NGĂN KIỆN Ở TOÀ ÁN QUỐC GIA, TA KIỆN RA TOÀ ÁN QUỐC TẾ

From facebook: Phạm Lê Vương Các
NGĂN KIỆN Ở TOÀ ÁN QUỐC GIA, TA KIỆN RA TOÀ ÁN QUỐC TẾ

Sự kiện hàng ngàn hộ dân ở vùng biển Quỳnh Lưu (Nghệ An) thực hiện quyền khởi kiện Formosa ra tòa trong một hành trình đẫm máu và nước mắt, buộc những người có lương tri phải tự hỏi rằng: “pháp luật ở đâu, công lý ở đâu?”

Việc ngăn cản và đàn áp người đi khởi kiện của nhà cầm quyền Nghệ An vào ngày hôm qua có phải đã gửi đi thông điệp khuyến khích người dân tự tìm kiếm công lý bằng các hành động “tự xử” ngoài vòng pháp luật?

Tiếp cận dưới góc độ này, thật tình tôi lo cho số phận của nhà cầm quyền hơn là lo cho người dân khởi kiện.

Nhu cầu thể hiện quyền lực và bảo vệ quyền lực có vẻ đã làm cho nhà cầm quyền mất tỉnh táo trong cách nhìn nhận sự việc và giải quyết vấn đề.

Nhưng tiếp cận ở góc độ khác, đối với người dân khởi kiện, công lý môi trường vẫn chưa bế tắc trong vụ việc này, mà vẫn còn con đường pháp lý khác.

Ngăn chặn khởi kiện ở tòa án quốc gia, ta kiện ra tòa án quốc tế.

Khởi kiện Formosa ra Toà Hình Sự Quốc Tế trước đây đã được nhiều luật sư thảo luận, nhưng có vẻ các ý kiến đều cho rằng việc này là rất khó và gần như là bất khả thi, vì trở ngại chính quyền Việt Nam vẫn chưa công nhận thẩm quyền xét xử của Toà án Hình sự Quốc tế, dẫn đến việc Toà án quốc tế sẽ nhanh chóng từ chối thụ lý đơn kiện.

Vấn đề khởi kiện Formosa ra Tòa án Hình sự Quốc tế, giờ đây không phải nằm ở điểm thụ lý hay không. Cũng giống như người dân Nghệ An đi khởi kiện, họ đã nhìn thấy trước việc sẽ bị chặn đường, bị đánh đập, và tòa án Việt Nam cũng sẽ bác đơn kiện của họ, nhưng đã không làm họ dừng bước đến toà án. Vậy điều gì đã thôi thúc họ đi kiện?

Câu trả lời cũng là thông điệp họ gửi tới tất cả người dân Việt Nam: Họ đã không im lặng và bất động trước tội ác môi trường của Formosa.

“Hãy giúp chúng tôi kiện Formosa”- là lời thỉnh cầu của những con người văn minh, đang tìm kiếm công lý bằng con đường luật pháp. Một nhu cầu đòi hỏi công lý như vậy xứng đáng nhận được đồng hành của tất cả chúng ta, đặc biệt là giới luật sư.

Giới luật sư Việt Nam hãy tiếp tục hướng dẫn, hỗ trợ các nạn nhân Formosa khởi kiện ra Tòa án quốc tế. Toà án Hình sự Quốc tế có thụ lý vụ việc hay không là không quan trọng nhưng chúng ta vẫn cứ kiện.

Khởi kiện Formosa ra Toà án Hình sự Quốc tế giờ đây như là một mệnh lệnh không thể không thực hiện vì đây là bộ mặt của quốc gia Việt Nam, thể hiện bộ mặt của cả một thế hệ người Việt Nam, và thể hiện bộ mặt của giới Luật sư Việt Nam. Hơn hết, nó thể hiện tinh thần yêu chuộng công lý dựa trên nền tảng pháp luật của người dân Việt Nam.

Qua việc xây dựng hồ sơ khởi kiện này, chúng ta sẽ cho thế giới thấy rõ tội ác môi trường của Formosa và những kẻ đang bao che cho tội ác này. Cho dù Toà án quốc tế không có thẩm quyền xử lý, nhưng cộng đồng quốc tế yêu chuộng công lý sẽ đồng hành cùng chúng ta có biện pháp xử lý khác.

Bỡi lẽ, chúng ta vẫn chưa thể hiện hết quyền lực của mình. Quyền lực của chúng ta-những người không có vũ khí: “hãy nói không với sản phẩm của Formosa trên toàn cầu”!

Image may contain: 3 people, people smiling, outdoor

Tôi và bạn, chúng ta là những kẻ đần độn ở một đất nước thất bại!

Tôi và bạn, chúng ta là những kẻ đần độn ở một đất nước thất bại!

Lê Hoàng

NHAU

 

 

 

 

 

 

 

 

Bài viết dành cho tôi và những thanh niên kém cỏi và đang lạc lối khác.

  1. Bức hình này đã được lan truyền trên mạng, nó bình thường đến nỗi người ta nhìn vào nó rồi sẽ hỏi:”Rồi sao nữa ? Bức hình này có vấn đề gì à ? Mấy đứa này bạn mày hả ? Chúng nó bị ung thư gan chết hết rồi à ?”
  1. Người ta nói, ở Việt Nam, đâu đâu cũng thấy đầy rẫy những chỗ nhậu nhẹt. Người ta vui cũng nhậu, buồn cũng nhậu, đám cưới cũng nhậu, đám ma cũng nhậu, thậm chí không biết làm gì cũng phải nhậu. Bởi thế cho nên chẳng mấy ngạc nhiên khi lượng rượu bia ở Việt Nam lại nằm trong tốp những nước tiêu thụ nhiều nhất trên thế giới. Tôi đã nghe ai đó đã nói, rượu bia, thuốc lá và ma túy là những thứ mà ngày xưa những nước thực dân khi đi xâm chiếm các thuộc địa đã sử dụng những thứ này để làm suy yếu nội lực, tinh thần phản kháng của dân tộc đó. Việt Nam mình có lẽ cũng đang may mắn và tình cờ bị như thế ? Ai đang cố làm suy yếu dân tộc ta ?
  1. Người ta nói, có một câu châm ngôn ở Việt Nam mà ai cũng thuộc và làm theo “Vì cuộc sống là không chờ đợi”. Đúng, chúng tôi không quen chờ đèn đỏ chuyển qua xanh để được đi. Chúng tôi không đủ kiên nhẫn xếp vào hàng để chờ đến lượt mua đồ ăn hay tấm vé xem một chương trình nào đó. Khi chúng tôi xảy ra va vẹt xe trên đường, chúng tôi không đợi người có thẩm quyền đến giải quyết, mà chúng tôi sẽ rút dao, mã tấu xông vào đối phương quyết một phen sống mái, để mọi ân oán được giải quyết bằng máu và nước mắt cho thỏa chí nam nhi, đầu đội trời chân đạp đất ung dung tự tại chả khác gì các vị hảo hán anh hùng Lương Sơn bạc.
  1. Người ta nói ở Việt Nam người ta đi làm gái nhiều lắm. Ừ thì không làm gái thì biết làm gì bây giờ. Rừng đã mất, biển đã chết, sông đã cạn thì lấy gì làm để mà nuôi thân.
  1. Người ta nói ở Việt Nam để được nổi tiếng dễ lắm. Chỉ cần bạn có mông to và ngực bự thì bạn đã có được 50% cơ hội được nổi tiếng rồi. 50% còn lại thì phụ thuộc vào độ chai của da mặt bạn, và sản phẩm make up mà bạn đang tin dùng để che đi lớp da mặt bị chai đó.
  1. Người ta nói ở Việt Nam làm quan dễ lắm. Bạn chỉ cần có bố hoặc mẹ đang là quan, hoặc cô dì chú bác, hoặc thậm chí là ông hàng xóm là tình cũ của mẹ bạn cũng có thể giúp bạn trên con đường quan lộ. Xin vào làm quan mới khó, chứ đã là quan rồi thì dễ í mà. Chức cao thì ăn cái to, chức nhỏ thì ăn nhỏ, quan trọng là có “vẽ” thì mới có ăn, và ăn chia sòng phẳng lúc nào cũng phải là điều kiện tiên quyết. Thành công thì chia cho trên, sẻ ở dưới. Thất bại thì rút kinh nghiệm, kiểm điểm, cảnh cáo thôi cũng đã đủ nghiêm khắc rồi.
  1. Người ta nói, sống ở Việt Nam vui lắm. Ừ thì suốt ngày trên tivi ra rả đủ chương trình thi hài, game show hài này nọ thì bảo sao không vui. Ở một đất nước, mà những diễn viên hài với những câu nói “hài là phải nhảm, phải xàm, càng nhảm càng xàm thì càng vui, thì mới là hài”. Tôi chưa thấy ở một đất nước nào, mà diễn viên hài lại được tôn vinh, được là thần tượng, là lấy làm mẫu chân lý sống cho giới trẻ như ở Việt Nam. Họ, những diễn viên hài đâu biết rằng hài là môn nghệ thuật lên án và châm biếm những mặt xấu xa của xã hội, và qua đó đằng sau những tiếng cười là để lại sự trăn trở về xã hội trong lòng người xem. Thay vì chúng ta tổ chức các chương trình kích thích sự tự học, rèn luyện sức khoẻ, ý chí vươn lên trong cuộc sống hay giúp các bạn trẻ khởi nghiệp thì chúng ta lại tổ chức các chương trình thi tuyển trở thành diễn viên hài. Dường như cái hài nhảm, hài xàm nó đang giúp người dân Việt quên đi cái nghèo, cái đói cái tủi nhục khi sống dưới cái xã hội này ? Cái đất nước này vốn đã là một sân khấu hài lớn, và dường như cả xã hội ai cũng muốn được là một diễn hài trong cái sân khấu lớn đó ?
  1. Người ta nói làm giới trẻ ở Việt Nam sướng lắm. Chỉ có “ăn, ngủ, phịch, ị”. Trong khi, giới trẻ các nước khác như Hong Kong, Hàn Quốc…ừ thì mà là…trong khi giới trẻ chúng ta…là mà thì ừ.
  1. Người ta nói…ừ thì cứ kệ người ta nói đi mà. Biết thì biết thế thôi chứ mình có thay đổi được gì đâu. Kệ đi!
  1. Việt Nam chúng ta luôn tự hào là Con Rồng, Cháu Tiên thông minh xuất chúng, minh chứng hùng hồn nhất là chúng ta chiến thắng được mọi kẻ thù xâm lược. Ừ thì giỏi đó, nhưng hậu thế lại biết đến những trận đánh là những cuộc nướng quân “quân địch chết ba, quân ta chết hết” hoặc qua những kế hoạch mang đậm dấu ấn cá nhân của anh Tám, chị Chín, thím Sáu nào đó: “chúng ta đã làm tiêu hao sinh lực địch đáng kể”, nhưng thật ra là những trận khủng bố kinh hoàng chẳng khác gì IS với “quân địch chết ba dân ta chết tá”. Ngoài những chiến tích đó ra, dường như chúng ta không có một thành công nào để minh chứng chúng ta là một dân tộc thông minh, không một công trình khoa học hay phát minh sáng chế nào đóng góp cho nhân loại.

Nếu tổ tiên ta thông minh, thì ngày xưa ba Quân mẹ Cơ đã ngồi xuống cùng giải quyết vấn đề, hoà hợp hoà giải chứ không phải phải đi đến quyết định ly thân, gia đình chia cắt kẻ dắt 50 con lên rừng, người dẫn 50 con xuống biển. Nếu vua Hùng thông minh, thì khi nghe câu nói của Mai An Tiêm thay vì sẽ ngồi suy nghĩ đúng sai về câu nói đó chứ không cố chấp đày chàng trai trẻ ra biển. Nếu An Dương Vương thông minh, thì đã không nhận đứa con của kẻ thù về làm rể, chứ không để con gái rượu cuối cùng phải thốt lên “Trái tim lầm lỡ để trên đầu/ Nỏ thần vô ý trao tay giặc”. Tuy đã là quá khứ, dân tộc nào cũng có sai lầm, nhưng chúng ta cần phải nhìn nhận, đối diện sự thật rằng dân tộc Việt Nam chúng ta không thông minh, và khi đã nhận thức được điều đó chúng ta cần phải mở mang đầu óc, tăng cường học hỏi những điều mới mẻ từ bên ngoài. Nhưng tiếc là thay vì chịu nhận ra điểm yếu và chịu khó học hỏi thì chúng ta lại cố chấp giữ gìn cái cũ với những sân si, hoang tưởng. Điều này thực sự là một bất hạnh cho dân tộc Việt. Tôi và bạn, chúng ta là những kẻ đần độn ở một đất nước thất bại !

Kỳ Anh

Giáo sư Nguyễn Phi Phượng gởi

TÌNH YÊU LÀ GÌ?

TÌNH YÊU LÀ GÌ?

Chúng ta thường nghe nói là người ta có thể nghĩ ngợi những việc trên trời nhưng lại kém cỏi những việc dưới đất.  Đó là điều mà chúng ta không thể qui trách Thiên Chúa được.  Thiên Chúa chúng ta là một Thiên Chúa quan tâm đến trần thế. “Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một…” (Ga 3, 16).  Đó là Chúa Giêsu và “Ngài đã trở nên xác thịt và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1, 14).

Tình yêu bằng xương bằng thịt

Chúa kêu gọi chúng ta sống một tình yêu có tính cách trần thế, hữu hình, bằng xương bằng thịt và mang đặc tính thiết thực.  Tình yêu đó không bị gò bó trong khuôn khổ luật lệ.  Bạn có thể tuân giữ mọi luật lệ mà bạn bắt buộc phải giữ, nhưng rồi bạn cũng sa ngã trong những tội trọng.

Ân ái trong hôn nhân là một thí dụ.  Ân ái trong hôn nhân được luật lệ cho phép.  Trong thực tế, chính đó là thời gian duy nhất được phép, miễn là người ta không tìm kiếm sự khoái lạc “thái quá”!  Tôi thiết tưởng đó là từ ngữ được sử dụng trong những sách thần học luân lý cổ xưa.  May mắn thay, quan điểm đó đã được duyệt xét lại.

Trong hôn nhân, ân ái có thể bị cưỡng chế.  Như vậy, tuân giữ luật lệ cũng chưa đủ.  Tình yêu, chứ không phải luật lệ, mới là trắc nghiệm của hôn nhân.  Nói theo ngôn từ của Chúa Giêsu: cứ dấu nầy mà thế gian biết được anh là chồng của em, do bởi tình yêu của em đối với anh; hay ngược lại.

Điều có ý nghĩa nhất mà chúng ta có thể thực thi trong cuộc sống hằng ngày, theo như Chúa Giêsu, là “thực thi tình yêu.”  Nhờ có thực hành mới nên trọn hảo.  Tuy nhiên, chúng ta phải rất thận trọng trong việc “thực hành như thế nào.

Đa số trong chúng ta sống với những người mà chúng ta không bao giờ nói với họ là chúng ta yêu thương họ.  Chúng ta không bao giờ nắm tay họ.  Chúng ta không bao giờ làm cho họ cảm thấy thoải mái với chính họ.  Chúng ta không bao giờ khen họ một tiếng.  Mark Twain đã nói: “Tôi có thể viết một lời khen tặng trong hai tuần lễ.

Những bức thư tình

Có lần tôi nói chuyện ở sân trường học với một chị có chồng.  Chị là mẹ của hai em học sinh nhỏ tuổi.  Trước đó chị rời xa thành phố để thăm viếng mẹ già.  Chị nói về chồng của chị như sau: “Khi con mở va-li ra, con thấy một bức thư tình ngắn mà anh đã nhét vào trong đó để cho con đọc mà thôi.  Bức thư tình đó làm con sung sướng nhất trong ngày.”

Rồi bằng một cái chớp mắt, chị nói thêm: “Trước khi rời nhà, con cũng để lại cho anh một bức thư tình ngắn, dưới cái gối được quấn lại trong bộ đồ ngủ của anh, cùng với một gói sôcô-la mà anh ưa thích.

Tôi thiết nghĩ anh chị đó đã thắng cuộc.  Họ đang thực thi tình yêu và đã thành công.  Đó là một tình yêu đang mang dấu ấn của một tương giao vợ chồng thắm thiết.

Hẳn bạn đã kết hôn?  Lần cuối cùng bạn viết thư tình cho chồng hay vợ đã xảy ra bao lâu rồi?  Có phải đó là lần trước khi bạn sắp làm đám cưới?  Một tình yêu không mang sắc thái cá nhân và có tính cách thiết thực thì không phải là một tình yêu đậm đà cho lắm.

Nhiều đôi vợ chồng ngày nay gọi nhau bằng “Ba” hay “Mẹ’ hoặc “Ông” hay “”.  Họ không gọi nhau bằng chính tên riêng của người đó.  Thật là kỳ dị và chói tai biết bao, bởi vì chúng ta thích nghe người khác gọi đích danh chúng ta.  Tôi chắc chắn không âm thanh nào đầy xúc động và có tác dụng tâm lý mạnh mẽ cho bằng khi gọi người phối ngẫu bằng chính tên thật của họ.

Chúng ta có thể gọi người phối ngẫu bằng “cưng” hay “mìmh”, nhưng không có một chút căn bản nào để gọi bằng “Ba” hay “Mẹ”, “Ông” hoặc “Bà”.  Nếu quí bạn có thói quen gọi như thế, tôi đề nghị bạn làm như sau:

Trước khi bạn ngủ, bạn hãy quay sang người phối ngẫu nằm bên cạnh và thay vì nói “Ba”, “Mẹ”, “Ông” hay “Bà”… “ngủ ngon!” thì hãy vỗ vào lưng người đó và nói: “Humphrey, ngủ ngon!” hay “Cathy, ngủ ngon!”  Bạn chỉ làm như thế khi bạn thực sự ngủ với một người tên là “Humphrey” hay “Cathy”.

Hy vọng bạn hiểu ý tôi muốn nói.  Điều nầy xem ra không phải linh thiêng cho lắm nhưng nếu bạn càng suy tư, bạn sẽ thấy thật linh thiêng trong đó.  Thiên Chúa là tình yêu và ở đâu có tình yêu thì Thiên Chúa hiện diện nơi đó.

 Một chút chú ý

Điều trên đây cũng áp dụng cho trẻ con nữa.  Bạn thường nghe người ta nói: “Hết mọi trẻ con đều muốn được chú ý.”  Vậy thì một chút chú ý có gì sai lầm trong đó?  Chú ý là khởi điểm đưa vào tình yêu.  Tình yêu là chú ý đến những nhu cầu và ước muốn của trẻ con.

Các trẻ con cũng phải chú ý đến cha mẹ.  Cha mẹ bạn là song thân duy nhất mà bạn có trên đời.  Bao lâu bạn lưu tâm tới điều đó thì bạn sẽ thấy cha mẹ bạn là những người tốt nhất trên trần thế.  Vậy bạn nên nói với họ: họ là những người tuyệt vời nhất.  Ít ra bạn hãy nói với họ mỗi ngày một lần như thế.  Điều đó không làm mất mát gì cho bạn nhưng khiến cha mẹ bạn vui sướng khôn tả.

Hãy quan tâm đến những nhu cầu của những người làm chung sở với bạn.  Chẳng hạn dịp sinh nhật của một đồng nghiệp!  Bạn hãy gởi cho họ một tấm thiệp.  Cũng không phải chuyện gì to tát lắm đâu.  Điều đó không làm thâm thủng trương mục ngân hàng của bạn.  Nhưng, Chúa biết, điều đó mang lại một sự khác biệt lớn lao.

Gỏi một tấm thiệp trong những trường hợp tương tự có thể không phải là một việc linh thiêng cho lắm, nhưng đó là một cử chỉ đơn giản, thanh lịch mà trong Phúc Âm, Chúa Giêsu đã khuyên bảo và thối thúc.

 Tình yêu là thực tiễn, chứ không phải trừu tượng

Phúc Âm không kêu mời chúng ta đi vào một ý hướng mang nặng tính chất trí thức để vươn tới một ý niệm thiêng liêng.  Phúc Âm mời gọi chúng ta yêu thương trong những cảnh ngộ thường tình xảy ra hằng ngày.  Chúng ta được mời gọi yêu thương những người đối diện chúng ta trong cuộc sống thường nhật.

Không phải ai cũng dễ dàng trong việc bộc lộ tình cảm.  Đối với nam giới xem ra khó khăn hơn nữ giới.  Vậy nếu nam giới bộc lộ tình cảm trở thành một vấn nạn thì nên đánh rơi hình ảnh của một “đại trượng phu” và chấm dứt việc cư xử có tính cách câm nín thờ ơ.

Thoạt đầu, không dễ dàng gì để biểu lộ tình cảm.  Có thể bạn xem ra vụng về lúng túng.  Nhưng cứ tiếp tục, đừng buông xuôi.  Hãy cố thực tập.  Thực tập giúp trở nên hoàn hảo, nhất là khi bạn thực tập đúng cách.

Bất cứ ai cũng có thể nói: “Tôi tin tưởng Chúa.”  Điều đó thật dễ dàng.  Nhưng sống với tình yêu đó mới khó!  Trên bình diện nhân sinh, chúng ta yêu nhau một cách hiện thực, hữu hình và có thể đụng chạm được thì chắc chắn chúng ta đang ở một cao tầng, tốt đẹp nhất và cao quí nhất, đồng thời “cùng hòa nhịp với cuộc sống” nữa.

 LM Vincent Travers, OP

 Hương Vĩnh chuyển ngữ

Anh chị Thụ & Mai gởi

Họ nhận được lệnh đánh cho dã man làm sao cho hết đi được,

From facebook: Đài Á Châu Tự Do

“Họ nhận được lệnh đánh cho dã man làm sao cho hết đi được, đặc biệt là đánh vào chân và đầu gối. Hai người hai bên hai cái dùi cui, cứ thế họ đánh đập. Em chỉ biết co chân lên che ngực, lấy tay ôm đầu và chịu đòn như thế. Khoảng 10 phút họ mới dừng tay.

Họ đi một lúc rồi quay lại lấy điện thoại của em và đánh 1 trận nữa. họ cứ đè đầu mà đánh, em chỉ biết dùng tay che đầu. Họ đánh dã man lắm. Khoảng 30 phút sau họ chuyển em sang 1 cái xe thùng khác và đánh đập tiếp.

Họ đánh thì em ôm đầu, họ bảo che chỗ nào thì đánh chỗ đấy. Về sau họ thả tất cả anh em ra, còn em thì họ giữ lại. Sau họ cho vào đồn công an của trạm cảnh sát giao thông. Ở đó em tiếp tục bị đánh đập tiếp. Gần tối thì công an huyện Đông Thành xuống và đánh tiếp.”

Xem tiếp: http://www.rfa.org/…/protesters-repression-never-makes-us-s…

HỌ ĐẤU TRANH CHO CÁI GÌ?

From facebook: Hằng Lê
HỌ ĐẤU TRANH CHO CÁI GÌ?

Họ kiện Trump vì muốn bảo vệ người nước ngoài, nhưng lại im lặng khi người nước ngoài giết chết người Mỹ.

Họ chửi bới khi Trump nhậm chức, nhưng lại im lặng khi ISIS nổi dậy.

Họ chửi Mỹ kỳ thị chủng tộc vì tạm cấm 7 quốc tịch nhập cảnh, nhưng im lặng khi Qatar làm điều tương tự và khi trên thế giới có 16 nước Hồi Giáo cấm người Israel nhập cảnh.

Họ đấu tranh để được phá thai nhưng không hề nghĩ đến đứa trẻ trong bụng – nó cũng là một con người.

Họ đấu tranh vì hôn nhân đồng tính, nhưng im lặng khi biết rằng ở các nước Hồi Giáo, người đồng tính bị ném đá đến chết.

Họ đấu tranh vì tự do cho tất cả công dân, nhưng quên rằng niệm vụ của chính phủ Mỹ là để bảo vệ công dân Mỹ.

Họ đấu tranh vì công bằng nhưng quên rằng các nước Hồi Giáo không hề công bằng với họ.

Họ chửi bới khi Trump muốn xây bức tường để bảo vệ biên giới Mỹ, nhưng họ lại lặng thinh khi người nước ngoài tràn vào đất nước họ và ăn bám mồ hôi nước mắt của cha mẹ họ.

Họ chửi khi Trump đơn giản chỉ thực thi pháp luật quốc gia, nhưng họ im lặng khi người nước ngoài phá nát nó.

Họ tranh đấu cho cái gì? Cho cái gọi là “công lý xã hội” trong mắt họ. Nhưng cái gọi là biên giới, cái gọi là quốc gia, cái gọi là luật pháp thì sao? Họ tranh đấu cho sự an toàn của người khác bất chấp sự an ninh của chính đất nước họ.

Họ tranh đấu cho cái gì? Cho họ? Cho người khác? Cho sự sống còn của đất nước? Hay cho sự suy tàn của nền văn minh Tây Phương?

Họ đấu tranh cho cái gì?

Ku Búa @ Cafe Ku Búa

Image may contain: sky, cloud, bridge and outdoor

Dân ta nhớ sử nước ta

Dân ta nhớ sử nước ta

Hoàng Khải Thụ

13-2-2017

Ngày 17/02/1979 Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa gây chiến xâm lược biên giới Việt Nam

Ngày 19/12/2012 đại tá Trần Đăng Thanh, Phó giáo sư Tiến sĩ Nhà giáo ưu tú của Học viện chính trị Bộ quốc phòng giảng về Biển Đông cho các vị lãnh đạo các trường đại học Việt Nam, gồm các Bí thư đảng ủy, các Hiệu trưởng, đã nói một đoạn như sau: “trong hơn 1000 năm Bắc thuộc, trên dưới hai chục lần các triều đại phong kiến Trung Quốc đã từng xâm lược Việt Nam. Từ nhà Tùy, nhà Đường, từ đại Tống, đại Minh, đại Nguyên, đại Thanh, đại đại gì đi chăng nữa thì đều bị Đại Việt ‘đánh cho nó chích luân bất phản, cho phiến giáp bất hoàn’ … đánh cho phải chui ống đồng trốn chạy về nước. Đó là điều rõ ràng chúng ta có quyền tự hào dân tộc của chúng ta. Hơi buồn cái là sinh viên thanh niên chúng ta hiện nay không biết lịch sử”.

Để tránh lặp lại nỗi buồn đó, bài tóm tắt ngắn gọn dưới đây sẽ giúp sinh viên thanh niên học sinh dễ nhớ một sự kiện lớn trong lịch sử hiện đại của nước ta đã xảy ra năm 1979.

Ngày bắt đầu và ngày kết thúc cuộc chiến biên giới Việt – Trung 1979:

Ngày Trung Quốc bắt đầu gây ra cuộc chiến: 17/02/1979

– Vùng chiến sự: Toàn tuyến biên giới phía bắc Việt Nam, bao gồm 6 tỉnh Móng Cái, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu.

-Ngày Trung Quốc tuyên bố rút quân về nước: 05/03/1979

– Ngày Trung Quốc rút hết quân về nước: 16/03/1979

Những sự kiện lớn xảy ra trước ngày bắt đầu cuộc chiến:

– Ngày 03 /11/1978: Liên Xô và Việt Nam ký Hiệp định hợp tác

– Ngày 07/12/1978: Ủy ban quân sự trung ương Trung Quốc quyết định mở cuộc chiến tranh biên giới Việt – Trung 1979.

– Tháng 12/1978: Đặng Tiểu Bình tuyên bố trên Đài truyền hình Trung Quốc “ Phải dạy cho Việt Nam một bài học “.

– Ngày 22/12/1978: Trung Quốc cắt đứt đường xe lửa liên vận đến Việt Nam.

– Tháng 01/1979: Trung Quốc cắt đứt đường bay Bắc Kinh – Hanoi

– Cũng trong tháng 01/1979: Đặng Tiểu Bình hoàn thành chuyến công du sang Mỹ.

Lực lượng tham chiến của mỗi bên:

Trung Quốc:

Huy động lực lượng của 2 quân khu là Đại quân khu Quảng Châu do tướng Hứa Thế Hữu làm Tư lệnh, có Bộ chỉ huy quân khu đóng ở thành phố Nam Ninh tỉnh Quảng Tây và Đại quân khu Côn Minh do tướng Dương Đức Chí làm Tư lệnh, có Bộ chỉ huy quân khu đóng ở thành phố Mông Tự tỉnh Vân Nam.

Tổng số các đơn vị tham chiến gồm 32 sư đoàn bộ binh, thuộc 9 quân đoàn chủ lực và một số sư đoàn bộ binh độc lập, 6 trung đoàn xe tăng, 4 sư đoàn pháo binh. Tổng số quân và binh khí kỹ thuật khoảng 300.000 người, 550 xe tăng, 480 khẩu pháo, 1260 súng cối và dàn phóng tên lửa. Ngoài ra trong lực lượng dự bị có 200 tàu chiến cỡ vừa và nhỏ của Hạm đội Nam Hải, 1700 máy bay chiến đấu MIG nhằm phòng ngừa đối phó nếu quân Liên Xô can thiệp.

Việt Nam:

Trực tiếp lãnh đạo và chỉ huy là ông Lê Duẩn và tướng Văn Tiến Dũng. Lực lượng gồm 1 số sư đoàn của quân khu 1, quân khu 2 và 1 số đơn vị quân địa phương. Các sư đoàn tham chiến gồm sư đoàn 3, sư đoàn 316 A, sư đoàn 346, sư đoàn 325B, sư đoàn 345, sư đoàn 326, sư đoàn 346. Hầu hết các sư đoàn chủ lực thiện chiến còn đang ở chiến trường Tây Nam. Các lực lượng quân sự độc lập tham chiến có các trung đoàn bộ binh số 141, 147, 148, 197, trung đoàn pháo binh số 68. Các trung đoàn quân địa phương tham chiến có trung đoàn số 95, 121, 254, 741. Tổng số quân tham chiến khoảng 70.000 người. Cuộc chiến nổ ra ít lâu thì có quân tăng viện của sư đoàn 327 và sư đoàn 337. Ngày 27/02/1979 quân đoàn 2 được lệnh triển khai trên hướng Lạng Sơn thì Trung Quốc tuyên bố rút quân về nước.

Diễn biến cuộc chiến:

Chiến tranh bắt đầu vào 5 giờ sáng 17/02/1979. Trung Quốc bắt đầu tấn công trên toàn tuyến bằng bộ binh, xe tăng, pháo binh, kết hợp với “ đội quân thứ 5 “ là người Việt gốc Hoa làm chỉ điểm và phá hoại, cản đường tiến quân của quân Việt Nam.

Theo nhà nghiên cứu quân sự của Trung Quốc là Zhang Xiaming, đăng trên tạp chí nghiên cứu quốc tế 17/02/2016, trước khi nổ ra cuộc chiến này, phần lớn sĩ quan Trung Quốc từ cấp tiểu đoàn trở xuống còn phân vân liệu có đánh thắng được quân đội Việt Nam hay không, vì đó là đối thủ đã vừa đọ súng với quân viễn chinh Mỹ. Trong suốt 30 năm nay quân Trung Quốc chưa từng đánh một cuộc chiến tranh nào. Quân được trang bị kém. Cách luyện quân đã lạc hậu. Cuộc đại cách mạng văn hóa 10 năm đã làm cho tinh thần quân đội sa sút nghiêm trọng. Sĩ quan cao cấp đều là tướng của Mao. Cách đánh của họ vẫn là các nguyên tắc chiến thuật của Mao, ra đời từ thập kỷ 1930-1940. Họ chỉ có kinh nghiệm chiến tranh du kích thời kháng Nhật trước năm 1945, kinh nghiệm chiến tranh với quân Quốc dân đảng trước năm 1949 và kinh nghiệm chiến tranh Triều Tiên 1950-1953, chưa có kinh nghiệm thực chiến trong chiến tranh hiện đại.

Ngay từ ngày bắt đầu cuộc chiến, quân Trung Quốc đã gặp phải sức kháng cự rất mạnh của quân địa phương Việt Nam nên tốc độ tiến quân rất chậm.

Chiến sự đã diễn ra 2 giai đoạn:

Trong giai đoạn 1, cánh quân phía đông của tướng Trung Quốc Hứa Thế Hữu chia làm 3 mũi đánh vào Lạng Sơn, Đông Khê Cao Bằng và Móng Cái. Cánh quân phía tây của tướng Dương Đắc Chí chia làm 3 mũi đánh vào Lào Cai, Hà Giang và Lai Châu. Trong ngày 18 và 19/02/1979 đã xảy ra những cuộc chiếc ác liệt nhất

Sau 1 tháng giao chiến, ngày 16/3/1979 quân Trung Quốc rút về nước. Cả 2 bên đều tuyên bố là mình chiến thắng.

Việt Nam tuyên bố đã đuổi hết quân xâm lược Trung Quốc ra khỏi biên giới còn Trung Quốc thì tuyên bố đã dạy cho Việt Nam một bài học.

Thương vong và thiệt hại của mỗi bên:

Phía Trung Quốc:

Theo nguồn tin của Việt Nam, sĩ quan và binh lính Trung Quốc chết 26.000 người, bị thương 37.000 người, 280 xe tăng bị phá hủy.

Theo Trung Quốc công bố, số binh sĩ Trung Quốc chết là 8.531 người, bị thương 21.000 người

Theo nguồn tin của Phương Tây, số binh sĩ Trung Quốc chết là 13.000 người

Phía Việt Nam:

Theo nguồn tin của Trung Quốc, số sĩ quan và binh sĩ Việt Nam chết là 30.000 người

Theo nguồn tin của Phương Tây, số binh sĩ Việt Nam chết là 8000 người

Phía Việt Nam công bố 10.000 thường dân Việt Nam bị quân Trung Quốc giết chết. Các thị xã và thị trấn nằm trong vùng chiến sự đều bị quân Trung Quốc hủy diệt, phá từng cây cột điện. Tại 2 tỉnh Cao Bằng và Lào Cai, 320/320 xã và 81 xí nghiệp, hầm mỏ bị phá hoại.

Trong bài phóng sự về cuộc chiến biên giới Việt-Trung 1979, đăng trên báo Saigon tiếp thị, nhà báo Huy Đức kể lại: Chỉ tính riêng tại thôn Tổng Chúp, xã Hưng Đạo, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng, vào ngày 9/3/1979, trước khi rút về nước, quân Trung Quốc đã giết 43 người dân thôn này, trong đó có 14 phụ nữ, 7 người đang mang thai và 20 trẻ em. Tất cả đều bị họ giết bằng dao như quân Pôn Pốt đã làm ở Cam Pu Chia. 10 người bị ném xuống giếng. 30 người bị chặt xác ra từng khúc rồi vứt xuống bờ suối.

Trung Quốc gây ra cuộc chiến biên giới Việt – Trung 1979 thực sự nhằm mục đích gì?

Mục đích thực sự của Trung Quốc gây ra cuộc chiến, do Trung tướng chính ủy Đại học quốc phòng Trung Quốc Lưu Á Châu (nay là Thượng tướng, quân hàm cao nhất của quân đội Trung Quốc) nói  công khai trong bài phát biểu của ông ta tại căn cứ không quân Côn Minh tỉnh Vân nam, đăng trên tạp chí nghiên cứu quốc tế ngày 18/02/2016 như sau:

Năm 1978 Đặng Tiểu Bình trở lại cầm quyền. Sau khi sang thăm Mỹ vào đầu năm 1979, tháng 02/1979 ông phát động đánh Việt Nam. Về chính trị, cuộc chiến này không thể không đánh. Cuộc chiến với Việt Nam của Đặng Tiểu Bình thực sự đã đưa Trung Quốc ra khỏi cái phe xã hội chủ nghĩa. Ông dùng chiến tranh để vạch rõ ranh giới Trung Quốc với các nước xã hội chủ nghĩa. Cuộc chiến này vì chính chúng ta, vì cải cách mở cửa của Trung Quốc. Trung Quốc không thể cải cách mở cửa mà không có viện trợ của các nước Phương Tây, đứng đầu là Mỹ. Nhờ cuộc chiến này, Mỹ đã ồ ạt viện trợ kinh tế, kỹ thuật, khoa học công nghệ và cả viện trợ quân sự, tiền vốn cho Trung Quốc. Cuộc chiến với Việt Nam năm 1979 đem lại cho Trung Quốc những gì? Đó là một lượng lớn viện trợ về thời gian, tiền bạc và kỹ thuật. Nhờ những yếu tố đó mà Trung Quốc đứng vững được sau khi Liên Xô sụp đổ. Thậm chí có thể nói bước đầu tiên của cải cách mở cửa của Trung Quốc chính là từ cuộc chiến tranh này” (*).

Ảnh chiến tranh biên giới Việt – Trung 1979

h1Bản đồ các mũi tiến công của quân Trung Quốc trong chiến tranh biên giới Việt – Trung 1979

Lý do nhiều người giàu có nhưng không vui vẻ, hạnh phúc

Lý do nhiều người giàu có nhưng không vui vẻ, hạnh phúc

Năm 1980, nước Mỹ thông qua đạo luật mới về người tị nạn, bởi vậy mà 512 người tị nạn sinh sống ở thành phố Buffalo, New York đã trở thành công dân hợp pháp của nước Mỹ. Phần lớn họ là những người nhập cư trái phép đến từ những quốc gia nghèo khó. Mục đích đến nước Mỹ của họ là tìm kiếm sự giàu có, tự do và hạnh phúc.

Năm 2004, khi đạo luật được ban hành tròn 25 năm, nhóm người nhập cư này đã tham gia vào một buổi mít tinh. Họ thừa nhận rằng từ khi trở thành công dân của nước Mỹ, cuộc sống được cải biến đến mức chưa từng có thế nhưng giấc mơ hạnh phúc thì vẫn chưa thực hiện được.

Cần phải có thái độ gì trong lúc nguy nan?
(Ảnh minh họa qua fastcoexist.com)
 Khi nghe được lời thừa nhận của những người này, ông Howard, một tiến sỹ luật chuyên nghiên cứu các vấn đề về người tị nạn liền tiến hành điều tra. Đầu tiên, ông tiến hành xác minh thân phận của toàn bộ 512 người tị nạn này. Ông phát hiện cả 512 người này đều có điểm chung lớn nhất là vốn sinh sống ở những nước nghèo khó. Ngoài ra, còn có một số người khi nhập cư trái phép đến Mỹ đều từng ký kết với người chủ tàu một khế ước rằng: Chỉ cần có thể đi đến nước ngoài kiếm được nhiều tiền, còn việc sống hay chết trên đường đi thì người chủ tàu không phải chịu trách nhiệm.

Tiếp theo, tiến sĩ Howard lại tiến hành khảo sát cuộc sống của họ sau khi đến Mỹ. Ông phát hiện rằng, những người nhập cư này bởi vì có một giấc mơ mãnh liệt là kiếm được nhiều tiền nên sau khi đến Mỹ, trải qua hơn 20 năm nỗ lực thì cuộc sống của họ đều khá giả, giàu có. Gần một nửa người trong số họ nhờ vào tinh thần mạo hiểm và chịu khổ mà có cuộc sống ngang bằng với tầng lớp người giàu của nước này.

Nhập cư vào Mỹ là giấc mơ của nhiều người

Vậy, vì sao họ vẫn than phiền rằng không có cuộc sống hạnh phúc? Để tìm ra nguyên nhân, tiến sĩ Howard lại một lần nữa tiến hành điều tra về họ. Dưới đây là ghi chép của ông khi điều tra một số người trong số họ:

Một người kinh doanh thủy sản, lúc bắt đầu đến Mỹ đã buôn bán thủy sản ở một đường thuộc Miami. Từ một cửa hàng, hiện tại ông đã mở rộng thành nhiều cửa hàng và nhiều chi nhánh. Trong 20 năm qua, vì để đánh bại đối thủ cạnh tranh, ông chưa từng nghỉ phép một ngày, thậm chí chưa từng đi du lịch nghỉ ngơi.

Một người buôn bán xe cũ, sống ở ngoại ô Houston, trong một căn biệt thự rộng 1.518 m2. Hiện tại săm lốp cũ còn tồn 3.600 chiếc, động cơ cũ còn 420 bộ, 7 chiếc xe ô tô cũ và 6 chiếc xe mô tô đã được tân trang.

Một người khác làm công việc vận chuyển giữa các nước Haiti, Dominican, Puerto Rico. Thông qua người ấy, 60% số người họ hàng đã đến Mỹ làm công  và sinh sống. Hiện tại có 14 người trong họ hàng vẫn đang ở cùng với người ấy.

Báo cáo của tiến sĩ Howard dài 730 trang, trong đó liệt kê tình trạng cuộc sống của từng người trong số họ. Bản báo cáo này sau khi được gửi đến Quốc vụ viện Mỹ đã nhanh chóng được chuyển đến bộ phận di dân của nước này. Chẳng bao lâu, mỗi người trong số 512 người nhập cư này đã nhận được một cuốn sách nhỏ mà trên bìa của nó viết rằng: “Mỗi một người nghèo khó sau khi trở thành người giàu có, nếu như không kịp thời buông bỏ lòng tham đã được dưỡng thành trong lúc nghèo khó thì đừng hy vọng có thể bước vào cảnh giới hạnh phúc.”

Ngày 15/01/2005, tờ Carribean Post đăng tin, một vị phú ông đến từ vùng biển Caribe đã bán công ty của mình với dự định sẽ sống một cuộc sống đơn giản. Ngày hôm sau, tiến sĩ Howard nhận được một lá thư từ bộ phận di dân viết rằng: “Đã có một người trong nhóm người tị nạn này tìm được hạnh phúc sau khi giàu có.”

Người ta thường nói: “Lòng tham của con người là không đáy”. Sự truy cầu về tiền tài, vật chất của một người tham lam là vĩnh viễn không có tận cùng. Nhưng, giàu có không đồng nghĩa là hạnh phúc vui vẻ.

Cần phải có thái độ gì trong lúc nguy nan?
(Ảnh minh họa: Facebook)

Một vị phú ông giàu có nếu như sống không được vui vẻ thì tiền bạc đối với ông ta liệu có ý nghĩa thực sự nào không? Một người thực sự vui vẻ và hạnh phúc là trong nội tâm luôn cảm thấy yên bình, tường hòa, ổn định và thỏa mãn. Cho nên, cổ nhân thường nói: “Người biết đủ thường vui.”

An Hòa.

Dư âm của một cái Tết sum vầy

Dư âm của một cái Tết sum vầy

Tưởng năng Tiến
2017-02-09

Một nông dân đem cành đào lên Hà Nội bán hôm 23/1/2017.

Một nông dân đem cành đào lên Hà Nội bán hôm 23/1/2017.

AFP photo
Thỉnh thoảng, tôi vẫn nghe chút điều tiếng về cung cách làm việc của những tiếp viên hàng không Việt Nam. Đầu năm 2015, từ Phnom Penh tôi sang Singapore bằng phi cơ của Vietnam Airlines. Cuối năm rồi, tôi cũng mua vé của hãng này để bay từ Phnom Penh đến Vientianne.

Trong cả hai chuyến đi trên, các cháu nam nữ tiếp viên đều ứng xử rất đàng hoàng, không có để phải phàn nàn cả. Duy chỉ có điều hơi kỳ (có lẽ do thời gian sắp xếp giữa hai chuyến bay quá ngắn) là trên ghế ngồi còn vương vãi những mẩu bánh vụn li ti khiến cho – đôi ba – hành khách hơi phải chau mày.

Nhờ sự vội vã của những công nhân lo việc vệ sinh nên tôi vớ được một tờ báo cũ (Báo Lao Động Số Xuân Đinh Dậu, phát hành vào thứ Tư 25 tháng 1, với chủ đề “Ấm Lòng Tết Sum Vầy 2017”) in mầu tuyệt đẹp.  Được nhìn thấy tiếng nước mình, giữa khung cảnh lạ, tôi mới chợt cảm nhận được cái niềm vui “ngộ cố tri” của kẻ tha hương.

Niềm vui đơn sơ này, tiếc thay, tắt ngấm ngay sau khi tôi đọc bài bình luận (“Tết Sum Vầy Và Những Giọt Nước Mắt Hạnh Phúc”) trên trang nhất của nhà báo Đình Chúc:

“Không tin vào mắt mình, cứ ngỡ như mơ, như một câu chuyện cổ tích…”. Và chị bật khóc, những giọt nước mắt hạnh phúc.Đó là cảm xúc của nữ công nhân Cao Thị Luyện (quê Thanh Hóa) khi bất ngờ được gặp cha mẹ chồng cùng con trai từ Nam Định vào tận mảnh đất Bình Dương – nơi cách xa hơn ngàn cây số.

Càng cảm động hơn khi đây không phải là chuyến thăm viếng bình thường như bao cha mẹ, ông bà xa con cháu khác mà đó là kết quả của sự chăm lo, góp sức của tổ chức Công đoàn, của các nhà hảo tâm trong chương trình “Tết sum vầy” tại Bình Dương.

Ơ hay, thế là thế nào nhỉ? Bà Cao Thị Luyện là một công nhân của nước nước CHXHCNVN (Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc) chứ có phải tù nhân phát vãng (vào Thời Thực Dân/Phong Kiến) đâu mà việc đoàn tụ với người thân, vào dịp cuối năm, lại nhiêu khê đến thế?

Đã thế, ông Đình Chúc còn viết thêm rằng : Không cảm động sao được khi với nhiều công nhân tiền lương còn không đủ sống. Phiên chợ cuối chiều phải đắn đo nâng lên đặt xuống trước con cá, mớ rau. Đến tiền tàu xe về quê dịp tết còn không lo nổi, nói chi đến quà cáp, tết nhất cho gia đình. Nay được tổ chức Công đoàn lo quà, tặng vé để về quê thì không xúc động sao được…

Đọc báo Lao Động viết về đời sống của giới công nhân Việt Nam hiện nay mà tôi cứ có cảm tưởng như họ là những kẻ thuộc giai cấp cùng đinh (paria – untouchable) ở bên Ấn Độ, vào hồi đầu thế kỷ trước vậy.

Gần sáu mươi năm trước, đời sống của phu đồn điền cao su miền ở miền Nam (“vùng địch tạm chiếm”) cũng không đến nỗi tàn tệ và thảm thương đến thế, theo như tin báo Nhân Dân – số 2534 – phát hành ngày 26 tháng 2 năm 1961:

sumvay3.jpg
Nhà trọ công nhân khu công nghiệp Tân Tạo. Ảnh: N.B/ Tuổi Trẻ Online

 

“Công nhân đồn điền cao su miền Nam đấu tranh thắng lợi … Đây là một đợt đấu tranh lớn bao gồm hàng vạn công nhân và gia đình công nhân thuộc cá đồn điền cao xu Lộc Ninh, Lai Khê, Trảng Bom … Các chủ đồn điền nói trên đã phải nhận giải quyết các yêu sách do anh chị em đề ra như: định lại tiền lương, trả phụ cấp cho nữ công nhân khi sinh đẻ, trả phụ cấp năng xuất, sửa lại nhà ở, lập bệnh xá, lập nơi giải trí cho công nhân, mở trường học và vườn chơi cho trẻ em công nhân, và nhận lại những công nhân đã bị sa thải.

Bây giờ thì tìm đâu cho ra “nhà ở, bệnh xá, trường học, vườn chơi trẻ em, và khu giải trí” cho giới công nhân? Từ Việt Nam, phóng viên Khánh Hoà có bài tường thuật (“Nghiệt Ngã Phận Đời Ngày Làm Công Nhân, Tối Về… Bán Dâm”) trên báo Dân Việt:

“… những công nhân này, ban ngày đi làm, chiều tan ca về thì đàn ông lại xách xe đi chạy xe ôm ở mấy ngã ba, ngã tư hòng kiếm thêm vài chục ngàn đồng.

Ngoài ra, nhiều người phải nhận hàng về nhà làm thêm ban đêm hoặc đi bốc vác, phụ bồi bàn ở các quán ăn, quán cà phê ban đêm với mong muốn kiếm thêm chút đỉnh. Riêng với những công nhân nữ, dù biết là tội lỗi, là nhục nhã nhưng nhiều người vì miếng cơm, manh áo vẫn nhắm mắt đưa chân để làm cái việc nhơ nhuốc là đi bán dâm, như một cứu cánh duy nhất trong cơn cùng quẫn …”

Những cảnh đời “cùng quẫn” như trên, thực ra, không mới mẻ gì. Tôi đã nghe  Nguyễn Chí Thiện nói thế lâu rồi:

Bán trôn rồi lại bán cả mồ hôi
Mà đói rét vẫn quần cho sớm tối!

(“Trên Mảnh Đất” – 1964)

Mãi đến năm 1986 ông TBT Trường Chinh mới chịu thừa nhận nỗi “nhục nhã” và sự “nhơ nhuốc” này:“Phải cứu giai cấp công nhân!”

Trời cũng chả cứu nổi được họ, nếu Tổ Chức Công Đoàn Việt Nam vẫn chỉ là cánh tay nối dài của Đảng – theo nhận xét của Tiến Sĩ Phạm Chí Dũng:

“Không những không hỗ trợ công nhân, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam lại nối thêm một cánh tay giúp công an ngăn chặn đình công. Trong một số trường hợp, công nhân còn phát hiện chính cán bộ công đoàn làm công tác chỉ điểm để ‘khoanh vùng đối tượng’ và sau đó là bắt bớ tống giam những công nhân khởi xướng đình công.”

sumvay5-400.jpg
Đoàn Huy Chương & Nguyễn Hoàng Quốc Hùng. Ảnh: anhbasam

 

Nhân chuyện báo Lao Động số Xuân, với chủ đề Tết Sum Vầy, xin được ghi lại tên tuổi của vài ba công nhân hiện đang bị cầm tù (hay “dấu kín”) ở một nơi nào đó:

– Đoàn Huy Chương a.k.a. Nguyễn Tấn Hoành: Sinh năm 1985, thành viên sáng lập Tổ Chức Công Đoàn Độc Lập, bị bắt (lần thứ hai) vào ngày 23 tháng 2 năm 2010, và bị kết án bẩy năm tù vì tội “phá rối an ninh nhằm chống lại chính quyền nhân dân.” Hiện ông đang bị giam giữ tại trại  giam Phước Hòa, Huyện Tân Phước, Tỉnh Tiền Giang.

– Nguyễn Hoàng Quốc Hùng: Sinh năm 1981, thành viên của Khối 8406, hội viên của Phong Trào Các Nạn Nhân Của Sự Bất Công. Ngày 27 tháng 10 năm 2010, ông bị TAND tỉnh Trà Vinh kết án chín năm tù, cùng với tội danh với Nguyễn Tấn Hoành, và bị giam giữ trong cùng một trại.

– Lê Trí Tuệ: Sinh năm 1979, thành viên của Khối 8406, Phó Chủ Tịch Công Đoàn Độc Lập Việt Nam. Ngày 20 tháng 10 năm 2006, ông tuyên bố thành lập Công Đoàn Độc Lập. Ông bị bắt vào ngày 29 tháng 03 năm 2007, bị ép buộc phải lên tiếng công khai giải tán công đoàn này. Lê Trí Tuệ từ chối và bỏ trốn sang Cambodia, sau khi bị đánh đập tàn tệ nhiều lần ngoài đường phố. Ông đột ngột “biến mất” khỏi cõi đời này, kể từ hôm 16 tháng 5 năm 2007 đến nay!

Theo bản tin của HRW, gửi đi vào ngày 4 tháng 5 năm 2009: “Người ta nghĩ rằng công an Việt Nam đã bắt cóc ông Lê Trí Tuệ, một trong những sáng lập viên của Công Đoàn Độc Lập Việt Nam.”

Ông Bùi Văn Cường, Ủy Viên  Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng, Chủ Tịch Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam – tiếc thay – không đủ can đảm để nhắc đến tên tuổi họ trong dịp Tết Sum Vầy vừa qua. Tổ chức Công Đoàn của đảng ông Cường, theo ý của một nhà phản biện độc lập ở Việt Nam là “nên chấm dứt hoạt động đi, nếu còn biết liêm sỉ.”

Ôi, tưởng gì chớ liêm sỉ thì là chuyện vô cùng xa xỉ đối với đám đảng viên CSVN!

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

Thứ Tư, 02/08/2017

Đấu tranh thay đổi hay thay thế chế độ CSVN?

Đấu tranh thay đổi hay thay thế chế độ CSVN?

Mai Thanh Truyết (Danlambao) – Câu hỏi cho hôm nay: “Ngày mai, tương lai Việt Nam có tươi sáng, có trở thành một cường quốc hay không tùy thuộc vào thể chế chính trị có thay đổi thành dân chủ hay không?”
Đây là một sự thật rất rõ ràng mà có lẽ không người dân Việt Nam nào không thấy. Nhưng trước khi có dân chủ thì phải thoát khỏi ách độc tài toàn trị của cộng sản và chính vì vậy mà có phong trào đấu tranh với ĐCSVN. Tuy nhiên, công cuộc đấu tranh với ĐCSVN thường xảy ra với những cuộc vận động chưa dứt khoát mà thường hay giao động giữa hai mục tiêu: thay đổi thay thế chế độ CSVN.
 
“Thay đổi”“Thay thế” là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau vì nó đòi hỏi những phương pháp đấu tranh khác nhau. Vì thế hai vấn đề mang tầm vóc chiến lược này cần phải được phân định rõ ràng và suy xét cẩn thận. Một khi mục tiêu đã được thống nhất thì phong trào đấu tranh sẽ cùng hướng về một điểm và sẽ tạo sức mạnh tổng hợp.
Một phương cách để tìm hiểu hai khuynh hướng là bằng cách đối chiếu quan điểm và lập luận giữa hai khuynh hướng thay đổithay thế. Từ sự đối chiếu sẽ hiện ra những điểm khôn ngoan hay sai lầm trong những hành động thực hiện. Phần tiếp theo được xếp theo hình thức đối đáp giữa hai khuynh hướng trong từng vấn đề hay quan điểm:
1. Quyền lực của ĐCSVN quá lớn chưa thế lực nào có thể đánh đổ
Khuynh hướng thay đổi:
Chế độ CSVN hay quyền lực của ĐCSVN quá lớn, quá bao trùm chưa thể lật đổ họ được. Những vấn đề căn bản trong khuynh hướng thay đổi có thể liệt kê như sau:
– Về chính trị, ĐCS có mặt, chi phối và kiểm soát mọi ngõ ngách trong cuộc sống của người dân VN. ĐCS tuy ngày nay bị thoái hóa nhưng “uy tín” và thành phần cảm tình với ĐCS vẫn còn quá đông.
– ĐCS đã ý thức được những mầm mống có thể gây nguy hại cho họ nên đã tìm cách nắm giữ tất cả các thành phần có thế lực trong xã hội như giới trí thức, giới doanh gia tư nhân, giới xã hội dân sự, báo chí.
– ĐCS đã học được những bài học Cách mạng Hoa Lài và nắm giữ quân đội rất chặt, đồng thời cũng học từ Tàu cộng về việc thành lập những cơ quan đặc biệt chống biểu tình hùng hậu và đánh trả một cách sắt máu.
– Tinh thần đối kháng của người dân Việt Nam chưa thấy thể hiện. Số lượng người dân thờ ơ và an phận còn quá nhiều. Đối diện với tất cả những trở ngại này, người dân tay không làm sao có thể chống lại? Cho dù có cả triệu người biểu tình cũng sẽ chẳng làm đổ được một nhà cầm quyền có quân đội chống lưng.
 
Khuynh hướng thay thế:
Chế độ độc tài nào cũng nắm gọn mọi quyền lực trong tay để có thể kiểm soát dân chúng.
– Họ chỉ có một phương pháp cai trị duy nhất là bằng bạo lực vì quyền cai trị của họ không đến từ dân chúng.
– Chính sự độc đoán này là yếu điểm của họ. Yếu điểm đó là không danh chính ngôn thuận và không hợp lòng dân, hay nói cách khác ĐCSVN không có chính nghĩa.
– Họ chỉ có thể đánh lừa dân chúng qua tuyên truyền hay mua chuộc dân chúng qua việc ban phát đặc quyền đặc lợi cho một tầng lớp nào đó để làm hậu thuẫn.
– Tất cả những cách thức lấy lòng dân này là sự cố gắng gượng ép cần luôn luôn phải có động lực thúc đẩy. Và nếu động lực thúc đẩy yếu đi thì những thành phần đi theo sẽ giảm đi hay biến mất.
Phương pháp đấu tranh dùng để lật đổ chế độ CS là bất bạo động. Với phương pháp này, việc sở hữu bạo lực chẳng đem lại lợi thế nào cho nhà cầm quyền vì bạo lực chỉ có thể chống lại bạo lực.
– Làm sao có thể đem xe tăng ra bắt người công nhân phải đi làm việc?
– Làm sao công an có thể bắt bỏ tù những người rút tiền của mình ra khỏi nhà băng?
– Sức mạnh của quân đội sẽ không góp gì được cho thế lực của nhà cầm quyền nếu phương pháp bất bạo động được sử dụng khôn khéo.
– Vì thế quyền lực của nhà cầm quyền sẽ không lớn khi cuộc đấu tranh được chuyển sang môi trường bất bạo động và việc lật đổ một nhà độc tài là chuyện khả thi.
2. Dân chúng Việt Nam chưa đủ hiểu biết để có thể thiết lập một thể chế dân chủ ổn định
Khuynh hướng thay đổi:
– Dân chúng Việt Nam chưa đủ ý thức, hiểu biết về dân chủ nên chưa biết tranh đấu cho quyền công dân.
– Nếu thực hiện dân chủ ngay lập tức ở Việt Nam thì sẽ chỉ tạo nên đảng phái chia rẽ, xâu xé nhau và làm đất nước yếu kém đi.
– Cách tốt nhất là thực hiện dân chủ từng bước để bảo đảm sự chuyển tiếp ổn định. Hơn nữa, trong giai đoạn khởi đầu phát triển kinh tế, Việt Nam cần phải có ‘một chút’ độc tài mới có thể phát triển được, như đường đi của các nước Nam Hàn, Đài Loan, Singapore.
– Về nhân quyền, các thứ quyền làm người này chỉ nên giao cho người dân từng bước với giáo dục và thông tin để người dân có thời gian thực tập, tránh khỏi việc lạm dụng và đưa đến tình trạng rối loạn xã hội. Các quốc gia Âu Mỹ cũng đã trải qua cả trăm năm mới có sự trưởng thành dân chủ ngày này. Phương cách thả lỏng dân chủ từng bước là cách thực hiện dân chủ ổn thỏa nhất.
 
Khuynh hướng thay thế:
Nguyên tắc dân chủ bảo đảm một thể chế chính trị của dân, do dân và vì dân. Đây là một thể chế đem công bằng đến cho mọi người dân và không ai, không đảng phái hay nhóm người nào đứng trên ý dân.
– Nguyên tắc này đã được thực hiện tại đa số các nước trên thế giới và không thể sai lầm. Chỉ có thể chế độc tài CS là sai lầm và hiện còn tồn tại ở Việt Nam và 4 quốc gia trên thế giới.
– Quan điểm dân chủ phải được thực thi từng bước để giữ cho xã hội ổn định và một cách chuyển đổi thích hợp cho phát triển kinh tế vững chãi của các nước chậm tiến là một ngụy biện.
– Về thể chế chính trị, tất cả các cuộc thay đổi từ độc tài sang dân chủ đều là sự thay đổi tức khắc, không từ từ từng bước, vì sự mâu thuẫn giữa độc tài và dân chủ không thể có sự trộn lẫn, hoặc 100% dân chủ hoặc 100% độc tài mà thôi.
– Về phát triển kinh tế thì một số nước như Nam Hàn, Đài Loan hay Singapore đã sử dụng quyền lực nhà nước để điều hướng kinh tế hầu tạo sức mạnh cạnh tranh cho các công ty quốc nội đối với các công ty quốc tế. Chuyện nhà nước nhúng tay vào kinh tế không thể được xem là độc tài nếu mục đích nhắm tới là đẩy mạnh tiềm lực kinh tế quốc gia. Chính sách điều hướng kinh tế của các chính phủ dân chủ là góp tay hỗ trợ, khuyến khích phát triển theo hướng hoạch định. Doanh nghiệp nào thuộc lãnh vực quan tâm của chính phủ sẽ được sự hỗ trợ. Chính phủ dân chủ không nhúng tay vào việc điều hành các doanh nghiệp như hình thức quốc doanh ở các chế độ độc tài.
– Vấn đề trật tự xã hội liên quan tới nhiều lãnh vực khác như giáo dục, an ninh, luật pháp. Bảo vệ nhân quyền là bảo vệ cho mọi người dân được nhà cầm quyền tôn trọng và đối xử công bằng. Chỉ có một chính quyền dân chủ mới bảo đảm nhân quyền cho người dân. Một chính quyền độc tài không bao giờ cho người dân có quyền làm người vì khi cho người dân một vài quyền nào đó thì người dân sẽ không phục tùng chính quyền nữa.
Trong giai đoạn đầu của khuynh hướng thay thế, thiết nghĩ hãy khoan đòi những tiêu chuẩn dân chủ cao. Khi chưa có quyền Tự do thực sự mà muốn có Dân chủ toàn vẹn thì nền Dân chủ đó có thể đưa đến giả hiệu ngay. Trước hết hãy nâng cao Dân trí trong những nỗ lực giành các quyền Tự do hiến định: Quyền Tự do Thông tin-báo chí, và Quyền Tự do lập các Hội dân sự, nghề nghiệp, Ái hữu… mà tuy trên danh nghĩa đã có, nhưng nay phải dành cho có được thực chất.
Chính quyền “thay thế” cần phải dựa trên thế hợp pháp mà gở từng bước, tiến tới quyền làm chủ đích thực của người dân. Có được hai loại Quyền nói trên mới mong tiến lên đòi Quyền thứ ba là Quyền ứng cử và bầu cử, để cải biến dần các cơ quan quyền lực và tiến tới một chính thể Dân chủ pháp trị văn minh phù hợp với Dân tộc.
Một khi chưa có khả năng huy động quần chúng để làm “Cách mạng” lật đổ CSVN trực tiếp, thì đây là cung cách duy nhất để thoát khỏi đêm dài toàn trị. Đây chính là con đường HOÀ BÌNH.
Kiến tạo Dân trí và Xã hội dân sự làm nền tảng, chính là tích cực tạo điều kiện để thời cơ xuất hiện.
Con đường diễn biến như vậy tuy có chậm. Không phải vì chúng ta muốn chậm mà không cách nào làm nhanh hơn được! Nhưng bù lại cũng có ưu điểm là vững bền và hợp với tình tự dân tộc và không có sự can thiệp của “thế lực thù địch” mà người dân phải lo sợ.
 
3. Yếu tố ngoại lai hiện tại
Theo Hà Sĩ Phu: “Tôi đã nhận được câu hỏi rằng Mỹ sẽ có chương trình gì để thay đổi chính phủ Việt Nam và tôi đã trả lời thẳng rằng đó không phải là chính sách của Mỹ. Chính sách của Mỹ là tôn trọng sự khác biệt trong hệ thống chính trị của các quốc gia khác. Lợi ích của Mỹ là muốn thấy một nước Việt Nam vững mạnh, thịnh vượng, độc lập, tôn trọng dân chủ, nhân quyền và pháp quyền. Việt Nam thành công thì điều đó cũng nằm trong lợi ích của Mỹ”.
Qua chiều hướng trên, chúng ta thấy gì?
Rõ ràng là Hoa Kỳ không muốn tìm cách “thay thế” CSVN ở Việt Nam mà chỉ muốn “thay đổi” một số “chính sách cai trị” của ĐCS!
Về phía Việt Nam, Nguyễn Phú Trọng hoàn toàn chịu thuần phục Tập Cận Bình trong chuyến “triều cống” ngày 12 tháng giêng vừa qua, nói lên tính cách nộ lệ của CSVN qua 15 Hiệp ước từ quốc phòng, kinh tế, chính trị, và thương mại ký ngày 15/1/17.
Như vậy, những người con Việt phải làm gì?
Trước khi tham gia vào bất cứ một cuộc đấu tranh nào, ngay cả trong cuộc sống, nếu không muốn thắng thì không nên bước vào. Sự quyết tâm và ý chí quan trọng hơn tính khả thi của vấn đề.
Và sự quyết tâm trong đấu tranh chống CS là:
Lật đổ, hủy bỏ chế độ CSVN, không phải tìm cách thay đổi nó.
– Có sự quyết tâm dứt khoát trên sẽ giúp chúng ta loại trừ được tâm trạng mất tự tin hay yếm thế và dẫn đến tính ỷ lại.
– Sự trợ giúp bên ngoài của ngoại quốc chỉ là phụ thuộc. Chúng ta phải tự lực cánh sinh.
– Sự quyết tâm còn giúp những người con Việt tránh được những tư tưởng ủy mị, dễ tin như tin vào sự thành thật của ĐCSVN đối với quốc gia, dân tộc trong suốt hơn 70 năm qua!
11.02.2017

CHUYỆN BUỒN: ĐẤT NƯỚC VÀ DÂN TỘC VIỆT NAM

CHUYỆN BUỒN: ĐẤT NƯỚC VÀ DÂN TỘC VIỆT NAM

CHUYEN BUON

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Mời các  Bạn đọc đoạn kết cuốn sách của  tác giả người Đức này, quá hay, khi nào sách in ra, mỗi người chúng ta phải mua  một vài cuốn để dành cho con cháu, chắt chung ta đọc để chúng hiểu sự thật lịch sử.

MC Người Đức … nhưng anh nầy có vẻ hiểu chuyện VN hơn rất nhiều người .Cuốn sách Đức: “A reporter’s love for a wounded people” của tác giả Uwe Siemon-Netto đã được viết xong và đang chờ một số người viết “foreword” và endorsements.Bản dịch cũng đã xong, được phép của tác giả chúng tôi xin giới thiệu đoạn kết rất xúc động mà tác giả đã nói lên ước muốn cùng với người Việt Nam nuôi dưỡng niềm hy vọng một ngày không xa Tự Do Dân Chủ sẽ trở lại với quê hương khốn khổ của chúng ta:

Đoạn kết

Hậu quả của khủng bố và đức hạnh của hy vọng
Hơn 40 năm đã trôi qua kể từ khi tôi giã biệt Việt Nam. Vào năm 2015, thế giới sẽ chứng kiến kỷ niệm lần thứ 40 chiến thắng của Cộng sản và nhiều người sẽ gọi đó là ngày “giải phóng.”

Ga xe lửa Huế, nơi một đầu máy và một toa hành lý khởi hành chuyến tầu tượng trưng 500 thước mỗi buổi sáng vào lúc 8 giờ sẽ không còn đáng đi vào kịch trường của sự phi lý nữa. Nó đã được phục hồi đẹp đẽ và sơn phết lại mầu hồng. Một lần nữa, tương tự như những ngày dưới sự thống trị của người Pháp, nó là nhà ga xe lửa đẹp nhất vùng Đông Dương và tài xế tắc-xi không phải chờ đợi vô ích bên ngoài.

Mười chuyến tầu thong dong chạy qua mỗi ngày, năm chuyến xuôi Nam và năm chuyến ra Bắc. Gộp chung lại chúng được mệnh danh một cách không chính thức là Tàu Tốc Hành Thống Nhất.

Chẳng lẽ nào tôi lại không mừng vui? Chuyện này có khác nào bên Đức khi bức tường Bá Linh đổ xuống và những bãi mìn biến mất, và nay những chuyến tầu cao tốc phóng ngược xuôi giữa hai xứ nguyên là Cộng sản bên Đông và Dân chủ bên Tây với tốc độ lên tới 200 dặm một giờ?

Hiển nhiên là tôi rất vui khi chiến tranh kết thúc và Việt Nam được thống nhất và phát triển, những chuyến xe lửa đã hoạt động trở lại và các bãi mìn đã được tháo gỡ. Nhưng đến đây thì sự tương đồng với nước Đức chấm dứt.
Nước Đức hoàn thành sự thống nhất, một phần nhờ người dân tại Đông Đức đã lật đổ chế độ độc tài toàn trị bằng những cuộc biểu tình và phản kháng ôn hòa, một phần nhờ vào sự khôn ngoan của các nguyên thủ quốc tế như các vị Tổng thống Ronald Reagan và George G.W. Bush, của Thủ tướng Helmut Kohl, của lãnh tụ Sô Viết Mikhail Gorbachev, và cũng phần khác vì sự sụp đổ có thể đoán trước được của hệ thống xã hội chủ nghĩa sai lầm trong khối Sô Viết. Không có ai bị thiệt mạng trong tiến trình này, không một ai bị tra tấn, chẳng có ai phải vào trại tù và cũng không có ai bị buộc phải trốn chạy.

Có một khuynh hướng khó hiểu, ngay cả trong số các vị học giả đáng kính của phương Tây đã diễn tả sự kiện Cộng sản cưỡng chiếm miền Nam như là một cuộc “giải phóng.” Điều này đặt ra một câu hỏi: giải phóng cái gì và cho ai?
Có phải miền Nam đã được “giải phóng” khỏi sự áp đặt một nhà nước độc đảng toàn trị được xếp hạng chung với những chế độ vi phạm tồi tệ nhất thế giới về các nguyên tắc tự do tôn giáo, tự do phát biểu, tự do ngôn luận, tự do hội họp và tự do báo chí?

Một cái thứ giải phóng gì đã làm chết 3,8 triệu người dân Việt từ 1954 đến 1975 và đã buộc hơn một triệu người khác phải trốn ra khỏi đất nước, không những từ miền Nam bại cuộc mà cả từ những bến cảng miền Bắc và làm từ 200.000 đến 400.000 người gọi là thuyền nhân bị chết đuối?

Có phải là hành động giải phóng không khi xử tử 100.000 người lính miền Nam và viên chức chính phủ sau ngày Sài Gòn thất thủ? Phải chăng chỉ là một màn trình diễn nhân đạo của bên thắng cuộc bằng cách lùa từ một triệu đến 2 triệu rưỡi người miền Nam vào các trại tù cải tạo, trong đó có khoảng 165.000 người mất mạng và hàng ngàn người khác đã bị tổn thương sọ não lâu dài và bị các vấn đề tâm thần do hậu quả của tra tấn, theo một cuộc nghiên cứu của một nhóm học giả quốc tế do Bác sĩ tâm thần Richard F. Molina của đại học Harvard dẫn đầu?

Từ giữa những năm 1960, những tay bịa đặt chuyện huyền thoại về chính trị và lịch sử của phương Tây, hoặc ngây thơ hoặc bất lương, đã chấp nhận lời giải thích của Hà Nội rằng cuộc xung đột là một cuộc “chiến tranh nhân dân.” Cũng đúng thôi nếu chấp nhận định nghĩa của Mao Trạch Đông và Võ Nguyên Giáp về cụm chữ đó. Nhưng theo luật văn phạm về sở hữu tự theo cách Saxon Genitive qui định thì “chiến tranh nhân dân” phải được hiểu là cuộc “chiến tranh của nhân dân.”

Thực tế không phải như vậy. Ðã có khoảng 3,8 triệu người Việt Nam đã bị giết giữa các năm 1954 và 1975. Khoảng 164.000 thường dân miền Nam đã bị thủ tiêu trong cuộc tru diệt bởi Cộng sản trong cùng thời kỳ, theo nhà học giả chính trị Rudolf Joseph Rummel của trường Đại học Hawaii. Ngũ Giác Ðài ước tính khoảng 950.000 lính Bắc Việt và hơn 200.000 lính VNCH đã ngã xuống ngoài trận mạc, cộng thêm 58.000 quân Hoa Kỳ nữa. Đây không thể là một cuộc chiến tranh của nhân dân mà chính là chiến tranh chống nhân dân.
Trong tất cả những lập luận đạo đức giả về cuộc chiến Việt Nam ta gặp quá thường trong vòng 40 năm qua, cái câu hỏi quan trọng nhất đã bị mất dấu hay AWOL, nếu dùng một từ ngữ viết tắt quân sự có nghĩa là “vắng mặt không phép,” câu hỏi đó là: Dân Việt Nam có mong muốn một chế độ Cộng sản hay không? Nếu có, tại sao gần một triệu người miền Bắc đã di cư vào Nam sau khi đất nước bị chia cắt năm 1954, trong khi chỉ có vào khoảng 130.000 cảm tình viên Việt Minh đi hướng ngược lại?

Ai đã khởi đầu cuộc chiến tranh? Có bất kỳ đơn vị miền Nam nào đã hoạt động ở miền Bắc hay không? Không. Có du kích quân miền Nam nào vượt vĩ tuyến 17 để mổ bụng và treo cổ những người trưởng làng thân cộng, cùng vợ và con cái họ ở đồng quê miền Bắc hay không? Không. Chế độ miền Nam có tàn sát cả một giai cấp hàng chục ngàn người trên lãnh thổ của họ sau năm 1954 bằng cách tiêu diệt địa chủ và các đối thủ tiềm năng khác theo cách thống trị theo lối Sô Viết của họ hay không? Không. Miền Nam có thiết lập chế độ độc đảng toàn trị hay không? Không.

Với cương vị một người công dân Đức, tôi không can dự gì đến cuộc chiến này, hay nói theo lối người Mỹ là “I have no dog in this fight” (tôi chẳng có con chó nào trong vụ cắn lộn này cả). Nhưng, nhằm chú giải cho cuốn sách “Lời nguyện của nhà báo”, tương tự như các phóng viên kỳ cựu có lương tâm, lòng tôi đã từng và vẫn còn đứng về phía dân tộc Việt Nam nhiều đau thương. Lòng tôi hướng về những người phụ nữ tuyệt vời với tính tình rất thẳng thắn và vui vẻ; hướng về những người đàn ông Việt Nam khôn ngoan và vô cùng phức tạp đang theo đuổi giấc mơ tuyệt hảo theo phong cách Khổng giáo; hướng về các chiến binh giống như trẻ con đi ra ngoài mặt trận mang theo cái tài sản duy nhất là một lồng chim hoàng yến; hướng về các góa phụ chiến tranh trẻ với cơ thể bị nhào nặn méo mó chỉ vì muốn bắt một tấm chồng lính Mỹ nhằm tạo một ngôi nhà mới cho con cái và có thể cho chính họ, còn hơn là đối mặt với độc tài Cộng sản; hướng về nhóm trẻ em bụi đời trong thành thị cũng như ngoài nông thôn săn sóc lẫn nhau và những con trâu đồng. Với trái tim chai cứng còn lại, lòng tôi thuộc về những người trốn chạy khỏi lò sát sinh và vùng chiến sự, luôn luôn đi về hướng Nam mà không bao giờ về hướng Bắc cho đến tận cùng, khi không còn một tấc đất nào vắng bóng Cộng sản nữa để mà trốn. Tôi đã chứng kiến họ bị thảm sát hay bị chôn sống trong những ngôi mồ tập thể và mũi tôi vẫn còn phảng phất mùi hôi thối của những thi thể đang thối rữa.

Tôi không có mặt vào lúc Sài Gòn thất thủ sau khi toàn bộ các đơn vị Quân Lực VNCH, thường xuyên bị bôi bẩn một cách ác độc bởi truyền thông Hoa Kỳ, giờ đây bị những đồng minh người Mỹ của họ bỏ rơi, đã chiến đấu một cách cao thượng, biết rằng họ không thể thắng hay sống sót khỏi trận đánh cuối cùng này. Tôi đang ở Paris, lòng sầu thảm khi tất cả những chuyện này xẩy ra và tôi ước gì có dịp tỏ lòng kính trọng năm vị tướng lãnh VNCH trước khi họ quyên sinh lúc mọi chuyện chấm dứt, một cuộc chiến mà họ đã có thể thắng: Lê Văn Hưng (sinh năm 1933), Lê Nguyên Vỹ (sinh năm 1933), Nguyễn Khoa Nam (sinh năm 1927), Trần Văn Hai (sinh năm 1927) và Phạm Văn Phú (sinh năm 1927).

Khi tôi viết đoạn kết này, một ký giả đồng nghiệp và một loại học giả sinh năm 1975 khi Sài Gòn bị thất thủ, đã tự tạo cho bản thân một thứ tên tuổi bằng cách bêu xấu tội ác chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam. Vâng, họ thật đáng bị bêu xấu. Đúng, đó là sự thật. Mỹ Lai có thật. Tôi biết, tôi đã có mặt trong phiên tòa mặt trận khi Trung úy William Calley bị kết án là có tội. Tôi biết cái tiêu chuẩn đếm xác chết được tôn sùng bởi đầu óc méo mó của các cấp chỉ huy quân sự cũng như dân sự thời đại Mc Namara tại Washington và bản doanh Hoa Kỳ tại Sài Gòn đã làm tổn hại hàng ngàn mạng sống của người dân vô tội.
Nhưng không có hành vi tàn ác nào của các đơn vị rối loạn Hoa Kỳ và VNCH có thể sánh bằng cuộc tàn sát do lệnh nhà nước giáng xuống đầu người miền Nam nhân danh Hồ Chí Minh. Những tội ác mà cho đến ngày nay những kẻ kế thừa thậm chí vẫn không thừa nhận vì không ai có cái dũng cảm hỏi họ: Tại sao các anh thảm sát tất cả những người vô tội mà các anh rêu rao là đi chiến đấu để giải phóng họ?

Với tư cách một người Đức, tôi xin được thêm một đoạn chú thích như sau: tại sao các anh giết người bạn của tôi là Hasso Rüdt von Collenberg, tại sao lại giết các bác sĩ người Đức ở Huế, và anh Otto Söllner tội nghiệp mà “tội ác” duy nhất là dạy trẻ em Việt Nam cách điều khiển một ban nhạc hòa tấu?
Tại sao các anh bắt cóc những thanh niên thiện nguyện Knights of Malta, làm cho một số bị chết trong rừng rậm và số khác thì bị giam cầm tại Hà Nội?
Tại sao các anh không bao giờ tự xét lương tâm về những hành động đó, theo cách những người Mỹ chính trực trong khi họ đã được xác định một cách đúng đắn là họ thuộc về phía lẽ phải trong cuộc Đại Chiến Thứ Hai, vẫn bị dằn vặt bởi cái di sản khủng khiếp để lại vì đánh bom rải thảm những khu dân cư trong nước Đức và tấn công bằng bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki?
Hồi tưởng lại cuộc thử thách trên con đường mòn Hồ Chí Minh trong tạp chí Der Spiegel, cô y tá Tây Đức Monika Schwinn nhớ lại cuộc gặp gỡ với các đơn vị chiến đấu Bắc Việt trên đường xuống phía Nam như là một trong những kinh nghiệm khủng khiếp nhất. Cô diễn tả cái cường độ của mối hận thù trên khuôn mặt của những tên lính đó và cô viết chính những tên Việt Cộng canh chừng phải khó khăn lắm mới ngăn chận họ không giết những người Đức ngay tại chỗ.

Không có ai sinh ra là biết hận thù cả. Sự thù hận chỉ có thể có được do dậy dỗ. Nuôi dưỡng tính giết người trong lòng thanh niên là một khuôn phép huấn luyện chỉ có trường phái chủ nghĩa toàn trị là giỏi nhất. Trong cuốn tiểu sử rất hay nói về tay chỉ huy SS Heinrich Himmler, sử gia Peter Longerich diễn tả là ngay cả gã sáng lập viên cái lực lượng tàn độc gồm những tên côn đồ mặc đồ đen cũng khó lòng buộc thuộc hạ vượt qua sự kiềm chế tự nhiên để thi hành lệnh thảm sát Holocaust (Longerich. Heinrich Himmler. Oxford: 2012).
Chính cái ánh mắt thù hận của những tên sát nhân Bắc Việt tại Huế làm ám ảnh những người tôi phỏng vấn hơn cả. Nhưng dĩ nhiên phải dành nhiều thời gian với họ, chịu sự đau khổ cùng họ, tạo niềm tin và trò chuyện với họ thì mới khám phá ra cái cốt lõi của một phần nhân tính con người, một hiểm họa về mặt chính trị và quân sự vẫn còn quanh quẩn bên chúng ta từ bốn thập niên qua. Chỉ phán ý kiến về nó từ trên tháp ngà đài truyền hình New York hay các trường đại học Ivy League thì không bao giờ đủ cả.

Trong một cuốn sách gây chú ý về đoàn quân Lê Dương Pháp, Paul Bonnecarrère đã kể lại cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Đại tá đầy huyền thoại Pierre Charton và Tướng Võ Nguyên Giáp sau khi Pháp thất trận tại Điên Biên Phủ (Bonnecarrère. Par le Sang Versé. Paris: 1968). Charton là tù binh trong tay Cộng sản Việt Minh. Giáp đến thăm Charton nhưng cũng để hả hê. Cuộc gặp gỡ xẩy ra trong một lớp học trước mặt khoảng 20 học viên đang tham dự một buổi tuyên truyền chính trị. Cuộc đối thoại giữa hai nhân vật đối chọi nhau đã xẩy ra như sau:
Giáp: “Tôi đã đánh bại ông, thưa Đại tá!”
Charton: “Không, ông không đánh bại tôi, thưa Đại tướng. Rừng rậm đã đánh bại chúng tôi… cùng sự hỗ trợ các ông đã nhận được từ người dân bằng các phương tiện khủng bố.”

Võ Nguyên Giáp không ưa câu trả lời này và cấm các học viên không được ghi chép nó. Nhưng đó là sự thật, hay chính xác hơn: đó là một nửa của sự thật. Cái nửa kia là các nền dân chủ như Hoa Kỳ đúng là không được trang bị về chính trị và tâm lý để theo đuổi một cuộc chiến trường kỳ. Sự nhận thức này, cùng với cách sử dụng các phương tiện khủng bố đã trở thành trụ cột trong chiến lược của Võ Nguyên Giáp. Hắn đã đúng và hắn đã thắng. Thậm chí nguy hiểm hơn nữa là ngày nay các chế độ toàn trị đang chú ý đến điểm này.
Cho đến tận ngày hôm nay tôi vẫn còn bị ám ảnh bởi cái kết luận tôi bắt buộc phải rút ra từ kinh nghiệm về Việt Nam là:

khi một nền văn hóa bê tha hủ hóa đã mệt mỏi về lòng hy sinh, nó sẽ có khả năng vứt bỏ tất cả. Nó đã chín mùi để bỏ rơi một dân tộc mà đáng lẽ nó phải bảo vệ. Nó còn thậm chí sẵn sàng xóa đi những mạng sống, sức khoẻ về thể chất và tinh thần, nhân phẩm, trí nhớ và danh thơm của những thanh niên đã được đưa ra mặt trận.

Điều này đã xẩy ra trong trường hợp các cựu chiến binh Việt Nam. Tác động của sự khiếm khuyết đã ăn sâu trong các nền dân chủ tự do này rất đáng sợ vì cuối cùng nó sẽ phá hỏng chính nghĩa và tiêu diệt một xã hội tự do.
Tuy nhiên tôi không thể kết thúc câu chuyện ở đây bằng điều tăm tối này được. Là một người quan sát về lịch sử, tôi biết là lịch sử, mặc dù được khép kín trong quá khứ, vẫn luôn luôn mở rộng ra tương lai. Là một Ki-Tô hữu tôi biết ai là Chúa của lịch sử.

Chiến thắng của Cộng sản dựa vào những căn bảnđoàn xích-lô bên ngoài ga xe lửa Huế vào năm 1972, nơi chẳng có người khách nào quay trở lại. Chỗ của tôi ở đâu bây giờ? độc ác: khủng bố, tàn sát và phản bội. Hiển nhiên tôi không biện minh cho chuyện tiếp tục đổ máu nhằm chỉnh lại kết quả, cho dù có khả thi đi chăng nữa. Nhưng là một người ngưỡng mộ tính kiên cường của dân tộc Việt Nam, tôi tin là họ sẽ cuối cùng tìm ra phương cách ôn hòa và các lãnh tụ chân chính để họ có thể thoát khỏi những tay bạo chúa. Có thể sẽ phải mất nhiều thế hệ, nhưng điều đó sẽ xẩy ra.
Trong ý nghĩa này, tôi bây giờ chỉ muốn xếp hàng vào Tôi còn lại gì nữa ngoài niềm hy vọng?

Anh Thiệu Van An gởi

Chúng ta chiến thắng trong chiến tranh để trờ thành NGƯỜI THUA CUỘC

Bài cũ nhưng vẫn còn đúng, còn giá trị

Chúng ta chiến thắng trong chiến tranh để trờ thành NGƯỜI THUA CUỘC

FB Trâm Lê

9-2-2016

Có thể đối với nhân dân VN, ngày 30/4/1975 là mốc lịch sử thống nhất tổ quốc. Thống nhất đất nước, hết tiếng bom đạn, hết lo âu về cuộc chiến đều là giấc mơ của mỗi người dân VN nói riêng và những người yêu hòa bình trên thế giới nói chung. Tôi ko đề cập đến chế độ cộng sản hay cộng hòa ở đây, bài viết này tôi chỉ đề cập duy nhất đến 1 thứ. Đó là người Việt, sự tự cường dân tộc.

Một dân tộc lớn mạnh thì phần lớn nằm ở sự tự cường của dân tộc đó. Không thể phủ nhận sự tự cường dân tộc ở chính “người anh em láng giềng” Trung Quốc. Tuy họ mang nhiều cái nhìn tiêu cực từ chúng ta như đồ ăn bẩn, chất độc, hàng nhái v.v.. Nhưng nhiêu đó chỉ là 1 phần nhỏ, cái mà chúng ta phải nhìn nhận lại mình là họ dám làm được những thứ họ cần. Vậy VN mình sao lại không như vậy? Hãy quay trở lại quá khứ 1 chút, chúng ta sẽ biết nguyên nhân.

Sáng 11/9/1975 quyết định số 111/CP chính thức áp dụng lên 17 tỉnh thành miền Nam và nó mang tên “Đánh tư Sản”. Sự kiện này chính thức loại bỏ dần tính tự cường dân tộc của VN theo khái niệm kinh tế. Nội dung chính của sự kiện này như sau: Tịch thu nhà và cưỡng chế toàn bộ những nạn nhân phải đi về vùng Kinh Tế Mới sống. Cưỡng chế giải tán toàn bộ các công ty doanh nghiệp tư nhân, tiểu thương, các thành phần sản xuất nhỏ vốn rất đa dạng và phồn thịnh trong nền kinh tế tự do của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, khuyến khích hậu thuẫn cho quốc dân từ bấy lâu.

Nền công nghiệp nhẹ, sản xuất đồ gia dụng trong nhà của Việt Nam đã hoàn toàn chính thức bị phá hũy. Người dân Việt Nam sẽ không còn thấy các sản phẩm tự hào của dân tộc như nồi nhôm hiệu Ba Cây Dừa , xà bông hiệu cô Ba, xe hơi hiệu La Đalat, hiệu đèn trang trí Nguyễn Văn Mạnh .v.v… Không những thế, các nhà máy nhỏ sản xuất nhu yếu phẩm như đường, bột giặt, giấy cũng bị tê liệt vì chủ nhân bị quốc hữu hóa. Các nhà sách về khoa học kỹ thuật cũng như các tác phẩm văn học thế giới cũng bị tịch thu tiêu hủy với 1 lý do chung “văn hóa phẩm đồi trụy”.

Hiển nhiên cánh cửa kết nối khoa học kỹ thuật hiện đại đến VN đã bị chặn lại. Kế đó là đường lối quốc hữu hóa toàn bộ đất đai của nhân dân qua hình thức “Tập đoàn sản xuất” là một sai lầm nghiêm trọng dẫn đến nạn đói năm 1979 ngay liền sau đó vì lúa gạo và các sản phẩm nông nghiệp bị sút giảm toàn diện tại miền Nam.

Khai tử công nghiệp, nông nghiệp thất bại, văn hóa đóng cửa. Mới nghe đến đây tôi cũng không tin rằng VN sẽ thoát ra khỏi chốn tăm tối mịt mù ấy. May thay chính phủ họ cũng đã biết sửa sai, đó là hàn gắn dân tộc sau chiến tranh. Sự kiện tập trung tại Sài Gòn, hàng ngàn gia đình cán bộ miền Bắc đã vào Sài gòn sinh sống trong những ngôi nhà bị tịch thu.

Theo thừa nhận ngắn ngủi từ báo SGGP và báo Công An khi bàn đến vấn đề trả lại nhà cho những “đối tượng” bị đánh tư sản oan ức vào tháng 9 năm 1989, ước tính lên đến khoảng 150.000 người thuộc gia đình cán bộ gốc miền Bắc vào Sài Gòn sinh sống trong những ngôi nhà bị tịch thu. Trong chiến dịch này, số lượng người Sài Gòn phải bị mất hết tài sản và bị cưỡng bức đi KINH TẾ MỚI là khoảng 600.000 người, tạo ra một sự hoảng sợ hoang man chưa từng có trong lịch sử phát triển Sài Gòn qua các triều đại.

Ghi nhận của Hà Nội là có khoảng 950 ngàn người Sài Gòn bị cưỡng bức đi KINH TẾ MỚI, không hoàn thành chỉ tiêu đề ra là 1,2 triệu người. Sau sự hàn gắn dân tộc này tôi hiểu được chữ Nam Kỳ – Bắc Kỳ. Nó thật đay nghiệt.

Tất cả những ai tại Sài Gòn bị Đảng tịch thu nhà , tài sản đều phải đi về vùng KINH TẾ MỚI, là những nơi mà cơ sở hạ tầng cho sinh hoạt chưa được xây dựng, trong đó có cả điện nước, trường học và bệnh xá. HƠN SÁU TRĂM NGÀN nạn nhân bị cưỡng bức qua đêm phải rời Sài Gòn để về những vùng KINH TẾ MỚI và bỏ lại hết toàn bộ tài sản của mình từ nhà ở, của cải, đồ đạc cho Đảng quản lý. Thế là cả triệu người dân Sài Gòn đột nhiên lâm vào cảnh đói kém trầm trọng như là đòn trả thù hữu hiệu của Đảng đối với những người bị liệt vào thành phần không phải “Cách Mạng”, ngụy quân ngụy quyền và tiểu tư sản. Ước tính có khoảng 300 ngàn trẻ em bị thất học vì sống ở các vùng Kinh Tế Mới này.

Nhân dân miền Nam- cả triệu người đang sống sung túc bỗng lao vào chịu đói kém khổ sở chưa từng có. Nạn đói kém lan tràn khắp mọi nơi, mọi nhà trước thảm cảnh. Hậu quả của nó là Việt Nam tụt hậu hơn 50 năm về kinh tế vì các chính sách đánh tư sản này của Đảng lên đầu người dân miền Nam. Việt Nam là quốc gia nghèo đứng hàng thứ ba trên thế giới vào năm 1985.

Cho đến năm 1994 VN thoát khỏi cấm vận và có những tiến bộ cải thiện khi World Bank và USAID tăng tốc trợ giúp, cùng với chính sách thay đổi nền kinh tế đến hiện tại chúng ta có gì. Chúng ta vẫn chẳng có gì ngoài 1 đất nước làm nhân công cho thế giới, chuyên lắp ráp mà ko có dây chuyền sản xuất của riêng mình. Các chỉ tiêu đặt ra như đưa bao nhiêu ngàn nhân công xuất khẩu lao động cho nước A, B ,C ..v..v.

Các bạn có đau đớn như tôi khi nhìn thấy Campuchia tự hào họ có thể tự chế tạo xe hơi không? Bạn có cảm thấy buồn khi công nghệ Lào đã sử dụng rộng rãi 4G trước VN ko. Hay bạn vẫn đang tự hào VN ta đánh đuổi được thực dân Pháp, đế quốc Mỹ. Hay bạn vẫn đang tự hào về 1 VN đầy ung nhọt, đầy chia rẽ trong chính những người dân. Tôi chỉ tự hào về VN khi nào nó tìm lại được sự tự cường dân tộc.

Phiến quân Hồi giáo giết 250 trẻ em Cơ đốc bằng cách ném chúng vào trong máy làm bánh mì

Phiến quân Hồi giáo giết 250 trẻ em Cơ đốc bằng cách ném chúng vào trong máy làm bánh mì

Oneway.vn – “Nhưng ai chối ta trước mặt thiên hạ, Ta cũng sẽ chối họ trước mặt Cha ta ở trên trời” – Những lời cuối cùng của George Assaf trước khi bị ISIS giết vì tội là Cơ đốc nhân.

Theo một người sống sót khỏi ISIS ở Syria, trẻ em Cơ đốc đã bị ném vào trong các máy làm bánh mì, các máy quay làm gãy xương của chúng và nghiền nát thi thể nhỏ bé của chúng chẳng vì bất cứ tội nào ngoại trừ là Cơ đốc nhân.

Câu chuyện này được Alice Assaf kể lại, con trai của cô đã bị ISIS đánh đập và bắn vì cậu bé từ chối đổi tên Cơ đốc của mình là George.

Assaf chia sẻ với một phóng viên cách mà ISIS đã biến một cửa hàng bánh mì trở thành một cửa hàng chất đầy những nỗi kinh hoàng, chúng đặt trẻ em vào các máy móc để nhào bột và điều chỉnh để nghiền nát những đứa bé bất hạnh bên trong. Người lớn thì bị nướng đến chết bên trong các lò nướng.

Tội của họ chỉ đơn thuần vì Cơ đốc giáo và nó vang ra những câu chuyện kinh hoàng khác được kể lại khắp phần còn lại của Syria và I-rắc. Những kẻ khủng bố vẫn khét tiếng vì sự tàn ác của chúng, vì chúng không chỉ đơn thuần là giết người, mà các vụ giết người phải được thi hành theo cách man rợ nhất để đe dọa người khác.

Hai năm trước, những kẻ khủng bố ISIS tiếp quản thị trấn của Assaf ở Syria. Alice Assaf đã bảo con trai cô là George đi trốn và sắp đặt để cậu bé được những người Hồi giáo tốt bụng che giấu. Tuy nhiên, gia đình đó đã để lộ George và cậu bé bị bắt. Mẹ cậu bé đã van nài cậu bé đổi tên thành một cái tên nghe giống Hồi giáo, nhưng cậu bé từ chối. Những lời cuối cùng của cậu bé với mẹ là: “Con không muốn che giấu mình nữa. Mẹ là người đã dạy con vâng theo điều Đấng Christ dạy, ‘nhưng ai chối ta trước mặt thiên hạ, Ta cũng sẽ chối họ trước mặt Cha ta ở trên trời.”

George Assaf bị đánh và bắn chết.

Những trường hợp khác thậm chí còn tồi tệ hơn. Khi ISIS tiếp quản lò bánh của thị trấn, chúng đã biến nó thành một cửa hàng kinh hoàng, chúng trói sáu thợ làm bánh đang làm việc tại đó và hành quyết họ trong chính những lò nướng của họ. Khi chúng bắt đầu gom các trẻ em Cơ đốc lại tiệm bán, vài người lính địa phương đã cố gắng cứu những đứa trẻ. Để ngăn chặn những người lính, những kẻ khủng bố bắt đầu ném những đứa trẻ xuống ban công gần đó. Thủ đoạn khủng khiếp của chúng đã có tác dụng và chúng đã giết 250 trẻ em trong máy nhào bánh mì.

Assaf nói cô đã tìm cách bỏ trốn khỏi thị trấn và sống sót để kể lại câu chuyện cho Roads to Success, một tổ chức phi lợi nhuận hoạt động để bảo vệ nhân quyền ở Trung Đông.

Nhiều thị trấn dù được tự do, nhưng nỗi sợ vẫn hiện diện nếu ISIS quay trở lại và bắt đầu giết nhiều người hơn một cách kinh khủng.

Khi các phóng viên tìm hiểu về các thị trấn đã được tự do, nhiều câu chuyện kinh hoàng hơn đã được kể lại. Những kẻ khủng bố không chỉ hành quyết mọi người, nhưng chúng còn tìm những cách giết người kinh hoàng nhất.

Vẫn chưa khủng khiếp nhất, ISIS đã đặt mìn và đánh bẫy các căn nhà ở những nơi như Mosul để rồi người dân sẽ bị thương tích hoặc bị giết khi họ trở về nhà.

Điều gở là ISIS đang mất dần địa bàn ở Trung Đông, nhưng tiếp tục gieo rắc bất cứ nơi nào trên thế giới mà nơi đó không thể chống cự rộng rãi.

Annie Phan

Theo http://www.jewsnews.co.il/2017/02/02/horror-as-isis-kills-250-christian-children-by-kneading-them-to-death-in-bread-machine.html