HÃY GIÀ ĐI MỘT CÁCH THANH THẢN – Lm. Anmai, CSsR

Anh Chi TTV2 – Quan điểm cá nhân

Lm. Anmai, CSsR

Thời gian trôi đi âm thầm nhưng tàn nhẫn, nó không bao giờ báo trước cho ta biết khi nào thì tuổi già thực sự ập đến, nó không nằm ở con số ghi trên giấy tờ hay số nến cắm trên chiếc bánh sinh nhật, mà nó đến trong một khoảnh khắc bất chợt khi ta nhận ra sự thay đổi trong chính tâm hồn mình.

Nếu như thuở đôi mươi, người ta sợ cái nghèo, sợ sự thiếu thốn vật chất, và khi bước sang tuổi trung niên, người ta bắt đầu lo âu về những biến cố bệnh tật, thì khi đã bước sang dốc bên kia của cuộc đời, nỗi sợ lớn nhất, ám ảnh nhất lại mang một cái tên rất nhẹ nhưng nặng trĩu lòng người: Sự cô độc.

Thế nhưng, nếu nhìn sâu vào bản chất của kiếp nhân sinh, ta sẽ thấy một nghịch lý đầy tính triết học rằng cô đơn không phải là bi kịch của tuổi già, mà đó là một sự thật hiển nhiên, là bài học cuối cùng mà bất cứ ai, dù sang hay hèn, đều phải học cách đón nhận để tìm thấy sự thanh thản thực sự.

Có một chân lý mà khi còn trẻ ta thường nghe với vẻ hồ nghi hoặc chạnh lòng, nhưng khi tóc đã pha sương mới thấy nó đúng đến đau lòng, đó là việc con cái thực ra không bao giờ hoàn toàn thuộc về cha mẹ. Ngày xưa, ta ngây thơ nghĩ rằng nuôi con là để dưỡng già, là để có người hủ hỉ sớm hôm, nhưng quy luật của dòng đời lại chảy xuôi chứ không bao giờ chảy ngược. Những đứa trẻ ta từng ẵm bồng, từng dành cả thanh xuân để lo toan, giờ đây chúng đã có bầu trời riêng của chúng, chúng có những áp lực của thời đại mới, có gánh nặng cơm áo gạo tiền và những trách nhiệm riêng với gia đình nhỏ của chúng. Người già thường sống bằng ký ức, bằng những hoài niệm về những bữa cơm đông đủ tiếng cười, trong khi người trẻ lại phải sống bằng thực tại khốc liệt, bằng những cuộc họp triền miên và những chuyến đi xa nhà. Sự lệch pha ấy khiến khoảng cách giữa hai thế hệ ngày càng lớn, không phải vì con cái vô tâm hay bất hiếu, mà đơn giản vì chúng quá bận rộn để có thể thường xuyên ngoảnh đầu nhìn lại. Nếu ta cứ mãi đau đáu chờ đợi một cuộc điện thoại, khắc khoải mong ngóng tiếng xe dừng trước ngõ, thì chính ta đang tự giam cầm mình trong nỗi buồn tủi không lối thoát. Thời đại này, mỗi đứa con là một cánh chim bay đi tìm phương trời lạ, sự sum vầy là điều quý giá nhưng hiếm hoi, và việc chấp nhận sự xa cách ấy chính là bước đầu tiên để cởi trói cho tâm hồn mình.

Bi kịch lớn nhất của những năm tháng xế chiều không nằm ở việc ta sống một mình, mà nằm ở chỗ ta đã đặt quá nhiều kỳ vọng vào người khác, kể cả đó là ruột thịt. Khi ta đặt hạnh phúc của mình vào tay con cái, ta vô tình trở thành gánh nặng tâm lý cho chúng và trở thành nạn nhân của chính sự chờ đợi. Phẩm giá của tuổi già, suy cho cùng, nằm trọn vẹn ở hai chữ “Tự Lực”. Một tuổi già hạnh phúc không được đo đếm bằng số lượng con cháu vây quanh, mà được đo bằng khả năng tự chủ của chính bản thân người đó. Đó là khi ta còn đủ sức khỏe để tự đi lại mà không cần ai dìu đỡ, còn đủ sự minh mẫn để tự quyết định cuộc sống của mình, còn đủ tiền bạc tích lũy để không phải ngửa tay xin xỏ hay nhìn sắc mặt người khác mà sống, và quan trọng hơn cả là còn đủ những niềm vui, sở thích riêng để lấp đầy những khoảng trống thời gian. Khi ta tự đứng vững trên đôi chân mình, tự lo liệu được cho bản thân, ta mới có được sự tôn trọng và một phong thái ung dung tự tại.

Đừng biến mình thành cây tầm gửi sống bám vào cây sồi già, hãy biến mình thành một cây cổ thụ, dẫu đơn độc nhưng thâm trầm và vững chãi giữa trời đất.

Và rồi, cuộc đời sẽ dạy ta bài học khắc nghiệt nhưng cũng đầy vị tha nhất: Học cách làm bạn với nỗi cô đơn. Hãy tập quen với việc ăn cơm một mình mà không thấy tủi thân, đi chợ một mình mà vẫn thấy vui vẻ lựa chọn từng mớ rau con cá, đi khám bệnh một mình mà vẫn bình tĩnh kiên cường, hay lặng lẽ ngắm hoàng hôn mà không cần ai phải trầm trồ cùng. Khi ta có thể làm tất cả những điều đó một mình, ta sẽ nhận ra cô đơn không phải là kẻ thù, mà là một người thầy, một người bạn đồng hành trung thành nhất.

Cuộc đời này thực chất là một hành trình độc đạo, cha mẹ đã rời bỏ ta đi trước, bạn đời rồi cũng có thể lỡ bước sang ngang hoặc đi về cõi vĩnh hằng, con cái thì bận rộn với guồng quay riêng, chỉ có chính bản thân ta là người duy nhất đi cùng ta từ khi sinh ra cho đến hơi thở cuối cùng. Khi không còn mong cầu ai phải hiểu thấu nỗi lòng mình, không còn khát khao ai phải ở bên cạnh để xua tan sự trống trải, lúc ấy tâm ta mới thực sự an nhiên. Sự cô đơn lúc này chuyển hóa thành sự tĩnh tại, một trạng thái thiền định giữa đời thường mà chỉ những người đã đi qua đủ bão giông mới thấu cảm được.

Hạnh phúc ở tuổi xế chiều, do đó, cần được định nghĩa lại một cách giản đơn nhưng sâu sắc hơn. Đó không phải là nhà cao cửa rộng, không phải là con đàn cháu đống ồn ào, mà là sự bình yên trong tâm hồn và sự tự do trong nếp sống. Hãy giữ cho mình một chút tiền phòng thân để an tâm, giữ gìn sức khỏe như báu vật vì đó là vốn liếng cuối cùng, giữ lại vài người bạn tri kỷ để đôi khi cùng nhau uống chén trà đàm đạo chuyện nhân tình thế thái. Đừng oán trách sự lạnh nhạt của thế gian, đừng kể lể nỗi khổ đau bệnh tật với bất kỳ ai, bởi ai cũng có nỗi khổ riêng của họ.

Thay vì ngồi ủ rũ chờ đợi sự quan tâm ban phát, hãy tự tạo niềm vui cho mình bằng việc trồng một cái cây, đọc một cuốn sách, hay đơn giản là tận hưởng bầu không khí trong lành của buổi sớm mai. Khi cha mẹ còn sống, ta còn nơi để trở về, còn gốc rễ để bấu víu; nhưng khi cha mẹ khuất núi, ta chỉ còn lại đích đến phía trước để bước tới. Chặng đường cuối cùng này, hãy đi thật chậm rãi, nhẹ nhàng, không vướng bận, không oán hờn. Hãy yêu thương lấy chính bản thân mình, trân trọng từng ngày được sống, và biến tuổi già trở thành những tháng ngày thanh cao, rực rỡ và kiêu hãnh nhất của một kiếp người, để khi nhắm mắt xuôi tay, ta có thể mỉm cười rằng mình đã sống trọn vẹn và già đi một cách thật thanh thản.

Lm. Anmai, CSsR


 

Chúng ta đến cuộc đời này…

Trầm Mặc Huơng Lai

 Chúng ta đến cuộc đời này.. thật ra chỉ ghé qua một đoạn rồi cũng rời đi.

Vậy mà nhiều khi, mình sống như thể sẽ ở đây mãi.

Hơn thua một câu nói, thắng thua một chuyện nhỏ, giữ trong lòng một nỗi giận thật lâu.. để rồi người đau khổ lại là chính mình.   

Chúng ta đến cuộc đời này, thật ra chỉ là người lữ khách.

Ở lại một quãng, học vài bài học, gặp vài con người, mang vài niềm vui nỗi buồn… rồi cũng đến ngày phải rời đi với hai bàn tay trắng. Không ai có thể giữ mãi cho mình một điều gì, kể cả tuổi trẻ, sức khỏe, hay những người mình thương nhất.

Vậy mà nhiều khi, ta lại sống như thể mình sẽ ở đây mãi mãi.

Ta chấp nhặt một lời nói vô tình.

Ta nặng lòng vì một ánh nhìn, một sự hiểu lầm, một lần không được như ý.

Ta cố chứng minh mình đúng, cố giành phần hơn, cố giữ lấy tự ái của mình, mà quên mất rằng lòng bình an còn quý hơn rất nhiều một chiến thắng nhỏ nhoi.

Có những điều lúc xảy ra ta thấy lớn lắm, đau lắm, không thể bỏ qua.

Nhưng vài tháng sau nhìn lại, nó nhỏ như hạt bụi.

Vài năm sau nhớ lại, ta thậm chí không còn nhớ rõ mình đã từng giận đến mức nào.

Chỉ tiếc là trong quãng thời gian chấp giữ ấy, ta đã tự làm mỏi lòng mình, tự làm trái tim mình nặng xuống, tự đánh mất biết bao dịu dàng đáng lẽ mình có thể dành cho nhau.

Đời người ngắn lắm.

Ngắn đến mức một cái ngoảnh mặt có thể thành lần cuối.

Một câu chưa kịp nói có thể mãi mãi không còn cơ hội để nói.

Một người hôm nay còn bên cạnh, ngày mai có thể chỉ còn là kỷ niệm.

Nên có những điều, nếu bỏ qua được thì hãy bỏ qua.

Có những chuyện, nếu nhẹ đi được thì hãy học cách nhẹ đi.

Không phải vì mình yếu đuối, mà vì mình hiểu điều gì thật sự đáng để giữ trong tim.

Người khôn ngoan không phải là người luôn thắng trong mọi cuộc tranh luận,

mà là người biết điều gì cần giữ, điều gì cần buông.

Biết khi nào nên im lặng để giữ lấy bình an.

Biết khi nào nên mỉm cười cho qua để lòng mình được nhẹ.

Biết khi nào nên tha thứ, không phải vì người kia xứng đáng, mà vì chính mình xứng đáng được bình yên.

Giận dữ giống như cầm than nóng ném người khác, trước khi làm bỏng ai, bàn tay mình đã bỏng trước.

Oán trách giống như tự nhốt mình trong một căn phòng tối,người kia chưa chắc bận tâm, nhưng mình thì cứ mãi ngột ngạt không lối ra.

Có những nỗi buồn không cần nuôi lớn.

Có những vết thương không cần chạm lại mỗi ngày.

Buông bớt một chút, lòng sẽ nhẹ hơn một chút.

Sống ở đời, điều đáng quý không phải là hơn được bao nhiêu người,mà là giữ được bao nhiêu yêu thương, bao nhiêu tử tế, bao nhiêu bình an trong tâm hồn.

Đến cuối cùng, người hạnh phúc không phải là người có lý trong mọi chuyện,

mà là người biết sống hiền hòa, biết yêu thương, biết trân trọng những gì mình đang có khi còn có thể.

Nếu một mai phải rời cuộc đời này,điều khiến ta thanh thản chắc không phải là mình đã từng thắng ai, hơn ai, hay làm ai phải im lặng.

Điều khiến ta nhẹ lòng hơn, có lẽ là:mình đã sống đủ chân thành,đã yêu thương đủ nhiều,đã học cách bao dung,và đã không để những chuyện nhỏ nhặt làm hao mòn một đời vốn rất ngắn.

Nên thôi, nếu hôm nay còn đang giận, hãy tập buông bớt.

Nếu còn đang chấp, hãy tập nhẹ lòng.

Nếu còn đang giữ trong tim một điều làm mình mệt mỏi, hãy thử thở sâu và tự nhắc mình:

“Mình đến cuộc đời này không phải để ôm mãi những điều làm lòng mình nặng trĩu, mà để học yêu thương, học bình an, rồi thanh thản mà đi qua.”

Lm. ANmai, CSsR

 


 

NƠI TĨNH LẶNG – Rev. Ron Rolheiser, OMI 

 Rev. Ron Rolheiser, OMI 

Nhiều người trong chúng ta cần có thêm thinh lặng trong cuộc sống.  Tôi nói điều này một cách dè dặt, bởi vì vị trí của thinh lặng trong đời ta không phải là điều dễ xác định.

 Tĩnh lặng là một thực tại phức tạp; đôi khi chúng ta sợ nó và tìm cách tránh né, nhưng cũng có lúc, khi mệt mỏi và bị kích thích quá mức, chúng ta lại tha thiết khao khát nó.

 Nhìn chung, chúng ta có quá ít thinh lặng trong đời mình.  Công việc, điện thoại di động, các cuộc trò chuyện, giải trí, tin tức, những xao lãng và đủ loại bận tâm khác lấp đầy từng phút giây tỉnh thức.

 Chúng ta đã quá quen với việc được kích thích bởi lời nói, thông tin và sự phân tâm, đến mức thường cảm thấy lạc lõng và bồn chồn khi ở một mình, không có ai để nói chuyện, không có gì để xem, không có gì để đọc hay làm để chiếm lấy sự chú ý của mình.

 Tuy nhiên, không phải tất cả điều này đều xấu.  Trước đây, các tác giả viết về tâm linh thường quá phiến diện trong việc ca ngợi đức tính của sự thinh lặng.  Họ có xu hướng tạo ấn tượng quá đơn giản rằng Thượng đế và chiều sâu tâm linh chỉ được tìm thấy trong sự thinh lặng, như thể những đức tính của công việc thường nhật, trò chuyện, lễ hội, gia đình và cộng đồng đều kém quan trọng hơn về mặt tâm linh.

 Khi nói về không gian thinh lặng, các tín ngưỡng tâm linh xưa kia thường trừng phạt người hướng ngoại và quá dễ dãi với người hướng nội.  Nói tóm lại, họ đã không xem xét đầy đủ rằng tất cả chúng ta, cả người hướng ngoại và hướng nội, đều cần đến liệu pháp của đời sống xã hội.  Trong khi chúng ta cần sự thinh lặng để có chiều sâu, chúng ta lại cần sự tương tác với người khác để ổn định tâm trí và giữ gìn sự tỉnh táo.  Một số quá trình tự khám phá bản thân chỉ có thể thực hiện trong thinh lặng, nhưng một số khía cạnh khác của sự tỉnh táo lại phụ thuộc vào sự tương tác với người khác.  Sự thinh lặng cũng có thể là một lối thoát, một sự né tránh quá trình thanh lọc khắc nghiệt thường chỉ có thể xảy ra thông qua thử thách của việc tương tác trong gia đình và cộng đoàn.

 Hơn nữa, thinh lặng không phải lúc nào cũng là cách tốt nhất để đối diện với những nỗi đau hay ám ảnh trong lòng.  Xét cho cùng, đó có thể là một dạng tập trung quá mức vào chính mình.  Đôi khi, khi một nỗi đau đang đe dọa sự quân bình nội tâm, điều tốt nhất ta có thể làm không phải là vào nhà nguyện, nhưng là đến rạp hát hoặc dùng bữa với một người bạn.  Sự chuyên tâm vào công việc hay một hình thức giải trí lành mạnh đôi khi lại chính là người bạn cần thiết khi con tim ta đang ngột ngạt.

 Có một câu chuyện về triết gia nổi tiếng Hegel.  Ngay sau khi hoàn tất công trình đồ sộ của mình về hiện tượng học của lịch sử, ông nhận ra rằng mình đang bên bờ suy sụp vì cường độ tập trung kéo dài quá lâu.  Ông đã làm gì để thoát khỏi tình trạng ấy?  Đi tĩnh tâm trong thinh lặng ư?  Không.  Ông đi xem nhạc kịch mỗi tối, dùng bữa hằng ngày với bạn bè, và tìm đến đủ mọi hình thức giải trí cho đến khi, sau một thời gian, sự siết chặt nghẹt thở của thế giới nội tâm dần buông lỏng và ánh nắng cùng sự tươi mới của đời sống thường ngày lại bừng lên.  Đôi khi, chính sự xao lãng – chứ không phải thinh lặng – mới là phương thuốc tốt nhất cho chúng ta, kể cả trên bình diện thiêng liêng.

 Dẫu vậy, thinh lặng vẫn là điều cần thiết.  Những gì các bậc thầy linh đạo qua mọi thời đại muốn dạy về điều này có thể được tóm gọn trong một câu của Meister Eckhart: Không gì giống ngôn ngữ của Thiên Chúa cho bằng thinh lặng.

 Thực chất, Eckhart muốn nói rằng thinh lặng là một lối vào đặc biệt của cõi thần linh.  Bên trong mỗi chúng ta có một khoảng thinh lặng mênh mông đang mời gọi ta bước vào, và có thể giúp ta học ngôn ngữ của trời cao.  Điều đó có nghĩa là gì?

 Thinh lặng là một ngôn ngữ sâu xa hơn, bao quát hơn, thấu hiểu hơn, giàu lòng trắc ẩn hơn và vĩnh cửu hơn bất cứ ngôn ngữ nào khác.  Trên thiên đàng, dường như sẽ không còn ngôn ngữ, không còn lời nói.  Thinh lặng sẽ cất tiếng.  Chúng ta sẽ hiểu nhau cách trọn vẹn, thân mật và hân hoan, và nâng đỡ nhau trong tĩnh lặng.  Trớ trêu thay, dù rất quan trọng, lời nói cũng là một phần lý do khiến chúng ta chưa thể làm được điều ấy ngay bây giờ.  Lời nói có thể hiệp nhất, nhưng cũng có thể chia rẽ.  Trong tĩnh lặng, có một sự kết nối sâu xa hơn.

 Những người yêu nhau đã biết điều này, cũng như các tín hữu Quaker với phụng vụ cố gắng phản chiếu sự thinh lặng của thiên đàng, và như những ai thực hành cầu nguyện chiêm niệm.  Thánh Gioan Thánh Giá diễn tả điều ấy bằng một câu đầy ẩn ý: “Hãy học để hiểu nhiều hơn bằng cách không hiểu, hơn là bằng cách hiểu.”

 Thinh lặng có thể nói lớn hơn và sâu hơn lời nói.  Chúng ta đã trải nghiệm điều này theo nhiều cách khác nhau: khi bị ngăn cách bởi khoảng cách hay cái chết với những người thân yêu, chúng ta vẫn có thể ở với họ trong thinh lặng; khi bị chia rẽ với những người thiện chí vì hiểu lầm, thinh lặng có thể là nơi chúng ta lại có thể ở cùng nhau; khi đứng bất lực trước nỗi đau của người khác, thinh lặng có thể là cách diễn tả sự cảm thông tốt nhất; và khi chúng ta phạm lỗi và không còn lời nào có thể khôi phục sự nguyên vẹn trước đây, thì trong thinh lặng, một Lời sâu xa hơn có thể vang lên, cho ta biết rằng rốt cuộc mọi sự sẽ ổn thỏa, và mọi cách thế hiện hữu sẽ được ổn thỏa.

 Không gì giống ngôn ngữ của Thiên Chúa cho bằng thinh lặng.  Đó là ngôn ngữ của thiên đàng, đã sẵn ở sâu thẳm trong ta, đang mời gọi ta bước vào sự thân mật sâu xa hơn với mọi sự – ngay cả khi chúng ta vẫn cần đến “liệu pháp” của đời sống công khai.

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim


 

Chiến sự hôm nay cho thấy một bước ngoặt nguy hiểm-Lê Diễn Đức

Nguyễn Kim Chi

Lê Diễn Đức

Chiến sự hôm nay cho thấy một bước ngoặt nguy hiểm: cuộc đối đầu không còn dừng ở các mục tiêu quân sự, mà đã chuyển sang đánh thẳng vào hạ tầng năng lượng – huyết mạch của nền kinh tế toàn cầu.

Việc Israel tấn công vào mỏ khí South Pars của Iran và Iran lập tức đáp trả bằng các đòn đánh vào chuỗi cơ sở năng lượng tại Vùng Vịnh không chỉ là ăn miếng trả miếng, mà là sự chuyển pha sang một dạng chiến tranh mới – nơi mỗi đòn đánh đều mang tính hệ thống.

Bề ngoài, Israel vẫn là bên chiếm ưu thế rõ rệt. Khả năng tấn công chính xác, năng lực tình báo và kiểm soát không gian tác chiến giúp họ đánh trúng những mục tiêu có giá trị cao trong lòng Iran. Nhưng nếu chỉ nhìn vào các đòn đánh này để kết luận cục diện, thì sẽ bỏ qua phần quan trọng nhất của cuộc chiến: cách Iran “chơi game”.

Iran không cố thắng theo cách truyền thống. Họ hiểu rõ mình không thể cạnh tranh trực diện với Israel, càng không thể đối đầu đối xứng với Mỹ. Vì vậy, chiến lược của Tehran là chuyển cuộc chiến từ một ván cờ quân sự sang một trò chơi tiêu hao và phá vỡ hệ thống. Thay vì bảo vệ tuyệt đối lãnh thổ, Iran chấp nhận bị đánh, nhưng đổi lại họ mở rộng chiến trường ra toàn khu vực – nơi mà bất kỳ đòn tấn công nào cũng có thể gây chấn động dây chuyền.

Đòn phản công của Iran vào các cơ sở năng lượng ở Qatar, Saudi Arabia hay UAE là minh chứng rõ nhất. Đây không chỉ là hành động quân sự, mà là một tín hiệu: nếu Iran bị đẩy vào chân tường, họ sẵn sàng khiến cả hệ thống năng lượng toàn cầu rung chuyển. Nói cách khác, họ biến cuộc chiến thành một bài toán mà chi phí của việc đánh bại Iran có thể vượt xa lợi ích thu được.

Chính điểm này đã đặt Mỹ vào một tình thế cực kỳ khó xử. Về quân sự thuần túy, Mỹ có thể áp đảo Iran. Nhưng vấn đề không nằm ở việc “đánh thắng”, mà ở việc “kết thúc được chiến tranh”.

Nếu Washington lựa chọn leo thang, họ sẽ đối mặt với một kịch bản quen thuộc: chiến thắng nhanh về quân sự, nhưng sa lầy trong một không gian bất ổn kéo dài – nơi các lực lượng ủy nhiệm, xung đột cục bộ và phá hoại kinh tế liên tục bào mòn nguồn lực.

Bài học từ Chiến tranh Afghanistan vẫn còn rất mới. Mỹ đã lật đổ Taliban chỉ trong thời gian ngắn, nhưng phải mất hai thập kỷ để nhận ra rằng việc kiểm soát một xã hội phức tạp bằng sức mạnh quân sự là điều gần như bất khả thi.

Trước đó, Chiến tranh Iraq cũng cho thấy việc loại bỏ một chế độ không đồng nghĩa với việc xây dựng được một trật tự ổn định. Và Nội chiến Libya là ví dụ điển hình cho một khoảng trống quyền lực biến thành hỗn loạn kéo dài.

Iran thậm chí còn là một bài toán khó hơn. Đây không phải là một quốc gia dễ sụp đổ theo kiểu “cắt đầu là xong”. Họ có một hệ thống quyền lực đa tầng, một bản sắc quốc gia mạnh, và quan trọng hơn, một mạng lưới ảnh hưởng trải rộng khắp Trung Đông. Ngay cả trong kịch bản cực đoan nhất – Mỹ đánh bại chế độ hiện tại – thì việc “xóa sổ toàn bộ hệ thống” gần như là điều không tưởng. Những gì còn lại có thể là một Iran phân mảnh, bất ổn và thậm chí nguy hiểm hơn.

Vì vậy, nghịch lý của cuộc chiến này nằm ở chỗ: càng leo thang, Mỹ càng tiến gần đến một chiến thắng quân sự – nhưng lại xa dần một kết thúc chiến lược. Iran hiểu điều đó, và họ đang chơi đúng vào điểm yếu này. Họ không cần thắng nhanh; họ chỉ cần kéo dài, mở rộng và làm cho đối phương phải trả giá ngày càng đắt.

Nhìn từ góc độ này, có thể thấy cục diện hiện tại không phải là một cuộc chiến có bên thắng rõ ràng. Israel đang thắng trong từng trận đánh. Iran đang làm biến dạng toàn bộ cuộc chơi. Còn Mỹ, dù là siêu cường, lại bị đặt vào thế phải lựa chọn giữa hai con đường đều rủi ro: hoặc không hành động đủ mạnh để chấm dứt xung đột, hoặc hành động quá mạnh và tự đẩy mình vào một vòng xoáy sa lầy mới.

Và đó chính là điều khiến cuộc chiến này trở nên nguy hiểm: không phải vì nó chưa có người thắng, mà vì ngay cả người có thể thắng cũng không chắc sẽ thoát ra được.


 

TRAO SỰ SỐNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Chúa Cha làm cho kẻ chết trỗi dậy và ban sự sống cho họ thế nào, thì người Con cũng ban sự sống cho ai tuỳ ý”.

“Cuộc sống con người là một tiến trình liên lỉ làm quen với những điều không ngờ! Điều không ngờ cuối đời… là đau đớn, thở gấp và đợi chết! Nhưng ở bất cứ giai đoạn nào, một cuộc sống chỉ có ý nghĩa khi biết ‘trao sự sống’ và cứu sống!” – Anon.

Kính thưa Anh Chị em,

Khác với con người, Thiên Chúa không đi qua bất cứ giai đoạn nào: Ngài hằng hữu, hằng sống và đời đời. Lời Chúa hôm nay mặc khải một Thiên Chúa dịu dàng như mẹ, vững vàng như cha – Đấng ‘trao sự sống’ và cứu sống.

Isaia gợi lên hình ảnh một người mẹ không thể quên đứa con mình cưu mang: “Cho dù nó có quên đi nữa, thì Ta, Ta cũng chẳng quên ngươi bao giờ!” – bài đọc một. Thánh Vịnh đáp ca xác tín: “Chúa là Đấng từ bi nhân hậu!”. Thế nhưng, giữa đời thường, không ít lần chúng ta chỉ muốn buông xuôi khi những nỗ lực không được ghi nhận, những hy sinh không ai hay biết, những cô đơn không gọi được tên. Vâng, con người có thể quên nhau, Thiên Chúa thì không. Ngài như một người mẹ đau đáu con mình – cụ thể, bền bỉ và không nguôi. Chính ký ức yêu thương ấy gìn giữ và nâng đỡ chúng ta từng ngày. “Tình yêu của Thiên Chúa mạnh hơn mọi sự lãng quên của con người!” – Henri Nouwen.

Với bài Tin Mừng, Chúa Giêsu khẳng định quyền năng ban sự sống của Ngài: “Người Con cũng ban sự sống cho ai tuỳ ý”; “Giờ đã đến – và chính là lúc này đây!”. Giờ của Ngài chính là ‘giờ sinh nở’ tử nạn và phục sinh; qua đó, Ngài ‘trao sự sống’ mới cho những ai tin. Vì thế, mọi môn đệ, trong mọi bậc sống, đều được mời gọi tiếp nối công việc của Ngài – ‘trao sự sống’ và cứu sống. Thánh Augustinô gọi đó là “cuộc trao đổi tuyệt vời”: chúng ta làm cho Ngài có thể chết; và Ngài làm cho chúng ta có thể sống!

Cuộc “trao đổi” ấy không dừng ở mầu nhiệm, nhưng chảy vào đời sống – nhận sự sống từ Ngài – chúng ta được mời gọi trao lại sự sống ấy cho anh chị em mình. “Giờ đây, Chúa Kitô không còn thân xác nào khác ngoài thân xác của bạn!” – Têrêxa Avila.

Anh Chị em,

Mọi sự sống phát xuất từ Chúa Cha được trao ban nơi Chúa Con – Đấng hiến mình đến cùng. Trên thập giá, thân xác Ngài bị bẻ ra, máu Ngài đổ ra, để con người được sống. Và hôm nay, nơi Thánh Thể, Ngài vẫn tiếp tục trao ban – lặng lẽ, khiêm hạ, nhưng trọn vẹn. Cảm nghiệm tình yêu của Đấng hiến dâng mạng sống, chúng ta không được phép sống tầm thường. Hãy thôi sống lây lất, tiếc nuối ‘thuở lang thang’, thôi ‘sống qua ngày đợi qua đời’; nhưng tuỳ sức mình, chúng ta nỗ lực tái tạo tình yêu, niềm vui và bình an cho mình, cho người khác! Được như thế, bạn và tôi đang cùng Chúa ‘trao sự sống’ và cứu sống thế giới vậy! “Vinh quang của Thiên Chúa là con người sống trọn vẹn!” – Irênê.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, dẫu là ai, sống đến mấy mươi, rồi con cũng chỉ thở gấp và đợi chết – cho con luôn là một ‘khí cụ’ trong tay Chúa để tiếp tục trao, tiếp tục cứu!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

********************************************

Lời Chúa Thứ Tư Tuần IV Mùa Chay

Chúa Cha làm cho kẻ chết trỗi dậy và ban sự sống cho họ thế nào, thì người Con cũng ban sự sống cho ai tuỳ ý.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.     Ga 5,17-30

17 Khi ấy, sau khi chữa lành một người bệnh trong ngày sa-bát, Đức Giê-su tuyên bố với người Do-thái rằng : “Cho đến nay, Cha tôi vẫn làm việc, thì tôi cũng làm việc.” 18 Bởi vậy, người Do-thái lại càng tìm cách giết Đức Giê-su, vì không những Người phá luật sa-bát, lại còn nói Thiên Chúa là Cha của mình, và như thế là tự coi mình ngang hàng với Thiên Chúa.

19 Đức Giê-su lên tiếng nói với họ rằng : “Thật, tôi bảo thật các ông : người Con không thể tự mình làm bất cứ điều gì, ngoại trừ điều Người thấy Chúa Cha làm ; vì điều gì Chúa Cha làm, thì người Con cũng làm như vậy. 20 Quả thật, Chúa Cha yêu người Con và cho người Con thấy mọi điều mình làm, lại sẽ còn cho người Con thấy những việc lớn lao hơn nữa, khiến chính các ông cũng phải kinh ngạc. 21 Chúa Cha làm cho kẻ chết trỗi dậy và ban sự sống cho họ thế nào, thì người Con cũng ban sự sống cho ai tuỳ ý. 22 Quả thật, Chúa Cha không xét xử một ai, nhưng đã ban cho người Con mọi quyền xét xử, 23 để ai nấy đều tôn kính người Con như tôn kính Chúa Cha. Kẻ nào không tôn kính người Con, thì cũng không tôn kính Chúa Cha, Đấng đã sai người Con. 24 Thật, tôi bảo thật các ông : ai nghe lời tôi và tin vào Đấng đã sai tôi, thì có sự sống đời đời và khỏi bị xét xử, nhưng đã từ cõi chết bước vào cõi sống.

25 “Thật, tôi bảo thật các ông : giờ đã đến -và chính là lúc này đây- giờ các kẻ chết nghe tiếng Con Thiên Chúa ; ai nghe thì sẽ được sống. 26 Quả thật, Chúa Cha có sự sống nơi mình thế nào, thì cũng ban cho người Con được có sự sống nơi mình như vậy, 27 lại ban cho người Con được quyền xét xử, vì người Con là Con Người. 28 Các ông chớ ngạc nhiên về điều này, vì giờ đã đến, giờ mọi kẻ ở trong mồ sẽ nghe tiếng người Con 29 và sẽ ra khỏi đó : ai đã làm điều lành, thì sẽ sống lại để được sống ; ai đã làm điều dữ, thì sẽ sống lại để bị kết án.

30 “Tôi không thể tự ý mình làm gì. Tôi xét xử theo như tôi được nghe, và phán quyết của tôi thật công minh, vì tôi không tìm cách làm theo ý riêng tôi, nhưng theo ý Đấng đã sai tôi.”


 

Cuộc chạy đua tái vũ trang: Thực tế của các con số và sự cấp bách của hòa bình

Tin Mừng Cho Người Nghèo

Cuộc chạy đua tái vũ trang: Thực tế của các con số và sự cấp bách của hòa bình

Ngày 18 tháng 9 năm 2025, trong một cuộc phỏng vấn với tờ Daily Mail, cựu Phó Tư lệnh NATO, Tướng Sir Richard Shirreff, tuyên bố rằng chỉ trong 100 giờ – tức chưa đầy năm ngày – Tổng thống Nga Vladimir Putin có thể phá hủy châu Âu. Nhưng bỏ qua mọi cân nhắc luân lý, liệu có thật sự có thể tiêu diệt hoàn toàn đối phương bằng chiến tranh thông thường mà không sử dụng vũ khí hạt nhân – điều chắc chắn sẽ dẫn đến một thảm họa hạt nhân toàn cầu?

Nhận định của Shirreff, ít nhất cũng đáng nghi ngờ, và thực tế đang diễn ra trên chiến trường – cũng như trong nhiều cuộc chiến khác – cho thấy tình hình phức tạp hơn nhiều.

Các báo cáo về máy bay không người lái

Trong cùng những tuần khi các cảnh báo được đưa ra trong giới quân sự NATO về sức mạnh quân sự của Nga, nhiều báo cáo xuất hiện về các máy bay không người lái bay trên bầu trời châu Âu.

  • Ngày 9/9, máy bay chiến đấu phải cất cánh tại Ba Lan và nhiều sân bay bị đóng cửa.
  • Ngày 22/9, tình trạng tương tự xảy ra ở Copenhagen và Oslo.
  • Đầu tháng 10, Munich phải dừng giao thông hàng không.
  • Cuối tháng 10 và đầu tháng 11, đến lượt các sân bay Berlin và Bremen.
  • Ngày 7/11 tại Bỉ.
  • Và cuối cùng ngày 4/12, gần căn cứ tàu ngầm hạt nhân Brest (Pháp).

Tuy nhiên, trong tất cả các trường hợp này, sau đó không có xác nhận chính thức về nguồn gốc của các máy bay không người lái (ban đầu có nghi ngờ từ Nga) cũng như mức độ nguy hiểm của chúng.

Chẳng hạn, theo báo cáo của Cơ quan Kiểm soát Không lưu Đức (DFS), chỉ riêng trong năm 2025 tại Đức đã có 225 lần gián đoạn chuyến bay do drone. Vì vậy, có thể đặt câu hỏi: liệu những cảnh báo ấy có bị thổi phồng hay không?

Luật ngân sách và việc tái vũ trang

Trong cùng thời gian đó, các nước Liên minh châu Âu cũng đang thông qua luật ngân sách, với yêu cầu tăng đáng kể chi tiêu quân sự.

Các quốc gia Eurozone phải trình Kế hoạch Ngân sách Dự thảo cho Ủy ban châu Âu trước ngày 15 tháng 10, sau đó được thảo luận và phê chuẩn tại các quốc hội trước cuối năm.

Chi tiêu quân sự toàn cầu tăng liên tục trong những năm gần đây:

  • +9,4% chỉ riêng năm 2024, theo Niên giám SIPRI 2025: Vũ khí, Giải trừ quân bị và An ninh quốc tế.

NATO – theo thỏa thuận tại Hội nghị Thượng đỉnh La Haye tháng 6 – đặt mục tiêu:

  • 5% GDP cho quốc phòng vào năm 2035
  • 3,5% cho vũ khí
  • 1,5% cho an ninh mở rộng

Tuy nhiên, quyết định chiến lược tái vũ trang sẽ tất yếu kéo theo việc chuyển nguồn lực khỏi:

  • chính sách xã hội
  • y tế
  • giáo dục
  • việc làm
  • bảo vệ môi trường

Tháng 3 năm 2025, Đức Hồng y Pietro Parolin, Quốc vụ khanh Tòa Thánh, nhận định:

“Chính sách của Tòa Thánh từ Thế chiến thứ nhất luôn là thúc đẩy giải trừ quân bị chung và có kiểm soát trên bình diện quốc tế. Vì thế chúng ta không thể vui mừng trước hướng đi hiện nay.”

Những tình huống bị cảm nhận như mối nguy nghiêm trọng có thể khiến dư luận dễ dàng chấp nhận cuộc chạy đua tái vũ trang. Việc nhấn mạnh nguy cơ Nga xâm lược châu Âu – ngoài cuộc chiến ở Ukraine – cũng có thể thu hẹp không gian tranh luận phê phán, đúng vào lúc các ngân sách quốc gia đang được thông qua.

Cuộc chạy đua vũ trang trong lịch sử

Lịch sử cho thấy chi tiêu quân sự thường được coi là cần thiết theo chu kỳ.

Sau Thế chiến II, với 60 triệu người chết và sự khởi đầu của Chiến tranh Lạnh, việc tái vũ trang được xem là điều kiện sống còn.

Học thuyết răn đe hạt nhân và thế cân bằng giữa các khối khiến việc tăng chi tiêu quân sự gần như trở thành bắt buộc.

Sau khi Liên Xô sụp đổ, tình hình thay đổi:

  • chi tiêu quân sự giảm hoặc ổn định
  • quân đội mở rộng nhiệm vụ sang
  • gìn giữ hòa bình
  • can thiệp nhân đạo
  • quản lý khủng hoảng khu vực

Nhưng ngày nay, chiến tranh lại quay trở lại trong đời sống quốc tế:

  • xung đột cường độ cao
  • cạnh tranh giữa các cường quốc
  • suy giảm tôn trọng luật pháp quốc tế

Một số hiệp ước kiểm soát vũ khí cũng không còn được gia hạn.

Ví dụ mới nhất là Hiệp ước New START, hết hạn ngày 5/2/2026, vốn nhằm giảm và giới hạn vũ khí hạt nhân giữa Mỹ và Nga.

So sánh các con số

Ước tính năm 2025 cho thấy:

NATO

  • GDP: 57.000 tỷ USD
  • Chi tiêu quân sự: 1.495 tỷ USD (2,62% GDP)

Trong đó:

  • Mỹ:
  • GDP: 30.620 tỷ USD
  • quân sự: 921 tỷ USD (3,01%)
  • Các nước NATO khác:
  • GDP: 26.380 tỷ USD
  • quân sự: 574 tỷ USD (2,18%)

Nga

  • GDP: 2.540 tỷ USD
  • quân sự: 187 tỷ USD (7,4%)

Trung Quốc

  • GDP: 19.398 tỷ USD
  • quân sự: 314 tỷ USD (1,62%)

Những con số này cho thấy sự bất cân xứng lớn giữa nguồn lực NATO và Nga.

Vì thế câu hỏi đặt ra:

Liệu cách chúng ta phản ứng với các mối đe dọa hiện nay có thực sự làm giảm chúng, hay lại càng làm chúng gia tăng?

Ngành công nghiệp vũ khí

Chỉ cần tăng 1% GDP cho quốc phòng tương đương khoảng 600 tỷ USD mỗi năm.

Cổ phiếu ngành vũ khí cũng tăng mạnh:

  • Europe Stoxx Aerospace & Defence: +28,97%
  • S&P Aerospace & Defense (Mỹ): +73,45%

Nhưng cuộc chạy đua vũ trang cũng mang theo:

  • chi phí chính trị
  • gánh nặng kinh tế
  • nợ công
  • hạn chế tự chủ của các quốc gia

Lời Đức Thánh Cha về giải trừ quân bị

Trong Sứ điệp Ngày Hòa bình Thế giới 2026, Đức Thánh Cha Lêô XIV viết:

“Những lời kêu gọi gia tăng chi tiêu quân sự thường được trình bày như một phản ứng hợp lý trước các mối đe dọa bên ngoài. Nhưng ý tưởng về sức mạnh răn đe quân sự – đặc biệt là răn đe hạt nhân – dựa trên một quan niệm phi lý về quan hệ giữa các quốc gia: không dựa trên luật pháp, công lý và niềm tin, mà trên nỗi sợ và sự thống trị bằng vũ lực.”

Chi tiêu quân sự toàn cầu đã đạt 2.718 tỷ USD, tương đương 2,5% GDP toàn cầu.

Theo Đức Thánh Cha, ngày nay còn xuất hiện cả:

  • chiến dịch truyền thông
  • chương trình giáo dục

nhằm nuôi dưỡng cảm giác đe dọa, và hứa hẹn rằng an ninh chỉ có thể đạt được bằng vũ trang.

Ngài nhấn mạnh:

An ninh ngày nay không thể chỉ được hiểu qua sức mạnh quân sự. Giải trừ quân bị – về văn hóa, chính trị và tinh thần – phải được coi là một con đường nghiêm túc.

Nguy cơ tận thế hạt nhân

Thế giới hiện có khoảng 12.000 đầu đạn hạt nhân:

  • Nga: 5.459 (1.718 sẵn sàng phóng)
  • Mỹ: 5.177 (khoảng 1.700 sẵn sàng)

Sức mạnh của chúng đủ để hủy diệt nền văn minh nhân loại hàng trăm lần.

Chỉ 50 đầu đạn cũng đủ gây thảm họa toàn cầu.

Học thuyết hủy diệt lẫn nhau (MAD) cho thấy:

  • không bên nào có thể thắng
  • bên tấn công trước cũng sẽ bị hủy diệt bởi đòn đáp trả.

Con đường duy nhất

Chiến tranh hiện đại – với công nghệ và trí tuệ nhân tạo – có sức tàn phá khổng lồ và kéo dài vô tận.

Vì thế giải pháp duy nhất, như Huấn quyền của các Giáo hoàng nhắc nhở, là:

  • ngoại giao
  • đối thoại
  • đàm phán
  • giải trừ quân bị

Đức Thánh Cha Lêô XIV nhắc lại lời Chúa Giêsu với thánh Phêrô trong vườn Cây Dầu:

“Hãy xỏ gươm vào vỏ.”

Ngài nói:

“Đó là lời gửi đến những người quyền lực trên thế giới: hãy can đảm giải trừ vũ khí! Nhưng đồng thời cũng là lời mời gọi mỗi người chúng ta giải trừ chính trái tim mình, bởi vì nếu chúng ta không có bình an trong lòng, chúng ta không thể trao ban bình an cho người khác.”

Và cũng là lời mời gọi:

hãy nhìn thế giới từ vị trí thấp hơn — từ đôi mắt của những người đang đau khổ, chứ không phải từ vị trí của kẻ quyền lực.

Andrea Tornielli

Nguồn: Vatican News


 

MÙA GIẶT GIŨ – Giuse Ngô Văn Chữ, S.J

Giuse Ngô Văn Chữ, S.J 

Một mùa Chay tôi được mời đến giúp tĩnh tâm cho một giáo xứ ở vùng đất đỏ Tây nguyên.  Buổi sáng nọ cha xứ nhờ tôi vào buôn giải tội cho người Dân tộc.  Khi vào làng thì một số giáo dân người Dân tộc đã chờ sẵn ở nhà nguyện để đón nhận bí tích giải tội.  Mùa này là mùa thu hoạch điều nên một số đã đi làm rồi vì tôi vào hơi trễ.  Sau khi giải tội cho khoảng 60 người xong thì một anh giáo lý viên chở tôi vào các nhà có người bệnh để tiếp tục giải tội; xong anh chở tôi đến cuối làng để giải tội cho những người bệnh phong đang sống cách ly. 

Có sáu người Dân Tộc phong ở đó và chỉ có một người nói được tiếng Kinh bập bẹ, nên họ cứ dọn mình và xưng tội bằng tiếng địa phương, còn tôi cứ ban phép giải tội bằng tiếng Kinh.  Vì không thấy có cái ghế nào để ngồi nên tôi ngồi nơi thềm đất sát vách nhà và họ đến ngồi cạnh tôi để xưng tội.  Khi người phong cuối cùng đến đón nhận bí tích hòa giải thì anh ta dơ tay ra để bắt tay tôi. Nhìn đôi bàn tay của anh tròn nhẵn không còn một ngón tay làm tôi hơi ngần ngại một chút nhưng rồi cũng dơ tay ra bắt tay anh.  Khi nắm lấy tay anh thì tôi thấy có chất gì nhờn nhờn nơi tay mình và cảm thấy có mùi hôi.  Sau khi giải tội xong tôi hỏi nhỏ anh giáo lý viên và được biết những người Dân tộc này đang sống cách ly vì mang bệnh phong.  Tôi đã có kinh nghiệm làm việc với người bệnh phong một mùa hè ở Ấn Độ nên không lo lắm, chỉ cần có thuốc sát trùng để rửa sau khi tiếp cận với họ là được.  Nhưng trong buôn thì khó tìm được thuốc sát trùng để rửa.

 Khi anh giáo lý viên chở tôi trở lại nhà nguyện trong buôn, tôi nhờ anh kiếm tôi cục xà bông để rửa tay.  Anh đi hỏi từ nhà này qua nhà khác, và đến căn thứ tư mới tìm được ít xà bông giặt đồ để tôi rửa tay.  Cũng tốt thôi, vì xà bông giặt tẩy mạnh hơn xà bông thường, nhưng điều này cũng nói lên rằng trong buôn không có dùng xà bông rửa tay.  Và thật ra xà bông giặt đồ cũng chẳng mấy ai có ở trong buôn đâu.  Tiền mua đồ ăn còn không có thì lấy gì mua xà bông.  Tôi hỏi anh ở đây có xà bông tắm không thì anh cho biết là lâu lâu có người bỏ một ngàn mua một gói xà bông gội đầu để tắm.  Tôi hỏi anh lần cuối cùng anh dùng xà bông gội đầu thì anh chỉ cười trừ vì đã lâu lắm rồi anh chưa đụng đến xà bông.  Các phụ nữ lâu lâu mới ráng chắt chiu ít tiền để mua xà bông gội đầu, còn thông thường thì các cô dùng nước vo gạo để gội đầu và tắm.  Còn đàn ông thì vẫn theo chủ nghĩa “ở dơ sống lâu!”

 Đôi khi tôi gặp một số anh chị em thiện nguyện từ Sàigòn đến ủy lạo gạo mì và áo quần cho anh chị em Dân tộc, nhưng một vài người không hiểu nên than phiền là người Dân tộc không chịu giặt đồ.  Họ cứ mặc cho thật dơ xong thì vất, rồi lại đi xin đồ khác về mặc, nên phát áo quần hoài mà chẳng bao giờ đủ cả.  Hồi đầu nghe họ nói thì tôi cũng chỉ biết vậy thôi.  Dần dà tôi mới biết người Dân tộc nghèo quá, của ăn còn không đủ thì lấy gì mà mua thứ khác.  Nhà của người Dân tộc nhìn xuyên từ ngoài vào trong còn được vì không có tiền để sửa chữa lại, vậy thì đầu óc đâu để lo đến chuyện sạch sẽ và đẹp đẽ.  Nói họ không giặt giũ thì không đúng, vì họ cũng giặt đồ ở suối khi đi làm về, chẳng qua là không có xà bông mà thôi.  Vả lại toàn đường đất đỏ, nên dù có giặt xà bông tinh tuyền đi nữa thì chỉ qua một ngày là áo quần lại nhuốm màu đỏ của đất.

 Mùa Chay là mùa Giáo Hội nhắc nhở chúng ta giặt giũ và dọn vệ sinh, không phải áo quần hay thân xác bề ngoài, mà là dọn dẹp và giặt giũ tâm hồn để cùng chết với Chúa Kitô và cùng sống lại với Ngài.  Nếu thân thể tôi bị dơ thì tôi biết dùng xà bông để rửa cho sạch vết nhơ.  Còn tâm hồn tôi bị nhơ uế thì tôi cứ nại ra bao nhiêu lý do để từ từ rồi giải quyết, vì thế tâm hồn tôi cứ luôn bị dơ, không chừng tôi cũng đang theo chủ nghiã “ở dơ sống lâu!” chăng?  Hôm nay giáo hội tha thiết mời tôi chạy đến với Chúa, qua Giáo hội, để lãnh nhận bí tích hòa giải để được tẩy xóa những vết nhơ uế trong tâm hồn.

 Sáng hôm qua tôi vào dâng Lễ ở nhà tù, khi xong Lễ chuẩn bị đi về thì tôi đứng lại nói chuyện với một anh cảnh sát coi tù nhân.  Anh nói anh là người Công Giáo nhưng lâu rồi không còn tha thiết đến bí tích Hòa Giải.  Anh nghĩ rằng cứ đi xưng tội xong rồi cũng phạm lại những tội đó như cũ, nên anh không muốn đi xưng tội nữa!  Vì lý luận như thế nên anh nhìn những người tù nhân cũng giống như vậy.  Họ là những người gây tội, hết tội này rồi đến tội khác.  Họ vào tù ra khám như cơm bữa, mắc gì Giáo hội cứ cử người đến ban phát tình thương của Chúa cho họ!  Phải chăng lý luận của anh lính bị sót đi một điều chính yếu là lòng thương xót của Thiên Chúa đã làm cho Ngài chẳng bao giờ nhớ đến những tội lỗi của nhân loại, ngay cả tội giết chết Con Một của Ngài?  Như vậy phải chăng một đặc tính của Thiên Chúa là nhân đức hay quên!?!  Hay vì Thiên Chúa quá yêu con người nên tiếp tục kiên nhẫn chịu đựng sự bất trung của con người từng ngày một với hy vọng một giây phút nào đó kẻ tội nhân ăn năn thống hối quay về đón nhận Lòng Thương Xót Chúa qua bí tích Hòa Giải!?!

 Bí tích Hòa Giải đâu phải là chỗ để luận tội, nếu là chỗ luận tội hay phán xét thì đâu thể gọi là Bí tích.  Trọng tâm của Bí tích Hòa Giải không phải nằm ở chỗ tội lỗi của kẻ hối nhân, mà nhấn mạnh đến ân sủng và tình yêu mà Thiên Chúa ban tặng nhưng không.  Anh chị em thân mến, mùa Chay là mùa dọn lòng dọn trí, tin tưởng mở lòng đón nhận ân sủng của Thiên Chúa để được biến đổi, đặc biệt qua bí tích làm hòa với Thiên Chúa, để rồi dẫn đến làm hòa với nhau.  Qua bí tích Hòa Giải, chiếc áo tâm hồn lại một lần nữa được rửa sạch nhờ Máu Con Chiên.

 Chiếc áo của bạn và của tôi đang mặc là màu gì?

 Giuse Ngô Văn Chữ, S.J

 From: ngocnga_12 & NguyenNThu


 

VỰC BẤT XỨNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Ta muốn tình yêu chứ không cần hy lễ!”.

“Khiêm tốn là sợi dây liên kết con người với Chúa, là cây cầu bắc qua mọi vùng vịnh, đưa bạn vượt mọi thung lũng hiểm nguy! Chúa không cần những con người vĩ đại, Chúa cần những con người dám chứng tỏ sự vĩ đại của Ngài. Vì thế, lời cầu mạnh nhất của linh hồn là lời cầu nguyện khởi đi từ vực bất xứng của nó!” – A. Simpson.

Kính thưa Anh Chị em,

Cao trào của Lời Chúa hôm nay là hình ảnh trơ trọi của ‘một vai phụ’ trong dụ ngôn – người thu thuế! Và rất có thể, đó cũng là hình ảnh của bạn và tôi trước mặt Thiên Chúa. Anh đã dâng một lời cầu nguyện khởi đi từ ‘vực bất xứng’ của linh hồn!

Với những gì người thu thuế bộc lộ, Chúa Giêsu mách cho chúng ta điều Thiên Chúa yêu thích nơi con người – “tình yêu và chỉ tình yêu” – mà không cần bất cứ điều gì khác! Thiên Chúa thấu suốt lòng dạ con người, “Ta muốn tình yêu chứ không cần hy lễ!” – bài đọc một. Thánh Vịnh đáp ca cũng chỉ lặp lại ngần ấy!

Vậy mà người biệt phái đã dâng Chúa một điều gì đó hoàn toàn khác! Lời cầu của ông khởi đi từ ‘vực kiêu hãnh’ khi ông coi Ngài như ‘Con nợ’; tệ hơn, coi ‘kỳ tích’ của mình là chiến công. Ông không phải là người xấu; nhưng lòng kiêu hãnh đã khiến ông mù loà đến độ xúc phạm tình yêu; ông sống tôn giáo ở ‘mức tối thiểu trần!’. Lời cầu của ông là ‘vô trùng’ khi ông quên Ngài chỉ muốn “tình yêu và chỉ tình yêu!”. “Thiên Chúa ghét lời cầu nguyện của kẻ tự mãn!” – Gioan Kim Khẩu.

Người thu thuế cũng lên đền thờ cầu nguyện! ‘Vai phụ’ này “khi ra về thì được nên công chính”. Không phải vì anh đã làm những điều đúng đắn, nhưng vì đã khiêm nhường nhận ra tội mình. Lời cầu của anh khởi đi từ ‘vực bất xứng’ trước Đấng Toàn Năng để rồi, dốc chút tàn hơi, anh chỉ đủ sức đấm ngực thều thào, “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi!”. Lạ thay, chính lời thú nhận tội lỗi ấy lại làm Chúa đẹp lòng! “Một tiếng kêu xin lòng thương xót có sức mạnh hơn ngàn lời biện minh!” – Bernard Clairvaux.

“Nơi nào có quá nhiều cái “tôi”, nơi đó rất ít Chúa. Ở nước tôi, người ta gọi những người này là “Tôi, chính tôi và tôi” – tên của những người đó. Người ta từng nói về một linh mục tự cho mình là trung tâm và thường bông đùa rằng: ‘Mỗi khi xông hương, ngài xông ngược – xông chính mình!’” – Phanxicô.

Anh Chị em,

“Ta muốn tình yêu, chứ không cần hy lễ!”. Với Chúa Giêsu, mọi sự đều thuộc về Cha, Cha cần gì lễ dâng của ai; vì thế, Chúa Con đã dâng hết cho Cha trên thập giá! Chúa Cha cần tình yêu từ trái tim mỗi người. Đừng quên, “Lời cầu mạnh nhất là lời cầu khởi đi từ ‘vực bất xứng’ của nó!”. Chính ở đó, kinh nguyện của chúng ta mới có sức mạnh! Mùa Chay, mùa chìm vào ‘vực bất xứng’ để chỉ biết khấn xin lòng Chúa xót thương! “Không có vực sâu tội lỗi nào mà lòng thương xót Thiên Chúa không thể chạm tới!” – Gioan Phaolô II.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con ‘xông hương ngược!’. Chúa không cần sự vĩ đại của con; Chúa chỉ cần con dám nhìn thấy lũng bất xứng của mình, để lòng thương xót Ngài được hiển lộ!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

******************************

Lời Chúa Thứ Bảy Tuần III Mùa Chay

Người thu thuế khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính, còn người Pha-ri-sêu thì không.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca. Lc 18,9-14

9 Khi ấy, Đức Giê-su kể dụ ngôn sau đây với một số người tự hào cho mình là công chính mà khinh chê người khác : 10 “Có hai người lên đền thờ cầu nguyện. Một người thuộc nhóm Pha-ri-sêu, còn người kia làm nghề thu thuế. 11 Người Pha-ri-sêu đứng thẳng, nguyện thầm rằng : ‘Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác : tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia. 12 Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con.’ 13 Còn người thu thuế thì đứng đằng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời, nhưng vừa đấm ngực vừa thưa rằng : ‘Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi.’ 14 Tôi nói cho các ông biết : người này, khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính rồi ; còn người kia thì không. Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống ; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên.”


 

MỖI NGƯỜI NÊN ĐỌC MỘT LẦN BÀI VIẾT NÀY

Công Giáo Rôma – Patrick Hayashi

MỖI NGƯỜI NÊN ĐỌC MỘT LẦN BÀI VIẾT NÀY

  1. Bước qua tuổi già, đừng ảo tưởng mình còn khỏe như xưa

Thanh xuân là thời mạnh mẽ.

Tuổi già là thời biết điều.

Địa vị chỉ là quá khứ, danh tiếng chỉ còn trong ký ức.

Chỉ có sức khỏe là thứ duy nhất còn lại bên mình.

Giữ được nó ngày nào, là phúc ngày đó.

  1. Đến tuổi già, sống cho mình – vui đâu ở đó, thích gì làm nấy

Đã đi gần hết đời người rồi,

đừng sống theo ý người khác nữa.

Thích ăn thì ăn.

Thích ngủ thì ngủ.

Thích đi đâu thì cứ đi.

Đời còn bao lâu mà giữ khư khư lòng mình trong sự gượng ép.

  1. Chỉ nên sống gần con, không sống chung với con – đây không ích kỷ mà là khôn ngoan

Ở chung dễ sinh va chạm.

Ở gần để thương nhau dài lâu.

Con thiếu tiền thì giúp ( Nếu mình có )

Nhưng đừng dọn vào sống để rồi một ngày mình trở thành người ở trọ trong chính ngôi nhà của con.

Gặp nhau cuối tuần là đủ ấm áp rồi.

  1. Khi già hơn nữa, nếu còn người bạn đời chăm sóc cho nhau là tốt, còn không hãy chọn một nơi mình được chăm sóc tử tế

Không cần sang trọng.

Chỉ cần sạch sẽ, yên tĩnh, có người chăm, có người trò chuyện.

Có tiền thì chọn chỗ tốt.

Ít tiền thì ở chỗ vừa sức.

Quan trọng là sống nhẹ lòng – không làm ai mệt vì mình.

  1. Chuyện “ngày xưa” – hãy kể với người cùng tuổi.

Chuyện “ngày mai” – hãy nói với bọn trẻ.

Tụi nhỏ không hiểu chuyện năm 1989 về trước đâu.

Chúng sống bằng hiện tại.

Hãy giữ chuyện cũ để kể với bạn đồng niên – những người hiểu từng nỗi niềm mình.

Đó là cách giữ ký ức, giữ tình thân, giữ chính mình.

  1. Đừng chờ đủ điều kiện – tuổi già hãy đi thăm những nơi chưa từng đi

Một chuyến xe bus.

Một chuyến tàu ngắn.

Một con đường xưa.

Một miền đất mới.

Càng gần cuối đời càng phải sống cho trọn ước mơ tuổi trẻ.

  1. Rũ bỏ quan niệm cũ: tuổi già không phải tu hành khổ hạnh

Đừng tiếc với bản thân.

Đừng nghĩ già rồi là hết.

Cần ăn ngon thì ăn.

Cần mặc đẹp thì mặc.

Cần nghỉ thì nghỉ.

Cần chơi thì chơi.

Hưởng thụ không phải xa xỉ – nó là phần thưởng cho cả đời vất vả.

  1. Đã về hưu – đừng đến nơi làm việc cũ nếu không được mời

Họ đang sống cuộc sống của họ.

Đừng khiến mình trở thành “người lạ trong kỷ niệm của chính mình”.

Giữ ký ức đẹp – đừng níu lại quá khứ.

  1. Muốn tuổi già vui – phải hiểu ba điều này:
  • Hạnh phúc do mình tạo ra, không ai mang đến.
  • Tiền không phải tất cả – nhưng không có tiền thì cực khổ.
  • Con cái thương mình có giới hạn – đừng chờ đợi quá mức.

Khi mình không trông mong ai, mình sống thanh thản nhất.

  1. Và hãy nhớ 3 QUÊN – 4 CẦN – 5 TRÁNH – 6 BÁC SĨ ĐỜI NGƯỜI

3 QUÊN

  • Quên tuổi tác.
  • Quên bệnh tật.
  • Quên thù hận, quên những điều gì, những người làm mình không vui

4 CẦN

  • Một mái nhà riêng.
  • Một khoản tiết kiệm.
  • Một gia đình kết nối.
  • Một vài người bạn tri kỷ.

5 TRÁNH

  • Tránh ở chung với con cái.
  • Tránh nhận trông cháu dài hạn.
  • Tránh can thiệp vào đời sống của con.
  • Tránh bán nhà khi chưa thật cần.
  • Tránh tiêu tiền phụ thuộc.

6 BÁC SĨ TỐT NHẤT

Ánh nắng – Giấc ngủ – Thể dục – Ăn uống điều độ – Tự tin – Bạn bè.

Tuổi già không chờ mình sẵn sàng.

Nó đến như một buổi chiều.

Chậm, nhưng chắc.

Và chỉ những ai biết chuẩn bị từ bây giờ mới có thể sống nửa đời còn lại thanh thản – tự do – không ân hận.

Nếu bạn đọc đến đây, hãy chia sẻ bài viết này.

Để nhắc ai đó đang đi vào tuổi trung niên rằng:

Tuổi già không tự nhiên bình yên — nó được chuẩn bị từ hôm nay

(Sưu tầm)


 

 ĐỨC HỒNG Y PIETRO PAROLIN CẢNH BÁO NGUY CƠ CHIẾN TRANH PHÒNG NGỪA

Anmai CSsR

ĐỨC HỒNG Y PIETRO PAROLIN CẢNH BÁO NGUY CƠ CHIẾN TRANH PHÒNG NGỪA

Trả lời phỏng vấn dành riêng cho Vatican News về tình hình căng thẳng tại Trung Đông, Đức Hồng y Quốc vụ khanh Pietro Parolin đã lên tiếng mạnh mẽ cảnh báo về sự trỗi dậy nguy hiểm của một xu hướng mới trong địa chính trị: việc sử dụng sức mạnh để giải quyết các vấn đề quốc tế.

Với nỗi đau sâu sắc, Đức Hồng y bày tỏ sự xót xa khi chứng kiến các dân tộc Trung Đông – trong đó có những cộng đồng Kitô giáo vốn đã chịu nhiều thử thách – một lần nữa bị đẩy vào vòng xoáy chiến tranh. Về các cuộc tấn công gần đây của Mỹ và Israel nhằm vào Iran, Đức Hồng y nhấn mạnh rằng hòa bình và an ninh chỉ có thể được xây dựng và duy trì bền vững thông qua các nỗ lực ngoại giao chân chính, đặc biệt là ngoại giao đa phương trong khuôn khổ các tổ chức quốc tế. Chỉ trong môi trường ấy, các quốc gia mới có thể giải quyết tranh chấp một cách phi bạo lực, công bằng và nhân văn.

Theo Đức Hồng y, việc xác định nguyên nhân của chiến tranh và phân định đúng sai giữa các bên là điều vô cùng phức tạp. Tuy nhiên, một sự thật không thể chối cãi là bom đạn luôn mang theo những hậu quả khôn lường: vô số nạn nhân vô tội, sự hủy diệt không thể phục hồi và nỗi đau tàn phá nặng nề đối với dân thường. “Vì lẽ đó, Tòa Thánh một lần nữa nhấn mạnh sự cần thiết phải sử dụng mọi công cụ ngoại giao để giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia”, Đức Hồng y Parolin khẳng định.

Khi được hỏi về lý do “chiến tranh phòng ngừa” mà Mỹ và Israel đưa ra – nhằm ngăn chặn Iran phát triển vũ khí hạt nhân – Đức Hồng y nhắc nhở rằng, theo Hiến chương Liên Hiệp Quốc, việc sử dụng vũ lực chỉ được xem là biện pháp cuối cùng và cực kỳ nguy hiểm, sau khi mọi kênh chính trị và đối thoại ngoại giao đã thực sự thất bại. Ngài cảnh báo: nếu các quốc gia tự cho mình quyền phát động “chiến tranh phòng ngừa” chỉ dựa trên tiêu chí chủ quan riêng, thì toàn thế giới sẽ đối mặt với nguy cơ bị chìm trong biển lửa.

Sự xói mòn nghiêm trọng của luật pháp quốc tế đang diễn ra ở mức độ báo động: công lý bị sức mạnh thay thế, sức mạnh của luật pháp nhường chỗ cho “luật của kẻ mạnh”, và quan niệm sai lầm rằng hòa bình chỉ có thể đạt được sau khi kẻ thù bị tiêu diệt hoàn toàn. “Tòa Thánh một lần nữa mạnh mẽ lên án mọi hình thức lôi kéo dân thường và các cơ sở dân sự – như nhà ở, trường học, bệnh viện và nơi thờ tự – vào các hoạt động quân sự, đồng thời kêu gọi tất cả các bên liên quan phải tuyệt đối tôn trọng nguyên tắc bất khả xâm phạm của phẩm giá con người và tính thiêng liêng của sự sống”, Đức Hồng y Parolin nhấn mạnh.

Thông qua bài phỏng vấn, Đức Hồng y Quốc vụ khanh đã gửi đi một thông điệp rõ ràng và cấp thiết: chỉ có ngoại giao, đối thoại và sự tôn trọng luật pháp quốc tế mới có thể cứu vãn hòa bình. Trong bối cảnh thế giới đang chứng kiến sự suy giảm đáng lo ngại của trật tự đa phương, lời nhắc nhở từ Tòa Thánh không chỉ là tiếng nói đạo đức mà còn là lời cảnh tỉnh sâu sắc dành cho các nhà lãnh đạo quốc tế.

Lm. Anmai, CSsR tổng hợp


 

CÓ MỘT THỨ MÙ RẤT ĐÁNG SỢ- Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

(Suy niệm Tin mừng Gio-an (Ga 9,1-37) Chúa nhật IV mùa Chay)

Sứ điệp: Đừng để cho lòng trí lâm vào cảnh mù quáng do dục vọng gây nên, xô đẩy chúng ta vào con đường tội lỗi và phải hư mất đời đời.

***

Những người lâm cảnh mù lòa, suốt đời phải sống trong tăm tối là nỗi bất hạnh lớn nhất trong đời.

Vì thế, Chúa Giê-su dành cho họ một tình thương đặc biệt và đã cứu chữa nhiều người bị khiếm thị từ lúc mới sinh. Trích đoạn Tin mừng hôm nay mô tả lại một trong những lần Chúa xót thương cứu chữa những người mù lòa đáng thương như thế.

Điều đáng mừng là những người khiếm thị đều là người tốt lành trong xã hội; họ không xúc phạm đến ai và dường như không bao giờ gây ra tội ác.

Trong khi đó, nhiều người có đôi mắt tinh tường sáng tỏ, nhưng lại bị mù quáng nặng nề nên đã gây ra nhiều lỗi lầm, nhiều tội ác trong xã hội. Hầu hết những người gây ra các cuộc chiến tranh đau thương tang tóc trên thế giới là những người mù quáng.

Nguyên nhân gây bệnh mù quáng

Có rất nhiều nguyên nhân làm cho con người trở nên mù quáng; chúng ta thử điểm qua một vài điểm chính như sau:

Mù quáng vì tham lam

Sách Các Vua chương 21 thuật lại câu chuyện hoàng hậu I-dơ-ven, vợ vua A-kháp, vì tham lam muốn chiếm đoạt vườn nho của ông lão nghèo Na-vốt, nên đã dựng lên một vụ án, quy kết Na-vốt tội nguyền rủa Thiên Chúa và nguyền rủa đức vua, rồi tuyên án ông phải bị ném đá chết. Lòng tham lam đã làm cho hoàng hậu I-dơ-ven ra mù quáng đến độ đang tâm giết hại một ông lão nghèo vô tội để chiếm đoạt vườn nho của ông ta.

Mù quáng vì ghen tị

Sách Sa-mu-en ghi lại rằng vua Sa-un rất yêu thương Đa-vít, nhưng khi Đa-vít chém đầu tên tướng giặc khổng lồ Gô-li-át để cứu nguy cho quân dân Ít-ra-en và quay về trong vinh quang, “thì phụ nữ từ hết mọi thành của Ít-ra-en kéo ra, ca hát múa nhảy, đón vua Sa-un, với trống con, với tiếng reo mừng và tiếng não bạt. Họ vui đùa ca hát rằng: “Vua Sa-un hạ được hàng ngàn, còn Đa-vít hàng vạn”. Khi nghe lời đó, vua Sa-un uất lên vì ghen tị. Lòng ghen tị làm cho vua đâm ra mù quáng, đổi lòng yêu thương ra thù ghét và truy lùng Đa-vít tận thâm sơn cùng cốc, quyết giết cho bằng được vị anh hùng kiệt xuất nầy (Samuen I, chương 18).

Mù quáng vì dục tình

Về sau, khi vua Sa-un qua đời, Đa-vít được lên làm vua. Đa-vít lại đâm ra mê đắm sắc đẹp của bà Bát-sê-va. Dục vọng đã làm cho vua mù quáng đến độ lập mưu giết chồng bà là Uria để chính thức cưới bà nầy làm vợ (Samuen II, chương 11).

Nói tóm lại, tâm trí con người rất dễ trở nên mù quáng do tình dục, do lòng tham lam, kiêu căng, ghen tị… khiến người ta lún sâu vào vũng lầy tội ác lúc nào không hay.

Chứng mù quáng nầy tai hại gấp ngàn lần mù loà đôi mắt thể xác.

Điều đáng tiếc là ai trong chúng ta cũng có thể lâm vào tình trạng mù quáng về một phương diện nào đó, vào lúc nào đó trong đời. Vì thế, chúng ta cần tỉnh táo và thường xuyên soi xét nội tâm, không để cho dục vọng và những xu hướng xấu xa làm mờ ám lương tri, xô đẩy chúng ta lao vào tội lỗi và thói hư.

Lạy Chúa Giê-su là ánh sáng cho trần gian, Xin chiếu dọi ánh sáng Chúa vào tâm trí chúng con, cứu chúng con khỏi bị mù quáng do dục vọng gây nên, để chúng con khỏi gây ra tội lỗi, khỏi hư mất đời đời nhưng được cứu độ và được sống, sống có nhân cách cao đẹp ở đời nầy và sống viên mãn trong thế giới hồng phúc mai sau. Amen.

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

 *****************************

Tin mừng Gioan (Ga 9, 1-37)

Khi ấy, Chúa Giêsu đi qua, thấy một người mù từ khi mới sinh. Người nhổ xuống đất, lấy nước miếng trộn thành bùn, rồi xoa bùn trên mắt người ấy, và bảo: “Anh hãy đến hồ Silôe mà rửa” (chữ Silôe có nghĩa là được sai)”. Anh ta ra đi và rửa, rồi trở lại thì trông thấy được.

Những người láng giềng và kẻ xưa kia từng thấy anh ta ăn xin đều nói: “Đó chẳng phải là người vẫn ngồi ăn xin sao?” Có kẻ nói: “Đúng hắn”. Lại có người bảo: “Không phải, nhưng là một người giống hắn”. Còn anh ta thì nói: “Chính tôi đây”.

Họ liền dẫn người trước kia bị mù đến với những người biệt phái, lý do tại Chúa Giêsu hoà bùn và chữa mắt cho anh ta lại nhằm ngày Sabbat. Các người biệt phái cũng hỏi anh ta do đâu được sáng mắt. Anh đáp: “Ngài đã xoa bùn vào mắt tôi, tôi đi rửa và tôi được sáng mắt”. Mấy người biệt phái nói: “Người đó không phải bởi Thiên Chúa, vì không giữ ngày Sabbat”. Rồi họ đuổi anh ta ra ngoài.

Chúa Giêsu hay tin họ đuổi anh ra ngoài, nên khi gặp anh, Người liền bảo: “Anh có tin Con Thiên Chúa không?” Anh thưa: “Thưa Ngài, nhưng Người là ai để tôi tin Người?” Chúa Giêsu đáp: “Anh đang nhìn thấy Người và chính Người đang nói với anh”. Anh ta liền nói: “Lạy Ngài, tôi tin”, và anh ta sấp mình thờ lạy Người

From: NguyenNThu