Rất nhiều người nói rằng sống ở Việt Nam thoải mái hơn…

Tina Nguyen

 Rất nhiều người nói rằng sống ở Việt Nam thoải mái hơn. Nhịp sống dễ thở hơn. Không phải cày hai ba việc như ở Mỹ. Không phải cuối tuần lo nấu ăn cho cả tuần. Không phải tự mình gánh hết mọi chi phí, từ bảo hiểm đến thuế má.

Nếu tin rằng ở Việt Nam “sướng hơn” như vậy, thì tại sao mỗi lần nhắc đến “Việt kiều Mỹ” lại mặc định đó là người phải giàu, phải rộng rãi, phải chi trả?

Việt kiều, về bản chất, chỉ là người Việt sống và làm việc ở nước ngoài. Việt kiều Mỹ, Việt kiều Lào, Việt kiều Campuchia, Việt kiều Trung Quốc… đều là Việt kiều. Nhưng rất lạ, dường như chỉ có “Việt kiều Mỹ” mới bị đặt vào một khung kỳ vọng tài chính cao hơn.

Cũng là rời quê hương.

Cũng là sống xa gia đình.

Cũng là tự bươn chải nơi đất khách.

Vậy tại sao danh xưng giống nhau nhưng mức độ “phải cho” lại khác nhau?

Có phải vì hai chữ “Mỹ” gợi lên hình ảnh giàu có, nên tự động nâng chuẩn đòi hỏi? Và nếu vậy, đó là suy nghĩ dựa trên thực tế, hay dựa trên tưởng tượng?

Sự thật là, sống ở Mỹ không đồng nghĩa với giàu có. Ở đó, thu nhập đi kèm với chi phí rất cao. Tiền nhà, tiền xe, bảo hiểm, thuế, sinh hoạt, tất cả đều tính bằng đô và đều phải trả đúng hạn. Không ai được miễn trừ vì mình là người nhập cư.

Việt kiều Mỹ cũng đi làm thuê, cũng lao động như bao người. Có người làm hãng, có người làm nail, có người làm nhà hàng, có người làm kỹ thuật. Họ có thể kiếm được nhiều hơn mức trung bình ở Việt Nam, nhưng đồng thời cũng phải chi trả nhiều hơn rất nhiều.

Quan trọng hơn, họ đánh đổi bằng khoảng cách.

Khoảng cách với gia đình.

Khoảng cách với ngôn ngữ quen thuộc.

Khoảng cách với những mối quan hệ tự nhiên và ấm áp ở quê nhà.

Trong khi đó, người ở trong nước, dù thu nhập thế nào, vẫn có lợi thế về sự gần gũi, về mạng lưới tình thân, về chỗ dựa tinh thần.

Vậy thì việc mặc định rằng “Việt kiều Mỹ phải sộp hơn” thực chất dựa trên cơ sở nào? Chỉ vì đồng tiền họ kiếm được mang mệnh giá khác?

Nếu thật sự tin rằng sống ở Việt Nam thoải mái và nhẹ nhàng hơn, thì logic sẽ là: mỗi người chọn môi trường phù hợp với mình và tự chịu trách nhiệm cho lựa chọn đó. Không có lý do gì để xem người ở xa là nguồn lực tài chính đương nhiên.

Việt kiều gửi tiền về là tình cảm, không phải nghĩa vụ.

Không gửi cũng không phải sai.

Một xã hội văn minh không đo giá trị con người bằng quốc gia họ đang sống, càng không đo bằng số tiền họ có thể cho.

Danh xưng “Việt kiều” không nên trở thành một mức thuế cảm xúc.

Ai cũng phải lao động để có thu nhập. Ai cũng đánh đổi một phần cuộc sống của mình cho sự lựa chọn đó. Sự khác biệt chỉ là họ đang sống ở đâu, không phải họ có trách nhiệm gánh thêm kỳ vọng cho người khác.

Tôn trọng lựa chọn của nhau, và tôn trọng giá trị lao động của nhau, có lẽ là cách ứng xử hợp lý nhất


 

ÂM THẦM CHIẾM VƯỜN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Nước Thiên Chúa, Người sẽ lấy đi không cho các ông nữa!”.

“Chủ nghĩa giáo sĩ trị dẫn đến việc hiểu thừa tác vụ như một chức năng quyền lực!” – Phanxicô.

Kính thưa Anh Chị em,

Cảnh báo của Đức Phanxicô soi sáng dụ ngôn Tin Mừng hôm nay và đặt ra một câu hỏi: trong vườn nho của Chúa, chúng ta đang phục vụ Ngài hay đang ‘âm thầm chiếm vườn?’.

Sống lâu trong vườn nho được trao, các tá điền quên rằng vườn nho có Chủ; từ người làm thuê, họ dần dần cư xử như ông chủ. Khi người của Chủ đến thu hoa lợi, họ coi đó là sự xâm phạm. Câu chuyện kết thúc trong bạo lực: các đầy tớ bị đánh đập, người con bị giết. Nhưng bi kịch không bắt đầu bằng bạo lực; nó bắt đầu bằng một ý nghĩ rất âm thầm: vườn nho này có thể là của chúng ta. Thế mà “Giáo Hội không phải của chúng ta, nhưng của Chúa Kitô!” – Bênêđictô XVI.

Cũng thế, chúng ta có thể rơi vào cám dỗ ấy. Khi phục vụ lâu năm, quen với vai trò và sự tín nhiệm, chúng ta dễ coi điều được trao phó như của mình. Khi đó, dẫu vẫn làm mọi sự, chúng ta tìm vinh quang cho mình mà không còn tìm vinh quang Chúa. Thế là, rất âm thầm, chúng ta bắt đầu ‘chiếm vườn’. “Thẩm quyền thực sự là để quên mình phục vụ, không phải để bóc lột người khác!” – Phanxicô.

Việc “chiếm vườn” hiếm khi bắt đầu bằng những quyết định lớn; nó khởi đi từ những điều rất nhỏ: khi chúng ta thích được khen hơn là trung thành; giữ ảnh hưởng hơn là phục vụ; bảo vệ vị trí hơn là bảo vệ sự thật. Khi đó, vườn nho của Chúa dần dần trở thành khu vườn của chúng ta. Vì thế Chúa Giêsu đã rất nghiêm khắc: “Nước Thiên Chúa sẽ bị lấy đi!”. Không phải vì Thiên Chúa bất công, nhưng vì vườn nho không thể sinh hoa trái khi tá điền quên mất Chủ; nơi nào con người tìm mình, nơi đó Nước Trời bắt đầu cằn cỗi.

Thế nhưng, lịch sử cứu độ cho thấy: khi con người toan tính chiếm đoạt, Thiên Chúa vẫn âm thầm thực hiện kế hoạch của Ngài. Các anh của Giuse đã bán em sang Ai Cập, tưởng rằng họ đã dập tắt một giấc mơ – bài đọc một. Nhưng chính con đường ấy lại trở thành lối Thiên Chúa dùng để cứu cả dòng họ Giacóp khỏi nạn đói. Thánh Vịnh đáp ca thật thâm trầm, “Hãy nhớ lại những kỳ công Chúa thực hiện!”.

Anh Chị em,

Chúa Kitô là Người Con bị giết ngoài vườn nho. Ngài không đến để chiếm đoạt, nhưng để trao ban; không giữ vườn nho cho mình, nhưng trao mạng sống để vườn sinh hoa trái. Trên thập giá, Ngài bày tỏ một logic khác: ai giữ mình sẽ mất; ai dám quên mình sẽ làm cho vườn nho sinh hoa trái. Vì thế, điều quan trọng không phải là làm bao nhiêu, nhưng là làm cho ai. Nếu phục vụ để Thiên Chúa được biết và được yêu hơn, vườn nho vẫn là của Ngài; còn nếu phục vụ để mình được thấy và được nhắc đến, rất có thể chúng ta đang ‘âm thầm chiếm vườn’. “Cám dỗ quyền lực mạnh nhất khi sự thân mật với Thiên Chúa yếu nhất!” – Henri Nouwen.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin giữ con khỏi trở thành kẻ cắp; dạy con nhớ rằng con chỉ là tá điền được Chúa yêu thương. Vườn nho là của Chúa, không phải của con!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

****************************

Lời Chúa Thứ Sáu Tuần II Mùa Chay

Đứa thừa tự đây rồi ! Nào ta giết quách nó đi.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 21,33-43.45-46

33 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các thượng tế và kỳ mục trong dân rằng : “Các ông hãy nghe dụ ngôn sau đây : Có chủ nhà kia trồng được một vườn nho ; chung quanh vườn, ông rào giậu ; trong vườn, ông khoét bồn đạp nho, và xây một tháp canh. Ông cho tá điền canh tác, rồi trẩy đi xa. 34 Gần đến mùa hái nho, ông sai đầy tớ đến gặp các tá điền để thu hoa lợi. 35 Bọn tá điền bắt các đầy tớ ông : chúng đánh người này, giết người kia, ném đá người nọ. 36 Ông lại sai một số đầy tớ khác đông hơn trước ; nhưng bọn tá điền cũng xử với họ y như vậy. 37 Sau cùng, ông sai con trai mình đến gặp chúng, vì nghĩ rằng : ‘Chúng sẽ nể con ta.’ 38 Nhưng bọn tá điền vừa thấy người con, thì bảo nhau : ‘Đứa thừa tự đây rồi ! Nào ta giết quách nó đi, và đoạt lấy gia tài nó !’ 39 Thế là chúng bắt lấy cậu, tống ra khỏi vườn nho và giết đi. 40 Vậy khi ông chủ vườn nho đến, ông sẽ làm gì bọn tá điền kia ?” 41 Họ đáp : “Ác giả ác báo, ông sẽ tru diệt bọn chúng và cho các tá điền khác canh tác vườn nho, để cứ đúng mùa, họ nộp hoa lợi cho ông.” 42 Đức Giê-su bảo họ : “Kinh Thánh có câu : ‘Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường. Đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta.’ Các ông chưa bao giờ đọc câu này sao ?

43 Bởi đó, tôi nói cho các ông hay : Nước Thiên Chúa, Người sẽ lấy đi không cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi.”

45 Nghe những dụ ngôn Người kể, các thượng tế và người Pha-ri-sêu hiểu là Người nói về họ. 46 Họ tìm cách bắt Người, nhưng lại sợ dân chúng, vì dân chúng cho Người là một ngôn sứ. 


 

ĐỪNG TUNG TIN VU KHỐNG NGƯỜI KHÁC- Anmai CSsR

Anmai CSsR

 Trong dòng chảy cuồn cuộn của xã hội hiện đại, nơi thông tin có thể đi vòng quanh thế giới chỉ sau một cú nhấp chuột, chúng ta thường quên mất sức nặng khủng khiếp của những lời mình thốt ra. Lời nói, vốn là món quà quý giá mà tạo hóa ban tặng để con người thấu hiểu và yêu thương nhau, trớ trêu thay, lại thường bị biến thành thứ vũ khí tàn độc nhất để hủy hoại đồng loại. Việc tung tin đồn và vu khống người khác không chỉ là một hành vi thiếu văn hóa, mà đó còn là một tội ác âm thầm, gieo rắc những nỗi đau không thể chữa lành và phá hủy những cấu trúc nền tảng nhất của xã hội. Những người tham gia vào việc lan truyền tin đồn thường gây ra những tai hại kinh khủng hơn rất nhiều so với những gì họ có thể tưởng tượng được trong trí óc hạn hẹp của mình. Ngay cả khi động cơ của họ không xuất phát từ sự ác ý lộ liễu hay lòng kiêu ngạo ngút trời, thì sự vô trách nhiệm trong lời nói vẫn đủ sức tạo ra những cơn địa chấn làm sụp đổ danh dự của một con người.

Nguồn cơn của sự nói xấu thường bắt rễ sâu xa từ lòng kiêu ngạo – một căn bệnh của linh hồn khiến con người luôn khao khát được đứng cao hơn kẻ khác. Có một nghịch lý đau đớn là rất nhiều người tin rằng, bằng cách hạ thấp giá trị của người bên cạnh, họ sẽ tự nhiên nâng cao giá trị của chính mình. Họ biến cuộc đời thành một bàn cân lệch lạc, nơi mà họ cố gắng chất đầy những lời chỉ trích, chê bai lên đĩa cân của người khác để làm cho đĩa cân của bản thân mình trông có vẻ nhẹ nhàng và thanh thoát hơn. Những kẻ kiêu ngạo này luôn muốn tận dụng tối đa những phẩm chất tốt đẹp mà họ tự cho là mình sở hữu, tự phong mình thành những quan tòa đạo đức, đứng trên bục cao để phán xét thế gian. Trong thế giới quan hạn hẹp của họ, mọi điều họ nói hay làm đều được mặc định là tốt lành, thánh thiện, còn mọi hành động của người khác đều bị soi xét dưới lăng kính sai trái và tội lỗi. Họ không nhận ra rằng, vẻ đẹp thực sự của một tâm hồn không bao giờ được xây dựng trên đống tro tàn của danh dự người khác.

Tuy nhiên, không phải lúc nào những lời vu khống cũng đến từ sự thù hằn chủ đích. Thực tế cho thấy, phần lớn những cuộc trò chuyện ác ý lại được thực hiện bởi những người vô trách nhiệm – những kẻ chỉ đơn giản là muốn nói cho thỏa miệng mà không bao giờ cảm thấy cần phải kiểm chứng xem điều mình đang nói là đúng hay sai. Đối với họ, sự thật là một thứ gì đó quá xa xỉ và phiền phức, trong khi sự tò mò và thói ngồi lê đôi mách lại mang đến một cảm giác hưng phấn nhất thời. Họ coi việc bàn tán về đời tư của người khác như một hình thức giải trí rẻ tiền, một cách để lấp đầy khoảng trống của sự rỗi hơi. Mặc dù chúng ta có thể nói rằng những người này phạm tội nhẹ hơn những kẻ vu khống vì lòng ghen ghét hay trả thù, nhưng về mặt hệ quả, họ vẫn không thể thoát khỏi tội lỗi và trách nhiệm đạo đức. Dù động cơ là gì, dù là vô tình hay hữu ý, việc làm ô danh người lân cận vẫn là một hành động đi ngược lại với lương tâm và đạo lý làm người.

Sâu thẳm trong bản chất, tội lan truyền tin đồn bao hàm tất cả những gì xấu xa và ác độc nhất mà một con người có thể thực hiện đối với đồng loại. Nó không đơn thuần là một vài lời nói gió bay, mà là một sự tổng hòa của những chất độc tinh thần mạnh nhất. Đó là sự hèn hạ của tính phù phiếm, khi con người sẵn sàng bán rẻ sự thật để đổi lấy một vài giây phút được là trung tâm của sự chú ý. Đó là nọc độc của sự ghen tị, thứ axit ăn mòn mọi thiện chí và biến những thành công của người khác thành nỗi đau của chính mình. Đó là sự cay đắng của giận dữ và thù hận ác ý, vốn luôn tìm cách phun ra những lời lẽ sắc lẹm để đâm thấu tâm can đối phương. Hơn hết, nó thể hiện một tính võ đoán và vô trách nhiệm đến mức kinh ngạc, một trạng thái tâm linh nghèo nàn không xứng đáng với phẩm giá của một con người, nhất là với những ai tự nhận mình sống theo niềm tin tôn giáo hay các giá trị đạo đức cao đẹp.

Hãy nhìn vào những gì mà tin đồn đã gây ra cho các mối quan hệ nhân sinh quanh ta. Chẳng phải việc lan truyền tin đồn chính là hạt giống xấu xí đã gieo rắc hầu hết mọi mâu thuẫn và bất hòa trong xã hội này sao? Nó có sức mạnh kinh hồn để phá vỡ những tình bạn gắn bó hàng thập kỷ chỉ trong một buổi chiều. Nó dựng lên những bức tường ngăn cách, cản trở những kẻ đang thù nghịch tìm thấy con đường hòa giải và tha thứ. Khi một lời nói xấu được tung ra, nó giống như một lọ mực đen đổ vào chậu nước trong, làm vẩn đục mọi nỗ lực kết nối giữa người với người. Những cuộc cãi vã trở nên gay gắt hơn, những vết thương lòng trở nên sâu hoắm hơn, và cơ hội để thấu hiểu nhau dần tan biến vào hư không.

Nghiêm trọng hơn, độc tố của tin đồn còn len lỏi vào tận cùng của những tế bào nhỏ nhất của xã hội: đó chính là gia đình. Biết bao gia đình vốn dĩ đang sống trong cảnh ấm êm, hòa thuận, bỗng chốc bị một cái lưỡi độc ác làm cho đảo lộn hoàn toàn. Tin đồn làm xáo trộn sự yên bình vốn có, khiến anh em ruột thịt quay lưng lại với nhau, khiến tình chồng vợ rạn nứt vì những nghi ngờ không đáng có. Nó đẩy con dâu vào thế đối đầu với mẹ chồng, khiến con rể và bố vợ không thể tìm thấy tiếng nói chung. Chỉ vì một lời nói thiếu căn cứ, một sự thêu dệt ác ý từ một người hàng xóm – dù là đàn ông hay đàn bà – mà cả một tổ ấm có thể rơi vào bi kịch. Những người thân yêu nhất bỗng chốc nhìn nhau bằng ánh mắt dè chừng, thậm chí không đành lòng nhìn mặt và nói chuyện với nhau. Nỗi đau ấy âm ỉ và dai dẳng, để lại những vết sẹo không bao giờ lành trong tâm khảm mỗi thành viên.

Chúng ta cần phải tỉnh ngộ trước sức tàn phá của “giặc lưỡi”. Một lời vu khống khi đã phát ra thì không bao giờ có thể thu hồi trọn vẹn được. Nó giống như việc tung những chiếc lông chim trước gió, dù bạn có hối hận và cố gắng đi nhặt lại bao nhiêu đi chăng nữa, thì những chiếc lông ấy đã bay đi khắp nơi và không bao giờ trở về đầy đủ. Danh dự của một con người là thứ tài sản quý giá nhất, một khi đã bị vấy bẩn bởi tin đồn ác ý, việc gột rửa nó cần rất nhiều thời gian và đôi khi là cả một đời cũng không đủ. Do đó, trước khi định nói về một ai đó, hãy tự hỏi bản thân: “Điều này có đúng không? Điều này có tử tế không? Và điều này có thực sự cần thiết không?”. Nếu lời nói không mang lại sự xây dựng hay tình yêu thương, thì tốt nhất là hãy giữ lấy sự im lặng thanh cao.

Hãy nhớ rằng, sự vô trách nhiệm trong ngôn từ chính là một hình thức bạo lực tinh thần. Chúng ta không thể nhân danh sự “thẳng thắn” hay “vui đùa” để dẫm đạp lên cuộc sống của người khác. Mỗi cá nhân có trách nhiệm bảo vệ sự thật và bảo vệ danh dự của đồng loại như bảo vệ chính bản thân mình. Một cộng đồng lành mạnh không phải là nơi không có khuyết điểm, mà là nơi người ta biết bao dung cho nhau và biết im lặng trước những điều có thể gây tổn thương. Đừng để cái lưỡi trở thành công cụ của sự hủy diệt, hãy để nó trở thành nhịp cầu của sự cảm thông. Việc kiềm chế được ham muốn nói xấu người khác không chỉ là biểu hiện của một người có giáo dục, mà còn là minh chứng cho một tâm hồn giàu lòng nhân ái và có trách nhiệm với cuộc đời.

Cuối cùng, chúng ta hãy tự nhắc nhở mình rằng mỗi lời chúng ta thốt ra đều phản chiếu chính tâm hồn chúng ta. Một tâm hồn đầy rẫy những tin đồn và sự vu khống là một tâm hồn đang chịu sự dày vò của những thói hư tật xấu. Ngược lại, một tâm hồn biết trân trọng sự thật và danh dự của người khác là một tâm hồn đang hướng tới sự tự do và bình an đích thực. Đừng để mình trở thành một phần của chuỗi xích gieo rắc khổ đau. Hãy can đảm dừng lại những tin đồn ngay khi chúng vừa chạm đến tai mình, và hãy dùng tiếng nói của mình để bênh vực cho sự thật, cho những người đang bị áp bức bởi sự vu khống. Chỉ khi đó, chúng ta mới có thể cùng nhau xây dựng một thế giới nơi mà lòng tin và sự tôn trọng được đặt lên hàng đầu, nơi mà mỗi gia đình, mỗi tình bạn đều được bảo vệ khỏi nọc độc của những cái lưỡi ác độc.

Lm. Anmai, CSsR


 

 BA CHÍNH KHÁCH NỔI TIẾNG NHẤT THẾ GIỚI…

Những Câu Chuyện Thú Vị – Chi Nguyen

 BA CHÍNH KHÁCH NỔI TIẾNG NHẤT THẾ GIỚI…

1- Cố Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu: Bậc “khai quốc công thần” của quốc đảo sư tử.

– Sau khi qua đời, về tài sản: Ông chỉ có một ngôi nhà cũ đã tới lúc cần phải sửa chữa.

– Tượng đài: Ông không có tượng đài nào ngoài trời, chỉ có tượng đài trong lòng dân.

– Khi ra đi, ông không để lại gì cho riêng mình, ngoài một đất nước phát triển hàng đầu thế giới và người con trai ưu tú: Đương kim Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long!

2- Cựu Thủ tướng Nhật Bản Murayama: Không nhận lương hưu của Chính phủ trợ cấp, tự đạp xe đi chợ, sống bình dị ở thôn quê.

– Sau khi mãn nhiệm vị trí Thủ tướng Nhật Bản không lâu, Murayama cũng xin từ nhiệm vị trí trong Quốc hội đất nước. Cả nhà ông, già trẻ lớn bé đã lặng lẽ đưa nhau về quê hương ở Oita, thuộc đảo Kyushu (Nhật Bản) để sinh sống.

– Người dân trên đảo Kyushu thường bắt gặp một ông già gày gò, lịch lãm, nhưng giản dị (ít người biết ông từng là Thủ tướng đất nước giàu có nhất nhì thì giới) tự đạp xe ra chợ mua đồ ăn hàng ngày…

– Người ta thường nói: Khi lãnh đạo của một nước về hưu mà cuộc sống trở nên bình dị thì chứng tỏ tỷ lệ tham nhũng của nước đó thấp và ngược lại. Hầu hết các cựu Thủ tướng của nước Nhật đều có cuộc sống giản dị đến mức bình dân sau khi nghỉ hưu.

3- Tổng thống đương nhiệm Cộng hòa Croatia Kollinda Grabar Kitarovics: Không chỉ là một nữ chính khách xinh đẹp, trẻ trung, thông minh tài giỏi, mà còn tận tụy như một bà nội trợ hoàn hảo cho chính Tổ quốc mình.

– Sau khi nhậm chức, bà đã yêu cầu bán phi cơ riêng của Tổng thống, bán 35 xe Mercedes Benz của Văn phòng Tổng thống đưa vào ngân sách quốc gia.

– Bà đã tự cắt giảm 50% lương của mình và các Bộ trưởng trong nội các.

– Bà cũng đã giảm 40% lương các Đại sứ, các Tổng lãnh sự quán.

– Bà còn yêu cầu xóa quỹ hưu trí dành riêng cho các Đại biểu quốc hội.

– Nữ Tổng thống này có thể viết và nói 7 ngoại ngữ thông thạo và sống bình dị như tất cả mọi người dân.

– Từ khi bà giữ chức Tổng thống, GDP của Croatia tăng 24%

  • Muu Thai

ST.


 

SỰ KHÁC BIỆT NGHIỆT NGÃ GIỮA CÁI TÃ CỦA TRẺ THƠ VÀ NGƯỜI GIÀ

SỰ KHÁC BIỆT NGHIỆT NGÃ GIỮA CÁI TÃ CỦA TRẺ THƠ VÀ NGƯỜI GIÀ

Trong vòng quay của một kiếp người, có những sự lặp lại về mặt sinh học nhưng lại mang những số phận cảm xúc hoàn toàn trái ngược. Một đứa trẻ tè dầm là hình ảnh của sự khởi đầu, của một mầm sống đang lớn lên và cần được bao bọc. Nhưng một người già không may mất kiểm soát bài tiết lại thường bị xem là dấu hiệu của sự tàn úa, của gánh nặng và sự phiền phức. Sự khác biệt trong thái độ của chúng ta trước cùng một hiện tượng vật lý ấy đã phản chiếu một thực tế nghiệt ngã về cách con người nhìn nhận giá trị của nhau dựa trên sự hữu dụng và tương lai. Khi đứa trẻ tè dầm, chúng ta mỉm cười, sẵn lòng dọn dẹp với niềm hy vọng rằng mai này con sẽ lớn, sẽ biết tự chủ. Nhưng khi người già rơi vào hoàn cảnh tương tự, niềm hy vọng ấy dường như đã tắt lịm, thay vào đó là cảm giác mệt mỏi trước một thực tại không thể đảo ngược. 

Chính sự thiên kiến này đã vô tình tạo nên những vết thương lòng sâu sắc cho những người đã đi đến cuối dốc cuộc đời.

Tại sao chúng ta lại thấy việc chăm sóc một đứa trẻ là hiển nhiên và tràn đầy yêu thương? Bởi vì đứa trẻ là biểu tượng của tương lai. 

Mỗi lần thay tã, mỗi lần dọn dẹp đống đổ nát mà trẻ gây ra, người lớn đều coi đó là một khoản đầu tư cho sự trưởng thành. Chúng ta nhìn vào đứa trẻ và thấy cả một bầu trời tiềm năng phía trước. Tiếng cười của trẻ thơ làm dịu đi những vất vả của người mẹ, người cha. Việc trẻ chưa kiểm soát được hành vi của mình được coi là một giai đoạn phát triển tự nhiên, cần thiết và đầy tính nhân văn. Không ai trách một đứa trẻ một tuổi vì nó chưa biết đi vệ sinh đúng chỗ. Ngược lại, người ta còn dành cho nó những lời âu yếm, những cái vuốt ve để vỗ về. Đứa trẻ nhận được sự khoan dung tuyệt đối bởi vì nó “chưa biết”, và thế giới đang chờ đợi nó học hỏi để trở nên hoàn thiện hơn.

Thế nhưng, khi kịch bản ấy lặp lại ở tuổi già, thái độ của chúng ta chuyển từ bao dung sang chịu đựng. Người già tè dầm thường bị coi là phiền phức vì họ đại diện cho sự suy tàn và quá khứ đã qua. Trong một xã hội đề cao hiệu suất và sự năng động, một người không còn khả năng tự chăm sóc những nhu cầu cơ bản nhất thường bị coi là “mất giá trị”. Người ta dọn dẹp cho người già với tâm thế của một người đang thực thi bổn phận nặng nề hơn là sự tận hiến của tình yêu. Những lời cằn nhằn, những tiếng thở dài, hay thậm chí là ánh mắt ghẻ lạnh của con cháu đã vô tình biến nỗi đau bệnh tật thành nỗi nhục nhã của phẩm giá. Người già, khác với trẻ em, họ “đã biết” và họ ý thức rất rõ về sự bất lực của mình. Chính cái ý thức ấy làm cho nỗi đau của họ nhân lên gấp bội khi nhìn thấy sự khó chịu của người thân.

Sự bất công này còn nằm ở chỗ chúng ta quên mất quy luật của lòng biết ơn. Đứa trẻ chưa làm gì cho chúng ta, nhưng chúng ta sẵn sàng phục vụ nó vô điều kiện. Người già đã cống hiến cả cuộc đời, đã từng là đôi tay vững chãi nâng đỡ chúng ta những bước đi đầu tiên, đã từng thức trắng đêm khi chúng ta ốm đau, vậy mà khi họ cần một sự chăm sóc tương tự, họ lại nhận về sự thiếu kiên nhẫn. Có một sự đứt gãy về mặt cảm xúc khi chúng ta không thể kết nối hình ảnh của người cha, người mẹ mạnh mẽ năm xưa với thân xác già nua, bệnh tật hiện tại. Chúng ta khó chịu vì người già không còn giống như những gì chúng ta kỳ vọng, chúng ta quên rằng chính họ cũng đang phải đấu tranh quyết liệt với sự xuống cấp của chính cơ thể mình. Tè dầm ở người già không phải là sự lười biếng hay cẩu thả, đó là tiếng kêu cứu của một cơ thể đã mỏi mệt sau bao năm tháng gánh vác cuộc đời.

Nỗi đau lớn nhất của người già không phải là bệnh tật, mà là cảm giác mình trở thành vật cản trong đời con cháu. Đứa trẻ tè dầm xong có thể thản nhiên chơi đùa, nhưng người già sau một sự cố như vậy thường rơi vào mặc cảm tội lỗi sâu sắc. Họ thu mình lại, họ sợ hãi khi phải yêu cầu sự giúp đỡ, họ âm thầm chịu đựng sự bẩn thỉu vì không muốn nghe những lời nặng nhẹ. Sự “phiền phức” mà chúng ta gán cho họ thực chất là tấm gương phản chiếu sự ích kỷ của chính chúng ta. Chúng ta chỉ muốn nhận những gì tươi đẹp, khỏe mạnh và từ chối những gì xấu xí, héo úa. Nhưng cuộc đời là một vòng tròn khép kín, không ai có thể trẻ mãi, và sự chăm sóc mà chúng ta dành cho người già hôm nay chính là lời cam kết cho tương lai của chính chúng ta mai sau.

Nếu chúng ta có thể nhìn vết bẩn trên giường của người già bằng đôi mắt đã từng nhìn đứa con thơ của mình, chúng ta sẽ thấy đó không phải là sự phiền phức, mà là một cơ hội để đền đáp. Mỗi lần thay áo, lau mình cho cha mẹ là một lần chúng ta được chạm vào lịch sử của chính mình, được thể hiện sự hiếu kính bằng những hành động cụ thể nhất. Người già cần sự kiên nhẫn hơn cả trẻ em, vì họ đang phải đối mặt với nỗi sợ hãi về cái chết và sự biến mất. Một nụ cười cảm thông, một câu nói nhẹ nhàng: “Không sao đâu mẹ, chuyện nhỏ thôi mà” có giá trị hơn ngàn liều thuốc bổ. Nó giúp người già giữ vững được phẩm giá cuối cùng của một con người, giúp họ cảm thấy mình vẫn được yêu thương dù không còn khả năng đóng góp về mặt vật chất.

Chúng ta cần thay đổi tư duy về sự hữu dụng. Một con người có giá trị không phải vì họ làm được bao nhiêu việc, mà vì sự hiện diện của họ là một phần không thể thiếu trong cấu trúc của tình yêu gia đình. Người già tè dầm là một thử thách đối với lòng nhân ái của con cháu. Nếu chúng ta vượt qua được sự ghê sợ về mặt cảm giác để thấu cảm với nỗi đau của người già, chúng ta đang thực sự trưởng thành về mặt tâm linh. Đừng để những nhu cầu sinh lý tự nhiên trở thành rào chắn ngăn cách tình thâm. Đừng để người già phải sống những ngày cuối đời trong sự tủi hận chỉ vì họ không còn kiểm soát được cơ thể mình – điều mà chính chúng ta cũng đã từng như vậy và chắc chắn sẽ lại như vậy trong tương lai.

Khi trí tuệ con người đủ lớn, họ sẽ hiểu rằng việc chăm sóc một người già mất năng lực cũng thiêng liêng như việc nuôi nấng một đứa trẻ. Đó là sự tiếp nối của sự sống, là biểu hiện cao nhất của tính người. Sự phiền phức chỉ tồn tại trong tâm trí của những kẻ tính toán hơn thua với chính người thân của mình. Đối với một trái tim biết yêu thương, sự bất lực của cha mẹ là lời mời gọi của lòng trắc ẩn. Hãy nhớ rằng, nếu mùi vị của tã lót trẻ thơ mang theo hương vị của bình minh, thì sự chăm sóc người già mang theo vẻ đẹp trầm mặc và bao dung của hoàng hôn. Cả hai đều cần được nâng niu như nhau, vì chúng đều là những mảnh ghép không thể thiếu của một kiếp người trọn vẹn.

Lời kết cho sự so sánh nghiệt ngã này chính là lời nhắc nhở về sự vô thường. Ngày hôm nay chúng ta dọn dẹp cho người khác với thái độ nào, thì ngày mai chúng ta sẽ nhận lại điều tương tự như thế. Hãy đối xử với người già bằng sự dịu dàng mà bạn muốn nhận được khi chính bạn rơi vào hoàn cảnh ấy. Đừng để sự vô tâm biến những năm tháng cuối đời của cha mẹ thành một chuỗi ngày dài của sự nhục nhã và cô độc. Sự thật là, trẻ con hay người già, tất cả đều cần được yêu thương ngay cả khi họ không còn sạch sẽ, không còn thông minh hay không còn hữu dụng. Đó mới chính là ý nghĩa thực sự của hai chữ “gia đình”.

S.T.

From: Phi Phuong Nguyen


 

CHẶNG THỨ 6: Bà Veronica trao khăn cho Đức Chúa Giêsu lau mặt- Cha Vương

Lại một Tháng nữa trôi qua, bạn đã làm gì cho Chúa, cho anh em và cho chính phần rỗi của linh hồn bạn trong tháng qua? Xin Chúa luôn đồng hành với bạn hôm nay và mãi mãi nhé.

Cha Vương

Thư 4: 25/02/2026. (N1-3-23)

CHẶNG THỨ 6: Bà Veronica trao khăn cho Đức Chúa Giêsu lau mặt

TIN MỪNG: “Ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy, và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy. “Và ai cho một trong những kẻ bé nhỏ này uống, dù chỉ một chén nước lã thôi, vì kẻ ấy là môn đệ của Thầy, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu.” (Mt 10:40,42)

SUY NIỆM: Bà Veronica có lẽ là một người rất can đảm và liều lĩnh, dám lấy khăn thấm máu mặt một tên tử tội trên đường đến pháp trường. Không biết bà có nhận ra đó là Chúa Giê-su hay không nhưng cử chỉ của bà đã vạch ra một lối sống, thay vì chỉ nghĩ đến bản thân mình thì bà lại luôn quan tâm đến người khác, lòng bà bị dày vò bởi sự khốn khổ của nhân loại, cho dù người đó là một người xa lạ, hay thậm chí là kẻ thù. Có bao giờ lòng bạn bị dày vò trước nỗi khổ của người khác chưa? Phản ứng của bạn ra sao? Ai là người cần đến sự giúp đỡ của bạn trong lúc này?

XÉT MÌNH: Đã bao lần bạn ngoảnh mặt làm ngơ hoặc thiếu bác ái trước những hoàn cảnh khốn khó của một ai đó, hoặc không chia sẻ gánh nặng hằng ngày với những người trong gia đình và những người chung quanh? Mời bạn bỏ ra đôi phút, trong thinh lặng hãy tự xét mình và xin ơn hoán cải trong lối nghĩ, trong cách cảm nhận, và trong hành động của mình.

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, qua gương của bà Veronica, xin mở mắt con để con  khám phá ra khuôn mặt của Chúa nơi những người đang sống trong cảnh bần cùng đói khổ mà biết quan tâm, chia sẻ với hết khả năng của con hôm nay. Amen. 

From: Do Dzung

***************************

Bảo Trân – Chúa Trong Đời Con – Tác Giả Lm. Thái Nguyên

Vì một ngày nào đó — có thể sớm, có thể còn xa — chiếc ghế bên cạnh tôi sẽ trống.- Truyen ngan HAY

Trầm Mặc Huơng Lai

 Tôi bắt gặp mẹ tôi, 82 tuổi, ngồi trong bóng tối, đang rửa những chiếc đĩa giấy mềm nhũn dưới vòi nước lạnh ngắt để dùng lại lần nữa.

Khi tôi bật đèn bếp lên, bà không chỉ giật mình. Bà co người sát vào bàn, ôm chặt chiếc đĩa giấy rách bươm, ướt sũng trước ngực như đang cầm một tấm khiên. Ánh mắt ấy không phải chỉ là ngạc nhiên.

Đó là nỗi sợ đến thắt lòng.

Bà sợ tôi phát hiện ra bà đang yếu đi. Sợ rằng đây sẽ là lý do cuối cùng để tôi ép bà rời khỏi căn nhà của mình.

Tôi vội bước đến, nắm lấy đôi tay lạnh buốt của bà, nhẹ nhàng gỡ mớ đĩa ướt khỏi tay bà.

— Mẹ làm gì vậy? Sao không bật đèn? Sao lại hạ sưởi xuống? Ngoài trời đang có tuyết đó! — tôi nói, giọng gắt vì mệt mỏi sau 40 phút kẹt xe và một tuần làm việc 50 tiếng.

Bà không nhìn tôi. Bà nhìn xuống nền nhà cũ bạc màu — thứ sàn mà ba tôi đã tự tay lát năm 1982, ngay trước khi nhà máy thép địa phương đóng cửa.

Bà xoa hai cánh tay run rẩy, khẽ nói về chuyện giá cả tăng cao. Lương hưu tháng này không đủ trả tiền sưởi và tiền chợ. Bà cố tiết kiệm từng đồng lẻ để khỏi phải nhờ tôi.

Tim tôi như rơi xuống.

Tám tháng nay, tôi gần như thành người xa lạ với chính mẹ mình. Tôi có lý do. Lý do rất hợp thời. Tôi tự an ủi mình rằng mình thuộc “thế hệ kẹp giữa” — kẹt giữa công việc, lịch học dày đặc của con cái và nhịp sống quay cuồng mỗi ngày.

Nhưng trong căn bếp lạnh buốt đó, sự thật đập thẳng vào tôi.

Tôi không muốn nhìn người phụ nữ mạnh mẽ nhất đời mình dần yếu đi. Nhắn một tin ngắn hay gọi video năm phút dễ hơn nhiều so với việc có mặt và đối diện với sự sa sút ấy.

Mỗi lần nói chuyện, tôi nói với mẹ như đang họp công việc. Tôi đưa cho bà những tờ rơi bóng loáng.

— Mẹ, mấy bậc thềm trước cửa nguy hiểm lắm, lỡ té gãy hông thì sao.

— Mẹ, con xem một viện dưỡng lão đẹp lắm. Có đầu bếp, có chăm sóc 24/24, người ta lo thuốc men cho mẹ. Bán nhà đi là đủ chi phí. Hợp lý mà.

Tôi nghĩ mình là đứa con tốt. Tôi tưởng mình đang bảo vệ mẹ.

Nhưng khi thấy bà run trong bóng tối, tôi hiểu ra điều đau đớn: tôi không tìm cách cho bà sống tốt hơn. Tôi đang tìm cách để bản thân yên tâm. Tôi muốn chuyển gánh nặng tuổi già của bà ra khỏi cuộc sống bận rộn của mình.

Tôi kéo ghế, giúp bà ngồi xuống bàn bếp. Nhà lạnh ngắt.

— Mẹ xin lỗi, Sarah — bà thì thầm. Giọng bà mong manh chưa từng thấy. — Mẹ không muốn làm phiền con. Mẹ biết cuộc sống con bây giờ bận rộn lắm.

Bà dừng lại, bàn tay nhăn nheo bấu vào mép bàn.

— Nhưng mẹ không muốn rời khỏi nhà.

Bà chỉ sang phòng khách. Thế giới của bà giờ thu nhỏ trong căn phòng ấy: chiếc ghế hoa cũ bên cửa sổ, chiếc tivi đang phát tin tức địa phương, và chồng hóa đơn y tế cùng giấy tờ bảo hiểm mà bà không còn hiểu nổi.

— Nếu mẹ nói mẹ không ổn, hay trí nhớ mẹ kém đi, con sẽ bắt mẹ đi. Mà nếu mẹ rời khỏi nhà này… mẹ chẳng còn gì. Mẹ mất hết ký ức. Mẹ thành một con số trong căn phòng nào đó, chờ ngày chết.

Câu nói ấy như một cú đấm vào ngực tôi.

Tôi đã đối xử với mẹ như một bài toán cần giải. Như một trách nhiệm cần quản lý.

Tôi quên mất bà là ai.

Bà từng làm hai ca ở nhà hàng suốt mười năm sau khi ba tôi mất, chỉ để tôi tốt nghiệp mà không mang nợ. Bà luôn tự lập, đầy tự trọng, chỉ mong giữ lại chút phẩm giá trong những năm cuối đời.

Tôi không cãi. Không nhắc đến tờ rơi. Không nói gì thêm.

Tôi đứng dậy, chỉnh nhiệt độ sưởi lên ấm áp, mở tủ và nấu cho hai mẹ con một bữa ăn nóng.

Chúng tôi ngồi rất lâu bên chiếc bàn cũ. Chỉ còn tiếng nĩa chạm đĩa và tiếng máy sưởi khẽ rì rì.

Một lúc sau, bà nhìn qua ô cửa sổ phủ sương, nơi tuyết đang rơi, rồi nói:

— Càng già, người ta càng bớt quan tâm đến việc có đồ đẹp hay lúc nào cũng an toàn. Người ta chỉ muốn biết mình vẫn còn ý nghĩa. Muốn được ở bên gia đình.

Tôi hiểu mình đã mù quáng thế nào.

Mẹ không chống lại tôi. Bà đang giữ lấy cuộc đời mình.

Bà không cần một căn phòng sạch bóng trong cơ sở sang trọng với những người xa lạ mặc đồng phục. Bà không cần lịch chơi bingo hay đầu bếp riêng.

Bà cần con gái mình.

Bà cần người ngồi cùng mở từng lá thư bảo hiểm mà không làm bà thấy mình kém cỏi. Cần người viết hướng dẫn điều khiển tivi thật to, thật rõ. Cần ai đó ngồi cạnh trong phòng khách, để căn nhà ấy không trở thành một ngôi mộ lặng lẽ.

Xã hội dạy ta rằng yêu cha mẹ già là sắp xếp mọi thứ cho họ bằng tiền bạc hay dịch vụ chuyên nghiệp.

Nhưng khi họ thật sự đi về cuối con đường, ta mới hiểu yêu thương là có mặt.

Là ngồi lại trong thực tế lộn xộn, khó chịu, đau lòng của tuổi già — và chọn không quay lưng.

Tối hôm đó, tôi về nhà và vứt hết tờ rơi viện dưỡng lão vào thùng rác.

Từ đó, mỗi Chủ nhật tôi đều băng qua thành phố. Không viện cớ. Không nói bận.

Có khi tôi mang đồ ăn cho cả tuần. Có khi tôi đưa bọn trẻ theo, chúng làm phòng khách lộn xộn, ăn hết bánh quy của bà và lấp đầy căn nhà bằng tiếng cười ồn ào.

Nhưng phần lớn thời gian, tôi chỉ pha một ấm cà phê, rồi hai mẹ con ngồi trên ghế cũ bên cửa sổ, nhìn khu phố trôi qua. Nhắc chuyện ba. Nhắc chuyện vu vơ.

Vì một ngày nào đó — có thể sớm, có thể còn xa — chiếc ghế bên cạnh tôi sẽ trống.

Và tôi đã hiểu rằng chẳng có viện dưỡng lão hiện đại nào, chẳng có số tiền tiết kiệm nào, chẳng có thành công nghề nghiệp nào có thể mua thêm cho tôi một buổi chiều bên người phụ nữ đã sinh ra mình.

Đừng xem cha mẹ già là gánh nặng hay bài toán cần xử lý.

Họ không cần tiền của bạn.

Không cần những bài giảng về an toàn.

Không cần giải pháp hào nhoáng.

Họ cần thời gian của bạn.

Hãy ở bên họ, trước khi thời gian của họ cạn đi. 

TG Văn Chương

 

#ChaMe – #TinhThanGiaDinh =  #ConCaiTruongThanh – #HieuVaThuong

#TuoiGia – #YeuThuongThatSu – #DungBoLo – #GiaTriThoiGian

#SongChamLai – #ConConMeConMay


 

Lễ phong Chân Phước cho Tôi Tớ Chúa là cha Phanxicô Trương Bửu Diệp

Gieo Mầm Ơn Gọi

Lễ phong Chân Phước cho Tôi Tớ Chúa là cha Phanxicô Trương Bửu Diệp sẽ được cử hành lúc 9 giờ sáng ngày 2.7.2026  ở Nhà thờ Tắc Sậy ở Bạc Liêu do Đức Hồng y Luis Antonio Tagle . Quyền Bộ trưởng Bộ truyền giáo của Vatican , Đại sứ của ĐTC Leo XIV chủ sự.

Mừng vì Giáo Hội Việt Nam có thêm một vị thánh.

Cha thánh TRƯƠNG BỬU DIỆP xin cầu cho chúng con.

BÀ DƯƠNG QUỲNH HOA, MỘT NGƯỜI BẠN CỦA CHA TÔI

Bùi Chí Vinh

Bà Dương Quỳnh Hoa, Bộ trưởng Y Tế Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam mất ngày 25-2-2006 tính đến nay vừa tròn 20 năm. Nhân ngày kỷ niệm này, tôi đăng bài viết về bà như một nén nhang thương tiếc người bạn thân thiết của cha tôi…

BÀ DƯƠNG QUỲNH HOA, MỘT NGƯỜI BẠN CỦA CHA TÔI

Như tôi đã từng viết trên FB này, cha tôi là ông Bùi Văn Trình sinh năm 1914 tại huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định sang Pháp từ thời còn trẻ để học nghề thợ giày (dành đóng riêng cho người tàn tật). Ở Pháp, ông gia nhập Đảng Cộng Sản Pháp và thân thiết với bà bác sĩ Dương Quỳnh Hoa cũng là Đảng viên Đảng Cộng Sản Pháp như ông.

Khi về nước, ông là Đảng viên Đảng Lao Động Việt Nam lớp đầu tiên. Ông mở cửa tiệm giày tàn tật Bùi Văn Trình trên mặt tiền đường Yên Đỗ (tức đường Lý Chính Thắng bây giờ). Ông là thành viên Ban Tuyên Truyền Thi Hành Hiệp Định Geneve do ông Mai Văn Bộ làm Trưởng ban, nên bị chế độ Ngô Đình Diệm bỏ tù và tịch biên gia sản. Kể từ đó gia đình chúng tôi rất khốn khó phải di chuyển nhiều nơi để tự tồn tại. Năm 1960 ông ra tù và Tết năm nào cũng dẫn tôi đến nhà bà bác sĩ Dương Quỳnh Hoa để tôi được bà lì xì, còn cha tôi và bà thì đàm đạo với nhau bằng tiếng Pháp tránh sự thị phi dòm ngó. Lúc đó tôi mới 6 tuổi.

Mới 6 tuổi nên làm sao tôi biết bà có bi danh là Thùy Dương, là thành viên sáng lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và sau này giữ chức Bộ Trưởng Y Tế Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam. Tôi chỉ biết năm 1979 Thủ Tướng Phạm Văn Đồng đồng ý với nguyện vọng xin ra khỏi Đảng của bà với điều kiện bà giữ im lặng. Năm 1971 cha tôi chết vì hậu quả những vết thương tra tấn trong nhà tù. Năm 2006 bà Dương Quỳnh Hoa cũng qua đời nhưng những câu nói nổi tiếng còn ở lại: “Tôi đã là người cộng sản cả đời tôi. Nhưng bây giờ khi chứng kiến những sự thật về chủ nghĩa cộng sản và sự thất bại của nó, quản trị kém, tham nhũng, đặc quyền, áp chế, lý tưởng của tôi đã không còn”…”Trong chiến tranh, chúng tôi sống trong lòng nhân dân. Ngày nay, khi quyền lực nằm trong tay Đảng, Đảng coi nhân dân như kẻ thù tiềm ẩn”.

BÙI CHÍ VINH

NHỚ BÀ DƯƠNG QUỲNH HOA

Bà là một người bạn của cha tôi

Sống thủy chung với nước với dân trước sau như một

Là dân Sài Gòn giàu sang nhưng ăn ngay nói thật

Đã phát ngôn là dám nói dám làm

Bà thừa sức leo lên tột đỉnh vinh quang

Nhưng một người có học khác một người vô học

Bà không giống những bà cùng sáng lập Mặt Trận với mình lặng im như thóc

Bà thích giống bà Triệu bà Trưng chém cá tràng kình

Ở một chế độ còn quá nhiều những thứ bất minh

Bà lẳng lặng lưu vong sang Pháp

Bà không ngu trung như Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc

Đánh thắng giặc xong là bị phản bội bởi triều đình

Cha tôi chết lúc nước nhà còn tang tóc điêu linh

Bà thì chết lúc quê hương thống nhất

Nhưng hai cái chết đều đem theo nước mắt

Của thằng bé ngày xưa mà bà đã lì xì

Bà chính là một thời tươi đẹp đã chết đi…

BCV

Hình 1: Bà Dương Quỳnh Hoa

Hình 2: Bà Dương Quỳnh Hoa có mặt trong đám cưới cha mẹ tôi ở nhà thờ Tân Định


 

CAO HƠN NỮA – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở ra cho!”.

William Tyndale – người dịch Thánh Kinh từ Do Thái và Hy Lạp sang Anh ngữ – bị giam ở Vilvoorde. Ở đó, ông chịu thiêu trên cọc như một kẻ dị giáo. Ngày 06/10/1536, ông cầu nguyện, “Lạy Chúa, nguyện ý Chúa thành sự! Xin mở mắt cho vua nước Anh!”. Chỉ một năm sau, lời cầu ấy được nhậm.

Kính thưa Anh Chị em,

Tyndale cầu nguyện giữa lửa thiêu không để được cứu, nhưng để ý Chúa thành sự. Lời Chúa hôm nay cũng không dạy chúng ta cầu xin cho thuận lợi, nhưng ‘cao hơn nữa’ – để được kéo khỏi ý riêng, khỏi cái tôi của mình.

Lời cầu ấy cho thấy tầm cao của linh hồn. Nếu chúng ta chỉ xin bình an, thoát nạn, thành công, những lời cầu ấy vẫn quanh quẩn dưới thấp. Không sai; nhưng chưa đủ! Chúa không khước từ những nhu cầu nhỏ bé của con cái; nhưng Ngài luôn muốn nâng khát vọng của chúng ta lên một tầng ‘cao hơn nữa’. “Cứ xin… cứ tìm… cứ gõ…!” – không phải là lời hứa nuông chiều, nhưng là lời mời lớn lên. “Chúa thường muốn nhìn xem tâm hồn bạn có bao nhiêu tình yêu; và tình yêu không được thử thách bởi sự dễ chịu hay hài lòng!” – Gioan Thánh Giá.

Esther hiểu điều ấy. Trước hiểm hoạ diệt vong, cô không xin tiêu diệt kẻ thù, không xin bảo toàn địa vị; chỉ xin được xác tín rằng, “Chúa là Vua chúng con, Ngài là Thiên Chúa duy nhất” – bài đọc một. Cô xin lòng can đảm để bước vào hiểm nguy, rồi phó thác kết quả cho Chúa. Đó là một lời cầu được nâng lên khỏi sợ hãi. Và Thiên Chúa đã đáp lời. “Lạy Chúa, ngày con kêu cứu, Chúa đã thương đáp lại!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Chúa Giêsu còn đi xa hơn. Ngài không chỉ dạy phải xin; nhưng còn mặc khải “của tốt lành” mà Chúa Cha ban. Của tốt lành không chỉ là điều chúng ta ưa thích, nhưng là điều làm chúng ta nên thánh. Khi chúng ta xin sức khỏe, Ngài có thể ban kiên nhẫn; khi chúng ta xin thành công, Ngài có thể ban khiêm nhường; khi chúng ta xin thoát khổ, Ngài có thể ban sức mạnh để đi qua khổ đau. Vì mục tiêu của Cha không phải làm chúng ta dễ chịu, nhưng làm chúng ta trưởng thành – ‘cao hơn nữa’. “Thiên Chúa không an ủi chúng ta để chúng ta được dễ chịu, nhưng để chúng ta trở nên người biết an ủi!” – John H. Jowett.

Anh Chị em,

Đỉnh cao của mọi lời cầu là lời cầu trong vườn Cây Dầu: “Xin đừng theo ý con, nhưng theo ý Cha!”. Ở đó, lời cầu không xoá thập giá; nhưng biến thập giá thành hiến dâng; không hạ tiêu chuẩn đau khổ xuống, nhưng nâng tình yêu lên cao. Chính trong sự vâng phục tự do ấy, nhân loại được kéo lên khỏi án phạt, khỏi tuyệt vọng, khỏi cái tôi khép kín. “Cứ xin thì sẽ được!”. Không chỉ được điều chúng ta mong; mà được nâng lòng mình lên. Được thanh luyện ước muốn, được giải thoát khỏi sự hẹp hòi của chính mình. Khi lời cầu không còn nhằm thay đổi Thiên Chúa, nhưng để Thiên Chúa thay đổi chúng ta, lúc ấy lời cầu đã chạm tới đỉnh. Và đó là phép lạ bền vững nhất.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con dừng lại ở điều dễ dãi; đừng để con chỉ tìm lợi ích riêng; nhưng khi con cầu, xin nâng lòng con lên ‘cao hơn nữa!’”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

********************************

Lời Chúa Thứ Năm Tuần I Mùa Chay

Hễ ai xin thì nhận được.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.  Mt 7,7-12

7 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở ra cho. 8 Vì hễ ai xin thì nhận được, ai tìm thì sẽ thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở ra cho. 9 Có người nào trong anh em, khi con mình xin cái bánh, mà lại cho nó hòn đá ? 10 Hoặc nó xin con cá, mà lại cho nó con rắn ? 11 Vậy nếu anh em vốn là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình những của tốt lành, phương chi Cha anh em, Đấng ngự trên trời, lại không ban những của tốt lành cho những kẻ kêu xin Người sao ?

12 “Vậy tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta, vì Luật Mô-sê và lời các ngôn sứ là thế đó.”


 

 Kỷ Nguyên Cắt Quần: Từ Sài Gòn 1975 Đến Viễn Cảnh “Bình Nhưỡng Hóa” Seoul

Nhật Ký Yêu Nước 

 Kỷ Nguyên Cắt Quần: Từ Sài Gòn 1975 Đến Viễn Cảnh “Bình Nhưỡng Hóa” Seoul

Khi những đôi dép lốp bước vào Sài Gòn năm 1975, họ mang theo một sứ mệnh thiêng liêng: Giải cứu người dân miền Nam khỏi sự “đồi trụy” của… cái quần ống loe và những bước nhảy Chachacha. Đối với những “anh bộ đội cụ Hồ” vốn chỉ quen với rừng thiêng nước độc và những bài hát hành khúc rập khuôn, việc thấy một thanh niên mặc quần ống rộng hay một cặp đôi dìu nhau theo điệu nhạc là một cú sốc văn hóa cực độ.

Cuộc cách mạng của những cây kéo

Trong mắt những người chiến thắng, văn hóa miền Nam là một “bãi rác” cần được dọn dẹp bằng kéo. Họ quy chụp rằng âm nhạc và khiêu vũ làm xói mòn đạo đức, trong khi thực chất họ chỉ đang che đậy sự lạ lẫm và nỗi sợ hãi trước những gì mình không hiểu.

Hình ảnh thanh niên bị mang ra đường bêu riếu, bị cắt quần ngay giữa phố phường không phải là một sự uốn nắn đạo đức, mà là một màn trình diễn của sự ức chế. Đó là sự lên ngôi của cái nghèo nàn áp đặt lên sự phong phú, cái đơn sắc áp đặt lên đa sắc. Họ biến một sở thích cá nhân thành một “tội ác chống lại nhân dân”.

May be an image of one or more people and text that says 'VATENNIWTAN ব MMAIWAETAWAN IM MC NHaY NaM Hình ảnh xua sau 1975, một thanh niên miền Nam bị CSVN bêu rếu trên đường vì tội biế "nhảy đầm" TRIỀU TIÊN Hh HÀN QUỐC H I F'

Liên tưởng kinh hoàng: Nếu Nam Hàn rơi vào tay Kim Jong-un

Hãy thử tưởng tượng, nếu một ngày “ánh sáng cách mạng” từ Bình Nhưỡng tràn xuống Seoul, kịch bản Việt Nam 1975 sẽ được tái hiện ở mức độ kinh dị hơn:

K-Pop biến thành K-Hành khúc: Thay vì Blackpink nhảy “How You Like That”, chúng ta sẽ có những đội thiếu nữ mặc quân phục đồng thanh hát ca ngợi lãnh tụ với gương mặt không cảm xúc. Mọi bước nhảy uốn lượn sẽ bị coi là “nọc độc tư bản”.

Cắt tóc và Cắt váy: Những chiếc váy ngắn tại khu Gangnam sẽ bị cắt vụn bởi các “đội tự quản văn hóa”. Mọi thanh niên sẽ phải để một kiểu tóc duy nhất được phê duyệt bởi trung ương Đảng.

Smartphone thành gạch: Những chiếc Samsung đời mới sẽ bị thu giữ vì chúng chứa đựng “văn hóa phản động” từ internet. Thay vào đó, mỗi người dân sẽ được cấp một chiếc radio chỉ thu được đài truyền thanh địa phương.

Sự bêu riếu hiện đại: Nếu ngày xưa người ta bêu riếu trên đường phố, thì ở Seoul “cộng sản hóa”, họ sẽ dùng màn hình led khổng lồ để công khai nhục mạ những người dám nhảy đầm hay trang điểm theo phong cách phương Tây.

Bi kịch của sự cào bằng

Tại sao họ lại sợ “nhảy đầm”? Vì khiêu vũ là sự tự do của cơ thể, là biểu hiện của cá nhân tính. Trong một chế độ độc tài toàn trị, cá nhân không được phép tồn tại, chỉ có “quần chúng” là một khối đặc nghẹt và vâng lời.

Khi nhìn lại hình ảnh những thanh niên bị làm nhục vì cái quần, cái áo, chúng ta thấy một sự thật trần trụi: Chế độ cộng sản sợ nhất là cái đẹp và sự tự do. Họ muốn mọi người phải xấu xí giống nhau, nghèo đói giống nhau và sợ hãi giống nhau. Một đất nước mà công an đi đầy đường để canh chừng cái ống quần của dân là một đất nước đang tự cắt đi đôi cánh của chính mình để mãi mãi quẩn quanh trong cái máng lợn của sự lạc hậu.

Hàn Quốc ngày nay rực rỡ là vì họ được “nhảy đầm” theo cách họ muốn. Việt Nam 1975 đã mất đi mấy thập kỷ chỉ để nhận ra rằng cái ống quần hay điệu nhảy chẳng làm chết ai, chỉ có sự độc tài và ngu dốt mới làm thối rữa một dân tộc. Nếu Seoul biến thành Bình Nhưỡng, thế giới sẽ mất đi một trung tâm sáng tạo để đổi lấy một cái nhà tù khổng lồ canh gác bởi những người… không biết nhảy.


 

VĂN HÓA CHỬI – TỪ BÀN PHÍM RA NGOÀI ĐỜI

Kim Dao Lam –  Fb Vi Tran 

VĂN HÓA CHỬI – TỪ BÀN PHÍM RA NGOÀI ĐỜI

Nhiều người tưởng “văn hoá chửi” của một bộ phận DLV, BĐ chỉ tồn tại trên mạng. Odin nói thật: nghĩ vậy là hơi ngây thơ.

May be an image of one or more people

Thứ ngôn ngữ đầy công kích, hạ nhục, ăn thua đủ đó không nằm trong điện thoại. Nó bước ra ngoài đời. Chỉ cần một va chạm giao thông, một mâu thuẫn nhỏ, là âm lượng tăng lên, lời lẽ nặng xuống. Ai từng xem những clip ẩu đả lan truyền trên mạng đều thấy: cách chửi không khác gì comment section.

Điều đáng nói là nó đang len vào giao tiếp thường ngày. Bạn bè nói chuyện với nhau cũng phải “gắt” mới vui. Người yêu, vợ chồng cãi nhau là phải lớn tiếng mới “đã”. Thậm chí cha mẹ với con cái cũng dùng ngôn từ thô ráp như một cách thể hiện quyền lực. Rồi quay lại, đăng lên mạng, coi như giải trí.

Đáng ngại hơn, có gia đình còn dạy con: ra đời phải hơn thua, phải đáp trả cho tới cùng. Tự ái thành danh dự. Lớn tiếng thành bản lĩnh.

Nếu một xã hội xem sự nhục mạ là bình thường, xem ồn ào là sức mạnh, thì dần dần nó không còn là hiện tượng nữa nó thành thói quen. Mà thói quen lâu ngày rất dễ biến thành “văn hoá”.

Odin không cực đoan. Nhưng nếu chúng ta không tự hỏi: vì sao phải nói chuyện với nhau bằng âm lượng và sự cay độc như thế  thì vài năm nữa, có khi con cháu mình sẽ nghĩ đó là cách giao tiếp mặc định.

Hình ảnh vụ “giành ghế” đang lan truyền chỉ là một ví dụ. Điều đáng bàn không phải cái ghế. Mà là cách người ta chọn đối xử với nhau.

@EchoOfTruthVN