnh Ký. Nguồn: internet

Mấy bữa ni, thiên hạ đồn rầm chuyện cuốn “Trương Vĩnh Ký – nỗi oan thế kỷ” của nhà sử học Nguyễn Đình Đầu bị cấm lưu hành trên đường sách Sài Gòn, xuất phát từ một cái lệnh miệng.

Tôi chưa rõ đầu đuôi việc này (có bị cấm hay không) nhưng thiên hạ đồn ran như thế mà chả thấy nhà chức việc có trách nhiệm nào lên tiếng, chứng tỏ các bố chỉ ăn ngủ là giỏi, khi có việc cần đến thì lẩn như trạch, mất hút con mẹ hàng lươn.

Nếu thực sự có cấm, thì ai ra lệnh cấm, vì sao cấm. Một cuốn sách nói chung, một công trình của nhà nghiên cứu có uy tín nói riêng, để được ra đời thường phải trải qua rất nhiều khâu thẩm định, xét duyệt, cho phép, cấp phép, vậy khi nó đã thành sản phẩm hoàn chình rồi, lại cấm là cớ làm sao. Làm gì cũng phải có pháp luật, chứ muốn cho xuất bản thì xuất bản, muốn cấm thì cấm, thứ đâu có thứ lạ đời, nhố nhăng thế.

Phải làm rõ thứ lệnh miệng ấy xuất phát từ kẻ nào. Tất cả phải được rõ ràng theo pháp luật. Chấm dứt ngay cái thói lệnh miệng ba vạ, tào lao; đến khi cần truy ra lại không biết là ai, cứ đổ qua đổ lại, lờ tít tìn tịt, không biết con ma nào.

Vụ cấm sách của cụ giáo sư Đầu làm tôi nhớ đến vụ Z30 hồi năm 1983. Tự dưng có một thứ chỉ thị, bảo là tối mật, chỉ đạo bí thư các thành phố lớn phải đánh tư sản, tịch thu nhà cửa, tài sản của những gia đình có nhà 2 tầng trở lên (2 tầng ở miền Bắc, tức là 1 trệt 1 lầu ở miền Nam). Sau này rất nhiều bài viết, kể cả sách của ông Đoàn Duy Thành, lời kể của ông Nguyễn Văn An… đều tường thuật vụ này, nhưng đều nói đó là lệnh miệng. Lệnh miệng là thế đéo nào, lời nói gió bay, phải có chỉ thị cụ thể từ ai đó thì các bố mới dám làm chứ. Mà giả dụ lệnh miệng có thực, thì phải của kẻ rất có thế lực, nó nói mà không làm là nó giết, thì mới sợ thế chứ. Các bố biết tỏng tòng tong đó là kẻ nào, lại còn dập dờn như lúa xuân trước gió, nửa kín nửa hở. Sao không nói toẹt ra. Phải chỉ mặt đặt tên những kẻ làm hại đất nước cho dân chúng lên án, cho nó chừa cái thói tùy tiện làm khổ dân chứ không thể nhân nhượng, bao che cho chúng mãi được.

Đề nghị các nhà nghiên cứu, nhà báo tìm hiểu cặn kẽ, phanh phui kẻ cụ thể nào đã ra cái lệnh miệng khốn nạn Z30 cướp đoạt trắng trợn tài sản mồ hôi nước mắt của nhân dân. Ai chưa rõ chuyện này, cứ đến hỏi gia đình ông vua lốp Nguyễn Văn Chẩn, gia đình ông Núi Điện ở Hà Nội, hoặc hỏi nhà văn Trần Huy Quang, cùng rất nhiều người còn sống là rõ ngay.

Tôi không bao giờ tin chuyện có lệnh miệng. Kẻ nắm quyền khi biết mình tà đạo thì mới sợ sự công khai chứ thực ra nó cũng biết không có văn bản chỉ thị cụ thể thì cấp dưới nó không thi hành. Bọn chúng bao che, giấu cho nhau thôi.

Theo tôi, mọi thứ lệnh miệng đều không có giá trị. Người dân cần dứt khoát với mọi thứ lệnh miệng, không có gì phải sợ nó cả.

VỊ VUA THỨ TƯ

VỊ VUA THỨ TƯ

Và ba Vua từ phương Ðông đã mang tới vàng, hương và mộc dược.

Ở xứ Ðan Mạch, những người tín hữu hát như thế vào dịp Giáng Sinh trong các thánh đường.  Và nếu tiếng hát được cất lên trong một ngôi thánh đường cổ kính, đôi khi người ta có thể thấy một bức họa cổ có hình hài nhi Giêsu trong lòng mẹ và ba Vua đang quì trước Ngài.  Vị Vua đầu tiên là Gaspar, ông dâng vàng trong một cái khay.  Quì sau ông là Melchior, ông mặc bộ đồ nghi lễ nghiêm trọng, quì gối và đang xông hương trước trẻ thơ Giêsu.  Sau cùng là ông Balthazar người da đen.  Mặt trời nào đã cho ông làn da đen như thế?  Ông đến từ xứ Ấn Ðộ?  Hay từ xứ Saba?  Ông đã đi qua xa mạc xứ Ả Rập?

Gaspar, Melchior, Balthazar đã bao lần được vẽ trên tranh, từ loại thô sơ cho đến những bức huy hoàng lộng lẫy trong các giáo đường.  Nhưng có một giai thoại xưa kể rằng ba Vua từ xa tới Bethlehem, vào hang đá để dâng của lễ trước Trẻ Thơ và người Mẹ, nhưng Trẻ Thơ không muốn cười.  Còn Mẹ Maria thì sung sướng vì làn hương thơm bay như bà muốn đốt trong Ðền Jerusalem như khi bà còn trẻ, và rưng rưng nước mắt, bà để mộc dược trong lòng.  Nhưng trẻ thơ không giơ tay ra cầm vàng, khói hương làm cặp phổi nhỏ bị ho, trẻ thơ không để ý đến mộc dược mà lại chú ý đến cặp mắt long lanh ngấn lệ của người Mẹ.  Ba Vua đứng dậy cáo từ và có cảm tưởng mình không được tiếp đón đúng mức.  Nhưng khi bóng những con lạc đà của họ biến mất tận chân trời thì vị Vua thứ tư xuất hiện.

Quê hương ông là vùng Ba Tư.  Ông đã mang theo ba viên ngọc quí để dâng cho vị Vua mới sinh ở miền Tây mà ông đã thấy vì sao một buổi tối nọ.  Ông đã chỗi dậy và từ bỏ tất cả: kho rượu quí lâu đời, dòng nước mát bên nhà, người vợ hiền thân yêu.  Ông chỉ mang kho tàng quí nhất là ba hạt ngọc trắng lớn như trứng chim bồ câu, ông cài những hột ngọc này vào thắt lưng và quyết định ra đi tìm nơi vì sao đang chiếu tỏa.

Ông đã tìm ra nơi này.  Nhưng quá trễ.  Ba vị Vua khác đã đến và đã đi.  Ông tới quá trễ.  Tay không.  Ông không còn những viên ngọc quí nữa.  Ông từ từ mở cửa bước vào hang đá.  Trời đã xế chiều, trong nơi trú ẩn của Trẻ Thơ phảng phất mùi hương.  Thánh Giuse xắp xếp cỏ khô cho ban tối, Mẹ Maria bế Trẻ Thơ Giêsu trong lòng.  Mẹ khẽ hát ru con ngủ.  Vị Vua xứ Ba Tư hơi do dự, rồi ông tiến đến và quì xuống trước hai mẹ con và bắt đầu kể:

Thưa Ngài!  Tôi đến sau các vị Vua khác đã tới trước chúc tụng Ngài và dâng của lễ.  Tôi cũng có của lễ để dâng Ngài, đó là ba viên ngọc rất quí từ biển Ba Tư.  Nhưng bây giờ tôi không còn chúng nữa.  Tôi đi sau ba vị Vua vì tôi đã dừng chân trong một quán trọ một chiều kia.  Tôi đã lầm.  Rượu cám dỗ tôi, tiếng chim hót làm tôi nhớ nhà và nhớ người vợ yêu quí.  Và tôi quyết định nghỉ đêm ở quán trọ.  Khi tôi bước vào bên trong, tôi thấy một ông già đang lên cơn sốt nằm gần lò sưởi để tìm hơi nóng.  Không ai biết ông già là ai.  Ông không có một đồng xu nào để nhờ thầy thuốc cứu chữa.  Ngày hôm sau ông sẽ bị đuổi ra ngoài nếu ông không chết đêm nay.  Thưa Ngài, đó là một người rất già, râu tóc đã bạc trắng; ông ta làm tôi nhớ đến cha tôi.  Xin Ngài tha lỗi, vì tôi đã lấy ra một viên ngọc và đưa cho chủ quán, tôi dặn là hãy kêu thầy thuốc để săn sóc cho ông già này và nếu ông ta chết thì dùng viên ngọc để lo chôn cất chu đáo cho ông.

Ngày hôm sau, tôi tiếp tục lên đường.  Tôi thúc đẩy con lừa chở tôi đi hết cỡ nhanh để đuổi kịp ba vị Vua đi trước, vì những con lạc đà của họ chỉ đi chậm rãi và tôi có hy vọng đuổi kịp theo họ.  Con đường đi quanh co trong một thung lũng vắng.  Bỗng nhiên tôi nghe những tiếng kêu từ một bụi cây.  Tôi nhẩy xuống lừa và chạy tới thì thấy một đám lính đang vây quanh một người đàn bà trẻ với ý định xấu xa.  Họ rất đông nên tôi không thể nào chống lại họ.  Xin Ngài tha thứ cho tôi lần nữa, bởi vì tôi lại phải lấy ra một viên ngọc nữa để cho đám lính để họ tha cho người thiếu nữ.  Cô ta cám ơn tôi và biến mất ngay trong khu rừng.

Tôi tiếp tục lên đường, trong thắt lưng chỉ còn một viên ngọc, nhưng ít nhất tôi cũng mang đến cho Ngài.  Trời đã sau trưa và tôi sẽ tới Bethlehem chiều nay để chúc mừng Ngài.  Nhưng khi đi đến một ngôi làng nhỏ, tôi thấy lửa cháy khắp làng.  Bọn lính theo lệnh vua Herod đang tìm giết tất cả những bé trai chưa đầy hai tuổi.  Gần một căn nhà đang cháy, một người lính đang cầm chân một đứa bé giơ lên.  Ðứa bé giẫy khóc kinh hãi.  Người lính nói với bà mẹ đứa bé: Bây giờ tao thả đứa bé vào ngọn lửa cho nó thành như con heo quay.  Bà mẹ la hét kinh hãi.  Xin Ngài tha lỗi, bởi vì tôi lấy viên ngọc cuối cùng để cho thằng lính để nó trả đứa bé lại cho người mẹ.  Bà mẹ giật lấy đứa bé và chạy trốn ngay.  Ðó là những lý do tại sao tôi tới chúc mừng Ngài với hai bàn tay trắng.  Xin ngài thông cảm cho tôi.”

Hang đá chìm trong thinh lặng sau khi vị Vua kể hết chuyện của ông.  Thánh Giuse đã dọn cỏ xong và đang trầm ngâm suy nghĩ.  Mẹ Maria ngắm nhìn Trẻ Thơ.  Chúa Hài Ðồng đang ngủ chăng?  Không, Ngài nhìn vị Vua Ba Tưvới khuôn mặt rạng rỡ và mỉm cười.

***********************

Lạy Chúa Hài Đồng, quà tặng mà Chúa yêu thích nhất chính là lòng quảng đại của chúng con dành cho tha nhân.  Xin Chúa dạy chúng con luôn mở rộng tâm hồn để cảm thông, mở rộng trái tim để yêu thương, và mở rộng đôi tay để ban phát.  Xin cho chúng con luôn ý thức rằng, nếu con càng quảng đại với anh em thì con càng trở nên giống Chúa nhiều hơn và làm cho khuôn mặt Chúa rạng rỡ tươi vui hơn. Amen!

Sưu tầm

Langthangchieutim gởi

‘Petrus Ký – Nỗi oan thế kỷ’ hay lịch sử bị chối bỏ?

Cát Linh, RFA
RFA
2017-01-06

Hình ông Petrus Ký trên bìa sách 'Petrus Ký – Nỗi oan thế kỷ', tác giả Nguyễn Đình Đầu.

Hình ông Petrus Ký trên bìa sách ‘Petrus Ký – Nỗi oan thế kỷ’, tác giả Nguyễn Đình Đầu.

Photo courtesy by vanviet.info

Giới học thuật, trí thức Việt Nam trong những ngày qua xôn xao về chuyện việc ra mắt cuốn sách nghiên cứu về nhân vật Trương Vĩnh Ký bị “lệnh miệng” đình lại.

Bị cấm ra mắt

Quyển sách ‘Petrus Ký – Nỗi oan thế kỷ’ ra đời như một công trình nghiên cứu có bề dày hơn 50 năm của tác giả, học giả Nguyễn Đình Đầu. Ông cho biết sách đã được Cục Xuất Bản chấp thuận và cấp phép lưu chiểu trong mấy tháng qua.

Thế nhưng, theo tin từ trang vanviet.info và sau đó được cộng đồng mạng chia sẽ rất nhiều, ngày 4/1/2017, một “lệnh miệng” được ban xuống yêu cầu hủy bỏ buổi ra mắt sách.

Chính học giả Nguyễn Đình Đầu cũng hoàn toàn không được biết trước

“Tôi mới được tin ngày hôm qua. Công ty Nhã Nam và NXB Tri Thức cũng không có văn bản, chỉ có chỉ thị bằng lời nói. Chính tôi cũng không biết là vì sao?”

Theo tôi được biết thì tác giả, cụ Nguyễn Đình Đầu, không đồng sửa chữa bất cứ nội dung nào đã viết trong sách. Cụ là một nhà nghiên cứu chuyên nghiệp, cẩn trọng và có bản lĩnh.
– Giáo sư Chu Hảo

Khi được hỏi về khả năng những ấn bản đang được phát hành mấy tháng qua có bị thu hồi hết và buộc phải sửa chữa nội dung gốc theo yêu cầu của Cục Xuất Bản hay không, Giáo sư Chu Hảo, giám đốc NXB Tri Thức cho biết:

“Theo tôi được biết thì tác giả, cụ Nguyễn Đình Đầu, không đồng ý sửa chữa bất cứ nội dung nào đã viết trong sách. Cụ là một nhà nghiên cứu chuyên nghiệp, cẩn trọng và có bản lĩnh. Xung quanh câu chuyện đánh giá một cách khoa học, khách quan về cuộc đời và sự nghiệp của Trương Vĩnh Ký vấn còn có ý kiến khác nhau. Thậm chí, mặc dầu nhà nước đã chính thức thừa nhận công lao của Trương Vĩnh Ký bằng việc lấy tên của ông đặt cho các đường phố và trừơng học, mà vẫn có người chửi bới ông ấy như là một ” học giả Việt gian” cơ mà. Vì vậy tiếp tục trao đổi, tranh luận công khai những quan điểm của tác giả cuốn sách là cần thiết. Và giá cứ để cuộc giới thiệu sách diễn ra như đã định và tiếp tục phát hành bình thường thì có hay hơn chăng?”

Nhiều ý kiến cho rằng phải chăng do tên gọi của quyển sách là “Petrus Ký – Nỗi oan thế kỷ” mà tác phẩm này đã không được ra mắt như đã định?

Tác giả quyển sách cho biết công trình của ông khảo cứu tất cả những người nói về Trương Vĩnh Ký, phê bình Trương Vĩnh Ký khi còn sống và sau khi qua đời.

“Trong tất cả giai đoạn thăng trầm lịch sử của Việt Nam, có những người khen Trương Vĩnh Ký, có người chê Trương Vĩnh Ký nhưng đều không dựa vào tài liệu chính thức. Vì thế tôi thấy muốn hoà hợp dân tộc, đại đoàn kết dân tộc, thì tôi nghĩ đối với nhân vật lịch sử đặc biệt như Trương Vĩnh Ký, thì nên làm một hồ sơ về Trương Vĩnh Ký.”

Như thế, nếu chỉ là “Hồ sơ Trương Vĩnh Ký” thì sao? Giáo sư Chu Hảo cho biết:

“Đúng, có lẽ cái tựa sách ấy đã làm cho một số người kiên trì bài bác đến mức thóa mạ Trương Vĩnh ký phật ý và phản ứng mạnh mẽ. Phản ứng ấy khi được công bố công khai rộng rãi cũng mang lại it nhiều bổ ích cho nền học thuật nước nhà.”

Tiến sĩ sử học Nguyễn Nhã thì nhận định rằng “nếu nói về nỗi oan, thì có thể dưới một góc độ về chính trị, thì cho ông Trương Vĩnh Ký là người thân Pháp hay gì đó thì không đúng vì một người học thuật như ông thì ở bất cứ ở đâu và thời gian nào họ cũng thể hiện tính cách và công trình của họ có giá trị muôn đời.

Một công trình hơn 50 năm

truognpetrusky-1972.jpg
Trường Trung học Petrus Ký ở Saigon chụp năm 1972. Sau 1975 bị đổi tên thành trường Lê Hồng Phong. Photo by Caroline Thanh Huong

Ngay từ bài mở đầu của cuốn sách, Giáo sư Phan Huy Lê đã gọi đây là “một công trình như một hồ sơ Trương Vĩnh Ký mang tên “Petrus Ký – Nỗi oan thế kỷ.”

“Tôi coi đây là một công trình tổng hợp có giá trị về Trương Vĩnh Ký, cung cấp một hệ thống tư liệu khá đầy đủ và khách quan với nhiều góc nhìn khác nhau, cho tất cả các nhà khoa học trên mọi lĩnh vực muốn nghiên cứu sâu về nhà bác học Trương Vĩnh Ký.”

Tiến sĩ sử học Nguyễn Nhã, người đã nhận được thư mời đến buổi ra mắt sách (nhưng đã không xảy ra) dùng hai từ “đặc biệt” để nói về Trương Vĩnh Ký, một người ông rất kính trọng.

“Theo tôi, một nhân vật như Trương Vĩnh Ký là một nhân vật rất đặc biệt, mà tôi vẫn cho là tiêu biểu cho thân phận của người Việt Nam. Ông sống ở thời kỳ Pháp thuộc, nơi đó lại là Nam kỳ, thuộc Pháp. Mà khi mình sống thời kỳ Pháp thuộc, mình sống như thế nào trong giới học thuật đó, mà để mãi với thời gian thì đó là một vấn đề rất quan trọng. Ông Trương Vĩnh Ký đã làm được điều đó. Những công trình nghiên cứu và con người, nhân cách của ông là muôn đời.”

Để gọi là một công trình như cách nói của Giáo sư  Phan Huy Lê và Tiến sĩ sử học Nguyễn Nhã, nhà nghiên cứu, học giả Nguyễn Đình Đầu đã bỏ ra hơn 50 năm để sưu tầm những tài liệu có giá trị thực tiễn, bắt đầu từ năm 1960, khi ông là hội viên hội nghiên cứu Đông Dương.

Petrus Ký cũng trải qua nhiều sóng gió của khen – chê, tôn vinh – phê phán, nhưng cuối cùng xu thế khách quan, trung thực vẫn chi phối.
– Giáo sư Phan Huy Lê

“Lúc đầu tôi chỉ chú ý đến tờ báo Gia Định báo thời Trương Vĩnh Ký làm chủ bút. Tôi đọc những bài Trương Vĩnh Ký viết về chương trình học của trường Thông Ngôn. Tôi thấy rất đặc biệt vì trường Thông Ngôn vừa dạy cho người Pháp vừa dạy cho người Việt (bằng chữ Hán). Sau đó tôi tình cờ thấy trong thư viện có 1 hồ sơ để ở chỗ khá đặc biệt, của Đại tá Hải quân Pháp coi cái đạo quân chiếm đóng Sài Gòn 1960. Trong hồ sơ đó, tôi thấy có hai cái thư của vị đại tá gửi cho thống đốc nói về Trương Vĩnh Ký. Ông thống đốc muốn kiếm 1 người thông ngôn, nói rõ người đó là Petrus Ký.”

Từ đó, ông đã tìm những sách mà Trương Vĩnh Ký viết về Gia Định ngày xưa, về Nam Bộ hoặc những bài mà Trương Vĩnh Ký sưu tầm lại về Gia Định cổ, Gia Định thất thủ, Gia Định mới, lịch sử Nam Bộ, địa lý Nam Bộ bằng tiếng Pháp…và xem như đây là “một khám giá mới về sự hợp tác của Trương Vĩnh Ký với Pháp, sự nghiệp văn hoá của ông dựa trên tinh thần dân tộc chứ không phải theo thực dân.”

“Đến 1991, tôi có dịp đi Pháp tôi nghiên cứu về Trương Vĩnh Ký, những tài liệu mà ở Pháp có mà nơi khác không có.”

Tại đây ông cho biết đã tìm được những tài liệu về thân thế của Trương Vĩnh Ký và cả những thơ văn của Trương Vĩnh Ký viết bằng tay nói về tình hình  Sài Gòn những năm 1860. Ông cất công tìm gặp cả người thầy của Trương Vĩnh Ký từ năm 1849, 1850 là ông Cố Long, vừa là một linh mục, vừa là nhà bác học.

Từ chối lịch sử

054_ne020434-400.jpg
Một chiếc xe kéo chở khách trên một con đường ở Hải Phòng thời Pháp, khoảng năm 1900. AFP photo

Nhà ngôn ngữ học Cao Xuân Hạo khi còn tại thế từng thốt lên rằng “Cho đến bây giờ chưa ai vượt được Trương Vĩnh Ký về pháp ngữ tiếng Việt viết bằng tiếng Pháp.”

Theo học giả Nguyễn Đình Đầu, các tài liệu của Trương Vĩnh Ký bằng tiếng Việt hoặc tiếng Pháp đều căn cứ trên di sản văn hoá chính thức của Việt Nam.

“Trương Vĩnh Ký luôn chủ trương người Việt phải dùng chữ Việt. Người Việt Nam phải dùng tiếng Việt để nói tiếng Việt; và muốn được sâu sát nữa về phương diện triết học, sử học và di sản văn hoá dân tộc thì phải biết chữ Hán nữa.”

“Tuy hợp tác với Pháp nhưng vẫn là giữ tinh thần quốc gia, tức tinh thần yêu nước, lúc đó là trung thân với ái quốc. Vì thấm nhuần tinh thần Thiên chúa giáo và tây phương nên thấm nhuần tinh thần dân chủ, nhưng vẫn giữ được các cốt cách của Việt Nam.”

Những phẩm chất, tinh thần văn hóa dân tộc của Trương Vĩnh Ký được học giả Nguyễn Đình Đầu và sự cộng tác của nhiều dịch giả khác đặt trọn trong Công trình “Petrus Ký – Nỗi oan thế kỷ”, như lời giới thiệu của giáo sư Phan Huy Lê:

Theo tôi, một nhân vật như Trương Vĩnh Ký là một nhân vật rất đặc biệt, mà tôi vẫn cho là tiêu biểu cho thân phận của người Việt Nam.
– Tiến sĩ Nguyễn Nhã

“Trong lịch sử Việt Nam, việc bình luận, đánh giá không ít nhân vật lịch sử thường bị chi phối bởi bối cảnh lịch sử như vậy. Nhưng xu hướng chung vẫn là sự thắng thế của kết quả nghiên cứu khoa học nghiêm túc, khách quan và thái độ công minh trước lịch sử. Petrus Ký cũng trải qua nhiều sóng gió của khen – chê, tôn vinh – phê phán, nhưng cuối cùng xu thế khách quan, trung thực vẫn chi phối.”

Thế nhưng, xu thế khách quan, trung thực về một nhân vật của lịch sử đã không được phép giới thiệu đến hậu thế, như luật sư Lê Luân đã viết trên trang nhà của mình:

“Nhưng nhân vật ấy cho đến lúc này, khi vừa mới có cơ hội được trở lại với lịch sử thì cũng ngay lập tức đã bị ngăn trở lại một cách dứt khoát và quyết liệt đến ngỡ ngàng trước những sự phẫn nộ của nhiều người dân mà đã biết sự thật về Ông.”

Có một ngôi trường từng được mang tên Petrus Ký.

Nhưng sau 1975 bị đổi tên. Cũng sau năm đó, bức tượng của ông được dựng gần Bưu điện Sài Gòn từ năm 1927 bị bứng đi mất.

Tin chấn động: Wikileaks tiết lộ có tới 65% lãnh đạo VN chuẩn bị đủ điều kiện bỏ chạy ra nước ngoài

Tin chấn động: Wikileaks tiết lộ có tới 65% lãnh đạo VN chuẩn bị đủ điều kiện bỏ chạy ra nước ngoài

Một Báo cáo mật của Wikileak vừa rò rỉ đã cho biết, hiện nay đã có khoảng 65% lãnh đạo Nhà nước Việt Nam cũng như những người làm giàu bất chính đã chuẩn bị mọi điều kiện để có thể bỏ trốn ra nước ngoài để định cư bất cứ lúc nào.

Điều này trùng hợp với một báo cáo tuyệt mật của Viện Nghiên cứu Dư luận xã hội – Ban Tuyên giáo Trung ương cho biết, kết quả điều tra nội bộ đã cho thấy, có tới 65% quan chức lãnh đạo cấp tỉnh và tương đương ở Việt Nam đã chuẩn bị mọi điều kiện để chạy trốn bất cứ lúc nào.

httpv://www.youtube.com/watch?v=a2uOcdbv_00