“Trái tim con, đang rên siết héo mòn,”

Suy Tư Chúa nhật thứ 18 thường niên năm B 05/8/2018

(Ga 6: 24-35)

Vậy khi dân chúng thấy Đức Giê-su cũng như các môn đệ đều không có ở đó, thì họ xuống thuyền đi Ca-phác-na-um tìm Người. Khi gặp thấy Người ở bên kia Biển Hồ, họ nói: “Thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ vậy?” Đức Giê-su đáp: “Thật, tôi bảo thật các ông, các ông đi tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê. Các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực trường tồn đem lại phúc trường sinh, là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, bởi vì chính Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận.” Họ liền hỏi Người: “Chúng tôi phải làm gì để thực hiện những việc Thiên Chúa muốn?” Đức Giê-su trả lời: “Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm, là tin vào Đấng Người đã sai đến.” Họ lại hỏi: “Vậy chính ông, ông làm được dấu lạ nào cho chúng tôi thấy để tin ông? Ông sẽ làm gì đây? Tổ tiên chúng tôi đã ăn man-na trong sa mạc, như có lời chép: “Người đã cho họ ăn bánh bởi trời.”

Đức Giê-su đáp:”Thật, tôi bảo thật các ông, không phải ông Mô-sê đã cho các ông ăn bánh bởi trời đâu, mà chính là Cha tôi cho các ông ăn bánh bởi trời, bánh đích thực, vì bánh Thiên Chúa ban là bánh từ trời xuống, bánh đem lại sự sống cho thế gian.” Họ liền nói:“Thưa Ngài, xin cho chúng tôi được ăn mãi thứ bánh ấy.” Đức Giê-su bảo họ:”Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ!”    

&   &    &

“Trái tim con, đang rên siết héo mòn,”

“Nên chạy đến bên Người, con kêu khấn.”

(dẫn từ thơ Hoài Châu)

 Phải chăng nhà thơ nay chạy đến bên Người là vì tâm can rên siết, những héo mòn? Phải chăng nhà Đạo cũng làm thế, khi tim mình chẳng còn thấy gì hứng thú? Héo mòn và hứng thú, là hai phạm trù được diễn tả ở trình thuật thánh Gioan ghi, hôm nay.

Trình thuật thánh Gioan nay ghi, là ghi về một sự thể có tình tiết giống ở đời. Tình tiết, về Bánh Hằng Sống rất yêu thương, không chỉ có ở Tiệc Thánh, mà thôi. Nhưng, Bánh Hằng Sống còn là Lời Ngài trải rộng trong từng giai đoạn tiến triển ở Tiệc Thánh. Và, Tiệc Ngài dọn còn dành nguyên nửa buổi để giúp người dự vui hưởng tâm tình Ngài tỏ bày, qua bài đọc.

Bài đọc 1, trích từ Cựu Ước thường ăn khớp với Phúc Âm. Ở ngay giữa là bài đọc 2, gồm các thư của thánh tông đồ theo chân Chúa từ độ ấy, đa phần là thư thánh Phaolô được Hội thánh dùng làm cầu nối giữa Cựu và Tân ước. Thế nên, Tiệc Thánh vẫn là dịp thuận để người dự sống áp dụng Lời Ngài, trong cuộc đời.

Đôi lúc người dự Tiệc thấy cũng khó mà hiểu trọn các đoạn Kinh Sách được trích theo kiểu bốc thăm vốn vượt ra ngoài bối cảnh của Tin Mừng. Nên, đôi lúc người nghe cũng thấy khó mà áp dụng vào cuộc sống bình thường của người đi Đạo. Nhưng, nếu người đọc và người nghe chú tâm vào chủ đề từng biến đổi từ cảnh bạo lực trong cuộc sống thành động thái biết chọn sống hiền lành/tử tế, sẽ khác hẳn.

Đồng thời, trích dẫn bài đọc từ sách Cựu Ước theo kiểu bốc thăm/may rủi, có thể làm người nghe thấy cũng giống báo đài thuật toàn chuyện bạo lực, như: khuynh loát, sách nhiễu, hành hạ nô lệ, lưu đày, thánh chiến, nói chung về nền văn hoá Do thái trước sau lưu đày. Với người Do thái, toàn bộ nền văn hoá này gồm tóm trong Torah, vẫn tồn tại trong thế giới còn hoang sơ mà họ là thành phần thiểu số. Ở đó, còn nói đến Giao ước Chúa thiết lập với con ngưòi. Đến Lời Ngài hứa ban cho dân con một tương lai ngời sáng có “đất lành chim đậu”, có vương quốc Nước Trời hiền hoà do vua cha và ngôn sứ dành để.

Bài đọc 3, là trình thuật rút từ Giao Ước Mới của Chúa, đôi khi cũng pha dặm đôi nét bạo lực, như: cảnh Chúa cam chịu đóng đinh, đền thờ Giêrusalem bị phá hủy, hoặc đế quốc La Mã hà hiếp văn hoá của người Do thái ở thế kỷ cuối trước Công nguyên. Nói tóm, Giao Ước Mới cũng thấy cảnh khổ đau, sầu buồn, tàn bạo. Nhưng, thực chất của Giao Ước Mới chỉ đưa ra cách sống mới không bạo tàn, cưỡng bức.

Bằng vào cung cách mới này, Đức Giêsu và những người theo chân Ngài cũng từng trải sự sống không chỉ lúc nào cũng tích cực, nhưng có lúc cũng trầm buồn, rất nản lòng. Và, Ngài cũng thấy ở đó một dịp thuận tiện để ta suy tư về chủ thuyết duy-kỷ vốn lợi dụng người khác để làm lợi cho chính mình, tôn thờ mình. Trái lại, Ngài còn chấp nhận đường sống rất thấp để biến Ngài thành chốn hư không, trống rỗng, không màng quyền lực vẫn chờ chực mình ở quanh đó. Và, Ngài chấp nhận chịu đóng đinh trên thập tự là vì thế. Chấp nhận, cả cái chết rất bạo tàn qua kinh nghiệm về nỗi “chết dần chết mòn” để rồi tìm ra điều tích cực hiện tỏ sự trỗi dậy từ mồ trống.

Suốt cuộc đời, Ngài chỉ nói bằng Lời thương yêu vô điều kiện. Thứ tình thương chỉ hiện rõ nơi cuộc sống trải nghiệm về nỗi chết bạo tàn hầu chọn lựa Sự Sống tích cực mà con người vẫn giáp mặt, nhưng khó thấy. Chúa từng sống trải nghiệm vẫn giáp mặt nỗi niềm chết chóc rất tiêu cực, có thế mới ban cho ta khả năng và nghị lực cùng ý chỉ để được sống như Ngài. Và Ngài chuyển đến cho ta sức sống nội tâm là Thần Khí đến ở trong ta, để ta cùng Ngài mà sống. Sống, có thời khắc của Xuân mùa bất tận, trong đó mọi người sẽ không còn sống theo cung cách bạo lực, nữa.

Đôi lúc việc chọn bài đọc không cho người nghe biết rõ tất cả ý nghĩa của chọn lựa. Nhưng nếu người dự Tiệc Thánh vẫn thường xuyên đến với cộng đoàn để cùng dự, sẽ dễ nhận ra điều này. Và, người dự sẽ còn khám phá thêm nhiều ý nghĩa hơn. Khám phá ra Chúa đang nói Lời yêu thương với ta. Và, Ngài vẫn chờ đợi nơi ta một đáp trả, tích cực. Đáp trả, không bằng câu trích từ sách cổ, nhiều điển tích. Nhưng, bằng áp dụng Lời sống động vào cuộc sống của ta, và mọi người.

Bởi thế nên, đọc Lời Chúa ở Tiệc Thánh không chỉ đơn giản đọc và hiểu mỗi nghĩa chữ của bài đọc; nhưng nên coi đó như Lời đối thoại Chúa chuyển đến với ta, để ta đàm đạo với Người. Đối thoại, là để đáp trả từ niềm tin sau khi nghe Lời Ngài dạy dỗ. Đối thoại trong im lặng, cũng là động thái đáp trả mà Chúa vẫn chờ từ nơi ta. Đáp trả, bằng niềm tin-yêu ta vẫn có đối với Chúa, với mọi người.              

Tiếng Do thái cổ xưa, được sử dụng trong Cựu ước, thường diễn tả sự đáp trả ấy bằng cụm từ “Dabar” tức “lời được thốt” bao gồm cả một ý tưởng về một sự kiện vừa khởi đầu. Ở Tiệc Thánh, nhất là phần Tiệc Lời Chúa, là sự khởi đầu của đáp trả. Theo sau đó, có lời diễn giải của linh mục hoặc phó tế muốn biến đáp trả ấy bằng hiện thực, ngay tại chỗ. Diễn và giải, không là giáo án hoặc bài giảng thuyết. Nhưng lại là nói lên quan điểm lập trường bảo rằng Lời của Chúa trong đó bao gồm rất nhiều đường lối sống Chúa đưa ra, và có nghĩa là Ngài còn chờ sự đáp trả, không phải bằng nghi thức tế tự ở buổi Tiệc, mà bằng cuộc sống thực được áp dụng vào những tuần sau đó. 

Diễn giải hoặc san sẻ Lời của Chúa, dù gọi đó là giảng thuyết hay giảng đạo đi nữa, vẫn là để cho người dự Tiệc nghe biết về đường lối sống giống như Chúa. Giống, như một đáp trả rất thân thiện, lành mạnh. Diễn giải Lời Ngài, còn để khích lệ người dự Tiệc học được cung cách biến đổi tính bạo tàn trong cuộc sống thành tính chất hiền từ/tử tế, vào mọi lúc. Hiền từ/tử tể với chính mình, người khác và với Chúa.

Chu kỳ phụng vụ suốt 3 năm, Hội thánh trích dẫn rất nhiều bài đọc. Và, kèm theo đó, có rất nhiều bài giảng thuyết khiến người nghe những là ngủ vùi, hoặc lịm chết. Nhưng, tựu trung, Chúa vẫn tỏ ra kiên nhẫn với người diễn và giảng Lời. Thậm chí, Ngài còn mong cho mọi người cả người diễn giảng lẫn người nghe giảng giải có thể biến đổi trở nên hiền từ/tử tế, rất hết mình. Ngài không vội vã ước muốn lời diễn giảng mau chóng mang lại kết quả rất nhãn tiền. Bởi, càng vội vã bao nhiêu thì việc đổi và biến cũng không bảo đảm được chất lượng thực sự của biến đổi.

Thời nay, người người nói quá nhiều về cụm từ “đọc sách thánh”, hiểu theo nghĩa chỉ những đọc và nghe mà không theo đường lối tích cực. Tức, chỉ ngồi đó nghe tai này lọt tai khác như nghe hát nhạc kịch. Nghe rồi là xong, chẳng đánh động cũng chẳng đưa người nghe đi vào một quyết tâm. Nói cách khác, chẳng có gì bảo đảm là Lời Chúa đi sâu vào tâm khảm của người nghe lẫn người đọc để rồi khích lệ họ áp dụng vào đời sống có đáp trả.

“Đọc sách thánh” ở Tiệc Lời Chúa, lại quyết mang một ý nghĩa khác. Ý nghĩa, của sự việc giúp đỡ người nghe đi vào hiện thực. Nghe như thế, là nghe trong tư thế sẵn sàng biến đổi từ sự bạo tàn, khó chịu thành động thái chịu khó mà sống hiền từ/tử tế. Có như thế, Lời Chúa mới tiếp tục trở thành cuộc đối thoại cởi mở, giữa Chúa và chính mình. Giữa chính mình và Đức Chúa hiện diện nơi tâm người khác. Dù người đó có là Kitô-khác, hay chỉ là người “ngoài luồng”, ngoài Đạo.

Nói cách khác, “đọc sách thánh” là đọc được sự đối thoại giữa Đức Chúa và con người. Giữa con người và con người, như Kitô-khác. Đọc như thế, sẽ như thể dám cùng nhau đứng thẳng dậy mà tuyên xưng niềm tin qua kinh Tin Kính của cuộc đời vẫn tuyên bố rằng: Chúng tôi tin vào đường lối sống Chúa khuyên dạy, từ Sách thánh. Và chúng tôi sẽ tìm cách biến Lời ấy thành hiện thực, ở đời thường.

Tiệc Lời Chúa, như thế là sự thể của toàn thể vũ trụ vạn vật. Thế nên, vào giờ nguyện cầu tiếp theo sau, lời lẽ yêu cầu vào lúc ấy không còn là những thỉnh cầu lợi lộc cho riêng bản thân người cầu và nguyện, nhưng mang tính toàn cầu. Bởi lời cầu của vũ trụ không là cầu cho ông A bà B được tìm thấy sau khi bị lạc. Nguyện cầu đây, cũng không là lời cầu của vũ trụ vạn vật chỉ xin Chúa có được sự kiện lớn lao trong vũ trụ. Nhưng là lời cầu mong cho chuyện lớn trong vũ trụ được xảy đến qua đó mọi người trở nên hiền từ/tử tế, thật giống Chúa.

Nguyện cầu vào Tiệc Lời Chúa, là nguyện và cầu để vũ trụ vạn vật có được bình an, không một ai còn hằn in tính chất bạo tàn, kỳ thị. Nhưng, biết nghĩ đến người khác. Biết hỗ trợ, giùm giúp những người có nhu cầu thiết thực, ở mọi nơi. Lời cầu và nguyện ước ấy dẫn đưa người dự Tiệc hiên ngang phấn khởi để vào với phụng vụ Thánh Thể, rất hiệp thông. Xuyên suốt. Rất đậm đà tình Chúa và tình người.

Trong tâm tình đó, nay ta lại ngâm tiếp lời thơ ý nhị còn ngâm dở:

            “Trái tim con đang rên siết héo mòn,

            Nên chạy đến bên Người con kêu khấn.

            Xin Chúa thương đưa bàn tay chí thánh,

            Giúp cho con được chắp cánh cùng nàng…”

            (Hoài Châu – Nguyện Cầu)  

    Nguyện cầu đây, không chỉ để chắp cánh bay cao cùng nàng, về đâu không biết nữa. Nhưng nguyện và cầu, để người người biết nghe Lời giống như Chúa, chỉ muốn hiện thực ý của Ngài, mà thôi. 

Lm Kevin O’Shea DCCT biên soạn –

Mai Tá lược dịch

 “Rộn ràng một nỗi đau” 

Chuyện Phiếm đọc trong tuần 18 Thường niên năm B 05/8/2018

 “Rộn ràng một nỗi đau”
Nghẹn ngào một nỗi vui
Dịu dàng một nỗi đau
Nghẹn ngào một nỗi vui.
(Ngô Tịnh Yên/Trần Duy Đức – Nếu Có Yêu Tôi)

(2Thessalônikê 1: 4-6)

 Trần Ngọc Mười Hai

Nỗi đau rộn ràng ư? Đã đau rồi, thì bao giờ mà chẳng rộn-ràng. Rộn và ràng, theo nghĩa “khẩn trương” thân thương thật gấp rút. Nếu không, chắc sẽ không còn đủ thì giờ mà hát với xướng, những câu sau đây:

“Có tốt với tôi thì tốt với tôi bây giờ
Đừng đợi ngày mai đến lúc tôi xa người
Đừng đợi ngày mai đến khi tôi phải ra đi
Ôi buồn làm sao nói lời tạ ơn. 

Nếu có bao dung thì hãy bao dung bây giờ
Đừng đợi ngày mai đến lúc tôi xa đời
Đừng đợi ngày mai biết đâu tôi nằm im hơi
Tôi chẳng làm sao tạ lỗi cùng người.
(Ngô Tịnh Yên/Trần Duy Đức – bđd)

Và cứ thế, người nghệ sĩ lại cứ ca hoài/ca mãi một câu hát được trích-dẫn rất nhiều lần, như sau:

“Có nhớ thương tôi thì đến với tôi bây giờ
Đừng đợi ngày mai lúc mắt tôi khép lại
Đừng đợi ngày mai có khi tôi đành xuôi tay
Trôi dạt về đâu chốn nào tựa nương.

Và:

“Nếu có yêu tôi thì hãy yêu tôi bây giờ
Đừng đợi ngày mai đến lúc tôi qua đời
Đừng đợi ngày mai có khi tôi thành mây khói
Cát bụi làm sao mà biết mỉm cười. 

Rộn ràng một nỗi đau
Nghẹn ngào một nỗi vui
Dịu dàng một nỗi đau
Nghẹn ngào một nỗi vui.”

(Ngô Tịnh Yên/Trần Duy Đức – bđd)

Nỗi đau và niềm vui đây, có giống câu truyện kể ở bên dưới không?

“Truyện rằng:

Cậu bé 8 tuổi lần đầu tiên bước vào lớp ngày tựu trường.

Cô giáo hỏi:

-Này, em tên gì thế? 

-Em tên Mohamed. 

Cô giáo bèn nói tiếp:

-Em đang ở Mỹ, từ nay mọi người sẽ gọi em là Mike nha. 

 Tan trường cậu bé trở về nhà. Mẹ cậu bèn hỏi:

“Ngày đầu đi học ra sao, Mohamed?” 

Cậu bé nói:

-Con đang sống ở Mỹ, từ nay tên con sẽ là Mike. 

-Mày xấu hổ vì cái tên Mohamed hả? Mày muốn làm nhục cha mẹ, tổ tiên, truyền thống, và tôn giáo mày hả? Rồi bà mẹ đánh cậu bé một chập. 

 Lúc chồng về tới nhà, bà ta kể lại. Thế là ông cha lôi thằng bé ra đánh thêm chập nữa. 

Hôm sau tới trường, thấy mình mẫy cậu bé bị bầm dập, cô giáo hỏi,

-Em bị gì vậy Mike?” 

Mike trả lời:

-Liền sau khi vừa trở thành người Mỹ, em bị 2 đứa khủng bố Hồi giáo chúng tấn công em!

“Bị Hồi-giáo tấn công”, không sợ bằng bậc thày nọ có quan-niệm lạ về Cuộc sống, Giáo huấn và Sự việc liên quan đến Cách mạng Tôn giáo” như đã viết, rằng:   

“Từ hồi nhỏ, tôi vẫn hát những ca khúc kể về cuộc đời Đức Giêsu đã thuyết phục tôi suốt nhiều năm trường cho tới khi khôn lớn tôi vẫn nhận ra rằng đời mình còn có vấn-đề quan-trọng không kém, đó là: làm sao kể truyện Ngài đây?

 Quả thật, có nhiều cách kể về đời Đức Giêsu, nhưng kể cách nào, đó mới là vấn-đề. Và, vấn-đề này luôn mang tính nghiêm-chỉnh rất khó lường…

 Ở thế kỷ thứ tư và thứ năm, ngôn ngữ nhà Đạo luôn luôn kể rằng Đức Giêsu là “Ngôi Thứ Hai” trong Ba Ngôi Đức Chúa Trời và Ngài luôn trở nên Một với Thiên-Chúa Cha”. Với người theo Đạo Chúa, thì: mặc-khải lớn về Thiên-Chúa là Đấng có xương thịt, mà ta vẫn gọi bằng cụm-từ “Con Thiên Chúa”, qua đó sự việc Ngôi Lời đã mặc tính xác thịt ôm trọn những gì mọi người nghĩ về Thiên-Chúa trong cuộc sống của con người, như Ánh Sáng chiếu rọi nhân-trần, Ngài tỏa sáng trên ta về bản-chất và ý-định của Thiên Chúa và đường lối để ta sống.

 Đã đành là, người Đạo Chúa vẫn cho rằng Kinh thánh luôn mặc-khải về Thiên-Chúa như Lời của Ngài”. Quả thật, thần-học chính-thống của Đạo Chúa từ ngàn xưa, vẫn khẳng-định rằng sự việc mặc khải Thiên-Chúa đầy tính quyết-định chính là Đức Giêsu bằng xương bằng thịt.

 Và, Kinh thánh chính là “Lời” trở thành “lời lẽ”thế nên mặc-khải về Chúa bằng “lời lẽ” của con người.

 Thành thử, Đức Giêsu chính là “Lời” trở thành xác phàm, thế nên mặc-khải về Chúa đã thành hiện-thực trong cuộc sống của con người. Thành thử ra, Đức Giêsu mang mặc đặc-tính đầy xác-quyết hơn cả Thánh Kinh…” (X. Marcus J. Borg, Jesus: Uncovering the Life, Teachings and Relevance of a Religious Revolutionary, HarperOne 1989, tr. 5-7)

Niềm vui và nỗi đau ở đời người, còn được diễn tả trong truyện kể của người mình, cũng huê-dạng như sau:

“Hà Nội là cả một thế giới bí mật, nó luôn luôn giấu những bất ngờ nho nhỏ ở một chỗ ta không hình dung ra được. Một may mắn tình cờ nào đó ta tìm thấy cái bí mật đó ngay trước mặt ta, ta bàng hoàng như được ai mời một chén rượu quý. Cái ngọt của rượu cứ vương mãi ở cổ như một bài thơ chưa đọc đến câu cuối cùng. Câu thơ đó có thể ở lại với ta suốt một đời người.

Một buổi chiều, tôi lang thang trên đường phố Hà Nội, đi một mình trong khi chờ đợi chồng con (được một ngày mẹ cho) đang phân tán trong phố cổ trở về đi ăn tối. Vừa đi vừa ngắm nghía hai bên: Phố, người, xe tấp nập buổi tan tầm, chạy đâm vào nhau, như những con rối trong tuồng múa nước. Cái cảnh này trên thế giới chỉ có ở những nơi đất hẹp người đông. Hà Nội, Sài Gòn Việt Nam là hai nơi điển hình đáng kể nhất. Chen giữa bước chân đi là những hàng ăn, hàng uống bầy cả ra hai bên phố. Ngay trước những cửa hiệu hàng hóa, ai muốn bán thì cứ bầy ra bán.

 Ở một con ngõ vào xóm người ta cũng có thể chăng một tấm bạt từ vách tường của nhà bên phải sang vách tường của nhà bên trái ở ngay đầu ngõ làm thành một quán cà phê hay một quán bán chè, bán cháo.

 Ai may mắn có được cái mặt tiền độ ba thước vuông là thành một cửa hiệu khang trang lắm rồi, còn không thì cứ bầy ngay ra trên lối đi, trên một nắp miệng cống cũng để vừa một gánh hàng rong. Khách hàng xúm xít ngồi xuống ăn uống rất là tự nhiên, giản dị, thưởng thức món ăn thật hạnh phúc, chẳng kém gì những người khách ở trong một nhà hàng sang trọng thưởng thức món ăn của mình.

Tôi hòa mình vào trong cái dòng sinh mệnh đông đảo đó. Lang thang mãi, mỏi chân và khát nước, thấy thèm một ly trà quá. Thật may, một cái quán bán nước trà, kẹo lạc (đậu phọng) đơn sơ ngay góc đường Tôn Đức Thắng và Đoàn thị Điểm. Quán không có bảng hiệu, vài cái bàn thấp và ghế đẩu, nhưng gần như mọi người đã ngồi hết, tôi đứng loay hoay một vài giây, có người giúi cho vào tay chiếc ghế đẩu, mà chẳng nói một câu gì.

 Tôi vội cám ơn và nhận được một nụ cười. Ngồi xuống, chưa kịp gọi thì chủ quán, một người đàn bà trẻ khoảng ngoài ba mươi đã đem đến trước mặt tôi một ly nước trà, và cái đĩa nhỏ có mấy chiếc kẹo. Chị không nói câu nào, đặt ly nước trà bốc khói, thơm ngát xuống ngay một góc bàn đã có bốn người ngồi trước mặt tôi với một nụ cười, tôi cũng cười lại đáp lễ, cúi xuống nhìn vào ly nước một giây, rồi uống một ngụm nhỏ. Nước trà vừa chát, vừa ngọt, vừa thơm, đúng là trà mộc Thái Nguyên. Uống ngụm nước mà như uống một nụ cười. Hình như những người ở trong quán này ai cũng hào phóng nụ cười.

Nước trà làm tôi tỉnh hẳn người, lúc đó tôi mới để ý nhìn chung quanh. Quán trà nhỏ xíu nhưng rất ấm cúng và giản dị. Chị chủ quán đang loay hoay với những chiếc ấm, những hộp, những gói trà và những chiếc ly thủy tinh. Ánh lửa ở chiếc lò ga hắt lấp lóe một bên má chị, nhìn thấy cả đuôi lông mày của con mắt bên đó kéo dài một nét thanh thanh, cái bóng nhỏ bé của chị hắt một vệt rất mờ trên vách.

 Cả quán có ba chiếc bàn vuông và một chiếc bàn dài, bàn vuông thì ngồi được hai người, bàn dài thì được bốn người. Vì quán rất hẹp, nên kê gần nhau lắm. Bàn nào hình như cũng chen thêm ghế, và khách ngồi sát vai nhau rất là thân mật. Họ chụm đầu vào nhau, trò chuyện, nhai kẹo lạc ròn thành tiếng, khói trà nghi ngút bốc lên ngang mặt mọi người, nhưng sau làn khói mỏng manh đó những con mắt vẫn ánh lên khi họ nhìn nhau trò chuyện. Thỉnh thoảng họ lại giơ tay đập vào vai nhau rất thân thiện.

Quán trà bình dân này không có tiếng hát, tiếng nhạc vỡ ra từ máy phát thanh hay truyền hình như ở các nơi khác, nên không khí rất êm ả. Khách nói chuyện với nhau rất khẽ, khẽ đến nỗi không nghe được tiếng, chỉ thấy những bàn tay xòe ra, nắm vào, những ngón tay chỉ vào ngực mình, hay chỉ vào mũi người khác thi nhau múa lên. Nếu họ nói to thì chắc là quán đang ồn lắm.

 Mặc cho tiếng ồn ào của những chiếc xe gắn máy, tiếng còi xe bóp inh ỏi, tiếng người gọi nhau ơi ới, tiếng rao hàng và đôi khi chen vào cả tiếng cãi cọ trước cửa quán, những người vào đây uống trà họ giữ được không khí rất là thinh lặng, nói rất khẽ và cười rất nhẹ. Chị chủ quán luôn luôn biết ý khách hàng, không đợi gọi, kẹo chưa hết đã mang ra, trà lúc nào cũng được rót đầy ly đem tới, chị thong thả chuyên nước sôi từ ấm sang bình, tiếng nước sôi trên bếp cũng nhẹ nhàng như tiếng guốc chị di chuyển, hình như tôi nghe được cả tiếng thở của chị.

Tôi uống đến ly trà thứ hai và ăn gần hết chiếc kẹo, tỉnh hẳn người, lúc đó mới quan sát kỹ đến những người khách chung quanh mình. Họ phần đông còn trẻ, người già nhất chắc chỉ khoảng bốn mươi, họ đang nói chuyện với nhau bằng những bàn tay, múa khoa lên trong quán. Cách nói chuyện của họ làm tôi liên tưởng đến một lớp “Sign Language” ở College tôi đã theo học cách đây mấy năm.

 Câu đầu tiên chúng tôi học là lấy ngón tay chỉ vào giữa ngực mình, xong xòe bàn tay ra áp vào bên trái ngực, rồi chỉ ngón tay vào người đối điện. Như thế có nghĩa là I love you.Tôi đã học hết khóa vỡ lòng và có thể nói chuyện vài ba câu thông thường với người câm, điếc. Bẵng đi một thời gian không học tiếp theo, bây giờ khó mà nhớ lại được hết những điều mình học.

Chị chủ quán đến gần tôi với một mảnh giấy, đưa cho tôi đọc. “Đây là quán Trà của người câm và điếc, bà cần gì thêm xin viết xuống đây.” Tôi ngẩn người ra nhìn chị, chị nhìn lại tôi cũng vẫn với nụ cười. Tôi viết lên tờ giấy của chị vừa đem đến, hỏi chị mở quán này bao lâu? Thì chị cho biết là mới hai năm, sau khi vừa lập gia đình, anh cũng là người dùng ngôn ngữ thinh lặng như chị.

 Chúng tôi tiếp tục bút đàm với nhau, chị nói khi mới mở quán trà, muốn bán cho tất cả mọi người, nhưng khách nói được đến uống trà thấy cứ phải bút đàm với chủ quán mất nhiều thời giờ quá và khách không nói được thì cứ giơ tay chỉ chỏ vào họ, nên họ bỏ đi. Dần dần những người câm, điếc rủ nhau đến đây uống trà, coi như quán này mở ra chỉ để dành riêng cho họ, những người đối thoại thinh lặng.

Tôi ngồi im trong bóng chiều chập choạng, một vài cửa tiệm đã lên đèn, chị chủ quán cũng bật lên một ngọn đèn điện ở một góc quán, ngọn đèn không được sáng lắm, nhưng cũng soi rõ những bàn tay đưa ra, những ngón tay chỏ vào nhau, tôi ngắm nhìn những bàn tay đó cố vận dụng vốn liếng ít ỏi đã học được của mình, dần dần tôi hiểu họ đang nói với nhau về việc làm, giá sinh hoạt, có người có con vừa ở bệnh viện ra, có người vừa thất nghiệp. Tôi dở quá nên nghe được mà không nói được. Nếu tôi còn nhớ để nói chuyện được với họ thì hay biết bao!

Nếu ai đã từng được thưởng thức tuồng Nô của người Nhật, là một loại tuồng các diễn viên sơn mặt trắng toát giống nhau, khi diễn kịch họ không nói tiếng nào, chỉ diễn tả bằng cách khoa tay múa chân, người xem phải đoán được cảm xúc của họ qua những cử chỉ đó, thì thấy những người đang uống trà trong quán này giống như họ vậy, có khác một điều những người này không phải kịch sĩ, họ không quét sơn trắng lên mặt, nên ta đọc được cảm xúc trên từng cái cau lông mày, cái cười mệt mỏi nửa miệng, hay nụ cười nở tung ra như một đóa hoa.

 Tôi phải nhờ chị chủ quán thông ngôn, cái ngôn ngữ thinh lặng này. Tôi viết xuống giấy câu hỏi, rồi chị chủ quán dùng tay nói lại với họ. Chị cho biết phần đông những người này không biết đọc, biết viết. Nếu tôi muốn nói chuyện với họ, phải nói thật to, không được dùng tay che miệng, họ sẽ nhìn miệng tôi mà đoán tôi đang nói câu gì.

Có người rút ở trong túi ra một tờ giấy, có bọc plastic với một dòng chữ in sẵn: Tôi vừa câm vừa điếc. Không biết chữ. Xin nói to và đừng che miệng. Tôi nhìn tờ giấy được giữ gìn cẩn trọng như một tờ căn cước mà trong lòng rưng rưng, thấy nghèn nghẹn ở cuống họng, vội cúi xuống uống ngay một ngụm trà.

Tôi ngồi chuyện trò với họ bằng sự trợ giúp của chị chủ quán, chúng tôi nói với nhau về những đời thường. Chuyện gia đình, chuyện học của con, chuyện việc làm của cha mẹ. Họ hỏi tôi về cái đất nước xa xăm tôi sống, ở đó những người câm, điếc được giúp đỡ thế nào? 

Chúng tôi hỏi nhau cả về chuyện uống trà. Câu chuyện càng lúc càng thân thiện cởi mở, họ nói năng tự nhiên, ước mơ giản dị, chỉ mong kiếm đủ ngày hai bữa, có chút tiền nhỏ phòng khi con cái ốm đau, đủ tiền đóng học phí cho con mỗi khóa học.

Những buổi chiều tan việc, họ bỏ lại tất cả nhọc nhằn khuân vác trên bến dưới thuyền ở những bãi sông; những túi xi măng, những viên gạch, tảng đá ở nơi xây cất; cái cuốc cái xẻng ở một con đường đang đào, đắp nào đó, ghé uống mấy ly nước trà và gặp những người cùng chung ngôn ngữ với họ, ngôn ngữ thinh lặng trong quán trà thinh lặng này.

Tôi ngắm nhìn họ cầm ly uống trà rất là bình dân, sảng khoái, hình dung ra ở một nơi uống trà khác của những người được gọi là thanh lịch. Những quán trà dành cho tao nhân mặc khách có những nghi thức cầu kỳ gọi là Trà Đạo. Khi cho trà vào ấm thì gọi là Ngọc Diệp hồi cung. Khi tráng trà thì gọi là Cao Sơn trường thủy (rót nước 60 độ, cao cách trà 20-30 phân). Khi pha trà thì gọi Hạ Sơn nhập thủy (rót sát miệng ấm, nước sôi đủ 100 độ). Khi nhấc chén trà lên thì mấy ngón tay cũng được thăng hoa gọi là ba con rồng Tam Long giá ngọc, trước khi uống ngụm trà đó phải từ tốn đưa lên mũi từ trái sang phải thưởng thức mùi thơm của trà gọi là Du Sơn lâm thủy.*

 Chao ôi là nghi lễ, thật cầu kỳ.

Những người uống trà trong quán trà Thinh Lặng này họ giản dị lắm, trà do chị chủ quán pha một bình lớn, rót ra sẵn trước mặt, họ cầm lấy chén trà, nhìn nhau bằng những ánh mắt thân mật, ngửa cổ lên uống một hơi đầy, uống theo cả mệt nhọc của một ngày lao động vất vả vào lồng ngực. Họ chỉ vào ngực mình, ngực bạn, nói lòng quý mến nhau. Những tiếng động bên ngoài đường của xe cộ, của âm thanh ầm ĩ, họ bỏ cả ngoài tai. Trong những lồng ngực đơn sơ đó cái âm thanh tĩnh lặng kéo dài theo nhịp đập êm ả của trái tim.

Tôi chào họ ra về, mang theo quán trà Thinh Lặng trong trái tim nhiều tiếng động đời thường của mình, nước mắt bỗng ứa ra.

 Chao ôi, là quê hương yêu dấu! Mỗi chỗ giấu một điều bí mật, ta có may mắn tìm thấy, khác nào như những người tìm được châu báu trong kho tàng cổ tích thần tiên.” (Trích “Quán Trà Thinh Lặng” của Trần Mộng Tú)

 Thinh lặng hay ồn ào, vẫn là nỗi đau của đời người, được người nghệ sĩ diễn tả thêm lần nữa, qua nét nhạc, rằng những hát:

“Có tốt với tôi thì tốt với tôi bây giờ
Đừng đợi ngày mai đến lúc tôi xa người
Đừng đợi ngày mai đến khi tôi phải ra đi
Ôi buồn làm sao nói lời tạ ơn. 

Nếu có bao dung thì hãy bao dung bây giờ
Đừng đợi ngày mai đến lúc tôi xa đời
Đừng đợi ngày mai biết đâu tôi nằm im hơi
Tôi chẳng làm sao tạ lỗi cùng người.
(Ngô Tịnh Yên/Trần Duy Đức – bđd)

Gặp phải nỗi đau suốt một đời, cũng đừng tạ lỗi với ai hết. Bởi, nỗi đau ở đời người luôn sát cánh với người đời, hệt như lời đấng thánh-hiền từng bảo ban, như sau:

“Bởi thế, chúng tôi hãnh diện về anh em

trước mặt các Hội Thánh của Thiên Chúa,

vì anh em kiên nhẫn

và có lòng tin mỗi khi bị bắt bớ

hay gặp cảnh gian truân.

Đó là dấu cho thấy Thiên Chúa xét xử công minh:

anh em sẽ được coi là

xứng đáng tham dự Nước Thiên Chúa,

chính vì Nước Thiên Chúa

mà anh em chịu đau khổ.”

(2Thessalônikê 1: 4-6)

 Hãnh-diện, không vì anh chị em từng chịu đau khổ suốt mọi thời. Nhưng, vì anh chị em mình đều vì Nước Thiên-Chúa, nên mới thế.

  Trần Ngọc Mười Hai

Và những nỗi đau

rất khó tả trong đời mình,

nhưng vẫn kiên nhẫn

sống vui sống mạnh với mọi người

suốt một đời.

LINH ĐẠO I-NHÃ – LINH ĐẠO CỦA CON TIM !

LINH ĐẠO I-NHÃ – LINH ĐẠO CỦA CON TIM !

    Trong bài thao luyện Tiếng Gọi Vua Đời Tạm Giúp Chiêm Ngắm Cuộc Đời Vua Hằng Sống, thánh I-nhã nói rằng có hai kiểu đáp trả trước tiếng gọi của Thiên Chúa.  Một kiểu đáp trả đến từ con người lý trí.  Kiểu thứ hai đến từ con người quảng đại và hào hiệp.  Chúng ta có thể gọi kiểu đáp trả đó là sự đáp trả của con tim.

 Thánh I-nhã mở đầu Linh Thao của ngài với 20 ghi chú nhằm giải thích mục đích của những bài thao luyện cũng như đưa ra vài lời khuyên và chỉ dẫn cho người hướng dẫn tĩnh tâm.  Chính những chỉ dẫn đầu tiên này đã giải thích điều thánh nhân muốn nói ngang qua những bài tập thiêng liêng.  Tập thể dục giúp điều hòa thân thể và tăng cường sức khỏe.  Và theo thánh I-nhã, Linh Thao hữu ích trong việc “giúp tăng cường và nâng đỡ chúng ta trong nỗ lực đáp trả ngày càng trung tín hơn với Tình Yêu Thiên Chúa.

 Hãy để ý điều mà thánh I-nhã không nói đến.  Ngài không nói Linh Thao được biên soạn để đào sâu sự hiểu biết của chúng ta hoặc để gia tăng ý muốn của chúng ta.  Ngài không giải thích những mầu nhiệm thiêng liêng cho chúng ta hay khai sáng tư tưởng của chúng ta.  Chúng ta dễ thấy có những bài tập đặt nặng về trí hiểu, nhưng đây không phải là mục đích.  Mục đích của những bài thao luyện là một sự đáp trả vững tâm.  Thánh I-nhã theo đuổi sự đáp trả của con tim.

 “Con tim” không có nghĩa là cảm xúc (mặc dù từ ngữ này bao gồm ý nghĩa cảm xúc).  Từ ngữ này ám chỉ tới định hướng bên trong tâm hồn chúng ta.  “Con tim” này là điều mà Chúa Giêsu nhắc đến khi Ngài dạy bảo chúng ta hãy tích trữ kho tàng trên trời thay vì tích trữ của cải trần thế: “Vì kho tàng của anh ở đâu, thì lòng anh ở đó” (Mt 6, 21).  Đây là “tấm lòng” mà Chúa Giêsu đã trăn trở khi ngài nói: “vì tự lòng phát xuất những ý định gian tà, những tội giết người, ngoại tình, tà dâm, trộm cắp, làm chứng gian và vu khống.”  Chúa Giêsu nhận thấy rằng tấm lòng (con tim) của chúng ta có thể dần xa rời hành động của chúng ta: “Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta” (Mt 15, 8).  Trong cảm thức này, con tim – lời đáp trả toàn diện – mới thực sự là mối bận tâm của Linh Thao.

     Trên đây là ý nghĩa cổ xưa của từ ngữ “con tim” theo truyền thống Kinh Thánh, nhưng thực tế chúng ta còn lưu lại những vết tích của ý nghĩa này trong tiếng Anh đương đại.  Khi chúng ta nói với ai đó: “trái tim tôi dành cho bạn,” chúng ta muốn nói lên một điều gì đó vượt lên trên cảm nghĩ bận tâm hay lo lắng.  Chân thành mà nói, câu nói này thông truyền ý nghĩa về sự gắn kết hết lòng với ai đó.  Nó mang ý nghĩa xa hơn câu nói “tôi hiểu bạn” (về mặt trí năng).  Nó cũng mang ý nghĩa xa hơn câu nói “tôi thông cảm với bạn” (về mặt cảm xúc).  Nó có ý nghĩa đại loại như câu “tôi ở đây, tôi ở bên bạn.”  Đó là cách diễn tả một chọn lựa căn bản.

    Ngày nay, chúng ta thường nói về một người tỏ ra thiếu hăng say trong một dự án: “Hắn ta làm việc thật vô tâm.”  Chúng ta cũng thường nói điều này khi cung cách hành xử của người ấy không xứng hợp với ước muốn thâm sâu nhất của chính anh ta.  Chúng ta cũng nói như thế với chính mình mỗi khi vô tình làm tổn thương những người thân yêu hoặc làm những điều mà chúng ta biết là mâu thuẫn với bản chất của chúng ta.  “Cái tâm” ở đây là điều mà thánh I-nhã bận tâm.  Chúng ta có thể nghĩ về linh đạo I-nhã như một cách xếp đặt con tim cho đúng.

 Thánh I-nhã hiểu được điều này vì đó là điều đã xảy ra cho ngài.  Ngài đã trải qua một cuộc hoán cải sâu xa trong lúc hồi phục vết thương, nhưng đó không phải là một sự biến đổi về trí hiểu hay ước muốn.  Trước cuộc hoán cải – và về sau – ngài luôn là một Kitô hữu “chính truyền” luôn tuân theo những thực hành tôn giáo được mong đợi nơi ngài.  Chuyện đó không hề thay đổi.  Cuộc hoán cải của ngài bao gồm những khao khát và dấn thân sâu xa nhất, mà điểm quy chiếu cốt yếu của chúng là phẩm tính của con người trước mặt Thiên Chúa.  Qua thời gian, hiểu biết về tôn giáo trên lý thuyết lẫn thực hành của thánh nhân hiển nhiên được đào sâu, nhưng quan trọng nhất là chính con tim của ngài được biến đổi.

     Qua bao năm cầu nguyện sốt sắng và được người khác linh hướng, thánh I-nhã đã khai triển nhiều cách thức để lắng nghe ngôn ngữ con tim.  Đây chính là loại ngôn ngữ bày tỏ những ý định của Thiên Chúa và thôi thúc chúng ta quảng đại đáp trả.  Điều chúng ta tin và điều chúng ta làm thì quan trọng thật đấy, nhưng thánh I-nhã còn quan tâm hơn nữa đến tình trạng tâm hồn của mỗi người chúng ta.

     Tuy nhiên, hầu hết chúng ta vẫn gặp phải một cám dỗ dai dẳng là muốn biến Linh Thao hay bất kỳ một cuộc canh tân thiêng liêng nào đó trở thành vấn đề của việc thay đổi tư duy.  Thực vậy, nguy cơ này nảy sinh ngay cả trong một cuốn sách kiểu như cuốn Linh Thao – một cuốn sách đề ra những ý tưởng, quan niệm và nguyên tắc giúp mở rộng tầm hiểu biết của chúng ta về linh đạo I-nhã.  Thật là quan trọng để ý thức ngay rằng hiểu biết không phải là mục tiêu cuối cùng của chúng ta trong Linh Thao.  Chúng ta có thể biết rất nhiều thứ, nhưng có thể điều này chẳng ảnh hưởng gì đến cách chúng ta sống.  Mục tiêu của Linh Thao là sự đáp trả của con tim – điều thật sự làm thay đổi trọn cả con người chúng ta.

     Thiên Chúa đã huấn luyện con tim thánh I-nhã ngang qua nhiều thị kiến thần bí mà thánh nhân nhận được ngay từ khi bắt đầu hành trình thiêng liêng.  Một thị kiến kiểu như thế đến với thánh nhân vào lúc ngài đang băn khoăn xem có nên đọc ba hay bốn lời cầu nguyện với Chúa Ba Ngôi chăng – mỗi lời cầu nguyện hướng đến một ngôi riêng rẽ – Cha, Con và Thánh Thần – và lời nguyện thứ tư hướng đến Một Thiên Chúa Duy Nhất.  Một lần, khi đang thong dong cầu nguyện ngoài trời ở trên bậc tam cấp của một tu viện, thánh nhân bất chợt nghe tiếng Ba Ngôi Chí Thánh như tiếng nhạc của ba phím đàn đang hòa thanh (ba nốt nhạc cấu thành một hợp âm).  Khi khác, thánh nhân nhận được một thị kiến về cách thức Thiên Chúa sáng tạo thế giới, làm như thánh nhân thấy “một vật thể trắng sáng phát ra những tia sáng” và “Thiên Chúa làm thành ánh sáng.”  “Kẻ ấy không biết giải thích những điều này thế nào,” thánh nhân viết về mình trong ngôi thứ ba số ít (“kẻ ấy”).  Dẫu sao, thánh I-nhã đã đáp trả bằng con tim của ngài: “Nước mắt trào ra, kẻ ấy thổn thức không sao kìm hãm được.

     Sự đáp trả của con Tim là nền tảng của Linh Thao.  Công cuộc sáng tạo là một dòng chảy những quà tặng của Thiên Chúa, và sự đáp trả của con người là tiếp điểm để dòng chảy ấy trở về với nguồn mạch là chính Thiên Chúa.  Sự đáp trả của con người là sự lựa chọn tự do để cho cuộc sáng tạo của Chúa diễn ra.  Cuộc sáng tạo ấy giúp chúng ta hiểu biết, yêu mến Thiên Chúa và muốn sống với Ngài mãi mãi.

     Ngay từ đầu Linh Thao, thánh I-nhã đề nghị thao viên cầu nguyện trước Chúa Giêsu Kitô trên thập giá.  Thánh nhân chân nhận Chúa Kitô là Đấng Tạo Hóa, là Thiên Chúa của Nguyên Lý Và Nền Tảng.  Dường như Thánh I-nhã muốn nói: “Hãy trò chuyện với Chúa về cách thức Ngài sáng tạo thế giới vì tình yêu.”  Không có gì khó hiểu hay trừu tượng về một Thiên Chúa của lý trí, nhưng về một Thiên Chúa của Tình Yêu được chiêm ngắm trong khuôn mặt Đức Giêsu Kitô.  Đó là Chúa Kitô theo Thánh Phao-lô trong thư gửi cho các tín hữu ở Cô-lô-xê và Ê-phê-xô.  Đó là Chúa Kitô trong lời tựa Tin Mừng theo thánh Gio-an: “Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành.”  Đây là Con Thiên Chúa, là Alpha và Omega (Khởi Nguyên và Cùng Đích) trong sách Khải Huyền của tác giả Gio-an. 

    Hành trình thiêng liêng của chúng ta là một nỗ lực để trả lời câu hỏi: “Cả cuộc sống này có ý nghĩa gì?”  Đây là câu trả lời của thánh I-nhã: một hình ảnh về Thiên Chúa trong con tim của chúng ta, chứ không phải trong trí hiểu.  Hình ảnh đó là họa thuật về Đấng Tạo Hóa như một Đấng ban tặng dư dả. Ngài không ngừng trao ban những món quà và mời gọi chúng ta đáp trả – một chọn lựa tự do để chúng ta có thể quay trở lại với Ngài trong niềm tri ân cảm mến.  Đó là một hình ảnh mà chỉ con tim mới có thể đáp lời.

 Truyền Thông SJVN

 From: KittyThiênKim & KimBằngNguyễn

10 lý do chịu đau khổ

10 lý do chịu đau khổ

Horatio G. Spafford là một luật sư giỏi ở Chicago hồi thập niên 1800 và là bạn của nhà truyền giáo Dwight L. Moody.  Luật sư Spafford được kính trọng và tốt lành, nhưng ông vẫn không tránh khỏi những lúc khổ đau.

Trước hết, ông mất đứa con trai vì chứng ban đỏ (scarlet fever).  Rồi vốn đầu tư làm ăn cũng bị thua lỗ.  Không lâu sau đó, 4 cô con gái của ông chết trong một vụ đắm tàu ở Đại Tây Dương, chỉ còn bà vợ Anna của ông sống sót nhờ bám vào chiếc phao rồi được cứu.

 Tại sao bi kịch xảy ra với người tốt?  Luật sư Spafford không thể hiểu, nhưng rồi ông vẫn vững tin vào quyền năng của Thiên Chúa.  Mọi người có thể tôn vinh Thiên Chúa ngay cả trong những lúc đen tối nhất của cuộc đời.  Theo Kinh Thánh, đây là 10 lý do để chúng ta chịu đau khổ.

  1. Chúng ta chịu đau khổ vì chúng ta phạm tội.  Chẳng có ai công chính (Rm 3:10), nghĩa là ai cũng là tội nhân (Rm 3:23). Những người không có đức tin thì sống biệt lập với Chúa, còn những người có đức tin thì trải nghiệm từng khoảnh khắc, từng ngày, từng mùa… về niềm tin vào Thiên Chúa. Quy luật tâm linh được tạo ra để triệt tiêu tội lỗi trong đời sống của tín hữu, quy luật này nghiêm khắc, kể cả cái chết: “Ai ăn và uống mà không phân biệt được Thân Thể Chúa, là ăn và uống án phạt mình. Vì lẽ đó, trong anh em, có nhiều người ốm đau suy nhược, và cũng có lắm người đã chết.  Giả như chúng ta tự xét mình, thì chúng ta đã không bị xét xử.  Nhưng khi Chúa xét xử là Người sửa dạy chúng ta, để chúng ta khỏi bị kết án cùng với thế gian” (1 Cr 11:29-32).
  1. Chúng ta chịu đau khổ vì người khác phạm tội. Vợ chồng và con cái chịu đau khổ vì bị lạm dụng. Công dân chịu đau khổ vì chính quyền tham những. Satan xúi giục vua Đa-vít thống kê dân số Ít-ra-en, và có 470.000 người chịu hậu quả (2 Mcb 10:20). Chúa Giêsu chịu đau khổ và chịu chết không phải vì lỗi của Ngài mà vì tội lỗi của nhân loại.
  1. Chúng ta chịu đau khổ vì chúng ta sống trong thế giới tội lỗi. Tai nạn và tai họa xảy ra, mỗi năm có hàng triệu người chết. Thánh Phaolô nói rằng “muôn loài thọ tạo cùng rên siết và quằn quại như sắp sinh nở” (Rm 8:22). Đó là hậu quả của tội lỗi.
  1. Chúng ta chịu đau khổ vì chúng ta được tự do chọn lựa. Quyền năng Thiên Chúa và khả năng của con người là hai sự thật trong Kinh Thánh. Chúng ta không là robot, chúng ta có thể chọn lựa vì Thiên Chúa cho chúng ta quyền tự do. Đôi khi sự chọn lựa của chúng ta gây đau khổ – cho mình và cho người khác. Randy Alcorn viết:“Nếu Thiên Chúa tước hết vũ khí và ngăn chặn các tài xế say xỉn, thế giới này sẽ không là thế giới thật để con người chọn lựa… Trong một thế giới như vậy, người ta sẽ chết mà không có nhu cầu, chỉ thấy mình ở Địa ngục”.
  1. Chúng ta chịu đau khổ vì sự sống đời đời. Thế giới này không là nhà của chúng ta, chúng ta chỉ là khách vãng lai. Chúng ta là công dân Nước Trời. Thánh Phaolô nói: “Tất cả các ngài đã chết, lúc vẫn còn tin như vậy, mặc dù chưa được hưởng các điều Thiên Chúa hứa; nhưng từ xa các ngài đã thấy và đón chào các điều ấy, cùng xưng mình là ngoại kiều, là lữ khách trên mặt đất” (Dt 11:13).  Chính đau khổ ngăn cản chúng ta bám víu vào thế gian này, vì thế gian sẽ qua đi.
  1. Chúng ta chịu đau khổ để không gặp điều tệ hại hơn. Đau khổ làm cho chúng ta tập trung vào nguyên nhân, để cố gắng sửa đổi trước khi tệ hại hơn. Cơn sốt dẫn chúng ta tới bác sĩ, tại đây chúng ta được chẩn đoán và chữa trị. Ở mức lớn hơn, đau khổ cho chúng ta biết có gì đó bất ổn, và dẫn chúng ta tới Chúa Giêsu. Bóng tối, đau khổ, cô đơn, lo buồn… Mọi thứ đó giúp chúng ta nắm bắt thực tế cuộc sống, giúp chúng ta cần đến Chúa.
  1. Chúng ta chịu đau khổ để thông phần đau khổ với Đức Kitô và nên giống Ngài. Thánh Phaolô nói:“Vấn đề là được biết chính Đức Kitô, nhất là biết Người quyền năng thế nào nhờ đã phục sinh, cùng được thông phần những đau khổ của Người, nhờ nên đồng hình đồng dạng với Người trong cái chết của Người, với hy vọng có ngày cũng được sống lại từ trong cõi chết” (Pl 3:10-11). Nhờ kinh nghiệm đau khổ mà chúng ta có thể an ủi người khác khi họ chịu đau khổ. Khi chúng ta chịu đau khổ là chúng ta được nên giống Đức Kitô. Thánh Phaolô phân tích:“Một chút gian truân tạm thời trong hiện tại sẽ mang lại cho chúng ta cả một khối vinh quang vô tận, tuyệt vời”(2 Cr 4:17).
  1. Chúng ta chịu đau khổ để tôn vinh Thiên Chúa. Chúa Giêsu động viên chúng ta nếu chúng ta chịu đau khổ vì danh Ngài: “Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ. Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa” (Mt 5:10-11). Ngài cảnh báo rằng thế gian sẽ ghét chúng ta vì họ đã ghét Ngài trước (Ga 15:18). Trong thư gởi giáo đoàn Do Thái, chương 11, có người nhờ đức tin mà được chúc lành bằng của cải và thành công, có người lại được chúc lành bằng đau khổ và cái chết. Thiên Chúa không phân loại các anh hùng đức tin này tùy trường hợp của họ, Ngài chỉ tôn vinh họ vì vững mạnh đức tin. Nếu các Kitô hữu có cuộc sống thoải mái thì sẽ làm cho Phúc Âm hấp dẫn vì các lý do sai lệch.
  1. Chúng ta chịu đau khổ để trưởng thành tâm linh.Chúa Giêsu là Đấng hoàn hảo, vậy mà Ngài còn phải chịu đau khổ để học được đức vâng phục. Thánh Phaolô cho biết:“Nhờ Chúa, tôi rất vui mừng vì cuối cùng thấy tình cảm của anh em đối với tôi lại thắm thiết. Tình cảm đó vẫn sống động, nhưng anh em chỉ thiếu dịp tỏ ra. Không phải vì thiếu thốn mà tôi nói thế, bởi lẽ tôi đã học sống tự lập trong bất cứ hoàn cảnh nào. Tôi sống thiếu thốn cũng được, mà sống dư dật cũng được. Trong mọi hoàn cảnh, no hay đói, dư dật hay túng bấn, tôi đã tập quen cả. Với Đấng ban sức mạnh cho tôi, tôi chịu được hết” (Pl 4:10-13). Thánh Phaolô xác định:“Để tôi khỏi tự cao tự đại vì những mặc khải phi thường tôi đã nhận được, thân xác tôi như đã bị một cái dằm đâm vào, một thủ hạ của Satan được sai đến vả mặt tôi, để tôi khỏi tự cao tự đại” (2 Cr 12).
  1. Chúng ta chịu đau khổ để hy vọng vinh quang Nước Trời.  Kh 21:4 nói:“Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất.” Thánh Phaolô nói: “Tôi nghĩ rằng những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta” (Rm 8:18).

 Có nhiều lý do để chúng ta chịu đau khổ, đôi khi khó nhận biết chính xác.  Như trường hợp Thánh Gióp, ông không bao giờ biết việc đánh cược của Satan với Thiên Chúa. Nhưng đây là sự thật:

  • Thiên Chúa có toàn quyền trên mọi đau khổ của chúng ta.
  • Thiên Chúa vẫn hiện hữu ở bên chúng ta khi chúng ta gặp đau khổ.
  • Thiên Chúa luôn hành động với chúng ta khi chúng ta gặp đau khổ.
  • Nếu Thiên Chúa muốn chúng ta biết lý do, Ngài sẽ nói với chúng ta (qua Kinh Thánh hoặc cách nào đó).
  • Thiên Chúa tác động qua cái ác và đau khổ để sinh ra điều tốt, loại bỏ điều xấu mà Satan và kẻ xấu có thể làm cho chúng ta.

Ngày nào cũng có đau khổ, nhưng hãy nghĩ về hạnh phúc vĩnh hằng ở Nước Trời mai sau.  Randy Alcorn viết: “Số phận của chúng ta không lệ thuộc vào những người kiện cáo, hoặc những chính trị gia, luật sư, giáo viên, huấn luyện viên, sĩ quan quân đội, hoặc chủ nhân. Họ có thể chống lại chúng ta – và Thiên Chúa hoàn toàn có thể chuyển những điều xấu thành điều tốt nhất cho chúng ta”.

Trầm Thiên Thu 

(chuyển ngữ từ Once Delivered.net)

ĐI TÌM THẾ LỰC THÙ ĐỊCH.

Phong Truong and Đào Duẫn shared a post.
Image may contain: 2 people, people smiling, text and outdoor

Le AnhFollow

Đây là một bài viết của một đảng viên CS đã thức tỉnh.

=======================
ĐI TÌM THẾ LỰC THÙ ĐỊCH.

Từ lâu, tôi đã nghe nhiều, rất nhiều cụm từ “thế lực thù địch”. Nghe đến nhàm, nhưng chẳng ai chỉ giùm tôi, bởi nó vô hình. Vậy thì phải đi tìm thôi.

Tôi đã đi tìm thế lực thù địch từ những ngày hợp tác hóa, đầu những năm sáu mươi của thế kỷ trước, khi tôi còn ngồi trên ghế nhà trường xã hội chủ nghĩa.

Cái ngày mà tôi chưa phân biệt được chủ nghĩa Mác đúng sai thế nào.

Cái ngày mà khi có kẻng là xã viên hợp tác ra đồng, chờ phân việc, làm chiếu lệ vài giờ rồi về. Tối họp bình công chấm điểm thì cãi nhau om sòm, mà có nhiều nhặn gì đâu, giỏi lắm mỗi công một cân thóc. Để rồi “Ơi anh chủ nhiệm anh chủ nhiệm/ Hai tiếng thân yêu lời cảm mến/ Tay anh nắm chặt tay xã viên/ Xốc cả phong trào cùng tiến lên” đi vào trang sách học sinh theo thơ Hoàng Trung Thông.

Cái ngày mà khi thu hoach thì bố mẹ đi trước, con cái theo sau (gọi là đi mót) cướp hết những thứ ngon. Cuối buổi thu hoạch về sân kho hợp tác chỉ những đống lúa xơ xác, hoặc những đống khoai chạc khoai rễ. Để rồi “Dân làm chủ dập dìu hợp tác / Lúa mượt đồng ấm áp làng quê/ Chiêm mùa cờ đỏ ven đê/ Sớm trưa tiếng trống đi về trong thôn” đi vào trang sách học sinh theo thơ Tố Hữu .

Cái ngày mà đói triền miên, cả năm may ra có bữa no cơm và có thịt, đó là ngày tết. Để rồi “Những người lao động quang vinh/ Chúng ta là chủ của mình từ đây” đi vào trang sách học sinh theo thơ Tố Hữu.

“Chẳng nhẽ chủ nghĩa cộng sản lại thế này ư?” Từ thắc mắc đó tôi đọc “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản” và “Chính trị kinh tế học”. Vì còn tuổi vị thành niên, nên dù nghi ngờ nhưng tôi chưa dám nghĩ Mác sai, nhưng ít nhất là ta làm sai Mác. Mác nói, đại ý “phải phân biệt vô sản và vô sản áo rách (bọn khố rách, áo ôm)”. Ta đã dùng “vô sản áo rách” trong CCRĐ. Ta đã cưỡng bức vào hợp tác xã, trong khi lẽ ra phải hoàn toàn tự nguyện. Trong “Chính trị kinh tế học”, theo Khơ rút sốp “có thể đoạt chính quyền bằng nghị trường”, còn theo Bregiơnhep “chỉ có thể đoạt chính quyền bằng bạo lực”, ta theo bạo lực. Tại sao lại phải dùng bạo lực? Tôi tự hỏi vì tôi đã đọc đâu đó “bạo lực là sản phẩm của phía yếu, bất tài và vô lực”. Tất cả những nhà cầm quyền theo chủ thuyết “sức mạnh chính trị nằm trên đầu nòng súng” đã đưa đất nước họ (trục phát xít) gục ngã. Sau gục ngã có thể họ bị yếu, có thể họ thuộc bài nên đã điều chỉnh hướng đi. Các nước theo trục chủ nghĩa xã hội lại tiếp tục theo vết xe đổ đó, để đến nay tan rã. Thảm thay!!!

Cái thời mà, thế hệ cha anh tôi, những người đã qua CCRĐ luôn thuộc nằm lòng câu “Trí phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ” hoặc “chủ nghĩa cộng sản làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu”.

Tôi vào đại học, vào bộ đội. Dù làm khoa học và công nghệ, nhưng tôi luôn tìm hiểu về chế độ, khi mà tuyên truyền và thực tế luôn ngược nhau. Tôi đọc mọi loại sách, từ các sách văn học, xã hội học và chính trị; tiếp cận với nhiều tầng lớp người từ cao xuống thấp, từ cổ đến kim. Do công tác đi đây đó nhiều, nhất là các công xưởng, lại sống hòa nhập nên tôi có điều kiện tiếp cận thực tế. Qua lý thuyết và thực tế tôi đã dần tìm ra thế lực thù địch. Đúng hơn là cái gì đã kìm hãm sự phát triển của nước.

Còn nhớ những năm cuối thập niên bảy mươi của thế kỷ trước có lần tôi nói với bố tôi (đang là cán bộ cao cấp) rằng “đảng sai bố ạ”, bố tôi rằng “đường lối đúng, thực hiện sai”. Đáp “lý thuyết đúng là tự nó đem lại tốt đẹp cho xã hội, ta chẳng làm được gì cả, sao gọi là đúng? Nói vậy là bao biện”. Bố tôi lặng im. Lại hỏi “một xã hội sẽ ra sao nếu trí phú địa hào đào tận gốc, trốc tận rễ?” Rằng “câu hỏi đó đã được Gabriel García Márquez – chủ nhân của giải noben văn học 1982 đã hỏi trong một gặp gỡ các nhà văn Á – Phi – Mỹ La tinh, mà chẳng ai biết thế nào để trả lời”. Vài năm sau bố tôi nói “con đúng, bố sai – từ nay con thay bố giải quyết các việc trọng đại trong gia đình”. Cũng từ đó cho đến lúc lìa trần, ông dị ứng với vô tuyến, đài và báo chí (công cụ tuyên truyền) – những thứ mà trước đây là thực đơn hàng ngày của ông. Ông quay lại nghề tử vi, địa lý và kinh dịch – như là nghề gia truyền; nhưng khi đi theo đảng ông phải bỏ. Chính nghề này đã cứu ông cả vật chất, tinh thần và để lại nhiều ân đức trước khi qua đời.

Cuối những năm sáu mươi, đầu những năm bảy mươi của thế kỷ trước, khi người ta cơ cấu những cán bộ chính trị đi tập huấn một thời gian về làm hiệu trưởng các trường cấp 2 và 3, tôi như đã thấy manh nha một cái gì? Sau đó, khi “chuột chạy cùng sào, nhảy vào sư phạm”; tôi đã thấy rằng: “xã hội ta sẽ thê thảm khi những người học yếu nhất vào giáo dục”. Rồi cải cách giáo dục, như một sự tàn phá đất nước nhanh nhất. Mười lăm năm đi học không có ai dạy cho ta yêu bố mẹ, anh em cả; nhưng được dạy nhiều về lý tưởng cộng sản “vì lý tưởng cộng sản, thanh niên anh dũng tiến lên”. Phải chăng bỏ qua cái thực thể hữu hình, chạy theo cái vô hình kiểu “bỏ hình bắt bóng” là đặc trung nền giáo dục của chúng ta?

Rút cục ta đã đào tạo ra những thế hệ “ăn theo nói leo” là chính, ai không như thế được đội cái mũ “tiểu tư sản trí thức” ngay. Ta không dùng những người tài giỏi, nhưng lại coi trọng những người khôn vặt, láu cá nhiều mưu ma chước quỷ. Chính cái sự đào tạo và sử dụng người đã hủy hoại nhân cách của nhiều thế hệ.

Từ đầu những năm tám mươi của thế kỷ trước lại đây, tôi đã chứng kiến rất nhiều những cuộc chạy chức quyền, chia các vai quyền lực từ các bàn nhậu. Mấy chục năm công tác tôi thấy quá rõ kinh phí bôi trơn cho guồng máy, thông thường là 40% chi phí đầu tư, nhiều chỗ còn hơn. Kinh phí vào công trinh chỉ xấp xỉ một nửa. Đất nước không đổ nát mới là sự lạ.

Cách đây hơn năm thế kỷ Thân Nhân Trung đã viết:

“…Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn. Vì thế các bậc đế vương thánh minh không đời nào không coi việc giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia làm công việc cần thiết…”

Đất nước ta không đào tạo và sử dụng được hiền tài, chỉ dùng được những ai dễ sai bảo, biết ăn theo nói leo, thậm chí vô sản áo rách. Dùng hiền tài đâu có dễ, những người không tài làm sao sử dụng được hiền tài, các bậc hiền tài đâu chịu làm đầu sai. Những người có tri thức, biết được điều hay lẽ phải (tri là biết; thức là hay), sao lại có thể a dua theo bầy đàn không có tri thức dẫn lối? Trong hoàn cảnh ấy, hiền tài chỉ có hai con đường, hoặc vùng lên rồi bị diệt như “Nhân văn Giai phẩm” hay như “vụ xét lại chống đảng”. Hoặc co vào ở ẩn bất hợp tác như đa phần còn lại. Rút cục hiền tài không “can dự” được vào sự phát triển đất nước. Không phải vô cớ mà ở nước Đức có bia mộ ghi “ở đây đã an táng một người, mà người đó dùng được rất nhiều người tải giỏi”.

Vậy là “thế lực thù địch” của đất nước chính là sự ngu tối. Mà cái ngu là tổ phụ của cái ác, tàn phá đất nước hơn tỷ lần cái ác. Con đường cách mạng đất nước ta (mà đặc biệt là cách mạng phát triển xã hội sau năm 1975) đang đi là con đường thiếu ánh sáng tri thức soi đường. Để rồi sau bao nhiêu năm đi vào bóng đêm. Đất nước sau gần bốn mươi năm thống nhất tựa như đổ nát. Nạn tham nhũng tràn lan làm rỗng ruột kinh tế, tai nạn giao thông chết người như có chiến tranh, giáo dục lụn bại, nhân cách đạo đức suy đồi, kẻ thù truyền kiếp phương Bắc uy hiếp trên biên giới, rừng núi, biển đảo và đồng bằng. Cách mạng đâu phải là sự nghiệp của bầy đàn khố rách áo ôm kiểu “mo cơm quả cà đi xây dựng chủ nghĩa cộng sản”. Cũng do ngu tối mà từ ngày độc lập, chúng ta chưa tìm được con đường đi cho đất nước.

Không nghi ngờ gì nữa“thế lực thù địch” của đất nước chính là sự ngu tối, thế lực nào dung túng cho cái ngu, để cho cái ngu hoành hành thì đấy chính là thế lực thù địch của đất nước ta, dân tộc ta.

Thời nay ai thiết người tài

Chỉ cần tai tái, dễ sai hợp thời

Thằng thông minh nó lắm lời

Nó thuyết, nó giáo rối bời thằng ngu

Thằng ngu tuy có lù khù

Mưu ma chước quỷ nó bù thông minh

Sự đời nghĩ lại mà kinh

Nhân tình thế thái, rối tinh rối mù.

H.Q

1-8.- LỄ THÁNH ANPHONGSÔ, ĐẤNG SÁNG LẬP DÒNG CHÚA CỨU THẾ – TA BIẾT THẾ GIAN RỒI, VĨNH BIỆT… ( 1723 ).

1-8.- LỄ THÁNH ANPHONGSÔ, ĐẤNG SÁNG LẬP DÒNG CHÚA CỨU THẾ – TA BIẾT THẾ GIAN RỒI, VĨNH BIỆT… ( 1723 ).

 

Ngay1-8 (704 x 895)

Một thanh niên tuấn tú 16 tuổi đời. Một luật sư danh tiếng khắp Napoli thời Anphongsô lớn lên. Một trạng sư bách chiến bách thắng. Một người con yêu quí của ông bà Don Giuseppe de Liguori và Donna Catarina Anna Cavalieri. Alphongsô là niềm tự hào, vinh dự và hy vọng của ông bà Don Giuseppe de Liguori va Anna Cavalieri. Anphongsô luôn là ước mơ độc nhất của ông Don Giuseppe de Liguori để con ông được thăng tiến địa vị trong xã hội và làm vinh danh cho gia đình  De Liguori.

Cuộc đời vẫn xoay chuyển, vần xoay…nhưng đời con người đâu có dừng tại chỗ, cái không ngờ, luôn là cái ngờ…Giữa lúc đang sống trên tột đỉnh của vinh quang. Anphongsô đã cảm thấy thế nào là cuộc đời, thế nào là sự xấu hổ, thế nào là thất bại…

MỘT CON TRẺ ĐƯỢC LÀM CON CHÚA: Lật giở tiểu sử của thánh Anphongsô do Cha Rey-Mermet viết, ta đọc thấy như sau:” …tại nhà thờ Santa Maria dei Vergini dâng kính Đức Thánh Mẫu, ở Napoli Ý, một sổ bộ rửa tội, trong đó, trang 127 có ghi những dòng chữ sau:

“ Ngày 29/9/1696, thứ bảy, Alfonso Maria Antonio Giovanni Francesco Cosmo Damiano Michel Angelo Gasparo de Liguori, con của vợ chồng Don Giuseppe de Liguori và Donna Catarina Anna Cavalieri, đã được rửa tội do tay cha sở là tôi, Giuseppe del Mastro. Em bé được đỡ đầu (trên giếng rửa tội ) bởi bà Gratia Porpora; em sinh ngày 27 cùng tháng hồi 13 giờ” (13 giờ hồi đó tức 7 giờ sáng bây giờ).

Và ta thấy bên lề trang sổ bộ rửa tội ấy, một dòng chữ ngoại lịch được chữa kèm: ” phong Á thánh tháng 9 năm 1816 ,“”phong hiển thánh ngày 26 tháng 5 năm 1839.

Thêm vào đó, một nét bút khác viết : “ Được tuyên dương Tiến sĩ Hội Thánh ngày 23/3/1871. Đến đây, nếu còn chỗ, người ta sẽ viết câu chót này: “ được tuyên bố là quan thầy các cha giải tội và các nhà luân lý này 26/4/1950 “.

Bằng ấy để đánh dấu một ngày sinh đáng ghi: 29/9/1696, và một cái chết đáng nhớ: 01/8/1787. Chết buổi sáng, lúc chuông truyền tin đổ, sau cuộc đời dài 90 năm, 10 tháng và 01 ngày. Phủ tròn gần một thế kỷ mà người ta gọi là “ Thế Kỷ Ánh Sáng “.

Con người ấy chắc chắn đã làm nên lịch sử như một cỗ xe rực lửa. Con người ấy chắcchắn đã làm nên lịch sử ( Thánh Anphongsô Rey-Mermet Viễn Thụ trang 19-20 )

MỘT CON NGƯỜI ĐÃ ĐI VÀO THẾ KỶ ÁNH SÁNG, ĐÃ ĐI VÀO LỊCH SỬ CON NGƯỜI: Được sinh ra trong một gia đình thế giá thế Kỷ Ánh Sáng. Cha mẹ đều là người có thế giá, có uy quyền trong triều đình Napoli. Anphongsô đã đi vào đời với tất cả ước mơ của con người. Cha mẹ nào lại không mong ước cho con cái mình thành đạt, cho con cái mình được trọng vọng. Cha của Anphongsô cứ đinh ninh Anphongsô rồi sẽ nối gót, kế thừa cha trong sự nghiệp binh bị. .Anphongsô lại là một cậu bé hết sức thông minh, hết sức khôn ngoan. Cậu học giỏi, nhưng lại có rất nhiều tài năng: cầm, kỳ, thi, họa. Người ta vẫn không ngoa khi đánh giá Anphongsô là con người tài đức song toàn. Cha mẹ của Anphongsô hết sức kỳ vọng vào cậu. Và ông bà không hãnh diện sao được khi Anphongsô tỏ ra hết sức nổi bật trong mọi lãnh vực. Ông bà Don Giuseppe de Liguori ước mơ cho Anphongsô sẽ có người vợ đẹp, để sinh sản ra những đứa con ngoan, học hành giỏi giang. Ông bà De Liguori ước vọng như thế quả chẳng có gì là quá đáng. Anphongsô đã đi vào đời, đã đi vào lịch sử con người và chính Người đã làm nên lịch sử đời mình khi mới có 16 tuổi đời, đã giật được hai mảnh bằng tiến sĩ luật đạo và đời. Anphongsô đã khoác vào mình bộ áo luật sư dài, rộng thênh thang vì vóc dáng cậu còn quá trẻ. Thanh bảo kiếm đeo bên mình càng làm Anphongsô kiên định trong địa vị của mình. Thanh bảo kiếm ấy chứng tỏ Người thuộc dòng dõi quí tộc, thế giá trong thế Kỷ Ánh Sáng. Bao nhiêu vụ kiện, bao nhiêu cuộc biện hộ của Anphongsô cho các thân chủ đều mang lại chiến thắng. Giữa lúc, Anphongsô đang hăng say với chiến thắng, giữa lúc Anphongsô tưởng rằng mọi sự cứ như vậy, giữa lúc Anphong tỏ ra bách chiến bách thắng thì…

MỘT VỤ KIỆN BỊ THUA KHIẾN ANPHONGSÔ TỪ BỎ TẤT CẢ: một vụ kiện tầm cỡ. Chưa từng có đến nay. Liên quan đến những hoàng thân quốc thích, những bá tước quận công. Một lãnh địa và những số tiền nợ, lãnh địa Amatrice, rộng bằng cả một tỉnh lẻ. Với những con số 150.000 ducats, 4.000 ducats v.v…

Nữ công tước Victoria di Montefeltro della Rovere, vợ goá của công tước Ferdinando II de Medicis, thuộc dòng dõi một sĩ quan làm công thần của Hoàng đế Charles Quint, bà là bên nguyên. Họ chọn luật sư Maggiochi biện hộ.

Bên bị là công tước Philip Orsini, ông này còn một món nợ lớn chưa đòi được, song người ta đã làm giấy tờ cầm thế cho ông lãnh địa Amatrice, “ với quyền thụ hưởng, ông và các kẻ thừa kế ông; không ai được phép dính dáng vào, bao lâu ông chưa hết nợ nần”. Luật sư Alfonso biện hộ cho bên bị ( Thánh Anphongsô, Rey-Mermet Viễn Thụ trang 65 ).

Anphongsô còn trẻ, các lập luận như đinh đóng cột. Người lại thông minh, nhanh nhảu và trẻ trung. Ai cũng hoan hô sự lập luận vững chắc của Người. Ai cũng tin tưởng Người sẽ chiến thắng như bao vụ kiện khác. Nhưng con đường của Chúa thật diệu kỳ. Giữa lúc Phaolô đang hăng say bắt bớ các môn đồ, bắt bớ Giáo Hội, bắt bớ các Kitô hữu để nhốt vào tù. Giữa lúc Phaolô tưởng rằng mình chiến thắng thì Chúa đánh ông ngã ngựa. Phaolô thất bại, Phaolô chiến bại rõ ràng.” Lạy Chúa Chúa muốn con làm gì ? “. Đường của Chúa thật diệu kỳ…Tâm Tư của Chúa không ai có thể dò thấu…Anphongsô cũng thế với những lời biện bác khúc triết, với những lập luận sắc bén. Anphongsô có ngờ đâu…Đường của Chúa quá diệu vợi. Một sai lầm, một quên sót nhỏ nhất đã làm cho Anphongsô thua kiện :”…Sắc diện đỏ lên vì tức giận, xấu hổ cho chiếc áo pháp đình khoác trên vai, Alphongsô không còn nghe gì nữa, cả tiếng an ủi được thốt ra bởi vị chủ tịch tối cao Caravita; anh cúi đầu, đi thẳng ra ngoài một mạch.

Hỡi thế gian, ta biết ngươi rồi…vĩnh biệt pháp đình ( Thánh Anphongsô, Rey-Mermet,

Viễn Thụ trang 67 ).

Anphongsô đã hiểu thế nào là thất bại. Anphongsô thua kiện để Thiên Chúa được thắng kiện. Đó là cái nghịch lý của cuộc đời mà Anphongsô đang trải qua .Anphongsô đã bỏ tất cả. Giờ đây chỉ còn Chúa và các bệnh nhân.

Tiếng vọng của Thiên Chúa luôn thôi túc Anphongsô:” Hãy để thế gian lại đó và hiến mình cho Ta “.

Anphongsô đã tỉnh giấc mơ, đã hoàn hồn sau một cơn đau khổ khủng khiếp và rồi:” Một hôm tại nhà thờ Đức Mẹ chuộc kẻ làm tôi, quỳ dưới chân bức tượng, Anphongsô đã nói:” Vĩnh biệt thế gian và của cải phù vân ! Lạy Chúa, đời con nay thuộc về Chúa  Chức tước và của cải gia đình con, con xin dâng làm của lễ toàn thiêu cho Thiên Chúa con và cho Mẹ Maria…

Anh rút gươm ra, đặt dưới chân Mẹ bồng con:

Hôm đó là ngày 29/8/1723, ngày đứa con quay về với Cha nhân hậu( thánh Anphong

Rey-Mermet, Viễn thụ trang 69-70.

saint-alphonsus-maria-de-liguori-01

CÁI KỲ DIỆU CỦA CUỘC ĐỜI: Thánh Anphongsô đã như một Phaolô ngã ngựa trên đường Damas và rồi Người đã nhận ra tiếng Chúa gọi. Thanh bảo kiếm đặt dưới chân Đức Mẹ chuộc kẻ làm tôi nói lên sự từ bỏ danh vọng, quyền hành, địa vị, chức tước. Thánh Anphongsô đã nhận ra cái phù phiếm của cuộc đời:” Phù vân. Tất cả đều là phù vân”. Thánh Anphongsô chọn Chúa làm gia nghiệp cho cuộc đời mình. Lời thánh Kinh” Hãy đi, bán hết những gì con có. Đem cho kẻ khó. Và sau đó đến đây theo Thầy”( Lc 18, 22 ; Mt 19, 21 ). Lời của Chúa nói với người thanh niên giầu có hôm nay thúc bách thánh Anphongsô thực sự, Người đã quyết định, một quyết định, một sự chọn lựa làm cho cha mẹ của  Người rất đau lòng vì ông bà chưa nhận ra ý Chúa…

Thánh Anphongsô đã chọn và Người đã nhất định dành tất cả cho Chúa…

DÒNG CHÚA CỨU THẾ ĐƯỢC KHAI SINH: Năm 1732, tại thị trấn Scala ( trong vương quốc Napoli ), thánh Anphongsô Maria đệ  Liguori, vì động lòng thương cảm những người nghèo khó, nhất là đám nông dân chiếm phần đa số trong miền, đã thành lập Dòng Chúa Cứu Chuộc, để đi theo chính Đấng Cứu Thế rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó.

“ Người đã sai tôi đem Tin Mừng cho người nghèo khó”. 9 Lc 4, 18 )

Thánh Anphongsô và các tu sĩ của Ngài, sáng chói nhất có thánh Giêrađô Majella, đã nỗ lực đáp ứng cácc nhu cầu thiêng liêng của dân quê nghèo thời đó, bằng các kỳ Đại Phúc thừa sai, các tuần tĩnh tâm, các tuần tái phúc, theo gương thánh Phaolô đã làm( Cv 15, 36 ) ( Hiến Pháp và Quy Luật Dòng Chúa Cứu Thế trang 11 ).

Dòng Chúa Cứu Thế từ ngày thành lập cho đến  nay, đã trải qua biết bao thăng trầm, nhưng Chúa vẫn gìn giữ, ủp ấp để rồi Dòng Thánh vẫn luôn vươn lên, tiếp tục rao giảng Nước Thiên Chúa và giới thiệu Chúa Kitô cho mọi người, đặc biệt những người bơ vơ, tất bạt.

Linh mục Giuse  Maria Nguyễn Hưng Lợi DCCT

Ngày 22-7-2005

Sưu tầm: P. Mai Tự Cường

3 ĐIỀU TÔI KHUYÊN BẠN ĐỪNG LÀM…

3 ĐIỀU TÔI KHUYÊN BẠN ĐỪNG LÀM…

Ở đời có rất nhiều việc đừng làm nhưng đừng bao giờ quên 3 điều này!

1. Xây nhà quá to

Đừng dại gì mà cả đời thắt lưng, buộc bụng, bóp mồm bóp miệng, dành tiền dựng lên một khối bê – tông, sau đó vừa còng lưng trả nợ, vừa tự làm ô-sin lau chùi quét dọn cả ngày. Rồi cuối cùng cũng ra ngoài cánh đồng nằm lạnh lẽo trong 6 tấm ván hoặc chui vào lọ sành.

Đồng ý là phải có nhà cửa đàng hoàng nhưng đừng quá sức. Thử hỏi, mỗi ngày bạn ở nhà mấy giờ đồng hồ và khi ở nhà thì là hầu hết là lúc mình nhắm mắt. Vì thế, nhà …to hay bé, xấu hay đẹp cũng không có gì khác nhau là mấy.

2. Cho con cái quá nhiều

Người Việt Nam có câu “Hy sinh đời bố, củng cố đời con” thế nên, nhiều người có bao nhiêu cho con hết. Cho nhiều quá nên con cái chẳng biết tự lo gì, có khi 30 tuổi rồi vẫn còn phụ thuộc vào cha mẹ. Hơn nữa, nếu bạn cho con cái quá nhiều mà không lo được gì cho mình thì về già bạn sẽ làm cho con bạn phải khổ bởi bạn trở thành gánh nặng của chúng, đấy là chưa nói gì đến khi ốm đau, bệnh tật.

Cho con vừa thôi và quan trọng là cho nó thành NGƯỜI, cho khả năng tự lập mới là quan trọng. Có cho nhiều thì cũng đừng cho hết, hãy giữ lại một phần để tự lo cho bản thân khi tuổi cao, sức yếu để con cháu đỡ khổ. Đừng quên rằng, tiền bạc là quyền lực của người già.

3. Để bản thân đau ốm và tự móc túi mình khi vào bệnh viện

Nhiều người chúng ta, cứ mải mê làm ăn, tích cóp mà không nghĩ cách bảo vệ sức khỏe, tiền bạc của mình. Vì thế, đến khi vào bệnh viện, thay vì có chỗ họ phải trả tiền cho mình chăm sóc sức khỏe thì hầu hết chúng ta lại phải tự móc túi mình ra mà chi phí. Đó là lý do đã thoát nghèo rồi lại bị tái nghèo.

Khổ thân!

Ở đời có nhiều việc đừng làm, trong đó có 3 điều trên bạn nhé..!

Sưu tầm

Thống kê thế giới về Việt Nam.

Thống kê thế giới về Việt Nam.

Đất nước Việt Nam được hưởng nhiều thế mạnh về địa lý và thiên nhiên
Xét về những tiêu chuẩn chính: Việt Nam là một quốc gia GIÀU và MẠNH.
Rất nên đọc.

Nguồn: VANHOAVIET.INFO 
Posted on: 2018-07-28

***

Dân số:

Việt Nam hiện nay có dân số ước tính khoảng hơn 93 triệu người, đứng hàng thứ 13/243 quốc gia và lãnh thổ trên thế giới. Dân số là một trong những đơn vị chính được dùng để đánh giá độ lớn và nhỏ của một quốc gia. Việt Nam đứng hàng thứ 13 có dân số đông nhất thế giới.Bởi vậy, xét về mặt dân số, Việt Nam không phải kém.

Diện tích:

Việt Nam có tổng diện tích đất liền khoảng 331,210 km2, đứng hàng thứ 61/189 quốc gia trên thế giới. Diện tích quốc gia cũng là một trong những đơn vị chính dùng để đánh giá độ lớn của quốc gia. Ở vị trí thứ 61, Việt Nam thuộc nhóm 1/3 quốc gia có diện tích lớn nhất thế giới.Bởi vậy, xét về mặt diện tích, Việt Nam không phải là kém.

Duyên Hải:

Việt Nam là một quốc gia có địa thế rất đặc biệt; vừa tiếp diện biển ở phía Đông, vừa dựa vào rừng cây và cao nguyên ở phía Tây. Việt Nam đứng hàng thứ 33/154 quốc gia có bề dài duyên hải dài nhất thế giới với chiều dài duyên hải 3,444 cây số. Nên biết rằng, có 47 quốc gia trên thế giới hoàn toàn nằm trong lục địa (không tiếp diện với biển) và 35 quốc gia có chiều dài duyên hải chưa đến 100 cây số. Bởi vậy, xét về mặt bề dài duyên hải, Việt Nam không phải là kém.

Rừng cây:

Việt Nam có tổng số diện tích rừng đứng hàng 45/192 quốc gia và lãnh thổ trên thế giới với tổng diện tích rừng là 123,000 cây số vuông. Rừng Việt Nam được xếp loại rừng có hệ sinh thái đa dạng và đặc biệt.Mặc dù rừng cây ở Việt Nam bị khai thác một cách bừa bãi, nó vẫn nằm ở vị trí 1/3 các quốc gia đứng đầu về diện tích rừng.Bời vậy, xét về mặt diện tích rừng cây, Việt Nam không phải là kém.

Đất canh tác:

Việt Nam có tổng số đất canh tác là 30,000 cây số vuông, đứng hàng 32/236 quốc gia và lãnh thổ trên thế giới. Tổng số lượng lúa được Việt Nam canh tác đứng hàng thứ 5 trên thế giới trong số 20 quốc gia canh tác lúa gạo. Xét về mặt đất canh tác (và đặc biệt canh tác lúa gạo), Việt Nam không phải là kém.

Việt Nam không nhỏ với đơn vị kích thước, dân số, đất đai, biển đảo, rừng cây v..v… nhưng lại yếu kém về phát triển kinh tế, giáo dục, xã hội, và văn hóa… do quản lý rất tồi:

1. Giáo dục:

Theo chỉ số Human Development, Việt Nam đứng hàng 121/187, có nghĩa là dưới trung bình. Không có một trường đại học nào của Việt Nam được lọt vào danh sách trường đại học có danh tiếng và có chất lượng.

2. Bằng sáng chế:

Theo International Property Rights Index [8], Việt Nam đứng hàng 108/130 tính theo giá trị trí tuệ, có nghĩa là gần đội sổ.

3. Ô nhiễm:

Theo chỉ số ô nhiễm, Việt Nam đứng ở vị trí 102/124, gần đội sổ danh sách.

4. Thu nhập tính theo đầu người:

Tuy thu nhập quốc gia của Việt Nam đứng hàng 57/193, Việt Nam lại đứng hàng 123/182 quốc gia tính theo thu nhập bình quân đầu người. Có nghĩa là Việt Nam đứng trong nhóm 1/3 quốc gia cuối bảng có thu nhập đầu người thấp nhất.

5. Tham nhũng:

Theo chỉ số tham nhũng mới nhất của tổ chức Transparency International, Việt Nam đứng hàng 116/177 có nghĩa là thuộc 1/4 quốc gia cuối bảng.

6. Tự do ngôn luận:

Theo chỉ số tự do ngôn luận (freedom of press), Việt Nam đứng vị trí 174/180, chỉ hơn Trung Quốc, Bắc Hàn, Syria, Somalia, Turkmenistan và Eritrea, có nghĩa là nằm trong nhóm 1/20 thấp nhất thế giới.

7. Phát triển xã hội:

Theo chỉ số phát triển xã hội, Việt Nam không có trong bảng vì không đủ số liệu để thống kê. Trong khi đó, theo chỉ số chất lưọng sống (Quality of Life) thì Việt Nam có điểm là 22.58, đứng hàng 72/76, có nghĩa là gần chót bảng.

8. Y tế:

Theo chỉ số y tế, sức khoẻ, Việt Nam đứng hàng 160 trên 190 quốc gia, có nghĩa Việt Nam đứng trong nhóm quốc gia có tổ chức y tế tệ nhất.

***

Việt nam có đầy đủ tiềm năng nhưng tại sao tụt hậu ngày càng xa sau các nước khác?

Câu trả lời trước hết xin dành cho đảng cộng sản Việt Nam, kế đến là các bộ môn văn hóa & xã hội, cũng như đạo đức học & giáo dục học.

************************

Nguồn: VANHOAVIET.INFO
Thống kê thế giới về Việt Nam 
http://www.vanhoaviet.info/thong%20ke%20VN.htm

Linh mục không có đạo?

Linh mục không có đạo?

JB. Nguyễn Hữu Vinh
2018-07-29

Người Công giáo trong một buổi lễ ở Hà Nội hôm 20/1/2015

Người Công giáo trong một buổi lễ ở Hà Nội hôm 20/1/2015

 AFP

Câu chuyện “Linh mục không có đạo” bắt đầu từ việc trang web của HĐND Tỉnh Hà Tĩnh ghi nghề nghiệp chức vụ hiện tại là Linh mục quản Hạt Nghĩa Yên, Đức Yên, Đức Thọ, Hà Tĩnh. Thế nhưng phần tôn giáo lại ghi là “Không”.

Với những người thuộc thế hệ chúng tôi, việc oái oăm để có hiện tượng “Linh mục không có đạo” là điều không khó hiểu.

Những năm tháng đó, nhà cầm quyền CSVN đã thực hiện một chính sách kỳ thị và phân biệt đối xử cách trắng trợn với người công giáo. Người Công giáo hầu hết không được yên ổn trong mọi môi trường từ công việc cho đến cuộc sống. Chính sách phân biệt tôn giáo được thể hiện bằng việc ghi rõ tôn giáo đang theo ngay trên giấy chứng minh nhân dân. Người Công giáo chỉ là “Công dân hạng hai” trong xã hội.

Ra đường, đến công sở, trường học, hệ thống tuyên truyền cộng sản công khai mạt sát, kỳ thị người Công giáo như là một trò chơi và là một nhiệm vụ chính trị. Những công dân theo công giáo không dám xưng mình là giáo dân, nếu không muốn bị những sự phân biệt nặng nề trong một môi trường mà sách vở, báo chí, thái độ của mọi người luôn coi họ như tội phạm làm chậm bước tiến của xã hội lên Chủ nghĩa Cộng sản.

Những kỳ hồ sơ thi đại học, có hẳn một chương trình hướng dẫn học sinh làm hồ sơ, phần ghi Tôn giáo, được hướng dẫn nên ghi “Không” để cho việc thi cử được bình đẳng như người khác.

Trong các lực lượng công an vũ trang, hàng hải, đối ngoại, ngoại giao… thì người công giáo đừng có mơ thi vào đó. Trong các cơ quan quân đội, người Công giáo chỉ được đứng ở hàng lính và lên tuyến đầu là hết. Mọi chức vụ nếu có thì phải bỏ đạo, vào đảng.

Thời bố tôi vào đại học những năm 60 của thế kỷ trước, cứ mỗi lần đến ngày Chúa Nhật, ngày lễ công giáo, lớp cho một sinh viên khác đi đâu cũng đi kèm xem có còn đến nhà thờ hay không. Mỗi lần đi lễ, ông phải đến nhà người quen và đi lễ với họ vào những giờ giấc khác nhau.

Cảnh sát chặn đường những người Công giáo đòi công lý đến toà án Hà Nội hôm 27/3/2009 ủng hộ những người công giáo bị toà xử liên quan đến tranh chấp đất đai với chính phủ
Cảnh sát chặn đường những người Công giáo đòi công lý đến toà án Hà Nội hôm 27/3/2009 ủng hộ những người công giáo bị toà xử liên quan đến tranh chấp đất đai với chính phủ AFP

Thời chúng tôi vào đại học, cả bao nhiêu trường Đại học ở khu vực Hà Nội và quanh đó chỉ tìm được có 34 sinh viên công giáo. Thậm chí có một người bạn cùng lớp mà mãi đến khi ra trường vẫn không biết đó là người công giáo.

Cái tự do tôn giáo, tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của công dân Việt Nam dưới thời cộng sản sắt máu là như vậy.

Với tình trạng đó, việc giấy CMND ghi tôn giáo “Không” là điều không khó hiểu cho lắm.

Trước đây, tôi không hiểu vì sao nhà cầm quyền lại muốn càng ít người ghi danh công giáo càng hay. Mãi đến sau này, mới hiểu ra rằng đó cũng là một chính sách, bởi các con số thống kê dân số và xã hội, tỷ lệ giáo dân sẽ giảm xuống một cách nhanh chóng, và thành quả của “Cuộc cách mạng văn hóa và tư tưởng” mới to lớn hơn. Ngoài ra, với tỷ lệ giáo dân càng thấp càng tốt trong một nước cộng sản, các chính sách cai trị đề ra sẽ dễ dàng hơn.

Linh mục tham gia chính trị?

Điều người ta chú ý, là những vụ việc xảy ra tại vùng Kỳ Anh, nơi Formosa đổ bộ làm căn cứ như Tô giới của Trung Quốc, liên quan đến vụ việc nhà thờ Giáo họ Thiên Lý vừa xảy ra, thì Linh mục Phê rô Nguyễn Thái Từ lại có danh sách ứng cử rồi là Đại biểu HĐND Tỉnh Hà Tĩnh. Người dân không hiểu lý do vì sao vào những thời điểm ấy, lại có linh mục thuộc GP Vinh tham gia vào các chức vụ chính trị như vậy.

Hẳn nhiên là ai cũng biết rằng linh mục thì không thể tự ý tham gia những việc ngoài thẩm quyền của mình. Thế nhưng, những điều đó không ai giải thích và giáo dân cứ xầm xì.

Bài viết trên trang Nữ Vương Công Lý đặt câu hỏi như sau: “Linh mục Nguyễn Thái Từ chắc là người biết rõ chính sách và đường lối cũng như bản chất của nhà nước cộng sản Việt Nam như thế nào, ít nhất là qua vụ Tam Tòa khi 200 giáo dân và linh mục thuộc Hạt Kỳ Anh vào Tam Tòa đã bị đánh tơi bời”.

Và “Điều đặc biệt hơn nữa, linh mục Phê rô Nguyễn Thái Từ lại là thành viên trong Ban Công Lý Hòa bình của Giáo phận Vinh do Đức Cha Nguyễn Thái Hợp quyết định. Điều này có ý nghĩa gì?

Ở Giáo phận Vinh một thời, các linh mục được hoặc bị đưa vào cái gọi là Ủy Ban đoàn kết công giáo không phải là ít. Bởi ai không chịu tham gia, thì tấm gương của linh mục Vũ Đình Giáo không chịu đi họp Mặt trận để vào “Ủy ban đoàn kết công giáo” đã bị nhà cầm quyền bằng mọi cách tiêu diệt, gây ra sự kiện giáo dân Đông Yên quyết tâm bảo vệ chủ chăn suốt hơn nửa năm trời dưới sự bao vây của cộng sản, và sau đó ngài bị đưa đi quản chế mấy năm trời đã là điều mà nhiều người phải nhớ đến.

Bà con giáo xứ Song Ngọc ở Quỳnh Lưu, Nghệ An do linh mục Nguyễn Đình Thục dẫn đầu trong một lần lên đường khởi kiện Formosa năm 2017.
Bà con giáo xứ Song Ngọc ở Quỳnh Lưu, Nghệ An do linh mục Nguyễn Đình Thục dẫn đầu trong một lần lên đường khởi kiện Formosa năm 2017. Courtesy of thoibao.today

Chính sách cai trị sắt máu và điều hành xã hội bằng súng đạn, nhà tù đã buộc giáo hội có những bước đi ít có hại nhất. Nhiều linh mục, giáo dân buộc phải tham gia cái Ủy ban ma đó bởi để tránh sự bách hại mà còn phục vụ giáo dân.

Tất nhiên, khi nhà cầm quyền CSVN đã bỏ công, bỏ của để đầu tư ra cái thây ma “Ủy ban Đoàn kết” thì phải có những con mồi, thậm chí cả những linh mục thành tâm theo cái tổ chức đó. Những vị đó, hoặc bởi nhận thức, hoặc bởi có những vấn đề mà chỉ có Chúa và công an biết, nên đành chấp nhận nhắm mắt chấp nhận “Ma đưa lối, quỷ dẫn đường”.

Cái “Ủy ban Đoàn kết Công giáo” là một tổ chức của cộng sản nhằm làm lũng đoạn Giáo hội, tạo ra một Giáo hội ly khai với Giáo hội Hoàn vũ như Hồ Chí Minh đã kêu gọi Công giáo phải “Tam Tự” đó là “Tự lập, tự đào tạo, tự truyền” – nghĩa là hoàn toàn ly khai với Tòa Thánh Vatican.

Cái Ủy Ban đoàn kết Công giáo được lập ra với mục đích như vậy, và chính Linh mục Phan Khắc Từ, một người đã giữ nhiều “chức vụ quan trọng” trong cái “Ủy ban” đó đã khẳng định trong một lần tôi phỏng vấn ngài rằng: “Đó là một tổ chức của Mặt Trận, dĩ nhiên là của đảng”.

Một số linh mục đã buộc phải vào đó để “nhắm mắt đưa chân” qua giai đoạn khó khăn mà phục vụ các tín hữu. Nhiều người hy vọng rằng, qua cơn bĩ cực giai đoạn khó khăn đó, thì mọi việc sẽ đi đúng hướng chính, tà phân biệt.

Trên con đường khó khăn, cả người và quỷ cùng đi thì phải biết dựa vào nhau, khi đến đích thì quỷ sẽ vẫn là quỷ và người vẫn là người  – Linh mục Vương Đình Ái

Linh mục Vương Đình Ái, một linh mục lâu đời tham gia cái tổ chức “Đàn két” này, khi mới tham gia và giáo dân xì xầm là linh mục cộng sản, đã từng nói bóng gió rằng: “Trên con đường khó khăn, cả người và quỷ cùng đi thì phải biết dựa vào nhau, khi đến đích thì quỷ sẽ vẫn là quỷ và người vẫn là người”.

Thế nhưng, tiếc thay là ngay khi chưa đến đích, thì những người “đi với ma đã phải mặc áo giấy” để thể hiện đúng vai trò ma quỷ giao phó. Bởi ở đây không chỉ là ma quỷ, mà nguy hiểm hơn, đây là Cộng sản. Linh mục Pet. Đậu Đình Triều một lần đã ngao ngán kể với tôi về việc Linh mục Ái đã khóc trước Hội nghị của cái Ủy ban này khi ông không được bầu lại làm Chủ tịch UBĐK rằng: “Tôi đi theo đảng từ 45 đến nay, nay đảng không tin tôi nữa”.

Nhiều vị linh mục, chức sắc, sư sãi của các tôn giáo được đảng “cơ cấu” vào các cơ quan như Quốc Hội, HĐND, Ủy ban Đoàn kết, Mặt trận… đủ cả. Nhưng tất cả chỉ để làm cảnh và tô vẽ cho “nền dân chủ gấp triệu lần dân chủ tư sản” của cộng sản độc tài mà thôi.

Thế nhưng, thời đó đã qua. Trong thời đại ngày nay, khi mà nhà cầm quyền Cộng sản đã vứt bỏ hết mọi thứ mặt nạ, khi lòng dân đã hiểu nhiều về bản chất của chế độ Cộng sản và những hành động của nó, thì việc hợp tác, tham gia các tổ chức chính trị cộng sản là điều khó có thể biện minh.

Bởi như chúng ta thường thấy trong chế độ Cộng sản Việt Nam, cái hình thức dân chủ “Đảng cử dân bầu” đã trở thành mặc định. Các chức danh, chức vụ và con người được “bầu” lên, tất tần tật đều do ý đảng. Chỉ có như thế đảng mới yên tâm “lãnh đạo tuyệt đối” ở tất cả mọi lĩnh vực xã hội, cuộc sống và cả tôn giáo.

Họ được “cơ cấu” đưa vào đó để “ngồi chơi, xơi nước” và… giơ tay. Hầu như không có một tác dụng nào cho chính tổ chức tôn giáo mà họ đã là thành viên, càng không có một ích lợi nào cho đất nước và dân tộc.

Chưa bao giờ, người ta thấy một linh mục nào ở vị trí dù là Hội đồng Nhân dân hoặc Quốc hội đi nữa, mà có một tiếng nói cho đất nước, dân tộc, thậm chí cho chính tôn giáo của mình đang bị bách hại. Ở đó may ra có những nhà sư công an suốt ngày bịa ra giáo lý nhà Phật để ca ngợi sự côn đồ của công an, bào chữa cho việc hiện khoảng 30% án oan trong các vụ án hay kêu gọi xây dựng quân đội mạnh thành quân đội côn đồ như Bắc Hàn của ông sư Thích Thanh Quyết.

Điều nguy hại nhất khi hàng chức sắc tôn giáo tham gia các tổ chức của Cộng sản, không chỉ ở chỗ họ có thể làm gì, nói gì ảnh  hưởng đến các tôn giáo đó. Mà là ở chỗ họ sẽ bị sử dụng như một công cụ, khi cần thiết huy động vào những mục đích chính trị của đảng Cộng sản, thì đảng cộng sản sẽ không từ thủ đoạn nào để lợi dụng, để ép buộc hoặc bắt buộc họ phải hành động theo ý đảng cộng sản.

Và tất cả những điều đó, những tấm gương đó được đặt trước mắt giáo dân làm chính giáo dân lẫn lộn giữa chính, tà, giữa bóng tối và ánh sáng.

Tại Giáo phận Vinh, Linh mục Nguyễn Đăng Điền, linh mục Nguyễn Thái Bạch là một ví dụ. Đó là những linh mục hết sức nhiệt tình, thích tham gia các tổ chức nhà nước và nhiều lần bị lợi dụng, bị chơi đểu, rồi lại tiếp tục tự nguyện để bị lợi dụng, chơi đểu bởi chính nhà nước cộng sản.

Điều nguy hại hơn nữa, đó là việc Giáo hội đã có những quy định, lề luật rất rõ ràng: Các linh mục, hàng giáo phẩm không được tham gia các tổ chức chính trị. Việc các linh mục ngang nhiên tham gia các tổ chức chính trị của Đảng Cộng sản, dù vô tình hay hữu ý, thì đó là một tấm gương cho giáo dân trong việc vi phạm lề luật của Giáo hội.

TỴ NẠN VIỆT VÀ TT TRUMP – Vũ Linh

Image may contain: 1 person, suit and text
Image may contain: 1 person, standing and suit
Hoang Le Thanh is with Phan Thị Hồng.

Donald Trump quyết liệt đánh và thắng Trung cộng.

Khi TT Donald John Trump bắt tay hòa hoãn với Nga, làm hòa với EU để tập trung đánh Trung cộng. Trump đã dám đập đầu Tập Cận Bình là dịp may để dân tộc Việt Nam thóat khỏi nguy cơ bị Tàu cộng đồng hóa.

Tôi cầu mong cho Trump chặn đứng và hạ được “Giấc mộng Trung Hoa” của Tập, xé nát Tàu cộng ra làm nhiều mãnh.

Đó cũng là ước mơ của cả dân tộc Việt Nam.

Xin mời qúy bạn cùng đọc

TỴ NẠN VIỆT VÀ TT TRUMP

Vũ Linh

Ngó vậy chớ hổng phải vậy!

Dân Việt chạy qua Mỹ tỵ nạn trên dưới cũng gần nửa thế kỷ. Hầu hết rất ít lưu ý đến chính trị Mỹ. Đại khái thì “Ôi, ông tổng thống nào thì cũng dzậy thôi, đi cầy vẫn đi cầy, đóng thuế vẫn đóng thuế, VC vẫn chình ình đó thôi”. Cả 40 năm như vậy rồi.
Nhưng rồi thế sự đổi thay. Nước Mỹ gặp ông thần Trump. Không ai biết ông này có bùa phép gì đặc biệt, mà tự nhiên, cả nước Mỹ lên cơn sốt. Bị ‘chính trị hoá’ hết ráo. Không ai có thể thờ ơ với ông Trump này được. Không vái lạy tung hô thì cũng đỏ mặt tiá tai sỉ vả. Không biết gì cũng nhẩy vào, về hùa la ó theo.

Phản ứng này cũng đã lan qua cộng đồng người Việt luôn. Chưa bao giờ dân tỵ nạn ta lại bị hớp hồn, theo dõi một tổng thống Mỹ hăng say như bây giờ. Đáng tiếc là phần lớn… hăng say sảng.

Tỷ phú Donald Trump là một doanh gia cực kỳ thành công. Ông hưởng một gia tài không lấy gì là kinh khủng của ông bố. Chỉ là ông bố giúp tài trợ một số dự án nhỏ cỡ một vài triệu, mua bán nhà cửa ở New York, rồi từ đó ông phất lên. Khi ông bố qua đời để lại gia tài 20 triệu cho 5 người con chia nhau, thì ông Trump đã thành tỷ phú rồi.

Rồi với tham vọng cũng lớn hơn người, ông nhẩy vào chính trị. Cũng lại thành công dễ như trở bàn tay. Giống như trong thương trường, ông thành công nhờ cái thương hiệu chính trị mà ông đã tự tạo ra cho mình. Một tỷ phú thành công lớn, tức là có khả năng thật, nhưng lại là tỷ phú của dân lao động, tuy cực giàu nhưng hiểu rõ hơn ai hết đời sống vất vả của dân lao động, hiểu được rất rõ những ưu tư và ưu tiên của dân trung lưu, chia sẻ được những cái lo của họ, mang lại được cho họ những gì họ đang mong đợi. Từ công ăn việc làm đến an toàn cá nhân, từ những giá trị văn hoá đến niềm tin tôn giáo, là những thứ mà dân cấp tiến dè biủ, khinh miệt.

Chủ đề quảng bá thu hút nhất của ông: tôi không phải chính trị gia, có sao tôi nói vậy, không uốn lưỡi tới ba lần. Một cơn gió mát mới lạ trong chính trị Mỹ.

Những người chống đối ông cố phá cái hình ảnh đó, cố dựng lên hình ảnh một… quái thai: điên khùng, ngu dốt, dâm dục, gian dối, tàn ác, kỳ thị, hồ đồ, bất nhất,… Xin lỗi, khuôn khổ bài này không đủ chỗ để liệt kê hết những ‘huy chương’ đặc biệt ông Trump đang được tặng.

Đó là chuyện dân Mỹ. Còn dân tỵ nạn ta thì sao?

Phải nói ngay, tuyệt đại đa số dân tỵ nạn hiểu rất lơ mơ về chính trị Mỹ nói chung, cũng như về ông Trump nói riêng. Mà những hiểu biết giới hạn đó, nhiều khi lại sai lầm.

Trước hết, nói về nguyên nhân. Trên căn bản, ai cũng thấy có hai nguyên nhân.

Thứ nhất, dân Việt trước khi qua Mỹ, chưa bao giờ được nếm mùi dân chủ, tự do thật sự, bất kể dưới đời thái thú, vua, quan toàn quyền, tổng thống, chủ tịch, tổng bí thư hay tướng lãnh nào. Những trò chơi dân chủ kiểu Mỹ như đánh nhau để dành phiếu bầu bán, đều hoàn toàn xa lạ. Dân tỵ nạn bây giờ có dịp bắt chước chơi trò này nhưng điều phiền toái là có thể vì tính hiếu thắng, muốn tranh thắng bằng mọi giá, nên thường sẵn sàng nói láo, tung tin phịa, ngụy tạo bằng chứng, ghép hình,… rồi gây lộn, thậm chí chửi tục, làm rối trí người dân bình thường trong cái hỏa mù đó.

Thứ nhì, khó khăn ngôn ngữ là bức tường khổng lồ, gây trở ngại lớn cho dân tỵ nạn muốn hiểu rõ những chuyện gì đang xẩy ra chung quanh họ. Truyền thông tỵ nạn giúp họ không bao nhiêu mà có vẻ hại họ thì nhiều.

Truyền thông của cộng đồng tỵ nạn Việt (dưới đây sẽ viết tắt là TTTN, truyền thông tỵ nạn) không khác TTDC (truyền thông dân chủ) Mỹ mấy, hoàn toàn bị chi phối bởi đồng tiền vì cũng vẫn chỉ là những cơ sở thương mại, do đó phải ‘cuốn theo chiều gió’ quần chúng để có khách đọc và khách quảng cáo.

Đa số độc giả là những dân nghèo thiếu hiểu biết, lo sợ bị CH cắt trợ cấp và Trump kỳ thị đuổi về VN theo như vài cụ tỵ nạn hù dọa. TTTN thay vì giải tỏa những huyền thoại sai lầm giúp dân tỵ nạn thì lại chọn giải pháp dễ dãi là củng cố những huyền thoại đó, dễ phiên dịch phiến phiến khỏi phải nặn óc viết, dễ thu hút độc giả và thính giả, dễ thu quảng cáo, dễ kiếm tiền.

Cộng đồng tỵ nạn Việt là một khối dân đầy mâu thuẫn. Quan điểm chính trị rất khuynh hữu, chống cộng tuyệt đối, kiên trì chống VC từ gần nửa thế kỷ nay không mệt mỏi, nhưng đồng thời lại hoan nghênh đảng DC là đảng đã biểu quyết cắt hết viện trợ để tặng miền Nam cho CSBV. Sẵn sàng coi New York Times hay Washington Post là hải đăng của truyền thông trong khi biết rõ ta mất nước phần lớn vì những báo này xuyên tạc cuộc chiến tự vệ của ta để ca tụng đám cán ngố dép râu. Sau 75, Carter là người đầu tiên liên lạc, nhìn nhận CSVN, Clinton là người đầu tiên mở quan hệ ngoại giao và đi Hà Nội, Obama là người đầu tiên thu hồi cấm vận quân sự. Tất cả đều là tổng thống DC, hết sức thân thiện với lãnh đạo CSVN. Trong khi đó, các tổng thống CH, từ Ford là người ban lệnh cấm vận, Reagan là người phục hồi lại quan điểm chiến tranh VN là một cuộc chiến có chính nghĩa, đến cha con ông Bush, rồi Trump, đều có vẻ lãnh đạm với đám ‘lãnh đạo đại tài’.

TTTN còn có một vấn đề lớn hơn nữa là không có nguồn tin độc lập, nên hoàn toàn trông cậy vào TTDC, chỉ làm công tác dịch thuật các cơ quan ngôn luận Mỹ, hầu hết là thiên tả tung hô Hillary và Obama, chống CH và Trump.

Hậu quả trực tiếp của vấn nạn trên là TTTN rập khuôn tin tức và quan điểm của TTDC Mỹ, đánh Trump chết bỏ. Trong khi lại không chú tâm đến ảnh hưởng thực tế và cụ thể của TT Trump trên nhu cầu chính trị, xã hội, kinh tế của dân tỵ nạn ta.

Đánh Trump là chuyện rất dễ. Ông này đúng là ông thần, nói trước suy nghĩ sau, kinh nghiệm đấu võ với đám hổ cáo TTDC không bao nhiêu, nên rất dễ bị chúng đánh bẫy, khai thác và đập cho dập mình. Vấn đề là ta có đủ chiều sâu nhìn xuyên qua những cái hớ hênh mồm mép của TT Trump để thấy rõ các chính sách của ông hay không.

Đảng DC và TTDC đánh Trump tuy quá đáng nhưng cũng có thể hiểu được phần nào vì tính phe đảng chính trị của họ.

Nhưng tại sao cộng đồng tỵ nạn ta lại nhắm mắt chạy theo? Có nên cân nhắc chống cái gì bất lợi cho chúng ta và hoan nghênh cái gì có lợi không?

Ta đừng nên quên có nhiều điều có lợi cho nước Mỹ nói chung hay cho đảng DC hay đảng CH nói riêng nhưng chưa chắc đã có lợi cho dân tỵ nạn chúng ta. Ngược lại có hại cho nước Mỹ hay đảng DC/CH cũng chưa chắc đã hại cộng đồng tỵ nạn ta. Điển hình rõ rệt nhất: có quan hệ tốt với CSVN là tốt cho Mỹ nhưng chẳng tốt chút nào cho cộng đồng tỵ nạn.

Ta thử điểm qua một vài vấn đề chính.

TTDC ra rả chỉ trích TT Trump là kỳ thị sắc tộc đối với dân gốc Nam Mỹ. Phe cấp tiến chủ trương mở rộng cửa đón nhận di dân Nam Mỹ, kể cả di dân LẬU, vì lý do chính trị (cần phiếu), lý do kinh tế (cần nhân công rẻ), và lý do ý thức hệ (thế giới đại đồng), nên chống lại sắc lệnh của Trump. Họ khám phá ra cách chống hữu hiệu nhất là dán cãi nhãn hiệu kỳ thị lên trán ông Trump.

Đó là nhìn dưới khiá cạnh Mỹ. Dân tỵ nạn ta thì sao? Quyền lợi chúng ta ở đâu?

Phải nói ngay, ta cũng là loại dân ‘da màu’, không có lý do gì chạy theo mấy anh da trắng để kỳ thị dân da đen hay da nâu. Nói chung, ta cũng là dân tỵ nạn, sao lại hô hào chống di dân hay dân tỵ nạn? Một vài anh hỏi vặn kẻ này “bám theo Trump chống dân Mễ, da đã trắng ra chưa?”. Một câu hỏi chỉ nói lên cái ngu của người hỏi.

Dân gốc Nam Mỹ phần lớn là khối dân cạnh tranh với dân ta, cạnh tranh về công ăn việc làm loại lương thấp, cạnh tranh về tiền trợ cấp xã hội, cạnh tranh về tiền housing, tiền thất nghiệp, tiền Medicaid, phiếu thực phẩm,… Một đồng đám này có là một đồng ta mất. Trừ phi Nhà Nước đánh thuế thêm cả nước để bù đắp, là điều không ai làm. Như vậy lý do gì ta lại phải hoan nghênh chuyện mở cửa biên giới đón nhận dân Nam Mỹ vào ào ào? Trước khi ta lo cho bà Nam Mỹ di dân lậu đang ôm bầu có được MediCal, có nên lo cho ông bà cụ nhà được săn sóc kỹ hơn không? Nhân đạo có nên bắt đầu từ ngay trong nhà mình không? Tài tử xi-nê Mỹ hoan nghênh di dân đến cắt cỏ, lái xe, làm bếp, ta có lợi gì mà cũng bắt chước hoan nghênh theo?

Vấn đề chính của chúng ta là ông Trump có kỳ thị dân da vàng nói chung hay dân Việt nói riêng không? Vị nào có bằng chứng TT Trump kỳ thị dân tỵ nạn ta, xin phổ biến cho mọi người biết. Trái lại, chính quyền Trump mới chính thức kiện Đại Học Harvard về tội kỳ thị dân Á Châu trong việc nhận sinh viên. Ta hiểu đây là chuyện liên quan đến sinh viên Tàu, nhưng dù sao, sinh viên gốc Việt cũng bị họa lây. Chúng ta có nên hoan nghênh Harvard chặn họa Tầu khi con cháu ta bị họa lây, không được nhận vào Harvard không?

Bây giờ, ta nhìn lại vấn đề lớn nhất: giảm thuế. Dĩ nhiên phe cấp tiến chửi rủa tối đa nhưng vẫn vui vẻ lấy tiền bỏ túi, chuyện dễ hiểu. Cái mà kẻ này không hiểu được là thái độ hết sức mâu thuẫn của nhiều cụ tỵ nạn:

– TT Obama không cắt một xu thuế nào trong 8 năm, họ hoan nghênh. TT Trump giảm thuế họ chửi, kể cả những người trước sau chẳng phải đóng xu thuế nào cũng hùa vào chửi theo. Tại sao?

– Họ sợ Trump giảm thuế, Nhà Nước sẽ bớt tiền trợ cấp của họ? Đã có ai bị cắt trợ cấp gì chưa. Bộ Trump muốn cắt trợ cấp chỉ cần ký sắc lệnh cắt sao? Họ có khi nào nghĩ đến những dân trung lưu cong lưng đi làm đóng thuế cho họ nằm nhà ăn trợ cấp dài dài không?

– Họ la hoảng công nợ sẽ tăng. Thế khi Obama không giảm một xu thuế nào mà lại tăng công nợ gấp đôi, từ 10.000 tỷ lên đến 20.000 tỷ, họ có lên tiếng không vậy?

– Những người phải đóng thuế, họ được bớt vài ngàn, cũng vẫn chửi vì… phân bì với ông Bill Gates được giảm thuế tới cả triệu. Xin lỗi, đi làm lao động cả đời chưa nhìn thấy một triệu mà cũng muốn được giảm thuế bạc triệu sao?

– Cái lý tưởng của họ là 1% dân giàu nhất đóng thuế nuôi 99% dân còn lại, mà không nghĩ cái 1% đó không thể thọ để rồi khi chúng bị moi hết tiền rồi thì lấy ai nuôi cái 99%?

TT Trump dâm dục, ăn nói thô tục, không có tư cách tổng thống? Đây là lập luận nhiều cụ tỵ nạn ‘thấm nhuần Nho giáo, lễ nghĩa cụ Khổng’ cảm thấy bực mình. Xin thưa với các cụ, chúng ta tìm tổng thống Mỹ chứ không kiếm cụ đồ Nho về giảng luân lý giáo khoa thư lớp vỡ lòng. Nói chuyện làm dơ bẩn Tòa Bạch Ốc, xin các cụ hỏi lại các TT Kennedy, Johnson và Clinton trước.

Xin quý cụ tha lỗi cho, chứ với kẻ này, tất cả chỉ là chuyện tào lao. Tôi kỳ vọng ông tổng thống tạo việc làm cho tôi, giảm thuế cho tôi, giúp tôi có đời sống kinh tế khấm khá hơn, bảo đảm an toàn cho gia đình tôi chống khủng bố, còn ông tổng thống có hôi nách hay gái gú lung tung, ai cần biết? Ông Tổng thống mở miệng là f… và sh…, xin lỗi, who cares? VN ta đã từng có ông phó tổng thống, đồ nho đạo mạo, đã làm thơ “ngồi buồn gãi háng…” gì đó, có sao đâu?

Nhìn vào TT Obama, khác xa TT Trump, có vẻ có tư cách hơn? Nhưng rồi ông Obama để cả triệu người thất nghiệp năm này qua năm khác, kỷ lục dân ăn trợ cấp, nhận phiếu thực phẩm, è cổ đóng thuế nuôi cả chục triệu di dân lậu,…

Một lần nữa, xin lỗi quý vị, tiêu chuẩn chọn tổng thống của tôi không giống tiêu chuẩn của TTDC. Giữa lịch sự, chải chuốt, mồm mép, để rồi mang cả nước vào nô lệ trợ cấp, và có sao nói vậy nói hớ lung tung, nhưng cho tôi công ăn việc làm, tôi chọn giải pháp sau.

Rồi nhìn ra ngoài nước Mỹ, ta thấy TC múa gậy vườn hoang, bán cả triệu tấn thực phẩm đầy hóa chất, và cả tỷ đồ dởm cho chúng ta. Ngoài Biển Đông thì tha hồ cắm dùi tìm dầu, coi cả Biển Đông là ao vườn sau nhà. TT Obama cho vài cái hàng không mẫu hạm ghé Cam Ranh. Hết chuyện. Đáng hoan nghênh không?

Câu chuyện chống TT Trump ồn ào nhất hiện nay trên TTDC và trên TTTN là chuyện ‘có bằng chứng Nga can thiệp nên Trump mới thắng’, đưa đến tình trạng tổng thống của Mỹ chỉ là con rối của Putin.

Trước hết, ta coi lại việc công tố Mueller truy tố thêm GRU Nga thâm nhập vào hệ thống emails của đảng DC. Theo ‘phe ta’ đây là bằng chứng quá rõ ràng Nga đã thâm nhập, giúp cho ông Trump hạ được bà Hillary.

Trong cuộc tranh cử tổng thống vừa qua, bà Hillary có kinh nghiệm hoạt động chính trị cả nửa thế kỷ, có kinh nghiệm vận động tranh cử tổng thống ba lần, hai lần cho ông chồng và một lần cho chính mình, có hậu thuẫn của toàn thể guồng máy chính quyền Obama kể cả FBI, CIA,… Bà cũng được sự hậu thuẫn của tất cả nghị sĩ, dân biểu DC tại Thượng Viện và Hạ Viện, chưa kể cả lô ông bà CH công khai nhẩy qua hậu thuẫn, hay nhẩy ra ngoài cuộc chiến như cả họ nhà Bush. Bà còn có toàn thể dàn máy đảng DC, với cả trăm ngàn tình nguyện viên làm việc tại cả ngàn văn phòng trên khắp 50 tiểu bang. Bà được 90% TV và báo Mỹ hậu thuẫn. Bà cũng chi gần một tỷ đô cho cuộc vận động. New York Times cổ võ, tiên đoán bà có 98% hy vọng thắng.

Vậy mà theo Washington Post, bà thua vì Nga giúp. Nghĩa là chỉ cần Putin búng tay, gửi hai tá nhân viên tép riu vô danh qua, lén chui vào các emails lấy tin tức xì ra, bỏ ra 100.000 đô mua quảng cáo trên Facebook, là giấc mộng của bà tiêu tan thành mây khói. Thế thì câu hỏi thật sự là toàn thể sự nghiệp cũng như chương trình kinh bang tế thế, trị quốc bình thiên hạ của bà Hillary hoá ra chỉ là loại kế hoạch của dã tràng vẽ trên cát? Như vậy thua có gì lạ? Oan chỗ nào?

Câu chuyện nổi đình nổi đám hơn nữa là cuộc họp báo của TT Trump với TT Putin. Có lẽ trong lịch sử nhân loại, chưa khi nào có cuộc báo nào kinh hồn như vậy. Theo như tin tức đọc được qua TTDC và dịch lại bởi TTTN, ta thấy một tổng thống của Đại Cường Cờ Hoa hình như đã quỳ mọp xuống đất bái lạy tên độc tài khát máu tàn bạo nhất nhân loại. Tội này không đàn hặc, truất phế rồi cho đi đập đá mãn đời thì thế giới này không còn gì là công lý nữa.

Theo TTDC, việc làm đúng nhất của TT Trump khi gặp Putin là phải lập tức còng tay đưa cho mật vụ lôi cổ về Mỹ, nhốt tại Guantanamo mãn đời nếu ông Trump là người lịch sự. Nếu thiếu tế nhị hơn thì ông Trump đã phải đấm đá Putin cho đến chết gục tại chỗ. Do đó, việc ông Trump chỉ đứng bên cạnh, bắt tay thì quả là hành động đầu hàng hèn nhát, phản phúc nhất.

Diễn giải nôm na ra, TTDC và cả đảng DC, cộng thêm cả lô #NeverTrump cực kỳ bất mãn TT Trump đã không khai chiến, mang B-52 đi đánh Nga. Mọi hành động dưới mức này đều không thể chấp nhận được. Trong cuộc tranh cử Obama-Romney, ông Romney tuyên bố kẻ thù lớn nhất của Mỹ là Nga. TT Obama miệt thị “ông ơi, chiến tranh lạnh chấm dứt hơn hai chục năm rồi”. TTDC xúm lại chế nhạo Romney. Bây giờ, cũng cái đám TTDC đó đang bị sốc sao Trump dám bắt tay với Putin.

Cả nước cho rằng Nga can thiệp trắng trợn – dù chưa ai thấy bằng chứng nào – khiến cho nước Mỹ mất cơ hội được lãnh đạo bởi người phụ nữ vĩ nhân lớn nhất của nhân loại kể từ ngày Từ Hy Thái Hậu băng hà. Cái tội này của Putin làm sao tha thứ được?

Đó cũng lại là nhìn vấn đề dưới con mắt Mỹ. Còn dưới khiá cạnh dân tỵ nạn, chúng ta muốn gì?

Cả nước đang nổi loạn, rầm rộ chống tân đế quốc TC với mộng bành trướng khắp thế giới. Đối tượng trước mắt của Hoàng Đế nhà Tập là VN, khi ông ta muốn nhét mấy con chuột cống ‘đặc khu’ vào gặm nhấm. Ưu tiên số một của chúng ta là làm tất cả những gì có thể để tiếp tay với dân trong nước ngăn chặn mưu đồ này. Mà cụ thể nhất cũng như thực tế nhất là mong sao hay vận động sao cho Mỹ, hay chính xác hơn, TT Trump giúp một tay, chặn nguy cơ chệt hóa (Hán hóa) tổ quốc của chúng ta, đánh TC bằng mọi cách mọi giá.

Nhưng Mỹ đang lưỡng đầu thọ địch: Nga và TC. Khó có thể đánh cả hai, mà chỉ có thể chọn một. Và dường như TT Trump đã chọn hòa Nga đánh TC.

Chúng ta không cần biết quyền lợi của Mỹ ở đâu, nên hòa Nga đánh TC, hay nên hòa TC đánh Nga. Thây kệ, đó là chuyện của Mỹ. Chuyện của ta là nước VN, cho dù ta đang là công dân Mỹ sống trên đất Mỹ. Bất cứ chuyện gì giúp nước VN ta khỏi bị Hán hoá, chúng ta phải cổ võ, đúng không?

Như vậy thì có phải là nếu TT Trump bắt tay hòa hoãn với Nga để rảnh tay đánh TC thì chúng ta nên tạm gác qua mọi chuyện yêu ghét tư cách cá nhân ông Trump để kêu gọi ông thân thiện với Nga hơn để có thể mạnh tay với TC hơn không? Những chuyện như Trump trả tiền gái điếm, cãi nhau với NATO, hồ đồ ăn nói thô tục, … có phải tất cả những chuyện đó đã thành những chuyện ruồi bu mà ta nên dẹp qua một bên để cầu mong cho Trump chặn họng Tập không?

Hay là … mặc kệ, ta cứ nhắm mắt chống Trump tiếp tục, bằng mọi giá vì đã lỡ ghét rồi? Chuyện VN là chuyện của VC và TC, kệ tụi nó đấm đá nhau, mắc gì mình phải lo?

VŨ LINH

MAI CON LỚN

tho

MAI CON LỚN

Trần Hoàng Trúc

andy
mẹ con đi xe đạp
Mai con lớn khắp nơi toàn người Hán
Tiếng Việt mình, nói nhỏ nhé con ơi
Dù mình sống trên quê hương, đất Tổ
Nhưng ai đông hơn sẽ thành chủ, con à!

Mai con lớn lấy chồng sao tránh khỏi
Bọn Hán kia tìm mọi cách “gieo nòi”
Còn trai Việt thoát sao đời nô lệ?
Chẳng biết lúc nào mất nội tạng, con ơi!
Mai con lớn, chữ mình con quên hết
Khắp nơi nơi toàn kiểu chữ tượng hình
Sử sách Việt sẽ ngày càng mai một
Ai nhớ từng có Âu Lạc với Văn Lang?
du khách Tàu1
Mai con lớn đến nơi nào cũng cúi
Xứ mình nhưng chẳng dám ngẩng cao đầu
Vào quán xá nhớ nép mình trong góc kẹt
Đừng tranh ăn với lũ đói bên Tàu!
Mai con lớn những nơi nào đẹp nhất
Hạ Long, Ninh Bình, Đà Lạt, Phong Nha…
… và nhiều chỗ con đừng héo lánh
Người Việt ta không tới đó nữa con à!
Mai con lớn những kinh đô, thành quách
Những tượng thờ tiên tổ, các Hùng Vương
Những ngôi miếu tôn vinh Bà Trưng, Bà Triệu
Sẽ bị đập tan, lăn lóc giữa hoang tàn
du khách tàu3
Mai con lớn, đồ ăn toàn bẩn, độc
Của ngon đều bị tước hết con ơi
Mai con lớn biển, sông, hồ nhiễm độc
Nước thải phương xa không ngớt đổ về
Mai con lớn xin con đừng òa khóc 
Hận tiền nhân sao nỡ để cháu con mình
Sống trong lòng giặc thở không dám thở
Vì thời của mẹ cha, ai cũng chỉ muốn “được yên bình”!
Mai con lớn xin con đừng hờn trách
Tổ tiên hèn với giặc, ác với cháu con
Con hãy hiểu ngày hôm nay ai cũng nói
“Ta không đòi được đất thì để con cháu ta đòi”
du khách TQ
Mai con lớn xin con đừng phẫn hận
“Ngày xưa giặc chưa vào sao câm nín, im ru?
Nay giặc ở khắp mọi miền bờ cõi
Bắt cháu con đòi, nghe có lọt tai không?
Mai con lớn, thôi mẹ không nghĩ nữa…
Chỉ mong bình minh đến thật mau…
Và tất cả chỉ là cơn ác mộng
Xin Thiên cơ ban tặng một phép màu…
 
du khách tàu

Từ giáo dục gian đến chính trị gian

Từ giáo dục gian đến chính trị gian

Nhà giáo Miền Nam (Danlambao)  Đã từ lâu, tôi không muốn đả động tới cái nền “giáo dục phản giáo dục” của CS tại VN, vì nó thối nát không còn gì để nói, không còn biện pháp nào có thể cứu chữa, ngoại trừ phải phá bỏ, và còn phải tẩy trừ, rửa sạch tì vết của nó, để thay đổi bằng một nền giáo dục dựa trên sự chính trực, văn hóa và lương tâm, một nền giáo dục có nhân tâm, nhân nghĩa và nhân đạo, nó thuộc về con người chứ không thuộc về vô thần, quỷ ma, tà gian. Nhưng muốn có một nền giáo dục như thế, đòi buộc phải có một chính thể tự do, nhân quyền, tôn trọng nhân phẩm con người và có niềm tin, mà các tôn giáo chân chính phải góp phần. Chính niềm tin tôn giáo sẽ cầm cân nảy mực cho một xã hội công bằng, nhân ái và tín trung, chứ không thể là vô thần, vì con người vô linh hồn sẽ chỉ là con vật, là thú hoang tranh dành nhau sự sống, trong một xã hội rừng rú!

Sự việc gian điểm thi ở Sơn La, Hà Giang làm chấn động không những trong nước mà cả thế giới vì chưa nơi nào có, càng làm cho những người còn nhân bản, còn lương tri phải nghĩ đến việc sớm gạt bỏ chế độ CS vô thần ra khỏi đất nước VN. Tôi nhấn mạnh chữ VÔ THẦN, vì chính nó là căn nguyên của mọi xấu xa, mọi tội ác chống lại chân, thiện, mỹ và con người. Nếu không có nhân bản, đạo đức, thì mọi điều xấu xa ghê tởm đều có thể xảy ra, mà gian dối chỉ là một đặc tính. Một nền chính trị vô thần, gắn liền với một chế độ bất lương, làm sao có thể có một nền giáo dục tốt, nhân bản được?

Sự việc lùm xùm về “thi gian, điểm lận” vừa mới đây đã làm tôi chán ngán không còn muốn để tâm theo dõi, vì nó đã trở thành quá bình thường và tràn lan, là bản chất cố hữu của xã hội CS, nên tôi không muốn mất thì giờ đọc các bài báo, bài bình luận về nó. Duy có một tựa đề độc đáo trên báo BBC Việt ngữ: CHÍNH NGƯỜI LỚN DẠY CHÚNG CHÁU GIAN DỐI, của một tác giả có bút hiệu là “Cháu Việt Nam”, đã làm tôi chú tâm đọc nguyên bài, và nảy sinh nhiều suy nghĩ. Xin mọi người hãy tìm đọc trên báo BBC ngày 28/7/2018, hiện đang còn tồn tại đến hôm nay, để một lần nữa, chứ không phải lần đầu, thấu hiểu về một xã hội CSVN… hết thuốc chữa, không còn gì để nói, nó tanh bành từ chính trị, kinh tế, đạo đức và con người!

Tôi rất tâm đắc với câu nói: “Xin đừng nói: “nếu gian điểm thi như thế, sẽ tạo nên một xã hội gian dối sau này! Cái xã hội gian dối ấy đã tồn tại từ rất lâu ở VN (ý nói thời CS cai trị), mà xã hội của các cháu sau này chỉ thừa kế cái xã hội gian dối của các ông bà, cha mẹ, cô chú!”. Lại còn có thêm một câu biểu cảm của ai đó đăng trên báo: “Kinh khủng quá! Vụ này (gian điểm thi ở Hà Giang) mà không được phát hiện, thì đẻ ra cả một thế hệ lừa lọc gian dối còn gì!”. Tôi trộm nghĩ: thứ nhất, đó chỉ là câu nói lừa bịp gian xảo có hậu ý che đậy cho một xã hội CS VN hiện tại thối tha! Thứ nhì, nó là của một kẻ đang sống trên mây, chứ không sống ở dưới đất, trong lòng xã hội VN XHCN!

Hãy nhìn xem đi, xã hội hiện tại đang có nguyên một cái LÒ KHỔNG LỒ, mà Nguyễn Phú Trọng, đảng trưởng đảng CS VN đang đốt lên đùng đùng, quăng hàng ngàn khúc củi là những kẻ tội phạm tham nhũng, hối lộ, bè phái, cướp bóc của dân nước, tổ chức bài bạc, buôn lậu xuyên quốc gia. Mới nhất là hàng chục tướng công an, quân đội vừa bị thủ Trọng thảy vào lò vì tội tham nhũng, tất thảy đều là đảng viên CS, nằm trong tà quyền CS chứ không có ai là ngoài đảng. 

Đây mới chỉ là thanh trừng bè phái, chứ nếu công bằng diệt tham nhũng thì toàn thể đảng viên CS đang tham gia cầm quyền đều bị đốt hết, kể cả tên chủ lò Trọng lú! Vậy tham nhũng là gian hay là thật?

Hãy nhìn xem trong xã hội CS hiện giờ:

– Bộ chính trị là BỘ TOÀN LỪA, lừa cả thế giới, lừa đảo dân, cướp của nước, vay nợ quốc tế rồi lấy chia nhau bỏ túi riêng.

– Bộ quốc phòng thì là BỘ BÁN NƯỚC, lo kinh doanh bất hợp pháp để làm giàu, và cuối cùng là bán nước cho giặc Tàu.

– Bộ công an là BỘ TOÀN GIAN, với hàng trăm “cây củi” sống là các tướng tá CA, đã bị Nguyễn Phú Trọng cho vào lò, vì tổ chức bài bạc, hối lộ. Mỗi tên tướng tá có tài sản hàng trăm hàng nghìn tỷ đô la, ở đâu ra nếu không đi cướp của dân, buôn lậu xuyên quốc gia, mua quan bán tước, bè phái để cướp của công làm của tư? Còn chưa nói tới mọi tên CA giao thông đứng đường đều là những tên cướp cạn của dân. 

– Bộ y tế là BỘ BẤT NHÂN, chuyên nhập thuốc giả và bán cho bệnh nhân với giá cắt cổ, bệnh viện thì giết dân vô tội vạ.

– Bộ kinh tế, công thương là BỘ ĐẠI GIAN, ĐẠI ÁC, quy tụ những gian thương làm giàu trên xương máu của dân, phá tan đất nước bằng cách giết nông dân, bóc lột công nhân, buôn đồ lậu và độc hại của Tàu cung cấp cho dân để tiêu diệt dân theo lệnh của Tàu.

– Bộ tài nguyên-môi trường là BỘ TÀN PHÁ, chuyên tàn phá môi trường, hủy diệt sự sống của toàn dân, rước ma Tàu cộng về dày mả tổ! 

– Bộ giáo dục là BỘ HỦY DIỆT CON NGƯỜI, từ tên bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ là tên vô học, lại gian ngoan, đạo văn đạo chữ, và chủ trương giáo dục giới trẻ bằng sự gian dối, vô đạo, bất nhân, côn đồ, vô trách nhiệm, hay hục đầu vào ăn chơi sa đọa, đẩy hết nhân tài ra nước ngoài, còn lại toàn những thành phần bất tài vô đức, kém kiến thức, khiếm khuyết nhân cách, để cho CS dễ bề nắm đầu cai trị, và báo hiệu một xã hội tối tăm bất ổn trong tương lai!

Tóm lại mọi thứ “bộ” chỉ là tay chân của đảng CS, để bảo vệ và tạo điều kiện cho đảng hút máu dân lành và bán nước!

GIAN DỐI, NHŨNG LẠM là đặc trưng của CS, như Gorbachev cựu tổng bí thư CS Liên Xô từng than vãn: “Tôi đã bỏ nửa cuộc đời cho lý tưởng CS, hôm nay tôi đau lòng mà nói rằng: CS chỉ biết tuyên truyền và dối trá!”. Thật không có ai nói về “bệnh sida CS” chính xác bằng chính kẻ bị đã mắc căn bệnh đó!

Mới vừa ra Phú Quốc, tôi chợt nhận ra một sự “tham nhũng hàng dọc lẫn hàng ngang” của người CS: “Một người làm quan, cả họ ăn cướp”, còn tệ hơn gấp trăm lần chế độ phong kiến thời xưa! Đây cũng là “mô hình đặc trưng” của chế độ tham nhũng CS! Ở huyện đảo này người dân ai cũng biết gia đình bà con nội ngoại, họ xa họ gần của cựu thủ tướng CS Nguyễn Tấn Dũng, đã chiếm hết những khu đất đẹp đẽ và đắc địa ở nơi đây, vì huyện đảo này thuộc tỉnh Kiên Giang, là vùng lãnh địa của tên ba Dũng. Chúng chiếm trước để sau bán lại mà hốt bạc, làm giàu trên sự tan tành của đất nước, vì nơi này sẽ là một trong 3 đặc khu, sẽ thuộc về Tàu trong tương lại, nếu người dân không kịp lấy lại chủ quyền đất nước khỏi tay CS. Lúc đó Tàu sẽ in vô số tiền giả để đổi lấy lãnh thổ VN, vì chúng đang nắm đầu VC và đang in tiền cho VC, thì bao nhiêu mà chúng chẳng có, giá nào mà chúng chẳng mua?! Đấm mõm cho dân có đất một ít tiền giả để lấy đất thật, chính là mưu trò mị dân để nuốt trôi lãnh thổ VN, chứ thực ra bọn đầu não CS VN đã bán xong, nhận số tiền tới 74 tỷ Mỹ kim, và bọn này đã chia nhau bỏ túi từ lâu rồi! Nay chúng giao đất rồi cuốn gói bỏ chạy, để lại dân VN cho Tàu vào thống trị, như các “đặc khu” mà Tàu đã mua của các nước nghèo lạc hậu trên thế giới, trong đó có Campuchia, Lào, mà các tên độc tài cai trị đã bán cho Tàu giống như bọn CS VN, và người dân bản xứ các nước đó đang rên siết khi quân Tàu tràn vào làm chủ những vùng đất này! 

Bọn cầm quyền CS gồm toàn những tên vô học, vô đạo và gian ác. Đặc biệt nếu có dịp gần bọn này, chúng ta sẽ thấy chúng đều đã học hỏi và khoác vào một bộ mặt đạo đức giả, chúng nói những điều nhân nghĩa rất trơn tru, thậm chí còn dạy nhân nghĩa cho những người kém hiểu biết về chúng, để bịp dân, khiến nhiều người dễ nhận định lầm chúng là những con người có tâm đạo, nhưng khi làm thì toàn chuyện bất nhân ác đức! Thượng bất chính, hạ tắc loạn là lẽ đương nhiên, lãnh đạo, quan quyền gian tham làm sao dân không gian dối , lừa lọc? Chữ công minh, chính trực, nhân nghĩa… có từ ngàn xưa của dân ta, nay đã biến mất khỏi xã hội CS. Từ quan đến dân đều sống trong lừa lọc, thủ lợi, giệt đối phương, lừa bịp để kiếm tiền, rồi dùng tiền mà mua quyền, mua địa vị, tạo thành MỘT XÃ HỘI GIAN GIẢ VÀ BẤT NHÂN! Từ chủ tịch nước đến tên xe ôm, người buôn thúng bán bưng, hầu hết đều dựa trên sự lọc lừa mà sống. 

Sự gian xảo, cướp bóc, tham nhũng… đâu phải mới đây, mà nó đã tiềm tàng lưu cữu từ lâu đời, nay gốc đã ăn sâu, rễ đã đan dầy trong mảnh đất VN, đến độ làm cho xã hội tàn mạt không còn thể cứu chữa! Một xã hội mà kẻ tham gia vào hàng ngũ lãnh đạo toàn sài bằng giả, gồm toàn một lũ dòi bọ đục khoét tan tành đất nước, chính quyền thì dùng côn đồ trị, cùng với một nền giáo dục sa đọa, mà hiệu trưởng đã biến nhà trường thành một ổ điếm, biến học sinh của mình thành gái bán dâm như tên Sầm Đức Sương ở trường cấp 3 Việt Lâm tại Hà Giang, nay gọi là Hà Gian! Điểm thi thì giả, thày thì gian, trò thì vô giáo dục, thế hệ cha ông đã gian dối quá như thế, mà còn phải chờ đợi gì đến một xã hội con cháu mới gian dối? Câu nói của ai đó: “Kinh khủng quá! Vụ này mà không được phát hiện, thì đẻ ra cả một thế hệ lừa lọc gian dối còn gì!”, chỉ là một câu nói lươn lẹo, bao che cho một thực trạng thối nát đang hiện hữu, và hiện hữu đã từ rất lâu, từ khi CS thống trị đất nước ta.

Cũng cần biết: không phải chỉ có CS VN mới gian ác vô nhân tính, mà những đặc tính đó là của chung các chế độ và con người CS trên toàn thế giới. Điển hình như Stalin đã làm một cuộc thảm sát gần như toàn dân tộc Ukraina khoảng 10 triệu người vào năm 1942, Mao Trạch Đông giết khoảng 40 triệu dân Trung Hoa năm 1958, bằng cách cố tình tạo nên một nạn đói, Hồ Chí Minh theo lệnh của Mao làm cuộc thảm sát mang tên “cải cách ruộng đất”, giết gần 300 ngàn người VN những năm 1955, 1956, và đảng CSVN đã giết hàng nhiều triệu người, từ cắt cổ buông sông, chôn sống cho đến tra tấn trong ngục tù. Giết dân đã là truyền thống của CS không còn thể chối cãi. Hàng năm thế giới đều có tổ chức ngày tưởng niệm các nạn nhân CS, và coi CS là kẻ thù giệt chủng của nhân loại!

Một xã hội hình thành trên nền tảng gian tà, bất chính, vô đạo, dã man, chỉ trọng vật chất mà chà đạp con người, nếu tồn tại thêm thì dân VN sẽ tàn, nước VN sẽ mạt, chưa kể là bị mất nước về tay giặc Tàu, chứ đừng mơ tưởng tới một xã hội lành mạnh, công bằng, văn minh hay một nền giáo dục chân chính! Nền giáo dục “vô giáo dục” ngày hôm nay thuộc về bản chất, là hệ quả tất yếu của chủ thuyết CS bất lương. Nếu muốn cứu nước thoát khỏi ách ngoại xâm, và dân tộc không trở thành đắm mê trong vô đạo, bất nhân, bất nghĩa; nếu muốn phục hồi lại quê hương và dân tộc trong đạo lý, luân thường, chỉ có một phương cách duy nhất: PHẾ BỎ ĐẢNG CS, thành lập một chính thể tự do, dân chủ, nhân quyền, áp dụng một nền giáo dục đầy nhân bản và chính trực. Nền giáo dục đó sẽ đào tạo tô bồi cho mọi con người và giới trẻ một căn bản đạo đức, nhân nghĩa, tín trung, liêm chính và đầy tình người, trước khi truyền đạt kiến thức phổ thông và chuyên môn cho họ, với mục đích tạo cho họ thành nhân trước khi thành công, như thời VNCH trước 1975. Trong chương trình giáo dục đó phải có môn ĐỨC DỤC để dạy đạo đức, rèn luyện nhân cách, và môn CÔNG DÂN GIÁO DỤC để vun trồng lòng yêu nước thương đồng bào, tinh thần dấn thân xây dựng đất nước, phục vụ tha nhân, sẽ đồng hành cùng với những môn khoa học, kiến thức chuyên môn, để tạo nên con người toàn diện, như thời trước 1975 ở miền Nam. Một nền giáo dục viên mãn như vậy sẽ tạo nên những rường cột quốc gia lành mạnh, toàn đức toàn tài để phục vụ quốc gia, xã hội, và xây dựng đất nước tiến bộ trong nhân bản và đạo đức.

Muốn thế, những kẻ mê lầm theo tà thuyết vô thần bất nhân, hãy từ bỏ con đường cũ đưa đến sự hủy diệt, để cùng toàn dân chung tay cứu nước, xóa bỏ vô thần CS, lập một nền chính trị hữu thần, tôn trọng dân chủ và nhân quyền, thì mới mong cứu dân tộc trong đó có mình và con cháu mình khỏi nạn diệt vong!

Cầu mong cho quê hương thân yêu VN sớm thoát Cộng để thoát Tàu, và tiến đến vinh quang rạng ngời. Ngày ấy sẽ không xa, nếu toàn dân đồng lòng đứng lên đánh đuổi thù trong lẫn giặc ngoài, để cứu nguy Tổ Quốc và dân tộc.

30.07.2018

Nhà giáo Miền Nam

danlambaovn.blogspot.com