TÔI ĐÂY, BÊN BẠN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Đức Giêsu từ miền Galilê đến sông Giorđan, gặp ông Gioan để xin ông làm phép rửa”.

“Thiên Chúa cứu chúng ta không từ một khoảng cách, nhưng từ bên trong thân phận của chúng ta!” – Dietrich Bonhoeffer.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa tạo nên một cú sốc khá lặng lẽ – Đấng Vô Tội chen chân vào hàng tội nhân. Không hào quang, không lối riêng; chỉ một Con Người đứng sát những phận người; “không từ xa, nhưng từ bên trong”, chỉ như muốn nói, ‘tôi đây, bên bạn!’.

Ngài là người tôi trung không bẻ gãy cây lau bị giập, không dập tắt tim đèn leo lét – bài đọc một. Ngài không làm đau thêm những gì đã đau, không giày xéo thêm những gì giập gãy. Ngài không đến để phân loại ai xứng, ai không xứng, nhưng để giữ lại sự sống đang heo hắt giữa vỡ vụn của phận người. Quyền năng của Ngài không phô trương, nhưng kiên nhẫn ở lại. Luca tóm tắt, “Đi tới đâu là Người thi ân giáng phúc tới đó” – bài đọc hai. Ngài chữa lành không bằng lệnh, mà bằng sự hiện diện, đứng cùng, chạm vào vết thương của họ mà không quay mặt đi. Chính ở đó, một lời không thành tiếng vang lên bên trong những ai được Ngài chạm đến – ‘tôi đây, bên bạn!’. “Người quan trọng nhất trong đời là người chia sẻ nỗi đau và chạm vào vết thương của chúng ta bằng một bàn tay ấm và dịu dàng!” – Henri Nouwen.

Chúa Giêsu chấp nhận lẫn vào đám đông vô danh, bị hiểu lầm, bị đánh đồng với những kẻ cần sám hối. Tình yêu thật không cần giữ khoảng cách an toàn; nó dám trả giá bằng uy tín, sự thoải mái, bằng cả sự thương tổn của chính mình. Vì thế, Giorđan không chỉ là dòng nước, mà là nơi Thiên Chúa chọn đứng vào đáy bùn của kiếp người. Ngày lễ hôm nay đặt lại câu hỏi cho đời sống Kitô hữu chúng ta. Tôi quen đứng trên để khuyên nhủ, đứng ngoài để phán xét, đứng xa để giữ sạch mình? Nhưng Nước Trời không mở ra bằng ‘khoảng cách đạo đức’, mà bằng sự ‘ở bên’; một chỗ ngồi cạnh người đang kiệt sức, một sự lặng thinh trước nỗi đau không có lời giải, một sự nhẫn nại với một người khó chịu. “Linh hồn được chữa lành khi ở với người khác, không phải bằng cô lập!” – Fyodor Dostoyevsky. Đó là những “dòng Giorđan” rất thật của đời thường.

Anh Chị em,

“Nhưng từ bên trong!”. Như vậy, Thiên Chúa không cứu con người từ trên, nhưng bằng một sự dám đi xuống. Ngài bước xuống vùng thấp nhất, nơi chỉ còn sự trần trụi của yếu đuối và khát vọng được yêu. Ở đó, điều chữa lành không là hoạnh hoẹ, mà là ở lại; không là ánh sáng chói lòa, mà là một ngọn lửa nhỏ không tắt; không là chiến thắng, mà là sự quan tâm ân cần. Chính trong sự ở bên rất khẽ ấy, bình an được sinh ra đủ sâu để nâng một đời người đứng dậy. Như thế, bạn và tôi đang nối dài cử chỉ của Chúa Giêsu. Chính những lúc ấy, thế giới lại nghe được lời cứu độ giản dị mà sâu thẳm – ‘tôi đây, bên bạn!’. “Một sự lặng lẽ yêu thương thường có sức chữa lành và kết nối nhiều hơn những lời tốt ý nhất!” – Rachel Remen.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con dám đi xuống vùng tối của lòng mình, để ánh sáng Chúa chiếu rọi; biết yêu như được Chúa yêu; biết ở bên anh chị em con, như Chúa đã ở bên con!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*******************************************************

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT LỄ CHÚA GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA, NĂM A

Chịu phép rửa xong, Đức Giê-su thấy Thần Khí Thiên Chúa đến ngự trên Người.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.     Mt 3,13-17

13 Bấy giờ Đức Giê-su từ miền Ga-li-lê đến sông Gio-đan, gặp ông Gio-an để xin ông làm phép rửa cho mình. 14 Nhưng ông một mực can Người và nói : “Chính tôi mới cần được Ngài làm phép rửa, thế mà Ngài lại đến với tôi !” 15 Nhưng Đức Giê-su trả lời : “Bây giờ cứ thế đã. Vì chúng ta nên làm như vậy để giữ trọn đức công chính.” Bấy giờ ông Gio-an mới chiều theo ý Người.

16 Khi Đức Giê-su vừa chịu phép rửa xong, Người lên khỏi nước. Lúc ấy các tầng trời mở ra ; Người thấy Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống như chim bồ câu và ngự trên Người. 17 Và có tiếng từ trời phán rằng : “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người.”


 

BAO GIỜ TỚI VIỆT NAM? – Trần Trung Đạo

Trần Trung Đạo

Xin trả lời trước khi viết tiếp là chẳng bao giờ tới cả nếu những người Việt quan tâm vẫn thích “ăn hàm thụ”.

Người viết không nghĩ ra thuật ngữ “ăn hàm thụ” này mà chỉ nghe một nhà văn kể lại cách đây ba hôm.  Anh kể trong thời gian ở tù CS ngoài Bắc, đói quá, mà con người ở đâu cũng vậy thiếu gì thường hay nghĩ và nói tới cái đó. Các anh tối ngủ hay nói chuyện nấu những món ăn ngon. Có anh diễn tả cách nấu những món ăn hấp dẫn không thua gì các chương trình thi nấu ăn nổi tiếng trên TV bây giờ.  Các anh nói chẳng qua để vơi cơn đói.  Nói cho đã rồi ngủ với cái bao tử trống, trong chiếc mền rách, dưới mái lán mong manh và bên ngoài là cơn mưa không biết bao giờ dứt. Các anh có lý do để “ăn hàm thụ”. Đó là chuyện các anh nói chơi ở trong tù.

Nhưng tại Việt Nam ngày nay cũng có những người biết nấu ăn, có thịt cá, có mắm muối, có hành ngò, có củi lửa, nhất là có những đầu bếp đã phải dành nhiều năm học nghề nấu trong nhiều trại tù CS, lại không muốn nấu để ăn mà chỉ thích “ăn hàm thụ”.

Những người thích ”ăn hàm thụ” nghĩ rằng sau khi thanh toán xong Venezuela, Cuba, Mỹ sẽ hướng mục tiêu sang Á Châu để thanh toán chế độ CS tại Việt Nam, hạ gục Trung Cộng mở ra một kỷ nguyên mới tự do, dân chủ cho nhân loại toàn cầu “dưới ngọn cờ vẻ vang của Mỹ”.

Người viết không dám nói họ đang giúp cho đảng CS ru ngủ người dân trong giấc mộng hão huyền. Có thể họ thật sự thích “ăn hàm thụ” những món mà họ không dám tự nấu. Việc không tự nấu chưa hẳn là sai. Dưới xã hội CS ai dám nói là không sợ. Nhưng trong lúc “ăn hàm thụ” là quyền tưởng tượng của mỗi người, truyền bá chủ trương “ăn hàm thụ” là không đúng vì họ cố tình bỏ viên thuốc độc vào nhận thức của người khác qua những lời rao giảng.

Lấy món ăn “Độc lập, tự do, hạnh phúc” ra làm ví dụ. Thật ra ba nguyên tắc này cũng chỉ ăn cắp tư tưởng chỉ đạo Tam Dân (Dân tộc độc lập, Dân quyền tự do, Dân sinh hạnh phúc) của Tôn Dật Tiên cuối thế kỷ 19 chứ chẳng phải sáng tạo nào của đảng CSVN. Tài liệu Trung Hoa Quốc Dân Đảng viết: “Năm 1897, khi Tôn Trung Sơn đang ở Luân Đôn vận động ủng hộ cách mạng, ông thường xuyên đến Thư viện Bảo tàng Anh, nghiên cứu sâu rộng và am hiểu hệ thống chính trị cũng như tổ chức xã hội của nhiều quốc gia châu Âu. Ông kết luận rằng không một cuộc cách mạng nào có thể thành công nếu không giải quyết được những vấn đề mà người dân phải đối mặt trong xã hội, và dựa trên nghiên cứu này, ông đã xây dựng triết lý về Nguyên tắc vì sinh kế của nhân dân. Điều này đã đặt nền móng cho Ba nguyên tắc vì nhân dân, mà ông chính thức công bố khi thành lập Liên minh các quốc gia thống nhất năm 1905.” (An Introduction of the Kuomintang, Official Website of KMT, Taiwan)

Từ 1945 đến nay dân tộc Việt Nam chỉ nghe, đọc chứ chưa sờ mó, chưa nếm mùi “Độc lập, tự do, hạnh phúc” thơm tho, mặn mà như thế nào. Trong lúc tại Trung Quốc và sau này là Đài Loan, chủ nghĩa Tam Dân thực sự làm tôn chỉ để hướng tới, tại Việt Nam “Độc lập, tự do, hạnh phúc” chỉ là “món ăn hàm thụ”. Nếu không tin, quý vị thích “ăn hàm thụ” ráng đi tìm những “chiến sĩ lão thành” còn sống sót, chắc không nhiều, trong cuộc chiến chống Pháp để nghe họ kể lại tâm huyết một thời thanh niên của họ. Họ chiến đấu chỉ vì “Độc lập, tự do, hạnh phúc”.  Nhiều trong số họ chết trong cuộc chiến chống thực dân là những người hy sinh cho độc lập, tự do đúng nghĩa. Tuyệt đại đa số, nếu không muốn nói rằng tất cả, đều tin như thế. Hôm nay, nếu còn sống, họ sẽ nhận ra, họ đã dành suốt một đời chiến đấu cho mục đích của chủ nghĩa CS chứ không phải vì “Độc lập, tự do, hạnh phúc” của dân tộc Việt Nam. 

Những người thích ”ăn hàm thụ” phải hiểu rằng loại bỏ một cá nhân độc tài không khó nhưng thay đổi một bộ máy như đảng CSVN đã và đang chạy từ trung ương đến tận từng làng xã suốt 81 năm, tính từ  1945, là một công việc dời non lấp bể. Việt Nam không nằm trong tay một hay vài cá nhân mà bị cai trị bởi một đảng độc tài toàn diện, không có một kẽ hở nào dành cho sự đóng góp đi ngược với đường lối đảng.

Dưới sự lãnh đạo tập thể của đảng, một vài cá nhân chỉ mang tính đại diện. Thế hệ Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập ra đi có thế hệ Trường Chinh, Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh tiếp nối.  Thế hệ Trường Chinh, Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh ra đi có thế hệ Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh tiếp nối và cứ thế cho tới Nguyễn Phú Trọng, Tô Lâm. Gần một thế kỷ trôi qua, bao nhiêu triệu người Việt sinh ra, lớn lên và chết trong chiến tranh, nghèo khó vật chất lẫn tinh thần nhưng cơ cấu, hệ thống, thể chế CS còn nguyên vẹn và vẫn chạy đều.

Phần lớn các chế độ độc tài quân sự, dù cá nhân hay phe nhóm, hình thành do kết quả của các cuộc đảo chính, lật đổ các chính phủ tiền nhiệm, nhiều khi cũng rất độc tài. Cơ hội đã đưa một số sĩ quan từ vị trí của những người lính trở thành những nhà chính trị. Ngoài lòng tham quyền lực và địa vị, họ không sở hữu một vốn liếng chính trị và không chuẩn bị đầy đủ để lãnh đạo quốc gia. Tham vọng quyền lực của họ chỉ là tham vọng cá nhân, phe nhóm. Các nước Venezuela, Panama, Grenada ở Nam Mỹ hay Libya, Tunisia, Ai Cập ở Bắc Phi cũng không trải qua cuộc chiến tranh ý thức hệ tàn khốc như Việt Nam.

Chế độ CS thì khác. Cơ chế chính trị CS giống như một động cơ có đủ các bộ phận và chức năng để bảo đảm sự hoạt động của nó. Cứ thế, chỉ cần đủ xăng, đủ dầu, đủ nhớt là máy chạy.  Các thế hệ CS cai trị Việt Nam giống như những người được thừa hưởng đất hương hỏa của ông bà để lại, ngoại trừ làm hề và làm biếng, họ không làm gì cả, chỉ sống và thu hoạch hoa màu. Họ có thể tranh chấp nhau, phê bình nhau, hạ bệ, thanh trừng và bỏ tù nhau nhưng giữa họ vẫn có một mẫu số chung căn bản đã đồng thuận từ khi đưa tay tuyên thệ và một quyền phải được bảo vệ bằng mọi giá, đó là quyền lãnh đạo tuyệt đối của đảng Cộng Sản Việt Nam.

Những bộ phận chính giúp bộ máy chạy từ đời này qua đời nọ gồm (1) lý luận, (2) tuyên truyền, (3) khủng bố, và sau này thêm (4) chia chác.

Về lý luận, tư tưởng.  Sau 1990, ở Châu Âu, nhân loại đã bừng tỉnh, các nhà sử học, các nhà thống kê có cơ hội đánh giá những thiệt hại của nền văn minh con người do ý thức hệ Cộng Sản gây ra. Các sử gia cũng chứng minh rằng chuyện giết người không gớm tay của các lãnh tụ Cộng Sản chẳng phải là tình cờ hay ngẫu nhiên, cũng chẳng phải phát xuất từ bản chất hung ác của Stalin hay Mao mà là một đặc điểm mang tính triết học trong hệ tư tưởng Cộng Sản.  Tư tưởng và lý luận CS giúp cho họ ăn ngon và ngủ yên mà không cảm thấy lương tâm cắn rứt sau khi giết người tập thể. 

Về tuyên truyền. Sử gia Richard Overy trong tác phẩm “The Dictators: Hitler’s Germany and Stalin’s Russia” đối chiếu tâm lý người dân Đức thời Hitler và Liên Xô thời Stalin, cho thấy Hitler được dân chúng Đức ủng hộ cao nhất khi Đức chiếm Paris và Stalin được dân chúng Liên Xô ca ngợi nhiều nhất trong thời kỳ Khủng Bố Đỏ (Red Terror) 1936-1937. Khi Stalin chết, hàng triệu dân Liên Xô than khóc tiễn đưa. Theo ghi nhận của tổ chức Sahistory và South African History Online “Khoảng hai ngàn người đã thiệt mạng do bị giẫm đạp trong lễ tang.” Hitler và Stalin là hai tai họa của nhân loại nhưng là “anh hùng” trong nhận thức của người dân dễ bị lung lạc và vận dụng thời đó.

Về khủng bố. Trong thời gian qua, có người kêu gọi đảng CSVN đổi lại danh xưng cũ là đảng Lao động Việt Nam hay đặt một tên nào khác cho dễ nghe hơn là giữ tên CS đã bị văn minh nhân loại đào thải.  Dù biết đó chỉ là bình mới rượu cũ nhưng đảng không làm.  Lý do? “Cộng sản” không chỉ là danh từ mà còn là động từ. Nó hàm chứa các đặc điểm của một cơ chế tàn bạo về hình thức lẫn nội dung, về lý luận lẫn thực tế. Giới cai trị không dại gì thay tên đổi họ vì biết rằng chỉ hai chữ “Cộng sản” thôi đủ làm người dân mất ăn mất ngủ. Hai chữ “Cộng sản” là ngọn roi thép kinh người, một mối lo sợ ám ảnh thường trực trong tâm trí người dân Việt. Do đó, việc duy trì tên đảng CSVN là cách để cảnh cáo nhân dân Việt Nam rằng nhà tù vẫn còn đó, súng đạn cũng còn đó, các biện pháp trừng phạt không thương xót, những cách trả thù ghê rợn vẫn còn đó.

Về quyền lợi phe nhóm. Vai trò của đảng ngày nay không còn trong lý thuyết mà cụ thể dần, không còn chỉ đại diện cho ý thức hệ, cho quan điểm chính trị mà còn đại diện sự giàu sang phú quý mà họ đang hưởng thụ, cho nhà cao cửa rộng mà họ đang sở hữu. Nhìn cách chia chác quyền lợi từ trung ương tới địa phương, từ vùng miền tới từng tỉnh như Hưng Yên, Nghệ An, Hà Tĩnh v.v… để thấy chế độ CS không chỉ tàn phá  tài nguyên của đất nước mà còn chia rẻ dân tộc như thế nào.

Mỹ sẽ cứu Việt Nam?

Có thể. Nhưng cứu Việt Nam là cứu đảng Cộng Sản Việt Nam chứ không phải cứu dân tộc Việt Nam đang chịu đựng dưới ách CS. Sở trường của Mỹ không chỉ lật đổ mà còn nuôi dưỡng các chế độ độc tài. Trường hợp Pinochet của Chile, Noriega của Panama, Somoza của Nicaragua, Marcos của Phi Luật Tân là vài thí dụ điển hình.

Trước khi góp phần treo cổ Saddam Hussein, Mỹ đã từng nuôi dưỡng chế độ độc tài của ông ta để làm đối lực với Iran và hợp tác khai thác dầu hỏa với chế độ độc tài này. Mỹ biết Iraq dùng vũ khí hóa học trong chiến tranh chống Iran và tàn sát thường dân Kurds nhưng im lặng. Hai chục năm sau, Mỹ xua quân lật đổ Saddam Hussein cũng không phải vì lòng thương xót số phận đau thương của người dân Iraq mà chỉ vì quyền lợi của Mỹ.

Tổng thống Jimmy Carter được ca ngợi là vị tổng thống nhân từ nhất của Mỹ. Không sai. Nhưng trong buổi đón tiếp Nicolae Ceausescu tại Vườn Hoa Hồng  ngày 12 tháng 4, 1978 ông đã ca ngợi Ceausescu như “một lãnh tụ vĩ đại”. TT Richard Nixon trước đó cũng vậy.  TT Nixon ban cho chế độ độc tài này đặc quyền Tối Huệ Quốc (Most-Favored-Nation) và kêu gọi các ngân hàng Mỹ cho Romania vay với điều kiện rộng rãi. Số tiền nhiều tỉ đô la các ngân hàng Mỹ cho Romania vay lãng phí do quản trị kém và rơi vào tay tham nhũng. Khi nợ đến kỳ trả Ceausescu không đủ tiền nên đã áp dụng một chính sách tem phiếu vô cùng hà khắc trên đời sống của người dân Romania. Mặc dù hai tổ chức Amnesty International và Helsinki Watch công bố những vi phạm nhân quyền trầm trọng tại Romania, Nicolae Ceausescu vẫn được các chính phủ Mỹ từ Richard Nixon đến Jimmy Carter tiếp đón một cách trang trọng qua ba lần viếng thăm Mỹ vào những năm 1970, 1973 và 1978. Sau khi vợ chồng Nicolae Ceausescu bị xử bắn, các tổ chức nhân quyền khám phá khoảng nửa triệu trẻ em thiếu dinh dưỡng bị đối xử một cách bất nhân trong các trại mồ côi do chính sách cưỡng bách sinh đẻ gây ra. Mỹ biết rõ thực trạng đau lòng của đời sống người dân và sự vi phạm nhân quyền nghiêm trọng tại Romania nhưng không đặt ưu tiên. Lý do, Ceausescu phục vụ cho quyền lợi của Mỹ ở Đông Âu và là con cờ cần thiết của Mỹ để đối đầu với Liên Xô.

Tiếng kêu trầm thống của nhân dân Tây Tạng cất lên từ hơn nửa thế kỷ qua nhưng ngoại trừ đôi lời an ủi và dăm ba lần tiếp xúc không chính thức, không một áp lực quốc tế nào cứng rắn đủ để buộc Trung Cộng ngồi vào bàn đàm phán. Tại sao? Tây Tạng nghèo khó và chẳng có tài nguyên nào để thu hút các đại công ty tư bản Mỹ.

Trong ba ngày qua, CSVN không cất cao cùng một giọng phản đối mạnh mẽ như Nga, TC, Iran, Cuba để kết án Mỹ chẳng phải vì chính sách ngoại giao “cây tre” hay “cây sậy” gì mà là để lấy lòng Mỹ. Nhìn về viễn ảnh tranh chấp ngày càng căng thẳng giữa Mỹ-Nhật và khối TC-Nga, CSVN biết nếu rơi vào  thế phải chọn họ sẽ chọn đóng vai trò của một Romania trước 1989 hơn là một Cu Ba sau 2025. 

Về phía Mỹ, họ chẳng dại gì bỏ công sức và có thể cả xương máu để can thiệp vào nội tình Việt Nam. Mỹ chỉ cần CSVN  biết nghe là đủ. Mỹ, ngoài ra, không muốn động tới Việt Nam vì cuộc chiến Việt Nam cho đến nay vẫn còn là mối ám ảnh hãi hùng trong tâm lý người dân Mỹ. TT Ronald Reagan nhắc lại lý do khi can thiệp quân sự vào Grenada ông phải thực hiện hết sức bí mật chỉ vì lúc đó tâm lý người dân Mỹ còn bị ám ảnh bởi “Hậu Hội chứng Việt Nam” (Post-Vietnam syndrome), tức tâm lý do dự và chống đối của dân Mỹ khi chính phủ Mỹ can thiệp quân sự vào một nước khác.  Phải nhiều thế kỷ nữa Hội chứng Việt Nam (Vietnam syndrome) mới hy vọng bớt ám ảnh. (Ronald Reagan, “An American Life”, page 451)

Trong bang giao chính trị thế giới, bạn hay thù nhiều khi chỉ là cách gọi, nhưng cơ hội lại là điều có thật. Các cường quốc tranh giành nhau, chém giết nhau từ Nam Mỹ đến Trung Đông, dù che đậy dưới khẩu hiệu gì, thực chất cũng chỉ vì tài nguyên và an ninh, nhưng đó cũng là cơ hội cho các dân tộc bị trị dưới ách độc tài vận dụng.

Trong bang giao quốc tế sự tương hợp giữa quyền lợi của một dân tộc và quyền lợi của cường quốc vô cùng quan trọng. Một danh sách dài những quốc gia trở nên dân chủ và thịnh vượng nhờ tương hợp  với Mỹ như Nhật Bản, Nam Hàn, Jordan, Columbia và phần lớn Tây Âu.

Tại buổi hội thảo đánh dấu 70 năm Kế Hoạch Marshall ngày 3 tháng 4, 2018, sử gia kiêm chiến lược gia đồng thời cũng là Phụ tá Bộ trưởng Ngoại Giao Mỹ A. Wess Mitchell phát biểu: “Hoa Kỳ có nhiều lựa chọn về cách ứng phó với tình cảnh khó khăn của châu Âu. Nhưng thay vì trừng phạt kẻ thù hay rút lui khỏi các vấn đề của châu Âu như chúng ta đã làm sau năm 1918, các nhà lãnh đạo Mỹ đã chọn ở lại châu Âu và sử dụng nguồn lực quốc gia khổng lồ của mình để nuôi dưỡng và xây dựng lại các xã hội tan vỡ của châu Âu. Như Ngoại trưởng Marshall đã nói vào năm 1947, Hoa Kỳ sẽ ‘làm bất cứ điều gì có thể để hỗ trợ khôi phục  kinh tế bình thường trên thế giới, nếu không sẽ không thể có sự ổn định chính trị hay hòa bình được bảo đảm’.Trong những năm tiếp theo, Hoa Kỳ đã viện trợ hơn 13 tỷ đô la cho các quốc gia châu Âu, tương đương hơn 110 tỷ đô la ngày nay. Tiền chỉ là một phần của khoản đầu tư này. Chúng ta đã xây dựng các căn cứ quân sự thường trực của Hoa Kỳ để gìn giữ hòa bình trong tương lai. Và chúng ta đã xây dựng các thể chế mới, cùng với các đồng minh châu Âu, chúng ta đã thành lập NATO và giúp đỡ việc thành lập Cộng đồng Than và Thép châu Âu, sau này trở thành Liên minh châu Âu.” (Assistant Secretary for European and Eurasian Affairs A. Wess Mitchell speaks at the U.S. Diplomacy Center event “Perspectives on the Marshall Plan” on April 3, 2018, in Washington, DC.)

Hẳn nhiên Mỹ cũng lợi rất nhiều qua Kế Hoạch Marshall nhưng quyền lợi của Mỹ tương hợp với quyền lợi của các nước Tây Âu để ngày nay có một Tây Âu dân chủ và thịnh vượng.

Khác với mục đích của các cường quốc, cuộc đấu tranh của người Việt là cuộc đấu tranh cho quyền được sống trong một xã hội tự do, dân chủ và thăng tiến. Người Việt quan tâm hãy tận dụng mọi cơ hội để đạt các mục đích đó. Không một Mỹ, Nhật nào ủng hộ nếu không có một đối lực dù nhỏ trước đảng CS.  Một trong những lý do Đồng Minh không giải phóng Tây Ban Nha khỏi ách độc tài Francisco Franco (1892-1975) cuối Thế Chiến Thứ Hai bởi vì tại Tây Ban Nha lúc đó không có một phong trào dân chủ nào tương đối mạnh hay một chính phủ lưu vong có uy tín để lèo lái Tây Ban Nha sau Franco. Anh và Pháp thắng trận nhưng nền kinh tế gần như phá sản.

Những ai quan tâm đến vận nước Việt Nam thay vì nói theo ý đảng hay ngồi chờ một người nào đó anh minh, sáng suốt cỡ “bậc chí thánh” trong truyện ngắn Linh Nghiệm của Trần Huy Quang đến soi lối dẫn đường, nên gióng lên tiếng nói thay cho những người đang khốn khổ trong tù và đang chịu đựng ngoài tù.

Bớt rao giảng những chuyện xa vời. Người Việt không quan tâm hỏa tinh (Mars) hay mộc tinh (Jupiter) có nước ngọt hay không nhưng quan tâm đồng bào các vùng bị lũ lụt ở Khánh Hòa, Gia Lai, Lâm Đồng hôm nay có đủ nước ngọt uống chưa.

Dân chủ không phải là khái niệm trong sách vở hay lý thuyết mà là quyền có thể sờ mó, nắm bắt được như hạt gạo, chén cơm, ổ bánh mì, công ăn việc làm, lá phiếu bầu của con người đang sống hôm nay. Tuổi trẻ Nepal đã đứng lên.  Tuổi trẻ Bangladesh đã đứng lên. Tuổi trẻ Iran đang đứng lên. Tuổi trẻ Cuba sẽ sớm đứng lên. Tuổi trẻ Việt Nam cũng thế, có thể còn khá lâu, nhưng chỉ tự đứng lên trước mới thay đổi được vận mệnh của chính mình.

Trần Trung Đạo


 

GỬI NHAU MỘT NỤ CƯỜI

Xuyên Sơn

Tô Đông Pha là một thi hào hàng đầu Trung Hoa đời nhà Tống.

Ông có một địch thủ mà cũng là bạn tâm giao là tể tướng Vương An Thạch, một chính khách lỗi lạc.

Có một giai thoại văn chương giữa hai người, nhưng câu chuyện có nhiều dị bản, tôi chọn mẩu chuyện đơn giản nhất trong số đó.

Ngày kia, Tô Đông Pha đến thăm bạn và tình cờ đọc được hai câu thơ của Vương An Thạch:

Minh nguyệt sơn đầu khiếu,

hoàng khuyển ngoạ hoa tâm

(trăng sáng hót trên đầu núi,

con chó vàng nằm ngủ trong đóa hoa ).

Tô Đông Pha bật cười.

Ý tứ ngớ ngẩn đến thế thì thôi.

Ánh trăng làm sao mà hót như chim, đóa hoa nào đủ to để con chó có thể nằm trong đó !

Trong chỗ thân tình, họ Tô cầm bút sửa ngay hai chữ trong bài thơ của bạn:

Minh nguyệt sơn dầu CHIẾU

Hoàng khuyển ngoạ hoa ÂM

(Trăng sáng soi trên đầu núi

Con chó vàng nằm dưới bóng một cội hoa)

Chuyện kể rằng họ Vương khi nhìn thấy hai chữ sửa của bạn thì chỉ mỉm cười.

Nhiều năm sau, trên bước đường lưu đày biếm trích, phải đi qua bao nhiêu miền đất xa lạ, Tô Đông Pha có dịp biết được một loại sâu tên Hoàng Khuyển và một giống chim tên Minh Nguyệt.

Ông bàng hoàng nhớ lại chuyện mình sửa thơ bạn và nụ cười thâm trầm của ông bạn họ Vương.

Họ Tô vò tóc.

Trời ạ, mình đã đem cái không biết mà sửa cái biết của người ta.

“Con chim minh nguyệt hót trên đầu núi, con sâu hoàng khuyển nằm trong lòng một đóa hoa” là chuẩn quá rồi.

Rõ bố khỉ, trách sao hồi ấy ông bạn chỉ cười, nụ cười kiểu chửi bố người ta có con dốt.

Nhưng rồi với hào khí một kẻ sĩ,

Tô Đông Pha viết thư xin lỗi bạn.

Ông họ Vương lại cười, nụ cười của chục năm về trước.

Tôi nhớ đã đọc ở đâu đó câu này:

Lời chê hay tiếng khen không đáng lưu tâm bằng kẻ đã khen chê.

Họ là ai và mục đích là gì.

Phật dạy nhất thiết giai không, tôi tin tuyệt đối, nhưng lòng phàm vẫn cứ sợ nụ cười của Vương An Thạch.

Tôi cứ sợ có một ngày tôi lỡ dại đem cái dốt của mình mà phê phán ai đó khi họ chỉ lặng lẽ mỉm cười, dù là để cảm thông hay tha thứ.

Quyển từ điển Pāli mới ra, chưa kịp được ghi nhận, đã có ngay một đám cư sĩ và nhà sư nhanh nhẩu bắt chước cái lỗi của Tô Đông Pha.

Thôi thì quà xuân chỉ là một nụ cười gửi nhau.

Nụ cười của họ Vương ngày ấy !

Toại Khanh


 

NGƯỜI NGHÈO NHẤT LẠI LÀ NGƯỜI CHO ĐI NHIỀU NHẤT

Bà goá nghèo sống ở cuối xóm, trong căn nhà lợp tôn cũ mỗi khi mưa xuống lại kêu lộp bộp như tiếng thở dài kéo dài cả đêm. Người ta quen gọi bà là bà Tư goá, không phải vì thân, mà vì chẳng ai nhớ nổi tên thật của bà nữa.

Chồng bà mất sớm trong một lần đi phụ hồ xa nhà. Hôm nhận tin, bà không khóc. Chỉ lặng lẽ ngồi bên bếp tro nguội, tay bóp chặt tờ giấy báo tử đến nhàu nát. Từ hôm đó, bà sống cùng cái nghèo và sự im lặng.

Ban ngày, bà nhặt ve chai, ai thuê gì làm nấy. Ban tối, bà ra sau nhà thờ quét lá, lau ghế, việc không ai giao nhưng bà cứ làm. Có người bảo:

– Bà làm vậy có được trả công đâu?

Bà cười, nụ cười hiền đến lạ:

– Không sao, Chúa trả.

Một lần, giáo xứ quyên góp giúp người nghèo. Ai cũng mang đến phong bì dày. Đến lượt bà, bà đặt lên bàn hai đồng tiền lẻ, gói cẩn thận trong mảnh giấy báo. Có người ái ngại, có người quay đi. Bà cúi đầu rất thấp, như sợ hai đồng tiền ấy làm phiền người khác.

Tối đó, bà ngồi một mình trong nhà thờ tối om. Bà thì thầm:

– Con không có gì nhiều, nhưng con cho hết những gì con có hôm nay.

Ít lâu sau, bà đổ bệnh nặng. Khi cha xứ đến thăm, bà xin lỗi vì không còn sức quét sân nhà thờ nữa. Cha nắm tay bà, nghẹn ngào:

– Bà đã làm nhiều hơn những gì người ta nhìn thấy rồi.

Ngày bà mất, trời mưa rất to. Nhưng sáng hôm sau, sân nhà thờ sạch lạ thường, không một chiếc lá rơi. Người ta bảo nhau: có những con người nghèo đến mức chẳng có gì để lại, ngoài một đời yêu thương đủ làm sáng cả một nơi.

From: ngocnga_12 & NguyenNThu


 

MẸ – NGƯỜI ĐÀN BÀ BỒ NÔNG

Những Câu Chuyện Thú VịChi Nguyen

Người ta kể rằng, có một loài chim tên là bồ nông.

Khi không tìm được thức ăn cho con, nó không bỏ đi. Không bay đi tìm cuộc sống khác, cũng chẳng quay lưng bỏ mặc. Nó quay về tổ, dùng chính chiếc mỏ của mình rạch vào ngực, để máu và thịt mình nhỏ ra — làm thức ăn cho đàn con non đang run rẩy trong tổ.

Nó chết dần…

Nhưng dòng máu ấy, chút thịt ấy, đủ nuôi con thêm vài tuần, đủ để chúng mạnh lên, mọc cánh, và tự bay vào đời.

Tôi đã đọc câu chuyện ấy từ lâu.

Nhưng càng lớn, càng va vấp, tôi càng thấy… mẹ cũng chính là người đàn bà bồ nông ấy.

Mẹ không xé ngực mình ra thật, nhưng mỗi ngày mẹ vẫn xé một chút thanh xuân, xé những giấc ngủ, xé sức khỏe, xé cả ước mơ — để nuôi con trưởng thành.

Mẹ nhịn ăn, nhịn mặc, nhịn vui, nhịn cả những thứ nhỏ nhặt mà mẹ từng thích, chỉ để con có thêm một chút cơ hội, thêm một niềm vui nhỏ bé.

Mẹ không bao giờ nói ra, cũng chẳng cần ai biết ơn.

Nhưng trong từng nếp nhăn trên gương mặt, trong từng vết chai sạn nơi bàn tay, trong từng lần ho khẽ… đều có dấu vết của những năm tháng mẹ đã xé chính mình ra để nuôi con lớn.

Con lớn lên, con đi xa, và đôi khi, con quên mất.

Con bận rộn với cuộc sống, với công việc, với những mối quan hệ mới.

Con ít gọi điện hơn, ít về nhà hơn.

Con nghĩ mẹ hiểu, nghĩ mẹ sẽ chẳng sao đâu.

Nhưng mẹ vẫn ngồi đó — trong căn nhà nhỏ, với chiếc ghế quen, cái nhìn xa xăm qua khung cửa, lặng lẽ đợi tiếng chân con.

Không ai thấy những vết thương không máu mẹ để lại trong lòng mình, những vết thương không rớm đỏ, nhưng cứ nhói lên mỗi khi con buồn, con mệt, con tổn thương.

Mẹ biết. Và mẹ chọn lặng lẽ chịu đựng.

Đôi khi, mẹ còn lặng lẽ chết đi một chút, chỉ để con được sống thêm một chút yên bình.

Người ta nói, trái tim mẹ là món ăn không bao giờ cạn.

Con càng lớn, mẹ càng nhỏ dần.

Con càng bay xa, bóng mẹ càng gầy.

Con càng trưởng thành, mẹ càng thu mình lại, chỉ đứng đó, dõi theo…

Tự hào. Nhưng cũng nghẹn ngào.

Bởi có một điều không bao giờ thay đổi –

Mẹ luôn sẵn sàng hy sinh cả cuộc đời, miễn con được hạnh phúc.

Nếu hôm nay bạn vẫn còn mẹ, xin đừng đợi đến lúc “đủ đầy” mới về.

Đừng đợi có tiền mới mua quà.

Đừng đợi đến khi mẹ không còn nghe rõ mới nói “Con thương mẹ”.

Đừng đợi đến khi đôi bàn tay ấy run run, chẳng còn đủ sức nấu bữa cơm quen thuộc, đến khi dáng người ấy lụi dần giữa những cơn gió già nua… mới vội vã tìm về.

Vì tình mẹ là như thế —

Có thể chết dần, miễn là con còn sống, con còn bình yên.

Nhưng xin đừng để mẹ phải chết trong lặng lẽ.

Đừng để mẹ phải đi qua những năm tháng cuối đời trong cô đơn.

Hãy ôm mẹ. Dù chỉ một lần thật chặt.

Hãy gọi điện cho mẹ, chỉ để nói “Con nhớ mẹ”.

Hãy về nhà, chỉ để ngồi ăn cùng mẹ một bữa cơm đơn giản.

Hãy để mẹ thấy, những hy sinh của mẹ vẫn còn ý nghĩa — không phải vì con thành công, mà vì con vẫn nhớ, vẫn thương, vẫn quay về.

Vì cuối cùng…Mẹ không cần gì ngoài sự bình yên trong lòng con. Và đôi khi, chỉ một cái ôm thôi, cũng đủ để mẹ sống thêm một đời nữa.

Bài và ảnh — Thảo Hita – Sưu tầm


 

KHÔNG PHẢI NHÂN TÀI THÌ SAO TRỌNG DỤNG ĐƯỢC NHÂN TÀI !

Xuyên Sơn

Đào Duy Từ có tài kinh bang tế thế, nhưng vì lý lịch gia đình thuộc loài “con hát” nên dưới chế độ Đàng Ngoài của Chúa Trịnh, ông đi thi cũng bị gạch tên, nói gì được trọng dụng.

Bực quá, ông “vượt biên” vào Nam theo Chúa Nguyễn.

Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (1563-1635) không những trọng dụng ông mà còn tôn ông làm quân sư, tức là thầy mình.

Họ Đào có công rất lớn phò trợ Chúa Nguyễn mở nước an dân, không có việc gì là không giỏi, là đệ nhất công thần khai quốc của nhà Nguyễn, sau này được vua Gia Long thờ trong Thái Miếu.

Cần biết, Chúa Sãi không chỉ biết trọng dụng nhân tài, bản thân ông cũng là một bậc hiền tài vượt trội hiếm thấy trong lịch sử dân tộc.

Christoforo Borri, một giáo sĩ Dòng Tên người Ý đến sống ở nước ta vào thời đó đã nhận xét :

“Chúa Đàng Trong không đóng cửa trước một quốc gia nào, ngài để cho tự do và mở cửa cho tất cả người ngoại quốc, người Hà Lan cũng tới như những người khác, cùng với tàu chở rất nhiều hàng hóa của họ”.

Đọc sử Tàu ta thấy Lưu Bang tầm nhìn không xa ngoài ngàn dặm như Trương Lương, cầm quân không bằng Hàn Tín, nội trị thua xa Tiêu Hà, Trần Bình, nhưng đã làm nên đại nghiệp của nhà Hán vì dùng được những nhân tài đó.

Bởi vậy mà sau khi đại công cáo thành, Trương Lương phải từ bỏ quan trường để giữ thân, Hàn Tín chủ quan nên bị sát hại, còn Tiêu Hà, Trần Bình phải vô cùng khôn khéo mới bảo toàn được tánh mạng.

Nhưng Chúa Sãi không như vậy.

Ông để lại nhiều di sản đồ sộ cho dân tộc, trong đó có 3 di sản bất diệt mà hễ ai là người Việt Nam đều không được phép quên:

Đem Sài Gòn và đặt nền móng để đem Nam bộ về cho Tổ Quốc một cách hòa bình, xác lập và thực thi chủ quyền đối với Hoàng Sa-Trường Sa (cùng các quần đảo khác trên biển Đông) và đặt nền móng đầu tiên cho một nền kinh tế thị trường.

Ông trọng dụng nhân tài nhưng không uy hiếp họ và có nhiều bằng chứng ông có tầm nhìn xa hơn các công thần phò trợ ông.

Tương truyền rằng, có một điều Đào Duy Từ không tán thành với Chúa Sãi mà vẫn canh cánh nhiều năm không tiện nói.

Đó là việc Chúa Sãi cho tàu buôn nước ngoài tự do đi lại và tỏ ra vô cùng trọng thị các thương nhân (đến mức gả luôn con gái cho một nhà buôn Nhật Bản).

Đến cuối đời, họ Đào đã đem tâm sự đó nói ra với Chúa.

Chúa Sãi không trả lời ông mà đưa cho ông xem bảng cân đối ngân sách quốc gia.

Nhìn thấy phần lớn ngân sách là từ các khoản thuế thu từ các tàu buôn đó,

Đào Duy Từ ngửa mặt lên trời than :

“Tầm nhìn của ta không bằng Chúa Sãi”.

Và Đào Duy Từ là một nhân tài may mắn có được hạnh phúc.

Lịch sử có những bài học mà những người quản lý quốc gia nên chiêm nghiệm.

Nhân tài là những người vượt ra ngoài các khuôn khổ phép tắc.

Một xã hội bị câu thúc trong giáo điều, xã hội đó không có đất nuôi dưỡng nhân tài.

Hầu hết các vị tiến sĩ được khắc bia trong Văn Miếu chẳng ai làm nên trò trống gì trong lịch sử, họ có phải là nhân tài hay không là điều rất khó nói, nhưng đó là một câu chuyện dài.

Những nhân tài như Đào Duy Từ không rơi vào bi kịch như Hàn Tín bên Tàu hay Nguyễn Trãi bên ta là do họ hạnh phúc được bầu bạn với những minh quân minh chúa có tầm nhìn xa hơn họ như Nguyễn Phúc Nguyên.

Và trong thời đại ngày nay, hơn bao giờ hết, chỉ có những nhân tài mới trọng dụng được nhân tài.

HOÀNG HẢI VÂN


 

‘Tôi đã đưa tin về 40 cuộc chiến tranh nhưng chưa từng thấy năm nào đáng lo ngại như 2025’ (BBC)

(BBC)

Tác giả,  John Simpson

Vai trò, Biên tập viên Các Vấn đề Thế giới

30 tháng 12 2025

Tôi đã đưa tin về hơn 40 cuộc chiến tranh trên khắp thế giới trong suốt sự nghiệp của mình, bắt đầu từ những năm 1960. Tôi đã chứng kiến Chiến tranh Lạnh diễn biến đến cao trào, rồi sau đó bốc hơi. Nhưng tôi chưa từng thấy một năm nào đáng lo ngại như năm 2025 – không chỉ bởi một số cuộc xung đột lớn đang diễn ra mà còn bởi vì, rõ ràng là, một trong số đó có những hệ quả chính trị chưa từng có.

Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky đã cảnh báo rằng cuộc xung đột hiện nay tại đất nước của ông có thể leo thang thành một cuộc chiến tranh thế giới.

Sau gần 60 năm quan sát xung đột, tôi có linh cảm xấu rằng ông ấy đúng

Tổng thống Ukraine đã cảnh báo rằng cuộc xung đột hiện tại ở Ukraine có thể leo thang thành một cuộc chiến tranh thế giới

Các chính phủ thành viên NATO đang ở trong tình trạng cảnh giác cao độ trước bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy Nga đang cắt đứt các tuyến cáp ngầm vận chuyển luồng dữ liệu số vốn giúp xã hội phương Tây vận hành.

Nga đã bị cáo buộc sử dụng drone để thăm dò hệ thống phòng thủ của các nước NATO.

Tin tặc của Nga đang phát triển phương pháp làm tê liệt các bộ, dịch vụ khẩn cấp và các tập đoàn lớn.

Chính quyền phương Tây đoan chắc rằng các cơ quan tình báo bí mật của Nga đã sát hại và âm mưu sát hại những người bất đồng chính kiến đang tị nạn ở phương Tây.

Một cuộc điều tra về vụ mưu sát hụt cựu điệp viên Nga Sergei Skripal ở Salisbury (miền nam nước Anh) năm 2018 (cộng với vụ đầu độc một phụ nữ địa phương, Dawn Sturgess) đã đưa tới kết luận rằng vụ tấn công đã được phê chuẩn ở cấp cao nhất tại Nga.

Có nghĩa là chính Tổng thống Putin.

Lần này cảm giác khác hẳn

Năm 2025 được đánh dấu bởi ba cuộc chiến tranh rất khác nhau.

Đầu tiên là Ukraine, nơi Liên Hợp Quốc nói 14.000 dân thường đã thiệt mạng.

Tại Gaza, nơi Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu đã thề “trả thù mạnh mẽ” sau khi 1.200 người bị sát hại và 251 người khác bị bắt làm con tin khi Hamas tấn công Israel vào ngày 7/10/2023.

Kể từ đó, hơn 70.000 người Palestine đã thiệt mạng do các chiến dịch quân sự của Israel, trong đó có 30.000 phụ nữ và trẻ em, theo số liệu của Bộ Y tế do Hamas điều hành ở Gaza – các số liệu mà Liên Hợp Quốc cho rằng đáng tin cậy.

Giữa lúc đó, một cuộc nội chiến khốc liệt giữa hai phe phái quân sự ở Sudan đang diễn ra.

Hơn 150.000 người đã thiệt mạng tại Sudan trong vài năm qua; khoảng 12 triệu người phải rời bỏ nhà cửa.

Nếu như đó là cuộc chiến duy nhất trong năm 2025, có lẽ thế giới bên ngoài đã có thể làm nhiều hơn để chấm dứt nó.

Nhưng đó không phải cuộc chiến duy nhất.

“Tôi giỏi giải quyết chiến tranh,” Tổng thống Mỹ Donald Trump nói, khi máy bay đưa ông đến Israel sau cuộc đàm phán về một thỏa thuận ngừng bắn ở Gaza.

Đúng là hiện số người chết ở Gaza đã giảm.

Nhưng bất chấp thỏa thuận ngừng bắn, cuộc chiến ở Gaza chắn chắn vẫn chưa được giải quyết.

Xét mức độ khủng khiếp của Trung Đông, có vẻ kỳ quặc khi nói rằng cuộc chiến ở Ukraine ở một cấp độ hoàn toàn khác.

Nhưng thực tế là như vậy.

“Tôi giỏi giải quyết chiến tranh,” Tổng thống Donald Trump nói

Ngoại trừ Chiến tranh Lạnh, hầu hết các cuộc xung đột mà tôi đưa tin trong các năm qua đều ở quy mô nhỏ: tất nhiên là gớm ghiếc và nguy hiểm, nhưng không đủ nghiêm trọng để đe dọa nền hòa bình của toàn thế giới.

Một số cuộc xung đột, như Chiến tranh Việt Nam, Chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ nhất, và chiến tranh ở Kosovo, đôi khi trông như thể chúng có thể leo thang thành điều gì đó tồi tệ hơn nhiều, nhưng điều đó đã không xảy ra.

Các cường quốc đã quá lo lắng về nguy cơ một cuộc chiến tranh cục bộ, thông thường, có thể biến thành một cuộc chiến tranh hạt nhân.

“Tôi sẽ không gây ra Thế chiến thứ ba cho các người đâu,” tướng Anh Mike Jackson được cho là đã hét lên trên sóng phát thanh ở Kosovo vào năm 1999, khi cấp trên của ông tại NATO ra lệnh cho quân đội Anh và Pháp chiếm một sân bay ở Pristina sau khi quân đội Nga đến đó trước.

Tuy nhiên, trong năm 2026 sắp tới, Nga, nhận thấy Tổng thống Trump dường không quan tâm tới châu Âu, có vẻ sẵn sàng đẩy mạnh hơn nữa sự bành trướng.

Đầu tháng này, Putin nói Nga không có kế hoạch gây chiến với châu Âu, nhưng sẵn sàng “ngay lúc này” nếu châu Âu muốn.

Tại một sự kiện được truyền hình trực tiếp sau đó, ông Putin nói: “Sẽ không có bất cứ chiến dịch nào nếu quý vị đối xử với chúng tôi một cách tôn trọng, nếu quý vị tôn trọng chúng tôi như chúng tôi luôn tôn trọng quý vị.”

Putin nói rằng Nga không có kế hoạch gây chiến với châu Âu, nhưng sẵn sàng “ngay lúc này” nếu châu Âu muốn như vậy

Nhưng Nga, một cường quốc thế giới, đã xâm lược một quốc gia châu Âu độc lập, gây ra thương vong lớn về cả dân thường và binh lính.

Ukraine cáo buộc Nga bắt cóc ít nhất 20.000 trẻ em.

Tòa Hình sự Quốc tế (ICC) đã ban hành lệnh bắt giữ Tổng thống Nga Vladimir Putin vì liên quan đến vụ việc này, điều mà Nga luôn phủ nhận.

Nga nói rằng nước này tấn công để bảo vệ mình trước sự bành trướng của NATO, nhưng Tổng thống Putin đã gợi ra một động cơ khác: mong muốn khôi phục phạm vi ảnh hưởng của Nga trong khu vực.

Sự phản đối của Mỹ

Putin nhận thức rõ rằng chính năm 2025 là năm mà hầu hết các nước phương Tây từng coi là không thể tưởng tượng nổi: khả năng một tổng thống Mỹ quay lưng với hệ thống chiến lược đã vận hành từ Thế chiến II.

Washington hiện không chỉ không chắc chắn về việc họ có muốn bảo vệ châu Âu hay không, mà thậm chí còn phản đối đường hướng mà họ tin rằng châu Âu đang đi theo.

Báo cáo Chiến lược quốc phòng mới của chính quyền Trump khẳng định rằng châu Âu hiện đối mặt với “viễn cảnh tàn lụi về văn minh”.

Điện Kremlin hoan nghênh báo cáo này, nói rằng nó phù hợp với tầm nhìn của Nga.

Thật vậy.

Bên trong nước Nga, Putin đã dập tắt mọi tiếng nói phản đối ông ta và cuộc chiến, theo báo cáo viên đặc biệt của Liên Hợp Quốc về nhân quyền ở Nga.

Tuy nhiên, Putin cũng có những vấn đề riêng: khả năng lạm phát lại tăng cao sau đợt giảm gần đây, doanh thu dầu mỏ giảm và chính quyền của ông ta phải tăng thuế VAT để chi trả cho cuộc chiến.

Tổng thống Mỹ Donald Trump và Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky có cuộc gặp căng thẳng tại Nhà Trắng vào tháng 2/2025

Các nền kinh tế của Liên minh châu Âu lớn gấp 10 lần Nga; thậm chí lớn hơn thế rất nhiều nếu tính cả nền kinh tế Anh.

Dân số EU khoảng 450 triệu người, gấp ba lần dân số Nga – khoảng 154 triệu.

Tuy nhiên, các nước Tây Âu có vẻ vẫn lo ngại sẽ đánh mất mức sống hiện có của mình và luôn lưỡng lự trong việc chi trả cho ngân sách quốc phòng chừng nào vẫn còn có thể thuyết phục được Mỹ bảo vệ họ.

Nước Mỹ nay đã khác: tầm ảnh hưởng giảm, hướng nội hơn và ngày càng khác với nước Mỹ mà tôi đưa tin trong suốt sự nghiệp của mình.

Nay, rất giống với giai đoạn những năm 1920 và 1930, nước Mỹ muốn tập trung vào lợi ích quốc gia của riêng mình.

Ngay cả khi Tổng thống Trump mất đi nhiều quyền lực chính trị trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ vào năm tới, ông ta có thể đã đẩy chủ nghĩa biệt lập của Mỹ đi quá xa đến mức mà một tổng thống Mỹ có tư tưởng thân NATO hơn vào năm 2028 có thể cũng khó lòng giúp được châu Âu.

Đừng tưởng Vladimir Putin không nhận thấy điều ấy.

Nguy cơ leo thang

Năm tới, 2026, có vẻ sẽ rất quan trọng.

Zelensky có thể cảm thấy buộc phải chấp thuận một thỏa thuận hòa bình, nhượng một phần lớn lãnh thổ Ukraine.

Liệu điều này có đủ chắc chắn đảm bảo ngăn Tổng thống Putin quay lại đòi thêm đất trong vài năm tới?

Đối với Ukraine và các đồng minh châu Âu, những người vốn đã cảm thấy họ đang trong cuộc chiến với Nga, đó là một câu hỏi quan trọng.

Châu Âu sẽ phải gánh vác một phần lớn hơn trong việc duy trì sự tồn tại của Ukraine, nhưng nếu Mỹ quay lưng với Ukraine, như nước này từng vài lần đe dọa sẽ làm như vậy, thì đó sẽ là một gánh nặng khổng lồ.

Nếu Mỹ quay lưng với Ukraine, đó sẽ là gánh nặng cho châu Âu

Nhưng liệu cuộc chiến có biến thành một cuộc đối đầu hạt nhân?

Chúng ta biết rằng Tổng thống Putin là một người thích mạo hiểm; một lãnh đạo cẩn trọng hơn hẳn đã không xâm lược Ukraine vào tháng 2/2022.

Những tay chân của Putin đã đưa ra những lời đe dọa rùng rợn về việc xóa sổ Anh và các quốc gia châu Âu khỏi bản đồ bằng những vũ khí mới mà Nga luôn khoe khoang, nhưng bản thân ông ta thường kiềm chế hơn nhiều.

Trong khi người Mỹ vẫn còn là thành viên tích cực của NATO, thì nguy cơ họ có thể đáp trả bằng một cuộc tấn công hạt nhân hủy diệt của riêng mình vẫn rất lớn. Ít nhất là vào lúc này.

Vai trò toàn cầu của Trung Quốc

Về phần Trung Quốc, Chủ tịch Tập Cận Bình gần đây hiếm khi đưa ra những đe dọa trực tiếp đối với hòn đảo tự trị Đài Loan.

Nhưng hai năm trước, giám đốc CIA lúc bấy giờ là William Burns nói rằng ông Tập Cận Bình đã ra lệnh cho quân đội sẵn sàng xâm lược Đài Loan vào năm 2027.

Nếu Trung Quốc không có hành động quyết liệt để thâu tóm Đài Loan, Tập Cận Bình có thể cho rằng Trung Quốc sẽ bị xem là quá yếu ớt. Ông ta không muốn điều đó xảy ra.

Bạn có thể nghĩ rằng Trung Quốc hiện đã quá mạnh và giàu có đến mức không cần quan tâm đến các ý kiến của công chúng trong nước.

Không phải vậy.

Kể từ cuộc nổi dậy chống lại Đặng Tiểu Bình vào năm 1989, kết thúc bằng vụ thảm sát Thiên An Môn, các lãnh đạo Trung Quốc đã theo dõi phản ứng của đất nước một cách hết sức thận trọng.

Tôi đã tận mắt chứng kiến các sự kiện diễn ra ở Thiên An Môn, đưa tin và đôi khi sống ngay tại quảng trường.

Chủ tịch Tập Cận Bình (giữa) gần đây hiếm khi đưa ra lời đe dọa trực tiếp đối với Đài Loan

Câu chuyện ngày 4/6/1989 không đơn giản như chúng ta nghĩ vào thời điểm đó: lính vũ trang bắn vào những sinh viên không vũ trang.

Điều đó chắc chắn đã xảy ra, nhưng đã có một cuộc chiến khác xảy ra ở Bắc Kinh và các thành phố khác ở Trung Quốc.

Hàng ngàn dân thường xuống đường, quyết tâm sử dụng vụ tấn công vào sinh viên như một cơ hội để lật đổ sự kiểm soát của Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Khi tôi lái xe qua các đường phố hai ngày sau đó, tôi nhìn thấy ít nhất năm đồn cảnh sát và ba trụ sở cảnh sát an ninh địa phương bị đốt cháy.

Tại một vùng ngoại ô, đám đông giận giữ đã thiêu một cảnh sát và dựng cái xác cháy đen của anh ta vào tường.

Một cái mũ công an được đặt lệch trên đầu anh ta và một điếu thuốc lá được nhét vào giữa đôi môi sạm đen.

Hóa ra quân đội không chỉ dập tắt cuộc biểu tình kéo dài của sinh viên, mà còn đàn áp cuộc nổi dậy của nhân dân Trung Quốc.

Giới lãnh đạo chính trị Trung Quốc, vẫn chưa thể chôn vùi ký ức của những gì đã xảy ra 36 năm trước, nay thường cảnh giác với những dấu hiệu của sự phản đối – bất kể từ những nhóm có tổ chức như Pháp Luân Công hay giáo hội Kitô giáo độc lập, phong trào dân chủ Hong Kong, hay chỉ là những người phản đối tham nhũng ở địa phương.

Tất cả đều bị đàn áp thẳng tay.

Tôi đã có thời gian dài đưa tin về Trung Quốc kể từ năm 1989, chứng kiến nước này trỗi dậy về kinh tế và chính trị.

Tôi thậm chí còn quen biết một chính trị gia hàng đầu, đối thủ cạnh tranh của Tập Cận Bình.

Tên ông ấy là Bạc Hy Lai, một người hâm mộ văn hóa Anh, người có thể nói khá cởi mở về chính trị Trung Quốc.

Một lần, ông nói với tôi: “Anh sẽ không bao giờ hiểu được một chính phủ cảm thấy bất an như thế nào khi biết rằng mình không được bầu.”

Về phần Bạc Hy Lai, ông bị tù chung thân vào năm 2013 sau khi bị kết tội nhận hối lộ, tham ô và lạm quyền.

John Simpson đã dành khá nhiều thời gian đưa tin về Trung Quốc kể từ năm 1989 (ảnh chụp tại Quảng trường Thiên An Môn, năm 2016)

Tóm lại, năm 2026 được dự báo là một năm quan trọng.

Sức mạnh của Trung Quốc sẽ gia tăng và chiến lược thâu tóm Đài Loan – tham vọng của Tập Cận Bình – sẽ trở nên rõ ràng hơn.

Có thể cuộc chiến ở Ukraine sẽ được giải quyết, nhưng với những điều khoản có lợi cho Tổng thống Putin.

Ông ta có thể thoải mái quay trở lại, đòi thêm đất của Ukraine khi ông ta sẵn sàng.

Và Tổng thống Donald Trump, dù quyền lực chính trị của ông ta có thể bị hạn chế trong cuộc bầu cử giữa kỳ vào tháng 11, sẽ làm cho nước Mỹ xa rời châu Âu hơn.

Nhìn từ quan điểm của châu Âu, triển vọng khó có thể ảm đạm hơn thế.

Nếu bạn nghĩ Thế chiến III có thể là một cuộc đấu bằng vũ khí hạt nhân, hãy nghĩ lại.

Nhiều khả năng đó sẽ là một chuỗi các thủ đoạn ngoại giao và quân sự, nơi chế độ độc tài trỗi dậy.

Nó thậm chí có thể đe dọa phá vỡ liên minh phương Tây.

Và quá trình này đã thực sự bắt đầu.


 

THẬT MAY MẮN  CHO AI ĐÓ SỐNG QUÁ 65 TUỔI

Thienlong Nguyen

THẬT MAY MẮN  CHO AI ĐÓ SỐNG QUÁ 65 TUỔI

Cảm ơn ai đã tổng hợp số liệu thống kê này! Đọc để hiểu chúng ta may mắn như thế nào nếu đã lên tuổi 65 và có nhà, có đủ ăn và đủ mặc.

Dân số hiện tại của Trái đất là khoảng 7,8 tỷ người. Tuy nhiên, ai đó đã cô đọng 7,8 tỷ trên thế giới thành 100 người, và sau đó thành các thống kê tỷ lệ phần trăm khác nhau. Kết quả phân tích tương đối dễ hiểu hơn nhiều.

* Trong số 100 người có: 11 ở Châu Âu, 5 ở Bắc Mỹ, 9 ở Nam Mỹ, 15 người ở Châu Phi và khủng khiếp khi có tới 60 người ở Châu Á.

* Trong số 100 người: 49 sống ở nông thôn và 51 sống ở các thị trấn / thành phố

* Trong số 100 người: 77 có nhà riêng và 23 không có nơi ở.

* Trong số 100 người: 21 người được nuôi dưỡng quá mức; 64 có thể ăn no; 15 người thiếu dinh dưỡng.

* Trong số 100 người: Chi phí sinh hoạt hàng ngày cho 48 người là dưới US $ 2.

* Trong số 100 người: 87 có nước uống sạch, 13 hoặc thiếu nước uống sạch hoặc tiếp cận với nguồn nước bị ô nhiễm.

* Trong số 100 người: 75 có điện thoại di động và 25 không có.

* Trong số 100 người: 30 người có quyền truy cập internet, 70 không có điều kiện lên mạng.

* Trong số 100 người: 7 nhận được giáo dục đại học và 93 đã không được học đến bậc đại học.

* Trong số 100 người: 83 người có thể đọc còn lại 17 người mù chữ.

* Trong số 100 người: 33 người theo đạo Thiên chúa, 22 người theo đạo Hồi, 14 người theo đạo Hindu, 7 là Phật tử, 12 là các tôn giáo khác và 12 người không có tín ngưỡng tôn giáo.

* Trong số 100 người: 26 sống dưới 14 năm, 66 người sống từ 15 đến 64 tuổi, 8 người sống trên 65 tuổi. Bạn thật may mắn khi đã sống trên 65 tuổi.

KẾT LUẬN:

Nếu bạn có nhà riêng của mình,

Ăn đầy đủ các bữa và uống nước sạch,

Có điện thoại di động,

Có thể lướt internet,

Bạn đang ở trong một lô đặc quyền nhỏ (trong danh mục chỉ dưới 7% nhân loại được hưởng.)

Trong số 100 người trên thế giới, chỉ 8 người có thể sống hoặc vượt quá 65 tuổi. Nếu bạn trên 65 tuổi, Hãy bằng lòng và biết ơn. Bạn đã là người có phúc giữa nhân loại.

HÃY CHĂM SÓC  SỨC KHỎE  CỦA CHÍNH MÌNH  THẬT TỐT  vì không ai quan tâm tới bạn hơn chính bạn. Có biết chưa!

Kaycee

(Nguồn sưu tầm)

(FB Chánh Bùi )


 

Rồi sẽ đến lúc…

 NHỮNG BÀI POST HAY.

Rồi sẽ đến lúc, ta chẳng còn thiết tha tranh cãi đúng sai, hơn thua thiệt hơn với ai. Ta nhận ra, phần lớn những chuyện từng khiến ta mất ăn mất ngủ, thật ra chẳng còn quan trọng nữa khi tóc đã ngả màu sương.

Rồi sẽ đến lúc, ta không còn bận lòng việc con cháu có nhớ lời mình dặn, có sống như mình mong. Ta hiểu rằng mỗi thế hệ có một cách đi riêng, và việc của ta là quan sát bằng sự bao dung, chứ không phải kiểm soát bằng lo lắng.

Rồi sẽ đến lúc, điều quý nhất ta mong mỗi sáng là đôi chân còn vững, đôi tay còn đủ sức cầm chiếc chén ăn cơm. Ta không cần nhà cửa bóng loáng, chỉ cần lòng bình yên và không làm phiền ai quá lâu nếu một mai chẳng còn thức dậy.

Rồi sẽ đến lúc, ta cầu mong sự ra đi nhẹ nhàng, như một chiếc lá rơi xuống mà không làm xáo động mặt đất. Không vì ta không yêu cuộc đời, mà bởi ta thương con cháu đủ nhiều để không muốn trở thành gánh nặng dù chỉ một ngày.

Rồi sẽ đến lúc, ta sống ít để tâm đến việc người khác đối xử với ta thế nào, mà quan trọng hơn là ta đối diện với mình ra sao. Càng sống lâu, ta càng tin: điều quý nhất trong đời người không phải là sở hữu thật nhiều, mà là rời đi thanh thản.

Bởi đến cuối cùng, ai cũng đi qua tuổi trẻ dữ dội để đến một đoạn đường mà điều duy nhất người ta mong cầu, chỉ là… được sống những ngày còn lại thật nhẹ nhàng.


 

Vì sao trong chế độ Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa (1955-1975) tình trạng tham nhũng rất ít xảy ra

Vì sao trong chế độ Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa (1955-1975) tình trạng tham nhũng rất ít xảy ra, nếu có cũng không đáng kể (so với thời cộng sản bây giờ)

1- Được học hành, giáo dục đàng hoàng, căn bản

2- Các Bộ Trưởng được chọn lọc cẩn thận có bằng cấp cao, có thực tài.

3- Sống trong gia đình giàu có sẵn

4- Lương bổng cao không cần phải tham nhũng, hối lộ- vẫn dư dã, đủ tiền nuôi gia đình vợ con

5- Có báo chí tự do, có đảng phái đối lập. Nếu tham nhũng hối lộ sợ báo chí, đối lập phanh phui.

6- Cơ chế tổ chức công quyền, hành pháp không dám làm bậy vì có toà án, dân biểu đối lập

7- Có cơ chế các cơ quan công quyền kiểm soát lẫn nhau.

8- Còn nhiều nữa xin thêm….


 

IRAN TÊ LIỆT: KHI ĐÁM ĐÔNG KHÔNG CÒN SỢ VÀ NHÀ NƯỚC MẤT ĐỘC QUYỀN KIỂM SOÁT

Chau Trieu is with Can Pham

Những gì đang diễn ra ở Iran hôm nay được mô tả là “biểu tình”, nhưng dưới lăng kính thuyết âm mưu quyền lực, đó giống một khoảnh khắc đứt gãy hệ thống hơn là phản kháng thông thường. Khi người biểu tình xông vào trụ sở chính quyền, khi nhiều thành phố rơi vào tay đám đông, vấn đề không còn là giá xăng, lạm phát hay đạo luật cụ thể. Vấn đề là: nỗi sợ đã biến mất.

Trong các chế độ kiểm soát cứng, quyền lực không dựa chủ yếu vào pháp luật, mà dựa vào tâm lý: khiến đa số tin rằng phản kháng là vô ích và nguy hiểm. Khi tâm lý đó sụp đổ, bộ máy, dù còn quân đội, cảnh sát, vũ khí, cũng bắt đầu tê liệt. Iran hôm nay cho thấy dấu hiệu của giai đoạn này: lực lượng an ninh không còn hiện diện khắp nơi, phản ứng chậm, hoặc đứng ngoài quan sát.

Theo giới phân tích, đây không hẳn là một cuộc nổi dậy “tự phát”.

Nó có thể là kết quả của khủng hoảng tích tụ: kinh tế bị siết bởi trừng phạt, đấu đá nội bộ giữa các phe quyền lực, và đặc biệt là sự rạn nứt trong tầng tinh hoa, nơi một số nhóm không còn mặn mà bảo vệ hiện trạng. Khi thượng tầng không còn đồng thuận, hạ tầng xã hội sẽ bùng nổ.

Một giả thuyết khác cho rằng Iran đang bị đẩy vào “kịch bản mệt mỏi”: không cần đảo chính, không cần chiến tranh trực tiếp, chỉ cần để hệ thống tự nghẽn. Biểu tình lan rộng khiến hành chính tê liệt, kinh tế đình trệ, đồng tiền mất giá, và cuối cùng chính quyền buộc phải lựa chọn giữa đàn áp toàn diện (đầy rủi ro) hoặc nhượng bộ dây chuyền.

Điều đáng chú ý là cách đám đông hành động: không chỉ hô khẩu hiệu, mà chiếm không gian quyền lực. Trụ sở chính quyền, quảng trường, cơ quan hành chính,  đó là biểu tượng. Khi biểu tượng bị chiếm, tính chính danh bị khoét rỗng.

Lịch sử cho thấy, chế độ không sụp đổ vào lúc còn mạnh nhất, mà vào lúc không còn dám dùng hết sức mạnh. Iran hôm nay có thể chưa đến hồi kết, nhưng rõ ràng đã bước vào vùng nguy hiểm: nơi một sự kiện nhỏ cũng có thể kích hoạt hiệu ứng domino. Và khi đám đông đã nếm cảm giác “không còn gì để mất”, không một bộ máy an ninh nào có thể kiểm soát hoàn toàn bằng mệnh lệnh.

Chân dung lãnh đạo


 

Vấn đề tự tử – Tác giả: Phùng Văn Phụng    

Tác giả: Phùng Văn Phụng    

Được tin một người bà con ở Việt Nam đã tự tử ở tuổi 81 (sinh năm 1944) ở Cần Giuộc, thứ năm ngày 4 tháng 12 năm 2025 làm lễ cầu siêu và hoả táng. Chị làm ăn được, chị buôn bán, chị thuộc thành phần khá giả trong làng. Chị có nhà cửa khang trang.   

Chị không thiếu thốn về tiền bạc. Nhưng tại sao chị lại tự tử.?

Chị tự tử bằng cách uống nhiều thuốc cảm và thuốc ngủ?, chị phải nằm nhà thương để điều trị hơn ba tuần lễ, nhưng bác sĩ không thể kéo chị ra khỏi tay tử thần.

Xung đột trong gia đình sinh ra quẩn trí đưa đến tự tử. Xin cầu nguyện cho linh hồn người đã mất.                                                                               

 *****

-Chị đang có vài thứ bịnh của tuổi già tuy nhiên điều quan trọng nhất đưa đến chị quyết định quyên sinh không phải là do các bịnh trên mà là vì do chị xung đột với con cái trong nhà, nên sinh ra cô đơn, buồn chán. Hơn nữa, chị cũng không có bạn bè thân để tâm sự?

Trầm cảm, buồn chán, bất mãn, dễ suy nghĩ tiêu cực, dễ đưa đến sự quyên sinh.

Khi gặp khó khăn về tinh thần hay đau đớn về thể xác, muốn có được tâm hồn bình an, có suy nghĩ tích cực, không phải ai cũng làm được. Cần phải có ơn Chúa, mới biết dâng lên Chúa những khó khăn đó, để cầu nguyện cho mình và cho người khác.

Nếu có đau đớn về bịnh hoạn hay đau khổ về tinh thần do bất như ý, con cháu làm phiền, sẽ biết dâng lên Chúa những khó khăn đó, để chia sẻ thông phần đau khổ của Chúa chịu tử nạn.  

Cha Chu Quang Minh có nhắc đến vấn đề tự tử: “Khi đang tự tử, nếu có tiếng động làm cho họ giật mình như con mèo chạy ngang qua hay có vật gì rớt xuống gây tiếng động, người muốn tự tử đó có thể sẽ tỉnh lại ngay và không muốn tự tử nữa”.

*****

Năm 1982 có người bạn tù, cấp bậc đai úy, ở K4 Vĩnh Phú, sắp được cho về vì có hồ sơ mỏng, nhưng đã tự tử chết. Tôi thuộc diện hồ sơ mỏng nên được thả về đầu năm 1983. Ai có hồ sơ dày di chuyển đi vào Nam ở tù thêm mấy năm nữa.

Tự tử là do stress mà ra, mất niềm tin không có cách nào giải quyết?

Stress cũng có nhiều nguyên nhân:Nghèo đói, thất nghiệp, thi rớt, thất tình (người yêu bỏ).

Tức giận người thân trong gia đình, không chịu đựng được những lời nói chê bai khinh khi, chỉ trích, xem thường của người thân (vợ chồng hay cha con)

Tin tức về tự tử thường xảy ra cho các em vị thành niên hay tuổi dưới 30. Lần này 81, 81 tuổi mới là vấn đề làm cho ta suy nghĩ?

1)Học sinh tự tử vì áp lực học tập

Theo nguồn tin từ VOV.VN , ngày11/07/2025, Đầu tháng 3 vừa qua, Khoa Sức khỏe Tâm thần – Bệnh viện E Trung ương tiếp nhận một bệnh nhân là nữ sinh 14 tuổi trong tình trạng suy nhược tinh thần nghiêm trọng. Em có biểu hiện suy giảm trí nhớ, khó tập trung, thường xuyên chán nản, tự trách bản thân và xuất hiện hành vi tự hại.

Qua quá trình thăm khám và trò chuyện, bệnh nhân cho biết, em chịu áp lực lớn vì phải giữ vị trí đứng đầu lớp trong thời gian dài. Điều này khiến em căng thẳng kéo dài, mất ngủ và dần rơi vào trạng thái chán nản.

Kết quả chẩn đoán của bác sĩ xác định, nữ sinh mắc hội chứng trầm cảm với ý tưởng tự sát, bắt nguồn từ những sang chấn tâm lý nghiêm trọng.

2)Tỷ lệ tự sát trong thanh thiếu niên ngày càng gia tăng

Thống kê, nếu như năm 2003, tỷ lệ có ý định tự sát trong thanh thiếu niên từ 14 – 25 tuổi là 3,4%, thì đến năm 2010 đã tăng lên 4,1%. Điều tra mới nhất do Viện Sức khoẻ tâm thần (Bệnh viện Bạch Mai) đưa ra năm 2020 cho thấy, trong số 6.407 học sinh ở lứa tuổi 11 – 17, có 11% cho biết có ý tưởng tự sát trong vòng 1 năm qua.

3)Vấn đề tự tử ở giới trẻ

“Áp lực học hành, bạo lực gia đình, lời nói của mọi người xung quanh v.v…”. Những lý do trên sẽ khiến trẻ bị rối loạn tâm lý, rồi từ từ ăn mòn lý trí.

Một ví dụ tiêu biểu chính là vụ án nam sinh cấp 3 nhảy từ tầng 28 chung cư xuống đất. Vào lúc 4 giờ 15 phút rạng sáng, công an đã phát hiện thi thể của một nam sinh lớp 10 ở trước chung cư Văn Phú Victoria. Cậu học sinh đã ra ban công chung cư của mình và nhảy xuống ngay trước sự chứng kiến của ba mình.

Chúng ta chỉ sống được một lần duy nhất trên đời. Nên hãy có ý chí và niềm tin mạnh mẽ về cuộc sống. Em thấy “trào lưu” tự tử ở giới trẻ là một mối đe dọa lớn cho xã hội cần phải được trừ khử và cải thiện không chỉ vì những đứa trẻ ở Việt Nam mà là ở khắp nơi trên thế giới. Chúng ta có nhiệm vụ bảo vệ nụ cười của giới trẻ vì một tương lai tươi sáng.

4)Căng thẳng tâm lý và hành vi tự sát

Trên thế giới, cứ mỗi 40 giây lại có một người tự sát. Theo tổ chức y tế thế giới WHO, mỗi năm có khoảng 10 đến 20 triệu trường hợp tự sát, trong đó có khoảng một triệu người chết. Việt Nam có khoảng 36.000 đến 40.000 người tự sát mỗi năm, trong đó 5.000 người chết do bệnh lý trầm cảm dẫn đến hành vi tự sát.

5)Những con số về thực trạng tự tử

*Tại Việt Nam, theo thống kê của WHO được trích và đăng tải trên Bệnh viện Tâm thần Trung ương, tỷ lệ tử tự năm 2015 là 5.87% trên 100.000 dân, có nghĩa là cứ trong 100.000 người sẽ có khoảng 5.870 người tử vong vì tự tử.

*Theo báo cáo của Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc – UNICEF, hàng năm, trên thế giới có trên 800.000 người chết vì tự tử. Trong đó khu vực Đông Nam Á chiếm tỷ lệ cao nhất, với gần 40% tổng số vụ tự tử (WHO, 2016)       

Kết: Tự tử thông thường do cô đơn không có người để tâm sự. Họ thường là con người cầu toàn. Họ dễ bất mãn vì người thân không làm theo ý mình từ đó sinh ra bực dọc, khó chịu, sinh ra tress, ngủ không được và sinh ra quẩn trí, buồn chán, bất mãn, không còn tha thiết đến cuộc sống nữa và đưa đến việc tự tử.

-Trong cuốn sách “Truyện Một Tâm Hồn” trang 311, Thánh nữ Têrêsa viết: “Một chị kia hồ nghi lòng nhẫn nại chịu khó của Têrêsa, vào thăm thấy dung nhan thánh nữ tươi tỉnh niềm nở lạ lùng, chị muốn biết duyên cớ vì sao. Trinh nữ đã trả lời: “Em vui vẻ vì trong mình đang phải đau đớn lắm, em vẫn phải cố gắng yêu quí sự đau khổ và tiếp nhận đau khổ cách niềm nở tươi tỉnh”.

Linh mục Paul O’ Sullivan, O.P. có viết:“Những đau khổ sẽ cứu chúng ta khỏi những cực hình ghê rợn trong luyện ngục. Đau khổ nếu chịu cho nên, sẽ làm cho chúng ta trở nên những vị thánh.

Tác giả: Phùng Văn Phụng             

(tháng 12 năm 2025)