TỪNG BƯỚC MỘT THÔI – Gm. Giuse Vũ Duy Thống

Gm. Giuse Vũ Duy Thống

 Nếu bạn đang mang tâm tình “xin cho con cùng bước đi với Ngài… từng bước một thôi”.

  1.     Chúa Giêsu bị kết án tử hình.

     Phiên tòa Lễ Vượt Qua năm ấy được diễn ra trong bầu khí sôi động khác thường với một nền công lý đã đến hồi suy sụp:

– Bên nguyên cáo là đám đông quần chúng vô trách nhiệm dưới sự lãnh đạo của các Thượng tế, miệng hò la sắt máu và tay vung lên đòi kết án tử hình.

– Bên bị cáo là một mình Chúa Giêsu đứng im lặng, đôi tay quyền uy ngày nào đã từng giải thoát bao người cùng khổ, giờ đây bị chốt chặt dưới vòng dây pháp luật phàm trần.

– Quan tòa là một người ngoại đạo, làm việc chẳng nhằm phục vụ cho ai ngoài lợi lộc cho bản thân.

– Và tội danh rốt cuộc chỉ là một điều vu cáo với những bằng chứng ngụy tạo lấy thịt đè người.

     Vì kiêu ngạo, con người đã kết án Thiên Chúa, đã chối bỏ sự hiện diện của chân lý để chạy theo con đường lầm lạc và đã khước từ tình thương để lao đầu vào đêm tối của hận thù chết chóc.

     Lạy Chúa, tổ tông chúng con khi xưa chỉ vì kiêu căng nên đã bị loại ra khỏi hạnh phúc địa đàng, và hôm nay tới lần chúng con cũng thường tự phụ gạt bỏ Chúa ra ngoài cuộc sống. Xin Chúa cho chúng con được thật lòng sám hối, và tìm lại bản chất con người mình trong cuộc khổ nạn của Chúa.

 2: Chúa Giêsu vác Thánh giá.

     Theo luật Rôma, tội nhân bị khép án tử hình phải tự mình vác lấy Thập giá tới nơi thi hành bản án. Không ngoài thông lệ ấy, Chúa Giêsu đã nhận lấy Thập giá và Người lầm lũi dò bước trước mắt những kẻ kết án mình. Nhìn từ góc độ pháp lý, Thập giá được xem là một sáng kiến lạ lùng và tàn bạo của ngành tư pháp Rôma dành cho các tử tội, khi tòa án bắt phạm nhân phải vác lấy gánh nặng họ đã gây ra mà đi đến chỗ chết, như một kiểu đền bù công khai.

     Nhưng nhìn từ góc độ cứu chuộc, Thập giá lại là một sáng kiến yêu thương không thể hiểu được của Thiên Chúa dành cho con người, khi Ngài để cho Chúa Giêsu đón lấy lỗi lầm của cả nhân loại chất chồng theo năm tháng trên bờ vai cứu chuộc.

     Lạy Chúa, chia ly bao giờ cũng là lúc trao nhau những tình cảm thắm thiết nhất, thế nhưng, lúc Chúa ra đi, loài người chúng con lại ném vào Chúa những hận thù và oan nghiệt. Thập giá ngày xưa là gánh nặng con người dành cho Chúa, nhưng Thập giá ngày nay lại là quà tặng Chúa dành cho những ai yêu mến bước theo. Xin cho chúng con hiểu được ý nghĩa của Thập giá, và biết can đảm tiến bước theo Chúa mọi ngày trong đời chúng con.

  1. Chúa Giêsu ngã xuống đất lần thứ nhất.

     “Khốn cho ngươi, Giêrusalem, vì ngươi không biết giờ Thiên Chúa viếng thăm ngươi!”. Giêrusalem là thành thánh tế lễ cho Thiên Chúa, nhưng Giêrusalem cũng là thành phố đã chứng kiến bao cảnh tang thương phụ bạc. Ngày Chúa vào thành ngồi trên lưng lừa, dân chúng đã cầm lá phất phới hoan hô: “Vạn tuế con vua Đavít”; nhưng ngày Chúa ra khỏi thành oằn lưng dưới cây Thập tự, thì cũng đám đông dân chúng ấy lại vung tay nhục mạ: “Đem đi, đem đi, đóng đinh nó vào Thập giá!”.

    Giêrusalem phụ bạc, Thánh đô sững sờ. Yêu thương bỗng hóa hận thù, lòng người phút thoáng mây mù đổi thay! Chúa buồn rầu và Người ngã xuống đất lần thứ nhất: ngã xuống vì sự bất trung của dân chúng.

    Lạy Chúa, nhiều lần trong đời chúng con chỉ tìm an nghỉ, và chỉ thích dừng lại trong vinh quang ổn định, để rồi cố tình lẩn tránh hy sinh hoặc quên đi ý nghĩa của việc chối từ sự dễ dãi, bởi dễ dãi thường cũng đồng nghĩa với dễ chịu. Chúa vào thành Giêrusalem trong vinh quang ngày Lễ Lá, nhưng không dừng lại ở đó để làm vua, mà lại ra đi để chịu đau khổ đến ngã gục. Xin cho mỗi người chúng con khi suy niệm mầu nhiệm Thánh giá, cũng biết hy sinh và sống tinh thần từ bỏ mỗi ngày.

  1. Đức Mẹ gặp Chúa Giêsu vác Thánh giá.

      Không có biến cố quan trọng nào trong đời sống Chúa Giêsu lại vắng bóngMẹ Maria, từ những lúc vui tươi nhất của đêm Giáng sinh đến những phút thê lương nhất của chiều tử nạn. Mẹ có mặt trong âm thầm. Mẹ chứng kiến trong thinh lặng. Ghi nhận và suy tư. Hiệp thông và dâng hiến. Cõi lòng hòa chung nỗi niềm cứu chuộc của con mình.

     Mẹ nhìn theo Chúa không nói một lời, Chúa nhìn theo Mẹ chẳng nói một câu. Nhưng trong ánh mắt lặng lẽ gửi trao giờ phút ấy, xem ra đã chất chứa cả một sứ điệp nhiệm mầu. Đó là lúc tiếng “Xin vâng” của Mẹ năm xưa trong biến cố truyền tin gặp gỡ lời “Xin cho ý Cha nên trọn” của Chúa Giêsu hấp hối trong vườn Cây Dầu. Vì thế, đó là sứ điệp sinh động rướm máu và hiện thực đến độ không còn lời để nói ra.

     Lạy Mẹ Maria, cùng với Mẹ trên đường Thánh giá, chúng con muốn gặp Chúa, nhưng chúng con biết ánh mắt tâm hồn chúng con chưa thực sự an bình, chính vì thế, nhiều khi chúng con chỉ thấy ở đó “người tử tội trên đường thụ nạn” chứ không nhận ra Chúa là “Đấng Cứu Độ duy nhất”. Xin Mẹ giúp chúng con biết giữ cõi lòng tĩnh lặng, để trong mọi ngày sống, chúng con được gặp Chúa Giêsu, Đấng Cứu Độ cuộc đời chúng con.

  1. Ông Simon vác đỡ Thập giá cho Chúa.

     Thập giá trĩu nặng trên vai, Chúa yếu sức trên đường Tử Nạn. Vào chính lúc ấy, có một người đi làm về. Tên ông là Simon. Không biết tên ông theo nguyên ngữ Do Thái nghĩa là gì, chỉ biết rằng kể từ giây phút gặp gỡ Chúa Giêsu trên đường Thương Khó hôm đó, tên ông cũng đồng nghĩa với lòng trắc ẩn, lẽ cảm thông, tình thương người, tâm vị tha … Và kể từ lúc ông nhận vác đỡ Thập giá cho Chúa Giêsu trên đường Tử Nạn, đường ông đi không còn là đường về lại mái nhà xưa cay đắng nữa, mà đã trở thành đường lên đỉnh Thiên Sơn của miền cứu rỗi mở rộng cho hết mọi người.

     Thật thảm hại! Khi Chúa còn rao giảng công khai, biết bao người đã tới nghe lời chân lý và lãnh nhận hồng ân. Nhưng lúc gặp Chúa gặp cảnh khốn cùng, mấy ai đã đến giúp đỡ Người? Yêu thương đâu phải chỉ biết có nhận lãnh? Trái lại, yêu thương đòi buộc phải biết cho đi, như ông Simon đã cảm thông và cho Chúa những phút nghỉ ngơi quý giá sau một buổi làm việc mệt nhoài.

     Lạy Chúa, Chúa đã yêu thương chúng con đến hy sinh mạng sống. Xin ban cho chúng con trái tim biết nhạy cảm hơn trước những nhu cầu của người lân cận, và đôi tay quảng đại hơn trước nỗi khốn cùng của kẻ khác.

  1. Bà Vêrônica lau mặt cho Chúa.

     Trong những người hiện diện bên đường Khổ Nạn năm xưa của Chúa, người ta phân biệt được ba loại người: loại thứ nhất bám sát Chúa Giêsu hơn cả là đám đông quần chúng vô trách nhiệm hoặc những kẻ hiếu kỳ; loại thứ hai theo Chúa xa xa là những người thân cận như vài Tông đồ và các phụ nữ theo giúp Người từ Galilêa; và loại thứ ba là một số người thành tâm thiện chí có mặt rải rác đó đây trên mỗi chặng đường. Theo truyền thống, bà Vêrônica thuộc số những người thiện chí này.

     Phúc Âm không nhắc đến tên của bà và tuyệt nhiên cũng chẳng có một chỉ dẫn nào về việc ướt át nặng nề về nữ tính khi bà trao khăn cho Chúa Giêsu lau mặt. Tuy nhiên, được truyền thống giữ lại trên đường Thánh giá, bà Vêrônica là đại diện cho những kẻ không biết Chúa, nhưng cảm mến Người và mong làm vơi sầu muộn cho Người khi lau khô những giọt mồ hôi loang máu. Thương người sẽ gặp Chúa.

     Lạy Chúa, mỗi người chúng con đều biết giới luật trọng nhất là yêu thương, thế nhưng hằng ngày chúng con vẫn nhìn nỗi khổ của người hàng xóm với cặp mắt dửng dưng, và nghe niềm đau của người lân cận bằng trái tim băng giá. Xin Chúa thứ lỗi chúng con, và cho chúng con biết tìm gặp Chúa trong tình thân đối với tha nhân.

  1. Chúa Giê su ngã xuống đất lần thứ hai.

     Nếu sự bất trung của dân chúng đã làm Chúa quỵ gối, thì sự lạnh nhạt của các Tông đồ đã làm Chúa té nhào kiệt sức. Thật vậy, suốt ba năm đời công khai, Chúa Giêsu đã sống thân tình với Nhóm Mười Hai, nhưng khi Người bị trao nộp, họ đều hoảng sợ bỏ trốn. Giuđa manh tâm bán Chúa với ba mươi đồng rẻ mạt. “Thà nó đừng sinh ra thì hơn!” Đến như Phêrô đức tin mạnh mẽ là thế, đã có lúc tín trung thề non hẹn biển, cũng đã nhẫn tâm chối Chúa đến lần thứ ba. “Tinh thần thì mau mắn, nhưng xác thịt thì yếu đuối”.

     Và Gioan “người môn đệ được Chúa yêu” thì xem ra lại chỉ theo Chúa xa xa. Còn các Tông đồ khác đã đành tâm rút lui vào bóng tối, sợ liên lụy vào mình.

     Thế đấy! Thất bại hoàn toàn. Nhóm cận thân đã bỏ Chúa một mình. Thế đấy! Phá sản trắng tay. Chúa Cha ở xa bỏ Người đã đành, Nhóm Mười Hai tưởng là ở gần cũng bỏ Người trốn xa. Nghe chao nghiêng Thập giá, Chúa ngã xuống đất lần thứ hai: ngã cho các Tông đồ có lần được trỗi dậy.

     Lạy Chúa, là người Công Giáo, chúng con được hạnh phúc biết Chúa, nhưng có khi chính chúng con lại là những người phản bội làm buồn lòng Chúa hơn cả. Xin cho chúng con biết cương quyết trỗi dậy sau mỗi lần vấp ngã lìa xa Chúa.

  1. Chúa Giêsu yên ủi các phụ nữ.

     Trước khi tới Núi Sọ, tại một góc đường hẹp, một số phụ nữ Giêrusalem khóc lóc đợi chờ Chúa đi qua. Thật khôi hài! Khi Chúa còn công khai giảng dạy trên đường sứ vụ, người ta tìm mọi cách để ám hại Chúa, nào là bỏ vạ cáo gian, nào là vặn vẹo cạnh khóe, nào là gài bẫy giăng mưu, nào là kết án khử trừ; nhưng khi Chúa như “con chiên hiền lành” được thật sự trao cho người ta đem đi giết, thì họ mới bàng hoàng tỉnh mộng. Giết Chúa là một mất mát quá lớn, và bởi thấy mất mát nên mới khóc lóc tiếc thương.

     Tiếng khóc ấy bên ngoài là nỗi cảm thương Chúa chịu khổ hình, như thương người vô tội bị hàm oan, như thương bậc chính nhân bị đem đi hành quyết; nhưng tận trong cõi lòng sâu thẳm, tiếng khóc ấy là sự nức nở và tức tưởi tiếc nuối nguồn ân phúc vừa đánh mất. Thành ra, tiếng khóc thương bỗng thành tiếng khóc than. Nước mắt khóc thương Chúa chịu khổ nạn lại vỡ thành nước mắt khóc than cho lầm lỗi của mình.

     Lạy Chúa, suy niệm đường Thánh giá hôm nay, xin cho chúng con biết tê tái cõi lòng khóc cho những tháng ngày đi hoang xa lìa Chúa, và than cho một quá khứ trót dại lỗi lầm, để rồi chúng con được tìm lại Chúa trong giọt lệ ăn năn.

  1. Chúa Giêsu ngã xuống đất lần thứ ba.

     Nếu tội là khước từ tình yêu của Chúa thì phạm tội là xúc phạm đến chính Đấng là Tình Yêu. Bởi Đấng là Tình Yêu đã yêu thương nhân loại đến cùng, đã cho đi tất cả không giữ lại điều gì, nên con người một khi khước từ tình yêu của Chúa, không những đã làm cản trở ơn cứu độ phát huy nơi bản thân mình, mà còn làm cản trở ơn cứu độ phát triển cho người khác nữa.

     Thập giá trở nên trĩu nặng, vì kéo theo tội lỗi nhân loại chất chứa từ bao thế kỷ. “Không biết khi Con Người đến liệu còn gặp thấy niềm tin trên mặt đất nữa không?” Chúa rùng mình đau khổ và Người ngã xuống đất lần thứ ba: ngã cho các tội nhân được tìm về ơn tha thứ.

     Lạy Chúa, đường Thánh giá Chúa đi năm xưa làm bằng đớn đau thể xác và sầu muộn tinh thần. Bước chân Chúa trải dài bằng hy sinh nhẫn nhục. Vòng tay Chúa ghì chặt bằng tha thứ khoan dung. Ánh mắt Chúa ngước lên bằng hao mòn vâng phục. Và trái tim Chúa nhịp đập bằng yêu mến xót thương. Xin Chúa cho chúng con mỗi khi ngã quỵ vì đau khổ, vì yếu đuối, biết hướng nhìn lên Thánh giá Chúa và trỗi dậy trong niềm tin vào tình thương của Chúa bao dung ngàn đời.

  1. Quân lính lột áo Chúa Giêsu.

     Trang phục dùng để che thân trong đời sống cá nhân và đồng thời cũng là một hình thức điểm trang trong đời sống xã hội. Trang phục không làm nên nhân cách, nhưng một phần nào đó cũng biểu lộ nhân cách. Trang phục chẳng thể đồng hóa với đời sống con người như “chiếc áo không làm nên thầy tu”, nhưng trang phục cũng nói lên chút gì gần gũi với phẩm giá. Khi Chúa Giêsu chịu tước lột hết trang phục, thì có nghĩa là Người đã tự nguyện từ bỏ tất cả phẩm giá vốn có, để chỉ nhận lấy thân phận trần trụi khốn cùng của con người tội lỗi mà Ađam ngày nào đã để lại sau khi ăn trái cấm địa đàng.

     “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân phận nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự …” (Pl 2, 6-8).

     Lạy Chúa, Chúa đã từ bỏ vinh quang để mặc lấy nhân tính yếu hèn của chúng con. Xin cho chúng con ngay từ bây giờ biết sống mầu nhiệm Vượt Qua, nghĩa là biết từ bỏ chính mình, vác Thập giá mình mà đi theo Chúa để hy vọng cũng được thông phần vinh quang với Chúa mai sau.

  1. Chúa Giêsu chịu đóng đinh.

     Thập giá là hai cây gỗ dọc ngang đặt trái chiều nhau: cây chiều dọc vươn lên tượng trưng cho thánh ý Thiên Chúa; cây chiều ngang trĩu nặng là hình ảnh ý riêng mỗi người; và trung điểm gặp gỡ giữa chiều dọc chiều ngang làm nên Thập giá chính là trái tim quảng đại. Mỗi khi phải từ bỏ ý riêng để đón nhận và chu toàn thánh ý Chúa là Thập giá khổ đau đã xuất hiện, và chính khi chịu đóng đinh vào Thập giá là lúc quay quắt nhất để diễn tả về một tình yêu tuyệt vời mang màu cứu độ. Yêu là đóng đinh.

     Như vậy, Thập giá trước hết mang lấy ý nghĩa của sự đau khổ, vì phải đấu tranh với ý riêng mình. Nhưng đau khổ mà thiếu yêu thương là đau khổ vô ích, cũng như yêu thương mà vắng bóng đau khổ chỉ là yêu thương giả hiệu, nên cuối cùng khi đã chiến thắng chọn theo thánh ý Chúa, Thập giá bỗng trở thành dấu chỉ đong đầy ý nghĩa yêu thương.

     Lạy Chúa, Chúa đã chịu đóng đinh vào Thập giá và đã chịu đau khổ chỉ vì yêu thương, Chúa đã đánh đổi tình thương bao la của Chúa để nhận lấy niềm đau cùng cực của cả nhân loại. Chúng con cảm tạ Chúa. Xin cho chúng con biết say mê Thánh giá Chúa và sống đời Tử Nạn mỗi ngày hơn.

  1. Chúa Giêsu chết trên Thánh giá.

     “Lạy Cha, con phó linh hồn trong tay Cha”. Chúa Giêsu nói lời phó dâng và Người trút hơi thở cuối cùng. Màn trong Đền Thờ xé ra làm đôi. Giao Ước cũ đã hết hạn, Giao Ước mới đã khởi đầu. Viên sĩ quan chứng kiến cuộc Tử Nạn của Chúa đã tin nhận Người là Đấng Công Chính, dân chúng tham gia cũng ra về đấm ngực ăn năn. Như vậy, ngay khi Chúa Giêsu vừa tắt thở, Thập giá đã tràn căng sức mạnh cứu rỗi và từ đó nên nguồn mạch đức tin.

     “Khi nào Ta bị treo lên, Ta sẽ kéo mọi sự lên với Ta”. Sinh thời Chúa Giêsu đã có lần báo trước hiệu quả cứu độ của Thập giá, nhưng khi “giờ” Thập giá của Người đến, người ta mới thấy nghịch lý muôn đời của Tin mừng cứu rỗi: khôn ngoan biểu lộ qua điên dại; sức mạnh vươn lên từ yếu đuối; và sự sống hạnh phúc nẩy sinh từ những điều tưởng như mất mát chết chóc bi thương. Giáo Hội của những kẻ tin vào tình thương Thiên Chúa khởi nguồn từ đây.

     Lạy Chúa, chúng con hãnh diện vì được làm con Chúa, nhưng nhiều khi chúng con sống không hơn gì những kẻ không có lòng tin. Xin cho chúng con, sau khi đã tham dự cử hành mầu nhiệm Vượt Qua của Chúa, cũng biết sống xứng đáng là những tín hữu trung thành, và xin cho Nước Chúa mỗi ngày một rộng lan.

  1. Tháo xác Chúa Giêsu khỏi Thập giá.

     Trời đã xế chiều. Hôm đó lại là ngày chuẩn bị, áp ngày Sabat, nên không có cách lựa chọn nào khác, Giuse Arimathia vội vã tháo xác Chúa Giêsu xuống và trao cho Mẹ Maria chiêm ngắm lần cuối cùng. Còn gì nữa đâu, biết bao khổ sầu. Lưỡi gươm cụ già Simêon tiên báo ba mươi năm trước giờ đây đã thực sự ứng nghiệm đâm nát cõi lòng. Mẹ nghẹn ngào ôm xác người con một thân yêu với những vết thương còn mở rộng và ngất lịm đón nhận nhành lá tử đạo dưới chân Thập tự.

     Đó là cảnh tượng não nùng đã làm nên nguyên mẫu lạ lùng cho tất cả những ai tin tưởng phó thác trọn vẹn vào tình thương của Thiên Chúa. “Đức Maria: kẻ đã tin”. Giữa lúc đời đen tối nhất, khi con mình đã chết, khi ánh sáng lời hứa có vẻ như tắt ngấm, và khi Thiên Chúa làm như cũng bỏ rơi Đấng Thiên Sai, thì Đức Maria vẫn đứng vững. Âm thầm đón nhận và can đảm tin yêu.

      Lạy Mẹ, chứng kiến cái chết của con mình, Mẹ đã đau khổ thật nhiều. Tấm lòng Mẹ tan nát. Niềm tin Mẹ kiên định. Mẹ hiệp thông cứu chuộc. Xin Mẹ giúp chúng con, đang khi mang trong mình Thập giá và thương tích của Chúa Kitô, cũng biết thông phần đau khổ với Người, để mai sau khi vinh quang Người tỏ hiện, chúng con cũng sẽ được hỷ hoan cùng người.

  1. Táng xác Chúa Giêsu trong huyệt đá.

      Một hòn đá lớn che lấp cửa hang. Thế là hết! Bóng tối bao trùm tất cả: lòng mồ Chúa cũng như lòng các Tông đồ. Bóng tối dường như nói lên khía cạnh bi quan của thảm kịch Vượt Qua: Vua Sự Sống đã tử trận và bị chôn vùi giữa lòng đá tưởng chừng mất hút trong thời gian biền biệt. Bóng tối cũng còn gợi lên nỗi thất vọng ê chề của các Tông đồ: có người ngao ngán rút lui co cụm trong một thứ im lặng đầy lo âu bất trắc; có kẻ vỡ mộng buông xuôi trở về nghề cũ cho tháng ngày qua.

      Nhưng không! Bóng tối phải có một ý nghĩa lạc quan hơn. Đó là không còn là bóng đen mòn mỏi tuyệt vọng, mà đã trở thành bóng đêm canh thức đợi trông. Đó cũng chẳng phải là bóng đen rợn rùng kinh hãi, nhưng là một bóng đêm tin tưởng đợi chờ. Chính trong bóng đêm huyền nhiệm ấy, Chúa Giêsu đã âm thầm chuẩn bị Phục Sinh, để khi trỗi dậy từ cõi chết, Người làm bừng lên một sự sống mới xua tan đi mãi mãi bóng tối tử thần.

      Lạy Chúa, nhiều lần chúng con chạm trán vào những thử thách đức tin mịt mù dường như đêm tối. Xin cho chúng con biết âm thầm chiến đấu và vững dạ cậy trông, để trong bóng tối cam go ấy, chúng con chóng tìm lại được hình ảnh của Chúa in đậm nét trong tâm hồn. 

+ Gm. Giuse Vũ Duy Thống


 

SUY NIỆM VỀ CÁI CHẾT-Elisabeth Nguyễn

Elisabeth Nguyễn

Hãy nhớ rằng, cái chết không trì hoãn đâu và ngày hẹn của âm phủ, con nào có biết Hc 14,12)

 Không ai trong chúng ta biết được ngày chết và cái chết của mình như thế nào. Mỗi ngày sống của chúng ta là mỗi ngày đi dần đến cái chết, nhưng phần đông không ai nghĩ đến chúng cả.

 Con đừng sợ án chết. Hãy nhớ rằng: có những kẻ đã đi trước con, và sẽ có những người theo sau (Hc 41 3).

Sự chết dạy chúng ta sống như thế nào?

Trong đời sống, chúng ta nên thỉnh thoảng suy niệm về cái chết.

Một nhà tu đức khi suy niệm về cái chết đã thốt lên “cái chết của người già ở trước mặt, cái chết của người trẻ ở sau lưng

Niềm tin Kitô giáo giúp chúng ta tránh đam mê những hạnh phúc giả tạo ở đời này và thúc đẩy chúng ta hãy can đảm chịu đựng những đau khổ để kết hợp đau khổ với Đấng Kitô, và biết đến ích lợi của cuộc đời, phải đi qua đau khổ để vào vinh quang với Ngài.

Nếu có lúc con đau khổ xao xuyến, xin nhắc con nhớ rằng trong Vườn Dầu, Chúa đã buồn muốn chết được. Nếu có lúc con thấy bóng tối bủa vây con, xin nhắc con nhớ rằng: Trên Thập Giá, Chúa đã thốt lên: sao Cha bỏ con (Lời nguyện. Rabouni)

Suy nghĩ về cái chết không có nghĩa chúng ta phải buồn rầu, sợ hãi, hoặc ngã lòng.

Trái lại, khi suy niệm về cái chết, chúng ta sẽ sống một cách hiểu biết hơn về cuộc đời và từ bi nhân ái hơn, vì đó chính là luật của Tạo Hóa.

Như cành lá trên cây rậm rạp; lá rụng xuống lá lại mọc ra, thì các thế hệ người phàm cũng vậy: lớp kết thúc, lớp lại sinh ra (Huấn ca 14,18)

Mỗi khi gặp chuyện bực mình khó chịu mà gây gỗ, cãi nhau hay nóng giận với người khác thì được ích lợi gì?

Đau khổ, bệnh nạn thì nghĩ rằng đời sống rất ngắn, ai cũng sẽ chết. Đó là điều Đức Chúa quyết định cho hết mọi người phàm. Tại sao cưỡng lại điều Đấng Tối Cao đã muốn?

Dù người ta sống được mười năm, trăm năm, hay cả ngàn đi nữa, thì trong âm phủ, chẳng ai trách móc đâu (Hc 41, 4).

Vậy lo lắng, buồn rầu hoàn toàn không được gì mà sinh ra bất an trong tâm hồn.

Là Kitô hữu, hằng ngày cầu nguyện với Lời Chúa, giúp ta biết suy nghĩ sâu xa về sự sống, sự chết theo lời dạy của Chúa và Giáo Hội.

Hãy phó thác và tin tưởng trong tay Ngài. Tất cả đều là hồng ân Ngài ban.

Hãy thinh lặng lắng nghe tiếng nội tâm, để Chúa Thánh Thần hướng dẫn ta ý thức và tự kiểm soát lấy mình, không để những suy nghĩ lệch lạc lôi cuốn, ta sẽ cư xử với mọi người hòa ái hơn.

Điều này luôn luôn không phải dễ làm, nhưng khi ta cầu nguyện, suy niệm về cái chết, Chúa sẽ nhắc nhở mình về sự mong manh và ngắn ngủi của cuộc đời, ta sẽ tự chế và ăn nói với sự dịu dàng hơn, sẽ biết sống đẹp lòng Chúa hơn.

Chúng ta biết khi chết là lúc chúng ta về với Chúa và sẽ được sống lại với Ngài trong vinh quang thì chúng ta sẽ dễ dàng chấp nhân cái chết hơn.

Cái chết luôn bình đẳng cho tất cả mọi người, cho nên ta hãy chọn cách tốt nhất là sống theo Lời Chúa dạy, sống tỉnh thức, sống ý thức, sống yêu thương từng giây phút với hết sức lực, hết trí khôn của mình.

Hơn nữa, dù có lo hay không lo, tất cả chúng ta đều sẽ già và chết. Ta sẽ nhẫn nại hơn, sẽ bao dung hơn, tử tế hơn , dịu dàng hơn, dẽ dàng tha thứ hơn đối với bản thân ta và đối với người khác.

Cuộc đời thật sự hạnh phúc và có ý nghĩa hơn. Lòng thương yêu từ con tim nhân ái sẽ đâm chồi nở hoa, và khi cái chết đến chúng ta sẽ không có gì ân hận.

Lạy Chúa, xin Chúa cho con được chết một cách an bình, đừng đau đớn lâu ngày, nhưng Chúa cho con chết như thế nào tùy ý Chúa. Amen.

Elisabeth Nguyễn

From:   Ngoc Bich  & KimBang Nguyen


 

NGÀI KHÁT – Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

“Cho tôi xin chút nước!”.

“Ngài bắt đầu bằng cơn khát để khơi dậy khát khao; Ngài xin điều chính Ngài sẽ ban!” – Gioan Kim Khẩu.

Kính thưa Anh Chị em,

Bối cảnh Tin Mừng hôm nay là giữa trưa của một ngày chói chang – giờ thứ sáu. Bên bờ giếng Giacóp, Chúa Giêsu Kitô ngỏ lời xin chút nước với một phụ nữ ngoại giáo. Một lời xin rất người; nhưng từ cơn khát ấy, Ngài khơi dậy cơn khát nơi lòng người, xin chính điều Ngài sẽ ban. Một mầu nhiệm sâu xa dần lộ ra – ‘Ngài khát!’.

Người phụ nữ ấy đến giếng giữa trưa, có lẽ để tránh ánh mắt và lời xì xào của làng xóm. Nhưng chính lúc cô muốn ẩn mình, Đấng ngồi bên giếng lại mở lời và bắt đầu mở ra một cuộc gặp gỡ. Điều lạ không phải là người phụ nữ cần nước, khát nước, mà là Thiên Chúa khát con người. Đấng ban nước hằng sống lại bắt đầu bằng một cơn khát. Ngài xin một ngụm nước, nhưng thật ra đang mở một nguồn nước; Ngài chạm đến nỗi khát sâu hơn trong lòng con người: khát được nhìn nhận, khát được tha thứ, khát được sống lại từ những đổ vỡ của đời mình. “Cơn khát thể lý của Ngài bày tỏ cơn khát thần linh: Thiên Chúa khát linh hồn con người!” – Augustinô.

Rồi từng lớp đời của người phụ nữ được mở ra, không phải để kết án nhưng để được chữa lành. Khi sự thật được đặt dưới ánh sáng, điều kỳ lạ xảy ra: cô không còn chạy trốn; cô để lại vò nước, chạy vào thành và nói với mọi người “Đến mà xem!”. Một chuyển động rất lạ – từ người đi lấy nước, cô trở thành người mang nước cho người khác. Cô đến trong cô đơn, nhưng trở về với một sứ mạng. Một cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu Kitô đã đổi hướng cả cuộc đời. Cô bỏ lại chiếc vò, trở thành “người môn đệ thừa sai” – vì đã gặp chính Nguồn.

Hôm nay, không chỉ nghe câu chuyện của một phụ nữ, chúng ta còn nghe câu chuyện của đời mình. Mỗi người đều mang trong lòng một cơn khát: khát ý nghĩa, khát được yêu, khát vĩnh cửu, khát một nguồn nước không cạn. Và từ nơi sâu thẳm ấy, một lời vẫn đang vang lên: ‘Ngài khát!’ – khát gặp chúng ta, khát ở lại trong chúng ta, khát dẫn chúng ta đến nguồn nước hằng sống – chính Ngài. “Bên trong mỗi người luôn tồn tại một lỗ hổng hình Chúa!” – Blaise Pascal.

Anh Chị em,

“Cho tôi xin chút nước!” – đó không chỉ là cơn khát của một thân xác dưới nắng trưa. Cơn khát ấy đã vang lên mãi, và sẽ vang lên lần nữa vào giờ thứ sáu của Tuần Thánh, khi Con Thiên Chúa bị treo trên thập giá; Ngài sẽ thốt lên: “Ta khát!”. Khi ấy, giếng đã trở thành cây thập giá, và từ cạnh sườn bị đâm thâu, nước hằng sống tuôn trào cho thế gian. Từ cơn khát của Ngài, sự sống mới cho nhân loại được mở ra. Vì thế, Tin Mừng hôm nay mời chúng ta dừng lại, thôi chạy theo những cơn khát chóng qua của đời mình, để bắt đầu khát chính Đấng đang khát chúng ta! Và câu hỏi cuối cùng còn lại cho mỗi người là: Ngài khát chúng ta; còn chúng ta, chúng ta khát ai? “Ta khát phần rỗi các linh hồn!” – Faustina.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con hiểu được cơn khát của Ngài; để con thôi chạy theo những cơn khát của đời; và bắt đầu khát Chúa!”, Amen.

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

******************************************************

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT III MÙA CHAY, NĂM A

Mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.    Ga 4, 5-42

5 Khi ấy, Đức Giê-su đến một thành xứ Sa-ma-ri, tên là Xy-kha, gần thửa đất ông Gia-cóp đã cho con là ông Giu-se. 6 Ở đấy, có giếng của ông Gia-cóp. Người đi đường mỏi mệt, nên ngồi ngay xuống bờ giếng. Lúc đó vào khoảng mười hai giờ trưa.

7 Có một người phụ nữ Sa-ma-ri đến lấy nước. Đức Giê-su nói với người ấy : “Chị cho tôi xin chút nước uống !” 8 Lúc đó, các môn đệ của Người đã vào thành mua thức ăn. 9 Người phụ nữ Sa-ma-ri liền nói : “Ông là người Do-thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Sa-ma-ri, cho ông nước uống sao ?” Quả thế, người Do-thái không được giao thiệp với người Sa-ma-ri. 10 Đức Giê-su trả lời : “Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban, và ai là người nói với chị : ‘Cho tôi chút nước uống’, thì hẳn chị đã xin, và người ấy đã ban cho chị nước hằng sống.” 11 Chị ấy nói : “Thưa ông, ông không có gầu, mà giếng lại sâu. Vậy ông lấy đâu ra nước hằng sống ? 12 Chẳng lẽ ông lớn hơn tổ phụ chúng tôi là Gia-cóp, người đã cho chúng tôi giếng này ? Chính Người đã uống nước giếng này, cả con cháu và đàn gia súc của Người cũng vậy.” 13 Đức Giê-su trả lời : “Ai uống nước này, sẽ lại khát. 14 Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.”

15 Người phụ nữ nói với Đức Giê-su : “Thưa ông, xin ông cho tôi thứ nước ấy, để tôi hết khát và khỏi phải đến đây lấy nước.” 16 Người bảo chị ấy : “Chị hãy gọi chồng chị, rồi trở lại đây.” 17 Người phụ nữ đáp : “Tôi không có chồng.” Đức Giê-su bảo : “Chị nói : ‘Tôi không có chồng’ là phải, 18 vì chị đã năm đời chồng rồi, và người hiện đang sống với chị không phải là chồng chị. Chị đã nói đúng.” 19 Người phụ nữ nói với Người : “Thưa ông, tôi thấy ông thật là một ngôn sứ … 20 Cha ông chúng tôi đã thờ phượng Thiên Chúa trên núi này ; còn các ông lại bảo : Giê-ru-sa-lem mới chính là nơi phải thờ phượng Thiên Chúa.” 21 Đức Giê-su phán : “Này chị, hãy tin tôi : đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giê-ru-sa-lem. 22 Các người thờ Đấng các người không biết ; còn chúng tôi thờ Đấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ phát xuất từ dân Do-thái. 23 Nhưng giờ đã đến -và chính là lúc này đây- giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế. 24 Thiên Chúa là thần khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật.” 25 Người phụ nữ thưa : “Tôi biết Đấng Mê-si-a, gọi là Đức Ki-tô, sẽ đến. Khi Người đến, Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự.” 26 Đức Giê-su nói : “Đấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây.”

27 Vừa lúc đó, các môn đệ trở về. Các ông ngạc nhiên vì thấy Người nói chuyện với một phụ nữ. Tuy thế, không ai dám hỏi : “Thầy cần gì vậy ?” Hoặc “Thầy nói gì với chị ấy ?” 28 Người phụ nữ để vò nước lại, vào thành và nói với người ta : 29 “Đến mà xem : có một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Ông ấy không phải là Đấng Ki-tô sao ?” 30 Họ ra khỏi thành và đến gặp Người.

31 Trong khi đó, các môn đệ thưa với Người rằng : “Ráp-bi, xin mời Thầy dùng bữa.” 32 Người nói với các ông : “Thầy phải dùng một thứ lương thực mà anh em không biết.” 33 Các môn đệ mới hỏi nhau : “Đã có ai mang thức ăn đến cho Thầy rồi chăng ?” 34 Đức Giê-su nói với các ông : “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người. 35 Nào anh em chẳng nói : Còn bốn tháng nữa mới đến mùa gặt ? Nhưng này, Thầy bảo anh em : Ngước mắt lên mà xem, đồng lúa đã chín vàng đang chờ ngày gặt hái ! 36 Ai gặt thì lãnh tiền công và thu hoa lợi để được sống muôn đời, và như thế, cả người gieo lẫn kẻ gặt đều hớn hở vui mừng. 37 Thật vậy, câu tục ngữ “kẻ này gieo, người kia gặt” quả là đúng ! 38 Thầy sai anh em đi gặt những gì chính anh em đã không phải vất vả làm ra. Người khác đã làm lụng vất vả ; còn anh em, anh em được vào hưởng kết quả công lao của họ.”

39 Có nhiều người Sa-ma-ri trong thành đó đã tin vào Đức Giê-su, vì lời người phụ nữ làm chứng : ông ấy nói với tôi mọi việc tôi đã làm. 40 Vậy, khi đến gặp Người, dân Sa-ma-ri xin Người ở lại với họ, và Người đã ở lại đó hai ngày. 41 Số người tin vì lời Đức Giê-su nói còn đông hơn nữa. 42 Họ bảo người phụ nữ : “Không còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin. Quả thật, chính chúng tôi đã nghe và biết rằng Người thật là Đấng cứu độ trần gian.”


 

 Rất nhiều người nói rằng sống ở Việt Nam thoải mái hơn…

Tina Nguyen

 Rất nhiều người nói rằng sống ở Việt Nam thoải mái hơn. Nhịp sống dễ thở hơn. Không phải cày hai ba việc như ở Mỹ. Không phải cuối tuần lo nấu ăn cho cả tuần. Không phải tự mình gánh hết mọi chi phí, từ bảo hiểm đến thuế má.

Nếu tin rằng ở Việt Nam “sướng hơn” như vậy, thì tại sao mỗi lần nhắc đến “Việt kiều Mỹ” lại mặc định đó là người phải giàu, phải rộng rãi, phải chi trả?

Việt kiều, về bản chất, chỉ là người Việt sống và làm việc ở nước ngoài. Việt kiều Mỹ, Việt kiều Lào, Việt kiều Campuchia, Việt kiều Trung Quốc… đều là Việt kiều. Nhưng rất lạ, dường như chỉ có “Việt kiều Mỹ” mới bị đặt vào một khung kỳ vọng tài chính cao hơn.

Cũng là rời quê hương.

Cũng là sống xa gia đình.

Cũng là tự bươn chải nơi đất khách.

Vậy tại sao danh xưng giống nhau nhưng mức độ “phải cho” lại khác nhau?

Có phải vì hai chữ “Mỹ” gợi lên hình ảnh giàu có, nên tự động nâng chuẩn đòi hỏi? Và nếu vậy, đó là suy nghĩ dựa trên thực tế, hay dựa trên tưởng tượng?

Sự thật là, sống ở Mỹ không đồng nghĩa với giàu có. Ở đó, thu nhập đi kèm với chi phí rất cao. Tiền nhà, tiền xe, bảo hiểm, thuế, sinh hoạt, tất cả đều tính bằng đô và đều phải trả đúng hạn. Không ai được miễn trừ vì mình là người nhập cư.

Việt kiều Mỹ cũng đi làm thuê, cũng lao động như bao người. Có người làm hãng, có người làm nail, có người làm nhà hàng, có người làm kỹ thuật. Họ có thể kiếm được nhiều hơn mức trung bình ở Việt Nam, nhưng đồng thời cũng phải chi trả nhiều hơn rất nhiều.

Quan trọng hơn, họ đánh đổi bằng khoảng cách.

Khoảng cách với gia đình.

Khoảng cách với ngôn ngữ quen thuộc.

Khoảng cách với những mối quan hệ tự nhiên và ấm áp ở quê nhà.

Trong khi đó, người ở trong nước, dù thu nhập thế nào, vẫn có lợi thế về sự gần gũi, về mạng lưới tình thân, về chỗ dựa tinh thần.

Vậy thì việc mặc định rằng “Việt kiều Mỹ phải sộp hơn” thực chất dựa trên cơ sở nào? Chỉ vì đồng tiền họ kiếm được mang mệnh giá khác?

Nếu thật sự tin rằng sống ở Việt Nam thoải mái và nhẹ nhàng hơn, thì logic sẽ là: mỗi người chọn môi trường phù hợp với mình và tự chịu trách nhiệm cho lựa chọn đó. Không có lý do gì để xem người ở xa là nguồn lực tài chính đương nhiên.

Việt kiều gửi tiền về là tình cảm, không phải nghĩa vụ.

Không gửi cũng không phải sai.

Một xã hội văn minh không đo giá trị con người bằng quốc gia họ đang sống, càng không đo bằng số tiền họ có thể cho.

Danh xưng “Việt kiều” không nên trở thành một mức thuế cảm xúc.

Ai cũng phải lao động để có thu nhập. Ai cũng đánh đổi một phần cuộc sống của mình cho sự lựa chọn đó. Sự khác biệt chỉ là họ đang sống ở đâu, không phải họ có trách nhiệm gánh thêm kỳ vọng cho người khác.

Tôn trọng lựa chọn của nhau, và tôn trọng giá trị lao động của nhau, có lẽ là cách ứng xử hợp lý nhất


 

ÂM THẦM CHIẾM VƯỜN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Nước Thiên Chúa, Người sẽ lấy đi không cho các ông nữa!”.

“Chủ nghĩa giáo sĩ trị dẫn đến việc hiểu thừa tác vụ như một chức năng quyền lực!” – Phanxicô.

Kính thưa Anh Chị em,

Cảnh báo của Đức Phanxicô soi sáng dụ ngôn Tin Mừng hôm nay và đặt ra một câu hỏi: trong vườn nho của Chúa, chúng ta đang phục vụ Ngài hay đang ‘âm thầm chiếm vườn?’.

Sống lâu trong vườn nho được trao, các tá điền quên rằng vườn nho có Chủ; từ người làm thuê, họ dần dần cư xử như ông chủ. Khi người của Chủ đến thu hoa lợi, họ coi đó là sự xâm phạm. Câu chuyện kết thúc trong bạo lực: các đầy tớ bị đánh đập, người con bị giết. Nhưng bi kịch không bắt đầu bằng bạo lực; nó bắt đầu bằng một ý nghĩ rất âm thầm: vườn nho này có thể là của chúng ta. Thế mà “Giáo Hội không phải của chúng ta, nhưng của Chúa Kitô!” – Bênêđictô XVI.

Cũng thế, chúng ta có thể rơi vào cám dỗ ấy. Khi phục vụ lâu năm, quen với vai trò và sự tín nhiệm, chúng ta dễ coi điều được trao phó như của mình. Khi đó, dẫu vẫn làm mọi sự, chúng ta tìm vinh quang cho mình mà không còn tìm vinh quang Chúa. Thế là, rất âm thầm, chúng ta bắt đầu ‘chiếm vườn’. “Thẩm quyền thực sự là để quên mình phục vụ, không phải để bóc lột người khác!” – Phanxicô.

Việc “chiếm vườn” hiếm khi bắt đầu bằng những quyết định lớn; nó khởi đi từ những điều rất nhỏ: khi chúng ta thích được khen hơn là trung thành; giữ ảnh hưởng hơn là phục vụ; bảo vệ vị trí hơn là bảo vệ sự thật. Khi đó, vườn nho của Chúa dần dần trở thành khu vườn của chúng ta. Vì thế Chúa Giêsu đã rất nghiêm khắc: “Nước Thiên Chúa sẽ bị lấy đi!”. Không phải vì Thiên Chúa bất công, nhưng vì vườn nho không thể sinh hoa trái khi tá điền quên mất Chủ; nơi nào con người tìm mình, nơi đó Nước Trời bắt đầu cằn cỗi.

Thế nhưng, lịch sử cứu độ cho thấy: khi con người toan tính chiếm đoạt, Thiên Chúa vẫn âm thầm thực hiện kế hoạch của Ngài. Các anh của Giuse đã bán em sang Ai Cập, tưởng rằng họ đã dập tắt một giấc mơ – bài đọc một. Nhưng chính con đường ấy lại trở thành lối Thiên Chúa dùng để cứu cả dòng họ Giacóp khỏi nạn đói. Thánh Vịnh đáp ca thật thâm trầm, “Hãy nhớ lại những kỳ công Chúa thực hiện!”.

Anh Chị em,

Chúa Kitô là Người Con bị giết ngoài vườn nho. Ngài không đến để chiếm đoạt, nhưng để trao ban; không giữ vườn nho cho mình, nhưng trao mạng sống để vườn sinh hoa trái. Trên thập giá, Ngài bày tỏ một logic khác: ai giữ mình sẽ mất; ai dám quên mình sẽ làm cho vườn nho sinh hoa trái. Vì thế, điều quan trọng không phải là làm bao nhiêu, nhưng là làm cho ai. Nếu phục vụ để Thiên Chúa được biết và được yêu hơn, vườn nho vẫn là của Ngài; còn nếu phục vụ để mình được thấy và được nhắc đến, rất có thể chúng ta đang ‘âm thầm chiếm vườn’. “Cám dỗ quyền lực mạnh nhất khi sự thân mật với Thiên Chúa yếu nhất!” – Henri Nouwen.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin giữ con khỏi trở thành kẻ cắp; dạy con nhớ rằng con chỉ là tá điền được Chúa yêu thương. Vườn nho là của Chúa, không phải của con!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

****************************

Lời Chúa Thứ Sáu Tuần II Mùa Chay

Đứa thừa tự đây rồi ! Nào ta giết quách nó đi.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 21,33-43.45-46

33 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các thượng tế và kỳ mục trong dân rằng : “Các ông hãy nghe dụ ngôn sau đây : Có chủ nhà kia trồng được một vườn nho ; chung quanh vườn, ông rào giậu ; trong vườn, ông khoét bồn đạp nho, và xây một tháp canh. Ông cho tá điền canh tác, rồi trẩy đi xa. 34 Gần đến mùa hái nho, ông sai đầy tớ đến gặp các tá điền để thu hoa lợi. 35 Bọn tá điền bắt các đầy tớ ông : chúng đánh người này, giết người kia, ném đá người nọ. 36 Ông lại sai một số đầy tớ khác đông hơn trước ; nhưng bọn tá điền cũng xử với họ y như vậy. 37 Sau cùng, ông sai con trai mình đến gặp chúng, vì nghĩ rằng : ‘Chúng sẽ nể con ta.’ 38 Nhưng bọn tá điền vừa thấy người con, thì bảo nhau : ‘Đứa thừa tự đây rồi ! Nào ta giết quách nó đi, và đoạt lấy gia tài nó !’ 39 Thế là chúng bắt lấy cậu, tống ra khỏi vườn nho và giết đi. 40 Vậy khi ông chủ vườn nho đến, ông sẽ làm gì bọn tá điền kia ?” 41 Họ đáp : “Ác giả ác báo, ông sẽ tru diệt bọn chúng và cho các tá điền khác canh tác vườn nho, để cứ đúng mùa, họ nộp hoa lợi cho ông.” 42 Đức Giê-su bảo họ : “Kinh Thánh có câu : ‘Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường. Đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta.’ Các ông chưa bao giờ đọc câu này sao ?

43 Bởi đó, tôi nói cho các ông hay : Nước Thiên Chúa, Người sẽ lấy đi không cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi.”

45 Nghe những dụ ngôn Người kể, các thượng tế và người Pha-ri-sêu hiểu là Người nói về họ. 46 Họ tìm cách bắt Người, nhưng lại sợ dân chúng, vì dân chúng cho Người là một ngôn sứ. 


 

ĐỪNG TUNG TIN VU KHỐNG NGƯỜI KHÁC- Anmai CSsR

Anmai CSsR

 Trong dòng chảy cuồn cuộn của xã hội hiện đại, nơi thông tin có thể đi vòng quanh thế giới chỉ sau một cú nhấp chuột, chúng ta thường quên mất sức nặng khủng khiếp của những lời mình thốt ra. Lời nói, vốn là món quà quý giá mà tạo hóa ban tặng để con người thấu hiểu và yêu thương nhau, trớ trêu thay, lại thường bị biến thành thứ vũ khí tàn độc nhất để hủy hoại đồng loại. Việc tung tin đồn và vu khống người khác không chỉ là một hành vi thiếu văn hóa, mà đó còn là một tội ác âm thầm, gieo rắc những nỗi đau không thể chữa lành và phá hủy những cấu trúc nền tảng nhất của xã hội. Những người tham gia vào việc lan truyền tin đồn thường gây ra những tai hại kinh khủng hơn rất nhiều so với những gì họ có thể tưởng tượng được trong trí óc hạn hẹp của mình. Ngay cả khi động cơ của họ không xuất phát từ sự ác ý lộ liễu hay lòng kiêu ngạo ngút trời, thì sự vô trách nhiệm trong lời nói vẫn đủ sức tạo ra những cơn địa chấn làm sụp đổ danh dự của một con người.

Nguồn cơn của sự nói xấu thường bắt rễ sâu xa từ lòng kiêu ngạo – một căn bệnh của linh hồn khiến con người luôn khao khát được đứng cao hơn kẻ khác. Có một nghịch lý đau đớn là rất nhiều người tin rằng, bằng cách hạ thấp giá trị của người bên cạnh, họ sẽ tự nhiên nâng cao giá trị của chính mình. Họ biến cuộc đời thành một bàn cân lệch lạc, nơi mà họ cố gắng chất đầy những lời chỉ trích, chê bai lên đĩa cân của người khác để làm cho đĩa cân của bản thân mình trông có vẻ nhẹ nhàng và thanh thoát hơn. Những kẻ kiêu ngạo này luôn muốn tận dụng tối đa những phẩm chất tốt đẹp mà họ tự cho là mình sở hữu, tự phong mình thành những quan tòa đạo đức, đứng trên bục cao để phán xét thế gian. Trong thế giới quan hạn hẹp của họ, mọi điều họ nói hay làm đều được mặc định là tốt lành, thánh thiện, còn mọi hành động của người khác đều bị soi xét dưới lăng kính sai trái và tội lỗi. Họ không nhận ra rằng, vẻ đẹp thực sự của một tâm hồn không bao giờ được xây dựng trên đống tro tàn của danh dự người khác.

Tuy nhiên, không phải lúc nào những lời vu khống cũng đến từ sự thù hằn chủ đích. Thực tế cho thấy, phần lớn những cuộc trò chuyện ác ý lại được thực hiện bởi những người vô trách nhiệm – những kẻ chỉ đơn giản là muốn nói cho thỏa miệng mà không bao giờ cảm thấy cần phải kiểm chứng xem điều mình đang nói là đúng hay sai. Đối với họ, sự thật là một thứ gì đó quá xa xỉ và phiền phức, trong khi sự tò mò và thói ngồi lê đôi mách lại mang đến một cảm giác hưng phấn nhất thời. Họ coi việc bàn tán về đời tư của người khác như một hình thức giải trí rẻ tiền, một cách để lấp đầy khoảng trống của sự rỗi hơi. Mặc dù chúng ta có thể nói rằng những người này phạm tội nhẹ hơn những kẻ vu khống vì lòng ghen ghét hay trả thù, nhưng về mặt hệ quả, họ vẫn không thể thoát khỏi tội lỗi và trách nhiệm đạo đức. Dù động cơ là gì, dù là vô tình hay hữu ý, việc làm ô danh người lân cận vẫn là một hành động đi ngược lại với lương tâm và đạo lý làm người.

Sâu thẳm trong bản chất, tội lan truyền tin đồn bao hàm tất cả những gì xấu xa và ác độc nhất mà một con người có thể thực hiện đối với đồng loại. Nó không đơn thuần là một vài lời nói gió bay, mà là một sự tổng hòa của những chất độc tinh thần mạnh nhất. Đó là sự hèn hạ của tính phù phiếm, khi con người sẵn sàng bán rẻ sự thật để đổi lấy một vài giây phút được là trung tâm của sự chú ý. Đó là nọc độc của sự ghen tị, thứ axit ăn mòn mọi thiện chí và biến những thành công của người khác thành nỗi đau của chính mình. Đó là sự cay đắng của giận dữ và thù hận ác ý, vốn luôn tìm cách phun ra những lời lẽ sắc lẹm để đâm thấu tâm can đối phương. Hơn hết, nó thể hiện một tính võ đoán và vô trách nhiệm đến mức kinh ngạc, một trạng thái tâm linh nghèo nàn không xứng đáng với phẩm giá của một con người, nhất là với những ai tự nhận mình sống theo niềm tin tôn giáo hay các giá trị đạo đức cao đẹp.

Hãy nhìn vào những gì mà tin đồn đã gây ra cho các mối quan hệ nhân sinh quanh ta. Chẳng phải việc lan truyền tin đồn chính là hạt giống xấu xí đã gieo rắc hầu hết mọi mâu thuẫn và bất hòa trong xã hội này sao? Nó có sức mạnh kinh hồn để phá vỡ những tình bạn gắn bó hàng thập kỷ chỉ trong một buổi chiều. Nó dựng lên những bức tường ngăn cách, cản trở những kẻ đang thù nghịch tìm thấy con đường hòa giải và tha thứ. Khi một lời nói xấu được tung ra, nó giống như một lọ mực đen đổ vào chậu nước trong, làm vẩn đục mọi nỗ lực kết nối giữa người với người. Những cuộc cãi vã trở nên gay gắt hơn, những vết thương lòng trở nên sâu hoắm hơn, và cơ hội để thấu hiểu nhau dần tan biến vào hư không.

Nghiêm trọng hơn, độc tố của tin đồn còn len lỏi vào tận cùng của những tế bào nhỏ nhất của xã hội: đó chính là gia đình. Biết bao gia đình vốn dĩ đang sống trong cảnh ấm êm, hòa thuận, bỗng chốc bị một cái lưỡi độc ác làm cho đảo lộn hoàn toàn. Tin đồn làm xáo trộn sự yên bình vốn có, khiến anh em ruột thịt quay lưng lại với nhau, khiến tình chồng vợ rạn nứt vì những nghi ngờ không đáng có. Nó đẩy con dâu vào thế đối đầu với mẹ chồng, khiến con rể và bố vợ không thể tìm thấy tiếng nói chung. Chỉ vì một lời nói thiếu căn cứ, một sự thêu dệt ác ý từ một người hàng xóm – dù là đàn ông hay đàn bà – mà cả một tổ ấm có thể rơi vào bi kịch. Những người thân yêu nhất bỗng chốc nhìn nhau bằng ánh mắt dè chừng, thậm chí không đành lòng nhìn mặt và nói chuyện với nhau. Nỗi đau ấy âm ỉ và dai dẳng, để lại những vết sẹo không bao giờ lành trong tâm khảm mỗi thành viên.

Chúng ta cần phải tỉnh ngộ trước sức tàn phá của “giặc lưỡi”. Một lời vu khống khi đã phát ra thì không bao giờ có thể thu hồi trọn vẹn được. Nó giống như việc tung những chiếc lông chim trước gió, dù bạn có hối hận và cố gắng đi nhặt lại bao nhiêu đi chăng nữa, thì những chiếc lông ấy đã bay đi khắp nơi và không bao giờ trở về đầy đủ. Danh dự của một con người là thứ tài sản quý giá nhất, một khi đã bị vấy bẩn bởi tin đồn ác ý, việc gột rửa nó cần rất nhiều thời gian và đôi khi là cả một đời cũng không đủ. Do đó, trước khi định nói về một ai đó, hãy tự hỏi bản thân: “Điều này có đúng không? Điều này có tử tế không? Và điều này có thực sự cần thiết không?”. Nếu lời nói không mang lại sự xây dựng hay tình yêu thương, thì tốt nhất là hãy giữ lấy sự im lặng thanh cao.

Hãy nhớ rằng, sự vô trách nhiệm trong ngôn từ chính là một hình thức bạo lực tinh thần. Chúng ta không thể nhân danh sự “thẳng thắn” hay “vui đùa” để dẫm đạp lên cuộc sống của người khác. Mỗi cá nhân có trách nhiệm bảo vệ sự thật và bảo vệ danh dự của đồng loại như bảo vệ chính bản thân mình. Một cộng đồng lành mạnh không phải là nơi không có khuyết điểm, mà là nơi người ta biết bao dung cho nhau và biết im lặng trước những điều có thể gây tổn thương. Đừng để cái lưỡi trở thành công cụ của sự hủy diệt, hãy để nó trở thành nhịp cầu của sự cảm thông. Việc kiềm chế được ham muốn nói xấu người khác không chỉ là biểu hiện của một người có giáo dục, mà còn là minh chứng cho một tâm hồn giàu lòng nhân ái và có trách nhiệm với cuộc đời.

Cuối cùng, chúng ta hãy tự nhắc nhở mình rằng mỗi lời chúng ta thốt ra đều phản chiếu chính tâm hồn chúng ta. Một tâm hồn đầy rẫy những tin đồn và sự vu khống là một tâm hồn đang chịu sự dày vò của những thói hư tật xấu. Ngược lại, một tâm hồn biết trân trọng sự thật và danh dự của người khác là một tâm hồn đang hướng tới sự tự do và bình an đích thực. Đừng để mình trở thành một phần của chuỗi xích gieo rắc khổ đau. Hãy can đảm dừng lại những tin đồn ngay khi chúng vừa chạm đến tai mình, và hãy dùng tiếng nói của mình để bênh vực cho sự thật, cho những người đang bị áp bức bởi sự vu khống. Chỉ khi đó, chúng ta mới có thể cùng nhau xây dựng một thế giới nơi mà lòng tin và sự tôn trọng được đặt lên hàng đầu, nơi mà mỗi gia đình, mỗi tình bạn đều được bảo vệ khỏi nọc độc của những cái lưỡi ác độc.

Lm. Anmai, CSsR


 

 BA CHÍNH KHÁCH NỔI TIẾNG NHẤT THẾ GIỚI…

Những Câu Chuyện Thú Vị – Chi Nguyen

 BA CHÍNH KHÁCH NỔI TIẾNG NHẤT THẾ GIỚI…

1- Cố Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu: Bậc “khai quốc công thần” của quốc đảo sư tử.

– Sau khi qua đời, về tài sản: Ông chỉ có một ngôi nhà cũ đã tới lúc cần phải sửa chữa.

– Tượng đài: Ông không có tượng đài nào ngoài trời, chỉ có tượng đài trong lòng dân.

– Khi ra đi, ông không để lại gì cho riêng mình, ngoài một đất nước phát triển hàng đầu thế giới và người con trai ưu tú: Đương kim Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long!

2- Cựu Thủ tướng Nhật Bản Murayama: Không nhận lương hưu của Chính phủ trợ cấp, tự đạp xe đi chợ, sống bình dị ở thôn quê.

– Sau khi mãn nhiệm vị trí Thủ tướng Nhật Bản không lâu, Murayama cũng xin từ nhiệm vị trí trong Quốc hội đất nước. Cả nhà ông, già trẻ lớn bé đã lặng lẽ đưa nhau về quê hương ở Oita, thuộc đảo Kyushu (Nhật Bản) để sinh sống.

– Người dân trên đảo Kyushu thường bắt gặp một ông già gày gò, lịch lãm, nhưng giản dị (ít người biết ông từng là Thủ tướng đất nước giàu có nhất nhì thì giới) tự đạp xe ra chợ mua đồ ăn hàng ngày…

– Người ta thường nói: Khi lãnh đạo của một nước về hưu mà cuộc sống trở nên bình dị thì chứng tỏ tỷ lệ tham nhũng của nước đó thấp và ngược lại. Hầu hết các cựu Thủ tướng của nước Nhật đều có cuộc sống giản dị đến mức bình dân sau khi nghỉ hưu.

3- Tổng thống đương nhiệm Cộng hòa Croatia Kollinda Grabar Kitarovics: Không chỉ là một nữ chính khách xinh đẹp, trẻ trung, thông minh tài giỏi, mà còn tận tụy như một bà nội trợ hoàn hảo cho chính Tổ quốc mình.

– Sau khi nhậm chức, bà đã yêu cầu bán phi cơ riêng của Tổng thống, bán 35 xe Mercedes Benz của Văn phòng Tổng thống đưa vào ngân sách quốc gia.

– Bà đã tự cắt giảm 50% lương của mình và các Bộ trưởng trong nội các.

– Bà cũng đã giảm 40% lương các Đại sứ, các Tổng lãnh sự quán.

– Bà còn yêu cầu xóa quỹ hưu trí dành riêng cho các Đại biểu quốc hội.

– Nữ Tổng thống này có thể viết và nói 7 ngoại ngữ thông thạo và sống bình dị như tất cả mọi người dân.

– Từ khi bà giữ chức Tổng thống, GDP của Croatia tăng 24%

  • Muu Thai

ST.


 

SỰ KHÁC BIỆT NGHIỆT NGÃ GIỮA CÁI TÃ CỦA TRẺ THƠ VÀ NGƯỜI GIÀ

SỰ KHÁC BIỆT NGHIỆT NGÃ GIỮA CÁI TÃ CỦA TRẺ THƠ VÀ NGƯỜI GIÀ

Trong vòng quay của một kiếp người, có những sự lặp lại về mặt sinh học nhưng lại mang những số phận cảm xúc hoàn toàn trái ngược. Một đứa trẻ tè dầm là hình ảnh của sự khởi đầu, của một mầm sống đang lớn lên và cần được bao bọc. Nhưng một người già không may mất kiểm soát bài tiết lại thường bị xem là dấu hiệu của sự tàn úa, của gánh nặng và sự phiền phức. Sự khác biệt trong thái độ của chúng ta trước cùng một hiện tượng vật lý ấy đã phản chiếu một thực tế nghiệt ngã về cách con người nhìn nhận giá trị của nhau dựa trên sự hữu dụng và tương lai. Khi đứa trẻ tè dầm, chúng ta mỉm cười, sẵn lòng dọn dẹp với niềm hy vọng rằng mai này con sẽ lớn, sẽ biết tự chủ. Nhưng khi người già rơi vào hoàn cảnh tương tự, niềm hy vọng ấy dường như đã tắt lịm, thay vào đó là cảm giác mệt mỏi trước một thực tại không thể đảo ngược. 

Chính sự thiên kiến này đã vô tình tạo nên những vết thương lòng sâu sắc cho những người đã đi đến cuối dốc cuộc đời.

Tại sao chúng ta lại thấy việc chăm sóc một đứa trẻ là hiển nhiên và tràn đầy yêu thương? Bởi vì đứa trẻ là biểu tượng của tương lai. 

Mỗi lần thay tã, mỗi lần dọn dẹp đống đổ nát mà trẻ gây ra, người lớn đều coi đó là một khoản đầu tư cho sự trưởng thành. Chúng ta nhìn vào đứa trẻ và thấy cả một bầu trời tiềm năng phía trước. Tiếng cười của trẻ thơ làm dịu đi những vất vả của người mẹ, người cha. Việc trẻ chưa kiểm soát được hành vi của mình được coi là một giai đoạn phát triển tự nhiên, cần thiết và đầy tính nhân văn. Không ai trách một đứa trẻ một tuổi vì nó chưa biết đi vệ sinh đúng chỗ. Ngược lại, người ta còn dành cho nó những lời âu yếm, những cái vuốt ve để vỗ về. Đứa trẻ nhận được sự khoan dung tuyệt đối bởi vì nó “chưa biết”, và thế giới đang chờ đợi nó học hỏi để trở nên hoàn thiện hơn.

Thế nhưng, khi kịch bản ấy lặp lại ở tuổi già, thái độ của chúng ta chuyển từ bao dung sang chịu đựng. Người già tè dầm thường bị coi là phiền phức vì họ đại diện cho sự suy tàn và quá khứ đã qua. Trong một xã hội đề cao hiệu suất và sự năng động, một người không còn khả năng tự chăm sóc những nhu cầu cơ bản nhất thường bị coi là “mất giá trị”. Người ta dọn dẹp cho người già với tâm thế của một người đang thực thi bổn phận nặng nề hơn là sự tận hiến của tình yêu. Những lời cằn nhằn, những tiếng thở dài, hay thậm chí là ánh mắt ghẻ lạnh của con cháu đã vô tình biến nỗi đau bệnh tật thành nỗi nhục nhã của phẩm giá. Người già, khác với trẻ em, họ “đã biết” và họ ý thức rất rõ về sự bất lực của mình. Chính cái ý thức ấy làm cho nỗi đau của họ nhân lên gấp bội khi nhìn thấy sự khó chịu của người thân.

Sự bất công này còn nằm ở chỗ chúng ta quên mất quy luật của lòng biết ơn. Đứa trẻ chưa làm gì cho chúng ta, nhưng chúng ta sẵn sàng phục vụ nó vô điều kiện. Người già đã cống hiến cả cuộc đời, đã từng là đôi tay vững chãi nâng đỡ chúng ta những bước đi đầu tiên, đã từng thức trắng đêm khi chúng ta ốm đau, vậy mà khi họ cần một sự chăm sóc tương tự, họ lại nhận về sự thiếu kiên nhẫn. Có một sự đứt gãy về mặt cảm xúc khi chúng ta không thể kết nối hình ảnh của người cha, người mẹ mạnh mẽ năm xưa với thân xác già nua, bệnh tật hiện tại. Chúng ta khó chịu vì người già không còn giống như những gì chúng ta kỳ vọng, chúng ta quên rằng chính họ cũng đang phải đấu tranh quyết liệt với sự xuống cấp của chính cơ thể mình. Tè dầm ở người già không phải là sự lười biếng hay cẩu thả, đó là tiếng kêu cứu của một cơ thể đã mỏi mệt sau bao năm tháng gánh vác cuộc đời.

Nỗi đau lớn nhất của người già không phải là bệnh tật, mà là cảm giác mình trở thành vật cản trong đời con cháu. Đứa trẻ tè dầm xong có thể thản nhiên chơi đùa, nhưng người già sau một sự cố như vậy thường rơi vào mặc cảm tội lỗi sâu sắc. Họ thu mình lại, họ sợ hãi khi phải yêu cầu sự giúp đỡ, họ âm thầm chịu đựng sự bẩn thỉu vì không muốn nghe những lời nặng nhẹ. Sự “phiền phức” mà chúng ta gán cho họ thực chất là tấm gương phản chiếu sự ích kỷ của chính chúng ta. Chúng ta chỉ muốn nhận những gì tươi đẹp, khỏe mạnh và từ chối những gì xấu xí, héo úa. Nhưng cuộc đời là một vòng tròn khép kín, không ai có thể trẻ mãi, và sự chăm sóc mà chúng ta dành cho người già hôm nay chính là lời cam kết cho tương lai của chính chúng ta mai sau.

Nếu chúng ta có thể nhìn vết bẩn trên giường của người già bằng đôi mắt đã từng nhìn đứa con thơ của mình, chúng ta sẽ thấy đó không phải là sự phiền phức, mà là một cơ hội để đền đáp. Mỗi lần thay áo, lau mình cho cha mẹ là một lần chúng ta được chạm vào lịch sử của chính mình, được thể hiện sự hiếu kính bằng những hành động cụ thể nhất. Người già cần sự kiên nhẫn hơn cả trẻ em, vì họ đang phải đối mặt với nỗi sợ hãi về cái chết và sự biến mất. Một nụ cười cảm thông, một câu nói nhẹ nhàng: “Không sao đâu mẹ, chuyện nhỏ thôi mà” có giá trị hơn ngàn liều thuốc bổ. Nó giúp người già giữ vững được phẩm giá cuối cùng của một con người, giúp họ cảm thấy mình vẫn được yêu thương dù không còn khả năng đóng góp về mặt vật chất.

Chúng ta cần thay đổi tư duy về sự hữu dụng. Một con người có giá trị không phải vì họ làm được bao nhiêu việc, mà vì sự hiện diện của họ là một phần không thể thiếu trong cấu trúc của tình yêu gia đình. Người già tè dầm là một thử thách đối với lòng nhân ái của con cháu. Nếu chúng ta vượt qua được sự ghê sợ về mặt cảm giác để thấu cảm với nỗi đau của người già, chúng ta đang thực sự trưởng thành về mặt tâm linh. Đừng để những nhu cầu sinh lý tự nhiên trở thành rào chắn ngăn cách tình thâm. Đừng để người già phải sống những ngày cuối đời trong sự tủi hận chỉ vì họ không còn kiểm soát được cơ thể mình – điều mà chính chúng ta cũng đã từng như vậy và chắc chắn sẽ lại như vậy trong tương lai.

Khi trí tuệ con người đủ lớn, họ sẽ hiểu rằng việc chăm sóc một người già mất năng lực cũng thiêng liêng như việc nuôi nấng một đứa trẻ. Đó là sự tiếp nối của sự sống, là biểu hiện cao nhất của tính người. Sự phiền phức chỉ tồn tại trong tâm trí của những kẻ tính toán hơn thua với chính người thân của mình. Đối với một trái tim biết yêu thương, sự bất lực của cha mẹ là lời mời gọi của lòng trắc ẩn. Hãy nhớ rằng, nếu mùi vị của tã lót trẻ thơ mang theo hương vị của bình minh, thì sự chăm sóc người già mang theo vẻ đẹp trầm mặc và bao dung của hoàng hôn. Cả hai đều cần được nâng niu như nhau, vì chúng đều là những mảnh ghép không thể thiếu của một kiếp người trọn vẹn.

Lời kết cho sự so sánh nghiệt ngã này chính là lời nhắc nhở về sự vô thường. Ngày hôm nay chúng ta dọn dẹp cho người khác với thái độ nào, thì ngày mai chúng ta sẽ nhận lại điều tương tự như thế. Hãy đối xử với người già bằng sự dịu dàng mà bạn muốn nhận được khi chính bạn rơi vào hoàn cảnh ấy. Đừng để sự vô tâm biến những năm tháng cuối đời của cha mẹ thành một chuỗi ngày dài của sự nhục nhã và cô độc. Sự thật là, trẻ con hay người già, tất cả đều cần được yêu thương ngay cả khi họ không còn sạch sẽ, không còn thông minh hay không còn hữu dụng. Đó mới chính là ý nghĩa thực sự của hai chữ “gia đình”.

S.T.

From: Phi Phuong Nguyen


 

CHẶNG THỨ 6: Bà Veronica trao khăn cho Đức Chúa Giêsu lau mặt- Cha Vương

Lại một Tháng nữa trôi qua, bạn đã làm gì cho Chúa, cho anh em và cho chính phần rỗi của linh hồn bạn trong tháng qua? Xin Chúa luôn đồng hành với bạn hôm nay và mãi mãi nhé.

Cha Vương

Thư 4: 25/02/2026. (N1-3-23)

CHẶNG THỨ 6: Bà Veronica trao khăn cho Đức Chúa Giêsu lau mặt

TIN MỪNG: “Ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy, và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy. “Và ai cho một trong những kẻ bé nhỏ này uống, dù chỉ một chén nước lã thôi, vì kẻ ấy là môn đệ của Thầy, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu.” (Mt 10:40,42)

SUY NIỆM: Bà Veronica có lẽ là một người rất can đảm và liều lĩnh, dám lấy khăn thấm máu mặt một tên tử tội trên đường đến pháp trường. Không biết bà có nhận ra đó là Chúa Giê-su hay không nhưng cử chỉ của bà đã vạch ra một lối sống, thay vì chỉ nghĩ đến bản thân mình thì bà lại luôn quan tâm đến người khác, lòng bà bị dày vò bởi sự khốn khổ của nhân loại, cho dù người đó là một người xa lạ, hay thậm chí là kẻ thù. Có bao giờ lòng bạn bị dày vò trước nỗi khổ của người khác chưa? Phản ứng của bạn ra sao? Ai là người cần đến sự giúp đỡ của bạn trong lúc này?

XÉT MÌNH: Đã bao lần bạn ngoảnh mặt làm ngơ hoặc thiếu bác ái trước những hoàn cảnh khốn khó của một ai đó, hoặc không chia sẻ gánh nặng hằng ngày với những người trong gia đình và những người chung quanh? Mời bạn bỏ ra đôi phút, trong thinh lặng hãy tự xét mình và xin ơn hoán cải trong lối nghĩ, trong cách cảm nhận, và trong hành động của mình.

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, qua gương của bà Veronica, xin mở mắt con để con  khám phá ra khuôn mặt của Chúa nơi những người đang sống trong cảnh bần cùng đói khổ mà biết quan tâm, chia sẻ với hết khả năng của con hôm nay. Amen. 

From: Do Dzung

***************************

Bảo Trân – Chúa Trong Đời Con – Tác Giả Lm. Thái Nguyên

Vì một ngày nào đó — có thể sớm, có thể còn xa — chiếc ghế bên cạnh tôi sẽ trống.- Truyen ngan HAY

Trầm Mặc Huơng Lai

 Tôi bắt gặp mẹ tôi, 82 tuổi, ngồi trong bóng tối, đang rửa những chiếc đĩa giấy mềm nhũn dưới vòi nước lạnh ngắt để dùng lại lần nữa.

Khi tôi bật đèn bếp lên, bà không chỉ giật mình. Bà co người sát vào bàn, ôm chặt chiếc đĩa giấy rách bươm, ướt sũng trước ngực như đang cầm một tấm khiên. Ánh mắt ấy không phải chỉ là ngạc nhiên.

Đó là nỗi sợ đến thắt lòng.

Bà sợ tôi phát hiện ra bà đang yếu đi. Sợ rằng đây sẽ là lý do cuối cùng để tôi ép bà rời khỏi căn nhà của mình.

Tôi vội bước đến, nắm lấy đôi tay lạnh buốt của bà, nhẹ nhàng gỡ mớ đĩa ướt khỏi tay bà.

— Mẹ làm gì vậy? Sao không bật đèn? Sao lại hạ sưởi xuống? Ngoài trời đang có tuyết đó! — tôi nói, giọng gắt vì mệt mỏi sau 40 phút kẹt xe và một tuần làm việc 50 tiếng.

Bà không nhìn tôi. Bà nhìn xuống nền nhà cũ bạc màu — thứ sàn mà ba tôi đã tự tay lát năm 1982, ngay trước khi nhà máy thép địa phương đóng cửa.

Bà xoa hai cánh tay run rẩy, khẽ nói về chuyện giá cả tăng cao. Lương hưu tháng này không đủ trả tiền sưởi và tiền chợ. Bà cố tiết kiệm từng đồng lẻ để khỏi phải nhờ tôi.

Tim tôi như rơi xuống.

Tám tháng nay, tôi gần như thành người xa lạ với chính mẹ mình. Tôi có lý do. Lý do rất hợp thời. Tôi tự an ủi mình rằng mình thuộc “thế hệ kẹp giữa” — kẹt giữa công việc, lịch học dày đặc của con cái và nhịp sống quay cuồng mỗi ngày.

Nhưng trong căn bếp lạnh buốt đó, sự thật đập thẳng vào tôi.

Tôi không muốn nhìn người phụ nữ mạnh mẽ nhất đời mình dần yếu đi. Nhắn một tin ngắn hay gọi video năm phút dễ hơn nhiều so với việc có mặt và đối diện với sự sa sút ấy.

Mỗi lần nói chuyện, tôi nói với mẹ như đang họp công việc. Tôi đưa cho bà những tờ rơi bóng loáng.

— Mẹ, mấy bậc thềm trước cửa nguy hiểm lắm, lỡ té gãy hông thì sao.

— Mẹ, con xem một viện dưỡng lão đẹp lắm. Có đầu bếp, có chăm sóc 24/24, người ta lo thuốc men cho mẹ. Bán nhà đi là đủ chi phí. Hợp lý mà.

Tôi nghĩ mình là đứa con tốt. Tôi tưởng mình đang bảo vệ mẹ.

Nhưng khi thấy bà run trong bóng tối, tôi hiểu ra điều đau đớn: tôi không tìm cách cho bà sống tốt hơn. Tôi đang tìm cách để bản thân yên tâm. Tôi muốn chuyển gánh nặng tuổi già của bà ra khỏi cuộc sống bận rộn của mình.

Tôi kéo ghế, giúp bà ngồi xuống bàn bếp. Nhà lạnh ngắt.

— Mẹ xin lỗi, Sarah — bà thì thầm. Giọng bà mong manh chưa từng thấy. — Mẹ không muốn làm phiền con. Mẹ biết cuộc sống con bây giờ bận rộn lắm.

Bà dừng lại, bàn tay nhăn nheo bấu vào mép bàn.

— Nhưng mẹ không muốn rời khỏi nhà.

Bà chỉ sang phòng khách. Thế giới của bà giờ thu nhỏ trong căn phòng ấy: chiếc ghế hoa cũ bên cửa sổ, chiếc tivi đang phát tin tức địa phương, và chồng hóa đơn y tế cùng giấy tờ bảo hiểm mà bà không còn hiểu nổi.

— Nếu mẹ nói mẹ không ổn, hay trí nhớ mẹ kém đi, con sẽ bắt mẹ đi. Mà nếu mẹ rời khỏi nhà này… mẹ chẳng còn gì. Mẹ mất hết ký ức. Mẹ thành một con số trong căn phòng nào đó, chờ ngày chết.

Câu nói ấy như một cú đấm vào ngực tôi.

Tôi đã đối xử với mẹ như một bài toán cần giải. Như một trách nhiệm cần quản lý.

Tôi quên mất bà là ai.

Bà từng làm hai ca ở nhà hàng suốt mười năm sau khi ba tôi mất, chỉ để tôi tốt nghiệp mà không mang nợ. Bà luôn tự lập, đầy tự trọng, chỉ mong giữ lại chút phẩm giá trong những năm cuối đời.

Tôi không cãi. Không nhắc đến tờ rơi. Không nói gì thêm.

Tôi đứng dậy, chỉnh nhiệt độ sưởi lên ấm áp, mở tủ và nấu cho hai mẹ con một bữa ăn nóng.

Chúng tôi ngồi rất lâu bên chiếc bàn cũ. Chỉ còn tiếng nĩa chạm đĩa và tiếng máy sưởi khẽ rì rì.

Một lúc sau, bà nhìn qua ô cửa sổ phủ sương, nơi tuyết đang rơi, rồi nói:

— Càng già, người ta càng bớt quan tâm đến việc có đồ đẹp hay lúc nào cũng an toàn. Người ta chỉ muốn biết mình vẫn còn ý nghĩa. Muốn được ở bên gia đình.

Tôi hiểu mình đã mù quáng thế nào.

Mẹ không chống lại tôi. Bà đang giữ lấy cuộc đời mình.

Bà không cần một căn phòng sạch bóng trong cơ sở sang trọng với những người xa lạ mặc đồng phục. Bà không cần lịch chơi bingo hay đầu bếp riêng.

Bà cần con gái mình.

Bà cần người ngồi cùng mở từng lá thư bảo hiểm mà không làm bà thấy mình kém cỏi. Cần người viết hướng dẫn điều khiển tivi thật to, thật rõ. Cần ai đó ngồi cạnh trong phòng khách, để căn nhà ấy không trở thành một ngôi mộ lặng lẽ.

Xã hội dạy ta rằng yêu cha mẹ già là sắp xếp mọi thứ cho họ bằng tiền bạc hay dịch vụ chuyên nghiệp.

Nhưng khi họ thật sự đi về cuối con đường, ta mới hiểu yêu thương là có mặt.

Là ngồi lại trong thực tế lộn xộn, khó chịu, đau lòng của tuổi già — và chọn không quay lưng.

Tối hôm đó, tôi về nhà và vứt hết tờ rơi viện dưỡng lão vào thùng rác.

Từ đó, mỗi Chủ nhật tôi đều băng qua thành phố. Không viện cớ. Không nói bận.

Có khi tôi mang đồ ăn cho cả tuần. Có khi tôi đưa bọn trẻ theo, chúng làm phòng khách lộn xộn, ăn hết bánh quy của bà và lấp đầy căn nhà bằng tiếng cười ồn ào.

Nhưng phần lớn thời gian, tôi chỉ pha một ấm cà phê, rồi hai mẹ con ngồi trên ghế cũ bên cửa sổ, nhìn khu phố trôi qua. Nhắc chuyện ba. Nhắc chuyện vu vơ.

Vì một ngày nào đó — có thể sớm, có thể còn xa — chiếc ghế bên cạnh tôi sẽ trống.

Và tôi đã hiểu rằng chẳng có viện dưỡng lão hiện đại nào, chẳng có số tiền tiết kiệm nào, chẳng có thành công nghề nghiệp nào có thể mua thêm cho tôi một buổi chiều bên người phụ nữ đã sinh ra mình.

Đừng xem cha mẹ già là gánh nặng hay bài toán cần xử lý.

Họ không cần tiền của bạn.

Không cần những bài giảng về an toàn.

Không cần giải pháp hào nhoáng.

Họ cần thời gian của bạn.

Hãy ở bên họ, trước khi thời gian của họ cạn đi. 

TG Văn Chương

 

#ChaMe – #TinhThanGiaDinh =  #ConCaiTruongThanh – #HieuVaThuong

#TuoiGia – #YeuThuongThatSu – #DungBoLo – #GiaTriThoiGian

#SongChamLai – #ConConMeConMay


 

Lễ phong Chân Phước cho Tôi Tớ Chúa là cha Phanxicô Trương Bửu Diệp

Gieo Mầm Ơn Gọi

Lễ phong Chân Phước cho Tôi Tớ Chúa là cha Phanxicô Trương Bửu Diệp sẽ được cử hành lúc 9 giờ sáng ngày 2.7.2026  ở Nhà thờ Tắc Sậy ở Bạc Liêu do Đức Hồng y Luis Antonio Tagle . Quyền Bộ trưởng Bộ truyền giáo của Vatican , Đại sứ của ĐTC Leo XIV chủ sự.

Mừng vì Giáo Hội Việt Nam có thêm một vị thánh.

Cha thánh TRƯƠNG BỬU DIỆP xin cầu cho chúng con.

BÀ DƯƠNG QUỲNH HOA, MỘT NGƯỜI BẠN CỦA CHA TÔI

Bùi Chí Vinh

Bà Dương Quỳnh Hoa, Bộ trưởng Y Tế Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam mất ngày 25-2-2006 tính đến nay vừa tròn 20 năm. Nhân ngày kỷ niệm này, tôi đăng bài viết về bà như một nén nhang thương tiếc người bạn thân thiết của cha tôi…

BÀ DƯƠNG QUỲNH HOA, MỘT NGƯỜI BẠN CỦA CHA TÔI

Như tôi đã từng viết trên FB này, cha tôi là ông Bùi Văn Trình sinh năm 1914 tại huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định sang Pháp từ thời còn trẻ để học nghề thợ giày (dành đóng riêng cho người tàn tật). Ở Pháp, ông gia nhập Đảng Cộng Sản Pháp và thân thiết với bà bác sĩ Dương Quỳnh Hoa cũng là Đảng viên Đảng Cộng Sản Pháp như ông.

Khi về nước, ông là Đảng viên Đảng Lao Động Việt Nam lớp đầu tiên. Ông mở cửa tiệm giày tàn tật Bùi Văn Trình trên mặt tiền đường Yên Đỗ (tức đường Lý Chính Thắng bây giờ). Ông là thành viên Ban Tuyên Truyền Thi Hành Hiệp Định Geneve do ông Mai Văn Bộ làm Trưởng ban, nên bị chế độ Ngô Đình Diệm bỏ tù và tịch biên gia sản. Kể từ đó gia đình chúng tôi rất khốn khó phải di chuyển nhiều nơi để tự tồn tại. Năm 1960 ông ra tù và Tết năm nào cũng dẫn tôi đến nhà bà bác sĩ Dương Quỳnh Hoa để tôi được bà lì xì, còn cha tôi và bà thì đàm đạo với nhau bằng tiếng Pháp tránh sự thị phi dòm ngó. Lúc đó tôi mới 6 tuổi.

Mới 6 tuổi nên làm sao tôi biết bà có bi danh là Thùy Dương, là thành viên sáng lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và sau này giữ chức Bộ Trưởng Y Tế Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam. Tôi chỉ biết năm 1979 Thủ Tướng Phạm Văn Đồng đồng ý với nguyện vọng xin ra khỏi Đảng của bà với điều kiện bà giữ im lặng. Năm 1971 cha tôi chết vì hậu quả những vết thương tra tấn trong nhà tù. Năm 2006 bà Dương Quỳnh Hoa cũng qua đời nhưng những câu nói nổi tiếng còn ở lại: “Tôi đã là người cộng sản cả đời tôi. Nhưng bây giờ khi chứng kiến những sự thật về chủ nghĩa cộng sản và sự thất bại của nó, quản trị kém, tham nhũng, đặc quyền, áp chế, lý tưởng của tôi đã không còn”…”Trong chiến tranh, chúng tôi sống trong lòng nhân dân. Ngày nay, khi quyền lực nằm trong tay Đảng, Đảng coi nhân dân như kẻ thù tiềm ẩn”.

BÙI CHÍ VINH

NHỚ BÀ DƯƠNG QUỲNH HOA

Bà là một người bạn của cha tôi

Sống thủy chung với nước với dân trước sau như một

Là dân Sài Gòn giàu sang nhưng ăn ngay nói thật

Đã phát ngôn là dám nói dám làm

Bà thừa sức leo lên tột đỉnh vinh quang

Nhưng một người có học khác một người vô học

Bà không giống những bà cùng sáng lập Mặt Trận với mình lặng im như thóc

Bà thích giống bà Triệu bà Trưng chém cá tràng kình

Ở một chế độ còn quá nhiều những thứ bất minh

Bà lẳng lặng lưu vong sang Pháp

Bà không ngu trung như Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc

Đánh thắng giặc xong là bị phản bội bởi triều đình

Cha tôi chết lúc nước nhà còn tang tóc điêu linh

Bà thì chết lúc quê hương thống nhất

Nhưng hai cái chết đều đem theo nước mắt

Của thằng bé ngày xưa mà bà đã lì xì

Bà chính là một thời tươi đẹp đã chết đi…

BCV

Hình 1: Bà Dương Quỳnh Hoa

Hình 2: Bà Dương Quỳnh Hoa có mặt trong đám cưới cha mẹ tôi ở nhà thờ Tân Định