ĐỐT SÁCH NHƯNG KHÔNG ĐỐT NỔI VĂN HOÁ MIỀN NAM! – Nguyễn Hạnh

Việt Luận – Viet’s Herald

 Nguyễn Hạnh

Tại TP. Sài Gòn, không xa dinh Độc Lập, ngay cạnh nhà thờ Đức Bà, bên trong đường sách Nguyễn Văn Bình, bạn sẽ tìm thấy những cuốn sách rất đắt tiền. Chúng đắt tiền không phải do chúng dày dặn, đẹp đẽ, mà vì một lẽ khác, bởi đó là những cuốn sách đã may mắn sống sót khỏi chảo lửa đốt sách điên cuồng tại miền Nam.

Năm 1977, một cán bộ tại TP. Sài Gòn khoe với báo chí quốc tế rằng khoảng 700 tấn sách của miền Nam đã bị tịch thu và nghiền nát sau hai năm “giải phóng”.

Trong cùng năm, một cán bộ ở Huế cho biết hàng chục nghìn cuốn sách và tranh ảnh “lạc hậu” về “tình yêu ủy mị” và “tìm kiếm niềm vui thể xác” đã bị đốt bỏ.

Một cuốn sách xuất bản vào năm 1976 của một nhà báo ngoại quốc đã kể lại chuyện một nhóm học sinh, sinh viên ở Sài Gòn chủ động tổ chức đốt sách nhằm xóa bỏ “văn chương né tránh hiện thực”.

Linh mục André Gelinas cho biết một số lượng lớn trong khoảng 80.000 cuốn sách của thư viện Trung tâm Giáo dục Alexandre de Rhodes tại Sài Gòn đã bị đốt bỏ theo chính sách tiêu diệt “văn hóa tư sản”.

Nhà báo Richard Dudman, phóng viên kỳ cựu của báo St. Louis Post-Dispatch, cho rằng chính quyền miền Bắc có lẽ đã không ngờ chiến thắng tại miền Nam lại đến nhanh như vậy, và họ đã không chuẩn bị kế hoạch tiếp quản phù hợp.

Một số hành động hấp tấp trên quy mô lớn để lại di chứng đời đời. Trong đó, sự kiện đốt sách đã mở đầu chiến dịch hủy diệt ngành xuất bản tư nhân đang phát triển ở miền Nam với kỹ thuật xuất bản hiện đại. Đau khổ hơn là những người cầm bút cũng có chung số phận với những cuốn sách.

Cho đến nay, sau 51 năm, Việt Nam vẫn chưa lấy lại được khí thế sôi động của ngành xuất bản tư nhân thời Việt Nam Cộng hòa.

Nền xuất bản rực rỡ của miền Nam:

Trước năm 1975, miền Nam có 44 tỉnh, thành từ tỉnh Quảng Trị đến tỉnh An Xuyên (địa phận Cà Mau hiện nay) với Sài Gòn là thủ đô. Tổng dân số năm 1971 là khoảng 18,7 triệu người.

Vào năm 1974, ông Lê Bá Kông, Chủ tịch Hội Các Nhà in và Xuất bản thời Việt Nam Cộng hòa cho biết miền Nam có khoảng 180 nhà xuất bản lớn nhỏ. Trong khi đó, miền Bắc chỉ có 21 nhà xuất bản.

Từ năm 1954 cho đến giữa năm 1972, trung bình mỗi năm miền Nam xuất bản hơn một nghìn tựa sách, tổng cộng 21.279 tựa sách đã được xuất bản. Một số tác giả dẫn số liệu năm 1972 của Ủy hội Quốc gia UNESCO Việt Nam thì có khoảng ba nghìn đầu sách được cấp phép xuất bản hàng năm.

Năm 1963, Đoàn Thêm cho biết chỉ trong ba năm (từ 1961 đến 1963) đã thấy 2.624 nhan đề sách, nhiều nhất là tiểu thuyết và thơ. Ông nhận định, sau năm 1954, văn nghệ miền Nam đã sống động hơn rất nhiều, nhờ sự đóng góp của các nhà văn, nhà báo, nghệ sĩ di cư từ miền Bắc.

Trong ba năm 1965, 1970 và 1973, miền Nam đã nhập về tổng cộng 96.392 tấn giấy. Giấy được dùng để in nhiều ấn phẩm khác nhau, trong đó có sách.

Năm 1974, miền Nam có hơn 700 nhà in với 20 cơ sở có khả năng in một triệu cuốn sách mỗi năm. Các nhà in này đã in hơn 86 triệu cuốn sách của miền Nam, trung bình mỗi năm xuất bản khoảng 4,5 triệu cuốn sách.

Ở Sài Gòn mỗi ngày có khoảng 3.000 cuốn sách được bán ra. Số nhà sách ở miền Nam là 2.500 cửa hàng, đa số tập trung tại Sài Gòn, chưa tính đến các nhà cho thuê sách. Những nhà xuất bản, nhà in, hiệu sách ở miền Nam này dù khác nhau như thế nào nhưng đều có chung một ngày khai tử là ngày 30/4/1975.

Đốt sách trước năm 1975, chuyển sách ngoài Bắc vào

Năm 1977, báo London Telegraph cho biết chính quyền đã chuyển hàng trăm tấn sách “hợp pháp” của miền Bắc vào miền Nam.

Báo chí nhà nước cũng xác nhận “hàng trăm triệu bản sách” của miền Bắc đã được chuyển vào miền Nam ngay sau tháng 4/1975 để “phục vụ cho công tác tuyên truyền, giáo dục, xây dựng tư tưởng, tình cảm mới – xã hội chủ nghĩa”.

Điều nghịch lý là những cán bộ miền Bắc tại Sài Gòn đã không mặn mà với những cuốn sách từ miền Bắc, mà họ thích đọc và giữ lại những cuốn sách bị cấm ở miền Nam.

Theo Nguyễn Vy Khanh, ngay sau khi tiếp quản miền Nam, chính quyền quân quản đã ra chỉ thị cấm lưu hành và tàng trữ tất cả sách, báo trước ngày 30/4/1975. Chỉ trong một tuần, số sách tịch thu được tại một quận của Sài Gòn là 482.460 cuốn, ba tấn báo chí. Một nhà sách ở Nha Trang phải nộp 35.530 cuốn sách.

Năm 1976, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Việc xây dựng nền Văn Hóa mới được tiến hành trong cuộc đấu tranh quét sạch những tàn dư mà Mỹ đã gieo rắc ở miền Nam. Đó là thứ Văn Hóa nô dịch, lai căng, đồi trụy, cực kỳ phản động […]”

Đến tháng 1/1978, Bộ Văn hóa và Thông tin đã tổ chức “Hội nghị đấu tranh xóa bỏ tàn dư văn-hóa thực dân mới” tại TP. Sài Gòn. Hai tháng sau hội nghị, chính quyền TP. Sài Gòn đã mở chiến dịch hủy diệt sách lần thứ nhì. Lần này, chính quyền trung ương cho rằng việc tiêu hủy sách trước đó vẫn chưa được thực hiện một cách triệt để nên lần này phải hủy diệt tất cả các cuốn sách từ tiểu thuyết, thơ văn đến chính trị, kinh tế, luật, chỉ cho phép giữ lại các sách về khoa học tự nhiên.

Đến năm 1981, chính quyền trung ương đã công bố danh sách 122 tác giả có toàn bộ tác phẩm bị cấm lưu hành. Trong chiến dịch vào tháng 6/1981, chính quyền cho biết đã tịch thu khoảng 3 triệu ấn phẩm, trong đó tại Sài Gòn có khoảng 60 tấn sách, hàng chục nghìn cuộn băng nhạc, tranh ảnh và hơn 600 cuộn phim.

Nhiều tác giả cho biết chính quyền đã huy động thanh niên, thậm chí là trẻ em mang băng đỏ vào nhà của người dân để lục soát, tịch thu các thể loại sách vở, báo chí, băng đĩa. Có người kể rằng một chủ tiệm cho thuê sách cạnh nhà thờ Ba Chuông (Quận 3, TP. Sài Gòn) đã cho nổ một quả lựu đạn khi các em nhỏ đeo băng đỏ xông vào nhà để tịch thu sách.

Việc đốt sách không chỉ hủy hoại nền xuất bản, tài sản của người dân, mà còn là hủy hoại nền tảng tri thức được gây dựng hơn 20 năm ở miền Nam trên nhiều lĩnh vực.

Nguyễn Văn Lục cho rằng chính quyền đã đốt sạch các sách của miền Nam mà không phân biệt thể loại, nội dung, chính trị hay không chính trị, kể cả những sách thiếu nhi có tính chất giáo dục cao cũng bị đốt bỏ. Chính quyền đã nhắm vào quan điểm, thái độ chính trị của tác giả hơn là nội dung của những cuốn sách.

Mãi đến năm 1985, chính quyền vẫn còn lo sợ về các loại sách, báo cũ của miền Nam, mặc dù vào lúc này, nhiều nhà văn, nhà thơ miền Nam vẫn còn bị giam giữ trong các trại cải tạo trên khắp đất nước.

Screenshot

Đẩy người trí thức vào tình thế quẫn bách, vong mạng:

Sự sụp đổ ngành xuất bản tư nhân ở miền Nam đã phủ một bóng đêm u ám, nặng nề lên các văn nghệ sĩ miền Nam. Việc bị cấm sáng tác, xuất bản sách đã sớm đẩy các tác giả vào hoàn cảnh khó khăn, túng quẫn.

Nguyễn Hiến Lê từng nói rằng sau ngày 30/4/1975 ông và nhiều tác giả khác tại miền Nam sống cũng như chết trước sự thù hận, phân biệt đối xử của chính quyền mới. Bên cạnh sự bức bối trong việc sáng tác, họ hồi hộp chờ đợi không biết ngày nào chính quyền đến gõ cửa nhà.

Tháng 4/1976, ngay trước cuộc bầu cử thống nhất hai miền Việt Nam, các nhà văn của phe chiến thắng như Vũ Hạnh, Sơn Nam đã liên tục đăng bài phỉ báng, kết tội các nhà văn miền Nam trên các mặt báo. Chính quyền đã lập ra một danh sách bắt giữ 44 nhà văn, nhà thơ, nhà báo miền Nam.

Trong hai tuần đầu tháng 4/1976, chính quyền vây bắt khoảng 70 văn nghệ sĩ với tội danh “văn nghệ sĩ chống cộng [của] chế độ cũ”.

Hàng loạt các nhà văn đã bị bắt như Vũ Hoàng Chương (5 tháng tù), Nguyễn Mạnh Côn (3 năm), Nhã Ca (2 năm), Trần Dạ Từ (12 năm), Mai Thảo (kịp trốn thoát), Duyên Anh (gần 6 năm), Dương Nghiễm Mậu (1 năm), Doãn Quốc Sĩ (5 năm), Nguyễn Sĩ Tế (11 năm), Thanh Thương Hoàng (8 năm), v.v.

Một số nhà văn, nhà thơ khác có lẽ cũng đã bị bắt trước hay trong cùng khoảng thời gian này như Phạm Thành Tài (8 năm tù), Trần Tuấn Kiệt (10 năm), Lê Xuyên, v.v. Một năm sau, chính quyền bắt thêm các nhà văn khác như Hồ Hữu Tường (2 năm tù giam), Hoàng Hải Thủy (bị bắt hai lần, 8 năm), v.v.

Những nhà văn, nhà thơ đã chết dưới điều kiện khắc nghiệt của trại cải tạo được biết đến là Vũ Hoàng Chương (qua đời tháng 9/1976), Ngọc Thứ Lang (1979), Nguyễn Mạnh Côn (tháng 6/1979), Hồ Hữu Tường (tháng 6/1980), Dương Hùng Cường (1987), Hiếu Chân (1986), v.v.

Số phận của các nhà văn quân đội miền Nam:

Một tháng sau ngày 30/4/1975, theo lệnh của Ủy ban Quân quản Sài Gòn – Gia Định, đã có hơn 44.000 cựu quân nhân, nhân viên và quan chức chế độ cũ ra trình diện chế độ mới.

Trong số những quân nhân này có những văn nghệ sĩ thuộc quân đội Việt Nam Cộng hòa, trong đó có một số là sĩ quan của Cục Tâm lý chiến, một cơ quan thuộc Tổng cục Chiến tranh Chính trị, Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Những văn nghệ sĩ của quân đội Việt Nam Cộng hòa có các sáng tác với xu hướng đa dạng, đương nhiên có cả những sáng tác được cho là chống cộng sản và các sáng tác theo rung cảm cá nhân của họ.

Nhà văn Nguyên Ngọc gần đây đã nhận xét về văn chương của quân nhân Việt Nam Cộng hòa: “Còn văn học miền Nam thì khác, họ viết thật về chiến tranh, về tâm trạng con người sống trong chiến tranh. Văn học miền Nam được đứng ngoài chính trị.”

Tuy nhiên, sau 30/4/1975, những văn nghệ sĩ là quân nhân thường phải chịu những bản án tù rất nặng nề.

Những nhà thơ là quân nhân miền Nam bị bắt giữ ngay sau 30/4/1975 được biết đến là Thanh Tâm Tuyền (cấp bậc đại úy, nhà báo của Tập san Quốc phòng, 7 năm tù), Phan Lạc Phúc (trung tá, biên tập viên của Tập san Quốc phòng, 10 năm), Cung Trầm Tưởng (trung tá Không quân, 10 năm), Hoàng Anh Tuấn (2 năm, nhờ Pháp can thiệp), v.v.

Trong đó, nhà thơ Tô Thùy Yên, thiếu tá, trưởng phòng Văn nghệ của Cục Tâm lý chiến thuộc Tổng cục Chiến tranh Chính trị, đã bị giam giữ ba lần với tổng cộng 13 năm tù giam.

Một số các nhà văn như Văn Quang (trung tá quản đốc Đài phát thanh Quân đội, 12 năm tù giam), Thế Uyên (trung úy, 3 năm), Phan Nhật Nam (đại úy Sư đoàn Nhảy dù, 14 năm), Thảo Trường (thiếu tá ngành chiến tranh chính trị thuộc Cục An ninh Quân đội, 17 năm), v.v.

Ông Đỗ Văn Phúc, quân nhân thuộc ngành chiến tranh chính trị, cựu tù cải tạo, cho biết sau năm 1975 những sĩ quan ngành chiến tranh chính trị là những người bị chính quyền cộng sản cầm tù lâu nhất rồi đến an ninh, tình báo, v.v. cùng với các yếu tố đi kèm khác như là người Công giáo, di cư từ miền Bắc, thuộc đảng Dân chủ của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, v.v.

Sau khi ra tù, những nhà văn, nhà thơ dù thuộc hay không thuộc quân đội đều không được phép sáng tác. Nếu muốn sống ở quê hương, cuộc sống của họ phải cắt đứt vĩnh viễn khỏi văn chương. Hầu hết các văn nghệ sĩ sau khi được trả tự do đã ra nước ngoài tị nạn.

Những nhà văn Việt Cộng nằm vùng:

Sau năm 1975, một số ít nhà văn miền Nam vẫn tiếp tục được chính quyền mới cho phép sáng tác.

Những người này là các cán bộ cách mạng “nằm vùng”, đã sáng tác công khai ở Sài Gòn trước năm 1975. Trong đó, nổi bật có nhà văn Vũ Hạnh là cán bộ văn hóa Khu ủy Sài Gòn – Gia Định, trước năm 1975 đã viết cho tờ Tin Văn, Bách Khoa, Mai, v.v. Hay Huỳnh Bá Thành, còn gọi là họa sĩ Ớt, là nhân viên tình báo, trước năm 1975 đã sáng tác cho tờ Điện Tín, Tin Sáng, Bút Thần, v.v.

Bên cạnh đó là các nhà văn thân Việt Cộng như Sơn Nam, Lữ Phương, Thẩm Thệ Hà, Tô Nguyệt Đình, Cung Văn, Ngụy Ngữ, v.v. Những người này sau năm 1975 đã tham gia vào các cơ quan văn hóa, nghệ thuật của chính quyền.

Những nhà văn này không chỉ sáng tác tự do trước năm 1975 mà còn thành lập các nhà xuất bản, phát hành các tạp chí. Các sáng tác của họ có xu hướng thân cách mạng, chỉ trích chính quyền miền Nam, kêu gọi hòa bình thống nhất.

Một số tác phẩm của họ bị chính quyền Việt Nam Cộng hòa kiểm duyệt, gây khó khăn. Tuy nhiên, việc kiểm duyệt của chính quyền miền Nam không phân biệt, kỳ thị vào tác giả mà tập trung vào tác phẩm, kể cả văn nghệ sĩ là quân nhân Việt Nam Cộng hòa vẫn có tác phẩm bị kiểm duyệt.

Ở một mức độ nhất định, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã tôn trọng quyền tự do báo chí, tự do sáng tác, không có sự phân biệt, kỳ thị tác giả, cho phép tất cả các xu hướng sáng tác. Điều này tạo điều kiện thuận lợi và tương đối an toàn cho các văn nghệ sĩ nói trên hoạt động.

Tuy nhiên, sau năm 1975, chính quyền cách mạng đã không làm điều tương tự với các nhà văn khác của miền Nam. Trái lại, một số nhà văn miền Nam còn bị chính quyền mới áp bức cho đến chết, hoặc phải bỏ đất nước ra đi.

Nhà nước chiếm nhà in:

Từ 700 nhà in vào năm 1974, sau 30/4/1975, số nhà in lớn nhỏ chỉ tính riêng ở Sài Gòn đến kê khai với nhà nước là 932. Nhà nước đã chiếm dụng ngay lập tức những nhà in này, rồi tịch thu, tiến tới quốc hữu hóa tất cả các nhà in ở miền Nam.

Ngay sau 30/4/1975, chính quyền mới đã chiếm kho giấy, dùng các nhà in để in hàng loạt các ấn phẩm như 300.000 tờ báo đầu tiên của báo Sài Gòn Giải Phóng, in màu hai triệu tấm ảnh chân dung Hồ Chí Minh, in 7 triệu cuốn sách giáo khoa của miền Bắc chỉ trong 45 ngày, v.v.

Hai năm sau, số giấy trong kho ở miền Nam đã hết sạch, chính quyền thất bại trong việc nhập giấy từ nước ngoài. Việt Nam tập trung vào tự sản xuất giấy.

Tuy nhiên, nhiều sản phẩm xuất bản trong những năm 1980, 1990 dùng những loại giấy xấu hơn rất nhiều so với giấy in trước đó của miền Nam.

Những nhà in lớn được gộp lại thành các xí nghiệp công ty hợp doanh in từ số 1 đến số 7. Ví dụ như Xí nghiệp in số 1 gồm các nhà in mà nhà nước tịch thu như nhà in Tòng Bá, các cơ sở in Nam Đường, Huê Dương Ly Ky, Lương Hữu, Tân Đại Minh. Xí nghiệp in số 4 từ các nhà in đã tịch thu bao gồm Văn Hữu, Thanh niên, Trí Thức mới, Văn hóa Mỹ thuật. Các hộ in nhỏ khác được tập hợp lại rồi chia thành các xí nghiệp in tập thể từ số 1 đến số 10.

Các máy móc in ấn hiện đại nhất trên cả nước khi đó tập trung tại Sài Gòn đã được chính quyền chuyển về Hà Nội và các tỉnh, thành khác.

Sau 30/4/1975, ngành in trên cả nước đã bị nhà nước độc quyền kinh doanh, hoàn toàn kiểm soát. Không có in ấn tư nhân thì cũng không có xuất bản tư nhân.

Xuất bản tư nhân tuyệt chủng

Người dân miền Nam trước năm 1975 là những người sau cùng còn nhìn thấy, trải nghiệm việc xuất bản tư nhân trên đất nước Việt Nam.

Sau năm 1975, 180 nhà xuất bản, hầu hết là nhà xuất bản tư nhân của miền Nam đã bị chính quyền mới giải thể. Đến năm 1985, tổng số nhà xuất bản trên cả nước là 40.

Theo Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật, xuất bản tư nhân vẫn còn tồn tại sau năm 1954 ở miền Bắc, nhưng rất ít và hoạt động hạn chế, chủ yếu là các cơ sở in và buôn sách có từ thời Pháp thuộc. Xuất bản phục vụ sự phát triển của văn hóa cách mạng chiếm đa số.

Về mặt luật pháp, Sắc lệnh 003/SLT do Hồ Chí Minh ký năm 1957 vẫn thừa nhận xuất bản tư nhân, và cá nhân cũng có thể tự xuất bản tác phẩm.

Tuy nhiên, xuất bản tư nhân ở miền Bắc có lẽ đã teo tóp dần và đi vào ngõ cụt dưới bàn tay sắt của những người cộng sản. Điển hình như Nhà xuất bản Minh Đức đã xuất bản các tác phẩm của nhóm Nhân văn giai phẩm, bao gồm các trí thức nổi tiếng bị cầm tù, đàn áp vì chỉ trích nhà nước kiểm soát, chính trị hóa lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật.

Từ năm 1959, việc xuất bản đã bị chính trị hóa hoàn toàn. Nội dung xuất bản phải theo sát mục tiêu chính trị của đảng, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và lật đổ chính quyền miền Nam.

Từ năm 1993, chính quyền chính thức quy định rằng “nhà xuất bản là tổ chức thuộc cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội”, nói cách khác, nhà xuất bản phải thuộc hệ thống của nhà nước. Sau 30 năm, quy định này không có thay đổi nào đáng kể trong các lần sửa đổi luật về xuất bản.

Đến năm 2022, cả nước chỉ có 57 nhà xuất bản. Chính quyền vẫn dùng các cơ quan của nhà nước, tổ chức hội đoàn thuộc hệ thống của Mặt trận Tổ quốc để thành lập các nhà xuất bản. Việc này nhằm kiểm soát chặt chẽ quy trình bổ nhiệm nhân sự, định hướng hoạt động hay loại bỏ người đứng đầu các nhà xuất bản nếu không làm theo yêu cầu của chính quyền.

Một số nhà xuất bản hiện nay có xu hướng trở thành một cơ quan kiểm duyệt đơn thuần. Những nhà xuất bản này chịu trách nhiệm bán giấy phép xuất bản, kiểm duyệt tác phẩm của các công ty làm sách.

Từ sau ngày 30/4/1975, nền xuất bản tư nhân đã biến mất khỏi Việt Nam. Khí thế xuất bản sôi nổi một thời của Việt Nam Cộng hòa vẫn chưa thể phục hồi. Nỗi sợ hãi của chính quyền về xuất bản tư nhân đã tạo thành nhiều rào cản ngăn cấm người dân thưởng thức những tác phẩm đa dạng, nhốt tư tưởng người viết vào trong những chiếc lồng ý thức hệ và kéo lùi nền tri thức của cả đất nước.

Nguyễn Hạnh 


 

CÁI CHẾT KHÔNG ĐÁNG SỢ… ĐÁNG SỢ NHẤT LÀ CHƯA TỪNG THẬT SỰ SỐNG

Pham Kỳlam

 CÁI CHẾT KHÔNG ĐÁNG SỢ… ĐÁNG SỢ NHẤT LÀ CHƯA TỪNG THẬT SỰ SỐNG

Con người có một ảo tưởng rất kỳ lạ.

Chúng ta sống như thể mình sẽ không bao giờ chết.

Mỗi sáng thức dậy, ta tất bật với công việc, tiền bạc, những cuộc hơn thua, những nỗi lo chưa bao giờ dứt. Ta tính chuyện mười năm sau, hai mươi năm sau, gom góp từng đồng, tranh giành từng cơ hội, giữ chặt từng thứ mà mình cho là quan trọng.

Ta cư xử như thể thời gian là vô tận.

Nhưng rồi một ngày, cái chết gõ cửa.

Không báo trước.

Không hẹn giờ.

Không cho thêm cơ hội.

Và lúc ấy, rất nhiều người mới giật mình nhận ra rằng họ đã chuẩn bị cho mọi thứ trong cuộc đời… trừ việc thật sự sống.

Hãy thử bước qua một nghĩa trang vào buổi chiều muộn.

Ở đó có người từng giàu có đến mức chỉ cần một cú điện thoại là tiền bạc đổ về như nước.

Ở đó có người từng quyền lực, đi tới đâu cũng có người cúi đầu kính nể.

Ở đó có người từng nổi tiếng, được tung hô, ca tụng, ngưỡng mộ.

Ở đó cũng có những người cả đời lam lũ, đổ mồ hôi để nuôi gia đình, chịu đựng bao nhọc nhằn mà chẳng mấy ai biết tới.

Nhưng cuối cùng, tất cả đều nằm xuống trong im lặng.

Hai bàn tay trắng.

Không ai mang theo được két sắt đầy tiền.

Không ai ôm được chức vụ.

Không ai giữ được những lời tâng bốc.

Không ai kéo theo được căn nhà, chiếc xe, những tấm bằng khen hay ánh mắt ngưỡng mộ của người đời.

Cái chết có một vẻ đẹp rất lạ.

Nó lấy đi mọi thứ giả tạo.

Nó xóa sạch mọi vai diễn.

Nó bóc hết những lớp son phấn mà con người đã mất cả đời để tô vẽ.

Và sau tất cả, chỉ còn lại sự thật.

Sự thật là bạn chưa bao giờ thật sự là thân thể này.

Thân thể chỉ là căn nhà tạm mà bạn thuê ở vài chục năm.

Nó sẽ già đi, mệt mỏi, bệnh tật, rồi một ngày trả lại cho đất.

Nhưng vì quá mải mê chăm chút cho căn nhà ấy, bạn quên mất người đang sống bên trong.

Bạn đầu tư cho ngoại hình.

Bạn tích lũy tài sản.

Bạn lo lắng người khác nghĩ gì về mình.

Bạn cố chứng minh giá trị bằng địa vị, bằng tiền bạc, bằng sự công nhận.

Nhưng đã bao lâu rồi bạn chưa ngồi yên và tự hỏi:

“Rốt cuộc, mình là ai?

Nếu chưa từng biết mình là ai, bạn sẽ rất sợ cái chết.

Bởi bạn nghĩ rằng khi thân xác này biến mất thì tất cả cũng kết thúc.

Nhưng người đã thật sự đi sâu vào bên trong sẽ hiểu rằng cái chết không phải là sự chấm dứt.

Nó chỉ là một sự chuyển tiếp.

Giống như mặt trời lặn ở phía này để mọc lên ở phía khác.

Giống như chiếc lá rơi xuống đất để trở thành dưỡng chất cho mầm cây mới.

Giống như dòng sông mất tên khi hòa vào đại dương, nhưng nước chưa từng biến mất.

Giống như ngọn lửa tắt ở cây nến này để bừng sáng ở một cây nến khác.

Thân xác có thể tan đi.

Hình dạng có thể đổi khác.

Nhưng sự sống chưa từng mất.

Điều đáng buồn nhất không phải là con người sẽ chết.

Điều đáng buồn nhất là rất nhiều người chưa bao giờ thật sự sống.

Họ chỉ tồn tại.

Họ chạy từ sáng đến tối.

Họ lo cơm áo gạo tiền.

Họ so sánh mình với người khác.

Họ ghen tị với thành công của người khác.

Họ sợ bị bỏ lại phía sau.

Họ tích cóp, phòng thủ, tranh đấu.

Nhưng họ chưa từng thật sự dừng lại để cảm nhận cuộc sống.

Chưa từng ngồi yên dưới một tán cây và lắng nghe tiếng gió.

Chưa từng nhìn hoàng hôn bằng cả trái tim.

Chưa từng nắm tay người mình yêu với sự hiện diện trọn vẹn.

Chưa từng biết ơn vì mình vẫn còn được hít thở.

Chưa từng cảm nhận sâu sắc rằng được sống đã là một phép màu.

Họ luôn nói:

“Để mai rồi sống.”

“Khi đủ tiền sẽ hạnh phúc.”

“Khi bớt bận sẽ dành thời gian cho gia đình.”

“Khi thành công rồi mới tận hưởng.”

Nhưng cuộc đời chưa bao giờ hứa với bất kỳ ai một chữ “mai”.

Có những người tối nay vẫn còn lên kế hoạch cho năm tới.

Nhưng sáng mai đã không còn thức dậy.

Và trong khoảnh khắc cuối cùng ấy, nhiều người mới cay đắng nhận ra rằng mình đã có gần như mọi thứ… trừ chính bản thân mình.

Họ sở hữu tài sản nhưng không sở hữu sự bình an.

Họ có nhiều mối quan hệ nhưng không có sự kết nối thật sự.

Họ được ngưỡng mộ nhưng chưa từng hiểu chính mình.

Họ sống giữa đám đông nhưng cô đơn trong tâm hồn.

Người tỉnh thức không sợ chết.

Không phải vì họ mạnh mẽ hơn.

Mà vì họ đã “chết” từ trước.

Họ đã chết khỏi lòng tham.

Chết khỏi sự kiêu ngạo.

Chết khỏi nhu cầu phải hơn người.

Chết khỏi nỗi ám ảnh được công nhận.

Chết khỏi cái tôi luôn muốn kiểm soát mọi thứ.

Khi cái giả tạo tan biến, con người thật bắt đầu xuất hiện.

Và khi đã chạm tới con người thật ấy, họ hiểu rằng chẳng có gì thật sự bị mất đi.

Vì thứ quan trọng nhất chưa từng phụ thuộc vào tiền bạc, địa vị hay thân xác.

Cho nên câu hỏi lớn nhất của đời người không phải là:

“Sau khi chết, ta sẽ đi đâu?”

Mà là:

“Ngay trong giây phút này, ta đã thật sự sống hay chưa?”

Bạn có đang sống hay chỉ đang tồn tại?

Bạn có đang tận hưởng hay chỉ đang chịu đựng?

Bạn có đang hiện diện hay vẫn mãi chạy theo những thứ bên ngoài?

Bạn có đang yêu thương thật lòng hay chỉ giữ các mối quan hệ vì lợi ích?

Bạn có đang biết ơn từng hơi thở hay xem sự sống là điều hiển nhiên?

Nếu hôm nay là ngày cuối cùng của cuộc đời, bạn sẽ cảm thấy thanh thản hay tiếc nuối?

Bạn sẽ mỉm cười vì đã sống trọn vẹn?

Hay sẽ đau lòng vì đã đánh đổi cả cuộc đời cho những thứ rồi cũng phải bỏ lại?

Cái chết không đáng sợ.

Điều đáng sợ nhất là đến lúc nhắm mắt, bạn mới nhận ra rằng mình chưa từng mở lòng để sống.

Chưa từng thật sự yêu.

Chưa từng thật sự hiện diện.

Chưa từng thật sự hiểu mình.

Chưa từng thật sự cảm nhận phép màu của sự tồn tại.

Người biết sống sâu sắc sẽ biết buông bỏ nhẹ nhàng.

Người biết trân trọng từng khoảnh khắc sẽ không hoảng loạn khi thời gian kết thúc.

Người đã chạm tới sự bình an bên trong sẽ bước qua cánh cửa cuối cùng với một nụ cười.

Và khi đó, cái chết không còn là dấu chấm hết.

Nó chỉ là sự trở về.

Trở về với sự tĩnh lặng.

Trở về với bình an.

Trở về với điều thiêng liêng mà từ lâu ta đã quên mất.

Vì thế, kể từ hôm nay, đừng sống như thể mình bất tử.

Hãy sống như thể đây là ngày quý giá nhất mà bạn từng có.

Yêu sâu hơn.

Biết ơn nhiều hơn.

Tha thứ sớm hơn.

Hiện diện trọn vẹn hơn.

Và sống thật với chính mình hơn.

Để đến một ngày khi cái chết gõ cửa, bạn có thể mỉm cười và nói:

“Tôi không tiếc nữa. Tôi đã thật sự sống.”

      FB Nguyễn thành Công

#ngam #baihoccuocsong #thuctinh #binhan #ntc  


 

TÂM SỰ CUỐI ĐỜI – Tác giả: Phùng Văn Phụng

Tác giả: Phùng Văn Phụng 

– Có những chia ly… chưa kịp chuẩn bị đã không còn gặp lại.

– Có những cuộc tình… chưa chạm hạnh phúc đã cảm nhận niềm đau.

– Có những lời hứa… chưa kịp thực hiện đã không còn cơ hội.

– Có những quyết định… chưa kịp đưa ra đã không còn giá trị.

Có những lỗi lầm… chưa kịp sửa chữa đã quá muộn màng.

– Có những sự việc… chưa kịp buông bỏ đã không còn tồn tại.

– Có những chân lý diệu huyền, chưa một lần tỏ ngộ đã tắt nắng hoàng hôn.

Thời gian, vốn dĩ là không dừng lại và cơ hội chỉ đến vào một thời điểm nhất định. Ai người tỉnh thức thì sẽ nắm lấy, không để cuộc đời của mình là những chuỗi ngày chìm trong nuối tiếc mênh mang.

    – “Khi còn khỏe mạnh, ai cũng nghĩ rằng ngày tháng còn dài, cơ hội tương phùng không thiếu. Nhưng ai biết chăng đời người như ánh chớp giữa hư không, nhân sinh vốn là cơn ảo mộng.  

– Ngày đi, tháng chạy, năm bay

Thời gian nước chảy, chẳng quay được về.

Sưu Tầm trên NET từ bài “Những suy ngẫm cuối đời”

Nguồn:  dominhtam9238 & NguyenNThu

*****

 Trong tháng 12 năm rồi và tháng 01 năm nay 2024, đã có ba người bạn của tôi ra đi là bà Lê t Bích Th. vợ của anh Hoà, cùng quê Chợ Núi (Cần Giuộc), Lê Đình Th. và Nguyễn Thi B. là khách hàng mua bảo hiểm của tôi, đã ra đi.

Cũng tháng trước có chị Nhân gọi lại cho biết anh Chu, chồng chị đã nằm nhà thương ba tháng qua vì bị bịnh mất trí nhớ (Alzheimer) còn riêng chị bị “stroke”. Anh nhỏ hơn tôi một tuổi, còn chị nhỏ hơn tôi vài tuổi. Hiện tại hai vợ chồng lo cho nhau, còn các con đã có nhà riêng hết.

*****

Có lẽ già rồi, lớn tuổi rồi thích nói về sự chết, để thường xuyên nhắc nhở, chuẩn bị cho cái chết của chính mình.

Thời gian qua mau, phút chốc đã già. Đời người như bóng câu qua cửa sổ.  

Thời gian, sức khỏe, tài năng là do Thiên Chúa ban cho. Ngày lại ngày, làm sao xử dụng được hết tất cả những ân huệ, ân sủng của Chúa ban?

*****

Những năm đói khổ ở Lào Cai, Vĩnh Phú, Hà Nam Ninh đã qua. Làm sao quên được thời gian chịu đựng đói khổ triền miên năm này sang năm khác. Một bữa ăn bánh mì trộn than đá ở Lào Cai khoảng năm 1977, vừa ăn vào đã vội nhả ra vì nhai không được. Hôm ấy nhà bếp thu hồi lại, nấu thành cháo cho tù nhân ăn. Đã đói thường xuyên, bữa đó uống nước cháo cầm hơi, càng đói nhiều hơn nữa.’ 

Năm 1979 trời mùa hè nắng gay gắt như đổ lửa, tôi gánh hai thùng nước để tưới rau. Tôi gánh mỗi bên một phần ba thùng nước. Cán bộ quản giáo kêu tôi đến hỏi:

-Sao anh gánh nước chỉ một phần ba thùng như vậy?

-Tôi nói: “Sức tôi chỉ gánh được một phần ba thùng. Cán bộ đến rờ ngực tôi, xem tim tôi đang nhảy, tôi mệt quá rồi, tôi không gánh nhiều nổi. Không biết tôi còn sống được bao lâu nữa.”

Anh bạn là sinh viên năm thứ hai y khoa, coi phòng y tế của trại tù, khám tim tôi và cho rằng tôi bị bịnh tim. Sức khoẻ của tôi lúc đó đang suy sụp trầm trọng. Lúc nào cũng quá mệt, làm như bị kiệt sức. Mấy tháng trời bị cảm liên miên không dứt.

Tôi cứ đinh ninh rằng tôi sẽ bỏ xác ở trong lao tù cộng sản chứ không có hy vọng ngày về. Anh Quế là giáo sư trung học, người Quảng Nam, thanh tra trung học, anh đi cải tạo vì là thành viên đảng dân chủ. Một đêm kia người bạn nằm kế bên anh giữa đêm khuya la lên rằng “anh Quế đã chết rồi”. Anh Quế chết vì kiệt sức do bị đói và do lao động quá sức. Cứ vài ngày, anh em đóng hòm, đem ra bìa rừng, chôn các bạn tù ở trong trại.

Cha mẹ, vợ con không bao giờ biết được người thân của mình đã mất.

*****

  Cuối năm 1982, tại trại K4 Tân Lập, Vĩnh Phú, tất cả các tù nhân được sắp hàng theo đội, ngồi trong sân của trại.

Cán bộ gọi tên một số được thả về trong dịp tết cuối năm 1982 còn một số chuyển qua trại Hà Nam Ninh. Lúc đó anh em tù nhân chú ý đến hồ sơ cán bộ cầm trên tay. Hồ sơ mỏng và hồ sơ dày. Hồ sơ mỏng được thả về hay chuyển qua trại Hà Nam Ninh và được thả về sau Tết. Còn những người có hồ sơ dày được chuyển về Hàm Tân trong nam. Tôi còn nhớ có anh?- tôi quên tên-, dầu có hồ sơ mỏng, nghĩa là sẽ được thả về nhưng anh ấy đã thất vọng, không tin mình được về nên đã vô rừng, treo cổ tự tử chết.

Tôi được thả về vào tháng 02 năm 1983 sau Tết âm lịch.

*****

Steve Jobs từng từ chối phẫu thuật trị ung thư

Steve Jobs qua đời vì căn bệnh ung thư tuyến tụy. Cuộc sống của ông có thể đã được kéo dài nếu nhà đồng sáng lập Apple chọn cách điều trị khác.

Ngày 5/10/2011, Steve Jobs qua đời ở tuổi 56 sau thời gian chiến đấu với căn bệnh ung thư tuyến tụy.

Phone 4 là thiết bị cuối cùng mà Steve Jobs giới thiệu. Ảnh: Wikimedia Commons.

Thời gian qua mau sức lực, sức khoẻ dành cho việc kiếm tiền chiếm hết thì giờ, thiếu thời gian đọc sách tâm linh, suy tư về sự sống và sự chết.

Thoát một chớp mắt đã quá già để có thể làm một cái gì đó cho gia đình, cho đất nước.

*****

Ôn lại cuộc đời đã qua, nhiều món nợ ân tình không bao giờ trả được.   

 Trong một bài báo: “Người công giáo với bệnh ung thư” tác giả là Vũ Duy Ty viết phần kết luận như sau: “Giờ đây bệnh ung thư không làm chúng ta phải lo sợ, buồn chán nữa. Những người bị bịnh ung thư không phải là những người “chết tươi ăn năn tội chẳng kịp”. Hãy vui lên, hãy nở nụ cười trên môi và miệng lưỡi hãy ca tụng Chúa nếu mình mắc bịnh ung thư, vì với con mắt đức tin của người Công Giáo bệnh ung thư chính là một ân huệ Chúa ban.

Thân xác hiện tại của mỗi người chúng ta có thể tồn tại 100 năm (rất hiếm), chắc chắn là chúng ta phải chết, đó là quy luật tất yếu của sinh mệnh con người, chết là thể phách còn là tinh anh (truyện Kiều) vậy phần còn lại sau khi chết là gì? Chính là linh hồn của chúng ta.

Linh hồn của chúng ta sẽ được hưởng hạnh phúc đời đời nếu chúng ta làm nhiều việc lành, phúc đức, yêu mến Chúa và yêu mến tha nhân, Thiên Chúa sẽ cho chúng ta sống lại trong ngày sau hết.

Tác giả: Phùng Văn Phụng

tháng 01/2024


 

HỘI CHỨNG TỈNH THỨC TRONG LÒNG NƯỚC MỸ TRƯỚC HIỆN TƯỢNG DONALD TRUMP

Hoai Linh Ngoc Duong

 HỘI CHỨNG TỈNH THỨC TRONG LÒNG NƯỚC MỸ TRƯỚC HIỆN TƯỢNG DONALD TRUMP

Nước Mỹ năm 2026 không chỉ bị chia rẽ bởi đảng phái hay những cuộc bầu cử thông thường.

Điều đang diễn ra sâu bên dưới đời sống chính trị Mỹ là một cuộc nội chiến văn hóa âm thầm nhưng dữ dội, nơi người Mỹ tranh cãi không chỉ về ai sẽ lãnh đạo quốc gia mà còn về việc nước Mỹ là ai, lịch sử của nước Mỹ phải được kể như thế nào, và đâu là chuẩn mực đạo đức mới của xã hội hiện đại.

Trong trung tâm của cơn bão ấy là hai hiện tượng đối nghịch: “Woke Culture” – văn hóa tỉnh thức cấp tiến – và Donald Trump, biểu tượng của cuộc phản kháng bảo thủ mang tên MAGA.

Điều đáng chú ý là cả hai hiện tượng này đều không xuất hiện từ khoảng trống lịch sử.

Chúng là sản phẩm của những khủng hoảng kéo dài nhiều thập niên trong xã hội Mỹ: bất bình đẳng chủng tộc, toàn cầu hóa làm tan rã tầng lớp lao động da trắng, khủng hoảng nhập cư, sự mất niềm tin vào truyền thông truyền thống, sự suy giảm vai trò của tôn giáo, và cảm giác rằng nước Mỹ đang đánh mất bản sắc lịch sử của mình.

Chính trong môi trường ấy, “woke” và Trump trở thành hai phản ứng đối nghịch của cùng một xã hội đang rạn nứt.

Ban đầu, từ “woke” trong cộng đồng người Mỹ gốc Phi chỉ đơn giản mang nghĩa “hãy thức tỉnh”, hãy cảnh giác trước sự bất công, kỳ thị và bạo lực chủng tộc. Nó từng là lời kêu gọi đạo đức mang tính nhân văn.

Nhưng theo thời gian, đặc biệt sau các phong trào như Black Lives Matter, MeToo hay các cuộc đấu tranh về quyền LGBTQ+, khái niệm này dần mở rộng thành một hệ tư tưởng xã hội toàn diện. “Wokeness” không chỉ chống phân biệt chủng tộc mà còn đặt lại vấn đề về giới tính, lịch sử thực dân, đặc quyền của người da trắng, ngôn ngữ, văn hóa đại chúng và cấu trúc quyền lực trong xã hội Mỹ.

Trong mắt những người ủng hộ, đây là một tiến trình văn minh tất yếu của nhân loại. Họ cho rằng nước Mỹ không thể tự nhận là ngọn hải đăng dân chủ nếu vẫn tồn tại kỳ thị chủng tộc, bất công giới tính hay sự loại trừ các cộng đồng thiểu số.

Các chương trình DEI – Diversity, Equity and Inclusion – được xây dựng với mục tiêu tạo ra cơ hội công bằng hơn cho những nhóm từng bị thiệt thòi trong lịch sử. Các trường đại học, công ty lớn và cơ quan chính phủ bắt đầu tái cấu trúc theo hướng “bao trùm” hơn.

Nhưng chính tại điểm này, một phản ứng dữ dội từ phe bảo thủ xuất hiện. Với hàng chục triệu người Mỹ, đặc biệt tại các bang miền Nam và Trung Tây, “woke culture” không còn là phong trào đòi công lý mà đã biến thành một dạng đạo đức cưỡng ép mới.

Họ cảm thấy mình bị buộc phải nói đúng ngôn ngữ chính trị, phải chấp nhận những định nghĩa mới về giới tính, chủng tộc và lịch sử, nếu không sẽ bị “cancel” – bị tẩy chay, mất việc, bị bêu riếu trên mạng xã hội hay bị loại khỏi đời sống công cộng.

Từ đây, Donald Trump nổi lên không chỉ như một chính trị gia mà như biểu tượng của một cuộc nổi dậy văn hóa chống lại tầng lớp tinh hoa cấp tiến. Trump hiểu rất rõ rằng phần lớn cử tri MAGA không đọc các học thuyết chính trị phức tạp.

Điều họ cảm nhận là nỗi bất an: nước Mỹ quen thuộc của họ đang biến mất. Những bức tượng lịch sử bị kéo đổ. Các khái niệm giới tính truyền thống bị thách thức.

Những giá trị tôn giáo bảo thủ bị xem là lạc hậu. Người da trắng thuộc tầng lớp lao động cảm thấy mình bị coi như “kẻ có tội lịch sử” chỉ vì màu da và nguồn gốc của mình.

Trump đã khai thác tâm lý đó bằng một thứ ngôn ngữ trực diện và đầy cảm xúc. Trump không tranh luận theo kiểu học thuật mà biến “woke” thành một kẻ thù văn hóa. Trong các bài diễn văn, Trump gọi “wokeness” là “độc dược”, là “căn bệnh phá hủy nước Mỹ từ bên trong”.

Trump hứa sẽ “giải cứu nước Mỹ khỏi chủ nghĩa thức tỉnh cực đoan”, khôi phục “giá trị truyền thống”, “lòng yêu nước” và một xã hội dựa trên năng lực thay vì bản sắc.

Chính quyền Trump trong nhiệm kỳ mới đã biến cuộc chiến chống woke thành chính sách quốc gia. Các chương trình DEI trong cơ quan liên bang bị cắt giảm hoặc bãi bỏ. Việc giảng dạy lý thuyết chủng tộc phê phán (Critical Race Theory – CRT) trong trường công bị hạn chế.

Những tranh luận về người chuyển giới trong thể thao, giáo dục và quân đội trở thành chiến tuyến chính trị nóng bỏng. Đối với phe MAGA, đây là cuộc chiến nhằm “giành lại nước Mỹ”.

Nhưng đối với phe cấp tiến, đó là dấu hiệu của một cuộc phản công nhằm xóa bỏ thành quả đấu tranh dân quyền nhiều thập niên.

Điều đáng sợ nhất không nằm ở bất đồng chính sách mà nằm ở sự tan vỡ của khả năng đối thoại. Người Mỹ ngày càng không chỉ bất đồng mà còn xem nhau như mối đe dọa đạo đức.

Phe cấp tiến coi Trump là biểu tượng của chủ nghĩa dân túy cực hữu, chủ nghĩa dân tộc da trắng và xu hướng độc tài. Trong khi đó, phe MAGA lại xem giới “woke” như lực lượng phá hoại truyền thống, chống tôn giáo, chống gia đình và đang “tẩy não” trẻ em thông qua giáo dục và truyền thông.

Hai bên không còn chia sẻ cùng một hệ quy chiếu về sự thật. Một bên tin rằng Trump là hiểm họa đối với nền dân chủ Mỹ. Bên kia tin rằng chính giới tinh hoa cấp tiến mới là những kẻ đang thao túng thể chế để áp đặt tư tưởng.

Từ đó xuất hiện các hiện tượng cực đoan về tâm lý chính trị. Người chống Trump bị phe MAGA chế giễu bằng khái niệm “Trump Derangement Syndrome” – như thể họ bị ám ảnh bệnh lý bởi Trump.

Ngược lại, nhiều nhà nghiên cứu xã hội học lại mô tả phong trào MAGA như một dạng trung thành mang màu sắc giáo phái chính trị, nơi Trump không còn là một chính trị gia bình thường mà trở thành biểu tượng cứu rỗi văn hóa.

Hậu quả là toàn bộ đời sống Mỹ bị chính trị hóa đến cực độ. Trường học trở thành chiến trường tư tưởng. Thư viện bị tranh cãi vì những cuốn sách liên quan đến giới tính và chủng tộc.

Các tập đoàn lớn rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan: duy trì DEI để giữ hình ảnh tiến bộ với giới trẻ hay loại bỏ nó để tránh sự tẩy chay từ phe bảo thủ. Ngay cả Disney, Harvard hay các hãng công nghệ lớn cũng bị kéo vào cuộc chiến văn hóa chưa từng có trong lịch sử hiện đại Mỹ.

Điều nghịch lý là cả hai phía đều tự xem mình là lực lượng “giải cứu nước Mỹ”. Phe woke tin rằng họ đang mở rộng tự do và công bằng cho mọi cộng đồng bị áp bức.

Phe MAGA lại tin rằng họ đang bảo vệ linh hồn truyền thống của quốc gia trước sự suy đồi văn hóa. Nhưng khi cả hai cùng tuyệt đối hóa chân lý của mình, xã hội sẽ mất đi vùng xám của đối thoại và thỏa hiệp – vốn là nền tảng của nền dân chủ Mỹ suốt hơn hai thế kỷ.

Hiện tượng Donald Trump vì thế không thể chỉ được giải thích như sự nổi lên của một cá nhân. Trump là phản ứng tập thể của hàng chục triệu người Mỹ trước nỗi sợ bị đánh mất bản sắc trong thời đại toàn cầu hóa và cách mạng văn hóa cấp tiến.

Còn “wokeness” cũng không đơn thuần là một “căn bệnh”, mà phản ánh khát vọng sửa chữa những bất công lịch sử tồn tại rất lâu trong xã hội Mỹ. Bi kịch của nước Mỹ nằm ở chỗ hai phản ứng ấy ngày càng cực đoan hóa lẫn nhau.

Nước Mỹ từng vượt qua Nội chiến, khủng hoảng kinh tế và cả chiến tranh lạnh vì người Mỹ cuối cùng vẫn còn khả năng chia sẻ một bản sắc quốc gia chung.

Nhưng cuộc chiến văn hóa hiện nay nguy hiểm hơn ở chỗ nó đánh thẳng vào chính khái niệm “người Mỹ là ai”. Khi một quốc gia không còn đồng thuận về lịch sử, đạo đức và căn tính của chính mình, sự chia rẽ sẽ không còn chỉ nằm trong chính trường mà sẽ ăn sâu vào từng gia đình, trường học và đời sống thường nhật.

Có lẽ vì thế mà hiện tượng Donald Trump không phải nguyên nhân duy nhất của cuộc khủng hoảng này.

Ông ta chỉ là tấm gương phản chiếu một nước Mỹ đang thức tỉnh theo hai hướng ngược nhau: một bên muốn thay đổi để trở nên cấp tiến hơn, một bên muốn quay trở lại với những giá trị truyền thống mà họ tin rằng đã làm nên sức mạnh của nước Mỹ.

Và chính cuộc “tỉnh thức ngược” ấy đang tái định hình toàn bộ nền văn hóa và chính trị Hoa Kỳ trong thế kỷ XXI. 


 

Tuổi Già Được Và Mất Gì?

Bang Uong

 Tuổi Già Được Và Mất Gì?

Nói về tuổi già người ta vẫn cho rằng : Tuổi già là tuổi “xế chiều”, chỉ toàn mất mát. Nhưng đi hết một vòng đời ta mới thấy: cái gì cũng có hai mặt. Già, là lúc ta mất nhiều, nhưng cũng được không ít.

Cái “mất” của tuổi già

Mất đầu tiên và rõ nhất là sức khỏe. Mắt mờ, chân chậm, đêm nằm nghe xương khớp lục cục nhói đau khi trở mình. Những bậc thang ngày xưa bước hai bậc một, giờ vịn tay mới qua. Mất sức, kéo theo mất tự do. Muốn đi xa phải tính, muốn ăn ngon phải kiêng.

Mất thứ hai là vai trò trong gia đình. Ngày trước là trụ cột, lời nói có người nghe, đe có người sợ. Về già, con cháu lớn, chúng có thế giới riêng. Họp gia đình, ý mình thành ý tham khảo. Từ “người quyết định” thành “người kể chuyện “cũ” ” chuyện xưa “.

Mất thứ babạn bè. Mỗi năm thưa dần một chỗ ngồi cà phê sáng. Đám tang nhiều hơn đám cưới. Điện thoại ít reo, danh bạ nhiều số không còn người nghe máy…

Mất sau cùng là thời gian. Biết chắc quỹ thời gian không còn dài. Mỗi ngày qua đi mang theo một nỗi buồn chênh chao. Mỗi tờ lịch xé đi là một lần giật mình.

Cái “được” của tuổi già

Nhưng cũng chính ở tuổi già, ta được thứ mà tuổi trẻ không có…

Ta thảnh thơi với chính mình không còn phải gồng mình với ai. Ta chẳng cần phải “diễn” Ta được sống thật, nói thật, làm thật mệt thì nghỉ, không vui thì không làm, không gượng ép. Cái quyền “không diễn” ấy tuổi trẻ làm sao có được ?

Sáng ra ta muốn dậy sớm ngắm bình minh vận động thể dục,tắm nắng chiều muốn ngủ vùi… chẳng ai phán xét.

Được hiểu mình. Trẻ thì chạy theo thiên hạ, già rồi mới biết mình thích chén trà đặc, thích bản nhạc xưa, thích ngồi yên không làm gì. Hiểu mình rồi, mới sống cho mình.

Được quyền nhớ và quyền quên. Nhớ chuyện năm 20 tuổi rõ như hôm qua, quên chuyện bực mình hôm kia. Nhớ dai kỷ niệm đẹp, quên nhanh hờn giận. Đó là món quà của trí nhớ già: nó tự lọc.

Được nhìn đời bằng con mắt nhẹ. Tranh hơn thua làm gì, khi cuối cùng ai cũng về với đất. Thấy con cãi nhau, chỉ cười: “Ngày xưa ba mẹ cũng vậy”. Thấy cháu vấp ngã, không hốt hoảng: “Đứng dậy, đi tiếp là được”. Bình thản đó, phải trả bằng cả đời mới mua nổi.

Được thương theo cách khác. Trẻ thương bằng chiếm hữu, già thương bằng buông tay. Thương con là để nó bay, thương cháu là kể chuyện ngày xưa rồi lẳng lặng nhìn nó lớn. Không giữ, nên không mất.

Được – mất, suy cho cùng là một

Ngẫm kỹ, cái mất hôm nay là cái được hôm qua. Mất sức trẻ, được thời gian chiêm nghiệm. Mất vai trò trụ cột, được làm người quan sát. Mất bạn, được hiểu vô thường. Mất thời gian dài, được biết quý từng ngày ngắn.

Tuổi già như mùa đông. Cây rụng lá, trơ cành, trông như mất hết. Nhưng trong thân gỗ đang ủ nhựa cho mùa sau. Người già rụng đi ham muốn, rụng đi sân si, chỉ còn lõi người: hiền, và thật.

Vậy nên, nếu phải chọn, đừng hỏi già “được gì, mất gì”. Hãy hỏi: “Thứ mình mất, có đáng để đổi lấy thứ mình được không?”

Với nhiều người, câu trả lời là: đáng. Đáng lắm. Vì cuối cùng, được bình yên trong lòng, là cái được lớn nhất. Mà bình yên, trẻ mấy ai có.

Tuổi già không phải đoạn kết buồn. Nó là chương cuối, viết chậm, chữ thưa, nhưng mỗi chữ đều rất nặng.

Phạm Quốc Hùng 


 

TIẾNG “DẠ” THÂN THƯƠNG

Xuyên Sơn

 

TIẾNG “DẠ” THÂN THƯƠNG

Nghe tiếng “Dạ” sao mà thương đến lạ. Người Sài Gòn nói riêng và miền Nam nói chung, có thói quen dùng từ “dạ” khi nói chuyện, khác với người miền Bắc lại dùng từ “vâng”.

Để ý sẽ thấy ít có người Sài Gòn nào nói từ “vâng”.

Khi có ai gọi, một người Sài Gòn nói “vâng!” là trong dáng dấp của câu nói đó có giọng đùa, cười cợt.

Khi nói chuyện với người lớn hơn mình, người dưới thường đệm từ “dạ” vào mỗi câu nói:

”Mày ăn cơm chưa con ?

– Dạ, chưa!”

“Mới dìa/dzề hả nhóc?

– Dạ, con mới!”…

Cái tiếng “dạ” đó, không biết sao trong cảm giác nghe của một người Sài Gòn với một người Sài Gòn thấy nó “thương” lạ…dễ chịu mà gần gũi, nhẹ nhàng mà tình cảm lắm lắm.

Cảm giác nó thật riêng so với những nơi khác.

Nghe một tiếng “dạ” là biết ngay tên này là dân miền Nam cái đã rồi hẵng hay…

Một người miền khác, có thể là Bắc hoặc Trung, diễn tả một khoảng thời gian ngắn vài ngày thì nói:

“Từ bữa đó đến bữa nay”, còn người Sài Gòn thì nói:

“Hổm rày”, “dạo này”…

Người khác nghe sẽ không hiểu, vì nói chi mà ngắn gọn ghê.

(Lại phát hiện thêm một điều là người Sài Gòn hay dùng từ “ghê” phía sau câu nói để diễn tả một sắc thái tình cảm riêng.

Tiếng “ghê” đó chẳng hàm ý gì nhiều, nó mang ý nghĩa là “nhiều” là “lắm”.

Nói ”Nhỏ đó xinh ghê!”, nghĩa là khen cô bé đó xinh lắm vậy.

Lại so sánh từ “hổm nay” với “hổm rày” hay nghe ở các vùng quê Nam Bộ, cũng một ý nghĩa như nhau, nhưng lại không hoàn toàn giống nhau.

Nghe người Sài Gòn dùng một số từ “hổm rày, miết…” là người Sài Gòn bắt chước người miền sông nước vậy.

Nhưng nghe vẫn không trái tai, không cảm thấy gượng,

vì trong người Sài Gòn vẫn còn cái chất miền Nam chung mà.

Nghe một đứa con trai Sài Gòn nói về đứa bạn gái nào đó của mình xem… “Nhỏ đó dễ thương ghê!”,

“Nhỏ đó ngoan!”…

Tiếng “nhỏ” mang ý nghĩa như tiếng “cái” của người Hà Nội.

Người Sài Gòn gọi “nhỏ Thuý, nhỏ Lý, nhỏ Uyên” thì cũng như

“cái Thuý, cái Uyên, cái Lý” của người Hà Nội thôi.

Nói một ai đó chậm chạp, người Sài Gòn kêu

“Thằng đó làm gì mà cứ cà rề cà rề… nhìn phát bực!”

Nghe cứ như là đùa, chẳng làm câu nói nặng nề lắm.

Một người lớn hơn gọi:

“Ê, nhóc lại nói nghe!”

Hay gọi người bán hàng rong:

“Ê, cho chén chè nhiều nhiều tiền ít coi!”…

“Ê” là tiếng Sài Gòn đó, coi gọi trổng không vậy mà chẳng có ý gì đâu,

có thể nói đó là thói quen trong cách nói của người SàiGòn.

Mà người Sài Gòn cũng lạ, mua hàng gì đó, thường quên mất từ “bán”,

chỉ nói là:

“Cho chén chè, cho tô phở”…

“Cho” ở đây là mua đó nghen.

Nghe người Sài Gòn nói chuyện với nhau, thường bắt gặp thế này:

“Lấy cái tay ra coi!”

“Ngon làm thử coi!”

“Cho miếng coi!”

“Nói nghe coi!”…

“Làm thử” thì còn “coi” được, chứ “nói” thì làm sao mà “coi” cho được nè ?

Vậy mà người Sài Gòn lại nói, từ “coi”, cũng chỉ như là một từ đệm, dân Sài Gòn nói dzậy mà.

Ngồi mà nghe người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau thì quái lắm, lạ lắm,

không ít người sẽ hỏi:

“Mấy từ đó nghĩa là gì dzậy ta ?”

– Mà “dzậy ta” cũng là một thứ

“tiếng địa phương” của người Sài Gòn à.

Người Sài Gòn có thói quen hay nói:

“Sao kỳ dzậy ta?”

“Sao rồi ta?”

“Được hông ta?”…

Nghe như là hỏi chính mình vậy đó, mà…hổng phải dzậy đâu nghen,

kiểu như là nửa hỏi người, nửa đùa đùa vậy mà.

Tiếng Sài Gòn là thế đó, nếu bạn giả giọng Sài Gòn nói chuyện, dù có giống cách mấy mà bỏ quên mấy tiếng đệm, mấy tiếng Sài Gòn riêng riêng này thì đúng là…

“bạn hông biết gì hết chơn hết chọi!” Mà giọng Sài Gòn đã thế, cách người Sài Gòn xưng hô, gọi nhau cũng có phần mang “màu sắc” riêng.

Người Sài Gòn có cái kiểu gọi “Mày” xưng “Tao” rất “ngọt”.

Một vài lần gặp nhau, nói chuyện ý hợp tâm đầu một cái là người Saigon mày tao liền.

Nếu đúng là dân Sài Gòn, hiểu người Sài Gòn, yêu người Sài Gòn sẽ thấy cách xưng hô ấy chẳng những không có gì là thô mà còn rất ư là thân thiện và gần gũi.

Mày-tao là kiểu xưng hô hay thấy trong mối quan hệ bạn bè của người Sài Gòn.

Cách xưng hô này thấy dàn trải từ đủ các mối quan hệ bạn bè; từ bạn học giữa mấy đứa nhóc chút xíu,cho đến mấy bác mấy anh lớn lớn tuổi.

Hổng biết cái máu dân Sài Gòn nó chảy mạnh quá hay sao mà thấy mấy cách gọi này nó… tự nhiên và dễ nói hơn là mấy từ như “cậu cậu – tớ tớ” của miền Bắc.

Nói chuyện bạn bè với nhau, thân thiết mà gọi mấy tiếng mày mày tao tao thì nghe thật sướng, thật thoải mái tự nhiên, và khoai khoái làm sao ấy.

Gọi thế thì mới thiệt là dân Sài Gòn.

Đấy là ngang hàng, ngang vai vế mà gọi nhau, chứ còn như đám nho nhỏ mà gặp người lớn tuổi hơn, đáng bậc cha, chú thì khác.

Khi ấy “tụi nhỏ” sẽ gọi là chú, thím, cô, dì, hay bác và xưng “con” ngọt xớt.

Có vẻ như người Sài Gòn “ưa” tiếng chú, thím, dì, cô hơn;

cũng như đa phần dân miền Nam khác vậy mà.

Mà có lẽ cách gọi này cũng còn tuỳ vào việc ước lượng tuổi của người đối diện.

Gặp một người phụ nữ mà mình nhắm chừng tuổi nhỏ hơn mẹ mình ở nhà thì:

“Dì ơi dì…cho con hỏi chút…!” –

Còn lớn hơn thì dĩ nhiên là “Bác ơi bác…” rồi.

Những tiếng mợ, thím, cậu,… cũng tuỳ vào vai vế và người đối diện mà gọi.

Có người chẳng bà con thân thuộc gì, nhưng là bạn của ba mình, lại nhỏ tuổi hơn, thế là gọi là chú và vợ của chú đó cứ thế gọi luôn là thím.

Gọi thì gọi thế, còn xưng thì xưng “con” chứ không phải “cháu cháu” như một số vùng khác.

Cái tiếng “con” cất lên nó tạo cho người nghe cảm giác khoảng cách giữa mình với đứa nhỏ đang nói kia tự dưng… gần xịt lại.

Nghe sao mà quen thuộc, và gần gũi đến lạ lùng.

Tự dưng là thấy có cảm tình liền.

Nói tiếp chuyện xưng hô, người Sài Gòn có kiểu gọi thế này :

Ông đó = Ổng

Bà đó = Bả

Dì đó = Dỉ

Anh đó = Ảnh

Chị đó = Chỉ

Cô đó = Cổ

Còn nữa:

Ở bên đó = Ở bển

Ở trong đó = Ở trỏng

Ở ngoài đó = Ở ngoải

Hôm đó = Hổm.

Nói chung, khi cần lược bỏ chữ “đó”, người ta chuyển thanh ngang hoặc thanh huyền thành thanh hỏi.

Không hiểu sao mà dấu hỏi tự nhiên cái trở nên giữ vai trò quan trọng…

ngộ nghĩnh dzậy nữa.

Nhưng mà kêu lên nghe hay hay đúng hông?

Gọi vậy mới đúng là chất

miền Nam – Sài Gòn á nghen.

Người Sài Gòn cũng có thói quen gọi các người trong họ theo… số.

Như anh Hai, chị Ba, thím Tư, cô Chín, dượng Bảy, mợ Năm…

Mà nếu anh chị em họ hàng đông đông, sợ gọi cùng là chị Hai, anh Ba mà hổng biết nói về ai thì dzậy nè, thêm tên người đó vào.

Thành ra có cách gọi:

Chị Hai Lý, chị Hai Uyên, anh Ba Long, anh Ba Hùng…

Thêm nữa, nếu mà anh chị em cùng nhà thì tiếng “anh-chị-em” đôi khi được…giản lược mất luôn, trở thành:

“Hai ơi Hai, em nói nghe nè…”

và “Gì dzạ Út ?”…

Tôi thích cách gọi này, đâm ra ở nhà gọi Dì Út tôi chỉ là một tiếng Út gọn lỏn.

Có chuyện nhờ là cứ “Út ơi…con nhờ chút!” hoặc với mấy chị tôi thì

“Hai ơi Hai… em nói nghe nè!”.

Cách gọi này của người Sài Gòn nhiều khi làm người miền khác nghe hơi… rối.

Cách xưng hô của người Sài Gòn là vậy.

Nghe là thấy đặc trưng của cả một mảnh đất miền Nam sông nước.

Cứ thế, không sang trọng, điệu đà như giọng người dân đất Bắc,

cũng chẳng trầm lắng, thanh thanh như tiếng Huế Kinh Thành, cái giọng Sài Gòn đi vào tai, vào lòng, vào cách cảm, và nỗi nhớ nhung của người Sài Gòn lẫn dân miền khác bằng sự ngọt ngào của sông nước miền Nam, bằng cái chân chất thật thà của truyền thống xa xưa,

và bằng cả cái “chất Sài Gòn” chảy mạnh trong từng mạch máu người dân Sài Gòn.

Đi đâu, xa xa Sài Gòn, bỗng dưng nghe một tiếng “Dạ!” cùng những tiếng

“hen, nghen” lại thấy đất Sài Gòn như đang hiện ra trước mắt với những nhớ thương…

Tác giả : Quý Nguyễn 


 

Đức Thánh Cha ca ngợi Tây Ban Nha vì tiếp nhận con tàu có người nhiễm hantavirus

Tin Mừng Cho Người Nghèo

Đức Thánh Cha ca ngợi Tây Ban Nha vì tiếp nhận con tàu có người nhiễm hantavirus

Sau khi đọc kinh Lạy Nữ Vương (Regina Caeli) trưa Chúa Nhật, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã bất ngờ chuyển sang nói tiếng Tây Ban Nha để cám ơn người dân quần đảo Canary và bày tỏ niềm mong đợi được gặp họ trong chuyến viếng thăm vào tháng tới.

Đức Thánh Cha đặc biệt cám ơn người dân Tây Ban Nha vì đã đón nhận tàu du lịch “Hondius”, trên đó có hơn 100 hành khách từng tiếp xúc với virus hantavirus.

Hiện con tàu đang neo ngoài khơi đảo Tenerife thuộc quần đảo Canary – nơi Đức Thánh Cha sẽ đến thăm trong hơn một tháng nữa.

Ngài nói:

“Tôi muốn cám ơn người dân quần đảo Canary vì lòng hiếu khách đặc trưng của anh chị em trong việc đón nhận tàu du lịch ‘Hondius’ và các hành khách bị nhiễm hantavirus. Tôi mong được gặp tất cả anh chị em vào tháng tới trong chuyến viếng thăm quần đảo.”

Tổng Giám đốc Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ông Tedros Adhanom Ghebreyesus, hiện cũng có mặt tại Tenerife để hỗ trợ chiến dịch đưa toàn bộ hành khách rời khỏi tàu và trở về quê hương để cách ly.

Ông ca ngợi chính quyền Tây Ban Nha vì “phản ứng vững chắc và hiệu quả” trước đợt bùng phát dịch bệnh này.

Con tàu rời Argentina vào ngày 1 tháng 4. Mười ngày sau, một hành khách đã tử vong vì virus; vợ ông cũng mắc bệnh và được đưa tới Nam Phi điều trị nhưng sau đó cũng qua đời. Đến ngày 2 tháng 5, thêm một người khác tử vong trên tàu.

Tại Tenerife, các chuyên gia y tế đã chuẩn bị sẵn sàng cho tình huống khẩn cấp này, với một khu cách ly nghiêm ngặt đã được thiết lập.

Bác sĩ trưởng khoa hồi sức tích cực Mar Martin nói với BBC:

“Chúng tôi hoàn toàn sẵn sàng.”

Nguồn: Aleteia


 

Nhiều bạn hỏi mình có thật là thời VNCH học sinh đi học miễn phí, bệnh nhân đi bệnh viện miễn phí…

Xuyên Sơn

 Nhiều bạn hỏi mình có thật là thời VNCH học sinh đi học miễn phí,

bệnh nhân đi bệnh viện miễn phí (và còn nhiều thứ miễn phí khác).

Theo tài liệu mình nghiên cứu thì:

– Sau chi phí cho quân lực và vũ khí (chiếm khoảng 90% tổng chi phí), Hoa Kỳ chú trọng vào việc viện trợ giáo dục, y tế, đường sá và nhà cửa thời VNCH vì lý do họ muốn thắng “hearts and minds” (tâm và trí) của người Việt và cả những người chống đối. Ngoài ra, nguồn viện trợ dân sự cho giáo dục và y tế đến từ rất nhiều cơ quan thiện nguyện không riêng gì ở Hoa Kỳ mà nhiều quốc gia khác.

– VNCH cũng cố gắng đẩy mạnh giáo dục và y tế cho người dân VNCH, ngoài những chi phí phải đối phó với những hậu quả của chiến tranh.

Đặc biệt là chi phí cho dân tản cư, dân bị pháo kích, bị mất nhà cửa,

dân bỏ ruộng vườn, đất đai chạy về thành phố hay những nơi an toàn hơn.

———————

Theo bố mình (người đã từng là viên chức hành chánh cao cấp) thời VNCH:

– Thời gian đầu, Hoa Kỳ và VNCH đẩy mạnh cả giáo dục, y tế, nhà cửa và cầu cống vì họ tin rằng nếu giáo dục tốt, sức khoẻ tốt và môi trường tốt thì đó là kết quả chứng minh cho “phía bên kia” thấy được thiện chí và sự tốt đẹp của phía VNCH.

– Thời gian sau, chi phí cho cơ sở hạ tầng (đường sá, cầu cống) giảm sút vì Việt Cộng phá hoại nhiều quá (đấp mô, đặt mìn, phá cầu, phá đường rày tàu lửa…v.v..).

Tuy nhiên, vẫn duy trì ngân sách cho giáo dục, học đường và y tế.

Càng về sau, gánh nặng càng nặng vì chiến tranh leo thang, đồng tiền mất giá, dân di cư càng lúc càng đông và càng tạo gánh nặng rất lớn cho các thành phố trong khi nông thôn bị phía Việt Cộng o ép hoặc bị bỏ trống.

———————-

Đó là lý do tại sao 20 năm VNCH đã tạo ra những con người, tác phẩm, công trình và giáo dục mà cho đến ngày giờ này vẫn còn tiếp tục tồn tại và được nhớ tới.

Phía cộng sản thắng không phải họ thắng trên mặt trận vũ trang (đánh lén, du kích, chính quy) mà họ thắng trên mặt trận phá hoại. Chính họ đưa ra chính sách “lấy nông thôn bao vây thành thị”.

Nói thêm, Sau 1975, ông Trần Bạch Đằng (Trương Gia Triều), đã viết rằng VNCH “có hàng triệu đĩ điếm, ma cô và xì ke”.

Không may, những điều ông viết một cách phóng đại và vô trách nhiệm đã được nhiều cuốn sách hoặc tài liệu nói về Việt Nam của các tác giả tây phương đã dùng lại.

Ông Trần Bạch Đằng chưa bao giờ công nhận rằng VNCH đã cố gắng kiến tạo một xã hội nhân bản, khai phóng, đã đẩy mạnh giáo dục, sáng tạo và phát triển trí tuệ.

Cái gọi là “tệ nạn xã hội” mà ông phóng đại, tận cùng là hậu quả của cuộc chiến đẫm máu mà cộng sản cố tạo ra, cố duy trì.

Cuộc chiến đó đã khiến cho vô vàn những gia đình tan nát, con không cha, vợ không chồng, để rồi họ phải lâm vào cảnh “đĩ điếm và chích choát”.

Thật ra, giáo dục miễn phí và y tế miễn phí là “đơn vị đong đo” mang tính kinh tế.

Nói thẳng ra, một thứ “đong đo” hạn hẹp và thô bỉ.

Giá trị kiến tạo của một xã hội không nằm ở chỗ “miễn phí” mà ở chỗ họ muốn tạo ra cái đẹp, ngay cả trong thời chiến tranh đẫm máu.

Còn phía bên kia, “giết, giết nữa bàn tay không phút nghĩ”.

Đó nên là “đơn vị” để đánh giá.

—nguồn Hoang Ngoc  Dieu

====================

Cô giáo Việt Nam Cộng hòa và Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon.

Múa Voi

Trông kìa con voi, nó đứng rung rinh.

Nghiêng mình trông đám nhện đang vò tơ.

Anh chàng voi ta thích chí mê tơi (mê ly).

Bằng (Liền) mời anh khác từ xa vào chơi . . .

Kìa nhìn xem trên kia.

Có cái con chi to ghê.

Trông to lớn như.

Marines (Vietnam) Sep 8, 1965 – by Paul Schutzer.

Cựu Phó TT Nixon viếng thăm một lớp học ở miền Trung ngày 3-9-1965.

Ông làm Phó TT Mỹ 1953-1961 và Tổng Thống Mỹ 1969-1974.

Richard Nixon (1913-1994) là Tổng thống thứ 37 của Hoa Kỳ và là vị TT duy nhất của nước Mỹ phải từ chức.

Richard Nixon visiting children in Vietnam, 1965. Photo by Paul Schutzer.

Nguồn fb Quan Nguyen Thanh

(Dân Saigon Xưa) 


 

HỌ CHỈ CÓ THỂ LÀ “SẢN PHẨM” CỦA MỘT CHẾ ĐỘ XÃ HỘI TỰ DO, NHÂN BẢN VÀ KHAI PHÓNG-Song Chi

Song Chi

 HỌ CHỈ CÓ THỂ LÀ “SẢN PHẨM” CỦA MỘT CHẾ ĐỘ XÃ HỘI TỰ DO, NHÂN BẢN VÀ KHAI PHÓNG

Mấy ngày qua có khá nhiều bài viết về nhà thơ Phạm Thiên Thư sau khi ông ra đi, phần lớn là bài viết của những người từng sống ở miền Nam trước năm 1975. Với đa số người miền Bắc và nhất là những người sinh ra sau năm 1975 chắc chẳng mấy ai biết đến ông, chợt nhớ lại khi Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ viên tịch, có những người là trí thức, Giáo sư, Tiến sĩ…mà đến lúc đó mới nghe đến tên của Hòa thượng, mới biết là có một GHPGVNTN tồn tại bao nhiêu năm nay, bên ngoài cái GHPGVN mà nhiều người vẫn gọi là Giáo hội Phật giáo “quốc doanh”.

Sau hơn nửa thế kỷ, có thể nói đảng CSVN đã thành công rất lớn trong việc “tẩy não” người dân, xóa bỏ lịch sử, xóa bỏ tất cả những gì mà đảng và nhà nước này không muốn người dân được biết.

Còn đối với tất cả những ai từng biết và may mắn hơn nữa, được đọc, nghe tác phẩm của những khuôn mặt xuất chúng của miền Nam trước 1975, dù là một vị chân tu trí tuệ cao vời, một nhạc sĩ, hay một thi sĩ…thì đều ngậm ngùi hiểu rất rõ rằng mỗi một người như vậy ra đi, là mất luôn không bao giờ có nữa. Bởi vì, họ chỉ có thể là “sản phẩm” của một chế độ tự do, nhân bản và khai phóng đã không còn tồn tại.

Chắc chắn, nếu không có 20 năm của chế độ VNCH đó, đã không thể có hàng trăm hàng ngàn tài năng độc đáo trong mọi lĩnh vực từ báo chí đến văn học nghệ thuật…Sẽ không có Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Phạm Đình Chương, Từ Công Phụng, Cung Tiến, Lam Phương…Sẽ không có Nguyễn Tất Nhiên, Phạm Thiên Thư, Bùi Giáng, Trần Dạ Từ, Cung Trầm Tưởng, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Sao Trên Rừng (Nguyễn Đức Sơn), Du Tử Lê….; Nhã Ca, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Túy Hồng, Trần Thị NgH, Nguyễn Thị Hoàng, Mai Thảo, Võ Phiến, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Mạnh Côn, Doãn Quốc Sỹ, Phan Nhật Nam, Cung Tích Biền, Hoàng Ngọc Biên… Sẽ không có những tên tuổi trong mảng nghiên cứu, phê bình, dịch thuật, triết học phật giáo và công giáo như Nguyễn Đăng Thục, Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Hiến Lê, Giản Chi, Nhất Hạnh, Võ Hồng, Hoài Khanh, Phạm Công Thiện, các giáo sư và linh mục Trần Thái Đỉnh, Lê Tôn Nghiêm, Cao Văn Luận, Nguyễn Văn Thích, Hoàng Sỹ Quý, Nguyễn Khắc Xuyên, Kim Định… Sẽ không có nhiều nhóm văn nghệ, tư tưởng ra đời như nhóm Bách Khoa, Nhân Loại, Nhận Thức (Huế), Sống Đạo, Phương Đông, Đối Diện, Sáng Tạo, Hiện Đại, Thế Kỷ Hai Mươi, Gió Mới, Nghệ Thuật…các tạp chí chuyên về tư tưởng, triết học như Tư Tưởng, Vạn Hạnh, Giữ Thơm Quê Mẹ, các nhà xuất bản Lá Bối, An Tiêm, Ca Dao…, và vô số những tờ báo, tạp chí văn học nghệ thuật như Sáng Tạo, Quan Điểm, Văn Hóa Ngày Nay, Nhân Loại, Văn Đàn, Bách Khoa, Văn Học, Văn, Nghệ Thuật, Tiếng Nói… Sẽ không có một nền phật học rực rỡ, những vị chân tu lừng lững cả về trí tuệ, kiến thức và nhân cách v.v…Không thể kể hết những thành tựu về con người, về văn học nghệ thuật trong 20 năm ngắn ngủi của chế độ VNCH.

Đó là bởi vì, dù ngay trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt nhất, chế độ VNCH vẫn cố gắng xây dựng một xã hội bình thường. Trẻ em vẫn được sống hồn nhiên đúng lứa tuổi, không bị nhồi nhét lòng căm thù quá sớm, vẫn được dạy dỗ từ những điều nhân ái nhỏ nhặt hàng ngày, sách báo truyện nhạc dành cho thiếu nhi, thiếu niên, tuổi mới lớn từ truyện tranh, truyện cổ tích thế giới, tuần báo Thiếu Nhi, tuần báo Tuổi Ngọc, tủ sách Tuổi Hoa – Hoa Đỏ, Hoa Xanh, Hoa Tím…chỉ toàn dạy điều thiện, dạy thương yêu, dạy sống tử tế, không có một chút gì vẩn đục bởi lòng căm thù địch–ta, lý thuyết cách mạng nọ kia… Thanh niên vẫn có khung trời dành cho tình yêu lãng mạn mộng mơ trong sáng và những lý tưởng, hoài bão lớn; trí thức vẫn được đọc được nghe đủ loại báo đài quốc tế, viết, tranh luận về đủ loại triết học Đông-Tây, đủ loại lý thuyết chính trị kể cả học thuyết Mác Lenin, tư tưởng của Mao…

Chế độ VNCH đã không biến cả xã hội thành trại lính, trong đó tất cả chỉ được phép suy nghĩ một chiều, mọi tình cảm, cảm xúc cá nhân, mọi suy nghĩ khác, mọi tự do đều bị kìm hãm, cấm đoán triệt tiêu; ngược lại, con người vẫn được sống như là con người, ai chiến đấu cứ chiến đấu, ai làm thơ, nhạc lãng mạn cứ làm, ai mơ mộng suy tư cứ mơ mộng, có lẽ đó cũng là một trong những lý do mà chế độ VNCH đã thua. Nhưng bù lại, chế độ đã để lại cả một di sản văn học nghệ thuật và dòng chảy đó ít nhất vẫn không chết yểu mà vẫn âm thầm tồn tại trong nước và phần nào được tiếp nối ở hải ngoại 50 năm qua. 

Xã hội VN bây giờ đã hơn 50 năm trong thời bình. Bề mặt của nhiều thành phố, tỉnh thành đã thay đổi rất nhiều. Số người giàu hơn ngày xưa cũng nhiều, thậm chí phải nói là giàu kinh khủng, một ông cán bộ cấp huyện cũng còn giàu hơn cả tướng tá VNCH thời xưa và cách nhiều người xài tiền có lẽ ngay dân Mỹ cũng choáng; rồi thơ văn nhạc họa phim… tính về số lượng đều nhiều. Nhưng trong thơ ca văn học nghệ thuật bây giờ vẫn thiếu: thiếu sự trong trẻo lãng mạn, thiếu tính thiền, tính triết học, tính tư tưởng, tính khai phóng…Nhiều về số lượng nhưng những tác phẩm thực sự nâng con người lên cao cả hơn, đẹp hơn thì hiếm. Nó vừa là hậu quả của một chế độ độc tài toàn trị, vừa là hậu quả của một nền giáo dục nhồi nhét, ngu dân, chạy theo điểm số, thành tích, bằng cấp, hoàn toàn không có một triết lý giáo dục đúng đắn, và là hậu quả của một xã hội thực dụng, nơi mà mọi người đua nhau chạy theo tiền, chạy theo “ghế”, chạy theo những giá trị vật chất, giá trị ảo bên ngoài, thì làm gì còn có chỗ để sống chậm, làm gì còn có chỗ cho mơ mộng, lãng mạn, suy tư, và lắng đọng? 


 

ĐẰNG SAU ĐÔI BÀN TAY TRẮNG CỦA MẸ TÔI LÀ CẢ MỘT KHO TÀNG – Lm. Anmai, CSsR 

Anmai CSsR 

Dự liệu là sẽ không viết gì trong ngày của Mẹ, nhưng …

Có những người ra đi khỏi cuộc đời này mà không để lại nhà cao cửa rộng, không để lại ruộng vườn mênh mông, không để lại sổ tiết kiệm, vàng bạc, của cải hay một gia sản vật chất nào đáng kể. Ngày họ nằm xuống, nhìn lại, dường như đôi bàn tay vẫn trắng. Trắng như lúc sinh ra. Trắng như một đời không tích góp được gì cho riêng mình. Trắng như thể cuộc đời chỉ là một cuộc đi qua âm thầm, lặng lẽ, không ồn ào, không danh phận, không có gì để người đời gọi là thành công.

Mẹ tôi cũng vậy.

Mẹ tôi không phải là người giàu có. Mẹ không có một cuộc đời dư dả để muốn gì được nấy, không có những năm tháng sung túc để con cái lớn lên trong nhung lụa, không có điều kiện để ban cho con cái mọi thứ theo kiểu người đời vẫn mơ ước. Mẹ chỉ đủ nuôi gia đình. Chữ “đủ” ấy nghe thì nhẹ, nhưng trong đời sống thật lại là cả một gánh nặng. Đủ cơm ăn mỗi ngày. Đủ áo mặc qua mùa. Đủ cho con đến trường. Đủ để gia đình không tan tác. Đủ để những đứa con có một mái nhà trở về. Đủ để giữa những tháng ngày chật vật, trong nhà vẫn còn một chút bình an, một chút tiếng cười, một chút hơi ấm, một chút niềm tin.

Cái “đủ” của Mẹ không phải tự nhiên mà có. Nó được đánh đổi bằng mồ hôi, bằng thức khuya dậy sớm, bằng những bữa ăn Mẹ nhường phần ngon cho con, bằng những lần Mẹ nói “Mẹ không đói” khi trong lòng chắc cũng cồn cào, bằng những khi Mẹ giấu nỗi lo sau một nụ cười hiền, bằng những lúc Mẹ xoay xở giữa thiếu trước hụt sau mà vẫn không để con cái thấy mình quá khổ. Có những hy sinh của Mẹ không bao giờ được kể thành lời. Có những giọt nước mắt của Mẹ không ai nhìn thấy. Có những đêm Mẹ trằn trọc, chỉ có Chúa biết. Có những vất vả của Mẹ lặng lẽ đến độ chính con cái nhiều khi cũng vô tâm không nhận ra.

Khi Mẹ nằm xuống, Mẹ còn đôi bàn tay trắng.

Nhưng càng nghĩ, tôi càng thấy: đôi bàn tay trắng ấy không hề nghèo. Đằng sau đôi bàn tay trắng ấy là cả một kho tàng cho gia đình chúng tôi. Một kho tàng không đếm được bằng tiền. Một kho tàng không đo được bằng đất đai. Một kho tàng không cất trong tủ, không gửi ở ngân hàng, không ghi trong giấy tờ sở hữu. Đó là kho tàng của tấm lòng. Kho tàng của đức tin. Kho tàng của nhân hậu. Kho tàng của sự hy sinh. Kho tàng của một đời biết sống cho người khác.

Đôi bàn tay trắng của Mẹ là đôi bàn tay đã bồng bế con từ những ngày thơ dại. Đôi bàn tay ấy đã nấu từng bữa cơm, vá từng manh áo, gom từng đồng bạc lẻ, xếp từng quyển vở cho con đến trường. Đôi bàn tay ấy đã chạm vào trán con khi con sốt, đã vỗ về khi con khóc, đã nâng đỡ khi con vấp ngã, đã chắp lại trong lời kinh mỗi tối để gửi gia đình cho Chúa. Đôi bàn tay ấy có thể không cầm vàng bạc, nhưng đã cầm cả tuổi thơ của con. Đôi bàn tay ấy có thể không ký những bản hợp đồng lớn, nhưng đã ký vào đời con một dấu ấn không bao giờ phai: dấu ấn của tình mẫu tử.

Đàng sau bàn tay trắng là tấm lòng.

Mẹ nghèo, nhưng lòng Mẹ không nghèo. Có những người giàu của cải nhưng trái tim chật hẹp. Có những người dư dả tiền bạc nhưng không dư được một chút cảm thông. Có những người có rất nhiều mà vẫn sợ mất, vẫn bo bo giữ lấy, vẫn không dám mở tay. Còn Mẹ, Mẹ không có nhiều, nhưng lòng Mẹ rộng. Mẹ không dư giả, nhưng Mẹ biết thương. Mẹ không quyền thế, nhưng Mẹ biết giúp. Mẹ không nói những lời lớn lao về bác ái, nhưng đời Mẹ là một bài học bác ái âm thầm.

Thời bao cấp, đời sống còn nhiều khó khăn. Bao gia đình từ nơi này nơi khác trở về Sài Gòn lập nghiệp, chật vật với cơm áo, với chỗ ở, với giấy tờ, với hộ khẩu, với đủ thứ thủ tục làm con người ta mệt mỏi và nhiều khi thấy bế tắc. Người lớn thì lo kiếm sống, còn trẻ con lại mắc kẹt vì không nhập học được. Một đứa trẻ không được đến trường đâu chỉ là chuyện thiếu một lớp học. Đó là cả một cánh cửa tương lai bị khép lại. Đó là nỗi lo của cha mẹ. Đó là sự thiệt thòi của một đời người nếu không có ai đưa tay giúp.

Vậy mà Mẹ đã không làm ngơ.

Mẹ không phải cán bộ lớn. Mẹ không có chức quyền. Mẹ không có tiền để giải quyết mọi chuyện. Mẹ chỉ có một tấm lòng. Và từ tấm lòng ấy, Mẹ đi tìm người có thể giúp. Mẹ nhờ chỗ này, hỏi chỗ kia, gõ cửa người này, năn nỉ người khác, kiên trì đến mức có lẽ nhiều người phải cảm động. Mẹ không làm việc ấy cho danh. Mẹ không ghi sổ công ơn. Mẹ không mong ai trả lại. Mẹ chỉ nghĩ đơn sơ: người ta khó, mình giúp được gì thì giúp; trẻ con cần đến trường, thì phải tìm cách cho chúng được đi học.

Nhờ những bước chân âm thầm ấy của Mẹ, có gia đình dần hội nhập được với cuộc sống mới. Nhờ những lời nhờ vả chân thành ấy của Mẹ, có đứa trẻ được vào lớp, được cầm sách, được mặc áo học trò, được có một tương lai sáng hơn. Có thể sau này những đứa trẻ ấy lớn lên, đi làm, lập gia đình, tản mác khắp nơi, không còn nhớ rõ ai đã giúp mình ngày xưa. Nhưng Chúa nhớ. Trời nhớ. Và gia đình chúng tôi nhớ. Nhớ rằng Mẹ đã từng nghèo mà không khép lòng. Nhớ rằng Mẹ đã từng khó mà không vô cảm. Nhớ rằng Mẹ đã từng thiếu mà vẫn biết cho đi.

Nghèo, nhưng tấm lòng thì bao la.

Cái bao la của lòng Mẹ không nằm ở những chuyện phi thường. Nó nằm trong những việc rất thường. Một lời hỏi han. Một bữa cơm chia thêm. Một lần đi nhờ giúp giấy tờ. Một lần đứng ra nói đỡ. Một lần âm thầm cầu nguyện cho người khác. Một lần không nỡ quay lưng trước nỗi khổ của ai đó. Tấm lòng của Mẹ giống như ngọn đèn nhỏ trong căn nhà nghèo. Ánh sáng không chói lòa, nhưng đủ làm ấm. Không rực rỡ như sân khấu, nhưng đủ để ai bước vào cũng thấy có tình người.

Đàng sau bàn tay trắng là đời sống đức tin.

Có lẽ đây mới là gia sản lớn nhất Mẹ để lại. Đức tin của Mẹ không phải là một lý thuyết. Đức tin của Mẹ không nằm trên môi miệng bằng những câu nói đạo đức cho hay. Đức tin của Mẹ được thắp lên trong đời sống thường ngày. Trong gian khó, Mẹ tin. Trong thiếu thốn, Mẹ cậy trông. Trong vất vả, Mẹ cầu nguyện. Trong lo âu, Mẹ phó thác. Trong những lúc không còn biết bám vào đâu, Mẹ bám vào Chúa. Mẹ sống đạo không ồn ào, nhưng bền bỉ. Không khoe khoang, nhưng sâu. Không lý luận nhiều, nhưng thật.

Đời sống đức tin ấy nuôi chúng tôi lớn lên. Có khi con cái chưa hiểu hết kinh nguyện, nhưng đã nhìn thấy Mẹ chắp tay. Có khi con cái chưa hiểu thần học là gì, nhưng đã cảm được lòng Mẹ tin vào Chúa. Có khi con cái chưa hiểu hết ý nghĩa của hy sinh, nhưng đã thấy Mẹ sống hy sinh mỗi ngày. Có khi con cái chưa biết thế nào là phó thác, nhưng đã nghe Mẹ nói: “Thôi, để Chúa lo.” Một câu đơn sơ thôi, nhưng chứa cả một linh đạo. Một câu nói bình dân thôi, nhưng có thể nâng đỡ cả một gia đình qua những ngày giông gió.

Đức tin của Mẹ không làm cho Mẹ tránh khỏi nghèo khó, nhưng giúp Mẹ không bị nghèo khó nuốt chửng. Đức tin của Mẹ không làm cho Mẹ hết lo âu, nhưng giúp Mẹ không tuyệt vọng. Đức tin của Mẹ không biến cuộc đời thành con đường bằng phẳng, nhưng giúp Mẹ bước qua sỏi đá với trái tim hiền lành. Đức tin ấy không chỉ giữ Mẹ, mà còn giữ cả gia đình. Nhờ đức tin của Mẹ, trong nhà có một trụ cột vô hình. Nhờ lời cầu nguyện của Mẹ, những đứa con được che chở nhiều hơn chúng tưởng. Nhờ nước mắt của Mẹ trước mặt Chúa, có lẽ nhiều tai ương đã đi qua mà chúng tôi không hay biết.

Người ta vẫn nói: “Con trai nhờ đức Mẹ.”

Tôi không biết phải giải thích thế nào cho hết. Nhưng hình như đúng là như vậy. Có những điều trong đời người con không tự mình làm nên. Có những ơn lành không phải do tài năng của con. Có những cánh cửa mở ra không phải vì con xứng đáng. Có những lần thoát nguy không phải vì con khôn ngoan. Có những phúc lành đi theo cuộc đời con như bóng mát âm thầm, mà càng lớn tuổi con càng hiểu: đó là nhờ đức của Mẹ, nhờ lời cầu nguyện của Mẹ, nhờ những việc lành Mẹ đã gieo, nhờ lòng nhân hậu Mẹ đã sống.

Mẹ có tấm lòng, và con trai của Mẹ được nhờ tấm lòng đó.

Câu ấy càng nghĩ càng thấm. Một người mẹ sống hiền lành, nhân hậu, quảng đại, đạo đức, thì không chỉ đời mẹ được Chúa thương, mà con cái cũng được hưởng phúc. Phúc ấy không phải lúc nào cũng là tiền bạc. Phúc ấy có khi là gặp người tốt đúng lúc. Phúc ấy có khi là được nâng đỡ khi yếu đuối. Phúc ấy có khi là được tha thứ khi lầm lỗi. Phúc ấy có khi là giữa cơn khốn khó vẫn tìm được lối ra. Phúc ấy có khi là trái tim con cái dù đi xa vẫn còn biết đường quay về với Chúa.

Có lẽ trong kho tàng Mẹ để lại, quý nhất là Mẹ đã dạy con cái biết cho đi.

Mẹ không giảng nhiều về lòng quảng đại, nhưng Mẹ sống quảng đại. Mẹ không viết sách về bác ái, nhưng đời Mẹ là một trang sách mở. Mẹ không nói những bài diễn văn về phục vụ, nhưng Mẹ đã phục vụ bằng đôi chân đi tìm người giúp, bằng đôi tay làm việc, bằng miệng nói lời bênh vực, bằng trái tim chạnh thương trước khổ đau của người khác. Con cái nhìn Mẹ mà học. Có thể học chậm, học vụng, học chưa trọn, nhưng hạt giống đã rơi vào lòng.

Và rồi lạ lắm: khi có, các con của Mẹ lại cứ cho đi. Cho đi rồi lại được nhận lãnh. Cho đi tưởng là mất, mà hóa ra lại được thêm. Cho đi một chút tình, nhận lại nhiều bình an. Cho đi một chút thời giờ, nhận lại nhiều ý nghĩa. Cho đi một chút công sức, nhận lại nhiều niềm vui. Cho đi một chút của cải, nhận lại cảm giác lòng mình không bị tiền bạc làm chủ. Cho đi không phải để được trả lại, nhưng càng cho đi càng thấy đời mình được Chúa lấp đầy.

Đó cũng là bài học của Tin Mừng. Hạt lúa mì phải rơi xuống đất và chết đi mới sinh nhiều bông hạt. Ai giữ mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai biết trao ban thì lại tìm thấy sự sống thật. Mẹ tôi có thể không diễn tả được bằng những ngôn từ thần học, nhưng Mẹ đã sống điều ấy rất tự nhiên. Mẹ như hạt lúa âm thầm. Mẹ mục nát trong hy sinh. Mẹ tiêu hao trong phục vụ. Mẹ nhỏ bé trong mắt đời. Nhưng từ đời Mẹ, những bông hạt mọc lên: con cái được lớn khôn, gia đình được gìn giữ, người nghèo được giúp đỡ, trẻ em được đến trường, niềm tin được trao truyền, lòng nhân hậu được nối tiếp.

Nói về Mẹ, viết về Mẹ, làm sao nói hết, viết hết?

Với một kẻ phàm phu tục tử như tôi, ngôn từ nhiều khi trở nên bất lực. Có những điều càng sâu càng khó nói. Có những yêu thương càng lớn càng không thể diễn tả trọn. Có những hy sinh khi còn sống ta không thấy hết, đến khi người khuất rồi mới giật mình nhận ra. Ngày xưa, có thể ta quen với sự hiện diện của Mẹ đến mức tưởng đó là điều tự nhiên. Tự nhiên là có cơm. Tự nhiên là có nhà. Tự nhiên là có người lo. Tự nhiên là có người đợi. Tự nhiên là có người cầu nguyện. Tự nhiên là có người nhớ từng đứa con. Nhưng đến khi Mẹ không còn nữa, ta mới hiểu: không có gì là tự nhiên cả. Tất cả đều là tình thương. Tất cả đều là hy sinh. Tất cả đều là ân huệ.

Có những ngày muốn gọi một tiếng “Mẹ ơi” mà không còn nghe tiếng Mẹ trả lời. Có những lúc gặp chuyện vui, muốn kể cho Mẹ nghe, nhưng chỉ còn biết thầm thĩ trong lòng. Có những khi mệt mỏi, muốn trở về bên Mẹ như ngày xưa, nhưng căn nhà đã thiếu bóng dáng ấy. Có những bữa cơm, nhìn một món ăn quen, tự nhiên nhớ bàn tay Mẹ. Có những buổi chiều, nghe tiếng chuông nhà thờ, tự nhiên nhớ dáng Mẹ cầu kinh. Có những đêm, lòng trống vắng, tự nhiên thấy đời mình nghèo đi vì mất một người không ai thay thế được.

Nhưng đức tin dạy tôi rằng Mẹ không mất. Mẹ chỉ đi trước. Mẹ đã trở về với Chúa, Đấng mà Mẹ tin tưởng suốt đời. Đôi bàn tay trắng của Mẹ ngày xưa, giờ đây tôi tin đã được Chúa đón nhận. Bàn tay ấy trắng vì không giữ gì cho riêng mình. Bàn tay ấy trắng vì đã cho đi quá nhiều. Bàn tay ấy trắng vì đã dâng hết một đời. Và trước mặt Chúa, đôi bàn tay trắng ấy không trống rỗng. Nó đầy những việc lành. Đầy những lời cầu nguyện. Đầy những hy sinh. Đầy những giọt nước mắt. Đầy những dấu vết của tình yêu.

Người đời có thể hỏi: Mẹ để lại gì?

Tôi xin thưa: Mẹ để lại cả một bầu trời.

Mẹ để lại cho chúng tôi ký ức về một mái nhà nghèo mà ấm. Mẹ để lại một nếp sống biết tin Chúa. Mẹ để lại bài học rằng con người sống không chỉ để có, mà còn để thương. Mẹ để lại cho chúng tôi niềm xác tín rằng nghèo không đáng sợ bằng hẹp lòng, thiếu tiền không đáng sợ bằng thiếu nhân hậu, bàn tay trắng không đáng sợ bằng trái tim trống rỗng. Mẹ để lại một thứ gia tài mà càng chia ra càng lớn, càng sống theo càng sinh hoa trái, càng nhớ lại càng thấy biết ơn.

Mẹ không giàu, nhưng Mẹ làm cho đời con cái giàu lên.

Giàu vì biết thương người. Giàu vì còn biết cầu nguyện. Giàu vì biết cúi xuống. Giàu vì biết cảm ơn. Giàu vì biết rằng mọi sự mình có đều là ơn Chúa. Giàu vì hiểu rằng đời người cuối cùng không được đo bằng những gì ta nắm giữ, mà bằng những gì ta trao đi. Giàu vì trong tim vẫn còn hình bóng Mẹ như một ngọn đèn không tắt.

Con cảm ơn Mẹ.

Cảm ơn Mẹ vì đã sinh con ra trong cuộc đời này. Cảm ơn Mẹ vì đã cho con một mái nhà. Cảm ơn Mẹ vì đã nuôi con bằng cơm gạo và bằng nước mắt. Cảm ơn Mẹ vì đã dạy con biết Chúa, dù có khi con chưa sống xứng đáng. Cảm ơn Mẹ vì đã gieo vào đời con hạt giống nhân hậu. Cảm ơn Mẹ vì những lần Mẹ âm thầm chịu đựng mà con không biết. Cảm ơn Mẹ vì những lời kinh Mẹ đọc cho con. Cảm ơn Mẹ vì những hy sinh không tên, những lo toan không kể, những đau khổ không than, những yêu thương không điều kiện.

Và trên hết, con tạ ơn Chúa.

Tạ ơn Chúa vì trong đời con có Mẹ. Tạ ơn Chúa vì Người đã ban cho con một người Mẹ không giàu của cải nhưng giàu đức tin. Không nhiều tiền bạc nhưng nhiều lòng thương. Không quyền lực nhưng đầy nhân hậu. Không để lại gia sản trần gian nhưng để lại gia tài thiêng liêng. Tạ ơn Chúa vì qua Mẹ, con hiểu hơn thế nào là tình yêu. Qua Mẹ, con hiểu hơn thế nào là hy sinh. Qua Mẹ, con hiểu hơn thế nào là sống đạo giữa đời thường. Qua Mẹ, con hiểu rằng có những đôi bàn tay trắng lại là đôi bàn tay giàu nhất trước mặt Thiên Chúa.

Mẹ ơi, đời con có thể đi nhiều nơi, gặp nhiều người, trải qua nhiều biến cố, nhưng có một nơi con không bao giờ rời xa được: đó là lòng Mẹ. Có một món nợ con không bao giờ trả hết: đó là công ơn Mẹ. Có một lời con không bao giờ nói cho đủ: đó là lời cảm ơn Mẹ. Có một tình thương con không bao giờ hiểu hết: đó là tình Mẹ dành cho con.

Cha mẹ là trời cao biển lớn bao la.

Con chỉ là một phận người nhỏ bé đứng trước trời cao biển lớn ấy. Càng đứng lâu càng thấy mình nhỏ. Càng nghĩ nhiều càng thấy mình nợ. Càng nhớ Mẹ càng thấy lòng mềm lại. Và trong sự mềm lại ấy, con chỉ biết cúi đầu, chắp tay, thưa với Chúa:

Lạy Chúa, xin thương đón nhận Mẹ con vào lòng thương xót của Chúa. Nếu đời Mẹ còn điều gì thiếu sót, xin Chúa lấy tình yêu mà bù đắp. Nếu đời Mẹ còn vết thương nào, xin Chúa chữa lành. Nếu đời Mẹ còn giọt nước mắt nào chưa khô, xin Chúa lau sạch. Xin cho những hy sinh âm thầm của Mẹ được nở hoa trong Nước Trời. Xin cho những việc lành Mẹ đã gieo tiếp tục sinh trái trong đời con cháu. Xin cho chúng con biết sống sao cho xứng với gia tài Mẹ để lại: gia tài của đức tin, của lòng nhân hậu, của sự quảng đại, của đôi bàn tay biết mở ra.

Và xin cho con, mỗi khi nhớ đến đôi bàn tay trắng của Mẹ, đừng chỉ buồn vì Mẹ không còn, nhưng biết sống tốt hơn, thương nhiều hơn, cho đi nhiều hơn, cầu nguyện nhiều hơn, để một ngày kia, khi con cũng phải nằm xuống với đôi bàn tay trắng, con được hy vọng mang theo một chút gì đó giống Mẹ: một tấm lòng đã biết yêu thương.

Lm. Anmai, CSsR 


 

Nên nói hay không?

Kimtrong Lam

Nên nói hay không?

Thời Hi Lạp cổ đại, Socrates là một nhân vật nổi tiếng về sự thông thái và rất được kính trọng. Một ngày kia, một người quen của nhà triết học gặp ông và nói:

– Ngài có biết tôi vừa nghe được chuyện gì về bạn của ngài không?

– Hãy đợi một chút – Socrates đáp.

– Trước khi nói với tôi về chuyện đó, tôi muốn ông cùng tôi thử nghiệm chuyện này. Đây được gọi là bài thử nghiệm sàng lọc ba bước.

– Thử nghiệm sàng lọc?

– Đúng – Socrates tiếp tục

– Bước đầu tiên là sự thật. Ông có thể đoán chắc rằng những gì ông nói ra hoàn toàn là sự thật?

– Không – người đàn ông đáp,

– Thật ra tôi chỉ được nghe…

– Được rồi – Socrates nói

– Vậy bây giờ qua bước thứ hai nhé, sàng lọc về lòng tốt. Những điều ông sắp nói về bạn tôi là điều tốt chứ?

– Không, mà ngược lại…

Socrates tiếp tục:

– Như vậy ông dự định nói một điều không tốt về bạn tôi, nhưng ông lại không chắc rằng điều đó có phải là sự thật hay không. Bây giờ là bước cuối cùng: sự hữu ích. Những gì ông sắp nói về người bạn của tôi có mang lại lợi ích gì không?

– Không, thật sự là không.

– Vậy thì …- Socrates kết luận

– Những gì ông muốn nói với tôi không phải là sự thật, không là điều tốt và cũng không có ích gì, vậy thì tại sao ông lại muốn nói ra?

 

SUỐT ĐỜI GẶP MAY!

Xuyên Sơn

 SUỐT ĐỜI GẶP MAY!

  Buổi sáng đi làm, Chị nhìn thấy bánh trước của chiếc xe máy bị xẹp hoàn toàn, Chị nghĩ: “May quá, nếu xe xẹp lốp trên đường cao tốc thì không biết hậu quả sẽ ra sao”.

 Vì phải dắt xe đi thay săm nên chị đến công ty trễ mất 15 phút.

Bà phó phòng nói rằng Giám đốc cho gọi Chị.

Chị nghĩ:

 “Nếu giám đốc khiển trách về việc đi làm trễ thì mình sẽ thành khẩn xin lỗi chứ không thanh minh”.

 Nhưng không có một lời khiển trách nào cả.

Sếp gặp Chị để mong Chị thông cảm rằng, lẽ ra hôm nay Chị phải nhận được quyết định tăng lương, vì đã đến hạn, nhưng vì mục tiêu chống lạm phát nên chính phủ đã cắt giảm nhiều hạng mục đầu tư công, trong đó có một dự án của công ty.

Do vậy, tình hình tài chính của công ty có gặp khó khăn nên Chị và một số người đáng lẽ được tăng lương đợt này nhưng phải lùi lại một thời gian và sẽ được đền bù vào kỳ tăng lương sau.

 Chị về phòng làm việc với một niềm vui nho nhỏ:

“Vẫn là may. Nhà nước cắt giảm đầu tư công hàng chục nghìn tỷ đồng,

nhiều doanh nghiệp lao đao, phải giảm lương của cán bộ công nhân viên, thậm chí có đơn vị phải cắt giảm nhân lực.

Mình không bị giảm lương, lại còn được đền bù vào kỳ tăng lương sau, thế là may.

Cái may thứ hai là mình được làm việc với một ông Giám đốc tài ba và rất tử tế”.

 Buổi chiều, Chị mua hải sản, làm một bữa cơm thịnh soạn để cả nhà ăn mừng ba cái may trong ngày của Chị.

  Ngày hôm sau, trên đường đi làm về, Chồng chị bị một gã ngổ ngáo chạy xe đánh võng va vào xe của anh ấy, khiến chồng chị bị tai nạn, xây xát ở chân và tay.

Khi nghe chồng kể chuyện này,

Chị nghĩ:

“Thế là quá may, bị tai nạn giao thông mà chỉ xây xát nhẹ chứ không phải vào viện”.

Và chị lại làm một bữa để ăn mừng cái may của gia đình mình.

 Chị xin nghỉ việc ở công ty, ra lập doanh nghiệp riêng.

Thương trường như chiến trường.

Ban đầu vất vả lắm.

Ngược xuôi chèo lái con thuyền công ty. Nhưng chị luôn giữ một tâm thái lạc quan tích cực như vậy.

Ở đâu và bao giờ, nụ cười cũng luôn nở trên môi chị và nhờ thế, trong giao tiếp chị luôn chiếm được cảm tình của người khác và chị làm việc gì cũng hanh thông.

Dần dà, công ty làm ăn khấm khá.

Chị có dư của ăn của để.

  Bữa chị mua căn biệt thự, nhờ người bạn làm nghề điện nước đến lắp đặt toàn bộ hệ thống chiếu sáng trong và ngoài nhà.

Chẳng ngờ, người bạn sinh lòng tham, lắp cho chị toàn bóng đèn hàng chợ nhưng tính với chị giá trên trời.

Được dăm bữa, bóng đèn dở chứng, cái sáng cái tối.

Ánh sáng chuyển màu, cái màu trắng cái màu vàng.

Chị gọi ông bạn vàng kia thì mất hút.

Chị chẳng lấy làm buồn.

Chị bảo:

Cũng may không mua đèn của hắn để lắp cho showroom mà chị sắp khai trương. May mà có cậu em Thần Đèn tình cờ xuất hiện và thiết kế lại toàn bộ ánh sáng cho nhà chị.

Nhà chị đẹp hơn, lung linh hơn rồi”.

  Đến một ngày, Chị phát hiện chồng có bồ.

Anh chị chia tay.

Chị nói với anh lúc đứng ở cổng tòa: “Thôi vậy cũng may. May mà biết sớm để rồi kết thúc sớm. May mà con mình cũng đã đủ lớn để hiểu chuyện của bố mẹ nó và không oán trách ai cả”.

  Như thế đó, chị là một người suốt đời gặp may.

Đó không chỉ là một lối tư duy tích cực mà còn là một lối sống lạc quan và nhờ lối sống này mà những người sống quanh chị không bao giờ phải nghe tiếng thở dài.

 Giờ đây tuy đã gần 50 tuổi rồi nhưng trông chị vẫn trẻ trung như tuổi 30.

  Một lối sống lạc quan và tích cực là cái mà chúng ta hoàn toàn có thể tự tạo ra được.

Và đó còn là sự biểu hiện của một con người có trí tuệ và đạo đức.

  Và chỉ những ai làm được điều đó thì mới xứng đáng để được hưởng bình an và hạnh phúc trong cuộc sống.

  NGƯỜI HẠNH PHÚC KHÔNG PHẢI LÀ NGƯỜI ĐƯỢC SỐNG TRONG HOÀN CẢNH THUẬN LỢI MÀ LÀ NGƯỜI CÓ THÁI ĐỘ TÍCH CỰC TRONG BẤT KỲ HOÀN CẢNH NÀO.

(sưu tầm)