Lagom – Wabi-sabi – Tri túc – Ba bài học cho Việt Nam đi tìm giới hạn của chính mình – Mai Thanh Truyết  

 Lagom – Wabi-sabi – Tri túc

Ba bài học cho Việt Nam đi tìm giới hạn của chính mình – Mai Thanh Truyết

 Nhân loại đang bước vào một giai đoạn phát triển chưa từng có trong lịch sử. Chỉ trong vòng hơn một thế kỷ, khoa học và kỹ thuật đã đưa con người từ chiếc xe ngựa đến phi thuyền không gian, chuyển thư từ, từ bằng con người, đến ngựa, và ngày nay, đến trí tuệ nhân tạo, từ nền kinh tế nông nghiệp đến nền kinh tế số toàn cầu.

Nhưng nghịch lý lớn nhất của thời đại chúng ta là càng tiến bộ về vật chất, con người dường như càng bất an về tinh thần. Ngày nay, thế giới sản xuất đủ lương thực để nuôi sống toàn thể dân số địa cầu, nhưng hàng trăm triệu người vẫn đói nghèo. Những thành phố hiện đại mọc lên khắp nơi, nhưng sự cô đơn và chứng trầm cảm ngày càng phổ biến. Công nghệ kết nối hàng tỷ người trong vài giây, nhưng lòng tin giữa con người với nhau lại suy giảm nghiêm trọng. Khủng hoảng môi trường, biến đổi khí hậu, ô nhiễm nguồn nước, suy giảm đa dạng sinh học và những bất ổn xã hội đang đặt ra một câu hỏi căn bản: “Liệu sự phát triển vật chất có đủ để bảo đảm hạnh phúc cho nhân loại hay không?”

Có lẽ đã đến lúc chúng ta cần nhìn lại những giá trị tinh thần đã từng giúp nhiều dân tộc sống hài hòa với thiên nhiên, với cộng đồng và với chính bản thân mình. Trong hành trình đó, ba triết lý sống đáng chú ý xuất hiện từ ba nền văn hóa khác nhau:

  • Lagom của Thụy Điển;
  • Wabi-sabi của Nhật Bản;
  • Tri túc của Phật giáo.

Mỗi triết lý mang một sắc thái riêng, nhưng tất cả đều hướng đến một mục tiêu chung, đó là giúp con người tìm lại sự quân bình giữa vật chất và tinh thần, giữa phát triển và đạo đức, giữa thành công và hạnh phúc.

1- Khủng hoảng của một nền văn minh tiêu thụ

Sau cuộc cách mạng công nghiệp, thế giới phương Tây đã xây dựng một mô hình phát triển dựa trên sản xuất và tiêu dùng liên tục. Một nền kinh tế muốn tăng trưởng phải bán được nhiều hàng hóa hơn. Nhưng, muốn bán được nhiều hàng hóa hơn phải kích thích nhu cầu. Và, muốn kích thích nhu cầu phải tạo ra cảm giác thiếu thốn. Từ đó, đưa đến kết quả là con người bị cuốn vào một cuộc chạy đua không có điểm dừng. Hôm nay, mua một chiếc xe mới, ngày mai đã có mẫu xe hiện đại hơn, tối tân hơn! Hôm nay, sở hữu một căn nhà lớn, ngày mai lại muốn mua căn nhà lớn hơn, rộng hơn nữa! Có địa vị hôm nay, ngày mai lại muốn một địa vị cao hơn! Cả xã hội vận hành trên giả định rằng hạnh phúc nằm ở phía trước và chỉ đạt được khi có thêm một điều gì đó.

Tuy nhiên, thực tế đã và đang chứng minh một điều ngược lại. Nhiều quốc gia giàu có đang phải đối diện với một sự thật không chối cải là tỷ lệ trầm cảm gia tăng trong dân chúng, tình trạng cô đơn xã hội xảy ra ở khắp nơi từ những quốc gia giàu đến tận những nơi cùng khổ, niềm tin cộng đồng ngày càng suy giảm, tình trạng ô nhiễm môi trường, khủng hoảng đạo đức ở các quốc gia tư bản lẫn cộng sản. Con người càng ngày càng có thêm nhiều phương tiện để phục vụ cho nhu cầu sống và sinh hoạt hàng ngày, nhưng lại thiếu lý do để sống, cũng như không có thì giờ để chiêm nghiệm lại … sự hiện hữu của chính mình!

Đó là cuộc khủng hoảng sâu xa nhất của nền văn minh hiện đại.

2- Lagom – Một nghệ thuật sống vừa đủ

Bí quyết để có được sự hạnh phúc trong cuộc sống hiện đại của người Thụy Điển là Lagom (phát âm là lah-gom), có nghĩa là không quá thừa cũng không quá thiếu, chỉ vừa đủ. Về bản chất, lagom có nghĩa là tận hưởng một cuộc sống đơn giản, tìm kiếm sự cân bằng trong mọi khía cạnh của cuộc sống và tập trung vào những gì thực sự quan trọng khiến bạn hạnh phúc. Lagom có nghĩa là biết được điều gì là thiết yếu trong cuộc sống của bạn và biết những thứ không thực sự cần đến. Người Thụy Điển coi lagom như là một kim chỉ nam trong cuộc sống. Một số ý kiến cho rằng lagom có thể là một lối sống tiêu cực, bởi nó dựa trên sự chối bỏ vật chất. Tuy nhiên, với sự bền bỉ chứng minh, người Thụy Điển đã cho chúng ta thấy lagom đã thực sự cải thiện cuộc sống bằng cách nắm lấy sự “vừa đủ“.

Trong một thế giới có nhịp độ sống nhanh, bạn sẽ trở nên tuyệt vời nếu bạn có thể sống chậm lại và tận hưởng một cuộc sống với ít áp lực hơn, ít căng thẳng hơn và có nhiều thời gian hơn cho mọi thứ bạn yêu thích, phải không?

Về bản chất, Lagom có nghĩa là tận hưởng một cuộc sống đơn giản, tìm kiếm sự cân bằng trong mọi khía cạnh của cuộc sống và tập trung vào những gì thực sự quan trọng khiến bạn hạnh phúc. Lagom – Một chữ đơn độc nầy, gói gọn toàn thể triết lý dân chủ xã hội của Thụy Điển về cuộc sống rằng:”mọi người nên có đủ nhưng không quá nhiều – “that everyone should have enough but not too much.”

Tại văn phòng, những chuyên gia làm việc chăm chỉ, nhưng không làm tổn hại đến những phần khác trong cuộc sống của họ. Thay vì đốt cháy bản thân với một tuần làm việc 60 giờ và sau đó bị căng thẳng, Lagom khuyến khích sự cân bằng và sống ở đâu đó ở giữa – living somewhere in the middle. Các tính năng khác bao gồm tiết kiệm, giảm căng thẳng, tạo ra sự cân bằng hoàn hảo giữa công việc và giải trí và tập trung vào các mối quan tâm về môi trường và tính bền vững cũng nằm trọn vẹn trong chữ Lagom.

Câu tục ngữ cổ điển của Thụy Điển, “Lagom är bäst”, nghĩa đen là, “Lượng vừa đủ là tốt nhứt” nhưng cũng được dịch là “Đủ tốt như một bữa lễ lạc” và “Có đức có chừng mực”.Enough is as good as a feast” and “There is virtue in moderation”.

Đến đây, chắc bạn đang tập thể dục Lagom về nhiều mặt trong cuộc sống của bạn rồi.

Nếu có một chữ để định nghĩa cuộc sống hiện đại của chúng ta ngày nay, thì đó chính là thừa thãi. Chúng ta đang sở hữu quá nhiều thứ, thậm chí cả những thứ chúng ta chẳng bao giờ cần đến. Bên cạnh đó, suy nghĩ về một cuộc sống hoàn hảo vô hình đã tạo ra cho chúng ta quá nhiều áp lực.

  •         Bạn đã bao giờ ngắm nghía cuộc sống của một người hoàn toàn lạ trên Facebook, Instagram và rồi ao ước rằng mình cũng như họ?
  •         Bạn đã bao giờ mua những bộ áo đắt tiền nhưng rồi để chúng trong tủ quần áo đến cả năm trời không mặc lấy một lần?
  •         Bạn đã bao giờ cảm thấy quá mệt mỏi với việc chạy đua theo chủ nghĩa vật chất, để lấp đầy cuộc sống của bản thân trong khi tâm hồn thì lại thiếu thốn?

Đây là lúc bạn cần biết đến Lagom, bí quyết sống hạnh phúc của người Thụy Điển. Đối với người Thụy Điển, Lagom là một lối sống, một thói quen của tâm trí. “Có một tư duy bên trong về sự chấp nhận và hài lòng ở Thụy Điển. Đó là một phần của bí quyết để trở nên hạnh phúc và đừng ám ảnh về điều đó. Triết lý của Lagom rất đơn giản và cung cấp một giải pháp thay thế cho ý tưởng “luôn tìm kiếm điều tốt nhất tiếp theo”. Khái niệm này khuyến khích sự cân bằng tổng thể trong cuộc sống của chúng ta, nghĩa là mọi thứ ở mức độ vừa phải. Nó đối lập với chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa tiêu dùng. Người Thụy Điển, đa số có một cuộc sống cân bằng. Họ làm việc chăm chỉ nhưng không để công việc hủy hoại gia đình. Họ tiêu dùng hợp lý nhưng không phung phí. Họ nghỉ ngơi đầy đủ nhưng không buông thả. Họ hưởng thụ cuộc sống nhưng không lệ thuộc vào vật chất.

Lagom phản ánh một nền văn hóa coi trọng sự điều độ và trách nhiệm xã hội. Người Thụy Điển thường tránh sự phô trương, ngay cả những người thành đạt cũng ít khi khoe khoang tài sản hay địa vị. Vì họ tin rằng giá trị của con người không nằm ở những gì sở hữu mà ở cách sống và những đóng góp cho cộng đồng.

Trong lĩnh vực môi trường, Lagom cũng có ý nghĩa đặc biệt. Một xã hội biết sống vừa đủ sẽ giảm thiểu việc tiêu thụ không cần thiết; giảm lượng rác thải; giảm áp lực lên tài nguyên thiên nhiên; và tăng tính bền vững cho/vì các thế hệ tương lai.

Nói cách khác, Lagom không chỉ là một triết lý cá nhân mà còn là một triết lý phát triển xã hội nghiêm chỉnh nhứt.

3- Wabi-sabi – Vẻ đẹp của sự bất toàn

Wabi sabi là một triết lý thẩm mỹ cổ xưa bắt nguồn từ Thiền tông, đặc biệt là trà đạo, một nghi lễ thuần khiết và đơn giản, trong đó các bậc thầy được đánh giá cao cái chén được làm thủ công và hình dạng bất thường, với men không đồng đều, vết nứt, và vẻ đẹp hư hỏng trong sự không hoàn hảo có chủ ý của của người tạo ra cái chén.

Triết lý Nhật Bản tôn vinh vẻ đẹp trong những gì là tự nhiên, sai sót và tất cả những gì không hoàn chỉnh.

Các chén cổ trong phòng khách của bạn được đánh giá cao vì những vết nứt và sứt mẻ của nó?

Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta học cách “phát giải thưởng” những bất toàn, vết nứt trong lòng và những khiếm khuyết trong cuộc sống lộn xộn của chúng ta?

Wabi-Sabi (侘 寂), một thuật ngữ Nhật Bản có thể hiểu như là sự chấp nhận tính phù du (transience) và sự không hoàn hảo. Đây là một phong cách sống giúp chúng ta cảm nhận và trân trọng vẻ đẹp của những thứ không hoàn hảo, không vĩnh viễn, không trọn vẹn và từ những thứ khiếm khuyết nầy, một thứ tưởng chừng vô dụng, xấu xí lại có vẻ đẹp tiềm ẩn đến bất ngờ. Nếu sự luôn đổi mới là trò chơi suốt cuộc đời bạn, việc theo đuổi sự hoàn hảo không phải là cách để đạt được điều đó. Chúng ta hãy xem xét vẻ đẹp của một cái chén bị móp méo rồi từ đó chúng ta sẽ nghiệm ra…cái đẹp!

Khi con người chúng ta nhận định những “cái nhứt” như: cà phê tốt nhứt, xe tốt nhứt, điện thoại tốt nhứt, ứng dụng tốt nhứt, trường học tốt nhứt, bác sĩ giỏi nhứt, đầu bếp giỏi nhứt, công ty tốt nhứt, CEO giỏi nhứt, lực sĩ giỏi nhứt, huấn luyện viên giỏi nhứt, các nhà thiết kế tốt nhứt, diễn viên xuất sắc nhứt, phim hay nhứt, trang phục đẹp nhứt, nhà thiết kế tốt nhứt của trang phục đẹp nhứt, đạo diễn xuất sắc nhứt của những nữ diễn viên xuất sắc nhứt mặc trang phục đẹp nhứt và danh mục bắt mắt nhứt.v.v…Và, để làm nổi bật sự ngưỡng mộ của chúng ta về các sự “nhứt” trên, chúng ta tạo ra danh sách, viết lên banner và làm các nghi lễ để tưởng thưởng. v.v… như: trải thảm đỏ, chuẩn bị giải thưởng và danh hiệu sáng bóng, làm giấy chứng nhận.

Thực sự, những cái nhứt trên đã là “nhứt” chưa?

Do đó, sẽ còn những cái nhứt tiếp theo khi có sự đổi mới do con người tạo ra.

Tuy nhiên, nơi hoàn hảo nhứt đối với sự đổi mới là gì?

Trong một thế giới hoàn hảo, những ý tưởng hay nhứt sẽ thu hút những người tốt nhứt. Nhưng, trong thực tế, chúng ta hiếm khi nghĩ đến những ý tưởng tốt nhứt đưa ta đến thành công. Thường xuyên hơn, sự đổi mới bắt đầu với những ý tưởng không hoàn hảo được kết hợp với nhau bởi một nhóm ý tưởng không giống nhau và đồng dạng. Tất cả có thể đưa đến cơ hội không hoàn hảo!

Nếu chúng ta có một ý tưởng tuyệt vời, thì cần phải mất một thập kỷ để ý tưởng đó được chú ý đến. Đó là không hoàn hảo. Đổi mới không phải là một khoa học hoàn hảo và do đó không nên được thực hiện như thể nó là hoàn hảo. Chúng ta cần các số liệu mới, các quy trình mới và các ưu đãi mới để khuyến khích việc theo đuổi và công nhận sự không hoàn hảo của cuộc sống thực tế. Nhưng trước khi chúng ta bắt đầu xây dựng các căn bản tối thiểu để hỗ trợ sự đổi mới, trước hết chúng ta phải thay đổi thế giới quan của mình. Chúng ta không chỉ phải thay đổi cách chúng ta nghĩ mà còn là những gì chúng ta tin. Chúng ta phải học cách chấp nhận sự không hoàn hảo như một tài sản trong quá trình đổi mới trong ta.

4- Tri túc – Trí tuệ của sự biết đủ

Tri túc (知足) trong Phật giáo có nghĩa là biết đủ. Đây là trạng thái hài lòng, an vui với những gì mình đang có trong hiện tại, nỗ lực làm việc chân chính nhưng không để tâm tham đắm, mong cầu vượt quá giới hạn gây ra phiền não. Tri túc không có nghĩa là thụ động, lười biếng hay từ bỏ mọi mục tiêu tranh đấu. Trái lại, đây là phương thức làm chủ tâm trí, bảo vệ con người khỏi vòng xoáy của lòng tham và sự bất mãn.

Nếu Lagom nói về sự cân bằng và Wabi-sabi nói về sự chấp nhận, thì Tri túc trong Phật giáo nói về sự giải phóng nội tâm. Trong kinh điển Phật giáo có câu:“Tri túc giả phú”, tứcNgười biết đủ là người giàu có”. Đây là một trong những định nghĩa sâu sắc nhất về sự giàu có. Thông thường, xã hội đánh giá sự giàu có bằng tài sản, nhưng Phật giáo đánh giá bằng mức độ tự do và thoát khỏi lòng tham. Một người sở hữu hàng tỷ đô la nhưng luôn bất an vẫn là người nghèo về tinh thần, nhưng, ngược lại, một người sống giản dị nhưng thanh thản có thể là người giàu có thực sự. Từ đó, tri túc không phải là thái độ an phận hay từ bỏ mọi nỗ lực.

Đức Phật không khuyến khích con người lười biếng. Ngài chỉ nhắc rằng, mọi ham muốn đều cần có giới hạn, và khi lòng tham trở thành động lực chính của đời sống, con người sẽ không bao giờ cảm thấy đủ. Và khi không bao giờ cảm thấy đủ, hạnh phúc sẽ mãi mãi nằm ngoài tầm tay. Vì vậy, tri túc là nghệ thuật nhận ra giá trị của những gì mình đang có.

Đó là nền tảng của lòng biết ơn, của sự bình an và của tự do nội tâm.

5-    Những điểm tương đồng giữa ba triết lý

Dù xuất phát từ ba hoàn cảnh văn hóa khác nhau, Lagom, Wabi-sabi và Tri túc có nhiều điểm gặp gỡ và trùng hợp, cùng bổ túc lẫn nhau đáng kinh ngạc. Cả ba đều không khuyến khích sự thái quá, đề cao sự giản dị, tôn trọng thiên nhiên và nuôi dưỡng lòng nhân ái. Về việc không khuyến khích sự thái quá. Lagom phản đối việc tiêu dùng quá mức. Wabi-sabi phản đối sự theo đuổi hoàn hảo tuyệt đối. Tri túc phản đối lòng tham vô hạn. Tất cả đều hướng con người về sự quân bình.

Về việc đề cao sự giản dị, trong một thế giới ngày càng phức tạp, cả ba triết lý đều khẳng quyết rằng giá trị của cuộc sống không nằm ở số lượng mà nằm ở chiều sâu, thà ít hơn nhưng ý nghĩa hơn, thà đơn giản hơn nhưng nhân bản hơn.

Về việc tôn trọng thiên nhiên, Lagom hướng đến sự tiêu dùng bền vững, Wabi-sabi tìm thấy vẻ đẹp trong những chu kỳ tự nhiên của trời đất, và Tri túc khuyến khích giảm thiểu lòng tham đối với tài nguyên vật chất. Đây chính là những giá trị cần thiết cho việc bảo vệ môi trường trong thế kỷ XXI.

Về việc nuôi dưỡng lòng nhân ái, rõ ràng, người biết đủ thường ít ganh đua hơn (Tri túc), người chấp nhận bất toàn thường khoan dung hơn (Wabi-sabi), và người sống cân bằng thường dễ cảm thông hơn (Lagom).

Tóm lại, ba triết lý này đều góp phần xây dựng một xã hội nhân ái và hòa hợp.

6- Ý nghĩa đối với Việt Nam

Những triết lý lớn chỉ có giá trị khi chúng góp phần làm cho cuộc sống con người tốt đẹp hơn. Lagom, Wabi-sabi và Tri túc không phải là những khái niệm để trưng bày trong sách vở hay giảng đường. Chúng có thể trở thành những nguyên tắc thực tiễn giúp chúng ta định hướng được sự phát triển của xã hội trong tương lai.

Việt Nam đang ở một giai đoạn phát triển đầy cơ hội nhưng cũng đầy thách thức. Trong nhiều thập niên qua, đất nước đã đạt được những thành tựu đáng kể về kinh tế; tuy nhiên, cùng với sự phát triển ấy là nhiều vấn đề đáng suy nghĩ và cần đặt lại, như tình trạng ô nhiễm môi trường, việc khai thác tài nguyên quá mức. Về giáo dục, chương trình học tập, áp lực học sinh, bệnh thành tích, cùng việc chạy theo chỉ tiêu là những vấn nạn căn bản cần xét lại. Sự xuống cấp của các giá trị đạo đức trong xã hội cùng tâm lý sính vật chất ngày càng làm cho xã hội thoái hóa thêm ra. Và sau cùng, nguy hại tiềm ẩn nhứt là tình trạng căng thẳng và lo âu trong giới trẻ trước tương lai.

Những hiện tượng này cho thấy tăng trưởng kinh tế, dù cần thiết, không thể là mục tiêu duy nhất cho việc phát triển quốc gia. Một quốc gia muốn phát triển bền vững cần phải có một nền tảng văn hóa và đạo đức vững chắc. Lagom có thể giúp hình thành một nền văn hóa tiêu dùng có trách nhiệm; Wabi-sabi có thể giúp con người trân trọng bản sắc dân tộc và vẻ đẹp của những giá trị truyền thống; và Tri túc có thể giúp hạn chế lòng tham và củng cố tinh thần phụng sự cộng đồng.

Đó không phải là sự quay lưng với hiện đại hóa. Ngược lại, đó là cách làm cho hiện đại hóa trở nên nhân bản và đạo đức hơn. Đối với Việt Nam, điều này càng có ý nghĩa đặc biệt.

Về môi trường: Biết đủ để thiên nhiên được hồi phục. Trong hơn nửa thế kỷ qua, nhân loại đã khai thác thiên nhiên với tốc độ chưa từng có. Rừng bị tàn phá. Nguồn nước bị ô nhiễm. Đất đai bị thoái hóa. Biển cả bị khai thác quá mức. Nguyên nhân sâu xa không phải do khoa học kỹ thuật. Nguyên nhân nằm ở lòng tham không có giới hạn. Con người luôn muốn nhiều hơn, nhiều gỗ hơn, nhiều khoáng sản hơn, nhiều năng lượng hơn, nhiều lợi nhuận hơn. Trong tình trạng đó, Lagom và Tri túc đưa ra một bài học quan trọng:  

  •         Thiên nhiên không cần con người cứu giúp.
  •         Thiên nhiên chỉ cần con người ngừng phá hoại.

Một xã hội biết đủ sẽ giảm tiêu thụ không cần thiết. Một nền kinh tế biết đủ sẽ khai thác tài nguyên trong giới hạn tái tạo. Một quốc gia biết đủ sẽ đặt quyền lợi của các thế hệ tương lai ngang hàng với lợi ích trước mắt. Có lẽ trong thế kỷ XXI, khẩu hiệu phát triển cần được thay đổi. Không phải: “Phát triển bằng mọi giá.” Mà là: “Phát triển trong giới hạn của thiên nhiên.”

Đối với nền giáo dục hiện đại thường tập trung vào kiến thức và kỹ năng. Giáo dục ở Việt Nam hiện nay chánh yếu dạy học sinh nhiều hình thức cạnh tranh khác nhau, ít khi dạy các em cách sống hạnh phúc. Người trẻ sau khi tốt nghiệp, được học đủ mọi cách cách kiếm tiền dù lương thiện hay không lương thiện. Tuổi trẻ cố gắng học những phương cách thành công ngoài xã hội nhưng không được học (hay không muốn học) cách đối diện với sự thất bại! Do đó, một nền giáo dục tương lai cần bổ túc thêm những giá trị đạo đức và triết học nhân sinh. Học sinh, sinh viên cần hiểu rằng, không ai hoàn hảo, không ai chiến thắng mãi mãi, không ai sở hữu mọi thứ mình muốn. Trái lại, ai cũng có thể sống một cuộc đời có ý nghĩa. Một khi biết đủ, con người sẽ bớt ganh đua. Một khi chấp nhận bất toàn, con người sẽ bớt tự ti. Một khi sống cân bằng, con người sẽ bớt kiệt sức. Đó là những bài học quan trọng không kém toán học hay khoa học kỹ thuật.

Điều đó rất cần thiết, nhưng chưa đủ. Một học sinh có thể giỏi toán có thể giỏi khoa học, có thể giỏi công nghệ, nhưng vẫn có thể trở thành một người ích kỷ, tham lam hoặc vô cảm. Do đó, giáo dục tương lai phải đặt lại câu hỏi:”Mục đích cuối cùng của giáo dục là gì?” Nếu câu trả lời chỉ là tạo ra nguồn nhân lực thì giáo dục đã thất bại. Giáo dục phải đào tạo những con người có trách nhiệm với xã hội và với môi trường.

  •         Tinh thần Lagom có thể dạy học sinh biết sống cân bằng.
  •         Wabi-sabi giúp các em chấp nhận những khiếm khuyết của bản thân và của người khác.
  •         Tri túc giúp các em hiểu rằng giá trị con người không được đo bằng tiền bạc hay địa vị.

Một nền giáo dục như thế sẽ tạo ra những công dân trưởng thành chứ không chỉ những người lao động có kỹ năng.

Về y tế, ngày nay, nhiều căn bệnh phổ biến không chỉ xuất phát từ vi khuẩn hay virus. Chúng bắt nguồn từ lối sống, cung cách ăn uống, và tâm lý buông thả. Từ đó sinh ra bịnh béo phì, tiểu đường, cao huyết áp, bị áp lực (stress), trầm cảm, tâm lý lo âu kéo dài. Những chứng bệnh ấy thường liên quan đến nhịp sống quá nhanh, áp lực quá lớn và những ham muốn không có điểm dừng. Và trong lãnh vực nầy:

  •         Lagom khuyến khích một lối sống điều độ là làm việc vừa phải, ăn uống hợp lý, và nghỉ ngơi đầy đủ.
  •         Wabi-sabi giúp con người chấp nhận quá trình lão hóa tự nhiên thay vì sống trong nỗi ám ảnh phải trẻ mãi.
  •         Tri túc giúp giảm bớt những căng thẳng phát sinh từ sự so sánh và cạnh tranh không ngừng.

Vì vậy, một hệ thống y tế tiến bộ không chỉ chữa bệnh khi bệnh đã xuất hiện, mà còn cần đề phòng bịnh nữa. Nó còn giúp xây dựng những điều kiện xã hội để con người sống khỏe mạnh ngay từ đầu.

7-. Một nền văn minh của lòng biết đủ

Có thể nói rằng phần lớn các cuộc khủng hoảng hiện nay trên thế giới đều bắt nguồn từ một nguyên nhân chung cho nhân loại rằng con người muốn nhiều hơn mức cần thiết, muốn tiêu thụ nhiều hơn, muốn khai thác nhiều hơn, muốn thống trị nhiều hơn, muốn sở hữu nhiều hơn. Nhưng Trái Đất có giới hạn, Tài nguyên có giới hạn, và Tuổi thọ cũng có giới hạn. Và ngay cả cuộc đời con người cũng có giới hạn! Do đó, một nền văn minh bền vững không thể được xây dựng trên những ham muốn vô hạn. Một nền văn minh bề vững phải được xây dựng trên ý thức về giới hạn. Ý thức ấy chính là điểm gặp nhau của Lagom, Wabi-sabi và Tri túc.

7-    Thay lời kết

Lagom của Thụy Điển dạy chúng ta nghệ thuật sống vừa đủ. Wabi-sabi của Nhật Bản dạy chúng ta vẻ đẹp của sự bất toàn. Tri túc của Phật giáo dạy chúng ta sự tự do tránh khỏi lòng tham. Ba triết lý ấy không phải là những học thuyết kinh tế hay những chương trình chính trị. Chúng là những lời nhắc nhở sâu sắc về thân phận con người.

Trong một thế giới mà mọi người đều muốn tiến nhanh hơn, sở hữu nhiều hơn và tiêu thụ nhiều hơn, các triết lý ấy nhắc chúng ta dừng lại để tự hỏi chính mính:

Ta đang sống vì điều gì?

Ta cần bao nhiêu là đủ?

Điều gì thực sự tạo nên hạnh phúc?

Có lẽ câu trả lời không nằm trong những tòa nhà cao hơn, những chiếc máy hiện đại hơn hay những tài khoản ngân hàng lớn hơn. Mà câu trả lời nằm trong khả năng sống hài hòa với thiên nhiên, với cộng đồng và với chính bản thân mình. Một con người biết đủ sẽ có bình an. Một xã hội biết đủ sẽ có công bằng. Một nền văn minh biết đủ sẽ có tương lai. Đó có lẽ là thông điệp quý giá nhất mà Lagom, Wabi-sabi và Tri túc gửi đến nhân loại trong thế kỷ XXI.

Từ “phát triển bằng mọi giá” đến “phát triển có giới hạn và có lương tri”. Nếu cần phải tóm tắt ba triết lý này trong ba động từ, có thể nói:”Lagom chỉ cho ta biết giới hạn. Wabi-sabi chỉ cho ta biết chấp nhận. Tri túc chỉ cho ta biết buông bỏ”. Ba bài học ấy tưởng chừng như giản dị, nhưng chính sự giản dị đó lại là điều mà nền văn minh hiện đại đang bị đánh mất. Chúng ta đã học cách khai thác thiên nhiên, nhưng chưa học đủ các phương cách phải dừng lại trước khi thiên nhiên bị thoái hóa và biến thành sa mạc hóa. Chúng ta đã học cách cạnh tranh để thành công, nhưng chưa học đủ cách sống tử tế để không hủy hoại nhau. Chúng ta đã học cách sản xuất nhiều hơn, nhưng chưa học đủ cách nhận ra điều gì là đủ, là điểm tới hạn (threshold limit) nào để dừng lại trước khi quá muộn.

 Vấn đề của thế kỷ XXI không còn là sự khiếm khuyết về năng lực khoa học kỹ thuật. Vấn đề chánh yếu vẫn là thiếu giới hạn đạo đức đối với việc sử dụng năng lực ấy. Không có trí tuệ nào đủ lớn để bù cho một lòng tham không giới hạn của một cá nhân hay một tập thể lãnh đạo quốc gia. Không có tăng trưởng nào đủ nhanh để cứu một xã hội đánh mất niềm tin và lòng nhân ái. Không có công nghệ nào đủ hiện đại để thay thế một nền đạo đức biết tự kiềm chế.

 Vì vậy, bài học sâu xa nhất của Lagom, Wabi-sabi và Tri túc không phải là sống ít đi, nghèo đi hay chậm lại một cách cực đoan. Bài học ấy chính là con người phải học cách đặt giới hạn cho sự ham muốn của mình trước khi những điều kể trên đạt tới giới hạn của thiên nhiên, của xã hội và của chính sự sống bị áp đặt bằng những khủng hoảng nội tâm. Đối với Việt Nam, điều cần thiết không chỉ là một nền kinh tế mạnh hơn, mà là:

         Một nền kinh tế biết tự giới hạn trong khuôn khổ sinh thái;

  •         Không chỉ là một hệ thống giáo dục cạnh tranh hơn, mà là một nền giáo dục dạy lòng biết đủ và trách nhiệm công dân;
  •         Không chỉ là một nền y tế chữa được nhiều bệnh hơn, mà còn là một xã hội tạo ra ít nguyên nhân gây bệnh hơn;
  •         Không chỉ là những đô thị lớn hơn, mà còn là những cộng đồng đáng sống hơn. (Mời đọc “Việt Nam Tương Lai. Tập I và II của cùng tác giả. Xuất bản năm 2014).

Một dân tộc biết đủ sẽ khó bị lôi kéo vào những cuộc chạy đua nhằm hủy hoại chính đất nước mình. Một dân tộc biết chấp nhận sự bất toàn sẽ khoan dung hơn với sự khác biệt và mạnh mẽ hơn trước những biến động. Một dân tộc biết tự giới hạn lòng tham sẽ có cơ hội phát triển bền vững mà không phải trả giá bằng môi trường, sức khỏe và phẩm giá của con người. 

Trong nhiều thế kỷ, nhân loại đã đặt câu hỏi: “Làm sao để mạnh hơn?” Có lẽ câu hỏi của thời đại mới phải là: “Làm sao để mạnh mà không tự hủy diệt mình?” Nếu không học được bài học ấy, mọi thành tựu vật chất cuối cùng có thể chỉ là những công trình xây trên nền đất đang lún. Nếu học được bài học ấy, nhân loại vẫn còn cơ hội xây dựng một nền văn minh mà ở đó phát triển không đối nghịch với đạo đức, giàu có không đồng nghĩa với tham lam, và tiến bộ không phải trả giá bằng tương lai của những thế hệ chưa sinh ra. Đó không chỉ là một lựa chọn triết học. Đó là một lựa chọn sinh tồn.

 Và Việt Nam, chắc chắn sẽ không có sự lựa chọn nào khác nữa! 

Mai Thanh Truyết

Con đường Việt Nam

Mùa Phật đản 2026 –  Wednesday, June 17, 2026


 

Elon Musk, tỷ phú ngàn tỷ ‘bệnh hoạn’ nhất thế giới

Ba’o Nguoi-Viet

June 22, 2026

Trúc Phương/Người Việt

Sau khi được niêm yết trên thị trường chứng khoán Nasdaq ngày 12 Tháng Sáu với mức khởi điểm $135, cổ phiếu SpaceX hiện vọt lên $185, nâng tổng vốn hóa thị trường của SpaceX xấp xỉ $2.44 ngàn tỷ và biến Elon Musk thành tỷ phú ngàn tỷ đầu tiên trong lịch sử. Tuy nhiên, ông tỷ phú ngàn tỷ không chỉ giàu nhất thế giới mà khối “tài sản” khổng lồ của Musk còn chứa đầy ắp nguồn tư duy bệnh hoạn.

Hình ảnh Elon Musk, sáng lập viên và tổng giám đốc của SpaceX, trên thị trường chứng khoán Nasdaq hôm 12 Tháng Sáu, 2026, ở thành phố New York. (Hình: Spencer Platt/Getty Images)

Musk đứng đâu trong “văn minh nhân loại”?

Xét bất kỳ góc độ nào, có thể thấy SpaceX hoàn toàn không ảnh hưởng gì đến cuộc sống thường nhật mà con người đang trải qua. Nó không giúp giảm thuế, không giảm giá xăng, không “phụ” được việc đóng tiền điện và không “trợ cấp” được học phí đại học. SpaceX chỉ là công ty chế tạo hỏa tiễn và tàu vũ trụ. Không thể không thừa nhận Elon Musk là thiên tài kinh doanh nhưng ông là người bán hàng giỏi chứ không phải nhà phát minh.

Trong suốt sự nghiệp, thứ Elon Musk “bán chạy” nhất là ý tưởng và ông rất thành công trong lĩnh vực này. Bất luận thế nào, cũng thấy sự vô lý của việc SpaceX mang lại vị thế tỷ phú ngàn tỷ cho Musk. Cần biết, trong hồ sơ IPO (Initial Public Offering, phát hành cổ phiếu lần đầu), SpaceX chỉ nhấn mạnh những tham vọng tương lai chẳng hạn “khai thác tiểu hành tinh,” thúc đẩy du lịch vũ trụ và “lan tỏa ánh sáng ý thức đến các vì sao.” Nói cách khác, SpaceX chỉ “bán” tương lai và nhiều người sẵn sàng mua thứ mà họ chưa biết mặt mũi như thế nào.

Việc “lan tỏa ánh sáng ý thức đến các vì sao” chưa thấy đâu, chỉ thấy thế giới có thể tối tăm hơn khi Musk nắm trong tay tiền muôn bạc vạn, và dùng tiền để thao túng bầu cử cũng như lũng đoạn xã hội thông qua những ý tưởng chủng tộc quái đản mà đương sự thường xuyên gieo rắc.

Chưa từng có nhân vật nào, ít nhất ở thời đương đại, vừa có thể kiến tạo tương lai bằng kỹ thuật và công nghệ vừa góp phần phá hủy đời sống con người hiện tại theo cách như Musk. Xét ở góc độ đạo đức, những kỹ thuật tiến bộ mà Musk mang lại, nếu có, hoàn toàn không có chút giá trị so với những gì mà Musk phá hủy, khi ông kích động sự thù hằn và chia rẽ ở mức độ sâu sắc chưa từng có. Tài sản càng nhiều thì sự xấu xí đạo đức của Musk càng nhiều gấp bội.

Nếu không kể Trump, nước Mỹ từ khi xuất hiện Musk ngày càng hỗn loạn. Tháng Mười, 2022, sau khi Paul Pelosi – chồng của cựu Chủ tịch Hạ viện Nancy Pelosi (Dân Chủ-California) – bị hành hung dã man ngay tại nhà riêng ở San Francisco, Musk chia sẻ bài viết từ một trang web ít tên tuổi.

Bài viết nói rằng kẻ tấn công là một nhân vật nam hành nghề mại dâm và vụ việc bắt nguồn từ cuộc tranh cãi trong lúc say xỉn giữa Paul Pelosi và nhân vật trên. Cần nói thêm, trang web mà Musk dẫn lại chính là nơi, hồi cuộc bầu cử tổng thống 2016, từng đăng rằng ứng cử viên Hillary Clinton đã “ngủm củ tỏi” từ đời tám hoánh và người tranh cử với Trump chỉ là “một Hillary đóng thế.”

Tháng Tám, 2023, sau khi đổi tên Twitter thành X, Musk liên tục lan truyền luận điệu sai lệch rằng người da trắng ở Nam Phi là nạn nhân của nạn diệt chủng. Vài tháng sau, Musk so sánh tỷ phú Do Thái George Soros (vốn nổi tiếng với các hoạt động từ thiện và cổ xúy dân chủ toàn cầu) với Magneto – một siêu ác nhân trong vũ trụ Marvel. Musk, với khoảng 125 triệu người theo dõi trên X, cho rằng Soros căm ghét nhân loại và “muốn phá hoại nền tảng văn minh.”

Cho đến nay, Musk vẫn gieo rắc điều này. Năm 2025, chatbot AI Grok trên X tự động thông báo cho người dùng rằng “người da trắng” ở Nam Phi “là mục tiêu tấn công vì lý do chủng tộc.” Cần nhắc lại, Musk rất nhiệt tình ủng hộ những dối trá của Trump về kết quả bầu cử năm 2020, cho rằng máy bỏ phiếu có vấn đề, bộ máy tranh cử của Joe Biden đi ăn cắp phiếu lúc nửa đêm, và hầu hết cuộc bầu cử tại Mỹ đều gian lận do tình trạng người nhập cư không giấy tờ hợp pháp tham gia bỏ phiếu.

Với vô số hậu quả để lại khi phá hoại nước Mỹ trong cương vị người đứng đầu cái gọi là “Cơ Quan Hiệu Quả Chính Phủ” (Department of Government Efficiency – DOGE) vào những ngày đầu nhiệm kỳ hai của Trump, Musk đáng phải bị xử và “bóc lịch” với án chung thân nhưng Musk không hề hấn gì. Giữa Tháng Sáu, chính quyền Trump vẫn bảo vệ Musk trong vụ kiện công ty trí tuệ nhân tạo của đương sự, xAI, gây ô nhiễm các khu dân cư Bắc Mississippi (Bộ Tư Pháp đề nghị tòa án liên bang bác đơn kiện). Không chỉ vậy, chính phủ Mỹ cũng là khách hàng lớn nhất của SpaceX. Doanh thu SpaceX từ các hợp đồng chính phủ đạt khoảng $4 tỷ trong năm 2025.

Trong thế giới của Musk, “các bạn” không có chỗ!

Một trong những sự việc mà Elon Musk hiện quan tâm nhiều nhất là vụ một người nhập cư Sudan tấn công tàn bạo một người Anh tại Belfast (Bắc Ireland) vào trung tuần Tháng Sáu. Sự kiện xảy ra ở Anh nhưng Musk biến nó thành “vấn đề của thời đại.” Musk lợi dụng vụ việc để một lần nữa “cảnh báo”: Người da trắng trên toàn thế giới phải dùng bạo lực để khuất phục kẻ thù không phải da trắng, trong cuộc chiến tổng lực mang tầm vóc đa châu lục và khốc liệt chẳng khác gì ngày tận thế, nhằm giành quyền thống trị chủng tộc toàn cầu.

Từ khi xảy ra vụ Belfast, Musk liên tục bày tỏ loạt ý kiến mang đậm tư tưởng phát xít và chủ nghĩa thượng đẳng da trắng. Khi một chính trị gia cực hữu người Anh kêu gọi truy tố các quan chức đã “đưa những kẻ man rợ nguy hiểm từ thế giới thứ ba vào cộng đồng chúng ta,” Musk đáp: “Đây chính là con đường đúng đắn.” Năm 2025, khi ví những người nhập cư không phải da trắng tại Vương Quốc Anh với loài “orc” – những quái vật nguy hiểm, phi nhân tính trong truyện “Chúa tể những chiếc nhẫn,” Musk nhấn mạnh: “Nếu trở thành thiểu số, người da trắng chúng ta sẽ bị tàn sát.”

Tại Mỹ, Musk cũng áp dụng thủ pháp quen thuộc, khi lợi dụng một vụ án do một cá nhân thuộc nhóm thiểu số gây ra để khẳng định rằng hành động đó bộc lộ bản chất sát nhân bẩm sinh của toàn bộ nhóm người đó. Luôn khuếch đại tiếng nói của các chính trị gia cực hữu đòi thanh trừng những người đến từ “thế giới thứ ba,” Tháng Chín, 2025, Musk kêu gọi: “Hoặc quý vị phản kháng, hoặc quý vị sẽ chết.”

Ủng hộ “Reconquista” (Tái Chinh Phục – giai đoạn từ năm 711 đến 1492, khi các vương quốc Kitô Giáo trên bán đảo Iberia, nay là Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, từng bước giành lại lãnh thổ từ các vương quốc Hồi Giáo), Musk khuếch đại một trong những khẩu hiệu chủ chốt của phe cực hữu, rằng muốn cứu vãn văn minh phương Tây, nhất thiết phải cưỡng chế trục xuất một lượng lớn người nhập cư, thậm chí cả con cháu họ. Nói cách khác, người nhập cư không phải da trắng đang mặc nhiên bị coi là kẻ xâm lược đe dọa “nền văn minh phương Tây” ở bất cứ nơi nào họ đến, từ New Zealand, Anh đến “nhiều tiểu bang” của Mỹ.

Một cách tổng quát, nếu lịch sử thế giới từng chôn vùi chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và thế hệ đương đại không còn nhớ “màu sắc cổ điển” của chủ nghĩa phát xít như thế nào thì Musk đang gợi lại tất cả điều đó. Ben Tarnoff, đồng tác giả cuốn “Muskism: A Guide for the Perplexed” phát hành vào Tháng Tư, 2026, nói rằng “tầm nhìn của Musk về thế giới hoàn toàn đi ngược lại tinh thần nhân đạo. Lòng trắc ẩn giúp con người kết nối với nhau bất chấp khác biệt. Điều đó lại là mối đe dọa lớn đối với viễn kiến của Musk.”

Tarnoff nói thêm, trong thế giới tương lai mà Musk hướng tới, “đại đa số nhân loại sẽ bị gạt ra khỏi ‘quy trình sản xuất.”

Gần đây, Musk bóng gió, “dù chuyện gì xảy ra, chúng ta có tàu vũ trụ, còn họ thì không.” Ám chỉ này thể hiện chính xác sự cực đoan của Musk, trong đó công nghệ được sử dụng để củng cố và thắt chặt các hệ thống phân cấp toàn cầu, đồng thời bảo vệ những người “được chọn” để đưa nhân loại tiến về phía trước, tách biệt họ khỏi đám đông bị coi là thứ có thể loại bỏ.

Điều đáng sợ nhất là một kẻ mang tư tưởng phát xít như Musk lại đang nắm quyền kiểm soát một kênh thông tin có ảnh hưởng lớn đến cách giới chính trị gia, báo chí, và đặc biệt người dân bình thường, hiểu về các sự kiện toàn cầu. Không phải tự nhiên mà ngày càng có nhiều người tin và củng cố quan niệm mang tính phát xít về “tinh thần quốc gia” và chủ nghĩa dân tộc, trong bối cảnh họ luôn cảm thấy sự nguy hiểm rình rập từ mối đe dọa bị bao vây bởi “bọn người” không cùng chủng tộc. Sự “trớ trêu thời đại” ở chỗ, có không ít kẻ trong “bọn người” nói trên lại luôn xem Musk là “thánh sống.” [kn]


 

Cha Tùng Lương Dòng Chúa Cứu Thế Chia sẻ

Mình đọc các văn bản của Tòa Thánh và Quy chế Sách lễ Rôma, việc rước lễ thông thường là trên miệng, còn tùy HĐGM. địa phương định liệu phương cách khác, ví dụ trên tay... Cho nên mình không từ chối ai xin rước lễ trên miệng, nhất là các dịp lễ lớn như Giáng Sinh, hành hương ở các trung tâm... nơi rất đông người thuộc tôn giáo khác trà trộn vào thường dễ sinh ra nguy cơ phạm thánh.

Tin tức:

Toà Thánh nhắc nhở 2 Giám Mục Argentina vì từ chối cho giáo dân Rước Lễ bằng miệng
Ngày 13/05/2026, nguồn tin thân Vatican đưa tin Thánh bộ Phụng tự và Kỷ luật Bí tích của Toà Thánh đã sửa sai và nhắc nhở 2 Giám Mục Argentina rằng các tín hữu có toàn quyền Rước Lễ bằng miệng và quỳ, không được bắt buộc ai phải Rước Lễ bằng tay, sau khi nhận được tin giáo quyền 2 giáo phận của 2 Giám Mục này hạn chế hoặc cấm các tín hữu Rước Lễ theo hình thức đó.
2 Giám Mục đó là Tổng Giám Mục Marcelo Colombo của tổng giáo phận Mendoza, chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Argentina, và Giám Mục Gabriel Barba của giáo phận San Luis.
Thánh bộ Phụng tự khẳng định: các tín hữu được tự do nhận Thánh Thể theo các hình thức được Giáo Hội thiết lập, và quyền đó không thể bị giới hạn. Các hình thức hợp pháp là đón nhận Thánh Thể bằng miệng hoặc bằng tay, khi đứng hoặc quỳ.
Việc can thiệp của Toà Thánh xảy ra sau những tranh cãi lớn từ tháng 09/2025. Cụ thể, vào thời gian trên, TGM Colombo yêu cầu rằng “ở Argentina, chỉ được Rước Lễ đứng và bằng tay”. Sau đó, tại Vương cung Thánh đường San Francisco ở Mendoza, một cha dòng Phan Sinh đã quát một nhóm giáo dân “Đứng lên” khi những người này cố tình quỳ để Rước Lễ. Nhóm giáo dân đó chấp nhận đứng lên, trừ 1 người, và cuối cùng người quỳ này bị từ chối ban Thánh Thể.
Ở giáo phận San Luis, Đức cha Gabriel Barba yêu cầu tất cả các thừa tác viên Thánh Thể phải Rước Lễ bằng tay để làm gương cho các giáo dân, và yêu cầu giáo dân hạn chế Rước Lễ bằng miệng. Giám Mục tiền nhiệm của giáo phận này lại là người hết sức khuyến khích Rước Lễ bằng miệng.
Tổng Giám Mục Colombo giải thích rằng quy định của ngài tuân theo những hướng dẫn trong sách lễ Rôma và quyết định của Hội Đồng Giám Mục Argentina, Toà Thánh bác bỏ và nhấn mạnh rằng mọi quy định không được trái nghịch huấn thị chung của Hội Thánh, được quy định trong Redemptionis Sacramentum.
Những diễn biến này xảy ra trong lúc tranh cãi giữa những người theo chủ nghĩa truyền thống và hiện đại vẫn xung đột nhau: những người gắn bó với truyền thống đang cảm thấy bị loại trừ và phân biệt đối xử khi muốn Rước Lễ theo hình thức cổ là quỳ và Rước Lễ bằng miệng.
Trong quá khứ, Toà Thánh cũng đã nhiều lần cố bảo đảm quyền Rước Lễ bằng tay và bằng miệng cho các tín hữu. Năm 2004, trong huấn thị Redemptionis Sacramentum của Thánh bộ Phụng tự nói: “mỗi tín hữu luôn có quyền Rước Lễ trên lưỡi. Thật không phải phép khi từ chối cho Rước Lễ với bất kỳ tín hữu Chúa Kitô nào chỉ vì những lý do như người đó muốn rước Thánh Thể khi quỳ hay đứng.” Huấn thị này tiếp nối chỉ dẫn của huấn thị Memoriale Domini năm 1969, trong đó cho phép Rước Lễ bằng tay như một đặc quyền ban thêm trong khi vẫn duy trì Rước Lễ bằng miệng như hình thức thông thường phổ quát.
Trường hợp ở Argentina là phản chiếu tình hình rộng lớn hơn đang diễn ra trên thế giới, trong đó nhiều Hội Đồng Giám Mục và Giám Mục địa phương, thậm chí cha xứ, đã thiết lập những quy tắc giới hạn quyền của tín hữu trái với luật Hội Thánh. Dĩ nhiên Đấng bản quyền địa phương có thể đưa ra những hướng dẫn đời sống đạo cho các tín hữu thuộc quyền mình, nhưng không thể cấm những điều luật chung Hội Thánh cho phép.
Ở Việt Nam, nhiều nơi cũng đang áp đặt hình thức Rước Lễ bằng tay (cấm Rước Lễ miệng) dù Toà Thánh luôn cho phép tín hữu tuỳ chọn Rước Lễ bằng tay hoặc bằng miệng tuỳ cảm thức. Hy vọng các Đấng bản quyền và các cha xứ suy nghĩ lại để tuân thủ đúng đắn hơn các chỉ dẫn của Toà Thánh.
Theo Catholic Herald
Gioakim Nguyễn biên dịch

Cải chính của Đức TGM Marcelo Daniel Colombo

Desmienten una “reprimenda” del Vaticano y en San Luis también consideran  falsa la versión | DePolítica

TGM Daniel Colombo                                             GM Gabriel Barba

Hôm thứ Hai , Tổng Giám mục Mendoza, Marcelo Daniel Colombo , đã lên tiếng bác bỏ một cách dứt khoát, thông qua hãng thông tấn Công giáo Argentina AICA, một phiên bản lan truyền trên mạng xã hội và các trang web liên kết với thế giới Công giáo, cho rằng Vatican đã khiển trách ông và Giám mục San Luis, Gabriel Barba , vì những hạn chế được cho là đối với các tín hữu muốn rước lễ quỳ và bằng lưỡi.

Về tình hình tại Mendoza (thực tế ở địa phương):

⚠️ Đã có tranh cãi và một số thực hành hạn chế trước đây

⚠️ Chưa thấy công bố rõ ràng rằng giáo phận đã chính thức sửa luật địa phương

👉 Nhưng sau khi Vatican lên tiếng, việc cấm là không còn hợp với luật chung của Giáo hội

Chọn cờ và chợt nhớ ‘hồn mê mẩn tỉnh chưa, chưa tỉnh’!

Ba’o Tieng Dan

19/06/2026

Người ViệtTrân Văn

Chuyện một phụ nữ Ba Lan gốc Việt, cô Tôn Vân Anh, cầm trên tay quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa, xuất hiện trong tấm ảnh mà Newsweek Polska (Tuần Báo Ba Lan) chụp bốn phụ nữ với bốn lá cờ khác nhau vì có nguyên quán khác nhau và sử dụng để minh họa cho bài “Vì sao thế giới ngưỡng mộ Ba Lan?” đã khuấy động dư luận cộng đồng người Việt tại Ba Lan.

Cô Tôn Vân Anh cùng với cuốn sách cô viết về Việt Nam cho người Ba Lan, bằng tiếng Ba Lan. (Hình: Facebook Tôn Vân Anh)

Trên Uwaga – trang facebook có tên Người Việt ở Ba Lan – không ít người chỉ trích Tôn Vân Anh là “ba sọc,” là “Cali,” là “chối bỏ quê hương,” thậm chí “phản bội tổ quốc” vì “cờ đỏ có ngôi sao vàng ở giữa là cờ tổ quốc, còn lá cờ hình búa liềm mới là cờ cộng sản.”

Một số người lưu ý, tổ quốc là nơi mình sinh ra, có ghét cộng sản thì cũng đừng ghét cả nơi mình sinh ra. Một số người nhắc nhở, Uwaga là trang dành cho người Việt Nam đang sống tại Ba Lan, không phải là trang để chửi lại nơi mình sinh ra. Cũng có người cảnh cáo, Tôn Vân Anh đang kiếm sống bằng việc phiên dịch và dạy tiếng Ba Lan cho người Việt, thành ra cầm cờ vàng ba sọc đỏ chẳng khác gì “tự vả vào mặt mình.” Có cả những người kêu gọi tẩy chay Tôn Vân Anh hay khuyên cô nên rời khỏi trang Uwaga vì làm như cô đã làm thì “không phải người Việt Nam.”

Ở chiều ngược lại, không thiếu người ủng hộ Tôn Vân Anh. Họ nhấn mạnh, cờ đỏ sao vàng không đại diện cho tổ quốc, không phải tất cả người Việt tại Ba Lan đều theo cộng sản nên không thể nhân danh cộng đồng để khuyên thế này hay phản đối thế kia. Chọn lá cờ nào làm biểu tượng xứ sở của mình là quyền tự do cá nhân.

Người Ba Lan không chỉ oán hận phát xít mà còn căm ghét cả cộng sản bởi cả hai là hai mặt của đồng xu đại diện cho chủ nghĩa toàn trị và bộ máy tẩy não.

Chính nước Đức thời Quốc Xã và Liên Xô đứng đầu khối cộng sản đã bắt tay nhau để xâu xé Ba Lan. Cũng có người mỉa mai, nếu thật sự “yêu nước” thì nên rời Ba Lan về Việt Nam. Hoặc nêu thắc mắc, vì lẽ gì phải tìm đủ cách, kể cả bất hợp pháp, để được sống ở xứ khác mà vẫn “tự hào?”

Có một điểm đáng chú ý là nếu chịu khó đọc kỹ những ý kiến tranh luận xoay quanh chủ đề vừa đề cập, có thể thấy số người chỉ trích Tôn Vân Anh tuy ở Ba Lan nhưng không biết gì về lịch sử xứ sở này cũng như quá khứ của dân tộc này. Chẳng hạn họ vẫn tin Liên Xô đã “giải phóng” Ba Lan khỏi phát xít. May cho họ là phần lớn dân Ba Lan không thể đọc những ý kiến ấy!

***

Tuy bị đặt dưới sự kiểm soát của thể chế cộng sản trong 45 năm (1944-1989) nhưng dân Ba Lan không “biết ơn” cộng sản. Có lẽ những người Việt sống tại Ba Lan không biết rằng, năm 1939, Liên Xô đã bắt tay với Đức Quốc Xã. Theo Hiệp Ước Molotov-Ribbentrop, Đức Quốc Xã tấn công Ba Lan từ phía Tây, còn Liên Xô tấn công Ba Lan từ phía Đông.

Trong cuộc tấn công ấy, Liên Xô đã bắt khoảng 22,000 người là thành phần tinh hoa của Ba Lan (sĩ quan quân đội, giáo sư, luật sư, kỹ sư, bác sĩ, giáo sĩ), giải họ về Liên Xô và giết toàn bộ 22,000 người này rồi chôn ở các ngôi một tập thể, trong đó có Katyn gần Smolensk. Năm 1943, Đức Quốc xã phát giác những ngôi mộ tập thể này, Liên Xô phủ nhận. Đến năm 1990, sau khi giải mật mới thừa nhận và xin lỗi.

Hè 1944, Liên Xô thực hiện chiến dịch Bagration, đẩy quân Đức Quốc Xã đến bờ Đông sông Vistula, đối diện thủ đô Warsaw, cách Warsaw chỉ vài trăm mét đến vài cây số. Đó là lý do khiến lực lượng kháng chiến Ba Lan nổi dậy, chiếm lại Warsaw từ tay Đức Quốc Xã. Tuy nhiên Hồng Quân Liên Xô án binh bất động để Đức Quốc Xã dọn dẹp giúp thành phần có thể gây trở ngại cho kế hoạch dựng lên một  chính quyền Ba Lan thân cộng sản. Kết quả, sau hai tháng Liên Xô “tọa sơn, quan hổ đấu,” khoảng 25,000 kháng chiến quân Ba Lan hy sinh, khoảng 200,000 thường dân bị giết, Warsaw gần như thành bình địa. Đến lúc đó Hồng Quân Liên Xô mới tiến lên để đẩy lùi Đức Quốc Xã khỏi lãnh thổ Ba Lan và dựng lên cái gọi là Ủy Ban Giải Phóng Dân Tộc Ba Lan.

Không phải tự nhiên mà cả chính phủ lẫn luật pháp Ba Lan xếp chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa cộng sản vào chung một rọ, xem cả hai là các chế độ độc tài, toàn trị tàn bạo đã chà đạp độc lập dân tộc của họ.

Điều 13 của Hiến Pháp Ba Lan nghiêm cấm sự tồn tại của các đảng chính trị và các tổ chức áp dụng các phương pháp và thực tiễn hoạt động toàn trị của chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa cộng sản. Từ 1989 đến nay, Ba Lan liên tục sửa luật hình sự để biến việc truyền bá bất kỳ tư tưởng cộng sản nào thành tội phạm. Tại Ba Lan, trưng ra một lá cờ đỏ có hình búa liềm, hoặc mang các phù hiệu, biểu tượng cộng sản Liên Xô ở nơi công cộng, bị cảnh sát bắt là may mắn vì không ai dám chắc, đương sự có còn sống tới khi cảnh sát xuất hiện hay không!

***

Cộng đồng người Việt tại Ba Lan là một trong những cộng đồng người nước ngoài đáng kể tại Ba Lan. Phía Ba Lan ước đoán có khoảng 25,000 đến 30,000 người, trong đó có khoảng 3,000 người đã trở thành công dân Ba Lan. Tuy nhiên theo ước tính của các tổ chức cộng đồng và Đại Sứ Quán Việt Nam thì số người Việt sống tại Ba Lan khoảng 40,000 người đến 60,000 người.

Lịch sử di cư của người Việt sang Ba Lan bắt nguồn từ con đường học hành và hợp tác kinh tế giữa hai nước XHCN cũ và được mô tả là đã trải qua ba giai đoạn chính.

Giai đoạn đầu (thập niên 1950 – thập niên 1980) chỉ có trí thức và du học sinh, họ không quay về Việt Nam khi chế độ cộng sản ở Ba Lan sụp đổ.

Giai đoạn thứ hai (thập niên 1990 – thập niên 2000) là thời điểm Ba Lan chuyển dịch sang nền kinh tế thị trường, mở ra cơ hội kinh doanh tự do rất lớn và hàng vạn người Việt từ trong nước, cũng như những người Việt từ các lân bang như Nga, Đức, Czech đổ đến Ba Lan kiếm sống qua các quầy bán vải, quần áo tại các khu chợ ngoài trời, rồi các trung tâm thương mại, quán ăn.

Giai đoạn 3 (từ thập niên 2010 đến nay), cộng đồng người Việt thế hệ trước đó đã ổn định và sở hữu các doanh nghiệp lớn, có nhu cầu tuyển dụng nhân lực và Ba Lan rơi vào tình trạng thiếu hụt lao động phổ thông và kỹ thuật, làn sóng di cư mới hình thành, cung cấp nhân công cho các dịch vụ và công nhân.

Giống như nhiều quốc gia thuộc khu vực Đông Âu từng bị đặt dưới chế độ cộng sản, Ba Lan đang chuyển mình và đạt được nhiều thành tựu. Nếu cứ “biết ơn” thủ phạm và mãi “tự hào” về những thứ ngớ ngẩn sẽ không thể chạm tới những thành tựu ấy.

Một trong những thành tựu mà người Việt hưởng sái là Ba Lan đã trở thành quốc gia tạo ra công việc để cho. Còn những người Việt “kính bác, yêu đảng” thì đang tìm đủ mọi cách, kể cả sử dụng những phương thức phi pháp, thậm chí thảm hại nhất để được dự phần.

Theo dõi cuộc tranh luận trên Uwaga, đột nhiên kẻ viết bài này nhớ đến “Đề Tỉnh Quốc Dân Ca” hay còn gọi là “Á Tế Á Ca” từng được lưu truyền tại Việt Nam nửa đầu thế kỷ 20: “Hồn mê mẩn, tỉnh chưa, chưa tỉnh?”

Vì sao một công ty AI dọn dẹp miễn phí căn hộ của tôi ở New York (BBC)

BBC

 Các quảng cáo với hình ảnh những người dọn dẹp đeo máy quay được trưng bày khắp Thành phố New York

Tác giả, Archie Mitchell

Vai trò, Phóng viên kinh doanh

21 tháng 6 2026

Hãy tưởng tượng: một nhóm người dọn dẹp đeo máy quay và cả một đầu bếp riêng, tất cả đều được trang bị thiết bị ghi hình công nghệ cao, xuất hiện tại nhà bạn.

Bạn không đang ở trong một chương trình truyền hình thực tế, cũng không phải vừa thức dậy trong một cuốn tiểu thuyết của Aldous Huxley hay Margaret Atwood.

Thay vào đó, bạn là một cư dân của Thành phố New York, nơi các công ty AI đang đưa dịch vụ nấu ăn và dọn dẹp miễn phí đến tận cửa nhà dân.

Nhưng có một điều kiện đi kèm: công ty AI này đang thu thập dữ liệu để huấn luyện thế hệ robot nấu nướng và dọn dẹp tiếp theo, và mọi ngóc ngách trong căn hộ của bạn đều bị ghi hình.

Sáng kiến này có tên là Shift, do công ty AI Micro AGI triển khai. Đây là một phần trong làn sóng ngày càng nhiều công ty đang phát triển thế hệ robot tự động tiếp theo, mà các lãnh đạo công nghệ hy vọng sẽ có thể làm mọi việc, từ rửa bát cho đến trở thành người chăm sóc sống cùng gia đình.

Tại căn hộ của tôi ở khu Upper East Side, hai thanh niên ngoài 20 tuổi đã tới dọn dẹp. Họ đã tốt nghiệp đại học, từng làm ở một số công ty khởi nghiệp và đang tìm việc.

Do nhu cầu sử dụng dịch vụ dọn dẹp miễn phí rất cao, họ được bố trí làm việc lâu dài tại New York, dọn khoảng năm căn hộ mỗi ngày, năm ngày mỗi tuần.

Điểm khác biệt duy nhất giữa họ và một người dọn dẹp thông thường là các máy quay gắn trên mũ, kết nối bằng dây với điện thoại di động. 

Mục tiêu chính của chương trình này là thực hiện các công việc đòi hỏi sự khéo léo của đôi tay, nhằm huấn luyện các robot trong tương lai biết cách sử dụng bàn tay của chúng. Vì vậy, trong suốt quá trình làm việc, các nhân viên dọn dẹp đặc biệt tập trung vào các thao tác bằng tay.

‘Hàng tấn’ dữ liệu

Bercan Kilic, nhà sáng lập của sáng kiến Shift, nói với BBC rằng mục tiêu của hoạt động thu thập dữ liệu là “thúc đẩy nhân loại”.

Ông chỉ ra các mô hình AI hiện có như ChatGPT, có thể tạo ra câu dựa trên những đoạn văn đã được viết trước đó có sẵn trên mạng.

Nhưng ông cho biết mỗi căn bếp, phòng khách và mỗi công cụ đều có sự khác biệt, vì vậy robot cần được huấn luyện để thích nghi với các không gian và vật dụng khác nhau.

Khó khăn lớn nhất, theo ông Kilic, là để hoạt động hiệu quả, đội ngũ dọn dẹp cần thu thập “hàng tấn” dữ liệu.

“Trong thế giới thực, mọi vật thể đều khác nhau, ánh sáng khác nhau và không gì giống như vài giờ trước đó. Các mô hình AI cần học cách bàn tay, máy quay và môi trường phối hợp với nhau,” ông nói.

Mô hình kinh doanh của công ty này dựa trên khả năng bán lượng dữ liệu có giá trị thu thập được bên trong nhà người dân – dưới dạng đã được ẩn danh – cho các công ty robot và AI khác để huấn luyện robot.

Máy quay trên mũ của người lao động cho thấy công việc dọn dẹp nhà bếp từ góc nhìn của họ

Ông Kilic nói rằng Shift có thể cung cấp các dịch vụ miễn phí hoặc giảm giá cho “mọi kỹ năng mà con người có thể làm”, đồng thời lưu ý rằng ngoài việc dọn dẹp căn hộ ở New York, công ty còn có thợ cơ khí sửa xe tại Thổ Nhĩ Kỳ.

Dường như không có giới hạn đối với những việc robot hình người có thể làm trong tương lai, và BBC cũng đã đưa tin về việc phát triển robot hỗ trợ binh sĩ trên chiến trường.

Lo ngại về quyền riêng tư

Các chuyên gia về dữ liệu và quyền riêng tư cảnh báo người tiêu dùng nên thận trọng khi cung cấp dữ liệu của họ – đặc biệt là quyền tiếp cận ngôi nhà – để đổi lấy các dịch vụ được quảng bá là miễn phí.

Rory Mir, giám đốc phụ trách truy cập mở và tương tác cộng đồng công nghệ tại tổ chức vận động Electronic Frontier Foundation, cho biết họ đã chứng kiến “sự gia tăng đáng lo ngại của các hình thức ‘trả phí bằng quyền riêng tư’ và ‘hối lộ bằng dữ liệu’ từ các doanh nghiệp”.

“Mặc dù ban đầu bạn có thể nhận được tiền hoặc một dịch vụ nào đó, nhưng dữ liệu mà bạn chia sẻ có thể quay trở lại gây bất lợi cho bạn. Ngay cả khi bạn tin tưởng doanh nghiệp thu thập dữ liệu đó, vẫn luôn tồn tại nguy cơ họ chia sẻ thông tin với các công ty khác hoặc với chính phủ,” ông nói.

“Chúng ta vừa trải qua hàng chục năm dữ liệu cá nhân bị sử dụng để thao túng hành vi của chúng ta thông qua quảng cáo và các hoạt động mang tính khai thác như định giá giám sát.”

Ông Mir nói thêm rằng việc chia sẻ dữ liệu góp phần tạo ra “những hệ thống có thể không đặt lợi ích của bạn lên hàng đầu”.

Calli Schroeder, giám đốc chương trình AI và nhân quyền tại trung tâm nghiên cứu Electronic Privacy Information Center (Epic), cho rằng cách làm của Shift là “một cách sáng tạo đến quỷ quyệt để bán việc xâm phạm quyền riêng tư”.

Bà cho biết công nghệ được phát triển dựa trên lượng dữ liệu đang được thu thập này một ngày nào đó có thể khiến những người làm nghề dọn dẹp mất việc.

Bà cũng cảnh báo rằng ngay cả lợi ích từ một lần được dọn nhà miễn phí cũng chỉ là “một khoản lợi nhỏ nhoi” so với khoản lợi nhuận tiềm năng mà các công ty có thể thu được từ việc tổng hợp và bán các bộ dữ liệu có giá trị.

“Tôi nghĩ mọi người đánh giá thấp mức độ thông tin nhạy cảm mà việc ghi hình trong nhà có thể thu thập,” bà nói.

‘Chúng tôi không kỳ vọng ai cũng thích điều này’

Tuy nhiên, ông Kilic cho rằng Shift là “nền tảng minh bạch nhất về những gì xảy ra với dữ liệu của bạn”.

“Rõ ràng dữ liệu của bạn đang được sử dụng mỗi ngày, nhưng bạn không biết để làm gì và không được trả tiền,” ông này nói, đề cập đến lượng dữ liệu mà các trang web và công ty mạng xã hội thu thập từ người dùng.

“Nhưng một dịch vụ miễn phí có nghĩa là ít nhất bạn được trả công, và điều đó minh bạch và mang tính giao dịch như vậy,” ông nói thêm.

“Nếu bạn không muốn tham gia, bạn không cần phải tham gia. Chúng tôi không kỳ vọng ai cũng thích điều đó, và điều đó là bình thường.”

Trong khi một số người lo ngại về tác động đến quyền riêng tư từ kế hoạch của Shift, những người khác lại hào hứng với cơ hội đóng vai trò chủ động trong cuộc cách mạng AI.

Những người dọn dẹp căn hộ của tôi nói về niềm tin rằng AI sẽ thay đổi mạnh mẽ thế giới việc làm, nhưng những ai đón nhận điều này sớm thì không có gì phải lo sợ.

Một người trong số họ thậm chí đã gửi bộ thiết bị quay phim và giám sát về cho mẹ mình, người ghi lại cảnh quay từ góc nhìn của chính bà khi thực hiện các công việc trong nhà.

Và dù họ được trả mức lương mà công ty Micro AGI khẳng định là cao hơn mức phổ biến của nghề dọn dẹp tại New York, đội ngũ nhân viên dọn dẹp thuộc thế hệ Gen Z của công ty dường như thực sự hào hứng khi được trở thành một phần của làn sóng bùng nổ AI, ngay cả khi điều đó có nghĩa là họ phải xắn tay làm việc hết căn hộ này đến căn hộ khác ở thành phố New York.


 

TƯ TIẾU NGUYỄN HỮU QUANG: THÊM MỘT MẢNH VỠ CỦA THẦN TƯỢNG

Tạp chí Thế Kỷ Mới

TƯ TIẾU NGUYỄN HỮU QUANG: THÊM MỘT MẢNH VỠ CỦA THẦN TƯỢNG

Trong thế kỷ XXI, tượng đài không còn sụp đổ bằng thuốc nổ. Chúng sụp đổ từng mảnh vỡ dưới sức nặng của thông tin và sự thật trần trụi. Mỗi tài liệu được công bố. Mỗi hồi ký được xuất bản. Mỗi nhân chứng ra đi. Mỗi câu hỏi chưa được trả lời. Tất cả hợp lại thành những vết nứt lớn trên khối đá cẩm thạch tưởng như bất khả xâm phạm.

Những ngày gần đây, trên mạng xã hội lại lan truyền thông tin về sự ra đi của ông Nguyễn Tất Trung – người mà nhiều nguồn tư liệu ngoài luồng từ lâu vẫn cho là con trai ruột của Hồ Chí Minh với bà Nông Thị Xuân (1 & 2). Tin tức ấy, dù chưa được báo chí chính thống xác nhận, vẫn tạo nên một làn sóng bình luận đáng chú ý. Không phải bởi một nhân vật quyền lực vừa qua đời, mà bởi nó gợi lại một câu hỏi chưa bao giờ thực sự khép lại trong lịch sử hiện đại Việt Nam: Liệu phía sau bức tượng đài chính trị được xây dựng suốt nhiều thập niên có còn những góc khuất nào chưa được nói hết?

Ngay cả trong những ngày này, dư luận vẫn xôn xao quanh cuốn “Chuyện của Thanh”. Cuốn sách ấy không làm sụp đổ một huyền thoại nào ngay lập tức. Nhưng nó góp thêm một vết rạn trên bề mặt vốn được đánh bóng quá kỹ (3). Một thần tượng chính trị chỉ có thể tồn tại khi đời tư và con người thật của nhân vật ấy được đặt ngoài mọi câu hỏi. Một khi những câu hỏi bắt đầu xuất hiện, dù đúng hay sai, dù được chứng minh hay chưa, thì hào quang của sự bất khả nghi cũng bắt đầu mất đi.

Nếu câu chuyện Nguyễn Tất Trung là đúng, thì đây không chỉ là bi kịch của một cá nhân. Đó còn là bi kịch của một chế độ chính trị đã buộc một con người phải sống cả đời trong vùng tối của lịch sử (4). Một đứa trẻ sinh ra nhưng không được công khai nguồn gốc. Một người đàn ông lớn lên trong sự im lặng. Một cuộc đời bị đặt bên lề chính huyền thoại mà mình được cho là một phần của nó. Không có gì làm tổn thương một thần tượng mạnh hơn sự hiện diện của những nhân chứng sống.

Nếu câu chuyện ấy không đúng, thì bản thân việc nó tồn tại dai dẳng suốt hơn nửa thế kỷ cũng đã là một hiện tượng đáng suy nghĩ. Bởi trong các xã hội dân chủ, những nghi vấn như vậy thường được giải quyết bằng hồ sơ lưu trữ, bằng nghiên cứu độc lập, bằng tranh luận công khai. Còn trong các xã hội nơi lịch sử bị quản lý như một loại tài sản chính trị, những khoảng trống thông tin lại trở thành môi trường màu mỡ cho huyền thoại và phản huyền thoại cùng sinh trưởng.

Hồ Chí Minh. Nguồn: internet.

Vấn đề vì thế không còn là ông Nguyễn Tất Trung là ai. Vấn đề nằm ở chỗ vì sao sau hàng chục năm, xã hội Việt Nam vẫn không có được một câu trả lời được chấp nhận rộng rãi. Một nền chính trị tự tin vào sự thật sẽ không sợ sự thật. Chỉ những nền chính trị phụ thuộc vào huyền thoại mới phải sợ hồ sơ, sợ ký ức và sợ nhân chứng (5).

Trong thế kỷ XXI, tượng đài không còn sụp đổ bằng thuốc nổ. Chúng sụp đổ từng mảnh dưới sức nặng của thông tin và sự thật trần trụi. Mỗi tài liệu được công bố. Mỗi hồi ký được xuất bản. Mỗi nhân chứng “ra đi”. Mỗi câu hỏi chưa được trả lời. Tất cả hợp lại thành những vết nứt lớn trên khối đá cẩm thạch và hoa cương tưởng như bất khả xâm phạm.

Có thể đối với nhiều người, câu chuyện Nguyễn Tất Trung chỉ là một giai thoại bên lề lịch sử. Nhưng đối với người khác, nó lại là thêm một mảnh ghép cho thấy khoảng cách giữa con người bằng xương bằng thịt và hình ảnh chính trị được kiến tạo. Và một khi khoảng cách ấy ngày càng lớn, thì việc thần tượng bị hạ xuống khỏi bệ thờ chỉ còn là vấn đề thời gian.

Lịch sử cuối cùng luôn có cách đòi lại sự thật của mình (6). Chậm chạp, quanh co, nhiều khi kéo dài qua nhiều thế hệ. Nhưng nó không quên. Và mỗi lần một nhân vật, một tài liệu hay một ký ức bị lãng quên trở lại với công chúng, bức tượng của quá khứ lại mất thêm một mảnh đá.

Có lẽ, điều đáng suy ngẫm nhất không phải là một con người đã ra đi. Điều đáng suy ngẫm là tại sao sau hơn nửa thế kỷ, những câu chuyện như thế vẫn tiếp tục ám ảnh xã hội Việt Nam (7). Bởi đó là dấu hiệu cho thấy cuộc đối thoại giữa lịch sử và sự thật vẫn chưa kết thúc. Và ngày mà mọi huyền thoại phải đối diện với toàn bộ hồ sơ của mình, có lẽ không còn xa nữa.

Tư Tiếu Nguyễn Hữu Quang

—————————

Chú thích:

(1) https://baotiengdan.com/…/dai-ta-nguyen-tat-trung-qua-doi/

(2) https://baotiengdan.com/…/them-thong-tin-ve-dua-con-vo…/

(3) https://thongluan-rdp.online/…/lam-ban-ve-cuoc-dau-to…/

(4) https://www.facebook.com/groups/2475681322821562/posts/2902539023469121/ (MẬT THƯ LIÊN QUAN ĐẾN HỒ CHÍ MINH (Lưu giữ tại VP Chủ tịch Quốc Hội CSVN)

(5) https://vi.wikipedia.org/…/N%C3%B4ng_Th%E1%BB%8B_Xu%C3%A2n (Nông Thị Xuân, vợ bé của Hồ Chí Minh)

(6) https://baotiengdan.com/…/bi-mat-cuoc-doi-cua-nguyen…/

(7) https://vietbao.com/…/hay-giai-oan-nghiet-cho-dong-ho…

https://thekymoi.media/tu-tieu-nguyen-huu-quang-them-mot…/ 


 

CHA TÔI – Nguồn fb Loan Ngẫn – Truyen ngan HAY

Xuyên Sơn

 CHA TÔI – Nguồn fb Loan Ngẫn

Năm ấy tôi lên mười thì mẹ tôi bỏ nhà theo người đàn ông khác.

Bà chê cha tôi nghèo và hèn làm mãi không khấm khá lên được.

Mẹ tôi te tái gói ghém rồi quảy quả xách túi quần áo ra đi.

Bước qua bậu cửa, đi qua cha tôi đang gục đầu xuống hai lòng bàn tay, 

mắt mẹ tôi cũng chẳng nỡ nhìn.

Bà đi những bước đi róng riết tức tối và cứ như là mỗi bước đi trút bớt một gánh nặng.

Mẹ tôi chỉ dừng lại cuối sân khi nghe tiếng tôi thét lên: “mẹ! Mẹ ơi!”

Bà dừng lại mươi giây, hình như lỡ một nhịp chân.

Bà không ngoảnh lại rồi săn sẻ bước tiếp.

Cha tôi thinh lặng, ông ôm chặt lấy tôi khi tôi nhào xuống sân định đuổi theo mẹ ra ngõ.

Cả người cha tôi rung lên bần bật theo từng tiếng nức nở của tôi.

Tết năm ấy mẹ tôi không về.

Chiều hăm chín Tết tôi chạy ngược triền đê, vừa chạy tôi vừa nức nở trong lòng hai tiếng:

“Mẹ, Mẹ ơi..”

gió bấc cắt vào má, vào tay tôi những làn sắc lạnh giá buốt.

Tôi cứ thế lớn lên trong sự thiếu vắng hơi mẹ.

Cha tôi là tất cả đối với tôi, tôi cũng là tất cả với ông ấy.

Người ta buồn thì hay uống rượu, chỉ cha tôi là không.

Ông nuốt những nỗi buồn đau tình phụ vào lòng bằng sự im lặng đến buốt giá.

Các bà hàng xóm hay thì thèo hỏi vào tai tôi:

“Mẹ có về không?

Cha buồn có uống rượu không?”

Lắm đêm tôi học bài chán chê, chui vào mùng ngủ đã đời tỉnh dậy vẫn thấy cửa hé mở, sân vắng đầy ánh trăng suông, cha tôi ngồi chết lặng như thế mặc cho sương rơi ướt bực thềm, trăng rơi đầy vai đầy tóc ông.

Tôi bật dậy nhào đến ôm chặt lấy thân hình gầy gò  lạnh cóng của cha tôi.

– Sao cha không uống rượu cho bớt buồn?

Sao cha buồn mà không chịu khóc?

Tôi vừa thổn thức, vừa đập tay như điên dại vào khuôn ngực của cha tôi.

Ông cứ vậy, chết lặng, im lìm tiếp tục để nuôi tôi sống.

* Cha tôi bảo con đừng trách mẹ.

Đàn bà khi khổ cực quá, khi đa đoan quá hoặc xinh đẹp quá trong lòng thường hay dậy sóng.

Có những con sóng mà chỉ trong những khoảnh khắc rất ngắn thôi nếu không đủ bản lĩnh và lý trí để trụ vững thì sẽ bị sóng vô hình đó cuốn đi xa bờ bến.

Nó đẩy cuộc đời sang những ngã rẽ bất ngờ đầy đau khổ.

Sau này tĩnh tâm hoặc đằm người đàn bà có hối tiếc nhưng muộn mất rồi.

Người làng bảo mẹ tôi lấy chồng ở Bến Bính, mẹ tôi rất đẹp nên lấy chồng giàu có lắm,  bà thường ngược xuôi trên những con đò nan khi thì bám mích tàu Tây buôn đồ ngoại, khi thì bán dầu bán nhu yếu phẩm cho các thuỷ thủ tàu Việt nam.

Cha làm mọi việc, làm quần quật để thoát nghèo và như để trút nỗi hận vào kiếp nghèo nàn do đó mà mẹ tôi phải bỏ cha con tôi.

Ông làm phu cát ở bến đò Vạn hoá, bốc gạch, đi đáy, phụ hồ làm tất tật những gì có thể để nuôi tôi.

Ngày ấy Thuỷ nguyên nối với nội thành Hải phòng bằng những chuyến phà chạy qua sông Cấm.

Tôi không nhớ mẹ, tôi ghét mẹ.

Ba bốn cái Tết bà bỏ đi mà chưa một lần từng trở lại thăm tôi.

Làng Lâm với bến Bính đâu xa.

Bác hàng xóm bảo chỉ cần tôi đi qua Hoa động, qua cầu Đen cứ đi thẳng tay phải là tới bến Bính.

Nơi ấy tôi có thể gặp mẹ!

Một buổi cha tôi đi làm cát rất sớm, tôi trở dậy cho lợn gà chó má ăn xong, bỗng tự nhiên tôi bần thần nhớ mẹ.

Trời mới vừa tang tảng sáng, lối đi còn ướt đẫm sương rơi, tôi chạy một mạch qua cổng làng chạy miết chạy miết theo lời bác hàng xóm…

Tôi ngơ ngác sợ hãi giữa dòng người và xe thồ hàng.

Chiếc phà cập bến, người xuống kẻ lên ngược ngược xuôi xuôi, bơ vơ và không định hướng, tôi đứng chết trân nép vào một mái quán bên đường.

Bến Bính với những mái nhà tạm lợp bằng giấy dầu và những khúc cây đè lên mái vì sợ gió bão thổi bay.

Những khuôn mặt người lạnh lùng vội vã.

Tôi thấy sợ hãi, tôi nhớ cha và nước mắt chảy dài, lòng cứ thì thầm gọi hai tiếng mẹ, mẹ ơi..

tôi đứng mãi đứng mãi chẳng thể nào biết đi về hướng nào để tìm thấy mẹ của mình.

Bóng nắng đã xế dưới chân tôi.

Một mình tôi lại lầm lũi trở về làng.

Sau lần ấy tôi không bao giờ đi tìm mẹ nữa.

Năm tôi học hết cấp ba, cây cầu Bính được khánh thành.

Một buổi trưa tháng năm tôi đạp xe về nhà sau buổi liên hoan.

Trên giỏ xe vẫn còn chùm phượng vĩ, vừa bước vào nhà thì tôi nhìn thấy cha tôi ngồi trên cánh phản giữa nhà, dưới sàn là bà mẹ của tôi, hơn mười năm tôi mới lại gặp lại,nhưng thoạt nhìn tôi nhận ra ngay. 

Bà ấy khuỵ xuống giữa nhà nức nở khóc gọi tên cha, xin lỗi cha để bà gặp tôi lần cuối. ..

Rất nhiều năm sau cái chết của người đàn bà mà tôi gọi bằng mẹ, tôi vẫn nhớ như in lời bà ấy nói với cha tôi.

Bà ấy đã từng rất yêu cha, yêu tôi, nhưng Phía sau tình yêu còn có những cám dỗ, những thấp hèn, toan tính và cả rất nhiều thứ vụn vặt rất người.

Bà ấy đã không vượt qua được nên để đánh mất tình yêu và gia đình.

Mẹ tôi chết rất trẻ, năm ấy bà mới có bốn mấy tuổi vì căn bệnh ung thư.

Những tháng ngày cuối cùng của cuộc đời bà bỗng thấy nhớ tôi,

nhớ những ngày tháng cũ, bà ân hận nhưng tất cả đều là quá muộn.

Tôi lớn lên với một bên lòng mang nỗi hận mẹ mình.

Cha tôi cả cuộc đời cô độc bởi tình yêu duy nhất ông chỉ dành cho một người đàn bà. 

Sau này cha tôi trở nên khá giả và giàu có nhờ mở bãi buôn gạch cát.

Cũng rất nhiều người đàn bà đến gần, người ve vãn gia tài, người thật dạ thương yêu nhưng cha vẫn chẳng lấy một ai.

Cuộc đời công bằng đối với tôi, đời lấy đi của tôi tình yêu của người mẹ từ khi tôi còn quá bé, nhưng bù lại tôi được cả tình thương của cha thời ấu thơ.

Khi lớn lên tôi gặp được một người đàn ông nữa cũng yêu tôi không kém gì cha.

Nhưng anh ấy yêu tôi bằng tình yêu lứa đôi và chồng vợ.

Cả cuộc đời này tôi hàm ơn họ.

Và với tôi, tình yêu là tất cả, phía sau tình yêu cám dỗ và mọi thứ chẳng là gì bởi với tôi.

Cha và chồng, hai người đàn ông trong cuộc đời tôi, họ vừa là bầu trời vừa là mặt đất này…

Nguồn fb Loan Ngẫn


 

BỐ NUÔI

BỐ NUÔI

 Ngày cưới của tôi và em đã được ấn định, tôi đón chờ ngày 08/05/2016 sắp tới như một món quà của cuộc đời cho em, cho tôi và cho cả người cha già của tôi nữa.  Vậy mà chỉ trong phút chốc, giấc mơ ấy tan tành, nó phá vỡ niềm tin của tôi, hạnh phúc của tôi nhưng đau khổ hơn thế, nó có thể biến tôi thành một người con bất hiếu mà có nằm mơ, cả cuộc đời này tôi cũng không dám nghĩ mình sẽ có ngày bất hiếu với cha… 

Em là người biết rõ hoàn cảnh của tôi.  Tôi mồ côi cha từ bé, mẹ tôi góa chồng năm mẹ 26 tuổi, mẹ có hai đứa con trai, đứa lớn 5 tuổi, đứa bé vừa mới 1 tuổi.  Trong làng ngoài xóm nói mẹ tôi số sát chồng, ông bà nội không nhìn nhận cháu.  Mẹ tôi một mình nuôi hai anh em tôi trong đớn đau và tủi nhục.  Trong làng có một người đàn ông tuổi đã ngoài 30 nhưng do di chứng của bệnh quai bị nên chẳng lấy vợ.  Người đàn ông ấy bất chấp tất cả, xin được cưu mang ba mẹ con tôi dù gia đình từ bỏ, làng xóm chê cười và bạn bè dè bỉu.  Người đàn ông đó chính là bố tôi.  Bố không sợ số phận, không sợ gì số sát phu của mẹ tôi mà đón nhận chúng tôi như chính các con do bố đứt ruột sinh thành …… 

Ba năm sau ngày bố tôi lấy mẹ, mẹ tôi mắc bệnh hiểm nghèo và qua đời.  Chôn vùi nỗi tiếc thương vợ, bố vẫn nói với mọi người rằng hai anh em tôi chính là món quà quí giá mà mẹ để lại. 

Từ ngày đó, nhà chỉ có ba bố con nhưng chúng tôi chưa bao giờ phải nhịn đói, cũng chưa từng nghỉ học dù chỉ một buổi.  Bố nhận tất cả công việc có thể (đóng gạch ba banh thuê, làm củ sứ điện, làm phụ hồ…) để nuôi chúng tôi khôn lớn.  Nhiều đêm thức giấc, hình ảnh bố tôi ngồi bên ngọn đèn khâu cặp sách cho anh em tôi mãi không bao giờ quên.  

Có lần, đoàn thợ nhận được công trình lớn nhưng phải xa nhà một tháng, bố tôi muốn đi lắm để kiếm được nhiều tiền, nhưng vì lo cho anh em chúng tôi ở nhà nên bố lại từ chối chỉ để ở cạnh các con.  Sau lần đấy, họ không nhận bố tôi làm thợ phụ nữa, bố lại chuyển sang nghề bốc vác thuê, cứ ai gọi là đi, bất kể ngày hay đêm, chỉ mong đủ tiền cho các con ăn học.  

Từ lúc tôi nhận thức được, tôi chưa thấy bố tôi khóc bao giờ.  Lần đầu tiên tôi thấy bố tôi khóc là ngày tôi nhận giấy báo trúng tuyển Đại học Kinh tế Quốc dân (khóa 46).  Ngày hôm đó, bố tôi cầm tờ giấy báo trúng tuyển đại học của tôi mà hai tay run rẩy, bố để lên bàn thờ mẹ thắp hương rồi cứ thế mà khóc.  

Tôi và em trai chỉ biết nhìn bố mà không nói nên lời.  

Suốt những năm đại học, bố chưa bao giờ chậm gửi tiền đóng học phí cho tôi dù chỉ một ngày, mặc tôi nói tôi đi làm thêm, mặc tôi có học bổng bố vẫn gửi tiền đều đặn cho tôi và căn dặn tôi ăn uống đầy đủ, đừng làm thêm nữa, một mình bố làm là đủ rồi.  Năm hai đại học tôi bị tai nạn nặng và phải nhập viện gần một tháng.  Cả tháng đó, bố mang em trai lên Hà Nội chăm tôi, tôi bảo sao bố không để em ở nhà cho nó đi học thì bố bảo đi đâu bố cũng mang các con theo vì bố không yên tâm giao các con cho bất cứ ai.  Gần một tháng đó, ngày bố ra cầu Long Biên chờ người gọi việc bốc vác là làm, tối lại chăm sóc tôi trong viện.  Những ngày tháng đó, cả đời tôi không bao giờ quên…  

Tôi ra trường đi làm cũng chưa mua được gì cho bố, chỉ vài bộ quần áo mà mỗi lần mua, bố lại dỗi lên dỗi xuống kêu tốn tiền.  Tôi cũng mới sửa được cái nhà, cũng nuôi được em trai đại học.  Bố vẫn luôn thế, vẫn bắt tôi dành tiền để cưới vợ, để mua nhà ở Hà Nội, Bố bảo bố vẫn làm được, con đừng lo.  

Hôm nhà tôi sang nói chuyện người lớn với nhà em, tôi dẫn bố đi mua một bộ vest.  Bố bảo mua đắt lắm mà bố chỉ mặc có ba ngày (ngày dạm ngõ, ăn hỏi và ngày cưới).  Con thuê hay mượn cho bố cũng được, tiền đó còn để lo cỗ bàn.  Tôi ứa nước mắt, ép mãi bố mới chịu thử áo.  

Hôm nay tôi và em đi thử áo cưới.  Em vẫn đang thử đồ.  Điện thoại của em có tin nhắn Zalo của người bạn thân của em.  Tôi nghĩ cô ấy gửi lời chúc mừng nên mở ra xem.  Tôi không tin vào mắt mình khi nhìn đoạn chat giữa em và bạn ấy.  Em nói sao?  Em nói dù lấy tôi, em vẫn không muốn ở với bố tôi.  Em bảo rằng em không muốn chăm bố chồng hờ.  Em bảo với bạn rằng : “Ổng có đẻ ra chồng tao đâu mà tao phải chăm?  Cưới rồi cứ để ông ấy ở quê với thằng em…”  Còn nhiều, nhiều nữa mà tôi không thể đọc vì mắt cứ nhòe đi…  

Em từng nói sẽ chăm bố tôi, yêu thương bố tôi khi chúng tôi là vợ chồng, vậy bây giờ tôi nên tin lời em nói với tôi hay tin vào đoạn chat giữa em với bạn?  Em có thể yêu tôi ít đi nhưng thương bố tôi được không?  Người bố đã mang anh em tôi đến cuộc đời này.  Cho em một người chồng mà em vẫn ngày ngày nói yêu thương.  

Ngày cưới đã định, bố tôi vui mừng đi mời khắp xóm làng.  Bố tự hào về em, người con dâu có học thức.  Còn tôi, tôi ngồi đây trăn trở, khổ đau.  Liệu tôi có làm em thay đổi được không?  Liệu em có sẵn lòng thay đổi để thương yêu Bố tôi không?  Tôi sợ lắm một tình yêu ích kỷ, chỉ nghĩ cho bản thân.  Tôi vốn chỉ quen với tình yêu cho đi mà không bao giờ biết nhận lại của bố mà thôi.  

Gửi anh trai! 

Hôm qua tình cờ đứa bạn cho em đọc những lời tâm sự của anh trên group, em đã nhận ra ngay đó là anh của em.  Nước mắt em đã rơi.  Em không rơi nước mắt vì anh mà vì bố của chúng ta anh à.  

Khi anh viết lên những dòng tâm sự ấy, em hiểu anh đã phân vân nhiều lắm.  Để em kể anh nghe, nghe về bố của chúng ta những ngày anh vắng nhà, còn quyết định như thế nào thì tùy anh định liệu, em không dám cản ngăn.  

Ngày anh lên trường nhập học, em và bố lên Hà Nội cùng anh, anh còn nhớ chứ.  Lúc trở về, nhà Nội (Nội ruột gồm hai ông bà và hai chú) sang bảo Bố: “Thằng H có phải là con ông đâu mà ông đi khoe khắp đầu làng cuối xóm, nó đậu đại học là do gen nhà tao thông minh, chứ gen nhà mày thì chỉ có đi làm cửu vạn mà thôi.”  Hôm đó em đã lao vào ẩu đả với hai chú vì dám xúc phạm đến bố.  Em cứ lao vào vừa khóc vừa quơ tay đấm đá liên hồi.  Em không ý thức được việc em làm, em chỉ thấy đau vì họ sỉ nhục bố em.  Bố đã lôi em ra, giữ chặt tay em và xin lỗi nhà nội.  Bố hứa sẽ giữ lời ăn tiếng nói.  Đêm đó bố ngồi trầm ngâm cả đêm không ngủ.  Sáng hôm sau, bố bắt em quỳ gối và vụt em ba roi (dù lúc đó em đã lớp 9).  Bố nói dù có như thế nào cũng không được hỗn hào với nhà nội ruột…  

Sau lần đó, có ai hỏi về anh mắt bố cũng long lanh, khoe anh thông minh giống bố ruột chứ người như bố chỉ biết lao động thôi.  Suốt những năm anh học đại học, chưa bao giờ bố chậm gửi tiền cho anh, nhưng cũng chưa bao giờ bố biết tới ăn sáng, anh biết không?  Nồi cháo đậu đen hôm trước ăn không hết, hôm sau bố ăn qua quít rồi đi làm.  Bố hay bảo người Trung Quốc sáng họ thường ăn cháo buổi sáng mới thọ.  Bố muốn sống lâu để chăm sóc tụi bay.  Em chưa bao giờ nhịn ăn hoặc ăn cháo sáng dù chỉ nắm xôi hay bát mì.  Có lần anh gọi về bảo nộp tiền học tiếng Anh gì đó (em quên rồi,) bố đã đi vay khắp xóm cho đủ.  Bố đi mãi đến khi bố về thì đã hơn một giờ sáng.  Em nói: “Bố có gửi cho Nó chậm một ngày cũng đâu sao mà bố phải đêm hôm khuya khoắt thế này.”  Em xót bố thôi.  Bố tát em, lần đầu tiên bố tát em và khóc.  (Em nói Nó là cái trung tâm tiếng Anh chứ có phải nói anh đâu) thế mà bố đấm ngực và bảo em chưa ngoan là do lỗi bố không biết dạy dỗ.  Sau lần đó, em không  bao giờ dám nói bậy dù chỉ nửa lời.  

Ngày anh tốt nghiệp, bố mua cho anh bộ vest mà bốn tháng sau bố mới trả hết tiền, anh biết không?   

Em không  có ý định thi đại học vì hơn ai hết, em hiểu bố nhọc nhằn đến như thế nào.  Vậy mà bố dỗi, bố ốm cả tháng là em sợ đến phát ốm theo.  Em lao vào học và đỗ.  Ngày em đỗ vào Đại học Giao thông vận tải, bố không khoe ai nữa, chỉ lặng lẽ dắt em ra thắp hương mộ mẹ mà thôi.  

Em không biết anh yêu chị Q nhiều bao nhiêu.  Chị ấy có quyền làm khổ anh nhưng không có quyền làm khổ bố em, càng không có quyền xúc phạm bố chúng ta.  Anh quyết định sao cũng được, em cũng năm cuối đại học rồi, anh không phải lo nuôi em, cả bố nữa vì em sẽ cố gắng lo cho bố.  Chính vì thế mà em chưa dám yêu một ai vì em chưa tin rằng sẽ có ai đó có thể hiểu và thông cảm với hoàn cảnh của chúng ta, chia sẻ với chúng ta và trân quí bố mình.  Nhưng anh khác và em khác.  Em sẽ mang bố theo em suốt cuộc đời này, anh đừng phải lo nếu anh còn phân vân. 

 Em: HVĐ

 Sưu tầm

From: Langthangchieutim


 

Cuối cùng, ai cũng phải học cách sống trong cô đơn

Kimtrong Lam 

Bài Học Cay Đắng Nhưng Cần Chấp Nhận

Người trên 70 tuổi: Bài học cay đắng nhưng cần chấp nhận

– “Cuối cùng, ai cũng phải học cách sống trong cô đơn”

Ở tuổi đôi mươi, người ta sợ nghèo.

Tuổi trung niên, người ta sợ bệnh.

Nhưng đến tuổi 70… nỗi sợ lớn nhất lại là cô đơn.

Thế nhưng, nghịch lý thay:

Cô đơn không phải bi kịch của tuổi già – mà là sự thật mà mỗi người cần học cách đón nhận.

Một cụ ông hơn 70 từng nói:

“Ở tuổi này, con cái không còn thuộc về mình nữa.”

Ngày trẻ nghe câu ấy, ta thấy chua xót.

Nhưng khi chính mình già đi, mới hiểu đó là chân lý của đời người.

  1. Con cái không vô tâm – chúng chỉ quá bận để ngoảnh lại

Người già sống bằng ký ức.

Còn người trẻ sống bằng trách nhiệm, áp lực và cơm áo.

Ta nhớ con, nhưng con mải họp.’

Ta mong con về, nhưng con còn đang vật lộn giữa thành phố xa.

Đó không phải bất hiếu. Đó là cuộc đời.

Ngày xưa, cha mẹ nhiều con, sống gần nhau, đong đầy sự quây quần.

Còn bây giờ, mỗi đứa một phương trời.

Cần gặp nhau, nhưng tất cả đều phải… đợi khi nào rảnh.

Thời gian đã thay đổi mọi thứ – không chỉ lòng người.

  1. Người 70 tuổi khổ nhất khi đặt hết hy vọng vào người khác

Bi kịch lớn nhất của tuổi già không phải không ai chăm sóc,

mà là kỳ vọng quá nhiều vào con cái.

Đến tuổi 70, điều quan trọng nhất không phải là “con sẽ chăm mình thế nào”, mà là mình có tự chăm được cho mình không:

còn sức khỏe để đi lại

còn minh mẫn để tự lo

còn tiền để không phải xin

còn bạn để trò chuyện

còn sở thích để sống vui

Chỉ khi tự đứng được, tuổi già mới có phẩm giá.

  1. Cô đơn – không phải kẻ thù, mà là người thầy cuối cùng

Khi ta tập quen với việc:

ăn một mình

đi chợ một mình

đi khám bệnh một mình

ngắm hoàng hôn một mình

… ta sẽ nhận ra: cuộc đời này, mỗi người đều là hành khách độc hành.

Con cái có cuộc sống riêng, bạn đời có khi đã đi trước một bước.

Còn ta, chỉ có chính mình làm bạn đồng hành đến phút cuối.

Khi không còn mong đợi ai hiểu mình, yêu mình, ở bên mình, lúc ấy ta mới thật sự bắt đầu già đi một cách thanh thản.

  1. Tuổi già hạnh phúc không phải là “đông con nhiều cháu”, mà là:

Có một chút tiền

Có một chút sức khỏe

Có vài người bạn

Có một cuộc đời do chính mình làm chủ.

Đó mới là sự tự do thật sự.

Đừng kỳ vọng con về thăm thường xuyên.

Đừng oán trách người ta sống lạnh nhạt.

Đừng kể khổ với bất kỳ ai.

Đừng chờ đợi sự tận tụy mà con cái không thể cho bạn.

Thay vì trông chờ người khác làm điểm tựa, hãy trở thành điểm tựa của chính mình.

  1. Bài học cuối cùng của đời người: Học cách sống cùng nỗi cô đơn

Khi cha mẹ còn sống, cuộc đời ta còn gốc rễ.

Khi cha mẹ mất đi, ta chỉ còn “đích đến”.

Người trên 70 đều đang đi nốt chặng cuối.

Đi chậm thôi, nhưng phải đi bằng chính đôi chân của mình:

Giữ sức khỏe

Giữ tiền

Giữ bạn

Giữ niềm vui nho nhỏ

Giữ lòng bình an

Và quan trọng nhất:

Giữ lại một phần sự yêu thương cho chính mình.

Tuổi già không phải để chờ đợi, mà là để sống tiếp – theo cách nhẹ nhàng và tự chủ nhất.

Những câu chuyện Nhân Văn | Người trên 70 tuổi: Bài học cay đắng nhưng cần chấp nhận – “Cuối cùng, ai cũng phải học cách sống trong cô đơn” 


 

Nguyễn Hưng Quốc – NGHĨ VỀ CÁC CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI

Nguyễn Hưng Quốc

NGHĨ VỀ CÁC CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI

1.

Ở Việt Nam gần đây có một số dấu hiệu mới khiến nhiều người lo ngại. Thứ nhất, Việt kiều về nước phải đăng ký tạm trú (như mấy chục năm trước!); thứ hai, chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã có quyền tước chứng chỉ hành nghề của luật sư. Nhiều người nói đến sự củng cố của một nền công an trị.

2.

Chế độ độc tài nào cũng bắt đầu bằng một cuộc cách mạng và kết thúc bằng một cuộc cách mạng khác. Ở cuộc cách mạng đầu, họ có thể là anh hùng; ở cuộc cách mạng sau, họ là tội phạm, chỉ trừ một ngoại lệ: chính họ đứng ra khởi xướng cuộc cách mạng thứ hai để xóa bỏ các di sản của cuộc cách mạng thứ nhất.

3.

Các chế độ độc tài không cần gì ở người dân hơn là sự dửng dưng. Dửng dưng trước tội ác. Dửng dưng trước sự áp bức. Dửng dưng trước vận mệnh đất nước. Và dửng dưng trước cả sự khổ nhục của chính mình. Chính sự dửng dưng ấy là dưỡng khí và dưỡng chất cần thiết để duy trì và nuôi dưỡng độc tài.

4.

Tâm lý của phần lớn dân chúng là muốn được an toàn, và vì muốn được an toàn nên họ sợ đương đầu với chế độ độc tài, nhưng chính vì tránh né đương đầu như thế nên chế độ độc tài càng kéo dài và họ càng không được an toàn.

5.

Ma quỷ hiện hữu nhờ óc mê tín. Các tên độc tài tồn tại nhờ sự cuồng tín của con người. Mê hay cuồng đều loại trừ lý trí.

6.

Ở Việt Nam không có nhà độc tài. Chỉ có một bộ máy độc tài. 


 

TRƯỚC KHI CON MỞ MIỆNG – Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Cha anh em đã biết rõ anh em cần gì, trước khi anh em cầu xin”.

Một đứa trẻ tỉnh giấc giữa đêm vì cơn ác mộng. Chưa kịp gọi, nó đã thấy cha mình ngồi bên, tay đặt trên trán nó. Đứa bé ngạc nhiên: “Ba biết con sợ?”. Người cha mỉm cười: “Ba đã nghe tiếng con trở mình từ lâu!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay tiết lộ một nghịch lý: chúng ta không cầu nguyện để được Thiên Chúa lắng nghe; chúng ta cầu nguyện vì Cha đã nghe cả tiếng trở mình của chúng ta từ trước. Bởi lẽ, Cha đã biết, đã yêu và đã chờ đợi – ‘trước khi con mở miệng’.

Chúng ta thường nghĩ cầu nguyện là chuyển thông tin từ đất lên trời. Nhưng Chúa Giêsu cho biết, không có điều gì nơi chúng ta là “tin mới” đối với Thiên Chúa. Động từ Hy Lạp oiden – “đã biết và vẫn đang biết” – diễn tả một sự hiểu biết đi trước mọi lời thưa gửi. Vì thế, cầu nguyện không nhằm mở mắt Thiên Chúa, nhưng mở lòng người.

Vậy nếu Cha đã biết, tại sao còn phải cầu nguyện? Bởi lẽ, lời cầu nguyện không nhằm thay đổi Thiên Chúa, nhưng biến đổi con người. Mỗi lần thưa “Lạy Cha”, chúng ta học bước ra khỏi cái tôi tự trị; mỗi lần nói “Xin cho ý Cha thể hiện”, chúng ta học trao lại quyền định đoạt cho Cha. Cầu nguyện không phải là kéo Thiên Chúa vào chương trình của chúng ta, nhưng là để chúng ta được đưa vào chương trình của Ngài. Thế nhưng, chúng ta vẫn khó tin điều đó. Chúng ta sợ bị bỏ quên, nên cứ muốn nói nhiều, xin nhiều và tự xoay xở. Chúa Giêsu mời gọi chúng ta bình an xác tín một sự thật: trước khi chúng ta biết mình cần gì, Cha trên trời đã biết.

Câu chuyện Cựu Ước hôm nay là một minh hoạ. Êlia là người đã để Thiên Chúa viết nên câu chuyện đời mình. Ông không sống theo dự tính riêng, nhưng theo ý định của Thiên Chúa; không nắm giữ, nhưng phó thác; không tìm vinh quang cho mình, nhưng làm rạng danh Ngài. Vì thế, ông bừng lên như ngọn lửa – bài đọc một. “Trước nhan thánh Chúa, người công chính hãy vui mừng!” – Thánh Vịnh đáp ca. Niềm vui chỉ nảy sinh nơi những ai không giằng co với Thiên Chúa, nhưng bình an ở trong tay Ngài. “Đừng để điều gì làm con xao xuyến, đừng để điều gì làm con sợ hãi. Mọi sự đều qua đi; chỉ mình Thiên Chúa là không đổi thay!” – Têrêxa Avila.

Anh Chị em,

Chúa Giêsu là Người Con đã sống trọn vẹn trong niềm tín thác vào Chúa Cha. Từ sa mạc đến núi Sọ, Ngài không ngừng trao mình cho Cha, để rồi cuối cùng phó dâng linh hồn trong tay Cha. Đó cũng là con đường của người môn đệ: càng cầu nguyện, chúng ta càng học bớt đòi Thiên Chúa theo ý mình. Cầu nguyện không phải để Thiên Chúa làm điều chúng ta muốn, nhưng để chúng ta trở thành điều Thiên Chúa muốn – biết trao đời mình cho Đấng luôn đi bước trước. Bởi lẽ, ‘trước khi con mở miệng’, Cha đã ở đó.

“Lý do chúng ta cầu nguyện là để được nên một với Thiên Chúa, Đấng chúng ta cầu khẩn!” – Julian of Norwich.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, trước khi con tìm Chúa, Chúa đã đi tìm con; trước khi con gọi Cha, Cha đã biết con; trước khi con cất tiếng, Cha đã ở đó. Cho con biết sống và cầu nguyện như một người con!”, Amen.

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

********************************************

Lời Chúa Thứ Năm, Tuần XI Thường Niên, Năm Chẵn

Vậy anh em hãy cầu nguyện như thế này.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 6,7-15

7 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Khi cầu nguyện, anh em đừng lải nhải như dân ngoại ; họ nghĩ rằng : cứ nói nhiều là được nhận lời. 8 Đừng bắt chước họ, vì Cha anh em đã biết rõ anh em cần gì, trước khi anh em cầu xin.

9 “Vậy, anh em hãy cầu nguyện như thế này :

‘Lạy Cha chúng con là Đấng ngự trên trời,
xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển,
10triều đại Cha mau đến,
ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.
11Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày ;
12xin tha tội cho chúng con
như chúng con cũng tha
cho những người có lỗi với chúng con ;
13xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ,
nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ.’

14 “Thật vậy, nếu anh em tha lỗi cho người ta, thì Cha anh em trên trời cũng sẽ tha thứ cho anh em. 15 Nhưng nếu anh em không tha thứ cho người ta, thì Cha anh em cũng sẽ không tha lỗi cho anh em.”


 

Cái Xấu Của Một Ý Thức Hệ

Phong Thanh Nguyen is with Phong Nguyen.

Cái Xấu Của Một Ý Thức Hệ

Trước năm 1975, ở miền Nam có một câu nói dân gian nghe rất chua chát:

“Ai xấu quá thì bị nói: xấu như Việt cộng.”

Mới nghe tưởng là câu đùa ác miệng. Nhưng nếu nhìn sâu hơn, chữ “xấu” ở đây không chỉ nằm ở khuôn mặt, dáng vẻ hay áo quần. Cái xấu đáng sợ hơn là **cái xấu của một lối sống**, một thứ văn hóa chính trị nghèo nàn, thô bạo, luôn dị ứng với sự thanh lịch, tử tế, văn minh và tự do.

Người miền Nam trước 1975 không hoàn hảo. Không xã hội nào hoàn hảo. Nhưng miền Nam có một nếp sống đô thị, một tinh thần cởi mở, một không gian văn hóa tương đối tự do. Người ta đọc sách, nghe nhạc, xem phim, mặc đẹp, nói chuyện lịch sự, tranh luận, yêu nghệ thuật, yêu cái đẹp. Một cô gái có thể uốn tóc, sơn móng tay, mặc áo dài, dùng son phấn. Một người đàn ông có thể mặc vest, đeo kính, nói năng từ tốn, đọc sách Tây phương, nghe nhạc tiền chiến, bàn chuyện văn chương, triết học, chính trị.

Những điều đó vốn rất bình thường trong một xã hội văn minh. Nhưng dưới con mắt của người cộng sản, cái đẹp ấy lại trở thành “tiểu tư sản”, “ủy mị”, “đồi trụy”, “phản động”, “mất lập trường”. Họ không chỉ muốn chiếm chính quyền. Họ còn muốn chiếm luôn cách ăn mặc, cách nói năng, cách suy nghĩ, cách yêu cái đẹp của con người.

Sau tháng Tư năm 1975, cái xấu ấy không còn là lời đồn. Nó bước thẳng vào đời sống miền Nam bằng dép râu, nón cối, lý lịch, hộ khẩu, công an khu vực, tổ dân phố, kiểm điểm, học tập cải tạo và những buổi đấu tố tinh thần kéo dài từ nhà ra phố.

Những cô gái, những quý bà từng thanh lịch phải tự làm thẳng mái tóc uốn cong. Móng tay từng được chăm chút phải cắt ngắn. Sơn móng tay phải bôi đi. Son phấn phải giấu. Đồ trang sức, quần áo đẹp, sách vở, băng nhạc, tranh ảnh, tiểu thuyết — tất cả trở thành thứ có thể gây nguy hiểm cho chủ nhân.

Không ai ra lệnh bằng văn bản rằng người miền Nam phải xấu đi. Nhưng ai cũng hiểu: muốn sống yên, phải tự làm mình bớt nổi bật. Muốn khỏi bị soi, phải ăn mặc nghèo đi. Muốn khỏi bị nghi ngờ, phải nói ít đi. Muốn khỏi bị chụp mũ, phải giấu sách, giấu nhạc, giấu cả quá khứ.

Thế là những chiếc áo đẹp bị cất vào đáy tủ. Những cuốn sách bị đốt trước khi bị quy là “văn hóa đồi trụy”. Những bản nhạc bị im tiếng. Những câu nói lịch sự bị thay bằng khẩu hiệu. Những con người có giáo dục phải học cách cúi đầu trước những kẻ nhân danh “giai cấp” nhưng cư xử rất thiếu văn hóa.

Cái xấu của cộng sản không chỉ là nghèo. Nghèo chưa chắc xấu. Người nghèo vẫn có thể rất đẹp nếu biết trọng nhân phẩm, trọng lẽ phải, trọng tình nghĩa. Cái xấu của cộng sản nằm ở chỗ họ **biến cái nghèo thành tiêu chuẩn đạo đức**, biến sự thô kệch thành “lập trường”, biến sự ganh ghét cái đẹp thành “đấu tranh giai cấp”.

Họ không nâng người nghèo lên cho đẹp hơn, văn minh hơn, tự do hơn. Họ kéo người khác xuống cho giống cái khuôn nghèo nàn của họ. Ai thanh lịch quá thì bị nghi. Ai học nhiều quá thì bị soi. Ai nói năng mạch lạc quá thì bị ghét. Ai có phong thái đàng hoàng quá thì bị xem là “không giống quần chúng”.

Trong trại cải tạo, nhiều người kể lại rằng những sĩ quan VNCH nào trắng trẻo, trí thức, đeo kính, ăn nói nhã nhặn, có vẻ học thức, thường bị “chiếu cố” nhiều hơn. Vì trong mắt kẻ cai trị bằng hận thù, sự lịch lãm của người tù cũng là một lời tố cáo. Nó làm lộ ra khoảng cách giữa một bên là văn hóa và một bên là bạo lực nhân danh cách mạng.

Cái đẹp làm họ khó chịu.

Cái lịch sự làm họ bất an.

Cái trí thức làm họ nghi ngờ.

Cái tự do làm họ sợ hãi.

Cái sang trọng làm họ căm ghét.

Bởi vì một chế độ được xây trên kiểm soát luôn sợ những con người có nội lực. Người có văn hóa thì khó bị nhồi sọ. Người có nhân phẩm thì khó bị khuất phục. Người biết yêu cái đẹp thì khó chấp nhận sự thô bỉ. Người biết sự thật thì khó cúi đầu trước tuyên truyền.

Vì vậy, trong xã hội cộng sản, “xấu” dần dần trở thành một thứ tiêu chuẩn ngầm.

Không ai viết thành nghị quyết: phải xấu mới là phe ta.

Không ai ban hành nghị định: phải thô kệch mới dễ thăng tiến.

Không ai công khai tuyên bố: ai đẹp, ai sang, ai lịch sự thì khó được tin dùng.

Nhưng trong thực tế, người ta hiểu rất nhanh.

Muốn tiến thân trong guồng máy ấy, nhiều khi không cần tài năng lớn, không cần nhân cách lớn, không cần tư tưởng lớn. Chỉ cần biết cúi đúng chỗ, nói đúng khẩu hiệu, ghét đúng đối tượng, im đúng lúc và tỏ ra đủ “lập trường”. Còn nếu đẹp quá, văn minh quá, độc lập quá, lịch sự quá, có tri thức quá, thì tự nhiên trở thành cái gai.

Nhìn vào chính trường cộng sản cũng thấy một điều lạ: người có phong thái sáng sủa, có khả năng nói chuyện mạch lạc, có vẻ văn minh, thường rất khó sống lâu trong guồng máy. Họ hoặc phải tự làm mình xấu đi, hoặc bị đẩy ra ngoài. Còn những khuôn mặt càng khô cứng, càng giáo điều, càng vô cảm, càng nói như đọc văn bản, càng dễ được xem là “an toàn”.

Đó không phải chuyện ngoại hình đơn giản. Đó là chuyện **khí chất của một hệ thống**.

Một hệ thống đẹp sẽ sinh ra con người biết tôn trọng cái đẹp.

Một hệ thống tự do sẽ không sợ người dân ăn mặc đẹp, đọc sách hay, nói chuyện lịch sự.

Một hệ thống văn minh sẽ không xem son phấn, sách vở, âm nhạc, nghệ thuật là kẻ thù.

Một hệ thống tự tin sẽ không cần bắt người dân phải giống nhau từ quần áo đến suy nghĩ.

Chỉ có một hệ thống mặc cảm mới ghét cái đẹp.

Chỉ có một hệ thống dối trá mới sợ sự thật.

Chỉ có một hệ thống thấp kém mới muốn kéo mọi người xuống thấp.

Chỉ có một hệ thống cai trị bằng hận thù mới xem văn minh là nguy hiểm.

Cho nên chữ “xấu” ở đây phải hiểu cho đúng.

Không phải ai nghèo cũng xấu.

Không phải ai mặc áo bà ba cũng xấu.

Không phải ai xuất thân từ nông thôn cũng xấu.

Không phải ngoại hình quyết định nhân phẩm con người.

Cái xấu cần nói đến là cái xấu của một thứ quyền lực đã làm cho con người phải che giấu vẻ đẹp của mình để được sống yên. Cái xấu của một chế độ khiến người dân phải đốt sách, giấu nhạc, cất áo đẹp, bôi son đi, cắt tóc ngắn lại, đổi giọng nói, đổi cách sống, đổi cả con người thật của mình.

Đó là cái xấu của sự sợ hãi.

Cái xấu của ganh ghét.

Cái xấu của kiểm soát.

Cái xấu của tuyên truyền.

Cái xấu của một nền chính trị không dung nổi sự thanh lịch.

Và bi kịch lớn nhất là: sau nhiều chục năm, cái xấu ấy vẫn chưa biến mất. Nó chỉ thay áo. Ngày xưa là dép râu, nón cối, biên bản, loa phường. Hôm nay là dư luận viên, an ninh mạng, truyền thông định hướng, hội đồng đấu tố trên mạng xã hội. Hình thức có thể khác, nhưng bản chất vẫn là một: ghét người tự do, sợ người có tri thức, dị ứng với tiếng nói độc lập và luôn tìm cách bôi xấu những gì mình không kiểm soát được.

Nếu bạn là một người đàn ông có phong thái đàng hoàng, ăn nói từ tốn, biết suy nghĩ độc lập, có tri thức lịch sử khách quan, không quen cúi đầu trước điều sai; hoặc nếu bạn là một người phụ nữ có vẻ đẹp, có khí chất, có giáo dục, có lòng tự trọng và không chấp nhận sống bằng khẩu hiệu — thì có lẽ bạn thật sự “không đủ điều kiện” để tiến thân trong guồng máy ấy.

Bạn có thể chạy xe ôm.

Bạn có thể bán cà phê.

Bạn có thể làm móng tay.

Bạn có thể cắt tóc, buôn bán nhỏ, lao động bình thường.

Thu nhập có thể không cao. Đời sống có thể vất vả. Nhưng ít nhất bạn còn giữ được một thứ mà nhiều kẻ trong guồng máy đã đánh mất: **nhân phẩm**.

Vì sau cùng, cái đẹp thật sự không nằm ở khuôn mặt. Nó nằm ở cách một con người sống, nói, nghĩ và đối xử với sự thật.

Còn cái xấu thật sự cũng không nằm ở làn da, mái tóc hay áo quần. Nó nằm ở một tâm hồn căm ghét tự do, một bộ máy sợ văn minh, và một ý thức hệ muốn biến cả xã hội thành một hàng người cúi đầu giống nhau.

Cái xấu ấy mới là cái xấu đáng sợ nhất.