THÁI ĐỘ CỦA TÔI VỚI ĐẠO LUẬT BẨN

Đỗ Ngà

THÁI ĐỘ CỦA TÔI VỚI ĐẠO LUẬT BẨN

Sự hiểu biết chính trị đi kèm với sức mạnh đòi hỏi quyền lợi của người dân. Thời trước năm 2000 chẳng thấy biểu tình, nhưng càng về sau biểu tình càng dễ xảy ra.

Phải nói tri thức chính trị đến với nhân dân bởi 2 con đường chính. Thứ nhất là giáo dục khai phóng và thứ nhì là từ internet. Nếu không CS thì con đường giáo dục khai phóng đã tạo cho con người tiếp cận với nhiều trường phái triết học và tìm hiểu được bản chất của nhiều nền chính trị khác nhau. Từ đó, nhân dân mới có được ý thức chính trị.

Với Việt Nam, tìm kiếm tri thức chính trị từ ngả giáo dục đã bị bịt kín vì sự nhúng tay của chính quyền CS vào trong giáo dục quá sâu. Đến hôm nay, lớp lớp giảng viên, giáo viên từ giáo dục đại học trở xuống còn dốt nát về tri thức chính trị rất nhiều. Với Việt Nam, con đường tìm kiếm tri thức là con đường chui như là học lén, đọc lén trên Facebook và các nguồn khác trên internet. Giống như những giọt cà phê nhỏ giọt, sự khai trí với người dân vô cùng cực nhọc và kết quả chậm chạp vì mọi con đường bị CS tìm cách chặn lại.

Trước đây trăm năm, cụ Phan Chu Trinh đã đưa ra con đường trí tuệ Khai Dân Trí – Chấn Dân Khí – Hậu Dân Sinh trong thời đại mà đa phần dân chúng không biết chữ thì quả là con đường không hợp thời. Dân dốt chỉ cần bảo họ giết địa chủ để cướp của thì họ sẽ làm vì lợi ích thiết thực với họ, vì thế họ chẳng thể hiểu đến dự án chính trị ở tầm cao như vậy. Đến ông Hồ Chí Minh còn không hiểu nổi chính sách này nói chi dân không biết chữ. Và hiểu không tới nên chê cụ Phan là “cải lương”. Ngày đó ông Hồ Chí Minh thấy đường hướng khai dân trí là không thể, vì dân trí cao họ sẽ lật tẩy ông ta ngay. Như ngày nay vậy, người ta đã lật tẩy bản chất Hồ Chí Minh và giải ảo về nhân vật này rất rõ ràng. Chỉ còn kẻ dốt nát mới sùng bái nhân vật này.

Con đường dùng súng đạn chém giết và triệt tiêu đối lập để cướp lấy quyền lực nó chỉ tồn tại cùng với xã hội ngu dân. Vì đơn giản, khi có trí tuệ con người ta kinh tởm tội ác. Cho nên CS phải nhồi sọ bằng giáo dục tuyên truyền để duy trì ngu dân là vậy.

Khi mở cửa kinh tế thì công nghệ thông tin cũng vào. Internet trở thành tiện lợi cho những giao dịch kinh tế thì nó cũng mang tri thức chính trị vào khai sáng cho người dân đang tăm tối. Nếu cấm internet thì chẳng ai làm ăn với CS, nhưng cho internet thì dân được khai sáng là mối nguy cho CS. Điều này CS đã thấy từ đầu chứ không phải đến hôm nay họ mới nhận ra. Nhưng từ lúc mở cửa, họ vẫn ỷ y nòng súng sẽ giải quyết vấn đề. Và họ chấp nhận cho internet vào nhưng chặn những luồng tư tưởng chính trị bằng tường lửa và đe doạ.

Ngày nay, dân trí khá hơn nên CS nhận thấy mối nguy cho họ là quá lớn. Thực chất họ cho rằng ý thức chính trị cao là mối nguy là bởi vì họ vẫn giữ nguyên quan điểm cũ. Thực chất, đứng trước một dòng nước bạn có 2 lựa chọn, một là chống nó, hai là bạn xuôi theo nó. Vì não trạng không mở ra được nên CS chọn cách chống lại xu thế của thời đại.

Với người như tôi luôn ủng hộ sự khai sáng tư tưởng. Tôi tuyên bố, CS có đe dọa cỡ nào tôi cũng viết. Còn internet là tôi còn chơi tới cùng với lệnh cấm này. Và mong rằng, những người đang có xu hướng ủng hộ dân chủ cũng theo tới cùng. Đất nước này không phải là của CS mà là của chúng ta. Là người dân, tôi muốn nói cho đến khi người dân ý thức vai trò làm chủ của mình mà dám đòi hỏi quyền lợi.

Những Gì Đáng Sợ Hơn Cái Chết?

Image may contain: text
Image may contain: one or more people, people sitting, shoes and outdoor

Van Pham

Nhân đọc tin hàng trăm người chết tại một thôn Phước Thiện, Quảng Ngãi với 90% do bị ung thư. Xin gởi lại quí bạn đọc bài viết sau đây:

****************

Những Gì Đáng Sợ Hơn Cái Chết?

“Chết diễm phúc phải là chết già, trên giường, và có người chung quanh khóc ầm ĩ”.

Ít nhất đó là hình ảnh hầu hết người Việt chúng ta được dậy từ thuở nhỏ. Hơn thế nữa, chúng ta còn nghĩ hình ảnh “chết lý tưởng”, “chết êm ả” đó cũng là ước muốn chung của loài người. Chí ít cũng bao gồm mọi người thuộc văn hóa Đông phương.

Nhưng thật thế không?

Có ngay thí dụ: Một trong những điều giới võ sĩ đạo Nhật sợ nhất là phải chết già, chết trên giường. Họ tha thiết cầu phật khấn thần để đừng phải chết như vậy. Cảnh một samurai lưng còng, chân tay run rẩy, không cử động được theo ý muốn, ngay cả đi đứng cũng phải cậy dựa vào người khác là cơn ác mộng đối với họ. Rõ ràng viễn cảnh trở nên “vô dụng” đối với họ đáng lo hơn cái chết.

Và có thể nói hầu hết chiến binh phương Đông, từ Mông Cổ đến Trung Hoa, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam, đều khoái được “da ngựa bọc thây” hơn nằm giường.

Sang đến văn hóa phương Tây thì người ta lại càng không thích để lại hình ảnh chết già. Người càng có học, có tài, có tiếng càng muốn cả người thân lẫn công chúng chỉ nhớ tới thời điểm cực thịnh mà họ đẹp nhất, thành công nhất, quyền thế nhất, hay sáng chói nhất về trí tuệ. Rõ ràng họ quan tâm đến di sản họ để lại hơn cái chết rất nhiều.

Do đó, quan điểm ‘chết già là sướng’ chẳng đáng được điểm cao đến thế đâu. Và ngược lại ‘chết lúc chưa già’ cũng chưa chắc đáng sợ như ta vẫn nghĩ. Còn lắm thứ đáng sợ hơn cái chết nhiều.

Nhiều cán bộ lớn tuổi tâm sự điều mà họ sợ nhất vào cuối cuộc đời là phải nhìn lại những gì họ đã làm hay không làm trong những năm dài đã qua. Từ đó, họ sợ những nạn nhân đang chờ họ ở thế giới bên kia hơn sợ cái chết, vì chết chỉ là ngưỡng cửa bước qua trong khoảng khắc. Với thời đại Internet, chúng ta có thể thấy được khá nhiều lãnh đạo đảng đi qua giai đoạn cuối đời như vậy, kể cả những hung thần một thời như Tố Hữu, Lê Đức Anh, Lê Khả Phiêu, …

Cũng có lãnh đạo sợ phải đối diện những người bạn đang chờ họ bên kia thế giới hơn cả cái chết. Đó là những đồng đội mà họ từng phản bội hay bỏ rơi để giữ an toàn cho bản thân, kể cả những người đứng lên theo lời kêu gọi của họ. Chúng ta có thể thấy loại ân hận đó ở những ông Võ Văn Kiệt, Võ Nguyên Giáp, …

Và cũng có những lãnh đạo sợ phải thừa nhận mình đã sống qua cả một cuộc đời vô ích, vô nghĩa, vô vị. Vì quá lo an toàn cho bản thân mà chẳng để lại được gì, chẳng hoàn thành được gì. Mà cái chết, tức lằn ranh sau cùng của an toàn, vẫn đến, chẳng né tránh được. Hơn thế nữa, họ phải thừa nhận chính họ là một phần của cỗ máy đem lại điêu linh cho biết bao người khác. Chúng ta có thể nhận ra loại tâm tư này ở những ông Phạm Văn Đồng, Trần Quang Cơ, …

Trong tình trạng thê thảm của dân khí hiện nay, chúng ta khó còn cảm được lời dạy của cha ông: Chết vinh hơn sống nhục. Nhưng 5 chữ đó là kết tinh kinh nghiệm sống của biết bao cuộc đời. Một trong những lý do chết vinh hơn sống nhục là vì “sống nhục” chỉ được một thời gian ngắn rồi vẫn dẫn đến cái chết, mà luôn là “chết nhục”. Mọi hối tiếc vào lúc sắp “chết nhục” đều đã quá trễ.

Qui luật đó ứng dụng cho cả nhân loại chứ không riêng gì người Việt. Gần 80 năm trước, hàng triệu người Do Thái khi gần chết trong trại tập trung của Đức Quốc Xã mới quặn lòng hối tiếc đã không tham gia kháng chiến vì sợ chết; hối tiếc đã không mang thân ra hứng đạn cản đường cho vợ con chạy trốn vì sợ chết; hối tiếc đã riu ríu kéo cả nhà lên xe vào trại tập trung vì sợ chết, … để rồi giờ đây vẫn chết, chết riêng từng người, chết từng phần cơ thể vì kiệt lực, và chết với nhận thức từng người trong gia đình mình ở đâu đó cũng đang chết dần ở mức dưới hàng súc vật như mình. Đối với họ cái đau của hối tiếc lớn hơn cái đau của sự chết.

Ngày nay, tại nước ta, cả dân tộc đang bị đẩy vào loại chọn lựa đó. Gần nhất là những bà con tại 4 tỉnh miền Trung đang sống dở chết dở vì thảm họa môi trường do Formosa gây ra. Nhiều người đang phân vân: đứng lên đấu tranh đòi tẩy rửa môi trường bây giờ có thể bị trấn áp nhưng dẫu có chết đi nữa thì vẫn hơn cảnh ngồi nhìn từng người trong gia đình nhiễm ung thư, đau đớn nhiều năm tháng, rồi lần lượt ra đi, kể cả bản thân mình. Cái đau của hối tiếc sẽ lớn hơn nhiều cái đau của sự chết. Còn nếu đứng lên đấu tranh giành lại môi sinh bây giờ, gia đình mình sẽ sống.

Dĩ nhiên câu hỏi lương tâm này cũng được đặt ra cho từng người chúng ta chứ chẳng riêng gì bà con 4 tỉnh miền Trung. Chất độc nay không chỉ có trong cá mà trong hầu hết mọi loại thực phẩm và không từ một ai trên cả nước. Liệu chúng ta có dám chấp nhận để đứng lên mạnh mẽ đòi nhà cầm quyền phải đóng ngay các cánh cửa dẫn chất độc vào Việt Nam? hay ngồi chờ ngày ung thư đến đón từng người trong gia đình ra đi?

Và còn nhiều quốc nạn khác nữa, đặc biệt là số phận của đất nước sau thời điểm 2020. Liệu chúng ta có dám chấp nhận để đứng lên bảo vệ chủ quyền đất nước ngay bây giờ, bất kể những kẻ cứ nhất định ôm chân quân xâm lược? hay ngồi chờ ngày “chết nhục” dưới chân chủ mới như dân tộc Tây Tạng? Đến lúc đó có muốn chọn lại cũng đã quá muộn.
oOo

Chẳng ai muốn tìm lấy cái chết nhưng nghĩ cho cùng chết có phải là chuyện khủng khiếp nhất chưa?

BÀI HỌC LỊCH SỬ VÀ SỰ NGUY HIỂM CỦA LỐI SỐNG “MẶC KỆ NÓ”

Đỗ Ngà

BÀI HỌC LỊCH SỬ VÀ SỰ NGUY HIỂM CỦA LỐI SỐNG “MẶC KỆ NÓ”

Lịch sử Việt Nam kéo dài nhiều ngàn năm là lịch sử chống chọi với thế lực Phương Bắc. Song song với những cuộc chiến chống đỡ kẻ thù Phương Bắc thì sự đánh chiếm và xâm lấn với láng giềng Phương Nam – Champa cũng xảy ra, nhưng lịch sử ở mảng này không được đầy đủ như lịch sử Việt- Hán.

Theo dòng lịch sử, thời Bắc thuộc trước năm 938, nước Việt ngày ấy bị teo tóp nhỏ xíu nằm lọt giữa nước Tàu phía Bắc và nước Đại Lý phía Tây Bắc, trong khi đó thời kì độc lập ngắn ngủi – thời nhà nước Vạn Xuân 544-602, biên giới phía bắc của nhà nước Vạn Xuân bao gồm vùng Quảng Tây – Trung Quốc.

Như vậy, sau ngàn năm Bắc thuộc cha ông ta giành lại một phần lãnh thổ cũ chứ không phải giành lại hoàn toàn. Miếng ăn đã vào mồm con thú dữ, thì chỉ có thể giành lại bao nhiêu hay bấy nhiêu mà thôi. Đấy cũng là kì tích của cha ông ta thời kì đầu độc lập. Rất nhiều quốc gia bị khai tử khi rơi vào bàn tay Tàu Đại Hán, trong đó có Đại Kim của người Mãn Châu đã từng cai trị Trung Quốc.

Từ khi độc lập 938, rồi sang thời nhà Lý thì Việt Nam mở rộng dần bờ cõi theo hướng Tây Bắc qua nhiều lần giao chiến với nước Đại Lý (chú ý triều đại nhà Lý của Đại Việt khác với nước Đại Lý thuộc tỉnh Vân Nam ngày nay của Trung Quốc). Nước Đại Việt từ đó mở mang bờ cõi. Trong thời kì độc lập có một giai đoạn Bắc thuộc ngắn ngủi 20 năm (1407-1427) dưới ách cai trị của quân Minh. Lúc đó, một số vùng đất mà nhà Lý và nhà Trần đã chiếm của Champa để sáp nhập vào Đại Việt đã bị Champa chiếm lại.

Và sau đó đến thời nhà hậu Lê, rồi sau này là thời kì Trịnh Nguyễn phân tranh. Tuy đó là thời kì nội chiến dai dẳng, nhưng chúa Nguyễn đã có công mở rộng lãnh thổ Đại Việt đến mũi Cà Mau như hôm nay. Trong đó chúa Nguyễn đã thôn tính hoàn toàn Champa và chiếm một vùng rộng lớn nước Chân Lạp của người Kmer. Đến thời nhà Nguyễn, Việt Nam bị Pháp thuộc trăm năm.

Trong suốt dòng lịch sử, ta cần phân biệt Bắc Thuộc và Pháp thuộc. Bắc thuộc đi kèm 2 yếu tố, đó là dân tộc mất tự chủ và lãnh thổ bị cắt xén. Trong khi đó, Pháp thuộc chỉ mất tự chủ và lãnh thổ không mất một tấc đất nào. Đây là điều cảnh báo cho con đường ôm chân Tàu.

Việt Nam như một miếng mồi, cứ rơi vào miệng Tàu rồi cha ông ta lại vất vả rứt ra để giành lại 1 phần và bị Tàu nuốt 1 phần. Rồi ông cha ta phần giữ độc lập phần mở mang bờ cõi về phương Nam để có được Việt Nam như hiện nay. Đây là công lao to lớn vừa xây dựng và giữ nước.

Vào thời CS, dân tộc Việt Nam lại bị CS dắt mũi đẩy vào rọ Tàu. Và liên tục, thành quả ngàn năm mở rộng bờ cõi của cha ông đã bị Trung Cộng gặm dần. Một con mồi nếu bị thú dữ ngoạm, nó sẽ thấy đau và cố giật phần bị ngoạm ra khỏi miệng con mãnh thú. Dù rách thịt nhưng khi giật ra bị thương mà sống sót, còn hơn sợ đau mà chết.

Ngày nay, CS đã tiêm thuốc tê vào dân tộc Việt bằng hệ thống giáo dục nhồi sọ và tuyên truyền mị dân. Để chi? Để con thú dữ ngoạm vào chỗ nào thì dân tộc này không hề biết đau mà phản kháng. Tiêm thuốc tê để lóc thịt con mồi một cách êm dịu, đó là sự phối hợp giữa Việt Cộng và Trung Cộng. Lịch sử ngàn năm dựng nước và giữ nước có thể sẽ bị tiêu tan ngay trong thế kỷ 21 này. Thức tỉnh hay không nó là bài toán tồn tại của một dân tộc. Cạnh Tàu mà sống mặc kệ nó là vô cùng nguy hiểm.

Những chuyện thần thoại của những tên “đầy tớ” ở thiên đường xã nghĩa Việt Nam thật ly kỳ

Nguyễn Sỹ Kỷ (Phó Ban Nội chính Tỉnh ủy Đắk Lắk) cho biết thời trẻ hắn chạy xe ôm thâu đêm để tích cóp tiền xây căn biệt thự hai tầng!?

Trẩn văn Truyền tổng thanh ta CP cộng sản VN đã Làm thối móng tay và bạn bè bà con góp cho mỗi người một cục đá để xây những tòa biệt thự khủng, nguy nga tráng lệ…rộng hàng ngàn m2.

Phạm sỹ Quý GĐ sở tài & môi Yên Bái bán chổi đót, buôn lá chít, nuôi heo chăn bò …kiếm tiền xây biệt phủ như thiên đường …Những chuyện thần thoại của những tên “đầy tớ” ở thiên đường xã nghĩa Việt Nam thật ly kỳ! Đúng là đất nước “HẠNH PHÚC HẠNG NHÌ THẾ GIỚI”.

Đầy tớ mà như thế thì “CHỦ” như thế nào? Chắc ai cũng biết! Với cái đà này thì đội ngũ xe ôm, buôn chổi ngoài chợ cùng đám trẻ trâu chăn trâu, chăn bò… mấy chốc sẽ ngự trong những cung điện thật nguy nga. Thiết nghĩ học hành mười mấy hai mươi năm làm chi? Mở trường làm gì cho tốn kém? Để dành tiền xây tượng đài cho cán bộ đảng viên khỏi tâm tư.

Con em thứ dân học xong ra thất nghiệp, cầm đơn chạy đi xin việc như hành khất nếu không cầm cố nhà cửa để có tiền đút lót thì chỉ có con đường về quê chăn vịt, chăn trâu, chạy xe ôm mà thôi. Nhưng nào ngờ từ những nghề này mà có ối người xuất thân là đầy tớ là ở đợ đã xây biệt phủ, đi xe siêu sang…

rõ là “cái học ngày nay đã hỏng rồi!
Mười người đi học chín người thôi…” chăn bò, ở đợ một bước sẽ lên hương…

Thiên Đức

“Sao bông phượng nở trong màu huyết,”

Suy Tư Chúa nhật thứ 13 thường niên năm B 01/7/2018

(Mc 5: 21-43)

 Đức Giêsu xuống thuyền, lại trở sang bờ bên kia. Một đám rất đông tụ lại quanh Người. Lúc đó, Người đang ở trên bờ Biển Hồ. Có một ông trưởng hội đường tên là Gia-ia đi tới. Vừa thấy Đức Giê-su, ông ta sụp xuống dưới chân Người, và khẩn khoản nài xin: “Con bé nhà tôi gần chết rồi. Xin Ngài đến đặt tay lên cháu, để nó được cứu thoát và được sống.” Người liền ra đi với ông. Một đám rất đông đi theo và chen lấn Người.

Có một bà kia bị băng huyết đã mười hai năm, bao phen khổ sở vì chạy thầy chạy thuốc đã nhiều đến tán gia bại sản, mà vẫn tiền mất tật mang, lại còn thêm nặng là khác. Được nghe đồn về Đức Giê-su, bà lách qua đám đông, tiến đến phía sau Người, và sờ vào áo của Người. Vì bà tự nhủ: “Tôi mà sờ được vào áo Người thôi, là sẽ được cứu.” Tức khắc, máu cầm lại, và bà cảm thấy trong mình đã được khỏi bệnh. Ngay lúc đó, Đức Giê-su thấy có một năng lực tự nơi mình phát ra, Người liền quay lại giữa đám đông mà hỏi: “Ai đã sờ vào áo tôi? ” Các môn đệ thưa: “Thầy coi, đám đông chen lấn Thầy như thế mà Thầy còn hỏi: ÀAi đã sờ vào tôi?” Đức Giê-su ngó quanh để nhìn người phụ nữ đã làm điều đó. Bà này sợ phát run lên, vì biết cái gì đã xảy đến cho mình. Bà đến phủ phục trước mặt Người, và nói hết sự thật với Người. Người nói với bà ta: “Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con. Con hãy về bình an và khỏi hẳn bệnh.”

Đức Giêsu còn đang nói, thì có mấy người từ nhà ông trưởng hội đường đến bảo: “Con gái ông chết rồi, làm phiền Thầy chi nữa?” Nhưng Đức Giêsu nghe được câu nói đó, liền bảo ông trưởng hội đường: “Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi.” Rồi Người không cho ai đi theo mình, trừ ông Phê-rô, ông Gia-cô-bê và em ông này là ông Gio-an. Các ngài đến nhà ông trưởng hội đường. Đức Giê-su thấy người ta khóc lóc, kêu la ầm ĩ. Người bước vào nhà và bảo họ: “Sao lại náo động và khóc lóc như vậy? Đứa bé có chết đâu, nó ngủ đấy!” Họ chế nhạo Người. Nhưng Người bắt họ ra ngoài hết, rồi dẫn cha mẹ đứa trẻ và những kẻ cùng đi với Người, vào nơi nó đang nằm.41 Người cầm lấy tay nó và nói: “Ta-li-tha kum”, nghĩa là: “Này bé, Thầy truyền cho con: trỗi dậy đi!” Lập tức con bé đứng dậy và đi lại được, vì nó đã mười hai tuổi. Và lập tức, người ta kinh ngạc sững sờ. Đức Giê-su nghiêm cấm họ không được để một ai biết việc ấy, và bảo họ cho con bé ăn.

&  &  &

“Sao bông phượng nở trong màu huyết,”

“Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu?”

(dẫn từ thơ Hàn Mặc Tử)

Mai Tá lược dịch

            Phượng vẫn đỏ, nhỏ một màu huyết. Nhỏ xuống lòng người những giọt châu! Có lẽ, đây cũng là ý tưởng được thánh Máccô đưa vào trình thuật kể về hoạt động của Chúa, đầy trân châu!

Trình thuật, thánh Máccô nay nói về đời hoạt động của Chúa rất công khai, sinh động. Hoạt động của Ngài, là sinh hoạt sống động rất tính người, mở ra với mọi người; để rồi sẽ đánh động những người quẩn quanh bên Chúa. Chí ít, là các tông đồ, thừa tác viên, và nữ phụ. Tất cả đều hợp lòng cùng Chúa ra đi rao báo Nước Trời ở trần thế.

Trích đoạn hôm nay có nói về cháu bé nhỏ là con gái ông Giaia sắp ra đi hoặc đã chết. Câu chuyện được phối kết với truyện kể về một nữ phụ không rõ danh tánh đang bị chứng xuất huyết. Và phối hợp với truyện người cha của cô gái nhỏ đang lâm bệnh khiến ông cứ tìm cách luẩn quẩn gần bên Chúa. Vai trò cùng chức năng của ông được thánh sử tả là chức sắc lo việc ở đền thờ, tuy không là đấng bậc lừng lẫy ở huyện thành, nhưng cũng được Chúa đoái hoài.

Sở dĩ Đức Giêsu quyết định đến thăm ông, là vì tình trạng nguy ngập của người con nhỏ. Khi tin tức loan về cái chết của cháu bé này, người thân cận với Giaia đã khuyên Chúa đừng đến chữa cho cháu bé còn nhỏ kẻo gặp rắc rối. Có điều lạ, là: theo ngôn ngữ của người phương Đông, thì đó là cách hay nhất để khích bác Chúa hãy ra đi tìm đến những nơi nào nhiều rối rắm mà giải quyết theo cung cách của Đấng Bậc cao cả. Kết quả là, Chúa quyết đến với những nơi nào thường gây phiền toái hầu chữa trị cho cháu bé còn nhỏ tuổi, dù là con của chức sắc đền thờ. Quả là, ngôn từ của người Đông phương thích chọn cung cách nghịch ngạo chống cưỡng những gì mình mong muốn, tựa như câu nói mà nhiều người vẫn nghe như: “Anh cứ hẹn, nhưng anh đừng có đến…” Hoặc: “Xin Chúa hãy rời xa nơi tôi…”, nhưng kỳ thực vẫn muốn.

Cũng tựa như thái độ của nữ phụ bị xuất huyết những muốn đạt điều gì mình mong được Chúa đoái hoài mà chấp nhận lời van nài, khẩn khoản. Nhằm đạt kết quả, bà lại đã sử dụng phương cách khích bác của người Đông phương và sự khôn khéo của nữ giới với kỹ năng khác người, là sờ chạm gấu áo của Ngài. Bà thừa biết rằng bà không thể đạt những gì bà cầu mong mà lại không đánh động lòng xót thương của Chúa. Nói cách khác, bà muốn Chúa biết sự việc bà đang làm. Và, biết cả ước nguyện của bà là đạt thành quả từ Ngài không chỉ mỗi việc chữa chạy thể xác nhưng điều bà cần hơn cả, là: sự chữa lành niềm tin khiến bà lành lặn trở lại, để yên hàn. Điều này chứng tỏ là bà biết cách hành xử sao cho kết quả hầu đạt trọn vẹn lòng thương xót, vẫn có từ Chúa.         

Cách kể truyện theo kiểu trên là văn phong độc đáo của thánh Máccô. Ở đây, cũng nên biết, là: động thái Chúa vẫn làm cho các nữ phụ trong Tin Mừng thánh Máccô thường thánh sử kể về động thái cho thấy rõ sự khôn khéo của nữ phụ phương Đông quyết làm những chuyện lạ kỳ để đạt kết quả mình mong ước, như: ở đoạn trước đó thánh sử kể về tài khéo léo của Hêrôđia là lấy được đầu của thánh Gioan Tiền hô đặt trên dĩa, và phân nửa đất nước do Hêrôđê chiếm giữ. Chương 7 Tin Mừng thánh Máccô còn kể về sự kiện nữ phụ người Syro-phênixy bị quỉ ám cũng có tài thuyết phục Chúa ra tay chữa lành cho con gái của bà, tức những điều Chúa không định làm vào lúc đầu.

Nhiều truyện kể tương tự trong Cựu Ước cũng đã nhấn mạnh đến uy lực và tài khéo léo của phụ nữ giúp các bà đạt kết quả về những gì các bà có quyết tâm. Sách Giuđita kể truyện dân Chúa chọn đã chiến thắng quân thù nhờ vào sự can thiệp của phụ nữ. Bà Giuđita đã vượt thắng tính hèn nhát của dân con trong xứ sở, đã dám quở trách lãnh tụ lúc đó thiếu lòng tin. Bằng vào lời nguyện cầu, bà chạy đến cùng tướng Hôlôphênê dùng nhan sắc cùng tài trí khôn ngoan của nữ giới đã cắt được đầu của ông tướng. Bà Esther cũng từng làm thế, khi tướng A-man tìm cách bóp nghẹt sự sống của dân Do thái đang sống đời lưu lạc xứ Syria. Thoạt thấy bà, nhà vua nói: “Thiên Chúa đã biến đổi lòng trí ông, đem thần khí sống động đến khiến dân con đất nước của ông được an lành…”

Ở đây nữa, cũng nên nhìn vào diện mạo của Đức Giêsu được thánh Máccô tả ở Tin Mừng. Thánh sử không hề viết đến một chữ việc Chúa giáng hạ. Với Tin Mừng thánh sử Máccô, người đọc chỉ biết Chúa vào lúc Ngài công khai hoạt động vì con người, với con người. Đó là lúc Ngài trưởng thành, phát triển và học được tính chất rất “người” từ hoàn cảnh của đời người. Ngài không là hữu thể trên cao nay mặc hình hài bên ngoài của con người, nhưng đã sống thực tận trong con người, Ngài nhận thức rõ những gì đang xảy đến và những gì Ngài sắp phải làm. Ngài rất mạnh, nhưng đôi lúc cũng không nắm chắc cả đôi điều. Tức, Ngài không rõ những gì Ngài làm có khiến người khác khuynh loát được Ngài theo cung cách không định trước, hay không. Nhiều người thấy Ngài giống người bình thường như ta.

Có thể nói, ở nơi Ngài, có cả tính duy thực lẫn tâm tánh dịu hiền trong cung cách. Đức Giêsu ở Tin Mừng thánh Máccô là nhân vật thánh thiêng sống trong hoàn cảnh dẫy đầy bão táp, mưa sa rất hiện thực. Ngài không có vóc dáng của bậc vĩ nhân ở trần thế. Ngài là Đấng Bậc chẳng mang dáng vẻ của vị anh hùng cái thế giống giòng dõi La Mã, Hy Lạp hoặc Do thái. Ngài ít khi là người thắng cuộc, rất thẳng thừng. Với ai trông mong ở Ngài tính chất cao cả của bậc vĩ nhân, thì Ngài lại mang đến cho họ sự thất vọng, chán chường, cả đến sững sờ vì Ngài không có khả năng khống chế mọi người. Với họ, ngôn từ Ngài sử dụng ra như bối rối, phức tạp. Ngài như khiến cho đồ đệ mình lẫn lộn nhiều thứ đến tận cùng.

Với nhiều người hằng trông mong Ngài trở thành người con dễ thuần thục hoặc theo đúng qui ước vẫn sáng chói trong chiến thắng lẫy lừng đầy dũng cảm, thì họ không dễ dàng gì mà chấp nhận con người như Đức Giêsu được. Nhưng, Ngài lại là người có óc thực tế rất cao vời, như chưa có người như thế. Ngài nhìn thẳng mặt vào uy lực của sự chết, nhưng không nhất quyết chinh phục lực hút ấy. Thật ra, ta thấy nơi Ngài có sự hiền dịu, nhào quyện với sự bất toàn trong việc đứng lên hành động chống đối, vào nhiều lúc. Nơi Ngài, ta thấy chính sự hiền dịu trỗi dậy từ sự chết… Nơi Ngài, chừng như có hai diện mạo, và Ngài ra như không biết cách hoà quyện hai diện mạo ấy thành chính Ngài…

Ở Tin Mừng thánh Máccô, Đức Giêsu vừa “chạnh lòng thương” (tiếng Hy Lạp là Splanchnistheis) những người bị ngã qụy (Mc 6: 34, 8: 2 và 9: 22-23) và dễ “nổi giận” (tiếng Hy Lạp là “orgistheis”) khi con người không tin vào Ngài (Mc 3: 5 và 9: 23)Và tiếng Hy Lạp tả về động thái “chạnh lòng thương” nếu dịch từng chữ là “thấy xúc động tận tâm can”. Còn “dễ nổi giận” nếu dịch sát là ở vào trạng thái bùng nổ đến điên cuồng mà tiếng Việt mình gọi là “giận điên” không thực sự kềm chế được.  

Có điều lạ, là người cuối cùng chép lại Tin Mừng theo thánh Máccô lại bỏ đi các cụm từ ấy, có lẽ vì họ không muốn Đức Giêsu mang tâm tính đó. Và, cũng chẳng muốn đấng bậc thần thánh như Ngài mà lại có thái độ như thế, cũng không nên. Xem thế thì, nhiều dân con Đạo Chúa thấy có nhu cầu biến Đức Giêsu ít đúng thực và cũng ít chất “người” hơn là Ngài vẫn thế. Họ cũng muốn Ngài “hội nhập” nhiều hơn. Họ chẳng bao giờ muốn để các nữ phụ cứ khuynh loát, lèo lái tính nhân hiền tử tế của Ngài hết. Thành thử, rất nhiều khi, Ngài cũng chẳng biết sau đó phải làm thế nào cho vừa lòng mọi người.

Ở Tin Mừng thánh Máccô, Đức Giêsu là ngôn sứ “chuyền chéo” rất Galilê, và Ngài thăm Giuđêa coi như động thái quyết đạt đến giai đoạn thách thức lại thập giá của La Mã. Khi viết Tin Mừng, thánh sử không gộp chung các sự kiện này vào với nhau. Nhưng, điều mà thánh sử cần tả là việc Ngài hoà trộn với chúng dân và nhiều lúc đã để họ dẫn đưa Ngài vào con đường mà Ngài không có khả năng đảm trách chỉ một mình. Đấng biết mình chết cho con người không nhất thiết phải là người cần hội nhập cuộc sống đầy cảm xúc của Ngài.

Thật ra, đó không là đòi hỏi hỏi của phục sinh. Là, con dân của Chúa, chúng ta cũng không buộc phải làm thế. Như Đức Giêsu, ta vẫn có thể đến với mọi người bằng tư cách của chính mình, mà vẫn được cất nhắc khỏi sự chết. Nói cho cùng, theo văn phong thể loại của thánh sử Máccô, thì chừng như Đức Giêsu vẫn mở rộng ra để nữ giới lãnh đạo và dẫn dắt. Thật ra, có thể nói, Ngài bị giới hiền dịu và tử tế đã hơn một lần từng khuynh loát Ngài. Nhưng có khuynh loát hay không, điểm tới vẫn ở trước mặt cho cả lãnh tụ lẫn người bị dẫn dụ, và khuynh loát.

Trong tâm tình đó, có lẽ cũng nên cùng với nhà thơ ngâm nốt câu ca, mà rằng:

            “Tôi vẫn còn đây hay ở đâu?

            Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu?

            Sao bông phượng nở trong màu huyết,

            Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu?”

            (Hàn Mặc Tử – Những Giọt Lệ)

Giọt châu hay giọt máu cũng vẫn là giọt lệ. Của giới nữ vẫn đem nhà thơ bỏ “dưới trời sâu.” Ở nơi đó, nhà thơ cùng người người lại sẽ thấy bông phượng nở trong màu huyết, có Đấng Hiền Dịu cũng một  tâm trạng như đàn con từng nhỏ giọt châu đỏ, lẫn máu đào, để thương nhau. Mãi một đời.           

                             Lm Kevin O’Shea DCCT biên soạn –            

                           Mai Tá lược dịch

“Em không nghe mùa thu”

Chuyện Phiếm đọc trong tuần 13 Thường niên năm B 01-7-2018

 “Em không nghe mùa thu”
Dưới trăng mờ thổn thức?
Em không nghe rạo rực,
Hình ảnh kẻ chinh phu,
Trong lòng người cô phụ?”

(Tùng Giang – Nam Lộc/ Phạm Duy/Lưu Trọng Lư –

Anh Đã Quên Mùa Thu & Tiếng Thu)

 Trần Ngọc Mười Hai

Cụm từ thơ văn “Chinh phụ”, “lòng người cô phụ”, có “khói sương mù thổn thức”, “Hàng cây khô sầu úa, hiu hắt đứng trong mưa”, phải chăng tất cả đều nói lên tiếng nói hoặc âm vang của “lặng thinh”? Của, cái mà người xưa vẫn cứ bảo “lặng thinh là tình đã thuận”?

Vâng. Có thể là như thế. Có lẽ, là như vậy. Tức: như người thời nay lại cứ quen ồn ào, náo động mà quên mất thứ “tình thuận” của lặng thinh.

Vâng. Mới đây, người bạn thân trong chốn văn-chương nghệ-thuật của bần đạo là anh Nguyễn Văn Tạ có đến thăm bần đạo rồi “thảy” cho cuốn sách của tác giả Diarmaid MacCulloch  có nhan đề là “Silence: A Christin History”với lời nhắn nhủ bảo rằng: “Anh cầm mà đọc cuốn này xem có nhiều ý-tưởng hay lắm!”

 Vâng. Ý-tưởng của tác-giả Diarmaid MacCulloch lâu nay có ý bảo nhỏ với người đọc rằng: thời buổi hôm nay, thiên hạ cứ là hay “lào xào” với những chuyện vẩn vơ, nho nhỏ và vô bổ, chứ chẳng biết thế nào là “tình đã thuận” của một lặng thinh.

Vâng. Đành rằng, lặng thinh là tình đã thuận. Thế nhưng mà, thuận đây là thuận cái nỗi gì? Thuận nhĩ, thuận thảo hay thuận tình?

Thế, sao còn gọi là lặng tình để rồi phối hợp với bài “Tiếng Thu” rồi sẽ hát thêm:

“Bây giờ là mùa Thu,

Trời vắng khói sương mù
Hàng cây khô sầu úa
Hiu hắt đứng trong mưa
Mưa như lệ tình xưa
Lệ thấm mấy cho vừa
Lệ vương hoa phượng rũ.

Em có nghe mùa thu.”

(Phạm Duy? Lưu Trọng Lư ­– bđd)

“Thu mang cho tình yêu một thời đã qua.
Thu mang cho tình yêu một thời xót xa.
Mùa thu đã xóa hết cơn mong chờ.
Mùa thu đã cất dấu chân ơ thờ.
Một người bước đi lệ tình ướt mi.
Hôm nay trời vào đông.
Tình đã chết trong lòng.
Niềm cô đơn chợt đến.
Em đã quên mùa thu.”

(Tùng Giang/Nam Lộc – Anh đã quên Mùa Thu)

Vâng. Mới rồi đây, quán nhạc “Hát Cho Nhau Nghe” ở Sydney có màn trình diễn những hát hò, trong đó người trẻ chơi nhạc đã gom gộp tình/ý hai bài Tiếng Thu và Anh Đã Quên Mùa Thu làm một để rồi sẽ yêu cầu người hát kết thúc ý/tình của buổi tối vui bằng câu ca mà rằng:

“Em không nghe rừng thu

Con nai vàng ngơ ngá

Đạp trên lá vàng khô…

 Anh đã quên mùa Thu?

Mùa Thu! Không Em?”

(Phạm Duy/Lưu Trọng Lư/Tùng Giang/Nam Lộc – bđd phối hợp)

Vâng. Có một điều, mà người đời thời nay cứ là hay lẫn lộn sự “lào xào” với chuyên thâm/cao” ở nhà Đạo, chính ra phải là “lặng thinh”. Bởi, có lặng và có thinh, thì tình mới thuận.

    Vâng. Ngày hôm nay, cả “Anh” lẫn “Em” đều không thể quên mất mùa Thu nào đó; mà còn quên cả thứ “tình đã thuận” của “lặng thinh”, nữa đấy chứ.

Vâng. Nói thì nói thế, chứ nào ai hiểu rõ được thứ “lặng thinh” đích-thực của mọi sự, trước khi nhận ra được thứ “tình” và “ý” ấy!

Vâng. Vậy thì, lặng thinh là gì? Lặng thinh có giá-trị ra sao? Tại sao cứ phải lặng thinh thay vì tự do lào xào, náo-nhiệt, hoặc lăng xăng cho “tới bến”?

Vâng. Hôm nay đây, xin mời bạn và mời tôi, ta đi vào tìm hiểu tuy thoáng chốc, nhưng cũng là một dẫn-nhập cho lập-trường nào đó, rất mai sau! Thế nhưng, trước khi đi vào phần khô cứng của lý-luận và luận giải, xin đề-nghị tôi và bạn, ta nghe thử câu truyện ngụ ngôn nhè nhẹ, sau đây:

Mèo và Cáo giống như hai vị tiểu thánh gia đang trên lộ trình hành hương. Đó là hai kẻ đạo đức giả chân chính, hai lão đệ huynh, trong liềm hân hoan được đi du hành, kẻ đã chén không biết bao là gia cầm, người đã từng xơi nhiều pho mát. Vì đường đi quá dài và mệt mỏi, để rút ngắn lộ trình, hai con vật bày ra cách tranh luận cho quên quãng đường xa nhọc nhằn và cũng quên đi cơn buồn ngủ. Hai kẻ hành hương ra công kêu đến khản cổ lý lẽ của mình. Cuối cùng Cáo nói với Mèo.

 -Có thể Anh cũng khéo léo đấy nhưng tài anh sao bằng tôi được? Tôi luôn có trăm mưu ngàn kế trong đầu.

Người kia đáp

-Thế ư? Tôi thì không, tôi chỉ có một kế thôi nhưng tôi chắc nó còn ăn đứt cả trăm kế sách của anh.

 Cứ thế cả hai lại thi nhau cãi và về cái lý của mình kẻ nói có người nói không cho đến khi bất thình lình cơn nguy khốn xảy ra khiến cả hai im bặt, Mèo bảo Cáo:

-Hãy lấy một trong số hàng trăm kế của anh ra đi, bạn thân mến. Hãy tìm trong đầu anh một mưu chắc chắn ấy còn tôi, đây là kế của tôi.

 Nói dứt lời, Mèo nhảy tót lên cây cao còn Cáo giở đủ các ngón mà chẳng ăn thua. Nó chui vào các hang khác nhau hòng lừa lũ chó nhưng đều bị thất bại. Khói xông vào trong hang buộc nó phải nhảy ra ngoài. Ngay lập tức hai con Chó nhanh chân nhảy bổ vào Cáo và xé xác nó ngay cú vồ đầu tiên.”

Và, dưới đây là “lời bàn Mao Tôn Cương” của người kể ở đâu đó:

Câu chuyện cho thấy kẻ lắm mưu mẹo đôi khi vẫn bị thất bại trong công việc vì mải lựa chọn kế sách, cái gì cũng muốn làm, muốn thử xem kế nào hay? Cho nên đôi khi chỉ cần một cách hay thôi cũng đủ giúp thành công rồi.” (trích và dịch do một người giấu tên trên mạng) 

Đang bàn về “lặng thinh” mà lại kể truyện Cáo và Mèo, thì có lẽ không mấy hợp lý cho lắm. Tuy nhiên, điểm nhấn ở truyện kể là hai chú Cáo và Mèo giải quyết “công chuyện” theo hướng “lặng thinh là tình đã thuận”, cơ đấy!

Thành thử, vấn đề lặng thinh mà người kể ở trên gọi là “cô tịch” lại cũng đi đôi với điều mà người ấy gọi là “hiện-diện” hoặc “hiện-hữu” cũng là chuyện “thường ngày ở huyện” rất đời người. Một đời, có những nhận-định rất ư chính-đáng, như sau:

Hiện diện và cô tịch. Một cặp bài trùng không thể tách lìa trong bí mật con người, nhưng không có vế nào tự mình là đầy đủ.

Tính chất có vẻ lưỡng diện này là một biểu hiện của cấu trúc căn bản của con người, và như chúng ta đã thấy, nó cần phải có một nhịp hai thì, ra khỏi mình và trở về mình. Nhưng đó cũng là thảm kịch hiện sinh của con người. Hữu thể kỳ lạ này luôn bất an, chẳng có thể tìm được bình an trong cô tịch vì sẽ bị sợ hãi tấn công, cũng như trong hiện diện với người khác. Vì họ sẽ nhanh chóng thất vọng bởi lẽ sự hiện diện đó cũng không làm cho họ mãn nguyện. Họ không thể tìm thấy trong chính mình lẫn nơi người khác sự viên mãn mà họ tìm kiếm.

Thảm kịch này không phải là một tai nạn tình cờ nhưng biểu hiện sự bổ túc thiếu sót căn bản, và đấy là một lời mời gọi âm thầm của Đấng Tuyệt Đối. Một sự bổ túc thiếu sót tự căn bản, thôi thúc họ phải tìm kiếm liên tục, khi thì trong cô tịch khi thì trong quan hệ, để có được sự nghỉ ngơi, hạnh phúc, là những điều luôn vượt tầm tay họ. Vì sự cô tịch hoàn toàn đòi hỏi phải có một sự viên mãn, một sự tự túc, nhưng đấy không phải là bản chất của con người! Và quan hệ của họ cũng không làm cho nỗi khát khao về tuyệt đối nơi họ được mãn nguyện, vì đấy không phải là bản chất nơi người khác! Aristote đã cảm thức rằng sự cô tịch chỉ có thể là một hồng phúc đối với Thiên Chúa vì Người tự Mình là viên mãn, đầy đủ.

Chính đây là nơi mà mặc khải Kitô Do Thái giáo đem đến một ánh sáng quyết định cho bí ẩn con người.

 Thật vậy, nhân vật Kitô, Đấng công bố rằng Ngài là Con của Chúa Cha, được Thần Khí linh hứng, đã mặc khải rằng Thiên Chúa không phải là một hữu thể cô tịch nhưng là có tương quan, Người là một sự hiệp thông tình yêu giữa Ba Ngôi. Kitô giáo tin một Thiên Chúa Duy Nhất và Ba Ngôi. Sự bộc lộ về mầu nhiệm nội tại của Thiên Chúa, dù cho vượt quá mọi ngôn ngữ, thì tình yêu đòi buộc phải có qua lại một quan hệ giữa các ngôi vị.

Hệ quả là một mặc khải liên quan đến con người. Thật vậy, trong chiều hướng mà con người được tạo nên theo hình ảnh Thiên Chúa Ba Ngôi, con người tự bản chất đã là một hữu-thể có quan-hệ. Họ chỉ có thể hiện hữu, triển nở, trở thành “người” nhờ và trong các tương quan: “yêu và được yêu”. Tương quan ấy là yếu tố kết tinh nên bản chất, căn tính của họ.


Toàn bộ con người họ như thể hướng về cùng đích này: 
Đó là sự Viên Mãn của tình yêu Thiên Chúa.

 Chẳng phải là đặt nền tảng trên mặc khải ấy, một mặc khải được chứng thực nhờ công cuộc nhập thể của Đức Kitô, mà các Kitô hữu nghĩ rằng ta chỉ gặp được Thiên Chúa không phải chỉ bằng cách “trốn vào sa mạc”, nhưng bằng cách chia sẻ kiếp người trong mạng lưới các quan hệ hằng ngày sao? Tình yêu nhân loại, việc mở lòng và hiến mình cho tha nhân, đối với họ, là những nơi ưu tiên để Thiên Chúa ngỏ lời và tự mặc khải.

Thế nhưng, dù không phải ai ai cũng được kêu gọi sống ẩn tu, thì tất cả chúng ta cần phải nhận định ý nghĩa về hấp lực của sự cô tịch, được thể hiện từ ngày đầu của Kitô giáo trong những truyền thống Đan Viện lớn, ở Phương Đông cũng như ở Phương Tây, và hoa quả của các truyền thống ấy trong đời sống các Thánh thì quá hiển nhiên đến độ không thể nào phủ nhận được. Sự cô tịch mà những nhà linh đạo lớn đã từng đồng lòng công nhận vai trò quan trọng đối với cấu trúc con người. Ôi cô tịch hồng phúc! (O Beata Solitudo!).

Nhưng, như chúng ta đã thoáng nhìn, chúng ta sẽ thấy rằng vấn đề không được đặt ra dưới dạng đối nghịch mà là bổ túc lẫn nhau. Con người là một hữu thể cô tịch và cộng đoàn, cần đến sự cô tịch và mối tương quan để tìm thấy mình và tìm thấy Thiên Chúa.

Một nhà văn như St. Exupéry đã hiểu rõ điều đó, vì ông đã ca tụng tình bạn trong tác phẩm Terre des Hommes (Vùng đất con người), và biểu dương sự cô tịch trong tác phẩm “Thành trì”. Và Cha De Foucauld, mất hút trong sa mạc, vẫn xem mình là “Người anh em của mọi người!”.

Chắc hẳn chúng ta cũng sẽ thấy rằng sự cô tịch cũng như đời sống tương quan, có những ảo ảnh và cạm bẫy riêng. Nhưng sự hàm hồ luôn khởi sự từ con người. Chúng ta sẽ khám phá ra rằng: rốt cuộc, thì: tiêu chuẩn duy nhất để phân đinh vẫn mãi mãi là phẩm chất của tình yêu. Các quan hệ cũng như sự cô tịch là để phục vụ cho con người, và cho con người biết học tập yêu thương. “Tình yêu và bác ái hiện diện ở đâu, thì Thiên Chúa hiện diện ở đấy!”.

 Hai con đường, đường cô tịch và đường tương quan, chỉ có thể đi vượt qua giới hạn nội tại của mình khi đón nhận sự Viên Mãn của Chúa.

Đối với một tín hữu, sự cô tịch tiên vàn không phải là một nơi; mà là một phẩm chất của cõi lòng. Và sự cô tịch không bao giờ là cô lập, hay thoát ly, hay chạy trốn, mà là một sự chú tâm mới; đối với một Đấng Hiện Diện đang cư ngụ cả trong sự cô tịch của sa mạc, lẫn trong các tương quan giữa người với người.” (lại cũng trích và dịch từ tập sách “Những Nẻo Đường Thinh Lặng” của Michel Hubault)

 Với người nhà Đạo, mà lại là Đạo Chúa, thì cô đơn, cô tịch và ồn ào là như thế. Còn, với người đời mà lại là thi-nhân, nhạc sĩ, thì lặng thinh/cô-tịch lại sẽ được diễn tả bằng ngôn-ngữ thi-ca nhiều nghĩa như lời ca được hát tiếp ở bên dưới:

 “Em không nghe rừng thu
Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô?”

(Phạm Duy/Lưu Trọng Lư ­– bđd)

Chuyện lặng thinh ở đời còn được diễn nghĩa bằng nhiều cách thức. Có một cách rất lạ kỳ, và ít ai dám nói hoặc kể, rất như sau:

“Về nhà thơ Anh John Milton, hôm ấy Giáo sư hỏi cả lớp:

– Ai có thể nêu hai sự kiện lớn trong cuộc đời của nhà thơ Anh John Milton?

Một nam sinh viên nhanh nhẩu phát biểu:

– Sau khi kết hôn, nhà thơ viết tác phẩm “Thiên đường đã mất”.  Đến khi vợ ông mất, ông viết tác phẩm “Thiên đường trở lại“.

 Tương-tự như vậy, còn có truyện kể nhẹ nhưng rất thật như sau: 

 “Nhân dịp nhạc sĩ Từ Công Phụng đến Melbourne trình diễn chương trình ca nhạc “50 năm Tình ca – một lần nhìn lại.  Có một người đã hỏi: 

– Hình như nhạc sĩ Từ Công Phụng đã từ chối không chịu làm suôi với cố nhạc sĩ Trần Thiện Thanh phải không??

Từ công Phụng mỉm cười rồi gật đầuNhạc sĩ cho biết lý do là vì con trai của nhạc sĩ Từ Công Phụng tên Từ Công Nghĩacòn con gái của cố nhạc sĩ Trần thiện Thanh tên Trần thị Trang.  Do đó khi đăng báo chúc mừng sẽ viết như sau:

Chúc mừng hai họ TỪ – TRẦN

và  Chúc hai cháu NGHĨA – TRANG

Trăm Năm Hạnh Phúc

Như vậy chắc không ổn rồi.  Có mời thì cũng chẳng ma nào dám đi đám cưới!!

 Theo giới khoa bảng ở nhà Đạo, thì “Lặng thinh” trong lịch sử Đạo Chúa là chuyện rất quan-trọng như Gs Diarmaid MacCulloch từng tâm tình như sau:

“Lặng thinh là thành-phần sống còn đã từng biến mất trong lịch-sử; bởi thế nên ta không có đủ lợi khí để tạo ý-nghĩa cho những gì mình biết và cũng không có chứng cớ nhãn-tiền cho những gì mình sở-đắc…

 Hiện nay, đang có thứ văn-chương chữ nghĩa rất đáng kể của đạo-giáo nói về lặng thinh. Tôi tiếp cận đề-tài này từ một đời bỏ ra để giảng dạy và kiếm tìm lịch-sử đồng thời cũng nhờ vào tình huống đối đầu giáp mặt mang nhiều kết-quả đầy hoa trái với Giáo hội và đời sống tín-hữu Đức Kitô. Các mẫu mã, mô-hình của đạo-giáo là những sự việc xảy đến trong khung/mành của xã-hội loài người mà ta truy-tầm được và chúng là trung-tâm của cuộc sống đầy doanh thương, tính toán. Ngang qua nghề-nghiệp mang tính sử-học của riêng mình, tôi đã có được kinh-nghiệm bản thân biết rõ tầm quan-trọng của lặng thinh trong mọi sự-kiện cuộc sống của con người…

 Tôi lại may mắn có cơ hội đối đầu với nhiều thách-thức trong cuộc sống ngay từ tuổi chớm trưởng-thành, nên có nhiều dịp thuận để vui hưởng cuộc sống như mình hằng mong ước. và nhờ thế mới có được cuộc đời khá ổn-định. Kinh-nghiệm sống trong đời đầy huyên náo đã dạy tôi biết tỉnh táo trước những mờ-ám nơi ý-nghĩa của nhiều văn bản, cùng ánh mờ nhạt nơi ý-nghĩa khác biệt nơi hành-xử của những người sống quanh tôi. Và rồi, tôi cũng tự chỉnh sửa phù hợp để nghe được tiếng lặng thinh và nhờ đó tìm ra chìa khóa cần-thiết để hiểu biết nhiều tình huống khác nhau trong đời mình…

 Kinh-nghiệm bản thân nguyên khởi đã dẫn tôi đối đầu với lặng thinh trong đạo trước nhất là như một tránh né thoát khỏi mọi ràng buộc của sự thật. Đúng thế. Kinh-nghiệm đã dạy tôi biết nhận thức và vui hưởng sự thật cho thấy lặng thinh có thể mang dáng dấp tích cực cũng như tiêu-cực. Dù trên bình-diện trần-tục của cuộc sống con người, vẫn có những lời nói dối trắng trợn và nhiều sự việc không được nói ra bởi lẽ có những điều mình không nên nói. Nhưng, nhiều hơn thế, cuốn sách tôi viết đây có đầu đề là: “Lặng thinh: lịch-sử của Đạo Chúa”, sẽ đặt ra rất nhiều điều về lặng thinh với các biện-luận khác nhau, nhưng rất tích cực.

 Tóm lại, niềm tin ở Đạo Chúa đặt nền-tảng trên một khẳng-định quyết bảo rằng ta có nhiều thông hiểu về ý-nghĩa của lặng thinh hơn là chỉ mỗi sự giao-dịch/tương-tác giữa con người với con người, hoặc tương-tác giữa con người với xã-hội hoặc bối cảnh phủ trùm chung quanh họ. Dù tôi và nhiều bạn đạo của tôi có tin vào Thiên Chúa hay không, dù kinh nghiệm của con người nhỏ bé hoặc nghèo nàn cách mấy đi nữa, thì ta vẫn nên đối xử với khẳng định của người tin tưởng về sự hiện-hữu của Thiên-Chúa , và vai trò của bất cứ sử-gia nào tìm hiểu về đạo-giáo cũng vẫn là các nỗ-lực trong quá khứ tạo thiện-cảm và sự thông hiểu niềm tin ấy.

 Và nhiều người sẽ  thấy được rằng “lặng thinh” đã và vẫn còn nằm ngay bên trong trọng-tâm kinh-nghiệm về đạo-giáo và tất cả mọi người rồi cũng mong khẳng-định rằng họ đều đã tạo hiệu-quả và ảnh-hưởng sâu sắc lên lịch-sử của Đạo Chúa.”  (X. Gs Diarmaid  MacCulloch,Silence, A Christian History, nxb Penguin 2014 tr. 2-5)

Và, đấng thánh hiền nhà Đạo khi xưa lại cũng lên tiếng về sự lăng thinh, mà rằng:

“Khi Con Chiên mở ấn thứ bảy,

thì cả bầu trời thinh lặng chừng nửa giờ…
Rồi tôi thấy bảy thiên thần

đứng chầu trước nhan Thiên Chúa…”

(Khải Huyền 8: 1)

Và ở đoạn khác, cũng thấy nói:

“Ý muốn của Thiên Chúa là

anh chị em hãy làm điều thiện

khiến những kẻ vô tri ngu xuẩn phải thinh lặng.16

Anh chị em hãy hành động như những người tự do,

không phải như những người lấy sự tự do làm màn che sự gian ác,

nhưng như những tôi tớ của Thiên Chúa.”

(1Phêrô 2: 15)

Thành ra, muốn xử sự như người tự-do-con-cái-Chúa, có lẽ điều quan trọng hơn cả bao giờ cũng là “Hãy lặng thinh như tình đã thuận”. Thuận thảo với Chúa, với nhau và với chính mình. Đó chính là điều lành, tốt đẹp chỉ người lành thánh mới biết tuân thủ.

Để minh họa chuyện này, cũng nên đi vào vùng trời gồm toàn những câu truyện để kể cho nhau nghe hầu mỗi người và mọi người có thể thụ-hưởng giây phút thư giãn, “lặng thinh”, như sau:

Ngày xưa tôi có xem một phim với tựa đề tiếng Anh là “Into the Great Silence.” (tức: Vào với lặng thinh lớn lao”.  Đây là phim tài liệu nói về đời sống trong tu viện cổ Grande Chartreuse trên vùng núi Alps ở Pháp.  Cuốn phim quay lại các sinh hoạt hằng ngày của các tu sĩ dòng kín Carthusian trong thinh lặng.

 Người đạo diễn của cuốn phim đã phải sống trong tu-viện suốt nửa năm, và chỉ quay phim bằng ánh sáng thiên nhiên.  Và để tránh gây ảnh hưởng đến đời sống thinh lặng của tu sĩ, ông không được phép tiếp xúc hoặc nói chuyện với bất cứ ai trong tu viện, và không được mang theo người nào khác vào làm phim với ông.

 Dĩ nhiên là, sự lặng thinh trong tu viện không phải hoàn toàn tuyệt đối.  Cũng có lúc các tu sĩ nói chuyện và phát biểu, như trong lễ hoặc khi sinh hoạt này khác, hay vào cuối tuần khi đi dạo bên ngoài.  Nhưng cốt-thiết của thực tập vẫn đặt nền tảng vào sự lặng thinh.

 Cuốn phim nói đây, mở đầu bằng cảnh mùa đông, khi toàn vùng núi Alps và tu viện phủ đầy tuyết trắng, vạn vật chừng như đông đá.  Giữa thinh lặng, ngồi trong tu-viện nhìn ra khung cửa, ta như nghe được âm vang của bông tuyết rơi xuống đất.  Trong lặng thinh, ta còn cảm nhận được sự hiện-diện của những chuyện tầm thường vây quanh mình, cách sâu sắc.  Thời gian từ từ xoay quanh không gian, tiếng cây cỏ chuyển mùa và giọt nước đá tan trên cỏ, những áng mây tuôn trôi ngang đầu, bầu trời về khuya làm vụn vỡ trăng sao, tất cả đều vận hành tự nhiên trong thế giới lặng yên.

 Điều ta cần nghe ngóng là lắng nghe chính mình. uộc sống hằng ngày của ta, so với phim, là một thế giới hoàn toàn khác lạ.  Những bận rộn chung quanh đều khiến ta không có giờ để ngồi yên, và thật sự tiếp xúc với những gì đang hiện diện.

Trên đường đi, chắc bạn chẳng bao giờ nghe được âm thanh của chiếc lá rơi rụng, hoặc đêm khuya tạt ngang cửa sổ chợt dừng lại nhìn sân trước nhà tràn ngập ánh trăng…  Thật ra, trong cuộc sống ngày, ta ít có cơ hội để sống với lặng thinh, mà theo tôi dù có đi nữa, ta có khả năng tiếp xúc được chúng khôăng?

 Tôi có người quen kể rằng: có lần anh đi ăn trưa với một người bạn.  Anh chọn một quán ăn nhỏ thật vắng vẻ để hai người có dịp trò chuyện.  Trong tiệm vắng, chỉ những âm thanh hỗn tạp bình thường của chén/dĩa xục xạo trong nhà bếp, tiếng máy tính tiền và tiếng thực khách nói chuyện ở bàn bên, hoặc tiếng nhạc nhẹ êm, vv…  Bất chợt, mọi đèn đóm trong phòng ăn bị cúp!  Không gian như dừng đứng, căn phòng trở nên im ắng cách lạ kỳ.  Anh bạn tôi cho biết sự thinh lặng đây bất chợt thật khó chịu làm anh đinh tai nhức óc.

 Nhưng giây phút nói ở đây khiến anh chợt dừng lại trong phút chốc và ý thức rằng, mọi ồn ào náo nhiệt trong cuộc sống giúp ta tạm khỏa lấp khoảng trống trong chính con người mình.  Có lẽ vì thế mà người ta lại tìm cách trốn tránh thinh lặng để khỏi phải đối diện với sự trống vắng ở trong ta…

 Tôi nhớ một đoạn trong phim, trình chiếu cảnh trí cuối tuần ở bên ngoài, mọi người cùng ngồi với nhau bàn thảo về nghi thức xảy ra trong buổi lễ ban sáng.  Một tu sĩ phát biểu: “Không phải mục đích của hoạt động tiêu biểu là để ta tìm ra ý-nghĩa của mọi thứ, nhưng chính ta mới là người cần được tìm hiểu.” Thật ra, mọi hình thức lễ lạy chỉ cốt giúp ta quay về lại và nhận ra được chính mình, mà thôi.  Các tu sĩ, không hề vấn-nạn về lặng thinh, nhưng chính sự thinh lặng đặt câu hỏi cho ta và mọi người.

 Và bạn cũng như tôi, chớ nghĩ rằng lặng thinh không có nghĩa là ta chẳng làm gì hết, nhưng khi ta có được lặng thinh vây quanh, chắc chắn sẽ tiếp xúc được các yếu tố nhiệm mầu tự nhiên đang hiện-diện quanh ta với cái nhìn sâu sắc. Vẫn cứ là nhiệm mầu. Nhưng mầu nhiệm không mang ý-nghĩa chứng-tỏ mọi việc sẽ xảy đến theo ý mình, nhưng vẫn có nghĩa vì nó trong sáng tự nhiên.  Có thể đối với ta, trời xanh mây trắng chính là mầu nhiệm; nhưng với người khác, có thể đời họ đang cần ngày mưa tươi mát, dễ chịu.  Buổi sáng bước ra ngoài, trong làn nắng ấm, tâm thân của ta ra vui khỏe; hoặc, vào lúc xế, khi ta âm thầm lê bước đôi chân từ sở làm, tâm ta đầy lo lắng, mệt mỏi.  Phài chăng, hai giây phút ấy thật sự nhiệm mầu giống như nhau?

 Tôi nhớ có vị thiền sư nọ thường ca ngợi cái phút giây hiện tại đầy nhiệm mầu.  Lại có thiền-sinh kia cho biết: giây phút này, anh đang gặp nhiều khó khăn, đau khổ. Đời sống con người đâu có gì là nhiệm mầu?  Vị thiền sư nghe thế bèn đáp: cuộc sống con người tuy có lúc khó khăn, không mảy may dễ chịu, nhưng vẫn là mầu nhiệm!

 Nhiệm mầu, là vì ta vẫn có điều kiện để tiếp xúc được thực tại, và thấy được những gì thật sự đang xảy ra, hầu buông bỏ mọi vướng mắc của mình thấy sự vận hành của pháp, biết được sự hiện-diện của tuệ giác và tình thương ở quanh ta. Tất cả những điều ấy, chỉ có thể như thế trong giây phút hiện-tại mà thôi!

 Thênh thang như bầu trời. Hạnh phúc không là sự việc xảy ra theo ý muốn của ai khác, mà do thái độ buông xả của ta, mà thôi.  Trong tu-luyện, con người sẽ học được bài học về hạnh phúc. Và, người đạt được như thế vẫn thấy chuyện ấy xảy ra bất kể tình-huống xảy ra ở bên ngoài, dù trời  mưa gió hoặc nắng ấm. Mong sao mọi sự trong tôi và bạn không mang tính thù nghịch, nhưng vẫn yên ổn, lặng thinh và hạnh phúc. Hãy buông bỏ mọi khổ đau không cần thiết, bởi trong ta tất cả đều an vui, hạnh phúc, nhẹ nhàng.  Mỗi giây mỗi phút mặc-niệm đều như mũi tên buông thả, bay vào bầu trời cao rộng, nơi nào nó đến cũng là mục đích.  Bởi, trong thinh lặng, mọi sự đều trong sáng và tự nhiên.” (trích dẫn đôi giòng mặc-niệm từ điện-thư do bạn bè gửi, để suy-tư).

Suy tư, mặc niệm lại vẫn là điều-kiện của lặng thinh là tình đã thuận, trong phúc hạnh cuộc đời, của con người.   

Trần Ngọc Mười Hai

Và những nghĩ suy mọn hèn

vào ngày êm ả

và tươi mát.

‘Kiểm tra tài sản quan chức’ chính thức thất bại?

‘Kiểm tra tài sản quan chức’ chính thức thất bại?


Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu tại Hội nghị Trung ương 7, tháng 5/2018.
Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu tại Hội nghị Trung ương 7, tháng 5/2018.

‘Rất khó’ và ‘nhạy cảm’

Tháng Năm 2017 rúng động ở Việt Nam. Không phải ngẫu nhiên mà quy định về kiểm tra tài sản 1.000 quan chức được Tổng bí thư Trọng tung ra ngay sau khi xử lý kỷ luật một ủy viên bộ chính trị là Đinh La Thăng, bí thư thành ủy TP.HCM. Với quy định này, ông Nguyễn Phú Trọng đã tiến thêm một bước dài và mạo hiểm trong chiến dịch mang hai mục tiêu vừa “chống tham nhũng” vừa kiểm soát quyền lực – hành động tương tự như “cuộc cách mạng long trời lở đất” mà ông Tập Cận Bình và Ủy Ban Kiểm Tra Kỷ Luật Trung Ương (CCDI) đã tung ra từ năm 2012 đến nay.

Nhưng thực tế chiến dịch ‘chống tham nhũng’ ở Việt Nam là còn xa mới với tới cái lai quần của Tập Cận Bình. Chưa đầy một năm sau xúc cảm xuất thần ‘lò đã nóng lên rồi thì củi tươi đưa vào cũng phải cháy’, ‘lò’ của Nguyễn Phú Trọng chỉ còn lép bép củi nhỏ.

Vào buổi chiều 17/6/2018 khi tiếp xúc cử tri tại quận Cầu Giấy (Hà Nội), ông Nguyễn Phú Trọng không còn đề cập một cách mạnh mẽ cùng những ngôn từ bóng bẩy và ẩn dụ về công cuộc ‘đốt lò’ của ông, trong khi lại cho rằng ‘vấn đề kê khai tài sản cán bộ là vấn đề rất khó, nhạy cảm bởi nó liên quan đến quyền đời tư, quyền bí mật cá nhân’, và ‘mong muốn cử tri tiếp tục tham gia đóng góp ý kiến để có thể hoàn thiện được luật này và sớm được Quốc hội thông qua’.

Có thể cho rằng phát ngôn trên của ông Trọng là một sự thừa nhận gián tiếp thất bại về chủ trương kê khai tài sản cán bộ và cao hơn nữa là ‘kiểm tra tài sản 1.000 quan chức’.

Từ ồn ào khoa trương…

13 tháng trước, quy định về kiểm tra, giám sát việc kê khai tài sản của khoảng 1.000 quan chức cao cấp được đã được Ban Tuyên giáo trung ương chỉ đạo báo chí nhà nước tuyên truyền ồn ào và không kém khoa trương. Theo đó, có những điểm tương đồng rất đáng lưu ý giữa Trung Quốc và Việt Nam trong kiểm tra, giám sát việc kê khai tài sản quan chức như:

– Chủ thể của chiến dịch kiểm tra tài sản quan chức ở Trung Quốc là CCDI, còn ở Việt Nam là Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương.

– Hoạt động kiểm tra tài sản được tiến hành khi cơ quan tổ chức có thẩm quyền yêu cầu cần phải kiểm tra, giám sát tài sản của cán bộ; khi có kiến nghị, phản ánh, đơn thư tố cáo có việc kê khai tài sản không trung thực; và khi có dấu hiệu vi phạm quy định của nhà nước về kê khai tài sản.

– Sau khi “làm” xong, cơ quan kiểm tra trung ương “sẽ có thông cáo và công khai đầy đủ đến các cơ quan báo chí và nhân dân.”

Riêng với Việt Nam, sau khi có quy định của Bộ Chính Trị, Ban Bí Thư, Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương Việt Nam hứa hẹn sẽ có văn bản hướng dẫn việc xây dựng kế hoạch, việc thực hiện yêu cầu của cơ quan tổ chức có thẩm quyền, việc xử lý đơn thư kiến nghị phản ánh như thế nào; cũng sẽ có một hướng dẫn cụ thể, trên cơ sở đó hàng năm xây dựng kế hoạch để tiến hành kiểm tra, giám sát bao nhiêu cuộc và như nào…

Tuy nhiên, đã hơn một năm trôi qua mà vẫn không có bất kỳ động tác được hứa hẹn nào được thực hiện. Trong khi đó, các tỉnh thành ủy và khối chính quyền vẫn đều đặn và thản nhiên báo cáo về trung ương ‘không phát hiện trường hợp cán bộ kê khai tài sản không trung thực’, hoặc cả nước chỉ phát hiện 5 hay 6 trường hợp cán bộ kê khai tài sản không trung thực trong tổng số… gần 1 triệu cán bộ.

Đến bãi lầy mênh mông

Sau hai thắng lợi giòn giã trước Nguyễn Tấn Dũng tại Đại hội 12 và trước Đinh La Thăng tại Hội nghị trung ương 5, Tổng bí thư Trọng đã biểu cảm trước cử tri Hà Nội vào năm 2017: “các bác cứ chờ đấy, sẽ còn nữa…”. Dường như khi đó ông Trọng hưng phấn đến độ muốn “thừa thắng xông lên”.

Nhưng làm thế nào để xông lên?

Cho dù ông Trọng mơ màng về “mô hình Tập Cận Bình”, chính một cựu phó chủ nhiệm Văn Phòng Quốc Hội Việt Nam đã nhắc nhở ông Trọng về những thách thức rất lớn dành cho ý tưởng kiểm tra tài sản quan chức: tính khả thi của quy định này phụ thuộc nhiều vào việc “ai kiểm tra ai, ai có quyền kiểm tra ai, ai dám kiểm tra ai, và ai để cho người ta kiểm tra.”

Rốt cuộc, té ra cái triết lý trên lại là bài học cay đắng và nhớ đời cho ông Trọng khi muốn làm một việc lớn.

Trong thực tế, ông Trọng chẳng thể mong mỏi gì vào ‘trình độ nghiệp vụ’ của các cơ quan đảng từ trung ương xuống địa phương để có thể lần mò phát hiện được tài sản nổi chìm của giới quan chức ‘ăn của dân không chừa thứ gì’. Mà chỉ có hai cơ quan có thể nắm được cơ bản hồ sơ tài sản quan chức: Bộ Công an và Bộ Quốc phòng. Hai cơ quan này có sẵn những cục, vụ nghiệp vụ để làm chuyện đó.

Nhưng làm thế nào để hai cơ quan trên tự nguyện ‘vạch áo cho người xem lưng’ khi cả hai ngành này đều nổi tiếng không chỉ bởi ‘dịch lạm phát tướng’ trên 200 cho Bộ Công an và trên 400 cho Bộ Quốc phòng, mà còn mang nhiều tai tiếng bởi các vụ bê bối tham nhũng và làm ăn phi pháp?

Hiển nhiên là trong giấc mơ kéo dài được hơn một năm qua, chiến dịch kiểm tra tài sản 1.000 quan chức của ông Trọng đã bị “đụng tường” – một bức tường lớn, rất cao và còn “khó nhằn” hơn cả sự chống đối quyết liệt đang diễn ra trong nội bộ đảng Trung Quốc.

Cũng hiển nhiên là mặc dù không thiếu tham vọng để làm một cuộc cách mạng long trời lở đất như Tập Cận Bình ở Trung Quốc, Nguyễn Phú Trọng lại quá thiếu chân đứng cho chiến dịch tìm ra núi tài sản bất minh của giới quan chức Việt Nam.

Sự hỗng hụt chân đứng ấy nằm ngay trong hệ thống cơ quan kiểm tra đảng, nội chính đảng của ông Trọng, nếu chưa nói tới các cơ quan khối chính quyền mà vẫn đang ‘mắt trước mắt sau’ khi nghe lệnh cấp trên.

Thái độ và phát ngôn đượm vẻ xuôi xị mới đây của Nguyễn Phú Trọng về kê khai tài sản quan chức cũng tiếp dẫn thêm một biểu hiện của mạch logic nguội lạnh ‘đốt lò’ từ trước Hội nghị trung ương 7 vào tháng Năm năm 2018 cho tới nay.

‘Ai đã trót nhúng chàm thì sớm tự giác gột rửa’ và ‘mở đường cho người ta tiến’ là những phát ngôn đượm nét xuôi xị của Tổng bí thư Trọng trong một cuộc tiếp xúc với cử tri Hà Nội sau Hội nghị trung ương 7, cho dù ông Trọng vẫn không quên dùng bổ túc từ ‘lò đã nóng rực’.

Dường như ngay trước Hội nghị trung ương 7 đã xảy đến một bí mật cung đình nào đó mà đã khiến ông Trọng im lìm hẳn.

Phía trước của Tổng bí thư Trọng là gì? Khó mà biết được tương lai.

Nhưng nếu ‘đốt lò’ mất dạng, ông Trọng sẽ chính thức rơi vào một bãi lầy thụt mênh mông. Thậm chí cá nhân ông có thể bị trả giá bằng cả sinh mạng chính trị.

ĐA NGUYÊN LÀ GÌ? VÀ VÌ SAO PHẢI ĐA NGUYÊN?

Đỗ Ngà

ĐA NGUYÊN LÀ GÌ? VÀ VÌ SAO PHẢI ĐA NGUYÊN?

Đa nguyên theo nghĩa Hán Nôm thì đó là đa dạng, đa chủng. Như vậy đa nguyên chính trị là sự đa dạng chính trị. Đa dạng có nghĩa rất rộng như: nhiều đảng cũng là đa nguyên, nhiều ý kiến khác nhau trong một đảng cũng là đa nguyên vv..

Như vậy đa đảng chỉ là một trường hợp riêng của đa nguyên. Đa đảng là phải có đối lập, cương lĩnh khác, mục đích khác vì mỗi đảng là đại diện cho một nhóm chính trị có mục đích tương đồng. Như vậy đã đa nguyên thì phải có đa đảng, nghĩa là nhiều đảng phái độc lập nhau. Nhưng ngược lại không đúng, đa đảng thì chưa chắc gì là đa nguyên. Vì sao?

Để giải thích cho vấn đề đa đảng nhưng không đa nguyên, tức là một dạng đa đảng hình thức, thì tôi xin giới thiệu trường hợp Đảng Dân Chủ Việt Nam. Đảng này được thành lập vào năm 30/06/1944 và giải tán 20/10/1988 sau khi làm trò hề đa đảng cho ĐCS. Đảng Dân Chủ này như là một trò gian trá của ĐCS. Lấy ý thức hệ là chủ nghĩa dân tộc thay vì CNCS. Mục đích là thu hút giới trí thức không mặn mà với CS nhưng có tinh thần dân tộc. Đến 1988 vai trò đội lốt của nó đã hết thì ĐCS cho giải thể. Đấy là đa đảng nhưng không hề đa nguyên.

Trong một chiếc ô tô, ta có công nghệ cơ khí, công nghệ điện tử, công nghệ thông tin vv.. tích hợp trên một thể thống nhất và bổ trợ lẫn nhau. Từ thuần cơ khí như bộ chế hòa khí, được sự hỗ trợ của công nghệ điện tử đã cho ra đời công nghệ hỗ trợ cơ khí – điện tử để tạo thành hệ thống phun xăng điện tử. Điện tử đã tối ưu hóa hệ thống cơ khí. Tương tự vậy, đa nguyên là điều bắt buộc cho một quốc gia để hỗ trợ nhau trên con đường tiến lên giàu có và hùng cường.

Đảng A nắm lập pháp và chiếm đa số trong nghị viện. Vì thế để điều hành đất nước, đảng A đưa ra chính sách. Đảng B là đảng đối lập, họ cố tìm ra yếu điểm trong chính sách Đảng A để phản biện. Vì đảng A chiếm đa số Quốc hội nên chính sách được thông qua. Nhưng khi thi hành, chính sách gặp trở ngại. Thế là Đảng B dựa vào thất bại đó đưa ra ngay giải pháp hiệu chỉnh và giành lấy vai trò cầm quyền trong bầu cử để đóng vai trò đảng cầm quyền thi hành chính sách. Đó là cách ứng phó của bộ máy nhà nước đa đảng khi đảng cầm quyền gặp bế tắc trong vấn đề quản lý đất nước. Kẻ có phương án dự phòng luôn khó thất bại hơn kẻ có duy nhất 1 phương án. Đấy là lý do đất nước phải đa nguyên để phát triển.

Nếu một chiếc Ferrari mà đem tháo sạch chi tiết điện tử mà chỉ để lại chi tiết cơ khí thì nó chỉ là một cục sắt vô dụng. Cho nên, đất nước này cần phải đa nguyên đa đảng để phát triển. Nếu không đất nước sẽ đi đến con đường suy vong không lối thoát

Thông điệp của Hoa hồng: ‘Đem yêu thương vào nơi oán thù’

Cát Linh, RFA
2018-06-26

Nguyễn Ngọc Lụa, một trong những nạn nhân bị đàn áp ngày 17/6 ở Sài Gòn đang gắn hoa hồng lên hàng rào kẽm gai

Nguyễn Ngọc Lụa, một trong những nạn nhân bị đàn áp ngày 17/6 ở Sài Gòn đang gắn hoa hồng lên hàng rào kẽm gai

 Facebook Nguyễn Ngọc Lụa

Tao Đàn ngày 17 tháng 6

“Sài Gòn hôm nay không khác gì Sài Gòn giờ giới nghiêm”, một người quan sát diễn biến sự việc từ sáng sớm ngày 17 tháng 6 chia sẻ dòng trạng thái  trên mạng xã hội Facebook.

“Sài Gòn những ngày này như trong tình trạng thiết quân luật”, một chia sẻ khác cũng trên Facebook cho biết như thế.

Sáng Chủ Nhật hôm đó, Sài Gòn dày đặt lực lượng an ninh. Hàng rào kẽm gai, cảnh sát cơ động, an ninh chìm, nổi, lực lượng dân phòng, và theo những nhân chứng kể lại, có cả “côn đồ” được sử dụng tung ra khắp đường phố, tập trung ở khu vực thuộc vào “điểm nóng” như Hoàng Văn Thụ, Nhà thờ Đức Bà, phố đi bộ.

Nó thể hiện ra với tất cả các bên liên quan đó là những người biểu tình thì họ mong muốn những điều tốt đẹp hơn. Người ta hoàn toàn không thù địch. Người ta thật sự là những người ôn hoà. Người ta muốn cái đẹp, cái ôn hoà đó sẽ vượt lên bạo lực. Kẽm gai là biểu trưng của bố ráp, bạo lực. Hoa hồng thì biểu trưng cho lòng yêu thương, cho sự ôn hoà. – Nguyễn Anh Tuấn

Theo con số thống kê từ các nhà hoạt động xã hội đưa ra, cũng như chính từ những người bị bắt giam hôm 17 tháng 6 cho biết, có gần 300 người vô cớ bị “mời” lên xe cảnh sát đưa về sân vận động Tao Đàn.

Nhà hoạt động Nguyễn Anh Tuấn cho biết không khí ở Sài Gòn từ sau cuộc tổng biểu tình của cả nước vào Chủ nhật 10/6 là rất căng thẳng. Nhiều hình thức sử dụng bạo lực một cách “có hệ thống” được nhà cầm quyền dốc toàn lực để thực hiện, và đỉnh điểm là cuộc bố ráp, giam giữ và đánh đập người dân ở khu vực sân vận động Tao Đàn sáng Chủ nhật 17/6.

Từ đó, anh chia sẻ những gì anh cảm nhận từ hình ảnh những bông hoa hồng trên hàng rào kẽm gai.

“Nó thể hiện ra với tất cả các bên liên quan đó là những người biểu tình thì họ mong muốn những điều tốt đẹp hơn. Người ta hoàn toàn không thù địch. Người ta thật sự là những người ôn hoà. Người ta muốn cái đẹp, cái ôn hoà đó sẽ vượt lên bạo lực. Kẽm gai là biểu trưng của bố ráp, bạo lực. Hoa hồng thì biểu trưng cho lòng yêu thương, cho sự ôn hoà.”

Thêm vào đó, theo anh, khi những cánh hoa hồng được đặt lên hàng rào kẽm gai thì sẽ còn có hiệu quả khác, đó là ngụ ý nói lên những cáo buộc mà bên phía chính quyền cho người biểu tình là kích động bạo lực sẽ trở nên lố bịch, nhất là với những người biểu tình ở Sài Gòn, Hà Nội và các thành phố khác.

Thông điệp của những hoa hồng

Hình ảnh đầu tiên về những cánh hoa hồng đặt trên hàng rào kẽm gai dựa sát vào một gốc cây to ở khu vực sân vận động Tao Đàn vào ngày 19 tháng 6 nhanh chóng lan toả khắp mạng xã hội.

Ý kiến và sự đón nhận của dư luận đối với việc làm này cũng có nhiều góc độ khác nhau. Nhưng trước hết, hãy nghe chia sẻ từ chính những bàn tay đã đặt những cánh hoa hồng lên hàng rào kẽm gai đó. Vì sự an toàn, chúng tôi được đề nghị không nêu tên, và trích lại chia sẻ từ tin nhắn của các bạn ấy khi nói về thông điệp của những hoa hồng.

“Thông điệp đầu tiên muốn gửi đến những người bị bắt, bị đánh đập trong những ngày qua. Cảm ơn họ với tình yêu thương và lòng cảm thông sâu sắc. Mong những nỗi đau đớn đánh đập của họ mau chữa lành. Nhóm đã cắm rất nhiều hoa ở hàng rào kẽm gai khu vực công viên Tao Đàn và hàng rào sau lưng khu vực những người bị bắt giữ.

Thông điệp thứ hai là muốn gửi đến nhà cầm quyền rằng hàng rào kẽm gai cũng không thể ngăn cản chúng tôi bày tỏ chính kiến ôn hoà vì đất nước của mình.”

Với các bạn trẻ, tác giả của những cánh hoa hồng kia, thì “mỗi nguời xuống đuờng là một bông hoa đang tô thắm cho một xã hội Việt Nam đang u ám.

“Thông điệp đầu tiên muốn gửi đến những người bị bắt, bị đánh đập trong những ngày qua. Cảm ơn họ với tình yêu thương và lòng cảm thông sâu sắc. Mong những nỗi đau đớn đánh đập của họ mau chữa lành. Nhóm đã cắm rất nhiều hoa ở hàng rào kẽm gai khu vực công viên Tao Đàn và hàng rào sau lưng khu vực những người bị bắt giữ.

Thông điệp thứ hai là muốn gửi đến nhà cầm quyền rằng hàng rào kẽm gai cũng không thể ngăn cản chúng tôi bày tỏ chính kiến ôn hoà vì đất nước của mình. – Người gắn hoa hồng

Nhà hoạt động Nguyễn Anh Tuấn chia sẻ về cảm nhận của anh.

“Việc dùng hoa để phủ lên kẽm gai, về phương diện thông điệp thì rất tốt, nó khiến cho không khí bạo lực nó bớt căng thẳng. Nếu mình nhìn rộng ra hơn thì nó cũng gián tiếp thể hiện rằng nguyên 1 phong trào, cũng như hành động xuống đường diễn ra ở các thành phố thời gian vừa qua, chủ đạo vẫn là ôn hoà, văn minh. Nó không tỏ bất kỳ ý định thù địch nào đối với chính quyền nói chung cũng như là với người có trách nhiệm giữ trật tự nói riêng, là lực lượng an ninh.”

Bên cạnh sự hưởng ứng và chia sẻ của rất nhiều người đối với việc làm của nhóm bạn trẻ nà, cũng có những ý kiến cho rằng đó là hành động thuần “chủ nghĩa cải lương” hoặc “lãng mạn không hiệu quả”, một phong trào mà nếu chạy theo chỉ “thiệt thân”.

Chúng tôi ghi nhận ý kiến trích dẫn từ trang Facebook Phuong Le, nói về những người đi gắn hoa hồng như sau:

“Các bạn đi gắn hoa hồng lên hàng rào, các bạn phóng tác chuyện diễm tình trên hình ảnh đó , các bạn ngây thơ (hoặc giả bộ ngây thơ) rồi.

Các bạn không hiểu (hoặc làm bộ không hiểu) gì cả về họ!

Đây không phải là Myanmar, với gã cảnh sát canh giữ bà Aung Suu Kyi nghe piano mà nghệch mặt ra.

Đây không phải là Đảng Cộng sản Hungary, nghe công nhân lắc chìa khoá phản đối mà giải tán.

Đây không phải là cảnh sát Hồng Kong, tiếp nước cho người biểu tình.

Đây là máu, là lệ, là cải cách ruộng đất, là Mậu Thân, là cải tạo, thuyền nhân, là Thiên An Môn, là Nhân văn giai phẩm…

Đây là ngoại hạng, vô đối, có một không hai!

Lãng man hay làm bộ lãng mạn?”

Trả lời cho câu hỏi của những người chưa tán thành với việc dùng hoa hồng để nói thay cho tình yêu thương và lòng cảm thông, nhóm bạn trẻ cho biết:

“Hiệu quả hay không thì tuỳ ở mỗi người cảm nhận. Nhưng nhóm có đọc được phản hồi trên Facebook thì thấy có những phản hồi rất tích cực đặc biệt là có những người từng bị bắt cũng nhận xét là cảm thấy được quan tâm và chia sẻ hơn.”

Một trong những nạn nhân của cuộc khủng bố ngày 17/6 là cô Nguyễn Ngọc Lụa đã đăng tải hình ảnh cô đang đặt một cánh hoa hồng lên hàng rào kẽm gai cùng với lời nhắn nhủ cô gọi là “Đem yêu thương vào nơi oán thù”:

“Nếu có dịp ngang qua đây, xin hãy dừng lại để lại trên những hàng rào kẽm gai những bông hoa với thông điệp muốn nói của mình, và có thể lưu giữ nó bằng những hình ảnh đẹp, để ai đó muốn bắt bớ ngăn cản chúng ta xuống đường cũng ý thức một điều rằng, chính là những bông hoa màu nhiệm chứ không phải điều gì khác, mới hồi phục lại một xã hội văn minh tình thương.”

Theo quy luật thì những bông hoa hồng ấy rồi sẽ phải tàn. Nhưng với thông điệp mà nhóm bạn trẻ đã gắn những bông hoa ấy chia sẻ, thì quyền bày tỏ chính kiến của họ sẽ không bao giờ héo tàn. Và như anh Nguyễn Anh Tuấn đã nói, hình ảnh hoa phủ lên hàng kẽm gai thì có nghĩa là cuối cùng, sự ôn hoà và lòng yêu thương sẽ vượt lên bạo lực và hận thù

Lòng yêu nước mới của nhân dân Việt Nam

Lòng yêu nước mới của nhân dân Việt Nam

Phạm Văn (Danlambao) – … Không thể chống lại, ngăn chặn được bước chân giặc ngoại xâm đang lấn dần từng mảnh đất quê hương theo phương thức “xâm lược mềm”, không thể có tự do-dân chủ và phát triển-văn minh, nếu không nhận ra và tiêu diệt chế độ độc tài Đảng “cộng sản” trị hết sức lỗi thời và nguy hại đối với sự tồn vong của dân tộc…
 
*
Một nhà giáo dục Nhật Bản nổi tiếng thế kỷ XIX đã giúp người dân Nhật Bản phân biệt hai tình cảm hay hai giai đoạn của lòng yêu nước, đó là “lòng yêu nước thô ráp” và “lòng yêu nước tinh tế”. Chính lòng yêu nước tinh tế là một trong những nguyên nhân, động lực quan trọng đưa nước Nhật trở thành một đất nước phát triển-văn minh như hiện nay. Ở Việt Nam cuộc biểu tình-xuống đường trong những ngày tháng 6, nhất là ngày 10 tháng 6 vừa qua của hàng vạn người dân Việt Nam đã biểu hiện một tinh thần hay lòng yêu nước tinh tế, tôi gọi đó là lòng yêu nước mới, cũng có thể gọi là chủ nghĩa yêu nước mới và do đó, đã sáng tạo ra một khái niệm mới về lòng yêu nước. 
Nếu như lòng yêu nước truyền thống dù là “rất quý báu” chủ yếu được thể hiện trong việc đánh đuổi và chống giặc ngoại xâm để bảo vệ, giữ gìn đất nước (và nói chung được tổ chức, lãnh đạo bởi các thể chế quân chủ-độc tài), thì lòng yêu nước mới của nhân dân Việt Nam có nội dung khác về cơ bản. Lòng yêu nước mới của nhân dân Việt Nam hiện nay không chỉ có nội dung chống giặc ngoại xâm, chống lại nguy cơ đất nước bị xâm chiếm bởi giặc bành trướng Trung Cộng tham lam-thâm hiểm-tàn độc, mà còn có nội dung căn bản, rất đặc trưng, đó là chống lại chế độ độc tài Đảng “cộng sản” trị để xây dựng chế độ Tự do-Dân chủ, mở đường cho đất nước phát triển, hội nhập với nhân loại tiến bộ-văn minh. 
Hãy nhìn những cuộc biểu tình với hàng vạn người rùng rùng chuyển động như những cơn sóng lớn đặng nhấn chìm tất cả những gì cũ kỹ, đớn hèn. Hãy xem những cuộc biểu tình có cả người già, thanh niên, phụ nữ và cả trẻ em: Họ đang thể hiện những quyền con người của mình. 
Hãy trông những em bé, những thiếu niên đang được những con người anh minh-dũng cảm trong đó có cả các linh mục, giáo dục một cách thực tiến về lòng yêu nước, xa rời lối giáo dục sách vở-áp đặt. Hãy nghe những tiếng hô, tiếng hát vang trong các cuộc biểu tình: “Trả lại đây, trả lại cho nhân dân quyền tự do, quyền con người, quyền phúc quyết. Dân biết việc gì dân cần…”
Đặc biệt, hãy nghe người dân nơi quê hương “cách mạng” Mỹ Tho xưa kia thét vang: “Đả đảo Đảng cộng sản…!” Đừng nghĩ đơn giản đó chỉ là tiếng thét của sự uất hận hay bất mãn, trái lại đó là tiếng thét nhận ra sự thật, chân lý: không thể chống lại, ngăn chặn được bước chân giặc ngoại xâm đang lấn dần từng mảnh đất quê hương theo phương thức “xâm lược mềm”, không thể có tự do-dân chủ và phát triển-văn minh, nếu không nhận ra và tiêu diệt chế độ độc tài Đảng “cộng sản” trị hết sức lỗi thời và nguy hại đối với sự tồn vong của dân tộc. 
Lòng yêu nước mới của nhân dân Việt Nam là như thế đấy! Lòng yêu nước ấy do nhân dân Việt Nam sáng tạo ra trong thực tiễn đấu tranh-biểu tình trong những ngày sôi sục có cả sự đổ máu vừa qua. Nó có thể còn non yếu và nhiệm vụ của những người trí thức của nhân dân là giúp nhân dân ý thức được đầy đủ điều vô cùng quý giá ấy, không được phép, không cho phép kẻ nào xuyên tạc, bóp méo nó, vì như thế là xúc phạm tình cảm chân chính, rất cao đẹp của nhân dân Việt Nam. 
Hà Nội, 25 tháng 6 năm 2018