Đức Giáo Hoàng Leo XIV vác đường thánh giá , trao gửi bài học về quyền lực

Đức Giáo Hoàng Leo XIV vác đường thánh giá , trao gửi bài học về quyền lực

Elise Ann Allen  /  Apr 4, 2026

 https://cruxnow.com/…/pope-leo-xiv-walks-the-way-of-the…

Đức Giáo hoàng Leo XIV đã chủ trì nghi thức sùng kính Đàng Thánh Giá truyền thống vào ngày Thứ Sáu Tuần Thánh; chính Ngài đã tự mình vác Thánh Giá suốt cả chặng đường tại Đấu trường Colosseum ở Rome,trong khi những lời suy niệm liên tục được cất lên, phản ảnh về ý nghĩa của quyền lực đích thực—thứ quyền lực bắt nguồn từ sự khiêm nhường và tinh thần phục vụ, chứ không phải từ vũ lực hay sự thống trị.

 Bài suy niệm tại chặng thứ nhất—trong số mười bốn chặng của nghi thức Đàng Thánh Giá truyền thống mùa Chay—đã khẳng định rằng, trong khoảnh khắc bị kết án tử hình, Chúa Giêsu đã “vạch trần mọi sự ngạo mạn của con người về quyền lực.”

 “Ngay cả trong thời đại ngày nay, vẫn có những kẻ tin rằng quyền bính của họ là vô hạn, và cho rằng họ có thể sử dụng hay lạm dụng quyền lực ấy theo ý thích của riêng mình,” bài suy niệm viết; đồng thời dẫn chiếu đến Thánh Phanxicô Assisi như một lời nhắc nhở rằng: “mọi người nắm giữ quyền bính đều sẽ phải chịu trách nhiệm trước Thiên Chúa về cách thức mà họ thực thi quyền lực của mình.”

 Bài suy niệm chỉ rõ rằng quyền lực này bao gồm: “quyền phán xét; quyền khởi xướng hoặc chấm dứt chiến tranh; quyền gieo rắc bạo lực hay kiến ​​tạo hòa bình; quyền khơi dậy lòng thù hận hay thúc đẩy sự hòa giải; quyền sử dụng nền kinh tế để áp bức con người hay giải phóng họ khỏi cảnh lầm than; quyền chà đạp lên phẩm giá con người hay tôn vinh phẩm giá ấy; và quyền cổ võ, bảo vệ sự sống, hay khước từ và hủy diệt sự sống.”

 Tương tự như vậy, Thiên Chúa mời gọi mỗi người chúng ta phải đối mặt trả lời về thứ quyền lực mà ta thực thi trong đời sống thường nhật—bài suy niệm nhấn mạnh; đồng thời trích dẫn lời Chúa Giêsu trong Kinh Thánh: “Hãy sử dụng cách hữu ích quyền lực đã được trao ban cho các con; và hãy ghi nhớ rằng: bất cứ điều gì các con làm cho một con người khác—đặc biệt là những kẻ bé nhỏ và yếu thế—thì chính là các con đang làm cho Ta. Và chính trước mặt Ta, một ngày nào đó, các con sẽ phải biện bạch khi bị phán xét.”

 Bài suy niệm khép lại bằng một lời cầu nguyện, xin Chúa Giêsu nhắc nhở nhân loại rằng Ngài luôn đồng hóa chính mình với “mọi con người đang phải chịu sự phán xét”; và xin cho các Kitô hữu đừng để mình bị dẫn dắt bởi những định kiến, mà thay vào đó hãy nhận thức sâu sắc rằng: “quyền lực đích thực nằm nơi tình yêu thương; rằng lòng thương xót luôn chiến thắng sự phán xét; và rằng điều thiện hảo phải luôn được lựa chọn, ngay cả khi việc lựa chọn ấy đòi hỏi một sự hy sinh đắt giá.”

 Vị Giáo hoàng cuối cùng đã tự mình vác Thánh Giá suốt trọn vẹn mười bốn chặng của cuộc rước truyền thống này là Đức Giáo hoàng Thánh Gioan Phaolô II; Ngài đã thực hiện điều đó liên tục từ năm 1979 đến năm 1994, trước khi bắt đầu chỉ vác Thánh Giá trong một số chặng nhất định của nghi thức này kể từ năm 1995.

 Cả Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI lẫn Đức Giáo hoàng Phanxicô đều đã đảm nhận việc vác Thánh Giá trong một số chặng của cuộc rước này suốt thời gian trị vì của các Ngài, cho đến khi tuổi cao sức yếu và tình trạng sức khỏe suy giảm không còn cho phép các Ngài tiếp tục thực hiện điều đó nữa.

Năm nay đánh dấu lần đầu tiên trong suốt ba thập kỷ, một vị Giáo hoàng tự mình vác Thánh giá trong trọn vẹn cuộc rước.

 Các bài suy niệm cho nghi thức Via Crucis năm nay được soạn thảo bởi Linh mục dòng Phanxicô Francesco Patton—cựu Giám quản Thánh Địa—và tập trung làm nổi bật sự khác biệt giữa quyền lực nhân thế và quyền lực thiêng liêng; qua đó đối lập lòng khao khát thống trị của con người với sự khiêm hạ, tinh thần phục vụ và lòng hy sinh quên mình của Chúa Giêsu. 

Lưu ý rằng năm nay đánh dấu kỷ niệm 800 năm ngày mất của Thánh Phanxicô Assisi, linh mục Patton phát biểu rằng lời cầu nguyện này không chỉ dành cho những người sùng đạo hay những ai tìm kiếm sự tĩnh lặng để suy ngẫm, mà còn là một minh chứng cho thấy đức tin, đức cậy và đức mến cần phải được lan tỏa giữa một thế giới đầy hỗn loạn và ồn ào. 

Trong những lời suy niệm của mình, linh mục Patton nhấn mạnh sự khiêm hạ của Chúa Giêsu – không chỉ ở việc Ngài không hề sợ hãi khi đón nhận cây thập giá, mà còn ở việc Ngài đã ngã xuống đất. 

“Dù là Thiên Chúa, Ngài đã trút bỏ vinh quang của mình để trở thành con người. Dù vốn giàu sang, Ngài đã trở nên nghèo khó,” ông nói, đồng thời cầu xin Thiên Chúa giúp các Kitô hữu “lựa chọn một cuộc sống phục vụ khiêm hạ, thay vì chạy theo sự nổi danh và quyền lực thống trị.” 

Khi suy ngẫm về cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và Mẹ Maria, linh mục Patton bày tỏ nỗi xót xa rằng: cũng giống như Mẹ Maria – người đã tận mắt chứng kiến ​​con mình trút hơi thở cuối cùng – “có quá nhiều người mẹ… đang phải chứng kiến ​​cảnh con cái mình bị bắt bớ, tra tấn, kết án và sát hại.” 

“Xin ban cho chúng con một trái tim của người mẹ, để chúng con biết thấu hiểu và sẻ chia những nỗi đau khổ của tha nhân; và nhờ đó, chúng con cũng học được ý nghĩa đích thực của tình yêu thương,” ông cầu nguyện. 

Khi suy ngẫm về việc ông Simon người Cyrene đã giúp Chúa Giêsu vác thập giá, linh mục Patton đã cầu nguyện cho những tình nguyện viên đang trợ giúp những người gặp phải “tình cảnh vô cùng ngặt nghèo” – những người đang cung cấp lương thực, thuốc men, giáo dục “và cả công lý” cho những ai đang lâm vào hoàn cảnh khó khăn.

 Khi chiêm ngắm cử chỉ bà Veronica lau khuôn mặt Chúa Giêsu, linh mục Patton cầu xin cho các Kitô hữu ngày nay – cũng giống như bà Veronica xưa kia – biết cách lau đi khuôn mặt của Chúa Giêsu; một khuôn mặt “vẫn còn vương đầy bụi đất và máu huyết, vẫn còn bị biến dạng bởi mọi hành vi chà đạp lên phẩm giá con người.” 

Ông cầu nguyện xin Chúa Giêsu giúp nhân loại nhận ra hình ảnh của Ngài “nơi mỗi con người đang bị định kiến ​​kết án; nơi những người nghèo khổ đang bị tước đoạt phẩm giá; nơi những người phụ nữ đang là nạn nhân của nạn buôn người và nô dịch hóa; (và) nơi những trẻ thơ đang bị đánh cắp tuổi thơ và bị hủy hoại tương lai.” 

Nhấn mạnh sự khiêm hạ của Chúa Giêsu qua lần ngã xuống thứ hai, linh mục Patton chia sẻ rằng khi Chúa Giêsu chấp nhận để bản thân ngã xuống, Ngài làm điều đó “chính là để nâng chúng ta dậy sau những lần vấp ngã của chính mình.”

 “Ngài làm như vậy để nâng dậy những ai đang bị chà đạp xuống đất bởi sự bất công, bởi sự dối trá, bởi mọi hình thức bóc lột và bạo lực, và bởi nỗi khốn cùng do một nền kinh tế gây ra—một nền kinh tế chỉ tìm kiếm lợi nhuận cá nhân thay vì lợi ích chung,” ông nói. 

Linh mục Patton cũng nhấn mạnh sự gần gũi của Chúa Giêsu đối với nhân loại trong những lúc yếu đuối, khi nói rằng: “Không có sự sa ngã nào của chính chúng ta mà trong đó Ngài lại không ở bên cạnh chúng ta… Tình yêu, sự tha thứ và lòng thương xót của Ngài lớn lao vô cùng so với sự yếu đuối mỏng manh của chúng ta.”

 Tại Chặng thứ Tám—khi Chúa Giêsu gặp gỡ những người phụ nữ thành Giêrusalem—linh mục Patton đã đưa ra một bài suy niệm dài về vai trò của phụ nữ; ông lưu ý rằng phụ nữ luôn hiện diện “bất cứ nơi nào có sự đau khổ hoặc nhu cầu cần thiết,” cho dù đó là bệnh viện hay viện dưỡng lão, các trung tâm dành cho người khuyết tật, các cơ sở nuôi dưỡng trẻ mồ côi và trẻ cần sự bảo trợ, hay các trường học và phòng khám tại những vùng đất truyền giáo xa xôi hẻo lánh.

 Ông nói rằng phụ nữ thường là những người “chăm sóc những người bị thương và an ủi những người sống sót tại các vùng chiến sự và khu vực xung đột.” 

“Trong suốt nhiều thế kỷ qua, họ đã khóc thương cho chính bản thân mình và cho con cái của họ—những đứa trẻ bị bắt đi và giam cầm trong các cuộc biểu tình, bị trục xuất bởi những chính sách thiếu vắng lòng trắc ẩn, bị đắm tàu ​​trên những hành trình tìm kiếm hy vọng đầy tuyệt vọng, bị sát hại tại các vùng chiến sự, và bị thảm sát tại các trại tử thần,” ông chia sẻ. 

Ông cầu nguyện xin Chúa ban cho nhân loại một trái tim giàu lòng trắc ẩn và khả năng cảm thông với nỗi đau khổ của người khác, thay vì cứ mãi dửng dưng vô cảm. 

Tại chặng đường này, linh mục Patton cầu xin Chúa ban cho nhân loại hồng ân của những giọt nước mắt: “Để khóc thương sự tàn phá của chiến tranh; để khóc thương những cuộc thảm sát và diệt chủng; để khóc cùng những người mẹ và người vợ; để khóc thương sự hoài nghi và vô cảm của những kẻ nắm quyền; và để khóc thương chính sự dửng dưng của chúng ta.” 

Khi Chúa Giêsu bị lột bỏ y phục tại Chặng thứ Mười, linh mục Patton nhận định rằng hành động này là một nỗ lực “nhằm làm nhục” Ngài và tước đoạt phẩm giá của Ngài.

 “Sự xâm phạm này vẫn đang lặp đi lặp lại hết lần này đến lần khác ngay cả trong thời đại ngày nay: khi các chế độ độc tài buộc tù nhân phải ở trong tình trạng bán khỏa thân giữa những phòng giam trần trụi hoặc ngoài sân trại giam; khi những kẻ tra tấn không chỉ xé toạc y phục mà còn xé nát cả da thịt của nạn nhân; và khi các nhà chức trách cho phép những hình thức giám sát và xâm phạm đời tư, bất chấp mọi phẩm giá con người,” ông nói. Ông cũng cho biết, điều này lại tiếp diễn “khi những kẻ hiếp dâm và lạm dụng biến nạn nhân của mình thành những vật thể đơn thuần; khi ngành công nghiệp giải trí lợi dụng sự khỏa thân vì mục đích lợi nhuận; khi giới truyền thông phơi bày các cá nhân trước dư luận; và thậm chí ngay cả khi chính chúng ta—do sự tò mò của mình—đã không tôn trọng sự kín đáo, sự riêng tư và đời sống cá nhân của người khác.” 

Ông cầu nguyện rằng những ai không nhận ra phẩm giá của người khác và không đối xử với họ theo tình người những người này sẽ được nhắc nhở rằng, khi làm như vậy, “phẩm giá của chính chúng ta bị suy giảm” và “chính chúng ta trở nên kém nhân bản hơn.” 

Khi suy ngẫm về việc Chúa Giê-su bị đóng đinh trên thập tự giá, linh mục Patton nói rằng Người đã bị đối xử như một tên tội phạm nhưng lại được ban cho tước hiệu vương giả; qua đó, Người đã minh chứng cho “thế nào là quyền lực đích thực.” 

“Đó không phải là quyền lực của những kẻ tin rằng mình có thể định đoạt sinh mạng người khác bằng cách tước đi sự sống của họ; mà là quyền lực của những ai thực sự có thể chiến thắng cái chết bằng cách trao ban sự sống—và thậm chí có thể trao ban sự sống ngay cả khi chấp nhận cái chết,” ông phát biểu.

 Ông khẳng định rằng quyền lực đích thực không thuộc về những kẻ “sử dụng vũ lực và bạo tàn để áp đặt ý chí của mình lên người khác”; trái lại, quyền lực ấy thuộc về những ai “có khả năng gánh lấy những điều ác của nhân loại… và tiêu diệt chúng bằng sức mạnh của tình yêu thương—sức mạnh được biểu lộ qua sự tha thứ.” 

“Chúng ta không tìm đến thứ quyền lực giả tạo của các đạo quân, mà tìm đến sự bất lực tưởng chừng như hiển nhiên của tình yêu thương,” linh mục Patton nói. Ông cho rằng các Kitô hữu cũng cần phải “học cách tha thứ vì tình yêu thương, và học cách đón nhận những gian nan của cuộc đời trong sự bình an; bởi lẽ, thứ chiến thắng không phải là lòng khao khát quyền lực, mà chính là sức mạnh của tình yêu thương.”

 

Trong bài suy niệm tại Chặng thứ mười ba—chặng Chúa Giê-su được hạ xuống khỏi thập tự giá—linh mục Patton nhận định rằng hành động ấy là một biểu hiện của lòng trắc ẩn, đồng thời là sự thừa nhận phẩm giá con người nơi Chúa Giê-su. 

“Không bao giờ được phép để thi hài của con người bị bỏ mặc vô thừa nhận hoặc không được chôn cất tử tế. Những người mẹ, thân nhân và bạn hữu của những người bị kết án không bao giờ được buộc phải hạ mình quỳ lụy trước các nhà chức trách chỉ để xin nhận lại thi hài bầm dập của những người thân yêu,” ông nhấn mạnh. 

Ngay cả khi đã qua đời, thi hài con người vẫn giữ trọn phẩm giá của mình; do đó, “thi hài ấy không được phép bị xúc phạm, bị che giấu, bị hủy hoại, bị giữ lại hoặc bị từ chối quyền được chôn cất theo nghi thức xứng hợp,” ông nói, đồng thời khẳng định rằng nguyên tắc này cũng hoàn toàn đúng đối với cả những kẻ đã bị kết án hình sự.

 Ông cầu nguyện xin Chúa Giê-su dạy cho nhân loại biết sống với lòng trắc ẩn, để nhờ đó: “Chúng ta có thể cảm thấu nỗi đau khổ của những người tù; Chúng ta có thể đứng trong tình liên đới với các tù nhân chính trị; Chúng ta có thể thấu hiểu nỗi thống khổ của thân nhân các con tin; Chúng ta có thể khóc thương cho những ai đã bỏ mình dưới đống đổ nát; Và chúng ta có thể bày tỏ lòng tôn kính đối với tất cả những người đã khuất.” Các bài suy niệm khép lại bằng lời tạ ơn Chúa Giê-su khi suy ngẫm về Chặng thứ mười bốn — lúc Chúa Giê-su được đặt vào mộ — vì Ngài đã “ban cho chúng ta một nền tảng vững chắc cho niềm hy vọng về sự sống đời đời.”

 Elise Ann Allen  /  Apr 4, 2026

 *****

Pope Leo XIV led the traditional Via Crucis devotion on Good Friday, carrying the cross himself the whole way at the Colosseum in Rome, as a running reflection was offered on the meaning of real power as rooted in humility and service, rather than force or dominance.

The meditation for the first station of the fourteen stations of the traditional Lenten Way of the Cross said that Jesus in his condemnation to death “unmasked every human presumption of power.”

“Even today, there are those who believe their authority is limitless, thinking they may use or abuse it at their whim,” it said, pointing to Saint Francis of Assisi as a reminder that “every person in authority will have to answer to God for the way they exercise their power.”

This power, it said, includes “the power to judge; the power to start or end a war; the power to instill violence or peace; the power to fuel the desire for revenge or for reconciliation; the power to use the economy to oppress people or to liberate them from misery; the power to trample on human dignity or to uphold it; and the power to promote and defend life, or reject and stifle it.”

Likewise, each person is asked by God to give an account for the power they exercise in their daily lives, the meditation said, quoting Jesus in scripture, who said, “Make good use of the power given to you, and remember that whatever you do to another human being, especially to the small and vulnerable, you do unto me. And it is to me that you will one day give an account.”

The meditation closed with a prayer that Jesus would remind humanity that he identifies with “every person who is judged,” and that Christians would not be guided by prejudice, realizing instead that “power consists in love: That mercy triumphs over judgment: That the good must be chosen even when it comes at a cost.”

The last pontiff to carry the Cross for the entire fourteen-station procession was Pope St. John Paul II, who did so from 1979 through 1994, and in 1995 began carrying the Cross only for portions of the devotion.

Both Benedict XVI and Francis led portions of the procession during their pontificates, until frailty and ill health prevented them. This year was the first time in three decades that a pope carried the Cross for the entire procession.

Meditations for this year’s Via Crucis were written by Franciscan Father Francesco Patton, former Custos of the Holy Land, and focused on the distinction between human and divine power, contrasting humanity’s lust for dominance with Jesus’s humility and sense of service and self-sacrifice.

Noting that this year marks the 800th anniversary of St. Francis of Assisi’s death, Patton said the prayer is not just for the pious and those looking for quiet reflection, but is a demonstration that faith, hope and charity must be conveyed in a chaotic and noisy world.

In his meditations, Patton underlined Jesus’s humility, in being unafraid to embrace the cross, but also in falling to the ground.

“Though you are God, you divested yourself of your glory to become man. Rich as you were, you became poor,” he said, asking God to help Christians “choose a life of humble service rather than seeking prominence and dominance.”

Reflecting on Jesus’s encounter with his mother Mary, Patton lamented that, like Mary who watched her son die, “too many mothers…see their children arrested, tortured, condemned and killed.”

“Grant us a maternal heart, that we may understand and share in the suffering of others, and learn, in this way too, what it truly means to love,” he said.

Patton prayed, in reflecting on Simon of Cyrene helping Jesus carry his cross, for those who volunteers who assist people in “extreme situations,” providing food, medicine, education “and justice” to those in situations of difficulty.

Contemplating Veronica’s act of wiping Jesus’s face, Patton prayed that Christians today would, like Veronica, be also capable of wiping Jesus’s face, “still covered with dust and blood, still disfigured by every act that tramples upon the dignity of the human person.”

He prayed that Jesus would help humanity recognize his image “in every person condemned by prejudice; In the poor deprived of their dignity; In women who are victims of trafficking and enslavement; (and) In children whose childhood has been stolen and whose future has been compromised.”

Highlighting Jesus’s humility by falling a second time, Patton said that when Jesus allowed himself to fall, he did so “in order to lift us up from our own falls.”

“You do so to raise up those who are crushed to the ground by injustice, by falsehood, by every form of exploitation and violence, and by the misery produced by an economy that seeks individual profit rather than the common good,” he said.

Patton also stressed Jesus’s closeness to humanity in times of weakness, saying, “there is no fall of our own in which you are not beside us…Your love, forgiveness and mercy are infinitely greater than our frailty.”

During the eighth station, when Jesus meets the women of Jerusalem, Patton offered a lengthy reflection on the role of women, noting that women are present “wherever there is suffering or need,” whether it be a hospital or nursing home, centers for the disabled, foster care and orphanages, and schools and clinics in remote mission lands.

Women, he said, are often the ones “tending to the wounded and comforting survivors in war zones and areas of conflict.”

“For centuries, they have wept for themselves and for their children, children taken away and imprisoned during protests, deported by policies devoid of compassion, shipwrecked on desperate journeys of hope, killed in war zones, and wiped out in death camps,” he said.

He prayed that God would give humanity a compassionate heart and the ability to be sympathetic to the suffering of others, rather than remaining indifferent.

In that station Patton prayed that God would give humanity the gift of tears, “To weep over the devastation of war; To weep for massacres and genocides; To weep with mothers and wives; To weep over the cynicism of the powerful; To weep over our own indifference.”

When Jesus is stripped of his garments in the tenth station, Patton said this act was an attempt “to humiliate” him and strip him of his dignity.

“This violation is repeated time and again even today: when authoritarian regimes force prisoners to remain half-naked in bare cells or courtyards; when torturers tear away not only clothing but also skin and flesh; when authorities permit forms of surveillance and intrusion that disregard human dignity,” he said.

It is also repeated, he said, “when rapists and abusers reduce their victims to mere objects; when the entertainment industry exploits nudity for the sake of profit; when the media exposes individuals to public opinion; and even when we ourselves, through our curiosity, fail to respect the modesty, intimacy and privacy of others.”

He prayed that those who fail to recognize the dignity of others and treat them humanly would be reminded that in doing so, “our own dignity is diminished” and “we ourselves become less human.”

Reflecting on Jesus being nailed to the cross, Patton said he was treated like a criminal but given the title of royalty, thus demonstrating “what true power is.”

“Not the power of those who believe they can dispose of the lives of others by putting them to death, but the power of those who can truly conquer death by giving life, and who can give life even by accepting death,” he said.

True power, he said, is not that of those “who use force and violence to impose themselves,” but it is father “that of those who are capable of taking upon themselves the evil of humanity…and destroying it with the power of love that is manifest in forgiveness.”

“You do not resort to the supposed power of armies, but to the apparent powerlessness of love,” Patton said, saying if Christians must also “learn to forgive for love of you and to bear the difficulties of life in peace, because it is not love of power that conquers, but the power of love.”

Patton in the meditation for the thirteenth station, when Jesus is taken down from the cross, said the act is one compassion and is a recognition of Jesus’s human dignity.

“There should never be bodies left unclaimed or unburied. Mothers, relatives and friends of the condemned should never be forced to abase themselves before authorities in order to recover the battered remains of their loved ones,” he said.

Even in death, the body retains its dignity and therefore “must not be desecrated, hidden, destroyed, withheld or denied a proper burial,” he said, saying this is also true of convicted criminals.

He prayed that Jesus would teach humanity to have compassion so that “we may feel the suffering of prisoners; That we may stand in solidarity with political prisoners; That we may understand the anguish of the families of hostages; That we may mourn those who have died beneath the rubble; That we may show respect for all the dead.”

The meditations closed with a word of thanks to Jesus in reflecting on the fourteenth station, when Jesus is laid in the tomb, for having “bestowed upon us a firm foundation for our hope of eternal life.”

 Elise Ann Allen 

Apr 4, 2026

 From: taberd & NguyenNThu


 

MỘT LẦN QUAY KHÁC-Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

“Bà quay lại và thấy Đức Giêsu đứng đó, nhưng bà không biết là Đức Giêsu”.

“Đức Giêsu được thấy; nhưng chưa được nhận biết!” – Origen.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho biết, Maria thấy; nhưng không nhận ra. Không phải vì cô thiếu ánh sáng; nhưng vì việc nhận ra không đến từ cái nhìn, mà từ một tương quan. Cùng một cử chỉ quay lại; nhưng không cùng một nhận thức – vì thế, cần ‘một lần quay khác!’.

Thật thú vị, trong bản văn Gioan, convertere – “quay lại” – được nhắc đến hai lần nhưng không cùng một chuyển động: “conversa est” và “conversa” – Maria quay lại và lại quay. Lần thứ nhất, cô quay nhưng không nhận ra; lần thứ hai, cô quay và nhận ra. Không phải vì thay đổi vị trí; nhưng vì thay đổi tương quan. Với Gioan, nhận ra không đến từ cái nhìn; nhưng từ một hiện diện được mở ra. Đó cũng là kinh nghiệm của chúng ta: có những lần chúng ta đã quay; nhưng vẫn ở lại trong cách hiểu cũ, trong những mất mát… chỉ vì thiếu một cách quay khác – ‘một lần quay khác’ về một Đấng rất gần. “Thiên Chúa gần tôi hơn chính tôi!” – Augustinô.

Maria không nhận ra, không phải vì thiếu dữ kiện; nhưng vì đặt sai câu hỏi. Cô tưởng Chúa Giêsu là người làm vườn. Một chi tiết nhỏ; nhưng không vô nghĩa: khu vườn là nơi của sự sống, không phải nghĩa địa của cái chết. Nhưng trước mắt cô vẫn chỉ là một ngôi mộ; và cô hỏi: “Ông để Người ở đâu?” – một câu hỏi về một xác chết có thể bị di chuyển. Maria không hoàn toàn sai; nhưng vẫn chưa đủ để nhận ra Thầy. Như Đức Phanxicô nhắc, khi đánh mất khu vườn, con người đánh mất chính mình! Khi câu hỏi sai, mọi câu trả lời đều trượt. Vì thế, không phải chỉ cần quay; còn phải bỏ đi câu hỏi sai.

May thay – “Maria!”. Không phải một dữ kiện mới; nhưng là một lời gọi. Không thêm điều gì vào điều cô đã thấy; nhưng đặt cô lại trong một hiện diện. Với Gioan, nhận biết không đến từ việc biết thêm; nhưng từ việc được gọi đúng chỗ của mình; không phải đổi cảnh; nhưng đổi vị trí của mình trước Chúa. Ngài gọi tên từng con chiên. Vì thế, không phải sửa lại câu hỏi; nhưng là được gọi trở lại. Nhận ra không bắt đầu từ mắt; nhưng từ một tiếng gọi chạm tới chính mình – từ đó, ‘một lần quay khác’ thay đổi mọi sự. “Tình yêu tự nó là nhận biết!” – Grêgôriô Cả.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, quay lại là quay về với Cha. Không theo Satan nơi hoang địa; không chiều nó để gieo mình từ nóc đền thờ; cũng không nán lại để được tôn làm vua. Ngài không quay theo điều dễ; nhưng theo ý Đấng sai mình. Và chính trong lần quay cuối cùng lên núi Sọ, ơn cứu độ nở hoa. Từ đó, lần quay của Ngài trở thành con đường. Với chúng ta, quay về; quay nhiều; nhưng vẫn giữ lại những tính toán cũ, những vết thương chưa chịu buông. Vì thế, vẫn ở lại chốn xưa. Chỉ khi dám quay như Chúa Giêsu – không theo điều thuận, nhưng theo Cha – thì lần quay của chúng ta mới thành lối. “Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng, và chúng theo tôi!” – Ga 10, 27.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con nhận ra tiếng Chúa giữa bao tiếng khác; thuộc về Chúa giữa những điều khác; và khi lạc hướng, cho con biết quay về!”, Amen.

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

*******************************************************

Lời Chúa Thứ Ba Tuần Bát Nhật Phục Sinh

Tôi đã thấy Chúa, và Người đã nói với tôi.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.      Ga 20,11-18

11 Khi ấy, bà Ma-ri-a Mác-đa-la đứng ở ngoài, gần bên mộ, mà khóc. Bà vừa khóc vừa cúi xuống nhìn vào trong mộ, 12 thì thấy hai thiên thần mặc áo trắng ngồi ở nơi đã đặt thi hài của Đức Giê-su, một vị ở phía đầu, một vị ở phía chân. 13 Thiên thần hỏi bà : “Này bà, sao bà khóc ?” Bà thưa : “Người ta đã lấy mất Chúa tôi rồi, và tôi không biết họ để Người ở đâu !” 14 Nói xong, bà quay lại và thấy Đức Giê-su đứng đó, nhưng bà không biết là Đức Giê-su. 15 Đức Giê-su nói với bà : “Này bà, sao bà khóc ? Bà tìm ai ?” Bà Ma-ri-a tưởng là người làm vườn, liền nói : “Thưa ông, nếu ông đã đem Người đi, thì xin nói cho tôi biết ông để Người ở đâu, tôi sẽ đem Người về.” 16 Đức Giê-su gọi bà : “Ma-ri-a !” Bà quay lại và nói bằng tiếng Híp-ri : “Ráp-bu-ni !” (nghĩa là ‘Lạy Thầy’). 17 Đức Giê-su bảo : “Thôi, đừng giữ Thầy lại, vì Thầy chưa lên cùng Chúa Cha. Nhưng hãy đi gặp anh em Thầy và bảo họ : ‘Thầy lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em, lên cùng Thiên Chúa của Thầy, cũng là Thiên Chúa của anh em’.” 18 Bà Ma-ri-a Mác-đa-la đi báo cho các môn đệ : “Tôi đã thấy Chúa”, và bà kể lại những điều Người đã nói với bà. 


 

Nguyễn Hưng Quốc -TỰ DO

Nguyễn Hưng Quốc

 TỰ DO

Muốn được tự do, người ta cần phải, thứ nhất, biết yêu quý tự do của mình, sẵn sàng bảo vệ nó, đồng thời phải biết cả những giới hạn của quyền tự do mà mình có. Thứ hai, biết tôn trọng tự do của người khác, sẵn sàng tranh đấu cho tự do của người khác đồng thời, cũng sẵn sàng tranh đấu nếu người khác vượt quá giới hạn, lấn sang không gian tự do của mình hoặc của những người chung quanh.

Tự do không được cho không, đã đành. Tự do còn là một văn hoá: người ta cần được giáo dục và rèn luyện để biết cách sống như một người tự do. Thiếu cái văn hoá ấy, tự do sẽ biến thành hỗn loạn ngay. Đó là một trong những điều tôi nghĩ là đáng lo nhất cho tiền đồ tự do và dân chủ ở Việt Nam.

Phần tôi, may mắn sinh sống trong một quốc gia tự do, tôi muốn tận dụng sự tự do ấy trong công việc viết lách. Viết không phải chỉ để tôn vinh sự tự do của mình mà còn góp phần tranh đấu cho tự do của người khác, kém may mắn hơn, sống trong một nước độc tài. Công việc viết lách như vậy không làm chính quyền hài lòng. Hậu quả là tôi bị cấm nhập cảnh. Nhưng tôi vẫn tiếp tục làm một ngòi bút tự do.


 

Những người không thể đụng tới – Vũ Văn An

Vũ Văn An

31/Mar/2026

Randall Smith, trong bản tin Thứ Ba, ngày 31 tháng 3 năm 2026 của tạp chí The Catholic Thing, nhận định rằng: Chúng ta tự hào rằng ở Mỹ không có “hệ thống đẳng cấp”, với các đẳng cấp cao hơn và thấp hơn, và những người ở tầng dưới cùng được gọi là “những người không thể đụng tới [untouchable]”. Tuy nhiên, đôi khi tôi tự hỏi liệu chúng ta có điều gì tương tự trong cách chúng ta phân biệt “giới tinh hoa” với “những người bị khinh miệt” hay không. Còn về “những người không thể đụng tới”, hãy thử đến một cuộc mít tinh “Không phải là Vua” và nói, “Tôi thích một số điều Trump làm”, và bạn sẽ nhanh chóng hiểu cảm giác của những người bị bệnh phong vào thời Chúa Giê-su.

Mỗi phe trong sự chia rẽ chính trị đều tạo ra “kẻ thù” mà họ căm ghét. Nhưng một nhóm người thực sự trở thành “những người không thể đụng tới” trong xã hội chúng ta chính là những người già yếu đuối. Thay vì tôn trọng người già, xu hướng của chúng ta là nhốt họ vào các viện dưỡng lão để giữ họ khuất mắt và khỏi tâm trí.

Xin đừng hiểu lầm tôi. Nhiều người sống trong các “nhà dưỡng lão” hoặc “cơ sở hỗ trợ sinh hoạt” được đưa đến đó vì lòng yêu thương và sự quan tâm dành cho họ, bởi vì họ không còn có thể sống một mình và cần sự chăm sóc y tế bổ sung mà các cơ sở này có thể cung cấp. Nhưng thực tế này vẫn đặt ra một số câu hỏi.

Tại sao rất nhiều người già của chúng ta lại sống một mình? Liệu chúng ta đã coi trọng “sự độc lập” theo những cách không có lợi cho sức khỏe và sự phát triển của con người khi về già? Tại sao lại nhốt người già trong các cơ sở riêng biệt thay vì cố gắng hòa nhập họ vào xã hội theo một cách mới, năng động hơn? Và cuối cùng, tại sao rất nhiều cơ sở dành cho người già lại tồi tệ đến vậy? Hiếm khi chúng tốt.

Một bài học mà bất cứ ai từng chăm sóc cha mẹ già cần được chăm sóc đặc biệt đều sớm nhận ra là thực sự không có câu trả lời tốt cho thách thức này. Tất cả những người tôi hỏi, “Bạn đã tìm ra cách nào tốt hơn chưa?” đều trả lời dứt khoát: “Không, tất cả đều tồi tệ.” Bài học thứ hai là đừng già và nghèo ở Mỹ. Một căn phòng nhỏ với sự chăm sóc tầm thường có thể tốn từ 8,000 đến 8,500 đô la mỗi tháng, và thường là còn hơn thế nữa. Vì vậy, nếu bạn không có từ 100,000 đến 150,000 đô la mỗi năm để chi cho nhà ở và ăn uống, và duy trì mức chi tiêu đó trong mười hoặc mười hai năm, bạn có thể thấy mình rơi vào hoàn cảnh rất khó chịu, thế giới thu hẹp lại trong một căn phòng nhỏ với một chiếc tivi.

Ngay cả những nơi đắt tiền và đẹp hơn cũng mang cảm giác như một con tàu du lịch. Cuộc sống ở đó có thể dễ chịu, nhưng người ta cũng cảm nhận được sự vô nghĩa – cảm giác đối diện với cái chết của chính mình trong khi chứng kiến những hành khách khác trên tàu lần lượt chết đi. Cư dân cảm thấy mình bị xã hội gạt sang một bên, không còn cần thiết nữa (hoặc đó là điều chúng ta lầm tưởng).

Bức tranh “Ông già đau khổ” (“Ở cổng cõi vĩnh hằng”) của Vincent van Gogh, năm 1890 [Bảo tàng Kröller-Müller, Otterlo, Hà Lan]

Cá nhân tôi chưa bao giờ hiểu tại sao chúng ta lại có một xã hội gồm những người già, những người đầy ắp những câu chuyện về cuộc sống và sự khôn ngoan của tuổi già, một mặt, và những nhóm thanh thiếu niên, mặt khác, cần một người khôn ngoan để trò chuyện và lắng nghe họ. Vì một lý do kỳ lạ nào đó, chúng ta không thể tìm ra cách để kết hợp họ lại với nhau.

Thay vào đó, chúng ta làm mọi thứ có thể để tách biệt họ càng xa càng tốt. Chúng ta không xây trường trung học hay đại học cạnh các trung tâm chăm sóc người cao tuổi, có lẽ vì chúng ta biết rằng thanh thiếu niên trong những trường đó sẽ không tôn trọng người già. Chúng ta cũng không xây các trung tâm chăm sóc người cao tuổi cạnh chuồng khỉ đột.

Nhưng nếu như, thay vì chạy theo xu hướng văn hóa, chúng ta nghiêm túc lắng nghe lời Chúa thì sao? Lê-vi 9:32 chép rằng: “Ngươi phải đứng dậy trước người tóc bạc và kính trọng người già, và ngươi phải kính sợ Đức Chúa Trời ngươi.” Đoạn Kinh Thánh này từ lâu đã được hiểu là cho thấy sự kính trọng người lớn tuổi có liên hệ trực tiếp với sự tôn kính Đức Chúa Trời.

Người ta cũng có thể rút ra kết luận này từ điều răn thứ nhất trên “bảng thứ hai” của Mười Điều Răn tương ứng với sự kính trọng Đức Chúa Trời trên “bảng thứ nhất”: đó là điều răn “Hãy tôn kính [honoring] cha mẹ ngươi.” 1 Ti-mô-thê 5:1-2 khuyên chúng ta hãy đối xử với những người đàn ông lớn tuổi như cha mình và những người phụ nữ lớn tuổi như mẹ mình, nhắc nhở chúng ta đừng nói lời cay nghiệt với họ.

Kỹ thuật mang lại một số hy vọng. Xe tự lái có thể giúp đỡ những người lớn tuổi không còn khả năng hoặc không nên lái xe. Ở Mỹ, việc không thể tự lái xe giống như việc trở lại làm trẻ con, luôn phải hỏi: “Chú/Bố/Mẹ có thể chở con đi đâu đó được không?” Một người đàn ông tôi quen biết đã có thể cấu hình lại chiếc Tesla của mình để ông ấy có thể ngồi vào trong khi chiếc xe đưa xe lăn của ông ấy vào và gấp gọn lại ở phía sau.

Tại sao kỹ thuật đó lại không được phổ biến rộng rãi? Ông ấy hẳn đã phải tự mình phát minh ra nó. Việc chúng ta không dành nhiều tâm huyết sáng tạo cho những tiến bộ kỹ thuật khác để giúp đỡ người cao tuổi đáp ứng những nhu cầu cơ bản như đi lại, ăn uống và vệ sinh cá nhân cho thấy một xã hội mà người cao tuổi vẫn bị lãng quên và hầu như không được chăm sóc.

Nhưng chỉ kỹ thuật thôi là chưa đủ. Những phát triển hữu ích sẽ không xảy ra hoặc không trở nên phổ biến nếu thiếu đi sự tôn trọng và quan tâm mà Chúa đang kêu gọi chúng ta trong Kinh Thánh. Chúng ta cần thiết kế nhiều khu phố đa chức năng, thân thiện với người đi bộ hơn và thực hiện nhiều biện pháp khác. Cần làm tốt hơn việc cho người già tiếp xúc với trẻ em, dạy chúng biết tôn trọng người lớn tuổi.

Nếu chúng ta không làm nhiều hơn để thể hiện sự tôn trọng đối với người lớn tuổi, giới trẻ sẽ tiếp tục sợ hãi tuổi già, và nhiều người, khi về già, sẽ chọn cách tự tử.

Phải thừa nhận rằng, không thể tránh khỏi thực tế khắc nghiệt là đối mặt với cái chết không dễ dàng. Đó là thập giá mà chúng ta phải gánh trước khi phục sinh. Nhưng niềm hy vọng Phục Sinh mà Giáo Hội dựa trên đó là Chúa Kitô đã một lần và mãi mãi chiến thắng cái chết và mở ra một cuộc sống mới trong sự hiệp nhất với Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

Tuy nhiên, ngay cả Chúa Kitô cũng cần sự giúp đỡ để vác thập giá của Người. Vì vậy, có lẽ sẽ hữu ích nếu chúng ta nghĩ về mình như Simon xứ Cyrene. Chúng ta giúp người lớn tuổi vác thập giá của họ, và họ và chúng ta cùng nhau an ủi nhau trên con đường đó rằng tình yêu của Chúa sẽ không bao giờ bỏ rơi chúng ta và có thể vượt qua cả cái chết.

https://vietcatholic.net/News/Html/301043.htm


 

Bốn “không” ở Singapore

 Bốn “không” ở Singapore

 Singapore là thành viên của Hiệp hội các nước ASEAN không chỉ được ca ngợi là quốc gia có nền kinh tế phát triển mà còn được đánh giá có một Chính phủ trong sạch. Singapore có bốn kinh nghiệm chống tham nhũng có hiệu quả.

Xin giới thiệu đến độc giả bốn kinh nghiệm của Singapore trong chống tham nhũng.

  1. Làm cho quan chức không dám tham nhũng

Ở Singapore khi một người được tuyển vào làm công chức, quan chức Chính phủ thì hằng tháng phải trích một phần tiền lương để gửi tiết kiệm. Thoạt đầu trích 5%, sau tăng dần. Người có chức vụ càng cao, thì phần trăm trích ra gửi tiết kiệm càng lớn, có thể lên tới vài chục phần trăm lương tháng. Số tiền này do Nhà nước quản lý. Bất kỳ công chức, quan chức nào phạm tội tham nhũng dù nhẹ ở mức xử phạt ra khỏi ngạch công chức thì toàn bộ số tiền gửi tiết kiệm bị trưng thu.

      Quan chức càng to thì số tiền bị trưng thu càng lớn. Vì vậy, mỗi quan chức khi nảy ý định tham nhũng đều phải tính toán: Nếu tham nhũng, nhận hối lộ mấy trăm, thậm chí cả ngàn đô mà bị tịch thu hàng chục ngàn đô, bị sống trong hoàn cảnh không lương bổng cho đến lúc chết thì mất lại nhiều hơn được. Vì thế, đại đa số chọn giải pháp không tham nhũng; quan chức cấp càng cao, lương càng nhiều càng sợ không dám tham nhũng.

  1. Làm cho quan chức không thể tham nhũng.

Chính phủ Singapore quy định và thực hiện mỗi năm công chức, viên chức, quan chức phải khai  báo một lần với Nhà nước về tài sản của bản thân hoặc của vợ (chồng) bao gồm: Tiền thu nhập, tiền gửi tiết kiệm, tiền cổ phiếu, đồ trang sức, ô tô, nhà cửa… Những tài sản tăng lên phải khai rõ nguồn gốc, cái gì không rõ nguồn gốc có thể coi là tham ô, tham nhũng. Nhà nước còn quy định: Quan chức Chính phủ không được phép nợ nần; không được vay một khoản tiền lớn vượt quá tổng ba tháng lương.

    Singapore có thị trường mua bán cổ phiếu, nhưng quan chức Chính phủ muốn mua cổ phiếu phải được lãnh đạo cơ quan chủ quản đồng ý và chỉ được phép mua cổ phiếu của công ty trong nước. Với cổ phiếu của các công ty nước ngoài đang kinh doanh ở Singapore cũng được phép mua, nhưng với điều kiện các công ty đó không có quan hệ lợi ích với Chính phủ. Công chức và quan chức Chính phủ không được phép đến các sòng bạc, nhà chứa.

Luật Báo chí Singapore quy định những điều khoản nhằm chống tham nhũng trong lĩnh vực này. Theo đó, các nhà báo, ký giả muốn gửi bài viết của mình ra nước ngoài phải qua tổng biên tập xem xét. Khi được trả tiền nhuận bút, nhà báo đó phải báo cáo với cơ quan chức năng của Chính phủ trong vòng 7 ngày kể từ khi nhận được tiền, v.v…

  1. Làm cho quan chức không cần tham nhũng.

Singapore có chế độ trả lương chênh lệch khá cao giữa quan chức cấp cao với cấp thấp, với công chức và giữa công chức với nhân viên, công nhân. Thu nhập thấp nhất là người bảo mẫu mỗi tháng 400 đô la (Singapore). Nữ công nhân lắp ráp điện tử mỗi tháng từ 600 đến 900 đô la. Công chức cơ quan chính phủ tất cả đều tốt nghiệp đại học, lương khởi điểm khoảng 1.300 đô la. Cấp thứ trưởng lương tháng từ 10.000 đô la đến 20.000 đô la. Thủ tướng lương tháng hơn 40.000 đô la (thời điểm năm 2000). Với mức lương như vậy, quan chức đủ sống và chu cấp cho gia đình mà không cần tham nhũng. Hơn nữa cách trả lương như vậy công chức và quan chức Chính phủ luôn có sự so sánh: Mình được trả lương cao hơn người lao động bình thường rất nhiều. Nếu mình tham ô, tham nhũng nữa thì là kẻ vô đạo lý, mất hết liêm, sỉ. Sự so sánh và tự vấn đó đã làm cho quan chức tự tiêu hủy những tham vọng không trong sáng của mình.

  1. Làm cho quan chức không muốn tham nhũng

ở Singapore muốn tham nhũng một thứ gì đó, dù nhỏ cũng rất phiền hà. Ví dụ, khi khách nước ngoài đến Singapore, nếu họ muốn tặng các quan chức nước chủ nhà một món quà để cảm ơn về sự đón tiếp và thắt chặt mối quan hệ thì món quà đó phải mang ý nghĩa văn hóa với giá trị tiền không nhiều. Món quà nào có giá trị 100 đô la Singapore trở lên là họ từ chối hoặc phải xin phép lãnh đạo cơ quan, nếu đồng ý mới được nhận. Nhưng khi nhận rồi lại phải báo cáo với lãnh đạo cơ quan xem xét. Nếu món quà đó có giá trị tiền quá mức quy định và quan chức đó vẫn muốn nhận thì phải nộp tiền. Số tiền nộp thêm đưa vào tài khoản quỹ “nộp phạt” của Chính phủ.

Chuyện kể rằng, một phái đoàn quan chức của Chính phủ Singapore được cử sang một nước nọ để ký một hiệp định liên doanh sản xuất. Nhận thấy hiệp định này đem lại nhiều lợi ích cho mình, giới chức nước chủ nhà đã tặng những món quà lưu niệm có giá trị cao cho quan chức đoàn Singapore. Bởi sự quá nhiệt thành của chủ nhà, họ không sao từ chối được. Nhưng cứ nghĩ đến việc khi về nước lại mang quà biếu này đến cơ quan khai báo, phải mua lại và chuyển tiền vào tài khoản quỹ “nộp phạt” thì quả là phiền toái. Cả đoàn đều phải “đành lòng” viết thư cảm ơn và gửi lại quà ở sân bay trước khi trở về Singapore

From: haiphuoc47 & NguyenNThu


 

“Đây là hình ảnh một vị vua trong những khoảnh khắc cuối đời.”

Công Tú NguyễnChuyện tuổi Xế Chiều

“Đây là hình ảnh một vị vua trong những khoảnh khắc cuối đời.”

Được chụp bởi Larry Pannell, bức ảnh mạnh mẽ này ghi lại hơi thở cuối cùng của một con sư tử—vua của thảo nguyên.

“Chúng tôi tìm thấy nó nằm trên cỏ, kiệt sức và không thể cử động. Chúng tôi chỉ cách nó không quá một mét khi nó chết dưới bóng cây. Tôi đánh rơi máy ảnh. Chúng tôi nhìn nhau, nhắm mắt lại… và chỉ đứng im lặng.

Nó đang vật lộn để thở, ngực nó chỉ thỉnh thoảng nhô lên. Một cơn co giật cuối cùng—và sau đó, im lặng. Vị vua đã ra đi.”

Cuộc sống ngắn ngủi. Quyền lực thì phù du. Vẻ đẹp thì phai tàn. Dù hùng mạnh đến đâu, tất cả các sinh vật sống một ngày nào đó cũng sẽ trở nên yếu đuối.

Vì vậy, hãy khiêm tốn, tử tế và hiện diện. Giúp đỡ người bệnh, chăm sóc người yếu đuối và đừng bao giờ quên: một ngày nào đó, tất cả chúng ta đều rời khỏi sân khấu cuộc đời.

Larry Pannell


 

Tâm là nguồn gốc của sự an vui và cũng là nguồn gốc của sự đau khổ.

Tuệ Ngữ

  1. Nếu bạn nhìn cuộc đời bằng đôi mắt phán xét, thế giới này sẽ chỉ toàn những người có khiếm khuyết.

– Nhìn bằng đôi mắt kiêu ngạo, thế giới này sẽ chỉ toàn những người thấp hèn và ngu ngốc.

– Nhìn bằng đôi mắt trí tuệ, bạn sẽ phát hiện ra rằng mỗi người bạn gặp phải, đều có những điểm đáng để bạn học hỏi và tôn trọng.

  1. Thuốc tốt trên đời này, mỗi một loại thuốc chỉ có thể chữa một loại bệnh; còn thuốc tốt của tâm linh, trí tuệ và từ bi thì có thể chữa trị tất cả mọi khổ đau.
  2. Con người vẫn hay than phiền không thể tìm thấy sự bình yên trong tâm hồn, nhưng kỳ thực, trước giờ nó vẫn ở sâu trong lòng, bạn không cần phải tìm kiếm. Chỉ cần bạn có thể giữ tâm bất động, không “vì dục vọng mà cực khổ, bận rộn suốt cả ngày” thì tự nhiên sẽ cảm nhận được sự hiện hữu của nó.
  3. Khi trong lòng bạn ngập tràn sự yên vui, thì đi đến đâu cũng đều là hoan hỷ tự tại; khi trong tâm tràn đầy trí huệ thì một cành hoa, cọng cỏ cũng khiến bạn nhìn ra được chân lý.
  4. Thế giới mà bạn đang nhìn thấy, chỉ là phản ứng của nội tâm. Trong lúc tâm trạng cởi mở, nhìn thấy ai cũng là bạn bè thân thiết; còn khi đang buồn bực, đi đâu cũng chỉ thấy những khuôn mặt đáng ghét.
  5. Tâm là nguồn gốc của sự an vui và cũng là nguồn gốc của sự đau khổ. Thân – khẩu – ý do một cái tâm chứa đầy hận thù và tham vọng gây ra thì chỉ mang đến đau khổ; ngược lại, những hành động, suy nghĩ, lời nói mà xuất phát từ một cái tâm thiện lành thì điều mang lại chính là phúc lạc.

Vô Vi

Thân mến

TQĐ

From: Tu Phung


 

Bé gái 17 tuổi mất đi sinh mệnh vì bố có gia đình mới

Vạn Điều Hay

 Cha mẹ ly hôn nhưng người đau lòng nhất là những đứa con – bé gái 17 tuổi mất đi sinh mệnh vì bố có gia đình mới

Khi một cuộc hôn nhân đi đến hồi kết, các bậc cha mẹ thường xem đó như một lối thoát. Một quyết định dứt khoát để khép lại những mâu thuẫn kéo dài, để tìm lại sự bình yên cho riêng mình.

Nhưng với những đứa trẻ, ly hôn chưa bao giờ là sự giải thoát. Ngược lại, đó là khởi đầu của một nỗi buồn dài – một khoảng trống âm thầm lớn dần trong tim, nơi các em không thể gọi tên, cũng không biết phải chia sẻ cùng ai.

Xót xa bé gái 17 tuổi mất đi sinh mệnh vì bố có gia đình mới

Vừa qua, một câu chuyện đau lòng khiến nhiều người không khỏi nghẹn lại. Hình ảnh một người anh trai quỳ bên thi thể em gái, khóc đến kiệt quệ, vừa gạt nước mắt vừa nghẹn ngào trách Bố của mình em nói “Con không cần gì cả con chỉ cần em thôi. Bố cũng sai mà mẹ cũng sai, còn người đau lòng nhất chính là em”.

Em là Dương Thị Nhi, 17 tuổi, ngụ tại Cao Bằng. Những dòng thư em để lại khiến bất cứ ai đọc qua cũng phải lặng đi: “Mẹ ơi, con xin lỗi mẹ nhiều, con thấy mệt mỏi quá, con không biết phải làm sao cả…”

Điều gì đã đẩy một cô bé còn chưa kịp trưởng thành đến lựa chọn kết thúc sinh mệnh của mình như vậy?

Trước đó, em cũng từng có một gia đình trọn vẹn như bao người khác có cha, có mẹ, có anh trai, có những tháng ngày bình yên tưởng chừng sẽ kéo dài mãi mãi. Nhưng hạnh phúc ấy tan vỡ quá nhanh khi cha mẹ quyết định mỗi người một lối đi.

Sau ly hôn, Bố của Nhi sống ngay đối diện ngôi nhà cũ, nhưng là trong một gia đình khác với người vợ mới và sự chăm sóc dành cho con riêng. Nỗi đau ấy không ồn ào, nhưng như một nhát dao âm thầm khắc sâu vào trái tim non nớt của em.

Mái ấm từng ấm áp bỗng trở nên lạnh lẽo, tiếng cười từng rộn ràng giờ chỉ còn lại những khoảng lặng kéo dài. Bởi có những khoảng cách không nằm ở địa lý, mà nằm ở tình cảm. Trong sự tuyệt vọng trầm cảm kéo dài, nỗi đau mà không ai thấu hiểu cuối cùng em chọn cách tự kết thúc sinh mệnh chính mình.

Trong bức thư tuyệt vọng gửi mẹ, em viết:

“Mẹ ơi, con xin lỗi mẹ nhiều… con thấy lạc lõng, bơ vơ… con chưa có ước mơ rõ ràng, cũng không biết phải đi theo con đường nào.

Chuyện gia đình mình thật sự khiến con buồn lắm… con không hiểu tại sao bố lại mong muốn được sự thông cảm của tụi con, trong khi chính bố đã nói những lời ruồng bỏ…

Nhiều lúc con ước là có ai hỏi con ổn không… nhưng mọi người chỉ bảo con ‘hãy mạnh mẽ’… con không biết phải bắt đầu từ đâu…”

Những dòng chữ ấy không chỉ là lời trăn trối, mà là một tiếng kêu cứu đã bị bỏ lỡ.

Em viết cho mẹ bằng tất cả yêu thương và day dứt. Nhưng khi nhắc đến cha, em chỉ để lại một câu ngắn ngủi: “Con sẽ hận bố nhiều lắm.”

Một câu nói ngắn, nhưng đủ để khắc sâu nỗi đau mà một đứa trẻ đã phải gánh chịu.

Có lẽ, sự ra đi của em sẽ khiến những người làm cha mẹ phải giật mình suy ngẫm. Nhưng đó là một cái giá quá đắt. Và hơn hết, đây là một lời cảnh tỉnh: trước khi quyết định ly hôn, hãy nhìn vào con nhìn vào những tổn thương mà các em có thể phải gánh chịu.

Trước khi ly hôn cha mẹ hãy quan tâm đến cảm xúc của con

Các nghiên cứu tâm lý đã chỉ ra rằng, những đứa trẻ lớn lên trong gia đình ly hôn có xu hướng gặp khó khăn trong việc xây dựng các mối quan hệ, khó thân thiết với người khác, dễ mất niềm tin vào hôn nhân và có tỷ lệ đổ vỡ cao hơn khi trưởng thành.

Một đứa trẻ có quyền được yêu thương trọn vẹn từ cả cha lẫn mẹ. Có quyền được lớn lên trong sự gắn kết của hai phía gia đình nội, ngoại. Nhưng chỉ vì ly hôn và đặc biệt là vì cách ứng xử chưa đúng đắn của người lớn các em có thể đánh mất hình tượng của một người cha, một người mẹ, thậm chí đánh mất luôn cảm giác thuộc về.

Nỗi đau ấy không dừng lại ở một cá nhân, mà còn lan rộng, để lại những rạn nứt khó hàn gắn trong cả hai phía gia đình.

Với con, ngôi nhà thân thuộc không còn nguyên vẹn, đồng nghĩa với việc cảm giác an toàn cũng không còn như trước. Nỗi buồn của trẻ không phải lúc nào cũng bật thành tiếng khóc. Nhiều khi, đó là nỗi niềm thầm lặng mà con mang theo mỗi ngày.

Có những đứa trẻ bắt đầu tự trách bản thân nghĩ rằng vì mình chưa đủ ngoan, chưa đủ tốt nên cha mẹ mới rời xa nhau. Sự dằn vặt ấy khiến trái tim non nớt trở nên nặng nề, làm con dần mất đi sự tự tin và khép mình lại với thế giới.

Có đứa trẻ cố tỏ ra mạnh mẽ, nhưng sâu thẳm bên trong là sự cô đơn và nỗi sợ rằng gia đình thứ từng được tin là mãi mãi có thể tan vỡ bất cứ lúc nào.

Đau đớn nhất, là khi các em bị mắc kẹt giữa hai bờ tình cảm. Con yêu cả cha lẫn mẹ, nhưng lại luôn lo sợ rằng sự gần gũi với người này sẽ làm tổn thương người kia. Một trái tim nhỏ bé, lại phải gánh trên mình một lựa chọn quá lớn.

Ly hôn là điều không ai mong muốn, nhưng trong nhiều hoàn cảnh, lại là điều khó tránh.

Vì thế, nếu không muốn đi đến đổ vỡ, mỗi người khi bước vào hôn nhân cần đủ tỉnh táo, thận trọng và nghiêm túc trong việc lựa chọn bạn đời, hiểu rõ mục đích của sự gắn bó trước khi quyết định.

Còn nếu một ngày buộc phải ly hôn, xin hãy nghĩ cho con trước khi nghĩ cho mình. Hãy nghĩ đến những nỗi đau mà con có thể phải mang theo. Bởi người lớn có thể bắt đầu lại. Nhưng tuổi thơ của một đứa trẻ một khi đã rạn vỡ sẽ không bao giờ có thể trở lại vẹn nguyên như ban đầu.

vandieuhay.net

Ảnh: FB Những câu chuyện cuộc sống


 

CÁC ƠN ĐẠI XÁ TRONG TUẦN THÁNH  

Chiếu theo Tông Huấn Giáo Lý Ân Xá (Indulgentiarum Doctrina ) do Đức Thánh Cha Phaolo VI ban bố ngày 1 tháng 1 năm 1967 và Cẩm Nang Về Các Ân Xá (Enchiridion Indulgentiarum) ấn bản thứ tư năm 1999, các việc làm vào những dịp sau đây trong Tuần Thánh được hưởng nhận các ơn Đại Xá Hội Thánh rộng ban cho các tín hữu như sau :

– Tối Thứ Năm Tuần Thánh, sau Thánh Lễ Tiệc Ly, ai hát kinh Tantum Ergo (đây Nhiêm Tích Vô Cùng Cao Quý) hoặc Chầu Mình Thánh Chúa đủ 30 phút thì được hưởng nhờ ơn Đại Xá.

“Plenaria indulgentia conceditur christifideli qui feria V Hebdomadae Sanctae, si in sollemni repositione Ss.mi Sacramenti, post Missam in Cena Domini, strophas Tantum ergo pie recitaverit; Ss.mum Sacramentum visitaverit ad adorandum per dimidiam saltem horam”

 – Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, ai tham dự nghi lễ Thờ lạy và hôn kính Thánh Giá thì được hưởng nhờ ơn Đại Xá.

“Plenaria indulgentia conceditur christifideli qui in sollemni actione liturgica feriae VI in Passione et Morte Domini adorationi Crucis pie interfuerit”

– Ngày Thứ Bảy Tuần Thánh, trong Đêm Vọng Phục Sinh, ai tuyên lại lời hứa khi Rửa Tội hoặc có thể thay bằng Tín Biểu các Tông Đồ, Kinh Tin Kính công đồng Nicea-Constantinople thì được hưởng nhờ ơn Đại Xá.

 “Plenaria indulgentia conceditur christifideli qui, in celebratione Vigiliae Paschalis …., vota baptismalia qualibet formula legitime adprobata renovaverit. …. symbolum Apostolorum vel symbolum Nicaenum-Constantinopolitanum pie recitaverit;

– Các ngày khác trong Tuần Thánh và các ngày khác quanh năm, ai viếng đủ 14 chặng Đàng Thánh Giá thì được hưởng nhờ ơn Đại Xá.

“Plenaria indulgentia conceditur christifideli qui vel ipse pium exercitium Viae Crucis peregerit vel, dum illud a Summo Pontifice peragitur et ope instrumenti televisifici vel radiophonici propagatur, ei sese pie univerit”

 Các ơn Đại Xá ngày mỗi ngày được hưởng nhận 1 lần và có thể nhường cho các linh hồn.

Để lãnh nhận ơn Đại Xá cần giục lòng ăn năn, chê ghét, dốc lòng chừa mọi tội trọng, tội nhẹ đã phạm, dứt lòng quyến luyến tội lỗi và theo các điều kiện hưởng ơn Đại Xá thông thường :

– Xưng Tội

– Rước Lễ trong chính ngày hưởng ơn Đại xá

– Cầu theo ý Đức Giáo Hoàng : có thể cầu theo ý chỉ hoặc đọc thay bằng 1 Kinh Lạy Cha để hiệp ý cùng Đức Giáo Hoàng.

Xin Anh Chị Em loan báo rộng rãi điều này để Danh Chúa cả sáng và sinh ơn ích cho các linh hồn.

 From: ngocnga_1& NguyenNThu


 

QUYỀN NĂNG BIẾT CHỜ – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Người thực hiện cho tôi như lời sứ thần nói!”.

“Thiên Chúa đang chờ hình ảnh của Ngài, âm vang của Ngài, lời đáp của Ngài nơi chúng ta!” – Jürgen Moltmann.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa ngày lễ Truyền Tin cho thấy một nghịch lý: Thiên Chúa toàn năng, nhưng không áp đặt; Ngài đến, ngỏ lời, rồi chờ – chờ một lời “vâng” từ một thiếu nữ. Không phải vì bất lực, nhưng vì tôn trọng. Đó là một ‘quyền năng biết chờ’.

Điểm then chốt là lời đáp của Maria: “fiat mihi” – một tiếng “xin vâng” mở ra lịch sử cứu độ. Thiên Chúa không cần ai “xin vâng” để là Thiên Chúa; nhưng Ngài chờ “xin vâng” để cứu độ. Một “xin vâng” không chỉ là đáp lời, nhưng còn là “xin hãy xảy ra nơi tôi!”. Đây không phải là cam chịu, mà là một ưng thuận chủ động, mở lòng trọn vẹn cho Thiên Chúa hành động. Ngài không thiếu sức mạnh để làm, nhưng Ngài muốn có sự ưng thuận để biến đổi. Thiên Chúa không thiếu sức mạnh; Ngài chỉ từ chối cưỡng ép. “Chúa Kitô đứng trước cửa mỗi tâm hồn và chờ đợi, không cưỡng ép, nhưng mời gọi yêu thương!” – Gioan Phaolô II.

Vì thế, Truyền Tin không phải là mệnh lệnh, nhưng là đối thoại. Sứ thần loan báo, rồi dừng lại. Thiên Chúa nói vừa đủ – rồi im lặng. Chính trong khoảng lặng ấy, tự do con người được tôn trọng đến tận cùng. Thiên Chúa không chen vào quyết định của con người, dù biết con người có thể từ chối chính ơn cứu độ của mình. Một mạo hiểm của tình yêu! Một khoảng lặng đủ để cứu độ, hoặc để đánh mất. Cứu độ không khởi đi từ áp đặt, nhưng từ một khoảng lặng Thiên Chúa chủ ý để lại – ‘quyền năng biết chờ’.

Không chỉ chờ một lời; Đấng Toàn Năng còn nâng đỡ lời ấy bằng một dấu chỉ: “Kìa bà Elisabeth…”. Và như vậy, lời hứa thuở Isaia không còn xa – bài đọc một – nó đang thành hình nơi một cung lòng son sẻ. Từ đó, lịch sử đi vào một nhịp khác: “Này con đến để thực thi ý Ngài” – bài đọc hai. Và kìa, lời “xin vâng” của Mẹ hoà vào lời “xin vâng” của Con – “Lạy Thiên Chúa, con đến để thực thi ý Ngài!” – Thánh Vịnh đáp ca. Hai “lời đáp” chạm nhau – và quyền năng Thiên Chúa được khai mở nhờ chính sự đáp trả ấy.

Anh Chị em,

“Này con đến để thực thi ý Ngài!”. Suốt cuộc đời, Chúa Giêsu chỉ chờ để thi hành ý Cha; Ngài không đi trước giờ của Cha, nhưng ở lại trong lời “xin vâng” đó qua từng khoảnh khắc. Và cũng trong cuộc đời ấy, Ngài chờ những người tội lỗi trở về: chờ ánh mắt của người phụ nữ tội lỗi, chờ lời thú nhận của người thu thuế, chờ tiếng kêu muộn màng của anh trộm lành. Ngài không ép buộc, không đóng cửa; nhưng kiên nhẫn đứng đó. Và Ngài chờ bạn, chờ tôi, chờ từng ngày trong từng chọn lựa lớn nhỏ. Con Thiên Chúa thi hành ý Cha bằng ‘quyền năng biết chờ’ – và chờ cho đến hết đời. “Chúa không vội vàng với trái tim con người; Ngài đồng hành, ngay cả đến tận cùng sự kháng cự của nó!” – Henri Nouwen.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con thường nôn nóng, xin kéo con lại; con thường đi trước ý Chúa, xin dạy con biết chờ; con thường ngại dấn thân, giúp con dám thưa ‘xin vâng!’”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*************************************************************

LỜI CHÚA LỄ TRUYỀN TIN, 25/3

Này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca. Lc 1,26-38

26 Khi ấy, bà Ê-li-sa-bét có thai được sáu tháng, thì Thiên Chúa sai sứ thần Gáp-ri-en đến một thành miền Ga-li-lê, gọi là Na-da-rét, 27 gặp một trinh nữ đã thành hôn với một người tên là Giu-se, thuộc dòng dõi vua Đa-vít. Trinh nữ ấy tên là Ma-ri-a.

28 Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói : “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà.” 29 Nghe lời ấy, bà rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì.

30 Sứ thần liền nói : “Thưa bà Ma-ri-a, xin đừng sợ, vì bà được đẹp lòng Thiên Chúa. 31 Này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giê-su. 32 Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đa-vít, tổ tiên Người. 33 Người sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận.”

34 Bà Ma-ri-a thưa với sứ thần : “Việc ấy sẽ xảy ra thế nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng ?”

35 Sứ thần đáp : “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ toả bóng trên bà ; vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa. 36 Kìa bà Ê-li-sa-bét, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai : bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng, 37 vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được.”

38 Bấy giờ bà Ma-ri-a nói với sứ thần : “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Người thực hiện cho tôi như lời sứ thần nói.” Rồi sứ thần từ biệt ra đi. 


 

HÃY GIÀ ĐI MỘT CÁCH THANH THẢN – Lm. Anmai, CSsR

Anh Chi TTV2 – Quan điểm cá nhân

Lm. Anmai, CSsR

Thời gian trôi đi âm thầm nhưng tàn nhẫn, nó không bao giờ báo trước cho ta biết khi nào thì tuổi già thực sự ập đến, nó không nằm ở con số ghi trên giấy tờ hay số nến cắm trên chiếc bánh sinh nhật, mà nó đến trong một khoảnh khắc bất chợt khi ta nhận ra sự thay đổi trong chính tâm hồn mình.

Nếu như thuở đôi mươi, người ta sợ cái nghèo, sợ sự thiếu thốn vật chất, và khi bước sang tuổi trung niên, người ta bắt đầu lo âu về những biến cố bệnh tật, thì khi đã bước sang dốc bên kia của cuộc đời, nỗi sợ lớn nhất, ám ảnh nhất lại mang một cái tên rất nhẹ nhưng nặng trĩu lòng người: Sự cô độc.

Thế nhưng, nếu nhìn sâu vào bản chất của kiếp nhân sinh, ta sẽ thấy một nghịch lý đầy tính triết học rằng cô đơn không phải là bi kịch của tuổi già, mà đó là một sự thật hiển nhiên, là bài học cuối cùng mà bất cứ ai, dù sang hay hèn, đều phải học cách đón nhận để tìm thấy sự thanh thản thực sự.

Có một chân lý mà khi còn trẻ ta thường nghe với vẻ hồ nghi hoặc chạnh lòng, nhưng khi tóc đã pha sương mới thấy nó đúng đến đau lòng, đó là việc con cái thực ra không bao giờ hoàn toàn thuộc về cha mẹ. Ngày xưa, ta ngây thơ nghĩ rằng nuôi con là để dưỡng già, là để có người hủ hỉ sớm hôm, nhưng quy luật của dòng đời lại chảy xuôi chứ không bao giờ chảy ngược. Những đứa trẻ ta từng ẵm bồng, từng dành cả thanh xuân để lo toan, giờ đây chúng đã có bầu trời riêng của chúng, chúng có những áp lực của thời đại mới, có gánh nặng cơm áo gạo tiền và những trách nhiệm riêng với gia đình nhỏ của chúng. Người già thường sống bằng ký ức, bằng những hoài niệm về những bữa cơm đông đủ tiếng cười, trong khi người trẻ lại phải sống bằng thực tại khốc liệt, bằng những cuộc họp triền miên và những chuyến đi xa nhà. Sự lệch pha ấy khiến khoảng cách giữa hai thế hệ ngày càng lớn, không phải vì con cái vô tâm hay bất hiếu, mà đơn giản vì chúng quá bận rộn để có thể thường xuyên ngoảnh đầu nhìn lại. Nếu ta cứ mãi đau đáu chờ đợi một cuộc điện thoại, khắc khoải mong ngóng tiếng xe dừng trước ngõ, thì chính ta đang tự giam cầm mình trong nỗi buồn tủi không lối thoát. Thời đại này, mỗi đứa con là một cánh chim bay đi tìm phương trời lạ, sự sum vầy là điều quý giá nhưng hiếm hoi, và việc chấp nhận sự xa cách ấy chính là bước đầu tiên để cởi trói cho tâm hồn mình.

Bi kịch lớn nhất của những năm tháng xế chiều không nằm ở việc ta sống một mình, mà nằm ở chỗ ta đã đặt quá nhiều kỳ vọng vào người khác, kể cả đó là ruột thịt. Khi ta đặt hạnh phúc của mình vào tay con cái, ta vô tình trở thành gánh nặng tâm lý cho chúng và trở thành nạn nhân của chính sự chờ đợi. Phẩm giá của tuổi già, suy cho cùng, nằm trọn vẹn ở hai chữ “Tự Lực”. Một tuổi già hạnh phúc không được đo đếm bằng số lượng con cháu vây quanh, mà được đo bằng khả năng tự chủ của chính bản thân người đó. Đó là khi ta còn đủ sức khỏe để tự đi lại mà không cần ai dìu đỡ, còn đủ sự minh mẫn để tự quyết định cuộc sống của mình, còn đủ tiền bạc tích lũy để không phải ngửa tay xin xỏ hay nhìn sắc mặt người khác mà sống, và quan trọng hơn cả là còn đủ những niềm vui, sở thích riêng để lấp đầy những khoảng trống thời gian. Khi ta tự đứng vững trên đôi chân mình, tự lo liệu được cho bản thân, ta mới có được sự tôn trọng và một phong thái ung dung tự tại.

Đừng biến mình thành cây tầm gửi sống bám vào cây sồi già, hãy biến mình thành một cây cổ thụ, dẫu đơn độc nhưng thâm trầm và vững chãi giữa trời đất.

Và rồi, cuộc đời sẽ dạy ta bài học khắc nghiệt nhưng cũng đầy vị tha nhất: Học cách làm bạn với nỗi cô đơn. Hãy tập quen với việc ăn cơm một mình mà không thấy tủi thân, đi chợ một mình mà vẫn thấy vui vẻ lựa chọn từng mớ rau con cá, đi khám bệnh một mình mà vẫn bình tĩnh kiên cường, hay lặng lẽ ngắm hoàng hôn mà không cần ai phải trầm trồ cùng. Khi ta có thể làm tất cả những điều đó một mình, ta sẽ nhận ra cô đơn không phải là kẻ thù, mà là một người thầy, một người bạn đồng hành trung thành nhất.

Cuộc đời này thực chất là một hành trình độc đạo, cha mẹ đã rời bỏ ta đi trước, bạn đời rồi cũng có thể lỡ bước sang ngang hoặc đi về cõi vĩnh hằng, con cái thì bận rộn với guồng quay riêng, chỉ có chính bản thân ta là người duy nhất đi cùng ta từ khi sinh ra cho đến hơi thở cuối cùng. Khi không còn mong cầu ai phải hiểu thấu nỗi lòng mình, không còn khát khao ai phải ở bên cạnh để xua tan sự trống trải, lúc ấy tâm ta mới thực sự an nhiên. Sự cô đơn lúc này chuyển hóa thành sự tĩnh tại, một trạng thái thiền định giữa đời thường mà chỉ những người đã đi qua đủ bão giông mới thấu cảm được.

Hạnh phúc ở tuổi xế chiều, do đó, cần được định nghĩa lại một cách giản đơn nhưng sâu sắc hơn. Đó không phải là nhà cao cửa rộng, không phải là con đàn cháu đống ồn ào, mà là sự bình yên trong tâm hồn và sự tự do trong nếp sống. Hãy giữ cho mình một chút tiền phòng thân để an tâm, giữ gìn sức khỏe như báu vật vì đó là vốn liếng cuối cùng, giữ lại vài người bạn tri kỷ để đôi khi cùng nhau uống chén trà đàm đạo chuyện nhân tình thế thái. Đừng oán trách sự lạnh nhạt của thế gian, đừng kể lể nỗi khổ đau bệnh tật với bất kỳ ai, bởi ai cũng có nỗi khổ riêng của họ.

Thay vì ngồi ủ rũ chờ đợi sự quan tâm ban phát, hãy tự tạo niềm vui cho mình bằng việc trồng một cái cây, đọc một cuốn sách, hay đơn giản là tận hưởng bầu không khí trong lành của buổi sớm mai. Khi cha mẹ còn sống, ta còn nơi để trở về, còn gốc rễ để bấu víu; nhưng khi cha mẹ khuất núi, ta chỉ còn lại đích đến phía trước để bước tới. Chặng đường cuối cùng này, hãy đi thật chậm rãi, nhẹ nhàng, không vướng bận, không oán hờn. Hãy yêu thương lấy chính bản thân mình, trân trọng từng ngày được sống, và biến tuổi già trở thành những tháng ngày thanh cao, rực rỡ và kiêu hãnh nhất của một kiếp người, để khi nhắm mắt xuôi tay, ta có thể mỉm cười rằng mình đã sống trọn vẹn và già đi một cách thật thanh thản.

Lm. Anmai, CSsR