SỐNG NIỀM HY VỌNG NGÀY CÁNH CHUNG – Tác giả: Lm. Anmai, CSsR 

 Vũ Quốc Thịnh

Tác giả: Lm. Anmai, CSsR 

Sau khi giải tán đám đông, Chúa Giêsu trở về nhà. Chính trong không gian thân tình ấy, các môn đệ đến gần và xin Người giải thích dụ ngôn cỏ lùng trong ruộng. Chúa không chỉ giải thích một câu chuyện, nhưng dẫn các ông đi sâu vào mầu nhiệm lịch sử cứu độ, vào cuộc chiến âm thầm nhưng quyết liệt giữa ánh sáng và bóng tối, giữa điều thiện và sự dữ, giữa công trình của Thiên Chúa và sự phá hoại của ma quỷ. Người nói rõ: “Kẻ gieo giống tốt là Con Người. Ruộng là thế gian. Hạt giống tốt là con cái Nước Trời. Cỏ lùng là con cái Ác Thần. Kẻ thù đã gieo cỏ lùng là ma quỷ” (Mt 13,37-39). Như thế, thế giới này không nằm ngoài bàn tay quan phòng của Thiên Chúa. Dẫu có những lúc sự dữ dường như lan tràn, bóng tối như bao phủ, gian ác như thắng thế, thì Thiên Chúa vẫn là Chủ của cánh đồng, là Đấng làm chủ mùa gặt và là Đấng định đoạt chung cuộc của lịch sử. Ma quỷ có thể gieo cỏ lùng, nhưng không thể cướp quyền làm chủ khỏi tay Thiên Chúa. Sự dữ có thể gây đau khổ, có thể làm con người hoang mang, có thể làm cho lúa tốt bị chen lấn, nhưng sự dữ không bao giờ có tiếng nói cuối cùng.

Dụ ngôn cỏ lùng mặc khải cho chúng ta mầu nhiệm Nước Trời vừa “đã hiện diện” nhưng vẫn “chưa hoàn tất”. Nước Thiên Chúa đã đến trong Đức Kitô, đã hiện diện qua lời giảng dạy, qua những phép lạ, qua thập giá và sự phục sinh của Người. Thế nhưng, Nước ấy chỉ được hoàn tất trọn vẹn trong ngày cánh chung, khi mọi quyền lực sự dữ bị tiêu diệt và Thiên Chúa trở nên tất cả trong mọi sự. Vì thế, giữa thời gian hiện tại, chúng ta vẫn phải sống trong một thế giới có lúa tốt lẫn cỏ lùng, có ánh sáng lẫn bóng tối, có thánh thiện lẫn tội lỗi, có yêu thương lẫn hận thù. Thiên Chúa không lập tức nhổ bỏ mọi sự dữ, không phải vì Người bất lực, cũng không phải vì Người dung túng cho tội lỗi, nhưng vì Người kiên nhẫn và giàu lòng thương xót. Người “không muốn cho ai phải diệt vong, nhưng muốn mọi người ăn năn sám hối” (2 Pr 3,9). Sự chậm trễ của Thiên Chúa không phải là dấu hiệu Người quên lời hứa, nhưng là cơ hội để con người quay về. Hôm nay người ta còn là cỏ lùng, nhưng nhờ ân sủng, ngày mai họ có thể trở thành lúa tốt. Hôm nay một người còn yếu đuối, tội lỗi, lạc xa, nhưng ngày mai có thể trở nên chứng nhân của lòng thương xót. Vì thế, khi Thiên Chúa chưa khép lại lịch sử, con người cũng không có quyền khép lại tương lai của bất cứ ai.

Thánh Gioan Kim Khẩu đã nhận định rằng Thiên Chúa không nhổ cỏ lùng ngay vì lòng thương xót của Người luôn để ngỏ con đường hoán cải. Người không muốn tiêu diệt con người tội lỗi, nhưng muốn tiêu diệt tội lỗi trong con người. Người không muốn khép lại đời ai trong thất vọng, nhưng muốn mở ra cho họ một con đường trở về. Thánh Augustinô cũng nhấn mạnh rằng Hội Thánh tại thế luôn là một cánh đồng có người thánh thiện và người tội lỗi cùng hiện diện. Hội Thánh không phải là cộng đoàn của những người hoàn hảo, nhưng là cộng đoàn của những con người đang được chữa lành, đang được thanh luyện, đang trên đường trở nên thánh. Bởi vậy, chúng ta không được chiếm lấy quyền phán xét vốn chỉ thuộc về Thiên Chúa. Con người thường nhìn dáng vẻ bên ngoài, còn Thiên Chúa thấu suốt cõi lòng. Ta có thể thấy nơi một người toàn khuyết điểm, nhưng Thiên Chúa lại thấy nơi họ một khả năng hoán cải. Ta có thể nhìn người khác bằng quá khứ của họ, còn Chúa nhìn họ bằng tương lai mà ân sủng có thể thực hiện. Ta có thể đóng khung một người trong lỗi lầm, còn Chúa vẫn mở cửa và chờ họ trở về.

Tuy nhiên, lòng kiên nhẫn của Thiên Chúa không có nghĩa là ngày phán xét sẽ không đến. Chúa Giêsu nói rõ: “Mùa gặt là ngày tận thế” (Mt 13,39). Sẽ có một ngày lịch sử khép lại, mọi mặt nạ rơi xuống, mọi điều kín ẩn được phơi bày, mọi lựa chọn của con người được đặt trước ánh sáng của sự thật. Con Người sẽ sai các thiên thần thi hành cuộc phán xét chung. Những gì thuộc về sự dữ sẽ bị loại bỏ, còn “bấy giờ người công chính sẽ chói lọi như mặt trời trong Nước của Cha họ” (Mt 13,43). Đây không phải là hình ảnh nhằm gieo sợ hãi, nhưng là lời khẳng định về công lý của Thiên Chúa. Những người sống ngay lành có thể bị thiệt thòi hôm nay, những người trung tín có thể âm thầm chịu đau khổ, những người bảo vệ sự thật có thể bị hiểu lầm, nhưng không một giọt nước mắt nào của họ bị quên lãng. Thiên Chúa sẽ trả lại công bằng cho những ai bị chà đạp, trả lại danh dự cho những ai bị vu khống, và làm cho những người trung tín được sáng chói trong Nước của Người. Ngày cánh chung vì thế không chỉ là ngày phán xét, nhưng còn là ngày của hy vọng, ngày sự thật chiến thắng, ngày tình yêu được hoàn tất, ngày mọi đau khổ của người công chính được biến thành vinh quang.

Sống niềm hy vọng ngày cánh chung không có nghĩa là chỉ ngồi chờ một tương lai xa xôi. Niềm hy vọng ấy phải biến đổi cách chúng ta sống hôm nay. Bởi ngày phán xét chưa đến nên hôm nay vẫn là thời gian của ân sủng. Hôm nay ta còn có thể trở về, còn có thể làm lại, còn có thể xin lỗi, tha thứ, chấm dứt một thói quen xấu, sửa chữa một bất công và bắt đầu một đời sống mới. Hôm nay ta còn có thể để cho Lời Chúa đi vào lòng và biến đổi mình. Chúa nói: “Ai có tai thì hãy nghe” (Mt 13,43). Nghe không chỉ bằng đôi tai, nhưng bằng cả trái tim. Nghe để nhận ra trong mình có những cỏ lùng nào đang mọc lên. Có thể đó là tính kiêu ngạo khiến ta luôn cho mình đúng; sự ganh ghét khiến ta không vui trước thành công của người khác; thói giả hình khiến ta bên ngoài đạo đức nhưng bên trong đầy toan tính; lòng ích kỷ khiến ta chỉ nghĩ đến bản thân; sự thỏa hiệp khiến ta biết điều sai mà vẫn làm vì lợi ích riêng. Những cỏ lùng ấy nếu không được nhận diện và loại bỏ sẽ dần bóp nghẹt hạt giống tốt mà Chúa đã gieo trong tâm hồn.

Bởi vậy, điều cần làm trước hết không phải là nhìn vào cánh đồng của người khác để tìm cỏ lùng, nhưng là cúi xuống cánh đồng lòng mình. Ta thường dễ dàng nhận ra khuyết điểm của người khác nhưng lại rất khó nhìn thấy bóng tối của bản thân. Ta có thể lên án người này nóng nảy nhưng không thấy mình cay nghiệt; trách người kia ích kỷ nhưng không nhận ra mình chỉ nghĩ đến quyền lợi riêng; phê phán người khác giả hình nhưng quên rằng nhiều khi chính ta cũng sống hai mặt. Lời Chúa hôm nay mời gọi ta phải thành thật với chính mình, khiêm tốn xin Chúa soi sáng và can đảm nhổ bỏ những gì không thuộc về Nước Trời. Công việc ấy không dễ dàng, vì cỏ lùng thường mọc rất sâu trong thói quen và bản tính. Nhưng với ân sủng Chúa, không có tội lỗi nào không thể vượt qua, không có vết thương nào không thể chữa lành, không có quá khứ nào không thể được đổi mới.

Đồng thời, dụ ngôn cũng dạy chúng ta phải kiên nhẫn trước những yếu đuối của tha nhân. Kiên nhẫn không phải là dung túng cho cái xấu, cũng không phải là im lặng trước bất công. Kiên nhẫn là biết phân biệt giữa con người và lỗi lầm của họ, là biết góp ý trong yêu thương, sửa dạy trong khiêm tốn và cầu nguyện trong hy vọng. Có những người thay đổi không phải vì bị kết án, nhưng vì được yêu thương. Có những tâm hồn trở về không phải vì bị xua đuổi, nhưng vì có người kiên nhẫn chờ đợi. Có những người bước ra khỏi bóng tối chỉ vì họ gặp được một ánh mắt không khinh miệt, một bàn tay không loại trừ và một lời nói không làm họ tuyệt vọng. Chúng ta không thể biến cỏ lùng thành lúa tốt bằng sự cay nghiệt, nhưng có thể cộng tác với ân sủng Chúa bằng lòng thương xót, lời cầu nguyện và một đời sống chứng tá.

Người Kitô hữu sống giữa thế gian nhưng không thuộc về tinh thần thế gian. Chúng ta vẫn sống trong cánh đồng có nhiều cỏ lùng, nhưng được mời gọi trở thành những bông lúa tốt. Lúa tốt không cần ồn ào, chỉ cần trung thành lớn lên, âm thầm hút lấy nhựa sống từ lòng đất và ánh sáng từ trời cao, rồi đến mùa sẽ trổ sinh bông hạt. Cũng vậy, người môn đệ của Chúa không cần chứng minh mình hơn người khác, nhưng cần trung thành sống yêu thương, công chính, khiêm nhường và phục vụ. Giữa một thế giới đầy gian dối, hãy sống chân thật. Giữa một xã hội đầy hận thù, hãy gieo bình an. Giữa một môi trường thích kết án, hãy sống lòng thương xót. Giữa những người chỉ biết nghĩ cho mình, hãy biết hy sinh. Mỗi việc tốt âm thầm hôm nay chính là một hạt giống cho mùa gặt mai sau.

Niềm hy vọng ngày cánh chung giúp chúng ta không thất vọng trước sự dữ và cũng không kiêu ngạo về sự thiện mình đang có. Ta không thất vọng vì biết sự dữ rồi sẽ bị đánh bại. Ta không kiêu ngạo vì biết mọi điều tốt lành nơi mình đều nhờ ân sủng. Ta không vội kết án vì biết quyền phán xét thuộc về Thiên Chúa. Ta không trì hoãn hoán cải vì biết mùa gặt sẽ đến vào giờ ta không ngờ. Hãy sống mỗi ngày như thể đó là ngày cuối cùng, nhưng cũng hãy yêu thương như thể ta còn cả một đời để làm điều tốt. Hãy để Lời Chúa thanh luyện ta, để khi mùa gặt đến, ta được tìm thấy không phải là một bông lúa trống rỗng, nhưng là bông lúa trĩu hạt của lòng tin, đức cậy và đức mến. Khi ấy, ta sẽ không sợ ngày cánh chung, nhưng sẽ đón ngày ấy như cuộc gặp gỡ với Đấng ta đã yêu mến và trung thành chờ đợi suốt cả cuộc đời.

Tác giả: Lm. Anmai, CSsR 


 

Michigan: Chồng bắn chết vợ, 6 con, đốt nhà rồi tự tử

Ba’o Nguoi-Viet

July 27, 2026

GRAND HAVEN, Michigan (NV) – Một ông chồng ở Michigan bị cáo buộc bắn chết vợ và sáu đứa con, đốt nhà rồi tự tử, cảnh sát loan báo hôm Thứ Hai, 27 Tháng Bảy, theo ABC News.

Lính cứu hỏa tìm thấy thi thể sáu đứa con, từ 5 tới 15 tuổi, và cha mẹ sau khi tới dập tắt đám cháy tại căn ở Grand Haven Township hôm Thứ Sáu tuần trước, Sở Cảnh Sát Ottawa County (OCSO) cho hay.

Xe cảnh sát Ottawa County, Michigan. (Hình minh họa: Ottawa County Sheriff’s Office)

Cả tám người thiệt mạng vì vết đạn, OCSO cập nhật thông tin hôm Thứ Hai sau khi có kết quả giảo nghiệm tử thi.

Người chồng, ông Kristopher Karolkiewicz, 47 tuổi, chết do tự tử, còn người vợ, bà Amanda Karolkiewicz, 39 tuổi, và sáu đứa con bị sát hại, OCSO xác nhận.

Cảnh sát không nêu danh tánh sáu đứa con, chỉ cho biết bao gồm bốn con trai lần lượt từ 5, 11, 12 và 15 tuổi cùng hai con gái 11 tuổi. Trong đó có bốn đứa trẻ là con ruột, còn hai đứa kia là con nuôi, theo OCSO.

“Đây là bi kịch không thể diễn ra bằng lời mà có lẽ chúng tôi không bao giờ biết rõ chuyện gì xảy ra,” Đại Úy Jake Sparks của OCSO cho hay trong buổi họp báo hôm Thứ Hai. “Nhưng chúng tôi sẽ cố gắng hết sức tìm ra câu trả lời và tưởng niệm các nạn nhân.”

Ban đầu, lính cứu hỏa tới khu vực này vào sáng Thứ Sáu sau khi nhận được tin báo có mùi khói, nhưng không thấy nhà nào bị cháy, ông Sparks cho biết.

Vài tiếng sau, lính cứu hỏa quay lại nơi đó sau khi nhận được tin báo có khói trắng bốc lên tại một căn nhà, và khi tiến vào trong để cố gắng dập tắt đám cháy, họ thấy thi thể tám người ở trong phòng ngủ khác nhau khắp nhà, theo ông Sparks.

Cảnh sát đang điều tra nguyên nhân vụ cháy nhưng tin rằng đám cháy do cố ý đốt ở nhiều nơi khắp nhà và tầng hầm bị hư hại nặng nề, ông Sparks cho hay. Mấy con thú nuôi của gia đình này, gồm vài con chó và ít nhất một con mèo, cũng chết trong đám cháy, ông cho biết.

“Không còn nghi can nào khác và kết quả điều tra cho thấy đây là vụ giết người rồi tự tử, và phóng hỏa sau khi giết người,” ông Sparks xác nhận trong thông cáo báo chí của OCSO hôm Thứ Hai.

Ông Sparks nói ông tin rằng sự việc có lẽ bắt đầu vào đêm hôm trước. Khẩu súng được sử dụng trong vụ này là súng lục, theo ông Sparks.

Cảnh sát đang tiếp tục điều tra vụ án này. (Th.Long) [kn]


 

KHÔNG PHẢI ĐIỀU GÌ, NHƯNG LÀ AI – Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

  Lm. Minh Anh – Tgp. Huế

“Chị có tin thế không?”; “Thưa Thầy, có. Con vẫn tin Thầy là Đức Kitô!”.

Đức tin, về nhiều mặt, như chiếc xe cút kít. Cách đơn sơ, bạn phải thực sự đẩy nó để nó có thể hoạt động. Nếu không sống nó; bạn không tin nó!

Kính thưa Anh Chị em,

Có những điều chỉ thực sự hiện hữu khi chúng ta dám đặt sức nặng đời mình lên đó. Lời Chúa hôm nay đưa chúng ta đến cốt lõi của đức tin: ‘không phải điều gì, nhưng là Ai’.

“Chị có tin thế không?”. Câu hỏi Chúa Giêsu dành cho Matta không khởi đi từ một giáo huấn cần ghi nhớ, nhưng từ một Ngôi Vị đang hiện diện. Thần học gọi đó là chuyển động từ fides quae – ‘điều chúng ta tin’, sang fides qua – ‘cách chúng ta tin’. Nói khác đi, đức tin không dừng ở những chân lý về Thiên Chúa, nhưng đưa chúng ta đến chính Ngài. “Trở thành Kitô hữu không phải là kết quả của một ý tưởng, nhưng là cuộc gặp gỡ với một Ngôi Vị!” – Bênêđictô XVI.

Matta không trả lời câu hỏi bằng một công thức, nhưng bằng một lời tuyên xưng: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống!”. Cô không biết điều gì sẽ xảy ra; nhưng cô nhận ra Đấng mình đang gặp là ai. Đức tin ấy được Gioan tóm tắt: “Ai tuyên xưng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa thì Thiên Chúa ở lại trong người ấy và người ấy ở lại trong Thiên Chúa!” – bài đọc một. Vì thế, chân lý không còn là một khái niệm cần giải mã, nhưng là một con người để gắn bó. Tin, vì thế, không ở chỗ hiểu, nhưng ở chỗ thuộc về; ‘không phải điều gì, nhưng là Ai’.

Với chúng ta cũng thế. Có thể chúng ta biết nhiều về Thiên Chúa mà vẫn chưa thật sự tin; có thể hiểu rất rõ về Ngài mà vẫn đứng ngoài tương quan với Chúa Kitô. Đức tin không được đo bằng điều chúng ta hiểu, nhưng bằng mức độ chúng ta sống thân tình với Chúa. Chỉ khi ấy, điều được biết mới thôi là một khái niệm, để trở thành một kinh nghiệm sống: “Hãy nghiệm xem Chúa tốt lành biết mấy!” – Thánh Vịnh đáp ca. “Tin Đức Giêsu là để Ngài sống đời sống của Ngài trong ta, làm nhà của Ngài nơi ta!” – Henri Nouwen.

Vấn đề của chúng ta không phải là thiếu hiểu biết, nhưng là biến đức tin thành một điều phải hiểu – hiểu rồi mới tin, nắm rồi mới bước, kiểm soát rồi mới phó mình. Khi đó, đức tin không còn là cuộc gặp gỡ với Chúa, nhưng chỉ còn là một đối tượng để nghiên cứu. Nỗi lầm lớn nhất là mải miết nắm giữ những điều mình biết về Thiên Chúa, nhưng lại không để Ngài bước vào đời mình. Karl Rahner từng cảnh báo: “Người Kitô hữu của tương lai sẽ là một người có kinh nghiệm về Thiên Chúa, hoặc sẽ không tồn tại!”.

Anh Chị em,

Đức Kitô không đến để chúng ta biết về Chúa nhiều hơn, nhưng để đưa chúng ta vào chính sự sống của Ngài ngày càng mật thiết hơn. Ngài không trao thêm lời giải thích, nhưng trao chính mình để chúng ta tin. Từ đó, đức tin không còn là nỗ lực nắm bắt, nhưng là để mình được Thiên Chúa nắm lấy; không còn là chiếm hữu một điều gì, nhưng là được chính Thiên Chúa đón nhận.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con thuộc về Chúa hơn là biết về Chúa; phó mình cho Chúa hơn là cậy sức mình; và luôn sống dưới ánh mắt Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh – Tgp. Huế

************

Lời Chúa 29/7 Thánh Matta, Maria và Lazarô, Thứ Tu Tuần XVII Thường Niên

Con vẫn tin Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.       Ga 11,19-27 

19 Khi ấy, nhiều người Do-thái đến chia buồn với hai cô Mác-ta và Ma-ri-a, vì em các cô là La-da-rô mới qua đời. 20 Vừa được tin Đức Giê-su đến, cô Mác-ta liền ra đón Người. Còn cô Ma-ri-a thì ngồi ở nhà. 21 Cô Mác-ta nói với Đức Giê-su : “Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết. 22 Nhưng bây giờ con biết : Bất cứ điều gì Thầy xin cùng Thiên Chúa, Người cũng sẽ ban cho Thầy.” 23 Đức Giê-su nói : “Em chị sẽ sống lại !” 24 Cô Mác-ta thưa : “Con biết em con sẽ sống lại, khi kẻ chết sống lại trong ngày sau hết.” 25 Đức Giê-su liền phán : “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. 26 Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết. Chị có tin thế không ?” 27 Cô Mác-ta đáp : “Thưa Thầy, có. Con vẫn tin Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian.”


 

NGUY CƠ CỦA QUÁ AN TOÀN – Rev. Ron Rolheiser, OMI

Rev. Ron Rolheiser, OMI

 Tôi thường hay được nhắc nhở là phải thận trọng cả hồn lẫn xác: “Cẩn thận!  Đừng mắc sai lầm!  Hãy thận trọng!  Đừng làm điều gì khiến mình phải hối tiếc!”  Đúng là tôi đã hấp thụ những lời này ngay từ khi còn nhỏ, những năm học ở trường dòng, và phần lớn những năm tháng làm linh mục.  Đây cũng là những lời trối trăn cuối cùng của cha tôi, cha tôi là một trong những người đàn ông chân thật nhất mà tôi được biết.  Đêm đó, anh tôi và tôi đến bệnh viện thăm cha đang bị bệnh ung thư, sau đó chúng tôi ra về không hề biết sáng sớm hôm sau cha ra đi, cha nhắc chúng tôi: “Cẩn thận nghe!”  Ông nhắc chúng tôi lái xe cẩn thận trên con đường mùa đông đầy băng tuyết.  Lời nhắc nhở này cho thấy cá tính, tâm hồn nhạy cảm và sự lo lắng đúng đắn của ông dành cho con cái, và về mặt tinh thần nó cũng có nghĩa: “Cẩn thận!  Thận trọng!”  Đây là lời nhắc nhở thường xuyên của cha tôi.

 Bây giờ những lời đó là một phần tính di truyền của tôi.  Con cái không những thừa hưởng các đặc tính sinh học của cha mẹ mà còn hơn thế nữa, đặc biệt nếu may mắn có một đấng sinh thành có lập trường đạo đức vững chắc.  Và sự thận trọng đó giúp ích cho tôi rất nhiều.  Tôi biết ơn nó.  Hơn năm mươi năm qua, tôi đã giữ gìn nguyên vẹn cả xác lẫn hồn.  Một món quà không phải là nhỏ. 

 Tuy vậy sự thận trọng đó đôi lúc cũng không tốt cho tôi.  Một người có thể  không sứt mẻ, nhưng thận trọng đến mức nhút nhát, rụt rè nhiều hơn yêu thương thì sự thận trọng đó trở thành tâm điểm cuộc đời họ.  Mối nguy cơ trong việc luôn luôn muốn toàn hảo dễ đi đến tâm trạng giống như tâm trạng của người anh cả của người con hoang đàng, đặt niềm tin cứng ngắc vào mọi sự, nhưng lại hay xét đoán, đố kỵ, gắt gỏng cay chua; không bao giờ thỏa hiệp về mặt đạo đức và tín lý, trong khi lại ham muốn những chuyện phi luân lý và tâm hồn như tê cứng với cuộc sống thật.  Đôi lúc một sự thận trọng được rèn giũa kỹ lưỡng trong từng hành vi là do quả tim cảnh giác nhiều hơn là quảng đại, ham muốn nhiều hơn là khẳng định, xét đoán nhiều hơn là tha thứ.  Đôi lúc nó làm do một quả tim mà yêu thương và tha thứ được xem như phần thưởng chứ không phải cho và nhận không vụ lợi.  Nó là kết quả của một quả tim âm thầm sung sướng khi người khác đi lầm đường vì không sống giống như mình.  Không phải lúc nào cũng như vậy, nhưng nó cũng dễ xảy ra, phải thẳng thắn và khiêm tốn nói thỉnh thoảng trong cuộc đời tôi, tôi cũng vướng vào những trường hợp như vậy.

Goethe, nhà thơ người Đức đã viết: Cuộc sống chứa đựng nhiều nguy cơ, và sự an toàn là một trong những mối nguy cơ đó.  Đối với một vài người thì có lẽ lời nhắc nhở ngược lại mới thích hợp hơn.  Tuy nhiên đối với hầu hết chúng ta, những người luôn được nhắc nhở phải trở nên người tử tế và có đạo thì câu nói của Goethe cũng mang một sự thật làm chúng ta bối rối.

 Có phải chúng ta đang sống quá thận trọng?  Liệu chúng ta có đủ can đảm để nhìn vào những kiềm chế, ghen tương, luận phạt tôn giáo của chúng ta một cách thẳng thắn không?  Có phải cuộc sống của chúng ta bị nỗi sợ hướng dẫn thay vì được tình yêu hướng dẫn không?  Liệu chúng ta có thể yêu đời mà không bị phán xét và cay đắng không?  Người khác có xem chúng ta là những người cứng ngắc không?  Lần cuối cùng chúng ta thật sự tha thứ cho người làm tổn thương mình là lần nào?  Cuộc sống chúng ta có nói lên tình yêu thương và lòng quảng đại hơn là sợ hãi và tự vệ không?  Mối nguy cơ trong việc sống quá thận trọng là đôi lúc chúng ta nghĩ chúng ta đang bảo vệ cuộc đời nhưng thật ra chúng ta đang bảo vệ sự nghèo nàn của chính đời sống mình, đôi lúc chúng ta nghĩ chúng ta đang bảo vệ đức hạnh, nhưng thật ra chúng ta đang bảo vệ những kiềm chế và sợ hãi của chính mình, và có khi chúng ta nghĩ chúng ta đang nói về sự quan phòng của Thiên Chúa cho thế gian nhưng, như người anh cả của người con hoang đàng, thật ra chúng ta đáng nói về lòng ghen tương giấu kín trong con người mình.

 Nhân vật nam chính trong bộ phim Những cỗ xe rực lửa là Eric Liddell, một chàng thanh niên hết sức đạo đức, là lực sĩ chạy bộ tham dự Thế Vận Hội Olympic với triển vọng được huy chương vàng, nhưng anh từ chối tham dự cuộc tranh tài vì vòng tranh sơ khởi nhằm vào ngày Chúa Nhật, ngày anh giành cho Chúa.  Rất dễ phê phán việc làm của Eric Liddell là việc làm xuất phát từ nguyên tắc tôn giáo cứng ngắc.  Đối với ai đó thì điều này có thể đúng.  Nhưng đối với Eric Liddell thì không.  Tại sao?  Bởi vì anh không bị cuốn đi bởi nỗi sợ hãi hay nguyên tắc cứng ngắc.  Anh được cuốn đi bởi tình yêu.  “Khi tôi chạy,” anh nói, “tôi cảm thấy niềm vui của Thiên Chúa.”

 Thỉnh thoảng tôi cũng hỏi tôi câu hỏi đó trong mối liên hệ của tôi với tôn giáo và những kiềm chế tinh thần: Liệu Thiên Chúa có vui trong sự thận trọng của tôi?  Liệu Thiên Chúa có vui trong các hy sinh của tôi?  Liệu Thiên Chúa có vui trong những khắc khoải của tôi về những khiếm khuyết đạo đức của thế giới?  Hay có phải Người Cha đang đứng bên cạnh tôi, bên ngoài bàn tiệc, nài nỉ tôi như ông từng nài nỉ với người con cả, con không thể vì cha mà chấp nhận em con sao?

 Tôi biết ơn sự giáo dục tôi được hưởng, dù tính dè dặt bẩm sinh đi kèm với nó không còn ở tôi nữa.  Thận trọng là điều hay.  Đó là cách sống đầy yêu thương và có trách nhiệm.  Nhưng tôi lớn lên một cách thẳng thắn hơn trên các nguy cơ này.  Đa số thời gian tôi như được trọn vẹn, tuy nhiên đôi lúc tôi sợ hãi nhiều hơn quảng đại, tự vệ nhiều hơn yêu thương, ghen tương nhiều hơn quan tâm lành mạnh.  Sự thận trọng đôi lúc đã không cho tôi một quả tim lớn.  An toàn cũng là một mối nguy cơ.

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim


 

CUỘC SỐNG KHÔNG CẦN QUÁ ĐẦY, CHỈ CẦN ĐỦ — Lm Anmai CSsR 

Anmai CSsR 

CUỘC SỐNG KHÔNG CẦN QUÁ ĐẦY, CHỈ CẦN ĐỦ.

Có một ảo tưởng rất phổ biến trong đời sống này: càng nhiều thì càng tốt. Nhiều tiền hơn, nhiều mối quan hệ hơn, nhiều thành tựu hơn, nhiều lời khen hơn. Người ta chạy, và chạy mãi, như thể nếu dừng lại một chút thôi thì sẽ bị bỏ lại phía sau, như thể cuộc đời là một cuộc đua không có vạch đích.

Nhưng rồi, đến một lúc nào đó, khi lòng đã mỏi, khi đôi vai đã nặng, người ta mới chợt nhận ra một điều giản dị đến đau lòng:

cuộc sống không cần quá đầy, chỉ cần đủ. “Đủ” là một từ rất nhỏ, nhưng lại là một đỉnh cao mà nhiều người không chạm tới.

Đủ không phải là ít. Đủ là khi bạn không còn bị đói khát bởi những thứ bên ngoài. Đủ là khi bạn có thể ngồi xuống, nhìn lại, và nói với chính mình: “Thế này… là được rồi.”

Có người có cả một căn nhà lớn, nhưng không có một góc nào để thật sự nghỉ ngơi.

Có người có hàng trăm mối quan hệ, nhưng không có nổi một người để gọi lúc nửa đêm.

Có người có rất nhiều tiền, nhưng không có một bữa ăn nào thật sự ngon miệng.

Vì họ không sống trong “đủ”, họ sống trong “chưa đủ”. Mà “chưa đủ” thì không có điểm dừng. Một bữa cơm đơn sơ, nếu ăn trong bình an, sẽ no lâu hơn một bàn tiệc thịnh soạn trong lo âu.

Một căn phòng nhỏ, nếu có tiếng cười, sẽ ấm hơn một biệt thự lạnh lẽo.

Một ngày sống chậm, sống sâu, sẽ đáng giá hơn cả trăm ngày vội vã mà rỗng không.

Đời sống không cần phải đầy tràn, chỉ cần vừa vặn với tâm hồn mình.

Rồi đến lòng người.

Người ta thường tự hào về một trái tim “rộng lớn”. Nhưng nhiều khi, cái gọi là rộng ấy lại chỉ là một sự dễ dãi, một sự mở cửa không chọn lọc, để rồi cuối cùng chính mình là người bị tổn thương. Lòng người không cần quá rộng, chỉ cần thật.

“Thật” không phải là nói hết, cũng không phải là cho hết.

“Thật” là khi bạn không giả vờ yêu thương.

“Thật” là khi bạn không mỉm cười chỉ vì lịch sự mà trong lòng lại lạnh tanh.

“Thật” là khi bạn dám im lặng trước những điều không thuộc về mình, và dám nói khi điều đó là cần thiết.

Một trái tim thật có thể không ôm được nhiều người, nhưng những ai ở lại sẽ là những người thật sự được yêu. Một sự quan tâm thật có thể không phô trương, nhưng lại bền bỉ và sâu sắc.

Một lời nói thật có thể không dễ nghe, nhưng lại cứu được một đời người khỏi ảo tưởng. Có những người sống cả đời để làm vừa lòng thiên hạ, để rồi cuối cùng đánh mất chính mình.

Có những người nói chuyện rất hay, rất khéo, nhưng khi cần thì không thấy đâu.

Có những mối quan hệ tưởng như rất rộng, nhưng lại rỗng.

Thà ít mà thật, còn hơn nhiều mà giả.

Thà sâu mà hẹp, còn hơn rộng mà nông.

Một trái tim thật, dù nhỏ, vẫn đủ để giữ ấm một cuộc đời.

Và rồi, chuyện của một đời người. Người ta sợ già, sợ chết, sợ thời gian trôi qua. Ai cũng muốn sống lâu, sống dài, sống thêm. Nhưng ít ai tự hỏi: “Mình đang sống như thế nào trong những ngày đã có?”

Một đời người không cần quá dài, chỉ cần sống trọn vẹn từng ngày.

“Trọn vẹn” không phải là làm được nhiều việc, mà là có mặt trong từng việc mình làm.

Ăn thì biết mình đang ăn.

Nói thì biết mình đang nói.

Yêu thì biết mình đang yêu.

Sống thì biết mình đang sống.

Có những người sống đến tám mươi năm, nhưng phần lớn thời gian là lo lắng, tiếc nuối và chờ đợi. Có những người chỉ sống vài chục năm, nhưng từng ngày của họ đều có ý nghĩa, có tình yêu, có sự dâng hiến. Chiều dài của đời người không nằm ở số năm, mà nằm ở độ sâu của từng khoảnh khắc.

Một cái nắm tay đúng lúc có thể quý hơn cả ngàn lời nói muộn màng. Một lần tha thứ có thể nhẹ hơn cả một đời ôm hận. Một ngày sống tử tế có thể đáng giá hơn cả một tháng sống hời hợt.

Sống trọn vẹn là khi tối đến, bạn không phải tự hỏi:

“Hôm nay mình đã sống chưa?”

Cuối cùng, tất cả lại quay về những điều rất đơn giản:

Không cần quá nhiều, chỉ cần đủ để bình an. Không cần quá rộng, chỉ cần thật để không cô đơn.

Không cần quá dài, chỉ cần sâu để không uổng phí. Cuộc đời, xét cho cùng, không phải là một bài toán để tối đa hóa, mà là một hành trình để hiểu thế nào là vừa vặn.

Và có lẽ, hạnh phúc không nằm ở chỗ bạn có bao nhiêu,

mà nằm ở chỗ bạn biết dừng lại ở đâu —

để mỉm cười và nói:

“Vậy là đủ.”

Lm. Anmai, CSsR 


 

Những nguyên tắc khi sử dụng Facebook

Những nguyên tắc khi sử dụng Facebook.

  1. Facebook là không gian riêng của mỗi người.

Khi bạn truy cập vào Facebook của một người khác, bạn không phải đang ở trong nhà của mình mà là “vào nhà” của người khác.

Vì vậy, việc tôn trọng các quy tắc trong không gian ấy là rất quan trọng.

Nhận định về hành vi và ứng xử trên Facebook.

  1. Các vấn đề cần chú ý khi tương tác trên Facebook.

Trên Facebook, mỗi người đều có quyền bày tỏ ý kiến, chia sẻ cảm xúc và suy nghĩ cá nhân.

Tuy nhiên, việc thể hiện quan điểm cần phải phù hợp và tôn trọng người khác, vì nó sẽ ảnh hưởng đến mối quan hệ cũng như bầu không khí chung.

Tại sao ta phải làm vậy?

  1. Tôn trọng ý kiến của người khác giúp xây dựng một cộng đồng lành mạnh.

Không gian mạng là nơi mà mỗi cá nhân có thể tự do thể hiện bản thân. Việc tuân thủ các nguyên tắc ứng xử giúp bảo vệ không gian ấy khỏi những tranh cãi vô nghĩa, đồng thời duy trì sự văn minh, tôn trọng trong mọi tương tác.

7 Nguyên tắc sử dụng Facebook.

  1. KHÔNG tranh cãi nếu không cùng quan điểm.

Lý do: Facebook không phải là nơi để tranh cãi, mà là nơi chia sẻ và kết nối.

Nếu không đồng tình với quan điểm của người khác, bạn có thể giữ im lặng hoặc chỉ bình luận khi được yêu cầu.

  1. KHÔNG tự động tư vấn khi chưa được yêu cầu

Lý do: Mỗi người có quyền lựa chọn chia sẻ hoặc không chia sẻ vấn đề cá nhân. Việc tự ý can thiệp, tư vấn mà không được yêu cầu có thể gây khó chịu và xâm phạm quyền riêng tư của người khác.

  1. Khen ngợi để vui, tránh chê bai.

Lý do Mỗi người đều có những cảm xúc và giá trị riêng. Khi bạn khen ngợi ai đó, bạn giúp tạo ra bầu không khí tích cực, trong khi lời chỉ trích có thể làm người khác buồn và khiến bạn trở nên vô duyên.

  1. Đừng phát biểu khi không biết rõ vấn đề.

Lý do: Việc phát biểu mà không hiểu biết có thể làm bạn trở nên thiếu hiểu biết và làm mất đi giá trị của cuộc trò chuyện.

  1. Đọc kỹ Status trước khi comment.

Lý do: Đọc kỹ thông tin trước khi bình luận giúp tránh những hiểu lầm và thể hiện sự tôn trọng đối với người chia sẻ nội dung đó.

  1. KHÔNG gây lộn trong nhà người khác

Lý do: Một cuộc tranh cãi không cần thiết sẽ làm không khí trở nên căng thẳng, không chỉ ảnh hưởng đến người khác mà còn có thể làm bạn mất đi sự tôn trọng từ cộng đồng.

  1. Tôn trọng quan điểm của chủ nhà.

Lý do: Khi ai đó chia sẻ quan điểm, nếu không được yêu cầu, bạn nên tôn trọng và không cần phải phô trương ý kiến của mình. Điều này thể hiện sự chín chắn và tôn trọng người khác.

Tóm tắt: “Biết điều” quan trọng hơn “biết nhiều”**

  1. Tầm quan trọng của sự tinh tế trong giao tiếp.

Không cần phải luôn tỏ ra là người hiểu biết, quan trọng là biết khi nào nên nói và khi nào nên im lặng, để thể hiện sự tôn trọng và xây dựng một cộng đồng Facebook lành mạnh.

Người có học và cư xử văn minh đều phải biết những quy tắc nầy.

Đoàn Xuân Thu.

Melbourne.


 

Hạnh phúc và Niềm vui có giống nhau hông?

Anfu Tran  is  feeling blessed.

Em hỏi: “Anh nè! Hạnh phúc và Niềm vui có giống nhau hông? Em thấy nó lẫn lộn sao ấy”

Em mến!

Trong đời sống hằng ngày, nhiều người thường dùng hai từ hạnh phúc và niềm vui như thể chúng đồng nghĩa với nhau. Nhưng thực ra, chúng diễn tả hai chiều kích rất khác nhau của đời sống con người. Hạnh phúc thường được sinh ra từ những hoàn cảnh thuận lợi; còn niềm vui phát xuất từ một tâm hồn đã gặp gỡ chân lý, tình yêu và chính Thiên Chúa.

Hạnh phúc thường gắn liền với những gì xảy ra bên ngoài. Chúng ta cảm thấy hạnh phúc khi sức khỏe tốt, gia đình bình an, công việc thuận lợi, ước mơ thành hiện thực hay những điều mong đợi được đáp ứng. Tất cả đều là những hồng ân đáng trân quý và cần được đón nhận với lòng biết ơn. Tuy nhiên, vì lệ thuộc nhiều vào hoàn cảnh, hạnh phúc cũng dễ đến rồi dễ đi khi cuộc sống thay đổi.

Niềm vui thì khác. Niềm vui đi sâu vào tận cõi lòng con người. Đó không phải là sự vắng bóng của đau khổ, nhưng là sự hiện diện của ý nghĩa. Niềm vui vẫn có thể tồn tại giữa những giọt nước mắt, vì nó không được xây dựng trên điều ta sở hữu, nhưng trên Đấng ta tín thác. Một người mẹ tận tụy chăm sóc đứa con đau yếu, một linh mục trung thành phục vụ giữa muôn thử thách, hay một người môn đệ kiên vững vác thập giá theo Đức Kitô có thể không luôn cảm thấy hạnh phúc, nhưng vẫn sống trong một niềm vui sâu thẳm mà thế gian không thể lấy đi.

Đức tin Kitô giáo mặc khải rằng niềm vui đích thực là một trong những hoa trái của Chúa Thánh Thần (Gl 5:22). Niềm vui ấy phát sinh từ sự kết hiệp với Đức Kitô, Đấng được ngôn sứ Isaia gọi là “người tôi tớ đau khổ” (Is 53:3), nhưng cũng chính là Đấng luôn sống trong niềm vui trọn vẹn vì hoàn toàn ở trong tình yêu của Chúa Cha. Bởi thế, Người đã nói: “Thầy nói những điều ấy để niềm vui của Thầy ở trong anh em, và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn” (Ga 15:11). Đức Giêsu không hứa ban một cuộc đời không có thử thách, nhưng Người hứa ban một niềm vui mà không ai có thể cướp mất (Ga 16:22).

Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo dạy rằng khát vọng được hạnh phúc đã được Thiên Chúa đặt vào trong trái tim mỗi con người. Tuy nhiên, khát vọng ấy chỉ được viên mãn nơi chính Thiên Chúa (GLHTCG 1718–1729). Vì thế, hạnh phúc trần thế chỉ là dấu chỉ, chứ không phải đích điểm. Nó hướng lòng con người về niềm vui vĩnh cửu mà Thiên Chúa đã dựng nên chúng ta để được hưởng.

Em thân mến,

Trong một thế giới không ngừng tìm kiếm sự tiện nghi, thành công và khoái lạc, người Kitô hữu được mời gọi hướng đến điều cao cả hơn. Hạnh phúc là người bạn đồng hành đáng quý trên hành trình cuộc sống; nhưng niềm vui mới là người bạn trung tín, luôn ở lại trong cả những ngày nắng đẹp lẫn những đêm tối của thập giá. Hạnh phúc có thể làm bừng sáng một khoảnh khắc; còn niềm vui có thể biến đổi cả một đời người. Hạnh phúc tùy thuộc vào những gì xảy đến với chúng ta; còn niềm vui tùy thuộc vào Đấng đang sống trong chúng ta.

Ước gì chúng ta đừng chỉ dừng lại ở việc tìm kiếm một hạnh phúc mong manh theo hoàn cảnh, nhưng luôn khao khát niềm vui bền vững được sinh ra từ việc ở lại trong Đức Kitô, sống theo chân lý của Người và yêu thương như Người đã yêu. Bởi khi Đức Kitô trở thành trung tâm của cuộc đời, ngay cả thập giá cũng không còn là dấu chấm hết, nhưng trở thành con đường dẫn đưa chúng ta đến niềm vui mà không ai có thể lấy mất. Bình an em hỉ!

#nguoitheodoi #tamlinh #giftideas #conggiao

Người ráp chữ.


 

KHÔNG CÓ QUỐC GIA PHÁT TRIỂN NÀO XEM HÀNH LANG THOÁT LŨ LÀ ĐẤT TRỐNG.

Kim Phan

 NHỮNG BÀI POST HAYKim Phan  

Nguyễn Nam Hải

KHÔNG CÓ QUỐC GIA PHÁT TRIỂN NÀO XEM HÀNH LANG THOÁT LŨ LÀ ĐẤT TRỐNG.

BỞI HỌ HIỂU MỘT ĐIỀU: KHOẢNG TRỐNG CŨNG LÀ HẠ TẦNG

Fb Phan Phụng Long

“Nhớ ai đó đã nói; Dốt nát và phá hoại luôn song hành và là tội đồ của Dân Tộc. Lịch sử mai sau sẽ ghi lại; khi thể chế không còn tồn tại.”.

Khi nhìn một bãi sông rộng hàng trăm mét, rất nhiều người sẽ nghĩ:

“Đất bỏ không.”

“Lãng phí.”

“Sao không xây công viên?”

“Sao không làm đô thị?”

Đó là cách nhìn của bất động sản.

Nhưng kỹ sư thủy lợi lại nhìn thấy một thứ hoàn toàn khác.

Họ nhìn thấy… một công trình đang hoạt động.

Đây là sai lầm lớn nhất của con người

Chúng ta chỉ coi những gì nhìn thấy là hạ tầng.

Cây cầu.

Con đường.

Đê.

Cống.

Hồ chứa.

Nhưng lại quên rằng…

Có những hạ tầng được tạo nên bằng… khoảng trống.

Một khoảng trống có thể đáng giá hơn một cây cầu.

Tại sao?

Vì cây cầu chỉ phục vụ giao thông.

Nhưng hành lang thoát lũ…

…phục vụ sự sống của cả một thành phố.

Hà Lan hiểu điều này.

Người Hà Lan từng xây đê ngày càng cao.

Sau đó họ nhận ra…

Đó không phải cuộc chiến có thể thắng mãi.

Họ đổi tư duy.

Không còn:

║ Chặn nước.

Mà là:

Trả lại không gian cho nước.

Đó là triết lý nổi tiếng:

Room for the River.

Không phải vì họ thiếu tiền xây đê.

Mà vì họ hiểu:

Không gian cũng là hạ tầng.

Nhật Bản cũng vậy.

Họ đào các hồ điều hòa khổng lồ.

Những công viên có thể ngập.

Những bãi sông có thể bị nước chiếm.

Ngày nắng…

Đó là công viên.

Ngày lũ…

Đó là hồ chứa.

Một công trình.

Hai chức năng.

Đức cũng vậy.

Rất nhiều bãi bồi được giữ nguyên.

Không phải vì họ chưa phát triển.

Mà vì họ biết:

Một mét vuông đất hôm nay có thể bán.

Nhưng một mét vuông không gian thoát lũ có thể cứu cả thành phố sau này.

Hàn Quốc cũng vậy.

Các dòng sông lớn luôn được quy hoạch với hành lang an toàn.

Không phải vì họ thích để đất trống.

Mà vì họ hiểu…

Nếu dòng sông mất không gian…

Thì dòng nước sẽ tự tìm không gian khác.

Và nơi đó thường là…

Nhà của con người.

Quy luật của mọi nền văn minh ven sông

Có một nghịch lý.

Những quốc gia càng giàu…

…lại càng để nhiều đất “không xây”.

Thoạt nhìn…

Có vẻ lãng phí.

Nhưng thực ra…

Đó là khoản đầu tư rẻ nhất.

Bởi chi phí giữ lại khoảng trống…

Luôn nhỏ hơn rất nhiều…

So với chi phí sửa chữa sau một trận đại hồng thủy.

Điều đáng sợ nhất

Không phải là xây trên bãi sông.

Mà là…

quên mất vì sao bãi sông tồn tại.

Thiên nhiên không tạo ra bãi sông để lãng phí.

Thiên nhiên tạo ra nó…

Để dòng sông còn có chỗ thở khi mùa lũ đến.

Kết

Có một nghịch lý của mọi nền văn minh. Con người rất giỏi đo giá trị của những gì có thể nhìn thấy:

Một cây cầu.

Một tòa nhà.

Một đại lộ.

Một khu đô thị.

Nhưng những nền văn minh trưởng thành lại hiểu rằng, có những tài sản quan trọng nhất không nằm ở những gì được xây lên, mà nằm ở những gì họ chủ động không xây.

Không gian thoát lũ là một trong số đó.

Một bãi sông rộng có thể không tạo ra doanh thu hằng năm.

Không đóng thuế.

Không bán được căn hộ.

Không làm tăng GDP ngay lập tức.

Nhưng nó âm thầm hấp thụ những trận lũ cực đoan, bảo vệ hệ thống đê điều và gìn giữ sự an toàn cho hàng triệu con người trong suốt nhiều thế hệ.

Đó không phải là đất bỏ trống.

Đó là một công trình hạ tầng được xây dựng bằng sự kiềm chế.

Và cũng từ đó, chúng ta có thể rút ra một quy luật lớn hơn.

Một quốc gia không trở nên vĩ đại vì khai thác tối đa mọi mét vuông đất. Một quốc gia trở nên vĩ đại khi biết rằng có những mét vuông phải được giữ lại để bảo vệ tương lai.

Đó không chỉ là bài học của sông Hồng.

Đó là triết lý của quản trị rủi ro.

Là nền tảng của quy hoạch hiện đại.

Và cũng là thước đo của một nền văn minh phát triển bền vững.

║ Con người hiện đại rất giỏi xây dựng những gì nhìn thấy. Nhưng những nền văn minh vĩ đại lại biết bảo vệ cả những thứ tưởng như vô hình.

║Không gian thoát lũ là một trong số đó. Khoảng trống ấy không tạo ra lợi nhuận mỗi năm, nhưng nó âm thầm bảo vệ một thành phố trong suốt hàng trăm năm. Đó không phải đất bỏ trống. Đó là một tài sản chiến lược của quốc gia.

Nếu bài viết mang đến cho bạn một góc nhìn mới, hãy chia sẻ để nhiều người cùng hiểu rằng:

Không phải mọi khoảng đất chưa xây dựng đều là đất lãng phí. Có những khoảng trống chính là hạ tầng bảo vệ cả một thành phố.

Theo dõi Phan Phụng Long (PhungLongVOL) để đồng hành cùng chuỗi phân tích về:

  • Quy hoạch sông Hồng dưới góc nhìn tư duy hệ thống.
  • Địa lý, thủy văn và quản trị rủi ro trong phát triển đô thị.
  • Những nguyên lý mà mọi siêu dự án đều phải trả lời trước khi khởi công.

Một quyết định quy hoạch có thể ảnh hưởng đến nhiều thế hệ. Vì vậy, điều chúng ta cần nhất không chỉ là tầm nhìn phát triển, mà còn là sự tôn trọng những quy luật của thiên nhiên.


 

NGẪM NGHĨ 

NGẪM NGHĨ 

Vì sao loạt phi hành gia trở về từ vũ trụ đều hóa “điên dại,” người nát rượu, kẻ trầm cảm vứt bỏ cả sự nghiệp? 

 Chỉ một lần ngoái nhìn về Trái Đất từ không gian bao la cũng đủ để đảo lộn hoàn toàn nhận thức của một con người.  Hiện tượng tâm lý này kinh điển đến mức các nhà khoa học đã đặt tên cho nó: Hiệu ứng cái nhìn tổng quan.

 Kể từ sau các sứ mệnh Apollo lịch sử, NASA đã ghi nhận rất nhiều phi hành gia trở về với những thay đổi sâu sắc, thậm chí là cực đoan trong thế giới quan:

 Buzz Aldrin (Apollo 11): Người đàn ông thứ hai đặt chân lên Mặt Trăng đã rơi vào trầm cảm và nghiện rượu kéo dài sau khi trở về.  Khi đứng ở đỉnh cao của vinh quang nhân loại, ông bỗng nhận ra cái gọi là “vĩ đại” của con người thực chất chỉ là một ảo tưởng nực cười.  Vinh quang không cứu rỗi được ông, nó chỉ làm nổi bật thêm sự trống rỗng của thực tại.

 Những người khác: Người thì từ bỏ chức quản lý cấp cao, người lập tức vứt bỏ cả công ty tỷ đô để đi tìm một lối sống hoàn toàn khác.

 Giới siêu giàu cũng không ngoại lệ: Từng chi ra số tiền tương đương 700 tỷ VNĐ (hơn 26 triệu đô Mỹ) để mua một tấm vé bay vào vũ trụ, tỷ phú Tôn Vũ Thần sau khi trở về đã im lặng suốt 3 ngày mới thốt lên một câu: “Tôi không biết chúng ta đang sống vì điều gì.”

 Tài sản, thể diện, tranh giành bỗng chẳng là gì giữa khoảng không vô tận.

 Người đời chê cười anh bỏ tiền mua về nỗi sợ, nhưng thực chất, khoảnh khắc nhìn thấy Trái Đất nhỏ bé, anh hiểu ra tài sản, thể diện hay những cuộc tranh giành danh lợi ngoài kia bỗng chốc chẳng bằng một hạt cát giữa hư không.

 Hãy tưởng tượng bạn đã đạt được điều mà 99,9999% nhân loại cả đời này không thể chạm tới: đứng ở rìa thế giới, nhìn ngắm ngọn nguồn của sự sống trong một khoảng không tĩnh lặng tuyệt đối.

 Và rồi, bạn buộc phải quay lại mặt đất để xếp hàng mua đồ ăn sáng, loay hoay trả hóa đơn tiền điện, và chứng kiến những cuộc cãi vã vặt vãnh của người đời.  Sự chênh lệch quá lớn ấy chính là thứ đã bẻ gãy tâm lý của họ.

 Nhìn vào bức ảnh Trái Đất chỉ là một chấm sáng mỏng manh kích thước 0.12 pixel giữa không gian vô tận, nhà thiên văn học Carl Sagan đã viết nên những dòng triết học lay động lòng người: “Mọi vị vua và kẻ ăn xin, mọi kẻ độc tài và nạn nhân, mọi cuộc chiến tranh đẫm máu hay nỗi dằn vặt xé lòng của con người… tất cả đều chỉ diễn ra trên một hạt bụi nhỏ ngoai ngoắt bám trên một tia nắng.”  (Trích từ cuốn “Đốm xanh mờ” – Carl Sagan)

 Vì vạn vật mong manh, nên từng giây phút mới là vô giá 

Những thứ như danh vọng, thể diện, sự hơn thua… thực chất chỉ là những quy ước do con người tự tạo ra.

 Hàng ngày, chúng ta tự làm khổ mình bằng những áp lực tự tạo: hơn thua nhau một câu nói, dằn vặt vì một lỗi lầm trong quá khứ, hay lo lắng thái quá về tương lai. 

Nếu một tỷ phú sở hữu trăm tỷ còn thấy tiền bạc vô nghĩa trước vũ trụ, thì việc bạn chưa mua được cái túi hiệu hay chưa thăng chức tháng này thực ra cũng chẳng phải là thảm họa của thế giới.

 Nhìn thấy sự bao la của vũ trụ dạy chúng ta rằng: Mọi đau khổ, sĩ diện và tranh giành của con người thực ra rất nực cười.

 Nếu những tủi hờn, thất bại hay áp lực của bạn nhỏ bé đến mức vô hình trước vũ trụ, thì tại sao bạn lại để chúng gặm nhấm tâm hồn mình ngày này qua ngày khác?

 Nhận ra sự vô nghĩa giúp chúng ta dũng cảm buông bỏ cái tôi vặt vãnh, tha thứ cho bản thân, tha thứ cho người khác, và bước đi một cách nhẹ nhõm hơn.

 (Theo Sách Hay Chọn Đọc)

Nguồn: Tâm Lý Học & Khoa Học Hành Vi  

From: Langthangchieutim


 

HỎI: Vô Thường, Nhân quả và Định mệnh hay Số phận?

HỎI: Vô Thường, Nhân quả và Định mệnh hay Số phận?

Đặt bạn vào vị trí của một Triết gia, Khoa học gia, nhà Thần học, bạn nghĩ gì về: sự Vô Thường, Nhân quả và Định mệnh hay Số phận? Chúng liên kết nhau thế nào trong cuộc sống con người?

Đây là một câu hỏi mang tính gợi mở rất lớn, chạm đến những băn khoăn cốt lõi nhất về nhân sinh. Khi đặt ba góc nhìn — Triết gia, Khoa học giaNhà Thần học — bên cạnh nhau, ta không thấy sự bài xích lẫn nhau mà là một bức tranh toàn cảnh, đa chiều về cuộc sống.

GEMINI Tra Loi:

1. Dưới góc nhìn của Triết gia

Triết học coi ba khái niệm này là các trụ cột để định hình thái độ sống và tư duy nhân sinh:

  • Vô thường (Impermanence): Là bản chất của thực tại. Mọi vật, mọi trạng thái hay cảm xúc đều nằm trong dòng chảy biến đổi liên tục. Triết gia cổ đại Hy Lạp Heraclitus từng đúc kết: “Không ai tắm hai lần trên cùng một dòng sông” — bởi cả dòng nước lẫn con người bước xuống đó đều đã khác đi từng giây.
  • Nhân quả (Causality): Là quy luật của trách nhiệm. Mọi suy nghĩ, lựa chọn và hành động hôm nay đều là nguyên nhân gieo vào thực tại, từ đó gặt hái kết quả trong tương lai. Nhân quả gạt bỏ sự ngẫu nhiên vô nghĩa, khẳng định con người là chủ thể tạo nên số phận của chính mình.
  • Định mệnh / Số phận (Fate / Determinism): Là cuộc đối thoại giữa Tính tất địnhÝ chí tự do (Free Will). Định mệnh không hẳn là một kịch bản bất biến được gán sẵn, mà là tập hợp những điều kiện ban đầu nằm ngoài tầm kiểm soát của ta (nơi sinh ra, thời đại, gia cảnh).

Góc nhìn triết học: Vô thường nhắc ta buông bỏ sự bám chấp; Nhân quả nhắc ta sống có trách nhiệm; còn Định mệnh nhắc ta biết chấp nhận những gì không thể thay đổi để tập trung vào những gì có thể chuyển biến.

2. Dưới góc nhìn của Khoa học gia

Khoa học không dùng các khái niệm tâm linh, nhưng giải thích các hiện tượng này bằng những ngôn ngữ chính xác của tự nhiên:

  • Vô thường $\rightarrow$ Entropy và Sự tiến hóa: Vũ trụ luôn vận hành theo định luật Nhiệt động lực học — mọi hệ thống từ ngôi sao, tế bào đến xã hội đều đi từ trật tự đến biến đổi và tan rã. Sự sống diễn ra nhờ quá trình không ngừng trao đổi chất và đột biến gen.
  • Nhân quả $\rightarrow$ Nguyên nhân & Hậu quả (Cause and Effect): Đây là nền tảng của phương pháp khoa học và Vật lý cổ điển. Định luật Newton, các phản ứng hóa học hay y học hiện đại đều dựa trên nguyên lý: không có kết quả nào xuất hiện mà không có nguyên nhân báo trước.
  • Định mệnh $\rightarrow$ Điều kiện biên & Xác suất (Probability): Khoa học xem “định mệnh” là sự kết hợp giữa mã gen, môi trường sống ban đầutính ngẫu nhiên/xác suất (như trong Cơ học lượng tử hay Lý thuyết hỗn loạn – Chaos Theory). Việc một người mắc bệnh hay gặp may mắn thường là sự tương tác giữa yếu tố di truyền, hành vi và xác suất thống kê.

Góc nhìn khoa học: “Số phận” là bộ bài ngẫu nhiên mà tự nhiên chia cho bạn, nhưng cách bạn chơi bộ bài đó tuân theo các quy luật nhân quả của vật lý, sinh học và hành vi.

3. Dưới góc nhìn của Nhà Thần học

Trong thần học và các truyền thống tôn giáo lớn, ba yếu tố này gắn kết chặt chẽ với tâm linh và đạo đức:

  • Phật giáo:
    • Vô thường ($Anicca$) là cốt lõi của thế gian.
    • Nhân quả / Nghiệp ($Karma$) là quy luật công bằng của vũ trụ. Nghiệp không phải là sự trừng phạt hay ban thưởng từ bên ngoài, mà là phản chiếu tự nhiên của hành vi ($Cetanā$).
    • Số phận: Phật giáo phủ nhận một định mệnh cố định. Nghiệp cũ tạo ra hoàn cảnh hiện tại, nhưng “nghiệp mới” tạo ra ngay trong giây phút này có thể chuyển hóa và thay đổi hoàn toàn tương lai.
  • Kitô giáo & Các tôn giáo Abraham:
    • Sự Quan phòng (Divine Providence) & Tự do ý chí: Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ có trật tự và có ý định tối thượng. Tuy nhiên, Ngài ban cho con người tự do ý chí để tự lựa chọn con đường của mình.
    • Nhân quả: Được thể hiện rõ qua nguyên lý gieo-gặt: “Ai gieo giống nào sẽ gặt thứ ấy”.

Góc nhìn thần học: Vô thường giúp con người nhận ra tính ngắn ngủi của đời sống trần thế để hướng về giá trị vĩnh cửu; Nhân quả và Định mệnh là bài học tâm linh để con người rèn luyện sự khiêm nhường, lòng tin và tình yêu thương.

4. Sự liên kết giữa ba yếu tố trong cuộc sống con người

Nếu dung hợp cả ba góc nhìn thành một hình ảnh ẩn dụ, cuộc đời con người giống như một hành trình chèo thuyền trên dòng sông:

[Định mệnh / Số phận]       [Vô thường]            [Nhân quả]

(Điều kiện ban đầu &        (Dòng chảy &        (Cú chèo lái &

 Những yếu tố khách quan)    Thời tiết thay đổi)  Lựa chọn hướng đi)

          │                       │                     │

          └───────────────────────┼─────────────────────┘

                                  ▼

                     [Cuộc đời & Tương lai con người]

  1. Định mệnh là chiếc thuyền bạn được trao và điểm xuất phát trên sông (bạn không chọn được nơi mình sinh ra, gen di truyền hay gia cảnh).
  2. Vô thường là bản chất của dòng sông (nước luôn chảy, thời tiết có lúc giông bão, có lúc êm đềm; sức khỏe và cảnh trí hai bên bờ luôn đổi thay).
  3. Nhân quả là cách bạn cầm mái chèo (mỗi quyết định rẽ trái, rẽ phải, chèo tiếp hay dừng lại đều quyết định vị trí của con thuyền ở khúc sông tiếp theo).

Lời kết

  • Nhận thức Vô thường mang lại sự tĩnh lặng và khả năng thích ứng trước sóng gió.
  • Hiểu rõ Nhân quả trao cho bạn sức mạnh và sự chủ động để gieo những điều tốt đẹp ngay từ hôm nay.
  • Chấp nhận Định mệnh mang lại sự bình an, giúp bạn ngưng oán trách những điều không thể chọn lựa.

Sự tương tác liên tục giữa ba yếu tố này chính là nét đẹp và ý nghĩa sâu xa nhất của hành trình làm người: Dù không thể chọn bộ bài được chia, bạn luôn có toàn quyền quyết định cách mình sẽ chơi bài.


 

CHUYỆN DÀI NGÔN NGỮ MIỀN NAM ĐÃ DẦN BỊ BẮC CỘNG HÓA!

Tâm Trần

 Sau ngày 30/04/1975 thì ngôn ngữ quái dị của miền Bắc đã lan truyền khắp miền Nam và bây giờ người dân miền Nam đã quên hay cố tình quên 2 chữ “Đá Banh” và thay vào đó là 2 chữ dị hợm – “Bóng Đá”! Bóng làm sao biết Đá ….

– “Thắng Xe” mà lại gọi là “Phanh Xe” ….

– “Vỏ Xe” mà lại gọi là “Lốp Xe” …

– “Chiếc Xe Hơi” mà lại gọi là “Con Xe hoặc Ô Tô” ….

– “Bảng Số” mà lại gọi quái gở là “Biển Số” … ở ngoài Biển làm gì có số? ….

– “Trái” mà đổi lại gọi là “Qủa”.

– “Quẹo Phải hoặc Quẹo Trái” mà lại nói là “Rẽ Phải – Rẽ Trái”.

– “Đậu Xe” mà lại nói là “Đỗ Xe”.

– “Xe Đò” quen thuộc cũng biến mất, thay vào đó là “Xe Khách”.

– “Khoảng 4 giờ”, thay vào đó là nói “Tầm” (Tầm 4 giờ chẳng hạn).

– “Một Đôi hay Một Cặp” mà lại cố tình nói SAI là “Cặp Đôi” tức là 4 … (Cặp là 2, Đôi cũng là 2).

– “Thập Niên” tức là 10 Năm mà bây giờ lại nói SAI là “Thập Kỷ” tức 1000 năm … (Century là 100 năm tức 1 Thế Kỷ … 9 Thế kỷ là 900 năm và 10 Thế kỷ là 1000 năm).

– “Đài Truyền Hình” mà lại nói là “Kênh Truyền Hình – Kênh Youtube”.

– “Phát Thanh hoặc Phát Hình” mà lại nói là “Phát Sóng”. Sóng làm gì có âm thanh và có hình mà phát!

– “Hợp Ca” mà lại nói là “Tốp Ca” và hai chữ “Hòa Âm” cũng bị thay vào đó là “Phối Âm”.

– “Bảo Đảm” mà đổi ngược lại nói là “Đảm Bảo”.

– “Hộp Thư” mà lại nói là “Hòm Thư”.

– Cái “Rương” đựng quần áo đổi lại gọi là cái “Hòm”.

– “Ly Bia” mà lại nói là “Cốc Bia”.

– “nước Dùng” chứ không nói là “nước Lèo” (nấu Hủ Tíếu, nấu Phở).

– “Căn Nhà” mà bây giờ lại nói là “Căn Hộ”.

– “Passport” không còn gọi là “Sổ Thông Hành” mà lại gọi là “Hộ Chiếu”.

– “Biên Giới” tức là giới ranh thì lại nói quái dị là “Cửa Khẩu”.

– “Quan Thuế Phi Cảng, Quan Thuế Hải Cảng”; thay vào đó thì ở Phi Trường hay ở Bến Cảng đều gọi là “Hải Quan”.

– “Phi Đạo” thì cũng gọi theo miền ngoài là “Đường Băng”.

– “Hàng Không Mẫu Hạm” mà chỉ biết “Tàu Sân Bay”

– “Chiến đấu cơ F35B thì lại gọi là “Tiêm Kích”.

– “Diễn Hành” nói là đi “Diễu Hành” tức là đi diễu cợt làm trò hề cho thiên hạ xem.

– “Đánh Nhau hay Đánh Lộn” mà bây giờ lại nói là “Tác Động Vật Lý”!

– “Người Điều Khiển Chương Trình”, thay vào đó là “Người Dẫn Chương Trình”.

– “Bực Mình hay “Bực Bội Khó Chịu” thì lại nói là “Bức Xúc”.

– “Bùng Binh” đổi lại gọi là “Vòng Xuyến”.

– “Chợ Đêm Saigon” gọi là “Phố Đêm Saigon”.

– “Ga Xe Điện” (Platform) gọi là “Ke Ga”, từ ngữ quái đản thô kệch.

– “Bàn Ủi”, thay vào đó gọi là “Bàn Là”.

– “Chích Ngừa” mà đi “Tiêm Chủng”.

– “Điều Tra” gọi là“Vào Cuộc”; vào cuộc là như thế nào? vào tham gia cuộc chơi hay sao?

– “Hồi Âm” như thế nào? thay thế vào đó 2 chữ “Phản Hồi” quái dị!

– “Đáp Số” cũng thay vào đó 2 chữ “Đáp Án”.

– “Số Điểm” đổi ngược là “Điểm Số”.

– “Hành Hung” mà chỉ biết nói “Tương Tác” xuất xứ từ ngoài vĩ tuyến.

Còn rất nhiều những ngôn ngữ quái đản của lũ khỉ rừng dốt nát chế ra … như “trộm vía”, “dư địa”v.v … không thể nói hết ở đây được!

Riêng những người Việt ở hải ngoại cũng đã bị Bắc hóa về ngôn ngữ không thua kém gì dân miền Nam, nhất là những người làm truyền thông và những trường học dạy tiếng Việt toàn dùng từ ngữ SAI bét…

Coi như tiếng Việt, chữ Việt phong phú trong sáng thanh tao càng ngày càng bị biến đổi và biến mất.

Buồn thay cho một nền ngôn ngữ của một vùng miền đang bị lãng quên dần!

DIỆP HẢI DUNG