NHÂN DÂN ĐÃ ĐIỂM MẶT VÀ LỊCH SỬ SẼ GHI TÊN NHỮNG TỘI ĐỒ DÂNG GIANG SƠN VIỆT NAM CHO TÀU CỘNG VÀ ĐẨY DÂN TỘC VIỆT NAM VÀO BẮC THUỘC

 NHÂN DÂN ĐÃ ĐIỂM MẶT VÀ LỊCH SỬ SẼ GHI TÊN NHỮNG TỘI ĐỒ DÂNG GIANG SƠN VIỆT NAM CHO TÀU CỘNG VÀ ĐẨY DÂN TỘC VIỆT NAM VÀO BẮC THUỘC

Phạm Đình Trọng

1988. Với lệnh trói tay chiến sĩ Việt Nam giữ đảo Gạc Ma trong quần đảo Trường Sa không được nổ súng chống trả quân Tàu Cộng tràn lên cướp đảo, Lê Đức Anh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nhà nước cộng sản Việt Nam đã dâng Gạc Ma cho Tàu Cộng và biến 64 chiến sĩ Việt Nam giữ Gạc Ma thành tấm bia sống cho lính Tàu Cộng thảm sát.

1990. Nguyễn Văn Linh, Đảng trưởng cộng sản Việt Nam dẫn đầu đoàn hàng thần sang Thành Đô thuộc tỉnh Tứ Xuyên, Tàu Cộng kí cam kết Thành Đô chấp nhận sự bảo kê của Tàu Cộng cho sự tồn tại của Đảng Cộng sản Việt Nam trước bão táp của thời đại đang cuồn cuộn nổi lên quét sạch bãi rác cộng sản của lịch sử khỏi đời sống chính trị loài người. Cam kết Thành Đô đã mở ra một thời Bắc thuộc mới đau đớn của dân tộc và ô nhục của lịch sử Việt Nam.

2001. Nông Đức Mạnh, Đảng trưởng cộng sản Việt Nam kí Tuyên bố chung với đồng cấp Tàu Cộng Giang Trạch Dân, cam kết đón Tàu Cộng vào khai thác bô xít Tây Nguyên.2009, Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng nhà nước cộng sản Việt Nam tuyên bố: Khai thác bô xít Tây Nguyên là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước cộng sản Việt Nam. Nông Đức Mạnh và Nguyễn Tấn Dũng đã rước hàng sư đoàn quân Tàu Cộng mặc bộ đồ công nhân trá hình là những lao động khai thác bô xít vào chiếm lĩnh Tây Nguyên, biến điểm cao chiến lược Tây Nguyên thành đất nhượng cho Tàu Cộng, người Việt không được lai vãng đến.

2006. Là Thủ tướng, Nguyễn Tấn Dũng kí quyết định thành lập khu kinh tế Vũng Áng. 2008, là Trưởng ban Quản lý Khu kinh tế Vũng Áng, Võ Kim Cự đã kí vượt thẩm quyền cấp phép cho Công ty Hưng Nghiệp Formosa đầu tư dự án Nhà máy liên hợp luyện gang thép và cảng nước sâu Sơn Dương với thời hạn 70 năm. Hưng nghiệp Formosa thương hiệu là doanh nghiệp Tàu Đài Loan nhưng tiền đầu tư vào Vũng Áng, công nghệ và con người đổ bộ vào Vũng Áng là Tàu đại lục. Sau bức tường sừng sững, Vũng Áng đã trở thành lãnh địa riêng của Tàu Cộng, thành căn cứ quân sự, thành pháo đài cắt đôi đất, cắt đôi biển Việt Nam.

Xả thải giết chết sự sống của biển Việt Nam, Formosa là thảm họa khủng khiếp, lớn lao, lâu dài của sự sống trên đất nước Việt Nam. Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng, Võ Kim Cự là những tội đồ dâng Vũng Ánh cho Tàu Cộng cũng là tội đồ giết chết sự sống Việt Nam.

2018. Luật Đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt Vân Đồn – Bắc Vân Phong – Phú Quốc do Bộ trưởng Kế hoạch Đầu tư Nguyễn Chí Dũng chủ trì soạn thảo được trình ra Quốc hội. Toàn bộ nội dung luật, cách diễn đạt của luật cho thấy luật chỉ hướng về Tàu Cộng, luật làm ra chỉ để dành ba vùng đất yếu huyệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc trên ba miền đất nước Việt Nam dâng cho Tàu Cộng trong 99 năm. Để giấu giếm ý đồ đó, trong từ ngữ, luật né tránh tuyệt đối nhắc đến tên Tàu Cộng và tên Tàu Cộng được thay bằng “nước chung đường biên giới với Quảng Ninh”.

Qua chỉ lệnh của Chủ tịch Quốc hội Thị Kim Ngân với Ủy ban Thường vụ Quốc hội:. “Bộ Chính trị đã kết luận rồi, dự thảo luật không trái Hiến pháp, phải bàn để ra luật chứ không thể không ra luật”, cho thấy luật mở ba đặc khu kinh tế Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc để đón Tàu Cộng vào Việt Nam là ấp ủ, là hoài thai từ Bộ Chính trị mà đứng đầu là Đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng và luật đã được Đảng trưởng cùng bộ Chính trị xét duyệt, xác quyết rồi chỉ còn thủ tục đưa ra Quốc hội để hợp thức hóa mà thôi.

Dù kì họp Quốc hội lần này hay kì họp Quốc hội lần sau bấm nút cho ra đời luật Đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt Vân Đồn – Bắc Vân Phong – Phú Quốc, xẻ đất, xẻ biển, xẻ thịt cơ thể Tổ quốc Việt Nam nhượng cho Tàu Cộng 99 năm, 70 năm hay 50 năm, đánh đổi lấy sự bảo hộ của Tàu Cộng cho sự tồn tại của Đảng Cộng sản Việt Nam thì Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Thị Kim Ngân, Nguyễn Chí Dũng cùng những ông nghị, bà nghị cộng sản bấm nút chấp thuận dự luật này đều là những tội đồ ô nhục của giống nòi Việt Nam, những tội đồ kế tiếp sau Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống, Lê Đức Anh, Nguyễn Văn Linh, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng, Võ Kim Cự. Tội đồ bán nước!

P.Đ.T.

10 lý do cần phản đối dự Luật An ninh mạng

10 lý do cần phản đối dự Luật An ninh mạng

Vì nếu Dự Luật này được thông qua thành Luật:

1/ Quyền tự do ngôn luận của công dân trên không gian mạng bị xâm phạm tuỳ tiện.

2/ Quyền riêng tư về dữ liệu cá nhân bị một lực lượng công quyền chiếm đoạt với những lý do mập mờ.

3/Quyền tiếp cận, truy cập Internet, một quyền trở nên phổ quát trên thế giới, bị cản trở, gây khó khăn ở Việt nam.

4/Chi phí khổng lồ của nhà nước, xã hội, doanh nghiệp cho bộ máy “chuyên trách an ninh mạng” lẫn thực thi, đáp ứng điều kiện của Luật này. Tốc độ phát triển kinh tế bị ảnh hưởng nghiêm trọng (có số liệu giảm 1,7 % GDP).

5/ Bóp nghẹt giới khởi nghiệp sáng tạo, hạn chế phát triển các dịch vụ ứng dụng công nghệ thông tin.

6/ Đẩy các tập đoàn công nghệ thông tin quốc tế của Phương Tây (như Facebook, Google ) ra khỏi thị trường và không gian mạng Việt nam (do không chấp nhận các điều kiện theo Luật này) và tạo điều kiện cho các tập đoàn CNTT của Tàu vào thống trị Việt nam.

7/ Xuất hiện một “lực lượng chuyên trách” có thể không cần phán quyết của Toà án hay phê chuẩn của Viện kiểm sát được áp dụng các biện pháp “cưỡng chế” đối với cá nhân, doanh nghiệp, can thiệp vào các quan hệ dân sự, kinh tế. Nhà nước pháp quyền (dù chỉ danh nghĩa) không còn giá trị.

8/ Luật này phá vỡ những cam kết quốc tế của Việt nam, khiến giới đầu tư nước ngoài (chắc ngoài gốc Tàu) giảm sút hoặc rút vốn đầu tư ở Việt nam (có số liệu xác định giảm 3,1% đầu tư nước ngoài), các nước liên quan sẽ áp dụng các biện pháp đáp trả tương xứng, kinh tế Việt nam khó “cất cánh”.

9/ Do việc phê phán, phản biện trên mạng xã hội và Internet bị bóp nghẹt theo luật này, tham nhũng, quan liêu, chính sách sai lầm sẽ có cơ hội gia tăng mà không bị phản ứng, bóc trần. Tiến bộ xã hội bị cản trở, đẩy lùi.

10/ Do không có cơ chế giám sát chặt chẽ, “lực lượng chuyên trách về an ninh mạng” có thể lạm quyền, phục vụ lợi ích nhóm, cấu kết với những tập đoàn kinh tế trong và ngoài nước hình thành một hệ thống quyền lực đen khống chế nhà nước, xã hội và nền kinh tế. Những vụ việc như tướng Hoá, tướng Vĩnh và C50 (cục cảnh sát phòng chống tội phạm công nghệ cao) có thể lặp lại, ở mức độ rộng lớn hơn, thậm chí không thể “phát hiện, xử lý” được do nhóm lợi ích này biết cách rút kinh nghiệm, biết cách liên kết tinh vi.

Với tư cách chuyên gia luật có kinh nghiệm trong những lĩnh vực liên quan, đã nghiên cứu Dự thảo Luật An Ninh Mạng, tôi sẵn sàng tranh luận với những người có quan điểm phản bác những lý do trên.

Tôi đồng ý với nhiều chuyên gia trong và nước ngoài, Việt nam cần hoãn thông qua Luật An Ninh Mạng. Tôi hy vọng, các FBER, vì chính quyền và lợi ích của mình, hãy lên tiếng phản đối Dự Luật này. Nếu các bạn đồng ý với tôi, hãy chia sẻ bài này cho nhiều người cùng biết và phản đối.

Thì Ra Đây Là Lý Do

httpv://www.youtube.com/watch?v=okXnfQJtxfc

Thì Ra Đây Là Lý Do Chúng Ta Phải Cho Trung Quốc Thuê Đất 99 Năm Làm 3 Đặc Khu Kinh Tế

httpv://www.youtube.com/watch?v=yEAXPUJykjQ

Cho Thuê Đất Đặc Khu 99 Năm: 3 Điều Kiện Nhất Định Phải Có Để Vẫn Phát Triển Mà Không Lo Mất Nước

Luật đặc khu: Đỉnh điểm của phẫn nộ toàn dân

Luật đặc khu: Đỉnh điểm của phẫn nộ toàn dân

Blog VOA

Bùi Tín 

Đất nước Việt Nam đang sống trong tình trạng biến động, sôi sục. Lãnh thổ của tổ quốc, chủ quyền của đất nước, nền độc lập của quốc gia đang bị thử thách lớn.

Sự kiên nhẫn của một dân tộc từng trải qua những thử thách ngàn cân treo sợi tóc lại bị đem ra thách thức một cách nghiêm trọng nhất.

Người dân bình thường, em học sinh bình thường cũng hiểu rõ rằng Luật Đặc khu hành chính – kinh tế Vân Đồn (Quảng Ninh), Bắc Vân Phong (Bình Định) và Phú Quốc là mưu đồ bành trướng thâm hiểm nhất quán của Trung Cộng mà Bộ Chính trị đảng CSVN buộc phải « đem thịt dân mình nuôi lũ hổ đói » – Bành trướng phương Bắc.

Bao nhiêu điều dối trá, ngụy biện đều vô hiệu. Nào là ta đã có hàng trăm đặc khu kinh tế rải khắp, nay có thêm 3 cái, có là bao, sẽ thu lợi cực lớn. Thế giới họ có biết mấy đặc khu, mang lợi to lớn, là những tổ trứng Phượng Hoàng, phồn vinh thịnh vượng. 99 năm mới thật hấp dẫn các FDI lớn của thế giới, có giành riêng cho nước nào đâu!

Bà chủ tịch Quốc hội leo lẻo: « Đây là chủ trương của Bộ Chính trị, không thể không làm. » Vậy đây là quốc hội của nhân dân hay đảng hội của đảng?

Ông thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thấy rõ « làn sóng phản đối khủng khiếp » nên hứa lắng nghe, sẽ điều chỉnh, có vẻ như chỉ sẽ điều chỉnh số năm 99 xuống thấp hơn, nhưng công luận lập tức trả lời: Phải từ bỏ hẳn dự Luật chứ không phải điều chỉnh, không thể cò kè ở những điểm như thế.

Vì ai cũng biết cả 3 vùng nói trên đều đã có chủ đầu tư khá sâu, toàn là đại gia tư bản đỏ người Việt thân Trung Quốc, nay họ cần những khoản vốn cực lớn mới.

Vài chục tỷ đôla để đầu tư thêm cho sòng bạc, nhà đỏ cao cấp, nơi nghỉ dưỡng cho cánh thượng lưu, sân gôn, vườn thú, bãi biển cho các đại quý tộc, nằm trong chiến lược kinh tế « một vành đai, một con đường » – one belt, one road – của Hoàng Đế CS Trung Hoa Tập Cận Bình.

Đây là lúc Bộ Chính trị bế tắc, ngân sách thâm thủng, tham nhũng là thất thoát hàng trăm ngàn tỷ đồng, kinh tế lụn bại, nợ chồng chất, cố tìm ra một lối thoát hào nhoáng nhưng hoàn toàn mạo hiểm và liều lĩnh.

Họ tính rằng người dân ta hiền lành quá, dễ bảo quá, quốc hội lại nằm trọn trong tay đảng, khi gần 90% là đảng viên, phải tuân theo kỷ luật, chỉ thị của đảng, làm sao khác được.

Nhưng lại có một sự thật là sự chịu đựng cam chịu của người dân là có hạn, con sên bị xéo phải oằn lên, thế tận cùng tắc biến, uy tín của đảng đang ở mức thấp nhất, nhân dân bắt đầu nhận ra đảng không còn xứng đáng là lực lượng tiên phong soi đường chỉ lối, không còn là lực lượng chính đáng lãnh đạo, mất hoàn toàn tính chính danh – legitimacy – nay lại đổ thêm dầu vào lửa bằng dự Luật bán nước này, thách thức láo xuợc nhân dân là chủ thể duy nhất của đất nước.

Một văn kiện phản đối Luật đặc khu lập tức có 737 chữ ký, hôm sau lên 1382 chữ ký, nay lên đến 1591 người tham gia do mạng Bô-xit đề xướng, trong ngoài nước các tổ chức kêu gọi biểu tình ngày Chủ nhật 10/6 đòi hủy bỏ dự Luật, gần 30 đại biểu quốc hội nghi ngại, yêu cầu hõan việc bỏ phiếu để thảo luận sâu thêm, rộng rãi thêm, các nhà kinh tế Lê Đăng Doanh, Phạm Chi Lan, các nhà nghiên cứu Tương Lai, Nguyễn Trung, Hà Sỹ Phu, các nhà báo Phạm Đình Trọng, Bùi Minh Quốc, các nhà văn Nguyên Ngọc, Nguyễn Quang Thiều… đều lên tiếng phản đối mạnh mẽ đạo luật phản động này.

Ông tổng bí thư nguyễn Phú Trọng và Bộ Chính trị đang đứng trước một đỉnh điểm phẫn nộ xung thiên của toàn dân. Ông tổng Trọng ốm yếu, uy tín suy giảm tệ hại do cầm đầu chủ trương cuộc bắt cóc Trịnh Xuân Thanh phi pháp chà đạp pháp luật quốc tế bằng bạo lực, gây căng thẳng với CHLB Đức, Tiệp, Slovaque, Ba Lan… và toàn Liên Âu, lại bị tố cáo là nhu nhược với Trung Cộng nhất trong tất cả 5 tổng bí thư sau sự kiện Thành Đô: Tệ hơn cả Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu và Nông Đức Mạnh.

Đã có yêu cầu của một số blogger nếu có bỏ phiếu về Luật đặc khu cần công khai không chỉ con số, tỷ lệ, mà công khai cả tên những ai tán thành, những ai chống, các nhà nhiếp ảnh cần chụp cho rõ, đầy đủ cảnh bỏ phiếu, vì sau này có thể có các phiên tòa xử bày lũ bán nước buôn dân cần đến để làm chứng cứ.

Cả nước sẽ chăm chú theo dõi cuộc bỏ phiếu này.

Để xem ông Tổng Trọng và Bộ Chính Trị có gan lỳ được trước ý chí và phẫn nộ xung thiên của nhân dân hay không?

Luật an ninh mạng để trị dân chứ không phòng giặc

Luật an ninh mạng để trị dân chứ không phòng giặc

Blog VOA

Trân Văn

Nếu không có gì thay đổi, cuối kỳ họp thứ năm của Quốc hội khóa này, các đại biểu sẽ bỏ phiếu, biến hai dự luật, một về “Đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt” (trước giờ vẫn được gọi tắt là Luật Đặc khu) và một về “an ninh mạng” thành luật.

Sự vô lý, các yếu tố đáng ngờ và những hiểm họa tiềm ẩn trong dự luật về “Đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt” đã khiến nhiều người quên dự luật về “An ninh mạng” vốn đáng ngại và đáng bàn không kém (1)

***

Từ khi máy vi tính và Internet trở thành một phần không thể thiếu trong sinh hoạt của cả cá nhân lẫn sinh hoạt xã hội, tin tặc trở thành một vấn nạn trầm kha, đe dọa từ chính trị, kinh tế, tới an ninh, quốc phòng của tất cả các quốc gia.

Theo tính toán của các chuyên gia về bảo mật – an ninh mạng máy tính và Internet, năm 2016, tổn thất do tin tặc gây ra đối với máy tính và Internet tại Việt Nam vào khoảng 10.400 tỉ đồng.

Sang năm 2017, mức độ tổn thất tăng thêm chừng 15% nữa so với năm 2016. Trong năm 2017, tổng thiệt hại do tin tặc gây ra đối với máy tính và Internet tại Việt Namđược ước đoán là 12.300 tỉ đồng, tương đương 540 triệu Mỹ kim (1).

So với nhiều quốc gia khác, thiệt hại vật chất mà tin tặc gây ra cho Việt Nam không phải là lớn song hiểm họa tiềm ẩn từ tin tặc đối với chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng thì lại đặc biệt đáng ngại.

Tháng 5 năm 2014, hàng ngàn website của nhiều cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức bị tin tặc đánh sập. Tháng 11 cùng năm, hàng chục ngàn modem của những người sử dụng dịch vụ Internet do Công ty FPT cung cấp tại Bình Dương bị tin tặc xâm nhập, thay đổi cấu hình khiến họ không thể truy cập vào Internet.

Cũng trong năm 2014, ông Trần Quang Chiến, Giám đốc điều hành Security Daily, tiết lộ với báo giới rằng, có 30 trang web của các cơ quan thuộc chính phủ Việt Nam bị tin tặc đoạt quyền điều hành trong cả tháng.

Tin tặc đánh sập hàng ngàn website của nhiều cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức bày tỏ sự bất bình trước sự kiện Trung Quốc đưa giàn khoan HD 981 vào thăm dò – khai thác dầu khí tại quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.

Modem của hàng chục ngàn người sử dụng dịch vụ Internet tại Bình Dương bị tin tặc xâm nhập, thay đổi cấu hình, khiến họ không thể truy cập Internet vì Bình Dương là nơi bùng phát đợt biểu tình chống Trung Quốc và chuyển thành bạo động.

Lúc đầu, ông Chiến chỉ tiết lộ rằng, các cuộc tấn công – đánh sập website của nhiều cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức, các vụ xâm nhập – phá hoại modem, chiếm đoạt quyền điều hành hàng loạt website của chính phủ Việt Nam là do “tin tặc nước ngoài” gây ra.

Sau đó, cực chẳng đã, Security Daily phát cảnh báo chính thức rằng, tin tặc Trung Quốc (nhóm 1937cn và nhóm Sky-Eye) đứng phía sau tất cả những vụ tấn công, đánh sập, phá hoại, chiếm đoạt quyền điều hành ấy.

Chẳng phải chỉ có Security Daily đề cập đến nguy cơ máy tính và Internet Việt Nam bị tin tặc Trung Quốc khống chế.

Tháng 5 năm 2015, tại một cuộc hội thảo ở Hà Nội, ông Wias Issa, Chuyên viên cao cấp của FireEye – chuyên về bảo mật, an ninh máy tính và Internet, cảnh báo: APT30 đã theo dõi, xâm nhập các website, mạng máy tính tại Việt Nam ít nhất là 10 năm.

Theo FireEye, APT30 có tổng hành dinh tại Trung Quốc, suốt 10 năm, hạ tầng kỹ thuật không đổi, tổ chức chặt chẽ, hoạt động theo ca, mục tiêu nhất quán (xâm nhập, thu thập các dữ liệu của nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm các máy tính của các chính phủ khác).

Không đủ bằng chứng để khẳng định APT30 của chính phủ Trung Quốc nhưng FireEye dựa vào các đặc điểm của APT30 như đã kể để nhấn mạnh phỏng đoán, APT30 được chính phủ nào đó tài trợ tài trợ đầy đủ để thực thi và hoàn thành nhiệm vụ.

2015 cũng là năm mà ThreatConnect và Defense Group (DGI) – hai hãng chuyên về bảo mật, an ninh máy tính Internet tại Hoa Kỳ, cho biết, tin tặc Trung Quốc đã gài mã độc vào những email, hình ảnh liên quan đến sự kiện Hải quân Thái Lan khống chế ngư dân Việt Nam để mở đường xâm nhập máy tính của nhiều người.

Tờ Wall Street Journal (WSJ) đã dựa trên kết quả điều tra này để tiếp tục cảnh báo về 78020 – bí số của một đơn vị tình báo được đặt dưới sự chỉ huy của Quân khu Thành Đô, phạm vi trách nhiệm bao gồm cả Tây Tạng, khu vực giáp giới Việt Nam, Miến Điện, Ấn.

Mark Stokes, một chuyên gia của Hoa Kỳ, bảo với WSJ rằng, 78020 chỉ là một trong hơn 20 đơn vị của quân đội Trung Quốc chuyện phân tích và khai thác sơ hở của các hệ thống mạng máy tính…

Riêng với Việt Nam, chỉ trong hai tháng 7 và 8 của năm 2015, có hơn 1.000 máy chủ và khoảng 2.500 trang web bị tấn công, trong số này có khoảng 20 trang web của hệ thống công quyền, 50 trang web của hệ thống giáo dục.

Khi loan báo những số liệu vừa đề cập, Trung tâm Ứng cứu khẩn cấp máy tính Việt Nam (Vncert), thuộc Bộ Thông tin – Truyền thông Việt Nam, xác nhận, thủ phạm gây ra tất cả những vụ tấn công vừa kể đều là tin tặc Trung Quốc.

Vào thời điểm đó, Vncert công khai than rằng, cơ quan này đã gửi nhiều cảnh báo cho những nơi có liên quan, đặc biệt là các cơ quan công quyền nhưng tất cả đều rất thờ ơ, cho dù chủ đích những cuộc tấn công ấy rõ ràng là đánh cắp những thông tin quan trọng.

Thờ ơ chỉ mới là một khía cạnh…

Năm 2014, Hiệp hội An toàn Thông tin Việt Nam từng cảnh báo về một vấn nạn nan giải đối với an ninh máy tính và Internet tại Việt Nam: Gần như toàn bộ thiết bị mà các công ty viễn thông Việt Nam đang sử dụng là sản phẩm do hai công ty Huawei và ZTE của Trung Quốc sản xuất.

Theo Hiệp hội An toàn Thông tin Việt Nam, có 6/7 công ty viễn thông ở Việt Nam đang sử dụng thiết bị và công nghệ do Huawei và ZTE cung cấp. Trên toàn Việt Nam, có khoảng 30.000 trạm thu phát sóng (BTS) đang sử dụng thiết bị của Huawei và ZTE.

Trước nữa, chỉ tính riêng năm 2009, đã có hơn năm triệu thiết bị như: modem, router, USB do Huawei và ZTE sản xuất đã được bán trên thị trường Việt Nam. Hiệp hội An toàn Thông tin Việt Nam xác nhận là chưa thống kê được số thiết bị do Huawei và ZTE sản xuất, đã được bán tại Việt Nam.

Huawei và ZTE là hai công ty chuyên cung cấp thiết bị, công nghệ trong lĩnh vực viễn thông, từng được Ủy ban Tình báo của Hạ viện Hoa Kỳ đánh dấu về khả năng cấy những tác nhân độc hại trước khi bán cho khách hàng, đe dọa an ninh đối với Hoa Kỳ.

Có tương quan nào giữa việc mua thiết bị, công nghệ của Trung Quốc với thực tế mà Hiệp hội An toàn thông tin Việt Nam lưu ý: Khoảng 400 máy chủ ở Việt Nam bị “kết nối thường trực” với “nước ngoài” để thu thập các thông tin quan trọng cần bảo mật?

Rõ ràng đã tới lúc, Việt Nam phải có một bộ luật để đặt định các giải pháp thiết yếu nhằm phòng vệ hữu hiệu cho an ninh máy tính và Internet bởi đó cũng là an ninh quốc gia. Thế nhưng Dự luật về “An ninh mạng” làm nhiều người vỡ mộng!

***

Tháng trước, sau khi tham khảo Dự luật về “An ninh mạng”, Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam cảnh báo, dự luật này giống như tạo thêm công cụ để đàn áp những người bất đồng chính kiến. Không những thế, dự luật sẽ nguy hại cho kinh tế Việt Nam.

Chẳng riêng Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam, Hiệp hội Truyền thông số Việt Nam (VDCA) cũng lên tiếng vì Dự luật về “An ninh mạng” có nhiều qui định “có thể gây rủi ro, xâm phạm các quyền chính trị, kinh tế cơ bản của công dân”. VDCA tính toán, nếu Dự luật về “An ninh mạng” trở thành luật, một số quy định sẽ khiến chi phí của các doanh nghiệp gia tăng, vừa làm giảm sự hấp dẫn của thị trường, vừa có thể khiến Việt Nam gặp thêm rắc rối do vi phạm các cam kết quốc tế. Chưa kể GDP của Việt Nam sẽ giảm khoảng 1,7% GDP và đầu tư nước ngoài sẽ giảm 3,1% (3).

Ông Nguyễn Quang Đồng, Viện trưởng Viện nghiên cứu Chính sách và Phát triển truyền thông số, phân tích để chứng minh, Dự luật về “An ninh mạng” sẽ tác động tiêu cực đến quyền và lợi ích của ít nhất 3 nhóm doanh nghiệp (Sản xuất – kinh doanh thiết bị, giải pháp kỹ thuật, an ninh mạng. Kinh doanh dịch vụ tài chính công nghệ. Cung cấp giải pháp, dịch vụ nội dung số và giải pháp công nghệ nói chung) (4).

Tuy nhiên những cảnh báo chẳng khác gì “nước đổ đầu vịt”. Ngay cả khi một số đại biểu Quốc hội tỏ ra băn khoăn vì dường như các cảnh báo có vể hữu lý, ông Võ Trọng Việt, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng – An ninh của Quốc hội Việt Nam vẫn “xin giữ nguyên như dự thảo” (5).

Tới lúc đó thì các ông: Đặng Hữu (cựu Bộ trưởng Khoa học – Công nghệ), Chu Hảo (cựu Thứ trưởng Bộ Khoa học công nghệ), ông Mai Liêm Trực (cựu Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện, cựu Thứ trưởng Bộ Bưu chính – Viễn thông), Nguyễn Khánh Toàn (Thượng tướng, cựu Thứ trưởng Bộ Công an) quyết định phải nói chứ không… nín nữa.

Ông Hữu, ông Hảo, ông Liêm, ông Toàn vốn được xem là những “nguyên lão” của ngành ICT Việt Nam (tham gia thẩm định, chuẩn bị để đưa Internet vào Việt Nam hồi thập niên 1990) soạn một thư ngỏ, gửi các đại biểu của Quốc hội và Thủ tướng Việt Nam, đề nghị loại bỏ năm điều: 24, 26, 38, 39, 40 ra khỏi Dự luật về “An ninh mạng”.

Theo họ, an ninh mạng là cuộc chiến kỹ thuật nhưng Dự luật về “An ninh mạng” chẳng những chẳng giúp gì cho việc bảo vệ an ninh máy tính, Internet mà còn có thể kéo lùi sự phát triển của Internet, của kinh tế số và xã hội thông tin tại Việt Nam.

Cả bốn ông cho rằng, Dự luật về “An ninh mạng” xâm hại quyền dân sự, chính trị của công dân, thu hẹp quyền tiếp cận, cơ hội sử dụng Internet để học hành, nghiên cứu, kinh doanh, trao đổi thông tin, hạn chế tự do Internet, đặt công dân trước rủi ro vi phạm pháp luật và bị kiểm tra, nhũng nhiễu bởi lực lượng chuyên trách an ninh mạng.

Bởi cuộc chiến về bảo mật, bảo vệ an ninh máy tính, Internet là “cuộc chiến thông minh, đòi hỏi am hiểu cả về chuyên môn kỹ thuật lẫn pháp lý”, ông Hữu, ông Hảo, ông Liêm, ông Toàn đề nghị Quốc hội giao Dự luật về “An ninh mạng” cho Ủy ban Khoa học – Công nghệ – Môi trường thẩm tra.

Cần lưu ý là Dự luật về “An ninh mạng” do Bộ Công an chủ trì việc soạn thảo và việc thẩm tra vốn do Ủy ban Quốc phòng – An ninh của Quốc hội Việt Nam thực hiện. Đứng đầu ủy ban hết sức tha thiết trong việc biến dự luật thành luật này là một ông từng mang ba sao và từng giữ vai trò Thứ trưởng Quốc phòng.

Cứ thử đọc Dự luật về “An ninh mạng” ắt sẽ bật ra thắc mắc, tại sao cả quân đội lẫn công an không hề bận tâm đến chuyện làm sao bảo vệ an ninh – an toàn cho máy tính, Internet tại Việt Nam trước sự xâm nhập, phá hoại càng ngày càng tăng của tin tặc, đặc biệt là tin tặc Trung Quốc (theo thống kê của VnCert, năm ngoái, có ít nhất là 10.000 cuộc tấn công vào hệ thống máy tính và Internet của Việt Nam) (5), mà chỉ chăm chăm bịt miệng, đổ móng – dặm nền để dễ dàng tống giam những công dân dùng Internet để bày tỏ suy nghĩ của họ hoặc dùng Internet để chia sẻ những thông tin mà họ cảm thấy thú vị?

Chú thích

(1) https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Cong-nghe-thong-tin/Du-thao-Luat-an-ninh-mang-351416.aspx

(2) https://www.bkav.com.vn/hoi-dap/-/chi_tiet/511114/tong-ket-an-ninh-mang-nam-2017-va-du-bao-xu-huong-2018

(3) http://ictnews.vn/cntt/bao-mat/hoi-truyen-thong-so-kien-nghi-bai-bo-sua-doi-mot-so-quy-dinh-trong-du-thao-luat-an-ninh-mang-167799.ict

(4) http://kinhtevadubao.vn/chi-tiet/90-11322–lam-sao-de-cac-quy-dinh-moi-cua-luat-an-ninh-mang-anh-huong-it-nhat-toi-dn.html

(5) https://sohoa.vnexpress.net/tin-tuc/doi-song-so/bao-mat/gan-10-000-vu-tan-cong-mang-tai-viet-nam-nam-2017-3639613.html

Tôi phản biện các vị ủng hộ dự luật bán nước

9-6-2018

Tín chấp là gì? Là dùng uy tín của cá nhân hoặc tổ chức để đảm bảo cho một khoản vay mượn. Nói về vay tín chấp ở ngân hàng thì ai cũng hiểu là không dùng tài sản thế chấp. Ở ngoài đời cũng vậy, có kẻ mượn trăm tỷ dễ như trở bàn tay, nhưng cũng có những kẻ vay một xu không ai cho thì đó là gì? Là dựa vào uy tín của người vay.

Vậy uy tín là gì? Đó là lịch sử giữ lời hứa, lịch sử về trách nhiệm của đối tượng đó và khả năng tài chính của kẻ đó. Tất cả những điều đó tạo nên uy tín của đối tượng. Vậy để xem kẻ đó có uy tín không thì xem xét lịch sử của kẻ đó một cách toàn diện nhất.

Trên thế giới, có những công ty độc lập chuyên xếp hạng mức tín nhiệm của các quốc gia hoặc các doanh nghiệp. Trên thế giới có 3 ông lớn trong lĩnh vực này là Standard & Poors, Moody’s, và Fitch Group chiếm 95% thị phần xếp hạng trên thế giới. Họ là những đơn vị nghiên cứu hồ sơ lịch sử tín dụng của nhiều chính phủ, nhiều công ty để đưa ra mức định lượng làm cơ sở cho những nhà cho vay xem xét. Từ mức AAA của Mỹ đến mức B của Việt Nam cách nhau đến 8 bậc. Mức tín nhiệm của Mỹ là mức tuyệt đối, các nhà cho vay phải xếp hàng để được Mỹ vay bằng lãi suất do Mỹ ấn định, tức là mua trái phiếu chính phủ Mỹ. Mức B của Việt Nam là mức cảnh báo, nhà cho vay phải cẩn thận. Vì vậy, Việt Nam phải đi khắp nơi năn nỉ các nước cho mình vay. Chủ yếu Việt Nam vay ODA. Vay ODA về bản chất là nhà cho vay không tín nhiệm chính quyền đi vay. Phía cho vay phải thực hiện dự án và tự tay lấy về khoản lợi nhuận dưới dạng tiền lời của dự án. Nếu giao hết tiền cho chính phủ này, sợ họ xà xẻo bỏ túi riêng mà chẳng thực hiện dự án.

Uy tín của Việt Nam với thế giới chỉ là con số zero. Vậy uy tín của chính quyền với nhân dân thế nào? Muốn biết hãy nhìn vào lịch sử của chính quyền này để biết được họ đã có được “uy tín” gì trong lòng dân? Để biết thêm chi tiết, xin đưa ra một vài ví dụ trong vô số trò lừa đảo bội tín nhân dân của ĐCS.

Đầu tiên là công hàm bán nước của Phạm Văn Đồng giấu nhẹm mà không hề công bố với nhân dân. Để sau này phía Trung Quốc công bố công khai trên internet thì tìm cách chống chế khoả lấp. Nhân dân đã bị lừa.

Kế tiếp là lừa quân dân cán chính quân lực VNCH rằng, đi học tập cải tạo chỉ vài tuần. Thế nhưng họ đã ở tù trong nhiều năm, có người ở tù xuyên thế kỷ như ông Nguyễn Hữu Cầu. Dân miền Nam đã bị lừa.

Tiếp theo là, lừa Việt kiều về nước đầu tư rồi xẻ thịt để chiếm đoạt tài sản. Vụ Việt kiều Hà Lan – Trịnh Vĩnh Bình là ví dụ.

Ngay trong bản Hiến pháp cũng rất nhiều điều khoản dùng để lừa dân. Ví dụ, điều 2 lừa dân rằng nhà nước là của dân do dân và vì dân, nhưng điều 4 lại khẳng định ĐCS là độc quyền lãnh đạo. Điều 25 Hiến pháp quy định quyền tự do ngôn luận, nhưng luật an ninh mạng đã chà đạp lên điều này của Hiến pháp.

Ngay trong điều luật gọi là “an ninh mạng” mà chẳng có bảo vệ an ninh mạng. An ninh mạng phải chống các hacker làm sập mạng gây thiệt hại kinh tế cá thể và kinh tế đất nước. Còn luật được gọi là “an ninh mạng” này là thứ điều khoản bịt mồm những người này tỏ chính kiến trên internet, hoàn toàn nó chẳng bảo vệ mạng internet.

Với vô số sự lừa gạt nhân dân từ thời chiến tranh đến thời bình, từ thời ăn lông ở lỗ đến thời đại internet. Tất cả đều là những chuỗi trò lừa đảo. Trong luật pháp cũng đầy rẫy từ ngữ mơ hồ để lừa nhân dân sập bẫy, như những điều 79, điều 88, điều 258 BLHS… là ví dụ. Luật pháp gài bẫy là một thứ luật pháp lừa gạt toàn dân.

Hiện nay luật đặc khu cho thuê 99 năm, cho tòa án nước ngoài xử án ngay trên vùng đặc khu. Và một điều ít ai để ý, đó là sự kết hợp giữa luật an ninh mạng và luật đặc khu. Luật an ninh mạng thực chất nó cấm tự do ngôn luận, nó khống chế sự lan tỏa sự thật trong xã hội chứ hoàn toàn nó không vì an ninh mạng đúng nghĩa (nghĩa là chống hacker). Nếu chính quyền không có mưu đồ bất chính với dân tộc, với đất nước này thì cớ sao đem điều luật an ninh mạng ra quyết đồng thời với dự luật đặc khu? Có đui có mù cũng thấy, luật an ninh mạng là lá chắn cho mưu đồ trong luật đặc khu. Đây là hành động lừa nhân dân.

Vậy thì uy tín của chính quyền với nhân dân có không? Xin thưa là không. Mà chính quyền không có uy tín với dân thì chính quyền lấy gì để tín chấp cho một đạo luật đây? Mô khi đối tượng không có uy tín nó sẽ không có trách nhiệm thi hành cam kết. Thằng có tiền sử quỵt nợ, bạn có dám cầm tiền tỷ cho nó mượn không? Uy tín bằng zero nó sẽ không giữ lời hứa và chắc chắn nó sẽ quỵt. Với dân, chính quyền CS không có uy tín thế chấp để nhận lấy sự tin tưởng từ nhân dân.

Trên mạng xã hội có một số kẻ bênh vực cho dự luật đặc khu. Có cả những vị “luật sư” căn cứ vào câu chữ của văn bản luật mà phán rằng, đó là luật mở cửa cho nhà đầu tư nước ngoài chứ không phải chỉ dành riêng cho Trung Quốc. Những kẻ này đã nhìn một tầm nhìn chỉ bằng trang sách, họ căn cứ vào câu chữ mà phán tính khả thi. Nên nhớ rằng, nhà nước CS không phải là nhà nước pháp quyền. Mà không phải nhà nước pháp quyền thì sẽ như thế nào? Nghĩa là nếu câu chữ không có lợi cho chính quyền thì nó sẽ chà đạp. Quyền biểu tình sờ sờ trong Hiến pháp đó mà nó có cho dân biểu tình đâu? Quyền tự do ngôn luận, tự do lập hội cũng sờ sờ ra đó, trong Hiến Pháp đó mà nó có cho đâu? Uy tín của chính quyền CS đối với dân là con số zero tròn trĩnh. Nói đúng hơn, nó không chiếm độc quyền nhà nước thì nó là một tổ chức lừa đảo không hơn không kém.

Các vị luật sư, khi phán một đạo luật ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh quốc phòng, các bạn không thể căn cứ vào câu chữ mà phán nó khả thi. Để xét đến một đạo luật có khả thi hay không bạn phải căn cứ 2 yếu tố. Thứ nhất là nội dung đạo luật. Thứ nhì là uy tín của nhà nước đó có đảm bảo tính pháp quyền trong thi hành không? Lưu ý là uy tín của một chính quyền với dân phải đặt cao hơn nội dung câu chữ nhá. Vì nếu chính quyền có tiền sử chà đạp hiến pháp và pháp luật thì không có một đạo luật nào được đảm bảo thực thi đúng nội dung. Vậy khi chính quyền có tiền sử chà đạp lên hệ thống pháp luật mình ban ra thì phán xét ý đồ trong một đạo luật ta dựa vào đâu? Khi tính thượng tôn pháp luật không được đảm bảo thì hãy nhìn vào lợi ích của ĐCS là gì thì sẽ có sự phán đoán chính xác hướng đi của một đạo luật. Sự phản kháng của toàn dân đã căn cứ vào điều này mà cản đường âm mưu ĐCS, dân đã đúng.

Tôi xin khẳng định lại điều này để các vị luật sư ủng hộ rõ nhé, để đánh giá một âm mưu ẩn giấu phía dưới đạo luật mà quý vị đem nội dung câu chữ ra cắt nghĩa thì xin lỗi, tôi thấy các vị ngây ngô. Căn cứ vào câu chữ một đạo luật đó là công việc nghề nghiệp của các vị để gỡ tội cho thân chủ trước tòa. Nhưng ở đây đánh giá hướng đi của một đạo luật nhạy cảm, có ảnh hưởng đến an ninh quốc phòng trong một nhà nước côn đồ có thói quen chà đạp cả Hiến pháp và pháp luật, thì không phải đòi hỏi ở nghiệp vụ nghề luật mà nó đòi hỏi cái nhìn toàn diện, trong đó lịch sử ứng xử của ĐCS với nhân dân với đất nước sẽ có vai trò quyết định. Các vị nên nhớ, các vị căn cứ vào câu chữ suy ra tính khả thi hay không thì điều đó chỉ đúng với một nhà nước biết thượng tôn pháp luật, nhớ nhá!

Chính quyền CS có thượng tôn pháp luật không? Chắc chắn là không. Cho nên trong vấn đề bộ đôi luật an ninh mạng – luật đặc khu được thông qua này làm dân phản ứng gay gắt là hoàn toàn đúng. Sân chơi theo luật chỉ dành riêng cho nhà nước pháp quyền đúng nghĩa. Còn nơi đây, nơi ĐCS ngự trị thì nhìn mưu đồ của nó trong quá khứ và hiện tại thì biết. Không pháp quyền không có chỗ cho những kẻ phân tích luật trên văn bản nhá quý vị.

CÔNG DÂN CÓ QUYỀN XUỐNG ĐƯỜNG BIỂU TÌNH

No automatic alt text available.

Cat Bui

Đôn An Võ 

CÔNG DÂN CÓ QUYỀN XUỐNG ĐƯỜNG BIỂU TÌNH

Biểu tình là quyền cơ bản của công dân, được tất cả các nước trên thế giới ghi nhận trong hệ thống pháp luật, nhằm bảo đảm quyền tự do dân chủ của mỗi người dân.

Biểu tình là hình thức đấu tranh bất bạo động, được thể hiện dưới nhiều hình thức như: xuống đường diễu hành, chiếm đóng, khỏa thân tập thể… để bày tỏ thái độ phản đối hay ủng hộ công khai về một vấn đề nào đó trước nhà nước, nhằm đòi hỏi quyền lợi cho mình hoặc cho xã hội.

Điều 25 Hiến pháp Việt Nam năm 2013 quy định: Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, hội họp, lập hội, biểu tình.

Không ai được quyền cản trở người dân biểu tình. Được biết, kể từ khi thành lập nước CHXHCN Việt Nam năm 1945 đến nay, chưa có một người dân nào bị bắt giam hoặc bị bỏ tù về tội biểu tình.

Điều 167 Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015 quy định: Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác cản trở công dân thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền biểu tình của công dân… thì bị phạt tù từ 1 đến 5 năm.

Tóm lại: người dân có quyền tự do biểu tình mà không sợ bất cứ điều gì, biểu tình là quyền và đồng thời là nghĩa vụ của mỗi người dân. NGUỒN LS VÕ AN ĐÔN

TRUNG CỘNG ĐÃ LÀM GÌ Ở CÁC ĐẶC KHU CHÂU PHI?

Image may contain: outdoor and water
Nguyễn Vô added a new photo to the album: THẮC MẮC NHỎ.

THẮC MẮC NHỎ
TÌM HIỂU 039: TRUNG CỘNG ĐÃ LÀM GÌ Ở CÁC ĐẶC KHU CHÂU PHI?

Tính đến cuối năm 2016, Trung cộng đã đầu tư xây dựng 77 đặc khu kinh tế (SEZ) tại 36 quốc gia trên thế giới với tổng đầu tư ước tính hơn 24,2 tỉ USD và đạt giá trị sản xuất hơn 70,3 tỉ USD. Kinh nghiệm từ các đặc khu do Trung cộng đầu tư tại các nước đang phát triển như châu Phi, Sri Lanka sẽ là những bài học quý giá đối với Việt Nam khi nghiên cứu mô hình này.

I- TRUNG CỘNG HÓA ĐẶC KHU KINH TẾ Ở CHÂU PHI
Kể từ năm 2006, Trung cộng bắt đầu xuất khẩu mô hình đặc khu của mình sang các nước châu Phi khi chính phủ nước này đưa ra mục tiêu xây dựng khoảng 50 đặc khu hợp tác kinh tế và thương mại ở nước ngoài. Những đặc khu này là một phần giúp nước này thực hiện “quyền lực mềm” của mình, tức chúng không chỉ là kinh tế và thương mại mà còn có những mục tiêu chính trị.
Từ đó có 7 đặc khu được mở tại các quốc gia châu Phi là Algeria, Ai Cập, Ethiopia, Mauritius, Nigeria (2 đặc khu) và Zambia.
Năm 2010, có 6 đặc khu được xây dựng trong khi đặc khu ở Algeria bị hủy bỏ do những thay đổi trong chính sách đầu tư nước ngoài của quốc gia này. 
Điều đáng lưu ý là các đặc khu ở Ethiopia và Mauritius do 100% người Tàu làm chủ sở hữu. Các đặc khu ở các nước còn lại thì mang hình thức hợp tác với các đối tác của nước sở tại nhưng đối tác của nước sở tại chỉ chiếm tỉ lệ sở hữu ít ỏi. Chẳng hạn, đặc khu Ogon của Nigeria thì đối tác trong nước chỉ sở hữu có 18%, đặc khu Suez của Ai Cập thì người Ai Cập chỉ sở hữu có 20%. 
Như vậy, gần như tất cả đặc khu kinh tế ở Châu phi đều do người Tàu nắm giữ, các đối tác trong nước nếu có tham gia thì chỉ với một tỉ lệ nhỏ mà thôi.
Theo báo cáo của McKinsey năm 2015, Trung cộng thống trị các hạng mục thương mại từ FDI, từ giá trị hàng hóa, viện trợ đến phát triển cơ sở hạ tầng. Ngoài yếu tố thị trường, FDI sẵn có của Trung cộng và thặng dư lao động, đây cũng là những quốc gia có sức ảnh hưởng chính trị nhất định, hứa hẹn sẽ không chỉ đa dạng hóa hoạt động cho các công ty Trung cộng mà còn thúc đẩy các mục tiêu của Trung cộng tại châu lục.
Theo thống kê của chính phủ Trung cộng, cuối năm 2011, các đặc khu trên tạo ra 4,52 tỉ USD giá trị sản xuất và đóng góp 143 triệu USD tiền thuế.

II- TÌNH TRẠNG TRÌ TRỆ TẠI CÁC ĐẶC KHU Ở CHÂU PHI
Tuy nhiên, các đặc khu trên vẫn chưa phát triển đúng với tiềm năng và kỳ vọng của các nước sở tại. Sau 12 năm trục trặc đủ đường, đặc khu Jinfei của Mauritius hiện chỉ hoàn thiện hạ tầng cơ bản với 4 công ty hoạt động. Ước tính có 107 người dân đã lâm vào cảnh khốn đốn khi phải nhường đất cho dự án. Đặc khu tại Zambia thì chỉ thu hút được một nửa doanh nghiệp theo kế hoạch, trong khi quan ngại về ô nhiễm môi trường hay mưa acid xuất hiện ngày càng nhiều.
Các đặc khu của Ai Cập và Nigeria tuy thu hút được nhiều sự chú ý và vốn đầu tư nhưng đến năm 2014 cũng chỉ đạt gần 10% – 30% kế hoạch. Đặc khu của Ethiopia thậm chí còn phải thu nhỏ 60% diện tích do chủ đầu tư Trung cộng gặp khó khăn về tài chính, trong khi dự án tại Algeria vẫn còn đang nằm trên giấy.
Theo UNDP, chính sự nhập nhằng của các bên tham gia phát triển mà đa phần đến từ các công ty Trung cộng, vấn đề vốn cho cơ sở hạ tầng và các trở ngại trong việc kết nối với nền kinh tế địa phương đã gây ra tình trạng trên. Bên cạnh đó, các khoản vay ưu đãi từ phía Trung cộng sẽ dễ dàng tăng thêm gánh nặng nợ cho các nước chủ nhà, nhất là trong các trường hợp SEZ dạng liên doanh, dẫn đến khả năng vỡ nợ.

III- SRI LANKA “GÁN” HẢI CẢNG ĐỂ TRẢ NỢ 
Vỡ nợ là trường hợp điển hình của Sri Lanka, một quốc gia châu Á.
Nội chiến kết thúc năm 2009 kéo theo nhu cầu kiến thiết đất nước khẩn cấp của Sri Lanka và Bắc Kinh là nhà cung cấp viện trợ hào phóng nhất, lên đến 15 tỉ USD trong giai đoạn 2005-2017. Tính đến cuối năm 2015, Sri Lanka nợ nước ngoài lên đến 94% GDP, trong đó có 8 tỉ USD của Trung cộng.
Tháng 9-2014, dự án thành phố cảng Colombo của Sri Lanka và Trung cộng được khởi công với sự có mặt của lãnh đạo 2 nước là ông Mahinda Rajapaksa và Chủ tịch Tập Cận Bình. Trong vòng 2 năm sau đó, tiến độ xây dựng liên tục bị trì hoãn do xích mích giữa nhà thầu và chính quyền địa phương khiến Hải cảng này vẫn không thu hút được tàu thuyền Quốc tế. 
Khu vực cảng Hambantota với vốn đầu tư 1,5 tỉ USD cũng chịu tình trạng thất bại tương tự và đến cuối năm 2017 thì chính phủ Sri Lanka đã bán 80% hải cảng này cho Trung cộng với giá 1,1 tỉ USD để giải quyết áp lực nợ.
Sự hoạt động kém hiệu quả so với vốn đầu tư của hai dự án đã đóng góp không nhỏ vào số nợ nước ngoài của Sri Lanka.

IV- TRƯỜNG HỢP “ĐIỂN CỨU” THÂM QUYẾN CỦA CHÍNH TRUNG CẨU
Là biểu tượng cho mô hình đặc khu không chỉ của Tàu mà là cả thế giới, Thâm Quyến có nhiều đặc điểm cá biệt để có thể thành công vang dội.

1- Đầu tiên là mô hình kinh tế:
Dưới chủ trương đặc khu, nền kinh tế thị trường mang bản sắc chủ nghĩa xã hội Trung cộng đã được cổ vũ phát triển mạnh mẽ tại đây trong giai đoạn Trung cộng còn theo đuổi cơ chế bao cấp và những hệ quả nặng nề của cuộc Cách mạng văn hóa. Đây là điều kiện tối quan trọng đối với đầu tư cả trong và ngoài nước và càng cấp bách trong bối cảnh Mỹ và Trung cộng vừa hoàn tất bình thường hóa quan hệ.
Những cơ hội mới ngày càng nhiều ở đặc khu và nhất là sự cạnh tranh công bằng, minh bạch và không tiêu cực với cả những công ty quốc doanh đã tạo ra sức hấp dẫn đặc biệt. Nhưng gần 40 năm sau, với xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế, những hiệp định thương mại tự do đa phương, những chính sách ưu đãi của đặc khu không còn đủ tiến bộ so với mặt bằng chung của quốc gia này để có thể tạo được động lực thần kỳ như trước.

2- Thứ hai là vị trí chiến lược của Thâm Quyến:
Các ưu đãi về tài chính, nhân công, thuế, cam kết môi trường ổn định và thậm chí là cạnh tranh giữa các chính sách ưu đãi như thời hạn thuê đất có thể lên 99 năm ở các nước Đông Nam Á, 76-80 năm ở châu Phi là chưa đủ. Thâm Quyến có vị trí đắc địa, kết nối đặc biệt với Hong Kong – một trung tâm tài chính thế giới mà bấy giờ vẫn là tô giới của Anh. Các nhà đầu tư Hong Kong cũng chính là những người rót nhiều vốn nhất cho giai đoạn phát triển ban đầu của Thâm Quyến. Chính phủ Trung cộng cũng chú trọng đầu tư cơ sở hạ tầng để tăng cường khả năng nối đặc khu này với thị trường rộng lớn toàn quốc, một điều đã được rất nhiều quốc gia áp dụng.

3- Thứ ba, định hướng phát triển của thành phố luôn được chú trọng và cải tiến:
Từ những ngày đầu chỉ xây dựng nhà máy, gia công, sản xuất hàng tiêu dùng giá trị thấp, nay Thâm Quyến đã là trung tâm công nghệ và đổi mới sáng tạo của Trung cộng (chỉ đứng sau Thượng Hải và Bắc Kinh). Những nhà máy sản xuất mô hình ngày xưa đang dần đóng cửa để nhường chỗ cho các mô hình dịch vụ và tiêu dùng.

4- Nhưng đặc khu Thâm Quyến không chỉ màu hồng:
– Theo điều tra năm 2006, có đến 7 triệu trong 12 triệu dân ở Thâm Quyến là những người lao động nhập cư mà đa số là không được bảo vệ về mặt luật pháp và xã hội.
– Tỉ lệ chết nơi người lao động công nghiệp ở đây cũng cao và có hơn 500.000 lao động trẻ em.
– Theo điều tra năm 2003, có ít nhất phân nửa số công ty ở Thâm Quyến đang nợ lương người lao động và có ít nhất 1/3 công nhân Trung cộng được trả lương thấp hơn mức tối thiểu.
– Tỉ lệ lao động bỏ việc là trên 10%.
– Vào năm 2006, giới công nhân Thâm Quyến tiến hành hơn 10.000 cuộc đình công dù không có công đoàn độc lập nào.
– Tình trạng người lao động bị lạm dụng gắn liền với tình trạng tội phạm. Hiện nay, tỉ lệ tội phạm ở Thâm Quyến cao gấp 9 lần Thượng Hải và đây cũng là nơi nổi tiếng về việc buôn bán phụ nữ và mại dâm.

Theo HOÀNG PHÚ – MINH TIẾN

QUỸ ĐẠO CỦA TRUNG QUỐC ĐƯỜNG CÙNG CỦA NHÂN DÂN

Văn Lang is with Văn Lang.

ĐƯỜNG CÙNG CỦA NHÂN DÂN

Tài khoản Facebook của bạn có thể khóa bất cứ lúc nào, dịch vụ 3/4G cũng có thể bị cắt, bạn dễ dàng bị ra tòa hoặc thậm chí bị bỏ tù… Bạn không chỉ bị tước đoạt. Bạn bị “lột sạch” quyền công dân khi Luật an ninh mạng được Quốc hội thông qua ngày 12-6-2018. Không phải tự nhiên mà Luật an ninh mạng được bấm nút vài ngày trước khi Luật đặc khu thoát ra khỏi cánh cửa sân khấu Quốc hội.

Điều 5 Luật an ninh mạng quy định:

– Ngăn chặn, yêu cầu ngừng cung cấp thông tin mạng; đình chỉ, tạm đình chỉ các hoạt động thiết lập, cung cấp và sử dụng mạng viễn thông công cộng, mạng viễn thông dùng riêng, mạng internet, việc sản xuất và sử dụng thiết bị phát, thu phát sóng vô tuyến theo quy định của pháp luật;

– Yêu cầu xóa bỏ, truy cập, xóa bỏ thông tin trái pháp luật hoặc thông tin sai sự thật trên không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội;

– Thu thập dữ liệu điện tử liên quan tới hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trên không gian mạng;

– Phong tỏa, hạn chế hoạt động của hệ thống thông tin; đình chỉ, tạm đình chỉ hoặc yêu cầu ngừng hoạt động của hệ thống thông tin, thu hồi tên miền theo quy định của pháp luật;

– Khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, áp dụng các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, biện pháp thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự;

(Căn cứ những quy định này thì bạn hoàn toàn không còn là “chủ” tài khoản của mình. Công an kiểm soát toàn bộ không gian biểu đạt cá nhân của từng công dân. Công an không chỉ có quyền yêu cầu “xóa bỏ” (thông tin) mà thậm chí cấm “truy cập”. Bạn dễ dàng bị quy chụp “vi phạm” vào những điều mơ hồ như “thông tin trái pháp luật”, “thông tin sai sự thật”. Bạn bị theo dõi và bị đánh cắp thông tin cá nhân một cách công khai vì công an có quyền “thu thập dữ liệu điện tử”. Chưa hết, công an có quyền “kiểm tra an ninh mạng đột xuất” (Điều 12). Nói cách khác, “cuộc sống mạng” của bạn thuộc quyền quyết định gần như tuyệt đối của công an!

Ở Điều 15, bạn bị cấm loan tải:

– “Thông tin có nội dung tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân” (Những bức ảnh “chế” hoặc bình luận các phát ngôn nhảm nhí của đám quan chức có chịu sự áp đặt của quy định này?)

– “Thông tin có nội dung tuyên truyền, kêu gọi, vận động, xúi giục, đe dọa, gây chia rẽ, lôi kéo tụ tập đông người gây rối, chống người thi hành công vụ, cản trở sự hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội nhằm chống chính quyền nhân dân hoặc gây mất ổn định về an ninh trật tự” (Những chia sẻ ủng hộ giới tài xế ứng phó với BOT có nằm trong quy định này? Hiểu theo cách nào đi nữa thì thực chất quy định này là nhắm vào các kêu gọi biểu tình ôn hòa)

Ở Điều 16, bạn bị cấm “Cố ý nghe, ghi âm cuộc đàm thoại trái phép” (Như thế nào là “ghi âm trái phép”? Ghi âm đoạn nói chuyện giữa một người dân với một tên cảnh sát công lộ vòi vĩnh hối lộ có “trái phép” không?)

Ở Điều 21, “Các doanh nghiệp viễn thông, internet, công nghệ thông tin, cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng internet và cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm phối hợp với Bộ Công an” để “ngừng cung cấp thông tin mạng tại các khu vực cụ thể”.

Ở Điều 26, họ (các doanh nghiệp viễn thông…, trong nước lẫn nước ngoài) bị yêu cầu:

– “Thiết lập cơ chế xác thực thông tin khi người dùng đăng ký tài khoản số; cung cấp thông tin người dùng cho lực lượng chuyên trách… khi có yêu cầu bằng văn bản”;

– “Xóa bỏ thông tin, ngăn chặn việc chia sẻ thông tin… chậm nhất là 24 giờ kể từ thời điểm có yêu cầu của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng”;

– Ngoài ra còn phải “lưu vết liên quan để cung cấp cho lực lượng chuyên trách”; và tệ hại hơn: “Không cung cấp hoặc ngừng cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng internet và các dịch vụ gia tăng cho tổ chức, cá nhân… khi có yêu cầu” (Điều đó có nghĩa dù bạn không hề được cung cấp miễn phí dịch vụ truyền thông khi đăng ký sử dụng mạng nhưng bạn không những không thể đòi hỏi bất kỳ giá trị cộng thêm nào của dịch vụ mà còn có thể bị cắt bất cứ lúc nào)

“Cuộc sống mạng” của bạn thuộc quyền quyết định gần như tuyệt đối của công an (kinhtedothi)

Luật an ninh mạng Việt Nam thực chất gần như là phiên bản tiếng Việt của Luật an ninh mạng Trung Quốc (có thể dễ dàng so sánh hai luật, bằng cách tham khảo bộ luật Trung Quốc, với tên tiếng Anh “Management Regulations on Internet Forum and Community” hoặc tiếng Hoa “互联网论坛社区服务管理规定”). Điều này dễ hiểu vì sĩ quan an ninh mạng Việt Nam được đào tạo ở Trung Quốc và “công tác” an ninh mạng được hai nước thường xuyên chia sẻ. 
Cũng không loại trừ khả năng thiết bị kỹ thuật và hạ tầng an ninh mạng của Việt Nam được chính Trung Quốc thiết kế giúp. Hai nước cũng gần như luôn “vai kề vai” ở vị trí chót bảng về tự do internet do tổ chức Freedom House xếp hạng hàng năm. Thậm chí thời điểm áp dụng cũng chẳng cách xa nhau nhiều. Chỉ gần một năm sau khi Trung Quốc tung ra các quy định khắc nghiệt hơn trong khuôn khổ Luật an ninh mạng (vào ngày 25-8-2017; có hiệu lực 1-10-2017) thì Bộ Công an, Bộ Quốc phòng lẫn một cơ quan gọi là “Cơ yếu chính phủ” của Việt Nam cũng hối hả “thực tế hóa” Luật an ninh mạng bằng “lá phiếu” của Quốc hội bù nhìn vào ngày 12-6-2018.

Ngày 7-9-2017, Cơ quan quản lý không gian mạng Trung Quốc (“Quốc gia hỗ liên võng tin tức biện công thất”) đã yêu cầu các công ty mạng nội địa WeChat, QQ, Weibo, Zhihu, Inke, Yizhibo… phải cung cấp “thông tin chia sẻ” lẫn thông tin cá nhân người sử dụng. 
Với Việt Nam, mạng nội địa như Zalo chắc chắn sẽ tương tự và không loại trừ khả năng các công ty mạng nước ngoài cũng phải thực hiện. 
Chẳng phải tự nhiên Việt Nam yêu cầu các công ty như Google hoặc Facebook đặt máy chủ ở Việt Nam. Đó là một trong những cách “kiếm chuyện” để Google hoặc Facebook phải thỏa hiệp, như cách Google đầu hàng trước Trung Quốc để có thể tiếp tục khai thác thị trường này. “Bán linh hồn cho quỷ” là chuyện bắt đầu trở nên bình thường đối với các tập đoàn khổng lồ nói chung. Mark Zukerberg từng công khai vuốt ve Tập Cận Bình; và tháng 12-2017 tại Quảng Châu, Tim Cook nói rằng Apple “tôn trọng luật an ninh mạng của Trung Quốc và sẽ tuân thủ “luật chơi”.

Trở lại với Luật an ninh mạng Việt Nam. Việc tài khoản Google hoặc Facebook của bạn bị khóa theo yêu cầu công an có thể còn khó nhưng việc bạn có nguy cơ vĩnh viễn bị cô lập khỏi thế giới mạng (vì bị nhà mạng Việt Nam cắt hoặc từ chối không cho đăng ký dịch vụ nối mạng), một khi bạn lọt vào “sổ đen”, là điều hoàn toàn có khả năng xảy ra. 
Luật an ninh mạng không phải để bảo vệ mạng. 
Luật an ninh mạng là để bảo vệ chế độ. 
Luật an ninh mạng là để bịt miệng người dân, và 
Luật an ninh mạng được thiết kế để bảo vệ Luật đặc khu (nhằm ngăn cản các ý kiến chống đối những gì xảy ra xung quanh đề tài đặc khu, bây giờ cũng như trong tương lai).

Chẳng phải tự nhiên mà hai dự luật này được bấm nút gần như cùng thời điểm (Luật an ninh mạng ngày 12 và Luật đặc khu ngày 15-6-2018). Tất cả đã được tính từ trước và tính từ lâu. Có thể có sự tư vấn của Trung Quốc. Đây là một “quyết tâm” của Bộ Chính trị Đảng cộng sản Việt Nam. Đây là quyết tâm của Nguyễn Phú Trọng. 
Chưa bao giờ mà ý định đẩy Việt Nam vào quỹ đạo Trung Quốc rõ bằng lúc này. Hãy xem lại các tuyên bố chung giữa Việt Nam và Trung Quốc từ các chuyến công du Bắc Kinh của Nguyễn Phú Trọng. Những gì còn “mơ hồ” (đối với người dân) thật ra đã được ghi bằng giấy trắng mực đen. Đã có những cam kết giữa hai nước và bây giờ từng bước được thực hiện, đúng “quy trình”.

@ Trí Việt News

BỌN VIỆT GIAN BÁN NƯỚC !

BỌN VIỆT GIAN BÁN NƯỚC !

Xin giới thiệu cùng quý vị và các bạn bài viết của Nhạc sĩ Tuấn Khanh.

KHÔNG CÓ TRUNG QUỐC NÀO, CHỈ CÓ RÕ VIỆT GIAN.

Ngày 6-6-2018 quả là một ngày buồn của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch đầu tư Nguyễn Chí Dũng khi ông tuyên bố với báo Tuổi Trẻ về việc dư luận đang nhầm lẫn, vì không có một chữ nào nhắm đến Trung Quốc trong luật về đặc khu kinh tế Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc.

Thậm chí ông còn không giấu được giận dữ khi nói rằng đang có một âm mưu chia rẽ Việt Nam – Trung Quốc vào lúc này.

“Trong dự thảo Luật không có một chữ nào về Trung Quốc, chỉ có những người cố tình hiểu theo hướng đó và đẩy vấn đề lên, chia rẽ quan hệ ta với Trung Quốc”, lời của ông Dũng.

Cái cách thể hiện của ngài bộ trưởng, cũng gần với nội dung là giới dư luận viên, tuyên truyền viên cấp thấp được hướng dẫn, với ngụ ý rằng “đã đọc luật chưa mà phản đối?”.

Nhưng đây là thời khắc người dân Việt Nam đang đặt ngược câu hỏi với ông Dũng rằng, thật sự ông ta có đọc và biết những gì mình làm không?

Nhân dân không tầm thường như ông Dũng nghĩ. Văn bản Luật cho ba đơn vị – hành chính kinh tế đặc biệt được trình Quốc hội vào kỳ họp thứ 5-2017 đã nằm trên tay của rất nhiều người Việt Nam. Thậm chí trong buổi chiều ngày 6-6, ngồi sau một người chạy xe ôm đen sạm, tôi là người được anh ta diễn giải không dứt, sau khi mượn câu nói của Bộ trưởng Dũng để dò hỏi anh.

Và không khó để người ta nhận ra Bộ Kế hoạch Đầu tư đã ráo riết cho một chủ đích, bao gồm lấy đặc khu Thẩm Quyến làm điểm mộng cho cuộc viễn du lần này.

Họ đặc biệt dành cho Trung Quốc những quyền hạn tối ưu, nhưng tránh đi, chỉ gọi là: “Nước láng giềng có chung đường biên giới với Việt Nam tại tỉnh Quảng Ninh” (mục 4, điều 54).

Thậm chí trong nhiều mục khác, người dân Việt Nam còn thấy nhiều điều mới lạ ở các đặc khu này như được quyền sản xuất các thiết bị chiến tranh trên bộ, bao gồm chất nổ để hủy diệt, phá sóng thông tin. Ở mục kinh doanh, có cả phần cho phép mua bán các cổ vật và báu vật quốc gia.

Vân Đồn và Bắc Vân Phong là hai vị trí đặc biệt quan yếu về quân sự với Việt Nam. Đặc biệt với Bắc Vân Phong, đặc khu này là một gạch nối với Hoàng Sa, nơi quần đảo mà Trung Quốc đã cưỡng chiếm của Việt Nam vào năm 1974, và là bàn đạp để nhìn vào Khánh Hòa. Hoàng Sa giờ đây là một căn cứ quân sự khổng lồ của Bắc Kinh trên biển, nơi chịu trách nhiệm về vô số thảm nạn của ngư dân Việt Nam.

Nhân danh hoạt động cho đặc khu, tàu cá và các loại tàu giả trang khác của Trung Quốc trong tương lai có thể hợp pháp tràn vào các vùng biển Việt Nam. Ngư dân Việt vốn khốn cùng, sẽ còn khốn cùng hơn nữa.

Cách nói của ông Dũng trong ngày 6-6 khi bị báo chí đặt câu hỏi, nhanh chóng cho thấy nội bộ giới lãnh đạo, các nhóm cố vấn… của chính quyền đang có những khác biệt dữ dội.

Lo sợ cho dự án kinh tế này có thể có thể bị chựng lại hay yếu đi, Dũng đã không ngại khi nói rằng đang có một âm mưu chia rẽ Việt Nam và Trung Quốc.

Khi bật ra câu này, chắc là ông Nguyễn Chí Dũng không thể không nghĩ đến những người đang có những ý kiến khác biệt về đặc khu, như luật sư Trương Trọng Nghĩa, ông Trần Đình Thu, kinh tế gia Lê Đăng Doanh, bà Phạm Chi Lan, ông Vũ Thanh Tự Anh…

Những người đang nhắc rằng tiền không mua lại được tổ quốc, một khi đã rơi vào bẫy của quyền lực mềm, âm mưu bành trướng và di dân kinh tế từ Trung Quốc.

Người ta đang tự hỏi, trong việc nghiến răng bảo vệ cho mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc đó của ông Dũng, đã có bao giờ ông ta lên tiếng cho chuyện ba lần tổ chức khoan dầu trong lãnh hải, Việt Nam đều bị Trung Quốc đe dọa đến mức phải rút về, thậm chí ngậm đắng nuốt cay dàn xếp bồi thường cho công ty Repsol của Tây Ban Nha.

Những lần chở xác ngư dân, thương phế về ở biển miền Trung do tàu Trung Quốc đâm chìm, bắn giết, cướp, kể cả vì chất nổ thả trôi trên biển, có bao giờ ông Dũng lo cho mối quan hệ giữa nhân dân Việt Nam và ông rạn nứt vì sự im lặng thỏa hiệp với tội ác của Bắc Kinh?

Đã bao giờ ông Dũng tìm gặp những nông dân Việt Nam khóc đứng khóc ngồi, tuyệt vọng mưu sinh vì các chính sách nhập khẩu ưu đãi cho Trung Quốc, mở cửa cho thương lái hoành hành, biến Việt Nam thành con rối trong trò chơi của một nước giàu có và hiểm độc, Bộ Kế hoạch Đầu tư của Dũng có bao giờ một lần nghĩ đến mất mát của người dân Việt, hay chỉ giỏi mơ làm kế hoạch cho ngoại bang?

Sẽ chẳng bao giờ tìm thấy một chữ Trung Quốc nào được tìm thấy trong luật đầu tư kinh tế, cũng như trên báo chí hay lời cửa miệng các quan chức đã thối nát tận tim gan.

Vì đúng quy trình, tàu giết dân Việt sẽ là “tàu lạ”, “không rõ quốc tịch”. Người Trung Quốc thì được dịu dàng gọi là “nước ngoài” hay “ở sát đường biên giới”.

Chắc chắn là như vậy, sẽ không có chữ Trung Quốc nào được tìm thấy, nhưng ngược lại từ đó, luôn hiện rõ các bộ mặt Việt gian ô nhục!”

Nhạc sĩ Tuấn Khanh

Image may contain: 1 person, eyeglasses and closeup

NHỮNG NGƯỜI CS CÓ LƯƠNG TRI CẦN NHÌN NHẬN THẲNG THẮN, ĐỂ ĐCS CẦM QUYỀN LÀ KHÔNG THỂ.

Đỗ Ngà

Những bạn sinh viên ngồi ghế nhà trường được chính quyền chăm sóc tư tưởng rất kĩ. Những môn của Marx Lenin được nhồi vào đầu liên tục bằng một thời lượng vượt trội so với môn khác. Mà đứng trên bục giảng là những con người não phẳng, nên cứ thế chúng ủi phẳng não những bạn trẻ sinh viên.

Khi học xong, đa phần sinh viên chẳng có chút kiến thức gì, và trong đầu của họ chỉ có một suy nghĩ, rằng chúng ta đang tiến lên XHCN – một nấc thang lịch sử cao hơn TBCN. Những bộ não non nớt và suy nghĩ ngô nghê được những bộ não phẳng chứa đầy bả Marx Lenin là ủi tiếp cho thật phẳng. Và từ đó hình thành nên những trí thức chỉ biết hụp mặt vào cái máng lợn kiếm ăn và thả cửa cho CS vơ vét đất nước.

Học bao nhiêu năm về môn chính trị Marx Lenin mà sinh viên không biết đặt một câu hỏi đơn giản để phá vỡ thứ triết lí vớ vẩn đó. Một nhà nước của giai cấp công – nông thì giai cấp này được trao quyền gì? Giai cấp này có thực quyền không? Nhà nước của dân, do dân và vì dân thì dân đã được trao những quyền gì? Hãy xem sự bất lực của dân chúng khi chứng kiến thượng tầng chính trị bán đứng nhân dân thì thấy ngay dân có quyền hay không.

Một nhà nước trong sạch không thể cậy nhờ vào đạo đức của người cầm quyền. Vì đạo đức của con người sẽ không thể chống nổi một tập thể tha hóa. Khi cả bộ máy chính trị bao trùm trên một quốc gia bị tha hóa thì diệt tham nhũng là phải loại bỏ chế độ. Trò đốt lò của anh quyền lực lớn như là trò khoan lỗ vào mặt nước mà thôi, khi rút khoan lên nước sẽ lấp lại như cũ.

Một nhà nước trong sạch cần phải có quyền lực nhân dân. Với 93 triệu đôi mắt và có quyền lực trong tay, nhân dân như bộ lọc tẩy sạch ô uế bộ máy nhà nước. Ở Úc, ông thủ hiến bang New South Wales từ chức vì món quà trị giá 3.000 đô Úc, nhưng ở Việt Nam, làm thất thoát hàng ngàn tỷ chỉ rút kinh nghiệm, cướp đất đẩy hàng vạn dân Thủ Thiêm vào cảnh khốn cùng cũng ung dung hưởng lạc. Đấy là sự khác nhau giữa nơi có quyền lực nhân dân và nơi quyền lực nhân dân bị tước bỏ.

Vậy quyền lực nhân dân là gì? Đó là quyền ứng cử, quyền bầu cử tự do, quyền bỏ phiếu trưng cầu dân ý, quyền biểu tình, quyền lập đảng lập hội.

Để có quyền ứng cử, phải có đa đảng, vì khi độc đảng tất cả ứng cử viên là đảng viên ĐCS và những ứng cử viên ngoài đảng có chăng cũng chỉ là để làm màu cho có vẻ dân chủ nhằm lừa gạt toàn dân.

Quyền bầu cử tự do nó buộc người ứng cử đáp ứng nguyện vọng dân chứ không phải đáp ứng nguyện vọng đảng, điều đó dẫn tới xóa đi Quốc hội thuần chủng 1 phe kiểu quốc hội CS. Điều đó sẽ dẫn tới quốc hội phải có đủ 2 viện thượng và hạ, đồng thời phải có đa thành phần đảng phái để đại diện cho nhân dân đúng nghĩa. Và để có bầu cử tự do phải có cơ quan kiểm phiếu độc lập để loại trừ thiên vị. Chỉ có nhà nước tam quyền phân lập mới có những cơ quan độc lập với đảng phái.

Quyền biểu tình là quyền đòi hỏi chính phủ phải hành động quyền lợi vì dân. Khi dân đã biểu tình, chính phủ phải nghe lời dân thì đất nước mới an toàn với ngoại bang, và sẽ ngăn chặn kịp thời hành động sai lầm của chính phủ. Theo nguyên tắc, Hiến pháp phải trên luật pháp. Khi Hiến pháp quy định biểu tình thì luật pháp không thể xâm phạm quyền này. Thế nhưng chính quyền CS đã chà đạp lên hiến pháp đánh đập, bắt nhốt dân biểu tình thay vì bảo vệ họ. Đã quy định quyền bằng Hiến pháp – một loại luật cao nhất mà khi dân sử dụng quyền hiến định thì chính quyền lại vu là “lợi dụng”. Sống theo Hiến pháp mà còn vu là “lợi dụng” thì những bạn công an có lương tri thấy chính quyền của bạn đúng hay dân đúng?

Quyền được bỏ phiếu trưng cầu dân ý để loại bỏ những hành động bán nước trắng trợn. Như dự luật đặc khu hôm nay đây. Năm ngoái Bộ Chính Trị đã quyết bằng chữ ký của Đinh Thế Huynh và hôm nay lại đem ra cho Quốc hội diễn trò biểu quyết. Không có quyền lực nhân dân thì Bộ Chính Trị và Quốc hội đang tung hứng thủ tục bán nước trước mắt mà nhân dân hoàn toàn bất lực.

Các bạn công an và quân đội, hãy nhìn cho kỹ nhân dân đi, họ có quyền gì để sống xứng đáng một kiếp người? Thật sự, lương của các bạn là từ tiền thuế của dân, đảng thu cho những đảng viên cao cấp bỏ túi chán chê rồi họ phát lại cho bạn những đồng tiền còm cõi để xúi bạn quay họng súng vào dân bảo vệ họ. Nếu bạn có lương tri thì các bạn phải biết căm phẫn về điều này các bạn ạ. Đừng phân chiến tuyến bên ta bên địch với nhân dân. Làm thế là vô cùng gian ác. Tội dân lắm.

Điều nữa tôi muốn nói, đó là lật CS chỉ là lật những kẻ bán nước hại dân trên thượng tầng. Chính quyền hậu CS cũng cần có quân đội và công an cho đất nước. Lúc đó, đất nước cần các bạn vì chỉ có các bạn mới có nghiệp vụ cho một nhà nước mới – nhà nước vì dân. Hãy sống sao để còn đường sống cho Việt Nam hậu CS, đừng ác quá để dân phẫn nộ thì không ai cứu nổi. Sống thế là không có hậu, mà cái hậu là cuộc sống con cái của bạn và có khi cái hậu nó vận vào ngay cuộc đời bạn. Nên biết suy nghĩ đừng là thứ công cụ vô thức. Trân trọng!

Đảng làm luật bán nước

Đảng làm luật bán nước

Ngô Nhân Dụng

Ngày 15 tháng Sáu, Đảng Cộng sản sẽ cho biểu quyết Luật Đặc khu, hàng ngàn người thuộc hàng trăm tổ chức đã lên tiếng phản đối. Vì cả nước đang nghi ngờ dự luật này sẽ mở đường cho Cộng sản Trung Quốc có ngày sẽ chiếm nước ta.

Dự luật này sẽ lập ba đặc khu kinh tế tại ba vùng biển: Vân Đồn (Quảng Ninh), Bắc Vân Phong (Khánh Hòa), và Phú Quốc (Kiên Giang); với quy chế hành chính đặc biệt ưu đãi giới đầu tư. Mối lo chính của giới trí thức nước ta là các đặc khu này sẽ mở cửa cho các công ty Trung Cộng lợi dụng các ưu quyền để xâm nhập và bắt rễ, để có ngày nước Việt Nam sẽ biến thành như Tân Cương, Tây Tạng.

Nhà phân tích Nguyễn Quang Dy ở trong nước, nhận định: Trong khi Trung Quốc ráo riết quân sự hóa và kiểm soát Biển Đông, … chắc họ sẽ tăng cường bành trướng thế lực để chiếm các vị trí hiểm yếu trên đất liền. Đặc khu kinh tế là một miếng mồi ngon mà họ thèm muốn…

Ông dẫn ý kiến của chuyên gia kinh tế Vũ Quang Việt, ở Mỹ, nhận xét rằng các quy định trong dự luật về đặc khu chủ yếu nhằm vào thị trường địa ốc (property) và đánh bạc (casino) chứ không nhằm thu hút đầu tư công nghệ cao. Casino và nghề mại dâm sẽ phát triển “vì đây là nơi duy nhất (tại Việt Nam) các hoạt động này được phép hành nghề tự do”; sẽ gia tăng tệ nạn xã hội và tội phạm.

Trong khi đó, ông Vũ Quang Việt nhấn mạnh, “cái mà Việt Nam cần là công nghệ cao và giáo dục để tăng năng suất lao động, phát triển công nghiệp và kinh tế trí thức, chứ không phải là phát triển địa ốc và casino”. Ông nhắc lại rằng năng suất lao động của Việt Nam vào loại thấp nhất thế giới (thấp hơn Singapore 15 lần).

Một điều đáng lo nhất là dự luật này mở đường cho bọn tham quan bán nước công khai. Chức “chủ tịch đặc khu” được trao quyền hành như những vua con để tiếp tay tài phiệt nước ngoài; như Võ Kim Cự đã làm tay sai cho Formosa ở Vũng Áng; với quyền cho nhà đầu tư nước ngoài thuê đất 70 năm, 99 năm nếu Thủ tướng đồng ý. Ngay tên gọi chức vụ này “Trưởng khu hành chính” cũng rập theo chức “hành chánh trưởng quan” mà Trung Cộng đặt cho người đứng đầu Hồng Kông hiện nay. Thế kỷ 19, nhà Thanh đã phải nhượng Hương Cảng cho người Anh với thời hạn 99 năm, sau khi bại trận mấy lần. Bây giờ Cộng sản Việt Nam tự nguyện hiến dâng.

Những ưu đãi giành cho tài phiệt ngoại quốc có thể biến các đặc khu thành lãnh địa của họ. Họ chỉ cần đầu tư 110 tỷ đồng ($5 triệu đô la) sẽ được cấp thẻ tạm trú 10 năm, được miễn thuế thu nhập trong vòng 5 năm và giảm tiếp 50% sau đó. Họ được miễn thuế thuê đất 30 năm, có thể bán lại tài sản và tài sản được thừa kế. Họ được quyền thuê người nước ngoài vào làm việc 180 ngày trong một năm, không cần giấy phép lao động.

Những ưu đãi này sẽ dẫn đến một làn sóng di dân mới, đặc biệt là giới lao động không có nghề chuyên môn từ Trung Quốc. Các xí nghiệp Trung Cộng đã đưa công nhân của họ tràn ngập khắp nước ta, lập các “thành phố Tàu” từ Formosa Hà Tĩnh tới các mỏ bauxite ở Tây Nguyên.

Ông Nguyễn Quang Dy nhắc lại: “trước đây hầu hết các dự án lớn tại Việt Nam rơi vào tay các tập đoàn Trung Quốc, … Ngoài Vũng Áng (đã nằm trong tay Trung Quốc), Vân Phong và Cửa Việt là hai vị trí chiến lược hiểm yếu đang bị Trung Quốc nhòm ngó. Từ Bắc Trung bộ đến Nam Trung bộ, nhiều vị trí phòng thủ chiến lược đã và đang được giao cho doanh nghiệp làm dự án mà không tính đến yếu tố an ninh quốc gia. Tại Đà Nẵng và Nha Trang, nhiều vị trí phòng thủ chiến lược dọc bờ biển đã bị các doanh nghiệp Trung Quốc chiếm”. Và lo lắng: “không có lý gì các đặc khu kinh tế đó lại không rơi vào tay họ và biến thành các tô giới của Trung Quốc’.” Ông viết: “Ninh Bình không phải là đặc khu kinh tế, nhưng đã là ‘vương quốc’ riêng”.

Khi có tranh tụng giữa người nước ngoài và người Việt, Luật Đặc khu còn cho phép các bên được lựa chọn toà án nước ngoài xét xử. Điều kiện này không khác gì những đòi hỏi tài phán mà các đế quốc Tây phương đã bắt triều đình nhà Thanh bên Tàu và nhà Nguyễn ở nước ta phải theo trong thế kỷ 19. Khi đó, các đế quốc đã dí súng vào đầu đám vua quan để được quyền “ngoại tài phán” trong các tô giới. Bây giờ Cộng sản Việt Nam tự nguyện hiến dâng.

Nhà văn Hoàng Quốc Hải, Vũng Tầu lo rằng: “…chắc chắn ba Đặc khu ấy sẽ là ba thành phố Trung Hoa khổng lồ. Và chỉ trong vòng 30 năm vừa tăng trưởng dân số… và di dân, tối thiểu mỗi nơi ít nhất có từ 7 triệu đến 10 triệu người. Vài ba chục triệu người Trung Hoa nối đời sinh ra trên mảnh đất 99 năm ấy…” Ông báo động: “Thử xem dân tộc Uyghur ở Trung Á bị… nhập vào lãnh thổ Trung Hoa từ cuối thế kỉ 19… Năm 1949, tỉ lệ người Hán trên vùng lãnh thổ này chỉ chiếm 4%. Tới năm 2000 người Hán đã chiếm tỉ trọng 46%. Vài năm gần đây người Hán đã áp đảo với tỉ lệ 60/40.

Nhưng trên đây chỉ là những mối lo xa nếu chúng ta sống trong thời bình. Mối lo gần hơn, như ông Nguyễn Quang Dy nêu lên là, “Nếu xung đột tại Biển Đông xảy ra thì ba đặc khu Vân Đồn, Vân Phong, và Phú Quốc có ý nghĩa chiến lược hiểm yếu,… không chỉ đối với Việt Nam mà còn cả các nước ASEAN”. Bởi vì, “Nếu ba vị trí chiến lược đó bị đối phương (Trung Quốc) chiếm thì coi như hết cờ (và “xong phim”).

Ông giải thích: “Vân Đồn… án ngữ cửa ngõ phía Đông Bắc, để ngăn chặn thủy quân Trung Quốc xâm nhập bằng đường biển, như thời Ngô Quyền chống quân Nam Hán (938), thời Lý Thương Kiệt chống quân Tống (1075- 1077), thời Trần Hưng Đạo chống quân Nguyên Mông (1287-1288). Nếu Vân Đồn có vị trí chiến lược… nhìn ra Vịnh Bắc Bộ, thì Phú Quốc có vị trí chiến lược án ngữ cửa ngõ phía cực Nam nhìn ra Ấn Độ Dương, trong khi Vân Phong có vị trí chiến lược án ngữ cửa ngõ Miền Trung nhìn ra Biển Đông”.

Nhà báo Thiên Điểu mô tả: “Vân Đồn rõ ràng chỉ phục vụ cho hàng hóa Trung Quốc ra Biển Đông. Nghĩa là Việt Nam chỉ thu được tiền ‘cho thuê bến bãi’ là chính; nhưng sẽ không dễ cạnh tranh với cảng Phòng Thành; Thẩm Quyến…” ở bên Tàu. Trong khi đó, “Phú Quốc có vị trí chiến lược án ngữ cửa ngõ phía cực Nam nhìn ra Ấn Độ Dương,… bất cứ ai cũng hiểu được giá trị của Phú Quốc nếu các tuyến hàng hải (nối vùng Đông Nam Á tới Australia, Nhật Bản, Trung Đông, châu Âu, châu Phi) được hình thành cho những tàu tải trọng lớn của thế giới đi qua.

Ông Nguyễn Quang Dy nhắc nhở: “…người ta đã chóng quên bài học xấu về các dự án lớn như ‘đặc khu kinh tế gang thép Vũng Áng’, khai thác bauxite Tân Rai và Nhân Cơ; cũng như kinh nghiệm xấu tại Chu Lai (Quảng Nam, 2003), Dung Quất (Quảng Ngãi, 2005), Nhơn Hội (Bình Định, 2005), Chân Mây (Thừa Thiên, 2006), Vân Phong (Khánh Hòa, 2006), Phú Yên (2008).

Ông đặt câu hỏi Tại sao các nơi đó thất bại? Và trả lời: “không cải tổ thể chế để kiểm soát quyền lực và tham nhũng, thì các mô hình phát triển tương tự sẽ lặp lại bài học ‘lợi bất cập hại”.

Nhận xét này vạch ra tai họa của nước Việt Nam hiện nay: Một chế độ độc tài đảng trị, ra lệnh cho quốc hội bù nhìn làm ra những đạo luật bán nước. Không ai ngoài đảng được quyền tự do phát biểu ý kiến, không ai được tự do lập hội, lập đảng để tranh đấu bảo vệ tổ quốc.

Nhật báo Người Việt hoan nghênh và ủng hộ bản ý kiến của giới trí thức Việt Nam trong và ngoài nước ký ngày 30 tháng 5 năm 2018, yêu cầu các đại biểu: “KHÔNG biểu quyết thuận để thông qua dự luật Đơn vị Hành chính-Kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc”. Và “KHÔNG tiếp tay cho đám tư bản đứng sau đề án này”.

Tuy nhiên, chúng ta không hy vọng Việt Cộng sẽ chịu lắng nghe những lời nói phải. Bà Nguyễn Thị Kim Ngân đã thú nhận: “Bộ Chính trị đã chỉ đạo, (quốc hội) phải bàn để ra luật”. Biết hậu quả của dự luật này, phải nói rằng họ sẽ cho ra một đạo luật bán nước.

Nhà văn Nhất Chi Mai, là sinh viên chuẩn bị ra trường của Đại học Y Dược ở Việt Nam, đã chỉ mặt Đảng Cộng sản để hỏi: “Vì sao tôi cho rằng nguy cơ mất nước quá rõ ràng? Năm 1958 trong Công hàm Phạm Văn Đồng các vị đã giao chủ quyền Hoàng Sa cho Trung Cộng. Năm 1988 Lê Đức Anh ra lệnh ngưng nổ súng cho Trung Cộng chiếm Gạc Ma ở Trường Sa, 64 chiến sĩ Việt Nam làm bia cho bọn Tàu bắn. Năm 1979 Trung Cộng kéo quân xuống… đòi dạy cho tập đoàn Lê Duẩn một bài học, 6 vạn quân và dân Việt Nam tử thương. (Sau khi hệ thống xã hội chủ nghĩa tan rã ở châu Âu) các vị đã nhận Trung Quốc làm cha đỡ đầu trong Hội nghị Thành Đô. Năm 1999 các vị lại cắt ẢI NAM QUAN, THÁC BẢN GIỐC cho Trung Cộng.

Dự Luật Đặc khu là một bước nữa trên con đường bán nước của Đảng Cộng sản.

N.N.D.

Nguồn: https://www.nguoi-viet.com/binh-luan/mot-du-luat-ban-nuoc/