Chỉ tiếc là giữa hai người không còn đủ câu chuyện để bắt đầu

Ha Ngoc Anh

Đây là hình ảnh bố tôi, ngồi lặng im trên chiếc ghế giữa căn nhà của con gái mình.

Ngay trước mặt ông là tôi. Nhưng giữa hai cha con lại là một khoảng không rất dài. Không cãi vã. Không lạnh nhạt. Không có chuyện gì nghiêm trọng cả.

Chỉ là, không biết nói điều gì.

Ông ngồi đó, mắt khép hờ, dáng người đã gầy đi theo năm tháng. Tôi nhìn bố mình và trong lòng có một cảm giác rất khó tả. Thương thì rất thương. Muốn gần thì rất muốn gần. Nhưng để ngồi xuống bắt đầu một câu chuyện, tôi thật sự không biết phải bắt đầu từ đâu.

Chồng tôi có nói với tôi rằng: “Em nên chịu khó nói chuyện với bố nhiều hơn để ông vui. Ông vui thì sẽ thích ở đây lâu với vợ chồng mình.” Nghe xong tôi chỉ im lặng. Vì tôi biết chồng nói đúng. Nhưng cái khó là tôi với ông không có chuyện gì để nói cả. Có chăng chỉ là chuyện người này còn sống, người kia đã chết. Chuyện chẳng quá dăm ba câu. Không phải vì tôi vô tâm. Cũng không phải vì tôi không thương bố. Mà vì tôi và bố gần như không có đủ những năm tháng đồng hành để hôm nay có thể ngồi nhắc lại chuyện cũ mà cười với nhau.

Từ nhỏ bố đã đi làm xa. Những năm tháng ông có ở gần thì tôi còn quá nhỏ để nhớ. Lớn lên rồi, ai cũng cuốn vào cuộc sống riêng. Cứ thế, thời gian trôi qua. Đến lúc này, khi bố đã già, khi tôi đã có gia đình riêng, hai cha con mới ngồi gần nhau, nhưng lại thiếu mất những chất liệu để trò chuyện.

Tôi chợt nhận ra một điều rất đau đáu: Cha mẹ và con cái không tự nhiên mà thân. Không tự nhiên mà lớn tuổi rồi sẽ có chuyện để nói với nhau. Nếu trong những năm tháng con còn nhỏ, cha mẹ chỉ lo mưu sinh mà thiếu đi sự hiện diện…Nếu cả tuổi thơ của con không có nhiều lần cùng ăn cơm, cùng đi đâu đó, cùng kể nhau nghe chuyện buồn vui. Nếu cha mẹ không thật sự bước vào thế giới của con. Thì đến một ngày, yêu thương vẫn còn đó, nhưng câu chuyện để nói cùng nhau lại không còn nhiều.

Hai người vẫn là ruột thịt. Nhưng ngồi cạnh nhau như những người xa quen.

Nhìn bố tôi ngồi lặng im hôm nay, tôi không trách ông. Tôi chỉ thương. Thương cho một thế hệ người cha đã dành cả đời để lo toan, nhưng ít ai được dạy cách ở gần con bằng cảm xúc. Họ biết hy sinh, biết gánh vác, nhưng không biết rằng có những thứ nếu bỏ lỡ rồi sẽ rất khó lấy lại.

Và tôi cũng nhìn thấy chính mình trong tương lai.

Nếu hôm nay tôi không dành thời gian cho con.

Nếu tôi nghĩ rằng chỉ cần lo tiền bạc, lo cơm áo là đủ.

Nếu tôi để tuổi thơ của các con đi qua mà thiếu những lần đồng hành thật sự…Thì rất có thể mai này, tôi cũng sẽ ngồi trước mặt con mình như bố tôi hôm nay.

Yêu con rất nhiều. Nhưng không biết bắt đầu câu chuyện từ đâu.

Vậy nên nếu bạn đang làm cha mẹ, xin hãy nhớ: Những phút bạn ngồi nghe con kể chuyện linh tinh hôm nay không hề vô nghĩa.

Những lần đưa con đi chơi, cùng con ăn cơm, hỏi han con vài câu tưởng nhỏ nhặt, không hề vô nghĩa.

Những lúc bạn có mặt khi con buồn, con sợ, con cần… càng không vô nghĩa.

Đó là lúc bạn đang gom góp ký ức.

Đang xây dữ liệu tình cảm.

Đang tạo nên cây cầu để sau này con trưởng thành, bạn già đi, hai người vẫn còn vô số chuyện để nói với nhau.

Tiền bạc có thể nuôi con lớn.

Nhưng chỉ có sự hiện diện mới nuôi được mối quan hệ. Đừng để đến khi tóc bạc mới nhận ra:

Con vẫn ở đó. Mình cũng vẫn ở đó.

Chỉ tiếc là giữa hai người không còn đủ câu chuyện để bắt đầu.


 

THÁNH LỄ TRÊN XE MÁY CỦA MỘT LINH MỤC THUỘC HỘI THỪA SAI CHÂU PHI TẠI NIGERIA

Tin Mừng Cho Người Nghèo

THÁNH LỄ TRÊN XE MÁY CỦA MỘT LINH MỤC THUỘC HỘI THỪA SAI CHÂU PHI TẠI NIGERIA

Sau 7 năm bị bỏ hoang vì khu vực rơi vào tay các nhóm khủng bố, một ngôi nhà thờ tại bang Niger (Nigeria) đã lần đầu tiên được cử hành Thánh lễ trở lại trong tuần này.

Thánh lễ do một nhà truyền giáo thuộc Hội Thừa sai Châu Phi (SMA) chủ sự, với sự tham dự của người dân địa phương. Đây là cơ hội quý giá để cộng đoàn được lắng nghe Tin Mừng sau nhiều năm gián đoạn vì bạo lực và bất ổn.

Xin Chúa chúc lành cho sứ vụ của các nhà truyền giáo, và gìn giữ đất nước Nigeria trong bình an.


 

Năm 1861-1865 Cuộc nội chiến Nam-Bắc Mỹ kết thúc.

Chu Vĩnh Hải

 NỘI CHIẾN

Năm 1861-1865 Cuộc nội chiến Nam-Bắc Mỹ kết thúc.

Bắc Mỹ đã chiến thắng và chế độ nô lệ ở nam Mỹ đã được xóa bỏ. Và khi quân miền Nam đã rơi vào thế bại trận thì đột nhiên tổng thống Abraham Lincoln muốn được đàm phán. Cách làm này của ông đã khiến cho một vị đồng sự bất mãn. Ông ấy giận dữ đập tay xuống bàn và nói: “Quân địch nhất định phải bị tiêu diệt!”. Tổng Thống Lincoln vẫn giữ vẻ ôn hòa nói: “Khi họ trở thành bạn của chúng ta, thì chẳng phải là kẻ địch đã bị tiêu diệt rồi sao?”

Sau cuộc nội chiến, các tướng sĩ quân đội miền Nam, sau khi đầu hàng đều nhận được một văn kiện của liên bang, cam kết bảo đảm rằng từ đó về sau họ không bị làm phiền. Và Tổng thống Lincoln cũng kết thúc những xung đột giữa hai miền bằng một câu nói cao thượng: “Nội chiến không có người thắng!”, mặc dù lúc đó phe miền Nam đã bị thua cuộc. 

Công việc sau chiến tranh thật bề bộn, cửa văn phòng tổng thống luôn bỏ ngỏ để bất kỳ ai cũng có thể gặp tổng thống bất cứ lúc nào.

Tổng thống Abraham Lincoln đang đứng, hai tay chống mép bàn, đầu cúi xuống tấm bản đồ trải rộng.

– Báo cáo ngài tổng thống – Lincoln ngẩng lên, trước mặt ông là tổng tư lệnh quân đội.

– Có việc gì – Lincoln hỏi rất từ tốn.

– Thưa ngài còn hơn 500 ngàn tù binh định giải quyết ra sao?

– Tù binh nào – Lincoln sẵng giọng.

– Những lính miền nam bị ta bắt… – viên tổng tư lệnh lúng túng . Lincoln ngồi xuống ghế, nói chậm rãi:

– Tôi nhắc lại, đây là những công dân của nước Mỹ thống nhất, không có tù binh, tôi đã ra lệnh cho các anh phải cấp lương thực, ngựa cho họ về quê sản xuất rồi kia mà. Các anh làm ngay đi.

– Vâng, thưa ngài ! Viên tư lệnh quay người đi ra.

– À này – viên tư lệnh vừa tới cửa quay lại – nhớ là phát súng và năm cơ số đạn cho mỗi đầu người – Lincoln ra lệnh.

– Cái này…viên tư lệnh lưỡng lự…

– Họ phải có vũ khí chống thú dữ, bảo vệ mùa màng chứ.

– Rõ – viên tư lệnh đưa tay lên vành mũ rồi quay ra.

Lincoln liền có mấy chỉ thị quan trọng tiếp ngay sau đó:

1 – Trợ cấp tử sỹ như nhau tính theo đầu người đã hy sinh cho cả hai bên.

2 – Xây một tượng đài lớn với dòng chữ “Đời đời nhớ ơn những người đã ngã xuống cho sự thống nhất nước Mỹ”.

3 – Các nghĩa trang của hai bên tự xây dựng và tự chăm sóc, được chính phủ quan tâm như nhau.

Sau này tại thủ đô Washington chính phủ Mỹ đã xây dựng nghĩa trang Arlington để tập kết các tử sỹ của cả hai bên nam bắc Mỹ, từ chiến sỹ đến các vị tướng.

Sau khi tổng thống Abraham Lincoln qua đời thì ý tưởng của ông đã được các đời tổng thống sau này thực hiện triệt để.

Cứ hình dung, sau những động thái của tổng thống Lincoln, các bà mẹ của hai miền chỉ còn biết ôm chầm lấy nhau mà khóc. Họ không nghĩ rằng đã có một cuộc chiến tranh. Nước Mỹ ngay sau nội chiến dc phát triển như thế nào thì các bạn đều đã biết.

Abraham Lincoln, Ông là một tổng thống có tư tưởng vĩ đại, ông đã khuyến khích người dân Mỹ góp ý cho chính phủ với câu nói nổi tiếng:

“Tự do ngôn luận là chìa khóa của sự phát triển”


 

MẶC KHẢI TRONG PHẢN BỘI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Kẻ đã cùng con chia cơm sẻ bánh lại giơ gót đạp con!”.

Không phản bội nào đau hơn phản bội từ người thân. Caesar đã nếm điều đó; khi thấy Brutus với con dao trong tay, ông buông mình thốt lên: “Cả ngươi nữa, Brutus, con ta?”.

Kính thưa Anh Chị em,

“Cả ngươi nữa, Brutus, con ta?”. Lời Chúa hôm nay đặt chúng ta trước một vết thương tương tự; nhưng chính nơi phản bội, điều tưởng như khép lại lại trở thành nơi Thiên Chúa mở ra – ‘mặc khải trong phản bội’.

Trong Tin Mừng Gioan, phản bội không chỉ là một biến cố luân lý, nhưng mang chiều kích mặc khải. Chúa Giêsu biết trước, nói trước, và đọc biến cố ấy dưới ánh sáng Kinh Thánh: “Kẻ đã cùng con chia cơm sẻ bánh lại giơ gót đạp con”. Như thế, phản bội không vượt khỏi tầm tay Thiên Chúa; không phá vỡ kế hoạch cứu độ, nhưng làm lộ ra một điều ẩn khuất: Đấng bị phản bội vẫn làm chủ, vẫn yêu đến cùng; Ngài biến bóng tối thành nơi mặc khải. “Trong thập giá Đức Kitô, không những ơn cứu độ được thực hiện qua đau khổ, mà chính đau khổ của con người cũng được cứu chuộc!” – Gioan Phaolô II.

Chịu phản bội, nhưng Chúa Giêsu không để biến cố ấy làm sụp đổ đức tin; trái lại, nó trở thành nơi các môn đệ nhận ra Ngài. Vì thế, với Ngài, phản bội không còn là một tai nạn, nhưng được đặt vào trong một chuyển động khác, nơi điều tưởng như phá vỡ lại trở thành chỗ dựa cho đức tin. Khi điều đó xảy ra, người môn đệ không còn dựa vào sự trung tín của con người, nhưng vào Đấng vẫn yêu không rút lại. Đó là ‘mặc khải trong phản bội’.

Phaolô cũng rao giảng một Thiên Chúa trung tín giữa những phản bội của con người: Ngài kiên nhẫn chịu đựng Israel; vẫn giữ lời hứa với Đavít, “Từ dòng dõi vua này, theo lời hứa, Thiên Chúa đã đưa đến cho Israel một Đấng Cứu Độ là Đức Giêsu!” – bài đọc một. Vì thế, điều quyết định không còn là sự trung tín mong manh của con người, nhưng là sự trung tín không lay chuyển của Thiên Chúa. “Lạy Chúa, tình thương Chúa, đời đời con ca tụng!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Phản bội không xa lạ; không nhất thiết là một biến cố lớn, nhưng âm thầm trong những chọn lựa nhỏ, nơi con người dễ thoả hiệp, dễ đánh mất sự trung tín đã từng có. Và chính ở đó, điều mong manh lộ ra; đức tin của chúng ta dễ sụp đổ khi chỉ dựa vào con người, thay vì vào một Đấng không đổi thay, nhưng yêu đến cùng. “Đừng đặt niềm tin nơi con người hay bất cứ thụ tạo nào, nhưng chỉ nơi một mình Thiên Chúa!” – Thomas à Kempis.

Anh Chị em,

Trung tín là của Thiên Chúa, còn bất tín xem ra là của con người. Đức Kitô không chỉ đi qua phản bội, nhưng mang lấy nó; và chính khi bị trao nộp, Ngài lại trao ban chính mình. Ở đó, điều tưởng như đổ vỡ không còn là tận cùng, nhưng trở thành nơi tình yêu không còn giữ lại; không dừng trước bóng tối, nhưng mở ra một sự sống khác. Vì thế, theo Ngài không còn là tránh né phản bội, nhưng là ở lại trong tình yêu ấy; và hừng đông phục sinh ló rạng.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con dễ phản bội hơn con nghĩ, xin giữ con trong tình yêu của Ngài; khi con yếu lòng, xin đừng để con rời xa, nhưng kéo con ở lại đến cùng!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

**********************************

Lời Chúa Thứ Năm, Tuần IV Phục Sinh

Ai đón tiếp người Thầy sai đến là đón tiếp Thầy.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an. Ga 13,16-20

16 Sau khi rửa chân cho các môn đệ, Đức Giê-su nói : “Thật, Thầy bảo thật anh em : tôi tớ không lớn hơn chủ nhà, kẻ được sai đi không lớn hơn người sai đi. 17 Anh em đã biết những điều đó, nếu anh em thực hành, thì thật phúc cho anh em ! 18 Thầy không nói về tất cả anh em đâu. Chính Thầy biết những người Thầy đã chọn, nhưng phải ứng nghiệm lời Kinh Thánh sau đây : Kẻ đã cùng con chia cơm sẻ bánh lại giơ gót đạp con. 19 Thầy nói với anh em điều đó ngay từ lúc này, trước khi sự việc xảy ra, để khi sự việc xảy ra, anh em tin là Thầy Hằng Hữu. 20 Thật, Thầy bảo thật anh em : ai đón tiếp người Thầy sai đến là đón tiếp Thầy, và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy.” 


 

Tom Nguyễn trở thành thị trưởng gốc Việt đầu tiên và trẻ nhất Garden City

Ba’o Nguoi-Viet

January 9, 2026

GARDEN CITY, Kansas (NV) – Anh Tom Nguyễn, 22 tuổi, vừa được các đồng viện bầu làm thị trưởng thành phố Garden City, Kansas, trong buổi họp hôm Thứ Hai, 5 Tháng Giêng, theo thông báo của thành phố.

Như vậy, anh Tom Nguyễn là thị trưởng gốc Việt và gốc Châu Á đầu tiên tại Garden City và là thị trưởng trẻ nhất trong 74 thị trưởng từ ngày thành lập thành phố hồi năm 1883.

Ông Roy Cessna (trái), thị trưởng sắp mãn nhiệm, trao chiếc búa tượng trưng quyền điều khiển buổi họp cho tân Thị Trưởng Tom Nguyễn trong buổi họp Hội Đồng Thành Phố Garden City hôm Thứ Hai, 5 Tháng Giêng. (Hình: City of Garden City)

“Thật là một vinh dự cho tôi trở thành thị trưởng gốc Châu Á đầu tiên trong lịch sử thành phố, và cùng là thị trưởng trẻ nhất từ trước tới giờ ở tuổi 22,” tân Thị Trưởng Tom Nguyễn nói. “Tôi không coi sự kiện này là thành công cá nhân. Tôi coi đây là một sự phản ảnh của cộng đồng, muốn tin vào những người trẻ và những người muốn đưa thành phố này đi lên.”

Vào Tháng Giêng mỗi năm, Hội Đồng Thành Phố Garden City, gồm có năm người, họp bầu chọn thị trưởng mới với nhiệm kỳ một năm.

Trước khi được chọn làm thị trưởng, anh Tom Nguyễn là phó thị trưởng.

Trong phát biểu đầu tiên với vai trò thị trưởng, anh Tom Nguyễn nói năm thành viên HĐTP không thể hoàn thành nhiệm vụ nếu không có sự giúp đỡ của cộng đồng.

Anh kêu gọi cộng đồng hãy “thương” các thành viên HĐTP khi họ phải đưa ra các quyết định dễ dàng và khó khăn, bằng cách đặt câu hỏi, chia sẻ quan tâm, đưa ra ý kiến, và thi thoảng bổ sung các biện pháp, bởi vì “điều đó có thể làm cho các chính sách tốt hơn.”

“Cảm ơn tất cả quý vị chọn tôi với rất nhiều tình cảm,” tân Thị Trưởng Tom Nguyễn nói. “Tôi nóng lòng được thấy tất cả chúng ta đoàn kết và tiếp tục sống trong tinh thần làm cho Garden City phát triển hơn.”

Anh Tom Nguyễn (thứ năm từ trái) đứng cạnh cha mẹ chụp hình chung với những người ủng hộ anh sau khi được chọn làm thị trưởng Garden City. (Hình: Facebook Tom Nguyen)

“Người dân thấy giá trị và sự xứng đáng của người trẻ và họ sẵn sàng thương tôi, và đó là một niềm vui,” anh Tom Nguyễn nói thêm, theo đài truyền hình 12News.

Vị tân thị trưởng gốc Việt cũng cho biết anh sẵn sàng thực hiện một trong những ước mong của mình trong nhiệm kỳ làm thị trưởng, bao gồm xây thêm 4,000 căn nhà mới trong cộng đồng vào năm 2030.

Anh cũng nói anh sẽ nâng cấp các cơ sở thể thao trong thành phố cho các môn như baseball và softball để có thể phục vụ thế hệ tương lai.

Như đã đề cập ở trên, nhiệm kỳ thị trưởng ở Garden City chỉ có một năm, nhưng anh Tom Nguyễn có thể được chọn tiếp tục giữ chức vụ này nếu HĐTP đồng ý.

Anh Tom Nguyễn tranh cử nghị viên HĐTP Garden City hồi Tháng Mười Một, 2023, sau khi cha mẹ anh trở thành công dân Mỹ hồi Tháng Ba trước đó, và thắng cử, trở thành nghị viên gốc Việt đầu tiên của thành phố.

Nhiệm kỳ nghị viên kéo dài bốn năm.

Theo báo Kansas Reflector hồi Tháng Mười Một, 2023, anh Tom Nguyễn là giám đốc truyền thông nhà thờ Saint Mary ở Garden City và dẫn dắt giới trẻ trong khu vực qua các hoạt động phục vụ cộng đồng dựa trên đức tin. Anh cho biết mục tiêu cuối cùng của là trở thành bác sĩ nhi khoa ở Garden City. Với tư cách là nghị viên lúc đó, anh cho biết sẽ tập trung vào việc giảm chi phí sinh hoạt ở Garden City và tiếp tục quảng bá thành phố này như một trung tâm đa dạng phía Tây Nam Kansas.

Anh nói anh được khuyến khích làm việc trong cơ quan công quyền khi chăm sóc cha mình, từng bị đột quỵ vào Tháng Giêng khi anh đang học đại học ở Massachusetts. Sau khi cha anh ra viện ở Denver, Colorado, anh Tom Nguyễn chuyển về Garden City để ở cùng gia đình và chuyển sang một trường đại học trực tuyến để hoàn thành chương trình đại học. Lúc đó, anh đang học triết học, thần học, và quản trị kinh doanh.

Garden City tọa lạc ở phía Tây tiểu bang Kansas.

Theo thống kê đến năm 2020, thành phố có khoảng 28,000 cư dân. (Đ.D.)


 

“Và nếu không có chúng tôi, thì Ngài đã phải nói tiếng Pháp.”

Lê Diễn Đức

Những điều được ghi nhận từ bữa quốc yến tại Nhà Trắng trong chuyến thăm của Vua Charles III không chỉ là một nghi thức ngoại giao trang trọng, mà còn là một màn “đi dây lịch sử” tinh tế — nơi những câu đùa nhẹ nhàng lại có sức nặng hơn cả một bài diễn văn chính trị.

Donald Trump vốn quen với lối diễn đạt đặt nước Mỹ ở trung tâm mọi câu chuyện lịch sử: nếu không có Mỹ, châu Âu đã nói tiếng Đức. Một kiểu “lịch sử rút gọn” rất đặc trưng — nơi vai trò của đồng minh thường chỉ là phông nền cho câu chuyện về nước Mỹ.

Nhưng Vua Charles III, với phong thái điềm đạm đặc trưng của hoàng gia Anh, đã đáp lại bằng một câu khiến cả khán phòng bật cười — và không ít người phải khựng lại vài giây:

“Và nếu không có chúng tôi, thì Ngài đã phải nói tiếng Pháp.”

Nghe như một câu đùa. Nhưng là kiểu đùa mà lịch sử đứng phía sau thì không ai dám cười quá to.

Bởi vì, ẩn sau sự hài hước ấy là một nhắc nhở rất gọn nhưng rất sắc: đừng tưởng chỉ có Mỹ cứu thế giới; trước khi Mỹ thành siêu cường, Đế quốc Anh đã định hình chính nước Mỹ; và cái thứ tiếng Anh mà Trump đang dùng để lên lớp thiên hạ… cũng là di sản của London.

Không cần nâng giọng. Không cần tranh luận. Chỉ cần một câu, đặt đúng chỗ, là đủ để kéo cả “tự sự vĩ đại” về lại mặt đất lịch sử.

Điều đáng nói là đây không phải một phản pháo kiểu chính trị gia, mà là một cú tát “bọc nhung” đúng nghĩa hoàng gia: mềm, lịch thiệp, nhưng đủ sắc để người nghe tự hiểu mình đang đứng ở đâu trong dòng chảy lịch sử mà mình tưởng mình đang độc quyền kể lại.

Còn Trump? Vẫn cười. Nhưng là kiểu nụ cười rất đặc trưng — nơi ranh giới giữa “được tán thưởng” và “vừa bị nhắc khéo” trở nên mơ hồ đến mức khó phân biệt ngay tại bàn tiệc.

Trong ngoại giao, có những cú đánh không cần tiếng động lớn.

Chỉ cần một câu nói đủ tinh tế để người ta không thể phản ứng mà không tự làm lộ cảm giác của chính mình.

Và tối đó ở Washington Vua Charles III đã làm điều đó — một cách rất Anh.

Điều thú vị nhất: Charles cố tình làm vậy. Đây không phải câu bông đùa ngẫu hứng. Trong ngoại giao hoàng gia Anh, từng câu toast đều được chuẩn bị rất kỹ.

Việc Vua Charles chọn đúng câu này nghĩa là ông muốn gửi thông điệp: “London không thích cái giọng Mỹ ban phát công lao cho châu Âu như Trump vẫn làm”!

 


 

THỨ GÌ THẬT SỰ LÀ CỦA CHÚNG TA?

  1. Ngày sinh – do người khác quyết định.
  2.  Tên gọi – do người khác đặt.
    3. Thu nhập – do người khác trả.
    4. Sự tôn trọng – do người khác dành cho.
    5. Lần tắm đầu tiên và cuối cùng – đều do người khác lo.
    6. Tài sản – rồi cũng để lại cho người khác.
    7. Tang lễ – người khác tổ chức.

Có một ngày nào đó, bạn thử ngồi xuống thật yên… và nhìn lại đời mình như: xem lại một thước phim.

Bạn sẽ thấy:

Mình sinh ra trong tiếng khóc, nhưng nụ cười đầu tiên lại là của người khác.

Mình lớn lên bằng cơm người nấu, áo người may, lời người dạy.

Đi làm, cũng là để đổi thời gian và sức lực lấy đồng tiền do người khác trả.

Ngay cả lúc mệt mỏi, yếu lòng… cũng chỉ mong có một ai đó hiểu mình.

Vậy mà lạ… ta vẫn cứ nghĩ mình “quan trọng lắm”.

Ta giận ai đó chỉ vì một câu nói.

Ta buồn cả ngày chỉ vì không được công nhận.

Ta hơn thua chỉ vì một chút sĩ diện.

Nhưng rồi bạn thử hỏi lại mình: Những điều đó… có thật sự đáng không?

Có những người từng rất quan trọng trong đời ta, mà giờ đây… cũng chỉ còn là một cái tên trong danh bạ không bao giờ gọi.

Có những thứ ta từng cố chấp giữ lấy, đến lúc mất đi rồi mới thấy… hóa ra cũng không làm mình chết được.

Cuộc đời này vốn dĩ rất đời thường.

Sáng thức dậy, có việc để làm. Tối trở về, có người để nhớ. Đã là một loại hạnh phúc rồi.

Nhưng con người lại hay tự làm khó mình.

Thay vì ăn một bữa cơm cho ngon, ta vừa ăn vừa nghĩ ai đó đang đánh giá mình ra sao.

Thay vì ngủ một giấc cho yên, ta lại ôm theo những chuyện không đáng… để rồi mệt mỏi.

Có khi hạnh phúc không nằm ở chỗ có thêm, mà nằm ở chỗ bớt lại.

Bớt so sánh.

Bớt hơn thua.

Bớt cái “tôi” lúc nào cũng muốn đúng.

Bạn biết không…Người ta nhớ về nhau, chưa bao giờ vì bạn giàu bao nhiêu, mà vì lúc họ cần… bạn đã đối xử với họ như thế nào.

Một lời nói nhẹ nhàng lúc người khác đang mệt, có khi đáng giá hơn cả một món quà lớn.

Một lần bạn chịu nhường, chịu im lặng, không phải vì bạn yếu…mà vì bạn đủ hiểu để không làm tổn thương thêm.

Đến cuối cùng, khi nhắm mắt lại, không ai mang theo được tiền bạc hay danh tiếng.

Chỉ có hai thứ còn lại: những người từng thật lòng thương mình…và cảm giác bình yên hay dằn vặt trong chính lòng mình.

Nên nếu hôm nay còn có thể, hãy sống chậm lại một chút

.Nói với ba mẹ một câu dịu dàng hơn.

Nhìn người bên cạnh bằng ánh mắt bao dung hơn.

Và với chính mình… cũng đừng khắt khe quá.

Đời này ngắn lắm. Ngắn đến mức nhiều khi chưa kịp hiểu nhau… đã lạc mất nhau rồi. Vậy mà con người vẫn sống với cái tôi quá lớn.

Hãy sống đơn giản hơn.

Yêu thương nhiê`u hơn.

Và bình yên với nhau hơn

Nên thôi, đừng cố hơn ai cả. Chỉ cần sống sao để tối về… thấy lòng mình không nặng, thấy mình vẫn còn biết thương người,

  From: luong bui  & KimBang Nguyen


 

Chỉ khi nào con người chấp nhận “văn minh hòa bình” họ mới có thể đàm phán và giải quyết chiến tranh

Chỉ khi nào con người chấp nhận “văn minh hòa bình” họ mới có thể đàm phán và giải quyết chiến tranh

Trọng kính Cộng đồng Dân Chúa,

 Trên chuyến bay kết thúc chuyến Tông Du Phi Châu trở về Vatican hôm 23/4/2026 sau 10 ngày rao giảng tin mừng sự sống cho riêng các cộng đoàn dân Chúa của mình cũng như “văn hóa hòa bình” cho chung anh chị em đồng loại của mình ở miền đất bần cùng khốn khổ nhất thế giới này, ĐTC Lêô XIV đã có cuộc họp báo với 70 nhân viên thuộc giới truyền thông được đi tháp tùng ngài. 

 Câu phỏng vấn đầu tiên về chiến tranh Trung Đông

 “Trong cuộc gặp vì hòa bình tại Bamenda, ở Camerun, Đức Thánh Cha đã mô tả một thế giới đảo lộn, nơi một nhóm nhỏ những bạo chúa có nguy cơ hủy diệt hành tinh. Ngài nói: Hòa bình không phải là điều phải phát minh ra nhưng là điều phải được đón nhận. Các cuộc đàm phán về xung đột tại Iran đang rơi vào hỗn loạn với những tác động nặng nề trên kinh tế toàn cầu. Ngài có mong muốn một sự thay đổi chế độ tại Iran không, khi mà cả xã hội dân sự lẫn sinh viên đã xuống đường trong những tháng gần đây và thế giới đang lo ngại về cuộc chạy đua hạt nhân? Ngài gửi lời kêu gọi nào đến Mỹ, Iran, Israel để thoát khỏi bế tắc và chấm dứt leo thang? NATO và châu Âu có nên tham gia nhiều hơn không?”

 ĐTC Lêô XIV đã trả lời về “một nền văn hóa hòa bình”:

 “Tôi muốn bắt đầu bằng cách nói rằng cần phải cổ võ một thái độ mới và một nền văn hóa hòa bình. Rất nhiều lần, khi chúng ta đánh giá một số hoàn cảnh, phản ứng lập tức là phải can thiệp bằng bạo lực, bằng chiến tranh, bằng tấn công. Điều mà chúng ta đã thấy là rất nhiều người vô tội đã chết. Tôi vừa đọc lá thư của một số gia đình có con em đã chết trong ngày đầu tiên của cuộc tấn công. Và họ nói về việc giờ đây họ đã mất con mình, những bé trai, bé gái, những trẻ em đã chết trong cuộc tấn công đó. Vấn đề không phải là chế độ có thay đổi hay không thay đổi; vấn đề là làm thế nào để cổ võ những giá trị mà chúng ta tin tưởng mà không gây ra cái chết của biết bao người vô tội. Vấn đề Iran rõ ràng là rất phức tạp. Chính các cuộc thương thuyết đang diễn ra, một ngày Iran nói có và Mỹ nói không, rồi ngược lại, và chúng ta không biết sẽ đi về đâu. Tình trạng hỗn loạn này đã được tạo ra, gây nguy cấp cho kinh tế toàn cầu, nhưng rồi cũng có cả một dân chúng tại Iran là những người vô tội đang phải chịu đau khổ vì cuộc chiến này. Vì thế, về chuyện thay đổi chế độ hay không: không rõ hiện nay là chế độ nào đang tồn tại, sau những ngày đầu tiên của các cuộc tấn công của Israel và Mỹ vào Iran. Thay vào đó, tôi muốn khích lệ việc tiếp tục đối thoại vì hòa bình, để các bên tìm cách dồn mọi nỗ lực nhằm cổ võ hòa bình, đẩy xa mối đe dọa chiến tranh và tôn trọng luật pháp quốc tế. Điều rất quan trọng là những người vô tội phải được bảo vệ, điều đã không xảy ra ở nhiều nơi. Tôi mang theo bên mình một tấm ảnh của một em bé Hồi giáo mà trong chuyến viếng thăm Libăng đã đứng đó chờ tôi với một tấm bảng ghi ‘Chào mừng Đức Giáo hoàng Lêô’, rồi trong giai đoạn cuối của cuộc chiến, em đã bị giết. Có biết bao hoàn cảnh con người như thế và tôi nghĩ rằng chúng ta phải có khả năng suy nghĩ theo cách đó. Với tư cách là Giáo hội, tôi xin nói lại, với tư cách là mục tử, tôi không thể ủng hộ chiến tranh. Và tôi muốn khích lệ mọi người nỗ lực tìm kiếm những câu trả lời phát xuất từ một nền văn hóa hòa bình chứ không phải từ hận thù và chia rẽ.

 Câu phỏng vấn đầu tiên về việc Iran sát hại dân:

 “Thưa Đức Thánh Cha, trong chuyến đi này ngài đã nói về việc con người đang đói khát công lý. Chính sáng nay, đã có tin cho biết Iran đã xử tử thêm một thành viên đối lập, và điều này diễn ra trong khi chế độ đã công khai treo cổ nhiều người khác và sát hại hàng ngàn công dân của chính mình. Ngài có lên án những hành động này không? Ngài có sứ điệp nào dành cho chế độ Iran không?

 ĐTC Lêô XIV trả lời “Tôi lên án việc giết hại con người”:

 Tôi lên án mọi hành động bất công. Tôi lên án việc giết hại con người. Tôi lên án án tử hình. Tôi tin rằng sự sống con người phải được tôn trọng và sự sống của mọi người, từ lúc được thụ thai cho đến khi chết tự nhiên, phải được tôn trọng và bảo vệ. Vì thế, khi một chế độ, khi một quốc gia đưa ra những quyết định tước đoạt cách bất công mạng sống của những người khác, thì rõ ràng đó là điều phải bị lên án.” 

Vấn đề ở đây là vì thành phần lãnh đạo liên quan đến cuộc chiến Trung Đông tại bãi chiến trường Iran hiện nay đã sẵn máu “văn hóa chết chóc – culture of death” (ĐTC Gioan Phaolô II) và “văn hóa sa thải loại trừ – throw away culture” (ĐTC Phanxicô), nên họ không thể nào chấp nhận “một nền văn hóa hòa bình – culture of peace” (ĐTC Lêô XIV), phản ảnh “văn minh yêu thương – civilization of love” (ĐTC Phaolô VI), và vì thế họ không thể hay khó có thể ngồi lại với nhau, và cho dù có ngồi lại đàm phán với nhau chăng nữa cuối cùng họ vẫn chẳng giải quyết được gì, vẫn tiếp tục đánh nhau, bởi trước khi đàm phán họ đã hù dọa nhau đủ thứ và vẫn nhăm nhe tấn công nhau (như ở cuộc chiến Iran), chứ không tỏ ra thực sự thành tâm thiện chí giải quyết dứt khoát chiến tranh, hay vẫn cứ đánh nhau không chịu ngưng chiến để đàm phán (như ở cuộc chiến Ukraine). 

 Phải chăng chính vì các thẩm quyền chính trị hiện nay không thể hay khó có thể quay trở về với “một nền văn hóa hòa bình” như thế, mà chính Kitô hữu chúng ta cần phải bù đắp cho họ trong tinh thần “xây dựng hòa bình” với danh nghĩa là “con Thiên Chúa” (Mathêu 5:9), thành phần cũng cần phải thay máu hiếu chiến vẫn còn đang sôi sục trong bản thân chúng ta khi chúng ta cầu nguyện cho hòa bình, bằng máu “văn hóa hòa bình”, để nhờ đó LTXC là Đấng không loại trừ một ai sẽ làm chủ tâm trí của thành phần lãnh đạo chính trị liên quan đến các cuộc chiến lớn nhỏ, công khai hay âm thầm hoặc bị quên lãng hiện nay, khiến họ từ từ tiến đến chỗ biết trân quý và tôn trọng hơn bất cứ một tham vọng chính trị bất chính nào của họ, tất cả quyền lợi chính đáng, phẩm giá bất khả xâm phạm và sự sống do chính Thiên Chúa dựng nên của từng người cũng như của chung dân nước của mình cũng như của nhau, chúng ta hãy tiếp tục theo dõi hiện tình Thế giới Ngày nay ở đường kết nối tổng hợp sau đây:

Thế giới Ngày nay 24-26/4/2026 – Chỉ khi nào con người chấp nhận “văn minh hòa bình” họ mới có thể đàm phán và giải quyết chiến tranh

 Trân trọng, 

TĐCTT Đaminh Maria cao tấn tĩnh

From: daminhmariacaotantinh & NguyenNThu


 

 SỐNG NIỀM VUI PHỤC SINH – Trầm Thiên Thu

  Trầm Thiên Thu

Tôi rất thích câu Kinh Thánh: “Khi Chúa Giêsu thấy Maria Mađalêna khóc ở cửa mộ thì Ngài hỏi: Này chị, sao chị khóc?” (Ga 20:15).  Lúc đó Ngài không hỏi một câu văn hoa bóng bẩy.  Ngài muốn biết lý do chúng ta lo âu, khóc lóc và phiền muộn khi niềm hy vọng tiềm ẩn trong mọi sự – nếu chúng ta lưu ý.

 Phục sinh mang ý nghĩa giải thoát, rất ý nghĩa đối với một người như tôi, vì tôi luôn cảm thấy buồn sầu và tiêu cực.  Mừng lễ Phục sinh là dịp để chúng ta nói: “Vâng, lạy Chúa Giêsu, con tin.”  Khi làm vậy, hãy nắm bắt niềm hy vọng có sẵn đó. 

  1. Tiến lên và chạm vào ngài

Sau khi sống lại, Chúa Giêsu hiện ra với các môn đệ và nói: “Sao anh em phiền muộn?  Sao anh em nghi ngờ?  Hãy sờ vào Thầy và xem đây, ma không có xương thịt như anh em thấy Thầy.”  Nếu tôi là một trong số họ, tôi không chỉ phiền muộn mà chắc rằng tôi sẽ không dám đến gần sờ thử.  Tôi nghi ngại.  Nhưng tôi tìm thấy sự an tâm trong sự bảo đảm của Chúa Giêsu rằng sự phục sinh của Ngài là thật.  Chúa Giêsu là thật, sự phục sinh là thật, do đó mà các lời hứa của Ngài là thật.  Nghĩa là chúng ta khả dĩ tin Ngài khi Ngài nói với chúng ta rằng Ngài sẽ ở với chúng ta đến tận thế (Mt 28:20). 

  1. Thiên Chúa tốt lành

Trước khi chịu chết, Chúa Giêsu nhắc lại rằng Ngài được sai đến nhân danh Chúa Cha.  Thật vậy, qua nhiều phép lạ, nhất là việc cho Ladarô sống lại, cho thấy tính tốt lành của Thiên Chúa: “Vì Cha yêu Con và cho Chúa Con thấy mọi sự Người làm, và Người sẽ cho Chúa Con thấy những việc vĩ đại hơn vậy, đến nỗi anh em có thể ngạc nhiên” (Ga 5:20). 

Chân phước Angela Foligna, thế kỷ 14, là người mẹ và người vợ, rồi là người viết xuất chúng về các điều thần bí, đã viết: “Bước đầu tiên mà linh hồn phải có khi đi vào con đường yêu thương là biết Thiên Chúa qua chân lý, nhờ đó mà muốn đạt tới Thiên Chúa…  Biết Chúa qua chân lý là biết Ngài như chính Ngài, hiểu sự xứng đáng của Ngài, vẻ đẹp của Ngài, sự ngọt ngào của Ngài, sự tuyệt luân của Ngài, sức mạnh của Ngài, sự tốt lành của Ngài, bản chất cực tốt lành của Ngài.”  Tôi nghĩ rằng tin Chúa tốt lành là điểm phục sinh.  Thiên Chúa có tốt lành không?  Có.  Chúng ta có thể nói vậy với niềm xác tín vào sự Phục sinh. 

  1. Phó thác

Hãy phó thác ý muốn và cuộc đời mình cho Chúa quan phòng.  Thánh Thomas Tiến sĩ viết: “Tính thánh thiện không gì hơn là quyết định dứt khoát, một hành động anh dũng của một linh hồn phó thác cho Thiên Chúa.  Nhờ ý muốn thẳng thắn mà chúng ta yêu mến Chúa, chạy về phía Chúa, đạt tới Ngài và sở hữu Ngài.”  Mỗi khi chúng ta nói với Chúa: “Hãy lấy điều đó khỏi con,” chúng ta đang sống niềm vui Phục sinh, vì chúng ta đang nhớ lời hứa của Chúa rằng Ngài sẽ cung cấp cho chúng ta, Ngài không bỏ chúng ta, và dù chúng ta nghi ngờ thì Ngài vẫn thực sự đáng tin. 

  1. Loại bỏ sợ hãi

Trong trình thuật của thánh Mát-thêu, thiên thần Chúa hiện ra với Maria và một Maria khác ở nơi mộ trống, rồi nói với họ: “Đừng sợ, vì tôi biết các chị đang tìm Giêsu bị đóng đinh.  Ngài không còn ở đây.  Ngài đã sống lại như Ngài đã nói.”  Sau đó Chúa Giêsu gặp các chị và lặp lại: “Đừng sợ!” (Mt 28:10).  Có thể điều Chúa Giêsu nói ở đây là đừng sợ.  Loại bỏ sợ hãi là điều không dễ làm.  Nhưng nếu chúng ta có thể loại bỏ sợ hãi, dù loại bỏ dần dần, chúng ta sẽ tránh xa nỗi buồn thập giá và đến gần sự tuyệt vời của ngôi mộ trống.  Cố tu sĩ Thomas Merton, dòng Trap, viết: “Nỗi sợ hãi thu hẹp lối vào trái tim, co rút khả năng yêu thương và làm đóng băng khả năng trao tặng chính mình.” 

  1. Công khai

Mệnh lệnh của Chúa Giêsu là rao giảng công khai.  Cho dù bạn có thể giống như kẻ khờ dại, cứ nói với người ta rằng sự sống lại đã xảy ra thực sự.  Không nhất thiết chúng ta phải là người rao giảng Tin Mừng từ xa.  Chúng ta khả dĩ làm và nói mọi thứ, ngôn ngữ và hành động của chúng ta luôn trở lại với sự Phục sinh, truyền niềm hy vọng cho mọi người chúng ta gặp. 

  1. Khiêm nhường

Nếu Chúa Giêsu là Thiên Chúa, và chỉ có một Thiên Chúa, điều đó nghĩa là không ai trong chúng ta là Thiên Chúa.  Đó là sự thật quan trọng khác về sự sống lại: Thiên Chúa trở nên con người, con người không thể trở nên Thiên Chúa.  Tôi biết tôi thường lẫn lộn hai điều đó, nhất là khi tôi nói chuyện qua điện thoại với nhân viên bảo hiểm y tế, vì tôi cảm thấy mình có quyền hơn người đó.  Thánh nữ Catarina Siena viết: “Hãy nhỏ bé và khiêm nhường.  Hãy nhìn vào Thiên Chúa, Ngài tự hạ làm con người.  Đừng làm mình bất xứng với những gì Thiên Chúa đã làm cho chúng ta.”  Với sự khiêm nhường, chúng ta sẽ có khả năng hơn nhờ sự Phục sinh.  Điều đó như sự bù đắp những gì chúng ta không thể có, nhưng Thiên Chúa khả dĩ cung cấp cho chúng ta nếu chúng ta tin vào ngôi mộ trống. 

  1. Hành trình Emmaus

Tôi luôn được đánh động bởi trình thuật của thánh Luca về hành trình Emmaus.  Hai môn đệ trên đường đi Emmaus, Chúa Giêsu đến gần và hỏi họ đang nói chuyện gì.  Một người nói: “Sao ông hỏi vậy?  Ông không nghe xôn xao chuyện gì ư?”  Và họ chợt nhận ra Ngài khi Ngài cùng ngồi ăn với họ. Nhưng ngay khi họ nhận ra Ngài thì Ngài biến đi.  Hằng ngày chúng ta có dịp đi Emmaus nếu chúng ta đồng ý với thánh Leo Cả: “Chia sẻ sự Phục sinh của Chúa Kitô là không bị ràng buộc bởi những gì tạm thời, nhưng chỉ ràng buộc bởi sự sống vĩnh hằng mà Ngài trao ban cho chúng ta… Sự Phục sinh đã khởi sự nơi Đức Kitô, và Ngài muốn dẫn chúng ta đến sự viên mãn của sự sống và sự chữa lành.” 

  1. Cầu nguyện liên lỉ

Trong trình thuật của thánh Luca, tôi thích câu: “Họ hỏi nhau: Lòng chúng ta không sốt sáng khi Ngài nói chuyện với chúng ta trên đường đi và giải nghĩa Kinh thánh cho chúng ta sao?” (Lc 24:32).  Hành trình tới Emmaus là lời cầu nguyện, các nhiệm vụ nhỏ mọn của chúng ta hằng ngày cũng là những lời cầu nguyện.  Thánh bổn mạng của tôi, Têrêsa Hài đồng, đã định nghĩa: “Lời cầu nguyện là điều bộc phát từ đáy lòng, là ánh mắt hướng về trời cao, là lời tạ ơn, là tình yêu giữa cơn thử thách và giữa niềm vui.”  Đó là cách cầu nguyện khi chúng ta sống niềm vui Phục sinh. 

  1. Nhận biết Chúa trong mọi sự

Nếu mùa Chay là sống tĩnh lặng để lắng nghe tiếng Chúa thì lễ Phục sinh là ca vang Alleluia với Ngài.  Và nếu 40 ngày bắt đầu bằng thứ tư lễ Tro là tách mình ra khỏi ai đó, nơi nào đó và thương mình hơn thì lễ Phục sinh là đón nhận mọi người, mọi nơi, mọi thứ gì thúc đẩy sự tốt lành, vẻ đẹp và tình yêu thương.  Thánh Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II đã viết: “Chúng ta có thể tìm thấy Chúa trong mọi sự.  Chúng ta có thể hiệp thông với Ngài trong mọi sự và qua mọi sự.”  Thiên Chúa hằng sống và hiện hữu khắp nơi.  Hãy sống niềm vui Phục sinh ở mọi nơi và mọi lúc.  Hãy cầm lấy, tạ ơn, bẻ ratrao cho người khác chính cuộc đời mình!

 Therese Borchard

Trầm Thiên Thu

 (chuyển ngữ từ Beliefnet.com)

From: ngocnga_12 & NguyenNThu


 

TÁM MƯƠI TƯ NĂM MỘT KIẾP NGƯỜI

Peter Nguyen

TÁM MƯƠI TƯ NĂM MỘT KIẾP NGƯỜI

Tám mươi tư tuổi cuộc đời

Chút tâm tình gởi mấy lời mai sau

Trải qua bao cuộc bể dâu

Tù đày khắc nghiệt, thẳm sâu nghĩa tình.

Bước đầu nếm chén nhục vinh

Tám năm miền Bắc, thân hình héo hon

Chúa thương phù hộ vuông tròn

Vượt qua cửa tử, vẫn còn hôm nay.

Bước hai tìm thấy ơn dày

Tìm về cửa đạo, từ đây an hòa

Bình Triệu khấn Đức Mẹ ta

Kỳ Đồng thanh tẩy, lệ nhòa niềm tin.

Bước ba gác lại nỗi riêng

Rời xa xứ sở, theo tiếng gọi xa

Abraham – thuở quê nhà

Hobby đáp cánh, trời hoa xứ người.

Thánh Kinh sớm tối mỉm cười

Tân Tòng dìu dắt, giúp người bền tâm

Thời gian tựa bóng quan âm

Sống theo từng nhật, chẳng lầm từng niên.

Đời là cõi tạm hư huyền

Chết rồi ai nhớ, ai phiền chi ta?

Nhưng lòng vẫn cứ bao la

Yêu người chỉ trích, thứ tha lỗi lầm.

Cầu cho hậu thế tri âm

Gặp nhau ngày cuối, nảy mầm hy vọng

Yêu thương như biển mênh mông

Một đời trọn vẹn, ấm nồng nghĩa nhân.

Chúc mừng, chúc mừng!

Peter Nguyen


 

Buồn – Tưởng năng Tiến / STTD 

Buồn – Tưởng năng Tiến / STTD 

Người Việt rất hay buồn. Họ buồn đủ chuyện, đủ thứ, đủ cách, đủ kiểu, đủ loại và buồn dài dài: buồn chồng, buồn vợ, buồn con, buồn chuyện gia đình, buồn chuyện nước non, buồn chuyện tình duyên, buồn trong kỷ niệm, buồn tình đời, buồn nhân tình thế thái, buồn thế sự đảo điên, buồn tàn thu, buồn tàn canh gió lạnh … 

Đó là chưa kể những nỗi buồn, buồn lãng xẹt: buồn trông con nhện giăng tơ, buồn trông cửa bể chiều hôm, buồn trông nội cỏ rầu rầu, buồn trông con nước mới sa … 

Lúc nào và ở đâu dân Việt cũng đều có thể buồn được cả (ngoại ô buồn, thành phố buồn, đô thị buồn) và họ luôn luôn buồn quá mạng, buồn thê thảm, buồn dữ dội, buồn da diết, buồn thảm thiết, buồn tê tái, buồn miên man, buồn mênh mông, buồn man mác, buồn nát tâm tư, buồn rười rượi, buồn nẫu ruột, buồn muốn chết, buồn muốn khóc, buồn thấy mẹ, buồn tận mạng, buồn quá xá, buồn quá trời, buồn thỉu buồn thiu, buồn hết biết luôn … 

Nói tóm lại là người Việt buồn muôn thuở, buồn quanh năm, buồn suốt tháng, bất kể ngày đêm: ngày buồn tênh, đêm buồn tỉnh lẻ, khuya phố thị buồn, chiều chủ nhật buồn … Toàn là những nỗi buồn ngang, buồn bất chợt, buồn vô cớ, buồn vào hồn không tên, buồn mà không hiểu vì sao mình buồn nhưng họ đều buồn thiệt và buồn lắm lận. 

Chỉ có nỗi buồn về mùa màng thời tiết thì dân Việt mới nêu rõ nguyên do và ghi khá rõ – từ lâu – qua những câu lục bát truyền thống rất nhịp nhàng, và khá điệu đàng: 

Buồn về một nỗi tháng giêng

Con chim, cái cú, nằm nghiêng thở dài

Buồn về một nỗi tháng hai

Đêm ngắn, ngày dài, thua thiệt người ta

Buồn về một nỗi tháng ba

Mưa rầu, nắng lửa, người ta lừ đừ

Buồn về một nỗi tháng tư

Con mắt lừ đừ cơm chẳng muốn ăn

Buồn về một nỗi tháng năm

Chửa đặt mình nằm gà gáy, chim kêu 

 Riêng tôi thì vì đã quá già (có ngủ nghê gì được mấy đâu) nên đêm dài lắm. Nghe tiếng “gà gáy, chim kêu” còn mừng là đằng khác. Bởi thế, tôi chả hề phiền hà gì “về nỗi tháng năm”. Có buồn chăng – chả qua – chỉ vì chút dư âm của tháng tư (thôi) nhưng cứ buồn hoài và buồn lắm. 

Ngoài chút phiền lòng vì “nắng lửa, lừ đừ, cơm chẳng muốn ăn”, tôi còn buồn lòng không ít vì cả nước chợt ồn ào và náo nhiệt một cách giả tạo và gượng gạo. Khắp nơi bỗng đều đỏ rực một mầu, ngó mà ớn chè đậu: 

– Rực rỡ cờ hoa chào mừng 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam

– Họp mặt kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

– Treo cờ và khẩu hiệu tuyên truyền kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước

– Giao lưu văn nghệ chào mừng kỷ niệm 50 năm ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước

– Triển lãm ảnh kỷ niệm 50 năm ngày giải phóng miền Nam

– Sôi nổi hoạt động chào mừng Kỷ niệm 50 năm ngày Giải phóng hoàn toàn Miền Nam thống nhất đất nước 

Thiên hạ, xem ra, không được “sôi nổi” gì cho lắm: 

– Thái Hạo: “Anh em trong nhà, đánh nhau một trận, năm mươi năm sau’ còn ăn mừng chiến thắng. Đó là tiểu khí của người nhỏ nhen”. 

– Nguyên Tống: “Cùng là anh em nòi giống Việt, đánh nhau đến tan cửa nát nhà rồi ăn mừng mãi cái ngày đó thì làm sao mà hoà giải dân tộc được?!” 

– Nguyễn Hữu Vinh: “Quan sát hiện tượng này, người ta có cảm giác rằng đảng giống như một con nghiện. Nhân tố gây nghiện ở đây là bạo lực, là hình ảnh của sự tàn bạo, sự giết chóc để thỏa mãn bản chất bạo lực của Đảng, của Giai cấp vô sản chuyên nghề lật đổ và cướp từ chính quyền cho đến lợi ích, tài sản.” 

– Nguyễn Thông: “Kiểu kỷ niệm, diễu hành, phô trương như thế này, xưa chỉ thấy ở đám phát xít Đức, về sau rõ nhất ở Triều Tiên … Hãy sống với thế giới văn minh chứ đừng mãi man rợ cờ phướn như thế.” 

– Phạm Quang Trung: “Anh em đánh nhau một trận rồi thôi, cười khì…đàng này đã 50 năm rồi mà vẫn tiệc tùng ăn mừng chiến thắng! Vậy là sao ta!?” 

Câu hỏi thượng dẫn khiến tôi nhớ đến chuyến viếng thăm tiểu bang Hawaii của TT Nhật bản Shinzo Abe, và bài diễn văn ông đọc vào ngày hôm sau (26 tháng 12 năm 2016) tại Trân Châu Cảng. Xin trích dẫn đôi đoạn, theo bản văn của dịch giả Nguyễn Quốc Vương: 

“Đấy là nơi tôi đã cúi đầu mặc niệm. Nơi đang khắc tên những người lính đã mất… Mỗi người lính đều có bố có mẹ lo lắng cho mình. Họ cũng có người vợ yêu thương và người yêu. Và có lẽ họ cũng có cả những đứa con mà họ đang háo hức với sự lớn lên từng ngày của chúng. 

Tất cả những tâm tư ấy đã bị cắt đứt. Khi nghĩ đến sự thật nghiêm trọng ấy và cảm nhận sâu sắc nó, tôi đã không thể thốt nên lời. Hỡi những linh hồn, xin hãy ngủ yên! Tôi, với tư cách là đại diện cho quốc dân Nhật Bản đã thả hoa xuống biển nơi những người lính đang an nghỉ với cả tấm lòng thành… 

Tôi, với tư cách là thủ tướng Nhật Bản, xin được gửi lời chia buồn chân thành mãi mãi tới linh hồn của những người đã bỏ mạng ở mảnh đất này, tới tất cả những người dũng cảm đã bỏ mạng bởi cuộc chiến tranh bắt đầu từ đây và cả linh hồn của vô số người dân vô tội đã trở thành nạn nhân của cuộc chiến tranh. 

Tấn thảm kịch của chiến tranh sẽ không bao giờ được lặp lại. Chúng tôi đã thề như thế. Và rồi sau chiến tranh, chúng tôi đã xây dựng nên quốc gia tự do, dân chủ, tôn trọng pháp trị và duy trì lời thề bất chiến một cách chân thành. 

Khi chiến tranh kết thúc, lúc Nhật Bản trở thành cánh đồng cháy trụi mênh mông và khổ sở trong tận cùng của nghèo đói, người đã không hề ngần ngại gửi đến thức ăn, quần áo là nước Mỹ và quốc dân Mỹ. Nhờ những tấm áo ấm và sữa mà quý vị gửi đến mà người Nhật đã giữ được sinh mệnh tới tương lai… 

Và rồi nước Mỹ cũng đã mở cho Nhật Bản con đường trở lại cộng đồng quốc tế. Dưới sự lãnh đạo của nước Mỹ, chúng tôi, với tư cách là một thành viên của thế giới tự do đã được hưởng thụ hòa bình và sự phồn vinh. 

Tấm lòng khoan dung rộng lớn, sự giúp đỡ và thành ý như thế của quý vị đối với người Nhật chúng tôi, những người đã từng đối đầu quyết liệt như kẻ địch đã khắc sâu trong lòng ông bà, bố mẹ chúng tôi. Cả chúng tôi cũng sẽ ghi nhớ điều đó. Cả con cháu chúng tôi cũng sẽ kể mãi và không thể nào quên… 

Đã 75 năm sau trận ‘Trân Châu cảng’. Nhật Bản và nước Mỹ, những nước đã tham dự cuộc chiến tranh tàn khốc trong lịch sử, đã trở thành hai nước đồng minh gắn bó với nhau mạnh mẽ và sâu sắc hiếm có trong lịch sử… Thứ gắn kết chúng ta chính là ‘sức mạnh của hòa giải’, the power of reconciliation, thứ do lòng khoan dung mang lại.” 

Người Nhật và người Mỹ không đợi đến ngày nay mới quyết định ‘bỏ đi sự thù hận và nuôi dưỡng tình bạn’. Ngay sau khi Thế Chiến Thứ II vừa chấm dứt, họ (kẻ thắng/người thua) đã nắm tay nhau để tạo nên “sức mạnh của tinh thần hòa giải” và sự “khoan dung” gần trăm năm nay. 

Chiến tranh VN cũng đã chấm dứt 50 năm (rồi) nhưng không biết đến bao giờ thì Bên Thắng Cuộc ở đất nước này mới thôi việc đình đám/cờ xí/tiệc tùng ăn mừng chiến thắng, thôi kỳ thị, và thôi kích động hận thù để hòa giải và hòa hợp với Bên Bại Cuộc? 

Nhân Tuấn Trương trả lời: “Tôi có thể kết luận (mà không sợ sai lầm) rằng đảng và nhà nước CSVN chưa bao giờ có chủ trương về hòa giải (hay HG&HH DT). Hòa giải-réconciliation” là hành vi chỉ có ở những dân tộc văn minh”. 

Nghe thế có buồn không? 

Buồn chớ và buồn lắm! Buồn muốn khóc luôn, buồn như chưa bao giờ buồn thế, buồn như không còn ai có thể buồn hơn được nữa. Buồn từ ngã bẩy, ngã ba buồn về.

Tưởng năng Tiến / STTD

From: My Tran


 

Việt Nam chịu tác động giá nặng nề nhất ở Đông Nam Á

Theo báo Nikei Á Châu

thay thế

Người mua sắm đang xem hàng tại một siêu thị ở Bangkok vào ngày 22 tháng 4. Một nhà phân tích cảnh báo về giá thực phẩm tăng cao trong khu vực do chi phí năng lượng tăng cao ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế. (Ảnh của Ken Kobayashi)

Sự phụ thuộc của Đông Nam Á vào dầu thô và các sản phẩm dầu mỏ tinh chế

SINGAPORE — Lạm phát tiêu dùng đang gia tăng trên khắp Đông Nam Á, do sự gián đoạn nguồn cung dầu mỏ gây ra bởi cuộc chiến Mỹ-Iran, với các quốc gia phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu dầu từ Trung Đông như Việt Nam và Philippines chứng kiến ​​mức tăng giá mạnh nhất trong nhiều năm vào tháng 3.

Kể từ khi việc vận chuyển dầu thô qua eo biển Hormuz bắt đầu bị hạn chế vào tháng 3, nền kinh tế toàn cầu đã phải đối mặt với giá nhiên liệu tăng cao và tình trạng thiếu hụt các nguyên liệu đầu vào công nghiệp quan trọng như naphtha.

Darren Tay, người đứng đầu bộ phận rủi ro quốc gia khu vực châu Á – Thái Bình Dương tại BMI, nói với Nikkei Asia,  “Do tác động lạm phát được phân bổ rộng rãi hơn trên toàn bộ nền kinh tế công nghiệp của Đông Nam Á” chính điều này làm cho tác động trở nên nặng nề hơn so với các nền kinh tể ở Châu Âu.

Ông lưu ý rằng điều này khác với xu hướng ở châu Âu, nơi cú sốc chủ yếu được truyền tải thông qua giá khí đốt tự nhiên và hóa đơn tiền điện của các hộ gia đình.

thay thế

Việt Nam là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất. Theo số liệu chính thức, chỉ số giá tiêu dùng của nước này đã tăng 4,65% so với cùng kỳ năm ngoái trong tháng 3, đạt mức cao nhất trong 5 năm.