THỨ GÌ THẬT SỰ LÀ CỦA CHÚNG TA?

  1. Ngày sinh – do người khác quyết định.
    2. Tên gọi – do người khác đặt.
    3. Thu nhập – do người khác trả.
    4. Sự tôn trọng – do người khác dành cho.
    5. Lần tắm đầu tiên và cuối cùng – đều do người khác lo.
    6. Tài sản – rồi cũng để lại cho người khác.
    7. Tang lễ – người khác tổ chức.

Có một ngày nào đó, bạn thử ngồi xuống thật yên… và nhìn lại đời mình như: xem lại một thước phim.

Bạn sẽ thấy:

Mình sinh ra trong tiếng khóc, nhưng nụ cười đầu tiên lại là của người khác.

Mình lớn lên bằng cơm người nấu, áo người may, lời người dạy.

Đi làm, cũng là để đổi thời gian và sức lực lấy đồng tiền do người khác trả.

Ngay cả lúc mệt mỏi, yếu lòng… cũng chỉ mong có một ai đó hiểu mình.

Vậy mà lạ… ta vẫn cứ nghĩ mình “quan trọng lắm”.

Ta giận ai đó chỉ vì một câu nói.

Ta buồn cả ngày chỉ vì không được công nhận.

Ta hơn thua chỉ vì một chút sĩ diện.

Nhưng rồi bạn thử hỏi lại mình: Những điều đó… có thật sự đáng không?

Có những người từng rất quan trọng trong đời ta, mà giờ đây… cũng chỉ còn là một cái tên trong danh bạ không bao giờ gọi.

Có những thứ ta từng cố chấp giữ lấy, đến lúc mất đi rồi mới thấy… hóa ra cũng không làm mình chết được.

Cuộc đời này vốn dĩ rất đời thường.

Sáng thức dậy, có việc để làm. Tối trở về, có người để nhớ. Đã là một loại hạnh phúc rồi.

Nhưng con người lại hay tự làm khó mình.

Thay vì ăn một bữa cơm cho ngon, ta vừa ăn vừa nghĩ ai đó đang đánh giá mình ra sao.

Thay vì ngủ một giấc cho yên, ta lại ôm theo những chuyện không đáng… để rồi mệt mỏi.

Có khi hạnh phúc không nằm ở chỗ có thêm, mà nằm ở chỗ bớt lại.

Bớt so sánh.

Bớt hơn thua.

Bớt cái “tôi” lúc nào cũng muốn đúng.

Bạn biết không…Người ta nhớ về nhau, chưa bao giờ vì bạn giàu bao nhiêu, mà vì lúc họ cần… bạn đã đối xử với họ như thế nào.

Một lời nói nhẹ nhàng lúc người khác đang mệt, có khi đáng giá hơn cả một món quà lớn.

Một lần bạn chịu nhường, chịu im lặng, không phải vì bạn yếu…mà vì bạn đủ hiểu để không làm tổn thương thêm.

Đến cuối cùng, khi nhắm mắt lại, không ai mang theo được tiền bạc hay danh tiếng.

Chỉ có hai thứ còn lại: những người từng thật lòng thương mình…và cảm giác bình yên hay dằn vặt trong chính lòng mình.

Nên nếu hôm nay còn có thể, hãy sống chậm lại một chút

.Nói với ba mẹ một câu dịu dàng hơn.

Nhìn người bên cạnh bằng ánh mắt bao dung hơn.

Và với chính mình… cũng đừng khắt khe quá.

Đời này ngắn lắm. Ngắn đến mức nhiều khi chưa kịp hiểu nhau… đã lạc mất nhau rồi. Vậy mà con người vẫn sống với cái tôi quá lớn.

Hãy sống đơn giản hơn.

Yêu thương nhiê`u hơn.

Và bình yên với nhau hơn

Nên thôi, đừng cố hơn ai cả. Chỉ cần sống sao để tối về…thấy lòng mình không nặng, thấy mình vẫn còn biết thương người,

  From: luong bui  & KimBang Nguyen


 

BỨC ẢNH PHÉP LẠ ĐỨC MẸ HẰNG CỨU GIÚP

Soeur Jean Berchmans Minh Nguyệt

  1. Lịch sử Bức Ảnh

Tất cả các tín hữu Công Giáo đều yêu mến và tôn kính Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Bức ảnh được đưa từ đảo Creta thuộc đông nam nước Hy-Lạp, trong biển Égée, đến Roma vào cuối thế kỷ 15, tức khoảng 1495-1497. Câu chuyện như sau.

Một ngày, Bức Ảnh bị đánh cắp khỏi đền thánh tại đảo Creta, do một thương gia, hằng năm vẫn đi buôn định kỳ ở nước Ý. Tạm gọi thương gia là Anrê. Ông Anrê dấu kín Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp trong hàng hóa của mình và xuống tàu vào nước Ý. Con tàu dừng lại nơi nhiều cảng khác nhau, đổ hành khách lên bờ. Ngày kia, giông tố bất ngờ nổi lên khiến các thuyền bè phải mau lẹ tìm bến đậu gần nhất để lánh nạn. Chiếc tàu có thương gia Anrê không kịp giờ tiến vào đất liền. Mọi người trên tàu, từ thủy thủ đoàn đến hành khách, ai nấy đều tưởng giờ cuối cùng đã điểm. Với trọn niềm tin tưởng, họ cùng khẩn nài Thiên Chúa và kêu xin Đức Mẹ ra tay cứu giúp. Bỗng chốc, bầu trời trở lại trong xanh và biển lặng như tờ. Mọi người thở phào và xác tín rằng, đây là phép lạ đến từ Trời Cao. Riêng thương gia Anrê, ông âm thầm hiểu rằng, chính Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp dấu trong hành lý của ông, là Tác Giả của hồng phúc kỳ diệu này. Tuy nhiên, ông không dám tiết lộ chuyện kín đó với ai. Ông sợ rằng, nếu người ta khám phá ra việc ông ăn trộm Bức Ảnh, hẳn ông sẽ bị ném xuống biển như tiên tri Giona ngày xưa!.

Sau nhiều tháng trời lênh đênh từ cảng này sang cảng nọ, thương gia Anrê đặt chân lên thủ đô Roma, kinh thành muôn thưở của Giáo Hội Công Giáo. Ông luôn mang theo Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, bảo vật ông hằng cẩn trọng dấu kín.. Công việc buôn bán hoàn tất, ông thu xếp trở về đảo Creta. Nào ngờ ông ngã bệnh. Ban đầu, chỉ là bệnh nhẹ. Dần dần bệnh trở nặng. Ông Anrê bị bắt buộc phải tìm đến nhà một người bạn – tạm gọi là ông Alessandro – và nhờ bạn chăm sóc. Nhưng cơn bệnh không thuyên giảm, trái lại, mỗi ngày một trầm trọng thêm. Biết mình không thoát chết, ông Anrê ngỏ ý gặp riêng bạn. Ông tha thiết xin bạn giúp ông một công việc hệ trọng sau cùng. Người bạn long trọng hứa sẽ giúp đỡ tận tình. Tin lời bạn, ông Anrê tiết lộ cho bạn biết việc ông đã ăn cắp Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Rồi ông nói: “Cái chết gần kề không cho phép tôi mang Bức Ảnh trả lại đền thánh, hầu Bức Ảnh được trưng bày cho mọi tín hữu đến tôn kính. Vậy tôi van xin anh, hãy mang Bức Ảnh Phép Lạ này, đến trao cho một nhà thờ nào đó của thủ đô Roma mà anh thấy là xứng hợp. Có thế, Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp mới lại được tôn kính nơi công cộng!”. Sau khi thành thật thống hối lỗi lầm, thương gia Anrê trút hơi thở cuối cùng.

Giữ lời hứa, ông Alessandro chuẩn bị đưa Bức Ảnh Phép Lạ ra khỏi nhà. Nhưng người vợ – tạm gọi là Anna – khăng khăng ngăn cản. Bà muốn giữ Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp nơi nhà riêng của mình .. Mặc cho mọi lời chồng nói, khi dịu dàng lúc giận dữ, bà Anna vẫn giả điếc làm ngơ. Trước sự gan lì của vợ, ông Alessandro đành chịu thua.

Thấy thái độ người chồng quá yếu, Đức Mẹ phải ra tay can thiệp. Đức Mẹ hiện ra với ông Alessandro trong giấc mộng và nhắc lại lời ông đã long trọng hứa với người bạn quá cố. Giờ đây ông phải cương quyết thi hành. Đức Mẹ hiện ra ba lần, nhưng vô hiệu, vì ông Alessandro quá nể sợ vợ. Lần hiện ra thứ tư, Đức Mẹ nghiêm khắc nói với ông: “Mẹ đã nhắc con ba lần. Nhưng vô ích. Vậy thì, cách tốt nhất để Mẹ có thể ra khỏi nhà con, là chính con phải ra trước!”. Và thật thế, ông Alessandro đã tắt thở sau vỏn vẹn vài ngày lâm bệnh.

Cái chết thảm thương của chồng vẫn không lay chuyển tâm lòng chai cứng của người vợ. Bà Anna cứ giữ nguyên Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp nơi nhà mình. Đức Mẹ lại kiên nhẫn dùng đến sự trung gian của bé gái, con bà Anna. Một ngày, bé chạy đến sà vào lòng bà và nói lớn tiếng: “Má ơi, Má biết không, con vừa trông thấy một Bà thật đẹp, thật sáng láng. Bà Đẹp nói với con: Con hãy đi gặp ngay Má con và lập lại rằng: “Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp muốn được trưng bày cho các tín hữu đến kính viếng trong một nhà thờ ở Roma”.

Cảm kích trước lời nói ngây thơ của đứa con gái, bà Anna chuẩn bị thi hành ý muốn của Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Nhưng rồi Satan tìm cách ngăn cản, qua một người đàn bà, bạn của bà Anna. Bà này, sau khi nghe bà Anna thổ lộ ý định, liền trêu chọc và cười nhạo bạn là người nhẹ dạ, dễ tin lời con nít! Nhưng lời nói xúc phạm của người đàn bà bị trừng phạt tức khắc. Bà bị động kinh dữ dội khiến bà phải nhìn nhận lỗi lầm và van xin Đức Mẹ cứu chữa. Vừa khi tay bà chạm đến Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, cơn động kinh ngưng ngay.. Đó là phép lạ đầu tiên minh chứng quyền năng của Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp.

Trước hai sự kiện xảy ra trong thời gian khoảnh khắc – bị ngã bệnh và được chữa lành của bà bạn – bà Anna ngoan ngoãn tuân phục mệnh lệnh của Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Nhưng vấn đề được đặt ra. Lúc ấy, vào cuối thế kỷ 15, tại Roma có khoảng 300 nhà thờ. Vậy phải chọn nhà thờ nào, để đặt cho các tín hữu đến kính viếng Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp đây? Để giúp bà Anna, một lần nữa, Đức Mẹ lại hiện ra với cô bé con gái bà và chỉ dẫn rõ ràng như sau: “Mẹ muốn được đặt ở nơi nằm giữa nhà thờ mến yêu của Mẹ, Đức Bà Cả, và nhà thờ quí tử của Mẹ, Gioan Laterano!”.

Địa điểm được Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp chọn, nằm trên đồi Esquilino, trung tâm thủ đô Roma. Đây là nơi được thánh giáo hoàng Cleto (80-92), người kế vị thứ hai của thánh Giáo Hoàng Phêrô, biến ngôi nhà từ-đường của ngài thành nhà nguyện, dâng kính thánh tông đồ Mattêô. Trong thời kỳ Kitô-Giáo bị bách hại dữ dội dưới hai hoàng triều Nerone và Diocletiano, nhà nguyện Thánh Mattêô là nơi hội họp của các tín hữu Kitô. Sang thế kỷ thứ tư, nhà nguyện được thay thế bằng một đền thờ rộng lớn lộng lẫy. Năm 1110, đền thờ Thánh Mattêô được tu bổ và được Đức Giáo Hoàng Pasquale 2 (1099-1118) long trọng thánh hiến. Sau cùng, vào thế kỷ 15, đền thờ được giao cho các tu sĩ dòng thánh Augustino trông coi. Chính tại đền thờ này mà bà Anna đã mang Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp đến giao cho cha Bề Trên các tu sĩ thánh Augustino.

Ngày 27-3-1499, đền thờ Thánh Mattêô chật ních các tín hữu. Họ đến để cầu nguyện và chuẩn bị rước Bức ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp qua các đường phố Roma .. Đang lúc rước kiệu, bỗng một tiếng tung hô vang lên. Một phụ nữ bị bại tay, được khỏi bệnh tức khắc, khi vừa chạm cánh tay bại vào Bức Ảnh phúc lành. Mọi người vui mừng khôn tả.. Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp đã thật sự chinh phục cảm tình của dân thành Roma.

Sau cuộc rước, Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp được long trọng đặt nơi bàn thờ chính của đền thờ Thánh Mattêô. Từ đó, Đức Mẹ không ngừng thi ân giáng phúc cho tất cả những ai thành khẩn chạy đến kêu cầu cùng Mẹ. Đền thờ trở thành nơi hành hương thân thương của các tín hữu, Roma và các vùng phụ cận. Các ơn lành Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp ban cho con cái Ngài nhiều vô kể. Trước sự kiện này, Đức Giáo Hoàng Lêô 10 (1513-1521) quyết định trả lại cho đền thờ Thánh Mattêô tước hiệu “hiệu tòa” của các vị Hồng Y. Một trong các vị đó là Đức Hồng Y Nerli, nổi tiếng là người sùng kính Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Để tỏ tình con thảo và tán dương Mẹ lành ngay cả sau khi chết, Đức Hồng Y xin khắc trên mộ mấy hàng chữ sau đây: “Trong đền thờ thánh Mattêô này .. dưới sự bảo trợ của Nữ Trinh Maria, thánh danh Mẹ vang dội khắp nơi vì các phép lạ Mẹ làm, nơi đây an nghỉ Hồng Y Nerli”.

Danh xưng vừa lộng lẫy vừa dịu hiền “Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp” do chính Mẹ chọn, đã hoàn toàn được minh xác trong vòng 3 kế kỷ. Đó là thời gian Bức Ảnh được tôn kính nơi đền thờ Thánh Mattêô. Sử liệu còn ghi lại rõ ràng không biết bao nhiêu phép lạ Đức Mẹ đã làm. Năm 1600, văn sĩ Panziroli viết: Nhà thờ thánh Mattêô có được một Bức Ảnh Đức Mẹ, làm nhiều phép lạ đến độ, có thể nói đây là ”Nhà Thờ Phép Lạ”. Năm 1618, Lupardo nói về Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp như sau: “Đây là Bức Ảnh nổi tiếng nhờ các phép lạ Đức Mẹ làm.

Xin trưng dẫn một phép lạ. Một ngày, ông từ giữ đền thờ ăn cắp một số tiền của các tín hữu hành hương dâng cúng cho đền thờ. Sau khi cẩn thận dấu kín trong mình, ông tìm đường nhanh chân trở về nhà. Nhưng lạ lùng thay, ông đi mãi đi hoài mà không tới nhà. Trái lại, ông thấy mình đứng trước đền thờ! Hoảng hồn, ông lại chọn một con đường khác để nhanh chân về nhà. Nhưng lần này cũng thế, sau một hồi đi bộ, ông lại thấy mình đứng trước cửa nhà thờ. Đến lần thứ ba, ông cũng vẫn thấy mình trở lại trước cửa đền thờ Thánh Mattêô. Ông kinh hoàng nhận ra bàn tay Thiên Chúa. Ông thật lòng thống hối và mang trả lại cho Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp tất cả những gì ông đã dại dột ăn cắp. Rồi ông đơn sơ kể lại cho các linh mục nghe câu chuyện lạ lùng trên đây.

  1. Bức Ảnh bị lưu lạc

… Cuộc cách mạng Pháp 1789 thổi một cơn lốc tàn ác vào hầu hết các nước Âu châu. Nó gieo rắc kinh hoàng nơi các tín hữu Công Giáo và lôi kéo một số đông giáo dân rơi vào tình trạng khô khan, nguội lạnh hoặc bài xích tôn giáo. Thủ đô Roma, kinh thành muôn thưở của Giáo Hội Công Giáo, cũng chịu chung số phận. Đức Giáo Hoàng Pio 6 (1775-1799) bị bắt và qua đời tại nơi lưu đày. Một đoàn quân đỏ – kẻ thù của Giáo Hội – xâm chiếm Roma. Vào một buổi sáng, người dân thành phố nghe tin quân Pháp chọn đền thờ Thánh Mattêô làm cứ điểm hành quân và sẽ phá hủy tan tành đền thánh!. Các tu sĩ dòng thánh Augustino chỉ kịp giờ chạy đi lánh nạn và mang theo Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp quí yêu .. Quả thật, vài ngày sau, đồi Esquilino bị san bình địa và không để lại vết tích gì của một thời huy hoàng. Không còn nữa cái thời mà toàn dân Roma lũ lượt kéo đến hành hương đền thờ Thánh Mattêô và kêu cầu trước Bức Ảnh phúc lành Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp!.

Bị đuổi khỏi đền thánh, các cha dòng được Đức Giáo Hoàng Pio 7 (1800-1823) đưa về trông coi đền thờ Thánh Maria ở Posterula. Vào thời kỳ Giáo Hội Công Giáo bị bách hại dữ dội, các linh mục không dám trưng bày Bức ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp tại nơi công cộng cho các tín hữu đến kính viếng. Các vị chỉ đặt Bức Ảnh nơi nhà nguyện riêng của đan viện. Bức Ảnh dần dần bị rơi vào quên lãng. Nhưng Chúa Quan Phòng có chương trình riêng của Ngài. Ngoài ra, thánh ý của Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp là muốn được tôn kính ở địa điểm nằm giữa 2 đền thờ Đức Bà Cả và Thánh Gioan Latêranô.

.. Vào năm 1840, có hai người quì trước Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, nơi nhà nguyện của các cha dòng thánh Augustino ở Posterula. Một vị lão thành và một cậu thiếu niên. Vị lão thành là thầy Orsetti, ngoài 70 tuổi, tu sĩ duy nhất còn sống sót của đền thờ Thánh Mattêô. Còn thiếu niên là cậu Michele Marchi. Đang sốt sắng cầu nguyện, bỗng thầy Orsetti giơ tay chỉ Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp và nói với thiếu niên rằng: “Con nên nhớ kỹ, Bức Ảnh này, trước kia đã từng được mọi người tôn kính nơi đền thờ Thánh Mattêô. Hàng năm đều có tổ chức một lễ lớn mừng kính Đức Mẹ”. Cậu Michele Marchi vừa ghé tai nghe thầy Orsetti giải thích vừa lơ đãng đưa mắt nhìn lên Bức Ảnh.

Vào cuối đời, thầy Orsetti gần như bị mù hẳn. Niềm vui êm ái nhất của thầy là được chuyện vãn với thiếu niên Michele Marchi. Và trăm lần như một, không lần nào thầy không nhắc đến cái thời huy hoàng đầy ân phúc của Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Thầy thường nói: “Michele à, con phải biết rằng, Bức Ảnh Đức Mẹ được tôn kính lâu năm ở đền thờ Thánh Mattêô, cũng chính là Bức Ảnh đang được đặt nơi nhà nguyện này. Con đừng bao giờ quên điều ấy nhé!”. Rồi thầy Orsetti nói thêm: ”Đúng như vậy. Đó là điều chắc chắn. Con có hiểu lời thầy nói không? Ôi, Bức Ảnh này đã từng làm không biết bao nhiêu phép lạ! – O! Era molto miracolosa!”. Cậu thiếu niên lắng nghe lời tâm sự của thầy Orsetti nhưng vẫn không hiểu tại sao thầy cứ nhắc đi nhắc lại cái thời huy hoàng xưa kia của Bức Ảnh.

 

Năm 1852, thầy Orsetti qua đời, không được diễm phúc trông thấy Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp được phục hồi về chốn cũ.

Một ít lâu sau, Đức Giáo Hoàng chân phước Pio 9 (1846-1878) truyền cho Cha Bề Trên Tổng Quyền dòng Chúa Cứu Thế phải chuyển Nhà Chính của dòng từ Napoli về thủ đô Roma. Vâng lời Đức Thánh Cha, các tu sĩ tức khắc tìm kiếm địa điểm để xây nhà. Tháng 6 năm 1854, các linh mục mua lại Villa Caserta, một biệt thự cũ nằm trên đồi Esquilino. Trong khu vườn của biệt thự, người ta còn thấy tàn tích của đền thờ Thánh Mattêô. Ngôi biệt thự cũ được sửa thành tu viện và một thánh đường được xây cất cạnh tu viện. Thánh đường dâng kính Thánh Alphongsô, Ông Tổ sáng lập dòng Chúa Cứu Thế. Đền thánh mới, được xây trên chính nền cũ của đền thờ Thánh Mattêô, như biểu chứng nối liền dĩ vãng với tương lai .. Thêm vào đó, các tu sĩ dòng Chúa Cứu Thế – con cái Thánh Alphonsô – còn đặc biệt có lòng sùng kính Nữ Trinh Rất Thánh Maria.

  1. Bức Ảnh được phục hồi

Ngày nọ, trong lúc lục lội thư viện và những bản thảo cũ của đồi Esquilino, một linh mục dòng Chúa Cứu Thế đã tìm thấy những tài liệu quí báu liên quan đến đền thờ Thánh Mattêô. Nhưng nhất là, các sử liệu nói về Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, nổi tiếng về các phép lạ. Vui mừng và ngạc nhiên về khám phá mới mẻ này, vị linh mục đem câu chuyện kể lại với anh em trong cộng đoàn. Nào ngờ, trong số các tu sĩ đó, có mặt linh mục Michele Marchi, người đã từng được thầy Orsetti ủy thác nhiệm vụ ghi nhớ nguồn gốc Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Cha Michele Marchi gia nhập dòng Chúa Cứu Thế ít lâu sau khi cộng đoàn ở Villa Caserta được thành hình. Cha Marchi nói ngay: “Tôi biết rõ Bức Ảnh Phép Lạ này đang ở đâu. Chính mắt tôi đã trông thấy Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, được tôn kính nơi nhà nguyện của đan viện Thánh Maria ở Posterula!”. Nhưng rồi câu chuyện chấm dứt tại đó ..

Thời gian 9 năm lặng lẽ trôi qua. Vào một ngày thứ bảy trong tháng 2 năm 1863, cha Blosi, linh mục dòng Tên, giảng thuyết về đề tài: “Vinh Quang Đức Maria”. Cha nhắc đến Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, một thời được dân thành Roma sùng kính và nổi tiếng về các phép lạ. Cha Blosi mở đầu như sau: “Hôm nay tôi sẽ nói với anh chị em về một Bức Ảnh Đức Mẹ, xưa kia rất nổi tiếng giữa anh chị em, nhưng bị rơi vào quên lãng từ 60 năm qua. Có lẽ Bức Ảnh bị chôn vùi ở một nhà nguyện nào đó, nên không được trưng bày cho các tín hữu Công Giáo, chen chúc nhau đến kính viếng”. Cha Blosi không quên nhắc đến thánh ý của Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp là muốn được tôn kính ở địa điểm nằm giữa 2 đền thờ Đức Bà Cả và Thánh Gioan Latêranô. Sau cùng, cha lớn tiếng nói rằng: ”Nếu ai trong số các thính giả có mặt tại đây, biết được Bức Ảnh Phép Lạ đó đang ở đâu, thì xin vui lòng báo cho những người đang giữ Bức Ảnh biết rằng, Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp muốn được trưng bày nơi công cộng cho các tín hữu đến kính viếng .. Ai biết được những ân huệ dồi dào nào sẽ tuôn đổ trên thế giới, nếu chúng ta biểu lộ lòng sùng kính Đức Mẹ, dưới một tước hiệu do chính Đức Mẹ chọn? Đó là tước hiệu Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Phúc cho người nào sẵn sàng làm công việc tìm kiếm và chỉ dẫn này!”.

Bài giảng và lời nhắn tin trên đây của cha Blosi đến tai các cha dòng Chúa Cứu Thế trên đồi Esquilino. Hẳn người ta đoán được niềm vui lớn lao của các vị. Tuy nhiên, Cha Bề Trên Cả dòng Chúa Cứu Thế nghĩ rằng, cần phải đợi chờ cơ hội thuận tiện. Và dịp may đã đến. Ngày 11-12-1865, cha Mauron được Đức Giáo Hoàng Pio 9 tiếp kiến. Sau khi trình bày một số dữ kiện lịch sử liên quan đến Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, cha Bề Trên Tổng Quyền Mauron xin Đức Thánh Cha cho phép dòng Chúa Cứu Thế được đưa Bức Ảnh Phép Lạ trở về chỗ cũ, bây giờ là đền thờ Thánh Alphonsô. Vốn có lòng tha thiết yêu mến và tôn kính Nữ Trinh Rất Thánh Maria, Đức Giáo Hoàng Pio 9 chấp nhận ngay lời xin của cha Mauron. Và ngày 19-1-1866, sau 60 năm lưu đày, Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp lại được long trọng rước về đồi Esquilino.

Ngày 17-4-1866, Đức Hồng Y Patrizzi, nhân danh Đức Thánh Cha Pio 9, phổ biến thông cáo, báo tin cho toàn dân Roma được biết, từ nay, Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp lại được đặt nơi đền thờ Thánh Alphonsô cho toàn thể các tín hữu Công Giáo đến kính viếng..

Về phần các tu sĩ dòng Chúa Cứu Thế, để tỏ lòng tri ân, các vị đã long trọng tổ chức tuần tam nhật tạ ơn trong 3 ngày từ 27 đến 29 tháng 4 năm 1866.

Ngày 26-4-1866, nhằm lễ kính thánh Giáo Hoàng Cleto, vị sáng lập tiên khởi của đền thờ Thánh Mattêô, trên đồi Esquilino. Nhân dịp này, Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp được rước long trọng qua khắp các nẻo đường thành phố phố Roma. Quang cảnh vô cùng cảm động. Đường phố được trang hoàng toàn bằng các cành cây nguyệt-quế và đào-kim-nhưỡng. Các tín hữu đứng đông nghẹt hai bên đường chào kính Bức Ảnh. Mọi người giữ thinh lặng và sốt sắng cầu nguyện. Sau cuộc rước, các tu sĩ dòng Chúa Cứu Thế tổ chức tuần tam nhật tạ ơn Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Nhật Báo Roma thời đó ghi lại như sau.
.. Không thể nào mô tả cho hết bầu khí đền thờ Thánh Alphonso trong ba ngày 27, 28 và 29. Các vị Hồng Y, Giám Mục, Giám Chức đủ bậc, Linh Mục dòng và triều, thay phiên nhau cử hành thánh lễ trước Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Các tín hữu Công Giáo – từ muôn hướng – lũ lượt tiến lên đồi Esquilino. Mọi người sốt sắng tham dự thánh lễ và lãnh nhận Bí Tích Hòa Giải. Từ sáng sớm đến chiều tối, lúc nào đền thờ cũng chật ních tín hữu hành hương. Phải chứng kiến tận mắt mới hiểu được phần nào nhiệt tình của các tín hữu. Họ nô nức kính viếng và cầu nguyện trước Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Các bệnh nhân, những người tàn tật, các kẻ mù lòa, què quặt thì được đưa vào tận bên trong thánh đường ..

Giống như cuộc rước kiệu đầu tiên vào ngày 27-3-1499, lần này, tức hơn 350 năm sau, Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp cũng làm phép lạ, tưởng thưởng lòng thảo kính ngoan hiền của toàn dân Roma.

Một bé gái 8 tuổi, từ 4 năm qua bị tê bại không sử dụng được đôi chân. Bà mẹ bỗng nảy ra ý nghĩ giơ con lên, trình với Đức Mẹ, khi Bức Ảnh rước qua chỗ hai mẹ con đang đứng. Tức khắc, bé gái động đậy được đôi chân. Vài ngày sau, bà mẹ mang con tới đền thờ Thánh Alphonsô. Đến trước Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, bà thưa lớn tiếng như sau: “Xin Mẹ hoàn tất việc Mẹ đã khởi công”. Vừa cầu nguyện xong, đứa bé liền đứng dậy và bước đi bình thường, trước sự kinh ngạc và vui mừng khôn tả của mọi người hiện diện.

Tháng 5 tiếp liền sau tuần tam nhật năm 1866, đã được cử hành với trọn lòng đạo đức và hết sức sốt sắng. Đức Giáo Hoàng chân phước Pio 9 cũng đích thân đến kính viếng Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Ngài cũng nhận một bản sao Bức Ảnh Phép Lạ và đưa về đặt nơi nhà nguyện riêng của ngài trong Phủ Giáo Hoàng. Lòng kính mến Đức Mẹ gia tăng đến độ, vào cuối tháng 5, các tín hữu Công Giáo Roma đã hiệp ý quyên góp tiền của và xin các tu sĩ dòng Chúa Cứu Thế tổ chức thêm một tuần tam nhật khác, dâng kính Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp.

Năm sau, ngày 23-6-1867, Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp được Kinh Sĩ Đoàn đền thờ thánh Phêrô long trọng đội triều thiên bằng vàng.

Các tu sĩ dòng Chúa Cứu Thế, đồ đệ Thánh Alphonso, luôn có truyền thống kính mến Đức Mẹ. Nhưng kể từ khi Bức Ảnh được giao phó cho các vị trông coi, Hội dòng Chúa Cứu Thế như được gắn liền với Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Các tu sĩ Chúa Cứu Thế nhiệt thành phổ biến lòng sùng mộ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Tính đến năm 1916, đã có 4000 bản sao chính thức Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, được tôn kính tại các nhà thờ rải rác trên toàn thế giới. Đâu đâu cũng thế, các tín hữu Công Giáo đều có chung một lòng kính mến và tin tưởng nơi sự trợ giúp vô biên của Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp.

Sự kiện này lôi cuốn chú ý của Tòa Thánh, đặc biệt là Đức Giáo Hoàng chân phước Pio 9, quí tử của Nữ Trinh Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội. Đức Thánh Cha muốn rằng, hàng năm vào ngày 23-6, ngày kỷ niệm Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp được đội triều thiên bằng vàng, dòng Chúa Cứu Thế phải cử hành thánh lễ trọng thể mừng kính Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Ngoài ra, vào năm 1871, hiệp hội ”Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp và Thánh Alphonso” được thành lập. Chính Đức Pio 9 cũng ghi danh vào Hội và ban cho các Hội viên được hưởng nhiều ân xá.

  1. Ý nghĩa Bức Ảnh

Ngắm nhìn Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, hẳn quí vị đặt câu hỏi: – Hai Thiên Thần có ý nghĩa gì? – Tại sao Chúa Hài Nhi lộ vẽ sợ hãi? – Tại sao cái nhìn của Mẹ Ngài trông thật buồn? – Liên hệ nào gắn liền giữa Bức Ảnh mô tả Mẹ Thiên Chúa và tước hiệu “Hằng Cứu Giúp”?. Xin trích dẫn lời giải thích ý nghĩa của Bức Ảnh như sau.

… Chúa Giêsu đang ngủ yên trong vòng tay Đức Mẹ. Bỗng chốc, Tổng Lãnh Thiên Thần Gabrie, vị mặc khải mầu nhiệm Cứu Chuộc, và Tổng Lãnh Thiên Thần Micae, vị bảo trợ Hội Thánh, hiện ra và tỏ lộ cho Chúa Giêsu thấy các dụng cụ hành hình. Tổng Lãnh Thiên Thần Micae cầm trong tay bình đựng đầy mật đắng. Từ bình này, dựng đứng một ngọn giáo giết người và một khúc lau dài, bên trên có miếng vải thấm dấm chua, nhỏ giọt. Trong khi Thánh Tổng Lãnh Thiên Thần Gabrie đưa cho Chúa Giêsu xem một khúc gỗ rợn rùng với ba chiếc đinh dài. Đó là thập tự của các tên ác nhân. Trên chóp của thập tự khủng khiếp này, Chúa Hài Nhi đọc thấy hàng chữ: Giêsu thành Nagiarét. Bị đánh thức bởi thị kiến kinh hoàng, Chúa Giêsu ngẩng hẳn đầu lên, đôi tay run rẩy nắm chặt lấy bàn tay dịu hiền của Đức Mẹ và nhìn quanh quất với dáng điệu lo âu sợ hãi. Nhưng có lẽ sau đó, Ngài chấp nhận các dụng cụ tử hình mà Cha Ngài gởi đến, qua trung gian các Thiên Thần, nên Chúa Giêsu can đảm thưa: “Lạy Cha, xin cho ý Cha được thể hiện chứ không phải ý riêng Con!”. Đó là lời Chúa Giêsu sẽ lập lại sau này nơi vườn cây dầu Giệtsêmani.

Người họa sĩ đạo đức, khi vẽ Bức Ảnh này, hẳn đã muốn biểu tượng rằng: “Ngay từ thơ ấu, Chúa Giêsu đã liên lĩ nghĩ đến cuộc khổ nạn trong tương lai”. Về phần Đức Maria, thông phần với Con Mẹ để cứu chuộc nhân loại, như bà Evà xưa kia đã thông phần với ông Adong để phản bội con cái loài người, Đức Mẹ luôn kết hiệp hy sinh của Mẹ với hy sinh của Con Mẹ. Và thay vì nhìn Con Mẹ, Đức Mẹ lại đăm đăm nhìn chúng ta. Cái nhìn vừa dịu hiền vừa u buồn của Đức Mẹ như muốn nói với từng người rằng:

“ .. Hỡi những người con đáng thương của Evà. Các con hãy nhìn xem các con được Chúa Cha trên Trời, Chúa Giêsu và Mẹ Ngài yêu thương các con là dường nào! Vì thế, các con hãy trọn lòng yêu mến Thiên Chúa, yêu mến Chúa Giêsu và yêu mến Mẹ, cũng như đặt hết niềm tin tưởng nơi Mẹ. Chẳng lẽ các con nghi ngờ quyền năng của Mẹ bên cạnh Thiên Chúa hay sao? Khi chấp thuận cái chết đau thương của Con Mẹ, Mẹ đã tậu cho các con những quyền lợi thánh thiêng và Mẹ nhận các con làm con Mẹ, thay cho Chúa Giêsu. Làm sao các con lại có thể nghi ngờ tình thương trìu mến Mẹ dành cho các con, khi mà, để cứu chuộc các con, Mẹ đã bằng lòng trao Con Mẹ, Một Người Con tuyệt hảo như thế?.. A! Các con thật quí hóa đối với Mẹ, quí hóa đến độ, Mẹ lại sợ bị mất các con lần thứ hai, và mất vĩnh viễn! Vậy thì, hãy chạy đến với Mẹ. Mẹ nắm giữ trong tay giá cứu chuộc các con, phương thế chữa trị những thói hư tật xấu của các con. Hãy kêu cầu Mẹ trong bất cứ hoàn cảnh khốn cùng nào, trong mọi yếu đuối sa ngã và trong những chán nản thất vọng nhất của các con. Hãy ngước mắt nhìn Mẹ, lúc các con cảm thấy nghi ngờ, khi các con đã dại dột phạm tội. Mẹ sẽ an ủi, nâng đỡ các con. Mẹ sẽ ban cho các con sức mạnh. Mẹ sẽ soi sáng, giúp các con chỗi dậy từ bùn nhơ. Nói tắt một lời, Mẹ hằng liên lĩ trợ giúp các con, mãi mãi cho đến khi nào Mẹ vui mừng đưa các con vào hưởng tôn nhan Chúa bất tận trên Thiên Đàng”.
.. Đó là ý nghĩa tước hiệu “Mẹ Hằng Cứu Giúp” vậy.

Để tỏ lòng kính mến Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, xin đề nghị vắn tắt 9 việc đạo đức sau đây.

– Thứ nhất: Mỗi buổi sáng và tối, đọc ba Kinh Kính Mừng và đọc thường xuyên lời nguyện tắt: “Lạy Đức Maria đầu thai vô nhiễm nguyên tội, xin cầu cho chúng con là kẻ chạy đến cùng Mẹ”.
– Thứ hai: Mỗi ngày lần trọn chuỗi Mân Côi.
– Thứ ba: Đọc Kinh Cầu Đức Mẹ.
– Thứ tư: Đọc một Kinh Kính Mừng trước mỗi khi làm một việc quan trọng, hoặc mỗi khi nghe tiếng đồng hồ đánh báo hiệu giờ.
– Thứ năm: Giữ thói quen tốt lành đọc Kinh Truyền Tin vào ba buổi sáng, trưa và chiều.
– Thứ sáu: Xem lễ và rước lễ vào các ngày lễ kính Đức Mẹ.
– Thứ bảy: Làm một vài việc đền tội và bác ái cũng như đi lễ vào các ngày thứ bảy.
– Thứ tám: Ghi tên vào các Hội như Mân Côi và Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Luôn mang trong mình Áo Đức Bà Camêlô hoặc Ảnh thế Áo Đức Bà.
– Thứ chín: Luôn chạy đến kêu cầu cùng Mẹ trong mọi nổi lo âu, khi bị cám dỗ và xin Đức Mẹ ra tay cứu giúp.

  1. Bức Ảnh Làm Phép Lạ

Một thanh niên lúc gần chết, nhất định không chịu xưng tội. Vì bị thân mẫu nài nĩ mãi, chàng tức giận không cho bà đến gần giường. Người mẹ hiền đức không bỏ cuộc. Bà khẩn khoản kêu xin cùng Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Rồi bà kín đáo dấu một ảnh vảy Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp dưới chiếc gối của con. Lòng tin tưởng của người mẹ đau khổ đã được Đức Mẹ nhậm lời. Hai ngày sau, chính người thanh niên xin gặp linh mục để xưng tội. Chàng lãnh nhận các Bí Tích sau cùng và ra đi bằng an trong ân thánh Chúa..

Đó là câu chuyện xảy ra tại Bruxelles, thủ đô vương quốc Bỉ. Câu chuyện tiếp theo cũng tương tự như thế. Một thanh niên thuộc gia đình Công Giáo đạo đức, lâm trọng bệnh. Từ khi sống ăn chơi buông thả, chàng bỏ hẳn việc đọc kinh, xem lễ và xưng tội. Biết mình sắp chết, nhưng chàng vẫn khăng khăng không chịu ăn năn thống hối. Mẹ và các chị em chàng buồn sầu đến thổ lộ niềm đau với vị linh mục thừa sai. Cha nói ngay: “Hãy đeo cho chàng ảnh vảy Đức Mẹ và kêu cầu cùng Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp”. Bà mẹ làm theo lời khuyên của vị linh mục. Lạ lùng thay, khi chàng thanh niên bằng lòng đeo ảnh Đức Mẹ, tức khắc chàng thay đổi thái độ. Chàng xin gặp linh mục và sẵn sàng xưng tội. Vài ngày sau, chàng êm ái trút hơi thở, sau khi đã giao hòa cùng Thiên Chúa, nhờ ơn Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp.

Một người trẻ, 20 tuổi, thành thật kể lại rằng. Trước đây gần một năm rưỡi, tôi thường bị ma quỷ liên tục tấn công, cám dỗ tôi phạm tội, lỗi đức trong sạch. Biết mình luôn bị quấy phá, tôi thấy không còn phương thế nào khác, ngoài việc chạy đến ẩn nương trong vòng tay dịu hiền của Nữ Trinh Rất Thánh Maria. Ngài là Người Mẹ Thiên Quốc, không bao giờ từ chối lời van nài của bất cứ ai. Thêm vào đó, với tư cách là thành viên Hội Đức Bà Hằng Cứu Giúp, tôi thường kêu cầu Mẹ dưới tước hiệu Hằng Cứu Giúp. Đức Mẹ đã nghe lời tôi kêu cầu và đã giải thoát tôi khỏi vòng vây của tên “quỉ dâm dục”. Tuy nhiên, để biết chắc mình được Đức Mẹ che chở trọn đời, tôi bèn giao kèo với Đức Mẹ như sau: “Nếu trong vòng một năm, con không hề mảy may bị cám dỗ về điều răn thứ sáu, thì con sẽ quyết tâm sùng kính Mẹ, cùng lúc, con sẽ phổ biến lời cao rao ngợi khen quyền năng Mẹ, Người Nữ quyền uy, đã đạp tan đầu con rắn hỏa ngục!”.

Đức Mẹ đã nhận lời tôi cầu xin. Phần tôi, tôi cũng giữ lời đã hứa với Đức Mẹ. Tôi xin làm chứng trước mặt mọi người rằng: Khi kêu cầu Mẹ Cứu Giúp, chắc chắn sẽ được Đức Mẹ nhận lời.

Phép lạ sau đây do một phụ nữ kể lại. Từ hơn mười sáu năm nay, tôi bị chứng kinh phong hành hạ. Cứ hai tháng một lần, tôi bị lên cơn động kinh, thật khủng khiếp. Sau khi tốn phí không biết bao nhiêu tiền của, các bác sĩ tuyên bố bệnh tình tôi vô phương cứu chữa. Họ còn cho gia đình tôi biết là rất có thể tôi sẽ bị điên. Trong hoàn cảnh thảm thương đó, tôi liền đặt trọn niềm tin tưởng nơi Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Tôi cũng đi hành hương đền thánh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp và xin các thành viên Hội Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp hợp lời cầu nguyện với tôi và cho tôi.

Tại đền thánh, tôi long trọng hứa với Đức Mẹ rằng: “Nếu trong vòng một năm, con không còn bị lên cơn động kinh nữa, thì để tỏ lòng tri ân Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, con sẽ tham dự thánh lễ và rước lễ, vào mỗi ngày thứ bảy trong tuần, và dâng cúng một số tiền nơi bàn thờ kính Mẹ”. Lời cầu và lời hứa của tôi đã được Đức Mẹ thương nhậm lời. Từ hơn một năm qua, tôi không còn bị chứng kinh phong tàn phá. Trái lại, tôi vui vẻ khoẻ mạnh. Khỏi cần nói, bạn cũng biết rằng, tôi đã nghiêm chỉnh thi hành mọi lời tôi đã hứa cùng Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Vào mỗi ngày thứ bảy, tôi đều đến đền thánh Đức Mẹ để dự lễ, rước lễ và dâng cúng một số tiền. Nhưng có lẽ của lễ đẹp lòng Đức Mẹ nhất, chính là việc tôi sốt sắng rước Mình Thánh Chúa Kitô.

Phép lạ sau đây xảy ra tại Valparaiso, một thành phố nằm về phía Tây Bắc thủ đô Santiago của nước Chí-Lợi. Một phụ nữ Công Giáo kể lại rằng.

.. Cách đây 6 tháng, vì công việc buôn bán, chồng tôi phải đi thủ đô. Tôi ở nhà một mình với 7 đứa con dại, mà đứa lớn nhất mới 12 tuổi. Một cửa tiệm, đầy ứ hàng hóa, ở một nơi hẻo lánh, đó là những điểm thuận lợi lôi kéo sự chú ý của bọn cướp, vốn khét tiếng trong vùng.

Biết rõ hiểm nguy rình chờ, tôi vô cùng sợ hãi và lo lắng. Tôi bỗng nẩy ra ý tưởng, xin Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp làm Người canh giữ nhà. Nghĩ xong, tôi tức khắc treo Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp nơi cánh cửa, thông thương giữa kho chứa hàng và phòng ngủ của chúng tôi. Vào buổi đọc kinh chung ban tối, tôi bảo các con tôi hãy sốt sắng kêu cầu cùng Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, xin Đức Mẹ gìn giữ chúng tôi qua khỏi đêm nay bằng an. Xin Đức Mẹ cứu chúng tôi khỏi bọn cướp của và giết người.

Nghe lời tôi, các con tôi liền ngước mắt nhìn lên Bức Ảnh và thưa: “Lạy Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, xin Đức Mẹ canh chừng và bảo vệ chúng con”. Đứa bé út, chưa đầy hai tuổi, không hiểu rõ hiểm nguy là gì, nhưng bắt chước anh chị, bé cũng chắp tay lại và ngước mắt van nài nhìn lên Bức Ảnh. Cảnh tượng đó khiến tôi thật cảm động. Hẳn Đức Mẹ cũng cảm động không kém, nên đã ra tay cứu giúp chúng tôi.

Đêm hôm ấy, khoảng một giờ sáng, tôi giật mình thức giấc vì tiếng động. Tôi nghe rõ tiếng những người đàn ông xầm xì, đang rảo quanh nhà. Tôi lạnh điếng người. Tôi thầm nghĩ: “Chúa ơi, xin thương xót chúng con. Lạy Đức Mẹ, xin cứu con và các con của con”. Tôi chỉ nói được bấy nhiêu. Nổi lo sợ làm tôi như bị chết cứng trong giường. Chẳng mấy chốc, tôi nghe tiếng cuốc xẻng. Bọn cướp định phá tung cửa nhà kho. Nhưng không được vì cửa cài thanh sắt rất kỹ. Họ bèn quay sang đục tường nhà. Tường nhà thô sơ nên dễ đục. Nhờ lỗ đục, họ chui vào nhà kho cách dễ dàng. Không thể nào tả hết nổi kinh hoàng của tôi. Giữa nhà kho và phòng ngủ, chỉ ngăn cách bởi một cánh cửa, không ổ khóa. May mắn thay, chúng tôi có được một khí giới an toàn duy nhất: đó là Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp treo trên tường!.

Bỗng cánh cửa hé mở. Ôi thôi, lạy Chúa, cuộc sống, danh dự, tiền của, tất cả rồi sẽ tiêu tan hết. Tôi chỉ còn biết phó thác linh hồn tôi trong tay Chúa. Nhưng rồi, cánh cửa đóng lại tức khắc. Ba lần như vậy. Trong khi đó, bọn cướp dọn sạch nhà kho, không để lại một thứ gì. Sau đó là im lặng như tờ .. cho đến sáng.

Sáng sớm hôm sau, khi vào nhà kho, tôi bàng hoàng thấy bọn cướp mang đi tất cả những gì có giá trị. Chúng chỉ để lại mạng sống cho chúng tôi. Nhưng chính vì mạng sống, mà chúng tôi dâng lời cảm tạ Thiên Chúa và Đức Mẹ, đã thương gìn giữ chúng tôi thoát chết.

Và Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp đã tưởng thưởng lòng đơn sơ phó thác của chúng tôi cách bội hậu. Vào gần trưa, một người cỡi ngựa dừng lại trước nhà, nói với tôi: “Thưa bà, bọn cướp đang ở trong rừng. Chúng đang chia nhau các vật ăn cắp. Tôi sẽ chạy ngay báo cảnh sát”. Nói xong, ông thúc ngựa phóng đi.

Được báo, cảnh sát tức tốc đến nơi và bắt trọn ổ, gồm 6 người. Đó là bọn cướp nguy hiểm nhất trong vùng. Tên đầu đảng đã từng giết trên 30 người và khét tiếng về những hành động tàn ác vô cùng dã man. Ông đặc biệt bắt cóc trẻ em rồi sát hại chúng bằng những cực hình khủng khiếp.

Nơi tòa án, vị thẩm phán cất tiếng hỏi tên đầu đảng: “Là một tên khát máu, làm sao ông lại không giết chết phụ nữ này cùng với các con của bà?”. Hắn ta trả lời: “Đúng ra đó là ý định của tôi. Tôi lăm le bước vào phòng ngủ với con dao. Nhưng khi đẩy cánh cửa bước vào, một bàn tay cản tôi lại và một tiếng nói vang lên: “Đừng vào”. Hai lần nữa tôi thử bước vào, nhưng cả hai lần tôi đều bị cùng một bàn tay cản lại và nghe cùng một tiếng nói “Đừng vào”. Hoảng sợ, tôi không dám bước vào nữa và nói với đồng bọn: “Chúng mình rút lui”.

Quan tòa kết án tù 6 tên cướp và truyền trả lại cho chúng tôi tất cả những gì họ đã ăn cắp. Diễn tả sao cho hết, trọn tâm tình tri ân của gia đình chúng tôi đối với Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Chúng tôi chỉ biết dâng lên Hiền Mẫu Thiên Quốc lời nguyện đơn sơ rằng: “Sau khi giải thoát chúng con khỏi cái chết ở đời này, xin Mẹ cũng cứu chúng con thoát khỏi cái chết vĩnh viễn ở đời sau. Chúng con xin mãi mãi ghi ơn Mẹ”.

(Saint Alphonse de Liguori, “Gloires de Marie”, Edition populaire, 1929, trang 237-262).

 From: hnkimnga & NguyenNThu


 

Chỉ khi nào con người chấp nhận “văn minh hòa bình” họ mới có thể đàm phán và giải quyết chiến tranh

Chỉ khi nào con người chấp nhận “văn minh hòa bình” họ mới có thể đàm phán và giải quyết chiến tranh

Trọng kính Cộng đồng Dân Chúa,

 Trên chuyến bay kết thúc chuyến Tông Du Phi Châu trở về Vatican hôm 23/4/2026 sau 10 ngày rao giảng tin mừng sự sống cho riêng các cộng đoàn dân Chúa của mình cũng như “văn hóa hòa bình” cho chung anh chị em đồng loại của mình ở miền đất bần cùng khốn khổ nhất thế giới này, ĐTC Lêô XIV đã có cuộc họp báo với 70 nhân viên thuộc giới truyền thông được đi tháp tùng ngài. 

 Câu phỏng vấn đầu tiên về chiến tranh Trung Đông

 “Trong cuộc gặp vì hòa bình tại Bamenda, ở Camerun, Đức Thánh Cha đã mô tả một thế giới đảo lộn, nơi một nhóm nhỏ những bạo chúa có nguy cơ hủy diệt hành tinh. Ngài nói: Hòa bình không phải là điều phải phát minh ra nhưng là điều phải được đón nhận. Các cuộc đàm phán về xung đột tại Iran đang rơi vào hỗn loạn với những tác động nặng nề trên kinh tế toàn cầu. Ngài có mong muốn một sự thay đổi chế độ tại Iran không, khi mà cả xã hội dân sự lẫn sinh viên đã xuống đường trong những tháng gần đây và thế giới đang lo ngại về cuộc chạy đua hạt nhân? Ngài gửi lời kêu gọi nào đến Mỹ, Iran, Israel để thoát khỏi bế tắc và chấm dứt leo thang? NATO và châu Âu có nên tham gia nhiều hơn không?”

 ĐTC Lêô XIV đã trả lời về “một nền văn hóa hòa bình”:

 “Tôi muốn bắt đầu bằng cách nói rằng cần phải cổ võ một thái độ mới và một nền văn hóa hòa bình. Rất nhiều lần, khi chúng ta đánh giá một số hoàn cảnh, phản ứng lập tức là phải can thiệp bằng bạo lực, bằng chiến tranh, bằng tấn công. Điều mà chúng ta đã thấy là rất nhiều người vô tội đã chết. Tôi vừa đọc lá thư của một số gia đình có con em đã chết trong ngày đầu tiên của cuộc tấn công. Và họ nói về việc giờ đây họ đã mất con mình, những bé trai, bé gái, những trẻ em đã chết trong cuộc tấn công đó. Vấn đề không phải là chế độ có thay đổi hay không thay đổi; vấn đề là làm thế nào để cổ võ những giá trị mà chúng ta tin tưởng mà không gây ra cái chết của biết bao người vô tội. Vấn đề Iran rõ ràng là rất phức tạp. Chính các cuộc thương thuyết đang diễn ra, một ngày Iran nói có và Mỹ nói không, rồi ngược lại, và chúng ta không biết sẽ đi về đâu. Tình trạng hỗn loạn này đã được tạo ra, gây nguy cấp cho kinh tế toàn cầu, nhưng rồi cũng có cả một dân chúng tại Iran là những người vô tội đang phải chịu đau khổ vì cuộc chiến này. Vì thế, về chuyện thay đổi chế độ hay không: không rõ hiện nay là chế độ nào đang tồn tại, sau những ngày đầu tiên của các cuộc tấn công của Israel và Mỹ vào Iran. Thay vào đó, tôi muốn khích lệ việc tiếp tục đối thoại vì hòa bình, để các bên tìm cách dồn mọi nỗ lực nhằm cổ võ hòa bình, đẩy xa mối đe dọa chiến tranh và tôn trọng luật pháp quốc tế. Điều rất quan trọng là những người vô tội phải được bảo vệ, điều đã không xảy ra ở nhiều nơi. Tôi mang theo bên mình một tấm ảnh của một em bé Hồi giáo mà trong chuyến viếng thăm Libăng đã đứng đó chờ tôi với một tấm bảng ghi ‘Chào mừng Đức Giáo hoàng Lêô’, rồi trong giai đoạn cuối của cuộc chiến, em đã bị giết. Có biết bao hoàn cảnh con người như thế và tôi nghĩ rằng chúng ta phải có khả năng suy nghĩ theo cách đó. Với tư cách là Giáo hội, tôi xin nói lại, với tư cách là mục tử, tôi không thể ủng hộ chiến tranh. Và tôi muốn khích lệ mọi người nỗ lực tìm kiếm những câu trả lời phát xuất từ một nền văn hóa hòa bình chứ không phải từ hận thù và chia rẽ.

 Câu phỏng vấn đầu tiên về việc Iran sát hại dân:

 “Thưa Đức Thánh Cha, trong chuyến đi này ngài đã nói về việc con người đang đói khát công lý. Chính sáng nay, đã có tin cho biết Iran đã xử tử thêm một thành viên đối lập, và điều này diễn ra trong khi chế độ đã công khai treo cổ nhiều người khác và sát hại hàng ngàn công dân của chính mình. Ngài có lên án những hành động này không? Ngài có sứ điệp nào dành cho chế độ Iran không?

 ĐTC Lêô XIV trả lời “Tôi lên án việc giết hại con người”:

 Tôi lên án mọi hành động bất công. Tôi lên án việc giết hại con người. Tôi lên án án tử hình. Tôi tin rằng sự sống con người phải được tôn trọng và sự sống của mọi người, từ lúc được thụ thai cho đến khi chết tự nhiên, phải được tôn trọng và bảo vệ. Vì thế, khi một chế độ, khi một quốc gia đưa ra những quyết định tước đoạt cách bất công mạng sống của những người khác, thì rõ ràng đó là điều phải bị lên án.” 

Vấn đề ở đây là vì thành phần lãnh đạo liên quan đến cuộc chiến Trung Đông tại bãi chiến trường Iran hiện nay đã sẵn máu “văn hóa chết chóc – culture of death” (ĐTC Gioan Phaolô II) và “văn hóa sa thải loại trừ – throw away culture” (ĐTC Phanxicô), nên họ không thể nào chấp nhận “một nền văn hóa hòa bình – culture of peace” (ĐTC Lêô XIV), phản ảnh “văn minh yêu thương – civilization of love” (ĐTC Phaolô VI), và vì thế họ không thể hay khó có thể ngồi lại với nhau, và cho dù có ngồi lại đàm phán với nhau chăng nữa cuối cùng họ vẫn chẳng giải quyết được gì, vẫn tiếp tục đánh nhau, bởi trước khi đàm phán họ đã hù dọa nhau đủ thứ và vẫn nhăm nhe tấn công nhau (như ở cuộc chiến Iran), chứ không tỏ ra thực sự thành tâm thiện chí giải quyết dứt khoát chiến tranh, hay vẫn cứ đánh nhau không chịu ngưng chiến để đàm phán (như ở cuộc chiến Ukraine). 

 Phải chăng chính vì các thẩm quyền chính trị hiện nay không thể hay khó có thể quay trở về với “một nền văn hóa hòa bình” như thế, mà chính Kitô hữu chúng ta cần phải bù đắp cho họ trong tinh thần “xây dựng hòa bình” với danh nghĩa là “con Thiên Chúa” (Mathêu 5:9), thành phần cũng cần phải thay máu hiếu chiến vẫn còn đang sôi sục trong bản thân chúng ta khi chúng ta cầu nguyện cho hòa bình, bằng máu “văn hóa hòa bình”, để nhờ đó LTXC là Đấng không loại trừ một ai sẽ làm chủ tâm trí của thành phần lãnh đạo chính trị liên quan đến các cuộc chiến lớn nhỏ, công khai hay âm thầm hoặc bị quên lãng hiện nay, khiến họ từ từ tiến đến chỗ biết trân quý và tôn trọng hơn bất cứ một tham vọng chính trị bất chính nào của họ, tất cả quyền lợi chính đáng, phẩm giá bất khả xâm phạm và sự sống do chính Thiên Chúa dựng nên của từng người cũng như của chung dân nước của mình cũng như của nhau, chúng ta hãy tiếp tục theo dõi hiện tình Thế giới Ngày nay ở đường kết nối tổng hợp sau đây:

Thế giới Ngày nay 24-26/4/2026 – Chỉ khi nào con người chấp nhận “văn minh hòa bình” họ mới có thể đàm phán và giải quyết chiến tranh

 Trân trọng, 

TĐCTT Đaminh Maria cao tấn tĩnh

From: daminhmariacaotantinh & NguyenNThu


 

 SỐNG NIỀM VUI PHỤC SINH – Trầm Thiên Thu

  Trầm Thiên Thu

Tôi rất thích câu Kinh Thánh: “Khi Chúa Giêsu thấy Maria Mađalêna khóc ở cửa mộ thì Ngài hỏi: Này chị, sao chị khóc?” (Ga 20:15).  Lúc đó Ngài không hỏi một câu văn hoa bóng bẩy.  Ngài muốn biết lý do chúng ta lo âu, khóc lóc và phiền muộn khi niềm hy vọng tiềm ẩn trong mọi sự – nếu chúng ta lưu ý.

 Phục sinh mang ý nghĩa giải thoát, rất ý nghĩa đối với một người như tôi, vì tôi luôn cảm thấy buồn sầu và tiêu cực.  Mừng lễ Phục sinh là dịp để chúng ta nói: “Vâng, lạy Chúa Giêsu, con tin.”  Khi làm vậy, hãy nắm bắt niềm hy vọng có sẵn đó. 

  1. Tiến lên và chạm vào ngài

Sau khi sống lại, Chúa Giêsu hiện ra với các môn đệ và nói: “Sao anh em phiền muộn?  Sao anh em nghi ngờ?  Hãy sờ vào Thầy và xem đây, ma không có xương thịt như anh em thấy Thầy.”  Nếu tôi là một trong số họ, tôi không chỉ phiền muộn mà chắc rằng tôi sẽ không dám đến gần sờ thử.  Tôi nghi ngại.  Nhưng tôi tìm thấy sự an tâm trong sự bảo đảm của Chúa Giêsu rằng sự phục sinh của Ngài là thật.  Chúa Giêsu là thật, sự phục sinh là thật, do đó mà các lời hứa của Ngài là thật.  Nghĩa là chúng ta khả dĩ tin Ngài khi Ngài nói với chúng ta rằng Ngài sẽ ở với chúng ta đến tận thế (Mt 28:20). 

  1. Thiên Chúa tốt lành

Trước khi chịu chết, Chúa Giêsu nhắc lại rằng Ngài được sai đến nhân danh Chúa Cha.  Thật vậy, qua nhiều phép lạ, nhất là việc cho Ladarô sống lại, cho thấy tính tốt lành của Thiên Chúa: “Vì Cha yêu Con và cho Chúa Con thấy mọi sự Người làm, và Người sẽ cho Chúa Con thấy những việc vĩ đại hơn vậy, đến nỗi anh em có thể ngạc nhiên” (Ga 5:20). 

Chân phước Angela Foligna, thế kỷ 14, là người mẹ và người vợ, rồi là người viết xuất chúng về các điều thần bí, đã viết: “Bước đầu tiên mà linh hồn phải có khi đi vào con đường yêu thương là biết Thiên Chúa qua chân lý, nhờ đó mà muốn đạt tới Thiên Chúa…  Biết Chúa qua chân lý là biết Ngài như chính Ngài, hiểu sự xứng đáng của Ngài, vẻ đẹp của Ngài, sự ngọt ngào của Ngài, sự tuyệt luân của Ngài, sức mạnh của Ngài, sự tốt lành của Ngài, bản chất cực tốt lành của Ngài.”  Tôi nghĩ rằng tin Chúa tốt lành là điểm phục sinh.  Thiên Chúa có tốt lành không?  Có.  Chúng ta có thể nói vậy với niềm xác tín vào sự Phục sinh. 

  1. Phó thác

Hãy phó thác ý muốn và cuộc đời mình cho Chúa quan phòng.  Thánh Thomas Tiến sĩ viết: “Tính thánh thiện không gì hơn là quyết định dứt khoát, một hành động anh dũng của một linh hồn phó thác cho Thiên Chúa.  Nhờ ý muốn thẳng thắn mà chúng ta yêu mến Chúa, chạy về phía Chúa, đạt tới Ngài và sở hữu Ngài.”  Mỗi khi chúng ta nói với Chúa: “Hãy lấy điều đó khỏi con,” chúng ta đang sống niềm vui Phục sinh, vì chúng ta đang nhớ lời hứa của Chúa rằng Ngài sẽ cung cấp cho chúng ta, Ngài không bỏ chúng ta, và dù chúng ta nghi ngờ thì Ngài vẫn thực sự đáng tin. 

  1. Loại bỏ sợ hãi

Trong trình thuật của thánh Mát-thêu, thiên thần Chúa hiện ra với Maria và một Maria khác ở nơi mộ trống, rồi nói với họ: “Đừng sợ, vì tôi biết các chị đang tìm Giêsu bị đóng đinh.  Ngài không còn ở đây.  Ngài đã sống lại như Ngài đã nói.”  Sau đó Chúa Giêsu gặp các chị và lặp lại: “Đừng sợ!” (Mt 28:10).  Có thể điều Chúa Giêsu nói ở đây là đừng sợ.  Loại bỏ sợ hãi là điều không dễ làm.  Nhưng nếu chúng ta có thể loại bỏ sợ hãi, dù loại bỏ dần dần, chúng ta sẽ tránh xa nỗi buồn thập giá và đến gần sự tuyệt vời của ngôi mộ trống.  Cố tu sĩ Thomas Merton, dòng Trap, viết: “Nỗi sợ hãi thu hẹp lối vào trái tim, co rút khả năng yêu thương và làm đóng băng khả năng trao tặng chính mình.” 

  1. Công khai

Mệnh lệnh của Chúa Giêsu là rao giảng công khai.  Cho dù bạn có thể giống như kẻ khờ dại, cứ nói với người ta rằng sự sống lại đã xảy ra thực sự.  Không nhất thiết chúng ta phải là người rao giảng Tin Mừng từ xa.  Chúng ta khả dĩ làm và nói mọi thứ, ngôn ngữ và hành động của chúng ta luôn trở lại với sự Phục sinh, truyền niềm hy vọng cho mọi người chúng ta gặp. 

  1. Khiêm nhường

Nếu Chúa Giêsu là Thiên Chúa, và chỉ có một Thiên Chúa, điều đó nghĩa là không ai trong chúng ta là Thiên Chúa.  Đó là sự thật quan trọng khác về sự sống lại: Thiên Chúa trở nên con người, con người không thể trở nên Thiên Chúa.  Tôi biết tôi thường lẫn lộn hai điều đó, nhất là khi tôi nói chuyện qua điện thoại với nhân viên bảo hiểm y tế, vì tôi cảm thấy mình có quyền hơn người đó.  Thánh nữ Catarina Siena viết: “Hãy nhỏ bé và khiêm nhường.  Hãy nhìn vào Thiên Chúa, Ngài tự hạ làm con người.  Đừng làm mình bất xứng với những gì Thiên Chúa đã làm cho chúng ta.”  Với sự khiêm nhường, chúng ta sẽ có khả năng hơn nhờ sự Phục sinh.  Điều đó như sự bù đắp những gì chúng ta không thể có, nhưng Thiên Chúa khả dĩ cung cấp cho chúng ta nếu chúng ta tin vào ngôi mộ trống. 

  1. Hành trình Emmaus

Tôi luôn được đánh động bởi trình thuật của thánh Luca về hành trình Emmaus.  Hai môn đệ trên đường đi Emmaus, Chúa Giêsu đến gần và hỏi họ đang nói chuyện gì.  Một người nói: “Sao ông hỏi vậy?  Ông không nghe xôn xao chuyện gì ư?”  Và họ chợt nhận ra Ngài khi Ngài cùng ngồi ăn với họ. Nhưng ngay khi họ nhận ra Ngài thì Ngài biến đi.  Hằng ngày chúng ta có dịp đi Emmaus nếu chúng ta đồng ý với thánh Leo Cả: “Chia sẻ sự Phục sinh của Chúa Kitô là không bị ràng buộc bởi những gì tạm thời, nhưng chỉ ràng buộc bởi sự sống vĩnh hằng mà Ngài trao ban cho chúng ta… Sự Phục sinh đã khởi sự nơi Đức Kitô, và Ngài muốn dẫn chúng ta đến sự viên mãn của sự sống và sự chữa lành.” 

  1. Cầu nguyện liên lỉ

Trong trình thuật của thánh Luca, tôi thích câu: “Họ hỏi nhau: Lòng chúng ta không sốt sáng khi Ngài nói chuyện với chúng ta trên đường đi và giải nghĩa Kinh thánh cho chúng ta sao?” (Lc 24:32).  Hành trình tới Emmaus là lời cầu nguyện, các nhiệm vụ nhỏ mọn của chúng ta hằng ngày cũng là những lời cầu nguyện.  Thánh bổn mạng của tôi, Têrêsa Hài đồng, đã định nghĩa: “Lời cầu nguyện là điều bộc phát từ đáy lòng, là ánh mắt hướng về trời cao, là lời tạ ơn, là tình yêu giữa cơn thử thách và giữa niềm vui.”  Đó là cách cầu nguyện khi chúng ta sống niềm vui Phục sinh. 

  1. Nhận biết Chúa trong mọi sự

Nếu mùa Chay là sống tĩnh lặng để lắng nghe tiếng Chúa thì lễ Phục sinh là ca vang Alleluia với Ngài.  Và nếu 40 ngày bắt đầu bằng thứ tư lễ Tro là tách mình ra khỏi ai đó, nơi nào đó và thương mình hơn thì lễ Phục sinh là đón nhận mọi người, mọi nơi, mọi thứ gì thúc đẩy sự tốt lành, vẻ đẹp và tình yêu thương.  Thánh Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II đã viết: “Chúng ta có thể tìm thấy Chúa trong mọi sự.  Chúng ta có thể hiệp thông với Ngài trong mọi sự và qua mọi sự.”  Thiên Chúa hằng sống và hiện hữu khắp nơi.  Hãy sống niềm vui Phục sinh ở mọi nơi và mọi lúc.  Hãy cầm lấy, tạ ơn, bẻ ratrao cho người khác chính cuộc đời mình!

 Therese Borchard

Trầm Thiên Thu

 (chuyển ngữ từ Beliefnet.com)

From: ngocnga_12 & NguyenNThu


 

TÁM MƯƠI TƯ NĂM MỘT KIẾP NGƯỜI

Peter Nguyen

TÁM MƯƠI TƯ NĂM MỘT KIẾP NGƯỜI

Tám mươi tư tuổi cuộc đời

Chút tâm tình gởi mấy lời mai sau

Trải qua bao cuộc bể dâu

Tù đày khắc nghiệt, thẳm sâu nghĩa tình.

Bước đầu nếm chén nhục vinh

Tám năm miền Bắc, thân hình héo hon

Chúa thương phù hộ vuông tròn

Vượt qua cửa tử, vẫn còn hôm nay.

Bước hai tìm thấy ơn dày

Tìm về cửa đạo, từ đây an hòa

Bình Triệu khấn Đức Mẹ ta

Kỳ Đồng thanh tẩy, lệ nhòa niềm tin.

Bước ba gác lại nỗi riêng

Rời xa xứ sở, theo tiếng gọi xa

Abraham – thuở quê nhà

Hobby đáp cánh, trời hoa xứ người.

Thánh Kinh sớm tối mỉm cười

Tân Tòng dìu dắt, giúp người bền tâm

Thời gian tựa bóng quan âm

Sống theo từng nhật, chẳng lầm từng niên.

Đời là cõi tạm hư huyền

Chết rồi ai nhớ, ai phiền chi ta?

Nhưng lòng vẫn cứ bao la

Yêu người chỉ trích, thứ tha lỗi lầm.

Cầu cho hậu thế tri âm

Gặp nhau ngày cuối, nảy mầm hy vọng

Yêu thương như biển mênh mông

Một đời trọn vẹn, ấm nồng nghĩa nhân.

Chúc mừng, chúc mừng!

Peter Nguyen


 

Buồn – Tưởng năng Tiến / STTD 

Buồn – Tưởng năng Tiến / STTD 

Người Việt rất hay buồn. Họ buồn đủ chuyện, đủ thứ, đủ cách, đủ kiểu, đủ loại và buồn dài dài: buồn chồng, buồn vợ, buồn con, buồn chuyện gia đình, buồn chuyện nước non, buồn chuyện tình duyên, buồn trong kỷ niệm, buồn tình đời, buồn nhân tình thế thái, buồn thế sự đảo điên, buồn tàn thu, buồn tàn canh gió lạnh … 

Đó là chưa kể những nỗi buồn, buồn lãng xẹt: buồn trông con nhện giăng tơ, buồn trông cửa bể chiều hôm, buồn trông nội cỏ rầu rầu, buồn trông con nước mới sa … 

Lúc nào và ở đâu dân Việt cũng đều có thể buồn được cả (ngoại ô buồn, thành phố buồn, đô thị buồn) và họ luôn luôn buồn quá mạng, buồn thê thảm, buồn dữ dội, buồn da diết, buồn thảm thiết, buồn tê tái, buồn miên man, buồn mênh mông, buồn man mác, buồn nát tâm tư, buồn rười rượi, buồn nẫu ruột, buồn muốn chết, buồn muốn khóc, buồn thấy mẹ, buồn tận mạng, buồn quá xá, buồn quá trời, buồn thỉu buồn thiu, buồn hết biết luôn … 

Nói tóm lại là người Việt buồn muôn thuở, buồn quanh năm, buồn suốt tháng, bất kể ngày đêm: ngày buồn tênh, đêm buồn tỉnh lẻ, khuya phố thị buồn, chiều chủ nhật buồn … Toàn là những nỗi buồn ngang, buồn bất chợt, buồn vô cớ, buồn vào hồn không tên, buồn mà không hiểu vì sao mình buồn nhưng họ đều buồn thiệt và buồn lắm lận. 

Chỉ có nỗi buồn về mùa màng thời tiết thì dân Việt mới nêu rõ nguyên do và ghi khá rõ – từ lâu – qua những câu lục bát truyền thống rất nhịp nhàng, và khá điệu đàng: 

Buồn về một nỗi tháng giêng

Con chim, cái cú, nằm nghiêng thở dài

Buồn về một nỗi tháng hai

Đêm ngắn, ngày dài, thua thiệt người ta

Buồn về một nỗi tháng ba

Mưa rầu, nắng lửa, người ta lừ đừ

Buồn về một nỗi tháng tư

Con mắt lừ đừ cơm chẳng muốn ăn

Buồn về một nỗi tháng năm

Chửa đặt mình nằm gà gáy, chim kêu 

 Riêng tôi thì vì đã quá già (có ngủ nghê gì được mấy đâu) nên đêm dài lắm. Nghe tiếng “gà gáy, chim kêu” còn mừng là đằng khác. Bởi thế, tôi chả hề phiền hà gì “về nỗi tháng năm”. Có buồn chăng – chả qua – chỉ vì chút dư âm của tháng tư (thôi) nhưng cứ buồn hoài và buồn lắm. 

Ngoài chút phiền lòng vì “nắng lửa, lừ đừ, cơm chẳng muốn ăn”, tôi còn buồn lòng không ít vì cả nước chợt ồn ào và náo nhiệt một cách giả tạo và gượng gạo. Khắp nơi bỗng đều đỏ rực một mầu, ngó mà ớn chè đậu: 

– Rực rỡ cờ hoa chào mừng 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam

– Họp mặt kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

– Treo cờ và khẩu hiệu tuyên truyền kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước

– Giao lưu văn nghệ chào mừng kỷ niệm 50 năm ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước

– Triển lãm ảnh kỷ niệm 50 năm ngày giải phóng miền Nam

– Sôi nổi hoạt động chào mừng Kỷ niệm 50 năm ngày Giải phóng hoàn toàn Miền Nam thống nhất đất nước 

Thiên hạ, xem ra, không được “sôi nổi” gì cho lắm: 

– Thái Hạo: “Anh em trong nhà, đánh nhau một trận, năm mươi năm sau’ còn ăn mừng chiến thắng. Đó là tiểu khí của người nhỏ nhen”. 

– Nguyên Tống: “Cùng là anh em nòi giống Việt, đánh nhau đến tan cửa nát nhà rồi ăn mừng mãi cái ngày đó thì làm sao mà hoà giải dân tộc được?!” 

– Nguyễn Hữu Vinh: “Quan sát hiện tượng này, người ta có cảm giác rằng đảng giống như một con nghiện. Nhân tố gây nghiện ở đây là bạo lực, là hình ảnh của sự tàn bạo, sự giết chóc để thỏa mãn bản chất bạo lực của Đảng, của Giai cấp vô sản chuyên nghề lật đổ và cướp từ chính quyền cho đến lợi ích, tài sản.” 

– Nguyễn Thông: “Kiểu kỷ niệm, diễu hành, phô trương như thế này, xưa chỉ thấy ở đám phát xít Đức, về sau rõ nhất ở Triều Tiên … Hãy sống với thế giới văn minh chứ đừng mãi man rợ cờ phướn như thế.” 

– Phạm Quang Trung: “Anh em đánh nhau một trận rồi thôi, cười khì…đàng này đã 50 năm rồi mà vẫn tiệc tùng ăn mừng chiến thắng! Vậy là sao ta!?” 

Câu hỏi thượng dẫn khiến tôi nhớ đến chuyến viếng thăm tiểu bang Hawaii của TT Nhật bản Shinzo Abe, và bài diễn văn ông đọc vào ngày hôm sau (26 tháng 12 năm 2016) tại Trân Châu Cảng. Xin trích dẫn đôi đoạn, theo bản văn của dịch giả Nguyễn Quốc Vương: 

“Đấy là nơi tôi đã cúi đầu mặc niệm. Nơi đang khắc tên những người lính đã mất… Mỗi người lính đều có bố có mẹ lo lắng cho mình. Họ cũng có người vợ yêu thương và người yêu. Và có lẽ họ cũng có cả những đứa con mà họ đang háo hức với sự lớn lên từng ngày của chúng. 

Tất cả những tâm tư ấy đã bị cắt đứt. Khi nghĩ đến sự thật nghiêm trọng ấy và cảm nhận sâu sắc nó, tôi đã không thể thốt nên lời. Hỡi những linh hồn, xin hãy ngủ yên! Tôi, với tư cách là đại diện cho quốc dân Nhật Bản đã thả hoa xuống biển nơi những người lính đang an nghỉ với cả tấm lòng thành… 

Tôi, với tư cách là thủ tướng Nhật Bản, xin được gửi lời chia buồn chân thành mãi mãi tới linh hồn của những người đã bỏ mạng ở mảnh đất này, tới tất cả những người dũng cảm đã bỏ mạng bởi cuộc chiến tranh bắt đầu từ đây và cả linh hồn của vô số người dân vô tội đã trở thành nạn nhân của cuộc chiến tranh. 

Tấn thảm kịch của chiến tranh sẽ không bao giờ được lặp lại. Chúng tôi đã thề như thế. Và rồi sau chiến tranh, chúng tôi đã xây dựng nên quốc gia tự do, dân chủ, tôn trọng pháp trị và duy trì lời thề bất chiến một cách chân thành. 

Khi chiến tranh kết thúc, lúc Nhật Bản trở thành cánh đồng cháy trụi mênh mông và khổ sở trong tận cùng của nghèo đói, người đã không hề ngần ngại gửi đến thức ăn, quần áo là nước Mỹ và quốc dân Mỹ. Nhờ những tấm áo ấm và sữa mà quý vị gửi đến mà người Nhật đã giữ được sinh mệnh tới tương lai… 

Và rồi nước Mỹ cũng đã mở cho Nhật Bản con đường trở lại cộng đồng quốc tế. Dưới sự lãnh đạo của nước Mỹ, chúng tôi, với tư cách là một thành viên của thế giới tự do đã được hưởng thụ hòa bình và sự phồn vinh. 

Tấm lòng khoan dung rộng lớn, sự giúp đỡ và thành ý như thế của quý vị đối với người Nhật chúng tôi, những người đã từng đối đầu quyết liệt như kẻ địch đã khắc sâu trong lòng ông bà, bố mẹ chúng tôi. Cả chúng tôi cũng sẽ ghi nhớ điều đó. Cả con cháu chúng tôi cũng sẽ kể mãi và không thể nào quên… 

Đã 75 năm sau trận ‘Trân Châu cảng’. Nhật Bản và nước Mỹ, những nước đã tham dự cuộc chiến tranh tàn khốc trong lịch sử, đã trở thành hai nước đồng minh gắn bó với nhau mạnh mẽ và sâu sắc hiếm có trong lịch sử… Thứ gắn kết chúng ta chính là ‘sức mạnh của hòa giải’, the power of reconciliation, thứ do lòng khoan dung mang lại.” 

Người Nhật và người Mỹ không đợi đến ngày nay mới quyết định ‘bỏ đi sự thù hận và nuôi dưỡng tình bạn’. Ngay sau khi Thế Chiến Thứ II vừa chấm dứt, họ (kẻ thắng/người thua) đã nắm tay nhau để tạo nên “sức mạnh của tinh thần hòa giải” và sự “khoan dung” gần trăm năm nay. 

Chiến tranh VN cũng đã chấm dứt 50 năm (rồi) nhưng không biết đến bao giờ thì Bên Thắng Cuộc ở đất nước này mới thôi việc đình đám/cờ xí/tiệc tùng ăn mừng chiến thắng, thôi kỳ thị, và thôi kích động hận thù để hòa giải và hòa hợp với Bên Bại Cuộc? 

Nhân Tuấn Trương trả lời: “Tôi có thể kết luận (mà không sợ sai lầm) rằng đảng và nhà nước CSVN chưa bao giờ có chủ trương về hòa giải (hay HG&HH DT). Hòa giải-réconciliation” là hành vi chỉ có ở những dân tộc văn minh”. 

Nghe thế có buồn không? 

Buồn chớ và buồn lắm! Buồn muốn khóc luôn, buồn như chưa bao giờ buồn thế, buồn như không còn ai có thể buồn hơn được nữa. Buồn từ ngã bẩy, ngã ba buồn về.

Tưởng năng Tiến / STTD

From: My Tran


 

Việt Nam chịu tác động giá nặng nề nhất ở Đông Nam Á

Theo báo Nikei Á Châu

thay thế

Người mua sắm đang xem hàng tại một siêu thị ở Bangkok vào ngày 22 tháng 4. Một nhà phân tích cảnh báo về giá thực phẩm tăng cao trong khu vực do chi phí năng lượng tăng cao ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế. (Ảnh của Ken Kobayashi)

Sự phụ thuộc của Đông Nam Á vào dầu thô và các sản phẩm dầu mỏ tinh chế

SINGAPORE — Lạm phát tiêu dùng đang gia tăng trên khắp Đông Nam Á, do sự gián đoạn nguồn cung dầu mỏ gây ra bởi cuộc chiến Mỹ-Iran, với các quốc gia phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu dầu từ Trung Đông như Việt Nam và Philippines chứng kiến ​​mức tăng giá mạnh nhất trong nhiều năm vào tháng 3.

Kể từ khi việc vận chuyển dầu thô qua eo biển Hormuz bắt đầu bị hạn chế vào tháng 3, nền kinh tế toàn cầu đã phải đối mặt với giá nhiên liệu tăng cao và tình trạng thiếu hụt các nguyên liệu đầu vào công nghiệp quan trọng như naphtha.

Darren Tay, người đứng đầu bộ phận rủi ro quốc gia khu vực châu Á – Thái Bình Dương tại BMI, nói với Nikkei Asia,  “Do tác động lạm phát được phân bổ rộng rãi hơn trên toàn bộ nền kinh tế công nghiệp của Đông Nam Á” chính điều này làm cho tác động trở nên nặng nề hơn so với các nền kinh tể ở Châu Âu.

Ông lưu ý rằng điều này khác với xu hướng ở châu Âu, nơi cú sốc chủ yếu được truyền tải thông qua giá khí đốt tự nhiên và hóa đơn tiền điện của các hộ gia đình.

thay thế

Việt Nam là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất. Theo số liệu chính thức, chỉ số giá tiêu dùng của nước này đã tăng 4,65% so với cùng kỳ năm ngoái trong tháng 3, đạt mức cao nhất trong 5 năm.

BÁN ĐẢO TRIỀU TIÊN VÀ PHÉP THỬ Ý THỨC HỆ: KHI “GIẢI PHÓNG” LÀ MỘT LỜI NGUYỀN

Nhật Ký Yêu Nước

BÁN ĐẢO TRIỀU TIÊN VÀ PHÉP THỬ Ý THỨC HỆ: KHI “GIẢI PHÓNG” LÀ MỘT LỜI NGUYỀN

Lịch sử loài người hiếm khi cung cấp một phòng thí nghiệm hoàn hảo để thử nghiệm các học thuyết chính trị như bán đảo Triều Tiên sau năm 1945. Cùng một dân tộc, cùng một dòng máu, cùng một nền văn hóa ngàn năm, nhưng bị xẻ làm đôi chỉ vì một đường kẻ vô tri trên bản đồ — vĩ tuyến 38. Bảy mươi năm sau, đường kẻ ấy không chỉ phân chia lãnh thổ, mà nó phân chia giữa thiên đàng và địa ngục, giữa ánh sáng văn minh và bóng tối của thời trung cổ hoang dã.

Một Dân Tộc, Hai Số Phận: Vở Kịch Hài Hước Của Ý Thức Hệ

Cả Bắc Triều Tiên và Nam Hàn đều khởi đầu từ đống tro tàn của chiến tranh, với xuất phát điểm nghèo khó như nhau. Nhưng “phép màu” đã xảy ra nhờ vào sự lựa chọn ý thức hệ.

Tại Nam Hàn: Họ chọn con đường “tư bản giãy chết”. Và kết quả thật thảm hại! Họ bị buộc phải sống trong một xã hội tự do dân chủ, văn minh và giàu có đến mức… phát ngấy. Chẳng có gì vui vẻ khi chỉ sau 40 năm, họ bị biến thành một con rồng châu Á, sở hữu các tập đoàn toàn cầu như Samsung, Hyundai, làm chủ công nghệ cao và có mức thu nhập bình quân đầu người cao gấp 10 lần người Việt Nam. Thật là một cuộc sống “mất gốc” nhạt nhẽo!

Trong khi đó, tại Bắc Triều Tiên: Họ chọn con đường “thiên đường cộng sản” rực rỡ. Tại đây, người dân được tận hưởng sự bình đẳng tuyệt đối trong nghèo nàn và lạc hậu. Họ được giải thoát khỏi gánh nặng của tự do ngôn luận, tự do đi lại và ngay cả tự do… ăn no. Mỗi ngày, họ được đắm mình trong ánh hào quang của vị “Lãnh tụ kính yêu”, người luôn lo lắng cho họ đến mức phải bắn tên lửa ra biển để… dọa cá, trong khi người dân lặng lẽ gặm rễ cây để sinh tồn. Đó mới chính là đỉnh cao của sự “bền vững”!

Sự mỉa mai nằm ở chỗ, cộng sản Bắc Hàn luôn rêu rao về việc “giải phóng” miền Nam thoát khỏi ách kìm kẹp của đế quốc Mỹ. Nhìn vào sự đối lập này, người ta chỉ biết cười ra nước mắt cho cái định nghĩa “giải phóng” của họ. Nó giống như một người sống trong hang động cầm đuốc muốn “giải phóng” một người đang sống trong căn hộ thông minh có điện lưới quốc gia.

Ẩn Số 30-4 Và Cú Lừa Của Lịch Sử Việt Nam

Nhìn sang Việt Nam, nỗi đau 30-4-1975 lại càng nhói lên sắc lạnh. Chúng ta cũng có một kịch bản tương tự: Cộng sản miền Bắc xua quân “giải phóng” miền Nam khỏi đế quốc Mỹ và chính phủ “bù nhìn”. Sự khác biệt duy nhất là Việt Nam không có một phòng tuyến vĩ tuyến 17 vững chắc như vĩ tuyến 38 của Triều Tiên. Chúng ta đã “thắng” cuộc chiến, để rồi… thua trong hòa bình.

Hậu quả của chiến thắng ấy là gì? Là ngày nay, hàng triệu người Việt Nam phải ngậm ngùi xếp hàng xin visa đi xuất khẩu lao động, làm cu li, làm nô công cho chính người Nam Hàn — những người suýt chút nữa cũng bị “giải phóng” giống như chúng ta. Là những người con gái Việt Nam xinh đẹp phải ngậm đắng nuốt cay sang lấy chồng Nam Hàn, mong đổi đời, mong thoát khỏi cái nghèo đói của “quê hương anh hùng”.

Giả Thuyết Chấn Động: Nếu Bắc Hàn Giải Phóng Nam Hàn Thành Công?

Hãy tưởng tượng một kịch bản chấn động: Nếu năm 1950, quân cộng sản Bắc Hàn đánh đuổi được quân Đồng Minh xuống biển, và ngày hôm nay toàn bộ bán đảo Triều Tiên là một quốc gia cộng sản dưới sự lãnh đạo của gia tộc Kim.

Nếu điều đó xảy ra, lịch sử sẽ được viết lại theo một cách đầy châm biếm:

Lao Động Xuất Khẩu: Sẽ không có chuyện hàng vạn người Việt Nam sang Hàn Quốc làm việc. Ngược lại, chính người dân Nam Hàn — sau khi được “giải phóng” thành công — sẽ phải xếp hàng nườm nượp tại Đại sứ quán Việt Nam ở Bình Nhưỡng để xin visa đi… xuất khẩu lao động tại Việt Nam. Họ sẽ đến Bình Dương, Đồng Nai để làm công nhân may mặc, giày da với mức lương chết đói, trong khi quê hương họ đang say sưa với các thành tựu… sản xuất máy cày chạy bằng than đá.

Lấy Chồng Nước Ngoài: Sẽ không có những câu chuyện buồn về cô dâu Việt lấy chồng Hàn. Thay vào đó, những chàng trai Việt Nam — nhờ lợi thế kinh tế gấp 10 lần — sẽ là đối tượng săn đón của các cô gái Nam Hàn. Họ sẽ mơ ước được gả về một vùng quê nghèo ở Đồng bằng sông Cửu Long để được… ăn cơm no ba bữa và thoát khỏi sự kiểm soát gắt gao của tổ dân phố tại Seoul.

May Mắn Thay Cho Hàn Quốc, Và Đau Đớn Thay Cho Việt Nam

Sự đối lập giữa Bắc và Nam Triều Tiên là một bản án đanh thép, không thể chối cãi dành cho ý thức hệ cộng sản. Cùng một dân tộc, ý thức hệ tư bản đã tạo nên một kỳ tích, còn ý thức hệ cộng sản đã tạo nên một thảm kịch.

Nhờ sự kiên cường của quân đội Nam Hàn và sự hỗ trợ kịp thời của Đồng Minh, họ đã giữ vững được tiền đồn tự do dân chủ tại vĩ tuyến 38. Nhờ không bị “giải phóng”, họ đã không phải trải qua những năm tháng bao cấp đói nghèo, không phải đi “học tập cải tạo”, và quan trọng nhất là không phải biến thành một quốc gia xuất khẩu nô công như Việt Nam.

Nhìn ngày 30-4, người Việt Nam chỉ có thể cay đắng nhận ra một điều: Chúng ta đã thua một cuộc chiến với quân cộng sản để rồi ngày nay dân tộc ta phải cúi đầu làm chư hầu lao động cho chính những kẻ mà chúng ta từng suýt chút nữa đã… vượt xa về kinh tế. Đó chính là bi kịch lớn nhất của lịch sử Việt Nam hiện đại, một cú lừa của ý thức hệ mà chúng ta vẫn đang phải trả giá mỗi ngày.


 

Đức Khiêm Nhường và Sự Kiêu Ngạo –  Tác giả: Phùng Văn Phụng

Đức Khiêm Nhường và Sự Kiêu Ngạo

 Hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường (Mt 11:29)

 Tác giả: Phùng Văn Phụng

 Trong bảy mối tội đầu thì

 1)Thứ nhất là khiêm nhường chớ kiêu ngạo.

Chúa Giêsu nhắn nhủ: “Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11:29).

Trong một thế giới đề cao “cái tôi” và cách sống đầy ích kỷ như ngày nay, sống khiêm nhường là một thách đố lớn. Thế nên, chúng ta lại càng phải cố gắng tập sống khiêm nhường. Càng khó càng phải cố. Hãy bắt chước tác giả Thánh Vịnh mà luôn tự nhủ:

 Lòng con chẳng dám tự cao

Mắt con chẳng dám tự hào, Chúa ơi!

Đường cao vọng, chẳng đời nào bước

Việc diệu kỳ vượt sức, chẳng cầu

Hồn con, con vẫn trước sau

Giữ cho thinh lặng, giữ sao thanh bình. (Tv 131:1-2) 

Lạy Chúa, xin ban thêm đức tin và sức mạnh của Chúa Thánh Thần để chúng con có thể sống khiêm nhường theo đúng Thánh ý của Chúa. 

2-“Hãy học cùng ta vì Ta khiêm nhường” 

Đức khiêm nhường là gì? Thưa là nhân đức nền tảng của đời sống đạo đức. Nhờ khiêm nhường, người môn đệ của Chúa có thể dễ dàng nhận ra được tiếng nói của Chúa và gặp được Ngài trong cuộc đời của mình. Nhờ khiêm nhường mà chúng ta thấy cuộc đời của mình vui tươi, hạnh phúc.

 Chuyện kể:

 Đầu tháng bảy năm 1870, một phái đoàn người Pháp đến chầu Đức giáo hoàng Piô IX tại Roma. Sau khi trưởng phái đoàn đã đọc bài chào mừng, Đức giáo hoàng đã nói chuyện thân mật với từng người và ai nấy đều xin ơn nọ ơn kia. Nhưng khi nhìn thấy một thanh niên có vẻ khô khan lạnh nhạt, Đức giáo hoàng đã hiền từ hỏi:

– Còn con, con không xin ơn gì sao?

Chàng thanh niên lạnh lùng đáp:

– Thưa không.

Đức giáo hoàng hỏi thêm:

– Cha con còn sống không?

Chàng thanh niên lửng khửng đáp:

– Thưa còn.

Đức giáo hoàng lại hỏi:

– Còn mẹ con thì sao?

Chàng thanh niên chậm chạp lí nhì đáp lại

– Mẹ con chết lâu rồi.

Bấy giờ Đức giáo hoàng cầm tay anh thanh niên mà nói với giọng cảm động rằng:

– Con không xin ơn gì với cha; còn cha, cha xin con một điều, là con hãy cùng cha quì gối xuống đất, đọc một kinh lạy cha, một kinh kính mừng, một kinh sáng danh, cầu nguyện cho mẹ con được lên thiên đàng, và khi được hưởng mặt Chúa. Mẹ con sẽ xin cùng Chúa cho con được sốt sắng giữ đạo để sau này con cũng được lên thiên đàng với mẹ con. Nói xong Đức giáo hoàng quỳ xuống đất, hai tay chắp trước ngực, mắt nhìn lên trời, đọc kinh rất sốt sắng, làm cho chàng thanh niên phát cảm động phải khóc nức nở. 

Đức Giáo Hoàng quì xuống trước mặt mọi người. Ngài có làm gì lạ lùng không. Không. Ngài chỉ cùng đọc với mọi người những lời kinh đơn sơ nhất”.

Chúng ta hãy nhìn vào đó mà bắt chước để cuộc sống của mỗi người chúng ta xứng đáng với Chúa hơn. Amen.

 3-Kiêu ngạo là gì? 5 dấu hiệu giúp bạn nhận biết người kiêu ngạo.

 Kiêu ngạo khác với khiêm nhường vì người kiêu ngạo:

 a)Luôn khẳng định mình đúng

Kiêu ngạo là gì? Một dấu hiệu dễ thấy nhất của sự kiêu ngạo đó là luôn cho rằng mình đúng trong mọi trường hợp bất kể đúng sai và chẳng bao giờ tiếp thu lời khuyên, ý kiến của người khác.

 b)Luôn xem mình là trung tâm

Những người kiêu ngạo luôn cho rằng bản thân mình là trung tâm của mọi người. Khi người kiêu ngạo đạt được một thành công nào đó, họ thích khoe khoang về những thành công của mình hơn là cảm ơn sự giúp đỡ của người khác. 

c)Luôn coi thường những người xung quanh

Tính kiêu ngạo sẽ làm bạn luôn coi thường những người xung quanh. Họ luôn cho rằng mình giỏi hơn người khác. Họ thường xem thường đồng nghiệp và có thái độ khó chịu, chê bai người xung quanh. 

d)Không biết lắng nghe

Những người kiêu căng sẽ không bao giờ dành thời gian để lắng nghe và chia sẻ với những người xung quanh. 

e)Không muốn nhận lỗi và thay đổi

Đây là một điều tồi tệ mà những người kiêu căng thường mắc phải. Nhận lỗi và thay đổi là một việc làm rất khó khăn đối với họ. Họ là người luôn đỗ lỗi cho người khác. 

Kiểu người này có cái tôi rất cao, vì thế họ sẽ không bao giờ chấp nhận được việc bị người khác phê bình và dùng mọi lý lẽ để biện hộ cho những sai lầm và rắc rối mà mình đã gây ra. 

Thái độ kiêu ngạo làm cho mọi người sẽ dần dần xa lánh họ, họ sẽ là người rất cô đơn vì không có ai là bạn, không có ai dám tiếp xúc, nói chuyện với họ. 

4-Nguyên nhân kiêu ngạo.

 Thông thường những ai nếu thành công đôi chút như làm ăn khá giả, trả hết nợ nầng xe cộ, nhà cửa, có mức sống cao, dễ bắt đầu sự kiêu ngạo. Chỉ một mình ta là người giỏi hơn hết mọi người khác. Nếu có ai chạm tự ái họ, họ sẽ nỗi “khùng” lên, nặng lời, mắng chửi người khác không còn nể mặt, e dè. 

Bản chất kiêu ngạo của con người là do tổ tiên chúng ta, ông Adam và Eve truyền lại, đã không tuân lệnh Thiên Chúa, đã ăn trái cấm ở vườn điạ đàng, cũng như xây tháp Ba-ben để lên tận trời cao. 

Nếu con người không học tập, suy nghiệm, cầu nguyện, nhờ ơn trên giúp sức khó từ bỏ được tính kiêu ngạo.

 5-Hiện tượng kiêu ngạo: 

*Trong gia đình nếu gặp phải người kiêu ngạo, gia trưởng, bắt mọi người trong gia đình phải làm theo ý mình, không được trái ý, thì vợ con sẽ sống rất khổ sở vì không được tự do. Người kiêu ngạo thường hay lãi nhãi, la lối, cự nự, nếu có ai trong gia đình làm trái ý mình; đôi khi dùng cả bạo lực để khống chế người khác. Do đó, họ thường chịu cảnh cô đơn, hiu quạnh, vì không ai muốn nói chuyện, đến gần. 

* Anh Nguyễn luôn chỉ trích người khác, người nào càng nổi tiếng trong cộng đồng là thế nào anh cũng chỉ trích nói xấu. 

Một lần tôi nói: “Anh A. siêng năng, viết sách hay, súc tích”.

Anh Nguyễn trả lời liền: “Cái thằng A. lăng xăng, lúc nào cũng vội vã. Có gì mà hay đâu”.

 Tôi nói: “Anh H. chịu khó sinh hoạt nổi tiếng trong cộng đồng”.

Anh Nguyễn trả lời ngay: “Cái thằng bợ đỡ, mặt mập, bịnh hậu…” 

Khi nhắc đến bất cứ ai thì anh Nguyễn cũng có câu nói dè biểu, chê bai, nói ra ngay những khuyết điểm của người đó. Đó là cái tật của anh Nguyễn.

 *Anh Trần đã có nhà. Có hai chiếc xe. Nên anh rất tự cao tự đại. Anh cho mình hơn người, không ai bằng anh. Anh có nghề nghiệp vững chắc, có tiền. Anh chỉ chiếc xe BMW và nói với tôi dẫn tôi đến bên xe của anh và nói: “Chú xem xe mới đẹp không? mới mua đó.”

 Anh chồng lúc nào cũng cho rằng mình đúng, vợ không được cãi. “Tao là nhất nhà rồi vì tao có tiền, tao có xe, tao có nhà đã trả hết, tao qua Mỹ chỉ cần 30 năm, tao đã thành công”.

 *Trong môt quốc gia nếu nhà cầm quyền kiêu ngạo, quá khích, khư khư giữ quan điểm của mình, không biết lắng nghe người khác. 

Hậu quả của “kiêu ngạo cộng sản” là sau khi chiếm được miền Nam ngày 30 tháng 04 năm 1975, cộng sản Việt Nam đã cắt đứt liên lạc ngoại giao với các nước Tây Phương, áp dụng chính sách tự cung tự cấp, chỉ dựa vào sự viện trợ của Liên sô mà thôi.

 Trong nước, cộng sản đã tịch thu tài sản của các nhà tư bản miền Nam, đầy họ đi vùng kinh tế mới, thành lập các hợp tác xã, đã làm cho toàn thể đất nước Việt Nam đi vào con đường đói kém, sản xuất ngưng trệ, kinh tế suy sụp, xã hội hỗn loạn. Nếu không có thay đổi từ năm 1986 trở về nền kinh tế tự do, (mà miền Nam đã áp dụng từ lâu), thì tình trạng đói kém, rối loạn xã hội không biết sẽ xảy ra như thế nào nữa. Nền kinh tế đang phát triển bị đẩy lùi hàng chục năm cho đến ngày nay (2020) vẫn còn thua kém so với các nước Đông Nam Á khác. Cũng vì kiêu ngạo không thèm thấy cái hay của Việt Nam Cộng Hòa đem ra áp dụng, mà phá bỏ tất cả, hậu quả giáo dục chậm tiến, văn hóa xã hội suy đồi, chính trị độc quyền, độc tài, không tôn trọng ý kiến khác biệt, nhân quyền không có. 

Kết: Bịnh kiêu ngạo làm cho gia đình rối loạn, nghi kỵ lẫn nhau, ganh ghét nhau, xung đột nhau, không có hạnh phúc, bình an. 

Bịnh kiêu ngạo làm cho nhà cầm quyền tưởng mình là “thánh”, là “đỉnh cao trí tuệ loài người”, không bao giờ chấp nhận sai lầm, khiến cho toàn thể dân tộc chịu điêu đứng vì quyết định sai lầm của mình. Ai dám nói ngược với ý của nhà cầm quyền thì bị chụp mũ phản động, “thế lực thù địch”, tìm cách bỏ tù dài hạn. 

Tác giả: Phùng Văn Phụng 

Ngày 29- 06-2020


 

Tội kiêu ngạo: khi con người muốn đứng vào chỗ của Thiên Chúa

Make Christianity Great As Always

Tội kiêu ngạo: khi con người muốn đứng vào chỗ của Thiên Chúa

Tội kiêu ngạo không bắt đầu từ diễn đàn, ngai vàng hay quyền lực chính trị. Nó bắt đầu rất sớm, rất âm thầm, trong một khu vườn. Hội Thánh gọi nó là một trong các mối tội đầu, vì từ đó nhiều tội khác sinh ra. Nói ngắn gọn, kiêu ngạo là lúc con người không còn muốn ở đúng vị trí của mình nữa.

Trong Sáng Thế 3, con rắn gợi lên một tham vọng lớn: “các ngươi sẽ nên như thần.” Đó là gốc của kiêu ngạo. Con người không còn muốn đón nhận điều thiện từ Thiên Chúa, nhưng muốn tự mình nắm quyền quyết định thiện ác. Vấn đề từ đầu không chỉ là bất tuân, mà là muốn lấy thứ không thuộc về mình.

Đến Sáng Thế 11, câu chuyện tháp Babel cho thấy kiêu ngạo không chỉ là chuyện của một cá nhân, mà là của cả một nền văn minh: “Ta hãy xây cho mình một thành và một tháp chọc trời, để làm cho danh ta lẫy lừng.” Con người không còn xây để phụng sự sự sống, nhưng để làm lớn tên mình. Khi một đám đông cùng tin rằng mình có thể tự dựng trời đất mới bằng sức riêng, Babel lại bắt đầu.

Trong 1 Samuel 8, dân Israel xin một vị vua “như các dân khác.” Ở đây xuất hiện một dạng kiêu ngạo khác: ảo tưởng chính trị. Con người bắt đầu tin rằng trật tự, an ninh và tương lai sẽ được cứu bởi quyền lực hữu hình chứ không bởi Thiên Chúa. Từ lúc đó, chính trị rất dễ bị đẩy lên thành một thứ cứu thế.

Các ngôn sứ nói rõ điều này. Isaia 5 lên án những kẻ “gọi ác là thiện, gọi thiện là ác” và những kẻ “khôn trong mắt mình.” Khi con người tôn mình lên, họ sẽ sửa luôn cả ngôn ngữ luân lý. Điều xấu không còn bị gọi là xấu, nhưng được bọc bằng những chữ dễ nghe hơn: cần thiết, thực tế, tiến bộ, đại cuộc.

Trong Isaia 14 và Êdêkien 28, quyền lực không chỉ muốn cai trị, mà còn muốn được nhìn như bất khả sai lầm, như thể chính mình là thần. Và trong Đaniel 3, điều đó đạt đỉnh điểm: Nabucôđônôsor dựng tượng vàng và buộc mọi người phải sấp mình thờ lạy. Quyền lực trần gian không còn bằng lòng với việc cai trị xã hội; nó muốn lấy luôn sự quy phục của lương tâm. Ba thiếu niên chấp nhận vào lò lửa chứ không quỳ trước ngẫu tượng. Đó là bài học lớn: người tín hữu không chống mọi chính quyền trong mọi sự, nhưng phải từ chối ngay khi quyền lực đòi lấy chỗ của Thiên Chúa.

Sang Tân Ước, kiêu ngạo trở nên tinh vi hơn. Trong Gioan 11, Caipha nói: “thà một người chết thay cho dân còn hơn toàn dân bị diệt.” Câu ấy nghe rất thực tế, nhưng ẩn bên dưới là một lối nghĩ rất nguy hiểm: làm điều sai hôm nay để giữ một điều tốt nào đó ngày mai. Thánh Phaolô trong Rôma 3,8 bác bỏ thẳng kiểu lập luận này: không thể “làm điều ác để điều thiện xảy ra.” Ở đây, kiêu ngạo mang bộ mặt của sự khôn ngoan và của “đại cuộc.”

Đến Luca 18, Đức Giêsu kể dụ ngôn người Pharisêu và người thu thuế. Kiêu ngạo lúc này không dựng tượng, không mặc áo vua, không xưng mình là thần. Nó vào tận đền thờ và cầu nguyện: “Con không như những kẻ khác.” Đây là kiêu ngạo tôn giáo, và có lẽ là dạng khó thấy nhất. Nó không cần làm điều xấu lộ liễu; nó chỉ cần lấy điều tốt của mình làm cớ để khinh người khác.

Toàn bộ dòng chảy ấy được đảo ngược nơi Đức Kitô trong Philípphê 2. Người không nắm lấy vinh quang cho mình, nhưng tự hạ, mặc lấy thân nô lệ và vâng phục cho đến chết. Ở Ađam, con người muốn vươn lên để bằng Thiên Chúa. Ở Đức Kitô, Con Thiên Chúa lại hạ xuống để cứu con người. Một bên là nắm lấy; một bên là trao ban.

Nhìn vào thế giới hôm nay, ta không khó để nhận ra những điều ấy vẫn còn nguyên. Khi người ta gọi ác là thiện, Isaia đang bị lặp lại. Khi người ta biện minh cho điều sai hôm nay vì tương lai, Caipha đang bị lặp lại. Khi người ta tin rằng quốc gia, ý thức hệ, thị trường, công nghệ hay chiến thắng chính trị có thể cứu lịch sử, ảo tưởng của 1 Samuel 8 và Babylon đang quay lại. Và khi quyền lực không muốn bị phán xét bởi một chuẩn mực cao hơn chính nó, đó là dấu hiệu của một thứ kiêu ngạo muốn tự mình làm luật.

Ta cũng đã thấy những biểu hiện như thế trong đời sống hiện nay: có những nhà lãnh đạo muốn tiếng nói luân lý im đi trước quyền lực; có những người sử dụng biểu tượng tôn giáo để làm lớn bản thân; có những cộng sự và người ủng hộ biện minh mọi sự bằng những câu như: “đó chỉ là chiến lược”, “đó chỉ là trò đùa”, “đó là điều cần thiết cho tương lai.” Nhưng tội kiêu ngạo hiếm khi tự xưng tên. Nó thường đến với bộ mặt của lý do tốt, của hiệu quả, của đại cuộc, của sự sáng suốt.

Dù vậy, người Kitô hữu cũng phải cẩn thận với chính mình. Phản ứng trước kiêu ngạo của thế gian không thể là một thứ kiêu ngạo ngược: “Họ sai, còn tôi thì sáng suốt.” Dụ ngôn người Pharisêu nhắc ta rằng người lên án kiêu ngạo cũng có thể sa vào kiêu ngạo. Bài học của Thánh Kinh không chỉ để ta chỉ mặt người khác, mà để ta xét lại chính lòng mình.

Và chính ở đây, Hội Thánh đặt trước mắt chúng ta hình ảnh Đức Thánh Cha. Không phải như một đối thủ chính trị của các nguyên thủ quốc gia, nhưng như một dấu chỉ rằng không hoàng đế nào là Thiên Chúa, không quốc gia nào là Nước Trời, không lãnh tụ nào là Đấng Cứu Độ. Thánh Gioan Phaolô II đã nói: “Đừng sợ.” Đó là lời mời mở cửa cho Đức Kitô và từ chối mọi ngẫu tượng của thời đại. Còn lời “Tôi không sợ” của Đức Leo XIV lại vang lên như chứng tá của một mục tử không chấp nhận để quyền lực trần gian dạy Hội Thánh phải nói gì.

Nói cho cùng, kiêu ngạo là con người muốn cao đến nỗi không còn quỳ được nữa. Còn Tin Mừng thì dạy điều ngược lại: chỉ ai biết quỳ trước Thiên Chúa mới có thể đứng thẳng trước các ngẫu tượng của thế gian. Và vì thế, hai lời ấy vẫn gặp nhau ở một điểm: đừng sợ!

Make Christianity Great As Always


 

NHẬT BẢN: KHI MỘT XÃ HỘI GIÀU CÓ PHẢI ĐỐI DIỆN VỚI NỖI CÔ ĐƠN CỦA TUỔI GIÀ

Người Việt Cao Niên USA

NHẬT BẢN: KHI MỘT XÃ HỘI GIÀU CÓ PHẢI ĐỐI DIỆN VỚI NỖI CÔ ĐƠN CỦA TUỔI GIÀ

Nhật Bản từ lâu được xem là một trong những quốc gia phát triển hàng đầu thế giới.

Đó là nơi có hệ thống y tế tiên tiến, tuổi thọ thuộc nhóm cao nhất toàn cầu, hạ tầng hiện đại và mức sống đáng mơ ước.

Tuy nhiên, đằng sau sự văn minh và sung túc ấy, Nhật Bản đang đối diện với một vấn đề xã hội rất đáng suy ngẫm:

sự cô đơn ở người cao tuổi.

Một trong những biểu hiện đau lòng nhất của thực trạng này là khái niệm “Kodokushi” – thường được hiểu là “cái chết cô đơn.”

Đây là tình huống một người, thường là người lớn tuổi, qua đời trong nhà riêng mà không có ai hay biết. Có trường hợp phải nhiều ngày, thậm chí 1–2 tuần sau, họ mới được phát hiện.

Điều khiến nhiều người bàng hoàng không phải chỉ là cái chết,

mà là sự thật rằng một con người có thể rời khỏi cuộc đời này trong lặng lẽ đến mức không ai nhận ra ngay.

Bức tranh già hóa dân số tại Nhật Bản

Nhật Bản hiện là một trong những xã hội già hóa nhanh nhất thế giới.

Tỷ lệ người trên 65 tuổi chiếm phần rất lớn trong cơ cấu dân số. Điều này đồng nghĩa với việc số người bước vào tuổi hưu, tuổi cần được quan tâm, chăm sóc và đồng hành đang ngày một tăng.

Song song với đó là nhiều thay đổi lớn trong cấu trúc gia đình và xã hội:

  • Quy mô gia đình nhỏ dần
  • Nhiều thế hệ không còn sống chung như trước
  • Con cháu học tập, làm việc xa nhà
  • Nhịp sống hiện đại khiến các mối liên kết gia đình lỏng hơn
  • Số người cao tuổi sống một mình ngày càng nhiều

Khi tuổi thọ tăng lên nhưng sự kết nối giữa con người với con người lại giảm đi,

xã hội bắt đầu xuất hiện một nghịch lý:

sống lâu hơn, nhưng không chắc sống ấm áp hơn.

Vấn đề không chỉ nằm ở vật chất

Khi nhắc đến tuổi già, nhiều người thường nghĩ trước hết đến tiền bạc, nhà cửa, bảo hiểm hay chi phí y tế.

Đó đều là những yếu tố quan trọng.

Nhưng thực tế từ Nhật Bản cho thấy:

một cuộc sống đủ đầy về vật chất vẫn chưa chắc bảo vệ được con người khỏi nỗi cô đơn.

Người cao tuổi có thể có nơi ở an toàn.

Có thể có lương hưu.

Có thể được chăm sóc y tế tốt.

Nhưng nếu thiếu đi sự hỏi han, thiếu những cuộc trò chuyện, thiếu cảm giác mình vẫn còn được nhớ đến, được cần đến, thì tuổi già vẫn có thể trở nên rất trống vắng.

Nói cách khác, điều khiến con người tổn thương ở cuối đời không chỉ là bệnh tật,

mà còn là cảm giác mình dần biến mất khỏi nhịp sống của những người xung quanh.

Một lời cảnh tỉnh cho nhiều quốc gia, nhiều gia đình

Câu chuyện của Nhật Bản không nên được xem là chuyện riêng của Nhật Bản.

Đó là một tín hiệu cảnh báo cho mọi xã hội đang bước vào giai đoạn già hóa dân số, trong đó có rất nhiều cộng đồng Á Châu và gia đình người Việt ở khắp nơi trên thế giới.

Khi con cái bận rộn với công việc, khi cuộc sống ngày càng áp lực, khi khoảng cách giữa các thế hệ ngày càng rõ hơn, thì người lớn tuổi rất dễ rơi vào trạng thái bị bỏ quên, dù không ai thật sự cố ý bỏ quên họ.

Sự cô đơn của tuổi già thường không đến một cách ồn ào.

Nó đến rất âm thầm:

  • một bữa cơm ăn một mình
  • một ngày không có ai gọi điện
  • một tuần không có ai ghé thăm
  • một nỗi buồn không biết chia sẻ cùng ai
  • một căn nhà im lặng quá lâu

Và đôi khi, những điều âm thầm ấy mới là thứ bào mòn tinh thần con người nhiều nhất.

Điều người lớn tuổi thật sự cần

Người lớn tuổi cần thuốc men, cần chăm sóc sức khỏe, cần chuẩn bị tài chính.

Nhưng bên cạnh đó, họ còn cần những điều rất giản dị:

  • Một cuộc gọi hỏi thăm
  • Một bữa cơm có người ngồi cùng
  • Một lời lắng nghe thật lòng
  • Một cảm giác rằng mình vẫn thuộc về gia đình này
  • Một sự hiện diện đủ ấm để họ biết rằng họ không bị bỏ lại phía sau

Nhiều khi, thứ quý nhất với một người lớn tuổi không phải là món quà lớn, mà là sự hiện diện đều đặn của tình thân.