“Ta muốn níu hồn ai đương hiển hiện,”

“Ta muốn níu hồn ai đương hiển hiện,”

Trong lòng và đang tắm máu sông ta!”

(dẫn từ thơ Hàn Mặc Tử)

Lc 9: 11-17

Hiển hiện ở trong lòng, lại cứ níu kéo hồn ai cả một đời. Hiển hiện ở Mình Thánh, vẫn là tình Chúa được thánh Luca diễn tả ở trình thuật, hôm nay.

Trình thuật hôm nay, thánh Luca mô tả lễ hội mừng kính Mình Máu Chúa, để mọi người suy tư việc Chúa hiển hiện nơi Thánh Thể. Thật ra, lễ Mình Máu Chúa được cử hành là để nhắc nhở con dân trong Đạo hãy nhìn vào sự việc xảy ra trong quá khứ ngõ hầu còn cảm kích, biết ơn.

Biết ơn, không là hành-xử đơn thuần chỉ nói mỗi lời “cảm ơn”, rồi quên sót. Biết ơn, là biết bỏ giờ ra mà cảm kích những gì mình nhận được là ân huệ Chúa ban. Biết ơn, là cảm nghiệm đầy uy lực đối với mỗi người và mọi người. Cảm nghiệm, đối nghịch với những bất ưng trường kỳ mà nhiều người gặp phải ở đâu đó. Biết ơn, là biết rõ tâm tình mình cảm kích vẫn khác với cách-thế ta biểu lộ, vào mọi ngày. Biểu lộ, vào tiệc thánh cuối năm phụng vụ qua đó Chúa sống lại là vì ta và cho ta nên hãy cảm, biết ơn

Cảm kích biết ơn mầu nhiệm Chúa chết đi và sống lại vì con người, việc này không chỉ mỗi ta là biết làm và cần làm. Chính Chúa cũng làm thế với Cha Ngài, vào mọi lúc. Như Kinh sách có nói:“Rồi Người cầm lấy chén, dâng lời tạ ơn, trao cho môn đệ.” (Mt 26: 27), “Và Người cầm chén rượu, dâng lời tạ ơn, rồi trao cho các ông và tất cả đều uống chén này.” (Mc 14: 23) Xem như thế, Chúa vẫn cảm kích/biết ơn Cha vì Cha kêu mời Ngài hy sinh mạng sống làm của ăn/thức uống, cho muôn người. Tóm lại, Chúa cảm kích/biết ơn Cha Ngài trong mọi việc, là vì ta.

Cảm kích/biết ơn, là động thái mà người Do thái phải hoàn tất trong mọi việc. Thánh vịnh 107 diễn tả những người trở về từ nơi lưu đày cũng hát vang câu: “Allêluia, họ cảm tạ Yavê, vì Người tốt lành, vì Người miên man vạn đại.”(Tv 107: 1) Cả ngôn sứ Giêrêmia cũng đã nói: “Hãy cảm tạ Giavê các cơ binh vì Người tốt lành, vì ơn Người miên man vạn đại” (Gr 33: 11)

Đọc kỹ bài thương khó về nỗi thống khổ của Chúa, ta hiểu được toàn bộ nỗi nhục hình và cái chết của Chúa là động thái cảm tạ Cha là Đấng làm nên mọi sự được tốt đẹp. Và, việc Chúa trỗi dậy từ cõi chết, cũng là tiếp tục động thái cảm kích/biết ơn Cha đã tỏ bày thánh ý Ngài, qua sống lại. Thế nên, mừng Lễ Mình Máu Chúa, là để ta hoà nhập với Chúa trong cảm kích/biết ơn Cha mà Ngài từng thực hiện suốt một đời. Tiếp như thế, khiến ta trở thành con người đổi mới, rất khác hẳn. Mọi việc trong đời, ta nhờ đó mà cảm kích Chúa đã biến đổi bánh và rượu thành Mình Máu Ngài, ở Tiệc Thánh. Nên, Lễ Mình Máu Chúa là lễ hội đặc trưng, độc đáo để ta có cơ hội mà cảm kích, biết ơn hoài.

Cảm kích/biết ơn cách đặc trưng/đặc thù ở Tiệc Thánh, ta cùng trở thành Thân Mình Chúa, hệt như ta đang thủ vai trò chủ yếu trong vở kịch những 4 màn:

Màn 1, lúc khởi đầu, khi Thần Khí Chúa là là trên mặt nước và thoạt đó có tiếng nói của Giavê Thiên Chúa vẫn cứ bảo: “Nước phía dưới trời phải tụ lại một nơi, để chỗ cạn lộ ra. Thiên Chúa gọi chỗ cạn là “đất”. (STK 1: 11)  Thần Khí luôn phong phú, hiệu nghiệm là hành động phối hợp giữa Lời và Thần Khí làm nên sự sống ở khắp nơi. Và đó là Lời theo cung cách vũ trụ dâng lời cảm tạ Tạo Hoá.

Màn 2, lúc thần sứ Chúa đến Truyền Tin cho Đức Maria, lại cũng là Thần Khí khi trước khoả lấp mặt nước đã đưa Mẹ đi vào khung trời thụ thai nẩy nở và Lời đã nhập thể làm người. Nơi cung lòng Mẹ, Thần Khí làm cho đất trời nổi lên một sự kiện, là: nhân loại là của Đức Giêsu Kitô. Bằng cách này, Đức Giêsu lại đã dâng lời cảm tạ Cha là Đấng làm nên tất cả, hết mọi sự.

Màn 3, là lễ hội hôm nay có động thái cảm kích/biết ơn cứ mãi tiếp tục. Vị chủ tế đặt tay lên bánh và rượu, tức thì dấu-hiệu Thần Khí bay là là trên trần thế và cả trên Mẹ để rồi tặng ban sự sống cho Chúa. Và khi ấy, vị chủ tế lập lại lời Chúa nói, khi trước: “Này Mình Ta, này Máu Ta!” Cùng lúc ấy, sự sống của Chúa đã trổi vụt lên phía trước; và bằng vào hình thức bánh/rượu, Đức Chúa Phục Sinh đã ở với con dân Ngài. Ngài ở giữa họ, như một hiện diện đích thực chứ không theo cung cách tượng trưng.

Chúa hiện diện nơi Bánh Thánh và Rượu Thánh, không là sự hiện-diện của ký ức ở trong đầu ai đó, mà là hiện diện đích thực của Chúa nơi Tiệc Thánh, dù ta có nghĩ hay không về Ngài. Ngài không hiện hiện chỉ bằng vào hành động như điện thư do ai đó gửi cho chính mình; mà là một hiện diện thực tế có toàn-bộ thực thể Ngài. Lúc chủ tế đọc lời truyền phép biến bánh rượu thành Mình Máu Chúa, ngay khi ấy đã có đổi thay. Thánh Tôma gọi sự đổi thay này, là phép là tuyệt-kỹ Chúa từng làm. Kinh nghiệm về đổi thay nơi ta, không có gì tương đương với thực thể là thế hết. Nhờ uy lực của Thần Khí và hiệu năng của Lời, thực thể bánh/rượu đã biến thành thực thể sâu thẳm là Đức Kitô. Nếu ai đó lại cứ hỏi: “Làm sao ra được thế?” thì câu trả lời rút từ câu của thần sứ nói với Đức Mẹ: “Với Chúa, không có gì Ngài là không thể!”

Thế nên, Lời Chúa là Lời sáng tạo, hiệu nghiệm. Lời Ngài mang tính-chất sản-sinh. Sinh sản mọi sự. Sản sinh ra Chúa là Đức Kitô. Lời Ngài, là Lời đỡ nâng/vực dậy khiến Ngài trỗi dậy từ cõi chết. Lời Ngài, đã khiến cho điều Ngài nói ra trở thành thực tại rất thật, ngay bây giờ. Bởi thế nên, khi Chúa-là-Lời-mặc-lấy-xác-phàm từng tuyên bố: “Này là Mình Ta” thì đó là lúc Ngài đích thực hiện diện nơi Thánh Thể, vào Tiệc Thánh.

Màn 4, là lúc hiệp thông/rước Chúa sau truyền phép. Khi chủ tế cầu Chúa sai ban Thần khí Ngài đến ngự giữa chúng ta là người tham dự Tiệc Thánh, chính đó là lúc hoa trái thánh thiêng nơi Ngài ở lại mãi, nơi ta. Thần Khí Chúa biến đổi bánh/rượu thành Thân Mình Đức Kitô đã đổi thay tâm can chai đá của ta thành con tim đích thực rất xác thịt. Và khi ấy, ta san sẻ cũng một bánh thánh để nên một trong yêu thương. Vâng. Chính lúc ta nhận lãnh Mình Chúa ở Tiệc Thánh, là lúc động thái hỗn hợp giữa Lời và Thần Khí biến đổi con người của ta thành Thân Mình Chúa. Có như thế, ta mới trở thành trời mới, đất mới, là Mình Chúa.

Xem thế thì, hiệp thông rước Chúa cứ nối dài, là sự việc cho thấy cuộc sống của Đức Chúa Phục Sinh đã tặng ban cho ta và cắm rễ sâu trong tâm can của ta. Sự việc này cứ thế tiếp diễn cho đến ngày Chúa ở trong ta, với ta và mọi người. Bằng động thái ban tặng ân huệ rất thanh thoát, tức sự việc ‘cảm kích, biết ơn”, biến thành Mình Thánh Chúa, mọi người mới có thể chúc tụng vinh danh Cha, rất cả sáng. Khi ấy, Mình Máu Chúa đã thật sự trở nên vĩnh cửu, suốt mọi thời.

Khi cử hành Tiệc Thánh, là ta thực hiện động thái cảm kích/biết ơn ở Nước Trời. Tiệc Thánh ta cử hành là động thái, là lời khởi đầu cho mọi động tác biến đổi thành Thân Mình Chúa. Và, phụng vụ ta cử hành là động thái ta nếm trước Thánh Thể. Và khi ta cử hành Tiệc Thánh như thế, là ta san sẻ sự hiệp thông rất thánh. Là, sờ chạm vào quà tặng yêu thương. Là, làm hết mình để cảm kích/biết ơn như thế mãi đến muôn đời.

Xem như thế, thì Tiệc Thánh không là sự việc của lý trí, rất thông minh. Bởi, với những người chỉ biết đến thông minh trí tuệ, thì đó là chuyện viển vông, vô nghĩa. Tiệc Thánh ta cử hành cũng không là chuyện thơ văn, nghệ thuật. Bởi, người làm nghệ thuật thường có giây phút thấy mình bối rối, khó chịu. Thế nên, nghệ nhân ai cũng chỉ mỗi thế, không mang đủ tính chất rất đẹp của chân-thiện-mỹ, dù là mỹ thuật hay mỹ-nghệ, cũng đều thế.

Tiệc Thánh không hẳn chỉ là chuyện đạo. Với người đạo hạnh, chỉ làm có mỗi thế cũng chưa đủ gọi là đạo hạnh, sốt mến. Vì thế nên, điều đó cho thấy: nếu chỉ trở thành người tu trì như thế thôi cũng chưa hẳn là tu trì, đạo đức. Tiệc Thánh không là ý niệm sáng rõ hoặc lối thờ-cúng ta ấp ủ. Việc này vẫn hơn cả chuyện thờ kính cũng rất nhiều, bởi đó chính là Tình yêu được ban phát, rất ở đây. Bây  giờ.

Tình yêu ta nhận lãnh, sẻ san và sống thực, chính là lòng cảm kích, rất biết ơn. Phải chăng đó là hành-xử đầy xa hoa, đắt giá? Có thể là như thế. Bởi lẽ, sống tu đức có thể là hành-xử đầy tính xa xỉ phẩm, nhưng đó là quà tặng Chúa ban cho ta theo cách cũng rộng lượng, đầy xa xỉ. Tuy là thế, quà tặng Ngài phú ban, không một ai thu lại được. Và ta đã quen thế rồi, nên vẫn có quyền được như thế. Và ta không thể sống mà lại không được nhận quà tặng ấy, kể cũng lạ.

Trong cảm nghiệm về những hành-xử đầy cảm kích/biết ơn, ta lại sẽ ngâm nga lời thơ hay rằng:

“Ta muốn níu hồn ai đương hiển hiện,

Trong lòng và đang tắm máu sông ta.”

(Hàn Mặc Tử – Biển Hồn Ta)

Tắm máu sông ta”, là lối nói của nhà thơ vẫn đắm mình trong Mình Máu Chúa, rất yêu dấu. Và, khi đã tắm bằng ân huệ Mình Máu Thánh rồi, ta cũng cảm kích/biết ơn Đấng tặng ban cho ta Thần Mình Ngài, rất như thế.

Lm Nguyễn Đức Vinh Sanh

Mai Tá lược dịch

Chuyện Phiếm đọc sau Lễ Mình Máu Chúa Năm C 23-6-2013

“Buồn ơi! Thế nhân là thế,”.

“Sao người yêu vẫn cứ say mê?

Buồn ơi! yêu đương là thế,

Sao tình ta mãi mãi đam mê.”
(Nguyễn Ánh 9 – Buồn Ơi Chào Mi!)

(Ga 20: 19-22)

Chữ nghĩa người đời, làm sao diễn tả được hơn thế, về chuyện buồn? Văn thơ ở đời, đâu nào chuyển tải nổi tâm trạng của bạn hiền mình buồn tình, những hát thêm:

“Buồn ơi! Ta xin chào mi.

Khi người yêu, đã bỏ ta đi.

Buồn ơi! Ta xin chào mi.

Khi tình yêu, chắp cánh bay đi.”

(Nguyễn Ánh 9 – bđd)

Vâng. Thế đó, là tâm tình được người nghệ sĩ trẻ mang tên là Bằng Kiều, diễn tả ý/lời của ai đó, trong buổi nhạc hội mang chủ đề: tiếng hát Bằng Kiều ở Revesby, Sydney tối hôm 10/5/2013.

Nghe Bằng Kiều hát bài “Buồn ơi, chào mi”, bần đạo đây chẳng thấy gì buồn tiếc nỗi niềm của “tình yêu đã chắp cánh bay đi”, nhưng chỉ thấy nghệ sĩ rất không buồn mà chỉ gào thét, mấy câu:

“Người yêu… cho ta niềm đau,

Buồn hỡi!…cho ta quên mau.

Buồn ơi! Hãy đến với ta.

Để quên, chuyện tình xót xa.”

(Nguyễn Ánh 9 – bđd)

 

Thấy người nghệ sĩ cứ luôn ới gọi: “Buồn ơi! hãy đến với ta, để quên chuyện tình xót xa”, bần đạo cũng chẳng thấy gì buồn bằng nghe “Ông” cháu nội nứt mắt mới chỉ 5 tuổi đầu đã biết lân la gạn hỏi đôi câu tiếng Anh rất ý nghĩa, như sau:

“-Nội à!

-Gì thế cháu?

-Mẹ cháu bảo: Nội buồn bà cố vừa mới chết, đúng không nội?

-Đúng. Già rồi thì phải chết. Nhưng chết là về với Chúa/với Phật, đó cháu à!

-Thế, nội già chưa? Nội cũng sắp chết rồi phải không?

-Đúng đấy! Nội nay cũng già nhưng chưa được chết đâu, cháu ạ.”

Thế đó, thực tế của cuộc đời. Đời người và đời mình, vẫn có những chuyện buồn rất khá sợ. Sợ buồn. Sợ chết. Sợ mất hết niềm vui sống ở đời, rất con người.

Thế nhưng, về tình buồn, mỗi người cảm nghiệm một cách. Có cách nhậm lẹ khi bị người tình hay người đời bỏ bê, ê chề, giống nghệ sĩ. Có trường hợp, con nguời mình lâu nay chìm đắm trong nỗi buồn mất mẹ, mất người thân, lại bị bồi thêm bằng những thông tin cũng khá buồn ở đâu đó, vãn cứ bảo:

 

“Tuần vừa qua, có tin chị Brenda Heist ở Mỹ từng biến mất, sau khi đưa con đến trường rồi thả xuống trước cổng trường tiểu học ở Pensylvania. Từ đó đến nay, sau 11 năm trời, mới xuất hiện. Mọi người đều tưởng chị bị bắt cóc làm con tin hay sao đó, như kỳ thật chị đã tự ý bỏ trốn biệt, sau khi bị cơ quan an sinh từ chối tài trợ tình trạng của người mẹ đơn chiếc.

Theo lời chị kể với ngành cảnh sát, thì: liền sau đó, buồn quá, chị mới ra công viên/bìa rừng ngồi khóc cho đỡ buồn, bất chợt gặp nhóm người leo núi rủ chị gia nhập cùng leo núi cho bớt buồn. Và trong một thoáng rất nhanh, chị đã theo họ, cố để bớt căng thẳng thần kinh, vì nhiều thứ xảy đến quá nhanh, cũng rất khó.” (x.Tamara Rajakariar, Brenda Heist case reveals increase in mothers who leave their children, MercatorNet 11/5/2013)

Buồn là thế. Nhưng, người người sống ở đời đều có thể giống như ai đó, vẫn cứ bảo: “Buồn ơi! Chào mi.” Bởi, dù buồn đến thế nào đi nữa, thì người buồn cũng đâu nào muốn chào hỏi bất cứ ai. Ngược lại, chỉ thấy cộng thêm vào với nỗi buồn chồng chất khi nhận tiếp một tin tức:

 

“Dù thấy buồn, và có hơi sững sờ khi nghe tin đó, nhưng tôi định bụng sẽ bỏ qua một bên những tin tức đại loại như thế, và cứ coi đó chỉ là chuyện hãn hữu ít khi thấy. Thế nhưng, đọc bài viết của Peggy Drexler là Phó Giáo sư Tâm lý thuộc đại học Cornell, Hoa Kỳ đồng thời là tác giả của loạt bài mang tên “Our Fathers, Ourselves: Daughters, Fathers and the changing American Family, tạm dịch là “Người Cha của ta, và ta nữa, những người con gái và người Cha và Gia đình ở Mỹ đang đổi thay”, thì đây lại là khuynh hướng rất đáng báo động. Phó Giáo sư này, từng công nhận rằng: con số các bà mẹ đơn chiếc bỏ rơi con cái để đi hoang như thế, trước đây, cũng không nhiều. Nhưng, nay thì con số các bà mẹ như thế lại đã thoát ly gia đình đầy ràng buộc, và con số này đang gia tăng ở mức đáng kể. Nội ở Hoa Kỳ mà thôi, con số những người cha đơn côi lại đã tăng lên gấp ba lần kể từ năm 1982 cho đến 2011. Dù muốn dù không, nay cũng thấy nhiều nhóm hội/đoàn thể đã hỗ trợ các bà mẹ chọn bỏ rơi gia đình lại, bất kể con của mình còn nhỏ tuổi không thể sống không có mẹ.” (Xem Tamara Rajakariar, bđd)

Nếu bảo rằng: khi buồn bực, người nào cũng có thể và rất dễ làm bất cứ sự gì dù không thiết thực hoặc không phải phép. Trái lại, có nhiều vị tuy không buồn là mấy, nhưng vẫn có thể mang nặng trong đầu những suy tư buồn chán đến độ cứ ngâm nga những lời ca vô nghĩa hoặc thiếu thực tế, như:

Nếu trên đường tình ta lẻ loi một mình

Thì trên con đường đời ta có mi,

Buồn ơi!”

(Nguyễn Ánh 9 – bđd)

Buồn là gì, mà sao anh/sao chị cứ ới gọi mãi lại còn ủ rũ người ra như thế? Buồn tình hay buồn đời, buồn chán người đời đâu có là thực thể hay thực tế cuộc đời đâu mà nhiều vị lại cứ tìm đến nói rồi níu và kéo! Níu và kéo, đến độ đôi khi còn dài dòng tâm sự như lời kể lể của một vị khác cũng từng nói:

 

“Trong mấy ngày qua, các tin tức giật gân về chuyện 3 nữ phụ nọ bị bắt cóc biệt tích đến mươi năm vào những năm 202, hay 2004 gì đó, ở Cleveland bang Ohio Hoa Kỳ, đã khiến một số người vội mừng vì đã kịp thời phát kẻ chủ mưu. Riêng tôi, tôi không thấy có gì để mừng về chuyện phát hiện kẻ chủ mưu đúng lúc đúng thời, mà chỉ thấy buồn và lo cho gia đình của nạn nhân phải sống thế nào khi vỡ chuyện.

Sở dĩ tôi buồn và lo, là vì: khi mất đi một lúc những 3 người thân thuộc, hẳn người trong gia đình, dù vững tâm đến mấy cũng không khỏi buồn rầu rồi tưởng tượng: làm sao chuyện ấy lại xảy đến với gia đình mình? Cảnh khó tưởng tượng hơn, khi cứ nghĩ về thân phận của người mất tích, chẳng biết bây giờ sống chết ra sao. Và từ đó, sẽ có cảm giác khá lạ kỳ khi cứ phải tiếp tục sống và sinh hoạt với bạn bè/người thân xa hoặc gần cả vào lúc sự việc vừa xảy đến.

Tôi càng không thể tưởng tượng nổi sự việc lại có thể buồn đến chết được khi thấy gia đình của nạn nhân vụ bắt cóc và cưỡng hiếp kể ở trên cứ phải tiếp tục sống trong chuỗi ngày dài những thê thảm. Trường hợp mẹ ruột của cô bé tên Berry đã phải chết ít năm sau đó vì truỵ tim mạch. Còn người cha của bé em tên là De Jesus lại đã phải cho rọi hình của con gái mình thật lớn để cứ chiều chiều nhìn vào đó mà gọi tên con, mau trở về. Cũng là chuyện buồn thế kỷ khi cuộc sống cứ thế tiếp diễn cách nhạt nhẽo bất kể ai đó có buồn bực hoặc chóng quên đi đến kết cục bằng việc phải trả một giá khá đắt.” (Xem Tamara Rajakariar, Cleveland Abduction Victims’ Lives Changed Forever, MercatorNet 08/5/2013)

Bàn về chuyện buồn, mỗi người bàn mỗi cách, mỗi kiểu. Có kiểu và cách của người nghệ sĩ vẫn cứ hét và cứ gào mãi những câu như:

“Buồn ơi! Thế nhân là thế…

Sao người yêu, vẫn mãi say mê?

Buồn ơi! Yêu đương là thế…

Sao tình ta, cứ mãi đam mê?”

(Nguyễn Ánh 9 – bđd)

“Thế nhân là thế”, tức như thể: “Vẫn mãi say mê”. Say mê đây, không hẳn chỉ mỗi chuyện “cứ mãi đam mê”, mà còn như người nghệ sĩ lại cứ hát thêm:

“Người yêu! Cho ta niềm đau…

Buồn hỡi! cho ta quên đau…

(Nguyễn Ánh 9 – bđd)

Bàn chuyện “buồn thế kỷ”, người sống ở đời lại có ý nghĩ rất khác biệt. Khác ở chỗ, theo nhà Phật thì “Tứ Diệu Đế” (Sinh, Lão, Bệnh, Tử) vẫn là thứ nhân sinh cũng khá buồn. Muốn thoát khỏi vòng nhân sinh “buồn” này, chỉ có cách là ta đi vào chốn “sắc sắc không không” rất diệt dục, và coi nhẹ cuộc sống như tơ hồng, rồi sẽ thấy. Thấy, mọi chuyện rồi cũng sẽ qua, tợ mây khói.

Thế còn người nhà Đạo mình thì sao?

Nhà Đạo mình, bàn chuyện vui nhiều hơn buồn. Bởi thế mới Kinh có Sách gọi là Tin Vui An Bình hoặc Tin (rất) Mừng. Vui là vui khi “có hai người, ý phục trắng ngời đã đứng bên họ, và nói:

“Các ông, người Galilê,

tại sao các ông cứ đứng đó nhìn trời?

Đức Giêsu đây,

Đấng vừa siêu thăng xa cách các ông,

Ngài sẽ đến cùng một thể như các ông thấy

Ngài đi về Trời.”

(Cv 1: 11-12)

 

Và, đấng bậc hiền từ còn nói rõ hơn khi ghi chép lời của Thầy mình:

“Thầy để lại bình an cho anh em,

Thầy ban cho anh em bình an của Thầy.

Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian.

Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi.28

Anh em đã nghe Thầy bảo:

“Thầy ra đi và đến cùng anh em”.

Nếu anh em yêu mến Thầy,

thì hẳn anh em đã vui mừng vì Thầy đi về cùng Chúa Cha,

bởi vì Chúa Cha cao trọng hơn Thầy.29

Bây giờ, Thầy nói với anh em trước khi sự việc xảy ra,

để khi xảy ra, anh em tin.”

(Ga 14: 27-29)

Thật ra thì, có buồn hay không buồn do có nhiều thứ vẫn đến với ta, vẫn là đời người. Đời người còn rất nhiều thứ để ta sống vui, chứ không buồn. Buồn sao được, khi bậc thánh hiền ở Tin Mừng, vẫn cứ nhắc nhở mọi người sống trong đời “hãy quẳng gánh lo (buồn) đi” mà vui sống, dù cuộc đời mình có đi vào ngay giữa đường hầm, đầy tăm tối.

Hãy cứ vui, bởi lẽ Chúa đã đến và Ngài đang ở gần cận những người khổ đau, sầu buồn, lẻ loi một mình. Chúa đến, như Ngài đã hứa, có Thần Khí Đấng Ủi An Chữa Lành hết mọi sự. Sự thật thì, Chúa đã đến không chỉ có mỗi ngày Hiện Xuống rất “Ngũ Tuần”, nhưng còn là mỗi ngày và mọi ngày. Ngày Chúa đến, Ngài vẫn muốn mỗi người và mọi người hãy tự mình vận dụng mọi khả năng từ trí tuệ đến quan năng xác thể cùng quyết tâm thực hiện mọi điều tốt đẹp khả dĩ chữa lành mọi trục trặc ngoài ý muốn.

Chúa Hiện Đến, bằng cách này hay cách khác, là để thêm ân huệ, quà tặng mà ta vẫn muốn và vẫn xin. Rất nhiều lúc, con người như ta chẳng cần xin xỏ hoặc cầu khấn, nhưng Ngài vẫn biết rõ nguyện ước của mỗi người và mọi người nên Ngài mới sai Thần Khí hiện đến vào và từ lễ Ngũ Tuần để con dân Ngài nhớ mà thực hiện những điều Ngài căn dặn. Có như thế, người người mới mong quẳng gánh lo buồn rười rượi, rất khó bỏ.

Và Chúa đến, để chữa lành mọi sầu buồn của con người như quà tặng “nhưng-không”. Quà tặng ấy là thời gian. Là, sự quên lãng, hoặc cả đến nỗi niềm hưng-phấn sống với những sự rất mới mẻ. Quà tặng Chúa gửi đến, như thể ân huệ chợt đến với những người có nhu cầu cần giải quyết, hệt như truyện kể để minh-hoạ ở bên dưới:

“Truyện rằng:

Một cụ già đầu râu tóc bạc, đi không còn vững, nhưng tinh thần vui tươi, vui vẻ chấp nhận cuộc sống với những thiếu thốn tiền bạc và rắc rối trong gia đình. Người ta hỏi cụ:

– Làm sao cụ  có thể an vui như thế?

– Thưa, tôi suy nghĩ và nhìn đời bằng ba cái nhìn.

– Như thế nghĩa là gì?

– Thưa, tôi nhìn lên, nhìn xuống và nhìn ngang.

– Xin cụ giải nghĩa thêm.

– Vâng, trước hết, tôi nhìn lên trời và nhớ rằng công việc chính yếu của tôi là đạt tới Nước Trời. Trên đó cha tôi…đang chờ tôi. Tôi luôn sống thuận theo Ý Trời, Ý Cha tôi.

Rồi tôi nhìn xuống đất, nghĩ rằng tôi sẽ nằm trong đó sau khi chết, một chỗ thật bé nhỏ. Thánh vịnh nói: “3 tấc đất mới thật là nhà”

Sau cùng, tôi nhìn ngang, nhìn đến biết bao nhiêu người đàn ông, đàn bà, trẻ em bên cạnh tôi, trên khắp trái đất này có khi còn nghèo hơn tôi, cực khổ hơn tôi, bị oan ức hơn tôi, thiệt thòi hơn tôi: có người bị cùi, có người bị điên, có người bị bệnh Aids…Tôi còn hơn nhiều người. Tạ ơn Chúa và Mẹ  Maria, tôi còn sống đây, chưa phải vào Hỏa ngục.

Ba cái nhìn đó làm tôi sống hạnh phúc, vì tôi biết có Chúa yêu tôi, tôi không than vãn trách móc kêu ca …như hồi tôi chưa vào đạo Chúa….

 

Mọi sự đời này sẽ qua đi, nhưng ai thi hành Ý Chúa sẽ tồn tại muôn đời”

Nói cho cùng, thì hỡi bạn và tôi, ta hãy nhớ cho rằng: dù ta có nhân-cách-hoá “nỗi buồn” cách mấy đi nữa, thì buồn vẫn hoàn buồn. Vẫn chẳng là nhân sinh hay nhân vị để ta cứ ới gọi hay bái chào, rồi kêu gào nhiều trách móc. Chi bằng, ta hãy cùng người nghệ sĩ khác, hát về cuộc đời người bằng những lời khá vui, sau đây:

“Ðừng lau nước mắt,

đừng che tiếng khóc.

Dù nghe đắng cay trong lòng.

Buồn ta cứ khóc,

cần chi phải giấu.

Đời đau có ai thương mình.

Đời tuy nhớp nhúa.

Vẫn gượng cười nhìn ganh đua.

Và chẳng trách hay chê cười.”

(Lê Hựu Hà – Cuộc Đời)

Hát thế rồi, hỡi bạn và hỡi tôi, ta dù có buồn cũng hãy tìm về Lời Chúa để được ủi an, như sau:

 

“Thật, Thầy bảo thật anh em, ai tin vào Thầy,

thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm.

Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa,

bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha.13

Và bất cứ điều gì anh em nhân danh Thầy mà xin,

thì Thầy sẽ làm, để Chúa Cha được tôn vinh nơi người Con.14

Nếu anh em nhân danh Thầy mà xin Thầy điều gì, thì chính Thầy sẽ làm điều đó.”

(Ga 14: 12-14)

Vậy thì, chỉ còn một điều rất đáng xin, là: Xin Chúa cho tôi và cho bạn, sẽ mãi mãi tin lời Thầy, tự khắc sẽ hết buồn. Bởi lẽ, Lời Ngài là Tin Vui An Bình, rất ủi an.

 

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn mang theo trong người

một quyết tâm tựa hồ thế, mỗi khi buồn.

Nhất thứ là khi cụ bà nhạc mẫu vừa qui tiên,

tròn trăm tuổi.

ME THẦU

ME THẦU

Trung tuần tháng Tư tôi qua Lào thăm Me Thầu. Me Thầu là dì ruột và cũng là vú đỡ đầu của tôi. Đây là một trong những tháng nóng nhất ở Lào nên ba ngày Tết người trẻ thường ra đường chơi tạt nước – là một nét đặc trưng của Tết Lào.  Me Thầu là nữ tu Dòng Chị Em Bác Ái.  Người dân gọi các nữ tu là Khún Me, hồi xưa họ cũng gọi ngài như vậy, nhưng bây giờ họ gọi là Me Thầu vì đã 86 tuổi rồi.  Me Thầu nghĩa là bà ngoại.  Tôi thích cách gọi này hơn vì nó gần gũi và thân thiện với văn hóa người dân xứ Lào này.

Tôi tháp tùng Me Thầu đi lên Luang Prabang (Nước Đức Phật) ở bắc Lào, Me Thầu là trưởng cộng đoàn đang trông coi nhà các em mồ côi và các em dân tộc nghèo ở Vientiane.  Nay lại đảm đương thêm một công tác mới lo cho các em dân tộc mồ côi và các em khuyết tật câm điếc ở Luang Prabang.  Từ Vientiane bay đến Luang Prabang chỉ mất 30 phút, còn đi xe khoảng 10 tiếng.

Tôi lên Luang Prabang ở nhà với ba soeur và khoảng 20 em dân tộc mồ côi hoặc nghèo được các soeur dạy dỗ và nuôi ăn học.  Còn trường nội trú nuôi khoảng 45 em khuyết tật câm điếc ở cách đó khoảng hai cây số, cứ chiều chiều tôi qua đó đá banh với mấy em.  Có hôm 4, 5 em gái cũng ra đá banh.  Các em rất thích được ở đây, vì ở thôn làng các em bị người dân coi rẻ rúng, như một án phạt của ông trời, nên sống tự ti mặc cảm.  Chỉ có cha mẹ của các em mới ráng hiểu xem con mình ra dấu như vậy có nghiã là gì, còn người ngoài thì chẳng ai buồn đoái hoài tới.  Sống ở đây các em được đối xử tốt lành, được ăn uống đàng hoàng, được học chữ, học nghề.

Hôm trước tôi sửa lại mấy cái laptop cũ do câu lạc bộ của Úc cho trường khuyết tật.  Có vài cái tôi sửa hoài mà không xong, nên Me Thầu chở ra trường huấn nghệ khác để nhờ sửa.  Người sửa máy cũng là một người khuyết tật hai chân và là thầy dạy vi tính ở đó.  Khi Me Thầu đến thầy vui lắm, hỏi ra mới biết Me Thầu cũng nuôi nấng và nâng đỡ cho thầy nhiều năm trước, khi thầy còn đang theo học ở trường huấn nghệ này.  Bây giờ học xong và được nhà trường mời ở lại để dạy cho các học sinh khác, còn những người bạn học của thầy thì đi làm ở các tiệm sửa máy trong thành phố.

Khu vực nhà các soeur và các em này chỉ có nước vào buổi tối.  Khoảng giữa khuya mới có nước cho đến mờ sáng, nên đêm đêm phải ráng thức dậy hứng nước vào thùng để có nước sử dụng trong ngày.  Phòng của tôi có phòng tắm riêng, có hai cái xô và một cái thau, nên nửa đêm tôi cũng thức dậy hứng nước đồng thời giặt áo quần, vì ban ngày không có nước để giặt.  Mùa này nóng quá nên dù chỉ phơi trong phòng tắm qua đêm mà áo quần cũng khô.  Có đêm tôi ngủ say cho đến gần sáng, tuy nước vẫn còn chảy nhưng không còn trong như những hôm trước vì hồ lấy nước đã cạn xuống.

Vùng này được coi như là “vùng trắng”, vì không có được mấy người Công Giáo.  Giáo hội ở đây rất khiêm tốn, chỉ có Đức Giám Quản Tông Tòa (Prefect) và ba Soeur hiện diện mà thôi.  Một hôm đi ngang qua một tòa nhà có cái nóc to cao rất giống nhà thờ, tôi hỏi có phải nhà thờ chính tòa không.  Các soeur phì cười, nói nhà thờ, nhà nguyện, còn chưa có thì lấy đâu ra mà có nhà thờ chính tòa.  Gần đây có một số anh chị em công nhân Công Giáo Việt Nam qua Lào làm việc nên cuối tuần Đức Giám Quản đến làm lễ cho khoảng 40 người.

Mấy năm trước tôi qua Lào Me Thầu tương đối còn khoẻ.  Nhưng bây giờ mỗi khi đi hơi lên dốc một chút hay đường đất gồ ghề thì phải chống gậy, lên xe xuống xe cần người đỡ phụ, tuy vậy đầu óc ngài vẫn còn minh mẫn.  Nhìn Me Thầu với chừng ấy tuổi mà Giáo Hội lại trao cho một sứ mạng quan trọng và nặng nề như thế.  Lên đường mở mang một vùng trắng mới thấy Giáo Hội Lào thiếu người biết chừng nào, mới thấy Thiên Chúa cần những tâm hồn đáp trả lời mời gọi lên đường biết bao.  Thập niên trước khi Đức Giám Quản còn là linh mục, ngài có lên vùng này mấy lần, và bị bắt nhốt vì ngài giảng đạo cho bà con trên vùng đất bắc Lào này.  Nay thì đỡ hơn, chính quyền đồng ý cho các soeur lên đây mở trường nội trú và huấn nghệ cho các em khuyết tật, nên bây giờ các soeur Dòng Chị Em Bác Ái hiện diện ở vùng trắng này danh chính ngôn thuận.

Đã nhiều năm nay, Me Thầu xin Nhà Dòng gởi người đến làm phụ tá cho Me Thầu để sau này có thể thay thế gánh vác sứ vụ ở Vientiane cũng như ở Luang Prabang.  Nhưng đến bây giờ Nhà Dòng vẫn chưa có người để gởi đến, Me Thầu thao thức lắm.  Tôi đến thăm Me Thầu mười ngày và thấy cánh đồng trắng bát ngát làm tôi cũng thao thức nhiều.  Khi tôi chơi banh chơi cầu với các em, các em nói chuyện bằng tay với nhau rất nhanh, còn tôi mù tịt cáng mai, muốn nói với các em một điều gì đó quả là khổ sở.  Có một lần đang chơi đá banh, tôi ráng hú gọi một em trở về vị trí hậu vệ, nhưng kêu cỡ nào cũng vậy thôi, vì em có nghe được đâu?  Nhìn các em mải mê chơi banh làm tôi chợt nghĩ lại chính mình.  Biết bao lần Chúa cũng hú gọi tôi mà tôi đâu có nhận ra vì đang mê mẩn chạy theo những quyến luyến của sự đời.

Nhìn Me Thầu với chừng nấy tuổi đời mà vẫn gắng sức mỗi ngày thưa “Xin Vâng” như Mẹ Maria để cho Chúa tiếp tục vẽ bức họa đời mình theo Thánh Ý của Ngài, ngắm nhìn cuộc đời Me Thầu tôi cứ suy nghĩ hoài.  Không biết khi nào tôi mới chịu cho Chúa cái tự do mà chính Chúa đã thương trao ban cho tôi, để Ngài được hoàn toàn tự do vẽ bức họa đời tôi theo Ý Ngài.

Lạy Chúa, nhìn cánh đồng trắng bát ngát và chắc Chúa cũng đang thao thức tìm những tâm hồn dấn thân làm sứ giả Tin Mừng, thay mặt Chúa ban phát tình yêu và ân sủng, đến dạy dỗ và nâng đỡ những kẻ mồ côi và khuyết tật bị xã hội khinh thường.  Xin cho mỗi người chúng con biết mặc lấy nỗi thao thức của Ngài, và xin nhắc nhớ mỗi người chúng con biết hồi tâm để bớt chạy theo những quyến luyến lệch lạc, và để nhận thức tiếng mời gọi của Đấng Ban Sự Sống.  Amen!

Giuse Ngô Văn Chữ, S.J.

May 1, 2013

From: langthangchieutim  &

Anh chị Thụ + Mai gởi

Đồng bào thiểu số miền núi Thanh Hóa, một bức tranh buồn

Đồng bào thiểu số miền núi Thanh Hóa, một bức tranh buồn
2013-05-22

Uyên Nguyên tường trình từ VN05222013-thieusothanhhoa-uyennguyen.mp3

RFA

000_Hkg7058441-305.jpg

Phụ nữ và trẻ em bộ tộc H’mông sống tại các tỉnh miền núi phía Bắc Hà Giang, ảnh minh họa.
AFP photo

Thanh Hóa là tỉnh có chiều dài dọc bờ biển thuộc vào diện nhất nhì Việt Nam, và đây cũng là tỉnh chiếm chiều dài dãy Trường Sơn thuộc vào diện nhất nhì so với cả nước, như vậy cũng có nghĩa là Thanh Hóa thuộc vào diện nhiều rừng vàng biển bạc nhất nhì trên cả nước. Nhưng, đó là trên lý thuyết, thực tế thì Thanh Hóa luôn là tỉnh có nhiều gia đình nghèo đói nhất, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số ở các huyện Mường Lát, Quan Hóa, Thường Xuân, Ngọc Lặc, Như Xuân, Lang Chánh… Có thể nói, cái đói ở đây vẫn còn ở ngưỡng xanh da mờ con mắt.
Ông Trần Nam, người xã Thanh Xuân, Quan Hóa kể với chúng tôi rằng kể từ ngày thủy điện Hồi Xuân khởi công xây dựng, người nông dân trong xã có một bước chuyển mới, họ đi từ đói kém sang bệ rạc. Ông giải thích thêm, sở dĩ có được kiểu chuyển mình không giống ai này là nhờ vào tiền đền bù chính sách lấy tiền nông dân bằng thủ thuật đề đóm rất ngọt của các tay tư bản đỏ và đầu gấu. Nghĩa là, kể từ ngày nhà nước giải tỏa đền bù, lấy đất của nhân dân làm lòng hồ thủy điện Hồi Xuân, thì bà con nông dân bắt đầu đổi đời, nhưng mà đổi theo chiều hướng xấu.
Nếu như trước đây, người nông dân quanh năm bữa đói bữa no bám lấy đám ruộng bậc thang, gồng lưng mà chịu nắng chịu mưa vào rừng hái củi, đào củ mài, đào cây nhân trần để bán thì từ lúc nhận tiền đền bù, một lượng tiền quá lớn đối với họ, có người cầm vài trăm triệu đồng trên tay mà rươm rướm nước mắt vì họ nghĩ rằng cuộc đời họ sẽ chẳng bao giờ có được số tiền như vậy. Và họ cũng không hề hay biết rằng kế sinh nhai của họ sẽ khép lại vĩnh viễn bởi đất đã bị lấy mất, không có nghề nghiệp, không có chữ nghĩa, không có cơ hội xin việc…
Cầm tiền chưa nóng tay thì mọi sự thay đổi. Ông Hà Trung Huấn, người Kinh, làm thầy giáo lâu năm ở đây chia sẻ thêm rằng do nắm được tâm lý bà con dân tộc thiểu số khốn khó, khi cầm tiền sẽ nghĩ cách để tiêu xài cho thỏa chí, những đầu nậu, những tay lừa bịp ở Hà Nội bắt đầu giở trò với bà con. Ban đầu, họ mang ti vi, tủ lạnh cũ, hàng phế thải dưới xuôi lên bán cho bà con. Có nhiều người mua chiếc tủ lạnh về rồi hình dung cách đặt nó giống như đặt chiếc quan tài, họ đặt chiếc tủ lạnh nằm ngửa, mỗi khi mở thì người ta lật nắp lên. Có không biết bao nhiêu tiền của bà con nghèo phải đổ vào mấy chiếc ti vi, tủ lạnh để rồi xài vài ngày, vài tuần đã hỏng.
Trò lừa đảo công khai của xã hội đen
Một phần bán đồ dỏm, một phần đưa rượu ngoại giả lên lừa bà con để bán, một phần, họ mượn những cuộc rượu để xúi bà con đánh số đề. Chẳng bao lâu sau ngày bà con dân tộc thiểu số, mà cụ thể là đồng bào Thái Trắng, nhận tiền đền bù đất, mọi ngôi làng chung quanh lòng hồ Thủy điện Hồi Xuân, từ huyện Quan Hóa cho đến Thường Xuân đều dính đến rượu chè, bia ôm và số đề. Ban đầu chơi ít, dần dần, có nhà mỗi ngày đánh đề với số tiền tương đương vài chỉ vàng. Và cũng không bao lâu sau đó, dân làng trắng tay vì thua đề, nợ nần các quán bia, nợ tiền mua rượu ở các đại lý, lại cùng nhau vào rừng hái củ, đi vác đá cho công trình, tương lai hoàn toàn mù mịt.

000_Hkg7050332-250.jpg

Những người đàn ông bộ tộc H’mông phía Bắc tỉnh Hà Giang tụ tập uống bia hôm 08/3/2012. AFP photo
Tuấn, giáo viên ngoại ngữ trẻ người Kinh, dạy một trường phổ thông cơ sở ở Thường Xuân, chia sẻ thêm với chúng tôi rằng anh cảm thấy trong chuyện này, rõ ràng có bàn tay của nhà cầm quyền nhúng vào, ngay từ việc giải tỏa đền bù đất, họ đã trả tiền cho người Thái Trắng với mức giá quá rẻ bèo, một mét vuông dao động từ hai ngàn đồng đến năm ngàn đồng, mức giá mà một mét vuông đất chưa mua được một ổ bánh mì để ăn sáng. Rồi đến chuyện đầu nậu bán hàng dỏm, các nhà cái số đề và gái bia ôm lên đến tận trên vùng hẻo lánh này để hoạt động, làm sao ngành an ninh lại không biết đến. Theo như thầy giáo Tuấn nhận thấy, chỉ cần ai đó nói một câu báng bổ bác Hồ hoặc chống đối chế độ Cộng sản, mặc dù là nói nhỏ với nhau trong quán rượu cũng sẽ bị công an kêu lên xã, hù dọa, thậm chí bắt nhốt, đánh đập… Thì làm sao có chuyện cả một đám đầu nậu, gái bia ôm và nhà cái số đề đông đảo từ tít tận Hà Nội lên đây hoạt động trờ trờ ra đó mà công an không biết. Chỉ do họ phớt lờ đi thôi, không chừng sẽ có chung chi, chia lãi với nhau giữa đám giang hồ và công an. Thầy Tuấn còn nói rằng mình thấy lạ ở chỗ khi bà con phá sản, đói rách và túng quẫn, bệ rạc thì nhà các quan chức đại phương lại xây dựng khang trang ra, có người sắm xe hơi. Chuyện này rất vô lý nhưng khó nói.
Lúc chúng tôi đến huyện Thường Xuân, đồng hồ đã chỉ sang 12h trưa, xóm vắng vẻ, chỉ có người già và trẻ con. Đi mãi đến cuối xóm, gặp một đại lý bán tạp hóa, chúng tôi ghé vào ngồi uống nước và hỏi thăm, người chủ đại lý tên Thùy, 32 tuổi, người hà Nội mới lên đây chưa đầy hai năm, chị cho biết là dân ở đây nợ chị quá nhiều, ngập sổ rồi, có nhiều nhà không còn khả năng thanh toán nợ, phải vào rừng đào rễ cây mật nhân đi bán, mỗi ngày trả góp cho chị từ 20 ngàn đồng đến 50 ngàn đồng. Với kiều trả nợ như thế này, chắc phải hai mươi năm sau họ mới trả hết nợ, đó là chưa nói đến chuyện hiện nay họ vẫn phải mua gạo nợ gối đầu, biết là khó lấy nợ nhưng phải bán chịu gạo cho họ ăn, có ăn mới no bụng mà vào rừng hái củ và ra công trường vác đá kiếm tiền về trả nợ cho Thùy được.
Bốn giờ chiều, sau một buổi lang thang dưới cái nắng đổ lửa, chúng tôi ghé vào thăm một gia đình người Thái Trắng, chủ nhà nói tiếng Kinh tương đối rõ, anh cho biết cả nhà anh vừa mới về đến nhà, hôm nay con trai đầu lòng anh đào được khá nhiều củ mật nhân, bán hết thảy có thể kiếm được chừng 120 ngàn đồng, như vậy, sau khi trả bớt nợ, anh còn được 20 ngàn đồng để mua sắm một số thứ cần thiết cho gia đình. Khi nghe chúng tôi hỏi trước đây anh nhận tiền đền bù đất được bao nhiêu, anh buồn rầu trả lời: Bảy trăm triệu đồng, cả chục hec ta rừng trồng cây luồng và tỉa bắp, bây giờ không còn gì nữa, làm được ngày nào thì ăn ngày đó!
Nhìn bữa ăn của gia đình người Thái Trắng này, nó cũng giồng như nhiều bữa ăn khác của những gia đình Thái Trắng khác mà chúng tôi gặp ở Mường Lát, Quan Hóa, Ngọc Lặc, Lang Chánh… Một nồi cơm độn sắn lát, một bát cà rừng và một chén mắm chuột để chấm cà, chúng tôi chỉ biết ứa nước mắt nhìn đồng loại nuốt cơm! Cách chỗ khốn khổ này không xa, là những nhà hàng ứ hự rượu bia của các quan chức và những chi cục thuế xây cao chót vót, khang trang, đầy đủ tiện nghi.

TOÀN BỘ SỰ THẬT

TOÀN B S THT

“Thầy còn nhiều điều phải nói với anh em, nhưng bây giờ, anh em không có sức chịu nổi.”

Đức Giêsu khi sắp về với Cha, đã chấp nhận giới hạn của các môn đệ.  Ngài chưa nói hết được những điều Ngài muốn nói, nhưng Ngài không muốn ép họ phải cố hiểu.  Cần có thời gian, và nhất là cần Thánh Thần…

Đức Giêsu chấp nhận ra đi khi việc huấn luyện còn dang dở.  Ngài chấp nhận mình không phải là vị thầy duy nhất: Sau này, Thánh Thần sẽ dạy anh em mọi điều (Ga 14,26).  Ngài cũng chẳng phải là Đấng Bảo Trợ duy nhất vì còn một Đấng Bảo Trợ khác đến sau Ngài (x. Ga 14,16).

Ngài đã vén mở cho các môn đệ thấy sự thật, sự thật về Cha, về bản thân mình và về con người.  Nhưng Ngài biết rằng cần có Thánh Thần từ từ dẫn dắt các môn đệ mới hiểu thấu và đi vào toàn bộ sự thật.

Vì lợi ích của họ, Đức Giêsu sẵn sàng ra đi (x. Ga 16,7), để nhường chỗ cho Đấng Cha và Ngài sai đến.  Đức Giêsu chẳng tìm mình, và Thánh Thần cũng vậy.

Thánh Thần chỉ có sứ mạng là đưa con người đến với Cha và Con là Đức Giêsu.  Ngài chẳng tìm vinh quang cho mình, nhưng chỉ tìm tôn vinh và làm chứng cho Đức Giêsu.  Cha cũng chẳng tìm mình.  Cha chẳng giữ gì làm của riêng.  “Mọi sự Cha có đều là của Thầy” (c.15) Cha là nguồn mạch luôn trào dâng qua Con.  Con là Con vì đón nhận tất cả từ Cha.  Tình yêu liên kết Cha và Con là Thánh Thần,

Khi chiêm ngắm thế giới của Thiên Chúa Ba Ngôi, chúng ta thấy đó là một cộng đoàn lý tưởng.  Mỗi ngôi vị đều sống cho hai ngôi vị kia.  Yêu thương và hiệp thông với nhau đòi từ bỏ.  Nhưng từ bỏ lại làm cho mỗi ngôi vị trọn vẹn là mình, và sống trong hạnh phúc viên mãn.

Thiên Chúa của Kitô giáo là một cộng đoàn yêu thương, nhưng thế giới của Thiên Chúa Ba Ngôi lại không khép kín.  Thế giới ấy vươn ra ngoài mình, để cho hạnh phúc tuôn đổ trên toàn bộ công trình sáng tạo.

Cha yêu loài người đến độ sai Con Một làm người.  Con yêu loài người đến độ dám sống và chết cho họ.  Thánh Thần yêu loài người đến độ luôn ở bên để ủi an nâng đỡ.  Cả Ba Ngôi cùng nhau lo cho loài người.  Ước mơ lớn nhất của Ba Ngôi là đưa cả nhân loại đi vào thế giới thần linh của mình, để mỗi người được hưởng hạnh phúc làm con trong Chúa Con.

Thiên Chúa Ba Ngôi là tình yêu mở ra, chia sẻ, mời gọi.  Tình yêu đích thực bao giờ cũng khiêm hạ đợi chờ.  Chúng ta tự hỏi mình có sẵn sàng mở ra để Chúa đi vào thế giới của mình và để mình đi vào thế giới của Chúa không?

 

**************************************

Giữa một thế giới đề cao quyền lực và lợi nhuận, xin dạy con biết phục vụ âm thầm.

Giữa một thế giới say mê thống trị và chiếm đoạt, xin dạy con biết yêu thương tự hiến.

Giữa một thế giới đầy phe phái chia rẽ, xin dạy con biết cộng tác và đồng trách nhiệm.

Giữa một thế giới đầy hàng rào kỳ thị, xin dạy con biết coi mọi người như anh em.

Lạy Chúa Ba Ngôi, Ngài là mẫu mực của tình yêu tinh ròng, xin cho các Kitô hữu chúng con trở thành tình yêu cho trái tim khô cằn của thế giới.

Xin dạy chúng con biết yêu như Ngài, biết sống nhờ và sống cho tha nhân, biết quảng đại cho đi và khiêm nhường nhận lãnh.

Lạy Ba Ngôi chí thánh, xin cho chúng con tin vào sự hiện diện của Chúa ở sâu thẳm lòng chúng con, và trong lòng từng con người bé nhỏ.


Trích trong ‘Manna’

Anh chị Thụ & Mai gởi

Có khó chăng việc làm chứng cho Chúa ?

 

Fanxico Trần

Chúng ta thường băn khoăn , thao thức rằng: “Làm thế nào để đời sống này là đời sống làm chứng cho Chúa.”

Bao nhiêu người đã phải thốt lên , điều này thực sự là quá khó , hầu như không thể làm được vì chúng ta thì ngại ngần, yếu đuối và không xứng đáng. Có nhiều Bác , nhiều Anh Chị đã thử ra đi dạy đạo , dạy Giáo lý cho Tân Tòng  và rồi bỏ cuộc , bỏ của chậy lấy người vì chả tới đâu lại còn vướng vào tranh cãi giáo lý, tranh cãi khoa học, tranh cãi vị trí , … Điều này rất đáng tiếc và có thể sửa chữa không ?

Thế  còn lời hứa và sự giúp đỡ đầy quyền năng của Chúa thì đâu rồi? tại sao nó không đến với mình, thực ra thì với sức của Chúa giúp trong việc rao giảng , cũng đã có một số các Thánh của Chúa đã làm việc rao giảng thành công , chính họ đã  thấy, đã minh chứng  rằng điều này có thể thực hiện được và thực hiện một cách dễ dàng , đối với họ , có khó chăng việc làm chứng cho Chúa ?

Có khó gì đâu , chúng ta chỉ cần ở trong Chúa thì quyền năng hoán cải của Chúa sẽ đến cho người khác . Ở trong Chúa nghĩa là chúng ta ở trong lời cầu nguyện đơn sơ và hoàn toàn phó thác,  nhất là ở trong sự ca ngợi Chúa, rồi Chúa sẽ lo phần còn lại đó là , Ngài ban sự chữa lành và hoán cải cho người Anh Em của mình.

Cha Paulison , Giám đốc Canh tân đặc sủng Houston-Galveston đã kể, cách đây mấy chục năm, trong một lần có một nhóm nhỏ 5 người trong đó có cả một cậu thiếu niên, cỡ 15-17 tuổi đến nhà Dòng Maryknoll , họ  mượn nhà Dòng để ca ngợi Chúa , tiếng hát của họ vừa to vừa the thé ,làm  rung cả căn phòng nguyện nhỏ , vang lên tới tận trên lầu vào trong văn phòng của Cha đã làm cho Cha ngạc nhiên “sao mà hăng hái ca hát thế” , dần dần,   những lời  ca ngợi vốn khác cung giọng đó lại có sức làm cho Cha bừng tỉnh “mình cũng cần ơn yêu mến Chúa như thế này” . Sau ngày đó, Cha tìm đến với tĩnh tâm Chúa Thánh Linh  và có một cuộc cách mạng đổi đời , từ chỗ cử hành một thánh lễ Misa trong 10 phút , Cha đã nhiều khi cử hành thánh lễ và chữa lành trong 3-4 tiếng đồng hồ. Từ chỗ chỉ muốn làm công việc xây dựng building cho nhà Dòng, Cha dành toàn thời gian cho Canh Tân đặc sủng làm cho hàng chục ngàn người cũng yêu mến, say sưa Chúa như Cha. Từ chỗ lời giảng về Chúa đã không thuyết phục được chính mình đến chỗ lời nói chuyện thường cũng có thể cảm hóa , và làm cho người nghe ăn năn , muốn quay về với Chúa Jesus.

Thật là ngộ vì cái nhóm nhỏ ca hát này đâu có giỏi Kinh Thánh , về Thần học lại càng không thể so sánh với kiến thức uyên bác của Cha , họ chỉ hát ca ngời Chúa thôi mà, họ có nói gì đâu nhưng Chúa lại thay đổi lòng của Cha  !

Vâng, Có khó gì đâu phải không ạ , chúng ta chỉ cần ở trong Chúa biết cầu nguyện với hết cả tâm hồn và để cho Chúa lo phần còn lại

* Có gì khó đâu , chúng ta chỉ cần toát ra hương thơm yêu mến Chúa , và yêu mến nhau trong tình thân yêu của một gia đình rất đầm ấm. Rồi Chúa Thánh Linh sẽ làm phần còn lại. Một thí dụ minh chứng rõ rang, đó là câu chuyện Chị Diane , một gái điếm được Chúa chữa lành bịnh ung thư tử cung, khi chị đang đứng dự lễ chữa lành ở bên “ngoài hàng rào” nhà thờ trong một kỳ tĩnh tâm Thánh Linh , chị được ơn yêu mến Chúa say sưa và chị muốn giúp các cô điếm khác trong nhà Thổ của Chị , nhưng mà , làm sao có thể nói về Chúa trong nhà Thổ , nơi chỉ có gái điếm làm việc bán thân nuôi miệng , nơi mà tình yêu là một điều xa xỉ. Chuyện này xảy ra ở Cộng hòa Dominican, khi đó là vào khoảng năm 1975 do cha Emiliano Tardiff kể. Bắt đầu , chị Diane chỉ xin phép kể cho các đồng nghiệp về trường hợp xảy ra cho mình , làm sao mà mình được khỏi ung thư vốn đã phát tán nặng không còn hy vọng khỏi , sau đã hai lần mổ cắt khối u, làm sao mà Chúa mang niềm vui và sự thanh thản đến cho mình. Rồi , chị xin phép lập một nhóm cầu nguyện tại nhà chứa, và cứ mỗi thứ hai, họ đóng cửa không tiếp khách, để mở tâm hồn ra đón Chúa Yêsu. Ở đây, họ cầu nguyện, đọc Lời Chúa và ca hát.

Tiếp đến, năm sau, một cuộc tĩnh tâm Thánh Linh được tổ chức cho 47 cô gái điêm trong thành phố. Chính ở đấy, Chúa Yêsu biểu lộ tình thương xót của Ngài: người ta hối cải, ăn năn trở lại và xưng thú tội lỗi. 27 cô gái đã bỏ đường cũ, 21 cô  bên đỗ trong đường lối Chúa, vài cô đã trở thành giáo lý viên, mấy cô khác thành người hướng dẫn những nhóm cầu nguyện, làm chứng về Tình yêu hay thương xót của Chúa đã biến đổi họ.

 

Trong số 21 nhà chứa tại đường Mariano-Perez, chỉ có 4 nhà còn hoat động. Các chi em trong nhóm câu nguyên đã đên đó, và Chúa đã hoán cải những nhà đó.

Sau một thời gian củng cố , Cô Diane trở thành giáo lý viên, làm chứng cách hăng say về lòng thương xót của Chúa với một sức mạnh và quyền năng của Chúa mà người nghe phải quay trở lại với Chúa Jesus.

Thống kê chính thức cho biết, tai Nagua, trong số 500 nhà chứa, có hơn 80% đã đóng cửa. Nhiều nhà chứa trước kia đã phục vụ cho tội lỗi và ích kỷ, thì nay đã trở thành nhà cua nhóm cầu nguyên. Sự thay đổi rõ rệt đến nỗi người ta phải nói:

– Nagua trước kia là thành phố mãi dâm, nay là thành phố cầu nguyên.

Vâng, Có khó gì đâu phải không ạ , chúng ta chỉ cần để cho Chúa tỏa ra hương thơm yêu thương trong đời sống mình đó là lời làm chứng mạnh mẽ về Chúa.

Có khó gì đâu khi mà chính Chúa còn mong chờ hơn chúng ta gấp bội để ban ơn cứu rỗi cho Anh Em của ta. Kinh thánh nói “Người muốn cho mọi người được cứu thoát và được nhìn biết sự thật” (ITim2:4). Chúa sẽ hỗ trợ cho chúng ta trong việc làm chứng về Chúa cho anh me và do đó công việc nếu có Chúa sẽ nên dễ dàng.

Có khó gì đâu khi ta vin vào lời hứa của Chúa một cách đanh xác mà làm chứng cho Anh Em mình được ơn cứu rỗi . Đó cũng là cảm nghĩ của Chị N , Chị có tiệm hơt tóc bình dân $3.99 ở đường Bellaire Houston, Texas. Chị vốn là một tín hữu Phật giáo Hòa Hảo được ơn trở lại làm con cái Chúa , Chị rất yêu mến Chúa và muốn làm chứng cho Chúa.. Mỗi khi chị cắt tóc cho ai , dù là  Việt , Mễ hay các sắc dân khác, chị hỏi họ có bịnh không rồi chị nói về trương hợp mà Chúa chữa lành cho chính Chị và gia đình. Vì Chúa đã cứu Chị và gia đình từ bệnh tật cho đến cãi vã , chia rẽ và hỗn loạn làm cho gia đình của Chị rất hạnh phúc từ khi biết Chúa . Chưa hết, khi thấy khách hàng bị bịnh : “ Tai biến mạch máu não” , bị liệt chân, bị điếc tai, bị ung thư,  chị mạnh dạn cầu nguyện : “ Lạy Chúa , Chúa đã hứa hãy xin thì sẽ được, hãy tìm thì sẽ thấy” , “ Ở đâu có hai ba người dưới đất đồng thanh xin nhân danh Chúa Giê Su thì Chúa sẽ ở giữa họ và sẽ ban cho “. Rồi chị đặt tay lên bệnh nhân và nói “ Nhân danh tên Chúa Giêra  bệnh tật phải tan biến,  mọi cơ phận của Anh Chị này phải trở lại bình thường. Con cảm tạ , ngợi khen, tôn vinh danh Chúa Giê Su đời đời Amen.” . Điều xảy ra là những người này được khỏi bệnh tại chỗ , tay đang co rút cả mười ngón chị gọi tên Chúa Gie Su và kéo từng ngón ra, chân dang bị teo cơ, thì trong vòng 10 phút  đã nở ra bình thường trước mắt mọi người, ung thư thì ngày sau cầu nguyện , bệnh nhân đi khám được bác sĩ xác nhận khỏi,… và có nhiều người trong số bệnh nhân này sau đó , nghe Chị khuyên , họ đã hổi cải quay về Tin Chúa để được Chúa cứu đời đời thay vì chỉ cứu về phần xác vốn rất tạm thời với vài chục năm sống rồi lại chết .

Là một Tân Tòng , Chị N đâu có biết Lời Chúa hay Giáo lý nhiều đâu , Chị chỉ có sự xác tín vào Lời Chúa hứa để làm chứng cho Chúa. Quả vậy , chị đã cho rằng   làm chứng cho Chúa không khó , cứ tin vào Lời Chúa hứa mà làm chứng qua chữa lành , cầu nguyện và khuyên mời.

Chị N nói , mỗi năm cần mang về cho Chúa hai người thì chị có thể làm được.


Kết luận của Cha Elimiano Tardiff:
Chúa Yêsu không sai các môn đệ đi dạy lý thuyết hay những tư tưởng trừu tượng, nhưng sai đi để làm chứng về những gì đã thấy và đã nghe. Khốn nỗi, hình như chúng ta chỉ lo lắng dạy đạo lý hơn là thông truyền sự sống.. Chúng ta được gọi làm chứng về những gì chúng ta giảng dạy, nhưng để trở thành một chứng nhân đích thực, cần phải có kinh nghiệm bản thân về những điều mình tuyên xưng, và sống kinh nghiệm ấy trong con người của mình.

Để được lớn lên trong sự sống Thiên Chúa, trước hết, ta phải được sinh ra bởi quyền lực Thánh Thần

*  nhưng các ngươi sẽ chịu lấy quyền lực Thánh thần đến trên các ngươi. Và các ngươi sẽ là chứng tá của Thầy ở Yêrusalem, trong toàn cõi Yuđê và Samari, và cho đến mút cùng cõi đất. (CVTD1:8).

Đức Giáo Hoàng Phaolô VI nói:

*   Thế giới này đã quá mệt mỏi vì phải nghe nhiều thầy, họ chỉ bị lôi cuốn bởi các chứng nhân”.

Phần chúng ta , hãy mặc lấy Chúa và phấn khởi lên đường Đức Tin và làm chứng cho Tin Mừng.

SỐNG TRONG CHÚA BA NGÔI LÀ CỬA LÊN TRỜI

SỐNG TRONG CHÚA BA NGÔI LÀ CỬA LÊN TRỜI

(CN 8 TN, NĂM C)

Tuyết Mai

Hình như là khắp toàn thế giới người có đạo cũng như người không có đạo hiện rất vui mừng vì Giáo Hội Công Giáo chúng ta có được một Đức Giáo Hoàng ai cũng kính nể, yêu mến, và ca khen vì ngài thực sự đang sống rất thật, rất giống với Thánh Francisco và Chúa Giêsu thuở xa xưa.   Sự sửa đổi trước tiên mà do Đức Giáo Hoàng yêu quý của chúng ta muốn cho giáo dân thấy được sự sửa đổi đó là …. Trước đây khi một linh mục đang cử hành Thánh Lễ thì ta thấy linh mục đứng ở bục rất cao, cao hơn cả bàn thờ Chúa, chỉ thấp hơn Thánh Giá Chúa trên tường cao.   Nhưng nay vị trí đứng cao của các vị linh mục sẽ không còn thấy nữa! Mà vị linh mục hay cùng phó tế sẽ được ngồi hay đứng rất gần với giáo dân ở phía dưới chân của bàn thờ.

Cho đến khi vị linh mục hay cùng với phó tế cần lên phía trên của bàn thờ để cử hành mầu nhiệm Chúa Thánh Thể tức làm phép Mình và Máu Thánh Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta.   Thưa sự sửa đổi ấy có làm cho nhiều linh mục khó chịu lắm không? Vì nếu linh mục là hình ảnh của Chúa thì phải nên giống Chúa là Ngài đến thế gian là để phục vụ nhân loại con người chứ không phải là ngược lại.   Sự thay đổi ấy sẽ cho giáo dân cảm thấy sự gần gũi của ngài linh mục hơn.   Chứ hình thức quá, cao sang quá, xa cách quá thì rất dễ làm cho các linh mục hiểu sai đi cái trách nhiệm và công việc chính của mình là sống phục vụ cho con người.

Thưa sự giữ đạo là bắt nguồn từ trong trái tim yêu thương giống Chúa và bắt chước Chúa Giêsu chứ không như những pharisêu, biệt phái, và các nhà thông luật xưa đã bị Chúa Giêsu lên án cách gắt gao.   Những ai đã bỏ cả cuộc đời để bước chân theo Chúa thì sao lại còn muốn dính bén thế nhỉ? Có phải mọi con chiên đều hiểu biết các ngài cũng yếu đuối cũng tội lỗi nên chúng ta phải thông cảm và phải cầu nguyện thật nhiều cho các ngài luôn mãi!?.

Nhưng có đôi khi chúng ta cũng không khỏi xốn con mắt, gai con mắt khi chứng kiến tận mắt những sự yếu đuối và tội lỗi của các ngài (ngoài công cộng).   Sự xốn hay gai con mắt ấy, tâm lý cũng dễ hiểu thôi vì thưa rằng giáo dân rất yêu quý và kính trọng các ngài.   Cũng vì hiểu rằng chiên thì nhiều mà Mục Tử tốt lành thì thiếu.   Do đó chiên thì tan tác đàng chiên, sói đội lốt Mục Tử thì dần ăn hết thịt chiên và những chiên còn sống ngoài đàn thì đông vô số kể không người chăn dắt.

“Một con sâu làm rầu nồi canh” một con sâu mà nó đã có tầm quan trọng đến mức mà có thể làm rầu một nồi canh (là một giáo xứ) thế thì tầm quan trọng như thế nào nữa khi có vài con sâu tương tự ở những nơi (giáo xứ) khác??.   Giận lắm chứ thưa có phải?   Rất giản đơn thôi vì khi ta càng yêu nhiều, cần nhiều, đặt nhiều hy vọng vào, kính trọng nhiều thì ta càng giận nhiều thế thôi!.   Có giận không và có buồn quá không khi thấy người mình yêu kính bị luật pháp điệu đi cách ê chề trước mặt mình vì những tội không ai có thể ngờ …..

Do đó Chúa Giêsu dậy “có” thì ta nói có; “không” thì ta nói không chứ không che đậy cho những thành phần xấu đã làm cho Giáo Hội ra nhơ nhuốc và làm gương mù gương xấu cho rất nhiều người trẻ noi theo và bắt chước.   Chúa chúng ta cả bao thế kỷ vẫn luôn buồn sầu vì những thành phần này khi họ chỉ sống lợi dụng Chúa mà trục lợi cho riêng họ.   Bởi đó chúng ta hiểu hơn khi Chúa nói Mục Tử thật thì biết từng con chiên và đàn chiên cũng từng con một biết và nhận ra tiếng của Ngài và đi theo Ngài.

Và không ai mà không hiểu rằng mọi sự dưới gầm trời này, những điều xấu xa của con người lại có thể giấu kín hay đậy kín cho được.   Vì điều xấu xa chúng hay có mùi xú uế không thể không xì ra cho được thưa anh chị em!.   Mục Tử chân chính có cuộc sống tốt lành không bao giờ phải cần biện hộ hay phân bua mà chỉ có sói đội lốt chúng mới cần phải đôi chối hay dễ giật mình vì chúng có tật thật nên dễ bị giật mình, thưa có phải?.

Nguyện xin Thánh Thần Thiên Chúa, luôn ban cho thế giới chúng con có được thêm nhiều Mục Tử chân chính, tốt lành, thánh thiện hơn nữa.   Để chúng con là những đàn chiên còn ở ngoài đồng cỏ xanh có được nhiều Mục Tử chăn dắt để cùng đích hết thảy là chiên chúng con được trở về sống trong Đồng Cỏ Xanh Rì và hiền hòa.   Có được cuộc sống bình an và hạnh phúc bên một Chúa Ba Ngôi.   Amen.

** Xin bấm vào mã số để nghe và để hát:

http://www.youtube.com/watch?v=Fu3Um_yF9_k

(Vui Trên Đồng Cỏ Xanh)

——————————————————————–

**::* Vui Trên Đồng Cỏ Xanh *::**
*~* Tuyết Mai(25) 10-08-03 *~*


Trời cao mênh mông bao la
Đàn chim tung bay phương xa
Đồi non xanh um mây trắng giăng
Hồ hởi với những bước chân nhịp nhàng
Đưa ta đến đồng cỏ xanh non
Sống thanh bình chỉ cần Chúa mà thôi
Sống bên Ngài hạnh phúc nhất trần đời

Ngài chăn nuôi tôi hôm nay
Ngài lo cho tôi hôm mai
Một tương lai không lo lắng chi
Vậy bạn hỡi! hãy sống cho trọn tình
Luôn tha thiết hòa với anh em
Đem tình Ngài vào cuộc sống bon chen
Tới muôn người cần được biết tình Ngài

ĐK:
Vì yêu Chúa đã hy sinh
Bỏ thân cứu lấy dân chiên
Ngài đã chuốc lấy bao muộn sầu
Trên Thánh Giá trên Thập Tự khổ đau
Cho chiên Ngài được mãi mãi bình an

Về đây dâng muôn câu ca
Ngài ơi, thương con xin tha
Vì con chiên hoang nay trở về
Vì đã chán ngán thú vui thế trần
Hôm nay đến đồng cỏ xanh non
Hứa trọn đời chỉ gần Chúa mà thôi
Sống bên Ngài hạnh phúc nhất trần đời


*** Để cảm tạ, ngợi khen, và tôn vinh Thiên Chúa là Cha chung của tất cả chúng ta, tôi chân thành mời anh chị em hãy dùng những bài hát của tôi để hát, đem đến tận phương trời xa, để làm Sáng Danh Thiên Chúa.

Y Tá của Chúa,

Tuyết Mai

(05-22-13)

Nguyện vọng của con sâu róm

Có  một con sâu róm cảm thấy tướng mạo mình vừa xấu, hành động lại vừa  không linh hoạt, liền oán than với Thượng Ðế:“Thưa Ngài! Ngài sáng tạo  vạn vật cố nhiên rất thần diệu, nhưng con cảm thấy ngài sắp đặt cuộc đời  con không cao minh. Ngài chia cuộc đời con thành hai giai đoạn: giai  đoạn đầu  vừa xấu xí vừa chậm chạp, giai đoạn sau thì lại vừa đẹp đẽ vừa  khéo  léo; khiến con ở giai đoạn đầu bị mọi người chửi rủa, còn giai đoạn  sau lại được nhà thơ ca ngợi. Xấu thì quá xấu, đẹp thì quá đẹp. Sao  ngài  không đồng đều một chút, giá như con bây giờ tuy xấu một chút nhưng   hành động có thể khéo léo hơn, sau này khi thành bướm rồi tướng mạo   xinh đẹp, nhưng hành động chậm chạp một chút. Như thế hai giai đoạn làm  sâu róm và bướm của con chẳng phải có thể trải qua rất vui vẻ hay sao?”

Câu chuyện của nữ tài tử Angelina Jolie

Câu chuyện của nữ tài tử Angelina Jolie


Anmai, CSsR

5/18/2013

Vietcatholic.net


Chắc có lẽ chẳng cần phải giải thích thêm khi nghe đến động từ “cắt”.

Cắt được hiểu nghĩa là làm đứt bằng vật sắt, cắt sợi dây; cắt tóc, cắt một số chi tiết, tách ra khỏi cái chung … Cắt đồ vật, đất đai … thì đơn giản nhưng để cắt một cơ phận trong cơ thể không phải là chuyện giản đơn. Phải chấp nhận cơn đau đớn vô cùng để cắt đi cơ phận trong cơ thể và phải có tinh thần hết sức can đảm mới dám cắt chứ không phải cứ cắt là cắt. Vẫn là sự giằng co lớn trước khi đi đến quyết định cuối cùng.

Mới đây, chúng ta, qua truyền thông được biết Angelina Jolie phải đưa ra quyết định để cắt đi phần cơ phận đẹp nhất của cơ thể. Cô phải quyết định cắt bỏ bộ ngực của mình để chống lại căn bệnh ung thư vú, rồi dũng cảm công bố cái tin ấy trên truyền thông, nữ diễn viên nổi tiếng Angielina đã được nhiều người gọi là người hùng.

Nam tài tử điện ảnh Bratt Pritt chồng của Angelina Jolie cũng được ca ngợi là người hùng vì anh luôn sát cánh bên vợ trong những giờ phút khó khăn nhất đối mặt với phẫu thuật và dư luận.

Dù một trong những bộ phận quyến rũ nhất cơ thể, một biểu tượng của sắc đẹp bị “cắt bỏ”, nhưng hình ảnh của nữ diễn viên lại trở nên quyến rũ : “Bây giờ, Angelina thực sự là người phụ nữ đẹp nhất thế giới” (David Krumholtz); “Điều này rất cảm động và đang truyền cảm hứng. Angelina Jolie là người phụ nữ đẹp nhất, đẹp từ trong ra ngoài” (Ariana Grande).

Cả thế giới đang ngợi ca một người dám “rũ bỏ” cái vẻ đẹp bên ngoài để cắt bỏ mầm mống của khối u ác tính có thể hủy hoại mạng sống. Trong khi đó có những dự án, những công trình, những quyết định sai lầm nhưng vì sĩ diện, vì cái tôi, vì lợi nhuận có những người đã không dám cắt bỏ quyết định, dự án … dù sai lầm xảy ra trong trước mắt cuộc sống.

Không cần phải nói nhiều, ngày mỗi ngày nhan nhản qua các phương tiện thông tin đại chúng chúng ta thấy có quá nhiều bất cập. Cứ ra đường là thấy bất cập nhưng những bất cập đó lại được bao che, được che chắn bởi những người có quyền và cầm quyền : đem đấu giá gỗ xưa để gây quỹ … vì sợ gỗ quý bị ăn cắp; cầu vượt Cát Lái đã đi vào sử dụng khá lâu nhưng đến nay vẫn chưa được … nghiệm thu; nhiều trạm thu phí quá hạn hay bất cập vẫn được … để nguyên đó để thu lợi …

Thật sự ra cũng khó nói bởi lẽ đứng trước nguồn lợi của cá nhân hay của một nhóm nào đó đang dâng cao thì khó có lòng sửa sai được. Lớn kiếm lợi theo lớn, nhỏ kiếm lợi theo nhỏ … miễn làm sao thỏa mãn được lòng của con người.

Vấn đề lớn là làm sao khơi dậy, làm thức tỉnh lương tâm bấy lâu đang ngủ yên trong lòng con người. Để cắt cái sai, để sửa cái sai không dễ chút nào khi lương tâm con người đã chai cứng hay nói theo ngôn ngữ Thánh Kinh là “lòng chai dạ đá”.

Có những người, những nhóm người vì quyền lợi cá nhân hay nhóm của mình đã cố tình làm ngơ cho qua những sai phạm mà nhiều người đã thấy. Dù biết nhưng họ nhắm mắt làm ngơ để bao che cho phe nhóm của họ. Công chúng, dư luận đều biết nhưng vì thấp cổ bé họng, vì không có quyền nên đành phải nghe theo. Họ thừa biết những khối u nhưng họ không can đảm cắt và cứ để cho khối u đó ngày mỗi ngày phát triển bằng quyền lực của họ. Chính lương tâm và Thiên Chúa sẽ xét xử những hành vi nhắm mắt làm ngơ để hưởng lợi của những người dùng quyền lực để trục lợi.

Chính Chúa Giêsu cũng đã mời gọi về sự từ bỏ, cắt bỏ rất mạnh trong Tin Mừng theo Thánh Matthêu : “Nếu tay chân ngươi làm ngươi vấp phạm, thì hãy chặt và quăng nói đi khỏi ngươi; thà ngươi cụt tay, què chân mà vào sự sống, còn hơn là có hai tay, hai chân mà bị quăng vào lửa đời đời. Và nếu mắt ngươi làm ngươi vấp phạm, thì hãy móc mà quăng nó đi khỏi ngươi, thà ngươi chột mắt mà vào sự sống còn hơn là có hai mắt mà bị quăng vào địa ngục lửa thiêu”. (Mt 18, 8.9). Hơn một chút nữa, Chúa Giêsu mời gọi dứt khoát trong tin mừng Gioan : “Thầy là cây nho thật và Cha Thầy là người trồng nho. Cành nào gắn liền với Thầy mà không sinh hoa trái, thì Người chặt đi; còn cành nào sinh hoa trái, thì người cắt tỉa cho sinh nhiều hoa trái hơn” (Ga 15, 1-2)

Và vì vậy, cần phải can đảm “cắt” những khối u của tham lam, của ích kỷ, của phe nhóm trong lòng mình để cho con người, cộng đoàn và xã hội được phát triển.

Angelina Jolie đã can đảm cắt bỏ cơ phận đẹp để cho các cơ phận khác trong cơ thể của cô được sống. Quyết định của cô như là lời nhắc cho những ai đang tham quyền cố vị, tham bổng lộc, lợi nhuận, chức tước mà không dám cắt bỏ những sai lầm thiệt hại cho anh chị em đồng loại.

Một chút tĩnh lặng và nhìn quyết định của Angelina Jolie để chính bản thân ta dám cắt đi những khối u của ích kỷ, giận hờn, tham sân si trong lòng đang ngày đêm hủy hoại thân xác thánh thiện ban đầu khi Thiên Chúa tạo dựng chúng ta.

Anmai, CSsR

Rủ Nhau Nhậu Tưng Bừng

Rủ Nhau Nhậu Tưng Bừng

(05/15/2013)

Tác giả : Cô Tư Sài Gòn

Vietbao.com

Đất nước đang tới những ngã rẽ kỳ dị: người ta cứ rủ nhau nhậu tưng bừng. Không chỉ dân nhậu, nam và nữ nhậu, mà cả quan chức nhậu… mà khi quan nhậu là bắt dân phải chi tiền.

Nhậu nhiều tới mức mờ mắt, không mấy ai chịu thấy chuyện Biển Đông đang bị tàu Trung Quốc vét cá, Hải quân TQ lấn chiếm biển đảo, và các hãng dầu quốc doanh TQ đang cắm mũi khoan tìm đầu trên biển Việt Nam.

Nhậu nhiều tới mức không mấy ai còn nhớ tới một thời của ngàì Trần Hưng Đạo với lời Hịch Tướng Sĩ:

“…Nay các ngươi trông thấy chủ nhục mà không biết lo, trông thấy quốc-sỉ mà không biết thẹn, thân làm tướng phải hầu giặc, mà không biết tức, tai nghe nhạc để hiến ngụy sứ, mà không biết căm; hoặc lấy việc chọi gà làm vui-đùa, hoặc lấy việc đánh bạc làm tiêu-khiển, hoặc vui thú về vườn ruộng, hoặc quyến-luyến về vợ con, hoặc nghĩ về lợi riêng mà quên việc nước, hoặc ham về săn-bắn mà quên việc binh, hoặc thích rượu ngon, hoặc mê tiếng hát. Nếu có giặc đến, thì cựa gà trống sao cho đâm thủng được áo-giáp; mẹo cờ-bạc sao cho dùng nổi được quân-mưu; dẫu rằng ruộng lắm vườn nhiều, thân ấy nghìn vàng khôn chuộc; vả lại vợ bìu con díu, nước này trăm sự nghĩ sao; tiền-của đâu mà mua cho được đầu giặc; chó săn ấy thì địch sao nổi quân thù; chén rượu ngon không làm được cho giặc say chết, tiếng hát hay không làm được cho giặc điếc tai…”

Báo Pháp Luật TP kể chuyện ở Cam Ranh, “Chịu hết xiết vì liên tục bị một trung tá CSGT mời đến… hốt cú chót trong các tiệc nhậu, doanh nghiệp làm đơn “tố”…”

Bản tin nói, vào ngày 12-5, ông TNK, Giám đốc một doanh nghiệp kinh doanh vận tải tại Ba Ngòi, TP Cam Ranh (Khánh Hòa), cho biết: Ông đã gửi đơn “tố” Trung tá Hồ Lưu Luyến, Trạm phó Trạm CSGT Cam Ranh (thuộc Phòng CSGT Công an Khánh Hòa), thường xuyên bắt ông trả tiền các độ nhậu tiếp khách của ông Luyến.

Bnả tin ghi rằng:

“Theo ông K., doanh nghiệp của ông có hơn 10 đầu xe tải chạy đường dài nên ông rất “biết điều” với lực lượng CSGT, đặc biệt là với Trung tá Luyến. “Vì tôi luôn tỏ ra “biết điều” nên ông Luyến hay mời tôi nhậu nhưng thực chất là gọi tôi đến để trả tiền cho các độ nhậu của ông ấy. Mỗi lần thấy tên ông Luyến hiện lên trong điện thoại là tôi phải chuẩn bị tiền đến một quán nhậu nào đó để trả, riết thành quen. Những lần tính tiền nhậu cho ông Luyến trước đây khi thì 2 triệu đồng, lúc 5 triệu đồng, cùng lắm là 5 triệu đồng tôi chấp nhận được. Tuy nhiên, ngày 10-1-2013, tôi “xanh mặt” với cái hóa đơn hơn 13,3 triệu đồng cho chầu nhậu tiếp khách của ông Luyến” – ông K. nói.”

Thế nhưng, khi bị ép trả tiền nhậu nhiều quá, và nặng quá, vào ngày 16-1-2013, ông K. mới làm đơn trình bày toàn bộ vụ việc gửi đến trưởng Phòng CSGT Công an tỉnh Khánh Hòa.

Bi hài là, theo báo Pháp Luật TP: “Được biết sau khi nhận đơn, Phòng CSGT và Thanh tra Công an tỉnh Khánh Hòa đã cử cán bộ đi xác minh. Công an đã gặp ông K., gặp chủ quán nhậu để tìm hiểu sự việc. “Tuy nhiên, sau khi họ đến gặp và tôi xác nhận mình là người làm đơn thì từ đó đến nay tôi không nhận được thông tin phản hồi nào từ công an về vụ việc này” – ông K. cho biết.”

Nghĩa là im luôn. Phải chăng vì các quan thanh tra cũng đang rủ nhau nhậu tiếp?

Chén rượu ngon không làm cho giặc say chết. Trước tiên là chết dân Việt, khi cứ phải trả tiền cho sếp. Và kế tiếp là đang đẩy cả nước tới cơ nguy rơi vào vòng Bắc thuộc mới vậy.

BÌNH AN CỦA CHÚA

BÌNH AN CỦA CHÚA (BÀI NÓI CHUYỆN VỚI CÁC NỮ TU DÒNG KÍN – CARMEL PHÚ CƯỜNG)

Tác giả: Lm JB Nguyễn Minh Hùng

nguồn:conggiaovietnam.net

Chúa Giêsu, trong nhà tiệc ly, trước khi chia tay các môn đệ của Người để vào thụ nạn, đã phán: “Thầy để lại bình an cho các con, Thầy ban BÌNH AN CỦA THẦY cho các con. Thầy ban cho các con không như thế gian ban tặng” (Ga 14,27). Bình an của Chúa là hồng ân mà không ai trong chúng ta không cần đến. Vậy, chúng ta hãy cùng suy tư về ơn bình an của Chúa khởi đi từ những cảm nghiệm nơi chính bản thân mình.

I. CẢM NHẬN BÌNH AN CỦA CHÚA.

Thật lòng mà nói với nhau, nhiều khi chúng ta đã than thân trách phận. Gặp một chút phiền toái, tự nhiên chúng ta bực dọc. Thấy mình kém tài hơn người khác, chúng ta không vui. Thấy mình thua thiệt người xung quanh điều gì, bản thân thất vọng về mình. Thấy người này người nọ làm được chuyện này chuyện kia to tác, ta đễ bi quan cho mình…

Bởi không chấp nhận bản thân, cuộc sống chúng ta nhiều lúc không hạnh phúc. Không hạnh phúc, không phải Chúa keo kiệt hạnh phúc với ta, nhưng chỉ do ta vô ơn với hạnh phúc Chúa ban. Vì yêu mình cách sai trái, yêu mình bằng cái nhìn bi quan, ta không nhận ra nơi mình, nơi cuộc đời mình có quá nhiều thứ để cảm tạ Chúa, để yêu Chúa, để yêu con người. Không nhìn thấy hồng ân của Chúa trên chính sự sống của mình, ta dễ cắng đắng với bản thân. Không nhận ra hạnh phúc, thì cũng không có hạnh phúc. Không có hạnh phúc, cuộc sống luôn vắng nụ cười, chỉ toàn cau có, gắt gỏng…

Tôi từng đọc Thánh vịnh 77: “Phải chăng Chúa ruồng bỏ đến muôn đời, chẳng bao giờ còn dủ lòng thương đoái? Tình yêu Chúa phải chăng nay cạn hẳn, và thánh ngôn chấm dứt đời đời? Hay Thiên Chúa đã quên thương xót, vì giận hờn mà khép kín từ tâm?” (Tv 77, 8-10), mà quay quắt, mà xót xa cho bản thân. Lời Thánh vịnh, lẽ ra phải là lời cầu nguyện trong đức tin, trong lòng mến, thì tôi đã từng biến nó thành lời than thở, dù vẫn cầu nguyện, nhưng hình như cầu nguyện trong cay đắng.

Bản thân chúng ta có thánh thiện không, không ai dám chắc. Chỉ Chúa biết. Nhưng hình như Chúa đã xoay cái nhìn của tôi về hướng tích cực hơn. Nhờ những người đau khổ mà tôi phục vụ, cho tôi thay đổi cái nhìn, từ ngày ấy, tôi nhận ra bình an của Chúa ban cho mình tràn ngập. Tôi thấy mình hạnh phúc. Cuộc sống của mình trải đầy thảm đỏ, vậy mà nhiều lần mình còn tủi phận, muộn phiền.

Cũng phải cám ơn các chị em, mỗi khi các chị em nói rằng, con sẽ đồng hành với cha, con cầu nguyện cho giáo xứ…, các chị em đã giúp tôi biết suy nghĩ tích cực hơn, biết hướng về người khác hơn, biết đặt mình nơi người khác hơn.

Mỗi khi các chị em quỳ xuống xin tôi ban phép lành của Chúa, là mỗi lần tôi phải giật mình, tự hỏi, chính tôi đã có phép lành của Chúa nơi bản thân mình chưa? Ai có phép lành của Chúa, người đó sẽ có bình an nội tâm sâu thẳm. Nhìn lại mình, thấy còn nhiều vướng bận quá. Hình như đó là dấu hiệu mình chưa có bình an của Chúa. Vậy rồi tôi lại cầu nguyện, lại phải ăn năn tội, lại suy tư nhiều hơn về những gì mình đã sống, đã thể hiện… Mong bình an của Chúa phủ đầy trên tôi. Mong bình an của Chúa lọt vào tận hồn tôi. Bởi nếu không, tôi chỉ là cái máy, chứ không phải là người ban bình an của Chúa đúng nghĩa. Vì nếu một linh mục không có bình an, thì làm sao có thể trao ban bình an cho ai khác?

Như ánh nắng trải rộng, chiếu soi mọi nơi. Nhưng ta đóng chặt cửa nhà, ánh nắng không thể lọt vào nhà. Bình an của Chúa là ánh nắng rộng rải ban phát. Bình an của Chúa luôn tưới gội chan chứa. Bình an của Chúa luôn có sẵn và chảy tràn trề. Nhưng như cánh cửa nhà đóng kín, lòng ta cũng đóng kín bởi còn đó nhiều tham vọng, còn nhiều nhen nhúm của thói hư tật xấu, còn nhiều những mầm mống của tột lỗi…, do vậy, bình an của Chúa không thể lọt vào hồn ta. Bình an của Chúa đã có sẵn nhưng lòng ta không đủ điều kiện đón nhận. Vì thế, mãi mãi, ta vẫn đứng ngoài ơn bình an của Chúa. Cũng chính vì thế, đau khổ trong ta vẫn hoài đau khổ, mà không hề cảm nếm một chút ngọt ngào nào. Tội nghiệp biết bao nhiêu cho người giàu có mà không biết mình giàu có, không hề được hưởng nhờ sự giàu có của mình…

Vậy ta cần khám phá bình an của Chúa từng ngày. Có như thế, ta sẽ thầy mình sống vui hơn, thanh thản hơn.

Với bản thân, bây giờ, khi đọc lời Thánh vịnh 77, tôi không còn thấy lời Thánh vịnh như chỉ nói về mình cách cắng đắng nữa. Nhưng nhờ lời Thánh vịnh, tôi đặt mình vào những đau khổ của từng anh chị em mà cầu nguyện cho họ, mà yêu thương họ, và phục vụ họ cách nhiệt tâm hơn… Tôi biết ơn quá đỗi những người đau khổ mà tôi phục vụ. Chính họ đã tặng tôi niềm vui. Chính họ cho tôi thấy bình an của Chúa. Chính họ giúp tôi vui sống, vui tin yêu, vui đón nhận, vui thi hành trách vụ trong thánh chức của mình từng ngày. Anh chị em đau khổ mà tôi đang phục vụ là ân nhân của tôi.

II. BÌNH AN CỦA CHÚA NƠI CÁC CHỊ EM.

Bình an của Chúa không ở ngoài tầm tay chúng ta, nhưng đang cư ngụ nơi tâm hồn mình. Nếu bớt nhìn vào mình theo nghĩa chỉ có mình là độc chiếm, là trên, là nhất, chúng ta sẽ vui với khả năng Chúa ban, dù khả năng đó nhiều hay ít, lớn hay nhỏ… Nếu bớt một chút ích kỷ cho bản thân, bớt một chút tính toán vụ lợi tư riêng, chúng ta sẽ thấy ơn bình an của Chúa tuôn đổ trên bản thân mình còn nhiều hơn, còn lớn hơn những gì ta có thể tưởng nghĩ.

Tôi thấy nơi ngôi nhà này có bình an. Có thể bên trong lòng từng người, bên trong nội bộ của đời sống chung của cộng đoàn, tôi không thể hiểu hết. Nhưng với những con người mà ngày nào cũng đến gần Chúa, cũng đều phủ phục trước Thánh Thể Chúa, cũng suy niệm Lời Chúa, và đặt việc chiêm niệm lên hàng đầu, trở thành linh đạo riêng mình, như một đặc sủng đặc thù, thì không thể nói rằng không có bình an của Chúa.

Bằng chứng, nhiều người nói: Các Soeurs dễ thương quá. Các Soeurs vui tính quá. Các Soeurs hồn nhiên quá… Các chị em đừng vội cười. Phải có bình an của Chúa, mới có thể toát ra cái chất dễ thương, vui tính, hồn nhiên ấy. Đừng từ chối lời khen ngợi của người khác, nhưng hãy thật lòng đón nhận.

Một mặt, ta phải chân nhận rằng, bình an ấy là một phần của ơn Chúa, nhưng cũng có một phần do nỗ lực của ta, dù ít, dù nhiều. Hãy cảm tạ Chúa, vì Chúa ban cho ta ơn bình an của Chúa, để người khác có thể thấy được, và khen ngợi.

Mặt khác, nếu thấy mình chưa xứng đáng trước lời ngợi khen, ta hãy cố gắng mà sống cho xứng đáng hơn. Hãy biến mình thành dụng cụ mang bình an của Chúa đến cho tha nhân. Hãy cầu nguyện cho chính chúng ta, để từng người trong chúng ta thực sự cảm nếm bình an của Chúa.

Dĩ nhiên, mỗi người trong chúng ta, đã bước vào con đường luyện tập nên thánh, lúc nào cũng phải chiến đấu để giằn lấy sự thánh thiện của Chúa. Có lúc ta cảm thấy mệt mỏi. Có lúc thử thách như quá sức chịu đựng của mình. Có lúc như mình đang rơi vào vực thẳm do bị hiểu lầm, bị cám dỗ bỏ cuộc, bị chối từ, bị xúc phạm… Nhưng hãy tin rằng, Chúa luôn nâng đỡ ta. Người không bỏ rơi những ai Người tuyển chọn. Hãy tin vững chắc, tin một cách đinh ninh: Không bao giờ Chúa xô chúng ta ra khỏi ơn bình an của Chúa. Ngược lại, nếu có lúc ta dại khờ, đánh mất bình an của Chúa, không những Chúa không bỏ rơi, mà Người còn ôm ấp, chở che đem ta về với sự bình an như người chủ cố đi tìm cho được con chiên chạy xa bầy, tìm được, ông vác lên vai đem về vậy (x. Lc 15, 4-7).

Chiêm ngưỡng thánh giá Chúa Kitô nơi những anh chị em đau khổ, giúp ta sống tinh thần phó thác. Ai càng phó thác, sẽ càng nhận được ơn bình an của Chúa. Chúng ta tự hỏi, tại sao kẻ không còn gì đáng sống, không còn gì để mà đam mê cuộc sống, lại cứ sống, cứ muốn vươn lên giành lấy sự sống? Còn ta, được Chúa ban quá nhiều, sao lại cứ bi quan, cứ sống như chẳng nhận từ Chúa hồng ân nào? Càng quay quắt với chính mình bao nhiêu, ta càng chứng tỏ mình vô ơn với hồng ân Chúa bấy nhiêu. Ta phải tự tra vần mình. Tự tra vấn để trong bất kỳ biến cố đau thương nào, ta cũng sẽ yêu mến chính hồng ân Chúa ban và yêu mến chính sự sống là hồng ân quý giá nhất trong đời làm người của mình, mà trân, mà quý, mà nâng, mà niu nó. Hãy nhớ lời Chúa Kitô: “Hãy ngắm xem hoa huệ ngoài đồng mọc lên thế nào mà rút ra bài học: chúng không làm lụng, không kéo sợi; thế mà, Thầy bảo cho anh em biết: ngay cả vua Salômôn, dù vinh hoa tột bậc, cũng không mặc đẹp bằng một bông hoa ấy. Vậy nếu hoa cỏ ngoài đồng, nay còn, mai đã quẳng vào lò, mà Thiên Chúa còn mặc đẹp cho như thế, thì huống hồ là anh em… Cha anh em trên trời thừa biết anh em cần tất cả những thứ đó. Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho” (Mt 6, 27-30. 32-33). Lời dạy đó giúp ta phó thác vào Chúa, để Chúa định liệu và quang phòng tất cả nơi ta theo thánh ý Chúa. Một khi đã ngã mình vào tay Chúa trong phó thác, bình an của Chúa sẽ theo ta mãi mãi.

Hãy nhớ, Chúa Kitô không hủy bỏ thánh giá nơi cuộc đời con người, nhưng Người cùng với con người vác thánh giá. Con Thiên Chúa không xóa bỏ đau khổ gậm nhấm con người, nhưng Người lại ban cho họ sức mạnh để vượt lên những đau khổ. Chúng ta sẽ có thánh giá. Và chúng ta cũng sẽ luôn có Chúa nơi cuộc đời mình. Chỉ cần ta phó thác vào Chúa để đón lấy bình an của Chúa là đủ.

Vậy, chúng ta hãy cảm tạ Chúa, vì Chúa luôn chăm sóc ta. Và bình an của Chúa, Chúa vẫn ban tràn đầy trên từng người chúng ta:

“Lạy Đức Chúa là Vua, con xin cảm tạ Ngài, ca ngợi Ngài là Thiên Chúa, Đấng cứu độ con. Con cảm tạ danh Ngài.

Nhờ uy danh cao cả, và chiếu theo lòng lân tuất vô biên của Ngài, Ngài đã giải thoát con khỏi những kẻ rình cắn xé con, chực nuốt trửng, khỏi tay những kẻ tìm hại mạng sống con, khỏi bao khốn quẫn con hứng chịu.

Ngài đã đoái nghe lời con cầu khẩn, vì đã cứu con khỏi diệt vong, và giải thoát con khỏi thời tai hoạ. Bởi thế, con xin cảm tạ và ca ngợi Ngài, và xin chúc tụng danh Đức Chúa” (Hc 51, 1.3.11-12).

Thứ hai ngày 13.5.2013

Lm. JB NGUYỄN MINH HÙNG

CHO VÀ NHẬN


CHO VÀ NHẬN
( Hình ảnh Yahoo)

http://lh6.ggpht.com/-L9AFidrFS54/UYSBoCZRZCI/AAAAAAAApN4/PaL6LIb1R0E/s1600-h/old%2520pair%2520of%2520shoes%255B3%255D.jpg
Một hôm, một sinh viên trẻ có dịp  dạo chơi cùng giáo sư của mình. Vị giáo sư này vẫn thường được các sinh viên gọi thân mật là “người bạn của sinh viên” vì sự thân thiện và tốt bụng của ông đối với họ.
Trên đường đi, hai người chợt thấy một đôi giày cũ nằm ở giữa đường. Họ cho rằng đó là đôi giày của một nông dân nghèo làm việc ở  cánh đồng gần bên, và  người ấy đang chuẩn bị kết thúc ngày làm việc của mình.
Anh sinh viên quay sang nói với vị giáo sư: “Chúng ta hãy thử trêu chọc người nông dân xem sao. Em sẽ giấu đôi giày của ông ta rồi thầy và em cùng trốn vào sau những bụi cây kia để xem thái độ ông ta ra sao khi thấy bị mất giày.”
Vị giáo sư ngăn lại: “Này, anh bạn trẻ, chúng ta đừng bao giờ đem những người nghèo ra mà trêu chọc để mua vui cho bản thân. Nhưng em là một sinh viên khá giả, em có thể tìm cho mình một niềm vui lớn hơn nhiều nhờ vào người nông dân này đấy. Em hãv đặt một đồng tiền vào trong mỗi chiếc giày và chờ xem phản ứng ông ta ra sao.”
Người sinh viên làm như lời vị giáo sư chỉ dẫn, sau đó cả hai cùng trốn vào sau bụi cây gần đó.
Chẳng mấy chốc người nông dân đã xong việc và băng qua cánh đồng đến nơi đặt giày và áo khoác của mình. Vừa mặc áo khoác vừa xỏ chân vào một chiếc giày, bác nông dân bỗng cảm thấy có vật gì cứng cứng bên trong. Ông ta rút chân ra, cầm gìầy lên xem thì đó là một đồng tiền.

http://lh5.ggpht.com/-VIPIaE_fBWs/UYSBpNfsp0I/AAAAAAAApOI/_SVAhYOP7Zo/s1600-h/A%2520COIN%255B4%255D.jpg

Sự kinh ngạc bàng hoàng hiện rõ trên gương mặt ông. Ông ta chăm chú nhìn đồng tiền, lật hai mặt đồng tiền qua lại và ngắm nhìn thật kỹ. Rồi ông nhìn khắp xung quanh nhưng chẳng thấy ai. Lúc bấy giờ ông bỏ đồng tiền vào túi, và tiếp tục xỏ chân vào chiếc giày kia. Sự ngạc nhiên của ông dường như được nhân lên gấp bội, khi ông tìm thấy đồng tiền thứ hai bên trong chiếc giày. Với cảm xúc tràn ngập trong lòng, người nông dân quì xuống, ngước mặt lên trời và đọc to lời cảm tạ chân thành của mình. Ông bày tỏ sự cảm tạ đối với bàn tay vô hình nhưng hào phóng đã đem lại một món quà đúng lúc, cứu giúp gia đình ông khỏi cảnh túng quẫn người vợ bệnh tật không ai chăm sóc và đàn con đang thiếu ăn.
Anh sinh viên lặng người đi vì xúc động, nước mắt giàn giụa. Vị giáo sư lên tiếng: “Bây giờ em có cảm thấy vui hơn lúc trước nếu như em đem ông ta ra làm trò đùa không?” Người thanh niên trả lời: “Giáo sư đã dạy cho em một bài học mà em sẽ không bao giờ quên. Đến bây giờ em mới hiểu được ý nghĩa thật sự của câu nói mà trước đây em không hiểu: “Cho đi là hạnh phúc hơn nhận về”.

CÁM ƠN CUỘC SỐNG

http://lh3.ggpht.com/-PpCq3sfqOgk/UYSBp2vDIVI/AAAAAAAApOY/UOhkX5AIKDE/s1600-h/A%2520%2520HOMELESS%255B3%255D.jpg

*Nếu bạn thấy đêm nay khó ngủ – Cứ nghĩ đến những kẻ không nhà chẳng nệm ấm chăn êm.
*Nếu bạn gặp một ngày tồi tệ nơi làm việc – Hãy nghĩ đến những người đã mấy tháng nay không tìm được việc làm.
*Nếu bạn chán nản vì mối quan hệ xấu đi – Hãy nghĩ tới những kẻ không bao giờ biết hương vị của thương yêu và được người yêu thương lại.
*Nếu bạn buồn phiền vì thêm một cuối tuần vô vị trôi qua – Hãy nghĩ tới những người phụ nữ quẫn bách, quần quật cả ngày, suốt tuần không nghĩ, chỉ mong kiếm được chút tiền còm nuôi mấy miệng ăn.
*Nếu bạn hỏng xe dọc đường, phải cuốc bộ vài dặm mới tìm ra được người giúp đở – Hãy nghĩ tới những ai liệt cả đôi chân, luôn khao khát được bước đi như bạn.

http://lh6.ggpht.com/-67sG5C73CIw/UYSBquHHS6I/AAAAAAAApOo/A135HJZ5Z4c/s1600-h/tomb%2520of%2520a%2520%2520young%2520girl%255B3%255D.jpg


*Nếu bạn cảm thây đời mình bị mất mát và băn khoăn về ý nghĩa kiếp người – Xin bạn hãy biết ơn cuộc sống vì có nhiều người đã không được sống hết tuổi trẻ của mình để có những trải nghiệm như bạn.
*Nếu bạn cảm thấy mình là nạn nhân của những ai hay cay nghiệt, dốt nát, nhỏ nhen, nghi kỵ – Hãy nhớ rằng việc đời có khi còn tệ hại hơn thế rất nhiều.

*Nếu bạn quyết định chuyển những lời này đến một người bạn yêu mến, có thể bạn giúp cho ai đó một ngày thanh thản nhẹ nhàng./.

Tại sao người Công giáo cầu nguyện với các Thánh ?

Tại sao người Công giáo cầu nguyện với các Thánh ?

Cũng như các Kitô hữu, người Công giáo tin có sự sống đời sau, nhưng học cũng tin rằng mối quan hệ của chúng ta với các Kitô hữu khác không chấm dứt vì sự chết. Người Công giáo cầu nguyện với các thánh là nhận thức sự hiệp thông này.

*  Người Công giáo có tin là các thánh nên được tôn kính?

*  Tại sao người Công giáo cầu nguyện với các thánh?

*  Có khác nhau giữa cầu nguyện và tôn thờ?

Trả lời:

1. Hiệp thông với các thánh.

Cũng như các Kitô hữu khác, người Công giáo tin có sự sống sau sự chết. Họ sống tốt và chết trong niềm tin vào Đức Kitô sẽ được chia sẻ sự phục sinh của Ngài, như Kinh thánh đã cho chúng ta biết.
Khi sống với nhau trên trái đất với cương vị Kitô hữu, chúng ta cùng hiệp thông hoặc liên kết với nhau. Nhưng sự hiệp thông đó không chấm dứt cả khi chúng ta chết. Chúng ta tin rằng mọi Kitô hữu trên trời, chư thánh, vẫn hiệp thông với chúng ta còn trên dương thế. Như vậy, khi chúng ta xin bạn bè hoặc gia đình cầu nguyện cho chúng ta, chúng ta cũng có thể đến gần một vị thánh bằng lời cầu nguyện.

2. Sự khác nhau giữa cầu nguyện và tôn thờ.

Thật sai lầm khi nhiều Kitô hữu cho rằng người Công giáo không nên cầu nguyện với các thánh, chỉ nên cầu nguyện trực tiếp với Thiên Chúa. Một số người Công giáo phản ứng với cách phê bình này và tranh luận rằng chúng ta không cầu nguyện với các thánh mà cùng các thánh cầu nguyện.
Tuy nhiên, cả hai nhóm đều lẫn lộn với cầu nguyện và tôn thờ. Tôn thờ thực sự (ngược với sự sùng kính hoặc tôn kính) chỉ thuộc về Thiên Chúa, và chúng ta không bao giờ tôn thờ con người hoặc bất kỳ một thụ tạo nào mà chỉ tôn thờ Thiên Chúa. Nhưng khi sự tôn thờ có dạng cầu nguyện, như trong Thánh lễ và các nghi thức phụng vụ khác của giáo hội, không phải tất cả mọi lời cầu nguyện là sự tôn thờ. Khi chúng ta cầu nguyện với các thánh, chúng ta chỉ xin các ngài giúp đỡ chúng ta, bằng cách cầu nguyện với Thiên Chúa thay chúng ta, hoặc tạ ơn các ngài đã nguyện giúp cầu thay.

TRẦM THIÊN THU

(Chuyển ngữ từ Catholicism.about.com)