TÌNH YÊU BẤT BẠI – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

 Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường!”.

“Trong chiến tranh, không gì thay được chiến thắng!” – Douglas MacArthur.

Kính thưa Anh Chị em,

Có những chiến thắng khiến người khác phải chết; có một chiến thắng khởi đi từ cái chết của người chiến thắng. Tin Mừng hôm nay hé mở nghịch lý ấy: Người Con chịu sát hại, nhưng nơi cái chết ấy, một ‘tình yêu bất bại’ tỏ lộ.

Trước khi trở thành nơi đổ máu, vườn nho đã là một bài tình ca. Isaia hát về người bạn yêu quý: nhặt đá, trồng giống nho tốt, xây tháp, khoét bồn đạp. Từng việc đều mang một niềm mong đợi: vườn sẽ sinh trái – bài đọc một. Chúa Giêsu kể lại những chăm chút ấy; các tá điền bước vào một khu vườn đã được tình yêu sửa soạn. Nhưng đến mùa hái, đòi hỏi chính đáng của chủ lại thành sự xúc phạm trong mắt họ. Vườn vẫn mang tên chủ, nhưng trong lòng họ, chủ không còn quyền bước vào. “Mọi điều chúng ta có, mọi sự chúng ta là đều được cho mượn!” – Robert Barron.

Sau những tôi tớ chịu đánh đập, sát hại, người chủ vẫn còn một người để gửi đi: chính con mình. “Chúng sẽ nể con ta!”. Lời ấy mang cả niềm hy vọng lẫn sự mong manh của tình yêu. Nhưng sự có mặt của người con làm lộ rõ điều họ muốn: cướp vườn! Họ nhận ra người thừa kế, mà không nhận ra lòng chủ. Ngay trong vườn ấy, họ bàn chuyện giết người. Tình yêu đã đến tận cổng; lòng người vẫn cứ khép. Vậy mà chủ vẫn chờ.

Người Con nằm xuống ngoài vườn; các tá điền tưởng từ nay vườn thuộc về họ. Nhưng “Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường!”. Điều họ loại bỏ, Thiên Chúa đặt làm nền cho một ngôi nhà mở cửa cho cả nhân loại. Giữa đổ vỡ, Thánh Vịnh cất lời: xin Chúa trở lại thăm nom vườn nho! Và Ngài đã trở lại nơi Đấng Phục Sinh: những bàn tay thủng vì đinh nay mở ra đón con người. Cái chết không giữ được Ngài, lòng hận thù không khoá được tình yêu Ngài. Từ tình yêu ấy, một dân mới được vun trồng để sinh hoa trái.

Có khi chúng ta chăm vườn lâu ngày, đến lúc trao lại thì không nỡ. Công việc sang tay người khác; mùa hái không như mong đợi. Phaolô mời chúng ta đem nỗi lo đến với Chúa trong lời cầu nguyện và tạ ơn. Bình an của Ngài giữ lòng chúng ta giữa những bẽ bàng – bài đọc hai. Vườn chưa đổi khác, nhưng lòng đã nhẹ hơn. Chúa vẫn ở đó, quý hơn mọi hoa trái chúng ta từng hái. “Những ai yêu Chúa không nghi ngờ lòng nhân hậu của Ngài khi Ngài gửi đến những giờ phút khó khăn!” – Fulton Sheen.

Anh Chị em,

Đức Kitô không giữ lại cho mình ngay cả mạng sống; Ngài trao tất cả trong tay Cha. Ngài tự hiến để cả những người muốn Ngài phải chết cũng có thể bước vào khu vườn sự sống. Nhờ Ngài, chúng ta có thể buông một công việc mà không buông lòng yêu mến, rời một khu vườn mà vẫn mong vườn được mùa. Đặt đời mình trên Ngài, chúng ta có thể vui cả khi hoa trái chín dưới bàn tay người khác. ‘Tình yêu bất bại’ ấy sống trong chúng ta khi nỗi đau đến với mình, nhưng không đi tiếp qua mình đến người khác.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để thành công khiến con chiếm giữ; thất bại khiến con ngã lòng; và bạc bẽo khiến con thôi yêu!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT TUẦN XXVII THƯỜNG NIÊN, NĂM A: 

https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/10/04.html

Ông chủ sẽ cho các tá điền khác canh tác vườn nho.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 21,33-43

33 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các thượng tế và kỳ mục trong dân rằng : “Các ông hãy nghe dụ ngôn sau đây : Có chủ nhà kia trồng được một vườn nho ; chung quanh vườn, ông rào giậu ; trong vườn, ông khoét bồn đạp nho, và xây một tháp canh. Ông cho tá điền canh tác, rồi trẩy đi xa. 34 Gần đến mùa hái nho, ông sai đầy tớ đến gặp các tá điền để thu hoa lợi. 35 Bọn tá điền bắt các đầy tớ ông : chúng đánh người này, giết người kia, ném đá người nọ. 36 Ông lại sai một số đầy tớ khác đông hơn trước ; nhưng bọn tá điền cũng xử với họ y như vậy. 37 Sau cùng, ông sai con trai mình đến gặp chúng, vì nghĩ rằng : ‘Chúng sẽ nể con ta.’ 38 Nhưng bọn tá điền vừa thấy người con, thì bảo nhau : ‘Đứa thừa tự đây rồi ! Nào ta giết quách nó đi, và đoạt lấy gia tài nó !’ 39 Thế là chúng bắt lấy cậu, tống ra khỏi vườn nho và giết đi. 40 Vậy khi ông chủ vườn nho đến, ông sẽ làm gì bọn tá điền kia ?” 41 Họ đáp : “Ác giả ác báo, ông sẽ tru diệt bọn chúng và cho các tá điền khác canh tác vườn nho, để cứ đúng mùa, họ nộp hoa lợi cho ông.” 42 Đức Giê-su bảo họ : “Kinh Thánh có câu : ‘Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường. Đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta.’ Các ông chưa bao giờ đọc câu này sao ?

43 “Bởi đó, tôi nói cho các ông hay : Nước Thiên Chúa, Người sẽ lấy đi không cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi.”


 

TUỔI GIÀ LÀ THỜI SUNG SƯỚNG NHẤT – BS Đỗ Hồng Ngọc

Nguyễn Xuân Minh

BS Đỗ Hồng Ngọc

…Khi đã lớn tuổi, thì con người được nhiều tự do hơn, được thong thả hơn để sống. Không còn phải như em bé bị cha mẹ ép buộc, bây giờ thì muốn làm chi thì làm, muốn thức khuya dậy sớm gì, cũng chẳng còn ai la mắng dọa nạt, rầy la. Nếu vợ vì thương, sợ mất sức khỏe, thì cũng cằn nhằn chút chút thôi, mình không nghe thì cũng chẳng bị roi đòn gì. Không còn phải khổ công học tập, lo lắng cho tương lai mai sau, chẳng phải học thêm chi cho mệt trí, biết quá nhiều, biết quá đủ rồi. Nếu đã nghỉ hưu, thì học thêm làm chi. Nếu còn đi làm, thì cũng đã rành nghề, quen tay quen việc,  làm việc dễ dàng.

Khi già tình yêu cũng không còn là mối bận tâm, không quan trọng quá, chưa nghe báo đăng các cụ già trên dưới sáu mươi tự vẫn chết vì  thất tình. Tội chi mà chết vì tình trong tuổi già, vì cũng sắp thấy Diêm Vương rồi, việc chi mà đi sớm hơn. Khôn quá rồi, chết vì tình yêu là nông nỗi. Đời sống tình cảm của tuổi già êm đềm hơn, ít đau đớn ít sôi động, và bình lặng. Tuổi già rồi, các ông không còn tính chuyện mèo mỡ lăng nhăng, khỏi phải lo lắng sợ vợ khám phá ra chuyện dấu diếm mà nhà tan, cửa nát. Đỡ tốn tiền quà cáp, đỡ tốn thì giờ lui tới các nơi bí mật. Hồi hộp, đau tim. Các bà khỏi phải lo chuyện đi đánh ghen, không còn cần phải chăm chút nhan sắc làm chi nữa, vì như chiếc xe cũ rệu, có sơn phết lại cũng xộc xệch, cũng méo mó. An tâm và chấp nhận, thì khỏi băn khoăn mà vui.

Cũng có một số ít những cặp vợ chồng già đem nhau ra tòa chia tay, vì khi già cả hai đều trở thành khó tính. Hậu quả của ly dị trong tuổi già không trầm trọng như khi còn trẻ, vì con cái đã lớn, đã tự lập, không còn ảnh hưởng nhiều đến tương lai chúng và tương lai của chính mình. Vì còn sống bao lâu nữa mà lo lắng chi cho nhiều. Xa được ông chồng khó tính, độc tài là mừng. Dứt được bà vợ đanh đá, bạc ác là phải sung sướng. Khỏe trí. Tuổi già, cố giữ cho còn có nhau, khi đã đến nước ly dị, thì hai bên đều đúng, đều có lý. Đây là hành động tự cứu mình, và cứu người ra khỏi cảnh khổ lúc cuối đời, khi mà mộ bia đã thấp thoáng trước mắt, không còn bao nhiêu ngày nữa. Có điều ít ai nghĩ đến, là càng già, thì càng dễ tìm một người bạn đời để nối lại, để an ủi nhau trong tuổi xế chiều. Vì chung quanh họ, có thiếu chi người đứt gánh nửa đường. Chồng chết, vợ chết, ly dị. Vấn đề là không sao tìm được một người có chung nhiều kỷ niệm, nhiều tình nghĩa, nhiều chia xẻ như người phối ngẫu cũ. Tình già cũng nhẹ nhàng, thong thả, ít khổ đau, ít sôi nổi hơn tình khi còn trẻ trung. Sức lực cũng có còn bao nhiêu mà ghen tương nhau chi, mà lo lắng chi cho thêm mệt, những người lớn tuổi kinh nghiệm và biết rõ như vậy.

Nhiều người  trẻ, sau khi gia đình tan vỡ thì xuống tinh thần, uống ruợu đánh bài tìm quên, đôi khi không phải vì họ quá thương yêu người cũ mà tự hủy hoại đời mình, mà chính vì họ tự thương thân, tự ái bị xúc phạm, và rồi sa lầy vào ruợu chè cờ bạc. Người lớn tuổi thì suy nghĩ khác. Họ nghĩ rằng ta cũng đã gần đất xa trời rồi, có sống thêm bao lâu nữa mà sầu khổ cho mệt.  Mất củ khoai lang, thì kiếm củ khoai mì bù vào. Tuổi già biết giá trị tương đối của tình yêu nên không tìm tuyệt hão, không tìm lý tưởng, và nhờ vậy không bị thực tế phũ phàng làm vỡ mộng, đau khổ.  Khi già rồi, có ai hỏi tuổi, thì cũng không cần dấu diếm, không cần sụt đi năm bảy tuổi làm chi. Sướng lắm. Vì có sụt tuổi, cũng không dấu được những nếp nhăn, mà chẳng có ích lợi gì. Nếu tự cọng thêm cho mình chừng chục tuổi, thì không chừng được thiên hạ nức nở khen là còn trẻ, trẻ quá, và họ mơ ước được như mình.

Các ông có vợ đẹp, khi lớn tuổi cũng đỡ lo bọn dê xồm dòm ngó, lăm le dụ dỗ vợ mình. Con người, ai mà không nhẹ dạ, ai mà không ưa lời nói ngon ngọt êm tai, ai mà không có khi thiếu sáng suốt. Vợ  chồng cũng có khi  bất hòa, buồn giận nhau, và những khi nầy, lòng người dễ chao đảo lắm. Bởi vậy, các ông đỡ nghe các bà hăm he ly dị, hăm he bỏ nhau. Tuổi nầy các bà cũng  thừa khôn ngoan để biết những tên ngon ngọt, hứa hẹn nhiều, thường chỉ là những tên phá đám, chứ không thể tin tưởng được. Đàn bà có chồng hào hoa, đẹp trai,  khi lớn tuổi cũng bớt lo, vì các ông cũng bớt máu nóng, bớt chộn rộn và khôn ngoan hơn thời trẻ trung. Biết kềm chế hơn, và biết rõ giá trị hạnh phúc gia đình cần gìn giữ hơn là chơi ngông. Tuổi già, vợ chồng sống chung với nhau lâu rồi, chịu dựng nhau giỏi hơn, quen với cái thói hư tật xấu của nhau. Không còn thấy khó chịu nhiều nữa. Dễ dung thứ cho nhau, chấp nhận nhau, vì họ biết rõ bên cạnh cái chưa tốt của người bạn đời, còn có rất nhiều cái tốt khác. Vợ chồng, khi đó biết bao nhiêu là tình nghĩa, bao nhiêu kỷ niệm, bao nhiêu thân thiết, cho nên hạnh phúc hơn, vui hơn. Tình yêu trong tuổi già thâm trầm, có thì giờ bên nhau nhiều hơn, chia sẻ nhiều hơn. Cũng có nhiều ông bà già ưa cãi vã nhau, cũng dễ hiểu, khi đó tai của cả hai ông bà đều lãng, người nầy nói một đường, người kia hiểu nẻo khác, cho nên buồn nhau giận nhau, không gây gổ sao được?

…Tuổi già, thì tất cả mộng ước điên cuồng của thời trẻ trung đã tan vỡ, đã lắng xuống, không còn khích động trong lòng, không còn thao thức nhức nhối. Họ biết sức mình đến đâu, và không tội chi mà ôm cao vọng cho khổ thân. Họ còn biết thêm rằng, nếu những cao vọng điên cuồng ngày xưa mà có thành đi nữa, thì e cũng chỉ là hư không, chẳng đáng gì. Khi tuổi già, thì biết khôn ngoan mà an phận, biết vui với bình thường. Biết đâu là hạnh phúc chân chính.  Nhiều người già rồi mới tiếc suốt một thời son trẻ không biết sống, phí phạm thời gian theo đuổi những huyễn mộng, làm đau khổ mình, làm điêu đứng người khác.  Tuổi già, vui khi thấy mình hết nông nỗi, nhìn đời bằng cái tâm tĩnh lặng hơn. Ai khen không hớn hở mừng, ai chê không vội vã hờn giận. Vì biết rõ mình không có gì xuất chúng để thiên hạ khen nịnh. Và biết mình cũng có nhiều cố tật không chừa được, đáng chê. Chê thì chê, khen thì khen. Khen cũng thế, mà chê cũng thế, thì ta vẫn là ta, là một kẻ già, đáng được khoan thứ hơn là trách móc.

Lúc nầy, không  còn muốn làm giàu, không bị con ma tham lam thúc bách để kiếm và tích trữ cho nhiều tiền nhiều bạc. Con cái cũng đã lớn, không phải chi tiêu nhiều thứ , thì tiền bạc, chỉ cần đủ sống thôi, cũng là thỏa nguyện. Họ cũng không cần se sua, tranh hơn thua với ai, tinh thần họ vui vẻ, dễ chịu và khỏe khoắn hơn. Mối lo âu về tài chánh cũng nhẹ gánh.  Bởi khi đó, nhiều người đã tích trữ được một số tiền nhỏ. Nhà cửa cũng đã có.  Nợ nhà, nợ xe cũng ít đi, hoặc không còn nữa. Con cái cũng đã lớn, không còn là gánh nặng cho mình. Chúng nó  đã có nghề nghiệp, đã làm ăn được. Chắc chắn tương lai chúng khá hơn mình nhiều. Người già không chi tiêu nhiều, ăn cũng ít đi rồi, chơi cũng không còn phung phí dại dột như tuổi trẻ.

Khi già, thời gian mới là thực sự của mình, vì không còn phải chạy ngược chạy xuôi kiếm sống nữa. Không còn bị bó buộc bởi trách nhiệm bổn phận. Có thể ngồi mơ mộng hàng giờ trên ghế đá công viên, thưởng thức thiên nhiên tuyệt thú, có thể tìm được an bình tuyệt đối, không như thời còn trẻ, đi nghỉ mát, mà thỉnh thoảng cũng bị công việc nhà ám ảnh, nhắc nhở.

Tuổi già về hưu, là một mong ước của gần như của tất cả mọi người. Nhiều người gắng làm sao kiếm cho nhiều tiền để được về hưu sớm hơn. Nhiều thanh niên, ngày về hưu còn xa lắc, xa lơ mà vẫn mơ ước. Người Mỹ, trẻ già chi cũng nghĩ đến hưu trí. Hưu trí trong tuổi già là một phần thưởng của tạo hóa, của xã hội. Cho sung sướng, nghỉ ngơi. Già là nghỉ ngơi, là khỏe khoắn. Mỗi buổi sáng nằm dài trên giường, sáng nào cũng là chủ nhật trong tuần, muốn dậy lúc mấy giờ cũng được, muốn nằm cho đến trưa đến chiều cũng không sao. Nằm thoải mái, không ai chờ, ai đợi, không có việc gì gấp gáp phải làm, ngoại trừ cái bọng tiểu nó thúc dục, không cho mình nhịn lâu thêm được nữa. Thế thì sao mà không sung sướng. Nếu chưa về hưu, còn đi làm việc, thì cái tâm của người lớn tuổi cũng nhẹ nhàng, ít bị những sức căng, bị áp lực đè nén. Vì tài chánh cũng quan trọng, nhưng không quá quan trọng đến nỗi khi thất nghiệp thì mất xe, mất nhà, mất vợ, mất con như những người còn trẻ. Khi này, nhiều thứ trong cuộc sống đã ổn định, nhu cầu tiền bạc cũng không quá nhiều. Vã lại, già rồi, kinh nghiệm công việc nhiều, cho nên giải quyết mọi sự trong dễ dàng, thong thả. Bạn đồng sự cũng có chút nể nang, phần vì tuổi tác, phần vì kinh nghiệm. Có trường hợp, còn có việc thì tốt, mất việc thì mừng hơn, vì có lý do chính đáng để về hưu cho khỏe. Vì nếu việc có hoài, việc lại dễ dàng, thì tiếc, không muốn về hưu. Tuổi lớn, không cần thăng tiến, không cần đua chen với ai, cho nên tinh thần thoải mái, được bạn bè chung quanh thương mến hơn. Những người về hưu rồi, trở lại làm việc, thì đi làm, như  đi chơi, chứ không phải “đi cày” như nhiều người khác quan niệm. Vui thì làm tiếp, chán thì  về nhà nghỉ ngơi.

Người lớn tuổi, thì sức khỏe xuống, bệnh hoạn ồ ạt đến tấn công, không ai thoát khỏi bệnh hoạn. Nhưng họ lại cảm được cái sung sướng của một ngày khi bệnh thuyên giảm. Một ngày khi cảm thấy gân cốt ít nhức mỏi hơn, dễ chịu trong từng khớp xương hơn. Ngưới trẻ đâu có thấy được những nỗi sung sướng này?  Vì họ chưa kinh nghiệm, chưa trải qua, nên chưa biết. Họ có sức khỏe, nhưng họ không biết đó là sung sướng, cho nên, xem như chẳng có giá trị gì. Anh chị xem, nếu anh chị có một tảng ngọc to bằng cái bàn nằm trong vườn, mà anh chị không biết đó là chất ngọc, thì không biết quý, không biết mình sung sướng có tảng ngọc, mà chỉ quý và sướng vì viên ngọc nhỏ xíu nằm trên chiếc nhẫn mà thôi. Có người viết sách rằng, tuổi già, buổi sáng ngủ dậy, nghe xương cốt đau nhức mà mừng, vì biết mình chưa chết. Tôi thêm rằng, biết mình còn sống là mừng, biết mình đã chết nhẹ nhàng, càng mừng hơn.

Nầy anh chị có nhớ câu chuyện Thượng Đế khi đuổi tổ phụ loài người là ông Adam và bà Eva xuống  trần gian, có chỉ mặt mà phán : “Từ nay chúng mi phải đổ mồ hôi trán mới có hạt cơm vào mồm”. Đó là câu nguyền rủa độc địa nhất, là lời phán ý nghĩa nhất, là con người phải sống trong nhọc nhằn. Sách Phật cũng có viết đời là đau khổ, và tu để tránh khổ. Đó, đời nầy đáng sống lắm, nhưng cũng nhiều khổ đau lắm. Bởi vậy nên tôi nói, được sống là mừng, mà được chết, cũng mừng. Tôi đi đám ma ông bạn già, thấy gia đình khóc lóc, rên rỉ thảm thương, con cháu mếu máo kể lể. Tôi cười trong bụng, nghĩ rằng bọn nầy không biết luật của tạo hóa. Có sinh thì có diệt. Chúng nó muốn thân nhân của chúng sống đời đời sao? Biết đâu chỉ là khởi điểm của một cuôc rong chơi. Nầy, tôi đọc cho anh chị nghe một đoạn thơ của anh bạn tôi:

Tôi đi trước, hẹn gặp nhau ở đó

Ai thay da mãi mãi sống muôn đời ?

Kẻ trước, người sau xếp hàng xuống mộ,

Biết đâu là khởi điểm cuộc rong chơi …

Khi tuổi già, thì xem cái chết như về. Ai không phải chết mà sợ. Sống qua khỏi tuổi năm mươi, là đã lời lắm. Tuổi trung bình của con người trên thế giới này chưa được con số năm mươi. Thì mình nên tự xem như được sống thêm đời thứ hai. Đời trước đã hoàn tất, có cả khổ đau lẫn hạnh phúc. Đời sau nầy, thì chắc chắn là sung sướng hơn hạnh phúc hơn đời trước. Vì đã từng trải, đã gom được kinh nghiệm của đời trước, để thấy đâu là hạnh phúc chân thật, đâu là phù du huyễn hão. Chết là về. Nhưng chỉ sợ không về được đến nơi đến chốn, mà như chiếc xe hư máy dọc đường. Làm khổ chủ xe, bắt nằm liệt mê man, không sống mà cũng không chết, đó mới là cái đáng sợ. Tôi biết vậy, nên đã làm di chúc, khi nào tôi bị mê ba ngày, thì xin rút ống cho tôi đi. Đi về bình an. Này, anh chị nghĩ sao về ông bác sĩ mà người ta đặt cho tên là bác sĩ tử thần? Già rồi tôi không nhớ rõ tên, hình như ông ta tên là “Ki-Vô-kiên” phải không? Cái tên gần gần như vậy. Theo tôi, thì ông nầy là một vị Bồ Tát, cứu độ cho chúng sinh mau qua khỏi khổ đau, để bị ra tòa, bị tù tội. Chỉ có cái tâm Bồ Tát thật lớn mới làm được việc đó. Tôi cố tìm một cái ảnh ông ta để thờ sống, mà không có. Tôi nghĩ, trong tương lai, luật pháp sẽ không ngăn cấm việc cho người đau đớn ra đi sớm hơn, vì đàng nào cũng chết, tại sao phải kéo cái đau đớn ra dài hơn mới được chết. Trừng phạt người ta hay sao?  Trong tuổi già, người ta biết ơn sự nhiệm mầu của tạo hóa. Có bộ máy nào, không phải là gang thép, bạch kim, mà chạy một mạch sáu bảy chục năm không ngưng nghỉ, mà vẫn còn hoạt động như quả tim, buồng phổi, trái thận, cái bao tử, não bộ. Có hệ thống ống dẫn nào hoạt động sáu bảy chục năm mà chưa thay thế như các mạch máu của hệ thống tuần hoàn. Thì dù có rò rỉ van tim, chất mỡ đọng nghẹt trong vài ba mạch máu, thì cũng là sự thường tình, và mừng là còn sống, còn sinh hoạt được. Dù có phải liền liền đi vào cầu tiểu mỗi ngày nhiều lần, thì họ vẫn sung sướng là cái vòi xài mấy chục năm mà vẫn chỉ mới rò rỉ sơ sơ. Mấy cái vòi nước trong nhà, bằng kim khí cứng, không rỉ sét, thế mà năm bảy năm đã phải thay rồi…

BS Đỗ Hồng Ngọc 


 

TUỔI GIÀ VỚI … NHỚ NHỚ QUÊN QUÊN

TUỔI GIÀ VỚI … NHỚ NHỚ QUÊN QUÊN

Nhớ nhớ quên quên không phải là bệnh.

Nhớ nhớ quên quên là cách mà trời đất nhắc người già: “Thôi, bớt nhớ đi, cho nhẹ đầu.”

Hồi trẻ, nhớ nhiều là giỏi. Nhớ công thức, nhớ bài học, nhớ kiến thức …

Lớn lên đi làm nhớ tên khách hàng, nhớ số liệu, nhớ ngày sinh của sếp…

Về già, quên nhiều lại là giỏi. Quên được giận hờn, quên được hơn thua, thì mới… ngủ ngon.

NGƯỜI GIÀ QUÊN GÌ VÀ NHỚ GÌ?

Lạ lắm.

Cái cần quên thì lại nhớ dai.

Con dâu 10 năm trước lỡ miệng nói một câu hỗn: “Mẹ nấu ăn dở”. 10 năm rồi vẫn nhớ như in, mỗi lần ăn cơm lại nhớ, lại tủi.

Bạn vay 500k năm 2009  không trả. Nhớ mãi. Gặp bạn là nhớ 500k.

Sếp cũ 30 năm trước mắng mình một câu: “Cậu hấp tấp quá”. Nhớ mãi đến giờ.

Những cái làm mình đau, mình lại nhớ dai như keo. Như vết xước trên cái đĩa hát cũ, kim đi qua là lại rè rè.

Cái cần nhớ thì lại quên.

Sáng bác sĩ dặn uống viên thuốc  trắng trước khi ăn. Trưa quên.

Con dặn: “Ba nhớ khóa cửa”. Quên.

Đang cầm ấm chè định rót ra uống, quay đi tưới lan, quên luôn ấm chè.

Tên đứa cháu nội học lớp 3, đôi khi phải nghĩ một lúc mới ra.

Quên chìa khóa, quên kính, quên mình vừa định nói gì. Quên như giàn lan lâu ngày không tưới, lá cứ vàng dần.

Tại sao lại thế? Vì não người già như cái kho đầy. Kho đầy rồi, muốn nhớ cái mới, phải quên bớt cái cũ đi. Nhưng cái cũ đau quá, nó nặng, nó chìm sâu dưới đáy kho, không quên được.

CÓ 3 CÁI QUÊN ĐÁNG SỢ VÀ 3 CÁI QUÊN ĐÁNG MỪNG

3 cái quên đáng sợ, phải đi khám ngay:

– Quên mình vừa ăn. Ăn rồi lại bảo chưa ăn, đòi ăn nữa.

– Quên đường về nhà. Đi chợ ngay đầu ngõ mà quên lối về.

– Quên mặt con cháu. Nhìn cháu nội mà lại hỏi  “Cháu con nhà ai đây?”.

Ba cái quên này là quên bệnh, phải đi bác sĩ, đừng giấu. Giấu là khổ con cháu. Đi khám sớm, uống thuốc sớm, tập luyện sớm thì giữ được lâu hơn.

3 cái quên đáng mừng, cứ để nó quên:

– Quên giận: Hôm qua con nó to tiếng với mình, hôm nay quên đi, lại pha trà mời nó. Quên được giận là phúc. Nhớ giận làm gì, mệt mình.

– Quên so bì: Quên mất lương bạn mình bao nhiêu, nhà bạn mình to bao nhiêu. Quên đi thì mình mới vui với mình,

– Quên mình già: Sáng dậy quên mất mình 75 tuổi, cứ nghĩ mình 57, ra tưới lan, quét sân, làm thơ, đi bộ. Quên mình già đi một lúc, người nó khỏe ra. Nhớ mình già hoài, người nó héo.

LÀM SAO ĐỂ SỐNG CHUNG VỚI NHỚ NHỚ QUÊN QUÊN?

Đừng mắng mình: “Già rồi lú lẫn”. Mắng thế là bạc đãi mình. Não nó mệt rồi, nó quên là thường.

Xin mách 3 cách đang dùng để nhớ :

  1. Viết ra, đừng nhớ trong đầu.

Não già như cái rổ thưa, đựng nước là chảy hết.

Thuốc uống mấy giờ, viết ra giấy dán vào cửa tủ lạnh.

Mai phải làm gì, viết ra 3 việc thôi: 6h tưới lan, 9h uống trà, 3h làm thơ.

Viết 3 việc là đủ. Viết 10 việc là lại quên.

Tên bạn mới gặp, viết ngay vào cuốn sổ tay: “Bác Tư, nhà đầu ngõ, thích thơ”.

Viết ra là tử tế với cái đầu của mình. Đừng bắt nó phải nhớ hết.

  1. Nhớ bằng tay, bằng chân, không nhớ bằng đầu.

Đầu quên, nhưng tay chân nó nhớ.

Tay quen tưới lan 6h, cứ 6h tay tự ra giàn lan, không cần đầu nhớ.

Chân quen đi bộ ra công viên 5h chiều, cứ 5h chân tự đi.

Tay quen pha ấm trà, cứ đến giờ tay tự pha.

Tạo thành nếp. Nếp là thuốc nhớ. Có nếp rồi, quên đầu cũng không sao, tay chân nó dẫn mình đi.

  1. Chọn cái để nhớ.

Kho đầy rồi, không nhớ hết được. Phải chọn.

Chỉ cần chọn nhớ 3 thứ thôi:

– Nhớ tên vợ, tên con, tên cháu. Quên gì thì quên, không được quên tên người thương mình.

– Nhớ giàn lan, ấm trà, bài thơ. Đó là 3 viên thuốc không đắng.

– Nhớ mình đã tử tế hôm nay chưa?

Tối trước khi ngủ, nhớ lại: Hôm nay mình có làm ai buồn không? Nếu không, là ngày nhớ đáng nhớ.

Còn lại, cho quên hết. Ai vay 500k quên đi. Ai chê thơ mình quên đi. Ai nói mình lẩm cẩm quên đi. Quên đi cho nhẹ đầu.

NHỚ NHỚ QUÊN QUÊN – CUỐI CÙNG LÀ CÒN LẠI GÌ?

Cuối cùng, nhớ nhớ quên quên rồi sẽ đi về đâu?

Sẽ quên hết tên, quên hết số, quên hết tiền, quên hết giận hờn.

Nhưng có một thứ không quên: Cảm giác.

Bác có thể quên tên cháu, nhưng cháu ôm bác, bác vẫn thấy ấm. Ấm là còn.

Bác có thể quên bài thơ mình viết, nhưng đọc lại, bác vẫn thấy vui. Vui là còn.

Bác có thể quên đường về nhà, nhưng thấy bóng nhỏ đường chiều, bác vẫn thấy thương. Thương là còn.

Trẻ nhớ bằng chữ. Già nhớ bằng lòng. Lòng còn ấm, còn thương, còn muốn mỗi mai bắt đầu, thì quên một chút cũng không sao.

Chốt lại:

Trẻ sợ quên.

Già sợ nhớ dai những điều buồn.

Vậy nên U70, cái gì vui thì cố nhớ, ghi vào sổ. Cái gì buồn thì cho phép mình quên, như cho phép lá vàng rụng khỏi giàn lan.

Quên để nhớ cái đáng nhớ hơn.

Đó mới là khôn

PhamQuocHung

Nhưng Hugh O’Flaherty vẫn tiếp tục bước qua

Những Câu Chuyện Thú Vị  – Duc Minh Danh

Viên sĩ quan Đức Quốc xã kẻ một vạch trắng và nói:

“Bước qua đó, chúng tôi sẽ bắn.”

Nhưng vị linh mục người Ireland vẫn không ngừng bước qua.

Herbert Kappler cho kẻ vạch trắng ngay lối vào Quảng trường Thánh Phêrô ở Rome. Đó là ranh giới chính xác giữa Thành Vatican và vùng lãnh thổ do Đức Quốc xã kiểm soát. Ông ta bố trí lính gác phía bên Ý với mệnh lệnh duy nhất:

nếu vị linh mục người Ireland bước qua, hãy bắn chết ông.

Nhưng Hugh O’Flaherty vẫn tiếp tục bước qua.

Ông lớn lên ở Killarney, hạt Kerry, là con trai của một người quản lý sân golf; bản thân ông cũng là một tay golf xuất sắc, từng chơi quyền anh, là người có thể lực mạnh mẽ và sức hút tự nhiên. Ông đến Rome năm 1922 để học làm linh mục, rồi ở lại, trở thành một nhà ngoại giao của Vatican từng phục vụ tại Ai Cập, Haiti, Santo Domingo và Tiệp Khắc.

Khi chiến tranh nổ ra, ông đã có 20 năm xem Rome là quê hương, thuộc từng con phố, từng ngõ hẻm, và có mối quan hệ với mọi tầng lớp xã hội.

Ông là kiểu linh mục có thể chơi golf với con rể của Mussolini, rồi sau đó lại đi nghe xưng tội trong một căn nhà đá do chính tay mình sửa sang.

Khi Ý tham chiến cùng phe Đức, vị thế của O’Flaherty rất đặc biệt:

Ireland trung lập. Vatican là quốc gia có chủ quyền.

Về mặt lý thuyết , ông gần như không thể bị động tới.

Trong những năm đầu chiến tranh, ông thường xuyên đến các trại tù binh trên khắp nước Ý, thăm hỏi lính Đồng minh và gửi tin tức về gia đình họ thông qua Đài phát thanh Vatican.

Rồi đến tháng 9 năm 1943, Ý đổi phe. Đức tràn vào chiếm đóng. Trong hỗn loạn, hàng ngàn tù binh Đồng minh được lính Ý thả ra rồi bỏ đi bỗng trở thành những người bị truy lùng trên vùng đất do Đức chiếm đóng.

Họ nhớ đến vị linh mục Ireland cao lớn, vui vẻ từng đến trại tù của họ.

Và họ tìm đến ông.

Ông không xin phép.

Không chờ phê duyệt.

Ông đơn giản là bắt đầu tìm chỗ trú ẩn cho họ ngủ qua đêm.

Ông có mối quan hệ ở khắp nơi:

  • giới quý tộc Rome có phòng trống
  • các linh mục có tầng hầm
  • các nữ tu có tu viện
  • cả những du kích cộng sản không cùng đức tin nhưng cùng căm ghét phát xít Đức

Một trong những nơi trú ẩn đầu tiên thậm chí nằm ngay cạnh trụ sở SS địa phương. Và dường như ông còn thấy điều đó khá hài hước.

Mạng lưới của ông ngày càng lớn. Một đại tá Anh tên Sam Derry giúp quản lý hậu cần. Vợ của đại sứ Ireland chuyển tiền và tin tức. Điệp viên Pháp, quý tộc Thụy Sĩ, các tù binh vượt ngục rồi quay lại cứu người khác tất cả đều tham gia.

Ông giấu binh lính trong các căn hộ khắp Rome, liên tục luân chuyển họ. Ông nuôi họ bằng mạng lưới quyên góp. Ông giấu người Do Thái. Ông giấu những người Ý chống phát xít. Ông giấu bất kỳ ai mà quân Đức muốn giết.

Khi Gestapo xác định ông là người đứng sau những vụ mất tích ấy, họ không thể động đến ông trong Vatican. Vì vậy Kappler cho kẻ vạch trắng tử thần và cho lính mai phục.

Ban đầu O’Flaherty gặp người liên lạc trên bậc thềm Quảng trường Thánh Phêrô vẫn là đất Vatican nên an toàn.

Rồi ông vẫn bước ra ngoài.

Ông cải trang thành:

  • người khuân than, mặt bôi đen
  • công nhân quét đường
  • người đưa thư
  • thậm chí có lần là một nữ tu

Thân hình cao lớn khiến ông khó che giấu, nhưng sự thông thuộc các con hẻm Rome và lòng gan dạ phi thường đã bù lại tất cả.

Ông nhiều lần bị dồn vào góc và vẫn trốn thoát. Người của Kappler giăng rất nhiều bẫy công phu.

Đều thất bại.

Có một kế hoạch là bắt cóc ông ngay trong lúc làm lễ, kéo qua vạch trắng rồi bắn chết, sau đó nói rằng ông cố chạy trốn. May mắn thay, một nhà ngoại giao Đức có cảm tình đã báo cho ông kịp lúc.

Kappler treo thưởng 30.000 lire cho cái đầu của ông.

Nhưng O’Flaherty vẫn tiếp tục.

Đến tháng 6 năm 1944, khi quân Mỹ giải phóng Rome, mạng lưới của ông đã cứu sống 6.500 người lính Đồng minh, người Do Thái, dân thường và du kích.

Ông được trao:

  • Huân chương Tự do của Quốc hội Mỹ
  • tước Chỉ huy Đế quốc Anh
  • huân chương từ Ý và từ Giáo hoàng

Ông nhận tất cả rồi gửi về cho em gái ở Ireland, nói rằng mình không làm điều đó vì huy chương.

Phương châm của ông rất đơn giản:

“Chúa không thuộc về quốc gia nào.”

Rồi đến chương cuối cùng.

Cũng là phần kỳ lạ nhất.

Herbert Kappler ,kẻ từng ra lệnh thảm sát 335 thường dân Ý tại hang Ardeatine năm 1944, tội ác chiến tranh tồi tệ nhất trên đất Ý bị kết án tù chung thân.

Ông ta viết thư cho O’Flaherty, người mà mình từng tìm mọi cách giết chết, và hỏi liệu ông có đến thăm không.

O’Flaherty đã đến.

Và ông tiếp tục đến, tháng này qua tháng khác, trong nhiều năm. Là người khách duy nhất của Kappler. Họ nói về tôn giáo, văn học, và có lẽ về mọi điều mà hai con người từng muốn hủy diệt nhau sẽ nói khi tất cả đã qua.

Kappler xin được gia nhập Giáo hội Công giáo.

Năm 1959, chính Đức ông Hugh O’Flaherty đã làm phép rửa tội cho người từng treo giá mạng mình.

Năm sau, ông bị đột quỵ và trở về Ireland nghỉ hưu. Ông qua đời tại Cahersiveen, County Kerry, năm 1963. Cái chết của ông lên trang nhất New York Times. Có tới 8 triệu người xem tập chương trình This Is Your Life của ông trên BBC.

Tại Killarney, đài tưởng niệm của ông khắc dòng chữ mà ông đã sống cả đời để minh chứng:

“Chúa không thuộc về quốc gia nào.”

Đó chính là Hugh O’Flaherty.

Không phải người đứng an toàn sau vạch trắng.

Mà là người liên tục bước qua nó để cứu những người xa lạ, đánh cược mọi thứ, và cuối cùng tha thứ cho điều tưởng như không thể tha thứ.

Ông không chỉ cứu những thân xác.

Ông còn cứu cả những linh hồn.

Kể cả linh hồn của chính kẻ đã cố giết mình nhất.

Theo Remember The Past


 

MẤT HẾT – PHÚC THẬT – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Anh em hãy mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời!”.

“Bất hạnh là người biết mọi điều mà không biết Chúa; hạnh phúc là người biết Chúa, dù không biết những điều ấy!” – Augustinô.

Kính thưa Anh Chị em,

Hạnh phúc nằm ở chỗ chúng ta ít ngờ nhất: biết Chúa! Nhưng mải vui với thành công, chúng ta có thể quên Ngài. Lời Chúa hôm nay gợi mở: có khi ‘mất hết’ mới ‘phúc thật’.

Các môn đệ trở về, vui vì ma quỷ khuất phục họ. Chúa Giêsu đưa niềm vui ấy về tận gốc: “Tên anh em đã được ghi trên trời”. Một đàng, các ông kể điều mình làm được; một đàng, Ngài nói đến điều Chúa Cha làm cho họ. Tên ghi trên trời không phải là thành tích, nhưng là dấu chỉ người được đón nhận. Chúa không chỉ biết việc chúng ta làm; Ngài biết những gì làm nên chúng ta. Khi chẳng còn thành công nào để kể, chúng ta vẫn có phúc: biết Chúa và biết mình được Ngài nhớ tên.

“Ngay giờ ấy, được Thánh Thần tác động, Đức Giêsu hớn hở vui mừng”, Ngài cất lời tạ ơn Cha. Điều dành cho các môn đệ – những người bé mọn – còn lớn hơn cả quyền năng khiến ma quỷ khuất phục: biết Cha nhờ Người Con! Chúng ta có thể biết nhiều điều về Chúa, làm nhiều việc cho Ngài mà vẫn đứng ngoài sự thân mật ấy. Người bé mọn để mình được dẫn vào, học thưa “Cha” với Người Con. Phúc thật sâu đến thế: được yêu trong tình yêu của Cha – Con. “Chúng ta được chia sẻ sự sống bên trong của Thiên Chúa!” – Robert Barron.

Gióp đã qua một quãng dài để cảm nhận sự thiết thân ấy. Sau bao tranh luận, ông thưa: “Trước kia, con chỉ được biết về Ngài nhờ người ta nói lại, nhưng giờ đây, chính mắt con chứng kiến” – bài đọc một. Không nhận được lời giải cho từng mất mát, ông gặp Đấng mình từng chất vấn. Của cải sẽ được phục hồi, nhưng ông đã gặp Chúa trước khi nhận lại chúng. Phúc của Gióp vì thế không chỉ là những gì Chúa cho lại sau khi ông ‘mất hết’; ‘phúc thật’ của ông là được biết Chúa, sống với Ngài như “Cha con” khi Ngài “toả ánh tôn nhan rạng ngời trên tôi tớ” – Thánh Vịnh đáp ca.

Với chúng ta, có khi làm việc cho Chúa, nhưng cần thành công hơn cần Ngài. Đến khi phải trao lại một công việc, rời khỏi một công trình, chúng ta ngỡ mình ‘mất hết’ – lòng chông chênh. Điều đau nhất là thấy mọi sự vẫn tiếp tục, dù vụng về, khi thiếu mình. Lúc ấy, chúng ta có dám đến với Chúa, chỉ thưa một tiếng “Cha?”. Và đó mới là ‘phúc thật’. “Sự buông bỏ, khi thực hành đúng, chỉ là phương thế để gắn bó với Thiên Chúa!” – Fulton Sheen.

Anh Chị em,

Đức Kitô đã sống mối tương quan “Cha – con” đến tận thập giá. Khi đôi tay từng làm bao phép lạ nay chịu đóng đinh, Ngài vẫn thưa: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha!”. Không phải đau khổ tự nó làm nên phúc; chính tình yêu của Cha vẫn nâng đỡ Ngài giữa đau khổ. Đấng Phục Sinh đưa chúng ta vào tình yêu ấy. Nhờ Ngài, khi những gì từng làm nên vị thế không còn, chúng ta vẫn sống như người con được yêu – ‘mất hết – phúc thật’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Cha, khi thành công, đừng để con quên Ngài; khi mất mát, đừng để con chao đảo; và khi chẳng còn gì, cho con biết con vẫn còn Cha!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Lời Chúa Thứ Bảy Tuần XXVI Thường Niên, Năm Chẵn: 

https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/10/03.html

Hãy mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.  Lc 10,17-24

17 Khi ấy, Nhóm Bảy Mươi Hai trở về, hớn hở nói với Đức Giê-su : “Thưa Thầy, nghe đến danh Thầy, cả ma quỷ cũng phải khuất phục chúng con.” 18 Đức Giê-su bảo các ông : “Thầy đã thấy Xa-tan như một tia chớp từ trời sa xuống. 19 Đây, Thầy đã ban cho anh em quyền năng để đạp lên rắn rết, bọ cạp và mọi thế lực Kẻ Thù, mà chẳng có gì làm hại được anh em. 20 Tuy nhiên, anh em chớ mừng vì quỷ thần phải khuất phục anh em, nhưng hãy mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời.” 21 Ngay giờ ấy, được Thánh Thần tác động, Đức Giê-su hớn hở vui mừng và nói : “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha.

22 “Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi. Và không ai biết người Con là ai, trừ Chúa Cha, cũng như không ai biết Chúa Cha là ai, trừ người Con, và kẻ mà người Con muốn mặc khải cho.”

23 Rồi Đức Giê-su quay lại với các môn đệ và bảo riêng : “Phúc thay mắt nào được thấy điều anh em thấy ! 24 Quả vậy, Thầy bảo cho anh em biết : nhiều ngôn sứ và nhiều vua chúa đã muốn thấy điều anh em đang thấy, mà không được thấy, muốn nghe điều anh em đang nghe, mà không được nghe.”


 

TẠI SAO CÓ NGƯỜI CÀNG GIÀ CÀNG HIỀN, CÓ NGƯỜI CÀNG GIÀ CÀNG KHÓ TÍNH?

 

Tôi 71 tuổi, gặp nhiều bạn già lắm rồi.

Có bác 75 tuổi, ai gặp cũng quý. Bác nói nhỏ nhẹ, hay cười, con cháu quây quần, hàng xóm nhờ gì cũng giúp. Ở gần bác thấy ấm.

Cũng có bác 75 tuổi, ai gặp cũng sợ. Bác hay xét nét, hay kể công, hay giận, con cháu đến thăm một chút rồi về vội. Ở gần bác thấy mệt.

Cùng một tuổi 75, cùng một thời chiến tranh đi qua, tại sao lại khác nhau đến vậy?

Tôi nghiệm ra, không phải do tuổi. Mà do 4 thứ người ta ôm trong lòng suốt 20 năm qua.

  1. NGƯỜI CÀNG GIÀ CÀNG HIỀN LÀ NGƯỜI ĐÃ HỌC ĐƯỢC CHỮ BUÔNG. NGƯỜI CÀNG GIÀ CÀNG KHÓ TÍNH LÀ NGƯỜI CÒN ÔM CHỮ GIỮ.

Nhà tâm lý học Carl Jung nói: “Tôi không phải là những gì đã xảy ra với tôi. Tôi là những gì tôi chọn trở thành.”

Người khó tính là người 60 tuổi vẫn còn giữ trong lòng chuyện 30 năm trước: Anh kia nợ tôi 2 chỉ vàng chưa trả. Chị dâu nói xấu tôi năm 1985. Con dâu cãi tôi một câu năm 2010. Họ giữ hết. Mỗi ngày họ nhai lại một lần. Lâu ngày, mặt họ hằn lên sự giận dữ.

Người hiền là người đã buông được. Không phải vì họ quên, mà vì họ hiểu: Giữ giận là uống thuốc độc làm mình mau chết.Buông không phải là thua, buông là để tay mình rảnh mà ôm cháu.

Hiền hay khó tính, là do mình chọn ôm hay chọn buông.

  1. NGƯỜI CÀNG GIÀ CÀNG HIỀN LÀ NGƯỜI CÒN BIẾT TÒ MÒ. NGƯỜI CÀNG GIÀ CÀNG KHÓ TÍNH LÀ NGƯỜI ĐÃ ĐÓNG CỬA LẠI.

Tôi để ý, bác nào 70 tuổi mà vẫn ham học cái mới: học bấm điện thoại, học trồng một loại rau mới, học nghe một bài nhạc của cháu, hỏi cháu “cái này là gì vậy?” – thì bác đó rất hiền và trẻ.

Vì não của bác đó còn mở. Bác đó biết mình còn nhiều thứ chưa biết, nên bác khiêm tốn.

Bác nào 70 tuổi mà nói “Tao sống 70 năm rồi, cái gì tao chẳng biết. Chúng mày biết gì mà nói” – thì bác đó sẽ rất khó tính. Vì bác đã đóng sập cửa lại rồi. Không ai nói được bác nữa. Bác cô đơn trong chính cái biết của mình.

Tâm lý học gọi là “Tư duy phát triển” và “Tư duy đóng kín”. Người hiền luôn nghĩ mình còn phải học. Người khó tính luôn nghĩ mình phải dạy người khác.

  1. NGƯỜI CÀNG GIÀ CÀNG HIỀN LÀ NGƯỜI CÒN CÓ VIỆC ĐỂ LÀM. NGƯỜI KHÓ TÍNH LÀ NGƯỜI THẤY MÌNH HẾT GIÁ TRỊ.

Đây là điều đau nhất.

Một bác trai 62 tuổi về hưu. Trước đây bác là trưởng phòng, ai cũng chào. Nay về nhà, không ai chào nữa. Bác thấy mình vô dụng. Bác bèn đi quản con, quản cháu, xét nét từng bữa cơm, từng cái chổi quét nhà. Bác khó tính không phải vì bác xấu, mà vì bác sợ mình không còn giá trị.

Ngược lại, bác nào về hưu mà tìm được một việc mới: nuôi 5 con gà, trồng giàn mướp, sáng đi bộ với mấy ông bạn, chiều viết vài dòng, tối gọi điện cho con… Bác đó bận rộn với niềm vui của mình, nên bác không có thời gian để khó tính với ai cả.

Muốn hiền, phải có một việc nhỏ để làm mỗi ngày, và thấy việc đó có ích.

  1. NGƯỜI CÀNG GIÀ CÀNG HIỀN LÀ NGƯỜI ĐÃ CHỊU THIỆT NHIỀU RỒI, NÊN HIỂU RA RẰNG HƠN THUA LÀ VÔ NGHĨA.

Lúc 40 tuổi, ta hơn thua nhau từng lời nói.

Lúc 50 tuổi, ta hơn thua nhau tiền nhiều tiền ít.

Lúc 60 tuổi, ta hơn thua nhau con mình giỏi hơn con người ta không.

Đến 70 tuổi, đi qua một đám tang người bạn, đi qua một lần nằm viện, ta mới hiểu: Hơn thua là vô nghĩa hết.

Người hiền là người đã hiểu ra điều đó sớm hơn. Nên họ nhường. Họ nói lời dịu dàng. Họ không chấp.

Người khó tính là người đến 70 vẫn còn muốn thắng. Muốn con phải nghe mình, muốn cháu phải theo ý mình, muốn hàng xóm phải nể mình. Càng muốn thắng, càng cô đơn.

Cho nên, tôi nghiệm ra một câu để tự răn mình mỗi sáng:

Càng già, không phải là để khó tính hơn. Càng già, là để hiền hơn.

Hiền không phải là nhu nhược. Hiền là trí tuệ. Vì chỉ người trí tuệ mới hiểu: Cuộc đời này ngắn lắm, giận nhau làm gì, khó nhau làm gì, để thời gian mà thương nhau.

Bạn 60 tuổi, 70 tuổi ơi, hôm nay bạn chọn hiền hay chọn khó tính?

#TuoiGia #HienLanh #BaiHocCuocSong— ở Shakopee.


 

MỘT VÒNG ĐỜI – MỘT LẦN TỈNH THỨC

My Lan Pham 

MỘT VÒNG ĐỜI – MỘT LẦN TỈNH THỨC

Lương y Ngô Đức Vượng

Tôi đã nhìn bức ảnh này rất lâu…

Một hạt giống rơi xuống đất.

Nảy mầm. Lớn lên. Trưởng thành.

Con người cũng vậy.

Ta sinh ra, tập đi, lớn lên…

Rồi bắt đầu chạy.

Chạy theo việc học.

Chạy theo công việc.

Chạy theo tiền bạc.

Chạy theo danh vọng.

Chạy theo những điều mà ta nghĩ rằng: có được rồi mình sẽ hạnh phúc.

Nhưng càng chạy, thời gian càng trôi.

Một ngày ngoảnh lại, cha mẹ đã già.

Con cái đã lớn.

Mái tóc mình cũng bắt đầu bạc.

Và rồi ta chợt hiểu:

Cuộc đời không dài như ta từng nghĩ.

Ngày còn nhỏ, một năm tưởng như vô tận.

Đến tuổi trưởng thành, mười năm đôi khi chỉ như một cái chớp mắt.

Sinh ra.

Lớn lên.

Mưu sinh.

Lập gia đình.

Nuôi con.

Già đi…

Rồi một ngày, thân này cũng trở về với đất.

Cả một đời tranh hơn thua, cuối cùng mang theo được gì?

Tiền bạc – để lại.

Nhà cửa – để lại.

Danh vọng – để lại.

Những điều từng khiến ta giận dữ, hơn thua, mất ăn mất ngủ… rồi cũng để lại.

Chỉ có những gì ta đã sống, đã yêu thương, đã cho đi và đã gieo là để lại dấu ấn trong cuộc đời này.

Vậy nên…

Khi cha mẹ còn bên cạnh, hãy dành thời gian cho cha mẹ.

Khi vợ chồng còn ngồi chung một mâm cơm, hãy biết trân trọng nhau.

Khi con còn muốn nắm tay mình, hãy đặt điện thoại xuống và nắm lấy bàn tay ấy.

Khi cơ thể còn khỏe mạnh, hãy biết chăm sóc nó.

Khi còn có thể nói lời yêu thương, xin đừng chờ đến ngày chỉ còn đứng trước một di ảnh mới nói hai chữ: “Giá như…”

Đời người ngắn lắm.

Đừng dành cả cuộc đời để chạy đi tìm hạnh phúc, rồi đến cuối con đường mới nhận ra:

Hạnh phúc từng ở ngay bên cạnh mình.

Một bữa cơm đủ người.

Một mái nhà bình an.

Cha mẹ còn khỏe.

Con cái còn cười.

Thân còn khỏe mạnh.

Tâm còn biết yêu thương.

Ấy đã là phước.

Cuộc đời là một vòng tròn.

Ta đến với hai bàn tay trắng, rồi cũng trở về với hai bàn tay trắng.

Vì vậy, khi còn được sống…

Hãy sống cho tử tế.

Hãy thương khi còn có thể thương.

Hãy biết ơn khi còn có thể biết ơn.

Và hãy tỉnh thức, trước khi thời gian đánh thức chúng ta bằng hai chữ: QUÁ MUỘN.


 

SAU TUỔI 60 CÓ MỘT KIỂU “GIÀU CÓ”  MÀ TIỀN NHIỀU CHƯA CHẮC MUA ĐƯỢC

Ds Lê Tiện

Sau tuổi 60:

Có người tài khoản rất nhiều tiền…

nhưng bước đi phải có người dìu.

Có người nhà rất rộng…

nhưng đêm nằm mãi không ngủ được.

Có người con cháu thành đạt…

nhưng trong lòng lúc nào cũng nặng trĩu.

Và cũng có những cô bác cuộc sống rất giản dị…

Nhưng sáng tự mình thức dậy.

Tự đi bộ.

Tự ăn uống.

Tự chăm sóc bản thân.

Tối ngủ một giấc tương đối yên.

Gặp con cháu còn cười vui.

Theo DS. Lê Tiện, đó mới là một kiểu “giàu có” rất đáng quý của tuổi già.

  1. GIÀU SỨC KHỎE: MUỐN ĐI ĐÂU VẪN TỰ ĐI ĐƯỢC

Sau tuổi 60, đôi chân khỏe đôi khi quý hơn một chiếc xe đẹp.

Vì xe có thể mua.

Nhưng khả năng tự đứng lên khỏi ghế, tự bước lên cầu thang, tự đi chợ, tự tắm rửa…

Nếu đã mất đi, muốn lấy lại không hề dễ.

Cô bác đừng chỉ hỏi:

“Cholesterol của tôi bao nhiêu?”

Hãy hỏi thêm:

“Cơ chân của tôi còn khỏe không?”

“Tôi có đứng lên ngồi xuống dễ dàng không?”

“Tôi có đi bộ 20–30 phút mà không quá mệt không?”

Tuổi già giữ được khả năng tự lập là một tài sản rất lớn.

  1. GIÀU MỘT GIẤC NGỦ YÊN

Có những người cả đời kiếm tiền.

Đến khi có tiền rồi lại chỉ mong một điều rất đơn giản:

Đặt lưng xuống là ngủ được.

Không trằn trọc tới nửa đêm.

Không 2–3 giờ sáng thức giấc rồi nhìn trần nhà.

Không sáng dậy với cái đầu nặng trĩu.

Một giấc ngủ ngon không chỉ giúp cô bác dễ chịu hơn.

Nó còn liên quan đến trí nhớ, tâm trạng, huyết áp, chuyển hóa và sức khỏe tim mạch.

Sau tuổi 60, ngủ được tương đối yên đã là một loại phúc.

  1. GIÀU KHẢ NĂNG TỰ CHĂM SÓC MÌNH

Có thể tự ăn.

Tự tắm.

Tự mặc quần áo.

Tự đi vệ sinh.

Tự nhớ lịch thuốc.

Tự quyết định những việc quan trọng của đời mình.

Những việc khi trẻ ta thấy quá bình thường…

Đến một ngày mới hiểu:

Đó chính là tự do.

Vì vậy, đừng đợi đến lúc yếu mới nghĩ đến chuyện giữ cơ, giữ xương, giữ thăng bằng và giữ trí nhớ.

Hãy bắt đầu khi mình vẫn còn khỏe.

  1. GIÀU NHỮNG MỐI QUAN HỆ ẤM ÁP

Sau tuổi 60, cô bác không cần quá nhiều người bên cạnh.

Chỉ cần vài người thật lòng.

Một người có thể ngồi ăn cùng mình.

Một người để gọi điện khi buồn.

Một người sẵn sàng hỏi:

“Hôm nay mình có khỏe không?”

Tiền có thể thuê người chăm sóc.

Nhưng tiền không dễ mua được sự quan tâm thật lòng.

Vì thế, khi còn có thể…

Hãy đối xử tử tế với bạn đời.

Gần gũi với con cháu.

Giữ vài người bạn cũ.

Và đừng vì một chuyện nhỏ mà đánh mất một mối quan hệ đã đi cùng mình hàng chục năm.

  1. GIÀU MỘT CÁI TÂM NHẸ

Đây có lẽ là kiểu giàu khó nhất.

Có nhà đẹp mà lòng bất an thì vẫn mệt.

Có tiền nhiều mà ngày nào cũng so đo, giận dữ, tiếc nuối thì vẫn khổ.

Càng lớn tuổi, DS. Lê Tiện càng thấy:

Có những chuyện thắng cũng chẳng để làm gì.

Một lời nói cũ.

Một người từng làm mình phật ý.

Một chuyện xảy ra từ mười năm trước.

Nếu giữ mãi trong lòng…

Người mệt nhất vẫn là mình.

Tuổi già đẹp nhất không phải là không có chuyện buồn.

Mà là mình đã học được cách:

Chuyện đáng nhớ thì giữ.

Chuyện không đáng thì buông.

SAU TUỔI 60, “GIÀU” KHÔNG CHỈ NẰM TRONG TÀI KHOẢN

Mà còn là:

Chân còn khỏe để đi.

Tay còn khỏe để làm.

Đầu óc còn minh mẫn để tự quyết.

Đêm còn ngủ được.

Nhà còn tiếng người thân.

Và lòng mình còn đủ nhẹ để mỉm cười.

Nếu cô bác đang có phần lớn những điều này…

Xin đừng coi đó là chuyện bình thường.

Đó là một gia tài.

Và quan trọng hơn:

Gia tài này phải được chăm sóc mỗi ngày.

Ăn uống điều độ một chút.

Tập cơ mỗi ngày một chút.

Đi bộ vừa sức một chút.

Ngủ sớm hơn một chút.

Bớt giận một chút.

Thương mình nhiều hơn một chút.

Có thể cô bác không trở thành người giàu nhất.

Nhưng hoàn toàn có thể trở thành một người giàu sức khỏe, giàu bình an và giàu những năm tháng đáng sống.

Nếu thấy bài viết này đáng để nhắc mình, cô bác hãy lưu lại.

Và thử tự hỏi một câu:

“Ở tuổi của mình hôm nay, tôi đang giàu nhất ở điều gì?”


 

TRĂM NGHÌN NHÁNH KHỔ!

Phan Thế Nghĩa

Sau 1975, tôi học được một điều, mà đến nay vẫn thấy chí lý. Đó là, người chiến thắng tuyệt đối đúng. Lịch sử thuộc về người chiến thắng.

Chân lý cũng thuộc về người chiến thắng luôn. Đánh thắng cả 3 tên đế quốc đầu sỏ, sao lại không đúng?

Cái gì không có nội dung, mới cần tới hình thức là thế. Người chiến thắng tự hào là đúng rồi, nhưng tự hào cả những cái sai. Sai mà cứ tưởng mình đúng. Chuyện “tủ lạnh chạy đầy đường” chỉ là chuyện khôi hài, chuyện nhỏ. Cái “sai mà tưởng đúng” mới làm đất nước ra nông nỗi thế này, di lụy chẳng biết bao giờ mới hết.

 Các quán nhậu vỉa hè dọc kênh Nhiêu Lộc dạo này nhiều người hát rong, cũng ampli, loa, micro không dây, nhạc đệm,… Họ chỉ hát toàn nhạc xưa, nhạc sến, với điệu rumba, bolero nghe tưởng như đồng hồ đếm ngược.

 Lần trước về Sàigòn, tôi đã ngồi quán vỉa hè, nghe những bài ca vỉa hè như thế… Lặng cả người, “…Buồn vào hồn không tên, thức giấc nửa đêm nhớ chuyện xưa vào đời. Đường phố vắng đêm nao quen một người, mà yêu thương trót trao nhau trọn lời…”.

Tôi chợt nhớ những ngày sau tháng tư 1975, đám bạn bỗng nhiên làm đám cưới chớp nhoáng, lấy vợ lấy chồng để “đối phó” với thời cuộc, rồi vội vã tìm đường vượt biên. Có đứa vượt qua biên giới, nhưng cũng có đứa về bên kia thế giới. Những người ở lại tưởng họ đã đến bến bờ thiên đường.

 Bước lên tàu là ngàn khơi sóng vỗ, không phải là chuyến xe Sàigòn – Đà Lạt. Có khi Hà bá mời xuống chơi, có khi tủi nhục trên đường vượt biển, phần còn lại là may mắn. Mà có may mắn lọt vào xứ người cũng chưa hết.

  Cô bạn tôi cao chưa quá thước rưỡi, với tay đưa khay bánh vào ngăn, trượt chân, u đầu sứt trán. Quên cả đau, vội vội vàng vàng lượm bánh xếp lại vào khay. Bà xếp Tây mắng, “Xứ này không ăn dơ như thế”.

 Cũng có người đi làm nail, tiền tươi thóc thật, dồn hết cho con ăn học. Hy sinh đời bố, củng cố đời con, hiểu sát nghĩa đen là đây, là mồ hôi trộn nước mắt.

Tiền gửi về nhà, người thân trong nước tưởng đâu bên đó kiếm tiền dễ như ăn cơm sườn, xin thêm thứ này thứ nọ. Có biết đâu đó là tiền chắt chiu, có khi là tiền thí mạng, không mua bảo hiểm y tế.

  Nhưng cũng có người kiên nhẫn vừa làm vừa học, thành danh nơi xứ người. Nhưng cho dù thế nào nơi xứ người, vẫn còn ít nhiều cơ hội, có chịu nắm hay không mà thôi. Trong nước thì coi như bế tắc.

 Hồi đó, tôi dạy kèm thêm luyện thi đại học, dạy nhóm 5- 7 học sinh. Có em học xuất sắc, bài thi làm không chê vào đâu được. Vậy mà rớt. Em là con “ngụy”, thứ “ngụy” còn trong trại cải tạo, làm sao vào đại học nổi, em rớt ngay từ… bãi gửi xe.

 Em đến báo tin, thầy trò ngồi uống cà phê vỉa hè, buồn ứa nước mắt. Đất nước này không dung những tiềm năng như em…

 Số phận đời người chứ đâu phải trò chơi chính trị. Sao lại có thể xây dựng đất nước bởi những con người bằng thiệt học giả? Những năm sau 1975, đói khổ và ê chề thấy rõ. Giáo sư, bác sĩ, ông này bà nọ xuống đường ra chợ trời hết, người đạp xích lô, người bơm mực bút bi, bán bún riêu, buôn hàng lạc xon,… Lanh hơn thì buôn hột xoàn đổi đô la,…

Năm 1978, tôi gặp một phụ nữ ăn mặc lam lũ, nhưng đẹp, qúy phái, không quá 30, trên chuyến tàu chợ. Chị kéo lê 2 bao than ra gần cửa tàu, ngước mắt nhìn tôi, nói như năn nỉ: “Lát nữa gần đến ga Bình Triệu, anh làm ơn đạp dùm tôi 2 bao than này xuống”. Chị buôn lậu than, đến ga sẽ bị tịch thu. Đôi mắt chị buồn và nhẫn nhục quá, làm tôi nhớ đến đôi mắt của bà mẹ trong một tác phẩm của C. V. Gheorghiu. Cảnh sát bắt bà mẹ vào bót để tra hỏi nơi ẩn nấp của con bà. Gheorghiu đã mô tả đôi mắt của bà cũng buồn và nhẫn nhục như thế.

  Có lần đi chơi khuya, tôi gặp Bùi Giáng ở ngã ba Trần Quang Diệu – Trương Minh Giảng, ăn mặc chắp vá màu mè như phường tuồng, cầm cây chổi cùn múa may, chặn đầu xe tôi lại, “Cho trẫm điếu thuốc”. Hoàng thượng đã chiếu cố xin thuốc dân đen, dân nào dám cãi. Tôi rút điếu thuốc và cung kính châm lửa cho hoàng thượng. Ngài rít một hơi rồi phẩy tay, “Cho lui…”. Lui rồi, ngoái cổ lại, thấy hoàng thượng tiếp tục múa chổi đi quyền.

 Bùi Giáng đã có mầm mống bất thường từ trước rồi, sau 1975 nặng hơn, lang thang khắp chốn. Cái điên của Bùi Giáng thật hay giả, cũng khó biết. Mất trí như ông vậy mà hay, ý thức buồn vui làm chi cho khổ?

  Mà Sài Gòn lúc đó sao lắm người điên thế! Cũng không phải điên, họ có phá phách gì ai đâu. Tôi thường gặp vài ông ăn mặc lịch sự lắm, áo sơ mi trong quần, có ông còn đeo cà vạt, đi đi lại lại ở khu Lê Công Kiều, nơi bán sách cũ. Vừa đi vừa khua tay, lảm nhảm rồi lại gật gù, nào là Marx, Hegel, Mounier, Sartre,…

  Người bạn tôi qua được tới bến bờ, vừa làm vừa học, gửi về cho tôi thùng quà chừng 1,5 kg kèm bức thư ngắn: “Gửi mày mấy hộp thuốc tây, bán đi mà lai rai. Còn lọ nhỏ để uống, đừng bán. Thuốc an thần đó”. Tâm thần phải chăng là lối thoát của con người với thực tại quá phũ phàng?

  Ngẫm lại, một nhà chính trị tài giỏi là người có thể đưa đất nước tới mục tiêu mà ít đổ máu nhất, chứ đâu cần phải đốt cả dãy Trường Sơn, đánh tới người cuối cùng. Mạng người quá bèo. Bèo thì cũng đành, nhưng hệ lụy cho người còn sống, cha mẹ vợ con họ mới là nỗi đau gặm nhấm cả đời.

  Cả đất nước sống bằng khẩu hiệu, đất nước ta dân chủ gấp vạn lần,… Nghe riết rồi quen, nghe tai này lọt tai kia cũng quen luôn. Không quen lỡ có ngày phát điên thì sao?

 Người lẽ ra phải điên mà không chịu điên, đó là mấy bà. Cầm có tí tẹo tiền, xách giỏ đi chợ, loanh quanh đầu chợ cuối chợ cả tiếng đồng hồ, có khi chẳng mua được thứ gì.

 Mà có tiền đi chợ là còn may, có người chỉ khoai sắn, rau lang, bí đỏ,… quanh năm. Ăn để sống sót thì thứ gì chẳng nhét vô bụng được. Bột ngọt khi đó là thần thánh.

  Mấy ông “tù cải tạo” coi vậy chứ chỉ khổ cái thân, chứ cái đầu chưa đến nỗi. Có biết bên ngoài thế nào đâu mà khổ, mà lo.

 Vợ một bác sĩ quân y đi thăm nuôi, dúi vào tay chồng ít tiền. Thăm nuôi lần sau, thấy tiền vẫn còn nguyên, ông chồng không dám xài. Bà than, “Tội nghiệp cho cả gia đình tôi! Ở ngoài vợ con nhịn đói để nuôi tù, ở trong nhịn đói vì không nỡ nuốt cái đói khát của vợ con”. Não lòng đến thế là cùng! Nước mắt nuốt ngược thế này, chỉ bị nghẹn mà không phát điên, bà này chắc có căn phần phúc đức.

  Nghe nói mấy ông “ngụy cải tạo” định lập ra ngày vinh danh mấy bà vợ. Không đủ đâu mấy ông. Mấy bà này chắc phải phong… Thánh.

  Tháng tư năm nay, Sàigòn nóng khủng khiếp. Sàigòn không mưa nhưng Đà Lạt mưa. Những ngày cuối tháng tư năm nào Đà Lạt cũng mưa, mưa mù mịt che khuất cả đồi thông ở Couvent des Oiseaux đối diện nhà, nhưng mưa chỉ vào lúc trưa chiều, tối tạnh.

 Đà Lạt 8 giờ tối đã như 12 giờ khuya ở Sài Gòn. Tôi vẫn thích đi bộ mỗi khi có chút hơi men thế này. Con đường dốc về nhà như kéo theo mệt mỏi của đời người. Tựa lưng vào cửa nhà, hoa lá trong vườn yên tĩnh như đêm.

 Dưới ánh đèn đường rọi qua hàng rào, bóng của lá cây ngọc lan chập chờn trên mặt sân. Cuối tháng tư rồi. Người ta sẽ đốt pháo hoa ở Sàigòn để ăn mừng. Ai vui xin cứ vui. Nhưng còn chút tâm tình này của kẻ buồn, không nói cho thế hệ sau biết những buồn bã sau 1975 là như thế đó, lòng dạ nào yên?

  Năm 1975 là ngã rẽ của đời người. Bạn bè, người thành danh, đứa bầm dập, và cho dù có ở phương trời nào, tây hay ta, nỗi khổ vẫn theo số mệnh mà đến. Giờ đây, đứa nào cũng chạm tay vào buổi hoàng hôn cuộc đời rồi?

  Tháng tư, tôi thắp ngọn nến trong lòng. Thoảng trong mùi hương ngọc lan, tôi hát theo, hát thầm bài hát nghe được ở quán rượu “…Cuộc đời là hư vô, bôn ba chi xứ người, khi mình còn đôi tay…”.

Vũ Thế Thành


 

ÔNG TRUMP NỒNG HẬU ĐÓN ÔNG TẬP: ĐÌNH CHIẾN THƯƠNG MẠI, AI, QUỐC YẾN XA HOA VÀ GÌ NỮA?

BBC News Tiếng Việt

 ÔNG TRUMP NỒNG HẬU ĐÓN ÔNG TẬP: ĐÌNH CHIẾN THƯƠNG MẠI, AI, QUỐC YẾN XA HOA VÀ GÌ NỮA?

Khi chuyên cơ chở Chủ tịch Tập Cận Bình và phu nhân đáp xuống sân bay tại Căn cứ liên hợp Andrews ở bang Maryland vào hôm 23/9, đích thân Tổng thống Mỹ Donald Trump đã ra tận chân cầu thang đón, một nghi thức ngoại giao hiếm hoi, cho thấy nhà lãnh đạo Trung Quốc được đặc biệt trọng thị.

Chuyến thăm mang ý nghĩa trọng đại này là chuyến đi đầu tiên của ông Tập tới Washington kể từ năm 2015.

Trong khuôn khổ chuyến thăm, ông Trump đã khoản đãi quốc yến mời ông Tập, hai bên dự kiến sẽ có các cuộc họp kín, và nhiều nội dung thảo luận, từ trí tuệ nhân tạo (AI), vấn đề Iran, Đài Loan cho đến việc gia hạn thỏa thuận đình chiến thương mại.

#BBCNewsTiengViet #DonaldTrump #TapCanBinh #quanheMy_Trung  


 

PHÉP LẠ THỜI HIỆN ĐẠI: RƠI TỰ DO TỪ MÁY BAY F15 MÀ KHÔNG CHẾT

 
 
Video “Đó là một phép màu” – Phi công F-15 tiết lộ 50 giờ sinh tồn và chiến dịch giải cứu nghẹt thở (do SGP Thuyết Minh đăng tải, chuyển thể từ phóng sự của 60 Minutes của đài CBS) kể lại câu chuyện sinh tồn và được giải cứu của một phi công tiêm kích Không quân Hoa Kỳ sau khi bị bắn rơi trong lãnh thổ đối phương, Iran.
Hình minh họa

Tóm tắt về “Phép màu” rơi tự do mà không tử vong!

  • Cánh Dù  không bung: Sau khi phóng ghế khỏi máy bay bị trúng đạn, Đại tá Bravo phát hiện dù cứu hộ của mình đã bị hư hỏng nặng và không thể bung ra do sức ép vụ nổ  từ tên lửa vác vai của Iran, khiến ông rơi tự do xuống đất.

  • Va chạm cực mạnh: Dựa trên các chấn thương và mô tả hiện trường, các chuyên gia y học hàng không quân sự ước tính ông đã va chạm với mặt đất ở tốc độ 70 đến 100 dặm/giờ (113–161 km/h)—vận tốc va chạm thông thường luôn gây tử vong.

  • Sống sót thần kỳ: Dù mô tả cú va chạm “như bị một đoàn tàu băng băng lao vào và tông cho tan tác”, ông vẫn sống sót mà không bị tổn thương nội tạng gây tử vong hay bị liệt. Ông bị gãy cột sống, gãy tay, gãy xương vai, bong gân cổ chân và rách nhiều vị trí trên mặt.

  • Lẩn tránh & Được giải cứu: Vẫn giữ được ý thức, ông cầu nguyện và phát tin nhắn “God is good” (Chúa thật tốt lành) qua thiết bị định vị. Dù bị gãy nhiều xương, ông đã bò và leo lên dãy núi Zagros ở độ cao hơn 2.100m (7.000 feet) để lẩn tránh khoảng 1.500 quân địch đang truy quét, trước khi được Lực lượng Đặc nhiệm Hoa Kỳ giải cứu sau 50 giờ.

Trong cuộc phỏng vấn với chương trình 60 Minutes của đài CBS, Đại tá Bravo chia sẻ rằng việc sống sót sau cú va chạm tốc độ cao và 50 giờ sinh tồn giữa vùng địch là một “phép màu thời hiện đại” nhờ  sự che chở đặc biệt của Thượng Đế.

“Lạy Chúa, xin cho ý Ngài được nên trọn, nhưng nếu con phải vượt qua tình cảnh này, xin cứu giúp con”  (Đại tá Bravo)

KINH KÍNH MỪNG – LỜI KINH CẦU CHO HÒA BÌNH

 KINH KÍNH MỪNG – LỜI KINH CẦU CHO HÒA BÌNH

1.Kinh Kính Mừng

“Kính mừng Maria đầy ơn phúc“

Đó là câu đầu tiên trong Kinh Kính Mừng chúng ta vẫn thường xuyên đọc nhất là trong tháng Mười. Nhưng nguồn gốc của lời Kinh này phát xuất từ miệng sứ thần Gabriel khi chào kính Đức Maria lúc truyền tin (Lc1,28). Đức Maria là Đấng đầy ơn phúc như lời sứ thần nói, vì có Thiên Chúa ở cùng. Phúc của Mẹ thật cao với khôn sánh, lời bà Ê-li-sa-bet xác nhận : ” Em thật có phúc hơn mọi người nữ, vì Đấng em cưu mang thật diễm phúc“. Ai có Thiên Chúa ở cùng, người ấy được đầy ơn phúc. Đức Maria là người diễm phúc không chỉ Mẹ có Thiên Chúa ở cùng, mà Mẹ còn cưu mang Thiên Chúa ngay trong lòng mình nữa.

Những lời của sứ thần Gabriel và của bà Ê-li-sa-bet trên đây đã được Giáo hội dùng để chúc tụng ngợi khen Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa và là Mẹ chúng ta. Đồng thời Giáo hội thêm vào đó lời cầu khẩn Mẹ thương nâng đỡ phù trì “Thánh Maria ĐứcMẹ Chúa Trời… và trong giờ lâm tử”.

Phụng vụ mừng lễ Mẹ Mân Côi hôm nay, dựa trên trang Tin Mừng (Lc 1,26-38) lại dìu ta về với “Đức Maria đầy ơn phúc“. Mẹ có phúc trước hết là vì Mẹ có Thiên Chúa ở cùng, và Con lòng Mẹ gồm phúc lạ. Thế nên Giáo hội không ngớt lời lặp đi lặp lại danh xưng hạnh phúc này : “Kính mừng Maria đầy ơn phúc” để tôn vinh Mẹ Maria. Đức Maria là người hạnh phúc vì Mẹ đã đón nhận hồng phúc, được tuyển chọn để cưu mang, sinh hạ, nuôi dưỡng và làm Mẹ Đấng Cứu Thế, là Mẹ Thiên Chúa. Nếu yêu và được yêu là những điều hạnh phúc nhất trong đời, thì Đức Maria cũng rất hạnh phúc khi được Thiên Chúa yêu thương tuyển chọn và chính Mẹ cũng biết dành trọn vẹn tình yêu thương của mình cho Thiên Chúa.

Mẹ được đầy ơn phúc, Mẹ cũng muốn cho con cái mình hạnh phúc, vì mẹ nào mẹ chẳng thương con. Nên khi con cái lầm đường lạc lối, sa lầy trong tội, Mẹ đã mở rộng vòng tay, dẫn lối chỉ đường cho con người đạt tới hạnh phúc với lời nhắn nhủ : “Hãy ăn năn đền tội, hãy năng lần hạt Mân Côi“. Làm theo lời dặn dò của Mẹ, Hội Thánh đã thoát nhiều cơn giông tố hiểm nguy xác hồn, phá tan được bao bè rối, mang lại bình an trong tâm hồn.

  1. Ơn phúc bởi đọc Kinh Kính Mừng

Chính Mẹ đã dạy chân-phước Alanô : “Bất-cứ ai trung thành đọc Kinh Mân Côi và suy ngắm những Mầu Nhiệm sẽ được ân thưởng. Mẹ sẽ xin cho họ được tha mọi hình phạt và mọi tội lỗi trong giờ họ chết“.

Thánh Bênađô nói : “Kinh Kính Mừng làm cho Quỉ Dữ trốn chạy, Hỏa Ngục run sợ“.

Còn thánh Bônaventura nói : “Mẹ Maria chúc phúc cho những ai đọc Kinh Kính Mừng“.

Theo thánh Montfort “Những người rối đạo, những người vô tín ngưỡng, những người kiêu căng chê ghét hay khinh thị Kinh Kính Mừng, là những người có dấu bị trầm luân Hỏa-Ngục. Không có gì có hiệu-lực được lên Nước Thiên Chúa bằng đọc Kinh Mân Côi“.

Thánh Anphongsô “Nhờ Kinh Mân Côi, biết bao tội nhân bỏ đường tội lỗi, bao linh hồn đã tiến cao trên đường trọn lành. Biết bao người được ơn chết lành và hưởng phúc Thiên đàng“.

Kinh Mân côi là kinh chính Ðức Trinh Nữ đã khuyến khích khi hiện ra với Cô Bernardette ở Lộ đức (1858) cũng như trong các lần hiện ra với ba em mục đồng Lucia, Phanxicô và Giaxinta 6 lần từ 13 tháng 5 tới 13 tháng 10 năm 1917. Cả 6 lần Đức-Mẹ đều thúc-dục : “Các con hãy tiếp tục đọc Kinh Mân Côi hằng ngày“. Và nhất là : “Các con hãy đọc kinh Mân côi để cầu nguyện cho hòa bình“.

  1. Lời kinh cầu cho hòa bình

Chúng ta đang sống trong một tình hình quốc tế đầy những căng thẳng, càng ngày càng gia tăng, khiến ngày mùng 07 tháng 9 năm 2013, Đức Thánh Cha Phanxicô phải mời gọi cả Hội Thánh ăn chay cầu nguyện cho hòa bình tại Syria và những nơi bạo lực đang hoành hành. Lời cầu của Hội Thánh đã được nhận lời, chiến tranh đe dọa Damacus đang qua đi, nhưng tại Trung Đông, Ai Cập, Triều Tiên và cả Thánh Địa xem ra Hòa Binh vẫn vắng bóng. Năm nay, năm 2014, Đức Thánh Cha đã kêu gọi thế giới nhiều lần cầu nguyện cho Irắc, không những kêu gọi cầu nguyện cho hòa bình tại Israel và Palestin mà còn tổ chức cầu nguyện với nguyên thủ quốc gia cả hai nước. Trong tình hình hiện nay, chỉ biết chạy đến với Thiên Chúa, để khẩn xin hòa bình cho thế giới và. Việc làm trong tháng này là hãy lần hát Mân Côi, như Giáo hội vẫn thường làm trong các cơn túng cực. Vì chỉ có lời cầu nguyện mới vượt  qua được các biên giới các quốc gia và các ngăn cách của thù ghét cũng như không hiểu nhau, mới đem lại bình an cho nhân loại. Chúng ta hướng về Ðức Maria, Nữ vương hòa bình, và khẳng định rằng, nơi nào thiếu hòa bình, nơi nào con người tỏ ra bất lực hay không muốn dẹp đi mầm mống thù ghét và chết chóc, thì việc trợ giúp phải đến từ Trời. Chính Ðức Maria, Nữ vương hòa bình, Ðấng đem chúng ta trở lại với Chúa Cha.

Trước những thế lực mạnh hơn, chúng ta thường cảm thấy bất lực. Khi nghĩ đến sức mạnh của những thế lực trên trái đất này định đoạt số phận của nhân loại, chúng ta cảm thấy bị giới hạn và bất lực, chúng ta chỉ biết tin tưởng vào lời cầu nguyện mà thôi, chúng ta tin cậy vào một sức mạnh lớn hơn, là Thiên Chúa. Ðức Maria, như gương mẫu của sự phó thác hoàn toàn cho thánh ý Chúa. Và với tình mẫu tử, Mẹ sẽ dẫn đưa chúng ta đến với Chúa Kitô, theo dõi chúng ta trên đường đến với Chúa Cha, Ðấng có thể cải hóa và làm cho các tâm hồn con người tùng phục thánh ý của Người.

Vậy kinh Mân Côi càng có lý do hơn nữa để xúc tiến hòa bình, một hoà bình cho tới nay vẫn chưa trở lại. Với lời Mẹ Maria dạy và kinh nghiệm của các thánh về ơn phúc bởi đọc Kinh Kính Mừng, chúng ta hãy sốt sáng đọc kinh Mân Côi, để cầu nguyện cho bản thân, cho gia đình, cho Giáo hội, cho quê hương và cho toàn thế giới.

Nữ Vương truyền phép Rất Thánh Mân Côi, cầu cho chúng con.

Nữ Vương bình an, cầu cho chúng con. Amen. 

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ