TÔI YÊU TIẾNG NƯỚC TÔI

Manh Kim

Không còn nhớ ai là người đầu tiên dịch “Gone with the wind” thành “Cuốn theo chiều gió” nhưng vị nào dịch câu này hẳn nhiên là bậc thượng thừa về ngôn ngữ nói chung và rất giỏi tiếng Việt nói riêng. Ông Huỳnh Phan Anh cũng khắc tên mình vào bảng mạ vàng khi dịch “For whom the bell tolls” thành “Chuông nguyện hồn ai” (phải là “nguyện”, chứ không phải “gọi” – như các bản dịch sau 1975, nghe mới “đã” và mới đúng với ý như câu chuyện của tác phẩm Hemingway). Cụ Bùi Giáng cũng thuộc vào nhóm người “giáng thế” khi dịch “Terre des Hommes” (Vùng đất của người) thành “Cõi người ta”.

Cụ Phạm Duy là một bậc tài hoa xuất chúng nữa với các tác phẩm chuyển ngữ lời Việt. Ca khúc “The house of the rising sun” đã được cụ chuyển thành “Chiều vàng dưới mái nhà tranh”. So sánh từng câu từng từ trong các ca khúc chuyển ngữ của thiên tài Phạm Duy, không thể nói gì hơn ngoài sự kính phục tột bậc. Trong Love Story, ca khúc rất phổ biến Sài Gòn thập niên 1970 mà cụ Phạm chuyển ngữ, có những từ được diễn đạt mà chỉ những bậc thượng thừa tiếng Việt mới thể hiện nổi, chẳng hạn “this empty world” thành “cuộc đời vắng ngắt”; hoặc “wild imaginings” thành “mộng huyền mênh mang”…

Có một điểm chung giữa những bậc kỳ tài Phạm Duy, Bùi Giáng hoặc vô số văn sĩ, nhạc sĩ cùng thời với họ, là: “Tôi yêu tiếng nước tôi!”. Chỉ những người thật sự yêu quý tiếng nói của dân tộc mình mới biết cách làm đẹp ngôn ngữ. Họ nhảy múa với ngôn ngữ. Họ thăng hoa với ngôn ngữ. Họ bay bổng với ngôn ngữ. Sự cuồng nhiệt trong tình yêu ngôn ngữ của họ đã tạo ra một nền văn hóa trong đó tiếng Việt vượt qua cả khái niệm ngôn ngữ như là ký hiệu giao tiếp thuần túy mà vươn lên đến chóp đỉnh của một thứ trừu tượng hơn: linh hồn dân tộc. “Tôi yêu tiếng nước tôi”. Tình yêu của họ với tiếng Việt đã làm đẹp tiếng mẹ đẻ, làm sang trọng tiếng mẹ đẻ, và cuối cùng làm nên một nền văn hóa đẹp đẽ.

Chỉ những giai đoạn tiếng Việt bay bổng thì nền văn hóa mới thăng hoa, hay là ngược lại, thật khó có thể nói chính xác. Nhưng, có thể đoan chắc rằng một nền văn hóa xuống cấp luôn đi đôi với việc ngôn ngữ và cách dùng ngôn ngữ xuống cấp. Nó bị dùng sai là một chuyện. Nó bị xem thường mới là điều đáng nói. Khi tiếng Việt không còn được tôn trọng, văn hóa và xã hội sẽ không còn được tôn trọng. Con người cũng không còn được tôn trọng. “Tiếng Việt còn, nước ta còn”. Nhưng tiếng Việt bầy hầy, như đang thấy trên báo chí hàng ngày, trong các ca khúc được hàng triệu người nghe, thì “nước ta” còn gì?

Đừng trông chờ ở những khẩu hiệu “giữ gìn tiếng Việt” hay “làm trong sáng tiếng Việt” hô hào chiếu lệ trong nền giáo dục hiện tại. Tiếng Việt đang bị hỏng không chỉ bởi các MC tung hứng bừa bãi với những câu chữ làm màu “cho sang”, như “điểm trang” thay vì phải nói cho đúng là “trang điểm”; không chỉ bởi các phát thanh viên truyền hình học nhau cách nói rập khuôn, hay các nhà báo viết bài không bao giờ xem lại lỗi chính tả; không chỉ bởi những cách dùng sai như “cặp đôi” hay “fan hâm mộ”; không chỉ bởi các từ ghép Hán-Việt vô nguyên tắc như “phượt thủ”… Nguồn gốc khiến tiếng Việt hư chính là từ giáo dục. Không ngôn ngữ nào có thể bay bổng trong một mô hình giáo dục giáo điều. Chẳng ai có thể sửa lại tiếng Việt với đà tuột dốc của nền giáo dục hiện nay. Muốn “làm trong sáng tiếng Việt”, hệ thống giáo dục phải tự làm trong sáng mình. Điều này sẽ chẳng bao giờ có, không bao giờ thành hiện thực, khi mà giáo dục đang nằm dưới bàn chân của những “chủ trương” và “đường lối”. Đừng mong chờ những thay đổi trong giáo dục. Sẽ chẳng có thay đổi tích cực gì cả. Tiếng Việt sẽ tiếp tục bị hành hạ và văn hóa sẽ tiếp tục bị tra tấn.

Dường như không ai có thể cứu tiếng Việt nhưng tiếng Việt có thể được cứu nếu mỗi người trong chúng ta cùng quay lại với con đường “tôi yêu tiếng nước tôi”. Tìm kiếm và đọc lại những quyển sách của một thời làm nên sự kỳ vĩ một nền văn hóa, như một cách thức tự giải độc khỏi những luồng khí đen đang bủa quanh, có thể được xem là một cách thức. Nhiều giá trị hiện bị mất đi đang nằm trong những quyển sách đó. Văn hóa sẽ đi lạc vĩnh viễn nếu chẳng có ai tìm. Con đường đi tìm văn hóa đã mất có thể sẽ giúp tìm lại ánh hào quang của tiếng Việt, và cuối cùng, dẫn đến việc nhìn lại sự cần thiết phải tôn trọng tiếng Việt.

Không người dân nào có thể thay đổi được hệ thống giáo dục hiện tại. Họ không có quyền hạn để làm điều đó. Tuy nhiên không ai có thể ngăn chặn sự chọn lựa để dung nạp một nền văn hóa khác với “hệ văn hóa” nhồi sọ và tuyên truyền. Cũng không ai có thể ngăn chặn sự chọn lựa đọc gì bên ngoài phạm vi những bài văn mẫu hay nên đọc gì trên những trang mạng xã hội. Đó là sự chọn lựa cần thiết, và cấp bách, để “tôi yêu tiếng nước tôi” có thể còn tồn tại và còn có cơ may truyền lại cho hậu sinh.

Bài viết này có một chi tiết sai (đến nay, 8-9-2018, tôi mới biết), về cách dịch “For whom the bell tolls”, mà tôi nhầm lẫn viết rằng dịch giả Huỳnh Phan Anh đã dịch thành “Chuông nguyện hồn ai”. Thật ra bản dịch của ông Huỳnh Phan Anh in năm 1972 là “Chuông gọi hồn ai”. Chữ nghĩa là vô cùng, kiến thức cũng vô tận, trong khi trí nhớ thì có hạn. Nay có đôi lời nói lại cho rõ vì bài viết này mới đây lại được nhiều người tìm đọc và chia sẻ. Không thể để một cái sai lan truyền như vậy. Cảm phiền các anh chị ghi nhận đính chính này và xem đây như một lời xin lỗi. Cám ơn.

No automatic alt text available.

Tuyệt thực có ý nghĩa gì trong thế giới hiện đại?

Tuyệt thực có ý nghĩa gì trong thế giới hiện đại?

Có bao giờ bạn tự hỏi, người ta biểu thị sự phản kháng bằng tuyệt thực để làm gì, và vì sao lại có chuyện tuyệt thực?

Tuyệt thực đã có trong lịch sử của loài người từ rất lâu, thậm chí hình thức này đã nằm trong ghi chép của luật pháp Ireland cổ xưa. Nếu ai đó nhận ra điều sai trái của bạn và tự mình nhịn đói đến chết trước cửa nhà bạn, đó là một món nợ danh dự và công lý mà suốt cuộc đời mà bạn phải gánh.

Trong đời sống hiện đại, Mahatma M. Gandhi (1869-1948), người tiên phong của phong trào sự bất tuân dân sự, đã phát động nhiều cuộc tuyệt thực và ăn chay để phản đối sự cai trị hà khắc của người Anh tại Ấn Độ. Con đường bất bạo động của ông tạo ra một giá trị khác của việc biểu tình: Những người tuyên bố tuyệt thực hay tham gia tuyệt thực không mang ý nghĩa của “chống lại”, mà họ hành động dựa trên sức mạnh tinh thần để đòi hỏi việc đạt được một giá trị phổ quát mang tính đại chúng.

Tuyệt thực trong việc phản kháng, bất tuân dân sự thường bị các chế độ độc tài hay cộng sản bóp méo là một hình thái như “nằm vạ”, nhưng thực chất các cuộc “nằm vạ” đó cao quý ở chỗ là các yêu cầu của người tuyệt thực thường nhắm đến một quyền lợi chung của cộng đồng, hay công bằng xã hội. Tuyệt thực được giáo sư Sharman Apt Russell, tác giả của Hunger: An Unnatural History (tạm dịch Nhịn đói: Một lịch sử bất thường) dẫn ra với những ví dụ đáng kính trọng, và thành quả của nó đã thúc đẩy nền văn minh và nhân ái của con người.

Một trong những người tuyệt thực đầu tiên được ghi vào sử sách đầu thế kỷ 20, là trường hợp của bà Marion Wallace-Dunlop (1864-1942). Là người đấu tranh cho nữ quyền và yêu cầu cho phái nữ phải được quyền bỏ phiếu bầu như nam giới, bị bắt giam, bà đã từ chối các bữa ăn. Khi bác sĩ trong trại giam đến yêu cầu bà dùng đến các phần ăn, bà đã tuyên bố “ Ăn, là một quyền tự quyết của tôi”. Bà đã được trả tự do khỏi nhà tù Holloway sau 91 giờ tuyệt thực.

Nhưng cũng có chính quyền bất chấp cái chết của công dân mình. Chẳng hạn như trường hợp Bobby Sands (1954-1981), người đấu tranh cho việc cải thiện chế độ lao tù ở Bắc Ireland vào năm 1981. Đó là vết nhơ khó tả của chính quyền bấy giờ và bị ghi vào sử sách nhân loại như một hệ thống khủng bố con người. Trong mắt thế giới, loại chính quyền để cho công dân của mình tuyệt thực đến chết vì quan điểm khác biệt, là loại vô liêm sỉ.

Việc phản kháng bất bạo động là hình thức phổ biến và được rất nhiều người thực hiện, bao gồm những người không phải là chính trị gia. Mia Farrow – nữ diễn viên điện ảnh cũng đã áp dụng cách tuyệt thực để phản đối cuộc xung đột ở Darfur trong năm 2009. Chính quyền Khartoum (Sudan) đã dùng quân đội và công an để trấn áp và khuất phục dân chúng tại Darfur rằng chỉ có họ mới có quyền duy nhất lãnh đạo đất nước.

“Tuyệt thực trở thành một hình thái văn hóa được tổ chức để kiếm tìm công lý trong thế kỷ 20” (“It has become an established cultural form of seeking justice in the 20th Century), nữ giáo sư Sharman Apt Russell đã khẳng định như vậy, trong sách của mình.

Tuy nhiên bà Russell cũng cảnh báo rằng, sức mạnh của vấn đề tranh đấu bằng tuyệt thực là được sự quan tâm liên tục của công chúng. Sức mạnh của việc tuyệt thực sẽ yếu dần nếu công chúng bị chính quyền tổ chức đánh lãng qua các sự kiện khác như giải trí, các vụ bê bối dàn dựng… Công lý và tính mạng của người tranh đấu phụ thuộc và sức quan tâm và chia sẻ lan rộng của cộng đồng. Thế kỷ 21, cộng đồng mạng là một sức mạnh vô lượng trong việc hậu thuẫn và giải cứu những người chọn đấu tranh bằng tuyệt thực.

Tuyệt thực không phải là hình thức hay nhất trong các loại tranh đấu, tuy nhiên vì hiệu quả của nó, nên tuyệt thực đã được sử dụng bởi cả hai phong trào bạo động và bất bạo động. Ý nghĩa phát đi khắp nơi cho thấy một hình ảnh quan trọng rằng ước muốn ôn hòa và chính nghĩa của người tranh đấu, đại diện cho sự tuyệt vọng và bất tín của nhân dân đối với nhà cầm quyền.

Nhà nghiên cứu xã hội học Michael Biggs từ đại học Oxford ghi nhận rằng thường thì các chính quyền đối diện với các trường hợp tuyệt thực, sẽ không sớm có các hành động nhượng bộ nhằm thách thức sức mạnh tinh thần và chịu đựng của các nhà tranh đấu. Nhưng càng kéo dài, chính quyền càng nhận được số lượng dân chúng căm ghét dành cho họ ngày càng lớn hơn. “Tính bất tuân dân sự và bất hợp tác của người dân dành cho chính quyền ngày càng lớn, đó là khởi đầu cho những hỗn loạn và sụp đổ của một chế độ coi thường mạng sống và tiếng nói của người dân”, Michael Biggs viết.

Trở lại với trường hợp đau lòng của nghị sĩ Bobby Sands, khi ông mất vì suy kiệt từ cuộc tuyệt thực cho việc đòi cải thiện chế độ lao tù, đám tang của ông tại Belfast đã có đến 100.000 tham dự, mở đầu cho tiền đề của một cuộc đổi thay. Trong thời hiện đại, việc đưa đám tang của một người tuyệt thực đến chết vì công lý và cộng đồng, hoặc chỉ tưởng niệm tại nhà, đó là những cam kết dứt khoát về việc không còn chấp nhận chế độ đương nhiệm.

Hầu hết những người đấu tranh bằng tuyệt thực muốn sử dụng mạng sống của mình như một cam kết sẵn sàng trả giá cho đổi thay. Tuyệt thực không có nghĩa là người tranh đấu muốn kết cục là cái chết, nhưng họ sẵn sàng chấp nhận cái chết, như một cột mốc để chính quyền xét lại tự cách cầm quyền của mình, trước sự giám sát và phẫn nộ của nhân dân.

Việc tuyệt thực trong lao tù cũng vẫn hay xảy ra. Vì bởi trong trại giam, khó có hình thức nào biểu tình được, ngoài tuyệt thực. Trong tù, chính phủ chính xác là nơi phải chịu trách nhiệm cho cuộc sống của tù nhân, nếu tù nhân chết, lời kết án sẽ nhắm vào chính phủ từ người dân cũng như các quốc gia khác đang có thông tin theo dõi về tình trạng trên.

Thế kỷ 21, đám đông dân chúng có thể gửi thỉnh nguyện thư cho tòa án quốc tế để xét xử quan chức/chính quyền chịu trách nhiệm về thảm trạng. Trường hợp của Giang Trạch Dân bị tòa án Tây Ban Nha truy nã về việc thảm sát con người (2013) do đơn tố cáo từ một người Tây tạng tên là Thubten Wangchen, là một ví dụ. Theo cáo quyết, tất cả những quốc gia liên đới ngoại giao và chính sách nhân quyền với Tây Ban Nha đều có nghĩa vụ truy nã và bắt giữ Giang Trạch Dân, bất chấp việc ông ta nguyên là Chủ tịch Trung Quốc.

————–
PHỤ LỤC
————–
Một người tuyệt thực có thể kéo dài mạng sống đến bao lâu?

Nếu được uống nước, một người tuyệt thực dẻo dai có thể sống đến 60 ngày, tuy nhiên, với thể trang yếu và mang bệnh, bất kỳ ai cũng có thể chết trong vòng 8 đến 10 ngày. Một trong lý do có thể giúp kéo dài sức chịu đựng, khi glucose – lượng đường trong cơ thể cạn kiệt – thường là từ 3-5 ngày. Cơ thể sẽ chuyển qua việc dùng chất béo có sẵn trong cơ thể để làm năng lượng sinh tồn. Nhưng như vậy đồng nghĩa với việc chất béo xuất hiện trong máu vượt mức, sẽ trở thành nguy hiểm. Tim, gan và thận sẽ là những bộ phận bị tổn thương nhanh trong giai đoạn này.

Theo lời khuyên của các bác sĩ, những người tuyệt thực nên uống nhiều nước, uống vitamin, đường và muối… sẽ có thể kéo dài mạng sống của mình thêm đôi chút. Trong trường hợp của ông Trần Huỳnh Duy Thức ở trại giam Nghệ An hiện nay, được biết ông chỉ uống nước và từ chối mọi thành phần bổ sung.
— Nhạc sĩ: Tuấn Khanh-
Ps: xin chia sẻ rộng rãi ạ!
———
Chúng ta hãy cùng nhau thắp nến và hướng tâm về anh Trần Huỳnh Duy Thức.

Image may contain: night

Lời nguyện của Mahatma Gandhi

Lời nguyện của Mahatma Gandhi

Bạn thân mến, ngày nay, vì quá bận rộn, ta thường quên cầu nguyện với Thiên Chúa, dù không quên xem điện thư. Tôi mạn phép sáng tác tập hình ảnh này, dựa trên lời nguyện của ông Mahatma Gandhi để nhắc nhở mình …

Lạy Chúa, xin giúp con dám nói lên sự thật trước kẻ mạnh,
và đừng nói dối để được kẻ yếu tán thưởng. 

Nếu Chúa cho con tiền bạc, xin đừng lấy đi hạnh phúc của con.
Và nếu Chúa cho con sức mạnh, xin đừng lấy đi khả năng lý luận của con.

Nếu Chúa cho con thành công, xin đừng lấy đi đức khiêm nhu nơi con.
Nếu Chúa cho con đức khiêm nhu, xin đừng lấy đi lòng tự trọng của con.

Xin giúp con nhận biết được khía cạnh khác của mọi sự việc.
Xin đừng để con kết án đối phương phản bội chỉ vì họ không chia sẻ quan điểm của con. 

Xin dạy con yêu thương kẻ khác như yêu thương chính bản thân mình,
Xin dạy con phán đoán chính bản thân mình như phán đoán kẻ khác.

Xin đừng để con say men chiến thắng khi đạt được thành công,
và cũng đừng để con thất vọng khi thất bại.  

Nhưng hãy dạy cho con nhớ rằng:
thất bại là thử thách dẫn đến thành công.  

Xin hãy dạy cho con biết rằng:
lòng khoan dung là mức độ cao nhất của sức mạnh.
Và ý muốn trả thù là biểu hiện đầu tiên của sự yếu đuối.
  

Nếu Chúa không ban cho con của cải,
xin hãy ban cho con lòng trông cậy.

Và nếu Chúa không ban cho con thành công,
xin ban cho con ý chí mạnh mẽ thắng vượt thất bại.

Nếu Chúa không ban cho con sức khỏe,
xin hãy cho con ân sủng Đức Tin.  

Nếu con có làm ai tổn thương,
Xin ban cho con sức mạnh để xin lỗi họ.

Và nếu có ai làm con tổn thương,
Xin cho con lòng độ lượng và sức mạnh để tha lỗi cho họ.

Lạy Chúa, nếu con có quên Ngài, thì lạy Ngài, xin đừng quên con! Amen! 

Mật ước Thành Đô 1990 trên đường trở thành hiện thực?

Mật ước Thành Đô 1990 trên đường trở thành hiện thực?

Hoàng Tất Thắng (Danlambao)  Treo cờ nước khác trên tổ quốc Việt Nam, hay chính thức xử dụng đồng CNY tại Việt Nam tức xóa bỏ mặt an ninh tiền tệ và chủ quyền kinh tế quốc gia, có phải là các hành động gấp rút sau cùng của Hà Nội, nhằm thực thi hoàn tất mật ước Thành Đô, mà bộ sậu Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Phạm Văn Đồng, thay cho đảng cộng sản Việt Nam lén lút ký kết với Bắc Kinh năm 1990, để đưa tổ quốc Việt Nam trở thành một tỉnh của Trung Hoa vào năm 2020, trong quyết tâm thà mất nước, hơn là mất đảng của bọn chúng. Hỡi nhân dân Việt Nam, chúng ta không còn nhiều thời gian để chần chờ, trong quyết định sinh tử đối với vận mệnh tương lai của đất nước.

*

Tháng 8/1989 chính phủ liên hiệp Ba Lan thành lập sau một cuộc bầu cử dân chủ và với ưu thế tuyệt đối thuộc về công đoàn Đoàn Kết Ba Lan.

Tháng 11/1989 bức tường ô nhục Bá Linh sụp đổ, Erich Honecker, tổng bí thư đảng cộng sản và chủ tịch nhà nước Đông Đức bỏ trốn sang Lienxo và sau đó là Chile.

Tháng 12/1989, Nicolae Ceausescu, tổng bí thư và chủ tịch nhà nước cộng sản Romania bị xử tử, đánh dấu sự kiện lần đầu tiên một lãnh đạo cao nhất của một đảng cộng sản toàn trị, bị hành quyết bởi cuộc cách mạng đứng lên lật đổ chế độ cộng sản của người dân.

Trong khi đó tại thành trì vô sản Liên Sô, tổng bí thư đảng cộng sản mới lên cầm quyền là Mikhail Gorbachev vẫn đang phất cao ngọn cờ Glasnost (cởi mở) và Perestroika (tái cấu trúc), lồng trong bối cảnh bị ghẻ lạnh khi tham dự lễ kỷ niệm 40 năm thành lập nhà nước Đông Đức, cũng như bị Lienxo và các nước cộng sản Đông Âu, đang hoảng loạn vì bảo dữ mùa thu cộng sản (Autumn of Nations) đang tới nên đã hoàn toàn dửng dưng, thờ ơ, nói đúng hơn là không đếm xỉa gì đến nỗ lực đưa ra sáng kiến cần triệu tập gấp một hội nghị quốc tế vô sản, nhằm siết chặt hàng ngũ phe xã hội chủ nghĩa trong tháng 10/1989 của đảng cộng sản Việt Nam (1), khiến cho Nguyễn Văn Linh, cũng như toàn đảng cộng sản Việt Nam bị choáng váng và thực sự hoảng sợ trước viễn cảnh phải đối mặt với vết xe đổ dây chuyền như khối cộng sản Đông Âu.

Hà Nội chỉ còn một giải pháp sau cùng là phải bám vào Trung Cộng, bằng mọi cách phải bình thường hóa được quan hệ với Bắc Kinh sau một thời gian mâu thuẫn, xung đột khá dài như chiến tranh biên giới, xâm chiếm Cambodia… mới mong bảo toàn được đảng và mạng sống cho bộ sậu chế độ toàn trị Việt Nam. Luận điểm làm căn bản cho quyết tâm khấu đầu thiên triều Bắc Kinh của bộ chính trị đảng cộng sản Việt Nam là dù có bành trướng như thế nào đi nữa, Trung Cộng vẫn là một nước xã hội chủ nghĩa (?). Lê Đức Anh còn quyết liệt hơn khi đánh giá Hoa Kỳ và Tây Phương muốn nhân cơ hội này để xóa bỏ cộng sản, đang xóa Đông Âu và tuyên bố sẽ xóa cộng sản trên toàn thế giới, rõ ràng đây là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm, nên ta phải tìm đồng minh và đồng minh ở đây là Trung Cộng (2).

Trong tâm thế đầu phục đó, Nguyễn Văn Linh, tổng bí thư đảng cộng sản, Đỗ Mười, chủ tịch hội đồng bộ trưởng và Phạm Văn Đồng, cố vấn trung ương đảng cộng sản Việt Nam, đã sang Thành Đô (Chengdu), thủ phủ của Tứ Xuyên (Sichuan) để hội họp với Giang Trạch Dân, tổng bí thư đảng cộng sản và Lý Bằng, thủ tướng Trung Cộng trong hai ngày 3 và 4/9/1990, với hậu quả thay vì bình thường hóa, đã trở nên phụ thuộc hóa hẳn vào Bắc Kinh (3), hay cụ thể hơn như Nguyễn Cơ Thạch, đương nhiệm bộ trưởng ngoại giao của Hà Nội nói là đã đưa Việt Nam vào một thời kỳ Bắc thuộc mới, thể hiện qua bản mật ước Thành Đô, mà đến nay vẫn bị Hà Nội giấu kín.

Cuối năm 2014, vài hệ thống truyền thông chính thức của Trung Cộng như Tân Hoa Xã và Hoàn Cầu Thời Báo, thỉnh thoảng tiết lộ một vài tin tức về cuộc họp Thành Đô, trong đó đảng cộng sản Việt Nam đã lộ nguyên hình phản quốc, bán nước, khi cam kết sẵn sàng chấp nhận trở thành một khu tự trị của Trung Cộng như thân phận các dân tộc Mãn, Mông, Tạng, Hồi hiện nay và đảng cộng sản Việt Nam sẽ là một chi bộ hoạt động trong đảng cộng sản Trung Hoa vào năm 2020. Thực hư mức độ khả tín như thế nào chưa rõ, nhưng điểm qua vài “công tác” chuẩn bị của Hà Nội từ đó đến nay, cũng có thể thấy được khoảng cách giữa nguồn tin và thực tế cũng không mấy xa?!

1/ Buông lỏng và tiến tới phối hợp kiểm soát biên giới: Tháng 7/1998, tổng cục du lịch Hà Nội công bố quyết định 229/1998/QĐ-TCDL, nội dung cho du khách Hoa Lục chỉ cần có giấy tờ thông hành của Trung Cộng là được tự do vào mọi nơi trong lãnh thổ Việt Nam, không cần phải có visa, tức mặc nhiên xóa bỏ rào cản biên giới và các biện pháp kiểm soát di trú phía Việt Nam.

Để hợp thức hóa, bộ công an Việt Nam ban hành thêm quyết định 849/2004/QĐ-BCA do thứ trưởng, thượng tướng công an Nguyễn Văn Hưởng ký tháng 8/2004, quy định mọi công dân Hoa Lục, đều được quyền xử dụng giấy phép xuất, nhập cảnh của Trung Cộng (tức giấy Peoples Republic of China – Entry and Exit Permit) để được miễn trừ các thủ tục kiểm soát ngoại kiều đi vào Việt Nam, theo ngã đường bộ, đường sắt, đường biển và qua 7 cửa biên giới Móng Cái, Hữu Nghị, Tân Thanh, Thanh Thủy, Tà Lùng, Lào Cay và Ma Lù Thàng.

Tháng 2/2018, Trung Cộng và Việt Cộng khởi sự thực hiện kế hoạch nhập chung sự kiểm soát biên giới của hai lực lượng biên phòng vào một tổ chức. Theo đó, có hai trạm kiểm soát thí điểm được đặt tại cầu Dongxing – Mông Cáy và cầu Hữu Nghị – Đồng Đăng, với lính biên phòng và nhân viên quan thuế hai nước sẽ làm việc chung với nhau (?), trong một khu vực chung sẽ không thuộc về bên nào (?), mà cũng có thể coi như là thuộc về cả hai bên (4), để tương lai chỉ còn một sự kiểm soát chung trên suốt tuyến biên giới dài 1.280km giữa hai nước, che đậy dưới chiêu bài hai quốc gia – một trạm kiểm soát (?). 

Tháng 3/2018 tại Quảng Ninh và đến tháng 9/2018 tại Lạng Sơn, dân chúng Hoa Lục đã có được quyền lái xe lưu thông thẳng qua nội địa Việt Nam. 

2/ Luật đặc khu và di dân ồ ạt: Hiện tượng di dân Trung Cộng tràn vào Việt Nam sau khi có mật ước Thành Đô và dưới vòng kim cô 4 tốt, láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt, đã phát triển rất mạnh và có số lượng lớn, theo rất nhiều hình thức từ di dân lậu (?), tới các hình thức đầu tư kinh tế công khai, hoặc đầu tư chui thông qua sự cấu kết với giới cầm quyền tại Việt Nam.

Hình thức đầu tư công khai và đưa công nhân di dân lậu vào Việt Nam diễn ra từ năm 1991. Tính đến năm 2009 đã có 657 dự án đầu tư kinh tế trực tiếp của Trung Cộng vào Việt Nam, từ quy mô nhỏ như khách sạn, nhà hàng, tới quy mô lớn các ngành kỹ nghệ chế biến, xây dựng, khai khoáng, khai thác và chế biến nông lâm thủy hải sản, dàn trải từ biên giới, đến vùng duyên hải, từ miền bắc vào miền nam khắp 52 tỉnh, thành trên tổng số 63 tỉnh thành Việt Nam. Nhiều nơi dân Trung Cộng tập trung thành các khu phố biệt lập, cấm dân địa phương và công an cộng sản Việt Nam lai vãng, như ở Quảng Ninh, Hà Tỉnh, Huế, Đà Nẵng, Dak Nông, Bình Thuận, Bình Dương, Trà Vinh và Cà Mau. Đây vừa là những khu kỹ nghệ ôm rác công nghệ kỹ thuật lạc hậu, sát thủ môi trường điển hình của Trung Cộng thải sang, như khai thác Bauxite – Lâm Đồng năm 2007, nhà máy giấy Lee & Man – Hậu Giang 2007, nhà máy thép Formosa 2008, nhà máy phân đạm Cà Mau 2008, trung tâm nhiệt điện than Vĩnh Tân – Bình Thuận 2010, trung tâm nhiệt điện Duyên Hải – Trà Vinh 2016… vừa đồng thời đều là các hang ổ của hàng ngàn, hàng chục ngàn dân nhập cư lậu Trung Cộng ngang nhiên vào cư trú dưới lớp vỏ bọc công nhân kỹ thuật?.

Hình thức đầu tư ngầm, cấu kết với giới cầm quyền Hà Nội, lén lút đưa người vào các khu dân cư riêng tại các vùng biên giới xung yếu, dưới hình thức thuê đất rừng, trồng rừng và khai thác lâm nghiệp dài hạn từ 50 năm trở lên khởi sự từ năm 2000, đến năm 2010 mới lộ ra ánh sáng đôi chút tin tức. Đã có 18 tỉnh cho 10 công ty ngoại quốc thuê gần 4.000km2 đất rừng, trong đó các công ty Trung Cộng đã sở hữu gần 90%, tập trung tại Cao Bằng, Nghệ An, Hà Tỉnh, Quảng Nam, Bình Định, Kontum và Bình Dương.

Đầu thập niên 2010 bộ chính trị đảng cộng sản Việt Nam lại đưa ra “ chủ trương lớn “ xây dựng đặc khu kinh tế, đặt trong khuôn khổ dự luật Đơn vị hành chánh, kinh tế đặc biệt, với ba đặc khu mở đường là Vân Đồn – Quảng Ninh, Bắc Vân Phong – Khánh Hòa và Phú Quốc – Kiên Giang, dự tính cho quốc hội cộng sản biểu quyết vào tháng 6/2018 và trong tinh thần trơ tráo của Nguyễn Thị Kim Ngân, chủ tịch quốc hội, là bộ chính trị đã kết luận rồi, phải bàn để ra luật chứ không thể không ra luật đặc khu.

Vấp phải các phản ứng quyết liệt của người dân, chống âm mưu dọn đường cho dân Tàu tràn vào theo “ chiến thuật biển người “, vì Bắc Kinh sẵn sàng trợ cấp 100.000USD cho mỗi gia đình ở Hoa Lục di dân sang các đặc khu như đã áp dụng với đặc khu Boten của Lào và trong mục 4, điều 54 dự luật đặc khu của Hà Nội nói rõ cho phép công dân của nước láng giềng (?) có chung đường biên giới với Việt Nam tại tỉnh Quảng Ninh khi xử dụng giấy thông hành hợp lệ nhập cảnh vào đặc khu Vân Đồn với mục đích du lịch, thì sẽ được miễn thị thực visa! Vậy mà Nguyễn Chí Dũng, Bộ trưởng Kế hoạch – Đầu tư của Hà Nội, vẫn có thừa lì lợm và xảo trá khi cho rằng trong dự thảo luật đặc khu không có một câu, một chữ về Trung Cộng nào cả, họ ( người dân) cố tình hiểu sai và đẩy vấn đề lên (biểu tình chống đối rộng khắp Việt Nam) để chia rẽ quan hệ của Hà Nội với Bắc Kinh, khiến hai đảng cộng sản Trung Cộng và Việt Cộng phải tạm thời đình hoãn dự mưu thiết lập đặc khu.

Năm 2017, tổng dân số Việt Nam theo ghi nhận của quỹ dân số Liên Hiệp Quốc UNFPA là 96.019.879 người, chênh lệch gia tăng đến 2.319.879 người so với thống kê của tổng cục dân số Hà Nội. Sai số này khiến giả thuyết cho rằng nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đang tiếp tay với Bắc Kinh, tạo điều kiện thuận lợi cho một số rất đông kiều dân Trung Cộng tự do tràn sang nhập cư lậu, mua đất, mua nhà, lập phố riêng biệt, lấy vợ bản xứ, sinh con đẻ cái để cư trú vĩnh viễn khắp nơi tại Việt Nam là điều xác thực, đang diễn ra, có lúc công khai, có lúc ngấm ngầm mượn tay, núp bóng người Việt không phải là điều vỏ đoán, hay vô căn cứ. Dù con số chính thức lớn hơn đang là bí mật quốc gia của Hà Nội, nhưng rõ ràng với hơn 2 triệu tên lính xung kích Tàu Phù đang cắm dùi từ năm 1991 trên tuyến tiền phương ở Việt Nam, chắc chắn đây sẽ là các con ngựa thành Troia, thuộc đạo quân thứ năm do Bắc Kinh trực tiếp tổ chức, chỉ huy, có sự tiếp tay dung dưỡng đắc lực của cộng sản Hà Nội, để trở thành những nhát dao trí mạng đâm sau lưng người Việt trong một tương lai không xa.

3/ Chính thức cho sử dụng đồng tiền Trung Cộng tại Việt Nam: Ngày 28/8/2018, thống đốc ngân hàng nhà nước Việt Nam Lê Minh Hưng ký ban hành thông tư 19/2018/TT-NHNN, đại diện cho đảng cộng sản Việt Nam chính thức hóa việc sử dụng đồng tiền của Trung Cộng là đồng nhân dân tệ RMB (Renminbi) hay CNY (Chinese Yuan), gọi tắt là đồng Yuan, để trực tiếp thanh toán trong mọi giao dịch thương mại, hoặc chuyển khoản qua ngân hàng trong phạm vi 7 tỉnh giáp biên với Trung Cộng là Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hà Giang, Lai Châu, Lào Cay, Cao Bằng, Điện Biên, với hiệu lực bắt đầu từ ngày 12/10/2018.

Xổ toẹt lên mọi pháp lệnh ngoại hối, các nghị định, thông tư từng ra rả và hùng hồn quy định trên lãnh thổ Việt Nam mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, ghi giá… của dân bản địa, hay của kiều dân đều không được thực hiện bằng ngoại hối, thông tư 19 rõ ràng chỉ là một kết thúc cho một chuỗi hành vi dọ dẫm, thực hiện thí điểm đã được Bắc Kinh và Hà Nội phối hợp thực hiện trên đầu người dân Việt Nam ngu ngơ, hay man trá núp dưới những chiêu bài hợp tác để phát triển và cũng cố tình hữu nghị từ năm 2004 đến nay.

Năm 2004, thống đốc ngân hàng nhà nước Hà Nội là Lê Đức Thúy ký ban hành quyết định 689/2004/QĐ-NHNN, ngày 7/6/2004, cho phép cư dân vùng biên giới Việt-Hoa, được trao đổi thương mại, mua bán bằng CNY trong giao dịch song phương.

Tháng 11/2014, phòng thương mãi – công nghiệp Việt Nam (VCCI), hiệp hội doanh nghiệp Trung Cộng tại Việt Nam và ngân hàng công thương Trung Cộng, phối hợp tạo ấn tượng về việc đồng tiền Trung Cộng sẽ được lưu hành tại Việt Nam, thông qua đề nghị cho thanh toán trực tiếp việc kinh doanh tại Việt Nam bằng đồng Yuan của Trung Cộng.

Chưa nói đến các hậu quả nhãn tiền khi lưu hành chính thức đồng CNY tại Việt Nam, như hoàn toàn bị mất khả năng điều động chính sách tiền tệ (không thể phá giá đồng nội tệ VNĐ khi cần thiết) do đã bị đặt vào một hoàn cảnh không khác gì mấy vai trò chư hầu, thuộc quốc, sẽ mất khả năng kiểm soát tiền tệ, do đồng tiền mạnh (CNY) sẽ đuổi đồng tiền yếu (VNĐ) ra khỏi thị trường, hay việc mất tin tưởng vào đồng nội tệ sẽ tạo ra tình trạng mất vốn, rút chạy ngoại tệ (Capital Flight) ra khỏi nước, gây hủy hoại khả năng trả nợ, mất khả năng nhập cảng, đẩy hối suất lên cao và gây ra lạm phát (5), nói một cách nôm na, việc cộng sản cho thanh toán trực tiếp bằng đồng Yuan tại Việt Nam, cũng như thể cho treo cờ Trung Cộng, thay cho cờ chính thức của Việt Cộng ở trên đất Việt Nam (6).

“…Nhân dân tệ hóa trong vùng biên giới phía bắc là một chính sách lớn, không chỉ liên quan đến an ninh tiền tệ mà cả về quốc phòng của Việt Nam, không thể chỉ được quyết định bởi một cấp thấp như thống đốc Lê Minh Hưng, mà phải là ở những cấp rất cao. Phải chăng việc dùng đồng CNY để thanh toán ở các tỉnh biên giới phía bắc Việt Nam là một trong những cam kết, nằm trong các văn kiện mà Nguyễn Phú Trọng đã ký kết với Tập Cận Bình và nhiều khả năng là Tập mới nhắc nhở Trần Quốc Vượng vào tháng 8/2018 để truyền đạt lại cho Trọng phải thực hiện gấp cam kết trên…”(Phạm Chí Dũng, bđd).

Treo cờ nước khác trên tổ quốc Việt Nam, hay chính thức sử dụng đồng CNY tại Việt Nam tức xóa bỏ mặt an ninh tiền tệ và chủ quyền kinh tế quốc gia, có phải là các hành động gấp rút sau cùng của Hà Nội, nhằm thực thi hoàn tất mật ước Thành Đô, mà bộ sậu Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Phạm Văn Đồng, thay cho đảng cộng sản Việt Nam lén lút ký kết với Bắc Kinh năm 1990, để đưa tổ quốc Việt Nam trở thành một tỉnh của Trung Hoa vào năm 2020, trong quyết tâm thà mất nước, hơn là mất đảng của bọn chúng. Hỡi nhân dân Việt Nam, chúng ta không còn nhiều thời gian để chần chờ, trong quyết định sinh tử đối với vận mệnh tương lai của đất nước.

9/2018.

Hoàng Tất Thắng

danlambaovn.blogspot.com

__________________________________

Chú thích:

(1) Huy Đức – Trương Huy San, Bên thắng cuộc, 2012. 

(2) & (3) Trần Quang Cơ, Hồi ức và Suy nghĩ, 2001. 

(4) Kinling Lo, China and Việt Nam close to landmark deal on streamlined joint border checkpoint : Two countries, one inspection system supports Beijing ambitions to build closer trade and diplomatic links with Asean nations, South China Morning Post, 2/2018.

(5) Vũ Quang Việt, Về đề nghị của phía TQ được dùng Nhân dân tệ trong thanh toán ở nội địa Việt Nam, 2015.

(6) Phạm Chi Lan, Đề xuất thanh toán bằng nhân dân tệ tại Việt Nam: Sao có thể treo cờ nước khác?, 1/2015.

(7) Phạm Chí Dũng, Sáp nhập tiền tệ để tiến tới sáp nhập lãnh thổ, VOA, 6/9/2018. 

Phan Châu Trinh và con đường cứu nước

Phan Châu Trinh và con đường cứu nước

Nguyễn Trang Nhung
RFA
2018-09-09

Phan Châu Trinh (9/9/1872 – 24/3/1926)

Phan Châu Trinh (9/9/1872 – 24/3/1926)

 Blogger Nguyễn Trang Nhung

(Bài viết nhân ngày sinh của Phan Châu Trinh, 9/9/1872 – 9/9/2018)

Phan Châu Trinh (1872 – 1926) là một trong những nhân vật lịch sử điển hình của thế kỷ 19, 20. Ông là một nhà văn hóa, một nhà tư tưởng, và một nhà cách mạng. Sinh ra và trưởng thành trong bối cảnh đất nước bị đô hộ bởi thực dân Pháp, với lòng yêu nước nồng nàn, ông đã trăn trở về con đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam. Không giống như con đường của bao chí sĩ khác, con đường của ông rất đỗi khác biệt, thể hiện tầm nhìn lớn lao và chứa đựng nhiều thách thức.

Con đường ấy có thể được gọi tên bằng phương châm của phong trào Duy Tân mà ông đề xướng và thúc đẩy, đó là Khai dân trí, Chấn dân khí, Hậu dân sinh hay “tự lực khai hóa”. Khai dân trí là bỏ lối học tầm chương trích cú, theo học chữ quốc ngữ, khoa học thực dụng, bài trừ hủ tục. Chấn dân khí là hun đúc nơi mỗi cá nhân tinh thần tự lực tự cường, sự hiểu biết về quyền lợi của mình, cùng lòng can đảm để lên án cái xấu, cái ác. Hậu dân sinh là khuyến khích người dân học nghề, khai hoang, làm vườn, sản xuất và giao thương.[1]

Tầm nhìn của ông hay cái đích của con đường ấy rất rõ ràng, đó là một nền độc lập, tự do của dân tộc với nền tảng là độc lập, tự do của cá nhân, mà nền tảng độc lập, tự do của cá nhân lại cốt ở sự học hành và mở mang về trí tuệ

Tầm nhìn của ông hay cái đích của con đường ấy rất rõ ràng, đó là một nền độc lập, tự do của dân tộc với nền tảng là độc lập, tự do của cá nhân, mà nền tảng độc lập, tự do của cá nhân lại cốt ở sự học hành và mở mang về trí tuệ. Ông là chí sĩ hiếm hoi (nếu không phải là duy nhất?) chủ trương con đường hòa bình ấy. Cùng thời với ông, nhiều chí sĩ chủ trương bạo lực, điển hình là Phan Bội Châu. Đối với chủ trương này, ông đã thể hiện lập trường của mình, rằng “Không bạo động, bạo động ắt chết. Không hướng ngoại, hướng ngoại là ngu”.[2]

Phan Châu Trinh (9/9/1872 – 24/3/1926)

Phan Châu Trinh nhìn ra nguyên nhân của sự mất nước chính là ở sự yếu kém về tri thức lẫn về khí chất của dân tộc. Theo ông, Việt Nam đã đi sau thế giới cả một thời đại văn minh. Nếu dùng bạo lực cách mạng, đất nước có độc lập, tự do đi nữa thì chưa chắc người dân đã có độc lập, tự do về mặt cá nhân. Vì vậy, con đường đúng đắn phải là tiếp thu văn minh phương Tây, trong đó có văn minh của nước Pháp. Do đó, Việt Nam có thể tạm thời dựa vào Pháp mà cầu tiến bộ, rồi từ đó phục hồi nền độc lập, tự do của quốc gia.

Có thể thấy, đây là con đường đòi hỏi thay đổi tận gốc rễ về văn hóa và con người Việt Nam. Sự thay đổi này không hề dễ dàng, thậm chí vô cùng khó khăn. Trong tác phẩm ‘Tinh hồn Quốc ca I’, ông đã chỉ ra những điều bi ai của dân tộc Việt Nam, gắn với các tính cách lười biếng, bê tha, mê tín, đố kỵ, tham sống sợ chết, cục bộ địa phương, chỉ biết đến bản thân, gia đình mà không biết đến quốc gia, v.v. Trong diễn văn ‘Đạo đức và luân lý Đông Tây’, ông đã cho thấy nền đạo đức và luân lý của đất nước đổ nát hết cả…

Đi con đường của mình, ông đã kết giao với nhiều chí sĩ, tìm kiếm những người cùng chí hướng khi chủ trương của mình yếu thế hơn nhiều so với chủ trương bạo lực. Năm 1906, ông cùng Lương Văn Can và một số chí sĩ Bắc Hà khác thành lập cơ sở Duy Tân ở miền Bắc. Cũng năm ấy, ông cùng Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng tạo thành “bộ ba Quảng Nam” nổi tiếng, đi khắp tỉnh này và các tỉnh lân cận để vận động phong trào Duy Tân nhằm cải cách giáo dục. Trong khi đó, đối với các chí sĩ chủ trương bạo lực, ông chỉ phối hợp với họ ở việc viết sách, đề xướng dân quyền mà thôi.

Để thức tỉnh dân chúng, ông đã làm các bài thơ, văn yêu nước, kêu gọi sự đoàn kết, truyền bá tư tưởng mới, vận động cải cách. Ông đã diễn thuyết nhiều nơi nhằm thuyết phục dân chúng đi theo các giá trị mới, trong đó có dân quyền, dân chủ, tự do. Ông đã khuyến khích đồng bào mở trường dạy học, lập các hội buôn. Ông đã hô hào thanh niên vận Âu phục, cắt tóc ngắn. Ông cũng kêu gọi mọi người dùng hàng hóa nội địa để giúp kinh tế trong nước phát triển.[3] Ông còn vận động dân chúng khôi phục nền đạo đức và luân lý.

Phong trào Duy Tân đã nhận được sự ủng hộ rộng rãi của nhiều tầng lớp nhân dân. Nhiều nông hội, buôn hội, xưởng dệt, trường học theo lối mới đã ra đời. Người dân đua nhau cắt tóc ngắn, mặc áo ngắn, bỏ rượu chè, bài hủ tục, v.v.[4] Bên cạnh những thành quả của cá nhân nói riêng và phong trào nói chung, Phan Châu Trinh cũng có những thất bại. Một trong những thất bại ấy là việc gửi thư cho toàn quyền Paul Beau vào năm 1906 yêu cầu chính phủ Pháp cải cách chính trị và thành thực khai hóa cho người dân Việt Nam. Yêu cầu này, tiếc thay, đã không được đáp ứng.

Hơn một thế kỷ qua, con đường của Phan Châu Trinh từng bị xem là cải lương, song theo thời gian, đã dần được chân nhận là đi trước thời đại.

Khi cuộc vận động cải cách dâng cao và dẫn đến các cuộc biểu tình rộng lớn chống sưu cao thuế nặng với quy mô hàng vạn người vào năm 1908, Pháp đã nhận thấy cần phải dập tắt phong trào và tiêu diệt những người đứng đầu của nó. Một số lãnh đạo của phong trào đã bị xử tử, trong đó có Trần Quý Cáp. Phan Châu Trinh cũng bị kết án tử hình, nhưng may mắn hơn, được ân xá và sau đó, bị đày ra Côn Đảo. Phong trào từ chỗ ôn hòa đã chuyển dần sang bạo động, đối đầu, và kết quả bị đàn áp dường như là tất yếu.

Cho đến cuối đời, qua bao trở ngại, kể cả bệnh tật và tù đày, Phan Châu Trinh vẫn tiếp tục đi con đường của mình, có khi là đơn độc, có khi là cùng với những người khác, dù không còn đạt được những thành quả như vào thời của phong trào Duy Tân. Chính bởi sức ảnh hưởng và khả năng truyền cảm hứng của ông mà khi ông mất, 100,000 người, tức gần 29% dân số Sài Gòn, Chợ Lớn hồi đó đưa tiễn linh cữu của ông trong sự thành kính và thương tiếc.[5] Di sản mà ông để lại là tinh thần, là tư tưởng, cũng như là con đường cho thế hệ hậu sinh.

Hơn một thế kỷ qua, con đường của Phan Châu Trinh từng bị xem là cải lương, song theo thời gian, đã dần được chân nhận là đi trước thời đại.

Ngày nay, dù bối cảnh của quốc gia đã đổi thay song những nan đề về văn hóa và con người vẫn còn như trước. Đó là chưa kể những nan đề về kinh tế, chính trị, v.v. Theo cách nào đi nữa, những nan đề luôn dẫn chúng ta trở lại con đường của Phan Châu Trinh, và vì vậy Khai Dân trí, Chấn Dân khí, Hậu dân sinh vẫn là sứ mệnh cấp thiết. Để đi tiếp con đường này, mỗi cá nhân cần ý thức rõ bổn phận của mình là mở mang tri thức, trở nên tự cường, độc lập, tự do, từ đó góp phần làm cho đất nước thực sự tự cường, độc lập, tự do.

Khép lại, người viết xin dẫn một lời bình của nhà sử học người Pháp Daniel Hémery về Phan Châu Trinh, rằng: “Khuôn mặt vĩ đại của Phan Châu Trinh (…) là khuôn mặt đáng chú ý nhất trong lịch sử văn hoá và chính trị Việt Nam ở thế kỷ XX, bởi chính ông đã xác định một cách rành mạch, sáng rõ nhất những nan đề đặt ra lâu dài mà các thế hệ người Việt Nam sẽ phải – và mãi mãi còn phải – đảm nhận”.[6]

Chú thích:

[1] Phan Châu Trinh
http://www.chungta.com/tg/tac-gia/phan-chau-trinh.html

[2] “Bất bạo động, bạo động tắc tử. Bái vọng ngoại, vọng ngoại giả ngu.” Phan Châu Trinh đã nói như vậy với Phan Bội Châu khi hai người gạp nhau tại Nhật Bản vào năm 1906

[3] Như [1]

[4] Đinh Xuân Lâm (2006), Phan Châu Trinh – Cuộc đời và sự nghiệp
http://www.chungta.com/nd/tu-lieu-tra-cuu/phan_chau_trinh-cuoc_doi_va_su…

[5] Nguyên Ngọc (2006), Phan Châu Trinh và lòng tin vào sức mạnh của tri thức văn hóa 
http://www.chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Luan-Ly/Phan_Chau_Tr…

[6] Như [1]

Bài viết không thể hiện quan điểm của Đài Á Châu Tự Do

Đương đầu với sự đau khổ của tha nhân

Đương đầu với sự đau khổ của tha nhân

Chúng ta muốn thực hiện một kế hoạch cho Thiên Chúa, chúng ta phải hành động trước, thường thường với một sự táo bạo, có chút điên rồ, chút liều lĩnh… Khi chúng ta đặt tay chân và trái tim cùng khối óc vào đấy thì Chúa sẽ thực hiện kế hoạch theo ý Ngài. (Tôi tin tưởng chắc chắn như thế).

Mose đã phải giơ tay lên, trước khi Chúa cho nước biển rẽ đôi ra.

Nước phải đổ đầy chum, thì Chúa mới biến thành rượu.

Đứng trước sự đau khổ của những người bị lạm dụng tình dục, chúng ta cũng đau nỗi đau của họ (kể cả nỗi đau khổ của người lạm dụng) chúng ta sẽ làm được gì???

Chúng ta có dám tin rằng sự đau khổ nào cũng có thể được đương đầu trong sự trong sáng và hy vọng: Đức Giêsu Kitô. ???

  • Dạ vâng! Như Đức Giêsu Kitô đã ôm lấy sự phản bội của Giuđa, thì chúng ta cũng dám đương đầu với sự việc đã xảy ra, với một niềm tin tưởng rằng, chúng có thể mang lại hoa trái tươi tốt cho Giáo Hội!
  • Dạ vâng, thưa nơi đâu tội lỗi gây ra đau khổ nơi đó đầy ân sủng của Thiên Chúa. Ôi tội hồng phúc!!! Lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa là ân sủng biến đổi tội lỗi của chúng ta trở thành vết tích Tình Yêu của Thiên Chúa.

Chúng ta tự hỏi rằng: chúng ta có dám chia sẻ nỗi thất vọng của những người lạm dụng và những người bị lạm dụng tình dục không?

Chúng ta có dám làm tất cả cho mối thất vọng này, mối thất vọng đeo đuổi các nạn nhân bị lạm dụng tình dục, trong suốt hàng nhiều chục năm, trong khi họ tìm kiếm sự đồng hành mục vụ trong sự cảm thông, để an ủi họ trong những đêm tối này của chính họ?

Chúa Thánh Thần ban cho chúng ta sự khôn ngoan vượt trên cả kiến thức,

và cho chúng ta làm việc quảng đại với sự tự do đích thực và sự sáng tạo khiêm nhường để nuôi dưỡng vườn nho tốt của Thiên Chúa.(Lời DGH Francis 12.01.2013)

Đây là lúc Giáo Hội Công Giáo đang đau khổ ôm 34 vị giám mục ở Chilé xin từ chức vì trọng tội sách nhiễu tình dục.

và hiện giờ (tháng 8.2018) Giáo Hội một lần nữa, đau khổ giang đôi tay ôm hàng giáo sĩ từ Hồng Y, Giám mục và 300 linh mục mang trọng tội sách nhiễu tình dục, và ôm ấp an ủi cả ngàn trẻ em bị tổn thương trong 6 giáo phận tại Pensilvania, USA.

Đức Thánh Cha Francis đang là người giang đôi tay ôm ấp nỗi đau khổ này của Giáo Hội và của chính các vị đó, và cả với 1000 người bị lợi dụng, bị sách nhiễu, với niềm hy vọng vào Ánh Sáng Đức Kitô!

Đứng trước vấn nạn này, chúng ta không thể không sẻ chia nỗi đau khổ của vị chủ chăn đáng kính là Đức Giáo Hoàng Francis đương nhiệm. Hãy cùng ngài ăn năn sám hối tội lỗi của mình và của anh em đã phạm những tội này.

Đó là những gì ta phải làm hiện nay, chúng ta, những anh chị em của họ trong Đức Kitô; cố gắng chia sẻ nỗi đau của họ, chia sẻ màn đêm tăm tối của họ, nỗi thất vọng của họ, những người phạm tội và cả những người bị lạm dụng. Với họ, hy vọng chúng ta có thể khám phá ra niềm hy vọng mới cho họ.

Đây là lúc mà toàn bộ niềm hy vọng như đã khai mở cho chúng ta cử hành bí tích thương yêu của niềm hy vọng.

Đây không chỉ là một hình thức bày tỏ ra bên ngoài, mà chúng ta bày tỏ nỗi cảm thông và tha thứ từ đáy lòng chân thực cho tất cả nạn nhân và cho những phạm nhân, là chúng ta làm tốt công việc nuôi dưỡng và chăm sóc vườn nho, hợp với giấc mơ của Thiên Chúa.

Nước Thiên Chúa, Thiên Chúa sẽ lấy đi không ban cho các ông nữa (tá điền đã giết các đầy tớ và giết con của chủ vuờn)

mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi.(Mt 21,43b)

Đây là cơ hội để Giáo Hội thanh tẩy trở nên trong sạch hơn, thánh thiện hơn, tinh tuyền hơn.

Giáo Hội đang rất cần lời cầu nguyện, ăn chay sám hối của chúng ta.

Giáo Hội Công Giáo không chỉ là những hàng lãnh đạo,

Giáo Hội bao gồm tất cả thành phần dân Chúa, tất cả tín hữu đã được nhận phép rửa.

Giáo Hội chưa bao giờ là một tổ chức hoàn hảo hay thánh thiện hơn những tổ chức khác cũng như các hệ thống chính quyền trần thế.

Song Giáo hội thánh thiện vì Chúa Giêsu Kitô là đầu Giáo Hội. Chúa Giêsu Kitô thánh thiện tinh tuyền nên Hội Thánh thánh thiện tinh tuyền. Chúng ta đi theo Chúa Giêsu, Chúa Là Đường, Là Sự Thật và Là Sự Sống, chúng ta không đi theo một người nào dù họ ở phẩm trật nào.

Theo dòng lịch sử, Giáo Hội Công Giáo đã nhiều lần như muộn ngã quỵ nhưng không bị tiêu diệt, bị xất bất xang bang nhưng không tuyệt vọng vì Giáo Hội luôn có Đấng Phù Trợ của Đức Kitô. Giáo Hội sẽ luôn đứng vững vàng cho đến ngày tận thế, vì Thầy ở với chúng con cho đến ngày tận thế.

Theo thống kê của viện nghiên cứu Perth thì sự lạm dụng tình dục trong:

  • Giáo Hội Công Giáo chỉ có 2% mà thôi.
  • Trong các tôn giáo khác 1O%.
  • Ngoài xã hội 15%. (theo phát ngôn viên trong chương trình phát thanh chualatinhyeu.org ngày 02.9.2018).

Vậy mà thế gian và giới truyền thông chỉ lên án Giáo Hội Công Giáo mà thôi. Vì thế gian ghét bỏ Thiên Chúa, muốn loại bỏ Giáo Hội Công Giáo dù Giáo Hội đang làm cho thế giới biết bao điều đáng ngợi khen như:

  • Giáo Hội Công Giáo đang giáo dục 2,6 triệu học sinh mỗi ngày với phí tổn phải trả lên đến 10 tỷ Mỹ Kim, trong khi đó lại giúp tiết kiệm cho người thọ thuế 18 tỷ. 92% các học sinh tốt nghiệp tại các trường Công Giáo đều được nhận vào các trường đại học.
  • Giáo Hội cung cấp 230 các trường cao đẳng và đại học  với con số sinh viên theo học hàng năm là 700.000 sinh viên.
  • Giáo Hội còn điều hành một hệ thống phi lợi nhuận với 637 nhà thương, chữa trị một trong số 5 người Hoa Kỳ, không phân biệt tôn giáo, mỗi ngày. (trích The Catholic Church. Excerpts of an article written by non Catholic; Sam Miller, a prominent Cleveland jewish businessman. tiến sĩ Trần Mỹ Duyệt dịch)

Đấy chỉ là nhận xét của một doanh nhân Do Thái Giáo, về Giáo Hội Công Giáo tại USA . Hiện còn biết bao nhiêu cơ sở giáo dục và nhà thương trên khắp thế giới mà giới truyền thông không hề dám đề cập đến…

Chúng ta hãy luôn ngẩng cao đầu, hãnh diện là người Công Giáo. Chúng ta hãy chuẩn bị hành trang đức tin cho thật sâu sắc và trưởng thành là kết hợp nên một với Đức Kitô, để trả lời với niềm hy vọng của chúng ta…

Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi, con xin dâng lên Chúa tất cả những đau khổ mà anh em chúng con đang phải chịu đựng vì vấn nạn này. Xin Chúa xoa dịu vết thương của tất cả anh em con.

Xin ban ơn khôn ngoan và can đảm cho ĐGH Francis. Amen.

Elisabeth Nguyễn

From vuisongtrendoi

“Thế lực thù địch” – mi là ai?

“Thế lực thù địch” – mi là ai?

@Lê Phú Khải

Những năm gần đây, trên các phương tiện thông tin quốc doanh, luôn xuất hiện những từ “những thế lực thù địch” đang chống phá nhà nước Việt Nam. Đặc biệt Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng càng hay nhắc đến cụm từ này! Vậy, những thế lực thù địch nó từ đâu ra, sao càng ngày càng nhiều và gây lo sợ cho nhà cầm quyền đến thế?!

Không khó để tìm ra, ai đã sinh ra các thế lực thù địch!

1/ Những người nông dân đang sống yên lành trên thổ cư và ruộng đồng của họ, bỗng một hôm có kẻ vác một bao tiền đến “làm việc” với chính quyền xã, huyện… lên một “dự án”. Dự án được “duyệt”, rồi báo cáo lên tỉnh, được thông qua… Thế là công an được điều đến để giải tỏa mặt bằng. Mất nhà, mất ruộng rồi họ đi đâu, làm gì để sống, không cần ai biết! Dân không chịu, kéo nhau đi kiện từ Nam chí Bắc. Thế là thành “tụ tập đông người”, thành thế lực thù địch!

2/ Công nhân trong các nhà máy do nước ngoài đầu tư, nhưng công đoàn lại do chủ đầu tư trả lương. Công nhân đình công đòi tăng lương, đòi cải thiện đời sống, công đoàn cuội bênh vực chủ. Lại đình công, lại thành “tụ tập đông người”, thành thế lực thù địch!!!

3/ Tín đồ các giáo phái tự do tín ngưỡng, không thừa nhận các chùa chiền quốc doanh, các sư sãi quốc doanh… thế là thành “thế lực thù địch”!

4/ Các nhà trí thức thấy hơn 40 năm đất nước thống nhất mà biển mất đằng biển, đảo mất đằng đảo, họ “nhìn vào đâu cũng phải ghìm cơn mửa / Cả một thời đểu cáng đã lên ngôi”! (thơ Bùi Minh Quốc) nên họ viết phản biện ôn hòa lên các trang mạng tự do… Thế là thành “thế lực thù địch”!

5/ Ngày tưởng niệm các chiến sĩ và đồng bào đã hy sinh ở trận Gạc Ma, ở Hoàng Sa, ở chiến tranh biên giới phía Bắc 1979… dân kéo nhau đi thắp hương tưởng niệm dưới tượng đài Lý Thái Tổ, tượng đài Trần Hưng Đạo… thế là thành “thế lực thù địch”.

Nếu thống kê hết những nguyên nhân, nguồn gốc nào sinh ra “thế lực thù địch” thì còn nhiều lắm… Các nhà xã hội học có thể làm luận văn tiến sĩ về đề tài này…

Tôi nhớ, sau Đổi mới (1986), thời ông Võ Văn Kiệt làm thủ tướng, báo Le Monde của Pháp ra ngày 19 tháng 11 năm 1994, tác giả Olivier Weber có đăng một bài nhan đề: Việt Nam sự thức dậy của một con rồng nhỏ (Vietnam le réveil d’un petit dragon), thời đó không thấy xuất hiện các “thế lực thù địch”?! Nhưng sau đó Nguyễn Tấn Dũng phá nát nền kinh tế Việt Nam, nạn tham nhũng được Dũng bật đèn xanh để khắp nơi cướp bóc, đất đai là “sở hữu toàn dân” giao cho các kẻ nắm quyền ở địa phương làm đại diện “chủ sở hữu” thì “thế lực thù địch” nổi dậy ở khắp nơi!

Các chiến sĩ Cộng sản năm xưa như các anh Lê Công Giàu, Huỳnh Tấn Mẫm, Huỳnh Kim Báu, Lê Thân, Hạ Đình Nguyên… từng bị chế độ Sài Gòn giam cầm tra tấn chỉ vì đòi hòa bình thống nhất đất nước, đuổi Mỹ ra khỏi Miền Nam… Nay các anh ấy thấy chế độ chuyên quyền đảng trị còn tồi tệ hơn cả chế độ Sài Gòn năm xưa, hèn với giặc, ác với dân, nên lại xuống đường… Các vị ấy không thể là thế lực thù địch được! Nhà văn Nguyên Ngọc từng bám đất Tây Nguyên, bám đất Quảng Nam khói lửa, viết nên những tác phẩm như “Đất nước đứng lên”, “Đường chúng ta đi” mà Nguyễn Phú Trọng đã phải học lúc là sinh viên văn khoa ở Hà Nội thì không thể là “thế lực thù địch” được! Có chăng là thù địch với thể chế đảng trị độc tài mà thôi! Chính thể chế này đã đẻ ra thế lực thù địch!

Để giành lấy “chính danh” cai trị đất nước, chính quyền độc tài lớn tiếng gọi những người, những tập thể nông dân và công nhân kể trên là “thế lực thù địch”. Càng lớn tiếng bao nhiêu họ chỉ tự vạch mặt mình là chính quyền của các tập đoàn lợi ích, chống lại đa số nhân dân đang cùng khổ. Đó là cách uống thuốc độc để giải khát. Hãy dẹp bỏ ngay luật Đất đai hiện hành và thực thi dân chủ, chỉ có thế mới khỏi chết khát mà thôi!

Sài Gòn, tháng 8 năm 2018

L. P. K.

Cẩm nang làm cách nào để tiêu diệt một Dân tộc?

Cẩm nang làm cách nào để tiêu diệt một Dân tộc?

Từ Thức 

– Muốn tiêu diệt một dân tộc, bom đạn, đàn áp không đủ. Dù tối tân tới đâu, bom đạn không thể giết hết hàng trăm triệu người.

Dưới đây là 12 biện pháp hữu hiệu nhất để bức tử một dân tộc, với điều kiện phải thực hiện cùng một lúc, đúng quy trình, có đủ ngân quỹ, nhân sự và quyết tâm sắt đá để thực hiện:

  1. Reo rắc ung thư, bệnh hiểm nghèo bằng cách cho tự do nhập cảng hàng hóa, lương thực độc hại.
  1. Gây đói rách, để nông dân, thương gia không có cách gì cạnh tranh để sống còn hơn là dùng hóa chất độc hại tràn ngập thị trường.
  1. Bộ Y tế, các nhà thương được tự do sản xuất, lưu hành, xử dụng thuốc giả, thuốc gây ung thư, bệnh truyền nhiễm.
  2. Khuyến khích rượu chè, ma túy, ăn chơi trụy lạc, để tiêu diệt trí não, nghị lực, sức đề kháng của dân, đặc biệt lớp trẻ.
  1. Khuyến khích những trò chơi dâm đãng, lố bịch, bỉ ổi, để tiêu diệt những ý niệm về nhân phẩm còn sót lại.
  2. Nhập cảng chủ nghĩa quái dị đã bị cả thế giới ghê tởm. Tẩy não, nhồi sọ để tiêu diệt khả năng phán đoán. Bỏ tù, bức tử, nhục mạ, cô lập những người còn khả năng suy nghĩ, phản kháng.
  1. Buôn bán bằng giả để triệt hạ uy tín của trí thức, biến dân tộc thành một con rắn không đầu, cá mè một lứa, không người đáng tin, đáng trọng, đáng kính. Trả lương rẻ mạt giáo chức, biến người truyền bá kiến thức thành cùng đinh, giáo dục một món hàng.
  1. Để ngoại nhân tự do nhập cảnh, cư trú như chỗ không người. Khuyến khích dùng ngoại tệ để thực tập đời sống nô lệ.
  1. Chặt cây, phá rừng, xả lũ. Tiêu diệt mầm sống, để dân suốt đời chỉ lo chống đỡ thiên tai, không còn đầu óc, sức lực nghĩ đến chuyện đất nước.
  1. Xuất cảng lao động, trục xuất những cá nhân có đầu óc ra khỏi nước, để tiêu diệt tiềm năng dân tộc.
  1. Bán đổ bán tháo tài nguyên quốc gia. Tàn phá môi trường, để nông dân, ngư dân tha phương cầu thực, bỏ đất, bỏ biển cho ngoại bang..
  1. Tiêu diệt ngôn ngữ, sợi dây liên lạc giữa các công dân, tâm hồn của một dân tộc.

Một dân tộc không còn lãnh thổ, không tài nguyên, không chủ quyền, trí não bại hoại, tinh thần bạc nhược, thân thể bệnh hoạn, mất hết đạo lý, lương tâm, đạp lên nhau để sống, không còn ngôn ngữ, quên quá khứ, không tương lai, không biết mình là ai, không biết đang nhắm mắt theo một đám thảo khấu đi về hướng nào…. một dân tộc như vậy, không cần đánh cũng thắng, khỏi cần giết cũng chết.. Sống cũng như đã chết.

01.09.2018

Từ Thức

ĐẢNG VIÊN ĐẢNG CSVN – TA LÀ AI ?

 

Bài viết của một cựu đảng viên csvn: Minh Đức Lê, gửi các đảng viên đảng CSVN để nhìn lại chính mình….

*************

ĐẢNG VIÊN ĐẢNG CSVN – TA LÀ AI ?

Nếu một người cứ đứng trên quan điểm phân biệt bạn thù của đảng cộng sản VN, thì tôi nói thật, hận thù đó không nguôi được.

Vì sao ư? Vì quá nhục.

Này nhé. Ta chiến đấu vì lý tưởng cộng sản, coi Mỹ là kẻ thù giai cấp, kẻ thù của hoà bình thế giới. Ta thắng nó với lòng tin rằng chẳng bao lâu sau thằng tư bản sẽ quỳ gối trước mặt phe cộng sản để cầu xin ân huệ.

Thế mà tất cả những gì ta hy sinh cho cuộc chiến 20 máu lửa đó, trong phút chốc bỗng biến thành trò cười rẻ tiền. Chủ nghĩa cộng sản sụp tan thành mây khói. Nay ta quay lại cầu xin nó, theo đuôi nó xây dựng chủ nghĩa tư bản, năn nỉ nó công nhận ta là kinh tế thị trường.

Bao thế hệ hy sinh chống Mỹ để thấy những thế hệ sau chiến tranh lớn lên hướng về văn hoá Mỹ, cuồng Mỹ. Hoá ra những gì ta làm trong quá khứ đều sai, đều ngu muội , đều vì ta có tầm nhìn không quá lũy tre làng.

Hỏi như thế có nhục không? Mà nhục như thế thì quên thế nào được. Nay ta trãi thảm đỏ mời Mỹ quay lại. Cái mặt dày đểu cáng ta biết giấu vào đâu? Đành phải lôi lại chuyện quá khứ rằng Mỹ giết dân ta.

Thì sao, nó không giết ta để ta giết nó hay sao?. Trong cuộc chiến tranh do ta chủ trương, có thằng nào không phải là Việt Cộng trong mắt người Mỹ. Ta sống trong dân, ta giấu vũ khí trong vườn nhà dân. Dân và ta đều quần đùi đen, áo bà ba đen, tay cầm liềm cắt cỏ mà ÁK-47 giấu trong bờ ruộng. Ta đánh úp nó chết nhăn răng vì nó tưởng du kích ta là dân lành.

Trong khi đó ta giết chính đồng bào ta, ta trói đồng bào ta như trói gà, rồi ta chặt đồng bào ta làm ba khúc sau vườn. Ta dùng cuốc đập đồng bào ta vỡ sọ. Ta chôn sống đồng bào ta sau khi bắt chính họ đào huyệt…

Ta tuyệt đối không nhắc lại chuyện đó. Ta tuyệt đối tìm cách quên rằng thằng đàn anh Trung Quốc đã giết đồng bào ta còn tệ hơn giết chó, máu chảy thành sông ở biên giới phía Bắc. Và ta vẫn tiếp tục thờ lạy nó.

Ta là ai? Ta là đảng cộng sản VN. Ta là thứ cặn bã của dân tộc này. Ta là thứ mọi rợ đạo đức giả. Ta là loài khỉ đột đã xua đuổi được mọi nền văn minh để tiếp tục tự sướng với nhau trong bóng tối của thời trung cổ.

Và còn nữa? Hãy chờ xem ta sẽ nghiến nát kẻ thù ( nhân dân ) như đàn anh Trung Quốc của chúng ta dùng xe tăng xay thịt nhân dân chúng nó thành thức ăn cho súc vật trên quảng trường Thiên An Môn.

Ta là quái thai thời đại. Ta không xứng đáng đứng ngang hàng với loài người văn minh trên trái đất này.

Thảm họa diệt chủng đã hiện ra trước mắt, không ai có thể cứu được dân tộc Việt Nam khỏi thảm họa này, ngoài 90 triệu người Việt. Mỗi người cần nhìn thấy cái chết đang đến với chính mình và con cháu mình, hãy chuyển tải thông tin này tới tất cả mọi người, tới mọi tờ báo, mọi phương tiện thông tin để mọi người cùng biết, cùng nhau đứng lên chống thảm họa diệt chủng đã đến trước mắt, để cả thế giới cùng biết và lên tiếng bảo vệ chúng ta.

Image may contain: one or more people and outdoor
No automatic alt text available.
Image may contain: 1 person, outdoor
Image may contain: one or more people, tree and outdoor
eye-crossed-out

Việt Nam cấm nhập cảnh Tổng Thư ký Liên Đoàn Quốc tế về Nhân Quyền

Trần Bang and 3 others shared a link.
About this website

RFA.ORG
Bà Debbie Stothard viết trên mạng xã hội Twitter và Facebook cho hay, bà sẽ bị tạm giữ 13 tiếng trước khi bị trục xuất về Kuala Lumpur vào sáng mai, ngày 10/9/2018.
  • Tô Lâm dám nhổ vào QHVN, nơi phê duyệt Các công ước quốc tế Nhân quyền ư?

    Vào khoảng 15 giờ ngày 9 tháng 9 năm 2018, cơ quan An ninh cửa khẩu quốc tế Nội Bài ra quyết định cấm nhập cảnh và tạm giữ bà Debbie Stothard – Tổng Thư ký Liên Đoàn Quốc tế về Nhân Quyền đang đến Hà Nội để tham dự Diễn Đàn Kinh tế Thế giới về Đông Nam Á 2018.

    Bà Debbie Stothard viết trên mạng xã hội Twitter và Facebook cho hay, bà sẽ bị tạm giữ 13 tiếng trước khi bị trục xuất về Kuala Lumpur vào sáng mai, ngày 10/9/2018.

    Link vượt tường lửa: www.achautudo.info