Văn hóa quỳ

Văn hóa quỳ

9-3-2018

Hiện tượng một phụ huynh đảng viên bắt cô giáo quỳ không phải là một tin vặt. Đó là hình ảnh một xã hội băng hoại, một văn hóa suy đồi trầm trọng mà Gramsci gọi là “những hiện tượng quái dị” của một thời đại tranh tối tranh sáng.

Antonio Gramsci: “Cái khủng hoảng nằm trong hiện tượng một thế giới cũ đang chết, một thế giới mới chưa thành hình. Trong cái tranh tối tranh sáng đó, diễn ra những hiện tượng bệnh hoạn dưới đủ mọi hình thức …” (1)

Chế độ Công Sản đang thối rữa, nhưng một chế độ lành mạnh hơn, ít bệnh hoạn hơn chưa thành hình, và trong bối cảnh đó, đủ mọi chuyện bệ rạc, quái dị xảy ra mỗi ngày.

Chuyện cô giáo bị bắt quỳ, và chấp nhận quỳ gối, chỉ là một thí dụ. Nhưng một thí dụ cho thấy cả khuôn mặt của một xã hội lở lói:

1. Cô giáo bắt học sinh quỳ. Đó là một phương pháp giáo dục hoàn toàn lạc hậu, ngày nay chỉ còn áp dụng ở những nước chậm tiến, nếu không nói là man rợ.

Bắt học sinh học thuộc lòng, hành hạ học sinh là chuyện ngày nay không tưỏng tượng được ở những xứ văn minh, nơi roi vọt hay bạo hành đối với trẻ em, ở học đường hay trong gia đình, là một hành động bị pháp luật trừng trị. Người ta dạy dỗ bằng lý lẽ, bằng thuyết phục, bằng gương sáng (éducation par exemples), không ai giáo dục bằng sự đe dọa, bạo hành, chà đạp nhân phẩm. Chưa nói tới chuyện nhồi sọ chỉ có ở những xứ độc tài, toàn trị.

2. Một phụ huynh, đúng ra một phụ huynh đảng viên, bắt cô giáo quỳ gối, chứng tỏ tất cả bậc thang giá trị của xã hội đã hoàn toàn đảo lộn.

Văn hoá cổ truyền VN coi thầy cô như cha mẹ, “nhất tự vi sư, bán tự vi sư”. Văn hóa nhân loại coi học đường là một nơi linh thiêng, bất khả xâm phạm, vì là nơi truyền bá kiến thức.

Ở bên Pháp chẳng hạn, dưới sự đe dọa của khủng bố Hồi giáo, người ta đã tranh luận sôi nổi về việc có nên để nhân viên cảnh sát vào sân trường hay không. Một bên là an ninh của học sinh, một bên là nguyên tắc độc lập của học đường. Cuối cùng người ta quyết định, trong một giai đoạn đặc biệt, sinh mạng của học sinh bị đe dọa, cảnh sát có thể tới canh giữ trong sân trường, với điều kiện đó là đề nghị của ban giám đốc nhà trường.

Bắt cô giáo quỳ gối là nhục mạ học đuờng, giáo dục, giáo chức, đánh tan sự kính trọng với những người có trọng trách truyền bá kiến thức.

Người Cộng Sản, trong quá trình tiêu diệt những giá trị cũ để tạo những “giá trị” mới, đã thành công trong việc phá vỡ tất cả nền tảng đạo lý. Học đường và nơi thờ tự, là những “tabous “cuối cùng, đã sụp đổ. Tại nơi thờ tự, sư quốc doanh làm tiền, trai gái, nhẩy nhót, nhậu nhẹt. Ở trường học, cô giáo quỳ gối.

Chuyện một tên đảng viên quèn, ngang nhiên vào trường học, bắt cô giáo quỳ, sau 30 phút vẫn không cho phép đứng dậy, vì con anh ta đã bị bắt quỳ 40 phút, không phải chỉ là chuyện bạo hành ngang ngược, lỗ mãng của một cá nhân. Nó điển hình cho não trạng của cả một tập đoàn thống trị. Họ nghĩ làm đảng viên là làm chủ dân, có toàn quyền ngồi trên đầu, trên cổ thiên hạ.

Trong nội bộ Đảng, anh cao nhất ngồi trên đầu anh thấp hơn. Anh vừa vừa ngồi trên đầu anh thấp nhất. Và các anh cán bộ, đảng viên quèn hành hạ dân ngu cu đen. Thói quen đội trên, đạp dưới đã trở thành văn hóa.

3. Một tên cán bộ quèn không thể làm chuyện ngang ngược, nếu không có sự đồng lõa, hay thái độ chấp nhận hèn yếu của hiệu trưởng.

Một tên cán bộ quèn không dám lộng hành nếu không nghĩ sẽ được che chở.

Điều đó giải thích tại sao có người ngạc nhiên, bất mãn khi thấy mình có thẻ Đảng mà vẫn bị đưa ra toà về tội hiếp dâm con nít. Anh ta ngạc nhiên một cách thành thực.

Thẻ Đảng, trong đầu họ, là lá bùa cho phép làm bất cứ chuyện gì phạm pháp, bất lương.

Ở những nước văn minh, một đảng viên có lỗi nặng sẽ bị khai trừ trong 24 giờ. Một Đảng CS bi dân chán ghét, bịt mắt làm ngơ, dung túng đảng viên bạo hành, bởi vì, thứ nhất, họ có chung một não trạng, thứ hai, họ cần một bọn lâu la trung thành, để bảo vệ, sống chết cho chế độ.

4. Cô giáo bị bắt quỳ 40 phút, nhẫn nhục quỳ 40 phút. Không uất ức, không nổi giận, không một chút tự trọng. Người dân, nhất là một nhà giáo, không còn một gramme tự trọng, xã hội sẽ đi về đâu?

Honoré de Balzac nói người ta kính trọng những người biết tự trọng. Biết tự trọng là bài học đạo đức đầu tiên. Bởi vì sự kính trọng người khác bắt đầu bằng sự kính trọng chính mình.

Tinh thần tự trọng giúp cho con người có tư cách. Nhất là trong một xã hội hỗn loạn, luật pháp là giấy vụn, cơ cấu chính quyền biến thành những băng đảng trộm cướp, chỉ còn sự tự trọng là cái thắng để giữ mỗi cá nhân không chìm sâu dưới đáy bùn. Cái tự trọng không còn nữa, dân tộc lao xuống vực. Như một chiếc xe không bàn thắng.

5. Những đồng nghiệp của cô giáo không phản kháng thái độ mất dạy, ngang ngược, nói lên cái vô cảm của cả một thế hệ.

Nếu không phản đối, bênh vực một đồng nghiệp, ít nhất cũng phải bênh vực, bảo vệ cho nghề nghiệp của chính mình, cho sứ mạng của người truyền bá kiến thức. Nhưng không, một sự nhịn, chín sự lành.

Ở trường học, cũng như ở những nơi khác, triết lý “không nghe, không nhìn, không nói” để được yên thân, để được sống vật vờ qua ngày, đã trở thành nhân sinh quan của cả một dân tộc.

Văn hoá quỳ ngự trị. Dân đen quỳ trước cán bộ. Cán bộ quỳ trước tập đoàn lãnh đạo. Tập đoàn lãnh đạo quỳ trước ông chủ Tàu.

Chuyện cô giáo tỉnh lẻ quỳ gối không phải chỉ là một chuyện vặt dưới huyện. Nó là một cơ hội để mỗi người soi gương mình, và từ đó, nhìn thấy mặt mũi của dân tộc. (2)

Từ Thức (Paris 9/3/2018)

_____

(1) “La crise consiste justement dans le fait que le vieux monde se meurt et que le nouveau monde tarde à apparaître, et dans ce clair-obscur surgissent les phénomènes morbides les plus variés”.

(2) Bài này trích trong một bài dài, tựa đề “Văn hoá, văn hoá, văn hoá”, nói về lý thuyết giải thích tất cả qua văn hoá của Antonio Gramsci, sẽ gởi tới độc giả trong những ngày gần đây.

TỪ BÓNG TỐI TỚI ÁNH SÁNG

TỪ BÓNG TỐI TỚI ÁNH SÁNG

Mỗi khi đọc Kinh thánh, nếu chịu khó để ý một chút, chúng ta sẽ thấy tên tuổi của nhân vật Nicôđêmô được kinh Thánh nói tới ba lần, vào ba hoàn cảnh và ba thời điểm khác nhau:

Lần thứ nhất: ông ta chủ động đến gặp Chúa Giêsu vào ban đêm.  Bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay sẽ nói với chúng ta về cuộc gặp gỡ này.

Lần thứ hai: khi các thủ lĩnh tôn giáo Do Thái đang bàn tính để tìm cách giết Chúa Giêsu.  Nicôđêmô vốn là thành viên của Thượng Hội đồng Do Thái Giáo, ông đã phản đối quyết định đó với ý kiến rằng: “Lề luật của chúng ta có cho phép kết án ai trước khi nghe người ấy và biết người ấy làm gì không?” (Ga 7, 15)

Lần thứ ba: lúc táng xác Chúa Giêsu.  Ông cũng đến để tẩn liệm thi hài Chúa Giêsu bằng cách thức sang trọng như tẩn liệm một vị vua.  Thánh Gioan kể: “Ông mang theo chừng một trăm cân mộc dược trộn với trầm hương.  Các ông lãnh thi hài Chúa Giêsu, lấy băng vải tẩm thuốc thơm mà quấn theo tục lệ chôn cất của người Do Thái.” (Ga 19, 39-40).  Sở dĩ tôi liệt kê ba lần như thế vì tôi muốn làm nổi bật lên khuôn mặt của Nicôđêmô và con người của ông.  Con người ấy đã đi qua một hành trình mà tôi tạm gọi là hành trình từ bóng tối tới ánh sáng, mà ba lần ở trên là ba cột mốc quan trọng trọng trong hành trình đó.

Ở lần thứ nhất, xét về phương diện thời điểm thì đây là giai đoạn mang một bầu khí căng thẳng do Chúa vừa đuổi quân buôn bán ra khỏi đền thờ (x. Ga 2, 13-25).  Sự căng thẳng này chưa kịp lắng dịu thì Nicôđêmô đã lén lút đến gặp Chúa Giêsu vào ban đêm.  Ông ta gặp Chúa lúc đêm tối nhằm giữ kín sự việc và để tránh dòm ngó, soi mói của người khác, đặc biệt là của giới lãnh đạo Do Thái Giáo, đồng nghiệp của ông.  Chi tiết ban đêm mà Thánh Gioan mô tả sẽ nói cho chúng ta biết điều đó.  Và còn hơn thế nữa, hàm chứa trong chi tiết ấy tôi còn khám phá thêm điều này của Nicôđêmô: Ông đang ở trong đêm tối.  Và từ trong đêm tối đó, ông đang dò dẫm, âm thầm tìm đến nguồn sáng.    

Nicôđêmô là ai?  Kinh thánh bảo rằng ông là một thủ lãnh của người Do thái (x. Ga 3,1).  Tức là môt người có địa vị trong xã hội.  Và gắn liền với địa vị đó, chắn chắn ông là người có nhiều kiến thức và là một người có trình độ, chính những cái đó sẽ cho ông có khả năng là một người Giàu có.

Tóm lại, cuộc sống ông đầy đủ, bảo đảm, và an ninh.  Vậy ông còn thiếu cái gì?  Bên ngoài xem ra ông đầy đủ.  Ông có tất cả.  Nhưng những cái mà ông đang có đó không thể làm cho ông được sống thoả mãn.  Vì thế, tự trong thâm tâm của ông vẫn luôn nói với ông rằng ông vẫn còn thiếu một cái gì đó.  Cái đó là cái gì nếu không phải là sự sống đời đời.  Nên ông vẫn phải đi tìm.  Và ông hy vọng rằng nơi Chúa Giêsu, ông sẽ khám phá và có được sự sống ấy.  Và thế là cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và anh tân tòng Nicôđêmô bắt đầu.  Chắc chắn cuộc nói chuyện này rất dài và rất lâu.  Tôi không muốn đi sâu vào cuộc đối thoại này vì sợ làm mất nhiều thì giờ của anh chị em.

Nhưng thay vào đó là điều tôi muốn nhấn mạnh trong bài chia sẻ này là: Chúng ta có thể khám phá ra điều gì về Nicôđêmô qua ba lần được Thánh kinh mô tả?  Là gì, nếu không phải đấy là ba giai đoạn của một hành trình hoán cải mà Nicôđêmô đã đi qua.

Lần xuất hiện đầu tiên cho thấy ông là người cởi mở, nhiều thiện chí và là một người thật sự muốn tìm kiếm chân lý.

Lần xuất hiện thứ hai chứng tỏ ông là một người công chính, một mực khăng khăng rằng không được kết án Chúa Giêsu trước khi đưa ra xét xử công khai.  Và lần xuất hiện thứ ba cho thấy rằng ông là một người giàu có nhưng quảng đại và có lòng thương xót nữa.  Dám bỏ tiền ra mua số lượng lớn là một trăm cân mộc dược và trầm hương, là những thứ quý hiếm.  Chúng ta đang sống trong bầu không khí của Mùa Chay.  Ai trong chúng ta cũng biết Mùa Chay là mùa hoán cải.  Vì thế để gọi là hoán cải, chúng ta cần làm lại hành trình của Nicôđêmô.  Hành trình đó được khởi đi từ một khao khát được sống.  Khao khát đó sẽ giúp cho ta:

  1. Ra khỏi chính mình để đi tìm, để tiếp cận, để gặp gỡ Chúa Giêsu là Đấng ban sự sống và là Sự Sống.
  2. Một khi đã khám phá Sự sống đó, sẽ dẫn chúng ta tới sự can đảm để bảo vệ cho sự sống ấy.
  3. Cuối cùng là lòng quảng đại để sống cho, sống vì và sống với Sự Sống đó.

– Đó là những Giá trị của Tin Mừng.

– Đó là hành trình của Mùa chay.

– Đó là hành trình của hoán cải.

– Đó là hành trình của bóng tối đến ánh sáng, hành trình đi từ bống tối của sự chết đến ánh sáng của Sự sống.  Amen!

Sưu tầm

From Langthangchieutim gởi

VIỆT NAM, CON THUYỀN KHÔNG BẾN

Trần Trung ĐạoFollow

Braintree, MA · 

VIỆT NAM, CON THUYỀN KHÔNG BẾN

Chuyến viếng thăm Việt Nam bốn ngày của hàng không mẫu hạm USS Carl Vinson và đoàn hộ tống hùng hậu đã gây nên nhiều tranh luận. Bỏ qua bên các tâm trạng xin quẻ, dâng sớ thượng nguyên, không ít ý kiến rất tích cực, thật sự thiết tha với tương lai đất nước.

Nhiều người mong USS Carl Vinson sẽ tạo nên lớp sóng phản hồi trong cuộc tranh chấp gần như thụ động, một chiều cha nói con nghe giữa Trung Cộng và CS Việt Nam. Sự hiện diện của USS Carl Vinson thể hiện chính sách cứng rắn của chính phủ Mỹ trên Biển Đông bất chấp đường lưỡi bò, lưỡi trâu do Trung Cộng vẽ. Tranh chấp chủ quyền Biển Đông có khả năng cao hơn dẫn đến quốc tế hóa, và chỉ quốc tế hóa mới đem lại công bằng cho các nước nhỏ.

Do đó, yếu tố quốc tế rất cần thiết. Trong giai đoạn toàn cầu hóa hiện nay khi sự phát triển của một quốc gia tùy thuộc rất nhiều vào sự phát triển của các quốc gia khác, yếu tố quốc tế chưa bao giờ quan trọng và hữu hiệu hơn.

Lịch sử nhân loại thời hiện đại cho thấy, yếu tố quốc tế thậm chí còn đóng vai trò quyết định trong hướng đi của dân tộc như trường hợp Ai Cập sau chiến tranh 1967, Thổ Nhĩ Kỳ sau thế chiến thứ hai và Nam Hàn sau thời Lý Thừa Vãn.

Anwar Sadat của Ai Cập là một lãnh tụ can đảm. Không ai từng chống Mỹ quyết liệt hơn cố tổng thống Anwar Sadat và là một anh hùng của toàn thế giới Á Rập. Tuy nhiên để mưu cầu một nền hòa bình và hạnh phúc cho nhân dân Ai Cập, năm 1976, ông đã bỏ đồng minh Liên Sô để bước sang phía thế giới tự do cho dù ông biết trước sự chọn lựa đó có thể trả giá bằng nhiều rủi ro như ông tiên đoán trong diễn văn đọc trước Quốc hội Israel ngày 20 tháng 11 năm 1967.

Mustafa Kemal là cha đẻ của nền cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ hiện đại sau khi đế quốc Ottoman tan rã. Những cải tổ tận gốc về văn hóa, giáo dục của vị tướng tài ba này đã đưa Thổ từ một nước Hồi Giáo với 99 phần trăm dân theo đạo Hồi sống khép kín tôn giáo thành một quốc gia hiện đại. Nhưng quan trọng nhất là tầm nhìn xa. Ông rất quan tâm đến việc tạo một thế đối lực với Liên Sô luôn nuôi tham vọng độc chiếm Eo Biển ĐịaTrung Hải, mạch máu của Thổ Nhĩ Kỳ. Ông qua đời năm 1938, và người chiến hữu tin cẩn của ông là Mustafa İsmet İnönü tiếp tục hành trình để đưa Thổ Nhĩ Kỳ vào quỹ đạo của dân chủ Tây Phương. Cuối cùng Thổ đã trở thành một thành viên của Minh Ước Bắc Đại Tây Dương dù quốc gia này cách bờ phía Đông của Đại Tây Dương tới hai ngàn dặm. Stalin đành ngậm đắng nuốt cay.

Gần Việt Nam có Nam Hàn. Nhiều người biết vào năm 1950 nền cộng hòa non trẻ này sống sót là nhờ quân đội Mỹ lúc đó còn mạnh ở Thái Bình Dương đổ bộ để tái chiếm Nam Hàn và xác định lần nữa việc chia đôi đất nước tại vĩ tuyến 38. Tuy nhiên, ít người để ý, quốc gia dân chủ này suýt trở thành CS lần nữa không phải do Bắc Hàn tấn công mà do chủ trương khuynh tả trong thời gian đảng Dân Chủ Nam Hàn do Chang Myon làm thủ tướng. Xung đột ý thức hệ tại Nam Hàn đã diễn ra kịch liệt do các thành phần tả khuynh chủ động. Phản ứng lại, dân chúng yêu tự do tổ chức các cuộc biểu tình chống tả khuynh tại nhiều nơi. Ngày 16 tháng 5, 1961, tướng Park Chung Hee (Phác Chính Hy) và quân đội đảo chánh, thiết lập một chính phủ cứng rắn và xác định một hướng đi mới: Phát triển kinh tế trước, thống nhất đất nước sau. Chính sách đó đã tạo không gian cho Nam Hàn cất cánh, từ lợi tức đầu người năm 1960 chỉ vỏn vẹn 76 dollars lên đến 35 ngàn đô la năm 2016.

Tuy nhiên, ba ví dụ trên cho thấy, yếu tố quốc tế có một điều kiện tiền đề: hoặc lãnh đạo sáng suốt, can đảm, thấy rõ nhu cầu của đất nước trong hướng đi dân chủ và cường thịnh thời đại, hoặc tinh thần người dân của quốc gia đó đủ mạnh để gây áp lực dẫn đến sự thay đổi quốc gia.

Việt Nam, cả đảng lẫn chống đảng đều không thỏa mãn được điều kiện tiền đề đó.

Về phía đảng CS.

Đảng CSVN là một đảng (1) bán nước, (2) không có tính chính danh, (3) bám lấy quyền lực và (4) ngu dốt trong điều hành đất nước.

Bốn đặc điểm này của chế độ CS không cần phải phân tích dài dòng, ngoại trừ những người phải chịu khuyết tật về thể xác hay tâm hồn mới không thấy và không biết.

Sự kiện một nước Việt Nam có trên ba ngàn cây số bờ biển và từ bao đời sống nhờ vào biển nay chỉ còn đủ rộng để đi câu là kết quả của sự thần phục Trung Cộng của bao thế hệ cầm quyền CS.

Trước đây, ý thức hệ CS làm mù lương tri Việt Nam của giới cầm quyền CS, ngày nay ý thức hệ CS đã chết nhưng họ vẫn tiếp tục dùng các phương pháp CS dã man do Lenin, Stalin, Mao nghĩ ra để tuyên truyền tẩy não và trấn áp người dân nhằm củng cố chiếc ghế quyền lực.

Tạm gác qua một bên chuyện đúng sai trong chiến tranh trước 1975, thử hỏi sau 43 năm đưa đất nước vào ngõ cụt của lạc hậu về kinh tế, chậm tiến về giáo dục, băng hoại về đạo đức, ung thối trong tận cùng của xã hội, họ có xứng đáng để tiếp tục cha truyền con nối cai trị trên đầu trên cổ của hơn 90 triệu người Việt hay không? Ai bầu họ ra? Ai cho phép họ sống trên xa hoa, phung phí giữa sự lầm than của đại đa số người dân Việt?

Chuyện các lãnh chúa CS ngu dốt cũng cũng không phải là chụp mũ hay bôi nhọ. Nhìn cảnh một Phan Văn Khải rút trong túi ra một tờ giấy viết sẵn để đọc cho TT G.W. Bush nghe một người Việt dù chống Cộng cũng không khỏi mắc cỡ giùm. Nội dung tờ giấy đó không phải là văn bản cần ký kết, cũng chẳng chứa đựng một thuật ngữ kinh tê’ chính trị gì dễ bị hiểu sai mà chỉ đôi lời thăm hỏi xã giao. Rồi mấy lớp cai trị khác theo sau cũng ngu ngơ không kém. Nếu không có thành phân phên dậu, thành phần xăng nhớt thì bộ máy CS đã ngừng chạy từ lâu rồi.

Về phía chống đảng CS.

Phía những người chống đảng cũng chưa có một hướng đi chung.

Những người chống CS cả trong và ngoài nước đều muốn lật đổ chế độ CS và xây dựng một Việt Nam dân chủ và cường thịnh. Nhưng nếu câu hỏi tiếp là làm thế nào để “lật đổ chế độ CS và xây dựng một Việt Nam dân chủ và cường thịnh” thì người viết nghĩ rằng không phải mọi người đều trả lời giống nhau.

Phải chăng câu hỏi quá khó để trả lời? Không.

Các quốc gia cựu CS, rộng như Ba Lan, hẹp như Estonia, xa xôi như Ethiopia, chậm tiến như Mông Cổ đã trở thành những nước dân chủ dù mức độ còn khác nhau bởi vì họ trả lời giống nhau câu hỏi thứ hai.

Những lãnh đạo phong trào dân chủ tại các nước này thấy rõ mục đích cần phải đạt trong từng giai đoạn của tiến trình dân chủ hóa và chỉ tập trung vào từng mục đích mà thôi.

Họ không phải là những chính trị gia chuyên nghiệp, nhà cách mạng nổi tiếng mà là những giáo sư, văn nghệ sĩ, công nhân, nông dân, sinh viên rất bình thường. Chỉ khác, họ không tham lam, không lãng phí thời gian và công sức vào những chuyện chỉ có thể giải quyết sau khi giải thể chế độ CS.

Việt Nam có hầu hết các yếu tố để dẫn đến một cuộc cách mạng, tuy nhiên vẫn còn thiếu lực lượng của những người nhận thức đúng hướng đi để chèo chống con thuyền qua cơn bão tố CS.

Xây dựng và phát triển tập hợp những người Việt vượt qua được mọi tiêu cực để tập trung vào việc tháo gỡ bộ máy cai trị của đảng CS trở thành nhu cầu bức thiết trong giai đoạn hiện nay. Và mãi cho tới khi lực lượng dân chủ đó ra đời, Việt Nam vẫn còn là một con thuyền không bến.

Trần Trung Đạo

NHỮNG ĐIỀU THẬT KỲ LẠ

 NHỮNG ĐIỀU THẬT KỲ LẠ

Thật kỳ lạ: Sao ai ai cũng muốn có một chỗ trên Thiên Đàng, mà lại không muốn tin, không muốn làm hay nói điều gì để được lên đấy?

  1. Thật kỳ lạ: Tờ giấy 100k sao có vẻ rất lớn khi dâng tặng cho Nhà Thờ, mà sao lại nhỏ thế khi mình đi mua sắm?
  2. Thật kỳ lạ: Hai giờ trong Nhà Thờ sao có vẻ dài lê thê, mà sao lại ngắn đến thế khi xem một tập phim?
  3. Thật kỳ lạ: Mình không thể tìm ra một lời để nói khi cầu nguyện, mà không biết lời đâu lại sẵn thế khi tán gẫu với bạn bè?
  4. Thật kỳ lạ: Đọc một chương Kinh Thánh sao mà quá khó khăn, mà đọc 100 trang tiểu thuyết tình cảm hay kiếm hiệp thì sao lại dễ đến thế?
  5. Thật kỳ lạ: Sao ai ai cũng muốn ngồi hàng đầu khi nghe ca nhạc, mà lại làm đủ mọi cách để ngồi hàng cuối trong Nhà Thờ?
  6. Thật kỳ lạ: Sao chúng ta cần phải biết một việc làm cho Giáo Hội 2-3 tuần trước đó để rồi còn xếp lịch, mà lại sắp xếp ổn thoả các việc khác vào giờ phút cuối cùng?
  7. Thật kỳ lạ: Học về Chúa để chia sẻ cho anh chị em sao quá khó khăn, mà học hiểu rồi truyền miệng những chuyện tầm phào sao lại dễ dàng đến thế?
  8. Thật kỳ lạ: Sao mình tin mọi thứ mà báo chí nêu ra, mà lại thắc mắc mãi về những lời Kinh Thánh?
  9. Thật kỳ lạ: Sao ai ai cũng muốn có một chỗ trên Thiên Đàng, mà lại không muốn tin, không muốn làm hay nói điều gì để được lên đấy?
  10. Thật kỳ lạ: Sao khi mình gửi chuyện cười bằng E-mail thì tin rằng người ta chuyển ngay, nhưng khi sắp gửi một bức thư nói về Chúa thì mình lại đắn đo suy nghĩ trước khi đem chia sẻ?

Hãy cùng gửi đến quý anh chị em những tâm tình này để cùng suy ngẫm .

Nguồn : Sưu tầm

Anh chị Thụ & Mai gởi

Đổ xô cầu tài – lộc vì mất niềm tin!

Mỹ Lan RFA
2018-03-06
 

Người dân đi lễ cầu tài lộc tại đền Bà Chúa Kho, Bắc Ninh

Người dân đi lễ cầu tài lộc tại đền Bà Chúa Kho, Bắc Ninh

 Zing

Mất niềm tin vào xã hội

Năm nào cũng vậy, trước khi diễn ra sự kiện Lễ hội phát ấn đền Trần đêm 14 rạng sáng ngày rằm tháng Giêng tại thành phố Nam Định, hàng nghìn người dân từ các tỉnh thành phía Bắc lại đổ dồn về đây, chầu chực, xếp hàng ở bên ngoài khu vực phát ấn từ khi chiều tối. Để rồi đến khi diễn ra lễ phát vào đúng 12 h đêm, cả ngàn người dân chen chúc, xô đẩy, thậm chí giẫm đạp lên nhau để tranh cướp ấn.

Cũng tương tự tình cảnh trên, tại chùa Phúc Khánh, quận Đống Đa (Hà Nội) vào các Lễ dâng sao giải hạn hay Lễ cầu an, hàng nghìn người dân thủ đô xếp hàng kín mít bên ngoài ngôi chùa nhỏ, thậm chí ngồi tràn hết cả ra lề đường và cảnh tượng chen lấn để xin lộc lại lặp lại ngay sau khi buổi lễ kết thúc.

Con cái tôi còn nhỏ, mang tiếng có bảo hiểm nhưng đi khám nhà nước cho được mấy viên thuốc, uống cũng chẳng thấy khỏi bệnh gì cả mà chẳng biết trông chờ vào ai cả – người dân

Từ khi nào niềm tin tâm linh của người Việt lại trở nên “mãnh liệt” như vậy. Vì sao trong những năm gần đây, người ta tìm đến các đình, đền, chùa, miếu, mạo ngày một đông, vào bất kể dịp nào trong năm? Khi được hỏi về lý do thường xuyên đi lễ, bà Minh, một người dân cho biết:

Xã hội bây giờ bệnh tật thì nhiều, ra đường thì người dân không có ý thức đi ẩu  gây ra tai nạn giao thông, ăn uống thì thực phẩm bẩn, môi trường thì ô nhiễm… đâm ra cũng chẳng biết trông chờ gì. Thôi tốt nhất là cứ theo mặt tâm linh đi lễ cầu mong sức khoẻ, bình an cho gia đình mà thôi”

Mất niềm tin vào cuộc sống, rất nhiều người dân như bà Minh cố gắng bấu víu vào các thế lực tâm linh mà cụ thể là việc đi lễ để xin ơn trên che chở cho bản thân và gia đình trước những mối đe doạ có thể xảy ra bất cứ lúc nào trong cuộc sống:

“Con cái tôi còn nhỏ, mang tiếng có bảo hiểm nhưng đi khám nhà nước cho được mấy viên thuốc, uống cũng chẳng thấy khỏi bệnh gì cả mà chẳng biết trông chờ vào ai cả”

Không chỉ dừng lại ở việc cúng lễ, hình thức hầu đồng cũng ngày một trở nên phổ biến hơn. Các đình, đền, miếu, phủ vào các dịp lễ thánh trong năm lúc nào cũng tấp nập, đông đúc với các vấn hầu đồng, thậm chí người ta còn phải bỏ tiền ra đút lót để có được những xuất hầu vào các ngày giờ đẹp. Chưa bao giờ người dân lại đặt niềm tin vào các đấng siêu nhiên nhiều như bây giờ. Nhà nghiên cứu Pham Cẩm Thượng năm 2013 cũng đã từng chia sẻ: “Ở đâu mà lòng người bất an, xã hội bất trắc, thì mê tín dị đoan cũng có nhiều cơ hội, như cỏ dại gặp đất hoang vậy”.

Lệch lạc nhận thức

Trên facebook cá nhân, tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện cho rằng: “Nước ta đang dấy lên chuyện tâm linh, nhưng toàn cổ xúy cho những lệch lạc, mê lầm”

Theo ông, trên thực tế, đáng lẽ đền Trần là nơi giáo dục hào khí Đông A và tinh thần yêu nước thì trở thành nơi cổ xúy chuyện ấn triện, thăng tiến và lợi lộc, mua quan bán chức; đền Bà Chúa Kho, bà chúa Xứ là nơi giáo dục tinh thần tận tụy và liêm chính, trách nhiệm với kho dự trữ của nhà nước thì trở thành nơi mặc cả vay mượn, mua bán quàng xiên. Hay như lễ Tịch điền, đàn Xã Tắc là nơi giáo dục lòng biết trọng nông thuần phác thì lại thành ra nơi lòe loẹt, cờ đèn kèn trống.

Trả lời về vấn đề này, GS-TS Nguyễn Chí Bền, nguyên Viện trưởng Viện văn hoá nghệ thuật Việt Nam cho biết:

Tôi cũng đã đi theo một số người đi lễ, họ đi đến đình, đền, phủ hay đến chùa đều nói một câu hết sức quen thuộc là “Nam mô a di đà Phật”, điều đó cho thấy người ta đến di tích và không gian ấy mà không hiểu ý nghĩa thực sự hay vị thánh, thần nào là điện chủ của di tích ấy, chính vì vậy mà họ hiểu nhầm

Người ta đến đó (đền Bà chúa Kho) để xin vay mượn dịp đầu năm xong đến cuối năm người ta đến đó để trả “nợ” –  GS.TS Nguyễn Chí Bền

Ngoài ra, ông cũng cho rằng việc một bộ phận không nhỏ người dân đổ xô về một số di tích đình, đền, chùa là do hiệu ứng đám đông:

Người ta cứ tưởng rằng cứ đến đền Trần, có được cái lá ấn thì là được thăng quan tiến chức trong khi thực tế người ta đến đền Trần để cảm ơn các vua nhà Trần đã phù hộ cho người tra 1 năm vừa qua và cầu xin sự phù hộ cho năm sắp tới. Hay là đền Bà chúa Kho là nơi thờ người phụ nữ trông coi kho cho các vua nhà Lý để phục vụ cho việc chống giặc ngoại xâm thì giờ biến thành câu chuyện vay mượn, và người ta đến đó để xin vay mượn dịp đầu năm xong đến cuối năm người ta đến đó để trả “nợ”.

Đánh giá về hiện tượng này, sư thầy Thích Thánh Hiền, chùa Hoa Nghiêm, tiểu bang Virginia, Hoa Kỳ cho rằng, không phải ai cũng hiểu được mục đích của việc đi lễ và do đó họ thường cầu xin công danh, bổng lộc hay của cải, vật chất. Tuy nhiên, điều này đi ngược lại hoàn toàn với mục đích chính của nét đẹp văn hoá này và cần phải điều chỉnh cũng như thay đổi dần nhận thức của một bộ phận không nhỏ người dân hiện nay.

Đức thế tôn dạy rằng vạn pháp đều từ tâm mà ra. Nếu tâm mình thanh tịnh thì cuộc sống của mình sẽ hạnh phúc. Mình cầu sự bình an, mình phát đi một tâm lành thì những điều thiện, điều lành sẽ đến với mình

Theo GS.TS Nguyễn Chí Bền, tín ngưỡng, văn hoá là khái niệm được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và hằn sâu trong tâm thức của mỗi con người. Do đó, việc tuyên truyền, quảng bá nhằm giúp người dân nhân thức đúng đắn về ý nghĩa tâm linh cũng như có kiến thức về những di tích lịch sử đình đền chùa là một vấn đề cần phải thực hiện; tuy vậy không thể dễ dàng thực hiện được trong thời điểm hiện nay.

NGÀY MAI LÀ 8 THÁNG 3. KHÔNG BIẾT CÓ AI BIẾT RẰNG …

Thuong Phan shared Nguyen Nguyen‘s post.
 
 
 
Image may contain: plant, flower, table, fruit, food and outdoor

Nguyen Nguyen

 NGÀY MAI LÀ 8 THÁNG 3. KHÔNG BIẾT CÓ AI BIẾT RẰNG trên thế giới bây giờ chỉ còn lại một nhúm quốc gia lấy ngày 8 tháng 3 làm ngày lễ phụ nữ hay không nhỉ? Và khi chỉ với một nhúm như thế thì có nên gọi đó là ngày “quốc tế” nữa không khi mà có đến 86% các quốc gia trên toàn cầu chẳng ai thèm đi “ăn mừng” ngày 8/3 cả.

 

Trang web IWD (International Women’s Day) cho biết chỉ có 27/193 quốc gia (14%) lấy “Ngày quốc tế phụ nữ 8/3″ làm ngày lễ kỷ niệm chính thức là các nước: Trung Quốc, Việt Nam, Triều Tiên, Cuba, Lào, Campuchia, Afghanistan, Armenia, Azerbaijan, Belarus, Georgia, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Moldova, Mông Cổ, Montenegro, Nga, Tajikistan, Turkmenistan, Ukraine, Uzbekistan, Zambia, Burkina Faso, Guinea-Bissau, Madagascar, Uganda và Nepal.

Thật là phì cười khi phần lớn các nước trong nhóm 27 quốc gia này đều là loại bị xếp hạng thấp và trung bình về chỉ số phát triển con người HDI. Trong khi đó, 166 quốc gia còn lại trên toàn cầu, trong đó có các nước văn minh tiên tiến như nhóm G7 (Mỹ, Đức, Nhật, Anh, Pháp, Canada, Ý), Hàn Quốc, Úc, Ấn Độ, Brazil, Argentina… không ăn mừng 8 tháng 3 thì lại nằm ở thứ hạng cao ngất về chỉ số HDI.

Điều đó đã phản ánh lên câu chuyện gì? Xin thưa, đó là món bánh vẽ dành cho đám chị em ở những quốc gia mà con người nói chung, phụ nữ nói riêng đều đang đói ngấu về tự do và hạnh phúc. Ngày ngày sống trong âu lo, khắc khoải bởi phân biệt đối xử và không ít người phải nhắm mắt trao thân để đổi lấy miếng ăn!

(Lược trích từ ngày này năm xưa của NN)

KHI NGƯỜI THẦY QUỲ GỐI…

 
Ho Quang Vinh and 2 others shared Nguyễn Tuân‘s post.
Image may contain: plant and flower

Nguyễn Tuân

 

KHI NGƯỜI THẦY QUỲ GỐI…

Bạn hy vọng gì và làm gì trong một xã hội mà giá trị đạo lý đã hoàn toàn bị đảo ngược?

Hai ngàn năm, “cây cầu kiều” chính thức bị đánh sập! Phụ huynh không còn yêu lấy Thầy nữa… Mà với họ, những nhà giáo dục, những bậc thầy mô phạm bây giờ chỉ còn là những người làm thuê! Họ trả tiền để những người Thầy phải cung phụng con họ như những ông hoàng bà chúa! Họ dùng quyền lực đồng tiền để biến con cái thành một pháo đài bất khả xâm phạm!

Một cái thước đánh vào tay hay một lần quỳ trên bục giảng – điều rất đỗi bình thường trong giáo dưỡng đã trở thành “tội ác ghê gớm” của năm 2018…

Trong trường hợp cô giáo Nhung, tôi mong Cô và gia đình sẽ chọn nghề khác để mưu sinh, hoặc ít nhất, là rời bỏ ngôi trường mà Ban Giám Hiệu đã không đủ dũng cảm để bảo vệ Cô. Có lẽ, Ban Giám Hiệu đã sợ “mất” vài học sinh nên họ dễ dàng chấp nhận “vứt đi” sự tự tôn của những người Thầy! 

————————————-

Bắt người Thầy quỳ gối! Đó là sự bạo hành man rợ chỉ có thể gặp ở một xã hội đi ngược chiều văn minh!

Chưa bao giờ chúng ta phải chứng kiến những Người Thầy giáo, Người Thầy thuốc lại dễ dàng bị tát, bị quỳ, bị chém như thế! Và họ hoàn toàn cô độc

Nên nhớ! Giáo dục và Y tế là nền tảng An Sinh căn bản nhất của một xã hội, một đất nước! Sẽ ra sao khi người Thầy giáo vừa đứng trên bục giảng vừa run sợ? Người Thầy thuốc vừa chữa bệnh cứu người vừa lo lắng, bất an? Hậu quả to lớn từ việc những người Thầy quỳ gối, không ai khác, chính chúng ta, chính con cháu chúng ta sẽ phải gánh chịu!

Khi người Thầy quỳ gối, cả dân tộc sẽ không thể ngóc đầu!

“NÌNH ÔNG”XỨ MÍT THỜI NAY

              “NÌNH ÔNG”XỨ MÍT THỜI NAY

                                            Quốc Trần

        

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Mấy  bạn Úc đi Việt Nam CS về kể đủ thứ chuyện.

Mình hỏi một đứa:“Mày đi Việt Nam, cái gì làm cho mày ngạc nhiên nhất?”

Nó trả lời không hề đắn đo: “Quán nhậu!”

Mình hỏi: “Tại sao mày ngạc nhiên chuyện quán nhậu?”

Nó nói: “Tao đi gần hết thế giới, chưa thấy có quốc gia nào nhiều quán nhậu như ở Việt Nam CS. Tao đi từ Hà Nội vô tới Sài Gòn, dừng lại ở Huế, Hội An, Đà Nẵng, Nha Trang, Vũng Tàu, không có thành phố nào mà không tràn ngập quán nhậu. Ở Ireland, nơi tao sinh ra và ở Úc, quê hương thứ hai của tao, mỗi thị trấn chỉ có một cái pub và dăm ba cái clubs, có thị trấn không có club. Đó là Úc và Ireland được xếp loại là dân uống rượu có tầm cỡ thế giới. Ở Việt Nam CS thì pub và club khắp nơi !.”

Mình hỏi: “Mày nghĩ quán nhậu ở Việt Nam CS nhiều như vậy là không tốt?”

Nó đáp: “Tất nhiên! một xã hội mà thanh niên và thiếu nữ không biết đi đâu, không biết làm gì khác ngoài việc đi vào quán nhậu bất kể giờ nào, thì đó là biểu hiện của sự bế tắc ở cấp độ từng cá nhân, và nếu có vô số những đám đông với những cá nhân như vậy, đó là sự bế tắc của cả xã hội. Họ tìm đến với cồn để tạm quên những vấn đề trước mắt !.”

Mình hỏi thêm: “Vậy thì mấy cái chỉ số đo lường hạnh phúc các quốc gia là sai?”

Nó nói: “Đúng và sai !. Đúng ở chỗ, dân Việt Nam tỏ vẻ hạnh phúc khi họ ngồi trước ly bia, mà tạm quên những thử thách trước mắt, nhưng sai ở chỗ, họ vẫn phải đối diện với những thử thách sáng hôm sau !!!.”

——————-

Mình tự hỏi, tại sao một thằng Úc thòi lòi có thể thấy và có thể nhận xét về xã hội Việt Nam CS ở mức độ bản chất như vậy?

Hoàng Ngọc Diêu

Chị Lucie gởi

Cô giáo quỳ xuống, tôn nghiêm sụp đổ

Cô giáo quỳ xuống, tôn nghiêm sụp đổ

LĐO | 06/03/2018

Khi đôi chân cô giáo Nhung quỳ xuống trong sự quay lưng của hiệu trưởng nhà trường cũng là lúc bức thành trì “Tôn sư trọng đạo” đã bị xô ngã, ít ra là ở Trường Tiểu học Bình Chánh.

Huỳnh Phi Long shared a link.
 
 
Khi đôi chân cô giáo Nhung quỳ xuống trong sự quay lưng của hiệu trưởng nhà trường cũng là lúc bức thành trì “Tôn sư trọng đạo” đã bị xô ngã, ít ra là ở Trường Tiểu học Bình Chánh.
 
LAODONG.VN|BY BÁO LAO ĐỘNG
 

Tường thuật của John McCain về việc tra tấn của Việt Cộng (14-5-1973)

Xin phép được cầu nguyện Ơn Trên: Đức Chúa Giêsu, Đức Mẹ Maria, Đức Phật, các Đấng Tối Cao linh thiêng quan phòng ban phước lành ban sức mạnh cho Thượng Nghị Sĩ John McCain, một Vị Đại Ân Nhân của hàng trăm ngàn quân nhân và gia đình VNCH tỵ nạn chính trị trên đất Mỹ, được vượt qua bạo bệnh và phục hồi sức khỏe. Xin cảm tạ các Ngài. Amen.

*Dear Heavenly Father, please heal Mr. John McCain’s body and soul. May his pain cease, may his strength increase, may his illness be released. Please lay your healing hand on his body and remove every cancer cell so that he may be healed! May blessings, love, and joy surround him. Thank You, God! In Jesus’ name, Amen*

☆☆☆ 
****TNS John McCain là một người bạn trung thành của VN.****
****Tường thuật của John McCain về việc tra tấn của Việt Cộng (14-5-1973)****

Mặc dù bị cộng sản Bắc Việt tra tấn tàn bạo hơn 5 năm rưỡi trong nhà tù Hỏa Lò ở Hà Nội từ gần cuối 1967-1973, nhưng ông John McCain không hận thù. Ông và John Kerry đã là những người có công đầu trong việc bình thường hoá quan hệ ngoại giao giữa Mỹ và nhà cầm quyền Hà Nội 1995.

Người VN tị nạn CS ở Mỹ mang ơn ông. Hàng trăm ngàn quân nhân VNCH và gia đình được đưa đến Mỹ là nhờ nhiều đời tổng thống Mỹ, các tướng lãnh, các TNS, dân biểu Mỹ, và đặc biệt nhất là ông John McCain vận động để xúc tiến chương trình H.O. giúp quân nhân công chức VNCH được rời khỏi VN 1990-1998. Tu chính án John McCain là để giúp cho con cái của VNCH trên 21 tuổi đã có gia đình được định cư ở Mỹ sau thời gian H.O. nói trên.

Ông cũng là người đấu tranh mạnh mẻ cho nền dân chủ và tự do ở Việt Nam. Nhiều tù nhân chính trị VN đã được ông can thiệp ra khỏi tù sớm, và nhiều người khác được định cư tại Mỹ.

Ngày nay, người VN còn sống ở trong nước đỡ bị công sản đàn áp hơn trước đó là nhờ Mỹ quan hệ với VN dùng chính sách “cây gậy và cử cà rốt” để làm cho cộng sản bớt man rợ và văn minh hơn khi đối xử với dân chúng, và thúc đẩy nhà cầm quyền VN phải thay đổi đường lối. Đó cũng là nhờ công lớn của John McCain và các bạn bè của ông trong quốc hội Mỹ.

Theo đài SBTN.TV, ông John McCain đã vận động đem nhạc sĩ Việt Khang đến Mỹ ngày 8-2-2018. Từ giữa năm 2017 đến nay, ông bị ung thư, ông có bướu ở não nên phải điều trị chemotherapy. Ông bị ung thư da ở mặt đã hơn 20 năm rồi. Và ung thư da đã di căn tới não. Hiện nay, ông vẫn là thượng nghị sĩ.”

Trần Hoàng 
https://www.voatiengviet.com/a/thuong-nghi-si-…/3951605.html
☆☆☆
***Tường thuật của John McCain về việc tra tấn của Việt Cộng (14-5-1973)****

Đó là ngày 26-10-1967, tôi chuẩn bị cho chuyến oanh tạc miền Bắc Việt Nam lần thứ 23 của tôi từ sáng sớm – đó là trận đánh đầu tiên vào thủ đô của địch, Hà Nội.

Mục tiêu của chúng tôi là nhà máy nhiệt điện ở gần một cái hồ nhỏ giữa thành phố. Trên độ cao khoảng 9000 feet (2700 mét), khi chúng tôi chuyển hướng vào phía trong thành phố để tới mục tiêu thì đèn báo động lóe sáng và tín hiệu báo có ra đa địch bắt đầu vang lên lớn đến nỗi tôi phải tắt nó đi.

Tôi đã nhìn thấy khói và bụi bốc lên từ mặt đất như những đám mây khổng lồ khi hỏa tiễn đất đối không bắn vào chúng tôi. Chúng tôi càng tới gần mục tiêu, hệ thống phòng không càng ác liệt hơn. Tôi nhận ra mục tiêu ở cạnh một cái hồ nhỏ và tôi nhào ngay xuống đó vừa lúc tín hiệu báo động ngưng kêu để báo cho tôi biết là hỏa tiễn địch đang lao vào tôi.

Tôi biết là phải cho máy bay lăn vòng ra phía ngoài và dùng thao tác tránh né – bay “luồn lách” theo cách nói của các phi công – nhưng chính đó là lúc tôi sắp sửa thả bom, và nếu tôi bay luồn lách thì tôi sẽ không bao giờ có thời gian, và chắc chắn là cũng không có cả can đảm để bay trở lại mục tiêu, một khi tôi thoát được quả hỏa tiễn đó. Như vậy là từ độ cao 1000 mét, tôi thả quả bom, rồi tôi kéo cần lái trở lại để bắt đầu cho máy bay vọt thẳng lên một độ cao an toàn hơn.

Trong giây phút chớp nhoáng, trước khi máy bay bắt đầu phản ứng thì quả hỏa tiễn đã thổi tung mất cánh máy bay bên phải. Tôi biết là máy bay của mình đã bị hỏa tiễn bắn trúng. Chiếc máy bay A-4 của tôi đang bay với tốc độ khoảng 900 cây số/giờ, đã lao nhanh xuống mặt đất theo vòng xoáy trôn ốc. Khi bị trúng hỏa tiễn, tôi đã phản ứng một cách máy móc là với lấy và kéo cái cần bật của ghế ngồi. Tôi bị đập vào máy bay làm gãy cánh tay trái, ba chỗ của cánh tay phải, đầu gối phải và ngất đi. Những người chứng kiến nói rằng cái dù của tôi chỉ vừa mở là tôi rớt ngay xuống chỗ nước nông của hồ Trúc Bạch.

Ðồ trang bị trên người nặng khoảng 25 ki-lô, tôi chìm xuống đáy hồ, và chạm đất bằng cái chân còn lành của tôi. Tôi không hề cảm thấy đau khi chạm đáy hồ, và tôi không hiểu tại sao tôi không thể dùng cánh tay để kéo cái chốt áo cứu đắm của tôi. Tôi lại bị chìm xuống đáy hồ một lần nữa. Khi chạm đáy hồ lần thứ hai, tôi đã cố gắng để bơm phồng cái áo cứu đắm của tôi bằng cách dùng răng để kéo cái chốt của nó ra. Sau đó tôi lại bị bất tỉnh một lần nữa. Lần thứ hai bị chìm thì tôi được kéo lên bờ bằng những cái sào tre. Một đám đông khoảng vài trăm người Việt Nam bu quanh tôi, lột trần tôi ra, khạc nhổ vào mặt tôi, đá và đánh tôi.

Sau khi quần áo và đồ trang bị của tôi bị lột ra hết, tôi thấy đau nhói ở đầu gối bên phải. Tôi nhìn xuống thì thấy cái bàn chân phải của tôi nằm ngay cạnh đầu gối bên trái của tôi ở một góc 90 độ. Tôi bật kêu lên: “Trời ơi! Cái chân của tôi!”. Một người nào đó đã dùng báng súng phang mạnh vào tôi làm xương vai của tôi bị gẫy ra. Một người khác thì dùng lưỡi lê đâm vào mắt cá chân và háng của tôi. Một người đàn bà, có thể là nữ y tá, đã cố gắng thuyết phục đám đông không nên hành hạ tôi thêm nữa. Sau đó bà ấy dùng các thanh nẹp tre để kẹp chân và cánh tay phải của tôi. Tôi cảm thấy đôi chút nhẹ nhõm khi chiếc xe tải của quân đội tới chỗ tôi bị bắt.

Mấy người lính đặt tôi vào cái cáng, mang lên xe tải và lái đi vài khu phố tới một nhà tù được xây cất theo kiểu Pháp, đó là Hỏa Lò mà tù binh chúng tôi gọi là khách sạn Hilton Hà Nội. Khi cánh cửa sắt đồ sộ được đóng lại vang lên tiếng loảng xoảng phía sau tôi, tôi chưa bao giờ cảm thấy khiếp sợ ghê gớm như vậy. Hôm đó là ngày 26 tháng 10, năm 1967. Lúc đó tôi 31 tuổi, và là thiếu tá Hải Quân Hoa Kỳ khi máy bay của tôi bị bắn rớt. Suốt hai thế kỷ, thanh niên trong dòng họ tôi được dạy dỗ để ra chiến trường với tư cách là sỹ quan trong quân lực Hoa Kỳ.
.
Tôi là con và cháu của các sỹ quan Hải Quân, và cha của tôi tin tưởng rằng mỗi khi gặp nghịch cảnh, tôi phải noi theo những tấm gương mà cha tôi đã nêu lên. Mấy người lính dẫn tôi vào trong một xà lim trống, đặt cái cáng tôi đang nằm trong đó xuống sàn và phủ cái chăn lên mình tôi. Trong vài ngày sau, tôi sống trong tình trạng lúc tỉnh, lúc mê. Những người hỏi cung gọi tôi là tội phạm chiến tranh, và khai thác tin tức quân sự. Họ đánh đập tôi liên hồi, và tôi bắt đầu cảm thấy đau khủng khiếp ở những chỗ chân tay bị gãy. Tôi bất tỉnh sau vài cú đánh.

Tôi nghĩ, nếu mình có thể chịu đựng được, họ sẽ mủi lòng và đưa tôi đi bệnh viện. Nhưng tới ngày thứ tư, tôi nhận biết tình trạng của tôi đã trở nên nghiêm trọng hơn. Tôi bị sốt nóng và thời gian bất tỉnh trở nên lâu hơn. Tôi nằm trong cái vũng của những thứ do tôi nôn mửa cùng với những thứ do cơ thể tôi bài tiết ra, và đầu gối tôi đã bắt đầu sưng tấy lên khủng khiếp và bị biến màu đi. Nhân viên y tế gọi Zorba tới bắt mạch cho tôi. Tôi hỏi rằng: “Các ông sắp đưa tôi đi bệnh viện có phải không? Ông ta trả lời: “Không, quá trễ rồi”. Nỗi kinh hoàng về cái chết ập tới bất thần. Người Việt Nam luôn luôn từ chối điều trị cho những người bị thương trầm trọng.

Thật là hạnh phúc, tôi lại rơi vào cơn mê. Một lúc sau tôi tỉnh lại khi viên trưởng trại, một tên chó đẻ hèn hạ tên là Bug (Bắc) xô vào xà lim của tôi với vẻ hốt hoảng, lớn tiếng rằng: “Cha của anh là một đô đốc có uy tín lớn, bây giờ chúng tôi đưa anh đi bệnh viện”. “Xin Trời ban phước cho cha tôi”. Thật không thể hiểu được nếu không nhìn thấy họ đã sung sướng biết bao khi bắt được con trai của một đô đốc và tôi hiểu rằng chính cái địa vị của cha tôi đã trực tiếp liên can đến sự sống còn của tôi. Tôi được chuyển đến một bệnh viện ở trung tâm thành phố Hà Nội.

Tới hai ngày sau đó, tôi thấy mình nằm trong một căn phòng bẩn thỉu, muỗi “nhiều như trấu” và chuột nữa. Mỗi khi trời mưa, bùn và nước đọng thành vũng trong sàn nhà. Không có ai lưu tâm đến việc giúp tôi rửa những cáu ghét nhầy nhụa trên thân thể tôi. Tôi đã bắt đầu phục hồi được trí não, và những người thẩm vấn đã tới bệnh viện để tiếp tục làm việc. Sự đánh đập cũng giới hạn trong thời gian ngắn bởi vì tôi đã thốt ra những tiếng kêu thét rợn tóc gáy khi tôi bị đánh và những người thẩm vấn tôi tỏ ra lo ngại rằng nhân viên của bệnh viện có thể phản đối họ. Cuối cùng thì tôi cho họ biết tên chiến hạm của tôi và số hiệu của hạm đội. Khi bị hỏi về những mục tiêu dự trù trong tương lai, tôi kể tên những thành phố đã từng bị oanh tạc. 
.

Ðầu tháng 12, họ giải phẫu chân phải của tôi, cắt hết các dây chằng ở một bên đầu gối, chỗ đó không bao giờ có thể hồi phục hoàn toàn được. Tới cuối tháng 12, họ quyết định cho tôi xuất viện. Tôi bị sốt cao độ, tiêu chảy và mất khoảng 25 ký lô, chỉ còn nặng 45 ký lô thôi. Ngực tôi vẫn còn bó bột và chân đau nhừ tử. Tôi bị bịt mắt, đặt trong thùng xe tải và đưa tới một nhà tù gọi là Ðồn Ðiền (The Plantation). Thật là một niềm khuây khỏa lớn lao cho tôi, vì được giam chung xà lim với 2 người tù khác là hai thiếu tá không quân “Bud” Day và Norris Overly.

Có một điều không thể nghi ngờ được là chính Bud và Norris đã cứu mạng sống của tôi. Sau đó hai người này đã nói ra cái ấn tượng đầu tiên của họ khi gặp tôi là thấy tôi sinh lực kiệt quệ, mắt lồi ra, đờ đẫn vì sốt, đó là một người đứng trước ngưỡng cửa của tử thần. Hai bạn đó nghĩ rằng người Việt Nam đợi cho tôi chết và giao tôi cho hai bạn đó săn sóc tôi để họ khỏi bị lên án nếu tôi chết. Bud đã bị thương nặng khi nhảy dù khẩn cấp ra khỏi máy bay. Sau khi bị bắt, anh ấy đã trốn thoát gần tới một phi trường dã chiến của Mỹ thì bị bắt lại. Bọn người bắt anh ấy đã dùng vòng thòng lọng bằng dây thừng để cuốn quanh vai của anh ấy rồi xiết thật chặt cho tới khi hai bả vai của anh ấy hầu như sắp chạm vào nhau, rồi trói hai cánh tay của anh ấy lại và treo anh lên xà nhà của nơi tra tấn làm hai vai của anh ấy bị xé rời nhau ra.

Tình trạng như thế kéo dài trong nhiều giờ đồng hồ. Bud không bao giờ chấp nhận sự điều tra khai thác của người Việt Nam về những tin tức quân sự. Thà Bud để cho bọn đó đập gẫy cánh tay phải của anh lần thứ hai, đó là cánh tay vốn dĩ đã bị gẫy, và chúng còn dọa đập gẫy nốt cánh tay kia, chứ anh không hề cho chúng một mẩu tin nào. Vì những thương tích của Bud nên anh không thể giúp gì trong việc săn sóc thân thể của tôi. Norris là người có bản chất hòa nhã, nhẫn nhục, đã làm vệ sinh thân thể cho tôi, đút cho tôi ăn và giúp tôi đổ bô phân và nước tiểu.

Nhờ có hai người bạn này, tôi đã bắt đầu hồi phục. Tôi đã sớm tự đứng dậy và có thể dùng đôi nạng để đi lại trong cái xà lim đó.

Tháng 4 năm 1968, Bud bị chuyển đi nhà tù khác. Norris thì được trả tự do dưới cái gọi là “ân xá” và tôi còn bị giam riêng trong hai năm nữa. Mặc dầu tôi còn phải dùng đôi nạng để đi lại khập khiễng trong xà lim của tôi, hình dạng tôi vẫn còn thê thảm lắm, tôi không thể nhặt lên hoặc cầm bất cứ một cái gì. Bệnh kiết lỵ đã làm tôi khổ sở. Thức ăn và nước uống bị thải ra ngay tức khắc, và dạ dày bị đau quặn đã làm tôi rất khó ngủ. Cô độc là một vấn đề hãi hùng, nó đã đè bẹp tinh thần và làm suy yếu sức kháng cự của con người một cách có hiệu quả hơn bất cứ một hình thức hành hạ nào khác. Không có ai để tham vấn, con người bắt đầu nghi ngờ sự phán xét và can đảm của mình. Vài tuần lễ đầu tiên là gay go nhất.

Tuyệt vọng ập đến ngay tức khắc, và đó là một kẻ thù ghê gớm, tôi đã phải dựng lại trong trí nhớ những cuốn sách, những bộ phim mà tôi đã thưởng thức. Tôi đã thử viết sách và kịch bản về chính mình, trình diễn những chuỗi sự kiện trong cô đơn của xà lim. Tôi phải thận trọng ngăn ngừa trí tưởng tượng đã trở nên mãnh liệt đến nỗi thường xuyên đưa đẩy tôi tới một nơi trong tâm trí mà từ đó tôi không thể trở lại được nữa. Xà lim của tôi đối diện với phòng thẩm vấn ở bên kia sân. Giường nằm là một tấm ván, và một cái bóng đèn treo lủng lẳng trên sợi dây điện từ trần nhà thòng xuống. Bóng đèn thắp sáng suốt ngày đêm.

Cộng thêm với những khổ sở của chúng tôi là cái mái nhà lợp tôn đã làm tăng cái nóng của mùa hè lên khoảng 5 độ hoặc hơn thế.

Giữa tháng 6 năm 1968, viên trưởng trại gọi tôi tới gặp hắn, có bày ra bánh bích quy, thuốc lá và hỏi tôi có muốn về với gia đình không. Tôi muốn nói là có: Tôi bị mỏi mệt, bệnh hoạn và sợ hãi. Nhưng cái quy tắc hành xử đã rõ ràng: “Những tù nhân Mỹ không thể chấp nhận tha có điều kiện, ân xá hoặc đặc ân”. Tôi nói là để tôi suy nghĩ về vấn đề đó. Tôi hiểu việc phóng thích tôi sẽ ảnh hưởng như thế nào tới cha tôi và các bạn đồng tù, và sau đó tôi được biết cái mà người Việt Nam hy vọng sẽ dành được. Ngày 4 tháng 7 cha tôi được thăng lên chức Tư Lệnh Thái Bình Dương.

Phía Việt Nam định chào mừng cha tôi bằng một ấn tượng tuyên truyền gây chú ý là trả tự do cho con trai của ông và coi đó như một hành động “thiện chí”. Hai tháng trôi qua, không có gì xảy ra. Và những đợt hành hạ lại bắt đầu. Tôi bị lôi vào trong căn phòng trống và giam ở đó 4 ngày. Từng đợt, bọn lính gác trở lại đánh đập tôi. Một tên giữ tôi cho những tên khác đánh đập túi bụi. Tôi bị gãy mấy xương sườn và hai cái răng. Suy nhược vì bị đánh đập và kiết lỵ, chân phải của tôi lại trở nên vô dụng, do đó tôi không thể đứng được. Tới đêm thứ ba thì tôi nằm trên máu, phân và nước tiểu của mình, vì mệt mỏi và đau đớn, tôi không thể chuyển động được.

Ba tên lính gác đỡ cho tôi đứng dậy rồi chúng đánh tôi cực kỳ khủng khiếp. Chúng để tôi nằm trên sàn nhà rên rỉ vì cực kỳ đau đớn ở cánh tay lại mới bị gãy ra. Tuyệt vọng vì đau đớn không thuyên giảm và tra tấn thì tàn bạo hơn. Tôi cố tự sát. Sau vài lần không thành công, tôi tìm cách để đứng dậy. Lật úp cái bô đựng phân và nước tiểu, tôi đứng lên đó, níu vào tường bằng cánh tay còn lành, tôi luồn cái áo của tôi qua cái cửa chớp và buộc thành vòng tròn. Khi tôi đang lồng cái vòng ấy vào cổ, tên lính gác nhìn thấy cái áo của tôi luồn qua cửa sồ, kéo tôi xuống và đánh tôi. Sau đó tôi lại làm lần thứ hai, một cố gắng tự sát nhẹ nhàng hơn. Vào ngày thứ tư, tơi đành chịu thua.
.

Tôi đã ký vào bản tự thú rằng: “Tôi là một tên tội phạm độc hại, và tôi đã thực hiện những công việc của một phi công”. Mấy tên lính gác bắt tôi cho thâu lời thú tội này vào trong băng ghi âm. Tôi từ chối, và bị đánh đập cho tới khi tôi đồng ý. Ðó là hai tuần lễ kinh khủng nhất trong đời tôi. Tôi rùng mình, như thể sự nhục nhã của tôi là một cơn sốt, và sẽ không còn ai nhìn tới tôi nữa, ngoại trừ trong sự thương hại hoặc khinh bỉ. Người Việt Nam dường như không bao giờ bận tâm tới việc làm thương tổn tới chúng tôi, nhưng họ luôn luôn thận trọng không để chúng tôi bị chết. Chúng tôi tin chắc rằng một số tù binh đã bị tra tấn tới chết và hầu hết là bị đối xử dã man.

Có một người, Dick Stratton, có những vết sẹo lớn bị nhiễm độc trên hai cánh tay vì bị tra tấn bằng dây thừng. Hai móng ngón tay cái bị xé rách toạc ra, và anh ấy bị châm bỏng bằng thuốc lá. Tuy nhiên, người Việt Nam đánh giá chúng tôi như những con bài để mặc cả trong vấn đề thương lượng hòa bình, và thường thì họ không có ý định giết chúng tôi khi họ tra tấn để buộc chúng tôi phải hợp tác với họ. Tới cuối năm 1969, những sự đánh đập thường lệ được ngừng lại, thỉnh thoảng chúng tôi nhận được những khẩu phần ăn thêm. Hoàn cảnh của chúng tôi không còn thảm khốc như những năm trước đó nữa. Tôi được trả tự do và trở về Mỹ khi chiến tranh kết thúc, tính tới tháng 3 năm 1973, tôi đã bị cầm tù trong 5 năm rưỡi.

Chúng tôi được dạy phải có niềm tin nơi Thượng Ðế, nơi tổ quốc, và tin nhau. Hầu hết chúng tôi đã sống như vậy. Nhưng điều cuối cùng của những niềm tin này – niềm tin vào nhau – là vũ khí phòng vệ tối hậu của chúng ta, là những thành lũy mà kẻ thù của chúng ta không thể vượt qua được. Ðó là niềm tin tôi đã ấp ủ từ trong Học Viện Hải Quân. Ðó là niềm tin của cha tôi, ông tôi. Trong nhà tù, tôi là một người dơ dáy, què quặt, suy nhược, tất cả những gì tôi còn giữ lại trong phẩm hạnh của tôi là niềm tin của cha-ông tôi. Như vậy là đủ.

“Niềm Tin của Tổ Tiên Dòng Họ Tôi”.

Tác giả: JOHN McCAIN
NHL chuyển ngữ

+Đã đăng trên báo U.S. News & World Report lần đầu ngày 14-5-1973.

+Khi ra tranh cử Tổng thống 2008, bài này được tái đăng lại trên báo US News &World Report ngày 28-1-2008.
https://www.usnews.com/…/john-mccain-prisoner-of-war-a-firs…

********

Tàu sân bay Mỹ vào Vịnh Đà Nẵng

Van Pham

Tàu sân bay Mỹ vào Vịnh Đà Nẵng

Đây là lần đầu tiên một tàu sân bay Mỹ đến VN kể từ khi kết thúc chiến tranh VN, đánh dấu mối quan hệ chiến lược giữa hai nước từng là kẻ thù, vào thời điểm ảnh hưởng khu vực của TQ đang gia tăng, theo Reuters.

Hàng không mẫu hạm USS Carl Vinson có thể được nhìn thấy vào sáng thứ Hai 5/3 tại vùng biển ngoài khơi Vịnh Đà Nẵng, nơi tàu sân bay có lượng giãn nước 103.000 tấn và hai tàu khác của Hoa Kỳ bắt đầu chuyến thăm năm ngày.

Sự xuất hiện của USS Carl Vinson đánh dấu sự hiện diện quân sự quy mô nhất của Hoa Kỳ ở Việt Nam từ năm 1975 – nhưng cũng minh hoạ cho mối quan hệ phức tạp và tiến triển của Hà Nội với Bắc Kinh đối với khu vực tranh chấp trên Biển Đông.

Việt Nam đã nỗ lực hàng tháng trời để làm dịu bớt mối lo ngại của người láng giềng Trung Quốc đối với chuyến thăm của tàu USS Carl Vinson và triển vọng hợp tác an ninh tăng cường giữa Hà Nội và Washington.

Các tàu sân bay Hoa Kỳ thường xuyên qua lại trên Biển Đông trong một đợt triển khai hải quân tăng cường, và hiện nằm trong sự theo dõi của các tàu hải quân Trung Quốc, giới chức hải quân khu vực cho hay.

Việc Trung Quốc nhanh chóng xây dựng trong quần đảo Trường Sa khiến Việt Nam và chính phủ các nước trong khu vực lo ngại khi nước này tìm cách thực thi tuyên bố chủ quyền đối với phần lớn các khu vực đường thủy đang tranh chấp, nơi hàng trăm nghìn tỷ đô la thương mại đi qua mỗi năm.

Mặc dù không có tàu sân bay Mỹ nào đến Việt Nam kể từ khi chiến tranh kết thúc nhưng các tàu chiến nhỏ khác của Hoa Kỳ đã tiến hành các chuyến thăm cấp cao khi mối quan hệ được cải thiện trong những năm gần đây.

Các chuyến thăm nói trên bao gồm chuyến thăm 2016 của tàu ngầm USS Frank Cable và tàu khu trục USS John S. McCain tới vịnh Cam Ranh, một khu hậu cần quan trọng trong chiến tranh Việt Nam.

Một ban nhạc hải quân Hoa Kỳ sẽ trình diễn hòa nhạc tại Đà Nẵng trong chuyến viếng thăm của tàu Vinson, và thuỷ thủ từ tàu sân bay dự kiến sẽ tới thăm một trung tâm điều trị cho những người bị phơi nhiễm chất độc da cam trong chiến tranh.

Tàu sân bay hạt nhân USS Carl Vinson sẽ neo đậu tại thành phố cảng Đà Nẵng, nơi quân đội Mỹ đổ bộ đầu tiên trong chiến tranh Việt Nam, khiến nơi đây trở thành một địa điểm mang tính biểu tượng cao.

Cuộc viếng thăm này nhằm minh chứng cho mối quan hệ quân sự ngày càng tăng của Việt Nam và Hoa Kỳ.

‘Thông điệp tới Trung Quốc’

Nhưng các nhà phân tích cho rằng việc này chắc chắn sẽ gửi một thông điệp tới Trung Quốc khi nước này tiếp tục bành trướng tại khu vực tranh chấp trên biển Đông.

Phóng viên BBC Jonathan Head hiện đang có mặt tại Đà Nẵng, cho biết mặc dù hợp tác quân sự giữa Hoa Kỳ và Việt Nam đã tiến triển nhưng vẫn còn hạn chế, và Việt Nam cần kiểm soát chặt chẽ thông điệp của chuyến thăm này.

Trung Quốc hiện là một siêu cường trong khu vực và là đối tác thương mại quan trọng nhất của Việt Nam.

Vì vậy, lãnh đạo cộng sản Việt Nam đang rất thận trọng để tránh bất kỳ động thái nào có thể gây bất lợi cho mối quan hệ với người láng giềng khổng lồ của mình, phóng viên Jonathan

Trung Quốc tuyên bố chủ quyền gần như toàn bộ Biển Đông, bao gồm các rạn san hô và hòn đảo mà một số quốc gia khác cũng tuyên bố chủ quyền. Việt Nam đã tuyên bố chủ quyền các đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Hoa Kỳ luôn tuyên bố không can thiệp vào các tranh chấp trên Biển Đông, nhưng Hải quân Hoa Kỳ đã liên tục có các hoạt động “tự do hàng hải” tại các vùng biển đang tranh chấp, một thách thức rõ ràng đối với các tham vọng bành trướng lãnh thổ của Trung Quốc.

Tàu USS Carl Vinson đã thực hiện nhiều chuyến đi đến khu vực rộng lớn hơn trong hàng thập niên qua.

Đà Nẵng là căn cứ quân sự chính của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam. Việc hàng không mẫu hạm Mỹ, có thể mang tới 90 máy bay, cập cảng Đà Nẵng, sẽ đại diện cho sự hiện diện quân sự quy mô nhất của Mỹ tại Việt Nam kể từ khi kết thúc chiến tranh và sau khi Việt Nam thống nhất năm 1975.

Chiến tranh Việt Nam – cái mà Việt Nam gọi là cuộc chiến tranh chống Mỹ – kéo dài và đẫm máu. Chính phủ Việt Nam ước tính hàng triệu người, cả dân thường và lính Cộng sản, đều bị giết. Chỉ hơn 58.000 lính Mỹ chết hoặc mất tích trong cuộc chiến.

 
Hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ Carl Vinson đang thực hiện chuyến thăm lịch sử tại VN kể từ khi kết thúc cuộc chiến tranh VN.
 
BBC.COM
 

Ông ‘Lá Bối’ một đời bị ‘sách… ám?’

 

Ông ‘Lá Bối’ một đời bị ‘sách… ám?’

Du Tử Lê/Người Việt

Thầy Từ Mẫn. (Hình: dutule.com)

Nhớ lại những ngày đầu, khi quyết định sẽ in bộ tiểu thuyết nổi tiếng thế giới “Chiến Tranh và Hòa Bình” của Lev Tolstoy, thầy Từ Mẫn kể, đại ý: Khi hay tin Lá Bối sẽ in “Chiến Tranh và Hòa Bình,” bản dịch của học giả Nguyễn Hiến Lê, nhà văn Trần Phong Giao (5), đã nói với ông Từ Mẫn rằng: “Ngay cả khi có tiền tôi cũng sẽ không in ‘Chiến Tranh và Hòa Bình’…”

Thầy Từ Mẫn nói, nhà văn Trần Phong Giao đâu biết, khi tiếp nhận nhà Lá Bối từ tay thầy Thanh Tuệ thì đó là lúc tình hình tài chánh của Lá Bối đang rơi vào vòng xoáy khó khăn nhất. Nhưng vì: “Chính tôi cũng muốn được đọc bộ tiểu thuyết này bằng tiếng Việt, nên tôi đã phải nhờ tới sự tiếp tay, vay mượn (không có lời) của một số học trò thầy Nhất Hạnh, những người đã ra trường và thành đạt…,” thầy Từ Mẫn tâm sự.

Trả lời câu hỏi duyên-khởi của việc dịch giả Nguyễn Hiến Lê (6) nhận dịch bộ tiểu thuyết và sự nhận lời in của nhà Lá Bối, người kế tục sự nghiệp xuất bản sách của nhà Lá Bối cho biết: Ông tình cờ đọc được một bài viết của dịch giả Nguyễn Hiến Lê trên một tờ nguyệt san xuất bản ở Sài Gòn mà bây giờ ông không nhớ tên, kể rằng, vị dịch giả từng ngỏ ý với hai nhà xuất bản lớn nhất miền Nam thời đó là nhà sách Khai Trí và nhà xuất bản Sống Mới về việc ông sẽ dịch bộ “Chiến Tranh Và Hòa Bình” của Tolstoy nếu họ nhận in… Tiếc thay cả Khai Trí lẫn Sống Mới đều im lặng.

Thầy Từ Mẫn nhấn mạnh, ông nghĩ nhà Khai Trí của ông Nguyễn Hùng Trương (7) dù muốn cũng không thể nhận in vì số bản thảo ông ấy đã mua, ối đọng trong kho quá nhiều, không biết tới năm nào mới có thể in cho hết. Nhưng nhà Sống Mới thì ông không hiểu lý do. Chỉ biết, chính vì hai nhà xuất bản lớn kể trên từ chối, mà ông có cơ hội nhận in bộ truyện dịch giá trị này.

Tưởng cũng nên nói thêm rằng, ông “Lá Bối” không hề quen biết dịch giả Nguyễn Hiến Lê trước đó. Và, ông cũng không muốn nhờ ai giới thiệu. Nên, một buổi sáng, ông tự tìm tới nhà riêng của dịch giả, ở đường Kỳ Đồng. Người bạn đời của dịch giả ra mở cửa hỏi ông là ai? Cần gặp ông Lê cho việc gì? Ông “Lá Bối” nói, mang ít sách tặng ông Lê và nói chuyện về việc dịch bộ truyện “Chiến Tranh và Hòa Bình.” Bà mời ông trở lại vào buổi sáng hôm sau.

Đúng hẹn, ông trở lại. Lần này, ông được dịch giả Nguyễn Hiến Lê tiếp đón trong tinh thần tương kính giữa nhà xuất bản và dịch giả…

Dù ông Nguyễn Hiến Lê, nói rõ, để hoàn tất việc chuyển ngữ, ông cần ít nhất một năm rưỡi. Tuy nhiên, thực tế, vẫn theo lời của thầy Từ Mẫn thì, chỉ sau một năm thôi, ông đã nhận được bản dịch bộ truyện “Chiến Tranh và Hòa Bình” của dịch giả Nguyễn Hiến Lê.

Có trong tay toàn bộ bản dịch “Chiến Tranh và Hòa Bình,” với ông “Lá Bối” đã là một hạnh phúc. Ông còn cảm thấy hạnh phúc hơn nữa, khi biết dịch giả tuy dịch theo bản Pháp Ngữ, nhưng có những đoạn cần kiểm chứng thì ông ấy dùng bản Anh Ngữ, để so sánh. Điều này cho thấy dịch giả rất trân trọng với tác phẩm vĩ đại “Chiến Tranh và Hòa Bình” của Lev Tolstoy.

Phần thưởng lớn, bất ngờ mà ông “Lá Bối” nhận được là chỉ một thời gian sau, “Chiến Tranh và Hòa Bình” đã được tái bản…

Sư kiện này như một thứ thuốc bồi giúp nhà Lá Bối tự tin, hăng hái với những tác phẩm lớn hoặc khó “nuốt” như bộ “Sử Ký Tư Mã Thiên” mà Lá Bối chọn để xuất bản sau đó.

Dịch giả của bộ “Sử Ký Tư Mã Thiên” vẫn là học giả Nguyễn Hiến Lê. Dịch giả biết rằng, trước ông, nhà văn Nhượng Tống thời tiền chiến đã làm công việc chuyển ngữ. Nhưng khác hơn dịch giả Nhượng Tống, dịch giả Nguyễn Hiến Lê sẽ dịch những chương, đoạn trong bộ “Sử Ký” mà ông Nhượng Tống loại bỏ và, ngược lại, ông cũng sẽ lược bỏ một vài chương, đoạn mà nhà văn Nhượng Tống đã chọn dịch. Nói cách khác, tổng quát thì phần lớn nội dung tác phẩm được hai dịch giả chọn để chuyển ngữ, giống nhau, chỉ có một đôi chỗ khác nhau mà thôi, ông “Lá Bối” nhấn mạnh.

Trả lời câu hỏi trong suốt thời gian điều hành nhà Lá Bối, với khoảng trên, dưới 150 đầu sách đủ loại, đa phần kén người đọc, có cuốn sách nào khi in ra bị lỗ không? Thì ông Từ Mẫn cho biết, hầu như cuốn nào cũng có lời. Kể cả những cuốn bán không hết. Và, dù là loại sách gì thì số lượng mỗi cuốn ngay lần in thứ nhất, ở Lá Bối, căn bản vẫn là năm ngàn (5,000) ấn bản.

Về tác quyền dành cho các tác giả (trừ Thượng Tọa Nhất Hạnh không lấy) thì, theo ấn định của chính thầy Nhất Hạnh: Tác quyền được tính theo nguyên tắc 10% trên giá bán, trên số in; không phân biệt tên tác giả.

Thầy Từ Mẫn nói thêm:

“Tuy có lời, nhưng không bao giờ Lá Bối có dư tiền, vì tất cả tiền lời có được đều được đắp đỗi cho việc in những tác phẩm kế tiếp…”

Ông cũng bày tỏ lòng biết ơn độc giả, những người có lòng tin cậy, cho Lá Bối vay tiền làm sách, không lấy lời… Luôn cả những người tiếp tay một cách cụ thể về phương diện đại diện phát hành, mà không nhận một đồng thù lao, như trường hợp nhà thơ Thành Tôn…

Ông Thành Tôn đã nhận đại diện cho nhà Lá Bối nhiều năm ở miền Trung. Đó là nơi có số lượng tiêu thụ sách cao nhất tính chung cả miền Nam, như thành phố Đà Nẵng, Quảng Nam.

Nhà thơ Thành Tôn nói, ông cộng tác với tạp chí “Giữ Thơm Quê Mẹ” của Thượng Tọa Thích Nhất Hạnh, tự những số đầu tiên của tờ báo này. Nên khi nhận được đề nghị của thầy Thanh Tuệ, nhờ tiếp tay với Lá Bối, ông đã nhận lời…

Hoặc những độc giả trung thành như ông Lê Phú Giáp thời còn là sinh viên, hiện cư ngụ tại quận hạt Orange County, cho biết, ngay tự những ngày đầu của Lá Bối, ông đã luôn tìm tới địa chỉ gốc của nhà xuất bản, để được bớt tới 40% mỗi đầu sách, dù mua bao nhiêu cuốn…

Trước tấm lòng quên mình, ăn ở, sống chết với sách, có người đã không ngần ngại nói rằng: “Nếu có người một đời bị quỷ… ám thì, cũng có người một đời bị sách… ám. Trong số những người này, có thầy Từ Mẫn…” (Du Tử Lê)

Chú thích:

(5) Theo trang mạng Wikipedia thì nhà văn Trần Phong Giao (1932-2005) tên thật Trần Đình Tĩnh, sinh tại Nam Định, bút hiệu Trần Phong, Thư Trung, Mõ Làng Văn. Ngoài tư cách nhà văn, ông còn là một dịch giả uy tín ở miền Nam. Năm 1954, di cư vào Nam, từ 1960 tới 1963, ông làm thư ký tòa soạn báo Tin Sách do Trung Tâm Văn Bút Việt Nam chủ trương. Thời gian này, ông cũng bắt đầu dịch một số tác phẩm văn chương, triết học của các nhà văn nổi tiếng thế giới, như Albert Camus, Jean-Paul Sartre, Paul Gallico,… Cuối năm 1963, ông làm thư ký tòa soạn tạp chí Văn. Năm 1971, thôi tạp chí Văn, ông lập nhà xuất bản và tạp chí Giao Điểm, rồi Chính Văn; nhưng không thành công… Cuối cùng ông trở lại công việc dịch sách và làm quản thủ thư viện Đại Học Cửu Long cho tới ngày 30 Tháng Tư, 1975. Ông mất tại Sài Gòn ngày 13 Tháng Tư, 2005, hưởng thọ 73 tuổi.

(6) Học giả Nguyễn Hiến Lê (1912-1984) là một nhà văn, dịch giả độc lập, với 120 tác phẩm sáng tác, biên soạn và dịch thuật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, tính tới ngày từ trần. Năm 1934, ông tốt nghiệp trường Cao Đẳng Công Chánh Hà Nội, được bổ làm việc tại các tỉnh miền Tây Nam Bộ. Năm 1952, ông bỏ nghề công chánh, về Sài Gòn mở nhà xuất bản, dịch sách, sáng tác và viết báo. Những năm trước cũng như sau 1975, Nguyễn Hiến Lê là một cây bút được tiếng làm việc miệt mài nghiêm túc và là một nhân cách lớn. Ông mất ngày 22 Tháng Mười Hai, 1984, tại bệnh viện An Bình, Chợ Lớn, Sài Gòn, hưởng thọ 72 tuổi.

(7) Ông Nguyễn Văn Trương (bút hiệu Nguyễn Hùng Trương) nhưng mọi người vẫn quen gọi là ông Khai Trí, sinh năm 1926 tại Thủ Đức. Thuở nhỏ, ông thường nhịn ăn sáng, dùng 2 đồng xu mẹ cho để mua báo đọc… Nhờ cố gắng làm việc không mệt mỏi, tiết kiệm từng đồng nên đến năm 1952 ông có đủ vốn để mở một hiệu sách nhỏ tại 62 đại lộ Bonard (nay là Lê Lợi), đặt tên là nhà sách Khai Trí (sau 1975 là nhà sách Sài Gòn). Đây là nhà sách đầu tiên ở Việt Nam bán hàng theo kiểu tự chọn, khách có thể đứng đọc tại chỗ hàng giờ rồi đi ra mà không bị ai làm phiền… Ông Khai Trí cũng đầu tư trong lãnh vực xuất bản tất cả các loại sách, nhiều nhất là tự điển… Cùng nhà văn Nhật Tiến, ông xuất bản tuần báo Thiếu Nhi và là soạn giả của nhiều đầu sách giá trị. Ông mất tại Sài Gòn ngày 11 Tháng Ba, 2005, thọ 80 tuổi. (Nguồn Diễn Đàn Sách Xưa – Wikipedia – Mở)