SUY NIỆM VỀ CÁI CHẾT-Elisabeth Nguyễn

Elisabeth Nguyễn

Hãy nhớ rằng, cái chết không trì hoãn đâu và ngày hẹn của âm phủ, con nào có biết Hc 14,12)

 Không ai trong chúng ta biết được ngày chết và cái chết của mình như thế nào. Mỗi ngày sống của chúng ta là mỗi ngày đi dần đến cái chết, nhưng phần đông không ai nghĩ đến chúng cả.

 Con đừng sợ án chết. Hãy nhớ rằng: có những kẻ đã đi trước con, và sẽ có những người theo sau (Hc 41 3).

Sự chết dạy chúng ta sống như thế nào?

Trong đời sống, chúng ta nên thỉnh thoảng suy niệm về cái chết.

Một nhà tu đức khi suy niệm về cái chết đã thốt lên “cái chết của người già ở trước mặt, cái chết của người trẻ ở sau lưng

Niềm tin Kitô giáo giúp chúng ta tránh đam mê những hạnh phúc giả tạo ở đời này và thúc đẩy chúng ta hãy can đảm chịu đựng những đau khổ để kết hợp đau khổ với Đấng Kitô, và biết đến ích lợi của cuộc đời, phải đi qua đau khổ để vào vinh quang với Ngài.

Nếu có lúc con đau khổ xao xuyến, xin nhắc con nhớ rằng trong Vườn Dầu, Chúa đã buồn muốn chết được. Nếu có lúc con thấy bóng tối bủa vây con, xin nhắc con nhớ rằng: Trên Thập Giá, Chúa đã thốt lên: sao Cha bỏ con (Lời nguyện. Rabouni)

Suy nghĩ về cái chết không có nghĩa chúng ta phải buồn rầu, sợ hãi, hoặc ngã lòng.

Trái lại, khi suy niệm về cái chết, chúng ta sẽ sống một cách hiểu biết hơn về cuộc đời và từ bi nhân ái hơn, vì đó chính là luật của Tạo Hóa.

Như cành lá trên cây rậm rạp; lá rụng xuống lá lại mọc ra, thì các thế hệ người phàm cũng vậy: lớp kết thúc, lớp lại sinh ra (Huấn ca 14,18)

Mỗi khi gặp chuyện bực mình khó chịu mà gây gỗ, cãi nhau hay nóng giận với người khác thì được ích lợi gì?

Đau khổ, bệnh nạn thì nghĩ rằng đời sống rất ngắn, ai cũng sẽ chết. Đó là điều Đức Chúa quyết định cho hết mọi người phàm. Tại sao cưỡng lại điều Đấng Tối Cao đã muốn?

Dù người ta sống được mười năm, trăm năm, hay cả ngàn đi nữa, thì trong âm phủ, chẳng ai trách móc đâu (Hc 41, 4).

Vậy lo lắng, buồn rầu hoàn toàn không được gì mà sinh ra bất an trong tâm hồn.

Là Kitô hữu, hằng ngày cầu nguyện với Lời Chúa, giúp ta biết suy nghĩ sâu xa về sự sống, sự chết theo lời dạy của Chúa và Giáo Hội.

Hãy phó thác và tin tưởng trong tay Ngài. Tất cả đều là hồng ân Ngài ban.

Hãy thinh lặng lắng nghe tiếng nội tâm, để Chúa Thánh Thần hướng dẫn ta ý thức và tự kiểm soát lấy mình, không để những suy nghĩ lệch lạc lôi cuốn, ta sẽ cư xử với mọi người hòa ái hơn.

Điều này luôn luôn không phải dễ làm, nhưng khi ta cầu nguyện, suy niệm về cái chết, Chúa sẽ nhắc nhở mình về sự mong manh và ngắn ngủi của cuộc đời, ta sẽ tự chế và ăn nói với sự dịu dàng hơn, sẽ biết sống đẹp lòng Chúa hơn.

Chúng ta biết khi chết là lúc chúng ta về với Chúa và sẽ được sống lại với Ngài trong vinh quang thì chúng ta sẽ dễ dàng chấp nhân cái chết hơn.

Cái chết luôn bình đẳng cho tất cả mọi người, cho nên ta hãy chọn cách tốt nhất là sống theo Lời Chúa dạy, sống tỉnh thức, sống ý thức, sống yêu thương từng giây phút với hết sức lực, hết trí khôn của mình.

Hơn nữa, dù có lo hay không lo, tất cả chúng ta đều sẽ già và chết. Ta sẽ nhẫn nại hơn, sẽ bao dung hơn, tử tế hơn , dịu dàng hơn, dẽ dàng tha thứ hơn đối với bản thân ta và đối với người khác.

Cuộc đời thật sự hạnh phúc và có ý nghĩa hơn. Lòng thương yêu từ con tim nhân ái sẽ đâm chồi nở hoa, và khi cái chết đến chúng ta sẽ không có gì ân hận.

Lạy Chúa, xin Chúa cho con được chết một cách an bình, đừng đau đớn lâu ngày, nhưng Chúa cho con chết như thế nào tùy ý Chúa. Amen.

Elisabeth Nguyễn

From:   Ngoc Bich  & KimBang Nguyen


 

NGÀI KHÁT – Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

“Cho tôi xin chút nước!”.

“Ngài bắt đầu bằng cơn khát để khơi dậy khát khao; Ngài xin điều chính Ngài sẽ ban!” – Gioan Kim Khẩu.

Kính thưa Anh Chị em,

Bối cảnh Tin Mừng hôm nay là giữa trưa của một ngày chói chang – giờ thứ sáu. Bên bờ giếng Giacóp, Chúa Giêsu Kitô ngỏ lời xin chút nước với một phụ nữ ngoại giáo. Một lời xin rất người; nhưng từ cơn khát ấy, Ngài khơi dậy cơn khát nơi lòng người, xin chính điều Ngài sẽ ban. Một mầu nhiệm sâu xa dần lộ ra – ‘Ngài khát!’.

Người phụ nữ ấy đến giếng giữa trưa, có lẽ để tránh ánh mắt và lời xì xào của làng xóm. Nhưng chính lúc cô muốn ẩn mình, Đấng ngồi bên giếng lại mở lời và bắt đầu mở ra một cuộc gặp gỡ. Điều lạ không phải là người phụ nữ cần nước, khát nước, mà là Thiên Chúa khát con người. Đấng ban nước hằng sống lại bắt đầu bằng một cơn khát. Ngài xin một ngụm nước, nhưng thật ra đang mở một nguồn nước; Ngài chạm đến nỗi khát sâu hơn trong lòng con người: khát được nhìn nhận, khát được tha thứ, khát được sống lại từ những đổ vỡ của đời mình. “Cơn khát thể lý của Ngài bày tỏ cơn khát thần linh: Thiên Chúa khát linh hồn con người!” – Augustinô.

Rồi từng lớp đời của người phụ nữ được mở ra, không phải để kết án nhưng để được chữa lành. Khi sự thật được đặt dưới ánh sáng, điều kỳ lạ xảy ra: cô không còn chạy trốn; cô để lại vò nước, chạy vào thành và nói với mọi người “Đến mà xem!”. Một chuyển động rất lạ – từ người đi lấy nước, cô trở thành người mang nước cho người khác. Cô đến trong cô đơn, nhưng trở về với một sứ mạng. Một cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu Kitô đã đổi hướng cả cuộc đời. Cô bỏ lại chiếc vò, trở thành “người môn đệ thừa sai” – vì đã gặp chính Nguồn.

Hôm nay, không chỉ nghe câu chuyện của một phụ nữ, chúng ta còn nghe câu chuyện của đời mình. Mỗi người đều mang trong lòng một cơn khát: khát ý nghĩa, khát được yêu, khát vĩnh cửu, khát một nguồn nước không cạn. Và từ nơi sâu thẳm ấy, một lời vẫn đang vang lên: ‘Ngài khát!’ – khát gặp chúng ta, khát ở lại trong chúng ta, khát dẫn chúng ta đến nguồn nước hằng sống – chính Ngài. “Bên trong mỗi người luôn tồn tại một lỗ hổng hình Chúa!” – Blaise Pascal.

Anh Chị em,

“Cho tôi xin chút nước!” – đó không chỉ là cơn khát của một thân xác dưới nắng trưa. Cơn khát ấy đã vang lên mãi, và sẽ vang lên lần nữa vào giờ thứ sáu của Tuần Thánh, khi Con Thiên Chúa bị treo trên thập giá; Ngài sẽ thốt lên: “Ta khát!”. Khi ấy, giếng đã trở thành cây thập giá, và từ cạnh sườn bị đâm thâu, nước hằng sống tuôn trào cho thế gian. Từ cơn khát của Ngài, sự sống mới cho nhân loại được mở ra. Vì thế, Tin Mừng hôm nay mời chúng ta dừng lại, thôi chạy theo những cơn khát chóng qua của đời mình, để bắt đầu khát chính Đấng đang khát chúng ta! Và câu hỏi cuối cùng còn lại cho mỗi người là: Ngài khát chúng ta; còn chúng ta, chúng ta khát ai? “Ta khát phần rỗi các linh hồn!” – Faustina.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con hiểu được cơn khát của Ngài; để con thôi chạy theo những cơn khát của đời; và bắt đầu khát Chúa!”, Amen.

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

******************************************************

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT III MÙA CHAY, NĂM A

Mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.    Ga 4, 5-42

5 Khi ấy, Đức Giê-su đến một thành xứ Sa-ma-ri, tên là Xy-kha, gần thửa đất ông Gia-cóp đã cho con là ông Giu-se. 6 Ở đấy, có giếng của ông Gia-cóp. Người đi đường mỏi mệt, nên ngồi ngay xuống bờ giếng. Lúc đó vào khoảng mười hai giờ trưa.

7 Có một người phụ nữ Sa-ma-ri đến lấy nước. Đức Giê-su nói với người ấy : “Chị cho tôi xin chút nước uống !” 8 Lúc đó, các môn đệ của Người đã vào thành mua thức ăn. 9 Người phụ nữ Sa-ma-ri liền nói : “Ông là người Do-thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Sa-ma-ri, cho ông nước uống sao ?” Quả thế, người Do-thái không được giao thiệp với người Sa-ma-ri. 10 Đức Giê-su trả lời : “Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban, và ai là người nói với chị : ‘Cho tôi chút nước uống’, thì hẳn chị đã xin, và người ấy đã ban cho chị nước hằng sống.” 11 Chị ấy nói : “Thưa ông, ông không có gầu, mà giếng lại sâu. Vậy ông lấy đâu ra nước hằng sống ? 12 Chẳng lẽ ông lớn hơn tổ phụ chúng tôi là Gia-cóp, người đã cho chúng tôi giếng này ? Chính Người đã uống nước giếng này, cả con cháu và đàn gia súc của Người cũng vậy.” 13 Đức Giê-su trả lời : “Ai uống nước này, sẽ lại khát. 14 Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.”

15 Người phụ nữ nói với Đức Giê-su : “Thưa ông, xin ông cho tôi thứ nước ấy, để tôi hết khát và khỏi phải đến đây lấy nước.” 16 Người bảo chị ấy : “Chị hãy gọi chồng chị, rồi trở lại đây.” 17 Người phụ nữ đáp : “Tôi không có chồng.” Đức Giê-su bảo : “Chị nói : ‘Tôi không có chồng’ là phải, 18 vì chị đã năm đời chồng rồi, và người hiện đang sống với chị không phải là chồng chị. Chị đã nói đúng.” 19 Người phụ nữ nói với Người : “Thưa ông, tôi thấy ông thật là một ngôn sứ … 20 Cha ông chúng tôi đã thờ phượng Thiên Chúa trên núi này ; còn các ông lại bảo : Giê-ru-sa-lem mới chính là nơi phải thờ phượng Thiên Chúa.” 21 Đức Giê-su phán : “Này chị, hãy tin tôi : đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giê-ru-sa-lem. 22 Các người thờ Đấng các người không biết ; còn chúng tôi thờ Đấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ phát xuất từ dân Do-thái. 23 Nhưng giờ đã đến -và chính là lúc này đây- giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế. 24 Thiên Chúa là thần khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật.” 25 Người phụ nữ thưa : “Tôi biết Đấng Mê-si-a, gọi là Đức Ki-tô, sẽ đến. Khi Người đến, Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự.” 26 Đức Giê-su nói : “Đấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây.”

27 Vừa lúc đó, các môn đệ trở về. Các ông ngạc nhiên vì thấy Người nói chuyện với một phụ nữ. Tuy thế, không ai dám hỏi : “Thầy cần gì vậy ?” Hoặc “Thầy nói gì với chị ấy ?” 28 Người phụ nữ để vò nước lại, vào thành và nói với người ta : 29 “Đến mà xem : có một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Ông ấy không phải là Đấng Ki-tô sao ?” 30 Họ ra khỏi thành và đến gặp Người.

31 Trong khi đó, các môn đệ thưa với Người rằng : “Ráp-bi, xin mời Thầy dùng bữa.” 32 Người nói với các ông : “Thầy phải dùng một thứ lương thực mà anh em không biết.” 33 Các môn đệ mới hỏi nhau : “Đã có ai mang thức ăn đến cho Thầy rồi chăng ?” 34 Đức Giê-su nói với các ông : “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người. 35 Nào anh em chẳng nói : Còn bốn tháng nữa mới đến mùa gặt ? Nhưng này, Thầy bảo anh em : Ngước mắt lên mà xem, đồng lúa đã chín vàng đang chờ ngày gặt hái ! 36 Ai gặt thì lãnh tiền công và thu hoa lợi để được sống muôn đời, và như thế, cả người gieo lẫn kẻ gặt đều hớn hở vui mừng. 37 Thật vậy, câu tục ngữ “kẻ này gieo, người kia gặt” quả là đúng ! 38 Thầy sai anh em đi gặt những gì chính anh em đã không phải vất vả làm ra. Người khác đã làm lụng vất vả ; còn anh em, anh em được vào hưởng kết quả công lao của họ.”

39 Có nhiều người Sa-ma-ri trong thành đó đã tin vào Đức Giê-su, vì lời người phụ nữ làm chứng : ông ấy nói với tôi mọi việc tôi đã làm. 40 Vậy, khi đến gặp Người, dân Sa-ma-ri xin Người ở lại với họ, và Người đã ở lại đó hai ngày. 41 Số người tin vì lời Đức Giê-su nói còn đông hơn nữa. 42 Họ bảo người phụ nữ : “Không còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin. Quả thật, chính chúng tôi đã nghe và biết rằng Người thật là Đấng cứu độ trần gian.”


 

Liệu Thế Chiến Thứ Ba có còn là một kịch bản giả định xa vời? (RFI)

RFI

Cuộc chiến tại Trung Đông vẫn là chủ đề chính bao trùm các báo Pháp số ra hôm nay, 06/03/2026. Trong khi Le Monde phân tích chiến dịch trên không do Mỹ và Israel tiến hành với quy mô chưa từng có nhắm vào Iran, La Croix lại đặt câu hỏi rằng Nhà nước Do Thái phải chăng đã vượt qua logique răn đe có từ thời lập quốc để tiến hành một cuộc chiến xâm lược ở Iran. 

Đăng ngày: 06/03/2026 

Một cậu bé Ba Lan trở về ngôi nhà giờ chỉ còn là đống đổ nát sau cuộc không kích của Đức tại Vacxava, Ba Lan, tháng 09/1939 trong Thế chiến II. AP – JULIEN BRYAN

Một cậu bé Ba Lan trở về ngôi nhà giờ chỉ còn là đống đổ nát sau cuộc không kích của Đức tại Vacxava, Ba Lan, tháng 09/1939 trong Thế chiến II. AP – JULIEN BRYAN

Minh Phương

Libération thì tập trung vào nạn tin giả mà chế độ Thần quyền đang tung ra để trấn an người dân và khơi dậy lòng hận thù với Washington và Tel-Aviv. Tuy nhiên, đáng chú ý nhất có lẽ là mối trăn trở của Les Echos về câu hỏi : Nhân loại liệu còn đủ khả năng để ngăn cản Đệ Tam Thế Chiến?    

Tờ Les Echos hôm nay đăng tải bài phân tích của học giả Jacques Attali, nguyên cố vấn đặc biệt của tổng thống Pháp François Mitterrand (1981 – 1995), về những kịch bản mở ra chiến tranh thế giới lần thứ ba. Theo ông Attali, từ năm 1945, thế giới luôn sống dưới cái bóng của một cuộc đại chiến thứ ba. Nỗi lo ấy từng ám ảnh tất cả trong thời kỳ đối đầu giữa chủ nghĩa tư bản và cộng sản, khi nhân loại ít nhất hai lần tiến sát bờ vực tận thế vì vũ khí hạt nhân, cho đến khi sự sụp đổ của Liên Xô tạm thời khép lại chu kỳ đó. Khi ấy, người ta từng dám hy vọng vào một nền hòa bình vĩnh viễn – một ảo tưởng che khuất những nỗi oán giận âm ỉ trong lòng các dân tộc.

Nhìn bề ngoài, ít nhất là vào lúc này, chưa có dấu hiệu của một cuộc xung đột toàn cầu. Những gì ta thấy chỉ là các cuộc chiến tách biệt giữa Nga và Ukraina; các cuộc đối đầu bùng nổ giữa Israel và Iran; bất ổn tại khu vực Afghanistan – Pakistan; các cuộc nổi dậy ở vùng Sahel; hay căng thẳng chết chóc quanh eo biển Đài Loan.

Thoạt nhìn, các bên tham chiến trong từng cuộc xung đột này dường như không có lợi ích trực tiếp nào để can dự vào chiến tranh của những bên khác: Matxcơva và Bắc Kinh không có lý do để đối đầu với Tel-Aviv; Riyad không có tranh chấp với Bắc Kinh; Islamabad cũng không có tham vọng tại Sahel. Thế giới dường như vẫn còn cách khá xa bờ vực. Nhưng dưới lớp bề mặt rời rạc ấy vẫn hiện diện những mối hận thù chung. Đó là sự đối đầu giữa toàn bộ phương Tây với những cộng đồng cảm thấy mình là nạn nhân của một đế chế phương Tây tàn nhẫn.

Điều gì sẽ dẫn đến Đệ Tam Thế Chiến? 

Bước ngoặt đầu tiên hướng tới một cuộc chiến quy mô toàn cầu sẽ là việc các bên trong những cuộc xung đột ở cấp khu vực bắt đầu thiết lập các liên minh gián tiếp với nhau. Có thể hình dung Iran tấn công một quốc gia thành viên NATO, kéo theo sự tham chiến của toàn bộ liên minh. Cũng có thể tưởng tượng Nga, Trung Quốc và Pakistan đứng về phía chế độ thần quyền Iran, mỗi bên lại có một lợi ích riêng. Matxcơva tham gia nhằm bảo đảm chiều sâu chiến lược và nguồn cung nhân lực, trang bị cho mặt trận Ukraina; Bắc Kinh để bảo vệ nguồn năng lượng và các tuyến vận chuyển chiến lược; còn Islamabad để có các “bảo trợ” đáng tin cậy trước sức mạnh của Ấn Độ.

Giai đoạn tiếp theo sẽ chứng kiến các quốc gia này triển khai lực lượng hỗ trợ lẫn nhau: quân Pakistan tham gia cùng lực lượng Nga tại Ukraina; đơn vị Nga hỗ trợ chiến dịch của Trung Quốc tại Đài Loan; lực lượng Iran được triển khai đồng thời trên cả hai mặt trận. Tất cả sẽ dễ dàng tập hợp dưới lá cờ của chủ nghĩa bài phương Tây, với lý do lên án cơ chế toàn cầu hóa mang tính bóc lột, chủ nghĩa duy lý làm mất đi các giá trị tinh thần, và một nền dân chủ hiện đại mang dấu ấn thực dân.

Một khi động lực ấy đã được khởi động, sẽ không còn trọng tài nào đủ khả năng kiềm chế nó: không còn quyền bá chủ nào – kể cả Washington – có thể áp đặt hòa bình; không có thiết chế đa phương nào đủ sức buộc các bên ngừng bắn; luật pháp quốc tế nằm trong đống đổ nát dưới những đòn tấn công của các cường quốc theo chủ nghĩa xét lại. Và Chiến tranh thế giới thứ ba sẽ không còn chỉ là một kịch bản giả định hay chuỗi những cuộc đụng độ đẫm máu rời rạc nữa.

Mỹ và Israel tiến hành chiến dịch trên không với quy mô chưa từng có để áp đảo Iran

Về tình hình chiến sự tại Iran, tờ Le Monde hôm nay nhận định đây là “Một cuộc chiến trên không với cường độ chưa từng có kể từ nhiều thập niên qua”. Theo tờ báo, để thể hiện sức mạnh áp đảo trước đối thủ Iran, các lực lượng Mỹ và Israel đã tiến hành một chiến dịch với quy mô cực lớn. Cần nhắc lại là quân đội Mỹ và Israel, đã huấn luyện chung suốt ba thập kỷ và sở hữu cùng loại trang thiết bị, đã phân chia bầu trời, nhiệm vụ và các hành lang vào không phận Iran. 

Bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ Pete Hegseth hôm thứ Tư đã tuyên bố chỉ cần “vài ngày” nữa là quân đội có thể kiểm soát được bầu trời Iran. Khi quyền thống trị này được thiết lập, Nhà nước Do Thái và Mỹ sẽ rảnh tay tiếp tục công cuộc phá hủy các bệ phóng và nhà máy tên lửa của Teheran. Ông Hegseth khẳng định : “Chúng tôi có thể sử dụng bom trọng lực chính xác được dẫn đường bằng laser với trọng lượng 500, 1.000 và 2.000 pound [tương đương khoảng 900 kg]; chúng tôi có một kho gần như vô hạn”. Điều này đặt ra câu hỏi về số lượng thường dân thương vong mà chính quyền Trump sẵn sàng chịu trách nhiệm, trong khi chính quyền này một số ngày lại tuyên bố sẽ “giải phóng” đất nước, thuyết phục người dân nổi dậy chống lại chế độ sau chiến tranh.

Về phần mình, Israel cho biết 300 bệ phóng tên lửa của Iran đã bị phá hủy kể từ khi chiến tranh bắt đầu. “Cứ sáu giờ là sẽ có khoảng một trăm máy bay sẵn sàng cất cánh từ Israel. Có lẽ có vài trăm chiếc luôn xuất hiện trên bầu trời Iran.” một tướng dự bị Israel khẳng định. Tối thứ Tư, quân đội Israel ước lượng số lượng đạn được bắn ra là 5.000 viên, nhiều hơn một nghìn so với hôm trước. 

Tấn công Iran, Israel phải chăng đã vượt qua logic răn đe để tiến tới cuộc chiến xâm lược? 

Trong khi đó, nhật báo Công Giáo La Croix lại tập trung phân tích về mục đích và tính chính danh của cuộc chiến mà Mỹ và Israel tiến hành ở Iran. Trong mục xã luận, La Croix nhận định rằng đối với Tel-Aviv, cuộc chiến này đánh dấu một bước ngoặt chưa từng có. Kể từ khi thành lập năm 1948, Israel xây dựng chính sách quốc phòng dựa trên chiến lược răn đe, chủ yếu là “trả đũa” mạnh mẽ hoặc không cân xứng trước bất kỳ cuộc tấn công nào. Tuy nhiên, lần này không chỉ là răn đe hay duy trì hiện trạng: đây là một cuộc chiến xâm lược, nhằm thay đổi chế độ tại Teheran. Thủ tướng Benjamin Netanyahu muốn lật đổ Cộng hòa Hồi giáo Iran để vô hiệu hóa chương trình hạt nhân và tên lửa mà Israel coi là mối đe dọa tồn vong.

Chiến lược này thay đổi hoàn toàn vị thế của Israel tại Trung Đông. Đất nước này hiện thể hiện vai trò cường quốc bá quyền, tìm cách kiểm soát, thậm chí thống trị các nước láng giềng – một logic đã áp dụng lâu nay với người Palestine và Liban, nhưng lần này quy mô lớn hơn nhiều. Chiến lược chỉ khả thi nhờ sự ủng hộ mạnh mẽ từ Mỹ, với liên minh mà Netanyahu tự hào gọi là “lịch sử” và “độc nhất”. 

Liệu sự sụp đổ của Iran hay sự xuất hiện của một chế độ “thân thiện” tại Teheran có mở đường cho Israel bình thường hóa quan hệ và hòa nhập hòa bình vào Trung Đông? Tờ báo nhận định là chưa đến mức đó, nhưng điều này sẽ phù hợp với mục tiêu của Hiệp định Abraham, sáng kiến ngoại giao do Donald Trump khởi xướng năm 2020. Tuy nhiên, các hiệp định này bỏ qua vấn đề Palestine – thách thức lớn nhất của Israel – và điều kiện để giải quyết vấn đề này ngày càng bị xói mòn bởi các chủ nghĩa Phục quốc Do Thái mạnh mẽ của chính quyền. Từ chiến tranh chống Iran đến hòa bình ở Gaza tồn tại một khoảng cách khái niệm rất lớn, và khoảng cách đó có thể tóm gọn bằng một từ : công lý.

Iran đang chiến thắng, ít nhất là trong những tuyên truyền của chế độ 

Vẫn về cuộc chiến ở Iran, tờ Libération nói tới “Cuộc chiến tin giả” mà các phương tiện truyền thông chính thức của Teheran đang lan truyền. Cộng hòa Hồi giáo đang giành chiến thắng. Ít nhất đó là điều người ta có thể rút ra khi đọc các tờ báo của chính quyền, nơi thông điệp này được lặp đi lặp lại như khẩu hiệu duy nhất. Trên truyền hình, những gương mặt quen thuộc của chế độ liên tục xuất hiện để trấn an công chúng về năng lực của đất nước, nhấn mạnh những thiệt hại gây ra cho kẻ thù và giảm nhẹ tổn thất về nhân mạng, đồng thời gửi thông điệp tới các quốc gia láng giềng – những mục tiêu có thể bị đáp trả.

Đường lối truyền thông chính thức này không chỉ dừng ở những tuyên bố mạnh mẽ. Tờ New York Times cho biết đã xuất hiện nhiều hình ảnh do trí tuệ nhân tạo tạo ra, phóng đại các thành công quân sự của quân đội Iran. Những video và hình ảnh này được lan truyền rộng rãi trên các mạng xã hội thân cận với chế độ hoặc trên kênh truyền hình PressTV – một cơ quan truyền thông phát bằng tiếng Anh và tiếng Pháp nhằm truyền bá quan điểm chính thức của Iran ra nước ngoài.

Báo chí không hoàn toàn bỏ qua tác động của các cuộc tấn công đối với đất nước, nhưng họ chọn lọc những gì được đưa ra ánh sáng. Một video do kênh Tasnim phát sóng cho thấy sân vận động lớn nhất Azadi, nằm ở phía bắc Teheran, đã bị tàn phá nặng nề. Phần lớn các tờ báo cũng nhấn mạnh hình ảnh tang lễ tại trường học ở Minab, nơi một cuộc không kích do Israel và Mỹ thực hiện được cho là đã khiến 168 người thiệt mạng, phần lớn là các nữ sinh nhỏ tuổi. Mười bốn cơ sở y tế bị hư hại và ba bệnh viện không còn hoạt động được nữa. Số nạn nhân trong các cuộc không kích cũng được công bố hàng ngày. Đối với truyền thông Iran, những con số này là bằng chứng cho thấy Mỹ và Israel đang ném bom vào các khu dân cư mà không phân biệt mục tiêu.

Điều khiến cuộc chiến truyền thông này thêm phức tạp là gần như không thể có được nguồn tin trực tiếp từ Iran. Chính quyền nước này vẫn chặn Internet và đe dọa truy tố những người cố gắng vượt qua các hạn chế. Chỉ trong một số trường hợp hiếm hoi, các nhà báo và công dân mới có thể gửi thông tin ra bên ngoài. Theo tổ chức giám sát tự do Internet NetBlocks, mạng Internet tại Iran chỉ hoạt động ở “khoảng 1% so với mức bình thường” và “tình trạng mất Internet đã kéo dài hơn 120 giờ”.


 

 Rất nhiều người nói rằng sống ở Việt Nam thoải mái hơn…

Tina Nguyen

 Rất nhiều người nói rằng sống ở Việt Nam thoải mái hơn. Nhịp sống dễ thở hơn. Không phải cày hai ba việc như ở Mỹ. Không phải cuối tuần lo nấu ăn cho cả tuần. Không phải tự mình gánh hết mọi chi phí, từ bảo hiểm đến thuế má.

Nếu tin rằng ở Việt Nam “sướng hơn” như vậy, thì tại sao mỗi lần nhắc đến “Việt kiều Mỹ” lại mặc định đó là người phải giàu, phải rộng rãi, phải chi trả?

Việt kiều, về bản chất, chỉ là người Việt sống và làm việc ở nước ngoài. Việt kiều Mỹ, Việt kiều Lào, Việt kiều Campuchia, Việt kiều Trung Quốc… đều là Việt kiều. Nhưng rất lạ, dường như chỉ có “Việt kiều Mỹ” mới bị đặt vào một khung kỳ vọng tài chính cao hơn.

Cũng là rời quê hương.

Cũng là sống xa gia đình.

Cũng là tự bươn chải nơi đất khách.

Vậy tại sao danh xưng giống nhau nhưng mức độ “phải cho” lại khác nhau?

Có phải vì hai chữ “Mỹ” gợi lên hình ảnh giàu có, nên tự động nâng chuẩn đòi hỏi? Và nếu vậy, đó là suy nghĩ dựa trên thực tế, hay dựa trên tưởng tượng?

Sự thật là, sống ở Mỹ không đồng nghĩa với giàu có. Ở đó, thu nhập đi kèm với chi phí rất cao. Tiền nhà, tiền xe, bảo hiểm, thuế, sinh hoạt, tất cả đều tính bằng đô và đều phải trả đúng hạn. Không ai được miễn trừ vì mình là người nhập cư.

Việt kiều Mỹ cũng đi làm thuê, cũng lao động như bao người. Có người làm hãng, có người làm nail, có người làm nhà hàng, có người làm kỹ thuật. Họ có thể kiếm được nhiều hơn mức trung bình ở Việt Nam, nhưng đồng thời cũng phải chi trả nhiều hơn rất nhiều.

Quan trọng hơn, họ đánh đổi bằng khoảng cách.

Khoảng cách với gia đình.

Khoảng cách với ngôn ngữ quen thuộc.

Khoảng cách với những mối quan hệ tự nhiên và ấm áp ở quê nhà.

Trong khi đó, người ở trong nước, dù thu nhập thế nào, vẫn có lợi thế về sự gần gũi, về mạng lưới tình thân, về chỗ dựa tinh thần.

Vậy thì việc mặc định rằng “Việt kiều Mỹ phải sộp hơn” thực chất dựa trên cơ sở nào? Chỉ vì đồng tiền họ kiếm được mang mệnh giá khác?

Nếu thật sự tin rằng sống ở Việt Nam thoải mái và nhẹ nhàng hơn, thì logic sẽ là: mỗi người chọn môi trường phù hợp với mình và tự chịu trách nhiệm cho lựa chọn đó. Không có lý do gì để xem người ở xa là nguồn lực tài chính đương nhiên.

Việt kiều gửi tiền về là tình cảm, không phải nghĩa vụ.

Không gửi cũng không phải sai.

Một xã hội văn minh không đo giá trị con người bằng quốc gia họ đang sống, càng không đo bằng số tiền họ có thể cho.

Danh xưng “Việt kiều” không nên trở thành một mức thuế cảm xúc.

Ai cũng phải lao động để có thu nhập. Ai cũng đánh đổi một phần cuộc sống của mình cho sự lựa chọn đó. Sự khác biệt chỉ là họ đang sống ở đâu, không phải họ có trách nhiệm gánh thêm kỳ vọng cho người khác.

Tôn trọng lựa chọn của nhau, và tôn trọng giá trị lao động của nhau, có lẽ là cách ứng xử hợp lý nhất


 

ÂM THẦM CHIẾM VƯỜN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Nước Thiên Chúa, Người sẽ lấy đi không cho các ông nữa!”.

“Chủ nghĩa giáo sĩ trị dẫn đến việc hiểu thừa tác vụ như một chức năng quyền lực!” – Phanxicô.

Kính thưa Anh Chị em,

Cảnh báo của Đức Phanxicô soi sáng dụ ngôn Tin Mừng hôm nay và đặt ra một câu hỏi: trong vườn nho của Chúa, chúng ta đang phục vụ Ngài hay đang ‘âm thầm chiếm vườn?’.

Sống lâu trong vườn nho được trao, các tá điền quên rằng vườn nho có Chủ; từ người làm thuê, họ dần dần cư xử như ông chủ. Khi người của Chủ đến thu hoa lợi, họ coi đó là sự xâm phạm. Câu chuyện kết thúc trong bạo lực: các đầy tớ bị đánh đập, người con bị giết. Nhưng bi kịch không bắt đầu bằng bạo lực; nó bắt đầu bằng một ý nghĩ rất âm thầm: vườn nho này có thể là của chúng ta. Thế mà “Giáo Hội không phải của chúng ta, nhưng của Chúa Kitô!” – Bênêđictô XVI.

Cũng thế, chúng ta có thể rơi vào cám dỗ ấy. Khi phục vụ lâu năm, quen với vai trò và sự tín nhiệm, chúng ta dễ coi điều được trao phó như của mình. Khi đó, dẫu vẫn làm mọi sự, chúng ta tìm vinh quang cho mình mà không còn tìm vinh quang Chúa. Thế là, rất âm thầm, chúng ta bắt đầu ‘chiếm vườn’. “Thẩm quyền thực sự là để quên mình phục vụ, không phải để bóc lột người khác!” – Phanxicô.

Việc “chiếm vườn” hiếm khi bắt đầu bằng những quyết định lớn; nó khởi đi từ những điều rất nhỏ: khi chúng ta thích được khen hơn là trung thành; giữ ảnh hưởng hơn là phục vụ; bảo vệ vị trí hơn là bảo vệ sự thật. Khi đó, vườn nho của Chúa dần dần trở thành khu vườn của chúng ta. Vì thế Chúa Giêsu đã rất nghiêm khắc: “Nước Thiên Chúa sẽ bị lấy đi!”. Không phải vì Thiên Chúa bất công, nhưng vì vườn nho không thể sinh hoa trái khi tá điền quên mất Chủ; nơi nào con người tìm mình, nơi đó Nước Trời bắt đầu cằn cỗi.

Thế nhưng, lịch sử cứu độ cho thấy: khi con người toan tính chiếm đoạt, Thiên Chúa vẫn âm thầm thực hiện kế hoạch của Ngài. Các anh của Giuse đã bán em sang Ai Cập, tưởng rằng họ đã dập tắt một giấc mơ – bài đọc một. Nhưng chính con đường ấy lại trở thành lối Thiên Chúa dùng để cứu cả dòng họ Giacóp khỏi nạn đói. Thánh Vịnh đáp ca thật thâm trầm, “Hãy nhớ lại những kỳ công Chúa thực hiện!”.

Anh Chị em,

Chúa Kitô là Người Con bị giết ngoài vườn nho. Ngài không đến để chiếm đoạt, nhưng để trao ban; không giữ vườn nho cho mình, nhưng trao mạng sống để vườn sinh hoa trái. Trên thập giá, Ngài bày tỏ một logic khác: ai giữ mình sẽ mất; ai dám quên mình sẽ làm cho vườn nho sinh hoa trái. Vì thế, điều quan trọng không phải là làm bao nhiêu, nhưng là làm cho ai. Nếu phục vụ để Thiên Chúa được biết và được yêu hơn, vườn nho vẫn là của Ngài; còn nếu phục vụ để mình được thấy và được nhắc đến, rất có thể chúng ta đang ‘âm thầm chiếm vườn’. “Cám dỗ quyền lực mạnh nhất khi sự thân mật với Thiên Chúa yếu nhất!” – Henri Nouwen.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin giữ con khỏi trở thành kẻ cắp; dạy con nhớ rằng con chỉ là tá điền được Chúa yêu thương. Vườn nho là của Chúa, không phải của con!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

****************************

Lời Chúa Thứ Sáu Tuần II Mùa Chay

Đứa thừa tự đây rồi ! Nào ta giết quách nó đi.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 21,33-43.45-46

33 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các thượng tế và kỳ mục trong dân rằng : “Các ông hãy nghe dụ ngôn sau đây : Có chủ nhà kia trồng được một vườn nho ; chung quanh vườn, ông rào giậu ; trong vườn, ông khoét bồn đạp nho, và xây một tháp canh. Ông cho tá điền canh tác, rồi trẩy đi xa. 34 Gần đến mùa hái nho, ông sai đầy tớ đến gặp các tá điền để thu hoa lợi. 35 Bọn tá điền bắt các đầy tớ ông : chúng đánh người này, giết người kia, ném đá người nọ. 36 Ông lại sai một số đầy tớ khác đông hơn trước ; nhưng bọn tá điền cũng xử với họ y như vậy. 37 Sau cùng, ông sai con trai mình đến gặp chúng, vì nghĩ rằng : ‘Chúng sẽ nể con ta.’ 38 Nhưng bọn tá điền vừa thấy người con, thì bảo nhau : ‘Đứa thừa tự đây rồi ! Nào ta giết quách nó đi, và đoạt lấy gia tài nó !’ 39 Thế là chúng bắt lấy cậu, tống ra khỏi vườn nho và giết đi. 40 Vậy khi ông chủ vườn nho đến, ông sẽ làm gì bọn tá điền kia ?” 41 Họ đáp : “Ác giả ác báo, ông sẽ tru diệt bọn chúng và cho các tá điền khác canh tác vườn nho, để cứ đúng mùa, họ nộp hoa lợi cho ông.” 42 Đức Giê-su bảo họ : “Kinh Thánh có câu : ‘Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường. Đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta.’ Các ông chưa bao giờ đọc câu này sao ?

43 Bởi đó, tôi nói cho các ông hay : Nước Thiên Chúa, Người sẽ lấy đi không cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi.”

45 Nghe những dụ ngôn Người kể, các thượng tế và người Pha-ri-sêu hiểu là Người nói về họ. 46 Họ tìm cách bắt Người, nhưng lại sợ dân chúng, vì dân chúng cho Người là một ngôn sứ. 


 

ĐỪNG TUNG TIN VU KHỐNG NGƯỜI KHÁC- Anmai CSsR

Anmai CSsR

 Trong dòng chảy cuồn cuộn của xã hội hiện đại, nơi thông tin có thể đi vòng quanh thế giới chỉ sau một cú nhấp chuột, chúng ta thường quên mất sức nặng khủng khiếp của những lời mình thốt ra. Lời nói, vốn là món quà quý giá mà tạo hóa ban tặng để con người thấu hiểu và yêu thương nhau, trớ trêu thay, lại thường bị biến thành thứ vũ khí tàn độc nhất để hủy hoại đồng loại. Việc tung tin đồn và vu khống người khác không chỉ là một hành vi thiếu văn hóa, mà đó còn là một tội ác âm thầm, gieo rắc những nỗi đau không thể chữa lành và phá hủy những cấu trúc nền tảng nhất của xã hội. Những người tham gia vào việc lan truyền tin đồn thường gây ra những tai hại kinh khủng hơn rất nhiều so với những gì họ có thể tưởng tượng được trong trí óc hạn hẹp của mình. Ngay cả khi động cơ của họ không xuất phát từ sự ác ý lộ liễu hay lòng kiêu ngạo ngút trời, thì sự vô trách nhiệm trong lời nói vẫn đủ sức tạo ra những cơn địa chấn làm sụp đổ danh dự của một con người.

Nguồn cơn của sự nói xấu thường bắt rễ sâu xa từ lòng kiêu ngạo – một căn bệnh của linh hồn khiến con người luôn khao khát được đứng cao hơn kẻ khác. Có một nghịch lý đau đớn là rất nhiều người tin rằng, bằng cách hạ thấp giá trị của người bên cạnh, họ sẽ tự nhiên nâng cao giá trị của chính mình. Họ biến cuộc đời thành một bàn cân lệch lạc, nơi mà họ cố gắng chất đầy những lời chỉ trích, chê bai lên đĩa cân của người khác để làm cho đĩa cân của bản thân mình trông có vẻ nhẹ nhàng và thanh thoát hơn. Những kẻ kiêu ngạo này luôn muốn tận dụng tối đa những phẩm chất tốt đẹp mà họ tự cho là mình sở hữu, tự phong mình thành những quan tòa đạo đức, đứng trên bục cao để phán xét thế gian. Trong thế giới quan hạn hẹp của họ, mọi điều họ nói hay làm đều được mặc định là tốt lành, thánh thiện, còn mọi hành động của người khác đều bị soi xét dưới lăng kính sai trái và tội lỗi. Họ không nhận ra rằng, vẻ đẹp thực sự của một tâm hồn không bao giờ được xây dựng trên đống tro tàn của danh dự người khác.

Tuy nhiên, không phải lúc nào những lời vu khống cũng đến từ sự thù hằn chủ đích. Thực tế cho thấy, phần lớn những cuộc trò chuyện ác ý lại được thực hiện bởi những người vô trách nhiệm – những kẻ chỉ đơn giản là muốn nói cho thỏa miệng mà không bao giờ cảm thấy cần phải kiểm chứng xem điều mình đang nói là đúng hay sai. Đối với họ, sự thật là một thứ gì đó quá xa xỉ và phiền phức, trong khi sự tò mò và thói ngồi lê đôi mách lại mang đến một cảm giác hưng phấn nhất thời. Họ coi việc bàn tán về đời tư của người khác như một hình thức giải trí rẻ tiền, một cách để lấp đầy khoảng trống của sự rỗi hơi. Mặc dù chúng ta có thể nói rằng những người này phạm tội nhẹ hơn những kẻ vu khống vì lòng ghen ghét hay trả thù, nhưng về mặt hệ quả, họ vẫn không thể thoát khỏi tội lỗi và trách nhiệm đạo đức. Dù động cơ là gì, dù là vô tình hay hữu ý, việc làm ô danh người lân cận vẫn là một hành động đi ngược lại với lương tâm và đạo lý làm người.

Sâu thẳm trong bản chất, tội lan truyền tin đồn bao hàm tất cả những gì xấu xa và ác độc nhất mà một con người có thể thực hiện đối với đồng loại. Nó không đơn thuần là một vài lời nói gió bay, mà là một sự tổng hòa của những chất độc tinh thần mạnh nhất. Đó là sự hèn hạ của tính phù phiếm, khi con người sẵn sàng bán rẻ sự thật để đổi lấy một vài giây phút được là trung tâm của sự chú ý. Đó là nọc độc của sự ghen tị, thứ axit ăn mòn mọi thiện chí và biến những thành công của người khác thành nỗi đau của chính mình. Đó là sự cay đắng của giận dữ và thù hận ác ý, vốn luôn tìm cách phun ra những lời lẽ sắc lẹm để đâm thấu tâm can đối phương. Hơn hết, nó thể hiện một tính võ đoán và vô trách nhiệm đến mức kinh ngạc, một trạng thái tâm linh nghèo nàn không xứng đáng với phẩm giá của một con người, nhất là với những ai tự nhận mình sống theo niềm tin tôn giáo hay các giá trị đạo đức cao đẹp.

Hãy nhìn vào những gì mà tin đồn đã gây ra cho các mối quan hệ nhân sinh quanh ta. Chẳng phải việc lan truyền tin đồn chính là hạt giống xấu xí đã gieo rắc hầu hết mọi mâu thuẫn và bất hòa trong xã hội này sao? Nó có sức mạnh kinh hồn để phá vỡ những tình bạn gắn bó hàng thập kỷ chỉ trong một buổi chiều. Nó dựng lên những bức tường ngăn cách, cản trở những kẻ đang thù nghịch tìm thấy con đường hòa giải và tha thứ. Khi một lời nói xấu được tung ra, nó giống như một lọ mực đen đổ vào chậu nước trong, làm vẩn đục mọi nỗ lực kết nối giữa người với người. Những cuộc cãi vã trở nên gay gắt hơn, những vết thương lòng trở nên sâu hoắm hơn, và cơ hội để thấu hiểu nhau dần tan biến vào hư không.

Nghiêm trọng hơn, độc tố của tin đồn còn len lỏi vào tận cùng của những tế bào nhỏ nhất của xã hội: đó chính là gia đình. Biết bao gia đình vốn dĩ đang sống trong cảnh ấm êm, hòa thuận, bỗng chốc bị một cái lưỡi độc ác làm cho đảo lộn hoàn toàn. Tin đồn làm xáo trộn sự yên bình vốn có, khiến anh em ruột thịt quay lưng lại với nhau, khiến tình chồng vợ rạn nứt vì những nghi ngờ không đáng có. Nó đẩy con dâu vào thế đối đầu với mẹ chồng, khiến con rể và bố vợ không thể tìm thấy tiếng nói chung. Chỉ vì một lời nói thiếu căn cứ, một sự thêu dệt ác ý từ một người hàng xóm – dù là đàn ông hay đàn bà – mà cả một tổ ấm có thể rơi vào bi kịch. Những người thân yêu nhất bỗng chốc nhìn nhau bằng ánh mắt dè chừng, thậm chí không đành lòng nhìn mặt và nói chuyện với nhau. Nỗi đau ấy âm ỉ và dai dẳng, để lại những vết sẹo không bao giờ lành trong tâm khảm mỗi thành viên.

Chúng ta cần phải tỉnh ngộ trước sức tàn phá của “giặc lưỡi”. Một lời vu khống khi đã phát ra thì không bao giờ có thể thu hồi trọn vẹn được. Nó giống như việc tung những chiếc lông chim trước gió, dù bạn có hối hận và cố gắng đi nhặt lại bao nhiêu đi chăng nữa, thì những chiếc lông ấy đã bay đi khắp nơi và không bao giờ trở về đầy đủ. Danh dự của một con người là thứ tài sản quý giá nhất, một khi đã bị vấy bẩn bởi tin đồn ác ý, việc gột rửa nó cần rất nhiều thời gian và đôi khi là cả một đời cũng không đủ. Do đó, trước khi định nói về một ai đó, hãy tự hỏi bản thân: “Điều này có đúng không? Điều này có tử tế không? Và điều này có thực sự cần thiết không?”. Nếu lời nói không mang lại sự xây dựng hay tình yêu thương, thì tốt nhất là hãy giữ lấy sự im lặng thanh cao.

Hãy nhớ rằng, sự vô trách nhiệm trong ngôn từ chính là một hình thức bạo lực tinh thần. Chúng ta không thể nhân danh sự “thẳng thắn” hay “vui đùa” để dẫm đạp lên cuộc sống của người khác. Mỗi cá nhân có trách nhiệm bảo vệ sự thật và bảo vệ danh dự của đồng loại như bảo vệ chính bản thân mình. Một cộng đồng lành mạnh không phải là nơi không có khuyết điểm, mà là nơi người ta biết bao dung cho nhau và biết im lặng trước những điều có thể gây tổn thương. Đừng để cái lưỡi trở thành công cụ của sự hủy diệt, hãy để nó trở thành nhịp cầu của sự cảm thông. Việc kiềm chế được ham muốn nói xấu người khác không chỉ là biểu hiện của một người có giáo dục, mà còn là minh chứng cho một tâm hồn giàu lòng nhân ái và có trách nhiệm với cuộc đời.

Cuối cùng, chúng ta hãy tự nhắc nhở mình rằng mỗi lời chúng ta thốt ra đều phản chiếu chính tâm hồn chúng ta. Một tâm hồn đầy rẫy những tin đồn và sự vu khống là một tâm hồn đang chịu sự dày vò của những thói hư tật xấu. Ngược lại, một tâm hồn biết trân trọng sự thật và danh dự của người khác là một tâm hồn đang hướng tới sự tự do và bình an đích thực. Đừng để mình trở thành một phần của chuỗi xích gieo rắc khổ đau. Hãy can đảm dừng lại những tin đồn ngay khi chúng vừa chạm đến tai mình, và hãy dùng tiếng nói của mình để bênh vực cho sự thật, cho những người đang bị áp bức bởi sự vu khống. Chỉ khi đó, chúng ta mới có thể cùng nhau xây dựng một thế giới nơi mà lòng tin và sự tôn trọng được đặt lên hàng đầu, nơi mà mỗi gia đình, mỗi tình bạn đều được bảo vệ khỏi nọc độc của những cái lưỡi ác độc.

Lm. Anmai, CSsR


 

 BA CHÍNH KHÁCH NỔI TIẾNG NHẤT THẾ GIỚI…

Những Câu Chuyện Thú Vị – Chi Nguyen

 BA CHÍNH KHÁCH NỔI TIẾNG NHẤT THẾ GIỚI…

1- Cố Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu: Bậc “khai quốc công thần” của quốc đảo sư tử.

– Sau khi qua đời, về tài sản: Ông chỉ có một ngôi nhà cũ đã tới lúc cần phải sửa chữa.

– Tượng đài: Ông không có tượng đài nào ngoài trời, chỉ có tượng đài trong lòng dân.

– Khi ra đi, ông không để lại gì cho riêng mình, ngoài một đất nước phát triển hàng đầu thế giới và người con trai ưu tú: Đương kim Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long!

2- Cựu Thủ tướng Nhật Bản Murayama: Không nhận lương hưu của Chính phủ trợ cấp, tự đạp xe đi chợ, sống bình dị ở thôn quê.

– Sau khi mãn nhiệm vị trí Thủ tướng Nhật Bản không lâu, Murayama cũng xin từ nhiệm vị trí trong Quốc hội đất nước. Cả nhà ông, già trẻ lớn bé đã lặng lẽ đưa nhau về quê hương ở Oita, thuộc đảo Kyushu (Nhật Bản) để sinh sống.

– Người dân trên đảo Kyushu thường bắt gặp một ông già gày gò, lịch lãm, nhưng giản dị (ít người biết ông từng là Thủ tướng đất nước giàu có nhất nhì thì giới) tự đạp xe ra chợ mua đồ ăn hàng ngày…

– Người ta thường nói: Khi lãnh đạo của một nước về hưu mà cuộc sống trở nên bình dị thì chứng tỏ tỷ lệ tham nhũng của nước đó thấp và ngược lại. Hầu hết các cựu Thủ tướng của nước Nhật đều có cuộc sống giản dị đến mức bình dân sau khi nghỉ hưu.

3- Tổng thống đương nhiệm Cộng hòa Croatia Kollinda Grabar Kitarovics: Không chỉ là một nữ chính khách xinh đẹp, trẻ trung, thông minh tài giỏi, mà còn tận tụy như một bà nội trợ hoàn hảo cho chính Tổ quốc mình.

– Sau khi nhậm chức, bà đã yêu cầu bán phi cơ riêng của Tổng thống, bán 35 xe Mercedes Benz của Văn phòng Tổng thống đưa vào ngân sách quốc gia.

– Bà đã tự cắt giảm 50% lương của mình và các Bộ trưởng trong nội các.

– Bà cũng đã giảm 40% lương các Đại sứ, các Tổng lãnh sự quán.

– Bà còn yêu cầu xóa quỹ hưu trí dành riêng cho các Đại biểu quốc hội.

– Nữ Tổng thống này có thể viết và nói 7 ngoại ngữ thông thạo và sống bình dị như tất cả mọi người dân.

– Từ khi bà giữ chức Tổng thống, GDP của Croatia tăng 24%

  • Muu Thai

ST.


 

SỰ KHÁC BIỆT NGHIỆT NGÃ GIỮA CÁI TÃ CỦA TRẺ THƠ VÀ NGƯỜI GIÀ

SỰ KHÁC BIỆT NGHIỆT NGÃ GIỮA CÁI TÃ CỦA TRẺ THƠ VÀ NGƯỜI GIÀ

Trong vòng quay của một kiếp người, có những sự lặp lại về mặt sinh học nhưng lại mang những số phận cảm xúc hoàn toàn trái ngược. Một đứa trẻ tè dầm là hình ảnh của sự khởi đầu, của một mầm sống đang lớn lên và cần được bao bọc. Nhưng một người già không may mất kiểm soát bài tiết lại thường bị xem là dấu hiệu của sự tàn úa, của gánh nặng và sự phiền phức. Sự khác biệt trong thái độ của chúng ta trước cùng một hiện tượng vật lý ấy đã phản chiếu một thực tế nghiệt ngã về cách con người nhìn nhận giá trị của nhau dựa trên sự hữu dụng và tương lai. Khi đứa trẻ tè dầm, chúng ta mỉm cười, sẵn lòng dọn dẹp với niềm hy vọng rằng mai này con sẽ lớn, sẽ biết tự chủ. Nhưng khi người già rơi vào hoàn cảnh tương tự, niềm hy vọng ấy dường như đã tắt lịm, thay vào đó là cảm giác mệt mỏi trước một thực tại không thể đảo ngược. 

Chính sự thiên kiến này đã vô tình tạo nên những vết thương lòng sâu sắc cho những người đã đi đến cuối dốc cuộc đời.

Tại sao chúng ta lại thấy việc chăm sóc một đứa trẻ là hiển nhiên và tràn đầy yêu thương? Bởi vì đứa trẻ là biểu tượng của tương lai. 

Mỗi lần thay tã, mỗi lần dọn dẹp đống đổ nát mà trẻ gây ra, người lớn đều coi đó là một khoản đầu tư cho sự trưởng thành. Chúng ta nhìn vào đứa trẻ và thấy cả một bầu trời tiềm năng phía trước. Tiếng cười của trẻ thơ làm dịu đi những vất vả của người mẹ, người cha. Việc trẻ chưa kiểm soát được hành vi của mình được coi là một giai đoạn phát triển tự nhiên, cần thiết và đầy tính nhân văn. Không ai trách một đứa trẻ một tuổi vì nó chưa biết đi vệ sinh đúng chỗ. Ngược lại, người ta còn dành cho nó những lời âu yếm, những cái vuốt ve để vỗ về. Đứa trẻ nhận được sự khoan dung tuyệt đối bởi vì nó “chưa biết”, và thế giới đang chờ đợi nó học hỏi để trở nên hoàn thiện hơn.

Thế nhưng, khi kịch bản ấy lặp lại ở tuổi già, thái độ của chúng ta chuyển từ bao dung sang chịu đựng. Người già tè dầm thường bị coi là phiền phức vì họ đại diện cho sự suy tàn và quá khứ đã qua. Trong một xã hội đề cao hiệu suất và sự năng động, một người không còn khả năng tự chăm sóc những nhu cầu cơ bản nhất thường bị coi là “mất giá trị”. Người ta dọn dẹp cho người già với tâm thế của một người đang thực thi bổn phận nặng nề hơn là sự tận hiến của tình yêu. Những lời cằn nhằn, những tiếng thở dài, hay thậm chí là ánh mắt ghẻ lạnh của con cháu đã vô tình biến nỗi đau bệnh tật thành nỗi nhục nhã của phẩm giá. Người già, khác với trẻ em, họ “đã biết” và họ ý thức rất rõ về sự bất lực của mình. Chính cái ý thức ấy làm cho nỗi đau của họ nhân lên gấp bội khi nhìn thấy sự khó chịu của người thân.

Sự bất công này còn nằm ở chỗ chúng ta quên mất quy luật của lòng biết ơn. Đứa trẻ chưa làm gì cho chúng ta, nhưng chúng ta sẵn sàng phục vụ nó vô điều kiện. Người già đã cống hiến cả cuộc đời, đã từng là đôi tay vững chãi nâng đỡ chúng ta những bước đi đầu tiên, đã từng thức trắng đêm khi chúng ta ốm đau, vậy mà khi họ cần một sự chăm sóc tương tự, họ lại nhận về sự thiếu kiên nhẫn. Có một sự đứt gãy về mặt cảm xúc khi chúng ta không thể kết nối hình ảnh của người cha, người mẹ mạnh mẽ năm xưa với thân xác già nua, bệnh tật hiện tại. Chúng ta khó chịu vì người già không còn giống như những gì chúng ta kỳ vọng, chúng ta quên rằng chính họ cũng đang phải đấu tranh quyết liệt với sự xuống cấp của chính cơ thể mình. Tè dầm ở người già không phải là sự lười biếng hay cẩu thả, đó là tiếng kêu cứu của một cơ thể đã mỏi mệt sau bao năm tháng gánh vác cuộc đời.

Nỗi đau lớn nhất của người già không phải là bệnh tật, mà là cảm giác mình trở thành vật cản trong đời con cháu. Đứa trẻ tè dầm xong có thể thản nhiên chơi đùa, nhưng người già sau một sự cố như vậy thường rơi vào mặc cảm tội lỗi sâu sắc. Họ thu mình lại, họ sợ hãi khi phải yêu cầu sự giúp đỡ, họ âm thầm chịu đựng sự bẩn thỉu vì không muốn nghe những lời nặng nhẹ. Sự “phiền phức” mà chúng ta gán cho họ thực chất là tấm gương phản chiếu sự ích kỷ của chính chúng ta. Chúng ta chỉ muốn nhận những gì tươi đẹp, khỏe mạnh và từ chối những gì xấu xí, héo úa. Nhưng cuộc đời là một vòng tròn khép kín, không ai có thể trẻ mãi, và sự chăm sóc mà chúng ta dành cho người già hôm nay chính là lời cam kết cho tương lai của chính chúng ta mai sau.

Nếu chúng ta có thể nhìn vết bẩn trên giường của người già bằng đôi mắt đã từng nhìn đứa con thơ của mình, chúng ta sẽ thấy đó không phải là sự phiền phức, mà là một cơ hội để đền đáp. Mỗi lần thay áo, lau mình cho cha mẹ là một lần chúng ta được chạm vào lịch sử của chính mình, được thể hiện sự hiếu kính bằng những hành động cụ thể nhất. Người già cần sự kiên nhẫn hơn cả trẻ em, vì họ đang phải đối mặt với nỗi sợ hãi về cái chết và sự biến mất. Một nụ cười cảm thông, một câu nói nhẹ nhàng: “Không sao đâu mẹ, chuyện nhỏ thôi mà” có giá trị hơn ngàn liều thuốc bổ. Nó giúp người già giữ vững được phẩm giá cuối cùng của một con người, giúp họ cảm thấy mình vẫn được yêu thương dù không còn khả năng đóng góp về mặt vật chất.

Chúng ta cần thay đổi tư duy về sự hữu dụng. Một con người có giá trị không phải vì họ làm được bao nhiêu việc, mà vì sự hiện diện của họ là một phần không thể thiếu trong cấu trúc của tình yêu gia đình. Người già tè dầm là một thử thách đối với lòng nhân ái của con cháu. Nếu chúng ta vượt qua được sự ghê sợ về mặt cảm giác để thấu cảm với nỗi đau của người già, chúng ta đang thực sự trưởng thành về mặt tâm linh. Đừng để những nhu cầu sinh lý tự nhiên trở thành rào chắn ngăn cách tình thâm. Đừng để người già phải sống những ngày cuối đời trong sự tủi hận chỉ vì họ không còn kiểm soát được cơ thể mình – điều mà chính chúng ta cũng đã từng như vậy và chắc chắn sẽ lại như vậy trong tương lai.

Khi trí tuệ con người đủ lớn, họ sẽ hiểu rằng việc chăm sóc một người già mất năng lực cũng thiêng liêng như việc nuôi nấng một đứa trẻ. Đó là sự tiếp nối của sự sống, là biểu hiện cao nhất của tính người. Sự phiền phức chỉ tồn tại trong tâm trí của những kẻ tính toán hơn thua với chính người thân của mình. Đối với một trái tim biết yêu thương, sự bất lực của cha mẹ là lời mời gọi của lòng trắc ẩn. Hãy nhớ rằng, nếu mùi vị của tã lót trẻ thơ mang theo hương vị của bình minh, thì sự chăm sóc người già mang theo vẻ đẹp trầm mặc và bao dung của hoàng hôn. Cả hai đều cần được nâng niu như nhau, vì chúng đều là những mảnh ghép không thể thiếu của một kiếp người trọn vẹn.

Lời kết cho sự so sánh nghiệt ngã này chính là lời nhắc nhở về sự vô thường. Ngày hôm nay chúng ta dọn dẹp cho người khác với thái độ nào, thì ngày mai chúng ta sẽ nhận lại điều tương tự như thế. Hãy đối xử với người già bằng sự dịu dàng mà bạn muốn nhận được khi chính bạn rơi vào hoàn cảnh ấy. Đừng để sự vô tâm biến những năm tháng cuối đời của cha mẹ thành một chuỗi ngày dài của sự nhục nhã và cô độc. Sự thật là, trẻ con hay người già, tất cả đều cần được yêu thương ngay cả khi họ không còn sạch sẽ, không còn thông minh hay không còn hữu dụng. Đó mới chính là ý nghĩa thực sự của hai chữ “gia đình”.

S.T.

From: Phi Phuong Nguyen


 

CHẶNG THỨ 6: Bà Veronica trao khăn cho Đức Chúa Giêsu lau mặt- Cha Vương

Lại một Tháng nữa trôi qua, bạn đã làm gì cho Chúa, cho anh em và cho chính phần rỗi của linh hồn bạn trong tháng qua? Xin Chúa luôn đồng hành với bạn hôm nay và mãi mãi nhé.

Cha Vương

Thư 4: 25/02/2026. (N1-3-23)

CHẶNG THỨ 6: Bà Veronica trao khăn cho Đức Chúa Giêsu lau mặt

TIN MỪNG: “Ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy, và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy. “Và ai cho một trong những kẻ bé nhỏ này uống, dù chỉ một chén nước lã thôi, vì kẻ ấy là môn đệ của Thầy, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu.” (Mt 10:40,42)

SUY NIỆM: Bà Veronica có lẽ là một người rất can đảm và liều lĩnh, dám lấy khăn thấm máu mặt một tên tử tội trên đường đến pháp trường. Không biết bà có nhận ra đó là Chúa Giê-su hay không nhưng cử chỉ của bà đã vạch ra một lối sống, thay vì chỉ nghĩ đến bản thân mình thì bà lại luôn quan tâm đến người khác, lòng bà bị dày vò bởi sự khốn khổ của nhân loại, cho dù người đó là một người xa lạ, hay thậm chí là kẻ thù. Có bao giờ lòng bạn bị dày vò trước nỗi khổ của người khác chưa? Phản ứng của bạn ra sao? Ai là người cần đến sự giúp đỡ của bạn trong lúc này?

XÉT MÌNH: Đã bao lần bạn ngoảnh mặt làm ngơ hoặc thiếu bác ái trước những hoàn cảnh khốn khó của một ai đó, hoặc không chia sẻ gánh nặng hằng ngày với những người trong gia đình và những người chung quanh? Mời bạn bỏ ra đôi phút, trong thinh lặng hãy tự xét mình và xin ơn hoán cải trong lối nghĩ, trong cách cảm nhận, và trong hành động của mình.

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, qua gương của bà Veronica, xin mở mắt con để con  khám phá ra khuôn mặt của Chúa nơi những người đang sống trong cảnh bần cùng đói khổ mà biết quan tâm, chia sẻ với hết khả năng của con hôm nay. Amen. 

From: Do Dzung

***************************

Bảo Trân – Chúa Trong Đời Con – Tác Giả Lm. Thái Nguyên

Vì một ngày nào đó — có thể sớm, có thể còn xa — chiếc ghế bên cạnh tôi sẽ trống.- Truyen ngan HAY

Trầm Mặc Huơng Lai

 Tôi bắt gặp mẹ tôi, 82 tuổi, ngồi trong bóng tối, đang rửa những chiếc đĩa giấy mềm nhũn dưới vòi nước lạnh ngắt để dùng lại lần nữa.

Khi tôi bật đèn bếp lên, bà không chỉ giật mình. Bà co người sát vào bàn, ôm chặt chiếc đĩa giấy rách bươm, ướt sũng trước ngực như đang cầm một tấm khiên. Ánh mắt ấy không phải chỉ là ngạc nhiên.

Đó là nỗi sợ đến thắt lòng.

Bà sợ tôi phát hiện ra bà đang yếu đi. Sợ rằng đây sẽ là lý do cuối cùng để tôi ép bà rời khỏi căn nhà của mình.

Tôi vội bước đến, nắm lấy đôi tay lạnh buốt của bà, nhẹ nhàng gỡ mớ đĩa ướt khỏi tay bà.

— Mẹ làm gì vậy? Sao không bật đèn? Sao lại hạ sưởi xuống? Ngoài trời đang có tuyết đó! — tôi nói, giọng gắt vì mệt mỏi sau 40 phút kẹt xe và một tuần làm việc 50 tiếng.

Bà không nhìn tôi. Bà nhìn xuống nền nhà cũ bạc màu — thứ sàn mà ba tôi đã tự tay lát năm 1982, ngay trước khi nhà máy thép địa phương đóng cửa.

Bà xoa hai cánh tay run rẩy, khẽ nói về chuyện giá cả tăng cao. Lương hưu tháng này không đủ trả tiền sưởi và tiền chợ. Bà cố tiết kiệm từng đồng lẻ để khỏi phải nhờ tôi.

Tim tôi như rơi xuống.

Tám tháng nay, tôi gần như thành người xa lạ với chính mẹ mình. Tôi có lý do. Lý do rất hợp thời. Tôi tự an ủi mình rằng mình thuộc “thế hệ kẹp giữa” — kẹt giữa công việc, lịch học dày đặc của con cái và nhịp sống quay cuồng mỗi ngày.

Nhưng trong căn bếp lạnh buốt đó, sự thật đập thẳng vào tôi.

Tôi không muốn nhìn người phụ nữ mạnh mẽ nhất đời mình dần yếu đi. Nhắn một tin ngắn hay gọi video năm phút dễ hơn nhiều so với việc có mặt và đối diện với sự sa sút ấy.

Mỗi lần nói chuyện, tôi nói với mẹ như đang họp công việc. Tôi đưa cho bà những tờ rơi bóng loáng.

— Mẹ, mấy bậc thềm trước cửa nguy hiểm lắm, lỡ té gãy hông thì sao.

— Mẹ, con xem một viện dưỡng lão đẹp lắm. Có đầu bếp, có chăm sóc 24/24, người ta lo thuốc men cho mẹ. Bán nhà đi là đủ chi phí. Hợp lý mà.

Tôi nghĩ mình là đứa con tốt. Tôi tưởng mình đang bảo vệ mẹ.

Nhưng khi thấy bà run trong bóng tối, tôi hiểu ra điều đau đớn: tôi không tìm cách cho bà sống tốt hơn. Tôi đang tìm cách để bản thân yên tâm. Tôi muốn chuyển gánh nặng tuổi già của bà ra khỏi cuộc sống bận rộn của mình.

Tôi kéo ghế, giúp bà ngồi xuống bàn bếp. Nhà lạnh ngắt.

— Mẹ xin lỗi, Sarah — bà thì thầm. Giọng bà mong manh chưa từng thấy. — Mẹ không muốn làm phiền con. Mẹ biết cuộc sống con bây giờ bận rộn lắm.

Bà dừng lại, bàn tay nhăn nheo bấu vào mép bàn.

— Nhưng mẹ không muốn rời khỏi nhà.

Bà chỉ sang phòng khách. Thế giới của bà giờ thu nhỏ trong căn phòng ấy: chiếc ghế hoa cũ bên cửa sổ, chiếc tivi đang phát tin tức địa phương, và chồng hóa đơn y tế cùng giấy tờ bảo hiểm mà bà không còn hiểu nổi.

— Nếu mẹ nói mẹ không ổn, hay trí nhớ mẹ kém đi, con sẽ bắt mẹ đi. Mà nếu mẹ rời khỏi nhà này… mẹ chẳng còn gì. Mẹ mất hết ký ức. Mẹ thành một con số trong căn phòng nào đó, chờ ngày chết.

Câu nói ấy như một cú đấm vào ngực tôi.

Tôi đã đối xử với mẹ như một bài toán cần giải. Như một trách nhiệm cần quản lý.

Tôi quên mất bà là ai.

Bà từng làm hai ca ở nhà hàng suốt mười năm sau khi ba tôi mất, chỉ để tôi tốt nghiệp mà không mang nợ. Bà luôn tự lập, đầy tự trọng, chỉ mong giữ lại chút phẩm giá trong những năm cuối đời.

Tôi không cãi. Không nhắc đến tờ rơi. Không nói gì thêm.

Tôi đứng dậy, chỉnh nhiệt độ sưởi lên ấm áp, mở tủ và nấu cho hai mẹ con một bữa ăn nóng.

Chúng tôi ngồi rất lâu bên chiếc bàn cũ. Chỉ còn tiếng nĩa chạm đĩa và tiếng máy sưởi khẽ rì rì.

Một lúc sau, bà nhìn qua ô cửa sổ phủ sương, nơi tuyết đang rơi, rồi nói:

— Càng già, người ta càng bớt quan tâm đến việc có đồ đẹp hay lúc nào cũng an toàn. Người ta chỉ muốn biết mình vẫn còn ý nghĩa. Muốn được ở bên gia đình.

Tôi hiểu mình đã mù quáng thế nào.

Mẹ không chống lại tôi. Bà đang giữ lấy cuộc đời mình.

Bà không cần một căn phòng sạch bóng trong cơ sở sang trọng với những người xa lạ mặc đồng phục. Bà không cần lịch chơi bingo hay đầu bếp riêng.

Bà cần con gái mình.

Bà cần người ngồi cùng mở từng lá thư bảo hiểm mà không làm bà thấy mình kém cỏi. Cần người viết hướng dẫn điều khiển tivi thật to, thật rõ. Cần ai đó ngồi cạnh trong phòng khách, để căn nhà ấy không trở thành một ngôi mộ lặng lẽ.

Xã hội dạy ta rằng yêu cha mẹ già là sắp xếp mọi thứ cho họ bằng tiền bạc hay dịch vụ chuyên nghiệp.

Nhưng khi họ thật sự đi về cuối con đường, ta mới hiểu yêu thương là có mặt.

Là ngồi lại trong thực tế lộn xộn, khó chịu, đau lòng của tuổi già — và chọn không quay lưng.

Tối hôm đó, tôi về nhà và vứt hết tờ rơi viện dưỡng lão vào thùng rác.

Từ đó, mỗi Chủ nhật tôi đều băng qua thành phố. Không viện cớ. Không nói bận.

Có khi tôi mang đồ ăn cho cả tuần. Có khi tôi đưa bọn trẻ theo, chúng làm phòng khách lộn xộn, ăn hết bánh quy của bà và lấp đầy căn nhà bằng tiếng cười ồn ào.

Nhưng phần lớn thời gian, tôi chỉ pha một ấm cà phê, rồi hai mẹ con ngồi trên ghế cũ bên cửa sổ, nhìn khu phố trôi qua. Nhắc chuyện ba. Nhắc chuyện vu vơ.

Vì một ngày nào đó — có thể sớm, có thể còn xa — chiếc ghế bên cạnh tôi sẽ trống.

Và tôi đã hiểu rằng chẳng có viện dưỡng lão hiện đại nào, chẳng có số tiền tiết kiệm nào, chẳng có thành công nghề nghiệp nào có thể mua thêm cho tôi một buổi chiều bên người phụ nữ đã sinh ra mình.

Đừng xem cha mẹ già là gánh nặng hay bài toán cần xử lý.

Họ không cần tiền của bạn.

Không cần những bài giảng về an toàn.

Không cần giải pháp hào nhoáng.

Họ cần thời gian của bạn.

Hãy ở bên họ, trước khi thời gian của họ cạn đi. 

TG Văn Chương

 

#ChaMe – #TinhThanGiaDinh =  #ConCaiTruongThanh – #HieuVaThuong

#TuoiGia – #YeuThuongThatSu – #DungBoLo – #GiaTriThoiGian

#SongChamLai – #ConConMeConMay


 

Lễ phong Chân Phước cho Tôi Tớ Chúa là cha Phanxicô Trương Bửu Diệp

Gieo Mầm Ơn Gọi

Lễ phong Chân Phước cho Tôi Tớ Chúa là cha Phanxicô Trương Bửu Diệp sẽ được cử hành lúc 9 giờ sáng ngày 2.7.2026  ở Nhà thờ Tắc Sậy ở Bạc Liêu do Đức Hồng y Luis Antonio Tagle . Quyền Bộ trưởng Bộ truyền giáo của Vatican , Đại sứ của ĐTC Leo XIV chủ sự.

Mừng vì Giáo Hội Việt Nam có thêm một vị thánh.

Cha thánh TRƯƠNG BỬU DIỆP xin cầu cho chúng con.

BÀ DƯƠNG QUỲNH HOA, MỘT NGƯỜI BẠN CỦA CHA TÔI

Bùi Chí Vinh

Bà Dương Quỳnh Hoa, Bộ trưởng Y Tế Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam mất ngày 25-2-2006 tính đến nay vừa tròn 20 năm. Nhân ngày kỷ niệm này, tôi đăng bài viết về bà như một nén nhang thương tiếc người bạn thân thiết của cha tôi…

BÀ DƯƠNG QUỲNH HOA, MỘT NGƯỜI BẠN CỦA CHA TÔI

Như tôi đã từng viết trên FB này, cha tôi là ông Bùi Văn Trình sinh năm 1914 tại huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định sang Pháp từ thời còn trẻ để học nghề thợ giày (dành đóng riêng cho người tàn tật). Ở Pháp, ông gia nhập Đảng Cộng Sản Pháp và thân thiết với bà bác sĩ Dương Quỳnh Hoa cũng là Đảng viên Đảng Cộng Sản Pháp như ông.

Khi về nước, ông là Đảng viên Đảng Lao Động Việt Nam lớp đầu tiên. Ông mở cửa tiệm giày tàn tật Bùi Văn Trình trên mặt tiền đường Yên Đỗ (tức đường Lý Chính Thắng bây giờ). Ông là thành viên Ban Tuyên Truyền Thi Hành Hiệp Định Geneve do ông Mai Văn Bộ làm Trưởng ban, nên bị chế độ Ngô Đình Diệm bỏ tù và tịch biên gia sản. Kể từ đó gia đình chúng tôi rất khốn khó phải di chuyển nhiều nơi để tự tồn tại. Năm 1960 ông ra tù và Tết năm nào cũng dẫn tôi đến nhà bà bác sĩ Dương Quỳnh Hoa để tôi được bà lì xì, còn cha tôi và bà thì đàm đạo với nhau bằng tiếng Pháp tránh sự thị phi dòm ngó. Lúc đó tôi mới 6 tuổi.

Mới 6 tuổi nên làm sao tôi biết bà có bi danh là Thùy Dương, là thành viên sáng lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và sau này giữ chức Bộ Trưởng Y Tế Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam. Tôi chỉ biết năm 1979 Thủ Tướng Phạm Văn Đồng đồng ý với nguyện vọng xin ra khỏi Đảng của bà với điều kiện bà giữ im lặng. Năm 1971 cha tôi chết vì hậu quả những vết thương tra tấn trong nhà tù. Năm 2006 bà Dương Quỳnh Hoa cũng qua đời nhưng những câu nói nổi tiếng còn ở lại: “Tôi đã là người cộng sản cả đời tôi. Nhưng bây giờ khi chứng kiến những sự thật về chủ nghĩa cộng sản và sự thất bại của nó, quản trị kém, tham nhũng, đặc quyền, áp chế, lý tưởng của tôi đã không còn”…”Trong chiến tranh, chúng tôi sống trong lòng nhân dân. Ngày nay, khi quyền lực nằm trong tay Đảng, Đảng coi nhân dân như kẻ thù tiềm ẩn”.

BÙI CHÍ VINH

NHỚ BÀ DƯƠNG QUỲNH HOA

Bà là một người bạn của cha tôi

Sống thủy chung với nước với dân trước sau như một

Là dân Sài Gòn giàu sang nhưng ăn ngay nói thật

Đã phát ngôn là dám nói dám làm

Bà thừa sức leo lên tột đỉnh vinh quang

Nhưng một người có học khác một người vô học

Bà không giống những bà cùng sáng lập Mặt Trận với mình lặng im như thóc

Bà thích giống bà Triệu bà Trưng chém cá tràng kình

Ở một chế độ còn quá nhiều những thứ bất minh

Bà lẳng lặng lưu vong sang Pháp

Bà không ngu trung như Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc

Đánh thắng giặc xong là bị phản bội bởi triều đình

Cha tôi chết lúc nước nhà còn tang tóc điêu linh

Bà thì chết lúc quê hương thống nhất

Nhưng hai cái chết đều đem theo nước mắt

Của thằng bé ngày xưa mà bà đã lì xì

Bà chính là một thời tươi đẹp đã chết đi…

BCV

Hình 1: Bà Dương Quỳnh Hoa

Hình 2: Bà Dương Quỳnh Hoa có mặt trong đám cưới cha mẹ tôi ở nhà thờ Tân Định