
Trần Bang
– Ronald Reagan –


Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,44)
Sưu tầm – Bình Luận-Sự Kiện

– Ronald Reagan –


BBC 24/8/2018
Quả địa cầu bán ở Ukraine được cho là in sai bản đồ Việt Nam. Bản quyền hình ảnh NGUYEN VIET LONG
Quả địa cầu bán ở Ukraine xếp nhiều tỉnh biên giới Việt Nam vào lãnh thổ TQ, và không hiển thị hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, làm xôn xao cộng đồng mạng tiếng Việt.
Trong email trả lời BBC ngày 24/8, công ty Globus Plus của Ukraine cho hay họ đã ngưng bán sản phẩm quả địa cầu in sai hình bản đồ Việt Nam.
“Chúng tôi không phải là nhà sản xuất những quả địa cầu này.”
“Và, thật không may, chúng tôi không biết rằng bản đồ thế giới đã được in lỗi.”
“Chúng tôi đã ngưng bán những sản phẩm địa cầu này.”
“Chúng tôi xin lỗi vì sai sót này,” email từ người quản lý công ty, tên Alexander, cho hay.
Tuy nhiên Globus Plus không trả lời BBC Tiếng Việt quả địa cầu có xuất xứ từ đâu.
Thông tin từ mạng xã hội
Một trong những thông tin đầu tiên về chuyện này xuất hiện trên Facebook của bạn Trực Chấp ghi là sống tại Ba Lan.
Theo đó, trên thị trường Ukraine có bán quả địa cầu ‘xén’ mất phần Quảng Ninh, Móng Cái của Việt Nam.
Hình ảnh quả địa cầu này nhanh chóng lan truyền trên mạng xã hội. Nhiều người phát hiện ra rằng trên quả địa cầu này, một phần bản đồ của Việt Nam bị in tiệp màu với bản đồ vùng lãnh thổ Trung Quốc.
Các tỉnh như Quảng Ninh, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Bắc Giang được cho là hoàn toàn biến mất, thay vào đó là ranh giới lãnh thổ của Trung Quốc.
Địa cầu này hoàn toàn không hiển thị hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa mà Việt Nam khẳng định chủ quyền trên Biển Đông.
Theo VTC News, quả địa cầu này xuất xứ từ Ukraine, được rao bán trên một trang web mua hàng trực tuyến của nước này. Công ty sản xuất và phân phối những quả địa cầu này có tên Globus Plus.
“Những thông tin về lãnh thổ và chủ quyền quốc gia của Việt Nam trên quả địa cầu này đã bị nhà sản xuất cung cấp hoàn toàn sai lệch”, bài báo trên VTC viết.
Tìm hiểu về Globus Plus trên website của công ty thì được biết đây là công ty sản xuất, bán và phân phối sản phẩm văn phòng, thiết bị, đồ dùng và trang phục học sinh.
Sự việc gây ra nhiều bàn cãi trong cộng đồng mạng.
Ngưng bán địa cầu ‘sai’
Công ty Globus Plus của Ukraine cho BBC hay họ đã ngưng bán sản phẩm quả địa cầu in sai hình bản đồ Việt Nam.
Ảnh quả địa cầu từng được bán trên website của công ty Globus Plus với giá 175 rpH. Bản quyền hình ảnh NGUYEN VIET LONG
Nguồn: BBC

Nguyễn thị Cỏ May (Danlambao) – Trong gần đây, nhiều người nói tới năm 2020, Việt Nam sẽ lệ thuộc Tàu (1) vì sẽ trở thành “một vùng tự trị” hay “một tỉnh lẻ” của Tàu. Khi nói về ngày mai này, người ta nhắc lại “Hội nghị Thành Đô” tuy văn bản qui định việc này, không biết có ai thấy không?. Nhưng nói về “ảnh hưởng đậm” hay “lệ thuộc” Tàu thì trong nhiều sách vở và báo chí của chế độ, không thiếu những lời như “Việt Nam và Trung quốc sông liền sông, núi liền núi” hoặc “môi hở răng lạnh” và, nhất là “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”, hay lời của Trường Chinh kêu gọi người Việt Nam hảy bỏ chữ quốc ngữ vì chữ này là của thực dân đem tới, không phải chữ của ta, hãy trở về học chữ Hán (2), còn trong sách vở xưa, thì “Việt Nam và Trung Quốc đồng văn, đồng chủng”. Thực tế sẽ ra sao, chúng ta hãy chờ trả lời. Chỉ còn 2 năm nữa mà thôi.
Ngày nay, có điều chắc chắn, rõ ràng, ai cũng có thể ghi nhận không cần bàn cãi là hướng đi của Việt Nam do đảng cộng sản lèo lái vẫn lấy Tàu làm khuôn vàng thước ngọc. Việt Nam phải giống Tàu, phải bám theo sát Tàu. Tập Cận Bình là chuẩn mực. Qua 2 lần tuyên bố của Nguyễn Phú Trọng, vào tháng 1-2018, trước Quốc Hội và đông đảo các nhà báo: “những đảng viên đòi đa nguyên đa đảng, từ bỏ xã hội chủ nghĩa, đòi thực hiện Tam quyền phân lập là bị tác động bởi bọn phản động, phải bị khai trừ ra khỏi đảng”, và tiếp theo, trong tháng 7, nặng lời hơn: “Những kẻ đòi đa nguyên đa đảng, từ bỏ CNXH, đòi Tam quyền phân lập, đều là bọn bất hảo” (chớ không phải kẻ có lý luận như Trọng), ai cũng nhận thấy đường lối lệ thuộc Tàu của Trọng thể hiện rất rõ: “Việt Nam với Tàu là một. Một chế độ, một văn hóa”.
Giờ đây, chúng ta thử hình dung cái “một” đó là gì, như thế nào, qua chính sách của Tập Cận Bình?
Không thể dân chủ hóa chế độ
Theo Giáo sư Jean-Pierre Cabestan, chuyên viên về Tàu, nhận xét mang tính kết luận “Ở Tàu, cá nhân làm giàu và tiêu thụ là ưu tiên, trước sự cần nới rộng tự do và những quyền chính trị”.
Trong quyển sách mới xuất bản (Demain la Chine: Démocratie ou Dictature?, Gallimard, Paris, 3/2018), ông Cabestan cho rằng khả năng của dân chúng Tàu thích nghi và sự đồng thuận trong nội bộ đảng cộng sản để duy trì quyền lực là sẽ không cần phải thay đổi chế độ hiện tại. Mặc dầu như vậy là không phù hợp v ới xu thế thời đại, xung đột mạnh với nền dân chủ Tây phương. Nhiều học giả Tàu cũng lo ngại nghĩ rằng chính trị và xã hội được tự do để lần lần sẽ dân chủ hóa chế độ là điều khó tránh làm cho đất nước bị xáo trộn, mất ổn định.
Sau Đại hội đảng cộng sản Tàu thứ XIX đưa Tập Cận Bình lên làm Hoàng đế Tàu suốt đời, phân tách những khả năng thích nghi và đổi mới của một chế độ, ông Cabestan quả quyết Tàu “không thể dân chủ hóa” được. Chẳng những “dân chủ hóa không thể được”, mà ông còn cho đó, đúng hơn, là một “chế độ độc tài”.
Nói đó là một chế độ độc tài vì quyền lực thật sự được thể hiện ở con người Tập Cận Bình, đứng đầu một đảng duy nhất cai trị nước Tàu theo một mô hình đổi mới độc đoán.
Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, nhiều nước cộng sản đã lần lược thay đổi theo dân chủ. Nhưng Tàu là trường hợp khá đặc biệt. Ngoại lệ chăng? Liệu Tàu sẽ đứng vững được bao lâu khi Tàu hoàn toàn không nghĩ tới từng bước tiến lên theo hướng dân chủ trong lúc thế giới tranh chấp nhau với những ý hệ ngày càng công khai?
Tập Cận Bình chủ trương mở cửa ra thế giới, tiếp xúc với những nước dân chủ nhưng vẫn chống lại những nước này, tìm cách áp đặt tương quan lực lượng có lợi cho mình. Tập tìm cách xuất cảng mô hình Tàu ra thế giới, nhất là nhắm những nước kém mở mang. Không phải chỉ để bảo vệ chế độ hay củng cố tính chính thống của chế độ, mà đó chính là tham vọng bá chủ thế giới của Tập Cận Bình.
Khi nói dân chủ, người Tàu cũng nói họ có dân chủ. Chế độ ở Tàu của họ là chế độ dân chủ. Thứ dân chủ tốt hơn dân chủ tư bản cả vạn lần. Nhưng thứ gọi là dân chủ ở Tàu đó lại từ chối nhân quyền, từ chối những quyền căn bản như quyền bầu cử tự do, quyền lập đảng, tự do thông tin, tự do phát biểu, công khai ngân sách của đảng cộng sản…
Đừng quên mô hình độc tài của Liên Sô. Chế độ Tàu là một copie lénino-staliniste: 1 đảng duy nhất lãnh đạo toàn diện và triệt để, chọn đảng viên “uu tú” (cốt cán) cầm quyền, đàn áp mọi chống đối, nhất là không tha những người có ý muốn thay đổi chế độ theo dân chủ tự do thật sự.
Kinh tế phát triển, Tàu sẽ thay đổi theo dân chủ?
Tuy ngày nay, chế độ độc tài ở Tàu không còn như trước khi bức tường Bá Linh sụp đổ nhưng đó vẫn là một chế độ cực kỳ phản động. Thật ra chế độ cộng sản là phản động. Nhiều nhà phân tích cho rằng tham nhũng và khủng hoảng kinh tế như tăng trưởng xuống, công nợ tăng, thất nghiệp đông, sẽ làm cho chế độ sụp đổ. Thật ra khả năng thích nghi của dân chúng sẽ giúp chế độ tồn tại – nhất là giới dân chúng biết dựa vào chế độ làm giàu vẫn là lực lượng bảo vệ chế độ vững mạnh. Đồng thời Tập quan tâm thực hiện những thay đổi kinh tế nhưng vẫn lo sợ những nhà đầu tư tư nhân sẽ gây ra nhiều rủi ro cho chế độ nên Tập càng kiểm soát đảng chặc chẽ hơn.
Ngày nay, Tập biết mình có nhiều kẻ thù nên Tập phải tìm cách nắm trọn quyền lãnh đạo trong tay suốt đời. Buông đảng ra là chết. Chỉ yên tâm khi nào Tập loại được hết kẻ thù, đào tạo một thế hệ nối tiếp biết trung thành với Tập. Nhưng liệu toan tính này có vượt quá tầm tay một cá nhân hay không?
Tóm lại, nhìn vào thực tế ở Tàu, người ta thấy rõ đó là chế độ độc tài nhưng sẽ bền vững nhờ ở khả năng biết thích ứng của đảng CS, kiểm soát được xã hội, và dân chúng thấy yên lòng, sống được, còn có lắm kẻ làm giàu. Điều này trước đây, mơ cũng không có. Và hơn hết, dân Tàu không biết dân chủ, văn hóa Tàu không có dân chủ. Người Tàu chỉ biết mong đợi ở một minh quân nên ở Tàu không có sự đòi hỏi dân chủ, tự do quan trọng trong dân chúng.
Tàu và Việt Nam là “một”, do đó chế độ ở Việt Nam chỉ sẽ thay đổi chỉ khi nào dân chúng Việt Nam hiểu dân chủ, cần đòi hỏi dân chủ, để tự mình cai trị chính mình, tự mình giữ gìn và bảo vệ đất nước nguyên vẹn cho mình.
Về văn hóa, tuy ngày xưa, học chữ Nho, học văn hóa Tàu nhưng cái học đã được Việt hóa rất căn bản nên giữa 2 nền văn hóa vẫn có nhiều khác biệt.
Một Văn hóa
Những người học chữ Nho thời xưa theo lối nhồi sọ của Tống Nho, không kịp suy nghĩ, đều nằm lòng Việt Nam và Tàu “đồng văn, đồng chủng”. Trân trọng chữ Tàu vì đó là chữ của thánh hiền. Thấy một miếng giấy chữ Tàu lăn lốc trên mặt đất vội lượm lên đem đốt. Không dám bỏ bậy.
Ngày nay, dưới sự cai trị của đảng CSVN, chữ Tàu, tiếng Tàu bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam rộng rãi với một ưu thế mới. Học tiếng Tàu như một ngoại ngữ là bình thường, không mang ý nghĩa lệ thuộc văn hóa. Nhưng nếu người Việt Nam tiếp thu văn hóa Tàu theo tinh thần Tống Nho thì sự lệ thuộc này mới kinh khủng hơn mất đất do dời cột mốc biên giới, mất đảo, mất biển… Mất văn hóa là mất chính người Việt Nam!
Thật ra văn hóa Tàu có mặt đẹp của nó nên nó mới tồn tại tới ngày nay. Nhưng về chính trị, Tàu có những tấm gương tuân phục vua/tôi vô cùng rùng rợn. Khi lệ thuộc văn hóa thì dĩ nhiên Việt Nam sẽ phải được học thứ văn hóa chính trị này để thể hiện ý nghĩa “một văn hóa” theo chính sách xâm lược cố hũu của Tàu.
Đây, Cỏ May tôi xin kể một câu chuyện lịch sử tàu để minh họa thứ văn hóa chính trị ghê rợn của Tàu.
Chuyện kể:
“Vua Tề hoàn Công nhờ có Quản Trọng, Bảo thúc Nha và nhiều trung thần hào kiệt giúp sức nên đã dựng lên cơ nghiệp bá vương, xứ sở cường thịnh, dân chúng ấm no. Quản Trọng được mọi người kính trọng và biết ơn, Tề Hoàn Công đã coi ông như một người cha và luôn gọi ông là Trọng Phụ, và không cho phép mọi người gọi tên huý hoặc tên thật của Quản Trọng. Cùng làm việc trong cung đình, còn có nịnh thần như Thụ Điêu, Dịch Nha và Khai Phương.
Thụ Điêu thì tự thiến mình để xin vào cung hầu hạ, vì thế vua rất cảm động và thương yêu cách đặc biệt.
Dịch Nha có tài nấu ăn và là người nấu ăn riêng của vua. Một hôm vua nói, các món sơn hào hải vị và trân châu bát bửu ta đều đã dùng qua, có món đã làm ta thật chán. Chỉ duy có món thịt người là ta chưa được nếm thử bao giờ.
Ngay ngày hôm sau, Dịch Nha liền dâng lên vua một món thịt chế biến rất hấp dẫn. Ăn xong, nhà vua hết lời khen ngon và hỏi thịt gì. Dịch Nha nói, đó là thịt đứa con 3 tuổi của hạ thần”.
Thứ văn hóa chính trị tuân phục vì quyền lợi riêng tư này thật kinh khủng. Ngày xưa, để làm vui lòng nhà vua muu cầu quyền lợi cho mình, Dịch Nha đã không ngần ngại làm thịt con dâng cho nhà vua đổi món ăn. Điều này, về ý nghĩa chính trị, không khác gì lắm khi trước đây Hồ Chí Minh đã long trọng “sông liền sông, núi liền núi” và “môi hở răng lạnh”, trước sau chỉ nhằm thực hiện tham vọng lãnh tụ, phục hận quá khứ gia đình. Tới Lê Duẩn xua mười triệu thanh niên Việt Nam vào lửa đạn (3) cũng chỉ để “phục vụ Liên Sô và Trung Quốc”. Ngày nay, Nguyễn Phú Trọng và đảng cộng sản sẵn sàng đem đất nước dâng cho vua tàu Tập Cận Bình để đổi lấy sự giàu có.
Bắt đầu từng bước thực hiện thứ văn hóa chính trị tuân phục, Trọng đã mở rộng cửa cho Tàu tràn ngập qua Việt Nam, cho thiết lập khắp nơi nhà máy Tàu xả thải phá hủy môi trường đất nước, bán những vùng đất quan trọng về chiến lược cho Tàu cộng khai thác đời đời.
So sánh với giết con, tự thiến của thời xưa để được làm quan thì tội ác của Hồ Chí Minh, của Lê Duẩn, của Nguyễn Phú Trọng sau này mới thật là tày trời hơn cả vạn lần. Đặc tính của thứ văn hóa chính trị Tàu xưa nay là ác. Nhìn lại chế độ Mao để đừng quên có 80 triệu người Tàu chết, từ Vạn Lý Trường Chinh, những bước Đại Nhảy Vọt đến Cách Mạng Văn Hóa. Vậy khi Việt Nam lệ thuộc Tàu cộng, cái ác đó sẽ đem áp dụng ở Việt Nam, đời sống dân chúng sẽ lầm than đến đâu? Như dân Tây Tạng, dân Ngô Duy Nhỉ?
* Ghi chú:
(1) Khi nói Việt Nam sẽ bị lệ thuộc Tàu, rất nhiều tác giả Việt Nam dẫn chứng “lời ” của Hồ Chí Minh nói với Đại diện của Mao Trạch Đông là 2 tướng Trần Canh và Vị Quốc Thanh năm 1926 và bốn năm sau, năm 1930, nhân lúc thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam, đươc Hồ Chí Minh lập lại một lần nữa với Tổng Lý Chu Ân Lai: “Việt Nam và Trung Quốc tuy hai mà một. Một dân tộc. Một Nền văn hóa. Một phong tục. Một tổ quốc. Nếu giúp chúng tôi thắng Pháp, thắng Nhật, thắng tất cả bọn tư bản vùng Đông Nam Á, nắm được chính quyền, thì nợ viện trợ sẽ hoàn trả dưới mọi hình thức, kể cả cắt đất, cắt đảo, lùi biên giới nhượng lại cho Trung Quốc, chúng tôi cũng làm, để đền ơn đáp nghĩa.”.
Rất tiếc xuất xứ của lời này không được rõ ràng lắm. Hơn nữa, năm 1926, chỉ có chế độ thực dân Pháp ở Việt Nam.
(2) Trường Chinh, Tổng Bí thư đảng Lao Động, Văn thư số 284/LĐ đang trên Nhật báo Tiếng Dội, 5/1951, Sài gòn.
(3) Duẩn vâng lệnh Mao làm chiến tranh biển người. Lý thuyết chiến tranh biển người của Mao là “Càng nhiều người bị giết, cách mạng càng thành công” (D.Acemoglu và J.A.Robinson, “Tại sao các quốc gia thất bại”, NXB Trẻ, 2013, trang 545).
Về mười triệu người chết trong chiến tranh do Lê Duẩn được bà Bảy Vân xác nhận trong cuộc phỏng vấn của nhà báo Xuân Hồng (BBC). Bà Bảy Vân nói thêm nếu Tàu không giúp, Lê Duân sẽ phải hy sinh người dân thêm nữa, để giải phóng cho được Miền nam.
24.08.2018
Khi vợ đại tá an ninh Đông Đức cộng sản há hốc miệng…
24-8-2018
Gã được Nguyễn Xuân Thọ một chuyên gia nổi tiếng về kĩ thuật truyền hình dẫn đi Bonn thủ đô của Tây Đức thời nước Đức chia cắt.
Thọ kể vì sao Bonn một thành phố nhỏ bên sông Rhanh lại được chọn làm thủ đô. Người Tây Đức tin rằng nước Đức sẽ phải thống nhất nên chọn thành phố nhỏ bé quê hương của Bettoven này làm thủ đô tạm thời và không xây dựng gì thêm để thể hiện niềm tin một ngày nào đó Berlin sẽ trở lại là thủ đô nước Đức thống nhất ấy.
Đi trên con phố bình yên của Bonn gã chợt nhớ có lần một chú em của gã là sĩ quan an ninh hỏi gã: giả sử thay đổi chế độ qua đa đảng, dân chủ thì một sĩ quan an ninh như em sẽ được đối xử thế nào?
Gã cười: anh không biết ai sẽ lãnh đạo cái chế độ ấy, nhưng anh nghĩ, chế độ nào cũng cần những người bảo vệ an ninh. Thì ai làm việc gì sẽ tiếp tục làm việc nấy, có điều phải trung thành với quốc gia, dân tộc tuân thủ hiến pháp chứ không phải trung thành với bất cứ đảng phái nào khác mà thôi.
Gã độp hỏi Thọ người chứng kiến sự thống nhất nước Đức và thay đổi chế độ ở Đông Đức : những người làm an ninh của Đông Đức được đối xử thế nào khi thay đổi chế độ?
Thọ kể, Thọ có tìm gặp một bà giáo từng dậy Thọ ở Đông Đức XHCN, nhiếu người trong trường khi biết bà là mật vụ của tổ chức an ninh cộng sản được cài cắm ở trường nên khi nước Đức thống nhất đã tẩy chay bà. Thọ bảo, tuy vậy bà đối xử với học sinh Việt Nam học trong trường rất tốt, nhớ cái ơn ấy Thọ đi tìm bà sau nhiều năm xa cách. Bà ở ẩn ở một vùng biển vắng vẻ. Khi Thọ tới bà đã ôm Thọ khóc. Bà kể biết bà là mật vụ cộng sản chính quyền Tây Đức lúc đó và chính quyền Đức thống nhất vẫn đối xử tốt với bà và trả lương hưu cho bà theo chế độ như các nhà giáo nghỉ hưu khác.
Thọ kể mới đây gặp một bà giáo khác của mình đi chiếc xe hơi rất sang trọng. Bà kể, chồng bà là đại tá an ninh Đông Đức khi thay đổi chế độ vẫn được xử dụng chuyên môn và trả lương đại tá như đại tá của Tây Đức. Có điều khi về hưu thì lương hưu chỉ bằng 85% lương hưu của đại tá Tây Đức thôi. Khi chồng bà chết, bà vẫn được hưởng 50% lương hưu của chồng.
Bà thắc mắc vì sao mình chỉ được hưởng 50% lương hưu ấy trong khi đó các bà goá của sĩ quan an ninh Tây Đức tư bản lại được hưởng 75% lương hưu của chồng.
Thọ kể lại khi Việt Nam thống nhất thì các sĩ quan của chế độ SG phải vào các trại tập trung cải tạo thế nào. Đại tá an ninh như chồng bà phải 10 năm cải tạo là ít.
Bà giáo kia há hốc miệng chả rõ cười hay khóc…
MÊ DÂM DỤC– Bài Giảng của Thánh Gioan Maria Vianney
MÊ DÂM DỤC
Sự chết, phán xét, Thiên Đàng, Hỏa Ngục, không làm cho họ sợ hãi tí nào, không có gì lay chuyển họ được. Trong các tội lỗi, tội mê dâm dục là khó diệt trừ nhất.
Thánh Gioan Maria Vianney
Mê dâm dục là sự yêu thích các thú vui nhục dục trái ngược với đức trong sạch. Không có tội nào làm suy nhược và phá hủy linh hồn nhanh chóng cho bằng tội đáng xấu hổ này; nó lôi kéo chúng ta ra khỏi bàn tay Thiên Chúa, và ném chúng ta như ném một cục đá vào trong hố sâu bùn lầy hôi thối. Một khi đã chìm trong đống bùn nhơ đó, chúng ta không thể nào thoát ra được. Trong đống bùn đó, chúng đào cho mình một cái lỗ; càng nhúc nhích, chúng ta càng làm cho cái lỗ ra to thêm, rồi từ từ chìm xuống. Rồi chúng ta đánh mất đức tin của mình, chúng ta cười nhạo tôn giáo, không còn mơ ước Thiên Đàng, không còn sợ hãi Hỏa Ngục nữa. Thật bất hạnh biết bao cho những linh hồn sống trong đam mê tội lỗi này! Linh hồn họ đẹp đẽ đến nỗi kéo được sự chú ý của Thiên Chúa để mắt nhìn, như khi người ta nghiêng mình trên một đóa hoa hồng thơm ngát, nhưng nay đã trở nên như một xác chết lâu ngày, mùi hôi thối độc hại của nó bay thấu tận trời cao.
Chúa Giêsu Kitô đã kiên nhẫn chịu đựng sống giữa các Tông Đồ, là những người đầy kiêu căng và tham vọng, thậm chí một người đã phản bội; nhưng Người không dính một chút bợn nhơ của họ; Người ghê tởm tất cả mọi tính hư nết xấu. Thiên Chúa phán: ”Thần Khí của Ta không ở trong người, nếu người chỉ là xác thịt và thối nát.” Thiên Chúa lìa bỏ tất cả những người tâm địa độc ác và dâm ô. Chúng để mình chìm đắm trong bùn nhơ như con heo hèn hạ, nhưng lại không ngửi thấy mùi hôi thối bốc lên. Người trơ trẽn như vậy thật đáng ghê tởm trước mặt mọi người, nhưng họ không ý thức được điều đó. Thiên Chúa đã ghi dấu ô nhục trên trán của họ, nhưng họ không cảm thấy xấu hổ; họ có cái mặt bằng đồng và một trái tim bằng đá; thật là vô ích khi nói với họ về danh dự đạo đức, vì lòng trí của họ đầy tự mãn và kiêu căng.
Các chân lý như: sự chết, phán xét, Thiên Đàng, Hỏa Ngục, không làm cho họ sợ hãi tí nào, không có gì lay chuyển họ được. Trong các tội lỗi, tội mê dâm dục là khó diệt trừ nhất. Những tội khác trói chúng ta bằng xích sắt, nhưng tội mê dâm dục trói chúng ta bằng xích da bò, loại da không bao giờ rách hay đứt; tội mê dâm dục là lò lửa làm ô uế cả những người lớn tuổi cao niên. Hãy xem hai ông già bỉ ổi bị cám dỗ về sự trong sạch đem lòng thèm muốn bà Susanna; họ đã giữ cơn sốt thời trai trẻ đến lúc già yếu. Khi thân xác kiệt sức vì trụy lạc, khi họ không còn thỏa mãn được những đam mê, thì họ thay thế bằng những ước muốn và ý tưởng dâm ô.
Gần đến giờ chết, họ vẫn còn nói về đam mê cho đến hơi thở cuối cùng; họ chết như lúc họ sống – cứng lòng; sự đền tội nào có thể bù đắp cho tội mê dâm dục này? Sự hy sinh nào có thể lay động họ ở giờ phút cuối cùng, những người suốt đời chỉ nghĩ đến những thú vui nhục dục? Liệu người ta có thể nào mong đợi một lần xưng tội đàng hoàng, một lần rước lễ sốt sắng từ những người, mà lúc trai trẻ có lẽ đã cố tình giấu giếm những tội lỗi ghê tởm và xấu hổ này, đã nhiều lần phạm thánh không? Liệu miệng lưỡi họ đã khép kín lâu nay, chịu mở ra ở giờ phút cuối cùng không? Không có điều đó đâu; Thiên Chúa đã bỏ rơi họ; nhiều lớp chì đè nặng trên người họ; và họ cứ đổ thêm vào. Nhưng hãy coi chừng, đó có thể là lần cuối cùng của đời họ.
From: hnkimnga & Anh chị Thụ Mai



“Tiền dẫu rách, biết dán đúng cách vẫn có giá trị
Nhân cách thối tha, dẫu trưng đầy hoa vẫn không ai tôn trọng”.
BA TẤM HÌNH NÓI LÊN TRÌNH ĐỘ LÃNH ĐẠO VÀ BẢN CHẤT CHẾ ĐỘ. (Hình: Lãnh đạo VNCH và Hoa Kỳ & CSVN)
Khôn ra rồi,Tổng thống Philippines Duterte bây giờ mới nhận ra bộ mặt thật của Bắc Kinh – Chúc mừng?
Những năm qua Trung Cọng đã làm bao chuyện tày trời ở Biển Đông. Vậy mà ông Duterte vẫn làm ngơ vì được Trung Cộng mua chuộc. Nay thì ông mới nhận ra bộ mặt thật của họ? Ông đã lên tiếng chỉ trích hành động ‘ngang ngược’ của Tc trên Biển Đông.
“Anh (Trung Cọng) không thể tạo ra một hòn đảo nhân tạo trên vùng biển quốc tế, vậy mà anh lại nói không phận phía trên các đảo nhân tạo đó là của anh. Điều đó là hoàn toàn sai lầm, vùng biển này là vùng biển quốc tế”, tờ South China Morning Post (SCMP) dẫn lời Tổng thống Philippines Duterte ngày 14/8.
andy
Tổng thống Philippines Duterte phát biểu trước nhiều quan chức ngoại giao bao gồm đại sứ Mỹ, ông Duterte lên án hành động tuyên bố chủ quyền với vùng không phận phía trên các đảo mới bồi đắp và vùng biển xung quanh trên Biển Đông của Trung Cọng.
“Việc Bắc Kinh buộc các bên phải rời khỏi khu vực này có thể trở thành tác nhân châm ngòi xung đột. Quyền tự do hàng hải, tàu thuyền di chuyển cần được đảm bảo và không cần ai cho phép để đi qua một vùng biển mở quốc tế”, ông nói thêm.
Ông Duterte cũng cho rằng Mỹ có lỗi khi đã không ngăn chặn kịp thời Trung Cọng ngay từ khi các kế hoạch bồi lấp, cải tạo trái phép đảo nhân tạo mới được manh nha.
Hồi đầu tháng 8 vừa qua, Philippines cũng đã bày tỏ quan ngại đến chính quyền Bắc Kinh sau khi các máy bay và tàu Philippines nhận được nhiều tin nhắn radio, cảnh báo họ tránh xa các đảo nhân tạo Trung Cọng bồi đắp trái phép trên Biển Đông.
Tờ CNN cũng đưa tin quân đội Trung Cọng liên tục cảnh báo máy bay trinh sát của hải quân Mỹ phải ngay lập tức rời khỏi khu vực “để tránh mọi hiểu lầm”, khi những máy bay này bay gần đến các đảo nhân tạo.
Hình ảnh Trung Cọng quân sự hóa trên Biển Đông.
Các tin nhắn cảnh báo radio từng đến từ tàu tuần duyên Trung Cọng, nhưng các quan chức quân đội Mỹ nghi ngờ chúng đã được mở rộng ra và được phát từ các đảo nhân tạo Bắc Kinh tuyên bố chiếm đóng, nơi có nhiều thiết bị liên lạc và giám sát mạnh mẽ hơn được lắp đặt cùng với các vũ khí như tên lửa đất đối không.
Trong khi đó, quân đội Mỹ tại Nhật Bản cũng đăng thông báo của Hải quân Mỹ và viết kèm thông điệp thể hiện sự đoàn kết.
“Các máy bay P-8A của Hải quân Mỹ đồn trú tại Nhật Bản sẽ đóng góp vào hòa bình và an ninh khu vực mỗi ngày bằng cách bay qua bất kể nơi nào luật quốc tế cho phép”, quân đội Mỹ tại Nhật Bản bình luận.
Ngoài ra, các lực lượng khác như Không quân Thái Bình Dương và Hạm đội Thái Bình Dương cũng đều đăng lại thông báo của Hải quân Mỹ.
Theo CNN, trên độ cao khoảng 5.000 m, nhóm phóng viên quan sát thấy Trung Cọng đã bồi đắp phi pháp các đảo đá, xây nhà cao tầng, triển khai hệ thống radar, lưới điện và đường băng đủ lớn để cho máy bay quân sự có thể cất cánh và hạ cánh. Mỗi lần máy bay Trung Cọng cảnh báo, phi hành đoàn trên máy bay Mỹ lại đáp lại với cùng một thông điệp rằng, hải quân Mỹ đang thực hiện các hoạt động quân sự theo đúng luật pháp tại không phận của vùng biển quốc tế vì quyền và nghĩa vụ của tất cả mọi quốc gia.
CHỌN LỰA: MỘT HÀNH VI KHÔNG DỄ
Cả anh em nữa, anh em có muốn bỏ Thầy mà đi không? Chúa Giêsu không hỏi: anh em có tiếp tục theo Thầy không mà lại hỏi thẳng thừng: anh em có muốn bỏ Thầy mà đi không. Một câu hỏi không thuộc dạng mời gọi như trước đây mà là đặt vấn đề chọn lựa rõ ràng, dứt khoát.
Kitô hữu chúng ta theo đạo không phải là theo một học thuyết mang tính triết lý hay thần học nào đó, nhưng là theo một “con người”, theo một “ai đó”, một “Đấng nào đó.” Đấng hay con người mà chúng ta lựa chọn đi theo, lựa chọn để gắn bó, đó là Đức Giêsu Kitô. Phụng Vụ Lời Chúa ngày Chúa nhật XXI Thường Niên B đặc biệt lưu ý chúng ta đến hành vi lựa chọn. Chọn lựa một công việc để làm kế sinh nhai quả không mấy dễ. Chọn lựa một bậc sống thật lắm phân vân đủ bề. Chọn lựa một con người để làm bạn đời trăm năm cũng lắm sự nhiêu khê. Và chọn lựa Đấng để trao gửi hạnh phúc hôm nay, và vĩnh cửu chắc chắn sẽ khó khăn hơn nhiều. Vì thế, khi phải chọn lựa trong một vấn đề quan trọng, chúng ta cần có đủ cơ sở một cách nào đó.
Sau khi nhắc lại cho dân tình yêu của Thiên Chúa qua các kỳ công Người đã thực hiện để bảo vệ dân, Giô-suê khẳng khái trước toàn dân rằng: “Về phần tôi và gia đình tôi, chúng tôi sẽ phụng thờ Đức Chúa” (Gs 24,15). Và dân đã đáp lại rằng họ không hề có ý định bỏ Đức Chúa để phụng thờ các thần khác! Họ sẽ thờ phụng Thiên Chúa, vì chính Đức Chúa, Thiên Chúa của họ dùng quyền năng thực hiện những dấu lạ lớn lao để đem họ cùng với cha ông họ ra khỏi đất Ai Cập, khỏi nhà nô lệ mà vào đất hứa. Như thế, cơ sở để dân Chúa xưa chọn thờ phụng Người đó là vì Người quyền năng đã đưa họ ra khỏi nhà nô lệ.
Trước câu hỏi của Chúa Giêsu, một kiểu đặt vấn đề đòi hỏi có sự chọn lựa dứt khoát thì Phêrô đã thay mặt nhóm Mười Hai trả lời: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời” (Ga 6,68). Không kể trường hợp một phần tử trong nhóm không tin, thì câu trả lời của Phêrô nói lên sự chọn lựa của cả nhóm Tông Đồ. Và sự chọn lựa ấy đặt cơ sở trên điều này: vì Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời. Để nói lên được những lời này, chắc chắn cùng với các bạn, Phêrô đã từng chứng kiến uy quyền của Thầy khi khiến nước lã hóa thành rượu ngon (x.Ga 2,1-12). Các vị đã từng nghe Thầy nói với viên sĩ quan cận vệ nhà vua rằng: “Ông cứ về đi, con ông sống” và đứa con trai của ông ta đang đang hấp hối đã đuợc cứu sống (x. Ga 4,46-54). Và các ngài chưa thể quên lời tạ ơn mới đây của Thầy đã giúp cho năm ngàn người đàn ông chưa kể đàn bà và con trẻ no nê chỉ từ năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá (x. Ga 6,1-15).
Không ai tự nguyện dấn thân theo một lý tưởng, thực hiện một trách nhiệm hay gắn bó với một con người mà không ấp ủ một hoài bão, một ước mơ hay niềm hy vọng nào đó. Xưa, dân Do Thái chọn tôn thờ Thiên Chúa là để một mặt khỏi bị Người giáng họa, trừng phạt, mà trái lại sẽ được Người chúc phúc và che chở trước các “kẻ thù” lân bang (Gs 24,19-20).
Cái hoài bão, uớc mơ, đúng hơn là cái mục đích việc Phêrô thay mặt anh em chọn gắn bó với Thầy đó là vì “Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời.” Sự sống đời đời là một ước mơ của con người, mọi thời và mọi nơi. Dù đủ đầy của cải vật chất, dù nắm trong tay quyền sinh sát của bậc đế vương thì con người vẫn cảm nhận cái hữu hạn của cuộc sống đời này. Danh vọng quyền lực, của cải hay tiền tài không thể giúp ta kéo dài cuộc sống đến vô tận. Một thanh niên có nhiều sản nghiệp đã đến tham vấn Chúa Giêsu: Thưa Thầy, tôi phải làm điều gì tốt để được hưởng sự sống đời đời? Sau khi nói anh ta giữ các giới răn, Chúa Giêsu đã mời gọi anh ta hãy bán của cải, phân phát cho người nghèo rồi đến mà theo Người (x. Mt 19,16-22; Mc 10,17-22; Lc 18,28-30).
Chọn lựa là hy sinh. Một câu nói cho thấy một lẽ tất yếu của việc chọn lựa. Chọn ra đi thì phải hy sinh chuyện không ở lại, chọn việc cất tiếng nói thì đương nhiên phải mất thái độ giữ im lặng, đã chọn tôn thờ Thiên Chúa thì phải bỏ các thần của dân ngoại (x. Gs 24,23), v.v… Tuy nhiên sự hy sinh trong việc chọn lựa không chỉ dừng lại ở các nội dung xem như đối lập của sự chọn lựa mà còn có sự hy sinh ngay trong chính hành vi chọn lựa. Sự hy sinh ở đây được hiểu như một sự đánh cược, một sự dấn thân, một sự “liều lĩnh” nào đó. Vì chưng, chúng ta vốn khó có được các cở sở một cách chắc chắn kiểu trăm phần trăm khi chọn lựa một điều gì đó. Chúng ta dễ nhận ra ngay hiện thực này qua việc các bạn thanh niên nam nữ chọn bạn đời hay chọn ơn gọi tu trì. Như thế, sự hy sinh ở đây có thể hiếu như sự can đảm dấn thân, chấp nhận nhiều “cái giá” phải trả khi chọn lựa.
Cái giá mà chúng ta phải trả khi chọn lựa đi theo Chúa Giêsu, gắn bó với Người đó chính là “vác thập giá.” “Ai không các thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được” (Lc 14,27). Cái giá mà Phêrô sẽ phải trả được Đấng Phúc sinh báo trước: “Thật, Thầy bảo thật cho anh biết: lúc còn trẻ, anh tự mình thắt lưng lấy, và đi đâu tùy ý. Nhưng khi đã về già, anh sẽ phải dang tay ra cho người khác thắt lưng và dẫn anh đế nơi anh chẳng muốn. Người nói vậy, có ý ám chỉ ông sẽ phải chết cách nào để tôn vinh Thiên Chúa. Thế rồi Người bảo ông: “Hãy theo Thầy” (Ga 21,18-19).
“Thiên Chúa dựng nên tôi không cần có tôi, nhưng Người không thể cứu tôi mà cần có tôi” (thánh Augustinô). Tự do là một quà tặng cao quý Chúa ban cho loài người, loài cao trọng nhất trong các loài hữu hình Người dựng nên. Tự do là một ân ban cao quý và cũng là một thử thách ắt có của tình yêu. Được sống đời đời hay phải chết đời đời có nghĩa là được hạnh phúc bất diệt hay bị trầm luân mãi mãi, các khả thể này đang tùy ở sự lựa chọn của chúng ta. Ai lại không muốn được sự sống đời đời, được hạnh phúc bất diệt, nhưng vấn nạn khó vượt qua đó là chúng ta thường e ngại phải trả giá.
Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa
Suy Tư Chúa nhật thứ 21 thường niên năm B 26/8/2018
(Ga 6: 54a, 60-69)
Tại hội đường Caphácnaum, Đức Giêsu tuyên bố:“Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời.” Nghe rồi, nhiều môn đệ của Người liền nói: “Lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi?” Nhưng Đức Giêsu tự mình biết được là các môn đệ đang xầm xì về vấn đề ấy, Người bảo các ông:”Điều đó, anh em lấy làm chướng, không chấp nhận được ư? Vậy nếu anh em thấy Con Người lên nơi đã ở trước kia thì sao? Thần khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì. Lời Thầy nói với anh em là thần khí và là sự sống.
Nhưng trong anh em có những kẻ không tin.”Quả thật, ngay từ đầu, Đức Giêsu đã biết những kẻ nào không tin, và kẻ nào sẽ nộp Người. Người nói tiếp: “Vì thế, Thầy đã bảo anh em: không ai đến với Thầy được, nếu Chúa Cha không ban ơn ấy cho.” Từ lúc đó, nhiều môn đệ rút lui, không còn đi theo Người nữa.
Vậy Đức Giê-su hỏi Nhóm Mười Hai:”Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao?” Ông Simôn Phêrô liền đáp: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết rằng chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa.”
* * *
“Em đi rồi, sám hối chạy trên môi,”
“Những tháng ngày trên vai buồn bỗng nặng…”
(dẫn từ thơ Nguyên Sa)
Mai Tá lược dịch.
Nhà thơ buồn, vì người em rày đã đi. Em đi rồi, nhà thơ thấy sám hối chạy trên môi, nên tháng ngày vật vã cứ chĩu nặng trên vai buồn. Nhà Đạo lại rất vui mà ra về khi Tiệc Thánh đến hồi chấm dứt, lòng những mang theo bài sai Chúa nhắn nhủ, và gọi mời.
Trình thuật thánh Gioan nay kết thúc với lời cuối Tin Mừng ở chương 6 Chúa nói về “Bánh Hằng Sống” khiến người nghe thấy chướng tai, bèn bỏ Ngài lại một mình. Và khi đó, Ngài hỏi đồ đệ xem các thánh nhận xét ra sao về chúng dân, đồ đệ bèn quả quyết: ai bỏ Chúa thì cứ bỏ,nhưng các thánh không bỏ Thày và cũng chẳng đi đến nơi nào không có Thầy ở đó.
Cuối buổi Tiệc, dân con Chúa những tưởng Tiệc Thánh đã chấm dứt khi chủ tế giơ tay ban phép lành kèm lời nhắn: “Anh chị em hãy ra đi bình an.” Kỳ thực, lời chúc “ra đi” hay “ra về” bình an, đều hàm ẩn một thôi thúc dân con dự Tiệc hãy về với thế trần mang theo sứ vụ Chúa trao phó, cho mọi người. Nhưng, bài sai đây là sứ vụ gì? Thực hiện sứ vụ này ra làm sao? Kết quả dẫn đến sẽ thế nào?
Ở đây, dân con dự Tiệc vào phút cuối sẽ khám phá ra một hiện diện khác từ Tiệc Thánh. Đó là, sự hiện diện mặt-đối-mặt của các sự vật có tính cách chỉ như vật thể. Dự Tiệc, không là hiện diện bằng thân xác mà dân con/cộng đoàn từng trải nghiệm theo cung cách chủ quan, hạn chế. Nhưng, hiện diện đây là qui cách hiện hữu mà chỉ mình Chúa mới có. Chính đó là Hiện Diện theo nghĩa của việc tặng ban/cho đi. Cho một cách nhưng-không chẳng màng gì lợi danh, đổi chác hoặc đáp trả theo nghĩa “có đi có lại mới toại lòng nhau”.
Đức Chúa không tặng ban cho ta chỉ một hiện hữu có ích, Ngài cũng chẳng trông chờ ta cảm kích biết ơn để rồi tạo thành ràng buộc khiến ta mất tự do, chẳng thoải mái. Ngài cũng không muốn lấy đi giây phút hiện tại ta đang sống trong nhà Chúa như một sự thể chính đáng. Và, Ngài cũng không đánh giá quá thấp chuỗi ngày dài đầy những quá khứ hoặc tương lai đang trờ đến.
Ta tưởng đó như một hiện tại kéo dài để rồi thiết lập nên những mẩu chuyện nhỏ cho một tổng thể lớn. Tổng thể, là đường lối hoàn toàn khác cho thấy người đời vẫn đặt nặng mọi thứ hơn là hiện tại. Nhất là, hiện tại xảy ra ở cuối buổi Tiệc Thánh, vào lúc ta được bảo: hãy “ra đi” mà trở thành kẻ tản bộ trong ước mơ tuy chậm nhưng rất chắc, ở thế trần. Ra đi, vì bài sai Chúa gửi đến thế trần không do ta chọn và thiết lập, mà chỉ tuân thủ và thực thi.
Và, Hội thánh hôm nay cho thấy thái độ “đóng kín” không am tường bản chất của mình, nên đã không phản ánh cái đẹp của trần thế bằng việc thể hiện động thái của mình. Và, cũng vì không am tường bản chất của chính mình nên cũng không tạo ảnh hưởng nào lên trần thế hết.
Thành thử, khi nhận bài sai ra đi về với thế trần làm chứng nhân rao giảng Lời Chúa và sống cho Chúa, nhiều dân con đi Đạo cảm thấy khó mà sống thực niềm tin giữa lòng dân tộc, thời hiện đại. Bởi thếnên, nền văn hoá thời đại chẳng dám đón nhận sứ điệp của Đạo Chúa, nữa. Thế trần thời hiện đại, là chốn miền khiến ta khó mà sống niềm tin rất đích thực. Bởi, ngày nay người người vẫn dễ dàng sống theo lề thói rất vật chất, tự do vui hưởng lợi lộc do chủ thuyết tiêu thụ dọn sẵn ý hướng chệch choạc.
Ở đây cũng thế, không dễ gì có thể định hướng được tính khí của nhân loại để người người có thể ra đi mở rộng Nước Chúa, sống cho Chúa. Bởi lẽ, cơ chế xây dựng nên Hội thánh hôm nay ngày càng ít trở nên gương mẫu cho đời thường, ở trần thế. Và vì thế, Hội thánh càng xa rời đời sống của chúng dân. Vì, nơi thế trần hôm nay cũng vậy, ngày càng thấy ít đi các Tiệc thánh hiến tế hoặc Tiệc Lòng mến thân thương đông người dự. Số lượng linh mục phục vụ Tiệc ngày càng ít, kéo theo sự thể là sứ vụ rao giảng Lời Chúa ngày càng chất chồng lên đôi vai trần của một vài vị còn ở lại với thánh hội.
Từ đó, có mục tử cùng lúc phải coi ngó nhiều giáo xứ. Có vị phải bỏ nhiều giờ để tới vùng sâu vùng xa mà “rao giảng”.
Thế nên, hôm nay, nhu cầu đòi dân con dự Tiệc nhận bài sai “ra đi rao giảng Nước Trời” trở thành chuyện sống thực ở đời. Sống thực, là sống đúng ý nghĩa của Tiệc Lòng Mến biến cải thế giới thành chốn miền đặc biệt để sống và lao động. Hôm nay, hơn năm mươi năm trôi qua kể từ ngày Công Đồng Vatican II ban hành nghị định thư về sự sống còn của dân con nhận bài sai rao giảng, cho thấy đó là quan điểm cách mạng chứng thực vai trò giáo dân đã đến hồi nở rộ, đẹp đẽ. Tốt lành.
Vấn đề của giáo dân hôm nay, không nhằm khuếch trương Hội thánh theo số lượng tăng nhanh bao gồm sự việc và phong trào do Hội thánh chủ trương. Cũng chẳng là phải làm gì hoặc làm thế nào để số người đến nhà thờ ngày một đông, có thêm người đọc kinh, hát xướng. Mà là, sống thực cuộc sống có hiệp thông ta học được từ Tiệc Thánh xảy đến ngay trong trần thế rất khí thế.
Trở thành giáo dân đúng nghĩa, là ơn gọi nhận bài sai ra đi rao giảng Lời, chứ không phải chức vụ mình nhận để thực thi. Ơn gọi giáo dân đây, là ân lộc gọi mời mọi người trở nên dân con của Chúa bằng cuộc sống hiệp thông, rất thương yêu. Gọi mời mọi người trở thành dân con sống thực Lời Chúa trong một thế giới chỉ chú trọng vật chất. Sống thực Lời Chúa, là sống hiệp thông thương yêu trong khuôn khổ của trần thế.
Sống thực ở đây không là kinh nghiệm hiệp thông rước lễ rút từ Tiệc Thánh rồi phổ biến cho thế giới cũng làm như thế. Làm thế, khác nào biến thế giới bên ngoài thành chi nhánh của Hội thánh ở bên trong. Làm thế, tức như thể dân con mình không còn tôn trọng tính đặc biệt của thế giới bên ngoài và lại chỉ muốn tân trang đổi mới mặt ngoài của thế giới, thế thôi.
Sống thực Lời của Chúa, là cởi mở với tính chất rất trần thế nơi cuộc sống đời thường vẫn như thế; để rồi, từ đó khám phá ra sự thể của cuộc sống có hiệp thông, thương yêu rút từ Tiệc Thánh đang thăng tiến với thế trần. Mãi đến nay, Hội thánh vẫn chưa đạt thành tích về chuyện này. Hội thánh lâu nay vẫn hãi sợ “thế gian” rất phàm tục. Thế gian, là cụm từ Hội thánh ít muốn nghe đến. Thế gian, là từ ngữ về hệ thống giá trị mang tính phàm tục đối nghịch hệ cấp giá trị của thánh hội. Và Hội thánh vẫn cứ sợ cả những giáo dân bên trong thánh hội của mình một ngày nào đó sẽ qua mặt cả hệ cấp rất thánh nữa.
Nay, đã thấy một vài đổi thay trong thái độ của thế gian. Nhiều vị sống ở thế giới gian trần này, nay đã biết được rằng: song song với các vận động đề cao nhân quyền của dân thường và các vậnđộng bênh vực những người thuộc sắc tộc thiểu số cùng nghèo hèn, Hội thánh nay cũng tích cực đề bạt và bàn bạc với trần thế để đi đến hành động chính đáng. Nhiều vị trong Hội thánh, nay đã biết dân con mình dù sống trong trần thế, với “thế gian” vẫn nhận lãnh nhiều ân lộc từ Đức Chúa.
Vậy thì, việc đó nói lên điều gì? Và có từ đâu? Phải chăng từ bài sai “ra đi” mà hiệp thông, thương yêu. Hiệp thông thương yêu, là kết hiệp và cảm thông với những người khác mình, trong quan hệ thường nhật. Bởi thế nên, thông điệp ở đây hôm nay, là: nếu ta học được điều hay từ hiệp thông thương yêu trong thánh hội, thì hãy sống thực điều đó bên ngoài hội thánh. Sống được thế, sẽ mang đến cho ta một khí thế, rất sống động. Hiệp thông yêu thương, là biết tôn trọng mọi người để rồi cùng họ đem tình thương đến với người khác, dù theo cung cách rất đời thường, hoặc “thế gian”.
Giáo dân ta, nay là người có cơ may nhiều hơn triều thần giáo sĩ và tu sĩ do việc họ vẫn sống và làm việc ngay trong cơ cấu trần thế. Việc của giáo dân, nay là lập quan hệ với những người sống trong trần thế, theo cung cách rất thế trần. Như thế, và như thể chính giáo dân mới là người đóng đúng vai trò thừa sai có từ bài sai “hãy ra đi mở mang Nước Trời, ở trần gian”.
Vào lúc kết thúc buổi Tiệc Thánh, giáo dân dự Tiệc là những người vẫn được giáo triều sai bảo “hãy ra đi mà về với thế gian” để triển khai công tác tốt đẹp được Chúa ủy thác. “Hãy ra đi”, bởi nay quý vị được ủy thác công tác ra mà đi, vì đã có phép lành từ Đức Chúa của hiệp thông/thương yêu ở với mình. Ra mà đi, vì ngay tại nơi mình đến đã thấy rõ dấu hiệu của sự sống lại, rất trổi trang.
Ra mà đi, nhưng không hãi sợ trần thế rất “thế gian” khi xưa được gọi là kẻ thù thứ ba rất đáng sợ. Bởi, thế gian là ta và cũng là người, chứ đâu là quỉ. “Ra mà đi”, hầu nhận lãnh sứ vụ gửi đến con người và cho con người có đính kèm phúc lành, chứ không phải lời chúc dữ dành cho “kẻ thù” là quỉ sứ, đáng hãi sợ. Hãy hiên ngang mà ra đi, vì Đức Chúa vẫn ở với mình và với người, là thế gian Ngài thương mến.
Trong tinh thần phấn chấn mà ra đi, cũng nên ngâm tiếp lời thơ vừa ngâm dở, ở trên, rằng:
“Em đi rồi, sám hối chạy trên môi,
Những tháng ngày trên vai buồn bỗng nặng.
Em ở đâu, hỡi mùa thu tóc ngắn,
Giữ hộ anh, màu áo lụa Hà Đông.
Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng,
Giữ hộ anh, bài thơ tình lụa trắng.”
(Nguyên Sa – Áo Lụa Hà Đông)
Thơ tình hay áo lụa, vẫn cứ là lời nhắn nhủ của thế trần hôm nay không còn là “kẻ thù” rất dữ tợn. Nhưng đã là mục tiêu của thánh hội được Chúa ủy thác một bài sai, bấy lâu nay.
Lm Kevin OShea DCCT biên soạn
Mai Tá lược dịch
From Vuisongtrendoi gởi
Chuyện Phiếm đọc trong tuần 21 Thường niên năm B 26-8-2018
“Quen nhau từ năm tháng rồi”
Ngàn phương xa vời
Anh đến nơi này
để rồi quen nhau mãi mãi.”
(Lê Dinh – Ngày ấy quen nhau)
(1Th 4: 16-17)
Trần Ngọc Mười Hai
Quen nhau, đã từ lâu mà sao lại bảo “anh đến nơi này để rồi quen nhau mãi mãi”? Quen nhau mãi mãi, cũng không thể như đấng bậc vị vọng nọ, nại cớ quen nhau đã từ lâu bèn làm chuyện xằng bậy như bản tường trình từ nhà Đạo, viết như sau:
“Mới đây Đức Tổng Giám Mục Wilson được coi là chức sắc cao cấp nhất trong Giáo Hội Công Giáo bị kết tội che dấu lạm dụng tình dục trẻ em. Qua một thông báo. Hội Đồng Giám Mục Úc cho biết: “Việc ngài quyết định từ chức đã đến sau khi tính chuyện tương lai tiếp theo sau việc ngài bị kết tội không báo cáo những trường hợp lạm dụng tình dục trẻ em xảy ra trong thập niên 1970”.
Thông báo cho biết tiếp: “Trong khi thủ tục tư pháp tiếp tục, viêc từ chức của ĐTGM Wilson được coi là một chương mới trong câu chuyện đau lòng của những ai bị (cựu linh mục) Jim Fletcher xâm phạm tình dục mà cuộc sống đã bị hoàn toàn thay đổi. Quyết định này có thể mang lại đôi chút an ủi cho họ mặc dầu tất cả những đau khổ mà họ đã phải gánh chịu”.
Thông báo còn cho biết thêm là “quyết định của ĐTGM Wilson có nghĩa là ngài không còn là TGM Adelaide nữa bởi vì có kéo dài thì cũng chỉ gây thêm đau khổ và phiền muộn cho nhiều người, đặc biệt là các nạn nhân còn sống và cũng cho tổng giáo phận Adelaide. Hồi tháng 5, Đức Tổng Giám Mục Wilson đã bị kết tội bao che lạm dụng tình dục và bị kết án 12 tháng quản thúc.
Trong khi đó, qua một thông cáo báo chí của Tổng Gíáo Phận Adelaide, ĐTGM Wilson cho biết hy vọng và cầu nguyện rằng quyết định của ngài sẽ là một chất xúc tác hàn gắn đau khổ và phiền muộn. Ngài cho biết:
“Vào ngày 20 tháng 7, tôi đã đệ trình đơn xin từ chức Tổng Giám Mục Adelaide lên ĐTC. Mặc dầu việc từ chức không được yêu cầu, thế nhưng tôi đã quyết định bởi vì càng ngày tôi càng quan tâm đến mức độ tổn hại mà việc tôi bị kết tội mới đây gây ra cho cộng đoàn. Tôi từng có ý gia hạn quyết định này cho đến khi thủ tục khiếu nại hoàn tất.
Thế nhưng, có quá nhiều đau khổ và phiện muộn nếu tôi tiếp tục duy trì vai trò Tổng Giám Mục Adelaide, đặc biệt đối với các nạn nhân của (cựu linh mục) Fletcher. (Vũ Nhuận chuyển ngữ từ abcnet.au)
Quen nhau trong đời, quen cả những vấn đề được kể trong đời đi Đạo, nghe rất quen. Nghe quen quen, cón có truyện kể về các thiên thần hộ thủ, được giáo dân nọ đặt câu hỏi gửi đấng bậc nhà Đạo những câu tương tự như sau:
“Thưa cha,
Vẫn biết, Giáo hội từng dạy ta rất nhiều điều về các “thiên thần hộ thủ”. Thế nhưng, loài người chúng ta có thấy các vị ấy bao giờ đâu. Nếu vậy, lấy đâu là bằng chứng để ta tin là: các thiên thần ấy có thực. Xin cha giải thích cho con biết, kẻo không còn tin vào những gì được dạy dỗ từ lúc nhỏ.” (Câu hỏi của một bổn đạo người Úc không ghi tên)
Ấy chết! Không ghi tên/tuổi hoặc gốc gác lai lịch, thì có ma nào biết được người ấy là người Úc, cơ chứ? Chẳng lẽ người Úc mình lại hay hỏi những câu vẩn vơ/lờ mờ như thế sao? Thôi thì, có hỏi sao thì cứ hỏi, rồi ra đấng bậc nhà mình vẫn vui lòng giải thích, để chính mình được vui, như sau:
“Tôi e rằng phần lớn các giáo-hữu đều tin vào chuyện thiên-thần hộ-thủ từng giúp họ một số việc trong đời thật cũng khó thuyết phục được ai; chí ít là việc này lại dính đến chuyện các thiên thần vì đã đến cứu họ, nên không để cho tai nạn xảy đến hoặc trường hợp tìm ra đồ dùng đã mất hoặc nhớ lại vào phút chót những gì mình từng quên bẵng, và nhiều thứ khác.
Lại có nhiều vị từng kinh-nghiệm về các sự việc khá ấn tượng. Như vừa rồi, có người đến kể cho tôi nghe câu chuyện một cụ bà nọ bị liệt đã té khỏi giường khi cụ ông ra khỏi nhà. Cụ không thể leo lên giường nằm trở lại được, bèn ngủ ngay trên sàn. Nhưng gặp lúc cụ ông đi làm về thấy vợ mình vẫn nằm yên trên giường ngủ. Cụ bà là người sùng kính hết sức mình vào các thiên thần hộ thủ gìn giữ cụ.
Nhiều lúc, các thiên-thần cũng đã hiện ra với ai đó qua hình-thù người phàm. Đó là trường-hợp được tổng lãnh thiên thần Raphael kể lại trong Cựu Ước. Sách này cho biết thần-sứ Raphael đã hiện ra với người trẻ mang tên Tôbia và cùng với người này lập hành-trình rất dài và rồi kết thúc bằng sự kiện tốt đẹp. Cuối cùng thì, thần sứ Raphael mới bộc-lộ lai-lịch đích-thực của mình mà bảo rằng: ngài là thiên-thần hộ -thủ. (X. Sách Tôbia 5: 4-5; 12: 15)
Nhiều vị thánh cũng tuyên bố là: các ngài có kinh-nghiệm được các thiên-thần hộ-thủ gìn giữ suốt nhiều tháng ngày trong đời mình. Trong số các vị này, phải kể đến thánh Josemaria Escriva, người Tây Ban Nha. Thánh nhân đã kể câu chuyện từng xảy đến với ngài như sau:
Năm ấy 1931, trong đợt sóng chống giáo sĩ ở nước này, trong lúc thánh-nhân đang đi bộ trên đường phố ở thủ đô Madrid thì có ba người trẻ tuổi sáp lại gần phía ông. Tức tốc, một trong ba gã ấy chạy ùa về phía thánh-nhân vội vàng kêu lớn tiếng:
-Để tao bắt lấy nó.
Lập tức, một đứa khác ngăn cản:
-Không được thế. Ngươi đừng có đánh ông ta.
Ngay sau đó, người trẻ ấy bèn gọi thánh Josemaria bằng những lời trêu chọc như sau:
-Này, chú lừa con rất bé nhỏ.
Đó là hình-tượng mà thánh-nhân nói về mình. Nhưng, những điều như thế, duy chỉ có mỗi ngài hoặc cha giải tội của ngài được biết mà thôi. Nên ngài biết chắc là kẻ dữ đã tìm cách đánh ngài và thiên-thần hộ-thủ đang đến cứu ngài.
Ít năm gần đây, tôi có nghe kể lại câu truyện cô bé nọ có tham-dự buổi tình-nguyện do nhóm Opus Dei tổ-chức tại vùng Manchester City, thuộc nước Anh. Đêm tĩnh-nguyện hôm ấy, có chủ-đề về lòng sùng kính các thiên-thần hộ-thủ. Cô bé sau đó đã nói rằng: hiện giờ chẳng có ai còn tin vào các thiên-thần hộ-thủ mình nữa.
Trên đường về nhà, cô bé phải lội bộ ngang qua một vùng tăm tối có cây phủ trùm, bỗng có một thanh-niên người sạch sẽ sáng láng xuất hiện dưới ánh đèn lù mù, trước mặt cô. Đang suy tinh không biết có nên nhắm mắt rồi lầm lũi đi về phía trước hoặc rẽ sang đường khác cố tránh né. Khi đến gần, cô thấy người trẻ tuổi kia nhìn vào mặt cô; đổi lại, cô cũng nhìn vào mặt anh ta. May mắn thay, người trẻ ấy lại không sáp đến gần cô làm gì hết.
Những ngày sau, cô mở báo ra đọc thấy có tin về một người con gái bị giết chết ở khu công viên vào cùng lúc đêm hôm ấy, và thủ-phạm đã bị bắt giữ. Cô đến đồn cảnh-sát hỏi thăm thì được tường-trình về những gì cô trải-nghiệm cùng buổi tối. Cô lân la và được phép hỏi chuyện thủ-phạm vụ giết người, thì được biết: thủ phạm lại chính là người trai trẻ từng đi ngang trước mặt. Đợi đến lúc hỏi rằng: tại sao lúc ấy hắn lại không tấn công cô thay vị một phụ nữ khác, thì anh ta bảo: “Lúc ấy có hai người con trai mạnh khỏe đã hộ-tống cô, nên hắn ta không làm hại cô được…
Một ví-dụ khác, được các đài phát thanh thời ấy nói nhiều về đám thủy quân lục chiến quan-tâm nhiều trong thời chiến ở Triều Tiên. Rõ ràng, câu chuyện thật được anh lính chiến tên gọi là Micae từng kể lại, là: anh được cha mẹ dạy mỗi ngày cứ sáng sáng phải đọc kinh xin cùng thánh Micae Tổng lãnh Thiên Thần gìn giữ anh bằng những câu kinh như:
“Lạy Tổng lãnh Thiên thần Micae,
xin thánh-nhân giữ gìn hộ thủ con vào mọi lúc.”
Anh vẫn nguyện kinh như thế mỗi ngày, chẳng hề quên. Một hôm, trong buổi tuần-tra/do thám vào mùa đông lạnh giá ở Hàn Quốc, bất chợt anh thấy mình đang ở cạnh một người lính chiến thuộc loại to lớn, rất vĩ đại chưa từng gặp, nhưng đã nói với anh rằng: Anh ta tên Micae và anh còn nói thêm: “có lẽ chúng ta sẽ gặp rắc rối, chợt đến trước mắt…
Thế rồi, trời bắt đầu có tuyết càng ngày càng nặng hạt. Nhưng, người lính nọ lại quả quyết: chẳng mấy chốc, mọi nguy hiểm rồi cũng chấm dứt. Và, quả như lời anh nói, cơn tuyết đổ đã ngừng hẳn. Sau đó, hai người lại xa cách không còn dịp làm việc chung với nhau nữa, tuy thời-điểm tuần-tra vẫn tiếp-tục diễn-tiến.
Ít lâu sau, lại có sự kiện nhóm của hai anh đi tuần-tra bèn gặp phải 7 người lính chiến thuộc đám địch thù xuất hiện tay lăm lăm mấy cây súng máy chĩa vào người cả hai anh. Bỗng anh bạn bèn hét lớn tiếng mấy câu:
“Ngồi sụp xuống, Micae!
Sụp xuống mau đí!”
Và, cả hai đều nằm rạp xuống đất, tức thì có lằn đạn bay vụt trên đầu cả hai người. Anh thấy một Micae lực lưỡng vẫn đứng yên không động đậy, dù chẳng có ai ở đó tong quãng không hôm ấy. Micae lực lưỡng bèn nhảy chồm kéo anh nằm rạp xuống, nhưng chính anh ta lại bị đạn ghim vào trước ngực. Anh vẫn thấy Micae lực lưỡng yên hàn đứng sừng sững, chung quanh có lằn ánh sánh bao bọc tay anh cầm lưỡi kiếm sáng quắc, rồi biến mất.
Thế rồi, anh lấy lại bình tĩnh trở về với thực-tại khi đám tuần-tra đến gần về phía anh đang nằm. Anh bèn hỏi đồng bạn là Micae người bạn lực-lưỡng khỏe mạnh kia đang ở đâu? Thì các bạn đều trả lời:
“Bọn tôi đâu thấy có Micae nào lại gần anh đâu!
Vả lại, trong tiểu đội của mình, duy nhất chỏi có anh tên là Micae mà thôi.”
Rồi họ hỏi làm thế nào mà có thể bắn hạ được địch quân đông hơn anh thế? Anh bèn nói: bọn tôi có làm được tích sự gì đâu. Quả thật, cây súng máy của anh không hề nhả mất viên đạn nào hết. Nhưng bảy tay quân thù kia đều chết dưới lằn gươm sắc bén, chứ không phải sung đạn.
Tựu trung, câu truyện muốn minh-chứng rằng: Thiên-thần hộ-thủ quả có thật.”(X. Lm John Flader, Are guardian angels real? The Catholic Weekly 04/01/2015, tr. 22)
Có những truyện kể trong đời, tưởng chừng nghe rất quen, có khi quen đếnđộ “nằm lòng” lại vẫn là những câu truyện được kể như sau:
“Sau tuổi 50, tôi hiểu ra rằng, cuộc đời muốn hạnh phúc chính là làm được 6 chữ này
Thế là sau tuổi 50, tôi đã hiểu được rằng, thế giới thật rộng lớn, mà bản thân mình lại rất bé nhỏ, có những sự tình không cần phải xem nó nặng đến như vậy. Bản thân chúng ta vốn đã rất khổ, rất mệt, không cần cứ mãi chỉ trích lẫn nhau…
Con người ta, cả một đời đều đang bận rộn, mệt mỏi, bôn ba. Dù cho vất vả bao nhiêu, sau cùng vẫn có rất nhiều việc không thể hoàn thành được. Con người ta, cả một đời đều đang tằn tiện, tích cóp, dành dụm; sau cùng dù cho dè sẻn bao nhiêu, tiền bạc vẫn không bao giờ thấy đủ. Con người ta, cả một đời đều đang chịu đựng, nhường nhịn, sợ hãi; nhưng dù cho cẩn thận thế nào, ta vẫn đắc tội với không ít người.
Một đời chúng ta đều đang đọc, đang viết, đang cảm ngộ; nhưng dù có thông minh bao nhiêu, vẫn phải đối diện với không ít lần thua thiệt. Con người, cả một đời đều đang tỉnh táo, dù cho bình tĩnh bao nhiêu, cơ trí bao nhiêu; sau cùng vẫn không tránh khỏi những điều tiếc nuối.
Thế là sau tuổi 50, tôi đã hiểu được rằng, thế giới thật rộng lớn, mà bản thân mình lại rất bé nhỏ, có những sự tình không cần phải xem nó nặng đến như vậy. Bản thân chúng ta vốn đã rất khổ, rất mệt, không cần cứ mãi chỉ trích bản thân. Đời người vốn không phải mọi chuyện đều luôn như ý, cớ chi phải cưỡng ép bản thân. Đã cố gắng hết mình rồi, dù cho kết quả thế nào cũng đều được cả. Chuyện nơi thế gian, không ai nắm chắc được vĩnh hằng.
Đời người vốn không phải mọi chuyện đều luôn như ý, cớ chi phải cưỡng ép bản thân.
Thế là sau tuổi 50, tôi hiểu được rằng: Đời người thật quá ngắn ngủi, không cần thiết phải tính toán quá chi li. Những việc không hiểu được, thế thì không cần phải hiểu; có những người không phỏng đoán được, thì không cần phải phỏng đoán; có những lý lẽ nghĩ không thông, thì không cần phải nghĩ ngợi thêm nữa. Những việc không vui trước đây, hãy đem nó cất giữ ở một góc xó không có ai.
Vậy nên, tự nhắc nhở bản thân mình: Tôi có thể không được hoàn mỹ, nhưng nhất định phải chân thực, tôi có thể không giàu có, nhưng nhất định phải vui vẻ!
Thế là sau tuổi 50, tôi hiểu được rằng: cuộc sống, sẽ không vì những lời oán trách của bạn mà thay đổi; đời người, sẽ không bởi bạn phiền muộn mà đổi khác. Dù bạn oán trách hay không, cuộc sống vẫn sẽ y như vậy; dù bạn có buồn hay không, đời người cũng sẽ y như thế. Oán trách nhiều, buồn phiền vẫn là bản thân; thương cảm nhiều, khổ não vẫn là chính mình.
Bạn khóc, cuộc đời sẽ không bởi vậy mà chảy nước mắt vì bạn; bạn khổ, cuộc đời sẽ không bởi vậy mà thêm phiền não.
Là con người, đâu có chuyện vạn sự đều luôn như ý, mọi việc đều luôn thuận tâm.
Trong công việc, đâu có chuyện vạn sự đều viên mãn, mọi việc đều không chút tiếc nuối.
Nếu đã như vậy, sao ta lại không mỉm cười? Nếu đã như vậy, hà tất phải phiền muộn lo âu?
Người sống ở đời, vui vẻ là một đời, sầu khổ cũng là một đời, vậy sao ta không vui sống cho đến cuối cuộc đời này?
Thế là sau tuổi 50, tôi đã hiểu được rằng: Đừng làm khó bản thân, một người, long đong khổ sở sống ở thế gian này, đừng bởi những người mình không thích mà đánh mất niềm vui, đừng bởi những người chỉ vụt thoáng qua trong sinh mệnh đó mà lưu luyến không thôi, cũng không cần phiền não với từng áng mây thoảng qua.
Hãy sống vì bản thân, dù cuộc sống cho ta điều gì, đều thản nhiên vui vẻ đón nhận, đây mới là thái độ sống tốt nhất!
Đừng làm khó bản thân, cũng đừng bắt chước người khác, hãy là chính bản thân mình, đi tốt con đường mà mình đã chọn, làm tốt những việc trong phận của mình, sống cuộc sống mà mình mong muốn.
Người sống ở đời, vui vẻ là một đời, sầu khổ cũng là một đời, vậy sao ta không vui sống cho đến cuối cuộc đời này?
Thế là sau tuổi 50, tôi hiểu được rằng: Với những gì bản thân không với tới được, không cần phải mong muốn thái quá, hãy để mọi chuyện thuận theo tự nhiên. Lòng mệt mỏi rồi, hãy nghe vài bản nhạc hay; trong lòng có chuyện sầu não, hãy thổ lộ với người bạn yêu thương. Mệt mỏi rồi, hãy pha cho mình một ấm trà, tìm một nơi yên tĩnh, nhắm mắt nghỉ ngơi.
Những lúc buồn phiền, tìm kiếm niềm vui, đừng đánh mất hạnh phúc. Những lúc bận rộn, hãy tranh thủ thời gian nghỉ ngơi, đừng đánh mất sức khỏe. Những lúc mệt mỏi, hãy ngừng tay lại, chớ để đánh mất niềm vui.
Thế là sau tuổi 50, tôi đã hiểu được: Đừng làm khổ bản thân, đời người chỉ mấy chục năm ngắn ngủi, bôn ba cũng được, lăn lộn cũng được, đều chỉ là nháy mắt. Không chỉ trích, không oán trách, cho bản thân một phần lạc quan, một phần bình hòa. Không cưỡng cầu, không mong mỏi thái quá, cho bản thân một phần tâm trạng thản nhiên, một phần tâm thái điềm tĩnh. Không so đo, không tính toán, giữ lại một phần tình cảm chân thành nhất trong tâm.
Không hâm mộ vầng hào quang của người khác, không chê trách thói đời nóng lạnh, cất những bước chân tự tin, kiên định với sự lựa chọn của riêng mình. Lấy tâm thái lạc quan mà sống tuổi già tốt đẹp nhất của mình!
Cuối cùng, sau tuổi 50, chúng ta hãy ghi nhớ rằng cách sống tốt nhất chính là 6 chữ: Nghĩ thông, nhìn thoáng và buông bỏ!
Truyện kể về đời người sau tuổi 50, vẫn là những chuyện nghe khá quen, thế nhưng người nghe ít khi chịu cho đó là sự thật. Bởi thế nên, có nhiều chuyện trong đời, cứ tưởng là sự thật được mọi người chấp-nhận, nhưng sự thật lại rất khác.
Thế đó, là đôi giòng chảy kể lể ở “Chuyện Phiếm Đạo Đời” rất quen quen, nay đưa ra để bà con ta, lấy làm đầu để để suy-tư. Suy tư đâu đấy rồi, nay xin mời bà con mình lại hát thêm vài ba đoạn ở trên để kết-thúc rồi còn đi vào thực-tế cuộc mà sống thự và sống với bà con, anh em như sau:
“Quen nhau từ năm tháng rồi
Ngàn phương xa vời
Anh đến nơi này
để rồi quen nhau mãi mãi…”
Và, thêm câu điệp khúc cứ hát mãi rằng:
“Quen nhau qua đáy mắt
Duyên tình người em gái
Ngày nào vừa quen nhau
Nay đã mến thương nhau
Giờ này người em tôi
Hoa thắm lên môi hồng
Bên câu chuyện nồng ước mộng chung.”
(Lê Dinh – bđd)
Thế đó, là vài ba đề-nghị nhỏ làm kết-luận cho chuyện phiếm đạo đời cộng với lời đấng thánh hiền, từng bảo ban, nhắn nhủ rằng:
“Vì khi hiệu lệnh ban ra,
khi tiếng tổng lãnh thiên thần
và tiếng kèn của Thiên Chúa vang lên,
thì chính Chúa sẽ từ trời ngự xuống,
và những người đã chết trong Đức Kitô
sẽ sống lại trước tiên;
rồi đến chúng ta, là những người đang sống,
những người còn lại,
chúng ta sẽ được đem đi trên đám mây cùng với họ,
để nghênh đón Chúa trên không trung.
Như thế, chúng ta sẽ được ở cùng Chúa mãi mãi.”
(1Th 4: 16-17)
Nói cho cùng, đã có Tổng Lãnh Thiên Thần hộ-thủ rồi, thì ai trong chúng ta còn lý-do nào nữa, mà lo-ngại? Thế đó, vẫn là lời nhắn gửi đến bạn bè, người thân, hôm nay và mai ngày ở huyện nhà.
Trần Ngọc Mười Hai
Và những câu chuyện phiếm
Nghe quen quen
Nên cũng thấy khó
Mà nghĩ tiếp
Cho mình và cho người
ở trong đời.
From Vuisongtrendoi gởi




Đây là quả địa cầu bản đồ được Trung Quốc cộng sản bán ở Ukraine, và thiếu tỉnh Quảng Ninh của Việt Nam vì nó mang màu của Trung Quốc, tức là lãnh thổ của nước này.
Chưa cần đến Luật Đặc khu thì chúng đã có dã tâm chiếm lãnh thổ nước ta từ ngoài biển đảo cho tới biên giới từ hàng ngàn năm nay rồi.
Đưa cho những đoàn viên thanh niên Khánh Hoà xem và hỏi chúng về sự phát triển mà chúng cổ vũ vừa mới đây là như thế nào?
Giao đất nước vào tay bọn trẻ này thì nguy cơ mất nước hoặc làm nô lệ là điều khó thể nào tránh khỏi và cũng sẽ hết sức nhanh chóng có thể.