Đời Sống Người Tù Cải Tạo

Duc Thong DO

 “CÁC SĨ QUAN VNCH VÀ CHƯƠNG TRÌNH HỌC TẬP CẢI TẠI CỦA CỘNG SẢN BẮC VIỆT” TÀI LIỆU CON CHÁU VÀ THÂN NHÂN CỦA CÁC GIA ĐÌNH VNCH NÊN ĐỌC ĐỂ HIỂU RÕ SỐ PHẬN CỦA CÁC THÂN NHÂN, NẠN NHÂN CỦA CHẾ ĐỘ CSVN..

***** 

Đời Sống Người Tù Cải Tạo

12 tháng 1 năm 2011

Bác Sĩ Nguyễn Ý Ðức

LTS. Chế độ tập trung cải tạo cho quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa được thi hành sau khi Cộng Sản miền Bắc thôn tính miền Nam. Bài này đúc kết lời kể của các cựu tù nhân chính trị; mục đích là để thế hệ mai sau, trong và ngoài nước, biết các khó khăn, đau khổ của cha chú họ, như một bài học đắt giá cho nhân loại, để tránh tái diễn chứ không phải để giữ mãi hận thù.

Trình Diện Để Đi Tù Đầy

Mấy tuần lễ sau khi miền Nam thất thủ thì chiến dịch rỉ tai về học tập cải tạo bắt đầu được tung ra. Nhưng mãi đến đầu tháng sáu 1975 Uỷ Ban Quân Quản Thành Phố mới ra lệnh cho các quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa phải trình diện để đi “Học Tập Cải Tạo”. Uỷ Ban ra thông cáo vào các ngày 10-6, 11-6 và 20-6-75 trên đài phát thanh và báo chí, chỉ định rõ địa điểm và ngày giờ trình diện.

Hạ sĩ và nhân viên chính quyền từ chủ sự trở xuống học tập ba ngày tại phường. Các cấp thấp hơn như binh sĩ, cán bộ phường khóm được khoan hồng miễn trình diện. Cả mấy trăm ngàn người nô nức đi trình diện học tập vì họ nghĩ rằng học tập cho xong để hy vọng sớm trở về làm ăn. Họ đi học từ sáu giờ sáng đến tối.

Ðối với các phó quận trưởng, trưởng ty, cấp úy, thì mỗi người phải mang theo giấy bút, quần áo, mùng mền vật dụng cá nhân, đồ ăn hoặc tiền bạc để dùng trong mười ngày kể từ ngày trình diện.

Với các cấp chỉ huy từ giám đốc trở lên, sĩ quan từ cấp tá, các dân biểu nghị sĩ, các lãnh tụ đảng phái thì thông cáo ra lệnh mang theo giấy bút, vật dụng cá nhân, số tiền là 13,000 đồng đủ cho việc ăn uống trong 30 ngày kể từ ngày học tập đầu tiên. Thông cáo nói rõ: “các học viên phải mang theo một tháng tiền ăn và những đồ đạc cần thiết. Nhà hàng Ðồng Khánh sẽ phụ trách việc ăn uống…”

Nhiều người vì sức khỏe yếu được miễn trình diện. Nhưng vì quá tin vào thông cáo của chính quyền, học tập có một tháng, nên họ vẫn tình nguyện xin đi để tỏ thiện chí cũng như làm cho xong để còn về được an ổn kiếm kế sinh nhai.

Có người được nhân viên tiếp nhận cho về vì không hội đủ tiêu chuẩn như thông cáo nhưng vẫn nằn nì giải thích chức vụ để xin đi cho chắc bụng. Chẳng hạn, có vị khai chức vụ quốc vụ khanh chính phủ. Cán bộ không biết đó là chức gì mà coi danh sách không thấy có nên đuổi về. Vị chính khách này phải cố gắng giải thích chức vụ của mình ngang hàng tổng trưởng. Họ cũng không biết tổng trưởng là gì, đến khi nói là bộ trưởng thì họ mới cho nhập trại. Ai cũng nghĩ là trước sau rồi cũng phải học tập nên xin đi cho nó xong. Thực ra, thông cáo rất mập mờ. Lúc đầu ghi danh đi học tập cải tạo phải chuẩn bị thực phẩm hoặc đóng tiền ăn cho một tháng. Rồi pháp lệnh nói cải tạo viên phải học tập ba năm rồi đổi ra vô hạn định một cách âm thầm.

Kỷ Nguyên Tù Ðầy Cải Tạo bắt đầu. Sau khi đã bước vào trại tù cải tạo thì ngày ra dường như vô tận vì một số thiệt mạng, hầu hết tiếp tục tù đầy cho tới mươi mười lăm năm sau.

Theo bản tường tình của Aurora Foundation năm 1983  do bà Ginetta Sagan và ông Stephen Denney thực hiện thì có hơn một triệu người đã đi cải tạo mà rất ít được về sau thời hạn mười ngày hay một tháng. Trên toàn quốc lúc bấy giờ có trên 150 trại cải tạo. Có khoảng 500,000 người được trả tự do trong vòng ba tháng; 200,000 ở trại từ hai đến bốn năm; 240,000 ít nhất năm năm; nhiều chục ngàn người trên mười năm.

Trong một trại cải tạo, học viên thắc mắc về thời gian cải tao như sau:

“Thưa cán bộ, theo như chính sách 12 điểm của chính phủ Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam thì sau ba năm chúng tôi được trả tự do để đoàn tụ với gia đình; bây giờ đã quá 3 năm sao chúng tôi còn phải ở trong trại?”

Cán bộ trả lời:

– Các anh thông minh, các anh phải hiểu rằng Chính Phủ Cộng Hòa miền Nam (của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam) đâu có phải là Chính Phủ Việt nam Dân Chủ Cộng Hòa; vả lại chính phủ Cộng Hòa Miền Nam không còn tồn tại thì những gì chính phủ ấy quy định cũng không còn tồn tại.

– Hơn nữa, các anh thông minh nhưng chưa hiểu thế nào là 3 năm. Các anh hiểu cứ mỗi năm là 365 ngày như bọn tư sản thì hỏng bét, do đó các anh khiếu nại là phải rồi. Nếu các anh phân tích một cách sâu sát thì các anh sẽ thấy rằng có 3 năm định tính và 3 năm định lượng. Một anh có thể có 3 năm định lượng, nghĩ a là đã cải tạo đúng ba năm không thiếu ngày nào, nhưng lại không có đủ 3 năm định tính vì tính chất cải tạo quá tồi, cải tạo không tốt, do đó mà chưa được về sum họp với gia đình.”

(Phan Phát Huồn: AK và Thập Giá)

* Các dữ kiện trong bài viết này là những lời kể lại của nhiều tù nhân cải tạo sống sót.

Tổ Chức Trại Cải Tạo

Trại được chia ra làm nhiều khu. Mỗi khu có nhiều đại đội trại viên. Dưới là nhóm gọi là “B”. Mỗi B có 30 trại viên do một cán bộ hạ sĩ quan phụ trách. Trại viên còn được gọi là phạm nhân hoặc cải tạo viên. Họ phải học làm lòng tài liệu “38 điều Nội Quy” và “Bốn tiêu chuẩn cải tạo”.

Bốn tiêu chuẩn cải tạo là:

1-Thành khẩn khai báo

2- Lao động tự giác

3-Chấp hành nghiêm chỉnh nội quy và các pháp lệnh nhà nước

4- Giúp bạn cải tạo cùng tiến bộ

Một cựu tù nhân cho hay: nhiều người không nhớ các tiêu chuẩn này, nên đã dùng bốn thú vật tiêu biểu cho từng tiêu chuẩn: ngu như bò, có gì khai hết; lao động như trâu; bảo sao làm vậy như con cừu và sủa như chó để báo cáo các hành động của bạn tù.

Có người đã ví việc thực hiện các tiêu chuẩn này chẳng khác gì sự xét mình, ăn năn tội lỗi, xưng tội và dốc lòng không sai phạm của một tôn giáo. Nội quy có các điều khoản về nguyên tắc chung, kỷ luật học tập, kỷ luật về lao động, kỷ luật về nếp sống hàng ngày, kỷ luật về viết thư và gặp gia đình, tổ chức phạm nhân, và khen thưởng-kỷ luật.

Ðiều nào cũng bắt đầu bằng các chữ quyết liệt như “Phải chấp hành…” hay “Tuyệt đối tuân theo…”

Chẳng hạn điều Một ghi rõ:

“Phải triệt để tuân theo đường lối, chính sách giam giữ cải tạo của Ðảng, pháp luật của nhà nước…”

Ðiều 2: “Phải chấp hành nghiêm chỉnh bản án, phải ra sức học tập cải tạo tư tưởng, thành khẩn nói hết lỗi lầm của mình.”

Ðiều 8: “Phải trực tiếp tham gia lao động sản xuất. Ðể rèn luyện ý thức lao động, lấy lao động để cải tạo tư tưởng…”

Ðiều 12: “Không được dùng tiếng ngoại ngữ và không được nói tiếng lóng”

Ðiều 18: “Thường xuyên cạo râu, không được để râu” .

Ðiều 20: “Tránh có thái độ ngang bướng, khúm núm, nịnh hót. Khi có việc cần gặp cán bộ phải đứng xa 5-7 mét ở tư thế nghiêm. Xin báo cáo với Giám thị, cán bộ”.

Trại có rất nhiều khẩu hiệu về học tập chính trị như:

“Chính sách khoan hồng của Ðảng trước sau như một.”

“Học tập cải tạo là con đường duy nhất để trở thành người công dân lương thiện.”

“Học tập nghiêm túc, đi sát đi sâu, đào sâu, suy nghĩ, thảo luận đúng ý…”

Khai Lý Lịch

Cải tạo viên nào cũng phải khai lý lịch. Ðây là một việc làm rất nhức đầu vì họ phải khai đi khai lại cả chục lần. Khai xong mang nộp, rồi bị cán bộ hạch hỏi đủ điều. Việc khai lý lịch thường là do đoàn công tác liên bộ Quốc Phòng và Công An phối hợp thực hiện. Mẫu khai có ba mục chính với nhiều tiểu mục và tiết mục. Rầm rộ phát động chiến dịch khai báo, cho ăn đồ tươi.

1-Lý lịch cuộc đời cá nhân: bản thân người khai, gia cảnh và lý lịch thân nhân, từ ông cố tổ bốn đời. Từng địa chỉ đã sống trong suốt đời. Một địa chỉ có thể là 1 tuần ở quốc nội hoặc bốn mươi tám giờ ở quốc ngoại.

Về lý lịch thân nhân, phải khai đầy đủ chi tiết về bản thân kèm thêm đánh giá từng người về quá trình chính trị, xã hội, giai cấp.

2-Quá trình hoạt động: Trong suốt đời, với 3 giai đoạn: từ 1945 trở về trước; từ 1945 đến 1954 và từ 1954 đến 1975. Phải khai cho đầy đủ các chi tiết về ngày tháng, sinh hoạt, chức vụ, ở đâu với ai, diễn tiến công việc, kết quả công việc, ảnh hưởng của công việc vào xã hội. Khai các cá nhân, đoàn thể chống cộng ở miền Nam: tên tuổi, tổ chức nào, hoạt động ở đâu, cách tổ chức chống cộng… Kê khai bạn bè thâm giao và bạn bè thường, rồi các sinh hoạt của họ ở đâu bây giờ. Kê khai mọi cấp chỉ huy, đồng sự với các chi tiết như của mình… Hiện giờ họ ở đâu, quan điểm chính trị của họ. Khai rõ về các vấn đề tổ chức, kỹ thuật chiến thuật của miền Nam.

3-Kê khai tài sản: Của nổi của chìm, trong nước, ngoài nước, mình đứng tên hay nhờ người đứng tên, vợ con đứng tên; hiện có, đã sang nhượng, cúng dâng cho các tổ chức. Tiền từ đâu có.

Phạm nhân được dành cho một tuần để khai; ban đêm cho phép đốt đèn cầy để khai. Khai xong ký cam đoan là đúng sự thực rồi nộp cho cán bộ. Phạm nhân phải thức thâu đêm để khai; nhiều khi đi cầu, đi ăn cũng tập trung suy nghĩ coi đã làm gì, ở đâu, ngày nào…

Sau khi nộp thì mấy ngày sau lại phải khai lại vì: thiếu thành khẩn, thiếu tự giác, không khai hết sự thật, ngoan cố, giấu diếm bao che các tổ chức chính trị và cá nhân phản động.

Rằng nhân dân đã biết rõ về mình rồi, đã có hết tất cả hồ sơ tại công tư sở, đừng hòng giấu diếm. Có phạm nhân còn bị gọi lên để hạch hỏi chi tiết, hù doạ là vợ khai khác mà mình khai khác hoặc để đối chiếu lời khai của thân nhân với lời mình khai. Rồi bản khai được cất đi và phạm nhân phải khai lại từ đầu…Việc khai báo kéo dài cả mấy tháng. Một chiến dịch cổ võ cho việc khai báo cuộc đời được diễn ra. Học viên còn được cho ăn uống linh đình và được miễn lao động trước ngày khai báo bắt đầu.

Cải tạo tư tưởng-Học tập chính trị

Mục đích của cải tạo là “để thay đổi con người từ chế độ lỗi thời vào kỷ nguyên mới của những công dân tốt, với các giáo điều tốt lành của chủ nghĩa Anh Hùng Cách Mạng”.

Theo các cựu tù nhân kể lại, bài học nhồi sọ nhắm vào việc:

“Ðả phá chủ nghĩa đế quốc Mỹ, kẻ thù của nhân dân Việt Nam và thế giới. Sự thất bại của chủ nghĩa đế quốc Mỹ; Ðế quốc Mỹ là con đỉa hai vòi: một vòi hút máu mủ nhân dân trong nước, còn vòi kia vươn sang các nước khác để hút máu mủ nhân dân các nước này bằng cách bán súng đạn, tạo ra các cuộc chiến tranh diệt chủng. Tội ác của ngụy quyền ngụy quân miền Nam, bán nước, tay sai. Chính sách khoan hồng của Ðảng, nghĩa vụ của người có tội, lao động là vinh quang. Những thắng lợi vĩ đại của nhân dân Việt Nam.”

Các buổi học tập chính trị gồm có:

  1. Nhận đề cương nội dung bài.
  2. Tìm hiểu nội dung.
  3. Nghe giáo viên giảng bài.
  4. Suy nghĩ về nội dung và lời giảng của giáo viên.
  5. Không bàn thảo với ai. Viết một bài nhận định để trình bày với tổ.
  6. Phát biểu trước tổ học tập.
  7. Hội thảo cấp B cao hơn với ba tổ.
  8. Hội thảo toàn trại.
  9. Rồi viết bài tổng kết học tập dài cả chục trang.
  10. Tổng kết và giải đáp thắc mắc.

Kỹ thuật nhồi sọ áp dụng nguyên tắc nước chảy đá mòn, nói nhiều nói mãi một đề tài, nhắc đi nhắc lại một luận điệu, biến con người thành cái máy… Sau cả nhiều tháng học tập chính trị, hầu hết đều bị chê là: “chưa được rèn luyện, cải thiện bằng các tư tưởng cao siêu của Chủ Nghĩa Xã Hội, vẫn còn ngoan cố, không chịu tiếp thu bài học, không chịu gột rửa toàn diện tư tưởng xấu của bản thân, nên cần được cải tạo bằng lao động”.

Lao động

Lao động là thước đo mức độ giác ngộ của tù nhân.

Cuốc đất: 150m2/ngày/người

Trồng mì: 5000m2 /ngày/4 người

Khai quang: 300m2/ngày/người

Lấy cây đường kính 30cm, dài 4 thước, hai người một cây, mang về trại cách xa 3 cây số; đường kính 10 phân, dài 4 thước hai người năm cây một ngày.

Tranh lợp nhà: 10 bó theo tiêu chuẩn của trại. (Theo Trại Tù Cải Tạo-Phạm Quang Giai).

Ăn uống

Sau đây là kinh nghiệm người cựu tù:

“Cộng Sản không cần đánh đập, không cần kết án, mà họ đã dùng cái máy chém vô hình và im lặng: ÐÓI. Họ lôi cái máy này đến mọi nơi, mọi chốn có tù nhân chính trị miền Nam để trả thù, trả hận mà vẫn không mang tiến là ác độc, là giết người.” (Phạm Quang Giai: Trại cải Tạo)

“Cái lon nhôm sữa bột guigoz, được gọi vắn tắt là cái Gô, là bạn đồng hành thân thiết của tù. Người tù nào cũng kè kè bên mình một cái vừa đựng nước uống ra bãi, vừa dùng để nấu canh tại bãi lao động. Những loại rau cỏ dại ăn được tìm thấy ngay tại hiện trường, lén nhổ bỏ vào Gô rồi nhờ nhà bếp nấu. Nấu chín xong để bụi cát lắng xuống phần dưới, ăn phần rau cũng đỡ cái bao tử rỗng một lúc. Hôm nào bắt được con cóc, con nhái thì “canh có người lái”, tù gọi là Protein; con gì cũng qui vào chất thịt, chất protein bổ dưỡng. Tù có câu: “con gì nhúc nhích là ăn được, rau gì không chết thì ăn”… (Nguyễn Chí Thiệp: Trại Tù Kiêm Giang)

“Tiêu chuẩn kỷ luật mỗi tháng còn 9 kg lương thực ăn với nước muối, mỗi ngày hai bữa hai chén nhỏ xíu. Ðến bữa ăn phải kềm hãm cố nhai cho thật kỹ, vừa để cho đỡ buồn, cho qua thời giờ có việc làm. Khi nhai thức ăn, vừa phải nhai kỹ để thức ăn ít ỏi và quí báu được tiêu thật hết, khỏi phí phạm, giúp cơ thể bòn từng chút bổ dưỡng để thân xác chịu đựng con người được sống, nhai thật kỹ để chất thải ra thật ít, 5,7 ngày mới đại tiện một lần, vì đại tiểu tiện đều vào cái thùng đại liên để ngay bên cạnh bục nằm, đến lúc đầy tràn trật tự mới đổ đi, nên suốt ngày đêm phải nằm bên cạnh cái của nợ khai thúi đó.”  (Nguyễn chí ThiệpTrại Tù Kiêm Giang)

Vệ Sinh Trại

Tù nhân kể lại là trại chật trội ngào ngạt hơi người, mùi hôi của mọi người, mọi bệnh riêng của mỗi người, cả tháng không tắm. Cả ngàn người có một giếng nước, kéo một lúc đã cạn nước. Ðể lâu không dùng nên chuột bọ chết thối đầy đáy giếng. Ăn uống vào là bị kiết lỵ. Ði cầu vào các dẫy hố đào trên mặt đất.

Bệnh Tật

“Mặt đứa nào đứa nấy trông như những quả dưa bở chín rục, chân tay bụ bẫm cứ như những cái xác chết trôi ba ngày, đang xếp hàng dài trước bếp xin chút nước vo gạo về uống với hy vọng mong manh tí chất cám có thể cứu nổi căn bệnh phù thũng trầm kha…” (Hà Thúc Sinh: Ðại Học Máu)

Kiểm tra tư trang

“Ông cán bộ tới chỗ tôi và bắt đầu lục soát.

– Cho tôi xem cuộn giấy. Giấy này là giấy gì đây?

– Thưa cán bộ đây là giấy vệ sinh.

– Giấy vệ sinh là giấy gì?

– Thưa cán bộ là giấy đi cầu.

Ông cầm cuộn giấy, xem rất kỹ, chê bai đủ điều rồi nói tiếp:

– Ðây chính là tài liệu mật mã bọn Mỹ ngụy để lại cho các anh xử dụng để quấy phá cách mạng, nhưng làm sao qua mắt cách mạng được. Tôi ra lệnh tịch thu toàn bộ những cuộn giấy này của anh và của các anh khác.” (Phan Phát Huồn: AK và Thập Giá)

Thăm viếng và thư từ của gia đình

Theo điều 29, “hai tháng phạm nhân được gặp người nhà một lần. Phạm nhân có trách nhiệm hướng dẫn người nhà chuẩn bị giấy tờ cần thiết khi đến thăm mình.”

Ðiều 27: “Phạm nhân mỗi tháng được viết một lá thư cho gia đình; thư phải đưa lên cán bộ duyệt trước khi gửi; không được dùng tiếng ngoại quốc, tiếng lóng.”

Tết 1977 là lần đầu tiên phạm nhân được viết thư cho thân nhân ở trong Nam. Thư gửi qua Trung Ðoàn 52-A, Chí Hòa Sài Gòn. Họ không được phép tiết lộ nơi đang học tập. Quà do thân nhân gửi không được quá 5 kí. Trà, cà phê, rượu, muối bị cấm tuyệt. (Trần Vĩ)

Kết luận

Chế độ tù cải tạo dưới chế độ Cộng Sản vào những thập niên 70 và 80 của thế kỷ trước  đã đưa đến sự tàn phá tâm thần và thể xác cho nhiều quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa. Ðây là một thảm họa mà đến nay thế giới loài người văn minh cũng như con cháu chúng ta vẫn chưa biết được tường tận.

Các vị cựu nhân cải tạo sống sót hình thức tù đầy này cũng nên ghi lại những bài học đắt giá, những hy sinh của chính mình, của các bạn tù đã nằm xuống. Và các bà vợ tù nhân cải tạo cũng có nhiều cay đắng cuộc đời. Một thân phải tần tảo chăm sóc bầy con giữa những kỳ thị của chế độ mới, rồi lại còn trèo đèo lặn suối đi thăm nuôi chồng  bị đầy ải nơi rừng thiêng nước độc. Ghi lại để các thế hệ con cháu, trong ngoài nước, hiểu nỗi lòng của mình. Cũng như để tránh tái diễn, nhất là đối với những người cùng chung dòng giống. Chứ không phải để nuôi mãi lòng thù hận nhau.

[Nguyệt San Mạch Sống thuộc hệ thống truyền thông của BPSOS: http://www.machsongmedia.com.]

NGUỒN: Đời Sống Người Tù Cải Tạo – Mach Song Media – Nhà


 

CHUYỆN DÀI NGÔN NGỮ MIỀN NAM ĐÃ DẦN BỊ BẮC CỘNG HÓA!

Tâm Trần

 Sau ngày 30/04/1975 thì ngôn ngữ quái dị của miền Bắc đã lan truyền khắp miền Nam và bây giờ người dân miền Nam đã quên hay cố tình quên 2 chữ “Đá Banh” và thay vào đó là 2 chữ dị hợm – “Bóng Đá”! Bóng làm sao biết Đá ….

– “Thắng Xe” mà lại gọi là “Phanh Xe” ….

– “Vỏ Xe” mà lại gọi là “Lốp Xe” …

– “Chiếc Xe Hơi” mà lại gọi là “Con Xe hoặc Ô Tô” ….

– “Bảng Số” mà lại gọi quái gở là “Biển Số” … ở ngoài Biển làm gì có số? ….

– “Trái” mà đổi lại gọi là “Qủa”.

– “Quẹo Phải hoặc Quẹo Trái” mà lại nói là “Rẽ Phải – Rẽ Trái”.

– “Đậu Xe” mà lại nói là “Đỗ Xe”.

– “Xe Đò” quen thuộc cũng biến mất, thay vào đó là “Xe Khách”.

– “Khoảng 4 giờ”, thay vào đó là nói “Tầm” (Tầm 4 giờ chẳng hạn).

– “Một Đôi hay Một Cặp” mà lại cố tình nói SAI là “Cặp Đôi” tức là 4 … (Cặp là 2, Đôi cũng là 2).

– “Thập Niên” tức là 10 Năm mà bây giờ lại nói SAI là “Thập Kỷ” tức 1000 năm … (Century là 100 năm tức 1 Thế Kỷ … 9 Thế kỷ là 900 năm và 10 Thế kỷ là 1000 năm).

– “Đài Truyền Hình” mà lại nói là “Kênh Truyền Hình – Kênh Youtube”.

– “Phát Thanh hoặc Phát Hình” mà lại nói là “Phát Sóng”. Sóng làm gì có âm thanh và có hình mà phát!

– “Hợp Ca” mà lại nói là “Tốp Ca” và hai chữ “Hòa Âm” cũng bị thay vào đó là “Phối Âm”.

– “Bảo Đảm” mà đổi ngược lại nói là “Đảm Bảo”.

– “Hộp Thư” mà lại nói là “Hòm Thư”.

– Cái “Rương” đựng quần áo đổi lại gọi là cái “Hòm”.

– “Ly Bia” mà lại nói là “Cốc Bia”.

– “nước Dùng” chứ không nói là “nước Lèo” (nấu Hủ Tíếu, nấu Phở).

– “Căn Nhà” mà bây giờ lại nói là “Căn Hộ”.

– “Passport” không còn gọi là “Sổ Thông Hành” mà lại gọi là “Hộ Chiếu”.

– “Biên Giới” tức là giới ranh thì lại nói quái dị là “Cửa Khẩu”.

– “Quan Thuế Phi Cảng, Quan Thuế Hải Cảng”; thay vào đó thì ở Phi Trường hay ở Bến Cảng đều gọi là “Hải Quan”.

– “Phi Đạo” thì cũng gọi theo miền ngoài là “Đường Băng”.

– “Hàng Không Mẫu Hạm” mà chỉ biết “Tàu Sân Bay”

– “Chiến đấu cơ F35B thì lại gọi là “Tiêm Kích”.

– “Diễn Hành” nói là đi “Diễu Hành” tức là đi diễu cợt làm trò hề cho thiên hạ xem.

– “Đánh Nhau hay Đánh Lộn” mà bây giờ lại nói là “Tác Động Vật Lý”!

– “Người Điều Khiển Chương Trình”, thay vào đó là “Người Dẫn Chương Trình”.

– “Bực Mình hay “Bực Bội Khó Chịu” thì lại nói là “Bức Xúc”.

– “Bùng Binh” đổi lại gọi là “Vòng Xuyến”.

– “Chợ Đêm Saigon” gọi là “Phố Đêm Saigon”.

– “Ga Xe Điện” (Platform) gọi là “Ke Ga”, từ ngữ quái đản thô kệch.

– “Bàn Ủi”, thay vào đó gọi là “Bàn Là”.

– “Chích Ngừa” mà đi “Tiêm Chủng”.

– “Điều Tra” gọi là“Vào Cuộc”; vào cuộc là như thế nào? vào tham gia cuộc chơi hay sao?

– “Hồi Âm” như thế nào? thay thế vào đó 2 chữ “Phản Hồi” quái dị!

– “Đáp Số” cũng thay vào đó 2 chữ “Đáp Án”.

– “Số Điểm” đổi ngược là “Điểm Số”.

– “Hành Hung” mà chỉ biết nói “Tương Tác” xuất xứ từ ngoài vĩ tuyến.

Còn rất nhiều những ngôn ngữ quái đản của lũ khỉ rừng dốt nát chế ra … như “trộm vía”, “dư địa”v.v … không thể nói hết ở đây được!

Riêng những người Việt ở hải ngoại cũng đã bị Bắc hóa về ngôn ngữ không thua kém gì dân miền Nam, nhất là những người làm truyền thông và những trường học dạy tiếng Việt toàn dùng từ ngữ SAI bét…

Coi như tiếng Việt, chữ Việt phong phú trong sáng thanh tao càng ngày càng bị biến đổi và biến mất.

Buồn thay cho một nền ngôn ngữ của một vùng miền đang bị lãng quên dần!

DIỆP HẢI DUNG 


 

 Alexander Đại đế (356–323 TCN) là vị vua chinh phạt vĩ đại nhất lịch sử cổ đại

Học viện Wecap

 Alexander Đại đế (356–323 TCN) là vị vua chinh phạt vĩ đại nhất lịch sử cổ đại. Trước năm 30 tuổi, ông đã tạo ra một trong những đế chế rộng lớn nhất thế giới cổ đại, trải dài từ Hy Lạp đến tận Ấn Độ. Ông là biểu tượng của quyền lực tối thượng, sự giàu sang vô biên và vinh quang bất bại.

Thế nhưng, ở tuổi 32, khi đang ở đỉnh cao quyền lực tại Babylon, ông bất ngờ lâm trọng bệnh. Đứng trước cái chết cận kề, nhìn lại vương quốc bao la dưới chân mình, vị hoàng đế trẻ tuổi nhận ra tất cả những cuộc chinh phạt, máu và nước mắt đổ ra bấy lâu nay bỗng trở nên vô nghĩa.

Ông triệu tập các tướng lĩnh trung thành lại và đưa ra 3 nguyện ước cuối cùng để ghi vào di chúc:

“Ta muốn các ngự y giỏi nhất phải đích thân khiêng linh cữu của ta ra nghĩa trang.”

“Ta muốn tất cả vàng bạc, châu báu, kim cương mà ta đã tích lũy suốt cuộc đời phải được rải đầy trên con đường dẫn ra mộ của ta.”

“Ta muốn hai bàn tay của ta phải được để thò ra ngoài linh cữu, mở rộng và ngửa lên trời cho tất cả mọi người nhìn thấy.”

Các tướng lĩnh vô cùng kinh ngạc, không hiểu lý do của những yêu cầu kỳ lạ này. Alexander Đại đế thoi thóp giải thích:

“Ta muốn ngự y khiêng quan tài để mọi người hiểu rằng: Dù là những bác sĩ giỏi nhất thế giới, họ cũng hoàn toàn bất lực trước cái chết.

Ta muốn rải vàng bạc trên đường để nhắc nhở thế gian: Của cải mà ta dành cả đời cướp bóc, tích lũy, cuối cùng cũng chỉ nằm lại trên mặt đất.

Và ta muốn để hai bàn tay trống rỗng ra ngoài để ai nấy đều thấy: Ta đến với thế giới này bằng hai bàn tay trắng, và ta cũng ra đi với hai bàn tay trắng.”

Giai thoại về cái chết của Alexandros là một tiếng chuông cảnh tỉnh sâu sắc cho cái tôi luôn đói khát bận rộn của con người. Chúng ta hằng ngày lao đi như thiêu thân để tích lũy tiền tài, địa vị, danh vọng, tự tạo ra áp lực và làm tổn thương tâm hồn mình vì sợ mất mát. Sống tỉnh thức là nhận diện rõ bản chất tạm thời của vật chất. Hãy sử dụng của cải như phương tiện phụng sự cuộc sống, nhưng đừng để mình bị dính mắc và trở thành nô lệ của chúng. Khi biết buông xả sự bám chấp, bạn sẽ tìm thấy sự tự do đích thực ngay trong từng phút giây hiện tại. 


 

Nhật Bản và Việt Nam…- Thái Hạo

Thái Hạo

Cách đây mấy ngày, thấy có tờ báo đăng tin hai thanh niên Nhật Bản bị bắt vì tội… dùng đũa cá nhân để gắp gừng trong chiếc lọ đựng gia vị trên bàn ăn của một nhà hàng, rồi quay clip và post lên mạng xã hội. Chủ quán báo cảnh sát, vì hành động “mất vệ sinh” này làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của họ! Thôi, chắc không cần bình luận nữa về sự nghiêm ngặt của luật pháp xứ ấy.

Tình cờ là cũng hôm trước, tôi có mấy người bạn ghé chơi, trong đó có 2 người mới từ Nhật về nước. Một ông nói, đi 7 năm, về Việt Nam hai tháng rồi nhưng vẫn bị “sốc nhiệt”. Tôi hỏi vì sao bên đó đang làm ăn ngon lành thế mà lại về làm gì.

– Bị đuổi về. Vi phạm pháp luật.

Anh ta kể rằng, buôn xe hơi , mua phải một chiếc xe ăn cắp, bị bắt và giam 15 ngày, sau khi điều tra, kết luận đúng là mua nhầm chứ không phải tự mình ăn cắp, thì được thả nhưng trục xuất luôn.

Lạ là, dù bị bắt tạm giam, nhưng việc đầu tiên là cảnh sát hỏi về thực đơn và thói quen ăn uống của mình, thích ăn những món gì, khẩu vị ra sao…, có nhu cầu gì thay đổi về đồ ăn thì cứ “yêu cầu”, họ phải đáp ứng hết. Bị giam nhưng nhiều lúc quên mất là mình đang phạm tội, vì nào là kêu bật điều hòa, tăng nhiệt độ, giảm nhiệt độ, rồi nói đi mua thứ này, đi lấy thứ kia…, cảnh sát chỉ việc “ngoan ngoãn” làm theo yêu cầu. Không bao giờ có chuyện to tiếng hay tỏ thái độ bất lịch sự với mình, chỉ một lòng cúc cung “phục vụ”.

“Hết 15 ngày sau khi đã có kết luận thì được thả, về toà Đại sứ đang chuẩn bị lên đường hồi hương theo lệnh của chính quyền Nhật thì có người của sở cảnh sát tới, mang theo một chiếc áo. Chiếc áo này tôi bỏ quên ở chỗ giam giữ. Mà thực ra cũng chẳng phải bỏ quên, áo rẻ tiền, lại cũ rồi, vứt đi chứ lấy làm gì. Nhưng họ phái 3 cảnh sát mang tới tận nơi, hỏi có phải áo của anh không, giao lại đường hoàng rồi mới đi”.

Ở Nhật, nếu vì lý do nào đó mà anh “ngủ bờ ngủ bụi” thì sẽ có cảnh sát đứng canh cho ngủ, không để ai làm phiền, khi nào anh tỉnh dậy họ có làm gì mới làm, tuyệt đối không quấy rầy giấc ngủ của anh, chỉ tận tụy đứng đó, giữ đồ và “canh giấc ngủ” cho anh!

Ông bạn này còn kể, có một ông già độc thân, cứ thi thoảng lại ăn trộm ít trái cây trong vườn nhà hàng xóm, để được đi tù! Thế là cứ ra tù là lại liền ăn trộm, vì ở trong tù sướng hơn ở ngoài nhiều. Trong đó, được chăm sóc tận tình và đối xử tử tế. Ở Nhật, cảnh sát và người nhà nước đúng nghĩa là “đầy tớ” luôn. Thử vi phạm giao thông mà xem, cứ ngồi trong xe bật điều hòa mát, họ tới ăn nói lễ phép, chỉ thiếu khúm núm xin được kiểm tra nữa thôi. Không bao giờ có chuyện hách dịch kiểu như ở Việt Nam, chứ đừng nói chuyện vòi tiền…

Anh ta nói, ở Nhật đúng là có hơi “phát xít” thật, vì quy tắc rất nghiêm, cái gì cũng phải nhất nhất tuân thủ, nhưng quyền con người cao lắm, không ai được nhân danh nhà nước để xúc phạm hay đối xử thô bạo với anh, dù anh có phạm tội gì đi chăng nữa.

Còn một chuyện lạ đời này nữa: Ví dụ, người dân trồng vài cây trái trong vườn nhưng chính yếu để cho đẹp chứ rất ít khi ăn, thường để rụng đầy gốc, rồi ra siêu thị mua về dùng. Lý do là cây trái tự mình trồng thật đấy, nhưng vẫn không “chắc ăn”, cứ ra cửa hàng hay siêu thị mua về, ăn nếu lỡ có vấn đề gì thì có chỗ mà bắt đền. Thực phẩm trên thị trường Nhật gần như tuyệt đối an toàn, và nếu có nơi nào bán đồ mà ăn vào “có vấn đề gì” thì chỗ đó chỉ có điêu đứng. Oái oăm thay, ở ta mà muốn bán được hàng thì phải kèm theo câu “nhà làm”…

Những chuyện lan man không đầu không đuôi như thế nhưng cứ làm hiện dần lên hình ảnh của hai đất nước, như thuộc về hai cõi khác nhau. Đến bao giờ chúng ta mới có được một xã hội vừa nghiêm khắc nhưng lại cũng rất tự do và nhân văn, không còn coi “Sinh mạng con người chỉ như cái móng tay”* mà vụ án cô giáo Dung vừa minh họa một cách hùng hồn?

Ông bạn bảo, 200 năm nữa, may ra…

Thái Hạo

*****

Lời thơ cô giáo Trần Thị Lam:

“Đất nước mình lạ quá phải không anh

Những chiếc bánh chưng vô cùng kì vĩ

Những dự án và tượng đài nghìn tỉ

Sinh mạng con người chỉ như cái móng tay…”


 

Tha thứ cho người khác không phải là xóa bỏ quá khứ của họ

Học viện Wecap

  Nelson Mandela (1918–2013) là lãnh tụ chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc tại Nam Phi. Ông bị chính quyền da trắng giam cầm suốt 27 năm, trong đó phần lớn thời gian là ở nhà tù khắc nghiệt trên đảo Robben. Ông phải làm công việc khổ sai đập đá hằng ngày, bị đối xử bất công và chịu sự giám sát chặt chẽ của những viên cai ngục da trắng hung dữ.

Trong số các cai ngục có Christo Brand – một thanh niên da trắng được giáo dục để coi người da đen là kẻ thù. Nhưng thay vì đáp lại bằng sự căm hờn, Mandela đã chọn cách đối xử với Brand bằng một lòng trắc ẩn sâu sắc. Ông không xem Brand là kẻ thù, mà xem anh là một con người đang bị vơ vét bởi tư tưởng phân biệt chủng tộc. Ông trò chuyện, hỏi thăm gia đình Brand, chia sẻ những bài học cuộc sống một cách chân thành.

Sự tử tế và nội lực tĩnh lặng của Mandela đã hoàn toàn chuyển hóa Christo Brand. Từ một kẻ coi ngục lạnh lùng, Brand trở thành người bạn thân thiết, lén mang sách báo và giúp đỡ Mandela trong những ngày tháng tăm tối nhất.

Vào ngày 11 tháng 2 năm 1990, khi bước qua cổng tù để trở thành Tổng thống da đen đầu tiên của Nam Phi, Mandela đã phát biểu một câu triết lý bất hủ: “Khi tôi bước ra khỏi cánh cổng tù để đi đến sự tự do, tôi biết rằng nếu mình không để lại sự đố kỵ và lòng hận thù ở lại phía sau, thì tôi vẫn đang ở trong tù.”

Trong cuộc sống, khi bị ai đó đối xử bất công, lừa dối hay xúc phạm, chúng ta thường ôm giữ sự oán hận trong lòng. Chúng ta nghĩ rằng giận dữ là cách để trả đũa kẻ thù, nhưng thực chất, sự oán hận giống như việc ta tự uống độc dược rồi chờ đợi người khác chết. Tỉnh thức là khi bạn dũng cảm buông bỏ sự oán hận. Tha thứ cho người khác không phải là xóa bỏ quá khứ của họ, mà là cởi trói cho chính tâm hồn bạn, để bạn bước tiếp vào tương lai với một tâm thế tự do.

HỌC VIỆN WECAP | Hiểu mình – Sửa mình để bình an và hạnh phúc

#wecap #chuyenhoatamthuc


 

Thời Trung Cổ có thể dạy chúng ta điều gì về cách phòng tránh kiệt sức? (BBC)

(BBC)

19 tháng 7 2026

Căng thẳng và kiệt quệ về tinh thần không phải là hiện tượng mới.

Từ thời Trung Cổ, con người đã phải đối mặt với những vấn đề tương tự.

Và theo một số học giả, những lời khuyên của thời kỳ này về cách vượt qua tình trạng kiệt sức vẫn còn giá trị đáng ngạc nhiên cho đến ngày nay.

Nhà tu hành John Cassian mô tả các triệu chứng của tình trạng này gần như không thay đổi theo thời gian: mệt mỏi, tuyệt vọng, chỉ muốn rời bỏ công việc, đầu óc mơ hồ và mất tập trung.

Ông gọi đó là “một dạng rối loạn vô lý của tâm trí”, khiến nhiều người cảm thấy mình vô dụng, lười biếng và chỉ mong được ngủ để trốn tránh thực tại.

Nếu từng trải qua tình trạng kiệt sức hay trầm cảm, nhiều người ngày nay có thể nhận ra những cảm giác này và cho rằng chúng là hệ quả của cuộc sống hiện đại.

Tuy nhiên, Cassian đã viết về chúng từ thế kỷ thứ 5, và đối tượng của ông không phải các nhân viên văn phòng hay doanh nhân, mà là những tín đồ Cơ đốc giáo thời kỳ đầu kiệt quệ sau quá trình tu tập tâm linh.

Liệu những ghi chép cổ xưa đó có thể giúp giải thích tình trạng kiệt sức của con người hiện đại, thậm chí gợi ý cách vượt qua nó?

Đó là lập luận của nhà sử học Peter Jones trong cuốn sách mới Self-Help from the Middle Ages: A Journey into the Medieval Mind (Tạm dịch: Tự giúp mình thời Trung Cổ: Hành trình khám phá tư duy Trung Cổ).

Cuốn sách cho thấy cách những người mà tác giả gọi là “các linh mục trị liệu” đã hướng dẫn các giáo dân của họ vượt qua những khủng hoảng tinh thần

Vào thế kỷ thứ 5, John Cassian là một trong những nhà tư tưởng Kitô giáo đầu tiên được gọi là “linh mục trị liệu”

Nghiên cứu của Peter Jones cho thấy cảm giác kiệt sức đã xuất hiện rất phổ biến trong suốt chiều dài lịch sử.

Theo ông, việc nhận ra rằng con người ở mọi thời đại đều từng trải qua những giai đoạn u ám như vậy có thể mang lại sự an ủi cho những ai đang vật lộn với khủng hoảng tinh thần.

“Có rất nhiều điều thông thái trong thời Trung Cổ,” ông Jones nói.

Ông cho rằng, cũng giống như những năm gần đây nhiều cuốn sách khai thác triết học Khắc kỷ của thời cổ đại để giúp con người đối phó với cuộc sống hiện đại, có lẽ đã đến lúc mọi người nên tìm đến những bản thảo thời Trung Cổ để học hỏi.

Lạc giữa Siberia

Ý tưởng viết cuốn sách đến với Jones sau khi chính ông trải qua một giai đoạn khủng hoảng mà ông gọi là “mùa đông lạnh giá nhất trong cuộc đời”.

Vì một quyết định mà đến nay ông vẫn khó lý giải, Jones nhận lời làm Chủ nhiệm khoa Lịch sử tại Đại học Tyumen ở vùng Siberia (Nga).

Mùa đông ở đây khắc nghiệt đến mức chỉ sau khoảng 20 phút ở ngoài trời, ông đã mất hoàn toàn cảm giác ở hai chân.

Bên cạnh rào cản ngôn ngữ, ông còn luôn nhớ gia đình ở Dublin.

“Tôi lẽ ra phải nghiên cứu, chuẩn bị bài giảng và tiếp tục cuộc sống của mình,” ông viết.

“Nhưng tôi không thể ép bản thân làm bất cứ việc gì.”

Ngày nay, từ “sloth” [con lười] thường được hiểu là lười biếng hay chây lười.

Tuy nhiên, theo ông Jones, các tác giả thời Trung Cổ nhìn nhận trạng thái này theo cách khác: họ cho rằng đằng sau sự uể oải là một khoảng trống và nỗi đau về mặt tinh thần, chứ không đơn thuần là sự lười nhác.

Trong quá trình xây dựng khóa học về Bảy tội lỗi của con người, ông Jones nhận ra những mô tả của các tác giả Trung Cổ phản chiếu chính trải nghiệm của mình.

“Bạn sẽ thấy họ đã trải qua đúng những gì chúng ta đang trải qua,” ông nói.

“Những cảm xúc ấy chưa bao giờ thay đổi, và con người ở mọi thời đại đều phải đối mặt với những cuộc khủng hoảng tương tự.”

“Acedia”, hay sự lười biếng, là một trong Bảy Tội Lỗi Chết Người – khuôn khổ thời trung cổ để hiểu về bản chất con người

Theo Peter Jones, Bảy tội lỗi của con người không xuất hiện trong Kinh Thánh mà được hình thành bởi các nhà tư tưởng Cơ đốc giáo thời kỳ đầu, trong đó có John Cassian.

Sau này, Giáo hoàng Gregory I (Gregory Đại đế) đã hệ thống hóa và hoàn thiện khái niệm này.

Trong cuốn sách của mình, ông Jones viết rằng Gregory cho rằng Bảy tội lỗi của con người là “công cụ hoàn hảo để lập bản đồ những rối loạn của tâm trí”.

Hệ thống này giúp con người nhận diện và sắp xếp các suy nghĩ, cảm xúc tiêu cực, gồm bảy trạng thái: kiêu ngạo, đố kỵ, giận dữ, lười nhác, tham lam, háu ăn và dục vọng.

Đến thế kỷ 13, nhiều cẩm nang đã được biên soạn để hướng dẫn các linh mục cách giúp tín đồ vượt qua những vấn đề này trong quá trình xưng tội.

“Khi đọc những tài liệu ấy, bạn sẽ thấy chúng khá giống với liệu pháp tâm lý ngày nay,” ông Jones nói.

Thay vì chỉ trích hay lên án, các linh mục khuyến khích những cuộc trò chuyện sâu sắc, đặt nhiều câu hỏi để hiểu rõ nguyên nhân của những khủng hoảng tinh thần.

Acedia – khoảng trống của tâm hồn

Trong Bảy tội lỗi của con người, Jones cho rằng “sloth” (thường được dịch là lười nhác) phản ánh đúng nhất trạng thái ông từng trải qua ở Siberia.

Ngày nay, từ này thường được hiểu là sự lười biếng có chủ ý.

Tuy nhiên, các tác giả thời Trung Cổ lại nhìn nhận nó theo nghĩa sâu sắc hơn.

Họ gọi trạng thái đó là acedia – một khái niệm chỉ sự thiếu vắng tình yêu, sự tê liệt trong khả năng quan tâm và một khoảng trống của tâm hồn.

Jones viết rằng acedia là trạng thái “khi những điều từng khiến bạn vui vẻ và hứng khởi giờ đây chỉ còn lại sự lạnh nhạt và thờ ơ.”

Theo ông, cách hiểu này gần với khái niệm kiệt sức hoặc trầm cảm trong tâm lý học hiện đại hơn là sự lười biếng đơn thuần.

Một bản khắc năm 1612 mô tả tật lười biếng (acedia) – theo các nhà tư tưởng thời trung cổ, đây là một chứng bệnh có thể chữa được

Peter Jones cho biết ông đặc biệt đồng cảm với một văn bản từ thế kỷ 13, được lưu giữ tại Thư viện Trinity College Dublin và có ký hiệu MS 306.

Tác giả của bản thảo mô tả trạng thái acedia như “đứng giữa một dòng sông chảy xiết, đối mặt với dòng nước cuồn cuộn đập vào chân nhưng không còn đủ sức để bước tiếp.”

Theo ông Jones, hình ảnh đó diễn tả chính xác cảm giác trì trệ, bất lực và không còn động lực mà ông từng trải qua trong mùa đông ở Siberia.

Ông cũng tìm thấy sự đồng cảm trong các tác phẩm của “Archpoet” – bút danh của một tác giả vô danh người Đức sống vào thế kỷ 12.

Những bài thơ của Archpoet kể về nỗi chán chường khi làm công việc hành chính, với những lời than phiền mà ông Jones cho rằng nhiều nhân viên văn phòng ngày nay có thể thấy quen thuộc.

“Ông ấy viết về việc phải làm việc không ngừng nghỉ trong một công việc vô nghĩa, tầm thường, nơi bạn cống hiến tất cả nhưng cuối cùng lại kiệt sức vì phải gồng gánh quá nhiều,” ông Jones nói.

Theo ông Jones, những lời tâm sự cách đây gần 900 năm cho thấy cảm giác quá tải trong công việc và kiệt sức tinh thần không phải là sản phẩm của xã hội hiện đại, mà đã là một phần trong trải nghiệm của con người từ nhiều thế kỷ trước.

Peter Jones không phải là nhà sử học duy nhất nhận thấy những điểm tương đồng giữa các vấn đề tinh thần thời Trung Cổ và con người hiện đại.

Trong cuốn sách Exhausted (Kiệt sức), nhà sử học văn hóa kiêm chuyên gia cố vấn phát triển năng lực lãnh đạo Anna Katharina Schaffner cho rằng acedia – trạng thái suy kiệt tinh thần được các tín đồ Cơ đốc giáo thời Trung Cổ mô tả – có nhiều điểm tương đồng với hội chứng kiệt sức ngày nay.

Theo bà, những người mắc acedia cũng có các biểu hiện quen thuộc với xã hội hiện đại, như ăn uống để giải tỏa cảm xúc, tìm đến những hoạt động giải trí vô bổ hoặc gây xao nhãng thay vì tập trung vào công việc hay những việc có ý nghĩa.

Những triệu chứng này rất gần với cách kiệt sức được mô tả trong tâm lý học hiện đại.

Bà Schaffner cho rằng đây là một vòng luẩn quẩn điển hình.

“Bệnh nhân mắc acedia ngày càng mất khả năng suy ngẫm và hướng đến những giá trị tinh thần, trong khi những cách họ chọn để lấy lại năng lượng lại chỉ khiến tình trạng trở nên tồi tệ hơn,” bà viết.

“Theo nghĩa đó, họ chẳng khác gì chúng ta – những người của thế kỷ 21 đang kiệt sức vì công việc, tìm đến đủ loại hoạt động đánh lạc hướng không hiệu quả để trốn tránh cảm giác mệt mỏi.”

Cánh đồng đầy gai và những ngọn núi cao

Vậy những người thời Trung Cổ đã khuyên gì để vượt qua tình trạng này?

Tác giả bản thảo MS 306 không đưa ra lời khuyên trực tiếp mà mượn một hình ảnh trong Kinh Thánh:

“Dù muốn hay không, người Jebusite vẫn sống trong biên giới của bạn. Bạn có thể khuất phục họ, nhưng không thể tiêu diệt họ.”

Theo Peter Jones, người Jebusite là một bộ tộc cổ từng chiếm giữ Jerusalem và rất khó bị đánh đuổi.

Bằng cách này, tác giả đang khuyên người đang chán nản hãy học cách sống chung với cảm xúc của mình, mà không cần chống lại chúng.

Luận thuyết về các đức tính và thói xấu của William Peraldus khuyên những người bị kiệt sức về tinh thần nên tìm kiếm một mục đích cao cả hơn

Cuốn Treatise on the Virtues and Vices (Luận về các đức hạnh và thói xấu) của William Peraldus cũng đưa ra lời khuyên theo hướng tương tự.

Theo ông Peter Jones, Peraldus viết:

“Hãy nhớ rằng cánh đồng đầy gai góc rồi một ngày cũng sẽ đơm hoa kết trái.”

Ông dùng hình ảnh này để nhắc rằng những giai đoạn khó khăn không kéo dài mãi và vẫn có thể mang lại điều tốt đẹp trong tương lai.

Để thay đổi cách nhìn nhận cuộc sống, Peraldus khuyên mỗi người nên tìm cho mình một “ngọn núi vững chãi” – tức một mục đích sống hoặc một điều có ý nghĩa đủ lớn để giúp họ vượt qua nghịch cảnh.

“Bạn cần điểm tựa và sức mạnh từ một người mình yêu thương hoặc từ một điều mình thực sự yêu quý để vượt qua giai đoạn khó khăn,” Jones giải thích.

“Nếu bạn vẫn giữ được niềm tin vào những điều mình yêu quý, thì cuối cùng chúng cũng sẽ quay trở lại với bạn.”

Peter Jones thừa nhận rằng khi diễn giải những tư tưởng này bằng ngôn ngữ hiện đại, chúng có thể nghe khá sáo rỗng nếu tách khỏi bối cảnh và chiều sâu của các văn bản gốc.

Tuy nhiên, theo ông, những lời khuyên của các tác giả thời Trung Cổ lại đáng kinh ngạc vì rất giống với nhiều phương pháp trị liệu tâm lý hiện đại dành cho người kiệt sức hoặc gặp khó khăn về cảm xúc.

Ví dụ, Liệu pháp Chấp nhận và Cam kết (Acceptance and Commitment Therapy – ACT) khuyến khích con người thừa nhận và chấp nhận cảm xúc của mình thay vì cố gắng loại bỏ hay kiểm soát chúng.

Bên cạnh việc học cách sống cùng những cảm xúc ấy, ACT còn khuyên mỗi người xác định những giá trị cốt lõi của bản thân và từng bước hành động phù hợp với các giá trị đó.

Theo Jones, nếu thêm vào những hình ảnh ẩn dụ thời Trung Cổ như “cánh đồng đầy gai” hay “ngọn núi vững chãi”, thì triết lý của ACT ngày nay gần như tương đồng với lời khuyên mà William Peraldus đã đưa ra cách đây khoảng 800 năm.

Quan trọng hơn cả, các nhà tư tưởng thời Trung Cổ nhắc chúng ta rằng biết tha thứ cho bản thân có thể là một sức mạnh lớn – điều cũng là một chủ đề xuyên suốt trong nhiều phương pháp trị liệu tâm lý hiện đại.

Trong các bản thảo của mình, Cassian đã đề cập đến các triệu chứng mệt mỏi, tuyệt vọng, suy giảm trí nhớ và khao khát “sự an ủi của giấc ngủ”

Jones dẫn lại những trước tác từ thế kỷ 12 của Bernard of Clairvaux – một trong những người đồng sáng lập Knights Templar.

“Ông ví việc sống một cuộc đời tốt đẹp giống như chạy trên một địa hình gồ ghề, và nói rằng bất kỳ ai chạy đủ xa rồi cũng sẽ có lúc vấp ngã hoặc khuỵu xuống,” Jones giải thích.

“Ai trong chúng ta rồi cũng sẽ có những khoảnh khắc hoàn toàn mất phương hướng.”

Theo Jones, chỉ cần nhận ra rằng mình không đơn độc trong những đau khổ đang trải qua cũng đã là một nguồn an ủi lớn.

Dù bạn đang phải chịu đựng điều gì, con người đã cảm thấy như vậy suốt hàng nghìn năm qua.

“Thật an ủi khi nhận ra rằng trong suốt chiều dài lịch sử, đã có biết bao người cũng từng trải qua những điều như mình,” ông nói.

*****

David Robson là một nhà báo khoa học từng đoạt nhiều giải thưởng và là tác giả. Cuốn sách mới nhất của ông, The Laws of Connection: 13 Social Strategies That Will Transform Your Life (tạm dịch: Những Quy Luật Của Sự Kết Nối: 13 Chiến Lược Xây Dựng Quan Hệ Có Thể Thay Đổi Cuộc Sống Của Bạn), được xuất bản tại Anh bởi Canongate Books và tại Mỹ, Canada bởi Pegasus Books vào tháng 6/2024.

Ông sử dụng tài khoản @davidarobson trên Instagram và Threads, đồng thời viết bản tin 60-Second Psychology trên Substack.


 

 DÙ THẾ NÀO CŨNG ĐI NHÀ THỜ

Xuyên Sơn

 DÙ THẾ NÀO CŨNG ĐI NHÀ THỜ

Nếu bạn quan hệ tình dục trước khi kết hôn, dù sao cũng đến nhà thờ.

Nếu bạn là một kẻ nghiện đang cố gắng đánh bại cơn nghiện, dù sao cũng đến nhà thờ.

Nếu bạn say xỉn suốt đêm hôm trước, dù sao cũng đến nhà thờ. Nếu bạn không chắc bạn thích giới tính nào hơn, dù sao đi nữa hãy đến nhà thờ.

Nếu bạn không bỏ được thói quen kinh tởm đó, hãy đến nhà thờ.

NHÀ THỜ cũng là một BỆNH VIỆN cho những người HỎNG, LẠC LẠC, TRỐNG RỐI, RỐI RỐI, HOAN HỶ và BỊ TỪ CHỐI.

Mỗi tội đồ đều có tương lai, và mỗi vị thánh đều có quá khứ.

Làm thế nào chúng ta có thể phá vỡ chuỗi nghiện ngập và ràng buộc?

*Bằng lời cầu nguyện…

Không có một người nào trong 4 bức tường của nhà thờ mà không có điều họ ghét hoặc hối tiếc về quá khứ của họ.

Tất cả chúng ta đều mắc sai lầm và sẽ tiếp tục, NHƯNG Ân sủng của Ngài là đủ.

Có những điều tôi không bao giờ muốn thừa nhận to tiếng về bản thân mình, nhưng Chúa biết.

Và dù sao Ngài cũng yêu tôi.

Ăn năn không phải là khi bạn khóc, mà là khi bạn thay đổi.

Cho nên dù bạn đã làm gì, dù bạn đang làm gì, bất cứ điều gì bạn sẽ làm…

nó có thể thay đổi cuộc sống của bạn nếu…

DÙ THẾ NÀO BẠN CŨNG ĐẾN NHÀ THỜ.

Tác giả: K Forsyth


 

GẦN QUÁ HOÁ XA – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Hỡi Capharnaum, ngươi tưởng sẽ được nâng lên đến tận trời ư?”.

“Thế giới sẽ không chết vì thiếu những điều kỳ diệu, nhưng vì thiếu sự kinh ngạc!” – G. K. Chesterton.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấy, khi điều kỳ diệu không còn làm con người kinh ngạc, ân sủng có thể ở ngay trước mắt mà lòng vẫn ở rất xa – ‘gần quá hoá xa’.

Corozain, Bethsaiđa và Capharnaum đã chứng kiến bao việc kỳ diệu Chúa Giêsu làm, nhưng lòng họ vẫn không đổi. Điều xảy ra quanh họ đã không xảy ra trong họ: phép lạ chỉ gây kinh ngạc, nhưng không đưa đến hoán cải. Tyrô và Siđôn từng bị các ngôn sứ lên án như biểu tượng của kiêu căng và xa cách Thiên Chúa; thế mà Chúa Giêsu lại nói, nếu những phép lạ ấy được thực hiện ở đó, “họ đã mặc áo vải thô, rắc tro lên đầu tỏ lòng sám hối từ lâu rồi”. Một nghịch lý đau đớn: những kẻ bị coi là ở xa đã có thể đến gần; những người tưởng mình ở gần lại ngày một xa. “Chúng ta đã có trải nghiệm, nhưng bỏ lỡ ý nghĩa!” – T. S. Eliot.

Capharnaum còn gần Chúa Giêsu hơn; thành này được gọi là “thành của Ngài”. Vì thế, lời cảnh báo cũng nghiêm khắc hơn: “Ngươi tưởng sẽ được nâng lên đến tận trời ư? Ngươi sẽ phải nhào xuống tận âm phủ!”. Bi kịch của Capharnaum là dấu vết của Chúa Giêsu có khắp thành, lại không in sâu trong lòng người. Họ đã biến sự hiện diện thành quen thuộc, ân huệ thành điều đương nhiên – ở rất gần Chúa mà lòng ngày một xa.

Isaia cũng nói về một thành – một Giêrusalem run sợ trước quân thù, nhưng Thiên Chúa bảo: “Nếu các ngươi không vững tin, các ngươi sẽ không đứng vững!” – bài đọc một. Trong nguyên ngữ Hípri, “vững tin” và “đứng vững” cùng thuộc một gốc từ với tiếng Amen: chỉ ai tựa vào sự vững chắc của Thiên Chúa mới thật sự đứng vững. Chính niềm tin ấy làm sáng lên lời Thánh Vịnh đáp ca: “Thiên Chúa củng cố thành đô đến muôn đời muôn thuở!”. Lạ thay, một thành bị đe doạ vẫn có thể đứng vững nhờ tín thác vào Chúa; còn “thành của Ngài” lại có thể “nhào xuống” vì ở gần Chúa mà không để Ngài biến đổi.

Cũng thế, với chúng ta. Có khi khoảng cách với Chúa không bắt đầu bằng một lần quay lưng, nhưng bằng những lần trì hoãn rất nhỏ: một điều biết phải đổi mà cứ lần lữa đến ngày mai; một tiếng gọi đã nghe nhưng không đáp; một ân huệ đã nhận mà không còn biết tạ ơn. Lòng người xa dần không vì Chúa rời đi, nhưng vì con người không còn bước về phía Ngài. “Đó là cát lún: cát lún của một cuộc sống tầm thường. Hãy bắt đầu bước đi, bởi chính Chúa thúc đẩy bạn bước đi!” – Phanxicô.

Anh Chị em,

Đức Kitô không chỉ đến gần; Ngài còn mang lấy mọi khoảng cách con người đã tạo ra trước Thiên Chúa. Trên thập giá, Đấng ở gần Chúa Cha nhất đã đi vào tận miền xa nhất của phận người, để không ai còn quá xa mà không thể trở về. Vì thế, hoán cải không phải là cố vượt một khoảng cách để tìm Chúa, nhưng là mở lòng cho Đấng đã đến gần, và để sự hiện diện của Ngài biến đổi mình.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con biết đáp lại điều đã nghe, đổi thay điều được mời gọi; và mỗi ngày tìm về Chúa chứ không xa rời Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***************

Lời Chúa Thứ Ba Tuần XV Thường Niên, Năm Chẵn: 

Đến ngày phán xét, thành Tia, thành Xi-đôn và đất Xơ-đôm còn được xử khoan hồng hơn các ngươi.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.      Mt 11,20-24

20 Khi ấy, Đức Giê-su bắt đầu quở trách các thành đã chứng kiến phần lớn các phép lạ Người làm mà không sám hối. Người nói :

21 “Khốn cho ngươi, hỡi Kho-ra-din ! Khốn cho ngươi, hỡi Bết-xai-đa ! Vì nếu các phép lạ đã làm nơi các ngươi mà được làm tại Tia và Xi-đôn, thì họ đã mặc áo vải thô, rắc tro lên đầu tỏ lòng sám hối từ lâu rồi. 22 Vì thế, Ta nói cho các ngươi hay : đến ngày phán xét, thành Tia và thành Xi-đôn còn được xử khoan hồng hơn các ngươi. 23 Còn ngươi nữa, hỡi Ca-phác-na-um, ngươi tưởng sẽ được nâng lên đến tận trời ư ? Ngươi sẽ phải nhào xuống tận âm phủ ! Vì nếu các phép lạ đã làm nơi ngươi mà được làm tại Xơ-đôm, thì thành ấy đã tồn tại cho đến ngày nay. 24 Vì thế, Ta nói cho các ngươi hay : đến ngày phán xét, đất Xơ-đôm còn được xử khoan hồng hơn các ngươi.”


 

Đất khổ rồi!!!- Tác Giả: Nguyễn Văn Lục

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Nguyễn Văn Lục 

13/07/2026

Sau những trận bão, trận lụt triền miên cuốn trôi cả nhà cửa, ruộng vườn có khi chỉ trong chớp mắt. Nó như một trận  hồng thủy của ngày tận thế!!

Không ai ngờ và tiên đoán được điều gì sẽ xảy ra cho con người.

Nhất là trái đất đã cướp đi hàng trăm sinh mạng con người, cuốn họ trôi đi hàng trăm cây số mà đôi khi không còn tìm thấy xác nữa.

Thiên nhiên đã thật sự làm khó con người và trái đất đã gửi đi lời cầu cứu mà tương lai đôi khi chỉ còn là giấc mơ.

Nhất là các vùng Tây nguyên mất rừng, mất đất, mất làng như đụng vào chính trái tim của trái đất.

Ngoài cái thiên tai, còn cái nhân tai mà nếu con người biết tôn trọng những điều đang có thì còn có hy vọng những điều tốt đẹp hơn.

Quả đúng, nay là mảnh đất khổ, mảnh đất bị nguyền rủa.

Mảnh đất ấy nay nó sẽ kéo theo cái nghèo không chóng thì chày cũng xảy đến cho con người không chỉ bằng những thống kê, những con số. Nhưng là cái nghèo trên thục địa mà con người có thể sờ thấy, hoặc cảm nghiệm được qua những bữa ăn mà chính thức có khi cả năm không hề được đụng tới miếng thịt, họa huần được it cá khô, phần còn lại chỉ là hoặc là lá đu đủ hoặc hoa đu đủ đắng ngắt trên các miền đất khô cằn của cao nguyên đá.

Chưa kể khi ốm đau bệnh tật hoặc khi mang thai sinh đẻ, đẻ xong không có sữa cho con bú..Đôi khi phải dùng nước vo gạo thay cho sữa mẹ.

Vì thế tuổi thọ các người vùng cao  như  Mèo Vạc, Đèo Mã Pì Lèng thường chỉ  sống đến 50, 60 là cùng. Tôi đã thấy những ông bố  dượng mới 29 tuổi. Đứa con gái đã mất bố ruột nó hồi nó mới được 8 tuổi. Mẹ nó đi bước nữa lấy tên bố dượng nhỏ hơn bà 5 tuổi. Nay con gái ruột của bà đã 15-16 chỉ ít tuổi hơn tên bố dượng mười mấy tuổi.

Nói dại, thằng bố dượng nếu tham lam, nó có thể lấy cả mẹ lẫn con cũng được

Vì thế, con gái vùng cao như gái M’ong sớm rõ thân phận mình thường lấy chồng sớm, tuổi từ 14,15,16 mà ngực mới nhú chúm chím như quả cau..

Chúng có tên tuổi hăn hoi như em Lầu Thị Xí, 19 tuổi. Em Hà Thị Mai 18 tuổi. Rồi những em tên Láy, tên Mừng.

Đến tuổi 17, 18 được coi như tuổi dạy thì, đủ lông, đủ cánh thì tiếc thay các cô gái lo sợ, được coi như gái già, gái ế.

Lo cho tương lai mình vốn đen tối, không có tương lai. Các em đều ấp ủ mong muốn được lấy chồng người Kinh như thoát cảnh nghèo và những tù túng của của miền đất khổ.

Nhưng từ mảnh đất khổ ấy tưởng chừng mọi hy vọng chỉ là nỗi tuyệt vọng đến cho con người..

Không, trong đêm tối của trái đất, nó le lói cái mà hiếm hoi và mong đợi, người ta gọi là: Tình người. Nó xuất hiện như thể trong một đêm muộn trong sự chờ đợi như thể trái đất biết nghe những câu chuyện huyền thoại.

Trong đó, có rất nhiều người có một tấm lòng đã dấn thân, đã lặn suối, leo đèo, đã đơn độc đi tới các vùng xa xôi, hẻo lánh để  thồ những kiện hàng như một hai bao xi măng, bao cát mà đôi khi phải có một người chạy theo sau để đẩy xe. Tiền bạc do những” You Tube”kêu gọi giúp đỡ bằng nhiều cách như kêu gọi những con người từ những vùng đất xa xôi nửa vòng trái đất, những người Việt ở Mỹ, Úc Đại Lợi, Canada, Pháp vv. mà số tiền từ vài trăm, có khi vài ngàn mỹ kim chung tay gửi tiền cho những bà con nghèo.

Nhất là các vùng xa, vùng sâu trên Tây nguyên, nơi có nhiều sắc dân, nhất là những người Gia-Rai, người M’môn, người Tày.. vv.

Đó là những sự giúp đỡ do những tấm lòng vô lượng, vì người mà không vì mình.

Xin ghi lại ở đây những câu truyện được kể của họ một cách nào đó không phê phán, cũng không biện hộ.

Đến có thể nói, xã hội này tồn tại được do những người bình thường, vô danh biết làm những điều phi thường của những người mà hành trang mang theo họ chỉ có một tấm lòng.

Sau đây, xin giới thiệu những sứ giả của tình thương đến để sưởi ấm những con người bất hạnh từ nhiều góc độ:

-Người đặc biệt. Viết Thành. Anh đi thăm những trường hợp những gia đình có những hoàn cảnh khó khăn, éo le , bất hạnh cần được giúp đỡ.

-A Tu, Gái Bản giúp đỡ những trường hợp neo đơn mà tiền viện phí như mổ xẻ lên đến 100-200 triệu.

Chưa kể  tiền xây dựng cầu đường qua các dòng suối mà tốn phí có thể lên đến 500 triệu tiền vật liệu. Còn công bốc vác, chuyên chở bằng tay, xe thồ do dân bản địa chia nhau luân phiên làm.

Theo tôi, những công trình xây cất cầu đường phải do trách nhiệm của các cơ quan công quyền của nhà nước đảm nhiệm hà cớ gì bắt dân đen gánh vác..

-Nguyễn Tất Thắng. Anh lo xây những căn nhà mà chi phí ở mức tối thiểu  khoảng 70 triệu, lo tổ chức những bữa ăn cho dân chúng vùng cao, dạy nếp sống văn minh như cách dùng bát, đũa thay vì ăn bốc, như phân phối cho mỗi nhà bát đĩa, đũa ăn..

-Gà lang thang là một thanh nhiên nhiệt tình và năng động, đáng trân trọng. Anh sửa lại đường lên núi cho bằng phẳng hơn, đem nước từ thượng nguồn về cho dân làng.- có nước là có đời sống, có chăn nuôi, trồng trọt, có thêm rau tươi, củ quả, có chăn nuôi như gà, vịt, lợn dê để dân tự làm ăn sinh sống.

Đã thế, anh còn cung cấp đày đủ các  vật dụng cần thiết như chăn màn, võng, vật dụng hằng ngày như dao, kéo, xẻng, cuốc, nồi niêu, chảo, bát đĩa, nước mắm, gạo thóc, mì gói.

Ngạc nhiên hơn nữa, anh còn cung cấp băng vệ sinh, quần đùi cho phụ nữ, thuốc cảm sốt, dầu gió xanh vv

Gà lang thang làm việc có nguyên tắc, thu nhận được bao nhiêu tiền, chi bao nhiêu đều công khai tuyên bố nên được lòng tin của những nhà hảo tâm.

Tôi cầu mong cho anh đủ sức khỏe để tiếp tục các công trình cải tiến đời sống các dân tộc vùng cao.

-Thày Giáo Đồng ở miệt Bình Dương, xây các căn nhà tình thương cho đồng bào miền tây, thoát cảnh những túp lều để che mưa, che nắng.

-L.M Nguyễn Sang. Đây là cả một tập đoàn hàng trăm nhân viên xây dựng những quán ăn 2000/đồng/một bữa (2000 đồng chỉ đủ mua một cây kem) cho những đồng bào nghèo như già yếu, khuyết tật, dân bán vé số những bữa cơm có thịt, cá, rau đủ chất bổ dưỡng. Chưa kể, những xuất học bổng cho học sinh nghèo đủ trang trải học phí cho rất nhiều khu vực..

Và tôi nghĩ rằng, càng có nhiều cá nhân, tổ chức làm từ thiện là một hình thức gián tiếp tố cáo chế độ bất nhân, tham nhũng cả ngàn tỷ bạc, làm hại dân, hại nước. Khi ra tòa chúng vẫn khóc lóc xin giảm tội.Nngười nghèo thì mãi nghèo, người giàu thì giàu thêm.

Có lẽ, cần mang ra pháp trường bắn một vài tên tham nhũng gộc để làm gương nhù thời ông Nguyễn Cao Kỳ bắn Tạ Vinh.

Mặt trái của xã hội của mảnh đất đáng nguyền rủa là sự cực kỳ xa hoa, khoe khoang, phung phí của những kẻ giàu có sống trên xác chết người nghèo.

Tôi đã từng chứng kiến đám cưới con gái một doanh nhân giàu có. Khách mời là những người mẫu, hoa hậu, tài tử, nghệ sĩ, những người ăn mặc thanh lịch, đi trên những chiếc xe bóng lộn đủ nhãn hiệu mà chính tôi không rành, có tài xế riêng lái, tiệc cưới đặt trên lên lầu hai của nhà hàng, có cầu thang máy bằng kính nhìn ra bên ngoài..

Tôi cảm nhận sự nhờm tởm và khinh bỉ. Họ có tiền t, nhưng tiền ấy ở đâu ra? nhưng đóng góp cho xã hội là bao nhiêu?

Tôi hỏi là hỏi vậy mà không chờ đợi một câu trả lời.

Chưa kể chúng khoe của những biệt thự mà các đồ dùng trong nhà đều lát vàng như các cung điện, phủ chúa thời xa xưa.

Nay, tôi xin trở về một vài câu truyện điển hình, đọc mà thương cảm và mong được chia xẻ.

Câu truyện thứ nhất: Cánh cửa mở ra tương lai: Chị Vy và anh thiếu niên tên Chiến

Thế giới này sở dĩ tồn tại được đôi khi chỉ vì có những người làm được những điều phi thường mà tự bản chất, họ là những người tử tế, có một tấm lòng.

Câu truyện kể rằng chị Vy có chồng và sinh hạ được một đứa con. Chẳng may đứa con chị ra đời bẩm sinh bị bệnh bại não. Cháu sống như thể một loài thực vật. Chúng ta thử đặt mình vào trường hợp chị Vy để cảm thông được đứa bé sống mà như thể chết. Phần chị Vy, thương con mà sống như thể héo hon, sống mà như thể đã chết trong tâm hồn. May mắn thay, đứa thứ hai chào đời trong một thân thể lành mạnh như một bù trừ cho số mệnh.

Rồi do sự giới thiệu, chị Vy được biết có một đứa trẻ tên Chhiến. Chiến hai chân bị tê liệt nên phải di chuyển bằng cả hai tay như thể phải bò rất là khó khăn. Chị Vy nhận chăm sóc và chữa trị cho Chiến mặc dầu chồng chị phản đối.

Chị Vy đã gửi Chiến sang Úc do một bác sĩ người Việt làm phẫu thật chỉnh hình.. Sau một thời gian kéo dài trong suốt 6 năm với 4 lần phẫu thuật,trong đó  hai lần phẫu thuật tại Úc, hai lần tại Việt Nam. Biết bao công sức, biết bao tiền bạc bỏ ra trong chờ đợi, lo âu!!

May mắn thay và mừng thay, nay Chiến đã tự đi bằng chính đôi chân của mình như một thanh niên bình thường.

Điều đặc biệt hơn cả là Chiến đã tự nguyện xin được nhận chị Vy làm mẹ và hứa sau này sẽ học ngành y để trả ơn mẹ.

Còn gì hạnh phúc hơn cho Chiến nếu không có mẹ đỡ đầu thì cuộc đời Chiến sẽ ra sao?

Phần Vy, mất một đứa con nay bù lại một đứa khác. Hạnh phúc và an ủi biết bao!!!!

Phần hai. Mái ấm gia đình với soeur Kim Chi với 200 trẻ côi ở Gia Lai.

Soeur Kim Chi chọn con đường tu trì, giữ khiết tịnh thay vì một mái ấm gia đình với một vài người con. Nay thì một lúc đến 200 cháu mà cuộc đời chúng là những mảnh vụn mà mỗi cháu là một một câu chuyện kể không cháu nào giống cháu nào. Đứa thì bố say rượu, đánh đập mẹ rồi bỏ đi. Mẹ không cưu mang nổi con lén lút vửt vào cổng nhà dòng. Đứa khác, bố mẹ đều qua đời đành nương nhờ nhà dòng nuôi dùm..

Lịch sử 200 cháu là lịch sử một bi kịch cuộc đời, một số phận bất hạnh dành cho các cháu..

Nay nhìn các bé quấn quít lấy Dì Kim Chi  như một người mẹ và có một tổ ấm gia đình. Các cháu được thuê thày về dạy dỗ, được ăn học. Các cháu phải tập làm một số công việc để sau này nên người mà tương lai tùy thuộc vào chính các cháu mới đẹp làm sao!!

Phần Ba. Thày Nguyễn Văn Diện với căn nhà mơ ước, tràn đầy ánh sáng.

Thầy Nguyễn Văn Diện với tiền trợ cấp chính phủ là 400 triệu khi về hưu, các con đều trưởng thành, có nghề riêng, không vướng bận. Thầy bán đi một  phần mảnh đất hưong hỏa là một tỉ hai.

Cộng chung là một tỷ sáu.

Thay vì cất một tỉ sáu để hưởng thụ một mình cũng là lẽ thường tình.

Thày nghĩ đến số phận những đứa trẻ nghèo mà theo thầy, nghèo không phải là cái tội. Mà nhìn những đứa trẻ ấy như thể cũng là một con người. Không phân tích, không phán đoán đúng sai.

Chính vì thế, thày Nguyễn Văn Diện đã dùng số tiền ấy xây cất hai dãy nhà, một bên dùng cho phái nữ, một bên kia cho phái nam cộng chung tất cả gồm 40 phòng, có giường tủ, bàn học, nhà vệ sinh ngăn nắp  sạch sẽ và tiện nghi.

Các cháu được ở trong những phòng ốc, đầy đủ tiện nghi, có phòng tắm riêng, mỗi ngày có xe chở đi học.

Đến bữa ăn, các cháu chia nhau dọn những bữa ăn có đầy đủ rau cỏ, thịt cá, đầy chất bổ dưỡng.

Hình ảnh một cháu gái đã ở lâu trong nhà bế ẵm một bé gái khác mới vào mới đẹp làm sao!!

Nhìn các cháu, người ta nhận ra chúng có một tương lai cho đến tuổi 18 đã có một căn bản học vấn để vào đời.

Phần thày Diện, không mong chờ một đáp trả nào trong tương lai.

Có một em vừa điếc, vừa câm, thày quyết định  gửi em đi học nghề may để sau nay, em cũng có thể tự kiếm sống.

Có một em khác tật nguyền, cũng phải dùng đôi tay, bò lê dưới đất..như cháu Chiến..

Thày tự hứa với lòng mình là sẽ đưa em đi chữa trị để em cũng có thể đi bằng đôi chân như các đứa trẻ khác.

Tôi giới thiệu ba cảnh đời, ba nhân vật, ba hoàn cảnh khác nhau như một bức tranh tiêu biểu của một thế giới còn nhiều điều bất cập.

Mặc dầu thế giới còn khổ đau, hố phân chia giàu nghèo càng ngày càng cách biệt xa vời. Xã hội còn rất nhiều bất công, tôi mong dợi thực hiện một xã hội công bằng hơn là một xã hội có lòng từ bi, bác ái.

Và hơn bao giờ hết, tôi mong đợi có một ngày nào và đến bao giờ, tôi có thể hãnh diện bỏ cái tiêu đề: Mảnh đất khổ!! Vì đất nước này vẫn cần một trái tim.


 

NGHÈO… CÓ TỘI KHÔNG?- Phạm Sơn Liêm

Liem Pham

 NGHÈO… CÓ TỘI KHÔNG?

Mới bốn giờ sáng.

Con hẻm nhỏ còn tối om, chỉ có ánh đèn vàng hắt ra từ căn phòng trọ chừng mười mét vuông.

Chị Lan khẽ lay chồng.

-Anh ở nhà coi chừng con giùm em nghen.

Người chồng ho sặc sụa.

-Hôm nay nhớ bán sớm rồi về… Đừng để người ta rượt nữa.

Chị cười gượng.

-Không bán thì lấy gì đóng tiền trọ…

Chị đẩy chiếc xe bán bánh mì cũ kỹ ra đầu hẻm. Chiếc xe ấy đã theo chị gần mười năm. Nó cũ như chính cuộc đời chị.

Đến bảy giờ sáng. Khách vừa đông hơn một chút.

Một anh công nhân ghé lại.

-Chị ơi, cho em ổ bánh mì chả.

-Có liền em.

Đúng lúc ấy… Có tiếng hô từ cuối đường.

-Trật tự đô thị tới!

Những người bán hàng rong lập tức nháo nhào.

Người ôm rổ trái cây.

Người vác quang gánh.

Người đẩy xe cà phê.

Người bồng luôn cả đứa con còn đang ngủ.

 Chị Lan cuống cuồng đẩy xe chạy. Chiếc xe nặng. Hai chân chị run lên.

Phía sau, tiếng còi vang dồn dập.

-Dừng lại!

-Không được bán ở đây!

Chị vừa chạy vừa khóc.

-Cho tôi bán hết buổi sáng thôi… Tôi về liền…

Không ai nghe. Một cú vấp.

Chiếc xe lật ngang. Bánh mì, rau, thịt, dưa leo… văng đầy mặt đường.

Những ổ bánh còn nóng lăn lóc dưới chân người qua lại.

Chị quỳ xuống nhặt.

Hai bàn tay run bần bật. Một cậu học sinh cúi xuống phụ.

-Cô ơi… để con nhặt giúp.

Một bác xe ôm cũng bước tới.

-Tội quá…

Có người lấy điện thoại quay phim.

Có người đứng nhìn.

Có người lặng lẽ bỏ đi.

Chị ôm mấy ổ bánh còn sạch vào lòng.

Nước mắt rơi xuống từng ổ bánh.

Chị không khóc vì mất hàng.

Chị khóc vì biết hôm nay về nhà… chẳng còn đồng nào mua thuốc cho chồng.

Buổi trưa. Chị ngồi bên vỉa hè. Bụng đói. Nhìn chiếc xe méo mó. Điện thoại reo.

Là con gái.

-Mẹ ơi…

-Sao con?

-Hôm nay cô giáo nói đóng tiền học…

Chị im lặng.

Rồi cố cười.

-Mai mẹ đóng nghen.

Con bé hồn nhiên.

-Mẹ nhớ nha…

Cuộc gọi kết thúc.

Chị úp mặt vào hai bàn tay. Vai rung lên từng cơn.

Chị chưa bao giờ muốn giàu.

Chỉ mong mỗi ngày kiếm đủ vài trăm ngàn.

Đủ tiền trọ.

Đủ tiền cơm.

Đủ tiền thuốc.

Đủ cho con được đến trường.

Chỉ vậy thôi.

Một ông cụ bán vé số ngồi cạnh khẽ nói.

-Con à… mình nghèo… nhưng đừng thấy mình thấp.

Chị cười buồn.

-Con biết… Nhưng sao sống khó quá bác.

Ông cụ nhìn dòng xe tấp nập.

Giọng chậm rãi.

-Người ta đi ngang thấy mình cản đường. Ít ai nhìn thấy phía sau chiếc xe ấy… là cả một gia đình đang chờ bữa cơm.

Chiều xuống. Chị lại sửa chiếc xe. Lại chất vài ổ bánh lên.

Ngày mai… Có thể chị vẫn bị rượt.

Có thể lại mất hàng.

Có thể lại khóc.

Nhưng chị vẫn phải đi.

Bởi ở căn phòng trọ cuối con hẻm…

Có một người chồng đang chờ thuốc.

Có một đứa con đang chờ tiền học.

Có một bữa cơm đang chờ được nấu.

Và hàng triệu người lao động nghèo vẫn đang gồng mình như thế mỗi ngày.

Đến cuối cùng, có một câu hỏi cứ day dứt mãi trong lòng:

Nghèo… có phải là một cái tội?

Hay cái đáng sợ hơn chính là khi chúng ta quen nhìn người nghèo bằng ánh mắt vô cảm, mà quên rằng họ cũng đang lao động lương thiện để nuôi sống gia đình, bằng tất cả lòng tự trọng của mình.

 Phạm Sơn Liêm.


 

CẦU NGUYỆN – CON ĐƯỜNG KHÔNG AI ĐI THAY- Lumi Hồng Nhung

 Lumi Hồng Nhung

Có một sự thật rất đơn giản, nhưng con người thường quên:
ai ăn thì người ấy no,
ai đi thì người ấy đến,
ai cầu nguyện thì chính người ấy được chạm đến ánh sáng.

 Không ai có thể ăn giùm ta để ta hết đói.
Cũng vậy, không ai có thể tu giùm ta để ta được đổi thay.
Đời sống thiêng liêng, suy cho cùng, không phải là một dịch vụ uỷ quyền, mà là một hành trình cá vị — âm thầm, đơn độc, nhưng trung thực.

 Cầu nguyện không phải là cách để trốn tránh trách nhiệm sống.
Cũng không phải là lời nhờ vả ai đó “xin hộ” để ta khỏi phải đối diện với chính mình.
Muốn được cứu, con người buộc phải bước đi bằng chính đôi chân tự do của mình — vừa cầu nguyện, vừa nỗ lực, vừa chịu trách nhiệm cho những lựa chọn của bản thân.

Không ai bị câm trước Thiên Chúa.
Ai cũng có một miệng để thốt lời,
một trái tim để mở ra,
và một tự do để đáp lại hay khước từ.

Vì thế, không ai có thể cầu thay cho một sự từ chối cố chấp.

Có những người xin cầu nguyện rất nhiều,
nhưng lại không hề muốn thay đổi.
Có những người mong được cứu,
nhưng lại không muốn rời khỏi vùng tối quen thuộc của mình.
Không phải vì lời cầu nguyện bất lực,
mà vì ánh sáng đã đến — và bị quay lưng. 

Cầu nguyện, ở chiều sâu nhất, không phải là xin cho ý riêng được thành tựu, mà là để ý riêng được soi sáng.
Khi ánh sáng được ban mà con người vẫn khư khư giữ lấy cái tôi,
thì ơn huệ không mất — chỉ là không được đón nhận.

 Vì thế, trật tự của cầu nguyện cũng là trật tự của sự khiêm tốn.
Ta cầu cho chính mình trước — để biết mình yếu đuối.

Ta cầu cho cha mẹ, ông bà, anh chị em — để học yêu thương cụ thể.
Rồi sau đó mới dám mở lòng ra với làng xóm, thiên hạ, và những người đã khuất —không phải bằng ảo tưởng đạo đức, mà bằng một trái tim đã được luyện tập trong sự thật.

Không ai có thể được cứu nếu họ không muốn.
Nhưng cũng không ai mất ơn cứu độ vì thiếu lời cầu nguyện —
chỉ vì họ không muốn mở cửa.

 Cầu nguyện, rốt cuộc, là đứng trước ánh sáng và thành thật hỏi chính mình:
“Tôi có thực sự muốn được soi sáng không?” 

Lumi Hồng Nhung

Nguồn: https://www.nguoitinhuu.org/

From: Langthangchieutim