Khi đã trở về cát bụi, vẫn cần phân biệt quan với dân?

 

Khi đã trở về cát bụi, vẫn cần phân biệt quan với dân?

Hồi thăm Israel, có lần đi ngang qua một vài nghĩa trang, thấy nhiều ngôi mộ được xếp các cục đá nhỏ vòng quanh hay trên bề mặt. Hỏi ra mới hay đó là tập tục khi đi viếng mộ người đã khuất của các bạn. Người Do Thái quan niệm khi qua đời, thân xác chúng ta cũng về lại cùng đất đá. Vì thế, thay vì mang hoa, họ mang đá đến để lên mộ người chết. Những ngôi mộ ở vùng đất này, vốn dĩ trông đã đơn sơ giữa nắng gió sa mạc, lại càng thêm giản dị bởi không có chút sắc màu nào của hoa lá.

Xem nghĩa trang ở nhiều nước phương Tây cũng thấy khác biệt hẳn so với nghĩa trang ở xứ mình. Cùng quan niệm thân xác sinh ra từ cát bụi và khi chết đi thì lại trở về với cát bụi, nên người phương Tây cũng không xem trọng việc mồ mả. Những ngôi mộ ở mấy xứ “giãy chết” đều chung một kiểu chỉ có tấm bia đơn giản trên mặt mộ phẳng phiu chứ không lô xô, phô trương đủ kiểu như ở ta. Vì thế, đi trong nghĩa trang mà có cảm giác như đi dạo trong công viên! Đặc biệt, nếu có phân chia thì thường thấy nghĩa trang được phân biệt theo tôn giáo, theo dòng tộc hoặc theo các địa hạt dân cư. Họ cũng có nghĩa trang quân đội, nghĩa trang dành cho các danh nhân, anh hùng dân tộc… nhưng chẳng thấy chỗ nào có nghĩa trang quốc gia dành riêng cho quan chức!

Nghĩa trang trên đồi Olives ở Jerusalem, Israel (ảnh trên). Một góc nghĩa trang quốc gia mang tên “Ngôi nhà của Quân đội và Không lực Hoa Kỳ” tại Washington D.C (dưới, trái) và nghĩa trang cho các quan chức VN trị giá 1.400 tỷ.

Vì thế, đọc tin Nhà nước chuẩn bị chi 1.400 tỷ đồng để xây dựng nghĩa trang cho cán bộ cao cấp, ngẩn ngơ nghĩ đúng là nước mình tuy nghèo nhưng ngay cả chuyện “hậu sự” cũng phải khác với người ta! Mà kể cũng lạ, người cộng sản VN luôn nêu cao sự trung thành với chủ nghĩa Mác -Lênin và xây dựng hệ tư tưởng trên cơ sở học thuyết về duy vật biện chứng. Thế nhưng trên thực tế thì lại khác hẳn! Tình trạng quan chức chăm chỉ đi lễ chùa, xây đền thờ miếu mạo hoặc các khu “văn hoá tâm linh” ngày càng trở nên phổ biến. Chưa có thời kỳ nào mà “buôn thần bán thánh” phát triển rực rỡ như thời nay. Vì thế, cũng không có gì ngạc nhiên khi các “đầy tớ” phải lo đến cả chỗ an nghỉ cho mình ngay từ lúc còn đang sống!

Ừ thì có lý do là Mai Dịch đầy rồi nên phải cần một khu mới! Nhưng trong giai đoạn hiện nay, khi ngân sách thường xuyên rỗng ruột vì bội chi, khi nhân dân vẫn đang oằn mình dưới đủ loại thuế – phí mà chỉ có tăng chứ không có giảm, khi vẫn còn những hộ nghèo thiếu ăn, khi vẫn còn bao người bệnh bó tay chịu chết vì không đủ tiền mua thuốc, khi vẫn còn không ít trẻ em vùng sâu, vùng xa thiếu một ngôi trường đàng hoàng để học… lẽ nào người ta có thể thản nhiên rút từ ngân quỹ quốc gia một số tiền hàng ngàn tỷ đồng để lo chỗ nằm cho một nhóm nhỏ người (sẽ) chết? Lẽ nào ngay cả khi đã trở về cát bụi, vẫn cần phân biệt quan với dân? Lẽ nào với tầng lớp lãnh đạo ở xứ mình, “lộc bất tận hưởng” là phải đến cả lúc chết như vậy?

Ngày trước, thời nhân dân miền Bắc đói khổ trong chế độ tem phiếu và còn phải thắt lưng buộc bụng theo lời kêu gọi “vì miền Nam thân yêu”, lúc ấy đã có cái cửa hàng “Tôn Đản là chợ vua quan” ở Hà Nội. Đó là nơi chuyên cung cấp thực phẩm, hàng hoá tiêu dùng… dành riêng cho bộ máy lãnh đạo cao cấp được hưởng tiêu chuẩn đặc biệt. Giờ nghĩ lại, cứ tự hỏi không hiểu hồi đó có vị “đầy tớ” nào cảm thấy nghẹn lòng áy náy mỗi khi rời cửa hàng Tôn Đản với hàng đống “tiêu chuẩn” xa hoa, cách biệt rất nhiều so với chế độ phân phối cho dân thường?

Nay, “chợ vua quan” kiểu ấy không còn cần thiết phải duy trì nữa, nhưng dường như vẫn tiếp tục tồn tại quan niệm “ăn trên ngồi trốc”, khẳng định đặc quyền đặc lợi của bộ máy lãnh đạo đất nước mà việc xây dựng nghĩa trang riêng cho cán bộ cao cấp chỉ là một ví dụ. Điều này thật khác xa với những gì mà các bậc lãnh đạo tiền bối của ĐCSVN thường nói về đạo đức cách mạng. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng viết: “Chúng ta phải hiểu rằng: các cơ quan của Chính phủ, từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật. Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”.

Tôi nhớ đến lời hứa của mình cách đây hai năm với Bệnh viện Mường Khương (Lào Cai) vẫn chưa thực hiện được. Hồi đó, vào cuối tháng 1/2016, khi biết chúng tôi quyên góp gửi hàng “tiếp viện” cho đồng bào huyện Si Ma Cai do đợt rét hại đột ngột về giáp Tết, Phó Giám đốc Bệnh viện huyện Mường Khương đã chủ động liên lạc với tôi để xin tài trợ cho một dự án xã hội của các đoàn viên thanh niên ở Bệnh viện. Đó là kế hoạch xây dựng tủ thuốc miễn phí cho bệnh nhân người dân tộc, vì bà con thường xuyên không đủ khả năng mua thuốc điều trị mà cũng không có bảo hiểm. Tôi hứa với vị bác sĩ trẻ rằng sẽ cố gắng tìm cách giúp, nhưng đã hai năm trôi qua mà vẫn chưa thực hiện được việc này 😞.

Lại nhớ đến những lần thầy trò ở trường bày ra làm đủ thứ để quyên góp tiền xây nhà cho đồng bào vùng lũ trong chương trình hỗ trợ gia cư của CLB H4H (Habitat for Humanity). Hàng năm, các học sinh tham gia CLB chỉ dám đặt chỉ tiêu xây từ một đến hai căn nhà. Mỗi căn trị giá 40 triệu đồng. Như vậy, để xây 100 căn cần có 4 tỷ đồng: Một số tiền mà theo kế hoạch như hiện nay, có lẽ thầy trò phải mất từ nửa thế kỷ cho đến 100 năm mới quyên góp đủ! ☹️☹️☹️.

Một cái tết nữa lại sắp tới… Hôm qua tôi thấy trên sân trường những học sinh tiểu học bé xíu đang khệ nệ ôm những bao gạo, những thùng mì, những gói quần áo, sách vở… chất lên xe chuẩn bị mang “Tết Box” của cộng đồng chúng tôi đến cho những trẻ em nghèo như mọi năm… Luẩn quẩn trong đầu con số 1.400 tỷ đồng và câu hỏi miên man: Những học sinh đáng yêu đang được dạy để biết quan tâm và chia sẻ kia, các con sẽ nghĩ gì khi biết người lớn chúng ta có thể bỏ ra hàng ngàn tỷ đồng (số tiền lớn đến độ đầu óc non nớt của các con chắc không thể hình dung nổi!) để xây tượng đài hoặc làm nghĩa trang – những thứ mà ai cũng biết là không dành để chăm lo cho người đang sống?

Người thông minh không phải là người trí tuệ

Người thông minh không phải là người trí tuệ

Người thông minh biết bản thân làm được gì, còn người trí tuệ biết bản thân không làm được điều gì.

 
Người thông minh không phải là người trí tuệ.

Người thông minh biết nắm bắt cơ hội, biết khi nào nên “ra tay”, còn người trí tuệ biết khi nào nên buông tay. Vì vậy, cầm lên được là thông minh, còn bỏ xuống được mới là trí tuệ..

Người thông minh thể hiện thế mạnh của mình ra ngoài, cũng chính là bộc lộ hết tài năng; còn người trí tuệ để người khác thể hiện thế mạnh của họ, âm thầm lặng lẽ làm.

Ví dụ trong một buổi tiệc, người thông minh bận nói, họ nói không ngừng, vì vậy họ giống như chiếc ấm trà; còn người trí tuệ bận nghe, chú ý lắng nghe người khác nói, thế nên họ là chiếc tách trà. Nước trong ấm rốt cuộc cũng phải rót vào tách mà thôi.

  1. Thông minh là một loại khả năng sinh tồn, còn trí tuệ lại là một dạng cảnh giới của sinh tồn

Trên thế giới không có nhiều người thông minh, trong số 10 người thì chỉ có 1-2 người, còn người có trí tuệ thì lại càng hiếm thấy, trong số 100 người có khi không có lấy người nào. Ngay cả Socrates được công nhận là người trí tuệ cũng tự thấy rằng nếu xét theo yêu cầu về trí tuệ thì bản thân ông cũng là người vô tri.

  1. Trong cuộc sống thực tế, những người không chịu thiệt thòi là người thông minh, còn người có thể chịu thiệt là người trí tuệ

Người thông minh luôn có thể bảo toàn lợi ích của mình khi làm việc với người khác. Ví dụ như trong làm ăn, họ luôn có thể thu về lợi nhuận – còn người trí tuệ tuyệt sẽ không theo đuổi việc thu lợi nhiều nhất trong kinh doanh, một số người thậm chí có phải bù tiền thì họ cũng làm, họ đặt lợi ích của người khác lên hàng đầu. Người trí tuệ đều biết rằng “không mất thì sẽ không được”.

  1. Người thông minh chú ý chi tiết, còn người trí tuệ chú trọng tổng thể

Người thông minh phiền não nhiều, thường xuyên mất ngủ, bởi vì họ nhạy cảm hơn người bình thường. Còn người trí tuệ có thể rời xa phiền muộn, đạt đến mức độ “không vui vì người, không buồn vì mình”, vì vậy người trí tuệ ăn ngon ngủ yên.
Vì vậy người thông minh thường qua đời sớm, còn người trí tuệ vô lo nên thường sẽ sống thọ.

Người thông minh khát vọng thay đổi người khác để người khác làm theo ý mình, còn người trí tuệ thường thuận theo tự nhiên.

Vì vậy, quan hệ giao tiếp của người thông minh sẽ dễ căng thẳng, nhưng với người trí tuệ thì lại hòa nhã hơn.

 

  1. Thông minh đa số là trời sinh, có được do di truyền, còn trí tuệ dựa nhiều vào luyện tập.

Thông minh có thể có được nhiều tri thức hơn, còn trí tuệ khiến người ta có văn hóa.

Vì vậy, một người càng có nhiều tri thức thì càng thông minh, còn người càng có nhiều văn hóa thì càng trí tuệ.

Thông minh dựa vào tai và mắt, người ta thường gọi là “tai thính mắt tinh”; còn trí tuệ phụ thuộc vào tâm hồn, tức “tuệ do tâm sinh”.

Thông minh có thể mang đến tiền tài và quyền lực, trí tuệ có thể mang đến niềm vui.               Vì thế, nếu cầu tài thì chỉ cần thông minh là đủ, còn nếu muốn thoát khỏi phiền muộn thì cần có trí tuệ.

Hố chôn tập thể, nghĩa trang 1400 tỉ và những đứa bé đói

Hố chôn tập thể, nghĩa trang 1400 tỉ và những đứa bé đói

RFA

Nếu xét trên chính sách vĩ mô của nhà cầm quyền, ba khái niệm: Hố chôn tập thể; Nghĩa trang (Yên Trung) nghìn tỉ và; Những đứa bé đói khổ, rét lạnh nơi miền núi không có gì liên quan với nhau. Bởi chính sách dành cho mỗi lĩnh vực, mỗi mảng đều riêng lẻ. Nhưng xét trên khía cạnh con người, tính nhân bản, nhân văn, nhân đạo và trách nhiệm của nhà cầm quyền, thì ba vấn đề này đều thuộc về lương tri. Sự cân đối, phân bổ hợp lý ở ba lĩnh vực, khía cạnh này sẽ cho thấy mức độ quan tâm, trách nhiệm và lương tri của nhà cầm quyền.

Karl Marx, ông tổ của chủ nghĩa Cộng sản thế giới từng đưa ra một nhận định trong Tư Bản Luận (sau này, trong Chính sách kinh tế mới, viết tắt là NEP – New Economy Policy của Lênin cũng nhắc lại): Chỉ có những con thú mới quay lưng đi để liếm bộ lông trước đồng loại bị thương. Và xét trên một ý nghĩa nào đó, khi no đủ, người Cộng sản lại chọn khuynh hướng đi ngược với giáo huấn của tổ phụ Karl Marx.

Nghĩa là, xét lại tiền ngân sách nhà nước, do đâu mà có. Xin nói nhanh, do nhân dân đóng thuế mà có ngân sách nhà nước. Bản chất và hiệu dụng của ngân sách nhà nước là gì? Đó là nói một cách sâu xa, ngân sách nhà nước đóng vai trò quĩ tiết kiệm và an sinh cho toàn dân thông qua sự điều hành của nhà nước. Vấn đề an sinh xã hội, cân bằng dân số, y tế, giáo dục, văn hóa, an ninh xã hội đều phụ thuộc vào ngân sách nhà nước. Một khi các vấn đề an sinh xã hội và an ninh xã hội được đáp ứng đầy đủ, nhà nước mới được quyền dùng ngân sách trong các lễ lạc, tượng đài, những công trình không mang tính xã hội.

Ở đây, nghĩa trang Yên Trung có được xem là công trình xã hội hay không? Bởi ngày trong lúc này, có quá nhiều vấn đề xã hội cần được quan tâm đúng mức và đầy đủ, nếu chưa thực hiện được các vấn đề như an ninh, chủ quyền quốc gia, an ninh xã hội, an sinh xã hội… Thì tất cả những vấn đề khác nhà nước đều không được trích thuế của dân để thực hiện. Phải dành thuế của dân cho những vấn đề có tính thiết thực cho nhân dân.

Thử đặt những câu hỏi: Có bao nhiêu đứa bé dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi được đến trường, cơm đủ ngày ba bữa, có áo ấm để mặc? Có bao nhiêu hố chôn tập thể gồm cả hai phía Việt Nam Cộng Hòa và Cộng sản Bắc Việt đã thành những hố lãng quên? Và tất cả những cổng chào, tượng đài, nghĩa trang nghìn tỉ của nhà nước mang lại giá trị gì cho quốc gia, dân tộc?

Ở câu hỏi thứ nhất, về những đứa bé nghèo, có thể nói rằng khắp đất nước Việt Nam, từ thành phố đến thôn quê, vùng sâu vùng xa, miền núi, càng đi sâu vào vùng hoang vắng thì sự nghèo khổ càng hiện rõ. Bạn tôi từng lắc đầu, chép miệng nói với tôi về những đứa bé đồng bào thiểu số khi trời rét còn chưa tới 10 độ C mà chúng vẫn không mặc quần (do không có quần để mặc) rằng “mấy đứa này trời nuôi chứ không phải người nuôi”. Bất kỳ huyện miền nhúi vùng sâu, vùng xa nào tại Việt Nam đều có cảnh thiếu, đói, trời lạnh không có áo ấm, trẻ con bỏ học sớm hoặc không có cơ hội đến trường hoặc đến trường bằng những chiếc cầu dây tử thần băng qua suối chảy xiết… Có một ngàn lẻ một kiểu thiếu, đói tại Việt Nam.

Nói về những hố chôn tập thể, sở dĩ tôi phải nói đến cả hai phía bởi chỉ riêng chiến dịch tổng tiến công Mậu Thân 1968, tại Huế và nhiều tỉnh khác đã xuất hiện hàng trăm hố chôn tập thể. Trong đó, có những hố của quan chức Việt Nam Cộng Hòa và thường dân (bị Cộng sản nằm vùng giết để trả thù và bịt đầu mối cơ sở) và có những hố chôn của chính những người Cộng sản chôn người Cộng sản.

Trường hợp Cộng sản chôn Cộng sản diễn ra như thế nào? Đó là những người bộ đội Cộng sản Bắc Việt bị tổng động viên từ những ngày đầu năm 1967 cho đến thời điểm hành quân vào miền Nam để tham gia “tổng tiến công”. Cũng xin nói thêm, những bộ đội Cộng sản Bắc Việt tham chiến Mậu Thân là những cậu bé từ 13 đến 15 tuổi, họ không có gì ngoài lòng căm thù Mỹ, Ngụy rất con nít mà họ có được thông qua nền giáo dục miền Bắc với thơ Tố Hữu, Chế Lan Viên, Phạm Tiến Duật, Chính Hữu… Họ chỉ biết Mỹ, Ngụy là những kẻ ăn thịt người man rợ và họ phải đi vào miền Nam để “giải phóng cho người miền Nam”, một số người trước khi đi đã xăm hàng chữ “Sinh bắc tử nam”.

Khi vào đến miền Nam, vào Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn, có nhiều bộ đội trẻ giật mình vì “lập trường chính trị không vững”, khi nhìn thấy miền Nam đẹp, thanh bình và giàu có, hiện đại, không như những gì họ được dạy… Nhiều bộ đội đã tỏ ra lơ là, không còn hăng say tinh thần chiến đấu. Và cái đêm giao thừa định mệnh Tết Mậu Thân, họ bị cấp chỉ huy đưa vào vị trí chiến đấu, xích chân vào nhau để khỏi bỏ chạy lúc đánh nhau. Thường thì một tiểu đội hoặc một trung đội trẻ bị xích chân với nhau để từ đó họ phải bắn và bắn, chiến đấu và chiến đấu cho đến lúc chết.

Và hầu hết những tiểu đội, trung đội thiếu niên này đều chết trong lúc vứa đánh vừa bị xiềng chân. Họ cũng không được chôn cất tử tế, sau này, xương cốt của họ được phát hiện và chôn cất, cởi trói khi có những người dân xây cất nhà cửa, đào móng nhà và đào trúng nơi họ nằm. Tại Gò Vấp, Sài Gòn, tại trung tâm thành phố Huế, tại Đà Nẵng, Quảng Nam đều có những hố chôn như vậy. Và vẫn còn một vài nhân chứng sống, đã chứng kiến những bộ đội trẻ nít phải chiến đấu, chết và bị chính các đồng đội lấp đất trước khi rút quân ra sao. Đó là chưa nói đến một số trường hợp chính Cộng sản bị Cộng sản giết do họ không muốn tiếp tục theo con đường “giải phóng miền Nam’, họ xin về quê làm ăn, cưới vợ, và khi ra khỏi bưng, họ bị giết, bị chôn ở bìa rừng, con số này không hề ít.

Nếu cộng thêm các hố chôn tập thể mà quan chức, cán bộ miền Nam bị giết trong chiến tranh, đặc biệt là Tết Mậu Thân và những ngày trước 30 tháng 4 năm 1975, có lẽ con số lên đến cả hàng chục ngàn, hàng trăm ngàn xác người vẫn còn nằm lây lất, rải rác, vất vưởng đâu đó trong lòng đất mẹ. Lẽ ra, trong nhiều năm nay, nhà cầm quyền, cụ thể là đảng Cộng sản phải có những hành động qui tập, hỗ trợ qui tập cho cả hai phía để thực hiện tinh thần “nghĩa tử là nghĩa tận” và cũng là động thái hòa giải dân tộc để đi đến hòa hợp dân tộc thay vì kêu gọi bằng những văn bản, lời nói suông. Nhưng họ đã không làm vậy!

Bây giờ, xương máu, sự đau khổ của nhân dân vẫn còn đầy rẫy mặt đất, đi đâu cũng gặp cảnh khổ, đi đâu cũng gặp những gia đình mất con, mất anh em chưa tìm thấy xác vì chiến tranh. Vậy mà người Cộng sản lại nghĩ đến chuyện lấy tiền thuế của nhân dân để xây khu nghĩa trang cho cán bộ cao cấp! Nên nhớ, trong tiền ngân sách nhà nước, cụ thể là tiền thuế của dân, gồm cả sự đóng góp của cả hai phía, không có đồng thuế nào là không nhuốm mồ hôi, nước mắt của dân nghèo, của những bà mẹ liệt sĩ Cộng sản, của những bà mẹ quân nhân Việt Nam Cộng Hòa tử trận và cả những đồng đô la của người Việt hải ngoại gửi về cho người thân trong nước.

Nói một cách nghiêm túc, ngân sách nhà nước có không dưới 40% là tiền có gốc gác của người “phía bên kia”. Dù có chối bỏ, léo hánh cách gì thì đây cũng là sự thật. Nhưng vấn đề tôi muốn nói ở đây không phải là tiền phía bên này hay bên kia trộn lẫn trong ngân sách nhà nước. Mà vấn đề là một đất nước đang bị tùng xẻo, cây xanh, môi trường, tài nguyên đang kiệt quệ, những khối bê tông cơ quan, nhà quan và tượng đài mọc lên ngày càng quá nhiều, nó hiện hữu như thách thức nỗi khốn cùng, đói khổ và đau khổ của nhân dân.

Trong lúc biển bị nhiễm độc vẫn chưa kịp lành lặn, tiếp tục bị đe dọa bởi Formosa, trong lúc miền Tây Nam bộ đang bị nhiễm mặn trầm trọng, nhân dân đói khổ, trong lúc trẻ em miền núi, nhân dân miền núi vẫn đói khổ, lạc hậu, trong lúc tài nguyên rừng và khoáng sản bị tùng xẻo không thương tiếc, trong lúc vết thương Nam – Bắc chưa kịp lành lặn, trong lúc nợ công cao chất ngất, người dân còng lưng đóng thuế vì nợ công, giá xăng tăng, điện tăng, vật giá leo thang, các bệnh viện không có chỗ nằm, bệnh nhân phải chui gầm giường, nằm hành lang mà chờ điều trị… Thì nhà cầm quyền lại quyết định xây dựng thật nhiều tượng đài, cổng chào, ngốn hàng tỉ tỉ đồng, rồi lại nghĩ thêm chuyện xây khu nghĩa trang cao cấp cho cán bộ.

Liệu có khi nào giới cầm quyền suy nghĩ về những gì họ đã làm bấy lâu nay? Liệu có khi nào họ đặt mình vào nhân dân nghèo khổ để thấy sự vô lý và trơ tráo của họ? Và liệu có khi nào họ nghĩ đến một chân lý: Tượng đài xây được thì đập được, nghĩa trang xây được thì cào bằng được, cổng chào xây được thì hạ được… Bởi những thứ này không phải là sức mạnh, không phải là trường tồn. Bởi sức mạnh, sự trường tồn của một dân tộc nằm trong tay nhân dân.

Cụ thể, sức mạnh dân tộc nằm trong niềm tin, sự hưởng ứng, đồng thuận và cảm phục của nhân dân. Và sức mạnh của một đảng phái so với sức mạnh của một dân tộc cũng chỉ bằng một bụi cây trong một vườn cây. Liệu cách lựa chọn đạp qua mọi dư luận, đạp qua mọi sự bất bình, bất công để đạt sự thỏa mãn của một đảng phái, một nhóm lợi ích có phải là lựa chọn thông minh?

Và vấn đề cần đặt ra ở đây không phải là sự lựa chọn có thông minh hay không thông minh của đảng cầm quyền, mà là sự công bằng xã hội, sự sòng phẵng, tính minh bạch và tôn trọng nhân dân bắt buộc phải có của nhà lãnh đạo. Họ dù muốn hay không muốn cũng phải thực hiện nguyện vọng của nhân dân và không được phép đạp lên nỗi đau, nỗi khổ của nhân dân mà hưởng lộc! Bởi đất nước đã quá đủ đau khổ, nhân dân đã quá đủ lầm than và hơn bao giờ hết, nhân dân, đất nước cần phát triển, cần tiến bộ, cần tồn tại đúng nghĩa một dân tộc, một quốc gia!

 

Việt Nam-Trung Quốc: “Hai Quốc gia, Một trạm Kiểm soát Cửa khẩu”

 

Hơn 100 người Việt tụ tập trước tượng đài Vua Lý Thái Tổ tại trung tâm Hà Nội hôm 17/02/16 để tưởng niệm kỷ niệm ngày nổ ra chiến tranh biên giới Việt-Trung. Những tấm biểu ngữ ghi hàng chữ "Ngày 17/2/1979, Nhân dân sẽ không quên". (AP Photo/ Tran Van Minh.)

Hơn 100 người Việt tụ tập trước tượng đài Vua Lý Thái Tổ tại trung tâm Hà Nội hôm 17/02/16 để tưởng niệm kỷ niệm ngày nổ ra chiến tranh biên giới Việt-Trung. Những tấm biểu ngữ ghi hàng chữ “Ngày 17/2/1979, Nhân dân sẽ không quên”. (AP Photo/ Tran Van Minh.)

Việt Nam và Trung Quốc có đường biên giới đất liền dài tới 1,280 km và kế hoạch thành lập một trạm kiểm soát biên giới chung đã có từ lâu. Hôm 4/2, tờ South China Morning Post của Hong Kong dẫn lời một giới chức Trung Quốc nói rằng dự án này có thể sớm đi vào hoạt động, có lẽ từ tháng Năm năm nay. Ông Jian Xingchao, phó thị trưởng thành phố Phòng Thành Cảng, nơi được chọn làm địa điểm đặt 1 trong hai trạm kiểm soát cửa khẩu chung, nói: “Rất nhiều chi tiết còn đang dược thảo luận, nhưng cả hai bên đều có chung ước muốn đó.”

Trạm kiểm soát đầu tiên, ở Phòng Thành Cảng (Fanchenggang), sẽ được thiết lập trên cầu Dongxing-Móng Cái. Trạm thứ nhì có thể được đặt ở Cầu Hữu nghị, cửa khẩu ở Pingxiang.

Cả Phòng Thành Cảng lẫn Pingxiang đều thuộc Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây ở miền Nam Trung Quốc. Trạm đầu tiên sẽ kết nối với thành phố Móng Cái ở tỉnh Bắc Ninh, tỉnh Quảng Ninh và trạm kiểm soát thứ hai kết nối với thị trấn Đông Đăng ở tỉnh Lạng Sơn.

Theo ông Jian, vấn đề chủ yếu xoay quanh vấn đề chủ quyền vì bên nào tiến hành kiểm tra ở biên giới thì trên thực tế bên đó có hiệu lực thực hiện chủ quyền đối với bên kia, do đó đây là một vấn đề “khó giải quyết bởi vì không bên nào muốn buông bỏ quyền lực đó”.

Nhà hoạt động chống Trung Quốc, Tiến sĩ Nguyễn Quang A tuần hành dọc theo Hồ Hoàn Kiếm ở Hà Nội để đánh dấu kỷ niệm năm thứ 35 Chiến Tranh biên giới Việt-Trung, ảnh chụp ngày 16/2/014.

Nhà hoạt động chống Trung Quốc, Tiến sĩ Nguyễn Quang A tuần hành dọc theo Hồ Hoàn Kiếm ở Hà Nội để đánh dấu kỷ niệm năm thứ 35 Chiến Tranh biên giới Việt-Trung, ảnh chụp ngày 16/2/014.

Tiến sĩ Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển IDS và Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Việt Nam – Hungary, nhận định:

“Cái đó có thể gây nhiều lo ngại trong dân chúng Việt Nam. Thực sự nếu trong một bối cảnh chung của sự hội nhập quốc tế mà chúng ta thấy ở ASEAN hay ở các nước thuộc khu vực Schengen chẳng hạn, thì việc đó có thể là một việc bình thường, thậm chí đáng hoan nghênh, nhưng với hoàn cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam và Trung Quốc, thì tôi nghĩ cái chuyện đấy gây rất nhiều phản cảm.”

Ông nói thái độ hoài nghi và tinh thần phản kháng Trung Quốc nơi người dân Việt Nam còn rất cao, trong bối cảnh Trung Quốc đang tìm mọi cách để bành trướng và gây ảnh hưởng lớn tới Việt Nam “như đã gây ở Campuchia và Lào.”

Tiến sĩ Nguyễn Quang A cho rằng dự án này có lợi cho Trung Quốc để thực hiện cái gọi là chiến lược “tằm ăn dâu” lấn chiếm đất, bởi vì nó tạo điều kiện dễ dàng cho người Trung Quốc vào Việt Nam hơn là người Việt Nam vào Trung Quốc, kể cả dưới chiêu bài du lịch. Ông đơn cử trường hợp thành phố Phủ Lý, cách đây mấy chục năm chỉ có vài chục người Trung Quốc đi du lịch đến rồi ở lại, bây giờ có khoảng 40,000 người Trung Quốc làm ăn trong một thành phố chỉ có khoảng 100,000 dân. TS Quang A cho rằng đó là một “sự bành trướng rất hữu hiệu của Trung Quốc.”

“Trung Quốc là một nước đông dân nhất thế giới và có chủ trương nhất quán là như thế, thì đối với kinh nghiệm của VN lịch sử nhiều ngàn năm về việc giữ gìn độc lập thì chắc chắn là người dân và tôi tin rằng trong giới lãnh đạo cũng có người quan ngại về tiến triển đấy”.

“Như vậy cái chủ quyền của hai nước nó không được xác định rõ ràng. Tôi không hiểu tại sao mà lại phải nhập làm một. Tôi là một người nghiên cứu lịch sử từ xưa đến nay, tôi cũng không hiểu.”
Nhà sử học Nguyễn Nhã, tác giả nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử xác lập chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Tiến sĩ Nguyễn Nhã, tác giả của nhiều công trình khoa học nghiên cứu về lịch sử xác lập chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nhận định:

“Tôi đã từng đến Lạng Sơn thì tôi thấy cửa ngõ của Lạng Sơn, ở bên này là của VN, bên kia là của Trung Quốc, thì bây giờ nhập lại một thì tôi không hiểu là ý đồ thế nào. Như vậy là phải thống nhất với nhau, mà có khi bên này bên kia không đồng ý với nhau thì sao, thì tôi cũng không rõ.”

Báo South China Morning Post dẫn lời Tiến sĩ Lê Hồng Hiệp của Viện nghiên cứu Yusof Ishak ở Singapore, tỏ ra lạc quan là Việt Nam và Trung Quốc có thể hợp tác với nhau, ông coi dự án này như một cách để 2 nước có thể làm việc với nhau và phục vụ các lợi ích chung, vượt lên trên cuộc tranh chấp ở Biển Đông để hướng tới phía trước.

Nhưng nhà sử học Nguyễn Nhã tiên đoán sẽ có những phức tạp khó khăn khi kế hoạch “Hai quốc gia, một trạm kiểm soát cửa khẩu” đi vào hoạt động:

“Như vậy cái chủ quyền của hai nước nó không được xác định rõ ràng. Tôi không hiểu tại sao mà lại phải nhập làm một. Tôi là một người nghiên cứu lịch sử từ xưa đến nay, tôi cũng không hiểu.”

Tuy các nhà nghiên cứu đều cho rằng dự án này cũng có mặt tích cực của nó khi tạo thuận lợi cho hợp tác giao thương, giao lưu văn hóa, tăng sự hiểu biết lẫn nhau trong khu vực, nhưng cùng lúc, họ cảnh báo về mối nguy tiềm tàng trong bối cảnh Trung Quốc kiên trì tiến hành chiến dịch tằm ăn dâu để thực hiện tham vọng “Nam tiến”.

“Tôi nghĩ rằng cái đó nó càng gây nghi ngờ trong dân chúng về những cái gọi là hiệp định bí mật như hiệp ước Thành Đô mà rất tiếc là chính quyền Việt nam, Đảng Cộng sản VN không bác bỏ mà cũng không công nhận, và cái điều đấy nó càng làm cho sự lo ngại nó có cơ sở hơn.”
Tiến sĩ Nguyễn Quang A

Tiến sĩ Nguyễn Quang A:

“Nếu người ta hiểu biết lẫn nhau hơn, giao thương làm ăn với nhau hơn thì các sự căng thẳng sẽ giảm bớt, nhưng tôi nghĩ phải lưu ý đến luôn cả mặt kia nữa vì không khéo thì lợi bất cập hại cho nên làm cái gì cũng phải có một mức độ tính toán thiệt hơn.”

Liệu khái niệm “Hai quốc gia, một trạm kiểm soát cửa khẩu”, có gợi lên cách hành xử của Trung Quốc khi thực hiện chính sách “Một quốc gia, hai thể chế” tại đặc khu Hong Kong?

Tiến sĩ Nguyễn Quang A cho rằng kế hoạch “Hai quốc gia, một trạm kiểm soát” càng gây thêm nghi ngờ về hiệp định Thành Đô bí mật giữa lãnh đạo Đảng Cộng sản VN và Trung Quốc như tin đồn bấy lâu nay.

“Tôi nghĩ rằng cái đó nó càng gây nghi ngờ trong dân chúng về những cái gọi là hiệp định bí mật như hiệp ước Thành Đô mà rất tiếc là chính quyền Việt nam, Đảng Cộng sản VN không bác bỏ mà cũng không công nhận, và cái điều đấy nó càng làm cho sự lo ngại nó có cơ sở hơn. ”

Tiến sĩ Nguyễn Nhã không nhắc tới hiệp định Thành Đô, nhưng cũng nêu lên quan ngại của nhiều người và của cá nhân ông:

“Theo tôi, nếu không có chuyện Trung Quốc áp đặt bằng vũ lực ở Hoàng Sa đó thì có khi lại không đặt vấn đề ra, và các nước như Cộng đồng chung Châu Âu đó thì họ cũng có sự hợp tác rất là chặt chẽ, nhưng mà chủ quyền của nước nào, và văn hóa của nước nào họ vẫn tôn trọng. Hàng rào có thể bỏ đi nhưng tôi thấy là các nước từ nước Pháp qua nước Đức và các nước còn lại thì tôi thấy chủ quyền của mỗi nước vẫn được tôn trọng..”

Nhà sử học nói nhiều người lấy làm lo ngại, và bản thân ông cũng lo ngại nhưng “sau này thì lịch sử viết ra thì mới biết được”.

Thôi không cầm súng, con người tất an nhiên

 

Thôi không cầm súng, con người tất an nhiên

Tuấn Khanh

Trên trang facebook của chàng thanh niên Nuseir Yassin, vẫn thường được gọi tên là Nas Dailly, có post một video cảm động và lạ thường.

Đó là câu chuyện của hai người đàn ông sau 44 năm tìm thấy nhau. Quá khứ của họ thăm thẳm tối nhưng nụ cười về tương lai thì tỏa sáng.

Chuyện của video được tóm tắt như sau: Nhiều năm trước khi còn là một quân nhân của Hy Lạp, Iannis kết thúc đời binh nghiệp của mình bằng kỷ niệm khó quên khi nhận một viên đạn vào đầu, được bắn từ phía đối phương là Fethi, quân nhân Thổ Nhĩ Kỳ.

Nhưng may mắn là Iannis không chết. 30 năm sau, ông viết lại câu chuyện đời mình trong một cuốn sách. Lạ lùng thay, Fethi lại ngẫu nhiên đọc được cuốn sách ấy. Với những mô tả rất rõ về trận đánh, sự kiện… ông Fethi nhận ra rằng tác giả cuốn sách chính là người mà ông ta đã nhắm bắn.

Fatis và Lannis. Ảnh: Facebook

Fethi đã tìm cách liên lạc với Iannis và xin được tha thứ, và rồi ông nhận lại được một tình bạn từ kẻ mà mình đã từng muốn đoạt mạng sống. Cuộc xung đột chính trị ở Síp, quốc đảo xinh đẹp nằm ở phía Đông Địa Trung hải năm xưa, đã khiến hai thường dân hiền lành bị biến thành thù địch. Và giờ đây họ sánh vai với nhau, bước qua mọi thứ như những con người an nhiên nhất trên địa cầu.

Bản video đã nhận được hơn 100.000 like, hơn 35.000 lần chia sẻ và hàng ngàn lời bình luận. Có lẽ nó đã làm cảm động không ít người đã đi qua chiến tranh. Và chắc bản video này chắc rồi cũng sẽ làm nhiều người Việt Nam cảm động. Bởi Việt Nam có đủ các kinh nghiệm của một quốc gia bị xâu xé bởi các loại chủ nghĩa anh hùng và giải phóng, biến những người cùng màu da, tiếng nói trở thành hận thù. Câu chuyện của Fethi và Iannis tựa như một cánh cửa khác của sự tỉnh thức vào lúc này.

Vào lúc này – bởi đây là những ngày hệ thống truyền thông nhà nước rầm rộ tự ngợi ca về chiến dịch Mậu Thân 1968 tấn công tràn vào đời sống thường dân miền Nam. Sự rầm rộ ấy khiến người ta nhận ra rằng, sau nửa thế kỷ đã toàn trị, nhà cần quyền vẫn bước hoang mang tìm kiếm một hình dạng chính nghĩa. Thật khác với những người đàn ông vô danh trong bản video của Nas Daily, nhà nước rõ là không thể có được sự an nhiên, vì vẫn luôn còn tự đắc với những câu chuyện của ngày cầm súng.

Fethi và Iannis không còn trẻ con để biết rằng chuyện chĩa súng vào nhau là điều đáng để vứt đi. Họ ôm nhau và cười để nói những câu chuyện về ngày không phải còn phải cầm súng. Cuộc đời không phải là để cho bọn cầm quyền, bọn làm chính trị và tung hô chủ nghĩa lợi dụng. Và câu chuyện hai người đàn ông khoác vai nhau đi trên một con đường, đã không thể bị bất kỳ chính quyền nào sử dụng làm công cụ tuyên truyền chính trị.

“Hãy nhận rõ, bọn chính quyền không có lương tâm. Đôi khi chúng lêm giọng về chính sách, nhưng rồi sau đó không còn gì hơn nữa cả”. (By definition, a government has no conscience. Sometimes it has a policy, but nothing more). Albert Camus (1913-1960) đã nói. Quả vậy, khi con người vượt qua những thứ đó để tìm đến nhau, họ nhận rõ mọi thứ, kể cả rõ về kẻ đã tìm cách mở một cuộc chiến hay lên giọng sau một cuộc chiến.

Việt Nam cũng đã từng có nhiều cơ hội cảm động thuần túy để nhắc nhau như vậy, chẳng hạn như dịp cựu binh Frederic Whitehurst trao lại nhật ký Đặng Thùy Trâm. Câu chuyện một cô gái trẻ bị đẩy vào bom đạn, nếu được soi chiếu hoàn toàn dưới góc nhìn nhân bản, không nhuốm màu chính trị, ắt hẳn sẽ còn lưu truyền mãi về sau, hơn là qua một đợt truyền thông phong trào.

Một ngày nào đó, có thể người Việt sẽ được tự do làm nhiều video nhỏ như trên Nas Daily, nói về người Việt Nam thương yêu nhau, và biết ăn năn và biết đoàn kết chỉ cho vận mệnh quốc gia. Một ngày nào đó, con người trên đất nước này không còn bị đặt tên là kẻ thù, không còn bị xô vào trận làm kẻ sát nhân hay tội đồ, hoặc tự xướng danh một cách vô liêm sỉ.

_____

Về trang Nas Daily:

Theo mô tả từ các trang giới thiệu Nas Daily, thì đây là trang video của Nuseir Yassin, một thanh niên mang hai giòng máu Palestinian Israeli, năm nay 26 tuổi. Trang facebook với các video ngắn khoảng 1 phút đủ các câu chuyện trên đường đi của anh ta, thu hút đến hơn 4,5 triệu người theo dõi trang.

Đang là một nhân viên viết nhu liệu của PayPal với mức lương rất cao, Nuseir Yassin đã bỏ việc và lên đường với một chiếc camera để ghi lại mọi việc trên thế giới mà anh thấy, từ hơn một năm trước.

Năm 19 tuổi, Nuseir Yassin nộp đơn học ở đại học Havard. Bài luận của anh gây chú ý khi mô tả nỗi thất vọng của mình khi là một người Ả rập sinh ra trên đất Do thái, và vấp phải nhiều chướng ngại của số phận trớ trêu.

Bằng những video dài trên dưới 1 phút, Nuseir Yassin đang tạo ra mọt phong cách đặc biệt của vblog, và tạo niềm cảm hứng cho hàng triệu thanh niên đang bắt đầu thực hiện những video ngắn đầu tiên của mình.

HÀNH ĐỘNG CỦA CÔNG DÂN LÀ THỂ DIỆN CỦA QUỐC GIA

 Luân Lê‘s post.
 
Image may contain: 2 people, text
Luân LêFollow

 

HÀNH ĐỘNG CỦA CÔNG DÂN LÀ THỂ DIỆN CỦA QUỐC GIA, NÊN NỖI NHỤC CỦA NGƯỜI KHÁC LÀ NỖI NHỤC CỦA CHÍNH MÌNH

“Mỗi người dân là một bộ mặt của quốc gia, nếu không thể coi tổ quốc là niềm tự hào và thiêng liêng trong tâm khảm, thì chúng ta sẽ luôn để sẵn sàng thực hiện hoặc bỏ mặc người khác gây nên những điều tồi tệ”.

Tại sao tôi lại nói điều có vẻ nghịch lý này ở đây và với mục đích gì? Tại sao người khác hành động mà lại mang nhục cho bản thân mình là thế nào? Tôi thì có liên quan gì đến anh, anh thì liên quan gì đến người khác mà lại nghiêm trọng như vậy? Và mỗi cá nhân phải tự chịu trách nhiệm với hành vi của mình chứ lôi chuyện thể diện quốc gia vào đây là cớ ra làm sao?

Nếu ai đó đặt ra câu hỏi kiểu như thế là vì từ trước đến nay anh ta chỉ có quan tâm đến chén cơm và xó nhà của mình thôi chứ chẳng để tâm thứ gì khác. Thực là một đất nước bất hạnh nếu mà lại tồn tại lắm loại người kiểu như vậy.

Chúng ta thử đặt giả dụ thế này. Một người ở đất nước chúng ta ra nước ngoài làm ăn, với tâm lý chụp giựt, không trung thực lại hay tắt mắt. Rồi một ngày người này ăn cắp đồ của siêu thị và bị bắt. Xin xỏ chính quyền sở tại không được, hối lộ để chạy tội không xong, vì luật pháp nước họ nghiêm minh và rõ ràng, không có nể nang hay phụ thuộc gì vào vị thế gia cảnh, địa vị chính trí của người nào mà xét xử. Thế là bị xử phạt thật nặng và trục xuất về nước. Các bạn là người Việt Nam có thấy chút xấu hổ nào không về một hành vi của một người cùng tổ quốc mình như thế? Tôi nghĩ là người có lương tâm thì có đấy. Nhưng chúng ta thử tưởng tượng rằng, chúng ta cứ tặc lưỡi và mặc kệ mà tự nhủ là “chuyện người ta hơi đâu mà lo”, thế thì một ngày khác có tới vài người cũng lại ăn cắp, vài kẻ khác thì lại thực hiện hành vi dâm ô với trẻ em và bị trục xuất về nước, hoặc số khác thì làm ăn gian dối mà giao hàng không đúng hợp đồng nên bị tẩy chay và xua đuổi. Lúc này, tôi nghĩ không chỉ những cá nhân đó thiệt hại đâu, mà hình ảnh quốc gia của chúng ta cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng vì bị nước ngoài cảnh giác, đánh giá không tốt. Mà đã như thế là mất đi lợi thế để làm ăn, sẽ bị hủy bỏ các hợp đồng mới và cơ hội đầu tư giữa hai quốc gia, nhiều người dân của chúng ta sẽ không được họ tiếp nhận hoặc nếu có thì hạn chế mà còn bị soi xét rất kỹ lưỡng. Mà mỗi khi nước người ta nhắc về chúng ta là người ta cứ chỉ nói “người Việt Nam” đã trộm cắp hay gian manh thế nào thôi chứ người ta đâu có nhắc ông này hay bà kia một cách cụ thể.

Thế thì chúng ta có nhục nhã và có đúng là đất nước chúng ta phải gánh hậu quả dù đó là hành động đơn lẻ của cá nhân hay không?

Thế nên, làm sao mà mỗi công dân của Việt Nam phải luôn coi hành động của mình là thể diện của quốc gia, nỗi nhục của mỗi cá nhân là nỗi nhục của quốc gia. Ra nước ngoài mà nghe được người khác chửi rủa hay khinh bỉ, miệt thị hoặc xua đuổi đồng bào mình thì chúng ta có thấy hổ nhục không? Có đau đớn và cảm thấy bị xúc phạm như chính mình bị tạt một xô nước bẩn vào mặt không?

Cũng giống như một cái làng mà gồm hầu hết những kẻ sống trong đó là quen thói làm ăn gian dối, trộm cắp, thế thì lúc đi ra ngoài giao du, khi người ta biết là chúng xuất thân từ cái làng đó thì người ta sẽ dè bỉu và đề phòng bằng sự khinh miệt mà không ngại nói rằng, cái làng đó toàn thằng lưu manh, cứ cẩn thận và chớ có làm ăn hay giao du gì với chúng. Quả là tủi nhục và xót xa.

Mà cũng chẳng chừa ra được người ta sẽ cũng đánh giá là cái bộ máy quản lý của cái quốc gia đó quả là kém cỏi, không có hữu dụng hoặc quá mức tệ hại thì mới tạo ra và tồn tại những con người, công dân như thế, chứ một chính phủ mạnh và nghiêm minh thì bói đâu ra lắm kẻ lưu manh và phường trộm cướp như vậy.

Thế nên, để quốc gia cường thịnh và văn minh, để được tôn trọng thì mỗi công dân chúng ta phải là một người luôn mang tâm thế là hành động của mình là thể diện của quốc gia, cũng như vậy, nỗi nhục của mình sẽ trở thành nỗi nhục của quốc gia. Có như thế thì chúng ta mới có thể ngẩng đầu lên với bạn bè quốc tế về sự đàng hoàng và tử tế được.

Trích: MỘT NGƯỜI QUỐC DÂN
——————————————
http://baonhatban.net/truyen-hinh-nhk-nhat-ban-lam-phong-s…/

Lạc quan… tâm thần!

 

Lạc quan… tâm thần!

Tạp ghi Huy Phương

Người Việt Nam “lạc quan” hay “ngây thơ” với những hình ảnh như thế này? Cảnh đường phố cứ mưa là ngập ở Sài Gòn. (Hình: Zing)

Mấy lúc sau này, đọc những tin tức về Việt Nam, nhất là những nghiên cứu, đánh giá về cuộc sống tại Việt Nam, chúng ta thường vấp phải sự ngỡ ngàng, ngạc nhiên… như có những nghiên cứu cho rằng người Việt Nam hiện nay có cuộc sống hạnh phúc nhất, nhì trên thế giới. Và mới đây, người Việt Nam lại được xếp hạng đứng đầu thế giới, về những thay đổi cuộc sống trong nửa thế kỷ qua, nghĩa là Người Việt Nam hiện nay đang đứng đầu thế giới về sự lạc quan.

Khảo sát của Trung Tâm Nghiên Cứu Pew thực hiện với hơn 40 ngàn người tại 38 nước, cuối cùng đã xếp Việt Nam ở vị trí số một với 88% người Việt được phỏng vấn đã cho rằng cuộc sống hôm nay tốt đẹp hơn 50 năm trước. Pew là tổ chức phi chính phủ chuyên cung cấp thông tin về các vấn đề xã hội, ý kiến công chúng và các xu hướng nhân khẩu học đang định hình Hoa Kỳ và thế giới và là một chi nhánh của Tổ Chức The Pew Charitable Trusts của Hoa Kỳ.

Trung Tâm Nghiên Cứu Pew cũng vừa bị Việt Nam “ném đá” vì vừa công bố các số liệu cho rằng Việt Nam đang vi phạm tự do tôn giáo với mức độ nhảy vọt.

Có phải chăng vì thái độ chính trị và những đối nghịch trong quan điểm với đường lối chính phủ trong nước, được thấy rõ qua các phản ứng của quần chúng, các bản án đàn áp chính kiến vẫn xảy ra khắp nơi, chúng ta thấy những công trình nghiên cứu, thăm dò dư luận trên đời sống Việt Nam, có vẻ như không sát với thực tế. Đôi khi hóa ra một sự giả dối đầy trò cười, chỉ có mục đích dùng như một tài liệu tuyên truyền cho chế độ.

Lẽ cố nhiên lạc quan là điều tốt. Nếu nói theo một nhà văn Hoa Kỳ, bà Helen Keller: “lạc quan là niềm tin mang đến thành tựu. Bạn chẳng làm gì được nếu thiếu hy vọng và lòng tự tin.”

Người lạc quan là người luôn luôn nghĩ rằng ngày mai sẽ khá, sẽ tốt hơn hôm nay, nên chẳng có gì phải lo lắng, đó là người bằng lòng với số phận. Người Việt Nam chúng ta ngày hôm nay thật sự phải là những người như thế sao?

Cũng có định nghĩa cho rằng, người lạc quan không bao giờ lầm tưởng cuộc sống này là sự hoàn hảo, vì điều đó là không tưởng. Thay vì chờ đợi một ngày “hoàn hảo” nào đó để làm việc gì đó, họ sẽ sống tích cực trong ngày hôm nay, mà không hề tỏ ra một thái độ bất mãn. Họ khám phá thế giới với con mắt tò mò và nhiệt tình thơ trẻ.

Thử tưởng tượng buổi chiều đi làm về đường phố ngập nước, xe chết mất cả tiếng đồng hồ mới về tới nhà, nhưng những người Việt Nam hôm nay vẫn không cho chuyện đó là khó chịu, đó là chuyện nhà nước đang bận tâm và đang lo cho dân. Chính quyền tìm mọi cách moi tiền của dân qua mọi thứ gọi là phí, thuế, lộ phí và huy động nhân dân với nhà nước cùng làm, nghĩa là dân è cố ra vì thuế rồi, còn gặp cảnh không đóng tiền sửa đường, nhân viên xã không chịu ký giấy tờ.

Tuy vậy, chuyện lạc quan là có thật.

Trong nước thiên hạ quá lạc quan, giờ rảnh rỗi, ngoài chuyện cầm micro hát hò thì nhiều người chẳng biết làm gì khác?

Hãng tin VNExpress đang có loạt bài độc giả phàn nàn bị hàng xóm “tra tấn” bằng phong trào karaoke, họ thích hát và thích ép người khác phải nghe mình hát.

“Đối với dân văn phòng, buổi chiều, tan sở, ‘tăng một’ sẽ đi lai rai vài chai với đồng nghiệp. Nếu cao hứng, tăng hai sẽ kéo nhau đi hát karaoke… Những người khác sẽ hát hò thoải mái tại quán nhậu lề đường thông qua sự hỗ trợ cơ động của dàn karaoke kẹo kéo.”

Không lạc quan sao được? Một người vừa trở lại Việt Nam cho biết, Sài Gòn bây giờ hình như không ai nấu ăn trong nhà hay sao mà tối nào các tiệm, các quán cũng tấp nập khách ăn? Bao giờ nhìn chung quanh các bàn cũng rất nhiều người địa phương ngồi ăn, phần đông là giới trẻ, và trung niên. Trên bàn đầy ắp thức ăn và bia, nước ngọt.

Trên những chương trình truyền hình, gameshow cũng khai thác chuyện hát, và những hài kịch rẻ tiền, kể cả tên tuổi những “danh hài” Việt kiều, với những show thời trang dị hợm, mà khả năng dàn dựng, y phục, nói năng, tưởng không còn gì “hạ cấp” hơn. Tuy vậy người xem, phần lớn là tuổi đôi mươi, vẫn dễ dãi hài lòng bằng những nụ cười mở rộng, tâm đắc với những tràng pháo tay tán thưởng không ngừng, và diễn viên vẫn tiếp tục thành “siêu sao,” kiếm tiền dễ dàng.

Đó phải chăng là thái độ lạc quan ngây ngô, bất tận. Hàng trăm, hàng nghìn người, toàn là học sinh, sinh viên, trí thức, tương lai của đất nước, đang dễ dãi chạy theo những ngôi sao sân khấu cỡ Trường Giang và Trấn Thành ngoài đường phố và sẵn sàng “hôn ghế thần tượng,” thì chúng ta trông mong ở họ nỗi gì?

Mọi sự ngày nay đều dễ dãi, đơn giản như chuyện dẫn nhau vào “nhà nghỉ” hay buổi chiều ra “bãi nhậu” sau giờ làm việc.

Nếu kể từ ngày trong rừng ra, một cái “xắc cột” và một cái chén đôi đũa dắt bên lưng, thì hoàn cảnh ngày hôm nay quả là lạc quan. Ngoài những viên chức cấp cao như Ủy Viên Bộ Chính Trị, Trung Ương Đảng hiện đang nắm các chức Tướng Lãnh, Bí Thư Tỉnh Ủy, Bộ Trưởng, Thứ Trưởng, cán bộ trung cấp ngày nay là cán bộ đảng viên thì có lương bổng, có quyền lực. Chúng ta cũng hiểu rằng tầng lớp này hầu hết là những người xuất thân từ nghèo khổ, “đi làm cách mạng,” ngày nay là những người một bước lên xe, có biệt thự, nhà lầu, có đặc quyền và có cơ hội tham ô. Thành phần tiếp theo là công chức giáo viên, quân đội công an, tuy lương mỗi tháng cỡ vài trăm, nhưng trong các địa hạt như thuế vụ, quan thuế, công thương, y tế, ngân hàng, tư pháp… nếu không nói là trong tất cả các cơ chế, họ lại có những tròng tréo, móc ngoặc chia chác, nếu chúng ta chỉ tính trên đồng lương tháng mang về thì chưa đủ. Trong rất nhiều cơ quan XHCN ngày nay, rất nhiều viên chức lương ít mà lộc nhiều, lương một mà bổng mười.

Một phần ba công nhân ngày nay xuất thân từ nông dân đã bỏ ruộng đồng lên tỉnh. So với đời sống sống ngày trước, người công nhân thấy đời sống của họ đỡ vất vả hơn.

Tất cả thành phần dân chúng Việt Nam và tất cả họ hàng bên thắng cuộc, khởi đi từ chén bắp bo bo, cái tem phiếu, ở nhà tập thể, miếng thịt con cá phải xếp hàng, so với đời sống hôm nay, với tiện nghi điện thoại, chiếc xe, áo quần bảnh bao với nhà cao cửa rộng, ăn nhậu linh đình& thì lạc quan là phải.

Đó là những con người đã bị bóp cổ không thở được, ngày nay thấy dễ thở, so sánh để lạc quan là lẽ đương nhiên. Tất cả lạc quan vì đời sống của họ đã khá hơn thời ông cha họ, được hưởng thụ đời sống vật chất như nhà cửa, ăn nhậu, phương tiện di chuyển. Và những người đi từ thiếu thốn, nghèo khó, chỉ mong nhu cầu vật chất, khi đầy đủ vật chất rồi họ không còn thấy bận tậm gì bữa. Đó là một xã hội đầy hưởng thụ, đi đến chỗ đạo đức băng hoại.

Mỗi năm, Việt Nam có từ 250,000-300,000 ca nạo phá thai được ghi nhận chính thức, còn thực tế chưa thể thống kê được và hiện đang đứng đầu Châu Á về tỉ lệ nạo phá thai.

Báo chí Việt Nam ghi nhận, cùng với việc phát triển kinh tế, nhà nhà quần quật, người người lo làm ăn, cả nước thi đua làm giàu, trong khi nạn cướp giật càng ngày càng gia tăng.

Về mặt y tế, tình trạng sức khỏe của Việt Nam không đáng lạc quan: khoảng 44% dân số Việt Nam mang vi khuẩn lao trong cơ thể. Trong số này, ước lượng 126,000 người mắc bệnh lao mỗi năm, theo một phúc trình mới được đưa ra hôm 13 Tháng Mười Hai, 2017.

Trong khi đó, Việt Nam bị xếp hạng thứ 78/172 quốc gia có tỉ lệ mắc ung thư cao. Theo thống kê của dự án phòng chống ung thư quốc gia, mỗi năm ở Việt Nam có khoảng 70,000 người chết và hơn 200,000 nghìn người mới nhiễm bệnh.

Theo nghiên cứu của Bộ Y Tế, 15% dân số Việt Nam tương đương 14 triệu người mắc các bệnh về rối loạn tâm thần, trong đó khoảng 3 triệu người rối loạn tâm thần nặng như tâm thần phân liệt, sa sút trí tuệ, chậm phát triển và con số này vẫn không ngừng tăng. Chủ yếu do làm việc quá sức, áp lực công việc lớn, căng thẳng, khủng hoảng tiền bạc, dùng nhiều rượu bia, cách biệt giàu nghèo, ly hôn, thất nghiệp…

Vậy loại lạc quan này phải chăng là lạc quan… tâm thần!

Người Việt Nam được xếp hạng “lạc quan nhất thế giới,” nhưng trong khi dân số chúng ta có 94,970,597 người, thì mỗi năm có tới 1 triệu thanh thiếu niên chết vì tự tử, như vậy trong 100 người Việt Nam thì có một người thiếu lạc quan. Đáng tiếc là theo thống kê, số người tự tử là “thanh thiếu niên,” sinh viên, học sinh, đặc biệt trong giai đoạn thi lên lớp và thi đại học, trong đó có những vụ tự tử tập thể. Đây không còn là một chuyện nhỏ mà cả một vấn đề lớn của dân tộc.

Và câu hỏi là vì sao trong khi cả nước an tâm, hồ hởi, lạc quan như vậy, mà vẫn còn người vượt biển ra đi hay mong chuyện đổi đời bằng cách đi làm thuê, ở mướn, hay bán trinh tiết và tuổi xuân xanh, phó mặc cho số mệnh và cuộc đời đưa đẩy? (Huy Phương)

Biết rồi mà sao cứ đem ra so sánh hoài !

Son Dang

Biết rồi mà sao cứ đem ra so sánh hoài !
——————

Trong 43 nền kinh tế khu vực châu Á – Thái Bình Dương, Việt Nam đứng hạng 35, thua Lào (53,6 điểm, hạng 34), Myanmar (53,9 điểm, hạng 33) và Campuchia (58,7, điểm hạng 22).

TTO – Theo báo cáo “Chỉ số tự do kinh tế 2018”, đặc khu hành chính Hong Kong (Trung Quốc) tiếp tục giữ danh hiệu “nền kinh tế tự do nhất thế giới”. Bí…   

NGHĨA TRANG NGHÌN TỶ: CỦA X ĐẤY!

 
 
Image may contain: outdoor
Trương Duy NhấtFollow 

 

NGHĨA TRANG NGHÌN TỶ: CỦA X ĐẤY!

Thấy nhiều người “mắng” oan ông Phúc. Nghĩa trang 1.400 tỷ là dự án từ thời Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Cái dở của ông Phúc và chính phủ hiện, là không dám xoá bỏ dự án mồ mả X khốn nạn này.

Khốn nạn hơn vạn lần khốn nạn ở chỗ: Nó qui hoạch cho cả vợ/chồng, khi chết cũng được vào đây, bất kể vợ/chồng họ là ai làm gì.

Nhiều người chưa chết, đã nghe thiên hạ đào mồ cuốc mả rồi.

Thêm một lần xin lỗi, như từng xin lỗi sau sự cố đoàn xe vào phố cổ, rồi xoá sổ, cho hoá… cứt cái dự án nghĩa trang X này- Tại sao không, thưa ông Phúc?
Cái sai từ triều Nguyễn Tấn Dũng, là của Nguyễn Tấn Dũng. Nhưng ông Phúc là người có cơ hội để sửa chữa.

Lịch sử các triều Việt, đã quá nhiều phen đào mồ cuốc mả nhau rồi, thưa các vị!
__________________________
– http://truongduynhat.org/nghia-trang-nghin-ty-cua-x-day/

Hoàng đế mới của Trung Hoa

 

Hoàng đế mới của Trung Hoa

Print Friendly, PDF & Email

Nguồn: Chris Patten, “China’s New Emperor”, Project Syndicate, 25/10/2017.

Biên dịch: Nguyễn Lương Sỹ | Biên tập: Lê Hồng Hiệp

Một giai thoại về chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon vào năm 1972 từ lâu được xem như là sự chứng thực cho tầm nhìn dài hạn của các nhà lãnh đạo Trung Quốc về lịch sử. Chu Ân Lai, nhân vật số hai mẫn cán của Mao Trạch Đông, được cho là đã trả lời câu hỏi về các bài học của cuộc Cách mạng Pháp bằng cách nói rằng còn quá sớm để nói lên được điều gì. Nhưng thực tế, theo các nhà ngoại giao có mặt ở đó, Chu không tranh luận về cuộc cách mạng năm 1789, mà là về phong trào nổi dậy của sinh viên ở Paris năm 1968, do đó có lẽ đúng là vẫn còn quá sớm để có thể nói lên điều gì.

Sau sự hiểu lầm này, bài học từ cuộc Cách mạng Pháp đã trở lại với Trung Quốc. Ngay sau Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 18 vào năm 2012, cuốn The Old Regime and the Revolution (Chế độ cũ và Cách mạng) của Alexis de Tocqueville viết năm 1856 đã trở thành cuốn sách “phải đọc” dành cho cán bộ cấp cao của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Giá trị của cuốn sách được ca ngợi nhiệt tình nhất bởi Vương Kỳ Sơn, người chèo lái chiến dịch chống tham nhũng của Tập Cận Bình và có lẽ là đồng minh thân cận nhất của chủ tịch Tập.

Toqueville lập luận rằng sự thịnh vượng ngày càng cao của nước Pháp thế kỷ 18 đã thực sự khiến cho việc quản lý đất nước này trở nên khó khăn hơn. Khi người dân trở nên giàu có, họ cũng đồng thời quan tâm nhiều hơn đến bất bình đẳng kinh tế và xã hội và do vậy sự bất bình đối với những người có quyền lực và giàu có ngày càng gia tăng. Những nỗ lực cải cách hệ thống chỉ làm nổi bật thêm tình trạng dễ tổn thương của chính nó. Cách mạng đã theo sau, quét sạch nền quân chủ và tầng lớp quý tộc. Đầu họ đã rơi.

Đại hội Đảng Cộng sản lần thứ 19 mới kết thúc của Trung Quốc đã cho thấy mức độ nằm lòng quan điểm của Toqueville trong giới lãnh đạo Trung Quốc. Ông Tập đã khẳng định quyền lực không tranh cãi của mình đối với Đảng và quốc gia. Tập Cận Bình  củng cố vị thế của mình trong suốt nhiệm kỳ đầu tiên, bằng cách đảo ngược phần lớn di sản để lại của Đặng Tiểu Bình, bao gồm việc mở cửa nền kinh tế, tách bạch Đảng ra khỏi chính quyền, và đường lối “giấu mình chờ thời” về chính sách đối ngoại và an ninh.

Tập cũng triệt tiêu các đối thủ tiềm tàng, chủ yếu dựa vào chiến dịch chống tham nhũng sâu rộng nhắm đến các quan chức từng được xem là không thể đụng đến. Ông đã giám sát cuộc thanh trừng lớn nhất từ trước tới nay tại Ủy ban Trung ương Đảng. Ông thẳng tay đàn áp cả những chỉ trích và dấu hiệu bất đồng chính kiến dè dặt nhất, và thậm chí cấm truyện cười trên Internet, gồm cả những hình ảnh hài hước so sánh ông với chú gấu Winnie the Pooh.

Nếu ở một quốc gia khác, những phương thức như vậy có thể gây ra chỉ trích gay gắt, với những cáo buộc rằng hành vi của Tập đã đưa đất nước trở lại chế độ độc tài kiểu Leninist cũ kỹ. Tuy nhiên, ở Trung Quốc, những phương thức này đã thu hút được những lời ca ngợi từ giới quan sát, những người tin rằng ông Tập đang dẫn dắt con đường hiện thực hóa “giấc mơ Trung Hoa” nhằm phục hưng đất nước.

Nhưng, đối với một vài người, giấc mơ đó đang trên bờ vực trở thành cơn ác mộc. Các xu hướng dân số đang đe dọa biến sự dư thừa lao động vốn mang lại tốc độ tăng trưởng cao cho Trung Quốc trong những thập niên vừa qua thành thiếu hụt lao động với tốc độ chưa từng có. Ô nhiễm và khan hiếm nguồn nước, cùng với phát thải khí CO2 và mức độ ô nhiễm không khí gây chết người đang đe dọa sức khỏe người dân và hủy hoại sự bền vững của nền kinh tế Trung Quốc.

Ngoài ra, tăng trưởng GDP của Trung Quốc, mặc dù rất đáng hoan nghênh, lại đang được tiếp sức chủ yếu bởi sự kết hợp các khoản nợ đang tăng nhanh và bong bóng tài sản tràn lan. Thậm chí các nhà nghiên cứu Trung Quốc cũng thừa nhận rằng đất nước của họ đang có một trong những mức độ bất bình đẳng thu nhập lớn nhất trên thế giới. Khi mà người nghèo ngày càng nghèo đi, và người giàu mỗi lúc một giàu hơn, nhiều người đang đặt câu hỏi rằng liệu “chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc” thực sự nghĩa là gì.

Dĩ nhiên, luôn luôn có những người lạc quan mang lại những suy nghĩ tích cực. Phần lớn khoản nợ của Trung Quốc là nợ trong nước, bởi lẽ các ưu tiên chính trị đã định hướng việc vay mượn bên cạnh các cân nhắc về mặt thương mại. Trung Quốc ủng hộ các nỗ lực quốc tế nhằm giải quyết suy thoái môi trường và biến đổi khí hậu. Phần lớn người dân trở nên khá giả hơn, dù không đồng đều. Và chính quyền của Tập ít nhất cũng đang làm điều gì đó nhằm tiêu diệt tình trạng tham nhũng tràn lan trong Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Chúng ta đều nên hy vọng rằng ít nhất cũng có một vài điều mà những người lạc quan về Trung Quốc nói là đúng; nếu sự tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc sụp đổ, tất cả nền kinh tế toàn cầu sẽ bị ảnh hưởng.  Nhưng, ngay cả khi những người lạc quan đã đúng, thì tuyên bố của ông Tập rằng Trung Quốc đã tìm ra được con đường tốt hơn để vận hành một xã hội và nền kinh tế hiện đại dường như còn lâu mới đúng với thực tế.

Chắc chắn rằng, từ những trò hề ngớ ngẩn của Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump đến sự trỗi dậy đầy tàn phá của chủ nghĩa dân tộc dân túy ở châu Âu, các quốc gia dân chủ đang phải trải qua phần thử thách của mình. Nhưng các hệ thống dân chủ đều có các cơ chế ổn định hóa nội tại vốn cho phép chúng tự điều chỉnh mà không cần đến việc sử dụng bạo lực hay đàn áp.

Nhưng đó không phải là trường hợp của Trung Quốc dưới thời Tập Cần Bình. Có một tranh luận nghiêm trúc ở Trung Quốc suốt nhiều năm về vai trò đúng đắn của nhà nước trong quan hệ kinh tế. Một phe cho rằng nếu Đảng Cộng sản Trung Quốc nới lỏng sự kiểm soát nền kinh tế, họ sẽ không tránh khỏi việc mất kiểm soát đối với nhà nước. Những người khác biện luận ngược lại: trừ khi Đảng từ bỏ bớt việc kiểm soát nền kinh tế, họ sẽ mất quyền lực chính trị, vì các mâu thuẫn kinh tế sẽ nhân rộng và sự phát triển trở nên kém bền vững hơn. Ông Tập rõ ràng đã nằm trong nhóm ủng hộ vai trò lớn hơn của nhà nước.

Nhưng không chỉ có Đảng là đối tượng mà ông Tập làm gia tăng quyền lực, ông cũng gia tăng quyền lực cho cả chính mình. Thực tế, khó để biết được ai đang thăng cấp trong nấc thang quyền lực của Đảng và ai sẽ bị triệt hạ bởi bất đồng ý kiến với nhà lãnh đạo tối cao. Điều đó không ngăn cản được những người ngoài cuộc suy đoán, nhưng trò chơi phỏng đoán này cũng chẳng có ích gì. Tập, cũng giống như bất kỳ vị hoàng đế nào khác, sẽ tiếp tục bổ nhiệm những cận thần đi theo con đường mà ông dẫn dắt.

Nhưng quyền lực cao sẽ đi kèm với trách nhiệm lớn – và, ở điểm này, quyền lực của Tập gần như tuyệt đối. Đó sẽ là gánh nặng cho một người duy nhất. Tập có thể thông minh hơn nhiều so với Trump (vốn không phải là một đối thủ khó khăn để vượt qua), nhưng điều đó là không đủ để bảo đảm một tương lai ổn định và thịnh vượng cho Trung Quốc. Và, nếu mọi thứ chệch hướng, tất cả đều biết sẽ phải đổ lỗi cho ai. Đó là lý do tại sao các triều đại độc tài thường có chung một kết cục. Chẳng cần phải đọc Toqueville mới nhận ra điều này.

Chris Patten, Thống đốc người Anh cuối cùng của Hong Kong và cựu Ủy viên đối ngoại của Liên minh châu Âu, là Hiệu trưởng trường Đại học Oxford.

Chết rồi vẫn còn ám!

Chết rồi vẫn còn ám!

Bởi   AdminTD

Lò Văn Củi

4-2-2018

Ông Hai Xích lô nói:

– Ông Ba Hu sướng nghen, khi “ra đi” được nằm ở nơi đẹp đẽ, sạch sẽ, yên tĩnh, gần đồng chí, nghe nói còn có chỗ cho người bạn đời nữa.

Ông Ba đáp:

– À, vụ chuẩn bị xây nghĩa trang, nhà tang lễ 1.400 tỷ chứ gì, đó là dành cho cán bộ cao cấp, tui đâu có cửa.

Anh Bảy Thọt tiếp:

– Thì rất hay nhân rộng mô hình, hay tâm tư khi nơi mình chưa có, và làm để kiếm ăn, sẽ xây dựng thôi. Ông Ba lo gì.

Ông Ba lắc đầu:

– Thôi, thôi. Tao cũng kiếm chỗ nho nhỏ ở quê với bà con dòng họ rồi Năm. Hổng ham hố đua chen, chắc chắn sẽ có tranh giành, chung chi, mua bán, bè phái… Bà con cô bác đang chửi cho thúi đầu, chửi đủ kiểu ai cũng nghe hết rồi đó.

Ông Thầy giáo khen:

– Vậy là yét sờ a ra phát hen (tiếng lóng: Yes, sir tương đồng tên của ông Yasser  Arafat). Coi bộ anh Ba ngồi với dân đen lâu ngày có tiến bộ, quay đầu về với dân. Và chính anh nói nghen, bè phái, tranh giành…

Anh Năm Ba gác nhún vai:

– Ở trên này bè phái, tham lam tàn độc, chống lại dân chưa đủ, xuống dưới tiếp tục hen.

Anh Bảy gật đầu:

– Chết rồi vẫn còn ám dân, ám cả dân tộc chắc không nhấc đầu lên nổi!

Ông Hai Xích lô trố mắt:

– Bớt giỡn nghen Bảy. Các ông là cán bộ, có nghĩa là có đảng, đảng Cộng sản à nghen. Nói vậy các ông là… các đảng, là cô hồn, âm binh thiên tướng sao?

Ông Thầy giáo trả lời:

– Tiêu chí của đảng Cộng sản là gi? Là đem lại bình đẳng cho mọi thành phần, mọi tầng lớp người; là đem lại ấm no hạnh phúc cho dân chúng; là làm cho dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh… Người Cộng sản là người thực thi để có điều này.

Nhưng có như vậy đâu, họ làm ngược lại hết.

Đã từ lâu rồi chứ không phải ngay bây giờ. Như thời bao cấp, cán bộ có tiêu chuẩn riêng, gấp nhiều lần dân chúng, dân đen được 3gr (lạng) thịt thì cán bộ được từ 4 đến 6 ký, có cửa hàng bán riêng cho cán bộ, có tiêu chuẩn tàu xe, có ban chăm sóc sức khỏe riêng, có nhà khách sạn sang trọng riêng…

Bây giờ không bao cấp nữa nhưng các tiêu chuẩn về chăm sóc sức khỏe, nhà khách… vẫn còn đó. Cán bộ đi xe ngày càng xịn, dân chúng đi xe buýt sập xệ, đường xá ngày càng ngập nước, kẹt xe… Cán bộ ở biệt phủ, dân chúng ở nhà chung cư chen chúc. Con cái cán bộ học ở nước ngoài, ở các nước “tư bản giãy chết”, con cái dân đen nhiều nơi còn lội bộ trong sình lầy tới tường hàng chục cây số…

Ôi thôi! Kể ra biết bao nhiêu bất công cho xiết. Ngay cả những người họ tôn vinh là Bà Mẹ Việt Nam anh hùng, đã từng cưu mang họ mà còn bị đối xử bất công. Rồi những người lính bỏ xác nơi chiến trường từ những chiến lược của họ cũng bị bỏ rơi, những người lính ở chiến trường Tây Nam, ở chiến trường phía Bắc chống Trung Quốc xâm lăng, ở hải đảo… chẳng nghe nhắc gì tới dù trên nửa cửa miệng của họ.

Một tiêu chí nữa cũng không kém phần quan trọng. Đó là, đã là người Cộng sản thì không có tâm linh, là vô thần. Vậy sao khi chết đi không hỏa táng, để “cát bụi trở về với cát bụi”?

Như vậy thì thằng Bảy, thằng Năm nói đâu có sai. Với tui thì, không thể có được người Cộng sản, đảng Cộng sản.

Bà con cô bác càng nghe càng mệt mỏi, càng nhức cái đầu. Ông Hai Xích lô gãi gãi đầu:

– Ở trên trần họ lấy tiền dân xài. Xuống dưới còn bắt dân cúng cô hồn nữa. Chứ không thì quậy hoài, dễ gì yên. Trời ơi, dân tui! Trên đe dưới búa, sống sao nổi hở Trời!

© Copyright Tiếng Dân