Đức Khiêm Nhường và Sự Kiêu Ngạo –  Tác giả: Phùng Văn Phụng

Đức Khiêm Nhường và Sự Kiêu Ngạo

 Hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường (Mt 11:29)

 Tác giả: Phùng Văn Phụng

 Trong bảy mối tội đầu thì

 1)Thứ nhất là khiêm nhường chớ kiêu ngạo.

Chúa Giêsu nhắn nhủ: “Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11:29).

Trong một thế giới đề cao “cái tôi” và cách sống đầy ích kỷ như ngày nay, sống khiêm nhường là một thách đố lớn. Thế nên, chúng ta lại càng phải cố gắng tập sống khiêm nhường. Càng khó càng phải cố. Hãy bắt chước tác giả Thánh Vịnh mà luôn tự nhủ:

 Lòng con chẳng dám tự cao

Mắt con chẳng dám tự hào, Chúa ơi!

Đường cao vọng, chẳng đời nào bước

Việc diệu kỳ vượt sức, chẳng cầu

Hồn con, con vẫn trước sau

Giữ cho thinh lặng, giữ sao thanh bình. (Tv 131:1-2) 

Lạy Chúa, xin ban thêm đức tin và sức mạnh của Chúa Thánh Thần để chúng con có thể sống khiêm nhường theo đúng Thánh ý của Chúa. 

2-“Hãy học cùng ta vì Ta khiêm nhường” 

Đức khiêm nhường là gì? Thưa là nhân đức nền tảng của đời sống đạo đức. Nhờ khiêm nhường, người môn đệ của Chúa có thể dễ dàng nhận ra được tiếng nói của Chúa và gặp được Ngài trong cuộc đời của mình. Nhờ khiêm nhường mà chúng ta thấy cuộc đời của mình vui tươi, hạnh phúc.

 Chuyện kể:

 Đầu tháng bảy năm 1870, một phái đoàn người Pháp đến chầu Đức giáo hoàng Piô IX tại Roma. Sau khi trưởng phái đoàn đã đọc bài chào mừng, Đức giáo hoàng đã nói chuyện thân mật với từng người và ai nấy đều xin ơn nọ ơn kia. Nhưng khi nhìn thấy một thanh niên có vẻ khô khan lạnh nhạt, Đức giáo hoàng đã hiền từ hỏi:

– Còn con, con không xin ơn gì sao?

Chàng thanh niên lạnh lùng đáp:

– Thưa không.

Đức giáo hoàng hỏi thêm:

– Cha con còn sống không?

Chàng thanh niên lửng khửng đáp:

– Thưa còn.

Đức giáo hoàng lại hỏi:

– Còn mẹ con thì sao?

Chàng thanh niên chậm chạp lí nhì đáp lại

– Mẹ con chết lâu rồi.

Bấy giờ Đức giáo hoàng cầm tay anh thanh niên mà nói với giọng cảm động rằng:

– Con không xin ơn gì với cha; còn cha, cha xin con một điều, là con hãy cùng cha quì gối xuống đất, đọc một kinh lạy cha, một kinh kính mừng, một kinh sáng danh, cầu nguyện cho mẹ con được lên thiên đàng, và khi được hưởng mặt Chúa. Mẹ con sẽ xin cùng Chúa cho con được sốt sắng giữ đạo để sau này con cũng được lên thiên đàng với mẹ con. Nói xong Đức giáo hoàng quỳ xuống đất, hai tay chắp trước ngực, mắt nhìn lên trời, đọc kinh rất sốt sắng, làm cho chàng thanh niên phát cảm động phải khóc nức nở. 

Đức Giáo Hoàng quì xuống trước mặt mọi người. Ngài có làm gì lạ lùng không. Không. Ngài chỉ cùng đọc với mọi người những lời kinh đơn sơ nhất”.

Chúng ta hãy nhìn vào đó mà bắt chước để cuộc sống của mỗi người chúng ta xứng đáng với Chúa hơn. Amen.

 3-Kiêu ngạo là gì? 5 dấu hiệu giúp bạn nhận biết người kiêu ngạo.

 Kiêu ngạo khác với khiêm nhường vì người kiêu ngạo:

 a)Luôn khẳng định mình đúng

Kiêu ngạo là gì? Một dấu hiệu dễ thấy nhất của sự kiêu ngạo đó là luôn cho rằng mình đúng trong mọi trường hợp bất kể đúng sai và chẳng bao giờ tiếp thu lời khuyên, ý kiến của người khác.

 b)Luôn xem mình là trung tâm

Những người kiêu ngạo luôn cho rằng bản thân mình là trung tâm của mọi người. Khi người kiêu ngạo đạt được một thành công nào đó, họ thích khoe khoang về những thành công của mình hơn là cảm ơn sự giúp đỡ của người khác. 

c)Luôn coi thường những người xung quanh

Tính kiêu ngạo sẽ làm bạn luôn coi thường những người xung quanh. Họ luôn cho rằng mình giỏi hơn người khác. Họ thường xem thường đồng nghiệp và có thái độ khó chịu, chê bai người xung quanh. 

d)Không biết lắng nghe

Những người kiêu căng sẽ không bao giờ dành thời gian để lắng nghe và chia sẻ với những người xung quanh. 

e)Không muốn nhận lỗi và thay đổi

Đây là một điều tồi tệ mà những người kiêu căng thường mắc phải. Nhận lỗi và thay đổi là một việc làm rất khó khăn đối với họ. Họ là người luôn đỗ lỗi cho người khác. 

Kiểu người này có cái tôi rất cao, vì thế họ sẽ không bao giờ chấp nhận được việc bị người khác phê bình và dùng mọi lý lẽ để biện hộ cho những sai lầm và rắc rối mà mình đã gây ra. 

Thái độ kiêu ngạo làm cho mọi người sẽ dần dần xa lánh họ, họ sẽ là người rất cô đơn vì không có ai là bạn, không có ai dám tiếp xúc, nói chuyện với họ. 

4-Nguyên nhân kiêu ngạo.

 Thông thường những ai nếu thành công đôi chút như làm ăn khá giả, trả hết nợ nầng xe cộ, nhà cửa, có mức sống cao, dễ bắt đầu sự kiêu ngạo. Chỉ một mình ta là người giỏi hơn hết mọi người khác. Nếu có ai chạm tự ái họ, họ sẽ nỗi “khùng” lên, nặng lời, mắng chửi người khác không còn nể mặt, e dè. 

Bản chất kiêu ngạo của con người là do tổ tiên chúng ta, ông Adam và Eve truyền lại, đã không tuân lệnh Thiên Chúa, đã ăn trái cấm ở vườn điạ đàng, cũng như xây tháp Ba-ben để lên tận trời cao. 

Nếu con người không học tập, suy nghiệm, cầu nguyện, nhờ ơn trên giúp sức khó từ bỏ được tính kiêu ngạo.

 5-Hiện tượng kiêu ngạo: 

*Trong gia đình nếu gặp phải người kiêu ngạo, gia trưởng, bắt mọi người trong gia đình phải làm theo ý mình, không được trái ý, thì vợ con sẽ sống rất khổ sở vì không được tự do. Người kiêu ngạo thường hay lãi nhãi, la lối, cự nự, nếu có ai trong gia đình làm trái ý mình; đôi khi dùng cả bạo lực để khống chế người khác. Do đó, họ thường chịu cảnh cô đơn, hiu quạnh, vì không ai muốn nói chuyện, đến gần. 

* Anh Nguyễn luôn chỉ trích người khác, người nào càng nổi tiếng trong cộng đồng là thế nào anh cũng chỉ trích nói xấu. 

Một lần tôi nói: “Anh A. siêng năng, viết sách hay, súc tích”.

Anh Nguyễn trả lời liền: “Cái thằng A. lăng xăng, lúc nào cũng vội vã. Có gì mà hay đâu”.

 Tôi nói: “Anh H. chịu khó sinh hoạt nổi tiếng trong cộng đồng”.

Anh Nguyễn trả lời ngay: “Cái thằng bợ đỡ, mặt mập, bịnh hậu…” 

Khi nhắc đến bất cứ ai thì anh Nguyễn cũng có câu nói dè biểu, chê bai, nói ra ngay những khuyết điểm của người đó. Đó là cái tật của anh Nguyễn.

 *Anh Trần đã có nhà. Có hai chiếc xe. Nên anh rất tự cao tự đại. Anh cho mình hơn người, không ai bằng anh. Anh có nghề nghiệp vững chắc, có tiền. Anh chỉ chiếc xe BMW và nói với tôi dẫn tôi đến bên xe của anh và nói: “Chú xem xe mới đẹp không? mới mua đó.”

 Anh chồng lúc nào cũng cho rằng mình đúng, vợ không được cãi. “Tao là nhất nhà rồi vì tao có tiền, tao có xe, tao có nhà đã trả hết, tao qua Mỹ chỉ cần 30 năm, tao đã thành công”.

 *Trong môt quốc gia nếu nhà cầm quyền kiêu ngạo, quá khích, khư khư giữ quan điểm của mình, không biết lắng nghe người khác. 

Hậu quả của “kiêu ngạo cộng sản” là sau khi chiếm được miền Nam ngày 30 tháng 04 năm 1975, cộng sản Việt Nam đã cắt đứt liên lạc ngoại giao với các nước Tây Phương, áp dụng chính sách tự cung tự cấp, chỉ dựa vào sự viện trợ của Liên sô mà thôi.

 Trong nước, cộng sản đã tịch thu tài sản của các nhà tư bản miền Nam, đầy họ đi vùng kinh tế mới, thành lập các hợp tác xã, đã làm cho toàn thể đất nước Việt Nam đi vào con đường đói kém, sản xuất ngưng trệ, kinh tế suy sụp, xã hội hỗn loạn. Nếu không có thay đổi từ năm 1986 trở về nền kinh tế tự do, (mà miền Nam đã áp dụng từ lâu), thì tình trạng đói kém, rối loạn xã hội không biết sẽ xảy ra như thế nào nữa. Nền kinh tế đang phát triển bị đẩy lùi hàng chục năm cho đến ngày nay (2020) vẫn còn thua kém so với các nước Đông Nam Á khác. Cũng vì kiêu ngạo không thèm thấy cái hay của Việt Nam Cộng Hòa đem ra áp dụng, mà phá bỏ tất cả, hậu quả giáo dục chậm tiến, văn hóa xã hội suy đồi, chính trị độc quyền, độc tài, không tôn trọng ý kiến khác biệt, nhân quyền không có. 

Kết: Bịnh kiêu ngạo làm cho gia đình rối loạn, nghi kỵ lẫn nhau, ganh ghét nhau, xung đột nhau, không có hạnh phúc, bình an. 

Bịnh kiêu ngạo làm cho nhà cầm quyền tưởng mình là “thánh”, là “đỉnh cao trí tuệ loài người”, không bao giờ chấp nhận sai lầm, khiến cho toàn thể dân tộc chịu điêu đứng vì quyết định sai lầm của mình. Ai dám nói ngược với ý của nhà cầm quyền thì bị chụp mũ phản động, “thế lực thù địch”, tìm cách bỏ tù dài hạn. 

Tác giả: Phùng Văn Phụng 

Ngày 29- 06-2020


 

Tội kiêu ngạo: khi con người muốn đứng vào chỗ của Thiên Chúa

Make Christianity Great As Always

Tội kiêu ngạo: khi con người muốn đứng vào chỗ của Thiên Chúa

Tội kiêu ngạo không bắt đầu từ diễn đàn, ngai vàng hay quyền lực chính trị. Nó bắt đầu rất sớm, rất âm thầm, trong một khu vườn. Hội Thánh gọi nó là một trong các mối tội đầu, vì từ đó nhiều tội khác sinh ra. Nói ngắn gọn, kiêu ngạo là lúc con người không còn muốn ở đúng vị trí của mình nữa.

Trong Sáng Thế 3, con rắn gợi lên một tham vọng lớn: “các ngươi sẽ nên như thần.” Đó là gốc của kiêu ngạo. Con người không còn muốn đón nhận điều thiện từ Thiên Chúa, nhưng muốn tự mình nắm quyền quyết định thiện ác. Vấn đề từ đầu không chỉ là bất tuân, mà là muốn lấy thứ không thuộc về mình.

Đến Sáng Thế 11, câu chuyện tháp Babel cho thấy kiêu ngạo không chỉ là chuyện của một cá nhân, mà là của cả một nền văn minh: “Ta hãy xây cho mình một thành và một tháp chọc trời, để làm cho danh ta lẫy lừng.” Con người không còn xây để phụng sự sự sống, nhưng để làm lớn tên mình. Khi một đám đông cùng tin rằng mình có thể tự dựng trời đất mới bằng sức riêng, Babel lại bắt đầu.

Trong 1 Samuel 8, dân Israel xin một vị vua “như các dân khác.” Ở đây xuất hiện một dạng kiêu ngạo khác: ảo tưởng chính trị. Con người bắt đầu tin rằng trật tự, an ninh và tương lai sẽ được cứu bởi quyền lực hữu hình chứ không bởi Thiên Chúa. Từ lúc đó, chính trị rất dễ bị đẩy lên thành một thứ cứu thế.

Các ngôn sứ nói rõ điều này. Isaia 5 lên án những kẻ “gọi ác là thiện, gọi thiện là ác” và những kẻ “khôn trong mắt mình.” Khi con người tôn mình lên, họ sẽ sửa luôn cả ngôn ngữ luân lý. Điều xấu không còn bị gọi là xấu, nhưng được bọc bằng những chữ dễ nghe hơn: cần thiết, thực tế, tiến bộ, đại cuộc.

Trong Isaia 14 và Êdêkien 28, quyền lực không chỉ muốn cai trị, mà còn muốn được nhìn như bất khả sai lầm, như thể chính mình là thần. Và trong Đaniel 3, điều đó đạt đỉnh điểm: Nabucôđônôsor dựng tượng vàng và buộc mọi người phải sấp mình thờ lạy. Quyền lực trần gian không còn bằng lòng với việc cai trị xã hội; nó muốn lấy luôn sự quy phục của lương tâm. Ba thiếu niên chấp nhận vào lò lửa chứ không quỳ trước ngẫu tượng. Đó là bài học lớn: người tín hữu không chống mọi chính quyền trong mọi sự, nhưng phải từ chối ngay khi quyền lực đòi lấy chỗ của Thiên Chúa.

Sang Tân Ước, kiêu ngạo trở nên tinh vi hơn. Trong Gioan 11, Caipha nói: “thà một người chết thay cho dân còn hơn toàn dân bị diệt.” Câu ấy nghe rất thực tế, nhưng ẩn bên dưới là một lối nghĩ rất nguy hiểm: làm điều sai hôm nay để giữ một điều tốt nào đó ngày mai. Thánh Phaolô trong Rôma 3,8 bác bỏ thẳng kiểu lập luận này: không thể “làm điều ác để điều thiện xảy ra.” Ở đây, kiêu ngạo mang bộ mặt của sự khôn ngoan và của “đại cuộc.”

Đến Luca 18, Đức Giêsu kể dụ ngôn người Pharisêu và người thu thuế. Kiêu ngạo lúc này không dựng tượng, không mặc áo vua, không xưng mình là thần. Nó vào tận đền thờ và cầu nguyện: “Con không như những kẻ khác.” Đây là kiêu ngạo tôn giáo, và có lẽ là dạng khó thấy nhất. Nó không cần làm điều xấu lộ liễu; nó chỉ cần lấy điều tốt của mình làm cớ để khinh người khác.

Toàn bộ dòng chảy ấy được đảo ngược nơi Đức Kitô trong Philípphê 2. Người không nắm lấy vinh quang cho mình, nhưng tự hạ, mặc lấy thân nô lệ và vâng phục cho đến chết. Ở Ađam, con người muốn vươn lên để bằng Thiên Chúa. Ở Đức Kitô, Con Thiên Chúa lại hạ xuống để cứu con người. Một bên là nắm lấy; một bên là trao ban.

Nhìn vào thế giới hôm nay, ta không khó để nhận ra những điều ấy vẫn còn nguyên. Khi người ta gọi ác là thiện, Isaia đang bị lặp lại. Khi người ta biện minh cho điều sai hôm nay vì tương lai, Caipha đang bị lặp lại. Khi người ta tin rằng quốc gia, ý thức hệ, thị trường, công nghệ hay chiến thắng chính trị có thể cứu lịch sử, ảo tưởng của 1 Samuel 8 và Babylon đang quay lại. Và khi quyền lực không muốn bị phán xét bởi một chuẩn mực cao hơn chính nó, đó là dấu hiệu của một thứ kiêu ngạo muốn tự mình làm luật.

Ta cũng đã thấy những biểu hiện như thế trong đời sống hiện nay: có những nhà lãnh đạo muốn tiếng nói luân lý im đi trước quyền lực; có những người sử dụng biểu tượng tôn giáo để làm lớn bản thân; có những cộng sự và người ủng hộ biện minh mọi sự bằng những câu như: “đó chỉ là chiến lược”, “đó chỉ là trò đùa”, “đó là điều cần thiết cho tương lai.” Nhưng tội kiêu ngạo hiếm khi tự xưng tên. Nó thường đến với bộ mặt của lý do tốt, của hiệu quả, của đại cuộc, của sự sáng suốt.

Dù vậy, người Kitô hữu cũng phải cẩn thận với chính mình. Phản ứng trước kiêu ngạo của thế gian không thể là một thứ kiêu ngạo ngược: “Họ sai, còn tôi thì sáng suốt.” Dụ ngôn người Pharisêu nhắc ta rằng người lên án kiêu ngạo cũng có thể sa vào kiêu ngạo. Bài học của Thánh Kinh không chỉ để ta chỉ mặt người khác, mà để ta xét lại chính lòng mình.

Và chính ở đây, Hội Thánh đặt trước mắt chúng ta hình ảnh Đức Thánh Cha. Không phải như một đối thủ chính trị của các nguyên thủ quốc gia, nhưng như một dấu chỉ rằng không hoàng đế nào là Thiên Chúa, không quốc gia nào là Nước Trời, không lãnh tụ nào là Đấng Cứu Độ. Thánh Gioan Phaolô II đã nói: “Đừng sợ.” Đó là lời mời mở cửa cho Đức Kitô và từ chối mọi ngẫu tượng của thời đại. Còn lời “Tôi không sợ” của Đức Leo XIV lại vang lên như chứng tá của một mục tử không chấp nhận để quyền lực trần gian dạy Hội Thánh phải nói gì.

Nói cho cùng, kiêu ngạo là con người muốn cao đến nỗi không còn quỳ được nữa. Còn Tin Mừng thì dạy điều ngược lại: chỉ ai biết quỳ trước Thiên Chúa mới có thể đứng thẳng trước các ngẫu tượng của thế gian. Và vì thế, hai lời ấy vẫn gặp nhau ở một điểm: đừng sợ!

Make Christianity Great As Always


 

NHẬT BẢN: KHI MỘT XÃ HỘI GIÀU CÓ PHẢI ĐỐI DIỆN VỚI NỖI CÔ ĐƠN CỦA TUỔI GIÀ

Người Việt Cao Niên USA

NHẬT BẢN: KHI MỘT XÃ HỘI GIÀU CÓ PHẢI ĐỐI DIỆN VỚI NỖI CÔ ĐƠN CỦA TUỔI GIÀ

Nhật Bản từ lâu được xem là một trong những quốc gia phát triển hàng đầu thế giới.

Đó là nơi có hệ thống y tế tiên tiến, tuổi thọ thuộc nhóm cao nhất toàn cầu, hạ tầng hiện đại và mức sống đáng mơ ước.

Tuy nhiên, đằng sau sự văn minh và sung túc ấy, Nhật Bản đang đối diện với một vấn đề xã hội rất đáng suy ngẫm:

sự cô đơn ở người cao tuổi.

Một trong những biểu hiện đau lòng nhất của thực trạng này là khái niệm “Kodokushi” – thường được hiểu là “cái chết cô đơn.”

Đây là tình huống một người, thường là người lớn tuổi, qua đời trong nhà riêng mà không có ai hay biết. Có trường hợp phải nhiều ngày, thậm chí 1–2 tuần sau, họ mới được phát hiện.

Điều khiến nhiều người bàng hoàng không phải chỉ là cái chết,

mà là sự thật rằng một con người có thể rời khỏi cuộc đời này trong lặng lẽ đến mức không ai nhận ra ngay.

Bức tranh già hóa dân số tại Nhật Bản

Nhật Bản hiện là một trong những xã hội già hóa nhanh nhất thế giới.

Tỷ lệ người trên 65 tuổi chiếm phần rất lớn trong cơ cấu dân số. Điều này đồng nghĩa với việc số người bước vào tuổi hưu, tuổi cần được quan tâm, chăm sóc và đồng hành đang ngày một tăng.

Song song với đó là nhiều thay đổi lớn trong cấu trúc gia đình và xã hội:

  • Quy mô gia đình nhỏ dần
  • Nhiều thế hệ không còn sống chung như trước
  • Con cháu học tập, làm việc xa nhà
  • Nhịp sống hiện đại khiến các mối liên kết gia đình lỏng hơn
  • Số người cao tuổi sống một mình ngày càng nhiều

Khi tuổi thọ tăng lên nhưng sự kết nối giữa con người với con người lại giảm đi,

xã hội bắt đầu xuất hiện một nghịch lý:

sống lâu hơn, nhưng không chắc sống ấm áp hơn.

Vấn đề không chỉ nằm ở vật chất

Khi nhắc đến tuổi già, nhiều người thường nghĩ trước hết đến tiền bạc, nhà cửa, bảo hiểm hay chi phí y tế.

Đó đều là những yếu tố quan trọng.

Nhưng thực tế từ Nhật Bản cho thấy:

một cuộc sống đủ đầy về vật chất vẫn chưa chắc bảo vệ được con người khỏi nỗi cô đơn.

Người cao tuổi có thể có nơi ở an toàn.

Có thể có lương hưu.

Có thể được chăm sóc y tế tốt.

Nhưng nếu thiếu đi sự hỏi han, thiếu những cuộc trò chuyện, thiếu cảm giác mình vẫn còn được nhớ đến, được cần đến, thì tuổi già vẫn có thể trở nên rất trống vắng.

Nói cách khác, điều khiến con người tổn thương ở cuối đời không chỉ là bệnh tật,

mà còn là cảm giác mình dần biến mất khỏi nhịp sống của những người xung quanh.

Một lời cảnh tỉnh cho nhiều quốc gia, nhiều gia đình

Câu chuyện của Nhật Bản không nên được xem là chuyện riêng của Nhật Bản.

Đó là một tín hiệu cảnh báo cho mọi xã hội đang bước vào giai đoạn già hóa dân số, trong đó có rất nhiều cộng đồng Á Châu và gia đình người Việt ở khắp nơi trên thế giới.

Khi con cái bận rộn với công việc, khi cuộc sống ngày càng áp lực, khi khoảng cách giữa các thế hệ ngày càng rõ hơn, thì người lớn tuổi rất dễ rơi vào trạng thái bị bỏ quên, dù không ai thật sự cố ý bỏ quên họ.

Sự cô đơn của tuổi già thường không đến một cách ồn ào.

Nó đến rất âm thầm:

  • một bữa cơm ăn một mình
  • một ngày không có ai gọi điện
  • một tuần không có ai ghé thăm
  • một nỗi buồn không biết chia sẻ cùng ai
  • một căn nhà im lặng quá lâu

Và đôi khi, những điều âm thầm ấy mới là thứ bào mòn tinh thần con người nhiều nhất.

Điều người lớn tuổi thật sự cần

Người lớn tuổi cần thuốc men, cần chăm sóc sức khỏe, cần chuẩn bị tài chính.

Nhưng bên cạnh đó, họ còn cần những điều rất giản dị:

  • Một cuộc gọi hỏi thăm
  • Một bữa cơm có người ngồi cùng
  • Một lời lắng nghe thật lòng
  • Một cảm giác rằng mình vẫn thuộc về gia đình này
  • Một sự hiện diện đủ ấm để họ biết rằng họ không bị bỏ lại phía sau

Nhiều khi, thứ quý nhất với một người lớn tuổi không phải là món quà lớn, mà là sự hiện diện đều đặn của tình thân.


 

Hạnh phúc là gì?

Việt Báo Daily News

 “Hạnh phúc như đôi chim uyên, tung bay ngập trời nắng ấm.

Hạnh phúc như sương ban mai, long lanh đậu cành lá thắm.

Tình yêu một thoáng lên ngôi, nhẹ nhàng như áng mây trôi.

Dịu dàng như ánh trăng soi, êm êm thương yêu dâng trong hồn tôi ….”

Đây là ca từ của nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 diễn về hạnh phúc và đó là lý do ông lấy ca khúc này là “Cô Đơn,” vì hạnh phúc kiểu này là tiểu thuyết lãng mạn. Có thể có, nhưng mờ. Có thể xuất hiện, nhưng khoảng khắc.

Hạnh phúc? Câu hỏi đã hỏi từ thời Aristotle cho đến nay: TikTok, từ triết học cổ Hy Lạp cho đến các hội nhóm tâm lý học trên Facebook, và câu hỏi này nghe đơn giản, nhưng nếu đơn giản thật, thì tại sao hàng triệu cuốn sách về chủ đề này vẫn bán chạy mỗi năm, tại sao các chuyên gia tư vấn hạnh phúc vẫn kiếm được tiền, tại sao người ta vẫn cứ nhìn nhau hỏi “sao mày trông buồn vậy” vào đúng cái ngày họ vừa đạt được thứ họ tưởng sẽ làm mình hạnh phúc? Và cũng tại sao tồi lại viết bài này?

Câu trả lời ngắn gọn là: người ta sai về hạnh phúc không phải vì họ kém kiến thức và nhạy cảm, mà vì họ đang cầm bản đồ của một vùng đất hoàn toàn khác.

Lý Thuyết Và Cái Bẫy

Lý thuyết về hạnh phúc, từ Aristotle với khái niệm eudaimonia (nội tâm an lạc) cho đến Csikszentmihalyi với flow (sống như dòng chảy), đều có một điểm chung: chúng đúng trong phòng học và trơn tuột trong đời thực như bánh xà phòng ướt.

Aristotle nói hạnh phúc là sống đúng với bản chất con người, là phát huy hết tiềm năng của mình. Nghe hay lắm. Nhưng thử nói điều đó với một người đàn ông Việt năm mươi tuổi ở Bolsa, ngày nào cũng dậy lúc bốn giờ sáng để mở tiệm phở, tay tê cứng vì lạnh, không còn biết tiềm năng của mình là gì nữa ngoài việc nấu nước dùng cho đúng vị. Ông ta sẽ nhìn bạn với ánh mắt của người đang cố nhịn cười trước một câu chuyện nghe nghiêm túc.

Csikszentmihalyi thì bảo hạnh phúc là trạng thái ‘flow’ (hòa nhập vào), khi kỹ năng và thách thức cân bằng nhau hoàn hảo, khi bạn đắm chìm hoàn toàn vào công việc đến mức quên cả thời gian. Điều đó cũng đúng. Nhưng vấn đề là đa số người không được chọn công việc của mình theo tiêu chí ‘flow’. Họ chọn theo tiêu chí: cái này có đủ tiền không, có visa không, có bảo hiểm y tế không.

Lý thuyết về hạnh phúc thường được viết bởi những người có đủ thời gian và điều kiện để nghĩ về hạnh phúc. Đó đã là một thiên kiến lớn ngay từ đầu.

Người Ta Lầm Chỗ Nào

Sai lầm phổ biến nhất không phải là người ta không biết hạnh phúc là gì. Mà họ biết rất rõ hạnh phúc là gì, nhưng cái họ biết là hạnh phúc của người khác, không phải của chính mình.

Một cô gái lớn lên ở Hà Nội trong thập niên 1990, nhìn nhà hàng xóm mua được cái tivi màu đầu tiên trong xóm, nghĩ rằng hạnh phúc là có tivi màu. Lớn thêm một chút, nhìn bạn cùng lớp lấy được chồng công chức nhà nước, nghĩ rằng hạnh phúc là lấy được chồng ổn định. Rồi sang tuổi ba mươi, nhìn chị họ đi Mỹ diện H4, nghĩ rằng hạnh phúc là xuất ngoại. Cứ thế, cả cuộc đời cô chạy theo định nghĩa hạnh phúc của người đứng ngay trước mình trong hàng, như một cuộc đua mà vạch đích cứ dời đi mỗi khi cô sắp tới nơi.

Điều này không phải chỉ xảy ra ở Việt Nam hay với phụ nữ. Nhưng nó xảy ra theo những cách rất đặc thù tùy theo giới tính, tùy theo văn hóa, tùy theo việc người ta đang sống ở đâu trên bản đồ.

Xem tiếp: ihttps://vietbao.com/a325024/hanh-phuc-tuy-lam-dung-lan


 

Tội kiêu ngạo: khi con người muốn đứng vào chỗ của Thiên Chúa

Make Christianity Great As Always

Tội kiêu ngạo: khi con người muốn đứng vào chỗ của Thiên Chúa

Tội kiêu ngạo không bắt đầu từ diễn đàn, ngai vàng hay quyền lực chính trị. Nó bắt đầu rất sớm, rất âm thầm, trong một khu vườn. Hội Thánh gọi nó là một trong các mối tội đầu, vì từ đó nhiều tội khác sinh ra. Nói ngắn gọn, kiêu ngạo là lúc con người không còn muốn ở đúng vị trí của mình nữa.

Trong Sáng Thế 3, con rắn gợi lên một tham vọng lớn: “các ngươi sẽ nên như thần.” Đó là gốc của kiêu ngạo. Con người không còn muốn đón nhận điều thiện từ Thiên Chúa, nhưng muốn tự mình nắm quyền quyết định thiện ác. Vấn đề từ đầu không chỉ là bất tuân, mà là muốn lấy thứ không thuộc về mình.

Đến Sáng Thế 11, câu chuyện tháp Babel cho thấy kiêu ngạo không chỉ là chuyện của một cá nhân, mà là của cả một nền văn minh: “Ta hãy xây cho mình một thành và một tháp chọc trời, để làm cho danh ta lẫy lừng.” Con người không còn xây để phụng sự sự sống, nhưng để làm lớn tên mình. Khi một đám đông cùng tin rằng mình có thể tự dựng trời đất mới bằng sức riêng, Babel lại bắt đầu.

Trong 1 Samuel 8, dân Israel xin một vị vua “như các dân khác.” Ở đây xuất hiện một dạng kiêu ngạo khác: ảo tưởng chính trị. Con người bắt đầu tin rằng trật tự, an ninh và tương lai sẽ được cứu bởi quyền lực hữu hình chứ không bởi Thiên Chúa. Từ lúc đó, chính trị rất dễ bị đẩy lên thành một thứ cứu thế.

Các ngôn sứ nói rõ điều này. Isaia 5 lên án những kẻ “gọi ác là thiện, gọi thiện là ác” và những kẻ “khôn trong mắt mình.” Khi con người tôn mình lên, họ sẽ sửa luôn cả ngôn ngữ luân lý. Điều xấu không còn bị gọi là xấu, nhưng được bọc bằng những chữ dễ nghe hơn: cần thiết, thực tế, tiến bộ, đại cuộc.

Trong Isaia 14 và Êdêkien 28, quyền lực không chỉ muốn cai trị, mà còn muốn được nhìn như bất khả sai lầm, như thể chính mình là thần. Và trong Đaniel 3, điều đó đạt đỉnh điểm: Nabucôđônôsor dựng tượng vàng và buộc mọi người phải sấp mình thờ lạy. Quyền lực trần gian không còn bằng lòng với việc cai trị xã hội; nó muốn lấy luôn sự quy phục của lương tâm. Ba thiếu niên chấp nhận vào lò lửa chứ không quỳ trước ngẫu tượng. Đó là bài học lớn: người tín hữu không chống mọi chính quyền trong mọi sự, nhưng phải từ chối ngay khi quyền lực đòi lấy chỗ của Thiên Chúa.

Sang Tân Ước, kiêu ngạo trở nên tinh vi hơn. Trong Gioan 11, Caipha nói: “thà một người chết thay cho dân còn hơn toàn dân bị diệt.” Câu ấy nghe rất thực tế, nhưng ẩn bên dưới là một lối nghĩ rất nguy hiểm: làm điều sai hôm nay để giữ một điều tốt nào đó ngày mai. Thánh Phaolô trong Rôma 3,8 bác bỏ thẳng kiểu lập luận này: không thể “làm điều ác để điều thiện xảy ra.” Ở đây, kiêu ngạo mang bộ mặt của sự khôn ngoan và của “đại cuộc.”

Đến Luca 18, Đức Giêsu kể dụ ngôn người Pharisêu và người thu thuế. Kiêu ngạo lúc này không dựng tượng, không mặc áo vua, không xưng mình là thần. Nó vào tận đền thờ và cầu nguyện: “Con không như những kẻ khác.” Đây là kiêu ngạo tôn giáo, và có lẽ là dạng khó thấy nhất. Nó không cần làm điều xấu lộ liễu; nó chỉ cần lấy điều tốt của mình làm cớ để khinh người khác.

Toàn bộ dòng chảy ấy được đảo ngược nơi Đức Kitô trong Philípphê 2. Người không nắm lấy vinh quang cho mình, nhưng tự hạ, mặc lấy thân nô lệ và vâng phục cho đến chết. Ở Ađam, con người muốn vươn lên để bằng Thiên Chúa. Ở Đức Kitô, Con Thiên Chúa lại hạ xuống để cứu con người. Một bên là nắm lấy; một bên là trao ban.

Nhìn vào thế giới hôm nay, ta không khó để nhận ra những điều ấy vẫn còn nguyên. Khi người ta gọi ác là thiện, Isaia đang bị lặp lại. Khi người ta biện minh cho điều sai hôm nay vì tương lai, Caipha đang bị lặp lại. Khi người ta tin rằng quốc gia, ý thức hệ, thị trường, công nghệ hay chiến thắng chính trị có thể cứu lịch sử, ảo tưởng của 1 Samuel 8 và Babylon đang quay lại. Và khi quyền lực không muốn bị phán xét bởi một chuẩn mực cao hơn chính nó, đó là dấu hiệu của một thứ kiêu ngạo muốn tự mình làm luật.

Ta cũng đã thấy những biểu hiện như thế trong đời sống hiện nay: có những nhà lãnh đạo muốn tiếng nói luân lý im đi trước quyền lực; có những người sử dụng biểu tượng tôn giáo để làm lớn bản thân; có những cộng sự và người ủng hộ biện minh mọi sự bằng những câu như: “đó chỉ là chiến lược”, “đó chỉ là trò đùa”, “đó là điều cần thiết cho tương lai.” Nhưng tội kiêu ngạo hiếm khi tự xưng tên. Nó thường đến với bộ mặt của lý do tốt, của hiệu quả, của đại cuộc, của sự sáng suốt.

Dù vậy, người Kitô hữu cũng phải cẩn thận với chính mình. Phản ứng trước kiêu ngạo của thế gian không thể là một thứ kiêu ngạo ngược: “Họ sai, còn tôi thì sáng suốt.” Dụ ngôn người Pharisêu nhắc ta rằng người lên án kiêu ngạo cũng có thể sa vào kiêu ngạo. Bài học của Thánh Kinh không chỉ để ta chỉ mặt người khác, mà để ta xét lại chính lòng mình.

Và chính ở đây, Hội Thánh đặt trước mắt chúng ta hình ảnh Đức Thánh Cha. Không phải như một đối thủ chính trị của các nguyên thủ quốc gia, nhưng như một dấu chỉ rằng không hoàng đế nào là Thiên Chúa, không quốc gia nào là Nước Trời, không lãnh tụ nào là Đấng Cứu Độ. Thánh Gioan Phaolô II đã nói: “Đừng sợ.” Đó là lời mời mở cửa cho Đức Kitô và từ chối mọi ngẫu tượng của thời đại. Còn lời “Tôi không sợ” của Đức Leo XIV lại vang lên như chứng tá của một mục tử không chấp nhận để quyền lực trần gian dạy Hội Thánh phải nói gì.

Nói cho cùng, kiêu ngạo là con người muốn cao đến nỗi không còn quỳ được nữa. Còn Tin Mừng thì dạy điều ngược lại: chỉ ai biết quỳ trước Thiên Chúa mới có thể đứng thẳng trước các ngẫu tượng của thế gian. Và vì thế, hai lời ấy vẫn gặp nhau ở một điểm: đừng sợ!

Make Christianity Great As Always

#MCGAA


 

Bức họa AI lộng ngôn của Trump gợi nhớ chuyện vua Babylon ‘ăn cỏ như bò’ trong Kinh Thánh

Ba’o Nguoi-Viet

April 14, 202

Mai Phi Long/Người Việt

LOS ANGELES, California (NV) – Trong chiều dài lịch sử của nhân loại, bóng ma của sự kiêu ngạo của bất kỳ bậc quân vương nào luôn là khởi đầu cho những sự sụp đổ kinh hoàng nhất. Sách Daniel trong Kinh Thánh ghi lại một trong những bài học đắt giá nhất về vương quyền và sự cao ngạo của con người qua câu chuyện về Vua Nebuchadnezzar của Đế Chế Babylon cổ đại.

Nebuchadnezzar, vị vua hùng mạnh bậc nhất thời cổ đại ở Trung Cận Đông, nhận được một điềm báo trong giấc mơ về một cái cây “cao đến tận trời” bị đốn hạ. Nhà tiên tri Daniel giải mã và cảnh báo vị vua này rằng, nếu không biết hối cải và thực hành sự khiêm nhường, ông sẽ bị tước mất vương quyền. 

Tổng Thống Donald Trump và bức ảnh khắc họa ông trong hình ảnh Chúa Giêsu do trí khôn nhân tạo (AI) chế ra. (Hình: Mandel Ngan/AFP via Getty Images)

Một năm sau, khi đang đứng trên nóc cung điện nhà vua dõng dạc tuyên bố: “Chẳng phải đây là Babylon vĩ đại mà chính ta đã xây dựng bằng sức mạnh quyền năng của ta để làm nơi cư ngụ cho vương triều và để hiển thị vinh quang rực rỡ của ta sao?” Đúng lúc đó, một tiếng phán từ trời vang xuống nhắc lại lời tiên tri. 

Và ngay lập tức, quyền năng của vị vua này bị tước bỏ, tâm trí ông trở nên điên loạn, và ông bị xua đuổi khỏi xã hội loài người để sống cảnh “ăn cỏ như bò,” sương đêm thấm ướt thân thể suốt bảy mùa, cho đến khi ông học được cách cúi đầu trước Đấng Tối Cao.

Hàng ngàn năm sau, tại trung tâm quyền lực của thế giới hiện đại vào thập niên 2020, một kịch bản về sự cao ngạo tương tự đang được viết tiếp bằng công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) và những dòng trạng thái trên mạng xã hội. 

Việc Tổng Thống Donald Trump tự khắc họa mình trong hình ảnh giống Chúa Giêsu chữa lành người bệnh, ngay sau khi công kích Đức Giáo Hoàng Leo XIV, không chỉ là một hành động lộng ngôn chính trị mà còn là một sự báng bổ đức tin sâu sắc, phơi bày sự hoang tưởng của một cá nhân đang lầm tưởng mình là “đấng cứu thế” thời kỹ thuật số (digital).

Xin được xác định rằng đây không phải là một bài viết biện minh cho quan điểm “thần quyền” nhưng là cái nhìn khách quan vào thế giới của những “con chiên” luôn tự nhận là duy tâm nhưng sẵn sàng tôn vinh một “tạo vật” dám báng bổ Đấng mà mình tôn thờ.

Phỉ báng Vatican: Áp dụng tình thương bị coi là nhu nhược

Sự việc bùng nổ khi Tổng Thống Donald Trump công khai đả kích Đức Giáo Hoàng Leo XIV, vị chủ chăn người Mỹ đầu tiên của Giáo Hội Công Giáo, dẫn dắt 1.4 tỷ tín đồ trên thế giới. Ông Trump gọi người đứng đầu giáo hội là “nhu nhược trước tội ác” và “tồi tệ cho chính sách đối ngoại.” Nguyên nhân của sự giận dữ này đến từ việc vị giáo hoàng kiên quyết phản đối cuộc chiến mà Mỹ và Israel khởi xướng nhằm vào Iran và lên án sự bạo lực “phi lý và vô nhân đạo.”

Đây là một sự tấn công không chỉ quá đáng mà còn mang đầy tính ngụy biện. Tổng Thống Trump dùng lăng kính của sức mạnh thế quyền với binh lực và địa chính trị để phán xét một sứ mạng tâm linh. Ông cáo buộc nhà lãnh đạo Công Giáo ủng hộ tội ác và để Iran có vũ khí nguyên tử, trong khi thực tế, Đức Giáo Hoàng Leo XIV chỉ đang thực hiện nghĩa vụ cao cả nhất của ngài là rao giảng hòa bình theo đúng tinh thần Phúc Âm.

Không cần phải tỉnh táo mới nhận ra được rằng Vatican không hề sở hữu bất kỳ sư đoàn quân đội thiện chiến hay phi đoàn chiến đấu cơ siêu thanh, cũng như hạm đội hàng không mẫu hạm nào cả. Vũ khí duy nhất mà Đức Giáo Hoàng Leo XIV có là tình thương, sự cầu nguyện, và lời Chúa trong Phúc Âm. 

Khi Tổng Thống Trump ngạo nghễ tuyên bố rằng nếu ông không ở trong Tòa Bạch Ốc thì Đức Giáo Hoàng Leo XIV không được ngự trị ở Vatican, ông đang bộc lộ một tư duy tự mãn với quyền lực cực đoan, coi cả thể chế tôn giáo lâu đời nhất thế giới như một thứ “vật tế thần” cho chính trị. Cần phải ghi nhớ rằng đối với Giáo Hội Công Giáo, việc bầu chọn được một vị giáo hoàng đều nhờ những bí tích và ân sủng của Thiên Chúa.

Đức Giáo Hoàng Leo XIV đáp trả một cách đầy điềm tĩnh nhưng kiên quyết rằng ông “không sợ hãi chính quyền Trump” và sẽ không ngừng loan báo thông điệp hòa bình. Phản đối chiến tranh là nghĩa vụ của con người, huống hồ là một giáo hoàng, người được gọi là “Tôi tớ của các tôi tớ Chúa.”

Trò hề biện minh “bác sĩ” và sự xói mòn chân lý

Đỉnh điểm của sự phạm thượng diễn ra vào tối Chủ Nhật, 12 Tháng Tư, đúng vào ngày lễ Phục Sinh của Chính Thống Giáo. Tổng Thống Trump tung lên mạng Truth Social của ông một bức ảnh AI khắc họa cảnh ông mặc áo choàng trắng và khăn quàng đỏ, một tay phát ra hào quang rực rỡ, tay kia đặt lên trán một người đàn ông nằm trên giường bệnh trong bệnh viện. Bối cảnh xung quanh là Tượng Nữ Thần Tự Do, các chiến đấu cơ, và những hình thù kỳ dị trong mây nhìn xuống.

Khi vấp phải làn sóng chỉ trích gay gắt, tổng thống Mỹ đưa ra một lời giải thích mang tính quanh co hèn nhát rằng đó chỉ là hình ảnh ông trong vai một “bác sĩ” giúp mọi người khỏe lại. Một sự ngụy biện dối trá trắng trợn. 

Bất kỳ ai có kiến thức cơ bản về hội họa tôn giáo đều thấy rõ bức ảnh này sao chép y hệt các điển tích về Chúa Giêsu chữa lành người mù và người đau yếu. Việc lồng ghép hình ảnh cá nhân vào một biểu tượng thánh thiêng nhất của Công Giáo rồi sau đó chối quanh co là một hành vi thiếu trung thực, phơi bày bản chất của một chính trị gia đang cố gắng thao túng đức tin của cử tri để đánh bóng cái tôi cá nhân.

Tiếng nói của sự tỉnh thức

Hành động này của ông Trump không chỉ khiến đối thủ chính trị phẫn nộ mà còn tạo ra một cơn địa chấn trong lòng giới bảo thủ tôn giáo, những người vốn là điểm tựa vững chắc nhất cho chiến thắng tranh cử của ông vào năm 2024. Lần này, sự im lặng không còn là vàng. Những nhân vật bảo thủ nổi tiếng đã phải lên tiếng bằng những ngôn từ nặng nề nhất như:

-Bà Megan Basham (Daily Wire): Cây viết Tin Lành bảo thủ nổi tiếng gọi đây là “sự báng bổ đầy phạm thượng ” (OUTRAGEOUS blasphemy). Bà yêu cầu ông phải cầu xin sự tha thứ từ Thiên Chúa ngay lập tức.

-Tác giả bảo thủ Rod Dreher khẳng định không còn nghi ngờ gì nữa, hành động của tổng thống Mỹ phơi bày tinh thần của kẻ phản Chúa” (radiating the spirit of Antichrist).

-Nhà hoạt động bảo thủ Riley Gaines, người thường xuyên được ông Trump khen ngợi, phải đặt câu hỏi: “Nghiêm túc mà nói, tôi không thể hiểu tại sao ông ấy lại đăng cái này… Thiên Chúa không để bị nhạo báng như thế.” Cô nhấn mạnh rằng một chút khiêm nhường sẽ giúp ích cho ông Trump vào lúc này.

-Mục sư Douglas Wilson, người đồng sáng lập giáo phái Calvin mà Bộ Trưởng Quốc Phòng Pete Hegseth là tín đồ, gọi bức ảnh là “báng bổ” và bày tỏ sự khó chịu trước việc ông Trump được tôn sùng như một “vị thánh của công chúng” (civic holy man) thông qua các nghi thức đặt tay cầu nguyện.

-Ông John Yep, nhà lãnh đạo tổ chức Catholics for Catholics, bày tỏ sự bàng hoàng và buồn bã khi chứng kiến vị tổng thống mà người Công Giáo bỏ phiếu bầu vang dội lại đối xử với đức tin thiêng liêng bằng sự thiếu tôn trọng đến vậy.

Sự thật là, mặc dù ông Trump nhận được 69% sự ủng hộ từ giới Tin Lành da trắng và 53% từ người Công Giáo, nhưng dữ liệu từ Pew Research cho thấy niềm tin vào đạo đức của ông đang ở mức thấp báo động khi chỉ có 40% người Tin Lành và 34% người Công Giáo tin rằng ông hành động có đạo đức khi tại chức. 

Việc nhắm mắt làm ngơ trước sự phạm thượng của một lãnh đạo chính trị chỉ vì những lợi ích trần thế là một sự ấu trĩ và mù quáng tâm linh đáng sợ. Những ai nhân danh tôn giáo nhưng lại chấp nhận kẻ tự phong mình là Chúa thực chất đang phản bội lại chính những lời dạy căn bản nhất của Kinh Thánh.

Thân phận bụi tro trước cuồng nộ thiên nhiên

Để hiểu rõ sự điên rồ của lòng kiêu ngạo, hãy nhìn vào thân phận con người trước sức mạnh của thiên nhiên. Dù nhân loại có tự hào về sức mạnh nguyên tử với hàng ngàn giàn hỏa tiễn trị giá hàng tỷ đô la, chúng ta vẫn vô cùng nhỏ bé trước thiên nhiên. Trước một cơn siêu bão san phẳng các thành phố, một trận động đất làm rung chuyển địa cầu, hay một loại virus vô hình làm cả thế giới tê liệt, mọi quyền lực của Tòa Bạch Ốc hay Ngũ Giác Đài đều trở nên bất lực.

Trước thiên tai, ngay cả những người vô thần cũng phải cúi đầu nhận ra giới hạn của con người. Trong những giây phút sinh tử giữa bão tố hay dịch bệnh, phản xạ tự nhiên của con người là tìm một sự cứu rỗi vượt ra ngoài khả năng của bản thân. 

Đó là khoảnh khắc của sự thật, nơi mọi mặt nạ của quyền lực đều rơi xuống. Vậy thì, chỉ có những kẻ hoang tưởng hoặc mắc bệnh tâm thần chính trị mới dám ngạo nghễ tự họa mình trong hình hài của Đấng Tạo Hóa. 

Sự bất đối xứng giữa một thực thể bằng xương bằng thịt, sinh ra từ bụi đất và sẽ trở về với bụi đất, với Đấng Vĩnh Hằng là một sự xúc phạm đến trí tuệ của toàn nhân loại. Việc ông Trump để các cố vấn như bà Paula White so sánh ông với Chúa Giêsu bị phản bội là một trò hề lố lăng, phơi bày sự thiếu thốn nghiêm trọng về lòng khiêm nhường.

Bài học Babylon và sự phán xét

Bài viết này không phải để đánh tiếng kêu gọi quy phục tôn giáo mà là lời vạch trần sự nguỵ biện nhân danh tôn giáo nhưng không thực hành lời dạy về sự khiêm tốn. Sự mù quáng ủng hộ một cá nhân lộng ngôn, coi thường giáo tông và tự phong mình là Chúa là dấu hiệu của một sự suy đồi văn hóa và tâm linh sâu sắc.

Lịch sử Babylon trong Kinh Thánh dạy rằng, khi một vị vua bắt đầu tin vào hào quang tự tạo của chính mình, đó cũng là lúc ông bắt đầu con đường dẫn đến đồng cỏ của sự hạ nhục. 

Tổng Thống Donald Trump, với những bức ảnh AI đầy hào quang giả tạo, đang bước đi trên chính con đường đó. Sự phán xét của lịch sử thường không nằm ở những chiến thắng bầu cử nhất thời nhưng nằm ở thái độ khiêm nhu của một nhà lãnh đạo giữ lại được trước những giá trị vĩnh cửu.

Nếu ông Trump và những người ủng hộ ông không sớm tỉnh thức khỏi cơn mê hoảng tưởng này, thì “bài học Nebuchadnezzar” không chỉ là một câu chuyện trong Kinh Thánh cổ xưa. Đó sẽ là bản án thực tại cho bất kỳ kẻ nào dám dùng quyền lực trần thế để thách thức sự thiêng liêng trong đức tin của nhân loại. Hãy nhớ rằng, dù có là tổng thống của một siêu cường, con người vẫn chỉ là những lữ khách tạm bợ trên thế gian này. 

Kẻ nào tự nâng mình lên quá cao sẽ bị hạ xuống thấp nhất, đó là quy luật bất biến của cả thần đạo lẫn nhân đạo. [đ.d.]


 

Công nghệ: kẻ đào mồ hay vị cứu tinh của độc tài?-Tác Giả: Hoàng Quốc Dũng –

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Hoàng Quốc Dũng

14/04/2026

Trong nhiều thập kỷ, người ta tin vào một quy luật gần như hiển nhiên: các chế độ độc tài sớm muộn sẽ thất bại. Lý do rất đơn giản để tồn tại, họ phải cấm đoán. Và khi cấm đoán quá nhiều, xã hội sẽ nghẹt thở, sáng tạo bị giới hạn, kinh tế trì trệ, thông tin bị bóp méo. Cuối cùng, chính sự kiểm soát thô bạo đó sẽ giết chết họ. Sự sụp đổ của Liên Xô và hàng loạt nước Đông Âu dường như đã xác nhận quy luật ấy. Tuy nhiên, thế giới vẫn còn nhiều nước độc tài.

Rồi Internet xuất hiện. Nhiều người tin rằng đây sẽ là “đòn kết liễu” cuối cùng cho độc tài. Thông tin sẽ lan truyền tự do, sự thật sẽ được phơi bày, và người dân, một khi biết sự thật, sẽ không còn chấp nhận bị cai trị bằng dối trá.

Nhưng thực tế đã rẽ theo một hướng hoàn toàn khác.

Không những không sụp đổ, một số chế độ độc tài, tiêu biểu là China, lại trở nên mạnh hơn, ổn định hơn và, ở một mức độ nào đó, hiệu quả hơn. Điều đã xảy ra không phải là cái chết của độc tài, mà là sự tiến hóa của nó.

Từ “cấm tất cả” đến “kiểm soát từng người”.

Độc tài kiểu cũ vận hành theo một logic đơn giản: cấm càng nhiều càng tốt. Cấm báo chí, cấm tự do ngôn luận, cấm đi lại, cấm suy nghĩ khác biệt… Đó là một hình thức kiểm soát “đại trà”, thô và tốn kém.

Nhưng chính sự thô đó là điểm yếu. Nhà nước không thực sự biết xã hội đang nghĩ gì, đang biến động ra sao. Khi khủng hoảng xảy ra, họ thường biết quá muộn.

Internet ban đầu là một mối đe dọa nghiêm trọng. Nó phá vỡ độc quyền thông tin, làm lộ ra những điều mà chế độ muốn che giấu. Nhưng thay vì chống lại một cách tuyệt vọng, Trung Quốc đã làm điều khác: họ thích nghi.

Hệ thống kiểm duyệt,  thường được gọi là “Vạn Lý Tường Lửa”, không nhằm mục tiêu chặn toàn bộ thông tin, mà là định hướng dòng chảy của thông tin. Những gì nguy hiểm thì bị chặn, những gì có lợi thì được khuếch đại. Một thực tế “được quản lý” dần hình thành, đồng thời tạo dựng cả những hệ thống sản xuất thông tin sai lệch(fake news).

Công nghệ: từ công cụ giải phóng thành công cụ kiểm soát.

Bước ngoặt thực sự không phải là Internet, mà là sự kết hợp giữa Internet với các công nghệ mới: dữ liệu lớn (big data), trí tuệ nhân tạo, nhận diện khuôn mặt, theo dõi hành vi.

Ngày nay, chính quyền có thể:

–    xác định một cá nhân đang ở đâu

–    theo dõi họ di chuyển như thế nào

–    biết họ giao tiếp với ai

–    phân tích hành vi và xu hướng của họ

Các hệ thống giám sát bằng camera ở Trung Quốc được cho là thuộc loại dày đặc nhất thế giới, với hàng trăm triệu thiết bị. Công nghệ nhận diện khuôn mặt cho phép nhận diện một người chỉ trong vài giây giữa đám đông.

Khái niệm “chấm điểm công dân”, dù còn nhiều tranh cãi về mức độ triển khai, phản ánh một xu hướng rõ ràng: hành vi của cá nhân có thể được lượng hóa và thưởng – phạt một cách hệ thống.

Nếu độc tài kiểu cũ giống như việc “đóng cửa cả căn phòng”, thì độc tài kiểu mới giống như gắn một cảm biến lên từng con người.

Xã hội cũng đã thay đổi.

Không chỉ công nghệ thay đổi, con người cũng thay đổi.

Trong thế kỷ XIX và XX, nhiều cuộc cách mạng được thúc đẩy bởi những tầng lớp nghèo nhất,  những người “không còn gì để mất”. Đói nghèo, bất công và bóc lột tạo ra áp lực bùng nổ.

Ngày nay, ở nhiều nơi(đặc biệt là tại Trung Quốc), đời sống vật chất đã cải thiện đáng kể. Một tầng lớp trung lưu lớn xuất hiện. Người trẻ quan tâm đến:

–    công việc

–    thu nhập

–    tiêu dùng

–    lối sống

Họ có nhiều thứ để mất hơn là để giành. Và khi phải lựa chọn, con người thường chọn ổn định hơn là đối đầu. Họ muốn tiêu dùng, hưởng thụ, và ngày càng ít quan tâm đến cái chung.

Con người hiện đại, ở một mức độ nào đó, cũng trở nên thực dụng và khép kín hơn.

Như vậy, kiểm soát không chỉ đến từ trên xuống, mà còn được “hỗ trợ” từ chính sự thay đổi trong tâm lý xã hội.

Một thách thức đối với dân chủ phương Tây.

Mô hình Trung Quốc đặt ra một câu hỏi khó chịu cho phương Tây: Liệu phát triển kinh tế có nhất thiết dẫn đến dân chủ?

Trong nhiều thập kỷ, người ta tin rằng câu trả lời là “có”. Nhưng Trung Quốc dường như đang chứng minh điều ngược lại: một quốc gia có thể vừa tăng trưởng mạnh, vừa duy trì kiểm soát chính trị chặt chẽ hơn bao giờ hết.

Trong khi đó, các nền dân chủ phương Tây lại đang đối mặt với những khó khăn của chính mình:

–    Phân cực chính trị gia tăng

–    thông tin sai lệch lan rộng

–    mạng xã hội làm suy yếu niềm tin công cộng

Những hiện tượng như sự trỗi dậy của Viktor Orbán tại Hungary hay những biến động chính trị xoay quanh Donald Trump tại Mỹ cho thấy: dân chủ không phải là một hệ thống miễn nhiễm với khủng hoảng. Vẫn có dân chủ, nhưng cũng có khủng hoảng dân chủ.

Tệ hơn, chính tự do, nền tảng của dân chủ, đôi khi lại bị khai thác để làm suy yếu dân chủ.

Một nguy cơ lan rộng: độc tài không còn “xấu hổ”

Điều đáng lo ngại nhất không phải chỉ là việc Trung Quốc duy trì được chế độ độc tài, mà là họ đang biến nó thành một mô hình có thể xuất khẩu.

Nếu trước đây, độc tài gắn với nghèo đói và thất bại, thì ngày nay, mô hình Trung Quốc lại gắn với tăng trưởng, ổn định và hiệu quả. Điều đó tạo ra một sức hấp dẫn mới, đặc biệt đối với các quốc gia đang phát triển: tại sao phải chấp nhận những bất ổn của dân chủ, khi có một con đường khác “hiệu quả” hơn?

Nguy hiểm hơn, nếu mô hình này được coi là “thành công”, nó sẽ dần làm suy yếu một niềm tin nền tảng của thế giới hiện đại: rằng tự do và dân chủ là con đường tất yếu của phát triển. Khi niềm tin đó bị lung lay, dân chủ không chỉ bị thách thức từ bên ngoài, mà còn bị xói mòn từ chính bên trong.

Công nghệ đang đứng về phía ai?

Lịch sử từng cho thấy: kiểm soát quá mức sẽ giết chết một chế độ. Nhưng hiện tại cho thấy: với công nghệ, kiểm soát có thể trở nên tinh vi, hiệu quả và ít bị phản kháng hơn.

Nỗi lo lớn là: trong kỷ nguyên công nghệ, cán cân đang nghiêng về phía nào, tự do hay kiểm soát?

Và nếu cán cân đang nghiêng về phía kiểm soát, liệu các nền dân chủ có kịp thích nghi trước khi quá muộn?

Karl Marx từng tiên đoán sự sụp đổ của chủ nghĩa tư bản. Nhưng thực tế cho thấy điều ngược lại: chủ nghĩa tư bản đã tự điều chỉnh, tiến hóa để tồn tại và phát triển.

Chủ nghĩa cộng sản, với tư cách một lý tưởng, vẫn còn tồn tại. Nhưng những quốc gia mang danh cộng sản ngày nay, trên thực tế, đã không còn vận hành theo những nguyên lý đó, mà chủ yếu là các chế độ độc tài.

Phải chăng, độc tài cũng đang tiến hóa, không còn thô bạo như trước, mà tinh vi, hiệu quả hơn nhờ chính những tiến bộ của khoa học kỹ thuật? Tương lai của nó sẽ ra sao?

Ở bài này, tôi nói về Trung Quốc. Nhưng Việt Nam của chúng ta, ở nhiều khía cạnh, lại là một bản sao gần như nguyên vẹn của mô hình đó. Điều này, có lẽ, các bạn hiểu rõ hơn tôi.

Mời các bạn cùng suy nghĩ và bình luận.


 

Tại sao Hungary và Ba Lan?- Nguyễn Thọ

Ba’o Tieng Dan

14/04/2026

Nguyễn Thọ

Anh bạn tôi Stephan Köster [1] có mặt tại Sài Gòn ngày 30.04.1975 đã rất ngạc nhiên khi gặp vài sĩ quan Ba Lan đang ở đó. Họ đại diện cho một nước cộng sản bên cạnh chính quyền Sài Gòn suốt từ 1954. Ba Lan là thành việc Ủy ban giám sát Quốc tế hiệp định Geneve ICS [2] . Từ tháng Ba 1973 bên cạnh Ba Lan còn có Hungary tham gia ủy ban kiểm soát quốc tế hiệp định Paris ICCS [3]. Sự hiện diện của hai nhà nước XHCN tại Sài Gòn để lại khá nhiều câu chuyện thú vị.

Ai có thể tưởng tượng rằng trước tháng tư 1975, máy bay TU-154 của hãng hàng không MALEV hạ cánh xuống sân bay Tân Sơn Nhất, đỗ bên cạnh các máy bay của Air America hay Air Vietnam, rằng đã có người Sài Gòn được các cô tiếp viên Hungary mời uống đồ giải khát? Ông bán phở ở gần khách sạn Catinat (Đường Nguyễn Huệ) đâu có biết rằng bà đầm hay ghé ăn phở lại là cô sĩ quan cộng sản Malgorzata từ thành Varsovie xa lạ.

Cả hai hiệp định hòa bình đều ra đời trong chiến tranh lạnh nên các thành viên ủy ban giám sát phải cùng được các chấp nhận. Năm 1954, Canada là nước tư bản được tất cả Liên Xô, Trung Quốc và Việt Nam chấp nhận. Ấn Đô là nước trung lập thì đương nhiên. (Lúc đầu họ trung lập thật sự, nhưng sau vụ Tây Tạng 1959, Việt Nam đứng về phía Trung Quốc nên tình bạn giữa Nehru – Hồ Chí Minh sứt mẻ). Ba Lan là nước XHCN được Mỹ và Pháp chấp nhận đại diện cho phe cộng sản.

Năm 1973 Ủy ban giám sát hiệp định hòa bình Paris bao gồm Canada, Indonesia, Hungary và Ba Lan. Về sau Canada rút lui và Iran được chọn thay thế, vì lúc đó chính quyền của vua Palevi là đệ từ ruột của Mỹ.

Sự hiện diện của các phái bộ Hungary và Ba Lan trong chiến tranh Việt Nam, cũng như sự đóng góp của họ vào diễn biến của cuộc chiến là một trong những góc khuất lịch sử mà tôi sẽ viết khi có dịp.

Vậy tại sao Mỹ lại chấp nhận hai nước XHCN này trong các ủy ban quốc tế về Việt Nam?

Đó chính là sự khác biệt trong chế độ chuyên chính vô sản mà đảng cầm quyền ở hai nước này thực thi. Phương Tây cho rằng hai nước này cởi mở hơn các nước XHCN khác. Ba Lan là nước XHCN duy nhất mà 80% nông dân không vào hợp tác xã. Nông nghiệp cá thể đã giúp nông dân Ba Lan giữ được tiếng nói của mình và đó cũng là đất sống cho giáo hội thiên chúa độc lập. Việc tổng giám mục Karol Wojtyla xứ Krakow được bầu làm giáo hoàng Johannes Paul II vào tháng 10.1978 cho thấy sức mạnh của giáo hội Ba Lan trong lòng nhà nước XHCN, sát biên giới Liên Xô.

Ở Hungary thì khác, 85% nông dân phải vào Hợp tác xã, nhưng ở đó vai trò của nông nghiệp được nhà nước coi trọng. Nhà nước đầu tư ồ ạt vào HTX giúp cho nông nghiệp Hungary phát triển rất tốt, xuất khẩu sang phương tây thu ngoại tệ. Cuộc sống ổn định khiến cho sự phản đối hợp tác hóa ở Hungary không hề gay gắt như ở Ba Lan.

Ở Ba Lan 100% giáo dân theo đạo thiên chúa (Catholic được coi là quốc đạo). Ở Hungary ngược lại có nhiều dòng đạo: Catholic, Evangelian, Lutherian. Do đó sự khống chế của nhà nước với các giáo hội này mạnh hơn nhiều. Vụ bắt giam và xử án Giáo chủ József Mindszenty năm 1948 là một ví dụ.

Cuộc nổi dậy 1956 (khởi xướng bởi những người cộng sản Hungarry dưới sự lãnh đạo của thủ tướng Nagy Emre) đã thay đổi cách cư xử của nhà nước với các tôn giáo. Tổng bí thư đảng Công nhân XHCN Hungary Janos Kadar sau này đã đưa ra “Kádárismus“ và “Chung sống hòa bình” với nhiều thành phần trong xã hội. Từ 1964 Vatikan và Budapest đã nói chuyện với nhau.

Hè 1986, nhân đi công tác ở đài truyền hình Tiệp Khắc, tôi sang Hungary thăm anh Luat Nghiem Nguyen đang làm nghiên cứu sinh y khoa tại đại học Semelweis. Đã chứng kiến CNXH ở Đông Đức và Tiệp Khắc, hai nước phát triển nhất ở Đông Âu, khi sang đến Budapest, tôi nhận ra một không khí khác. Hàng hóa phương tây có mặt trong nhiều cửa hàng, tuy giá cao nhưng không bắt buộc phải mua bằng ngoại tệ mạnh trong các cửa hàng Intershop như Đông Đức. Từ các quảng cáo ngoài đường đến âm nhạc, tin tức trên đài đều có gì đó mới lạ với tôi. Đó có lẽ sự tác động của giòng ngoại tệ và văn hóa từ 10 triệu người Hung ở nước ngoài đổ vào cho 10 triệu người trong nước. Những kiều dân như George Soros đã gửi nhiều học bổng về nước. Năm 1971, chàng đảng viên Miklos Nemeth được học bổng tu nghiệp về kinh tế ở Harvard để rồi 1988, khi lên thủ tướng ông đã tận dụng hiểu biết và các mối quan hệ để tiến hành cải cách kinh tế.

Hồ Balaton của Hungary luôn là chỗ đến ưa thích của du khách từ Tây Đức cũng như Đông Đức. Không ít các cuộc hội ngộ gia đình hoặc giúp đỡ vượt biên từng xảy ra bên hồ này.

Những khác biệt trên đây so với các nước XHCN Đông Âu khác không chỉ phản ánh sự khai phóng trong xã hội, mà còn là cách nhìn nhận thực tế khách quan của các đảng cầm quyền ở hai nước này. Họ không thể mạnh tay hơn trước một cán cân lực lượng như vậy, nếu không muốn đổ bể.

Và chính các nền tảng xã hội, những dòng thông thương về tư tưởng và tài chính đó đã giúp đẩy mạnh thay đổi nhận thức trong các đảng cầm quyền. Không phải ngẫu nhiên mà từ năm 1973 Ba-lan đã hợp tác với hãng Fiat để sản xuất xe ô-tô Fiat Polska. Không ở nước Đông Âu nào mà công dân mỗi năm được phép đi sang phương Tây ba lần thăm thân như ở Hungary. Từ đó người ta thấy rằng việc cả hai nước đi đầu trong việc chuyển đổi thể chế ở Đông Âu vào cuối năm 1989 là điều tất yếu. Cả người dân và các nhà lãnh đạo cộng sản ở đây đã nhìn ra sự cần thiết của cải cách, sự vô nghĩa của đàn áp, bạo lực để rồi cả hai bên ngồi vào những hội nghị bàn tròn, mở đầu cho quá trình dân chủ hóa đất nước. Bức tường Berlin bị phá bỏ đêm 09.11.1989 chính là dưới tác động của các chuyển biến ở Ba Lan và Hungary.

Một yếu tố phải nói đến là tinh thần dân tộc. Nhân dân và lãnh đạo cả hai nước này đều muốn thoát khỏi sự kìm tỏa của Liên Xô. Trong những biện pháp cứng rắn mà tướng Jaruzelsky áp dụng với công đoàn Đoàn kết của Lech Walesa có những toan tính làm sao đừng để Liên Xô đưa quân vào nước mình. Sau khi thay đổi chế độ, hai ông đã giãi bày với nhau.

Chủ nghĩa dân tộc luôn là con dao hai lưỡi. Những kẻ theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan của Hungary (đảng FIDESZ của Orban) và ở Ba Lan (đảng PIS của anh em nhà Kaczyński) đều biết tận dụng tâm lý dân tộc chủ nghĩa một cách khôn khéo để tấn công vào nền dân chủ. Khi đã kích động đa số dân chúng, họ thường áp đảo trong quốc hội và thay đổi hiến pháp, phá bỏ mọi nguyên tắc phân chia và kiểm soát quyền lực như chúng ta đã chứng kiến.

Vấn đề là lòng yêu nước có thể lúc nào đó bị lợi dụng, nhưng ý chí dân chủ, hàm lượng tri thức và văn hóa phản biện trong xã hội đã không cho phép ngu dân thành công. Kết quả của hai cuộc bầu cử ở loại bỏ đảng PIS ở Ba Lan và loại bỏ FIDESZ ở Hungary đều có nguồn gốc chung như vậy.

Việc Peter Magyar đạt hơn 2/3 số ghế quốc hội thể hiện ý chí của người dân, phải bằng mọi cách khôi phục lại hiến pháp dân chủ đã bị Orban làm méo mó. Rất nhiều người Hungary sống ở các nước EU đã quay về đăng ký bầu cử ở quê nhà.

Tất nhiên cả Ba Lan và Hungary đều sẽ còn trải qua nhiều khó khăn để bảo vệ được nền dân chủ. Mọi việc không hề đơn giản. Những người ủng hộ chủ nghĩa dân tộc cực đoan không bao giờ chịu thua. Đã thế lại luôn có những kẻ từ bên ngoài như Le Pen, Putin, hay Trump hà hơi, cổ vũ.

Chẳng có gì tự nhiên đến cả, tự do lại càng không.

Nhưng tôi đã hiểu, không phải đương nhiên mà những binh sĩ người Ba Lan và Hungary lại có mặt ở Sài Gòn trước 30.04.1975.

_____

[1] Chương 3, Hồi ký “Xuyên qua mọi chiến tuyến” Tho-nx.github.io

[2] Ủy ban quốc tế giám sát hiệp định Geneve 1954 (International Commission of Suppervising ICS) bao gồm Canada, Ấn Độ và Ba Lan

[3] Ủy ban quốc tế giám sát hiệp định Paris 1973 (International Commission of Control and Suppervising ICCS) bao gồm Canada, Ba Lan, Hungary và Indonesia. Sau này Iran thay Canada.


 

Ta chẳng biết ngày mai còn hay mất

Ơn gọi Dòng Têrêsa Hài Đồng Giêsu

Ta chẳng biết ngày mai còn hay mất

Hà cớ chi phải tất bật bon chen

Phải tranh đua với cuộc sống sang hèn

Hãy thong thả sống bình yên đơn giản

Trần gian này được xem là cõi tạm

Đến rong chơi ngày tháng lại rời xa

Tại sao không chọn lương thiện hiền hòa

Sống vui vẻ chân thong dong nhẹ bước

Giàu hay nghèo miễn đủ ăn là được

Nhà nhỏ to cứ hạnh phúc đủ rồi

Sau cánh cửa biết hạ bỏ cái tôi

Bớt sân si với những người thân thuộc

Ở ngoài kia khiến thân tâm mệt nhọc

Bởi thói đời đen trắng bạc như vôi

Tại sao không chọn lựa lấy nụ cười

Vui ấm áp sau ngày dài vất vả

Có gia đình ta còn có tất cả

Mất đi rồi của cải ý nghĩa chi

Nghĩ thử xem hơn thua ích lợi gì

Hay chỉ khiến thâm tình thêm xa cách

Nếu có thể bớt buông lời oán trách

Chọn bao dung biết thấu hiểu thứ tha.


 

Một trăm năm nữa, thế giới này chẳng còn ai nhớ đến bạn hay tôi

Lan Lê –  Những Câu Chuyện Thú Vị

Vào  một ngày mùa đông của 100 năm sau, không ai trong chúng ta còn ở đây nữa. Mọi tiền tài của cải mà ta tích góp, đã thuộc về người khác. Câu chuyện năm đó cũng không còn ai hiểu được…

  Con cháu bạn cũng chỉ nhìn bạn qua bức ảnh.

Những người từng thương nhau cũng chỉ còn lại trong ký ức…

Còn gi sót lại ? Không gì cả…

Một trăm năm nữa, thế giới này chẳng còn ai nhớ đến bạn hay tôi.

Một đoạn tâm sự của Lưu Diệc Phi:

Nếu bạn thấy mệt mỏi, hãy nghỉ ngơi một chút.

Nếu bạn thấy không vui, hãy lặng lẽ đứng một góc khóc một lát.

Nếu bạn cảm thấy bị tổn thương, hãy ôm lấy chính mình.

Dù thế nào đi nữa, xin đừng làm khó bản thân.

Đừng tự làm khổ mình đến sinh bệnh, càng đừng dồn ép bản thân đến bước đường cùng. Đời người ngắn ngủi lắm, ngoài chuyện sống chết, tất cả những điều khác đều không đáng để bận lòng.

Không vui thì hãy cứ để cảm xúc bộc lộ ra ngoài. Không thích nhìn sắc mặt ai thì đừng nhìn. Không muốn trả lời tin nhắn thì cứ mặc kệ.

Tại sao cứ phải gồng mình chịu đựng, tự làm khó chính mình?

Một trăm năm nữa, thế giới này chẳng còn ai nhớ đến bạn hay tôi, tất cả sẽ như một cơn gió thoảng qua, không để lại dấu vết gì.

Vậy thì hà tất gì phải sống trong ấm ức, để bản thân phải khổ sở từng ngày./


 

Thắng – Thua?

  Thắng Thua?

 Tranh cãi với bất kỳ ai, bạn cũng sẽ bị thua lỗ thôi!

– Tranh cãi với khách hàng?  

 Bạn thắng rồi, Khách mất đi.

 – Tranh cãi với đồng nghiệp?  

Bạn thắng rồi, Đoàn đội tiêu tan.
 

– Tranh cãi với người nhà?      

Bạn thắng rồi, Tình thân biến mất.


– Tranh cãi với bạn hữu?        

Bạn thắng rồi, Bạn hữu dần xa.


– Tranh cãi với vợ / chồng?      

Bạn thắng rồi, Tình cảm nhạt phai.

+ Tranh cãi với bất kỳ ai.    

 Bạn thắng rồi thì sao???

Thắng có nghĩa là bạn THUA???

 *****

Khổng tử dậy học trò: 3 x 8= 23, vì sao?

 Nhan Uyên ham học hỏi, tính tình tốt bụng, là một đệ tử đắc ý của Khổng Tử.

Một ngày nọ, trên đường đi làm việc, Nhan Uyên thấy một đám đông ồn ào trước cửa tiệm vải. Anh bước đến hỏi mới biết là đang có tranh chấp giữa người mua và người bán vải.

 Chỉ nghe người mua hét lớn: “Ba nhân tám là 23, sao ông cứ đòi ta 24 đồng?”

Nhan Uyên đến trước mặt người mua, lễ phép nói: “Vị đại ca này, ba nhân tám là 24, sao có thể là 23 được? Anh tính sai rồi, không nên cãi lộn ầm ĩ nữa”.

Người mua không phục, chỉ thẳng mặt Nhan Uyên nói:“Ai cần ngươi phân xử hay sao? Ngươi biết tính toán sao? Muốn phân xử chỉ có cách tìm Khổng phu tử, đúng hay sai hãy để ông ấy định đoạt! Đi, ta hãy tìm ông ấy để phân xử!”

Nhan Uyên đáp: “Được. Nếu Khổng phu tử nói anh sai, vậy xử lý sao?”

Người mua nói: “Nếu ta sai, hãy lấy đầu ta. Nhà ngươi sai thì sao?”

Nhan Uyên trả lời: “Nếu tôi sai, tôi sẽ từ quan”. Hai người đánh cuộc với nhau như thế, cũng đã tìm gặp được Khổng Tử.

 Khổng Tử và Nhan Uyên

 Khổng Tử hỏi rõ tình huống, rồi quay sang Nhan Uyên cười nói: “Ba nhân tám là 23 đó! Nhan Uyên, con thua rồi, lấy mũ quan xuống đem cho người ta đi!”

Nhan Uyên trước giờ chưa bao giờ cãi lại sư phụ. Nghe Khổng Tử nói mình sai, anh đành tháo mũ xuống giao cho người mua kia nhưng trong lòng không phục. Người mua nhận mũ, đắc ý rời đi.

 Nhan Uyên cho rằng Khổng Tử già rồi đâm ra hồ đồ, liền không muốn ở lại học tập Khổng Tử nữa. Ngày hôm sau, Nhan Uyên quay lại lấy cớ nhà có việc muốn xin nghỉ học… Khổng Tử rất rõ tâm tư Nhan Uyên, nhưng không nói gì, chỉ gật đầu đồng ý.

 Trước khi đi, Nhan Uyên quay lại cáo biệt Khổng Tử. Khổng Tử muốn Nhan Uyên trở về nhà bình an, cũng dặn dò hai câu: 

 “Ngàn năm cổ thụ không náu thân, sát nhân không rõ chớ động thủ”.

Nhan Uyên đáp lại một câu: “Con xin ghi nhớ”, rồi rời đi.

 Trên đường về, gió thổi mây dâng, sấm rung chớp giật, trời muốn đổ mưa to. Nhan Uyên tiến đến một cây đại thụ mục rỗng bên ven đường, muốn tránh mưa. Anh đột nhiên nhớ lại lời Khổng Tử đã nói: “Ngàn năm cổ thụ không náu thân”

Nghĩ thầm, sư đồ nhất tràng, anh nghe theo lời sư phụ, tránh xa khỏi cái cây rỗng. Vừa rời đi không xa thì nghe một tiếng sấm, sét đã đánh tan cây cổ thụ kia. Nhan Uyên kinh ngạc: “Câu đầu sư phụ nói đã ứng nghiệm sao! Chẳng lẽ ta còn có thể sát nhân ư?”

 Khi về tới nhà thì trời cũng đã khuya. Không muốn kinh động người nhà, Nhan Uyên dùng bảo kiếm mang theo bên người để đẩy chốt cửa phòng nơi thê tử của anh đang ngủ.

Đến bên giường, sờ lại thấy hai người nằm hai bên giường. Nhan Uyên vô cùng tức giận, giơ kiếm định chém, lại nghĩ đến câu nói thứ hai của Khổng Tử: “Sát nhân không rõ chớ động thủ”, bèn đốt đèn lên xem, hóa ra một người là thê tử, người kia là muội muội của anh.

 Ngày hôm sau, Nhan Uyên quay trở lại, thấy Khổng Tử liền quỳ xuống nói: “Sư phụ, hai câu người nói đã cứu ba người là con, vợ con và muội muội của con đó! Sao người lại biết trước chuyện sẽ xảy ra vậy?”

Nhan Uyên cảm thấy kính phục thầy sâu sắc, cũng đã biết được ẩn ý của Khổng Tử. Khổng Tử đỡ Nhan Uyên dậy và nói: “Ngày hôm qua thời tiết khô nóng, đoán chừng sẽ có cơn dông, nên ta nhắc nhở con: “ngàn năm cổ thụ không ai náu thân”, con lại mang khí bực trong người, trên thân đeo bảo kiếm, cho nên ta khuyên con “sát nhân không rõ chớ động thủ”!”

Nhan Uyên vừa vái lạy vừa nói: “Sư phụ liệu sự như thần, đệ tử mười phần kính nể!”

 Khổng Tử lại nói tiếp: “Ta biết rõ con xin phép về nhà nghỉ là mượn cớ, thật ra cho rằng ta đã già nên hồ đồ rồi, không muốn học ta nữa. Con nghĩ xem, ta nói 3 nhân 8 bằng 23 là đúng, con thua, bất quá là thua cái mũ quan kia, nếu ta nói 3 nhân 8 bằng 24 mới đúng, người mua bán kia thua, đây là một mạng người đó! Vậy con nói xem, chức vị quan trọng hay mạng người quan trọng hơn?

 Nhan Uyên bỗng giật mình tỉnh ngộ, quỳ gối trước mặt Khổng Tử mà thưa: “Sư phụ trọng đại nghĩa coi nhẹ tiểu tiết, đệ tử còn tưởng rằng Sư phụ vì lớn tuổi mà thiếu minh mẫn, đệ tử hổ thẹn vạn phần!”

Từ đó về sau, bất luận Khổng Tử đi đến đâu, Nhan Uyên theo đến đó không rời sư phụ…

 Câu chuyện này gợi cho tôi nhớ tới ca từ trong một bài hát tuyệt vời của Khắc Lý Lâm: 

   “Nếu như mất đi bạn, được cả thế giới cũng để làm gì?”

– Tranh cãi với khách hàng. Bạn thắng rồi. Khách mất đi.

– Tranh cãi với đồng nghiệp. Bạn thắng rồi. Đoàn đội tiêu tan.
– Tranh cãi với người nhà. Bạn thắng rồi. Tình thân biến mất.
– Tranh cãi với bạn hữu. Bạn thắng rồi. Bạn hữu dần xa.
– Tranh cãi với vợ / chồng. Bạn thắng rồi. Tình cảm nhạt phai.
– Tranh cãi với bất kỳ ai. Bạn thắng rồi thì sao??? Thắng có nghĩa là bạn THUA???

 Hãy tranh cãi, tranh đấu với chính bản thân. Nếu tự thắng Bản thân sẽ trở thành người: Từ Bi, Khiêm Tốn, Bao Dung, Độ Lượng… thì lúc đó bạn mới thật sự THẮNG”.

From: TU PHUNG 


 

Có một điều lạ lắm…

Gieo Mầm Ơn Gọi

Có một điều lạ lắm…

Người càng mạnh mẽ, lại càng dịu dàng.

Người càng thông minh, lại càng ít nói.

Bởi vì họ đã đi qua đủ nhiều để hiểu rằng: không phải lúc nào lớn tiếng cũng là chiến thắng, và không phải mọi điều đều cần phải chứng minh.

Người mạnh mẽ thật sự không cần gồng mình.

Họ không dùng sự cứng rắn để che đi yếu đuối, cũng không dùng lời nói để áp đảo người khác.

Họ chọn dịu dàng – không phải vì họ yếu, mà vì họ đủ vững để không làm tổn thương ai, kể cả khi bản thân có thể.

Còn người thông minh, họ biết lắng nghe.

Họ hiểu rằng mỗi lời nói ra đều mang một sức nặng, nên không dễ dàng phung phí.

Họ không cần nói nhiều để thể hiện mình biết, vì chính cách họ sống đã là câu trả lời rõ ràng nhất.

Thế nên, nếu một ngày bạn gặp một người vừa nhẹ nhàng vừa trầm lặng, đừng vội nghĩ họ yếu đuối hay lạnh lùng.

Có thể… họ đã từng rất đau, rất cố gắng, và rất trưởng thành để trở nên bình yên như hôm nay.

Và cũng có thể, họ đang mạnh mẽ theo một cách mà không phải ai cũng nhìn thấy.

St