ĐÀN ÁP XUYÊN QUỐC GIA BẮT ĐẦU KHI MỘT NGƯỜI KHÔNG CÒN DÁM LÊN TIẾNG DÙ ĐÃ RỜI KHỎI QUÊ HƯƠNG

Chân Trời Mới Media

ĐÀN ÁP XUYÊN QUỐC GIA BẮT ĐẦU KHI MỘT NGƯỜI KHÔNG CÒN DÁM LÊN TIẾNG DÙ ĐÃ RỜI KHỎI QUÊ HƯƠNG

Một nhà nước có thể kiểm soát lãnh thổ của mình bằng luật pháp. Nhưng khi một công dân đã ra nước ngoài mà vẫn cảm thấy sợ hãi vì những gì mình nói, đó là lúc xuất hiện câu hỏi về hiện tượng được nhiều tổ chức quốc tế gọi là “đàn áp xuyên quốc gia”.

Trong nhiều năm qua, các tổ chức như Freedom House và Human Rights Watch đã ghi nhận những trường hợp người Việt ở nước ngoài cho rằng họ bị theo dõi, bị đe dọa trực tuyến hoặc lo ngại người thân trong nước gặp áp lực sau khi họ tham gia các hoạt động nhân quyền, báo chí hay chính trị. Một trong những trường hợp được quốc tế chú ý là vụ bắt giữ và kết án vắng mặt nhà báo độc lập Lê Trung Khoa và luật sư Nguyễn Văn Đài tại Việt Nam, trong khi cả hai đang sinh sống ở Đức. Những vụ việc như vậy được một số tổ chức nhân quyền viện dẫn như ví dụ cho thấy sự mở rộng phạm vi xử lý đối với những tiếng nói đối lập bên ngoài lãnh thổ quốc gia.

Điều đáng lo ngại không phải là sự bất đồng chính kiến, mà là khả năng nỗi sợ trở thành công cụ quản lý xã hội. Khi một người không dám viết, không dám phát biểu, không dám tham gia hoạt động công cộng vì lo cho gia đình còn ở quê nhà, thì quyền tự do biểu đạt đã bị thu hẹp, dù không cần đến một bản án hay một song sắt nhà tù.

Một quốc gia mạnh không cần theo đuổi công dân bằng nỗi sợ. Một quốc gia văn minh phải chứng minh sức mạnh bằng pháp quyền, bằng đối thoại và bằng khả năng chấp nhận những tiếng nói khác biệt. Khi công dân được quyền bất đồng mà không phải lo lắng cho sự an toàn của bản thân và gia đình, đó mới là thước đo thực sự của một xã hội tự do.

#DanApXuyenQuocGia #TuDoNgonLuan #NhanQuyen #PhapQuyen #Chantroimoi 


 

“Xa-tan, lui lại đàng sau Thầy!- Cha Vương

“Xa-tan, lui lại đàng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.” (Mt 16:23) – Cha Vương

Tạ ơn Chúa đã ban cho bạn một ngày nữa để yêu và được yêu. Một ngày thật hạnh phúc bên Chúa và những người thân yêu nhé. Mình xin bạn một lời cầu nguyện khẩn thiết hoặc một hy sinh nhỏ cho nhau và cả thế giới cách riêng cho nước Việt Nam ta. Amen 

Cha Vương

Thư 2: 15/06/2026.     (t3-21)

TIN MỪNG: Nhưng Đức Giê-su quay lại bảo ông Phê-rô: “Xa-tan, lui lại đàng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.” (Mt 16:23)

SUY NIỆM: Con cần Cha, chứ Cha không cần gì con.—Không phải con đến thánh hóa Cha, nhưng Cha đến thánh hóa và làm cho con nên trọn hảo hơn. Con đến để được thánh hóa và hợp nhất với Cha, để Cha ban ơn và tăng thêm lòng hăng hái cải thiện đời sống. Đừng khinh thường ơn đó con ạ! Và hãy dọn lòng cho thật chu đáo, mà đón Bạn chí ái. (x. Sách Gương Chúa Giêsu, Q4:12 t.t.) 

LẮNG NGHE: Anh em đừng có rập theo đời này, nhưng hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa: cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo. (Rm 12:2)

CẦU NGUYỆN: Lạy Cha chí thánh là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con tạ ơn Cha mọi nơi, mọi lúc, thật là chính đáng, phải đạo và sinh ơn cứu độ cho chúng con. Thật ra, Cha không cần chúng con ca tụng, nhưng được tạ ơn Cha lại là một hồng ân cao cả, vì những lời ca tụng của chúng con chẳng thêm gì cho Cha nhưng đem lại cho chúng con ơn cứu độ muôn đời, nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. (Lời kinh Tiền Tụng Chung IV) 

THỰC HÀNH: Đọc chậm và suy niệm kinh Cám Ơn.

From: Do Dzung

******************************************

Con Cần Chúa – Sáng tác: Giang Ân – Trình bày: Sr Hoàng Phương 

KHÔNG YÊU MỘT NỬA – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính”.

“Thiên Chúa không yêu chúng ta vì chúng ta tốt lành; chúng ta trở nên tốt lành vì Thiên Chúa yêu chúng ta!” – C. S. Lewis.

Kính thưa Anh Chị em,

Chúng ta thường nghĩ người tốt đáng được yêu hơn người xấu. Lời Chúa hôm nay cho thấy một logic khác. Mặt trời không chọn chỗ chiếu; mưa không chọn chỗ rơi; Thiên Chúa không chọn người để yêu. Ngài ‘không yêu một nửa’.

Chúa Giêsu nói, “Hãy nên hoàn thiện!”. Từ Hy Lạp Ngài dùng ở đây là teleios – hoàn thiện, viên mãn. Điều đáng chú ý là Ngài không nói điều đó sau khi dạy về cầu nguyện, ăn chay hay giữ luật; nhưng sau khi dạy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho kẻ ngược đãi mình. Vì thế, ‘hoàn thiện’ ở đây không phải là không sai lỗi, nhưng là yêu trọn vẹn như Cha trên trời. Mặt trời của Ngài không chỉ chiếu trên người tốt; mưa của Ngài không chỉ rơi trên người công chính. “Chỉ lòng thương xót mới có thể làm nghiêng cán cân của thế giới từ xấu sang tốt!” – Bênêđictô XVI.

Đọc lại câu chuyện cướp vườn nho của Akháp; công lý đòi một bản án nhân danh Thiên Chúa. Vậy mà khi vua hạ mình thống hối, Thiên Chúa lại hoãn tai ương – bài đọc một. Không phải vì Akháp bỗng trở nên tốt lành, nhưng vì Thiên Chúa luôn là Đấng nhân lành. Ngài không yêu con người vì họ đáng yêu; con người trở nên đáng yêu vì được Ngài yêu. Đó là điều mà người công chính thường không thể chấp nhận: lòng thương xót của Thiên Chúa luôn đi xa hơn những tính toán công bằng của con người.

“Lạy Chúa, xin dủ lòng xót thương, vì chúng con đắc tội với Ngài!” – Thánh Vịnh đáp ca – vì thế, không phải là lời cầu của riêng Akháp, nhưng là lời cầu của bất cứ ai đủ khiêm tốn để nhận mình cần được tha thứ. Thật ra, điều làm chúng ta khó yêu người khác – ngay cả kẻ thù – không phải vì họ quá xấu, nhưng vì chúng ta quá yêu cái tôi của mình. Chúng ta muốn công lý; nhưng nhiều khi điều chúng ta tìm kiếm lại chỉ là sự báo trả khoác áo chính nghĩa. Chúng ta muốn sự thật được bảo vệ; nhưng đôi khi lại dùng sự thật như một vũ khí. Chính ở đó, Chúa Giêsu mời gọi người môn đệ bước thêm một bước: không để bóng tối của người khác trở thành bóng tối của mình.

Anh Chị em,

Trên thập giá, Chúa Giêsu đã sống điều Ngài dạy. Ngài không yêu những người đáng được yêu, nhưng yêu chính những kẻ đóng đinh mình. “Lạy Cha, xin tha cho họ!” – lời ấy mặc khải khuôn mặt của Cha trên trời và ý nghĩa của teleios – hoàn thiện. Không phải là không tì vết, nhưng là ‘không yêu một nửa’. Khi tha thứ, chúng ta không đánh mất công lý; chúng ta để lòng thương xót hoàn tất điều công lý không thể hoàn tất. Và đó là con đường nên thánh của người môn đệ Giêsu. Tha thứ không phải là sự yếu đuối, đó là lúc con người chạm đến giới hạn cao nhất của sự ‘hoàn thiện’. “Tha thứ là phẩm chất của người mạnh!” – Mahatma Gandhi.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin dủ lòng xót thương con; dạy con yêu như Chúa yêu, tha như Chúa tha; đừng để con yêu nửa vời khi Chúa hằng yêu con trọn vẹn!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

********************************************

Lời Chúa Thứ Ba, Tuần XI Thường Niên, Năm Chẵn

Anh em hãy yêu kẻ thù.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.       Mt 5,43-48

43 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Anh em đã nghe Luật dạy rằng : Hãy yêu đồng loại và hãy ghét kẻ thù. 44 Còn Thầy, Thầy bảo anh em : hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em. 45 Như vậy, anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính. 46 Vì nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì anh em nào có công chi ? Ngay cả những người thu thuế cũng chẳng làm như thế sao ? 47 Nếu anh em chỉ chào hỏi anh em mình thôi, thì anh em có làm gì lạ thường đâu ? Ngay cả người ngoại cũng chẳng làm như thế sao ? 48 Vậy anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện.”

KHÔNG THỂ XÂY MỘT ĐẠI LỘ 730.000 TỶ ĐỒNG TRÊN SỰ ĐỨT GÃY SINH KẾ CỦA HƠN 200.000 NGƯỜI DÂN

Chân Trời Mới Media

 KHÔNG THỂ XÂY MỘT ĐẠI LỘ 730.000 TỶ ĐỒNG TRÊN SỰ ĐỨT GÃY SINH KẾ CỦA HƠN 200.000 NGƯỜI DÂN

Đại lộ sông Hồng với tổng vốn đầu tư khoảng 730.000 tỷ đồng được kỳ vọng sẽ thay đổi diện mạo Hà Nội. Nhưng phía sau những bản quy hoạch hiện đại và những phối cảnh hào nhoáng là một câu hỏi không thể né tránh: hơn 200.000 người dân ven sông Hồng sẽ sống bằng gì sau khi rời khỏi nơi ở và sinh kế đã gắn bó nhiều thế hệ?

Đối với người dân ở các quận, huyện ven sông như Tây Hồ, Long Biên, Bắc Từ Liêm, Đông Anh hay Gia Lâm, đất đai không chỉ là tài sản. Đó là cửa hàng, xưởng sản xuất, ruộng vườn, nghề truyền thống, mạng lưới quan hệ cộng đồng và nguồn thu nhập nuôi sống cả gia đình. Một căn hộ tái định cư có thể thay thế mái nhà, nhưng không thể tự động thay thế công việc, khách hàng hay môi trường mưu sinh đã được tích lũy qua hàng chục năm.

Lịch sử của nhiều dự án giải phóng mặt bằng cho thấy không ít người dân nhận tiền đền bù nhưng sau đó rơi vào cảnh thất nghiệp, thu nhập giảm sút và đời sống bấp bênh. Nếu điều tương tự xảy ra với hàng trăm nghìn người trong dự án sông Hồng, cái giá xã hội phải trả sẽ lớn hơn rất nhiều những con số trên bản dự toán.

Bởi vậy, thước đo thành công của đại lộ sông Hồng không phải là chiều rộng của con đường hay giá trị bất động sản tăng lên bao nhiêu, mà là sau khi di dời, người dân có sống tốt hơn, có việc làm ổn định hơn và có tương lai tốt hơn hay không. Quy hoạch chỉ thực sự là phát triển khi không ai bị bỏ lại phía sau.

#SongHong #SinhKeNguoiDan #PhatTrienBenVung #Chantroimoi


 

Chúng Con Bất Lực Rồi, Chúa Ơi…!!!

Giáo Phận Bắc Ninh 

Chúng Con Bất Lực Rồi, Chúa Ơi…!!!

===

Ngôi làng của chúng con chẳng còn hình hài như những ngày trước nữa. Quê hương thân thuộc, nơi từng lưu giữ biết bao kỷ niệm của bao thế hệ, giờ đây chỉ còn lại những đống gạch vụn, những khoảng đất ngổn ngang và những dấu tích đang dần bị xóa nhòa bởi máy xúc máy ủi.

Mảnh đất của gia đình chúng con, ngôi nhà đã từng che nắng che mưa, từng chất chứa biết bao tiếng cười, nước mắt và yêu thương, nay đến cả ranh giới cũng chẳng còn nhận ra được nữa.

Dân họ chúng con đã chuyển đến nơi tạm cư. Nơi ở tạm có thể giúp con tiếp tục cuộc sống, nhưng chẳng thể thay thế được quê hương. Vì thế, chúng con vẫn trở về. Trở về để nhìn lại những gì còn sót lại. Trở về để cố ghi thật sâu vào tâm trí hình ảnh của quê hương trước khi tất cả chỉ còn là ký ức.

Thật đau xót khi những tượng Chúa, tượng Đức Mẹ mà các gia đình chúng con vẫn nâng niu gìn giữ, vẫn đặt ở nơi trang trọng nhất trong nhà như báu vật đức tin, nay cũng phải nằm ngổn ngang giữa gạch đá, bụi đất. Chúng con đau lắm, Chúa ơi! Nhưng chúng con quá nhỏ bé trước những gì đang diễn ra. Mỗi nhát máy đi qua như cứa thêm vào lòng chúng con một vết thương mới.

Chúng con chẳng biết phải làm gì hơn ngoài việc đứng nhìn quê hương dần mất đi hình hài trong đôi mắt đẫm lệ.

Chắc chắn ngày ấy cũng sẽ đến, ngày mà ngôi thánh đường đã gắn bó với biết bao thế hệ dân họ cũng phải nhường chỗ cho đổi thay. Nghĩ đến điều đó, lòng chúng con quặn thắt. Chúng con không biết sẽ đối diện như thế nào với thực tế đau đớn khi phải chứng kiến ngôi nhà Chúa sẽ bị giật tung.

Mai này, khi tất cả chỉ còn là một miền ký ức, chúng con – những người phải rời đi – có lẽ sẽ cảm thấy bơ vơ ngay trên chính quê hương mình. Chúng con sẽ đi trên mảnh đất quen thuộc mà chẳng còn nhận ra dấu vết của ngôi làng năm nào. Những con đường, mái nhà, hàng cây, tiếng chuông nhà thờ… tất cả rồi sẽ chỉ còn trong hoài niệm.

Trong khói bụi và tiếng ồn ào của động cơ, con bước vào ngôi nhà Chúa để tìm lại chút bình an. Chúa Giêsu Thánh Thể vẫn hiện diện lặng lẽ trong ngôi thánh đường thân thương. Ngài vẫn âm thầm ở lại đến cùng. Sự thinh lặng ấy như đang ôm lấy nỗi đau của chúng con, như đang chứng kiến từng mất mát, từng giọt nước mắt của đoàn con bé nhỏ. Chúa còn ở lại để nâng đỡ những tâm hồn đang tan vỡ, để cho chúng con biết rằng giữa lúc mọi sự sụp đổ, Ngài vẫn luôn ở bên chúng con.

Lạy Chúa, trong giờ phút này, chúng con yếu đuối lắm. Xin Chúa nâng đỡ chúng con khi lòng người chao đảo. Xin Chúa lau khô những giọt nước mắt của những người già phải rời xa nơi chôn nhau cắt rốn, của những gia đình đang ngổn ngang trước tương lai, của những người con đau đáu nhìn quê hương mình dần biến mất.

Bởi lúc này đây, giữa những đổ nát của quê hương, giữa những mất mát chẳng thể gọi thành tên, chúng con chỉ còn biết ngước nhìn lên Thánh Giá mà thưa cùng Chúa rằng: “Chúa ơi… chúng con bất lực rồi…” Chúng con không thể gắn bó với quê cha đất tổ được nữa, không thể làm gì để giữ lại ngôi nhà Chúa được nữa. Xin Chúa thêm sức cho chúng con…

– An Bình –

(Bài viết trong bối cảnh của giáo họ Ngô Thôn phải di dời, nhường đất cho dự án sân bay Gia Bình)

#sanbaygiabinh #ghngothon #gpbacninh


 

Chủ nghĩa xã hội có gì ưu việt mà ông Tô Lâm quyết xây dựng? (BBC)

 (BBC)

2 tháng 6 2026

Khi Tổng Bí thư Tô Lâm đề nghị Hà Nội xây dựng thí điểm một xã hay phường “xã hội chủ nghĩa”, đó không phải là một câu nói bâng quơ mà là một chỉ thị, và là chính sách.

Thủ đô Hà Nội quyết định chọn hai phường và Lào Cai, một tỉnh miền núi, cũng chọn hai đơn vị cấp cơ sở để thí điểm.

Hải Phòng không chọn một địa phương cụ thể, mà thực hiện với quy mô rộng hơn, với mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội gắn với con người xã hội chủ nghĩa.

“Phải từ phạm vi cấp xã làm điểm, để rồi mới nhân rộng, làm tiếp và thậm chí khi phát triển ở mức cao hơn thì có những tỉnh hoặc thành phố xã hội chủ nghĩa,” Ủy viên Bộ Chính trị Đoàn Minh Huấn, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, nói trong phát biểu kết luận hội thảo “Xây dựng xã, phường xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên phát triển mới – Những vấn đề lý luận và thực tiễn” diễn ra vào ngày 21/5.

Kể từ Đổi mới 1986, tư duy kinh tế thị trường, vốn là đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa tư bản, đã phát triển khá sâu và rộng ở Việt Nam, đưa đất nước từng gắn với chiến tranh trở thành một nền kinh tế năng động của khu vực.

Thế nhưng, xuyên suốt gần bốn thập niên đó là một “sợi chỉ đỏ”: định hướng xã hội chủ nghĩa.

Trong giai đoạn Đổi mới 2.0, Tổng Bí thư Tô Lâm dường như quyết tâm biến chủ nghĩa xã hội từ một hệ tư tưởng thành một chương trình hành động.

Vậy điều gì khiến một mô hình mà phần lớn thế giới xa lánh vẫn tiếp tục được theo đuổi?

Từ ‘tiến nhanh, tiến mạnh’ đến ‘quá độ’

Đường phố Hà Nội vào tháng 4/1986

Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang trong cuộc đua để thực hiện điều mà các nhà lý luận của Đảng cho rằng “theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”.

Quy luật này đã được ghi trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 – một văn kiện xác lập con đường đi của Việt Nam vào thời điểm hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ.

Các nhà lãnh đạo của Việt Nam vẫn cho rằng việc đi lên chủ nghĩa xã hội “phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”, nhưng phải cần một thời kỳ quá độ.

Trong thời kỳ đó, Đảng cho phép kinh tế thị trường – vốn là đặc trưng của chủ nghĩa tư bản – nhưng để không chệch hướng nên cần có “định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Trong một chế độ do Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo, mục tiêu xây dựng xã hội chủ nghĩa dường như là lựa chọn tất yếu.

Sau khi Việt Nam thống nhất, Quốc hội Việt Nam đã đổi tên nước thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam vào tháng 7/1976.

Đảng Cộng sản tổ chức Đại hội lần thứ 4 vào tháng 12/1976, với khẩu hiệu: “Cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”.

Để bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, chính quyền đã thực hiện một loạt các cuộc cải tạo công thương nghiệp, bắt đầu từ giới tư bản người Hoa rồi mở rộng ra các doanh nghiệp khác.

Hệ quả là nền kinh tế thị trường ở miền Nam đã hoàn toàn bị xóa bỏ và kinh tế kế hoạch, đặc trưng của xã hội chủ nghĩa, chiếm lĩnh.

Cho đến Đại hội 5 diễn ra vào năm 1982, khẩu hiệu vẫn thể hiện quyết tâm: “Tất cả vì Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vì hạnh phúc của nhân dân.”

Nhưng điều đó đã gây ra khủng hoảng.

Nhưng hàng loạt sai lầm trong quản lý kinh tế đã tạo nên các cuộc khủng hoảng. Sản xuất đình đốn vì thiếu nguyên liệu cũng như thiếu thị trường trong khi đó lạm lạm phát tăng phi mã.

Năm 1985 và 1986 là hai năm Việt Nam chứng kiến rơi vào vòng xoáy siêu lạm phát.

IMF tính toán lạm phát Việt Nam năm 1986 là 453%, trong khi Ngân hàng Thế giới đưa ra con số 398%.

Ở trong nước, các chuyên gia tính được lạm phát năm 1986 là 774%.

Điều đó đã đặt Đảng Cộng sản vào tình thế phải đánh giá lại chính sách.

Sau cái chết của Tổng Bí thư Lê Duẩn, Đảng đã đề ra chính sách Đổi mới. Kinh tế thị trường đã được đề cập đến, dù vẫn phải có “định hướng xã hội chủ nghĩa” – cụm từ hài hòa để tránh làm mếch lòng các nhà bảo thủ.

Con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội dường như đã gặp phải thách thức lớn nhất: hệ thống chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ vào cuối thập niên 1980, đầu thập niên 1990.

Sự kiện này đã đặt các nhà lãnh đạo Việt Nam trước những do dự về con đường phía trước.

Nhưng rồi, làn sóng đổi mới cấp tiến nhanh chóng bị chặn lại, và những người đưa ra chủ trương này đã bị truất phế, như Ủy viên Bộ Chính trị Trần Xuân Bách.

Kinh tế thị trường và nỗi lo ‘chệch hướng’

Đảng Cộng sản tổ chức Đại hội 7 vào tháng 6/1991 và thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thay vì “tiến nhanh, tiến mạnh”.

Bản cương lĩnh đưa ra 6 đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa, gồm: do nhân dân làm chủ; nền kinh tế phát triển cao; văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; không có áp bức, bất công; làm theo năng lực, hưởng theo lao động; và có quan hệ hữu nghị và hợp tác với quốc tế…

Thời điểm này, các chủ trương về Đổi mới mới được bắt đầu thực thi và khái niệm kinh tế thị trường được áp dụng trong thực tế trong khi lệnh cấm vận từ Mỹ vẫn chưa được gỡ bỏ.

Cho dù thừa nhận kinh tế tư nhân, Đảng vẫn xác lập kinh tế quốc doanh đóng vai trò chủ đạo.

Từ Đổi mới 1986 đến Cương lĩnh 1991 là một thời kỳ mà giới lý luận ở Việt Nam “tranh cãi liên miên”, giữa kinh tế thị trường và nỗi sợ chệch hướng xã hội chủ nghĩa, theo Huy Đức, tác giả của bộ sách Bên thắng cuộc.

Đại hội 7 cũng đã bầu ông Đỗ Mười làm tổng bí thư.

Ông Đỗ Mười, từng là vị chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã thành công trong việc đẩy lùi nạn siêu lạm phát trong thập niên 1980, là người được miêu tả luôn lo ngại về nguy cơ “chệch hướng”.

Văn kiện của Đại hội 7 ban đầu có tên “Chiến lược phát triển kinh tế xã hội đến năm 2000” đã được thêm “đuôi” để trở thành: “Xây dựng đồng bộ cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.”

Huy Đức dẫn lời Bộ trưởng Thương mại Lê Văn Triết thời đó kể rằng, trước việc mở cửa làm ăn với các nước tư bản, tại một số hội nghị, Tổng Bí thư Đỗ Mười đã lên tiếng cảnh báo: “Coi chừng mất định hướng, mất chủ nghĩa xã hội.”

Nhưng dân chúng đã chứng kiến những sự thay đổi trong đời sống khi nền kinh tế được cởi trói và mở cửa làm ăn với nước ngoài, đặc biệt sau khi Mỹ bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam vào năm 1995.

Đầu tư nước ngoài gia tăng, số doanh nghiệp tư nhân thành lập trong nước cũng tăng theo.

Chủ nghĩa tư bản đã không còn bị hắt hủi, còn giới lý luận của Đảng bàn nhau chuyện “kế thừa cái gì và bỏ qua cái gì”.

Đã có rất nhiều thay đổi trong các thể chế kinh tế, tạo ra nhiều thay đổi trong xã hội.

Đến đại hội 11, Đảng Cộng sản đã bổ sung Cương lĩnh 1991 thêm hai đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa, gồm “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” và “có nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo”.

Lãnh đạo Đảng thời điểm này là ông Nguyễn Phú Trọng, một nhà lý luận chính trị, và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội tiếp tục được khẳng định là “phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”.

‘Làm gì có cái thứ đó mà đi tìm’

Năm 2013, Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh được mời đến Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh nói chuyện trước đông đảo người nghe là lãnh đạo của các địa phương.

Một câu hỏi được cử tọa đưa ra: Thế nào là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa?

Ông Vinh đáp: “Chúng ta cứ nghiên cứu mô hình đó, mà mãi có tìm ra đâu. Làm gì có cái thứ đó mà đi tìm.”

Nhưng sự thừa nhận của ông Vinh không khiến cho giới lãnh đạo Việt Nam bớt đi nhiệt huyết và khát vọng xây dựng chủ nghĩa xã hội.

VGP/BBC

Nhà lý luận Nguyễn Phú Trọng bày tỏ khát khao hoàn thiện mô hình xã hội chủ nghĩa riêng của Việt Nam.

Cụm từ “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” đã được ông Trọng nhắc lại vào năm 2021 là “một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Ðảng ta”.

Theo ông, kinh tế thị trường là “nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

“Đột phá sáng tạo” này dường như là cách Đảng muốn tạo ra sự khác biệt so với mô hình kiểu Trung Quốc.

Trung Quốc, kể từ sau khi lãnh tụ Mao Trạch Đông qua đời, từ cuối thập niên 1970, đầu 1980 đã chuyển đổi mô hình từ kế hoạch hóa sang kinh tế thị trường – được gọi là chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc.

Trung Quốc đã chứng kiến sự phát triển thần kỳ và đang nổi lên thành một cường quốc đối trọng với Mỹ.

Trong ba quốc gia cộng sản còn lại, Cuba gặp khó khăn từ sức ép của chính quyền Mỹ, trong khi Triều Tiên mang dáng dấp của một quốc gia phong kiến cha truyền con nối, còn Lào thì bị coi là chịu ảnh hưởng nặng nề từ Trung Quốc và Việt Nam.

Ưu việt hơn chủ nghĩa tư bản?

Việt Nam hiện vẫn là quốc gia có mức thu nhập trung bình cao và đang có hoài vọng trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

Đó là năm kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

Đó cũng là năm được xác định là “hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” và kết thúc thời kỳ quá độ.

Phần lớn những khát vọng xây dựng Việt Nam dân giàu, nước mạnh, hay nhà nước pháp quyền, cũng là những giá trị phổ quát mà các quốc gia tư bản chủ nghĩa từ châu Âu, châu Mỹ đến châu Á đã thực sự xây dựng được và làm tốt hơn Việt Nam.

Vậy điều gì khiến cho mô hình xã hội chủ nghĩa trở nên “ưu việt” hơn, mà Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn theo đuổi?

Xung đột ý thức hệ tư bản – cộng sản dường như không được đề cập đến nhiều, nhưng các nhà lý luận Việt Nam vẫn đề cập đến các “vấn đề của chủ nghĩa tư bản hiện đại”: phát triển nhưng không bền vững, “tự do, bình đẳng” nhưng không thực chất, chỉ là hình thức, và mâu thuẫn giữa lao động và tư bản ngày càng sâu sắc.

Ở chiều ngược lại, theo các nhà lý luận của Đảng, chủ nghĩa xã hội có những giá trị tốt đẹp cho con người, phát triển bền vững cả kinh tế, xã hội và môi trường, không chỉ hiện tại mà còn cả tương lai.

Ở trong chế độ đó, xã hội nhân ái, đoàn kết, hướng đến các giá trị tiến bộ, nhân văn, còn về chính trị thì quyền lực thật sự thuộc về nhân dân, theo bài viết Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam của ông Nguyễn Phú Trọng hồi tháng 5/2021.

“Phải chăng những mong ước tốt đẹp đó chính là những giá trị đích thực của chủ nghĩa xã hội và cũng chính là mục tiêu, là con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn và đang kiên định, kiên trì theo đuổi,” ông Trọng đặt vấn đề.

Các nhà lý luận của Đảng Cộng sản dường như đang muốn giải quyết những mâu thuẫn của chủ nghĩa xã hội và thị trường, một mặt nhấn mạnh đến tăng trưởng kinh tế (dân giàu, nước mạnh), mặt khác chú trọng đến “xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

Ông Nguyễn Phú Trọng là nhà lý luận trong khi ông Tô Lâm thiên về hành động

Nhưng ông Trọng vẫn chỉ dừng lại ở phần lý luận. Chưa có một kế hoạch hành động hay một mô hình nào được đưa ra thí điểm, cho đến thời điểm ông mất vào tháng 7/2024.

Kể từ khi ông Tô Lâm trở thành nhà lãnh đạo cao nhất của Đảng vào tháng 8/2024, khái niệm “kỷ nguyên vươn mình” đã ra đời và được nhắc đến thường xuyên, trở thành một chủ đề trong Đại hội 14.

Mục tiêu phú cường dường như đã trở thành một ưu tiên quan trọng nhất trong chương trình nghị sự của ông Tô Lâm, thể hiện qua việc yêu cầu phát triển kinh tế với tốc độ hàng năm từ 10% trở lên.

Và, được đánh giá là con người thiên về hành động, ông cũng đã gợi ý Hà Nội lên kế hoạch xây dựng thí điểm xã, phường xã hội chủ nghĩa.

Phát kiến của Việt Nam

Ông Tô Lâm, trong buổi nói chuyện về việc triển khai nghị quyết phát triển kinh tế nhà nước vào tháng 2/2026, đã một vài lần nhắc đến cuộc tranh luận trước đây của ông với “các giáo sư ở Đại học Harvard” về “làm gì có thị trường tự do” để nhấn mạnh ý phải có sự can thiệp của nhà nước.

Ông kể mình đã “nói với các giáo sư” rằng mô hình kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước là “phát kiến” của Việt Nam.

“Nhưng mà chúng tôi còn bận quá nhiều việc và thực tiễn, thành ra chưa nghiên cứu trở thành một luận thuyết về kinh tế của thế giới,” ông Tô Lâm nói, cho biết thêm rằng “các giáo sư của Harvard cũng rất đồng tình, sẵn sàng để thảo luận về những vấn đề này”.

Sự can thiệp của nhà nước vào thị trường chính là đặc trưng mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Điều đó có nghĩa là Việt Nam từ bỏ mô hình cổ điển kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, nhưng cũng không để thị trường tự do điều tiết hoàn toàn mà nhấn mạnh đến sự can thiệp của nhà nước.

Chính quyền Việt Nam trong thời gian qua đã đề cập đến khái niệm nhà nước kiến tạo phát triển (developmental state), vốn là mô hình đã tạo ra những thành công cho các nền minh tế Đông Á như Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan…

Suốt thời gian điều hành chính phủ từ năm 2016-2021, “chính phủ kiến tạo” là cụm từ được Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc ưa dùng, cứ nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần.

Đến khi ông Phạm Minh Chính làm thủ tướng, cụm từ này đã hầu như bị quên lãng, thay vào đó là các chỉ thị, mệnh lệnh có vần có điệu, từ “vượt nắng, thắng mưa” đến “ba ca, bốn kíp”…

Nhưng “nhà nước kiến tạo” đã xuất hiện trở lại, đặc biệt là khi ông Tô Lâm đưa ra nghị bộ tứ nghị quyết, là các chủ trương về phát triển kinh tế tư nhân, hội nhập quốc tế, đổi mới sáng tạo và cải cách thể chế.

Trong nhiệm kỳ 2026-2031, Đảng Cộng sản sẽ tổng kết 40 năm Đổi mới và 40 năm thực hiện Cương lĩnh 1991.

“Kỷ nguyên vươn mình” của ông Tô Lâm, với hàng loạt cải cách bộ máy nhà nước và chính quyền địa phương, được các định chế quốc tế như Ngân hàng Thế giới gọi là cuộc Đổi mới 2.0.

Việc bắt đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội từ cấp phường, xã dường như là bước khởi đầu để đến năm 2045 – như tuyên bố của ông Tô Lâm – kết thúc giai đoạn quá độ, để tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Theo lý luận của Karl Marx, chủ nghĩa xã hội chỉ là hình thái giai đoạn thấp và sẽ tiến lên hình thái cao hơn là chủ nghĩa cộng sản.


 

Con Người Cần Bao Nhiêu Đất

Phu Da News 

Con Người Cần Bao Nhiêu Đất

Con người từ ngàn đời vẫn luôn bị cám dỗ bởi khát vọng sở hữu nhiều hơn: nhiều đất đai hơn, nhiều tiền bạc hơn, nhiều của cải hơn, nhiều quyền lực hơn. Nhưng trong cuộc mải miết chạy theo những giá trị chóng qua của thế gian, người ta thường quên mất điều quan trọng nhất: linh hồn mình và cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa.

Một câu chuyện ngụ ngôn nổi tiếng, được gợi hứng từ tác phẩm của Lev Tolstoy, kể về một người nông dân tên là Pakhôm. Ông nghe tin rằng tại một vùng đất xa xôi có một địa chủ đưa ra một đề nghị hết sức đặc biệt: chỉ với một nghìn rúp, bất cứ ai cũng có thể sở hữu tất cả phần đất mà mình đi vòng quanh được trong một ngày, với điều kiện phải trở về đúng điểm xuất phát trước khi mặt trời lặn.

Pakhôm vô cùng phấn khởi. Ông nghĩ rằng đây chính là cơ hội lớn nhất trong đời mình. Sau khi nộp đủ số tiền, từ lúc bình minh vừa ló rạng, ông bắt đầu lên đường.

Ban đầu, ông bước đi thong thả. Nhưng khi nhìn thấy những cánh đồng rộng lớn trải dài trước mắt, lòng tham dần len lỏi vào tâm hồn ông:

“Đi thêm một chút nữa thôi! Mảnh đất này cũng có thể là của mình. Vẫn còn nhiều thời gian mà.”

Thế là ông tiếp tục đi.

Rồi lại đi thêm một đoạn nữa.

Và thêm một đoạn nữa.

Mỗi lần như thế, ông đều tự nhủ rằng mình vẫn còn đủ thời gian để quay về.

Cho đến khi ngẩng đầu nhìn lên bầu trời, ông chợt nhận ra mặt trời đã ngả dần về phía chân trời. Nỗi sợ hãi lập tức tràn ngập tâm trí. Ông quay đầu và dốc hết sức lực để chạy trở lại.

Ông chạy không ngừng.

Tim đập dồn dập.

Hơi thở ngày càng nặng nhọc.

Cả thân xác rã rời vì kiệt sức.

Cuối cùng, chỉ vài khoảnh khắc trước khi mặt trời lặn, ông đã về đến điểm xuất phát và đưa tay chạm vào nơi đã được quy định.

Ông đã thành công.

Nhưng cũng chính trong giây phút ấy, trái tim ông ngừng đập. Ông ngã xuống và chết ngay tại chỗ.

Nhìn thi thể bất động của ông, người địa chủ nói với những người hầu:

“Hãy đào cho ông ấy một cái huyệt dài hai mét, rộng một mét. Thật ra, đó là tất cả phần đất mà một con người cần.”

Câu chuyện ấy là tấm gương phản chiếu cho mỗi chúng ta.

Đất đai không xấu. Của cải vật chất cũng không phải là điều tội lỗi. Vấn đề chỉ xuất hiện khi chúng trở nên quan trọng hơn Thiên Chúa, hơn gia đình, hơn tình yêu thương và phần rỗi linh hồn.

Chúa Giêsu đã cảnh báo chúng ta trong Tin Mừng:

“Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì nào được ích gì?” (Mc 8,36)

Biết bao người đã dành cả cuộc đời để theo đuổi của cải vật chất mà quên mất cách sống thật sự. Họ quên trân trọng những người thân yêu. Quên tạ ơn Thiên Chúa. Quên rằng thời gian của mình trên trần gian này là hữu hạn.

Đến cuối cuộc đời, không ai có thể mang theo nhà cửa, ruộng đất, tiền bạc hay những tài sản đã tích góp. Điều còn lại trước mặt Thiên Chúa chính là đức tin, những việc lành phúc đức và tình yêu thương mà ta đã trao ban cho tha nhân.

Sự giàu có đích thực không được đo bằng số đất đai ta sở hữu, nhưng bằng sự bình an trong tâm hồn. Không nằm ở những gì ta tích trữ cho riêng mình, nhưng ở những gì ta biết quảng đại trao tặng cho người khác.

Vì thế, đừng dành cả cuộc đời để chạy theo những điều sẽ ở lại thế gian này. Hãy chăm lo cho linh hồn mình, bởi đó là kho tàng duy nhất sẽ đồng hành với chúng ta bước vào cõi vĩnh hằng.

Sau cùng, con người chỉ cần một khoảng đất rất nhỏ cho thân xác khi nhắm mắt xuôi tay, nhưng lại cần vô cùng nhiều Thiên Chúa để linh hồn được sống đời đời.

Lạy Chúa, xin gìn giữ tâm hồn chúng con khỏi lòng tham và sự quyến luyến quá mức đối với của cải đời này. Xin dạy chúng con biết tìm kiếm Nước Chúa trước hết, biết sử dụng những gì Chúa ban để yêu thương và phục vụ tha nhân, hầu khi kết thúc hành trình trần thế, chúng con được trở về trong vòng tay yêu thương của Chúa muôn đời. Amen.


 

Tesla không chết trong lãng quên-Tg văn chương 

 Trầm Mặc Huơng Lai

 Ngày 7 tháng 1 năm 1943, Nikola Tesla qua đời một mình trong căn phòng số 3327 của khách sạn New Yorker. Ông 86 tuổi. Hai ngày sau, một nhân viên mới phát hiện thi thể ông, sau cánh cửa vẫn treo tấm bảng nhỏ: “Xin đừng làm phiền.”

Nguyên nhân chính thức là một cơn huyết khối động mạch vành. Nhưng nếu phải nói thật, cái giết chết ông không là do bệnh tim. Đó là nhiều năm sống trong cô độc. Là những tháng ngày nghèo khổ. Là cảm giác bị thế giới bỏ lại phía sau — chính thế giới mà ông đã giúp thắp sáng.

Chính Nikola Tesla là người biến dòng điện xoay chiều thành hệ thống cung cấp năng lượng cho toàn bộ nhân loại. Dòng điện đó vẫn đang chạy trong từng bức tường, từng bóng đèn, từng căn bếp của chúng ta hôm nay. Ông là người tiên phong trong công nghệ vô tuyến, động cơ điện, truyền năng lượng không dây. Ông nắm giữ hàng trăm bằng sáng chế. Và ông đã hình dung ra Internet, năng lượng tái tạo, và truyền thông toàn cầu… từ rất lâu trước khi thế giới sẵn sàng hiểu được những điều đó.

Nhưng thiên tài không phải lúc nào cũng đi cùng với sự giàu có.

Ở những năm cuối đời, cuộc sống của Tesla vô cùng giản dị. Ông ăn chủ yếu bánh mì, mật ong, sữa và nước ép rau. Mỗi ngày, ông đi bộ ra công viên để cho chim bồ câu ăn. Trong số đó, có một con bồ câu trắng mà ông yêu quý đặc biệt. Ông từng nói rằng ông yêu nó như một người đàn ông yêu một người phụ nữ.

Và khi con chim ấy chết, một phần nào đó trong ông cũng chết theo.

Ít ai biết rằng đã có một thời, Tesla là ngôi sao của New York. Ông khiến bóng đèn sáng lên chỉ bằng cách chạm tay. Ông tạo ra những tia sét nhân tạo trong phòng thí nghiệm. Ông biến khoa học thành thứ gì đó vừa đáng kính, vừa giống phép thuật.

Giới đầu tư từng tin ông. Đám đông từng ngưỡng mộ ông.

Nhưng rồi, khi ông bắt đầu nói về việc cung cấp điện miễn phí cho toàn thế giới — không dây, không giới hạn — những người tài trợ bắt đầu rút lui. Không phải vì ông sai. Mà vì giấc mơ của ông quá lớn. Và thế giới, như thường lệ, luôn nghi ngờ những người đi trước thời đại của mình.

Ông dần bị xem là một kẻ lập dị.

Ông chết trong một căn phòng khách sạn, không tiền, không gia đình bên cạnh. Trong khi bên ngoài, hàng triệu bóng đèn vẫn sáng — nhờ chính ông.

Nhưng cái chết không thể làm ông biến mất.

Đám tang của ông có hàng ngàn người tham dự. Các nhà khoa học, kỹ sư, và những người hiểu được giá trị thật của ông đã đến để nói lời tạm biệt. Nhiều năm sau, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ chính thức công nhận Tesla là người đặt nền móng cho công nghệ radio.

Lịch sử, cuối cùng, đã sửa lại sai lầm của mình.

Ngày nay, tên ông không chỉ tồn tại trong sách khoa học. Nó còn tồn tại trong công nghệ, trong tương lai, và thậm chí trong tên của những công ty đang thay đổi thế giới hiện đại.

Tesla không chết trong lãng quên.

Ông chết sau khi đã hoàn thành sứ mệnh của mình.

Có những người sống lâu nhưng không để lại dấu vết.

Và có những người ra đi trong cô độc… nhưng ánh sáng của họ thì ở lại mãi mãi.

Nikola Tesla là một trong những người như thế.

Ông ra đi trong thinh lặng.

Nhưng thế giới ông thắp sáng… vẫn chưa bao giờ tắt.

#NikolaTesla #ThiênTài #LịchSử #KhoaHọc #DiSản #ÁnhSáng #TruyềnCảmHứng #fbLifestyle

Tg văn chương 


 

QUYỀN KHÔNG CÒN ĐÚNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Đừng chống cự người ác!”.

Sau 27 năm tù, khi trở thành Tổng thống Nam Phi, Nelson Mandela có đủ quyền lực để trả thù những người từng giam cầm mình. Nhưng ông đã chọn một con đường khác: mời chính viên cai ngục của ông đến dự lễ nhậm chức. Cả thế giới sững sờ.

Kính thưa Anh Chị em,

Người ta thường đồng hoá quyền lực với chân lý; nói cách khác, với điều đúng. Lời Chúa hôm nay đặt ra một nghịch lý: có những lúc quyền vẫn còn đó, nhưng điều đúng lại nằm ở việc không sử dụng nó. Đó là lúc ‘quyền không còn đúng’.

Khi nói “Đừng chống cự người ác!”, Chúa Giêsu không cổ võ sự hèn nhát, cũng không chấp nhận sự bất công. Động từ Hy Lạp ở đây, mē antistēnai, hàm ý: đừng đáp trả sự dữ bằng chính logic của sự dữ. Người môn đệ vẫn đứng về phía điều đúng, nhưng không để điều ác quyết định cách mình hành động. Bởi lẽ, đáp trả điều ác bằng cùng một thứ vũ khí chỉ làm điều ác nhân đôi. Nói cách khác, người môn đệ không để mình xuống cùng một cấp độ với kẻ tấn công mình.

Điều khó nhất không phải là chiến thắng một cuộc xung đột, nhưng là giữ cho tâm hồn mình không bị biến dạng bởi nó. Đó là một chiến thắng khó hơn nhiều so với việc đánh bại đối phương. “Lấy hận thù đáp trả hận thù chỉ làm hận thù gia tăng, thêm bóng tối vào một đêm vốn đã không còn sao!” – Martin Luther King Jr..

Vậy điều gì xảy ra khi con người đồng hoá quyền lực với điều đúng? Akháp muốn vườn nho của Navốt; hoàng hậu dùng quyền lực để đạt điều ấy – bài đọc một. Một người vô tội bị giết, và điều sai được khoác lên dáng vẻ của công lý. Điều đáng sợ không phải là có quyền, nhưng là tin rằng mình đúng chỉ vì mình có quyền. Thế nhưng, không phải mọi điều tôi có quyền làm đều là điều tôi nên làm. Đó là lúc ‘quyền không còn đúng’.

Vậy mà câu chuyện vườn nho không hề là một câu chuyện xa xưa. Nó vẫn xuất hiện trong những phản ứng rất thường ngày của chúng ta. Khi bị tổn thương, chúng ta nghĩ mình có quyền trả miếng; khi bị hiểu lầm, chúng ta nghĩ mình có quyền làm tổn thương lại; khi nắm phần đúng, chúng ta nghĩ mình có quyền chiến thắng bằng mọi giá. Không! Chính ở đó, Tin Mừng đặt ra một câu hỏi khó hơn nhiều: điều tôi sắp làm có chữa lành vết thương này, hay chỉ làm nó sâu thêm? “Điều đúng không trở nên đúng hơn vì nhiều người tin; điều sai không trở nên đúng hơn vì nhiều người làm!” – G. K. Chesterton.

Anh Chị em,

Chúa Giêsu đã sống điều Ngài dạy. Khi bị vả mặt trong dinh thượng tế, Ngài hỏi: “Nếu tôi nói sai, hãy chứng minh xem sai ở chỗ nào; còn nếu tôi nói phải, tại sao anh lại đánh tôi?”. Ngài không trả đũa, cũng không thoả hiệp với điều sai. Ngài vẫn đứng về phía chân lý mà không dùng phương thế của sự dữ. Trên thập giá, điều thế gian gọi là thua lại trở thành chiến thắng của tình yêu. Có những lúc, chiến thắng thật sự bắt đầu khi chúng ta từ bỏ quyền trả đũa.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con biết chọn điều đúng theo cách của Chúa; giữ tâm hồn con khỏi bị biến dạng bởi điều ác; và xin hiểu thấu điều con thầm thĩ nguyện xin!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*********************************

Lời Chúa Thứ Hai, Tuần XI Thường Niên, Năm Chẵn

Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là của kẻ sống.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 12,18-27

18 Khi ấy, có những người thuộc nhóm Xa-đốc đến gặp Đức Giê-su. Nhóm này chủ trương không có sự sống lại. Họ hỏi Người : 19 “Thưa Thầy, ông Mô-sê có viết cho chúng ta rằng : “Nếu anh hay em của người nào chết đi, để lại vợ goá mà không có con, thì người ấy phải lấy nàng, để sinh con nối dòng cho anh hay em mình.” 20 Vậy có bảy anh em trai. Người thứ nhất lấy vợ, nhưng chết đi mà không có con nối dòng. 21 Người thứ hai lấy bà đó, rồi cũng chết mà không có con nối dòng. Người thứ ba cũng vậy. 22 Cả bảy người đều không có con nối dòng. Sau cùng, người đàn bà cũng chết. 23 Trong ngày sống lại, khi họ sống lại, bà ấy sẽ là vợ của ai trong số họ ? Vì cả bảy người đều đã lấy bà làm vợ.”

24 Đức Giê-su nói : “Chẳng phải vì không biết Kinh Thánh và quyền năng Thiên Chúa mà các ông lầm sao ? 25 Quả vậy, khi người ta từ cõi chết sống lại, thì chẳng còn lấy vợ lấy chồng, nhưng sẽ giống như các thiên thần trên trời. 26 Còn về vấn đề kẻ chết trỗi dậy, các ông đã không đọc trong sách Mô-sê đoạn nói về bụi gai sao ? Thiên Chúa phán với ông ấy thế nào ? Người phán : ‘Ta là Thiên Chúa của Áp-ra-ham, Thiên Chúa của I-xa-ác, và Thiên Chúa của Gia-cóp’. 27 Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là của kẻ sống. Các ông lầm to !”


 

QUÍ ‘ BÔ LÃO’ TỪ 80 NÊN BIẾT

QUÍ ‘ BÔ LÃO’ TỪ 80 NÊN BIẾT

Vì sao nhiều người qua đời không lâu sau khi bước qua tuổi 80?

Bạn có bao giờ tự hỏi vì sao rất nhiều người dường như qua đời không lâu sau khi tròn 80 tuổi?

Đây là một câu hỏi khiến nhiều người băn khoăn — và có lý do chính đáng.

Sự thật là, vượt qua ngưỡng tuổi 80 không chỉ đơn giản là “già đi”.

Nó còn liên quan đến cách ta chăm sóc bản thân, cách cơ thể phản ứng với tuổi tác, và những thói quen hàng ngày — thứ có thể bảo vệ ta hoặc ngược lại, khiến cơ thể yếu đi.

Trong khi có người vẫn sống khỏe mạnh tới tận 90 tuổi, thì những người khác lại cảm thấy sức khỏe sa sút nhanh hơn họ tưởng.

Trong bài này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu 6 nguyên nhân quan trọng khiến nhiều người cao tuổi có tuổi thọ ngắn hơn sau 80.

Những điều này không phải là suy đoán ngẫu nhiên, mà là những mẫu hình và thực tế lặp đi lặp lại trong đời sống của người già trên khắp thế giới.

Mỗi nguyên nhân sẽ giúp bạn hiểu điều gì đang rút ngắn tuổi thọ — và quan trọng hơn, làm sao để ngăn chặn nó.

Hãy ở lại đến cuối, vì nguyên nhân cuối cùng có thể là điều bạn chưa từng nghĩ đến, nhưng lại tạo nên khác biệt rất lớn trong cách bạn đối mặt với tuổi già.

  1. Suy giảm cơ bắp và khả năng vận động

Một trong những yếu tố quan trọng nhất rút ngắn tuổi thọ sau 80 là sự suy giảm sức mạnh cơ bắp và khả năng di chuyển.

Khi thời gian trôi qua, quá trình mất cơ tự nhiên — gọi là sarcopenia — trở nên rõ rệt hơn.

Ngay cả khi bạn từng năng động khi còn trẻ, khả năng duy trì khối cơ sẽ giảm đi trừ khi bạn chủ động tập luyện để giữ lại.

Khi cơ yếu đi, thăng bằng và phối hợp vận động cũng giảm, khiến nguy cơ té ngã tăng cao.

Với người trên 80 tuổi, một cú ngã nghiêm trọng có thể làm thay đổi hoàn toàn cuộc sống — dẫn đến nằm viện lâu ngày, mất khả năng tự lập, và sự suy giảm sức khỏe khó đảo ngược.

Khi khả năng vận động giảm, mức độ hoạt động chung cũng giảm theo.

Điều này tạo thành vòng luẩn quẩn: ít vận động → cơ yếu hơn → càng khó di chuyển → lại càng ít hoạt động.

Những việc đơn giản như leo cầu thang, đứng lên khỏi ghế hay mang đồ cũng trở nên nặng nề.

Và khi các hoạt động thường ngày trở nên mệt mỏi, nhiều người bắt đầu né tránh — từ đó đẩy nhanh quá trình mất cơ.

Theo thời gian, ít vận động còn ảnh hưởng đến tim và phổi, làm giảm sức bền và khả năng chống chịu bệnh tật.

Sự mất sức này không chỉ là vấn đề thể chất mà còn ảnh hưởng đến tâm lý — khiến người già dễ nản, tự ti, hoặc thu mình khỏi các hoạt động xã hội.

Cô đơn và căng thẳng kéo dài lại làm yếu thêm hệ miễn dịch, khiến cơ thể dễ mắc bệnh hơn.

Một ví dụ thực tế: ông Harold, 84 tuổi, từng rất thích làm vườn.

Nhưng một mùa đông lạnh, ông ngừng đi dạo hằng ngày.

Chỉ sau vài tháng, ông nhận ra mình nhanh mệt hơn, đôi chân yếu đi, và khi mùa xuân tới, việc cúi xuống trồng hoa cũng trở nên khó khăn.

Sự thay đổi diễn ra nhanh hơn ông tưởng.

Tin tốt là: ngay cả ở tuổi 80 trở lên, vẫn có thể làm chậm quá trình này.

Tập thể dục nhẹ như đi bộ, tập kháng nhẹ, hoặc các bài tập trên ghế đều giúp duy trì sức mạnh và sự dẻo dai — điều quan trọng là sự đều đặn.

Giữ cơ thể vận động hằng ngày chính là cách bảo vệ khả năng tự lập và chất lượng cuộc sống.

  1. Dinh dưỡng kém và ăn uống không đủ năng lượng

Một nguyên nhân lớn khác khiến nhiều người không sống lâu sau 80 là chế độ dinh dưỡng nghèo nàn hoặc ăn quá ít.

Ở tuổi này, cảm giác thèm ăn tự nhiên thường giảm — do ít vận động, thay đổi vị giác, hoặc tác dụng phụ của thuốc.

Kết quả là cơ thể không nhận đủ năng lượng và dưỡng chất để duy trì sức khỏe.

Theo thời gian, việc ăn uống kém khiến hệ miễn dịch yếu, cơ teo, và phục hồi sau bệnh chậm.

Nhiều người lớn tuổi gặp khó khi nhai hoặc nuốt, nhất là khi răng yếu, nên tránh ăn rau, thịt nạc hay các loại hạt — những thực phẩm vốn rất giàu dinh dưỡng.

Thay vào đó, họ chọn đồ chế biến sẵn, dễ nhai nhưng lại thiếu protein, vitamin và khoáng chất.

Đặc biệt, thiếu protein khiến cơ thể nhanh yếu, mất sức và dễ ngã.

Một số người thậm chí bỏ bữa vì cảm thấy nấu nướng quá mệt, nhất là khi sống một mình.

Ăn uống lành mạnh sau 80 không phải là ăn nhiều, mà là ăn đúng — chọn rau quả tươi nhiều màu, thịt nạc, ngũ cốc nguyên hạt và chất béo lành mạnh.

  1. Bệnh mạn tính không được kiểm soát

Khi bước sang tuổi 80, phần lớn mọi người đều sống chung với ít nhất một bệnh mạn tính như tim mạch, tiểu đường, viêm khớp hoặc bệnh phổi.

Vấn đề là những bệnh này cần theo dõi sát sao để không trở nặng.

Đáng tiếc, nhiều người hoặc xem nhẹ việc chăm sóc hằng ngày, hoặc gặp khó khăn trong việc duy trì thói quen điều trị.

Việc bỏ khám định kỳ, quên thuốc, hoặc xem nhẹ triệu chứng sớm khiến bệnh tiến triển mà không được phát hiện.

Những dấu hiệu như mệt mỏi, khó thở hay phù chân có thể bị cho là “già yếu thôi”, trong khi thật ra là dấu hiệu của biến chứng tim hoặc thận.

Dù bệnh mạn tính không thể chữa dứt điểm, nhưng hoàn toàn có thể kiểm soát bằng việc tuân thủ điều trị, tái khám đều, và trao đổi cởi mở với bác sĩ.

  1. Cô đơn và thiếu gắn kết xã hội

Sau 80 tuổi, thiếu kết nối xã hội là yếu tố cực kỳ quan trọng nhưng hay bị bỏ qua.

Bạn bè, người thân có thể qua đời hoặc sống xa, còn cơ hội giao tiếp thường ngày cũng ít dần.

Khi cô đơn kéo dài, cả tinh thần lẫn thể chất đều suy yếu.

Cô đơn không chỉ là cảm giác — nó có tác động sinh học rõ ràng: làm tăng huyết áp, gây viêm mạn tính và suy giảm miễn dịch.

Về tâm lý, nó dễ dẫn đến trầm cảm, khiến người già mất động lực ăn uống, vận động, hay tuân thủ thuốc men.

Giữ mối quan hệ xã hội sau 80 cần chủ động — tham gia câu lạc bộ, tình nguyện, đi lễ, hoặc đơn giản là thường xuyên gặp gỡ con cháu, bạn bè.

Kết nối xã hội không phải là xa xỉ — nó là nhu cầu sinh tồn.

  1. Sức đề kháng yếu và dễ nhiễm bệnh

Sau 80 tuổi, hệ miễn dịch suy yếu tự nhiên (gọi là immunosenescence).

Những bệnh tưởng như nhẹ — cảm cúm, viêm phổi, nhiễm trùng tiểu — có thể trở nên nghiêm trọng hơn nhiều.

Cơ thể sản xuất ít tế bào miễn dịch hơn, vết thương lâu lành, và khi mắc bệnh, khả năng hồi phục cũng chậm hơn.

Những người mắc bệnh mạn tính (như tiểu đường, tim mạch) càng dễ bị nhiễm trùng nặng.

Phòng bệnh là then chốt — tiêm chủng đầy đủ (cúm, viêm phổi, COVID, zona), giữ vệ sinh, chăm sóc răng miệng, ăn uống lành mạnh và đi khám sớm khi có dấu hiệu bất thường.

  1. Lối sống ít vận động

Một thói quen gây hại nhất sau 80 là ngồi quá nhiều và ít di chuyển.

Hoạt động thể chất giúp tim khỏe, giữ cơ bắp, bảo vệ xương và cải thiện thăng bằng.

Nhiều người lớn tuổi giảm vận động vì đau khớp, mệt mỏi hay sợ té ngã.

Nhưng càng ít hoạt động, cơ càng yếu, trí nhớ càng kém, và cơ thể càng nhanh suy kiệt.

Ngay cả những hoạt động nhẹ như duỗi người, đi bộ ngắn, làm vườn hoặc tập trên ghế cũng mang lại lợi ích lớn.

Điều quan trọng không phải là cường độ — mà là duy trì sự vận động đều đặn.

Kết luận

Chúng ta vừa cùng điểm qua 6 nguyên nhân phổ biến khiến tuổi thọ sau 80 bị rút ngắn:

Suy giảm cơ và vận động

Dinh dưỡng kém

Bệnh mạn tính không kiểm soát

Cô đơn

Hệ miễn dịch yếu

Lối sống tĩnh tại

Mỗi yếu tố trên đều có thể được cải thiện.

Những thay đổi nhỏ — như đi bộ mỗi ngày, ăn uống cân bằng, duy trì giao tiếp xã hội và tuân thủ điều trị — có thể tạo ra khác biệt lớn.

Cuộc sống sau 80 vẫn có thể tràn đầy ý nghĩa, niềm vui và sức sống — nếu ta chủ động bảo vệ sức khỏe và giữ kết nối với thế giới quanh mình.

Người dịch : HCD: Bên trên là transcript (dịch từ Anh ngữ) lời của xướng ngôn viên, tôi check lại thì thấy đúng gần hết (dưới) nên gởi các bạn tham khảo may ra có ich phần nào

From: NguuyenNThu


 

Khi một cái ôm làm dấy lên tranh cãi: Bức ảnh Đức Giáo hoàng Lêô XIV và bài học về phán xét 

Phạm Quang Long

Khi một cái ôm làm dấy lên tranh cãi: Bức ảnh Đức Giáo hoàng Lêô XIV và bài học về phán xét 

BARCELONA — Ngày 8/6/2026, dưới bầu trời đêm của Sân vận động Olympic Lluís Companys, gần 40.000 bạn trẻ tụ họp cho buổi canh thức cầu nguyện cùng Đức Giáo hoàng Lêô XIV. Giữa dòng người, một khoảnh khắc ngắn ngủi đã vượt khỏi khuôn viên sân vận động và trở thành tâm điểm tranh luận trên mạng xã hội Công giáo: một cô gái trẻ lao đến, vòng tay ôm Đức Giáo hoàng. Ngài đáp lại bằng ánh nhìn chăm chú và nụ cười hiền.

Hai ngày sau, khi bức ảnh được Vatican Media phát hành chính thức, cuộc tranh luận vẫn chưa lắng xuống. Với người này, đó là hình ảnh của lòng trắc ẩn. Với người khác, đó là sự suồng sã, thiếu tôn trọng ngai tòa Phêrô. Câu hỏi đặt ra không chỉ là về nghi thức, mà là về cách chúng ta nhìn nhau.

1- Bối cảnh đằng sau bức ảnh

Cô gái trong ảnh tên Carmina. Vài phút trước cái ôm, cô đứng trước đám đông để kể câu chuyện của mình: trầm cảm, một lần tự tử bất thành, và câu hỏi dồn nén “Thiên Chúa ở đâu khi bóng tối quá lớn?”. Đức Lêô XIV trả lời, giọng chậm và ấm: “Thiên Chúa không muốn đau khổ. Người mang nó cùng chúng ta.” Ngài cũng chỉ trích văn hóa ám ảnh thành tích khiến nhiều người trẻ chịu đựng trong im lặng.

Vatican không giấu bức ảnh. Họ chọn nó. Bộ Truyền thông Tòa Thánh, với đội ngũ biên tập và nhiếp ảnh chuyên nghiệp, hiểu rõ mỗi hình ảnh được phát ra đều mang một thông điệp. Thông điệp ở đây không phải về một cử chỉ thân mật, mà về một cuộc gặp gỡ: giữa vết thương và hy vọng.

2- Lịch sử lặp lại

Hơn 2.000 năm trước, Tin Mừng Luca kể một cảnh tương tự. Tại nhà ông Simon biệt phái, một người phụ nữ bị gọi là “tội lỗi” lao vào, khóc, lấy tóc lau chân Chúa Giêsu. Đám đông xầm xì: “Nếu ông này là ngôn sứ…”. Họ nhìn cử chỉ. Chúa nhìn trái tim.

Hôm nay, câu hỏi gần như lặp lại: “Sao Đức Giáo hoàng để cô ấy ôm?”. Một bên tập trung vào quy tắc. Bên kia, vị mục tử tập trung vào con người. Bức ảnh cho thấy không có sự lúng túng, không có nỗ lực đẩy ra. Chỉ có sự hiện diện. Trong khoảnh khắc đó, cái ôm giống một phép lành thinh lặng hơn là một hành vi phạm.

3- Nghi thức và ngoại lệ

Giáo hội là cộng đoàn, nhưng cũng là định chế có trật tự. Trong nhiều thế kỷ, tiếp kiến Đức Giáo hoàng tuân theo nghi thức: cúi đầu, bắt tay, trao đổi ngắn. Những cử chỉ tự phát luôn là ngoại lệ, không phải quy chuẩn. Sai lầm là lên án cô gái, hoặc biến ngoại lệ thành chuẩn mực mới.

Sự khôn ngoan Kitô giáo nằm ở chỗ phân biệt: đâu là quy tắc để bảo vệ phẩm giá, đâu là khoảnh khắc mục vụ để chữa lành. Carmina không đại diện cho tất cả. Cô đại diện cho những người đã đi đến bờ vực và cần một ánh nhìn không phán xét.

4- Khi nghi kỵ thay thế phân định

Bức ảnh làm lộ một thực tế của thời đại: chúng ta sống trong văn hóa nghi kỵ. Những scandal trong quá khứ khiến nhiều tín hữu mất niềm tin, và vết thương chưa lành có thể bóp méo nhận thức. Kết quả là ta nghi ngờ trước khi hiểu, buộc tội trước khi lắng nghe.

Nhưng phân định khác với nghi kỵ. Phân định tìm sự thật. Các nhà tâm lý gọi đây là “chữa lành trong mối quan hệ”: một ánh nhìn đón nhận, một lời nói không lên án, có thể trở thành mốc quan trọng cho người từng muốn kết thúc đời mình. Đó chính là điều Đức Lêô XIV nhấn mạnh tại Barcelona: “Chúng ta được tạo dựng cho cõi vĩnh hằng. Không đêm đen nào kéo dài mãi.”

5- Kết

Cuối cùng, bức ảnh không nói về một cái ôm. Nó nói về cách chúng ta chọn nhìn thế giới. Khi đứng trước điều mình chưa hiểu, ta chọn nghi kỵ như người biệt phái, hay chọn lòng thương xót như Chúa Giêsu?

“Phúc cho ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương” (Mt 5,7).

Trong thời đại hình ảnh lan truyền trong tích tắc, câu trả lời cho câu hỏi ấy có lẽ quan trọng hơn cả bức ảnh.

— Phạm Quang Long dịch bản tin của Duchess Audrey


 

Những nhân tài như Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk,… không bao gio sinh ra ở những nước độc tài.

Nguyễn Văn Đài

Những nhân tài như Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk,… không bao gio sinh ra ở những nước độc tài.

Trong lịch sử phát triển nhân loại, những thiên tài công nghệ đã thay đổi cả thế giới thường xuất hiện ở những môi trường tự do, cởi mở. Steve Jobs với Apple, Mark Zuckerberg với Facebook, Elon Musk với SpaceX và Tesla là những minh chứng điển hình cho sức mạnh sáng tạo của nước Mỹ – một nền dân chủ tự do. Ngược lại, ở những quốc gia độc tài, nơi quyền lực tập trung, tự do bị kìm hãm, rất hiếm có những nhân tài kiểu ấy. Đây không phải ngẫu nhiên mà là quy luật logic của sự phát triển.

Trước hết, nhân tài công nghệ lớn cần tự do tư tưởng và sáng tạo. Steve Jobs và Steve Wozniak đã có thể thí nghiệm, thất bại và thử nghiệm lại trong garage mà không sợ bị kiểm soát hay đàn áp. Mark Zuckerberg xây dựng Facebook từ ký túc xá đại học với ý tưởng kết nối mọi người một cách cởi mở. Elon Musk dám mơ về du hành vũ trụ và xe điện vì ông tin rằng ý tưởng cá nhân có thể thách thức cả ngành công nghiệp truyền thống. Ở các nước độc tài, nhà nước kiểm soát thông tin, giáo dục và tư tưởng. Bất kỳ ý tưởng nào đi ngược lại đường lối chính thống đều có nguy cơ bị coi là “phản động”. Lịch sử cho thấy, dưới các chế độ toàn trị, sáng tạo bị bóp nghẹt bởi kiểm duyệt, tuyên truyền và sợ hãi. Các nhà khoa học, kỹ sư tài năng thường phải im lặng hoặc chạy trốn (brain drain) thay vì dám nghĩ lớn và làm khác biệt.

Thứ hai, môi trường kinh tế tự do và hệ thống pháp lý bảo vệ quyền sở hữu là yếu tố then chốt. Ở Mỹ, hệ thống tư bản chủ nghĩa khuyến khích đầu tư mạo hiểm (venture capital), bảo vệ bản quyền trí tuệ nghiêm ngặt và cho phép doanh nghiệp tư nhân cạnh tranh gay gắt. Thất bại không phải là tội lỗi mà là bài học. Nhờ đó, các startup có thể phát triển từ con số zero thành đế chế toàn cầu. Ngược lại, ở nước độc tài, kinh tế thường bị nhà nước chi phối, tham nhũng lan tràn, tài sản cá nhân không được bảo vệ. Doanh nhân tài giỏi dễ bị “vô tình” quốc hữu hóa hoặc bị ép phải phục vụ lợi ích chính trị. Sáng tạo bị thay thế bằng chỉ thị hành chính. Kết quả là, dù có một số công ty lớn (như một số tập đoàn công nghệ ở Trung Quốc), họ thường mạnh về sao chép, sản xuất quy mô lớn hơn là sáng tạo đột phá thay đổi cuộc chơi toàn cầu.

Hơn nữa, hệ thống giáo dục và văn hóa khuyến khích cá nhân cũng đóng vai trò quyết định. Các đại học hàng đầu Mỹ như Stanford, MIT không chỉ dạy kiến thức mà còn nuôi dưỡng tinh thần phản biện, làm việc nhóm và theo đuổi đam mê. Văn hóa Mỹ tôn vinh “American Dream” – ai cũng có cơ hội thành công nếu dám nghĩ, dám làm. Trong khi đó, giáo dục ở nhiều nước độc tài nhấn mạnh sự tuân phục, học thuộc lòng và trung thành với hệ tư tưởng. Cá tính, sự khác biệt bị coi là nguy hiểm. Những Elon Musk tương lai bị dập tắt từ ghế nhà trường.

Tất nhiên, không phải nước độc tài nào cũng hoàn toàn không có nhân tài. Một số quốc gia như Trung Quốc hay Nga cũng có những kỹ sư xuất sắc và thành tựu công nghệ nhất định. Tuy nhiên, những thành tựu ấy thường nằm trong lĩnh vực nhà nước ưu tiên (quân sự, giám sát) hoặc dựa trên chuyển giao công nghệ từ phương Tây, chứ ít khi là những cuộc cách mạng dân sự, sáng tạo tự do như iPhone, mạng xã hội toàn cầu hay tên lửa tái sử dụng. Hơn nữa, nhiều nhân tài thực sự của các nước này lại chọn di cư đến Mỹ để thực hiện ước mơ.

Từ bài học ấy, để có những “Steve Jobs Việt Nam”, chúng ta cần nhận thức rõ: tài năng không sinh ra trong chân không. Việt Nam có dân số trẻ, ham học hỏi và khát vọng vươn lên. Nhưng để nhân tài thực sự nở rộ, cần không gian tự do hơn: cải cách giáo dục theo hướng sáng tạo và phản biện, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, khuyến khích doanh nghiệp tư nhân, giảm kiểm soát hành chính và xây dựng nhà nước pháp quyền minh bạch. Chỉ khi con người được tự do suy nghĩ, tự do thất bại và tự do thành công, những ý tưởng vĩ đại mới có đất sống.

Tóm lại, Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk không phải sản phẩm ngẫu nhiên của nước Mỹ mà là kết tinh của một hệ thống tôn vinh tự do cá nhân và sáng tạo. Những nước độc tài, với bản chất kiểm soát và sợ hãi sự khác biệt, khó lòng đẻ ra những nhân tài thay đổi thế giới. Muốn Việt Nam có những thiên tài công nghệ tầm cỡ, con đường duy nhất là dũng cảm mở cửa cho tự do – tự do tư tưởng, tự do kinh doanh và tự do theo đuổi giấc mơ. Đó chính là chìa khóa để dân tộc ta không chỉ bắt kịp mà còn dẫn dắt tương lai.

#NguyenVanDai