Đôi khi trong những giây phút trầm tư hơn, tôi buộc phải tự hỏi: Có phải tôi thật sự mong muốn Chúa không, hay chỉ quan tâm đến những chuyện thuộc về Chúa?Có phải tôi muốn giảng dạy, diễn thuyết và viết về Chúa nhiều hơn là tiếp xúc đích thực với Chúa – chỉ Chúa và tôi, trong cầu nguyện và thinh lặng? Có phải tôi thích làm những chuyện về Chúa và tôn giáo hơn là ẩn mình và thinh lặng trong sự hiện diện của Chúa?
Những câu trả lời cho các câu hỏi này cần phải dễ dàng và rõ ràng. Nhìn bề mặt, rõ ràng có vẻ tôi mong muốn Chúa: Tôi cố gắng cầu nguyện huyện này, không nhất thiết Chúa phải là trọng tâm chú ý thật sự của những hoạt động này. Trọn trọng tâm chú ý có thể dễ dàng ở chỗ khác.
Có thể tất cả chúng ta đều nên tự hỏi câu này: Trong những hoạt động rõ ràng là tôn giáo của chúng ta, có phải chúng ta thật sự muốn có mối quan hệ với Thiên Chúa và với Giê-su không, hay, nếu trung thực nhìn nhận, có phải chúng ta quan tâm làm sao để có nghi thức phụng vụ tốt, thần học tốt, linh hướng hay, trải nghiệm tôn giáo hay, kiếm tìm cầu nguyện giỏi, hoạt động mục vụ, các dự án thành công ở nhà thờ, bảo vệ luân lý tốt, có hướng giải quyết tốt cho các vấn đề công chính, làm dễ dàng việc giữ đạo, hay không? Không phải những điều đó không tốt, những điều đó thật sự tốt, nhưng nghịch lý thay, chúng có thể chính là cách để chúng ta tránh khỏi phải đối diện với tiếng gọi sâu thẳm, đòi hỏi chúng ta có mối quan hệ mật thiết với Chúa.
C.S. Lewis thích mô tả cuộc vật lộn của chúng ta trong vấn đề này và ông gọi nó bằng chính bản chất thường gặp của nó:tôn thờ ngẫu tượng, hiến dâng cả bản thân mình cho một điều gì đó chỉ là như Chúa, trái với việc hiến dâng bản thân mình cho chính Chúa. Ông mô tả như sau:
Trong quyển sách Cuộc ly dị vĩ đại (The great divorce), Lewis tưởng tượng mười cảnh trong đó người chết được một “thiên thần” gặp ở thế giới bên kia, thiên thần này cố gắng dỗ dành người mới qua đời đồng ý để thiên thần nắm tay dẫn vào thiên đường. Để vào được thiên đường, trong mọi trường hợp, chỉ có một điều kiện duy nhất và đơn giản: Bạn chỉ việc tin tưởng vị thiên thần và để bản thân mình được đưa đi!
Một trong những cảnh này, Lewis hình dung cuộc đối thoại giữa một trong các vị thiên thần này với một họa sĩ danh tiếng vừa mới qua đời. Vị thiên thần cố gắng thuyết phục ông vào thiên đường, bằng cách tả các cảnh đẹp tuyệt vời của thiên đường. Ban đầu ông họa sĩ phấn khích và háo hức lắm, nghĩ tới mình sẽ vẽ được các kiệt tác,nhưng ông đâm ra kháng cự và nổi giận khi biết một khi lên thiên đường, chẳng còn ai cần đến ông để vẽ vời và ông cũng chẳng có nhu cầu vẽ vời gì nữa. Thay vào đó, ông chỉ việc đơn giản ở trong lòng thiên đường và tận hưởng thiên đường. Vì thế ông từ chối không vào thiên đường, thà chọn ở lại nơi ông có thể vẽ thiên đường hơn là ở trong thiên đường. Ông phản đối vị thiên thần, lý lẽ là, với tư cách nghệ sĩ, hội họa tự nó là cứu cánh, “vẽ là để vẽ.”
Vị thiên thần đáp: Mực, dây cat-gút và màu ở dưới thế là cần thiết, nhưng chúng cũng chính là chất kích thích nguy hiểm. Trừ phi có ân huệ của Thiên Chúa, mỗi nhà thơ, nhạc sĩ, họa sĩ đều bị kéo ra xa khỏi tình yêu của những điều mà quý vị đó sáng tác, mà chỉ yêu thích cái việc kể, cho đến khi, chìm sâu trong Địa Ngục sâu thẳm, họ không thể quan tâm mong muốn Chúa mà chỉ để ý đến những gì họ nói về Người. Và…, như ông biết đó, họ không dừng lại ở việc quan tâm đến màu vẽ. Họ chìm sâu hơn – trở nên quan tâm tới cá tính của mình, và rồi chẳng quan tâm tới cái gì khác ngoài tiếng tăm của mình.
Điều mà vị thiên thần này nói về các nghệ sĩ thì cũng cần nên nói với các nhà thần học, tác giả linh đạo, linh mục, giám mục, mục sư, trợ tế, thầy sáu, nhân viên mục vụ, người cổ xúy công bằng xã hội, tất cả mọi dạng người chống đối về luân lý, những vị chủ trì các khóa tu, những vị hướng dẫn linh thao, những nhà lãnh đạo nhóm cầu nguyện, và kể cả những ai đang tích cực và sẵn lòng kiếm tìm chiều sâu trải nghiệm trong cầu nguyện. Mối nguy hiểm luôn luôn là, giống như ông họa sĩ kia thích và cần vẽ cái đẹp hơn là đơn thuần thể nhập với cái đẹp, chúng ta cũng sẽ biến hoạt động tôn giáo mà chúng ta đang làm trở thành cứu cánh trong chính nó hơn là giữ mối quan tâm thật sự và trọng tâm chú ý của chúng ta vào Chúa.
Và điều trớ trêu là các hoạt động tôn giáo, giống như nghệ thuật, có thể là một trong những mối nguy hiểm còn lớn hơn thuộc loại tôn thờ ngẫu tượng này.Chính những vị đi giảng tài năng, nhà thần học vĩ đại, vị tư tế xuất sắc, vị mục sư được công chúng cực kỳ yêu mến, vị giám mục hoặc người quản lý có năng lực tuyệt vời mới là những người sẽ phải gắng gỏi khó khăn nhất để tránh mối nguy hiểm này. Như Lewis nói: Anh biến thành quỷ dữ không phải từ chuột bọ hay chí rận dơ bẩn, mà từ những vị tổng lãnh thiên thần xấu xa.Ngụy tôn giáo của thèm khát thì đê tiện hơn là ngụy tôn giáo đối với tình mẫu tử, lòng ái quốc hay yêu nghệ thuật; nhưng thèm khát thì khó trở thành một tôn giáo.
Mỗi khi chúng ta cầu nguyện, làm mục vụ, hay làm bất cứ điều gì mang tính cách tôn giáo, chúng ta nên tự hỏi: Việc này thật sự là về ai và về điều gì?
Bức hình chụp hôm 14/12/2012 cho thấy một đám đông đứng xem các công nhân kéo đổ bức tượng Vladimir Lenin bằng đồng ở Ulan Bator, Mông Cổ sau khi Thị trưởng thành phố gọi Lenin là kẻ giết người.
AFP
Kỷ niệm lần thứ 100 cuộc Cách mạng tháng 10 Nga đã qua đi mấy ngày. Quan sát những hoạt động xảy ra trên thế giới về sự kiện này, người ta có nhiều suy nghĩ. Trước hết, đó là suy nghĩ về một thứ tư tưởng – tư tưởng Cộng sản – mà hầu hết các nơi trên thế giới đã vứt bỏ vào sọt rác nhưng tại sao ở Việt Nam, ĐCS cố bám giữ lấy nó như một thứ bảo bối cho riêng mình.
Ở cái nôi Cách mạng tháng 10
“Những người bị thảm sát, khủng bố nằm trong số những con người ưu tú và can đảm nhất của nước Nga và Liên Xô thời đó”
Tổng thống Nga – Putin
Cần phải ghi nhận rằng đó là một sự kiện “trọng đại” đã làm rung chuyển thế giới. Sự rung chuyển đó như thế nào, theo chiều hướng tốt lên, hay xấu đi lại là chuyện khác. Kể cả việc hai quả bom nguyên tử ném xuống Hirosima và Nagadaki giết chết hàng trăm ngàn người, hay sự kiện Thiên An môn hàng ngàn sinh viên, thanh niên bị sát hại dã man… cũng đều làm thế giới rung chuyển tương tự.
Với những sự kiện kỷ niệm như vậy, nếu cách đây chừng ba chục năm hẳn rằng cả thể giới đã chấn động bởi những hoạt động hoành tráng và tốn kém vô cùng từ các nước “trong phe Xã hội chủ nghĩa”. Sẽ là những cuộc diễu binh khổng lồ phô trương sức mạnh bạo lực, sẽ là những điện thư, chúc mừng, là hội họp, mít tinh rầm rộ, sẽ là những cuộc diễu hành đông đúc từ các nước Cộng sản.
Thế nhưng oái oăm thay, những ngày kỷ niệm sự kiện “trọng đại” này, ngay tại nước Nga, luôn được gọi là “quê hương của Cách mạng Tháng 10 vĩ đại”, những hoạt động kỷ niệm đã diễn ra âm thầm, èo uột và thậm chí là những lời tố cáo đanh thép nhất từ Tổng thống Liên bang Nga – Vladimir Putin về một sự kiện mở đầu cho một giai đoạn lấy bạo lực làm phương châm cho mọi hành động xã hội. Xây dựng một xã hội bạo tàn, độc tài và bất chấp quy luật xã hội, đạo đức và văn minh loài người.
Tại nước Nga, thay vì những cuộc duyệt binh, diễu hành được tổ chức ở cấp nhà nước, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã lảng tránh những sự kiện kỷ niệm, ca ngợi Cách mạng Tháng 10/1917.
Trái lại, ông đã tham dự những sự kiện có ý nghĩa khác hơn.
Đó là việc ông dự khai trương một giáo đường mới ở Matxcơva, mà theo ông là “mang nặng ý nghĩa biểu tượng” vì phe Cộng Sản khi lên nắm quyền năm 1917 đã đàn áp Giáo hội.
Việc Tổng thống đến dự khai trương một Thánh đường để đánh dấu biểu tượng đàn áp tôn giáo thời kỳ nước Nga dưới chế độ Cộng sản vô thần cầm quyền nhằm nói lên điều gì nếu không phải là một sự lên án mạnh mẽ một chế độ, một tư tưởng, chủ nghĩa bất nhân.
Ngày 30/10/2017, ông Putin cũng tham dự buổi lễ khánh thành một đài tưởng niệm các nạn nhân bị đàn áp chính trị. Tại đây, ông Putin đã có những lời mạnh mẽ như sau: “Đối với tất cả chúng ta, đối với các thế hệ tương lai, điều rất quan trọng là phải biết và ghi nhớ thời kỳ bi thảm này trong lịch sử nước ta, khi toàn bộ các tầng lớp, toàn bộ các dân tộc: công nhân và nông dân, kỹ sư và thuyền trưởng, linh mục, quan chức chính phủ, nhà khoa học và nhà văn hóa bị bức hại nghiêm trọng.” Và “Quá khứ khủng khiếp này không thể bị xoá nhòa khỏi ký ức quốc gia, không có bất cứ điều gì, không có lợi ích cao cả nào cho nhân dân có thể biện minh cho chuyện đó.”
Có lẽ, những lời nói trên đã đủ để người ta hiểu rõ vì sao nước Nga cũng như trên toàn thế giới đã không hồ hởi, tưng bừng kỷ niệm một “sự kiện trọng đại” như vậy trong lịch sử chính dân tộc họ.
Theo một nhà sử học, đa số người Nga đã không thèm nhớ đến có một ngày gọi là Cách mạng Tháng 10, họ như cố quên đi một sự kiện mở đầu một thời kỳ bi thảm, gieo biết bao tai họa cho người dân Nga và các nước theo mô hình Cộng sản trên toàn thế giới. Nếu như trước đây, người Nga kỷ niệm cả ngày Stalin chết, thì ngày hôm nay, người Nga thấy Tổng thống Nga Vladimir Putin, tham dự một buổi lễ theo nghi thức Giáo hội Chính thống giáo Nga ở Butovo, tưởng niệm các nạn nhân của Stalin.
Nếu như trước đây, Stalin được tôn sùng như một lãnh tụ vĩ đại không chỉ của người Nga, mà của toàn thế giới cộng sản – Đến mức Tố Hữu từ Việt Nam đã có những câu thơ về cái chết của ông ta đến nay đang được lưu truyền như những câu chuyện cười về thói xu nịnh ở tầm vĩ mô – thì ngày nay, Nga tuyên bố Stalin là một tội đồ, một kẻ khát máu đã từng ra lệnh thảm sát hàng vạn người, điển hình là hàng chục ngàn sỹ quan Ba Lan đã bị ông ta ra lệnh giết tại rừng Katyn.
Những nước khác, những kỷ niệm nếu có, chỉ là những cuộc tập trung, truyền thông để nhắc nhở nhân loại về một thời kỳ kinh hoàng, đau thương đẫm máu, nước mắt và con người bị biến dạng dưới thời kỳ Cộng sản cai trị.
Thậm chí, đúng ngày đó, Tổng thống Mỹ Donal Trumph đã quyết định lấy ngày 7/11 hàng năm là ngày tưởng niệm các nạn nhân Cộng sản mà con số được thống kê ít nhất là là hàng trăm triệu người bị giết hại.
Vẻ vang thế, cao đẹp thế, sáng ngời vậy sao không kỷ niệm?
Khéo dư nước mắt?
Thế nhưng, hẳn là ngay cả Tổng thống Nga Vladimir Putin cho đến người dân thường của Nga sẽ hết sức sửng sốt, giật mình khi biết tin rằng tại một góc trời Đông Nam Á xa xôi, vẫn có một nhóm người đang cầm quyền quyết theo đuổi đường lối bạo lực và cướp bóc, theo đuổi chủ nghĩa vô thần, khủng bố và sát hại chính người dân mình theo mô hình xô viết, đã tưng bừng kỷ niệm “sự kiện” mà không ai có lương tri trên thế giới muốn nhớ lại.
Cả hệ thống chính trị Việt Nam đã có những phát ngôn mà người dân nghe đến chỉ thấy một cảm giác… buồn cười. Hãy nghe những lời mà người dân gọi là “Ngáo đá” từ miệng quan chức Cộng sản Việt Nam về sự kiện này:
Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị – một sản phẩm đặc trưng của thời kỳ Cộng sản xô viết – nói về Cách mạng tháng 100 Nga như sau: “Sau 100 năm lý tưởng cao đẹp và những giá trị to lớn của cách mạng Tháng Mười Nga là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội vẫn luôn tỏa sáng, vẫn luôn là nguồn động lực thôi thúc và khơi dậy tinh thần cách mạng của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới, trong đó có nhân dân Việt Nam”.
Vâng, nó cao đẹp, nó giá trị, nó ưu việt, nó tỏa sáng như thế nào, thì cả thế giới đã biết và họ đã trả lời bằng hành động cụ thể.
Nguyễn Phú Trọng, TBT Đảng CSVN: “Sau 100 năm lý tưởng cao đẹp và những giá trị to lớn của cách mạng Tháng Mười Nga là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội vẫn luôn tỏa sáng, vẫn luôn là nguồn động lực thôi thúc và khơi dậy tinh thần cách mạng của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới, trong đó có nhân dân Việt Nam”.
Vâng, nó giá trị, nó to lớn, cái hành vi thành lập bè đảng vì “Không có gì để mất mà được thì được tất cả” thì chỉ có lũ cướp ngày mới đưa lên thành lý tưởng mà thôi.
Ma đưa lối, quỷ dẫn đường
Lẽ nào đám quan lại cộng sản Việt Nam như Nguyễn Phú Trọng, Võ Văn Thưởng không có mắt để mà nhìn, không có não để mà suy? Hay là cả thế giới đều ngu, chỉ có mỗi bộ sậu đảng Cộng sản Việt Nam mới đủ thông minh để nhìn thấy điều đó?
Người ta buồn cười, người ta thắc mắc chỉ vì có phải cái tư duy cổ hủ, cái suy nghĩ cứng nhắc đã đóng đinh trong những bộ não xơ cứng này nên không thể tiếp nhận thêm thông tin?
Hay chỉ vì miếng cơm, manh áo hoặc những đống tiền của, xương máu người dân bị hút sạch bằng quyền lực được tạo ra từ những chiếc ghế ngồi mà chân ghế là đầu, là cổ người dân Việt Nam do chính cái Chủ nghĩa vô thần, vô nhân bản, vô đạo đức, vô luân vô pháp mang tên Chủ nghĩa Cộng sản đã đem lại cho họ?
Có lẽ, hầu hết đều nghiêng về yếu tố thứ hai này.
Thực ra, trong thời đại ngày nay, khi mà thông tin đã đến mọi ngõ ngách, tận rừng sâu thì những lời lừa bịp trên không còn bịp được ai.
Nhưng họ không thể thay đổi mà nói khác đi. Chỉ đơn giản là lấy gì để mà lừa bịp tiếp?
Kể từ sau khi hệ thống Cộng sản thế giới sụp đổ, đảng CSVN như người bị ném ra khỏi cộng đồng và bơ vơ giữa rừng. Họ không biết bấu víu vào đâu để có thể tồn tại theo bản năng lệ thuộc và được che chở bởi đàn anh. Trong cơn khủng hoảng toàn diện về mọi mặt từ lý luận, thực tiễn, nhân sự và tổ chức, đảng Cộng sản VN đã hết sức lúng túng trong hướng đi và hoảng hốt lo lắng cho sự tồn tại của mình.
Để tiếp tục bám víu lấy một thể chế vốn đem lại cho họ chỉ có lợi ích mà chẳng mất mát gì, họ đã tìm mọi cách chèo kéo, gắng gượng để giữ lấy cái mà họ đã cướp được: Chính quyền.
Sau khi cái gọi là Lý tưởng Cộng sản đã bị chính họ bôi đen và xé nát bằng những hành động của mình, thần tượng Lenin, Stalin đã hiện nguyên hình là những tội đồ khát máu, họ vội vàng dựng lên cái gọi là “Tư tưởng Hồ Chí Minh”.
Tuy nhiên, cái gọi là tư tưởng này đã nhanh chóng bị những học giả, những nhà nghiên cứu vạch rõ rằng chỉ là món “lẩu thập cẩm” được cóp nhặt, suy diễn và bịa đặt nhằm tạo ra một bóng ma, một biểu tượng, một hình nộm nhằm dẫn đàn cừu dân Việt cúi mặt đi theo.
Cũng chính trong sự hoảng loạn ấy, mà Đảng CSVN đã bí mật tìm kiếm cái phao cứu hộ cho sự tồn tại của mình ở người anh cả là ĐCS Trung Cộng, bất chấp đó cũng là một ổ Mafia công khai vốn vẫn mang nặng tư tưởng bành trướng từ ngàn đời như chính ĐCSVN đã xác nhận trước đó. Cũng vì thế mà cái gọi là “Mật ước Thành Đô” đang bị người dân nghi ngờ là một mật ước bán nước thì đảng vẫn giấu hơn cả mèo giấu… phân.
Chính vì thế mà lãnh thổ đất nước, quyền con người của người dân, truyền thống của cha ông ngàn năm dựng nước và đánh giặc giữ nước bị xé bỏ. Cho đến khi họ tổ chức đàn áp người dân yêu nước, rước giặc vào nhà ngang nhiên, thì Đảng CSVN hiện nguyên hình là một nhóm tay chân của ngoại bang trong cái gọi là Phong trào Cộng sản Quốc tế.
Và cứ thế, như cha ông đã nói:
Ma đưa lối quỷ dẫn đường
Cứ lần theo bước đoạn trường mà đi (Kiều)
Vì thế, không có gì lạ khi người Cộng sản Việt Nam cứ “dư nước mắt” để khóc cho tổ mối đã bị sụp đổ từ lâu.
Có một sự thật thú vị là đa phần người Việt Nam đều yêu mến văn hóa và đất nước Mỹ mặc dù hai quốc gia đã từng ở hai đầu chiến tuyến. Theo điều tra xã hội của Trung tâm Nghiên cứu Pew (Pew Research Center – PRC) công bố vào tháng 6 năm 2017, 84% số người Việt Nam được hỏi có thiện cảm với nước Mỹ, tăng 6 điểm phần trăm so với năm 2015.
Con số này ở các nước châu Á như Philippine, Hàn Quốc hay cả Nhật Bản cũng đều rất cao, nhưng Việt Nam thể hiện mức độ thiện cảm cao nhất lại là một điều khá bất ngờ.
Tôi quen biết nhiều người đang sinh sống và học tập ở Mỹ, tôi đã từng không thể hiểu nổi vì sao họ cứ sang Mỹ là lại muốn ở lại hoặc tìm kiếm công việc để có thêm nhiều thời gian trải nghiệm cuộc sống nơi đây hơn là trở về nước ngay sau khi kết thúc việc học. Cho đến khi được nghe nhiều chuyện về nước Mỹ từ những người em đang sinh sống ở đó và đích thân trải nghiệm trong một chuyến đi không quá dài, tôi mới dần cảm nhận được tinh thần Mỹ và giấc mơ Mỹ đã hấp dẫn bao người.
Chấp hành luật pháp là một phản xạ vô điều kiện
Người duy nhất không phải là tổng thống được in hình trên đồng đô-la khi được hỏi: “Ngài đã để lại cho chúng tôi những gì?”, Benjamin Franklin – một trong bảy “người cha lập quốc” đã trả lời: “Một nền Cộng hòa, thưa bà, nếu bà và con cháu bà có thể bảo vệ được nó”. Cộng hòa tiếng Latinh là Respulica bao gồm Res (điều, thứ) và Pulica (của chung, công cộng). Hai từ gộp lại có nghĩa là điều của chung, trong nền Cộng hòa, điều của chung này chính là luật pháp. Những nhà lập quốc của nước Mỹ có một cơ hội kiến tạo hình thức chính phủ tùy ý, nhưng những bài học từ lịch sử đã khiến họ lựa chọn cho người dân Mỹ một quốc gia cai trị bằng pháp luật trong một nền Cộng hòa, chứ không phải cai trị bằng số đông trong một nền Dân chủ.
Benjamin Franklin (17 tháng 01 1706 – 17 tháng 4 1790) là một trong những người thành lập đất nước nổi tiếng nhất của Hoa Kỳ. Ông là một chính trị gia, một nhà khoa học, một tác giả, một thợ in, một triết gia, một nhà phát minh, nhà hoạt động xã hội, một nhà ngoại giao hàng đầu.
Chính vì thế khi tới Mỹ, dù không cần quá lâu, bạn sẽ bị ấn tượng rằng người dân ở đây có tinh thần tuân thủ pháp luật rất cao, thậm chí theo nhiều người Việt thì còn là hơi máy móc và “kỳ quặc”. Trong tự sự về “Trải nghiệm của một người Việt ‘khùng điên’ ở Mỹ”, anh Misha Doan đã kể về câu chuyện tưới cây đầy “gian truân” của mình. Chả là chủ công ty của ông là Việt Kiều đã lớn tuổi, sống ở Mỹ 10 năm , thi thoảng nhắc anh tưới cho các cây xanh trong khuôn viên văn phòng. Nhưng vị quản lý trẻ tuổi gốc Việt sinh ra ở Mỹ lại không đồng ý vì California đang vào mùa hạn hán, chính quyền kêu gọi người dân tiết kiệm nước sinh hoạt, mỗi ngày chỉ được tưới cây từ khoảng thời gian từ 5 giờ chiều đến 8 giờ sáng.
Ông chủ thì nói cứ tưới đi, ai biết đâu, trong khi vị quản lý nhất quyết là không cho vi phạm luật. Nhưng nếu đợi sau 5 giờ chiều mới tưới thì quá giờ làm việc và anh Doan không thể ở lại làm thêm giờ chỉ để tưới cây. Cuối cùng công ty đã tìm ra một sự thỏa hiệp bằng cách cho anh Doan đi làm trễ 1 tiếng, về trễ 1 tiếng để kịp tưới cây cho đúng Luật. Như vậy họ đã không vi phạm Luật Lao động cũng như Luật tiết kiệm nước của tiểu bang.
Những tình huống quá mới mẻ với người Việt lần đầu sang Mỹ như vậy không phải là hiếm. Các tay lái người Việt vượt đèn đỏ, rẽ không bật đèn xi nhan thường sẽ được gắn mác “chắc là mới sang” ngay trong cộng đồng những người Việt ở đây. Tôi đã từng sống trong cộng đồng người Việt ở các nước châu Âu, họ dù sang đó sinh sống đã hai chục năm, đã có quốc tịch nước sở tại nhưng tính cách “đại khái”, coi thường luật pháp còn khá nhiều, biểu hiện qua cách buôn bán lách luật và lối sống “khác biệt” so với dân bản địa. Nhưng ở Mỹ, chính cộng đồng những người sinh sống lâu năm sẽ nhắc nhở và chỉ cho những người mới đến rằng, họ phải tuân thủ luật pháp và điều đầu tiên khi trở thành công dân Mỹ là phải tuân thủ luật pháp.
Theo anh Doan, nước Mỹ không phải xứ sở thần tiên nhiệm màu, nhưng hầu như ai qua Mỹ cũng được thay đổi theo chiều hướng hoàn thiện hơn. Và một trong những điểm tích cực đó là tính tự giác và tôn trọng Luật pháp. Do luật pháp Mỹ rất khắt khe và công bằng nên bạn sẽ có ý thức phải tuân thủ, dần dà hình thành thói quen. Và khi đã trở thành thói quen tốt, một phản xạ vô điều kiện thì hành vi của bạn một cách vô thức cũng sẽ trở nên có lợi cho cộng đồng hơn.
“Bản thân tôi bây giờ không thể vứt rác bừa bãi, không phải vì sợ bị phạt hay bị chỉ trích, mà bởi thành một thói quen không thể thay đổi”, anh Doan chia sẻ. Chính tôi khi quay trở về Việt Nam cũng khiến nhiều người thân đi cùng mình cảm thấy khó chịu khi tôi cứ nhất quyết phải qua đường ở vạch sang đường. Mặc dù ở Việt Nam tỷ lệ bạn bị phạt khi sang đường không đúng nơi quy định là rất thấp, vì thế tôi không phải là sợ bị phạt, mà đơn giản vì nó đã trở thành thói quen.
Dù bạn ở bất cứ quốc gia nào nếu muốn nhập cư ở Mỹ thì điều đầu tiên khi trở thành công dân Mỹ là phải tuân thủ luật pháp. Ảnh dẫn theo tintucmy.net
“Chúa phù hộ nước Mỹ!” và “Năng lực vĩ đại đi kèm với trách nhiệm vĩ đại”
Người Mỹ có một niềm tin mãnh liệt vào Chúa và nó mãnh liệt hơn bất kỳ quốc gia phương Tây nào khác. Bạn sẽ hiếm khi nào nghe các lãnh đạo ở các quốc gia có tỷ lệ dân theo đạo Thiên Chúa cao nào nói “Chúa phù hộ bạn”, nhưng đó là một câu nói được nghe thường xuyên ở Mỹ từ người dân cho tới lãnh đạo.
Năm 1954, bản tuyên thệ dưới cờ được bổ sung thêm cụm từ “One Nation, Under God” (tạm dịch: Một quốc gia dưới Chúa). Năm 1956, “In God, We Trust” (tạm dịch: Chúng ta tin vào Chúa) trở thành tiêu ngữ quốc gia của Mỹ mà bạn sẽ dễ dàng đọc thấy trên mỗi tờ tiền đô-la.
Chẳng có một chính phủ nào trên thế giới lại có “Bữa sáng cầu nguyện toàn quốc”, một sự kiện thường niên được tổ chức vào ngày thứ Năm đầu tiên của tháng Hai tại Washington, D.C. Hàng năm, có khoảng 3.500 khách mời từ hơn 100 quốc gia tới tham gia sự kiện. Các vị khách mời bao gồm giới chính khách, giới doanh nhân, và những người có tầm ảnh hưởng rộng lớn trong xã hội. Kể từ thời Tổng thống Eisenhower tới nay, tất cả các tổng thống Mỹ đều tham dự sự kiện thường niên này.
Trong mắt người Mỹ, họ là con dân của Chúa. Nước Mỹ được thành lập dựa trên cơ sở: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Nhân dân không thuộc về chính phủ mà thuộc về Chúa. Chính phủ không phải là khái niệm cao cả và quyền lực nhất, Chúa mới là người quyền lực nhất. Tổng thống Donald Trump trong bài phát biểu nhân ngày Độc lập đã nhấn mạnh: “Ở Mỹ, chúng ta không tôn kính chính phủ, chúng ta tôn kính Chúa”.
Vì chính phủ cũng là bên dưới Chúa nên họ chẳng có quyền lợi gì cao cả hơn nhân dân. Thậm chí với trí tuệ và khả năng vượt trội hơn mọi người, lãnh đạo và nhà nước phải có trách nhiệm cao hơn trước Chúa, đó là trách nhiệm bảo hộ và làm quốc gia thịnh vượng, vững mạnh hơn.
Và triết lý này còn thể hiện ở ngay cả trong những bộ phim anh hùng bom tấn của Hollywood. Anh hùng khi có được sức mạnh và năng lực siêu nhiên, thì họ phải có trách nhiệm với năng lực đã được ban cho đó. “A great power comes with great responsibilities” (tạm dịch: Năng lực vĩ đại đi kèm với trách nhiệm vĩ đại) là câu nói được lấy làm tư tưởng chủ đạo của bộ phim Người Nhện. Ở Mỹ, trẻ em được dạy ngay từ khi còn nhỏ rằng, Chúa ban cho ai đó sức mạnh thì đó không chỉ đơn giản là một món quà miễn phí mà đi kèm theo là sứ mạng cải tạo và giúp đỡ xã hội, cộng đồng.
Một trong những gia tộc Mỹ giàu có nhất trong hơn một thế kỷ – Rockefeller đã trải qua hơn ba đời giàu có, hưng thịnh. Họ nổi tiếng bởi sự hào phóng và có trách nhiệm với xã hội cũng bởi một tâm niệm rằng: Người giàu chỉ là người được Chúa ủy thác quản lý tài sản mà thôi, họ được trao cho món quà là để quay lại giúp đỡ xã hội.
Triết lý năng lực đi kèm với trách nhiệm này không những chi phối nhân sinh quan của người Mỹ mà thể hiện rõ ràng trong chính sách đối ngoại của quốc gia này. Người Mỹ tin rằng đất nước họ được trao cho vị thế là cường quốc trên thế giới là vinh diệu mà Chúa ban cho họ, vì thế người Mỹ phải hành động để cải tạo thế giới.
Nhiều người không hiểu vì sao nước Mỹ cứ đem quân can thiệp khắp nơi, đánh giá nhân quyền các nước và “nhúng tay” vào mọi vấn đề của thế giới. Tại sao Mỹ luôn đứng đầu danh sách cứu trợ người nghèo Châu Phi và những nơi có thảm họa, thiên tai. Tại sao Mỹ phải viện trợ lương thực cho dân Bắc Triều Tiên, nơi mà lãnh đạo của họ luôn đe dọa bắn tên lửa vào Nhà Trắng… Bởi Mỹ luôn cố gắng để xứng đáng với vai trò số một thế giới, vị thế đã được Thượng Đế ban cho.
Vì thế, không phải chỉ là một lời nói theo thói quen, những câu cuối cùng trong bài diễn văn nhậm chức của Tổng thống Donald Trump là: “Chúa phù hộ các bạn! Và Chúa phù hộ nước Mỹ!”.
Tổng thống Donald Trump trong lễ tuyên thệ nhậm chức.Bài phát biểu nhân ngày độc lập Tổng thống đã nhấn mạnh: “Ở Mỹ, chúng ta không tôn kính chính phủ, chúng ta tôn kính Chúa”. Ảnh dẫn theo todayonline.com
Nền văn hóa có sức dung nạp cao
Hầu như mọi người dân nhập cư khi đến Mỹ đều vì một “Giấc mơ Mỹ”. Một khái niệm nổi tiếng của riêng nước Mỹ, đó là niềm tin về một miền đất tự do, nơi ai cũng có thể theo đuổi những mục tiêu của mình bằng sự nỗ lực và lựa chọn tùy ý.
Nhà văn kiêm sử gia James Truslow Adams đã lần đầu tiên mô tả “Giấc mơ Mỹ” trong cuốn Epic of America (tạm dịch: Thiên Anh Hùng Ca Hoa Kỳ): “…Nó không phải là một giấc mơ về chiếc xe hơi hay đơn thuần là tiền lương cao, mà là một giấc mơ về trật tự xã hội trong đó mọi người đàn ông và đàn bà đều có thể đạt được tầm vóc đầy đủ tùy theo khả năng bẩm sinh của mình, và được những người khác công nhận vì những gì của chính họ, không phân biệt môi trường hoàn cảnh sinh ra hay địa vị ngẫu nhiên của họ”.
Arnold Schwarzenegger từ một người nhập cư vô danh nói tiếng Anh không sõi đã trở thành diễn viên phim hành động nổi tiếng và thống đốc bang California. Ông nội của Tổng thống Trump từ Đức tới Mỹ với một chiếc vali duy nhất năm 16 tuổi, không một xu dính túi và phải bắt đầu bằng công việc thợ cắt tóc. Mười bốn năm sau, ông trở thành ông trùm bất động sản và từ đó là lịch sử sáng lạng của gia đình Trump. Chỉ có ở trên đất Mỹ, những người không có bằng cấp, tiểu sử ấn tượng mới có thể thành công một cách không tưởng. Một anh chàng bán băng đĩa vì có đam mê và am hiểu phim võ thuật nảy ra ý tưởng về một bộ phim pha trộn tất cả các thể loại võ thuật và viết kịch bản. Anh ta đi bán ý tưởng và bộ phim dựa trên kịch bản đó – Kill Bill đã trở nên nổi tiếng không ngờ. Ở một nơi khác, ngoài nước Mỹ, có lẽ anh ta sẽ vẫn mãi là một người bán băng đĩa.
Xã hội Mỹ rộng mở và công bằng, ai cũng có thể tìm được chỗ đứng cho mình, thoải mái theo đuổi đam mê mà không có bất cứ ai cản trở. Chỉ cần làm đúng theo luật pháp, bạn không cần phải chạy chọt, đi cửa sau cho bất kỳ quan chức nào nếu muốn làm kinh doanh chính đáng. Chỉ cần một bản kế hoạch đủ thuyết phục và đến ngân hàng trình bày, bạn có thể được đầu tư để khởi nghiệp dù là dự án nhỏ hay to.
Người Mỹ không quan tâm tôn giáo của bạn là gì hay bạn đến từ đâu. Nếu bạn có khả năng, họ sẽ rót vốn đầu tư cho bạn. Nếu bạn có ý tưởng để thay đổi xã hội, họ sẽ góp tiền cho bạn. Bạn có công trình nghiên cứu hàn lâm khả thi, dù thời gian có lâu, họ cũng sẽ cấp tiền cho bạn. Chính vì tinh thần trọng dụng này nên Mỹ trở thành một cục nam châm thu hút nhân tài. Hàng năm, dòng nhân lực chất lượng cao vẫn ùn ùn đổ về Mỹ và rất nhiều những thương hiệu lớn trên thế giới đều được khai sinh từ đây.
Người Mỹ rất cởi mở với những ý tưởng và họ sẵn sàng chia sẻ. Khi họ thất bại, họ cũng sẽ chia sẻ điều đó mà không ngại ngần, giữ thể diện. Vì tinh thần chấp nhận sự thất bại đó nên các doanh nhân Mỹ không hề cảm thấy nhục nhã khi thất bại. Và chính bởi không ngại nên họ sẽ làm lại cho tới khi thành công. Người Mỹ rất ngưỡng mộ những người thành công, họ coi những tỷ phú là những cảm hứng để họ phấn đấu chứ không so bì, ghen tức với người giàu và nổi tiếng. Thành công là một thứ được khuyến khích và chấp nhận, cốt là bạn làm ngay chính.
Nước Mỹ không phải là thiên đường, cũng không phải là địa ngục. Nước Mỹ là một nơi dành cho những trái tim can đảm. – (Phim ‘Người Bắc Kinh ở New York’)
Mỹ không phải là một xã hội kim tiền
Là một đất nước khuyến khích công dân làm giàu, phát triển sự nghiệp cá nhân nhưng nước Mỹ không phải là một xã hội kim tiền. Phần lớn người Mỹ cho rằng, những người giàu có có nghĩa vụ giúp đỡ xã hội, bởi vì họ sở hữu và nắm giữ lượng lớn tài sản của quốc gia. Bởi sự giàu có, thành đạt đều là do Chúa ban cho, nên năng lực lớn luôn đi kèm với trách nhiệm lớn. Từ nhỏ, trẻ em Mỹ đã được dạy về tầm quan trọng của công việc tình nguyện và thiện nguyện. Rất nhiều người Mỹ lựa chọn tham gia công tác từ thiện, dạy học, y tá, cứu viện khẩn cấp và công tác xã hội trong các tổ chức phi chính phủ trên toàn cầu. Cũng có rất nhiều gia đình Mỹ nhận nuôi những đứa trẻ bất hạnh từ các quốc gia khác.
“Ở nơi công cộng nếu gặp được một vị tỷ phú nào đó, bạn thậm chí có thể trực tiếp đến bắt chuyện, nói với họ rằng mình đang gặp phải khó khăn về học phí, rất mong nhận được sự giúp đỡ”, cô Pauline Kelly – nữ nhà văn, giáo sư ngôn ngữ học cho biết. “Thông thường, họ sẽ không từ chối yêu cầu của bạn. Họ sẽ chỉ cho bạn cách liên lạc với trợ lý hoặc quỹ từ thiện, mong bạn hãy tiếp tục giữ liên lạc với họ”. Đây là lối hành xử khiến nhiều người nước ngoài đến Mỹ cảm thấy không thể giải thích nổi.
Tại các thành phố Mỹ cũng có những người dân lang thang ăn xin, không phải là không có trại xã hội cho họ sống mà là họ thích sống ngoài đường. Có một Việt kiều kể rằng, cách đây hơn 10 năm có một trận tuyết rơi rất dày ở New York và nhiệt độ hạ thấp vào đêm Giáng sinh. Thị trưởng thành phố ra lệnh mở tòa thị chính và tất cả bệnh viện đón người lang thang vào trú rét. Các bác sĩ cũng được điều động tới khám cho dân lang thang và thậm chí sau đó còn bưng cà phê nóng tới cho họ. Qua mùa rét năm đó, dân vô cư ở New York tụ tập tổ chức một buổi mít-ting lớn. Họ cử đại diện ăn mặc lịch sự ra phát biểu trước công chúng cảm ơn chính quyền thành phố đã cứu họ khỏi chết cóng. Một câu chuyện mang đậm tính cách hóm hỉnh mà hiện thực kiểu Mỹ, những tưởng chỉ có thể thấy trên phim Hollywood.
Một đất nước văn minh luôn có những con người có trái tim chân thành. Ảnh dẫn theo nypost.com
Nói tới phim ảnh, ấn tượng đầu tiên của tôi khi tới đất Mỹ là người dân ở đây có cách nói chuyện, phản ứng hệt như trên các bộ phim Hollywood mà tôi vẫn thường xem. Động tác hình thể, ánh mắt, phản ứng trên khuôn mặt, cách nói tiếng Mỹ đầy màu sắc, và đặc biệt là nụ cười Mỹ. Anh chàng lái xe đón tôi từ sân bay là người Mỹ đen, trông như dân Hip hop. Suốt cả chặng đường anh ta nói chuyện và chỉ cho tôi những điều đặc biệt ở New York, anh cười rất nhiều và muốn tôi có ấn tượng tốt trong lần đầu tiên đặt chân lên đất Mỹ mặc dù bản thân đang bị ốm. Có thể nói, anh ấy đã thành công, bởi cho tới bây giờ tôi vẫn nhớ nụ cười ấy, rất tươi sáng và chân thành.
Những chuyện người Mỹ giúp đỡ bạn dù không hề quen biết thì không có gì mới mẻ. Xách hộ đồ nặng lên tầng nhà không có thang máy, cho bạn đi nhờ xe một đoạn dài mà thậm chí họ không thuận đường… Tôi còn nhớ câu chuyện đọc đâu đó về hai vợ chồng già người Việt được một người Mỹ sửa chiếc lốp xe giữa trời nắng nóng, trên cung đường vắng vẻ, mồ hôi nhễ nhại mà không hề nề hà. Lúc sửa lốp xong bà nói “Lời cảm ơn của tôi có lẽ không đủ để đáp lại lòng tốt của ông. Tôi biết làm gì cho xứng đây?”. Người đàn ông Mỹ cười và nói: “Chị hãy giúp đỡ những người khác như tôi đã giúp chị hôm nay. Đó là cách cảm ơn tôi tốt nhất”. Những lời nói của người đàn ông này in đậm trong tâm trí của bà và đã thôi thúc bà không ngừng làm việc thiện.
Sau khi ở Mỹ một thời gian, một ni sư người Việt ở California chứng kiến quá nhiều việc tốt khiến bà suy nghĩ. Bà chia sẻ với một Việt kiều khác rằng: “Hóa ra ở đây có rất nhiều người tâm Phật con à, mặc dù phần lớn họ không theo đạo Phật”. Và có vẻ đúng như anh Misha Doan chia sẻ, ai ở Mỹ về cũng đều hoàn thiện hơn theo hướng tích cực. Khổng Tử đã từng nói rằng: “Ở chung với người thiện như vào nhà có cỏ chi lan, lâu mà mà chẳng thấy mùi thơm, tức là mình cũng đã hóa ra thơm vậy”.
Người Mỹ hay bị mang tiếng là thực dụng, nhưng sống với họ bạn sẽ phải học cách sống “thực dụng” của họ, hoặc là bạn sẽ phải thay đổi khái niệm này, từ thực dụng sang thực tế.
Như một người dùng Facebook có tên Vien Huynh đã chia sẻ về sự thực tế của người Mỹ: “Sống thực tế là hiểu rõ thực trạng cuộc sống, không mơ mộng hão huyền hay tìm cách trốn tránh thực tại. Sống thực tế là hiểu rõ năng lực và giá trị thực của bản thân để có thể phát huy tốt nhất khả năng của mình.
Còn sống thực dụng là bất chấp thực tế, bất chấp năng lực thực sự của mình ra sao mà chỉ chăm chăm giành được cái lợi nhỏ trước mắt, ngoài ra mặc kệ hậu quả sau này nghiêm trọng thế nào”.
Hình ảnh tượng trưng một người đang sử dụng mạng xã hội trên điện thoại di động.
AFP
Việt Nam sẽ thụt lùi khi không còn Google và Facebook?
00:29/07:09
Theo Điều 43, khoản 4 trong Dự thảo Luật an ninh mạng của Việt Nam thì Google, Facebook, Youtube…phải có giấy phép hoạt động, đặt cơ quan đại diện và máy chủ quản lý tại Việt Nam.
Dư luận đặc biệt quan tâm nếu như Dự thảo này được thông qua đến mức đẩy các tập đoàn công nghệ thông tin lớn rút khỏi Việt Nam thì viễn ảnh quốc gia sẽ thế nào?
70% dân số Việt Nam sử dụng
“Google như mọi người đều biết là một cỗ máy tìm kiếm thông tin khổng lồ. Sinh viên, Giáo sư và gần như tất cả mọi người đều cần tra cứu thông tin trên internet hết. Hay Facebook cũng vậy, đây là nơi để có thể trao đổi thông tin. Và ai cũng biết trong thời đại bây giờ thì thông tin là tiền bạc. Cho nên chúng ta mất đi cỗ máy tìm kiếm như vậy thì tôi nghĩ thiệt hại sẽ rất lớn.”
Cựu tù nhân lương tâm, Thạc sĩ Công nghệ thông tin Nguyễn Tiến Trung ngay tức khắc trả lời như vừa nêu, trước câu hỏi của RFA rằng Việt Nam sẽ bị thiệt hại gì trong trường hợp các tập đòan công nghệ truyền thông của nước ngoài được dân chúng sử dụng phổ biến không tuân thủ theo luật định và rời bỏ thị trường Việt Nam.
Đài Á Châu Tự Do ghi nhận Google, Youtube và mạng xã hội Facebook lần lượt là 3 trang web được nhiều người truy cập nhất trên thế giới, kể từ tháng Chín năm 2016. Trong đó, có đến 64 triệu người đăng ký tài khoản Facebook tại Việt Nam, chiếm 3% trên tổng số 2 tỷ thành viên sử dụng mạng xã hội này, theo số liệu của tổ chức We Are Social tổng hợp tính đến cuối tháng 7 năm 2017. Tờ Thời báo Châu Á, hồi đầu tháng 10 vừa qua, trích dẫn thông tin từ ông Khôi Lê, người đứng đầu Cơ quan Tiếp thị Khách hàng của Việt Nam cho biết 92% số người sử dụng mạng xã hội ở Việt Nam thực hiện việc mua hàng trực tuyến và 51% trong số đó mua hàng qua thiết bị điện thoại thông minh (smartphone).
Google như mọi người đều biết là một cỗ máy tìm kiếm thông tin khổng lồ. Sinh viên, Giáo sư và gần như tất cả mọi người đều cần tra cứu thông tin trên internet hết. – Thạc sĩ Nguyễn Tiến Trung
Có thể nói với tỉ lệ xấp xỉ 70% dân số Việt Nam là cư dân mạng, thì mọi sinh hoạt liên quan đến xã hội, giáo dục, kinh tế, giải trí…của dân chúng ở trong nước luôn gắn liền và đồng hành cùng sự phát triển mạnh mẽ của các mạng xã hội toàn cầu trong thế giới phẳng. Một ví dụ điển hình mới nhất cho thấy lợi ích kết nối cộng đồng nhanh chóng và hiệu quả mà dư luận quan tâm là một cư dân mạng tại Sài Gòn, dùng Facebook kêu gọi cứu giúp người hàng xóm của mình đang bị kẹt trong lũ ở tận huyện miền núi Nông Sơn, Quảng Nam vào thời thời điểm bão số 12 quét qua và lời kêu gọi gọi lan tỏa với kết quả được đăng tải trên mạng xã hội không lâu sau đó, kèm hình ảnh chính quyền địa phương đã đưa ghe đến cứu người vào nơi trú ẩn an toàn.
Mặc dù thừa nhận vai trò quan trọng của các tập đoàn công nghệ truyền thông nước ngoài trong đời sống hiện đại tại Việt Nam, tuy nhiên Chính phủ Hà Nội từng yêu cầu Google và Facebook hợp tác can thiệp vào việc gỡ bỏ những tài khoản, video hay những tài liệu mà chính quyền cho là mang nội dung xấu, bôi nhọ Đảng và Nhà nước, xúc phạm nhân phẩm người khác…
Trong khi đó, các tổ chức nhân quyền quốc tế, những năm gần đây, liên tục lên tiếng chỉ trích nhà cầm quyền Hà Nội đã có một bước lùi về nhân quyền do kiểm soát gắt gao quyền tự do thông tin, tự do biểu đạt trên internet của người dân qua việc dùng các đạo luật mơ hồ như Điều 79, 88 và 258 Bộ luật Hình sự Việt Nam để bắt bớ và bỏ tù hàng loạt công dân vì họ sử dụng mạng xã hội để phản biện hay thực hiện quyền tự do ngôn luận của mình.
Cho đến thời điểm hiện tại, thông tin cụ thể về sự đồng ý hợp tác can thiệp theo yêu cầu của Chính phủ Việt Nam vẫn chưa được Google và Facebook công bố chính thức cũng như hai tập đoàn công nghệ truyền thông khổng lồ này chưa lên tiếng gì liên quan điều kiện ràng buộc theo quy định trong Dự thảo Luật an ninh mạng, đang khiến cho hàng triệu người tại Việt Nam lo lắng.
Thụt lùi trong thời đại khoa học-công nghệ 4.0?
Biểu tượng facebook trên điện thoại di động. AFP
Trong một cuộc phỏng vấn video do RFA thực hiện tại thành phố Sài Gòn, một sinh viên đại học đáp câu hỏi của chúng tôi rằng nếu bỗng dưng không còn Facebook hay Google…ở Việt Nam thì sinh hoạt thường nhật của bạn bị ảnh hưởng:
“Nếu mà nó biến mất thì sẽ rất là bất tiện. Một ngày nào đó thức dậy mà vô trang Google tìm kiếm lại không thấy nó hiện diện nữa, thì muốn tìm kiếm một tài liệu nào đó để học tập sẽ cực kỳ khó khăn. Các nguồn đưa lên trên mạng sẽ không còn nữa và mình phải tự bỏ tiền ra mua sách hoặc là mua các bản photo mà không đảm bảo được chất lượng của những bản đó.”
Một bạn trẻ khác chia sẻ hệ thống thông tin làm việc gặp rất nhiều bất tiện:
“Theo mình nghĩ thì các tập đoàn lớn như MNC hiện tại trong Việt Nam thường xuyên trao đổi qua các kênh thông tin xã hội, chủ yếu là Gmail hay Outlook…Nếu Facebook với Google… rút khỏi Việt Nam thì sẽ gây tác động lớn đến công việc của người dân về trao đổi thông tin và giao tiếp.”
Số đông những người Đài RFA tiếp xúc khẳng địnhcác kênh thường xuyên sử dụng nhất như Google hay Facebook không còn ở Việt Nam thì toàn bộ quy trình làm việc trong các công ty bắt buộc phải chuyển qua sử dụng các thông tin, database khác lại từ đầu rất phức tạp. Thạc sĩ Nguyễn Tiến Trung còn nhấn mạnh:
Bây giờ Chính phủ kêu gọi phát triển kinh tế tri thức, tức là dựa vào tri thức và thông tin mà nếu Chính phủ để các tập đoàn công nghệ lớn rút đi thì rất dở cũng như gây ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế Việt Nam. – Thạc sĩ Nguyễn Tiến Trung
“Đối với tôi là một kỹ sư công nghệ thông tin, tôi thấy giả sử như việc Facebook hay Google rút khỏi Việt Nam thì thiệt hại rất lớn. Bây giờ Chính phủ kêu gọi phát triển kinh tế tri thức, tức là dựa vào tri thức và thông tin mà nếu Chính phủ để các tập đoàn công nghệ lớn rút đi thì rất dở cũng như gây ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế Việt Nam.”
Nhà báo Lê Ngọc Sơn, hiện là nghiên cứu sinh tiến sĩ ở Đức nêu lên quan điểm của ông trong một bài viết, đăng trên Báo mạng Dân Việt rằng Việt Nam phải đối mặt với sự tụt hậu nếu như thiếu đi Google và Facebook. Ông Lê Ngọc Sơn ghi rõ chúng không đơn thuần là các công cụ tìm kiến hay mạng xã hội mà còn là những hệ sinh thái công nghệ sử dụng trí thông tin nhân tạo (AI), là những tiến bộ vượt bậc trong sự phát triển công nghệ của loài người và trực tiếp hoặc gián tiếp tạo nên của cải cho xã hội.
Chúng tôi trình bày lại ý chính của tác giả Lê Ngọc Sơn vì Dân Việt đã gỡ bài viết xuống sau khi đăng tải.
Những ngày qua dư luận vẫn sôi nổi bàn thảo trên mạng xã hội và trên các fanpage của của nhiều tờ báo lớn như Tuổi Trẻ, Thanh Niên, VnExpress…rằng có khả năng rất cao Google và Facebook sẽ rời đi nếu như Dự thảo Luật an ninh mạng được thông qua với ràng buộc phải đặt máy chủ tại Việt Nam.
Không chỉ hàng trăm cư dân mạng hy vọng Chính phủ kiến tạo của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phú sẽ xem xét các điều kiện thông thoáng để các tập đoàn công nghệ thông tin như Google và Facebook tiếp tục hoạt động tại thị trường Việt Nam, mà cả Phòng Thương Mại-Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, thành viên Ủy ban Chính sách Phát triển Liên Hiệp Quốc đồng lên tiếng quan ngại Luật An ninh mạng, nếu được thông qua với những điều khoản không phù hợp, thì không chỉ tác động tiêu cực về kinh tế-xã hội và đầu tư nước ngoài mà còn vi phạm các cam kết đã được Chính phủ Việt Nam ký kết với quốc tế như Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-EU (EVFTA)
Tôi biết là có ngày tôi sẽ chết. Mặc dầu tôi không biết sẽ chết ngày giờ nào, nơi nào, cách nào.
Chắc chắn tôi phải chết. Đó là một chân lý hết sức rõ ràng và chắc chắn. Chân lý này, không ai dạy tôi. Nó nằm ngay trong con người của tôi.
Cái chết cũng là một biến cố đụng tới mọi người. Nó là một vấn đề chung. Vấn đề này được coi là hết sức quan trọng. Bởi vì nó đặt ra câu hỏi: Đâu là ý nghĩa cuộc sống? Cuộc đời đi về đâu? Bên kia sự chết có gì không?
Câu trả lời theo lý thuyết có thể tìm được trong nhiều sách, nhất là sách đạo. Nhưng câu trả lời theo cảm nghiệm sẽ thường chỉ hiện lên một cách sống động, khi ta ở bên cạnh những người sắp chết, hoặc chính ta đã có lần thập tử nhất sinh.
Những lúc đó, câu trả lời sẽ không phải là một kết luận lạnh lùng của triết học hay của giáo lý. Nhưng sẽ là cái gì linh thiêng thăm thẳm chứa trong những cảm tình, cảm xúc, cảm động, cảm thương, khi hiện tượng sự chết rập rình sát tới.
Những hiện tượng khác thường nơi người sắp chết rất đa dạng. Có thể là những lo âu sợ hãi, những khắc khoải đợi chờ, những nắm bắt bâng khuâng, những ngóng trông mệt mỏi, những cái nhìn xa xăm. Cũng có thể là những bất bình tức giận, những chán nản phiền muộn, những buông xuôi tiếc nuối, những phấn đấu tuyệt vọng. Cũng có thể lại là những ăn năn đầy bình an toả sáng, mang dấu ấn của một nghị lực thiêng liêng và một tin tưởng đến từ cõi đời đời.
Tất cả những hiện tượng như thế phản ánh những trực cảm nội tâm: Đã tới lúc vĩnh biệt. Đã tới lúc ra đi. Đã tới lúc phải bỏ lại tất cả. Đã tới lúc phải trực diện với lương tâm. Lương tâm hỏi về trách nhiệm: Trách nhiệm làm người nói chung và trách nhiệm làm con Chúa nói riêng.
Trước đây, có nhiều điều về trách nhiệm đã lẩn trốn lương tâm. Nhưng lúc con người sắp chết, những điều lẩn trốn đó sẽ trở về trình diện rất nghiêm túc.
Tôi có cảm tưởng là người sắp chết lúc đó sẽ nhận ra: Sự sống của mình là một quà tặng Chúa ban. Ơn gọi được làm con Chúa càng là một ân huệ quí báu Chúa trao cho nhưng không. Chúa ban sự sống và ơn làm con Chúa, để mình phát triển mình, và những người xung quanh trong những chặng đường lịch sử nhất định. Sự phát triển sẽ tuỳ ở ơn Chúa, nhưng cũng tuỳ thuộc vào sự tự do và tinh thần trách nhiệm của mỗi người.
Thực tế cho thấy là đã có những phát triển đạo đức, và trái lại cũng có những phát triển tội lỗi. Với những phát triển tốt, người sắp chết cảm thấy được an ủi, coi như nhiệm vụ được trao đã phần nào hoàn thành.
Trái lại nếu thấy những phát triển của mình là xấu, nhiệm vụ được trao đã không hoàn thành, họ sẽ không thể không sợ hãi. Bởi lẽ hậu quả sẽ vô cùng quan trọng. Vì chết là bước sang cõi đời sau với hai ngả: thiên dàng và hoả ngục. Mà hai ngả này đều rất rõ ràng công minh.
Vì thế, nói cho đúng, vấn đề đặt ra cho ta về cái chết sẽ không phải là sợ chết, mà là sợ chết dữ, chết mà sau đó không được lên thiên đàng, nhưng phải xuống hoả ngục.
Những tư tưởng trên đây thường nhắc nhủ tôi về ba chọn lựa này:
Hãy tiến về sự chết của mình như tiến tới một quãng phải vượt qua, để về với Cha trên trời.
Một khi nhìn sự chết của mình như thế, thì cuộc sống của mình cũng được hiểu theo hướng đó. Để đi đúng hướng về Cha trên trời, tôi chỉ có một đường phải chọn, đó là Chúa Giêsu Kitô. Người là đường, là sự thực và là sự sống (Ga 14,6). Đón nhận Người, lắng nghe Người, đi theo Người, bắt chước Người. Người là gương mẫu cho ơn gọi làm người và ơn gọi làm con Thiên Chúa. Điều quan trọng tôi sẽ hết sức quan tâm trong việc theo Chúa Giêsu sống ơn gọi, là phải phấn đấu thanh luyện mình, phải biết khiêm tốn quên mình, dấn thân sống theo ý Chúa, để được trở thành tạo vật mới. Nếp sống kiêu căng cần phải bị loại tận gốc. Nếp sống cầu nguyện khiêm nhường cần được thường xuyên phát huy.
Hãy tiến về sự chết của mình như người được sai đi truyền giáo, mong trở về với Đấng sai mình.
Sống như người truyền giáo và chết như người truyền giáo. Truyền giáo một cách cụ thể ở địa phương này, ở thời điểm này. Nghĩa là một địa phương và thời điểm có nhiều khác biệt. Vì thế, tôi phải tỉnh thức lắng nghe hướng dẫn của Thánh Thần Đức Kitô. Ngài đang dẫn người truyền giáo vào chiều sâu. Ngài đang giúp người truyền giáo mở rộng nhiều liên đới. Ngài đang tạo ra cho nhà truyền giáo nhiều dịp để loan báo Tin Mừng. Tôi có luôn khiêm tốn cầu nguyện hồi tâm, để trở thành dụng cụ ngoan ngoãn trong tay Ngài không?
Hãy tiến về sự chết của mình như người khắc khoải trở về với Đấng đã trao cho mình điều răn mới.
Điều răn mới này, tôi nhận được từ Lời Chúa: “Thầy ban cho chúng con một điều răn mới là chúng con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con” (Ga 13,34). Để hiểu thấm thía hành trình tình yêu, tôi nên hằng ngày gẫm suy đoạn văn sau đây của thư thánh Gioan:
“Chúng ta biết rằng: chúng ta đã từ cõi chết bước vào cõi sống, vì chúng ta yêu thương anh em. Kẻ không yêu thương, thì ở lại trong sự chết. Phàm ai ghét anh em mình, ấy là kẻ sát nhân. Và anh em biết: không kẻ sát nhân nào có sự sống đời đời ở lại trong nó. Căn cứ vào điều này, chúng ta biết được tình yêu là gì: đó là Đức Ki-tô đã thí mạng vì chúng ta. Như vậy, cả chúng ta nữa, chúng ta cũng phải thí mạng vì anh em. Nếu ai có của cải thế gian và thấy anh em mình lâm cảnh túng thiếu, mà chẳng động lòng thương, thì làm sao tình yêu Thiên Chúa ở lại trong người ấy được? Hỡi anh em là những người con bé nhỏ, chúng ta đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng phải yêu thương cách chân thật và bằng việc làm. Căn cứ vào điều đó, chúng ta sẽ biết rằng chúng ta đứng về phía sự thật, và chúng ta sẽ được an lòng trước mặt Thiên Chúa” (1Ga 3,14-19).
“Phần chúng ta, chúng ta hãy yêu thương vì Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước. Nếu ai nói: “Tôi yêu mến Thiên Chúa” mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy. Đây là điều răn mà chúng ta đã nhận được từ Người: ai yêu mến Thiên Chúa, thì cũng yêu thương anh em mình” (1 Ga 4,19-21).
Khi tôi sống với những hướng kể trên, tôi sẽ coi sự chết như là một điểm chấm dứt nhiệm vụ. Nhiệm vụ được chấm dứt. Nhưng nhiệm vụ có được hoàn thành hay không, đó là chuyện khác và đó mới là điều quan trọng. Chúa sẽ phán xét công minh điều đó. Ở đây, tôi có lý do để lo, bởi vì tôi biết tôi đã lỗi phạm nhiều.
Biết lo là điều tốt. Không phải lúc gần chết mới lo, mà phải lo ngay bây giờ. Biết lo ở đây là tìm cách sửa mình, đổi mới mình nên tốt hơn. Coi như bắt đầu lại.
Khởi sự từ quyết tâm tận dụng ngày giờ còn lại và những phương tiện trong tầm tay để chu toàn các nhiệm vụ được trao một cách tốt đẹp nhất. Nhất là tỉnh thức ưu tiên đón nhận Nước Trời vào bản thân mình bằng sám hối và tin mến khiêm cung.
Những nỗi lo như thế là chính đáng. Khi chúng ta làm hết sức mình, thì những nỗi lo đó sẽ đem lại những tiến triển và hân hoan. Với hân hoan và tin tưởng nơi Chúa giàu tình yêu thương xót, chúng ta bình tĩnh đi về sự chết. Sự chết lúc đó chỉ là bước sang sự sống mới vô cùng tốt đẹp hơn trước. Và như thế, sau cùng, chỉ có thần chết là phải chết thôi.
Nhân dân Hà Nội tự nguyện đón Tổng thống Mỹ Donald Trump
Đảng/nhà nước VN tổ chức đón Tập Cận Bình.
Các bạn coi ảnh sẽ rõ:
Ảnh 1-2-3 rất đông nhân dân tự phát (thiếu tổ chức) đón Trump. Ảnh 4-5-6 chứng minh các quan chức, vài nhóm người do chính quyền tổ chức ăn mặc chỉnh tề, mang cờ TQ đón tập cận bình.
Cổ nhân ta nói: “Sinh kí tử quy”, sống là tạm gửi, chết mới là về. Ðó là một nhân sinh quan, và cái nhân sinh quan ấy chi phối đời sống người ta, đến độ có nhiều người nói rằng “sống là chuẩn bị cho cái chết.”
Từ quan niệm ấy, người Việt Nam hình như không sợ hãi khi đối diện với cái chết. Những cụ già xây sẵn phần mộ, mua sắm sẵn cỗ áo quan, ra vào vuốt ve ngắm nghía nó như ngắm một vật thân quí, đôi khi vào nằm thử một cách bình tĩnh. Các cụ còn định sẵn cả chương trình cho đám tang của mình, phải tổ chức ra sao, nghi thức thế nào. Thật đúng là sự chuẩn bị cho một cuộc trở về. Ðó mới chỉ là những cái bên ngoài biểu lộ quan niệm “sinh kí tử quy”. Một cách sâu xa hơn, người ta chuẩn bị cho chuyến trở về bằng cả một cuộc sống của mình. Ðể cho cuộc trở về tốt đẹp, người ta sống tốt đẹp, cư xử tử tế với mọi người, tạo phúc đức để lại cho con cháu, trả sạch nợ nần để không phải vướng mắc với ai, không tạo ra những ác nghiệp v.v… Thực hiện được những điều đó, người ta thanh thản trở về thế giới bên kia.
“Sinh kí tử quy.” Sống là tạm gửi, chết mới là về. Nhưng về đâu? Ðó là vấn đề. Có phải là về với lòng đất? Có phải là về với hư không? Có phải là về với tổ tiên? Hay là về chốn bồng lai tiên cảnh?… Ðiều đó tùy thuộc quan niệm và niềm tin của từng người. Người Công giáo chúng ta tin rằng con người có linh hồn bất tử, và khi chết, linh hồn của mình sẽ về cùng Thiên Chúa, đấng tạo dựng nên mình. Thiên Chúa là nguồn cội. Từ Thiên Chúa, có muôn loài muôn vật, có chính mình. Bởi thế, chết là một cuộc “lá rụng về cội” lớn lao nhất, quan trọng nhất.
“Lá rụng về cội”. Ðó có thể coi như một nguyên tắc, một lẽ đương nhiên? Thật ra không hẳn thế. Quan sát sự kiện thực tế ngoài đời, ta sẽ biết ngay: có chiếc lá khi rụng, chao đi vài vòng, rồi nhẹ nhàng đặt mình dưới gốc cây. Nhưng cũng có những chiếc lá vừa lìa khỏi cành đã bị trận bão loạn gió cuồng cuốn bay đi xa lắc. Lá rụng, nhưng lá không về cội.
Ðời người ta cũng như những chiếc lá. Như lá được sinh ra và nuôi dưỡng từ chất nhựa từ cội là gốc rễ đưa lên thế nào, con người cũng được sinh ra, lớn lên, sinh hoạt trong dòng đời, từ chính cội nguồn của sự sống là Thiên Chúa như thế. Cái chết của con người cũng giống như chiếc lá lìa cành. Về với Thiên Chúa cũng như “lá rụng về cội”. Nhưng lá rụng chưa chắc đã về cội thì con người khi chết cũng chưa hẳn sẽ được về cùng Thiên Chúa. Về được với Chúa hay không, cái đó tùy ở cách sống của mình, tùy ở chính mình.
Có người ví cuộc hành trình về với Chúa, hay nói khác đi là về Thiên Ðàng, là một chuyến đường. Người đi phải tập làm quen với con đường, hay nói khác đi là phải đi lại nhiều lần trước khi ra đi để về thật. Nếu không quen đường thuộc lối, rất có thể người ta sẽ đi lạc, và như thế chẳng về được nhà.
Con đường về với Chúa là con đường gì? Ðó là đường Tình Yêu, bởi vì Thiên Chúa chính là Tình Yêu. Và Thiên Ðàng là nơi gồm toàn những người biết yêu Chúa và yêu nhau. Như thế, làm quen với con đường về Thiên Ðàng cũng có nghĩa là tập sống yêu thương. Yêu Chúa và yêu người. Yêu Chúa thì dễ, vì Chúa là Ðấng trọn hảo và rất đáng kính yêu. Chúa không làm cho mình khổ, Chúa không gây ra những rắc rối cho đời mình. Chúa lại yêu mình hết mực. Tuy nhiên, yêu Chúa “khơi khơi” thì dễ, chứ yêu đến nơi đến chốn, yêu với tất cả linh hồn và trí khôn, yêu đến độ sẵn sàng sống chết vì Chúa… điều ấy chưa chắc đã dễ.
Yêu người khó hơn nhiều lắm. Vì đã là người thì có khuyết điểm. Người ta dễ làm cho mình đau khổ, cũng gây cho mình rất nhiều điều rắc rối. Rất nhiều khi người ta không yêu mình, trái lại còn ghen ghét, thù hận mình nữa. Người ta như vậy đó, thế mà mình phải yêu, để làm quen được với cái đường đi về Thiên Ðàng kia.
Nói cho cùng, cuộc sống làm nên ý nghĩa của sự chết. Cuộc sống quyết định cho đích điểm của một chuyến đi. Chuyến đi xa nhất, quan trọng nhất của đời người. Ðây cũng là chuyến đi cô đơn nhất, vì không có ai đồng hành với ta.
Sống Yêu Thương, yêu Chúa và yêu người thật lòng, ta sẽ về được với Ðấng chính là Tình Yêu. Sống không yêu thương, đường đi của ta sẽ ngược chiều, và ta khó lòng gặp được Thiên Chúa Tình Yêu. Ðó là nỗi bất hạnh lớn lao nhất, nỗi cơ cực kinh khủng nhất. Bởi vì hạnh phúc thật của con người, nói cho cùng, là về được, hòa nhập được với chính cội nguồn nơi mình đã xuất phát: Thiên Chúa. Hòa nhập được với Thiên Chúa, Ðông phương gọi là hòa hợp cùng Ðại Ngã, còn chúng ta gọi là được về nước Thiên Ðàng hưởng hạnh phúc vĩnh cửu. Còn nỗi cô đơn. Ai mà chẳng sợ cô đơn. Muốn tránh cô đơn, chỉ còn cách kết bạn và mời bạn làm kẻ đồng hành. Nhưng bạn nào đồng hành được với ta trên đường về, mà khởi đầu là cái chết phần thân xác? Chỉ có một “người” thôi, đó chính là Thiên Chúa. Hạnh phúc cho ai, trên đường về có chính Thiên Chúa làm bạn đồng hành. Trong tình bạn, cần có thời gian. Bạn thân để có thể đồng hành lại càng cần thời gian dài hơn nữa. Như thế, trong cuộc sống trần gian, nếu ta đã không từng quen với Chúa, thân với Chúa, chia sẻ với Chúa, thì khi ta chết, làm sao ta có được Chúa làm người bạn đồng hành trên đường về?
“Sinh kí tử quy”, “Lá rụng về cội.” Ðó thật là những tư tưởng đẹp và thâm sâu. Ðể hiểu được vẻ đẹp và sự thâm sâu đó, không phải một sớm một chiều. Giá ta phải trả để hiểu được nó và áp dụng nó là cả một cuộc đời, với nỗ lực và với yêu thương.
6 giá trị của người dân Mỹ không ai mua được bằng tiền
1. Ca sĩ Madonna từng nhổ nước bọt vào mặt một bà cụ, lập tức tòa án Liên bang phán quyết cô phải bồi thường 5 triệu đô-la Mỹ cho bà lão.
Quan tòa nói, sở dĩ mức phạt nặng như vậy không phải bởi miếng nước bọt đó đã mang đến tổn thương lớn ngần nào cho bà cụ.. Lý do là với những người có tiền như Madonna nếu chỉ phạt bồi thường 50 nghìn đô-la, lần sau cô ấy chắc chắn sẽ tái phạm. Có thể cô ấy cũng sẽ gây tổn thương cho hơn 10 người khác nữa.
2. Ở Mỹ, không có một hãng truyền thông nào thuộc về chính phủ. Bởi vì pháp luật nước Mỹ quy định, không thể lấy tiền của dân chúng để dát vàng cho mình mà lừa mị, mê hoặc dân chúng.
Kênh truyền thông duy nhất mà chính phủ Mỹ bỏ vốn làm chủ là đài phát thanh VOA của Mỹ, nhưng nó không được phép phát sóng trên đất Mỹ. Trong con mắt của người Mỹ, dư luận nên phải là tự do, nhiều nguồn, muôn hình muôn vẻ, thậm chí là mâu thuẫn lẫn nhau.
3. Nước Mỹ coi trẻ em là tài sản quý báu của quốc gia, trẻ em được pháp luật che chở cẩn thận. Nếu bạn không có tiền gửi con ở nhà trẻ, chính phủ sẽ chi trả, hoặc không có tiền mua sữa bột, chính phủ cũng sẽ chu cấp. Ngoài ra còn có nhiều chính sách đặc biệt trợ cấp cho phụ nữ mang thai, sản phụ thu nhập thấp và trẻ em chưa đến 5 tuổi.
Các gia đình thu nhập thấp có thể nhận được bữa cơm dinh dưỡng sáng và trưa miễn phí. Nếu bạn không có tiền thuê nhà, chính phủ sẽ chi trả, hơn nữa quy định trẻ nhỏ cần phải có phòng ngủ riêng. Ở nước Mỹ, bạn sẽ không bao giờ bắt gặp hình ảnh trẻ em đi xin ăn. Có một bà mẹ mải mê bận rộn việc nhà, nhất thời không để ý trông con. Đứa con chẳng may ngã xuống bể bơi chết đuối. Trong lúc người mẹ đang đau khổ không thôi thì bất ngờ nhận được giấy triệu tập của tòa án.
Lý do mà tòa án đưa ra vô cùng đơn giản, bà đã không làm hết trách nhiệm của một người giám hộ nên sẽ phải đối mặt với việc bị tuyên án.. Điều đó cũng giúp cảnh tỉnh ý thức chăm sóc con trẻ cho hàng triệu người mẹ khác.
Người Mỹ quan niệm, một đứa trẻ trước hết thuộc về bản thân nó. Đứa trẻ đó mang theo vô số quyền lợi sống vốn có trong xã hội này. Không kể là bản thân nó có ý thức được hay không, không kể là nó có thể lớn lên thành người hay không, xã hội này có tầng tầng pháp luật để bảo vệ nó.
4. Ở nước Mỹ, người dân có bệnh thì bệnh viện cần phải điều trị trước, sau đó mới gửi hóa đơn viện phí đến nhà bệnh nhân. Nếu bạn không gánh nổi khoản tiền trị liệu thì các tổ chức từ thiện hoặc chính phủ sẽ ‘ra mặt’ giải quyết. Trong trường hợp người nghèo khó chỉ vì không có tiền chi trả viện phí mà bệnh viện ngưng điều trị thì những người có liên quan sẽ bị chất vấn và nhận chế tài của pháp luật.
5. Trong chiến tranh vùng Vịnh lần thứ hai (nổ ra vào tháng 3/2003), quân Mỹ huy động lực lượng quân sự lớn mạnh tấn công tầm xa trong sa mạc. Quân đội của nhà độc tài Saddam Hussein binh bại như núi đổ, nhếch nhác bỏ chạy. Lúc này, trong cát bụi mịt trời, một chiếc xe vận tải của quân Mỹ mất phương hướng, lạc vào trận địa của quân địch.
Người lái xe là một nữ quân nhân tên Lira, bị thương và bị địch bắt giữ làm con tin để uy hiếp quân Mỹ. Cô bị nhốt ở một nơi hẻo lánh bí mật và bị canh giữ sát sao. Vì để cứu Lira, quân Mỹ đã huy động đội đột kích Hải Báo tấn công mãnh liệt khiến quân địch mất phương hướng, hoảng loạn tan vỡ.
Chỉ trong thời gian mấy phút, quân Mỹ đã giải cứu thành công Lira. Cô nhanh chóng được đưa về hậu phương điều trị. Chiến tranh kết thúc, Lira cùng với hai binh sĩ Mỹ từng bị bắt giữ khác trở về quê nhà và được chào đón như những người anh hùng.
6. Điều được giảng trong “Tuyên ngôn độc lập” của Mỹ không phải là quần thể, quốc gia, thậm chí không hề giảng đến dân chủ.. Điều được giảng là 3 quyền lợi lớn: quyền sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc. Ba quyền lợi này đều là quyền lợi của cá nhân, không phải là quyền lợi của quần thể hay quốc gia.
P/s...: Những quyền lợi này có được ngay từ khi công dân Mỹ vừa mới sinh ra, chứ không phải do ai ban tặng. Mặt khác, những quyền lợi này có thể bảo vệ cá nhân, khiến họ không phải chịu đựng sự xâm hại của bất cứ ai. Chỉ có kiến lập trên cơ sở quyền lợi cá nhân, mọi người mới có thể có được một xã hội tự do chính nghĩa, tôn nghiêm và bình đẳng.
Trịnh Kim Tiến: Nhân quyền không phải giá trị riêng của Mỹ
Bởi vì lịch sử hình thành nên Mỹ luôn được coi là cái nôi của Nhân quyền. Nhắc đến Nhân quyền không thể không nhắc đến Mỹ, đó là giá trị truyền thống của họ. Cho dù ngày hôm nay tinh thần và những giá trị đó có thể đi xuống, nhất là dưới thời của Trump thì nhiều người vẫn luôn tin rằng đó vẫn là giá trị mà dân tộc họ theo đuổi.
Và có lẽ chính bởi niềm tin đó nên khi nghe bà Trump không đến Việt Nam nhiều người đã không nguôi thất vọng.
Thất vọng vì những mong mỏi của Nấm đã không được đoái hoài, vì hai chữ Nhân quyền đối với vị phu nhân của của ông Trump không có ý nghĩa bằng chuyến đi chơi trên đất Tàu.
Riêng tôi chưa từng hy vọng vào sự có mặt của bà ấy ở Việt Nam, bởi nếu là một người quan tâm đến quyền con người, bà đã không để Nấm viết đến bốn bức thư mà không một lần hồi âm trở lại.
Nấm cứ tưởng rằng bà Trump là phu nhân của một dân tộc đề cao quyền con người, bà là một người mẹ như mẹ của con thì bà sẽ hiểu nỗi đau của mẹ khi phải xa con. Nhưng con nhầm rồi, bà ấy là phu nhân của một vị Tổng Thống trên cao ngất ngưởng, bà chưa bao giờ phải xa con của bà, bà làm sao mà hiểu được con? Đúng là bà ấy đã trao giải “NGƯỜI PHỤ NỮ CAN ĐẢM” cho mẹ của con nhưng đó cũng chỉ là hình thức như cái cách mà nước Mỹ đang giữ tư tưởng Nhân quyền của họ vậy.
Nhưng chúng ta không có quyền trách họ con à, bởi vì giá trị Nhân quyền là một giá trị phổ cập chứ không phải riêng đất Mỹ. Mỹ không có nghĩa vụ phải bảo vệ những người hoạt động xã hội ở các nước mất tự do. Nếu như họ coi việc thúc đẩy Nhân quyền trên thế giới là sứ mệnh của dân tộc thì họ sẽ không im lặng đâu.
Tự do cho mẹ con là chuyện của người Việt. Nếu chúng ta coi việc đòi hỏi Nhân quyền cho đất nước chúng ta là việc của một Quốc gia khác thì chúng ta sẽ chẳng bao giờ có được nó.
Quyền con người ở Việt Nam phải do người Việt Nam dành giữ, tự do nếu muốn có thì chúng ta phải trả giá thôi con.
Nhân quyền không phải giá trị riêng của Mỹ Bởi AdminTD – 10/11/2017 Tweet Share 0 +1 Pinterest 0 Email FB Trịnh Kim Tiến 10-11-2017 Bởi vì lịch sử hình…
Nữ phục vụ mặc áo yếm tại đại tiệc APEC hôm 6/11/2017.
Vietnamnet
Áo yếm tiếp APEC để “khoe” nét truyền thống?
00:21/07:34
Trên các trang mạng xã hội, mọi người truyền tay nhau những tấm hình các cô gái trẻ măng, mặc trang phục áo yếm của phụ nữ Việt Nam xưa, hở nguyên phần vai và nửa lưng. Những cô gái này đang cầm khay đồ ăn phục vụ gần 300 đại biểu từ các nền kinh tế APEC, sau khi kết thúc kỳ họp 4 Hội đồng tư vấn kinh doanh APEC- ABAC và tối ngày 6/11 vừa qua.
Áo yếm là một thứ trang phục nội y không thể thiếu của phụ nữ Việt Nam xưa, được lịch sử ghi chép là bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam vào thời nhà Lý (thế kỷ 12). Yếm là một tấm vải hình thoi hoặc hình vuông có sợi dây để quàng vào cổ và buộc vào sau lưng, được dùng để che ngực. Áo yếm ngày xưa là một trang phục nội y được sử dụng rộng rãi, không chỉ ở chốn cung đình cao sang, quý phái mà cả những người nông dân gắn bó với chiếc áo tứ thân cũng rất “ưa chuộng”.
Nhà văn Thùy Linh, một người quan tâm và am hiểu lĩnh vực xã hội, văn hóa của Việt Nam nói rằng việc Việt Nam cho lễ tân mặc trang phục áo yếm để tiếp khách ngoại giao là một sự “lố bịch”:
Mình rất không hài lòng về điều đó, bởi vì cái yếm của các cụ ngày xưa nó thay cho cái áo ngực thường các cụ mặc bên trong. Còn ở nông thôn, khi những người đàn bà cho con bú để đứa trẻ dễ tiếp cận với ngực của mẹ. Cho nên những kiểu mặc đó rất suồng sã.
Mình không hiểu một bữa tiệc để đãi các nguyên thủ quốc gia đến Việt Nam mà lại mặc áo yếm đó, không hiểu xuất phát từ ý nghĩ gì. Mình thấy nó hơi kỳ quặc.
Đêm đại tiệc được tổ chức tại Furama Resort Đà Nẵng do Sovico Holdings và Ngân hàng HD Bank tài trợ. Đại diện của khu resort nói rằng đã chuẩn bị cho sự kiện này trong vòng 3 năm, với ý nghĩa chính là giới thiệu văn hóa dân gian Việt Nam khi tái hiện cuộc sống 4 mùa tại các vùng miền khác nhau.
Tuy nhiên, nhà văn Thùy Linh lại cho rằng việc lựa chọn áo yếm để khoe nét truyền thống của Việt Nam trong một sự kiện lớn như vậy là không phù hợp.
Truyền thống thì có nhiều cấp độ lắm. Váy đùm cũng là truyền thống mà. Sao không cho các cô ấy mặc váy đùm và áo yếm đi tiếp? Mình nghĩ bây giờ cho mình mặc cái yếm đó ra ngoài đường chắc mình cũng không dám mặc. Hay mặc ở nhà để tiếp bạn mình cũng không dám mặc chứ đừng nói mang ra mặc trước mặt các quốc gia khác.
Trong một quốc tiệc, thì nó không mang tính chất nghi lễ, không trang trọng, không thể hiện một sự lịch lãm tối thiểu với một tư cách quốc gia.
– Nhà văn Thùy Linh
Chúng tôi cũng trò chuyện với chị Tâm, một người dân sống ở Sài Gòn về vấn đề này. Chị Tâm chẳng ngần ngại so sánh những hình ảnh lễ tân phục vụ APEC không khác nào những cô gái trong các quán bar:
Tôi cũng thấy như vậy không phù hợp khi tiếp khách quốc tế. Mình phải ăn vận như thế nào cho lịch sự để khi mình tiếp khách cho kín đáo. Khi mình tiếp khách mà ăn mặc lố lăng quá thì không khác nào những chỗ như quán bar. Ăn vận như vậy mà gọi là truyền thống thì không phù hợp cho lắm. Ăn mặc như vậy sẽ làm mất hình ảnh người Việt Nam.
Trên các trang mạng, chúng tôi ghi nhận nhiều bình luận dưới những tấm hình các cô gái áo yếm tiếp khách quốc tế. Hầu như mọi bình luận đều chỉ trích cách ăn mặc không phù hợp của nước chủ nhà Việt Nam. Một bài viết của tác giả Nguyễn Phan Khiêm nhận định rằng: Với các suy nghĩ nông dân của tôi thì các cụ xưa tuyệt không mặc thế khi có người lạ, chưa kể khi ra đường hay nhà có khách các cụ luôn mặc áo dài. Yếm chỉ khi rất nóng nực người ta mới mặc trong nhà, tương tự đàn ông bây giờ mặc may ô. Cho nên, vị nào tham mưu cho gái trẻ mặc yếm ra tiếp quốc khách thì nên cho nghỉ để tìm tham mưu khác. Việt Nam tự hào là nước có văn hiến nên không thể không mặc đẹp một cách nền nã, sang trọng để đón khách quí.
Chính trang phục được chọn để tiếp đãi khách quý lại là trang phục từng bị báo chí Việt Nam lên án nhiều lần, chẳng hạn như bài viết “Đỏ mặt vì mỹ nhân hững hờ áo yếm” trên báo Lao Động hay “Người đẹp Việt gây phản cảm khi mặc áo yếm quá sexy” trên Báo Mới,…
Câu hỏi được đặt ra đó là những cô gái mặc áo yếm trong những bài báo này đã bị chỉ trích phần nào tự làm mất hình ảnh người phụ nữ Việt Nam “công, dung, ngôn, hạnh”. Vậy thì, liệu Việt Nam có tự làm mất hình ảnh của mình khi để lễ tân mặc yếm tiếp khách hay không?
Chúng tôi nêu câu hỏi này với nhà văn Thùy Linh và bà cho biết:
Mình không nghĩ đến mức mất hình ảnh, bởi vì người ta cũng không thể đánh giá Việt Nam qua một cái áo yếm. Thế nhưng trong một quốc tiệc, thì nó không mang tính chất nghi lễ, không trang trọng, không thể hiện một sự lịch lãm tối thiểu với một tư cách quốc gia trong khi tiếp đón các quốc gia khác.
Hình ảnh những nữ lễ tân mặc áo yếm bê khay đồ ăn tiếp khách APEC.Courtesy of Vietnamnet
Chúng tôi tiếp tục nêu vấn đề với Nhà xã hội học, Tiến sĩ Phạm Quỳnh Hương, Viện Hàn Lâm Khoa học Xã hội Việt Nam. Tuy nhiên, bà cũng không đồng tình với cách ăn mặc như vậy trong một sự kiện lớn của quốc gia:
Tôi nghĩ là trong xã hội Việt Nam bây giờ, một người bình thường cũng thừa hiểu cần mặc trang phục lịch sự ở một sự kiện cần thiết nào đó ví dụ như giỗ tết, hay cưới hỏi, mọi người đều biết ăn mặc như thế nào cho lịch sự.
Người bình thường cũng biết điều đó, huống chi một quốc gia thì người ta cũng phải thừa hiểu. Trong tường hợp này tôi cũng không hiểu vì sao người ta lại quyết định như vậy.
Tôi nghĩ là trong xã hội Việt Nam bây giờ, một người bình thường cũng thừa hiểu cần mặc trang phục lịch sự ở một sự kiện cần thiết nào đó.
– TS. Phạm Quỳnh Hương
Vấn đề giới trẻ Việt Nam đua theo trào lưu ăn mặc hở hang được nêu trên các phương tiện truyền thông thường xuyên. Việt Nam hiện tại cũng có những quy tắc và điều luật cấm ăn mặc hở hang phản cảm đối với nghệ sĩ hay nơi công cộng.
Nhà văn Thùy Linh nói rằng có vẻ như Nhà nước đang muốn “cách tân hóa” và học theo trào lưu của giới trẻ hiện tại. Tuy nhiên bà cho rằng sự áp dụng không đúng lúc đúng chỗ đã biến tính sáng tạo thành một điều “điên rồ” trước mắt khách quan.
Sau những lời bán tán, chỉ trích của cư dân mạng, người ta hỏi nhau rằng liệu trong những ngày APEC sắp tới có lặp lại hình ảnh những cô thiếu nữ hở vai, lưng trần tiếp khách nữa hay không?
RFA đã liên hệ với ban tổ chức APEC 2017 để hỏi về nguyên nhân vì sao lựa chọn trang phục áo yếm cho đêm đại tiệc hôm 6/11 vừa qua, nhưng không nhận được hồi đáp.
Suy Tư Tin Mừng tuần 32 thường niên năm A 12/11/2017
Tin Mừng (Mt 25: 1-13)
Bấy giờ, Đức Giêsu kể dụ ngôn này cho các môn đệ nghe: “Nước Trời sẽ giống như chuyện mười trinh nữ cầm đèn ra đón chú rể. Trong mười cô đó, thì có năm cô dại và năm cô khôn. Quả vậy, các cô dại mang đèn mà không mang dầu theo. Còn những cô khôn thì vừa mang đèn vừa mang chai dầu theo. Vì chú rể đến chậm, nên các cô thiếp đi, rồi ngủ cả. Nửa đêm, có tiếng la lên: “Chú rể kia rồi, ra đón đi!” Bấy giờ tất cả các trinh nữ ấy đều thức dậy, và sửa soạn đèn. Các cô dại nói với các cô khôn rằng: “Xin các chị cho chúng em chút dầu, vì đèn của chúng em tắt mất rồi!” Các cô khôn đáp: “Sợ không đủ cho chúng em và cho các chị đâu, các chị ra hàng mà mua lấy thì hơn.” Đang lúc các cô đi mua, thì chú rể tới, và những cô đã sẵn sàng được đi theo chú rể vào dự tiệc cưới. Rồi người ta đóng cửa lại. Sau cùng, mấy trinh nữ kia cũng đến gọi: “Thưa Ngài, thưa Ngài! mở cửa cho chúng tôi với!” Nhưng Người đáp: “Tôi bảo thật các cô, tôi không biết các cô là ai cả!” Vậy anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào, giờ nào.
* * *
“Nếu hạnh phúc sẽ khơi nguồn đau khổ,”
“Thì xin em đừng tìm đến với nhau.”
(dẫn từ thơ Phạm Ngọc)
Tìm đến nhau, là để mang lại hạnh phúc, cho nhau. Đó là sự thật. Nhưng, sao nhà thơ lại nói: xin em hãy đừng tìm! Tìm hay không, vẫn là chuyện khôn chứ đâu là dại. Khôn dại/dại khôn, thánh sử nhà Đạo xưa nay vẫn giải khuyên qua dụ ngôn truyện trình thuật có cân nhắc, ngợi khen, tung hô.
Trình thuật thánh Mátthêu hôm nay, cũng ngợi khen/tung hô việc của Chúa, bằng nhiều cách. Cách dễ nhận nhất, là dụ ngôn. Dụ ngôn hôm nay thánh sử đặc biệt kể về các cô phù dâu khôn ngoan đáng cho mọi người nhận biết mà phân biệt dại với khôn. Khôn/dại, ở vào tình huống đợi chờ chàng rể tới, không biết trước. Vì, chàng rể đến bất chợt nên nhiều phù dâu chưng hửng, những vãn than về cảnh đột ngột, khó đoán trước.
Thời Chúa sống, đám cưới là sự kiện lớn trong sinh hoạt làng xã, mỗi một ngày. Sự kiện lớn đến độ người người trong làng đều quan tâm, muốn tham dự. Tiệc tùng lớn, có khi kéo dài nhiều ngày cả tuần lễ và còn tổ chức vui chơi đình đám suốt ngày đêm. Về phù dâu ở dụ ngôn, các cô đều là thôn nữ trẻ phần đông có quan hệ với nhà đám; tức, những người có vai vế quan trọng trong nghi thức tiệc rượu vui chơi, múa hát. Có phù dâu dự cưới, là có dễ vui và chắc chắn tiệc sẽ đạt.
Dụ ngôn, nay kể rằng chú rể đến khá trễ. Đây, là trường hợp rất phá lệ. Thường, thì chú rể nào cũng hăng hái tìm đến với ngày cưới. Vì cứ đinh ninh là phải đợi lâu, nên cánh phù dâu nhà ta mới thiếp đi và ngủ cả. Ngủ nghỉ, tuy thực chất không là vấn đề với đám cưới. Bởi, nhiều người có thể thức trắng đêm, cũng chẳng cần ngủ. Và, các phù dâu còn có thể thức giấc vào bất cứ lúc nào, khi chàng rể chợt đến. Nếu chàng đến vào nửa đêm -thường thì ít khi là thế- tất cả đều cần đèn đóm, ánh sáng, nên rất muốn có dầu để đốt sáng. Muốn vậy, phù dâu phải chuẩn bị cho đủ, để khỏi lỡ mất cơ hội. Bởi, nếu không biết cách mà chuẩn bị, phù dâu ta phải bổ đi lùng tìm cho bằng được dầu đốt để thắp đèn, còn gì là vui nữa.
Dụ ngôn, nay cũng kể về hai nhóm phù dâu. Một, luôn đề cao cảnh giác. Còn nhóm kia, chẳng chuẩn bị hoặc quan tâm gì đến đèn đóm. Dụ ngôn hôm nay, thoạt nghe có vẻ hơi mù mờ. Đọc kỹ, hẳn có người sẽ tự hỏi: làm sao nhóm phù dâu khôn lanh kia, lại không chỉ cách cho nhóm khờ dại biết sớm hơn, để cả hai cùng nhau chuẩn bị cho chu đáo. Tại sao nhóm khù khờ dù có dại cách mấy cũng phải biết cử một hai người đi lùng tìm dầu, chứ sao lại phải đi cả nhóm? Phải chăng, ngay lúc đó đã có căng thẳng, vì chú rể đã mướn toàn bộ số phù dâu để đạt hiệu quả tối đa cho tiệc cưới, nên toàn bộ nhóm phù dâu có thể hụt trọn cả lễ cưới? Nói tóm lại, hốt hoảng ở trường hợp nào cũng thế, thường lấy đi sự suy xét bình thường rất cần thiết của con người.
Sự thật mà nói, ở đời thường người khờ khạo thường là những người luôn chịu thua thiệt. Nên, dễ bị người khác chèn ép coi nhẹ như người không biết gì. Chí ít, là chuyện đạo đức, luân lý, rất trí thức. Chuyện dụ ngôn về người khờ khạo và khôn ngoan có thể áp dụng vào mọi người nói chung. Nói chung, là nói về những người không làm gì nên chuyện, hoặc cho ra hồn, nhưng vẫn muốn đạt lương tiền hậu hĩ, giống “mì ăn liền”. Như người đi tìm việc được gọi đi phỏng vấn, lại cứ khăng khăng theo ý mình đội mũ ngược ngạo, chẳng giống ai. Cũng tựa như đám học trò chẳng chịu học nhưng lại cứ muốn đậu cao, có đủ bằng cấp, nhưng thực chất lại ngu dốt. Như đôi uyên ương nọ chỉ biết lấy nhau để gần nhau mà ăn ở cho vui sướng, chẳng lo gì chuyện tương lại mai ngày, để có con.
Dụ ngôn, nay không chỉ kể, có thế. Nhưng thực sự, còn muốn diễn tả về tình hình Giáo hội mọi thời đang ở vào tình trạng của phù dâu. Chàng rể nói ở đây, là Đức Kitô. Việc “chàng rể đến chậm” là ý nói về ngày quang lâm Chúa lại đến cũng chầm chậm, theo quan niệm của cộng đoàn Hội thánh lúc ban đầu. Dụ ngôn đây, là: truyện dài cốt để kể lại sử hạnh Hội thánh thời ban sơ. Về tiêu chuẩn Chúa phán xét định đoạt về Giáo hội vào ngày Ngài đến lại.
Hình ảnh làm nền ở dụ ngôn hôm nay, là về dầu đốt. Nghe về dầu để đốt, hẳn có người sẽ nghĩ về niềm tin đốt cháy. Tức, lòng siêng chăm, sùng đạo. Về cung cách quản, tài lãnh đạo, hoặc: lòng độ lượng, thứ tha, đùm bọc, rất phục vụ, hoặc những chuyện như thế. Cũng may, là trình thuật hôm nay thực ra chẳng đề cập gì về những chuyện như thế. Vậy thì, về vấn đề gì?
Đoạn cuối trình thuật có nói:“Cửa đóng lại.” Và chàng rể đây, là Đức Giêsu lại muốn bảo: “Ta không biết các người.” Không biết ở đây, là không được Ngài biết đến. Không biết, là: không biết theo cách riêng tư như quan hệ bạn bè, chỗ thân quen. Không biết đến, chẳng phải là: ta không biết đến Ngài. Mà là: Ngài không hề biết ta. “Không biết đến ta”, tức hỏi rằng: không biết Chúa có còn đoái hoài đến ta hoặc mọi người? Phải chăng Ngài vẫn coi ta như dân con của Ngài? “Không biết đến ta”, còn có nghĩa là: ta có làm những việc “đáng làm” như Ngài, không? Đó, là những vấn đề đích thực đặt ra cho những ai tự gọi mình là Kitô- hữu. Tức Kitô khác.
Được Chúa biết, theo cách thế tự do như bạn bè người thân của riêng Ngài. Được Chúa biết, cũng đòi ta phải có cung cách xử thế như dân con được Ngài quang lâm đến lại. Được Chúa biết, là biết vào khoảnh khắc như Ngài từng loan báo vào thời trước. Được Chúa biết, còn diễn tả việc Chúa am tường mọi hành xử của Hội thánh trong quá khứ, hiện tại và mai ngày. Nói tóm lại, câu Chúa nói “Ta không biết các ngươi”, có nghĩa Chúa đã nhận ra được những việc làm “thật không phải”. Không thực tâm làm, như lời Ngài khuyên dạy.
Khi ta làm việc gì tốt lành, chắc chắn Chúa sẽ cảm kích, phấn chấn và cũng ngạc nhiên. Ngài sẽ đưa ta vào với nhóm hội của muôn người ở thế giới, để Ngài sẽ hiện diện trong ta, rất tự do, cởi mở. Và có như thế, ta mới nhận ra thiên đường hạnh phúc Ngài hứa ban bằng vào việc sử dụng sự tự do của chính mình.
Không nên hiểu câu nói của Chúa “Ta không biết các người.” như Chúa biết tất cả về đời ta qua lăng kính của vi tính, dù mọi sự đều hiện ra ở trên đó. Bởi, nếu như thế, chắc Chúa cũng sẽ buồn chán khi phải ngắm nhìn ta chuyển vận. Thật sự thì, Chúa không là Đấng chuyên kiểm soát vũ trụ vạn vật, theo cách đó. Ngài làĐức Chúa tự do, sống động và mật thiết với ta. Ngài cùng làm và cùng vui với ta trong muôn việc, ở đời.
Nếu so sánh Chúa với ta theo kiểu nghệ nhân đầy sinh lực, thì Chúa như nghệ sĩ bộ môn nhạc Jazz, chơi nhạc rất ngẫu hứng với ta, ở mọi thời. Ngài chấp nhận mọi hiểm nguy, cả khi ta tự do đối xử xem ra không ổn, như “người của Chúa”. Cả vào khi ta chơi nhạc Jazz mà lại chơi sai nốt trật nhịp. Ngài tuy biết, nhưng vẫn nhìn thoáng qua trong chốc lát, cứ để ta chơi tiếp. Nhưng, khi ta chơi nhạc đúng cách như người hành xử rất xứng hợp ở đời, thì Ngài sẽ cảm kích, biết ơn. Nói tóm lại, đó là cách thức để “biết đến ta” rất hay và rất thực như sự thực xảy đến trong cuộc đời của con người.
Nói theo kiểu dụ ngôn, thì chính đó là dầu đốt. Bởi thế nên, thể hiện tinh thần của trình thuật, là: sống thực. Sống, như mục đích ta sử dụng tự do của mình, để đem đến cho Chúa một thưởng lãm rất thực, để được Chúa nói ‘đã biết ta’. Đó, là thiệp mời. Là, tấm vé về dự tiệc cưới. Lễ hội của tự do. Giả như ta không làm thế, thì không thể gặp mặt chú rể cách đích thực như phù dâu có đèn mà không có dầu. Không làm được thế, chắc chắn rồi ra Ngài sẽ bảo: “Ta không hề biết các người”, như ngôn ngữ của trình thuật hôm nay.
Cuối cùng, có chuẩn bị chu đáo như thế không, mới là vấn đề. Vấn đề của ta và, mọi người. Trong tâm tình đó, cũng nên ngâm tiếp lời thơ vừa chợt hát, để cảm kích hát mãi:
“Quỳnh chỉ nở về đêm trong giấc ngủ
Như tình yêu chỉ đẹp lúc ban đầu
Chẳng có gì tồn tại đến ngàn sau
Khi cơn mộng mù loà đêm dâng hiến”
(Phạm Ngọc – Với Quỳnh)
Với quỳnh, thì như thế. Thế còn với Chúa, chắc không hẳn thế. Bởi, Chúa là Tình Yêu, Ngài sẽ cứ tồn tại mãi đến muôn đời. Để, người người ngợi khen Ngài mãi khôn nguôi. Ngợi Tình Chúa. Khen tình người tồn tại mãi chốn thiên thu rất bất tận.