Vụ án anh Lưu Văn Vịnh và bạn bè sẽ được xét xử vào ngày 5/10/2018.

Image may contain: 3 people, people smiling, people standing, crowd, outdoor and closeup
Trần Bang

Nguồn tin từ toà án HCM cho biết vụ án anh Lưu Văn Vịnh và bạn bè sẽ được xét xử vào ngày 5/10/2018.

Đây là “cái gân gà” mà cơ quan an ninh điều tra HCM ngậm phải từ ngày 7/11/2016 đến nay mới “sắp xếp” ổn thoả để xử án. Không dưới 1 lằn bản kết luận điều tra bị VKS trả lại cơ quan điều tra vì chứng cứ kết tội rất yếu.

Cùng anh Vịnh, một số người khác bị bắt chung vụ là sư thầy Phan Văn Trung, anh Nguyễn Văn Đức Độ, Nguyễn Quốc Hoàn, Từ Công Nghĩa… Điều “hài hước” là anh Độ được cho là không liên quan nhưng vẫn bị.

Một người khác bị bắt trước nhóm này 4 ngày là Bác Hồ, đã bị xử sơ thẩm 4 năm (Bác ko kháng cáo) và coi như đã chung nửa án.

Rất có thể, ông Vịnh sẽ bị xử án rất nặng – như xu thế chung hiện nay với những người bất đồng chính kiến.

FB Hoàng Dũng

ĐƯỜNG VỀ NÔ LỆ

ĐƯỜNG VỀ NÔ LỆ

Trung Quốc thọc tay vào Việt Nam cũng bởi CSVN, Trung Quốc phá nát kinh tế Việt Nam cũng nhờ CSVN. Phải nói là ĐCSVN được sinh ra là để thi hành những gì Trung Quốc sai bảo. Thời Hồ Chí Minh cũng thế và nay cũng thế.

Truyền thống ĐCS là tổng bí thư mới là hoàng đế chứ không phải thủ tướng. Đến thời Nông Đức Mạnh, vì hắn ta vô năng bất tài nên đã để Nguyễn Tấn Dũng lấn át quyền hành. Thời Nguyễn Tấn Dũng, ông ta dùng tiền tham nhũng để mua chuộc tất cả và thế là hắn đưa phái chính phủ mạnh lên. Lúc này quyền lực chính trị tại Hà Nội đã chuyển từ Văn Phòng Trung Ương Đảng sang Phủ Thủ Tướng.

Như ta biết, những kí kết tầm chính phủ giữa 2 quốc gia là những kí kết công khai nội dung, những kí kết giữa 2 ĐCS là những kí kết bí mật. Mà những ý đồ của Trung Cộng được triển tại Việt Nam vốn qua ngả Văn Phòng Trung Ương Đảng. Bắc đầu từ ý đồ của Bắc Kinh, thông qua các văn kiện bí mật để chỉ đạo Văn Phòng Trung Ương Đảng của ĐCSVN. Từ đó, Tổng Bí Thư đưa những ý đồ của Trung Quốc vào Nghị Quyết Đảng. Từ Nghị quyết Đảng ý đồ đó được quán triệt cho đại biểu quốc hội bỏ phiếu luật hoá. Và sau cùng là chính phủ thi hành. Luật An Ninh Mạng và Luật Đặc Khu là ví dụ. 2 thứ đó là xuất phát từ Trung Quốc và Trung Quốc muốn nó được áp dụng vào Việt Nam để dọn đường cho người Tàu đổ bộ vào. 2 luật này không hề vấp váp gì ở Quốc hộ và chính phủ, riêng Luật Đặc Khu thì bị dân biểu tình phản đối mãnh liệt nên hoãn.

Những ý đồ của Bắc Kinh phải được bảo mật trước nhân dân Việt Nam bằng những văn kiện bí mật giữa 2 ĐCS. Vì sao? Vì đơn giản là cả Bắc Kinh và Ha Nội không thể để dân thấy những chỉ thị của ngoại bang đêm áp đặt lên đầu dân Việt, điều đó sẽ làm phá sản âm mưu họ. Mọi kí kết bí mật giữa 2 người đứng đầu đảng là những kí kết ảnh hưởng đến số phận Việt Nam. Thời tổng bí thư Nông Đức Mạnh, quyền lực Trung Ương Đảng yếu, quyền lực chính phủ mạnh nên những ý đồ triển khai của Trung Cộng gặp khó khăn. Không phải Nguyễn Tấn Dũng chống Tàu mà đơn giản sự chỉ đạo phải đi đúng lộ trình của nó mà thôi. Như vậy, theo đúng lộ trình thì chính phủ phải triển khai Nghị Quyết Đảng chứ không phải triển khai trực tiếp chỉ thị từ Bắc Kinh. Vì vậy, nếu Văn Phòng Trung Ương Đảng yếu, sự triển khai chỉ thị của Bắc Kinh sẽ khó khăn.

Câu hỏi đặt ra là, để khai thông sự tắc nghẽn, thì Bắc Kính phải làm gì? Đó là phải lấy lại quyền lực cho Văn Phòng Trung Ương Đảng. Điều đó có nghĩa là Bắc Kinh phải ủng hộ một thế lực chính trị mới lên làm Tổng Bí Thư để Văn Phòng Trung Ương Đảng lấy lại quyền lực. Thế là Nguyễn Phú Trọng được chọn. Ông này vốn là Chủ Tịch Quốc hội không có thực lực, nhưng với sự hậu thuẫn từ Bắc Kinh, trong nhiệm kì đầu ông ta đấu Nguyễn Tấn Dũng một cách mãnh liệt. Sau 5 năm, đến kì đại hội 12 để chia chác quyền lực, Trọng đã đá văng Dũng khỏi chính phủ và đưa anh khờ Nguyễn Xuân Phúc lên thay. Thế là quyền lực Văn Phòng Trung Ương Đảng được củng cố, quyền lực Tổng Bí Thư là tối thượng. Lúc này nước Việt Nam có một tổng bí thư vừa thâu tóm hết quyền lực vào tay vừa thuần phục hoàn toàn Trung Cộng. Sau đại hội 12 “thành công tốt đẹp” thì Nguyễn Phú Trọng đi Bắc Kinh kí tá những văn kiện bí mật giữa 2 ĐCS về số phận của Việt Nam.

Khi mọi việc đâu vào đấy, Nguyễn Phú Trọng tham gia vào Đảng bộ của Bộ Cộng An và cả đảng bộ của Bộ Quốc Phòng để nắm trọn thanh gươm và họng súng của chế độ. Như vậy, sau 5 năm đấu đá với Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng đã thắng và nắm hoàn toàn chính phủ, trong đó ông ta thọc tay trực tiếp vào công an và quốc phòng. Thế là lần lượt những ý đồ Bắc Kinh được triển khai một cách khẩn trương gồm: lộ trình kinh tế, lộ trình an ninh, và lộ trình quốc phòng mở cửa cho Tàu xâm nhập vào. Về lộ trìng kinh tế đã rõ, người Trung Quốc vào tự do, thanh toán nhân dân tệ, giảm thuế nông sản Tàu, hợp tác ngành hàng Việt Nam và Trung Quốc, đặc khu vv… Lộ trình an ninh, là cán bộ sang học tập Trung Quốc, bắt bớ gắt gao người yêu nước. Lộ trình quốc phòng thì cũng hợp tác huấn luyện, và quân đội triệt thoái hoàn toàn khỏi biển Đông vv…

Việt Nam đã quá nguy nhập, càng nguy ngập hơn là sự thờ ơ của đa số quần chúng. Ngày nay, người dân mang tư tưởng buông xuôi khá nhiều. Thậm chí, họ còn kháo nhau rằng “học tiếng Tàu đi để mà tồn tại” thế mới nhục chứ. Khi mất nước về tay Tàu, không đơn giản thế đâu. Phải nói dân trí, dân khí nước Việt chưa thời đại nào thấp như thời đại này. Đường về nô lệ chưa bao giờ rõ như thời này.

Image may contain: 9 people, people standing and text

Mật ước Thành Đô 1990 trên đường trở thành hiện thực?

Mật ước Thành Đô 1990 trên đường trở thành hiện thực?

Hoàng Tất Thắng (Danlambao)  Treo cờ nước khác trên tổ quốc Việt Nam, hay chính thức xử dụng đồng CNY tại Việt Nam tức xóa bỏ mặt an ninh tiền tệ và chủ quyền kinh tế quốc gia, có phải là các hành động gấp rút sau cùng của Hà Nội, nhằm thực thi hoàn tất mật ước Thành Đô, mà bộ sậu Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Phạm Văn Đồng, thay cho đảng cộng sản Việt Nam lén lút ký kết với Bắc Kinh năm 1990, để đưa tổ quốc Việt Nam trở thành một tỉnh của Trung Hoa vào năm 2020, trong quyết tâm thà mất nước, hơn là mất đảng của bọn chúng. Hỡi nhân dân Việt Nam, chúng ta không còn nhiều thời gian để chần chờ, trong quyết định sinh tử đối với vận mệnh tương lai của đất nước.

 *    *    *

Tháng 8/1989 chính phủ liên hiệp Ba Lan thành lập sau một cuộc bầu cử dân chủ và với ưu thế tuyệt đối thuộc về công đoàn Đoàn Kết Ba Lan.

Tháng 11/1989 bức tường ô nhục Bá Linh sụp đổ, Erich Honecker, tổng bí thư đảng cộng sản và chủ tịch nhà nước Đông Đức bỏ trốn sang Lienxo và sau đó là Chile.

Tháng 12/1989, Nicolae Ceausescu, tổng bí thư và chủ tịch nhà nước cộng sản Romania bị xử tử, đánh dấu sự kiện lần đầu tiên một lãnh đạo cao nhất của một đảng cộng sản toàn trị, bị hành quyết bởi cuộc cách mạng đứng lên lật đổ chế độ cộng sản của người dân.

Trong khi đó tại thành trì vô sản Liên Sô, tổng bí thư đảng cộng sản mới lên cầm quyền là Mikhail Gorbachev vẫn đang phất cao ngọn cờ Glasnost (cởi mở) và Perestroika (tái cấu trúc), lồng trong bối cảnh bị ghẻ lạnh khi tham dự lễ kỷ niệm 40 năm thành lập nhà nước Đông Đức, cũng như bị Lienxo và các nước cộng sản Đông Âu, đang hoảng loạn vì bảo dữ mùa thu cộng sản (Autumn of Nations) đang tới nên đã hoàn toàn dửng dưng, thờ ơ, nói đúng hơn là không đếm xỉa gì đến nỗ lực đưa ra sáng kiến cần triệu tập gấp một hội nghị quốc tế vô sản, nhằm siết chặt hàng ngũ phe xã hội chủ nghĩa trong tháng 10/1989 của đảng cộng sản Việt Nam (1), khiến cho Nguyễn Văn Linh, cũng như toàn đảng cộng sản Việt Nam bị choáng váng và thực sự hoảng sợ trước viễn cảnh phải đối mặt với vết xe đổ dây chuyền như khối cộng sản Đông Âu.

Hà Nội chỉ còn một giải pháp sau cùng là phải bám vào Trung Cộng, bằng mọi cách phải bình thường hóa được quan hệ với Bắc Kinh sau một thời gian mâu thuẫn, xung đột khá dài như chiến tranh biên giới, xâm chiếm Cambodia… mới mong bảo toàn được đảng và mạng sống cho bộ sậu chế độ toàn trị Việt Nam. Luận điểm làm căn bản cho quyết tâm khấu đầu thiên triều Bắc Kinh của bộ chính trị đảng cộng sản Việt Nam là dù có bành trướng như thế nào đi nữa, Trung Cộng vẫn là một nước xã hội chủ nghĩa (?). Lê Đức Anh còn quyết liệt hơn khi đánh giá Hoa Kỳ và Tây Phương muốn nhân cơ hội này để xóa bỏ cộng sản, đang xóa Đông Âu và tuyên bố sẽ xóa cộng sản trên toàn thế giới, rõ ràng đây là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm, nên ta phải tìm đồng minh và đồng minh ở đây là Trung Cộng (2).

Trong tâm thế đầu phục đó, Nguyễn Văn Linh, tổng bí thư đảng cộng sản, Đỗ Mười, chủ tịch hội đồng bộ trưởng và Phạm Văn Đồng, cố vấn trung ương đảng cộng sản Việt Nam, đã sang Thành Đô (Chengdu), thủ phủ của Tứ Xuyên (Sichuan) để hội họp với Giang Trạch Dân, tổng bí thư đảng cộng sản và Lý Bằng, thủ tướng Trung Cộng trong hai ngày 3 và 4/9/1990, với hậu quả thay vì bình thường hóa, đã trở nên phụ thuộc hóa hẳn vào Bắc Kinh (3), hay cụ thể hơn như Nguyễn Cơ Thạch, đương nhiệm bộ trưởng ngoại giao của Hà Nội nói là đã đưa Việt Nam vào một thời kỳ Bắc thuộc mới, thể hiện qua bản mật ước Thành Đô, mà đến nay vẫn bị Hà Nội giấu kín.

Cuối năm 2014, vài hệ thống truyền thông chính thức của Trung Cộng như Tân Hoa Xã và Hoàn Cầu Thời Báo, thỉnh thoảng tiết lộ một vài tin tức về cuộc họp Thành Đô, trong đó đảng cộng sản Việt Nam đã lộ nguyên hình phản quốc, bán nước, khi cam kết sẵn sàng chấp nhận trở thành một khu tự trị của Trung Cộng như thân phận các dân tộc Mãn, Mông, Tạng, Hồi hiện nay và đảng cộng sản Việt Nam sẽ là một chi bộ hoạt động trong đảng cộng sản Trung Hoa vào năm 2020. Thực hư mức độ khả tín như thế nào chưa rõ, nhưng điểm qua vài “công tác” chuẩn bị của Hà Nội từ đó đến nay, cũng có thể thấy được khoảng cách giữa nguồn tin và thực tế cũng không mấy xa?!

1/ Buông lỏng và tiến tới phối hợp kiểm soát biên giới: Tháng 7/1998, tổng cục du lịch Hà Nội công bố quyết định 229/1998/QĐ-TCDL, nội dung cho du khách Hoa Lục chỉ cần có giấy tờ thông hành của Trung Cộng là được tự do vào mọi nơi trong lãnh thổ Việt Nam, không cần phải có visa, tức mặc nhiên xóa bỏ rào cản biên giới và các biện pháp kiểm soát di trú phía Việt Nam.

Để hợp thức hóa, bộ công an Việt Nam ban hành thêm quyết định 849/2004/QĐ-BCA do thứ trưởng, thượng tướng công an Nguyễn Văn Hưởng ký tháng 8/2004, quy định mọi công dân Hoa Lục, đều được quyền xử dụng giấy phép xuất, nhập cảnh của Trung Cộng (tức giấy Peoples Republic of China – Entry and Exit Permit) để được miễn trừ các thủ tục kiểm soát ngoại kiều đi vào Việt Nam, theo ngã đường bộ, đường sắt, đường biển và qua 7 cửa biên giới Móng Cái, Hữu Nghị, Tân Thanh, Thanh Thủy, Tà Lùng, Lào Cay và Ma Lù Thàng.

Tháng 2/2018, Trung Cộng và Việt Cộng khởi sự thực hiện kế hoạch nhập chung sự kiểm soát biên giới của hai lực lượng biên phòng vào một tổ chức. Theo đó, có hai trạm kiểm soát thí điểm được đặt tại cầu Dongxing – Mông Cáy và cầu Hữu Nghị – Đồng Đăng, với lính biên phòng và nhân viên quan thuế hai nước sẽ làm việc chung với nhau (?), trong một khu vực chung sẽ không thuộc về bên nào (?), mà cũng có thể coi như là thuộc về cả hai bên (4), để tương lai chỉ còn một sự kiểm soát chung trên suốt tuyến biên giới dài 1.280km giữa hai nước, che đậy dưới chiêu bài hai quốc gia – một trạm kiểm soát (?). 

Tháng 3/2018 tại Quảng Ninh và đến tháng 9/2018 tại Lạng Sơn, dân chúng Hoa Lục đã có được quyền lái xe lưu thông thẳng qua nội địa Việt Nam. 

2/ Luật đặc khu và di dân ồ ạt: Hiện tượng di dân Trung Cộng tràn vào Việt Nam sau khi có mật ước Thành Đô và dưới vòng kim cô 4 tốt, láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt, đã phát triển rất mạnh và có số lượng lớn, theo rất nhiều hình thức từ di dân lậu (?), tới các hình thức đầu tư kinh tế công khai, hoặc đầu tư chui thông qua sự cấu kết với giới cầm quyền tại Việt Nam.

Hình thức đầu tư công khai và đưa công nhân di dân lậu vào Việt Nam diễn ra từ năm 1991. Tính đến năm 2009 đã có 657 dự án đầu tư kinh tế trực tiếp của Trung Cộng vào Việt Nam, từ quy mô nhỏ như khách sạn, nhà hàng, tới quy mô lớn các ngành kỹ nghệ chế biến, xây dựng, khai khoáng, khai thác và chế biến nông lâm thủy hải sản, dàn trải từ biên giới, đến vùng duyên hải, từ miền bắc vào miền nam khắp 52 tỉnh, thành trên tổng số 63 tỉnh thành Việt Nam. Nhiều nơi dân Trung Cộng tập trung thành các khu phố biệt lập, cấm dân địa phương và công an cộng sản Việt Nam lai vãng, như ở Quảng Ninh, Hà Tỉnh, Huế, Đà Nẵng, Dak Nông, Bình Thuận, Bình Dương, Trà Vinh và Cà Mau. Đây vừa là những khu kỹ nghệ ôm rác công nghệ kỹ thuật lạc hậu, sát thủ môi trường điển hình của Trung Cộng thải sang, như khai thác Bauxite – Lâm Đồng năm 2007, nhà máy giấy Lee & Man – Hậu Giang 2007, nhà máy thép Formosa 2008, nhà máy phân đạm Cà Mau 2008, trung tâm nhiệt điện than Vĩnh Tân – Bình Thuận 2010, trung tâm nhiệt điện Duyên Hải – Trà Vinh 2016… vừa đồng thời đều là các hang ổ của hàng ngàn, hàng chục ngàn dân nhập cư lậu Trung Cộng ngang nhiên vào cư trú dưới lớp vỏ bọc công nhân kỹ thuật?.

Hình thức đầu tư ngầm, cấu kết với giới cầm quyền Hà Nội, lén lút đưa người vào các khu dân cư riêng tại các vùng biên giới xung yếu, dưới hình thức thuê đất rừng, trồng rừng và khai thác lâm nghiệp dài hạn từ 50 năm trở lên khởi sự từ năm 2000, đến năm 2010 mới lộ ra ánh sáng đôi chút tin tức. Đã có 18 tỉnh cho 10 công ty ngoại quốc thuê gần 4.000km2 đất rừng, trong đó các công ty Trung Cộng đã sở hữu gần 90%, tập trung tại Cao Bằng, Nghệ An, Hà Tỉnh, Quảng Nam, Bình Định, Kontum và Bình Dương.

Đầu thập niên 2010 bộ chính trị đảng cộng sản Việt Nam lại đưa ra “ chủ trương lớn “ xây dựng đặc khu kinh tế, đặt trong khuôn khổ dự luật Đơn vị hành chánh, kinh tế đặc biệt, với ba đặc khu mở đường là Vân Đồn – Quảng Ninh, Bắc Vân Phong – Khánh Hòa và Phú Quốc – Kiên Giang, dự tính cho quốc hội cộng sản biểu quyết vào tháng 6/2018 và trong tinh thần trơ tráo của Nguyễn Thị Kim Ngân, chủ tịch quốc hội, là bộ chính trị đã kết luận rồi, phải bàn để ra luật chứ không thể không ra luật đặc khu.

Vấp phải các phản ứng quyết liệt của người dân, chống âm mưu dọn đường cho dân Tàu tràn vào theo “ chiến thuật biển người “, vì Bắc Kinh sẵn sàng trợ cấp 100.000USD cho mỗi gia đình ở Hoa Lục di dân sang các đặc khu như đã áp dụng với đặc khu Boten của Lào và trong mục 4, điều 54 dự luật đặc khu của Hà Nội nói rõ cho phép công dân của nước láng giềng (?) có chung đường biên giới với Việt Nam tại tỉnh Quảng Ninh khi xử dụng giấy thông hành hợp lệ nhập cảnh vào đặc khu Vân Đồn với mục đích du lịch, thì sẽ được miễn thị thực visa! Vậy mà Nguyễn Chí Dũng, Bộ trưởng Kế hoạch – Đầu tư của Hà Nội, vẫn có thừa lì lợm và xảo trá khi cho rằng trong dự thảo luật đặc khu không có một câu, một chữ về Trung Cộng nào cả, họ ( người dân) cố tình hiểu sai và đẩy vấn đề lên (biểu tình chống đối rộng khắp Việt Nam) để chia rẽ quan hệ của Hà Nội với Bắc Kinh, khiến hai đảng cộng sản Trung Cộng và Việt Cộng phải tạm thời đình hoãn dự mưu thiết lập đặc khu.

Năm 2017, tổng dân số Việt Nam theo ghi nhận của quỹ dân số Liên Hiệp Quốc UNFPA là 96.019.879 người, chênh lệch gia tăng đến 2.319.879 người so với thống kê của tổng cục dân số Hà Nội. Sai số này khiến giả thuyết cho rằng nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đang tiếp tay với Bắc Kinh, tạo điều kiện thuận lợi cho một số rất đông kiều dân Trung Cộng tự do tràn sang nhập cư lậu, mua đất, mua nhà, lập phố riêng biệt, lấy vợ bản xứ, sinh con đẻ cái để cư trú vĩnh viễn khắp nơi tại Việt Nam là điều xác thực, đang diễn ra, có lúc công khai, có lúc ngấm ngầm mượn tay, núp bóng người Việt không phải là điều vỏ đoán, hay vô căn cứ. Dù con số chính thức lớn hơn đang là bí mật quốc gia của Hà Nội, nhưng rõ ràng với hơn 2 triệu tên lính xung kích Tàu Phù đang cắm dùi từ năm 1991 trên tuyến tiền phương ở Việt Nam, chắc chắn đây sẽ là các con ngựa thành Troia, thuộc đạo quân thứ năm do Bắc Kinh trực tiếp tổ chức, chỉ huy, có sự tiếp tay dung dưỡng đắc lực của cộng sản Hà Nội, để trở thành những nhát dao trí mạng đâm sau lưng người Việt trong một tương lai không xa.

3/ Chính thức cho sử dụng đồng tiền Trung Cộng tại Việt Nam: Ngày 28/8/2018, thống đốc ngân hàng nhà nước Việt Nam Lê Minh Hưng ký ban hành thông tư 19/2018/TT-NHNN, đại diện cho đảng cộng sản Việt Nam chính thức hóa việc sử dụng đồng tiền của Trung Cộng là đồng nhân dân tệ RMB (Renminbi) hay CNY (Chinese Yuan), gọi tắt là đồng Yuan, để trực tiếp thanh toán trong mọi giao dịch thương mại, hoặc chuyển khoản qua ngân hàng trong phạm vi 7 tỉnh giáp biên với Trung Cộng là Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hà Giang, Lai Châu, Lào Cay, Cao Bằng, Điện Biên, với hiệu lực bắt đầu từ ngày 12/10/2018.

Xổ toẹt lên mọi pháp lệnh ngoại hối, các nghị định, thông tư từng ra rả và hùng hồn quy định trên lãnh thổ Việt Nam mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, ghi giá… của dân bản địa, hay của kiều dân đều không được thực hiện bằng ngoại hối, thông tư 19 rõ ràng chỉ là một kết thúc cho một chuỗi hành vi dọ dẫm, thực hiện thí điểm đã được Bắc Kinh và Hà Nội phối hợp thực hiện trên đầu người dân Việt Nam ngu ngơ, hay man trá núp dưới những chiêu bài hợp tác để phát triển và cũng cố tình hữu nghị từ năm 2004 đến nay.

Năm 2004, thống đốc ngân hàng nhà nước Hà Nội là Lê Đức Thúy ký ban hành quyết định 689/2004/QĐ-NHNN, ngày 7/6/2004, cho phép cư dân vùng biên giới Việt-Hoa, được trao đổi thương mại, mua bán bằng CNY trong giao dịch song phương.

Tháng 11/2014, phòng thương mãi – công nghiệp Việt Nam (VCCI), hiệp hội doanh nghiệp Trung Cộng tại Việt Nam và ngân hàng công thương Trung Cộng, phối hợp tạo ấn tượng về việc đồng tiền Trung Cộng sẽ được lưu hành tại Việt Nam, thông qua đề nghị cho thanh toán trực tiếp việc kinh doanh tại Việt Nam bằng đồng Yuan của Trung Cộng.

Chưa nói đến các hậu quả nhãn tiền khi lưu hành chính thức đồng CNY tại Việt Nam, như hoàn toàn bị mất khả năng điều động chính sách tiền tệ (không thể phá giá đồng nội tệ VNĐ khi cần thiết) do đã bị đặt vào một hoàn cảnh không khác gì mấy vai trò chư hầu, thuộc quốc, sẽ mất khả năng kiểm soát tiền tệ, do đồng tiền mạnh (CNY) sẽ đuổi đồng tiền yếu (VNĐ) ra khỏi thị trường, hay việc mất tin tưởng vào đồng nội tệ sẽ tạo ra tình trạng mất vốn, rút chạy ngoại tệ (Capital Flight) ra khỏi nước, gây hủy hoại khả năng trả nợ, mất khả năng nhập cảng, đẩy hối suất lên cao và gây ra lạm phát (5), nói một cách nôm na, việc cộng sản cho thanh toán trực tiếp bằng đồng Yuan tại Việt Nam, cũng như thể cho treo cờ Trung Cộng, thay cho cờ chính thức của Việt Cộng ở trên đất Việt Nam (6).

“…Nhân dân tệ hóa trong vùng biên giới phía bắc là một chính sách lớn, không chỉ liên quan đến an ninh tiền tệ mà cả về quốc phòng của Việt Nam, không thể chỉ được quyết định bởi một cấp thấp như thống đốc Lê Minh Hưng, mà phải là ở những cấp rất cao. Phải chăng việc dùng đồng CNY để thanh toán ở các tỉnh biên giới phía bắc Việt Nam là một trong những cam kết, nằm trong các văn kiện mà Nguyễn Phú Trọng đã ký kết với Tập Cận Bình và nhiều khả năng là Tập mới nhắc nhở Trần Quốc Vượng vào tháng 8/2018 để truyền đạt lại cho Trọng phải thực hiện gấp cam kết trên…”(Phạm Chí Dũng, bđd).

Treo cờ nước khác trên tổ quốc Việt Nam, hay chính thức sử dụng đồng CNY tại Việt Nam tức xóa bỏ mặt an ninh tiền tệ và chủ quyền kinh tế quốc gia, có phải là các hành động gấp rút sau cùng của Hà Nội, nhằm thực thi hoàn tất mật ước Thành Đô, mà bộ sậu Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Phạm Văn Đồng, thay cho đảng cộng sản Việt Nam lén lút ký kết với Bắc Kinh năm 1990, để đưa tổ quốc Việt Nam trở thành một tỉnh của Trung Hoa vào năm 2020, trong quyết tâm thà mất nước, hơn là mất đảng của bọn chúng. Hỡi nhân dân Việt Nam, chúng ta không còn nhiều thời gian để chần chờ, trong quyết định sinh tử đối với vận mệnh tương lai của đất nước.

9/2018.

Hoàng Tất Thắng

danlambaovn.blogspot.com

Đất Nước Nhìn Từ Thủ Thiêm – Tưởng Năng Tiến

Đất Nước Nhìn Từ Thủ Thiêm – Tưởng Năng Tiến

 

Từ Varsovie, nhà báo Mạc Việt Hồng vừa gửi đến độc giả của trang Đàn Chim Việt đôi (ba) câu chuyện hơi ngộ nghĩnh. Xin ghi lại một:

“Tôi đã từng đi xin giấy phép chặt một cây sồi trong chính mảnh vườn của nhà mình. Sự việc diễn ra vào năm 2011. Thủ tục này mất đúng 3 tuần. Khi tới quận kê khai đơn xin chặt cây, họ đã đặt ra những câu hỏi rất chi tiết như: Đó là cây gì, cao khoảng bao nhiêu, đường kính gốc bao nhiêu cm?

Nhưng có một câu hỏi, hoàn toàn bất ngờ và ‘đương sự’ ấp úng không trả lời được, vì thực sự không biết, không chú ý. Đó là: Trên cây có tổ chim hay không?

Sau đó vài tuần, một nhân viên hành chính quận tới thực địa. Ảnh ngó nghiêng chiếc cây rồi dùng một ống nhòm soi lên ngọn. Cây không có tổ chim. Và nhờ đó, gia đình tôi đã được phép chặt nó.

Vâng. Cơ quan hành chính Ba Lan ‘rỗi hơi’ vậy đó …”

Những di dân da trắng ở Hoa Kỳ đều có nguồn gốc từ Châu Âu nên dân Mỹ cũng “rỗi hơi” không kém. Năm 1996, tiểu bang California bán 90 mẫu đất – vốn là khuôn viên của bệnh viện tâm thần Agnews, nơi mà tôi đã được gửi đến thực tập cả năm thưở còn đi học – cho công ty Sun Microsystems khai thác.

Tiền trao, cho múc xong rồi thiên hạ mới khám phá ra là trong khu đất này có vài cây cổ thụ, vốn là nơi trú ngụ của một loài cú (burrowing owls) có tên trong danh sách cần được bảo vệ. Để giải quyết vấn đề chính quyền tiểu bang đồng ý mua lại một khoảnh đất thích hợp cho chim cú nương thân, với sự trự giúp tài chính của cả thành phố San Jose lẫn công ty Microsystems.

Phú quý sinh lễ nghĩa chăng?

E cũng không hẳn thế. Trong phim Seven Years in Tibet, tôi nhớ có đoạn Đức Đạt Lai Lạt Ma bầy tỏ sự lo ngại về sinh mệnh của giun dế khi ngài nhìn thấy phu phen đang đào đất làm nền để xây tu viện. Mà Tây Tạng thì có giầu sang hay phú quý (mẹ) gì.

Năm ngoái, sau vài tháng đi giang hồ vặt (và tiêu xài đến đồng bạc cuối cùng) tôi buộc phải quay về với … mái ấm gia đình. Vì ở townhouse nên taxi đỗ sau nhà, ga ra đã mở sẵn, vừa xách ba lô ra khỏi xe đã thấy con gái đứng ngay cửa cười toe nhưng lại đưa ngón trỏ lên miệng, và bàn tay còn lại thì xua lia (xua lịa) ra dấu im lặng và dừng bước …

Tôi đứng yên ngơ ngác… Gần cả phút con bé mới chạy ào ra đón bố, giọng hớn hở:

– Có đôi chim gi đến làm tổ trong giàn bông giấy bố ơi. Chim con nở rồi. Chim mẹ vừa tha mồi về nên nếu bố bước vào ngay sẽ làm nó sợ!

Sau đó, “ái nữ” phổ biến ngay quy luật mới của gia đình vì nhà chúng tôi vừa có thêm mấy “thành viên” nữa:

– Từ nay, mỗi khi muốn ra sân sau tôi phải dòm chừng. Nếu chim bố hay chim mẹ đang tha mồi về tổ thì dừng bước ngay, chờ cho chim con ăn xong mới được tiếp tục…

– Từ nay, tôi phải hút thuốc ở sân trước vì khói thuốc có thể ảnh hưởng đến sức khoẻ của lũ chim non.

– Từ nay, tôi phải ….

Ah, đù!

Tôi mới rời nhà một khoảng thời gian ngăn ngắn mà khi quay lại đã bị “tịch thu” nguyên cả cái sân sau. Nói là cái sân (nghe cho nó bảnh) chứ thực ra chỉ là mảnh đất nhỏ xíu xiu, vừa vặn để giồng một cây Ngọc Lan và giàn bông giấy. Chấm hết.

Sân trước rộng nhưng là đất chung với nhiều căn khác. Chúng tôi chỉ sở hữu cái townhouse (cũng chung vách với nhà kế cạnh) bé tí teo, mua theo kiểu trả góp, và vẫn còn nợ ngân hàng cả đống tiền chứ không phải ít. Tài sản rất nhỏ hẹp, bấp bênh như thế mà con bé vẫn vui vẻ mang chia sẻ với lũ chim trời (ơi) không biết từ đâu đến.

Cái kiểu “rỗi hơi” của người dân Ba Lan, Hoa Kỳ (và ngay cả con cái trong nhà) khiến tôi cũng hơi bị… lây, rồi suy nghĩ lan man tới những vụ “thu hồi đất” ngang xương nơi quê hương đất nước của mình. T.S EriK Harms (tác giả cuốn Luxury and Rubble Civility and Dispossession in the New Saigon) nhận xét như sau:

“Những người dân Thủ Thiêm đã bị phớt lờ và thường bị đối xử như thể họ không hề tồn tại.”

Lạ nhỉ?

Trước khi cho phép nhà báo Mạc Việt Hồng đốn hạ một cái cây – trong khu vườn của chính chủ nhân – nhà nước Ba Lan đã cử nhân viên đến tận nơi, dùng ống nhòm săm soi, sợ có dăm ba con chim mất ổ. Còn chính phủ Việt Nam hiện hành thì giải tỏa nguyên cả bán đảo Thủ Thiêm mà sáu chục ngàn cư dân ở phần đất này đều “bị phớt lờ và thường bị đối xử như thể họ không hề tồn tại” vậy!

Tác giả Lê Hồng Hà nhận diện:

“Ở TP HCM, ‘bộ tứ’ Lê Thanh Hải – Nguyễn Văn Đua – Tất Thành Cang – Lê Hoàng Quân cũng cùng nhau ‘xẻ thịt’ đất đai Sài Gòn, bất chấp tất cả.”

Bốn vị quan chức cao cấp này đều là đảng viên của ĐCSVN khiến tôi không khỏi tôi băn khoăn tự hỏi cái đảng này chủ trương thế nào, và giáo dục họ ra sao để tất cả đều có thể trở thành những kẻ “bất chấp” (và bất nhân) đến vậy?

Trước khi đốn hạ vài cái cây cổ thụ thiên hạ còn lo cho bầy cú, sợ chúng mất nơi nương náu. Vậy mà mấy ông đảng viên CSVN (“vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh”) lại có thể nhẫn tâm cướp đất của cả trăm ngàn lương dân, và đẩy họ vào cảnh bần cùng (hay màn trời chiếu đất) một cách lạnh lùng và thản nhiên như thế – được sao?

Gần hai mươi năm sau, sau khi cả đống nước sông – cùng nước suối, nước mưa, nước mắt… – đã ào ạt chẩy qua cầu và qua cống, cho đến lúc vụ cưỡng chế đất Thủ Thiêm sắp chìm xuồng (tới đáy) thì thì bỗng có tin vui giữa giờ tuyệt vọng: Ban Bí Thư Thành Uỷ và Đoàn Đại Biểu Quốc Hội TPHCM đến thăm và làm việc với dân chúng Thủ Thiêm.

Thật là quý hoá!

Thế là dàn đồng ca của Bộ Thông Tin thi nhau hợp xướng, cứ như thể là chuyện cưỡng chế đất đại ở Thủ Thiêm mới xẩy ra hồi tuần vừa rồi, hay tháng trước vậy thôi:

– Người dân Thủ Thiêm đem bản đồ cỡ lớn trình đại biểu Quốc Hội …

– Bí thư Thành ủy TP.HCM Nguyễn Thiện Nhân “vi hành” đến khu ở của cư dân Thủ Thiêm…

– Ông Nguyễn Thiện Nhân: Sẽ gặp dân cho đến khi giải quyết xong bức xúc …

– Người dân Thủ Thiêm trào nước mắt tại buổi gặp đại biểu Quốc Hội …

– Bà con Thủ Thiêm mong tin vui từ Bí thư Nguyễn Thiện Nhân

Không dưng, tôi cũng muốn “trào nước mắt” khi chợt nhớ đến một bản nhạc đã xưa:

Mùa Xuân trên thành phố Hồ Chí Minh quang vinh
Ôi hạnh phúc biết bao, bao năm vẫn đợi chờ
Mà niềm vui như đến bất ngờ

Niềm vui, cũng như ngày vui, thường ngắn. Hai tháng sau, sau “chuyến vi hành” của ông Nguyễn Thiện Nhân, bản tin của trang Tiếng Dân – đọc được vào hôm 8 tháng 9 năm 2018 – có đoạn (xem) rất não lòng:

“Thanh Tra Chính Phủ vừa công bố kết quả kiểm tra liên quan đến việc khiếu nại của người dân ở Khu Đô Thị Mới Thủ Thiêm, Sài Gòn. Sự việc liên quan tới nhiều vấn đề nhức nhối, người dân khiếu kiện suốt 20 năm qua, thế nhưng TTCP chỉ cho ra báo cáo đúng 10 trang giấy.”

Mười trang giấy sơ sài, cùng vài “đề nghị” rất chung chung và rất mông lung!

Ngay từ khi nhà đương cuộc Hà Nội có quyết định “lật lại hồ sơ Thủ Thiêm”, nhà báo Phạm Chí Dũng đã bầy tỏ nghi ngại rằng đây chỉ là một cách mà các đồng chí lãnh đạo “mượn lò” để tống tiền nhau thôi!

Tôi không hoàn toàn chia sẻ với quan điểm bi quan kể trên nhưng rất đồng ý (và “nhất trí”) với nhận xét của FB Trần Đức Anh Sơn:

“Câu chuyện ‘dân oan mất đất’ ở Thủ Thiêm, đã khiến họ đau đớn, cực nhục, oán hận trong suốt 20 năm qua không phải là duy nhất. Đã, đang và sẽ có hàng vạn vụ Thủ Thiêm khác diễn ra ở khắp mảnh đất hình chữ S này. Tất cả chỉ vì cái việc xác định ‘đất đai thuộc sở hữu toàn dân’, và bị những kẻ đại diện cho ‘quyền sở hữu đó’ ăn cướp để chia chác và bán cho những nhóm lợi ích. Chúng chính là kẻ cướp. Những kẻ cướp được cấp license để cướp.”

Tưởng Năng Tiến

XHCNVN không có khả năng giáo dục con người !!!

Nhân xã hội VN xôn xao bàn tán về chuyện Gs Hồ Ngọc Đại và thí điểm “Công nghệ Giáo dục” Lớp 1 Kẻ bênh, người chống.

Tôi xin đăng lạ bài viết dưới đây với phần nhận xét của một cháu thiếu niên đang theo học cấp TH Cơ sở tại VN….
*************

XHCNVN không có khả năng giáo dục con người !!!

Chân lý đôi lúc đến từ miệng trẻ thơ. Đó là trường hợp phát biểu của em Vũ Thạch Tường Minh, 14 tuổi, học sinh trường Amsterdam tại Hà Nội, về đường lối giáo dục tại Việt Nam, trong buổi ra mắt sách của nhóm Cánh Buồm…

“Theo con, bây giờ giáo dục Việt Nam con thấy là quá ‘thối nát’ rồi. Suốt bao nhiêu năm qua các vị cải đi, cải lại, cải tiến, cải lui mà nó không thay đổi được kết quả gì cả. Nên bây giờ con muốn các vị bộ trưởng, thứ trưởng hãy thay đổi đường lối giáo dục của VN… Các vị có thể nói là mất thời gian, nhưng con thấy các vị cải tiến, cải lùi còn mất thời gian hơn. Giáo dục VN không cần cải cách gì nữa mà cần được cách mạng. Đó mới là điều quý vị trong bộ giáo dục nên làm”.

Đấy cũng là nhận xét chung của hầu hết mọi người VN hiện nay. Trước thảm trạng giáo dục này, Giáo sư Nguyễn Khắc Mai, Giám đốc Trung tâm Minh triết VN ở Hà Nội mới đây có lý giải: “Tư duy và tư tưởng của những người lãnh đạo VN hiện nay rất nông cạn, vì thế họ suy nghĩ hời hợt, bề ngoài. Họ rất thích áp đặt, không thích cãi lại, để cho mỗi học sinh được tự do, để trưởng thành một con người…. Cái lò đào tạo ra người quản lý [giáo dục] là trường Nguyễn Ái Quốc, trường đảng, thì đó là những nơi xơ cứng nhất, kiến thức hẹp nhất”.

Đó là một cách lý giải đúng nhưng –theo thiển ý chúng tôi- chưa sâu, chưa đủ và chưa đi vào cơ bản.

Nguồn gốc của tất cả sự băng hoại của “nền giáo dục” tại nước CHXHCNVN lúc này chính là ý thức hệ Mác-Lê vô thần duy vật và chế độ độc tài toàn trị Cộng sản. Giáo dục là dạy dỗ, đào tạo con người sống theo một thứ đạo đức và nhắm tới một mục tiêu nào đó (người ta gọi là “triết lý giáo dục). Mà ý thức hệ Mác-Lê và chế độ Cộng sản chủ trương “đạo đức cách mạng” với 2 nguyên tắc: (1) mọi cái có lợi cho Cách mạng (tức cho đảng) đều là chân thiện mỹ, dù đó là gian dối hay bạo lực, xấu xa hay đê hèn; (2) cứu cánh biện minh cho phương tiện, cứu cánh đây là sự tồn tại của chế độ CS, nên nếu phương tiện có đi ngược lại tiếng nói của lương tâm, lời dạy của tôn giáo thì cũng bất chấp, bất cần. Còn mục tiêu giáo dục chính là đào tạo thành thần dân trung thành với đảng, công cụ mù quáng của chế độ hơn là công dân tự do của đất nước, con người nhân bản của xã hội. Có như thế đảng mới muôn năm trường trị để giữ mọi quyền lực và hưởng mọi quyền lợi.

Từ đó phát sinh ra sách lược (hay đường lối) là đảng CS phải quản lý, khống chế toàn diện nền giáo dục quốc dân từ mẫu giáo đến đại học. Cứ đọc Luật Giáo dục và nhìn Nền Giáo dục là thấy rõ điều này. Trước hết, đảng soạn Luật giáo dục: lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng HCM làm nền tảng tinh thần và tri thức. Từ đó đảng tiêu diệt các trường tư của mọi tôn giáo và khống chế các trường tư của mọi công dân. Học viện Công giáo được ban tôn giáo chính phủ cho phép thành lập ngày 03-08-2015 phải tuân theo điều 2 của Quyết định 289: “Học viện CGVN được hoạt động theo quy định của pháp luật VN và theo nội dung đề án được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận”.

Thầy chủ nhiệm khoa của anh sinh viên Phạm Lê Vương Các tại Đại học (dân lập) Kinh doanh Thương mại Hà Nội nói với anh hôm 01-09: “Trường này do những người CS lập ra, và sẽ đào tạo ra những con người thuộc về chế độ chính trị CS.” (bài “Em hãy rút hồ sơ và nghỉ học ở trường này đi”). Thứ đến, Đảng đặt các hiệu trưởng cho mọi trường công lập từ tiểu học trở lên: hiệu trưởng phải là thành viên của đảng; ngoài ra còn có bí thư đảng, đảng đoàn trong trường học để kiểm soát mọi giáo viên và học sinh, mọi chương trình và hoạt động. Mỗi cậu đoàn viên có bổn phận theo dõi thầy và bạn của mình. Đảng soạn sách giáo khoa; giáo khoa là pháp lệnh, không được giảng dạy ra ngoài, nhất là các môn khoa học nhân văn.

Chính vì thế mà vào năm 1960, một thày giáo bạn của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện bị đau, đã nhờ ông dạy giúp hai giờ môn sử. Bài học hôm ấy nói về Thế chiến thứ hai kết thúc với sự đầu hàng vô điều kiện của Nhật Bản. Bất bình trước hành vi trắng trợn xuyên tạc lịch sử của sách giáo khoa viết rằng Thế chiến này kết thúc là nhờ Hồng quân Liên Xô đánh bại quân đội Nhật, nhà thơ đã thẳng thắn giảng cho học sinh biết sự thật là quân Nhật thua quân Đồng minh vì hai quả bom nguyên tử của Mỹ. Cái giá của viêc “coi thường” giáo khoa này là hai tháng sau ông đã bị nhà cầm quyền kết án và đẩy vào lao ngục, khởi đầu cho cuộc đời vào tù ra khám 27 năm dưới bàn tay sắt máu của chế độ.

Tháng 6-2009, cô giáo Nguyễn Thị Bích Hạnh, 28 tuổi, đang dạy ở trường Nguyễn Bỉnh Khiêm, Quảng Nam, bị buộc thôi việc vì “đã vi phạm nghiêm trọng trong việc xuyên tạc đạo đức nhà giáo; sử dụng bục giảng làm nơi tuyên truyền những nội dung trái với quan điểm của chính sách Nhà nước; xuyên tạc đường lối của Đảng, chủ trương pháp luật của Nhà nước, vi phạm quan điểm nội dung giáo dục trong việc cập nhập khai thác, truyền bá trang web phản động, phản giáo dục”. Việc “truyền bá” này chính là cô đã đề cập với các em học sinh một số bài viết trên các trang mạng hải ngoại như Talawas và Tienve.org với mục tiêu “hướng dẫn các em biết cách tự học, tự đọc, tự tìm tòi phân tích thông tin”.

Ngoài ra, Đảng đặt ra hệ thống quản lý giáo dục (bộ, ty, sở, phòng) từ trung ương tới địa phương: tỉnh, thành, quận, huyện. (VN Cộng Hòa chỉ có miền và tỉnh). Mục tiêu của hệ thống quản lý này là kiểm soát từ học đường đến gia đình, từ thầy đến trò để tất cả luôn nằm trong bàn tay của đảng. Còn nhân sự quản lý giáo dục đều xuất thân từ hệ thống các trường đảng Nguyễn Ái Quốc vốn có khắp mọi tỉnh. Chưa hết, Đảng buộc môn chính trị trong các trường là môn học chính khóa với rất nhiều tiết học (thậm chí còn buộc như thế đối với các đại chủng viện).

Đảng còn đoàn ngũ hóa học sinh sinh viên qua tổ chức đội (Thiếu nhi Tiền phong), đoàn (Thanh niên CS) nhằm tẩy não và nhồi sọ thế hệ trẻ về lòng kính yêu “bác” và việc bước theo “đảng”. Đấy là chưa kể quân đội và công an cũng là nơi đảng nặn ra những kẻ “chỉ biết còn đảng còn mình”, “trung với đảng” (trước), “hiếu với dân” (sau).

Hậu quả của “nền giáo dục” bị đảng hóa, độc quyền hóa, chính trị hóa như thế thì vô số và chỉ có thể là thê thảm, tai hại. Ngay trên trên lãnh vực giáo dục, đó là ông thầy cần “hồng” hơn “chuyên”. Từ đó sinh ra nạn giáo sư và giáo viên sẵn sàng cấm sinh viên học sinh xuống đường biểu tình chống Tàu cộng xâm lược, đuổi học những sinh viên yêu tự do, dân chủ (như Nguyễn Phương Uyên, Phạm Lê Vương Các), để cho công an vào trường bắt trò của mình. Nạn “nhà giáo ưu tú” làm dư luận viên như Trần Đăng Thanh, Hoàng Chí Bảo…

Ngày 18-04-2015, theo BBC, phó giáo sư đại học quốc gia Hà Nội Vũ Quang Hiển thản nhiên phát biểu: “Tôi nghĩ rằng sau chiến tranh, VN không có ngược đãi đối với mọi người…. Còn việc tập trung học tập hay cải tạo, tôi nghĩ đấy là để học cho rõ chính sách của nhà nước VN thời bấy giờ… chứ không có nghĩa là một chế độ tù đầy. Nếu nói là tù đầy, thì tôi nghĩ đó là một sự xuyên tạc”. Rồi nạn giáo viên thiếu kiến thức (“đứng nhầm bục”) và vô tư cách, như đổi tình lấy điểm, buộc học sinh phục vụ sinh lý cho mình và cho các quan chức (ví dụ tại trường thị trấn Việt Lâm, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang).

Nạn giáo viên coi học sinh và gia đình là nơi để làm tiền bằng cách dạy thêm, thu đủ kiểu chi phí ngoài học phí, và mỗi năm đến ngày Nhà giáo VN thì vòi tiền vòi quà cách trắng trợn. Về học sinh thì cũng có nạn hồng hơn chuyên: không ý thức về hoàn cảnh đất nước (để đảng lo), không băn khoăn về bộ mặt chế độ (để đảng làm), không tham gia các cuộc biểu tình yêu nước (thậm chí làm rào chặn đoàn biểu tình, phá đám việc tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ), sẵn sàng làm dư luận viên giúp đảng (tự hào đó là bản lĩnh chính trị). Về đức dục thì có nạn gian dối (tác phẩm của thầy, trò nhận biểu diễn; tập trước những cuộc thi điển hình, kiểu mẫu), nạn bạo hành (đánh bạn, đánh thầy), nạn vâng lời tối mặt, thiếu tinh thần độc lập.

Về trí dục thì nạn học đối phó, học để thi, để lên lớp, không phải để hiểu biết; học kiểu từ chương, không có tinh thần tự tìm, tự hiểu; làm bài quy cóp, làm bài theo văn mẫu. Về giáo khoa, thì giáo khoa của các môn nhân văn như công dân, văn, sử, địa, đầy rẫy những xuyên tạc lịch sử (“30% sự thật, 70% gian dối theo giáo sư Hà Văn Thịnh), đề cao đảng và chế độ, lâu lâu lại đề cao Tàu cộng hay che giấu những hành động xâm lăng của Bắc phương (khiến thui chột lòng yêu nước), dạy lòng căm thù, nhất là căm thù những ai bị đảng coi là địch (khiến tiêu biến lòng nhân ái vị tha). Mới đây có loại sách dạy kỹ năng sống bằng cách ăn phân gà, đi trên miểng chai, cưa bom đạn.

Giáo khoa các môn khoa học kỹ thuật thì biên soạn ẩu tả, sai lạc. Ngoài ra, có nạn sách học đổi từng năm, khiến em không thể dùng sách của anh được. Về cơ sở: đa phần xuống cấp, xập xệ, nhất là những vùng sâu vùng xa, thiếu những học cụ hiện đại. Lại có nạn tham nhũng trong việc cung cấp các phương tiện như máy vi tính, bảng tương tác điện tử, việc cung cấp đồng phục, việc xây dựng nhà vệ sinh. Rồi ngoài học phí (tiểu học và trung học công lập, một kiểu bóc lột về mặt vật chất sau kiểu bóc lột tinh thần là tẩy não, nhồi sọ, diệt ý chí, trấn áp tự do), còn đủ trăm thứ phí học đường, khiến gia đình càng thêm khánh kiệt.

Hậu quả của nền giáo dục CS trên toàn xã hội là trình độ văn hóa chung của xã hội và đất nước xuống cấp trầm trọng: bằng giả tràn lan, đủ thứ tiến sĩ giấy, giáo sư dổm. VN không có những tác phẩm văn hóa, phát minh khoa học, sáng chế kỹ thuật mang tầm mức quốc tế, hoàn vũ. Tình trạng đạo đức ngày càng băng hoại: chẳng còn tình làng nghĩa xóm, nghĩa đồng bào tình đồng loại. Xã hội đầy ứng xử vô văn hóa, gian dối và bạo lực. Ứng xử vô văn hóa như xả rác bừa bãi, không tôn trọng luật đi đường, phá hoại công trình công cộng.

Gian dối trong giao tế, làm ăn, tạo sản phẩm. Ra nước ngoài thì ăn cắp, buôn lậu. Bạo lực học từ nhà trường và từ việc nhà nước dùng bạo lực với dân. Nền giáo dục đó cũng tạo ra những công an tàn ác với dân, mù quáng tuân lệnh, làm luật kiếm tiền; những viên chức tham nhũng bóc lột, dối gian lừa đảo, hứa hẹn hão huyền; những nhà báo dối trá, ngày đêm sơn phết, tụng ca chế độ bất chấp lương tâm và lòng xấu hổ; những trí thức mũ ni che tai, trùm chăn với thời cuộc, tự cho mình khôn ngoan, hoặc còn mải mê kiếm tìm danh lợi; những bác sĩ y tá vô lương tâm, chỉ biết khai thác khổ đau bệnh tật của đồng loại.

Bản chất con người vốn dị ứng với gian dối và bạo lực, chẳng ai muốn bị lừa gạt và hành hạ, trừ những kẻ mang ý đồ xấu, sử dụng 2 thứ đó với người khác. Thế mà nền giáo dục CS lại xây trên gian dối và bạo lực, nhằm duy trì chế độ, thành ra nó hoàn toàn và vĩnh viễn không có khả năng giáo dục con người. Muốn canh tân giáo dục, việc đầu tiên là phải thay đổi chế độ chính trị.

Image may contain: 8 people, people smiling, people sitting
Image may contain: 1 person

Trump ‘ra lệnh đánh thêm thuế lên hàng TQ’

Một số quan chức trong chính quyền đang cố gắng đưa ra các cuộc thảo luận về việc giảm nhẹ cuộc chiến thương mại, nhưng ông Trump nói hôm thứ Năm rằng Mỹ đang “không chịu bất kỳ áp lực gì” để mà phải chấp nhận một thỏa thuận.

About this website

BBC.COM
Tin cho hay Tổng thống Donald Trump đã ra lệnh cho các nhân viên tiến hành vòng đánh thuế lên 200 tỷ đôla hàng hóa Trung Quốc.

Dự án đường sắt 58 tỷ USD và sự tồn vong của nước Việt.

Dự án đường sắt 58 tỷ USD và sự tồn vong của nước Việt.

Bút Danh Thứ Sáu, 14.09.2018.

Thủ tướng Mahathir Malaysia (nhiệm kỳ 1981-2003 ) là người có công rất lớn trong việc đưa Malaysia trở thành một quốc gia có nền công nghiệp phát triển,trong nhiệm kỳ của mình đất nước GDP Malaysia tăng trưởng một cách thần kỳ trên dưới 10% mỗi năm, chỉ với số tiền nợ công 72 tỷ Malaysia đã đầu tư được một cơ sở hạ tầng kết nối hoàn chỉnh,từ hệ thống đường cao tốc phủ kính cả nước,đến hệ thống cảng biển và tàu điện ngầm hiện đại ( trong khi nợ công của Việt Nam hiện tại đã lên đến hơn 150 tỷ usd như hạ tầng rất kém xa Malaysia năm 2003).

Tuy nhiên những thành quả của Ông và đảng UMNO có nguy cơ bị xóa sạch từ khi thủ tướng Tham Nhũng Najib Nazak lên nắm quyền,nợ công từ con số 72 tỷ usd đã tăng vọt lên đến 252 tỷ usd một cách nhanh chóng và số nợ công còn tiếp tục “tăng tốc” làm cho Mahathir và người dân cảm thấy rất lo lắng, bất an.

Năm 2018 Mahathir quyết định ra tranh cử khi đã 92 tuổi. Ông đã có một quyết định táo bạo khi liên danh với đảng đối lập của UMNO ( Mahathir là thủ lĩnh của Đảng UMNO ) để tranh cử, với sự thối nát, tham nhũng của Thủ Tướng Najib, nhiều thành viên của đảng UMNO và nhân dân đã quay qua ủng hộ Mahathir và Ông đã thắng cử một cách vang dội.

Chỉ 2 ngày sau khi thắng cử Mahathir đã ra lệnh bắt giữ Thủ tướng Tham Nhũng Najib, cảnh sát đã phát hiện ra số tiền mặt, nữ trang, hàng hiệu lên đến 300 triệu USD tại nhà Najib Tuy nhiên hậu quả của Najib cho đất nước Malaysia là quá lớn,Malaysia đã bị Najib đẩy vào “bẩy nợ” của TQ với những dự án khổng lồ vay tiền của TQ.

Ngày 21/08/2018 trong chuyến thăm TQ,Ngài Mahathir đã thẳng thừng tuyên bố: “Chúng tôi không chống lại các công ty Trung Quốc, nhưng chúng tôi đang chống lại việc vay tiền từ bên ngoài và có các dự án không cần thiết và rất tốn kém”.

“Chúng tôi không muốn xảy ra tình huống về phiên bản mới của Chủ nghĩa thực dân bởi vì các nước nghèo không thể cạnh tranh với các nước giàu về mặt thương mại tự do, cởi mở”

Mahathir đã ngay lập tức cho dừng dự án đường sắt cao tốc 20 tỷ usd vì cho rằng “dự án này không cần thiết cho đất nước và không đủ khả năng chi trả khoản nợ lớn này”.

Trong vòng vài tháng trở lại ghế thủ tướng, ngài Mahathir đã có những động thái quyết liệt khi dừng toàn bộ các dự án và các khoản vay lên đến 30 tỷ usd.

Ngoài ra Mahathir đã ngừng cấp thị thực dài hạn cho người TQ mua nhà ở thành phố Forest city trị giá 100 tỷ usd để chống lại việc “di dân” của TQ (70% nhà ở Forest city đã bị người TQ mua sạch để định cư ).

Mahathir đã cắt giảm 10% chi phí lương của chính phủ bằng cách cắt giảm những bộ ngành kém hiệu quả, sa thải 17.000 công chức “sáng cắp ô đến,chiều cắp ô về”. Ngài đã thẳng tay sa thải những quan chức cao cấp quan liêu, thiếu hiệu quả, bổ nhiệm những người có tài năng trẻ tuổi vào bộ máy chính phủ ( Mahathir đã bổ nhiệm bộ trưởng thanh niên và thể thao trẻ nhất châu á là Syed Saddiq Syed Abdul Rahman chỉ mới 25 tuổi ).

Đất nước Malaysia dần quay trở lại quỹ đạo của nó khi có một vị cha già dân tộc như thế.

Malaysia là một quốc gia có nền kinh tế mạnh ở Đông Nam Á, tuy nhiên chỉ vì một lãnh đạo tham nhũng, đục khoét là Najib, Malaysia đã trở thành “con nợ” của TQ.

Việt Nam chúng ta đã có khối nợ công khổng lồ hơn 150 tỷ USD, tuy nhiên may mắn cho chúng ta là nợ TQ chỉ hơn 4 tỷ USD, những khoản vay của ADP, World bank đa phần là lãi vay thấp dao động từ 0,6-1,2% trên năm thời gian vay kéo dài từ 25-40 năm và đáo hạn 10-15 năm, Tuy nhiên kể từ năm 2017 trở đi chúng ta đã không còn được cơ chế ưu đãi của những tổ chức này và phải vay của TQ lãi suất rất cao tối thiểu là 3% đến 10% với thời hạn ngắn là 5-15 năm thời gian đáo hạn là 5 năm.

Những khoản vay của TQ lãi suất cao thời gian vay ngắn sẽ là áp lực rất lớn để Việt Nam có thể trả nợ đúng hạn (Khả năng vỡ nợ là rất cao khi nợ công đã ở mức báo động đỏ). Thời gian gần đây truyền thông Việt đã bắt đầu “lobby” cho dự án đường sắt cao tốc bắc nam trị giá 58 tỷ usd (gấp 3 lần dự án đường sắt của Malaysia mà Mahathir vừa tuyên bố hủy ). Nếu dự án này được thông qua,Việt Nam sẽ gánh thêm 1,3 triệu tỷ nợ công ( nếu đội giá có thể lên đến 2 triệu tỷ nợ công cho dự án này )

Bộ Trưởng Bộ GTVT Nguyễn Văn Thể đã ra sức thuyết phục quốc hội thông qua: “5 đến 7 nhiệm kỳ mới làm xong đường sắt cao tốc,mỗi nhiệm kỳ chỉ cần duyệt 10 tỷ usd”.

Ông cho rằng: ” bây giờ nước mình làm đường sắt tốc độ cao là quá trễ ” khi so sánh với các nước trong khu vực như Campuchia mới khánh thành đường sắt đi Thái Lan, Lào kết nối với Trung Quốc… ( Xin phép được đính chính thông tin này của Ngài Bộ Trưởng rằng, đường sắt của Campuchia mới khánh thành chỉ là phục hồi lại đường sắt cũ trước đây tương tự như đường sắt VN và dùng để vận chuyển hàng hóa là chủ yếu, dự án này Campuchia chỉ vay 84 triệu usd của ADB với lãi suất 1%/năm và 21,5 triệu usd không hoàn lại của AAID chứ không phải 58 tỷ usd lãi suất “trên trời” của VN. Ngoài ra hiện tại Campuchia đã xóa toàn bộ trạm thu phí trên toàn quốc từ năm 2016 )

Những dự án đường sắt liên quan đến vốn TQ là một bài học rất “đau đớn” của Malaysia khi phải dừng lại khi đã lỡ thi công hết gần 5 tỷ usd (thà mất 5 tỷ usd còn hơn nợ 20 tỷ usd ).

Các đại biểu quốc hội hãy hết sức tỉnh táo, kiên quyết không nhấn nút cho dự án này, đây rõ ràng là “Cái bẫy” cực lớn của TQ giương ra nhằm cài bẫy con mồi béo mập là các quan chức Việt Nam tham nhũng, với truyền thống “chung chi” của TQ việc mua chuộc chính quyền và các quan chức là việc quá dễ dàng.

Việc thông qua dự án này sẽ là đại họa cho dân tộc, nhân dân và con cháu sau này sẽ phải gánh chịu hậu quả khôn lường ( trong khi các quan chức “béo mập” đã xách vali dolla nặng trĩu sang định cư ở nước ngoài)

Việt Nam sẽ phải trả giá không chỉ bằng việc trả nợ bằng tiền, tài nguyên khoán sản, đất đai mà thậm chí còn phải trả giá bằng chủ quyền và cuộc sống nô dịch của nhiều thế hệ tương lai.

Rất mong rằng Thủ Tướng Chính Phủ, Quốc Hội hãy hết sức tỉnh táo, kiên quyết không thông qua dự án này.

Nguồn: http://butdanh.net/du-an-duong-sat-58-ty-ud-va-su-ton-vong-…

Image may contain: outdoor
Image may contain: 3 people, people smiling

LIÊN HOÀN KẾ

LIÊN HOÀN KẾ

Người dân Việt rất nhạy với những gì có yếu tố Trung Quốc. Cũng phải thôi, vì không có tinh thần như thế thì cha ông ta làm sao kháng Tàu thành công suốt ngàn năm qua? Dù có cực có cực đoan hay không thì điều đó cũng là rất cần thiết. Vì thực tế trong mỗi nước đi của Tàu luôn thủ con dao găm trong tay áo, đợi khi thời cơ cho phép nó sẽ lấy ra dùng, còn nếu thời cơ chưa cho phép thì nó vẫn cất giấu. Cho nên chúng ta chưa sập bẫy Tàu trong dự án nào đó thì đó là chưa đến thời cơ nó ra tay chứ không phải Tàu không có ý xấu. Có người hay phê phán tinh thần bài Tàu của dân Việt rằng, cái gì cũng sợ thì sao làm ăn với Tàu? Thực ra những người suy nghĩ như vậy rất non bớt, cái dân sợ là năng lực ĐCS chứ không phải dân sợ Tàu. ĐCS tuy gian ác điếm đàn với nhân dân, nhưng với Tàu Cộng, ĐCS chỉ là nai tơ. CSVN không bao giờ ngang tài ngang sức về trí tuệ với quan thầy.

Binh Pháp Tôn Tử là bài học kinh điển về cách lừa đối thủ của người Tàu. Trong đó, tác giả Tôn Vũ đã liệt kế 36 cho những người đời sau áp dụng. Trong 36 kế này, tất cả điều có chung cách làm, đó là lừa cho đối thủ hướng suy nghĩ đến điểm A nhằm để hở sườn tại điểm B, và thế là kẻ chủ mưu sẽ ra tay hạ đối thủ ở điểm B.

Trong quân sự, trước cuộc chiến sống còn, kẻ thù chết ta mới được sống thì áp dụng những mưu kế đó là đúng. Nhưng trong quan hệ hợp tác kinh tế, nó đưa đến những cú đánh gục đối tác như những trận chiến là không tốt. Thế giới văn minh đã đi đến hợp tác đôi bên cùng có lợi (win-win), họ dựa trên các thế mạnh riêng để bổ trợ cho nhau để đạt thắng lợi chung. Trong quan hệ ấy, lòng tin và tinh thần trách nhiệm phải được đề cao. Chính những thứ đó, lòng tin và trách nhiệm, mới tạo nên sự bền vững trong hợp tác. Nếu hợp tác kinh tế mà ẩn chứa mưu đồ chính trị thì thà nói không với việc hợp tác.

Nếu xem cận cảnh một cầu thủ biểu diễn kỹ thuật rê dắt bóng đẹp mắt người ta khen. Thế nhưng khi zoom toàn cảnh sân bóng, người ta phát hiện ra kỹ thuật rờm rà của cầu thủ này lại làm chậm nhịp tấn công của toàn đội. Xét trên toàn cục, đội bóng thua là bởi anh anh ta làm chuyện quá cá nhân. Cho nên muốn đánh giá đúng một điều gì đó, cần phải đặt hành động đó vào một cái nhìn toàn cảnh.

Để đoán được mưu đồ của Tàu Cộng, người dân phải sắp xếp lại những bước đi nho nhỏ để nó hiện ra một lộ trình lớn. Người Trung Quốc có một kế thiên biến vạn hoá mà họ gọi là Liên Hoàn Kế. Mỗi một kế trong Binh Pháp Tôn Tử chỉ là những kế nhỏ, thậm chí những thất bại cũng nằm trong tính toán. Kế A, kế B, kế C vv…rồi đến kế N xếp lại thành chuỗi liên hoàn. Đối thủ không tinh ý cứ ỉ i, đến lúc nhận ra mưu đồ của đối thủ thì đã quá muộn. Lộ trình nuốt Việt Nam của Trung Cộng cũng là một chuỗi vô số kế sách nhỏ như vậy. Đã nói đến người Trung Hoa là nói đến mưu kế, cho nên khi làm ăn với họ, thế giới luôn nhận ra rằng, người Tàu rất thâm.

Lộ trình trong đầu ông chủ Bắc Kinh rất nhiều, rất khó đoán. Chỉ một từ “đại cục” mà Tập Cận Bình nói ra, thì chính quyền Trung Cộng đã có liên hoàn kế cho lộ trình này. Thử xếp những nước đi gần đây của phía Trung Cộng, ta thấy nó hiện ra điều gì? Ngày 06/09/2018 chính quyền CSVN cho người Trung Quốc lái xe vào sâu trong lãnh thổ Việt Nam không cần visa, trong khi dân Việt vào Trung Quốc phải xin visa. Tiếp theo ngày 12/10/2018 chính quyền CSVN lại cho phép giao dịch đồng Nhân Dân Tệ (Yuan) trên 7 tỉnh biên giới phía Bắc. Và hôm nay, ngân hàng Việt Nam lại hợp tác với ngân hàng Trung Quốc để mở chi nhánh giao dịch Nhân Dân Tệ. Như vậy, đất Việt Nam sẽ dần hình thành nên vùng đất mà người Trung Quốc tự do đi vào và xài đồng nội tệ của họ. Rất nguy hiểm cho toàn vẹn lãnh thổ. Đấy mới là ghép nối mấy nước đi gần đây mà họ đã triển khai thì chúng ta đã thấy không bình thường.

Sau những nước đi đó, chúng ta thử đoán điều gì sắp xảy ra? Như ta biết, xe hàng nông sản Trung Cộng đã đến Đà Lạt và nó cũng có mặt tại các chợ đầu mối TP. HCM. Khi đó, những thương lái Trung Quốc giao dịch với thương lái Việt Nam bằng Nhân Dân Tệ qua ngân hàng thường mại Việt Nam hoặc qua các chi nhánh ngân hàng thương mại Trung Quốc tại Việt Nam. Vậy thì sao? Lúc đồng Nhân Dân Tệ được giao dịch rộng rãi thì Hà Nội có muốn cấm Nhân Dân Tệ giao dịch ở Việt Nam thì đã quá muộn. Súng đạn thua Trung Cộng, kinh tế bị Trung Cộng nắm, bí mật đi đêm của ĐCSVN cũng bị Trung Cộng nắm, vậy dám ho với Bắc Kinh Không? Lúc đó ĐCS sẽ chẳng làm gì để bảo vệ đất nước cả.

Hà Sĩ Phu: ‘Bị Hán hóa là mất dân tộc’

Hà Sĩ Phu: ‘Bị Hán hóa là mất dân tộc’

15/09/2018

clip_image002

Hà Sĩ Phu, tác giả “Chia Tay Ý Thức Hệ,” tại tư gia ở Đà Lạt. (Hình: Hà Sĩ Phu gởi Đinh Quang Anh Thái)

Đinh Quang Anh Thái

Bài viết dưới đây được trích từ tác phẩm “Ký II” của nhà báo Đinh Quang Anh Thái, xuất bản vào trung tuần tháng Chín, 2018, qua hệ thống Amazon. Bài viết bao gồm nhiều tài liệu, quan điểm của Hà Sĩ Phu, được nhà báo Đinh Quang Anh Thái ghi lại qua nhiều hình thức trong một thời gian dài, khởi đi từ một sự kiện năm 1995 đến biến cố biểu tình chống Dự Luật Đặc Khu 2018. Hơn 20 năm trôi qua, các nhận định liên tục của Hà Sĩ Phu về tình hình chính trị trong nước, trên thế giới, và đặc biệt về mối quan hệ Việt – Trung, vẫn còn nguyên vẹn tính thời sự và tiên đoán chính xác. Bài viết được đăng tải với sự đồng ý của tác giả Đinh Quang Anh Thái.

VOA

Ngày 10 tháng Sáu, 2018, hàng chục ngàn đồng bào tại nhiều thành phố Việt Nam xuống đường biểu tình chống “Dự Luật Đặc Khu Kinh Tế”.

Dự luật dự trù sẽ được Quốc hội Cộng sản Hà Nội đưa ra biểu quyết ngày 15 Tháng Sáu, cho thuê mướn thời hạn 99 năm ba khu vực Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc.

Hầu hết các nơi biểu tình đều diễn ra ôn hòa, ngoại trừ Phan Rí. Lực lượng Cảnh sát Cơ động, được mệnh danh ‘Quả đấm thép’ của Bộ Công an Việt Nam, thúc thủ trước người biểu tình chống dự luật đặc khu và đã biến thành bạo động tại Phan Thiết, Phan Rí Cửa, Bình Thuận.

Hình ảnh trên các mạng xã hội cho thấy lực lượng Cảnh sát Cơ động bỏ áo giáp, nón sắt, leo tường chạy khỏi trụ sở Ủy ban Nhân dân tỉnh Bình Thuận. Họ được những người biểu tình đối xử tử tế, thậm chí có người dân còn cúi xuống đưa lưng cho cảnh sát leo lên vượt tường ra ngoài.

Ngày 15 Tháng Sáu, từ Đà Lạt, Hà Sĩ Phu gửi email cho kẻ viết bài này:

“Đinh Quang Anh Thái thân mến,

“Trước hết cho mình xin lỗi vì đã hồi âm chậm trễ. Chắc Thái không thể hình dung tình trạng của mình sau khi chị Biên mất. Bà xã mình mất là sự kiện đau thương nhất đời mình. Chị Biên chịu đựng mấy chục năm để cho mình làm nghĩa vụ của một anh trí thức, chưa đền đáp được gì thì bà ấy đã ra đi! Ngày nào mình cũng khóc. Khổ thế, yêu thương càng nhiều thì sự mất mát càng đau. Mình trơ trọi một mình với bệnh tật, phải tự lo liệu đủ mọi thứ. Đồng thời đúng lúc xã hội đang xảy ra nhiều biến động, nên mình không thể tách rời khỏi tình hình chung ấy.

“Thái hỏi đất nước mình bây giờ ra sao, so với cách đây hơn 20 năm, khi mình trả lời phỏng vấn của Thái lần đầu tiên năm 1995, mình thấy, sau hơn 20 năm, tình hình xã hội đã có những biến chuyển đáng khích lệ (số người dân chủ tiên phong xuất hiện nhiều thêm, số người dân quan tâm đến vận mệnh đất nước cũng nhiều thêm, đặc biệt là trước họa Bắc thuộc; xã hội ngày càng phơi bày sự thối nát và không ổn định, thái độ mị dân ngày càng kém hiệu quả, chính sách độc tài ngày càng lộ diện… Những cuộc biểu tình tính tới con số trăm ngàn người tham dự hôm 10-6-2018 là minh chứng cho sự tiến triển đó. Nhưng đó mới là sự biến đổi về LƯỢNG, chưa đủ để thành biến đổi về CHẤT.

“Theo mình, thực trạng đất nước chúng ta hiện nay, do thể chế có 3 tính chất là phi khoa học, độc tài và dối trá, nên xã hội không thể phát triển, tham nhũng, ách tắc, tha hóa toàn diện, bị dồn nén nên tiềm ẩn nguy cơ biến động. Mà đã xảy ra biến động rồi, điển hình là những cuộc biểu tình hôm 10 Tháng Sáu. Nhưng đấy mới là đối nội, chưa quan trọng bằng đối ngoại (nạn Bắc thuộc mới). Thoát Trung mới là nhu cầu cấp thiết hàng đầu, nhưng muốn Thoát Trung phải Thoát Cộng. Người giữ chế độ CSVN không chỉ là ĐCSVN mà chủ yếu là ĐCSTrung Quốc!”

Hà Sĩ Phu 1995

Năm 1989, lúc khối Cộng sản Đông Âu và “cái nôi của vô sản thế giới” là Liên Xô rã ra như “cơm nguội gặp mưa”, nhà thơ Lê Bi thuộc nhóm Nhân Chủ Học Xã rao khắp bạn bè: “Ai tìm được tác giả bài viết DẮT TAY NHAU ĐI DƯỚI TẤM BIỂN CHỈ ĐƯỜNG CỦA TRÍ TUỆ, tôi tặng 1,000 đô la.”

Không ai kiếm được.

“Nhân Chủ” là từ đã được nhà cách mạng Thái Dịch Lý Đông A dùng đầu tiên vào năm 1939, lúc ông khoảng 19 tuổi, khi ông sáng lập và là Bí thư trưởng Duy Dân Cách Mạng Đảng. Nhân Chủ Học Xã là cơ quan lưu trữ tài liệu, nghiên cứu và huấn luyện của Duy Dân.

Sau năm 1954, từ Bắc di cư vào Nam, nhà cách mạng Thái Lăng Nghiêm tiếp tục công việc của Nhân Chủ Học Xã.

Năm 1985, các anh Trịnh Đình Thắng, Thanh Hùng, Hoàng Khởi Phong, Nguyễn Văn Cường, Lưu Ngọc Thọ, Hoàng Chính Nghĩa (Lê Bi), Nguyễn Võ Thu Hương và kẻ viết bài này cùng nhau phục hoạt Nhân Chủ Học Xã tại Mỹ. Trong nhóm, ba anh Trịnh Đình Thắng, Thanh Hùng và Nguyễn Văn Cường là cán bộ Duy Dân; những anh em còn lại là những kẻ lưu vong cùng chí hướng tìm lại với nhau.

Trong nhóm, Lê Bi là người “miệng nói, tay làm”. Anh đánh máy, bỏ dấu tiếng Việt bằng tay và giao cho tôi in những cuốn “Đạo Trường Ngâm”, tập thơ của Lý Đông A; “Tự Phán” của Phan Bội Châu; “Thư Quốc Nội” tập bài nhận định về tình hình Việt Nam của tác giả ẩn danh được chuyển bí mật từ trong nước ra cho chúng tôi (sau này mới biết người chấp bút là anh Đoàn Viết Hoạt); và “Thơ Trích” của Lê Bi.

Cũng vào thời điểm anh em chúng tôi nỗ lực tìm xem ai là tác giả DẮT TAY NHAU ĐI DƯỚI TẤM BIỂN CHỈ ĐƯỜNG CỦA TRÍ TUỆ, báo Người Dân ra đời, với cùng nhân sự của Nhân Chủ Học Xã và thêm các anh Nhật Tiến, Hoàng Mạnh Hùng, Lê Thiện Tùng, Mai Văn Hiền, Phạm Gia Hòa, Nguyễn Văn Trung, Tống Nhiệm, Trần Thế Kiệt, Lã Hoàng Trung.

Nỗ lực, nhưng chúng tôi vẫn không tìm được tác giả DẮT TAY NHAU ĐI DƯỚI TẤM BIỂN CHỈ ĐƯỜNG CỦA TRÍ TUỆ.

Mãi sau này mới biết tác giả bài viết có bút hiệu là Hà Sĩ Phu.

Và ai cũng tưởng “Hà Sĩ Phu” là… sĩ phu Bắc Hà.

Nhưng không phải.

Lần đầu tiên tiếp xúc qua điện thoại và trả lời cuộc phỏng vấn ngày 04 tháng 12, 1995, phát thanh trên đài VNCR 106.3 FM tại California, Hoa Kỳ, Hà Sĩ Phu nói với tôi: “Bút hiệu của tôi đã từng bị đưa ra thảo luận. Ông Đào Duy Tùng khi đi nói chuyện mọi nơi đã cáo buộc rằng, ‘có người xưng là sĩ phu Bắc Hà đòi dạy chúng ta về Mác-Lê nin!’ Rồi khi tôi bị Bộ Nội vụ gọi để thẩm vấn, thì Thiếu tướng Quang Phòng có hỏi tôi ‘lấy cái tên như thế anh định có ý gì?’ Ý ông muốn nói tôi dùng cái tên đó để làm khởi động, kích động cái tinh thần sĩ phu kiên cường trong nước chăng? Tôi trả lời là lối hiểu đó là do đòi hỏi của thực tế. Người ta hiểu thế là vì trong thực tế nó đặt ra vấn đề rõ như vậy. Và nếu tên tôi có đáp ứng nhu cầu đó thì tôi không phản đối gì cả. Thực sự ra khi tôi đặt tên đó thì họ Hà, chữ Hà đó là bộ Nhân đứng chứ không phải là bộ Thủy. “Nhân đứng” và chữ “Khả” có ý nghĩa là ‘thế nào?’ ‘là ai?’ ‘làm sao?’ – thì tên Hà Sĩ Phu tôi đặt nghĩa là ‘thế nào là sĩ phu?’ ‘ai đáng là sĩ phu?’ ‘hay làm gì có sĩ phu?’ – tức là sau đó phải đánh một dấu hỏi. Tôi không có ý khẳng định mình xứng đáng là một người sĩ phu của Bắc Hà đâu.”

Ông giải thích thêm, khi đặt bút danh cho mình là Hà Sĩ Phu, ông muốn tỏ những thao thức, trăn trở về tình trạng tụt hậu mọi mặt của Việt Nam và muốn tự nhắc mình về bổn phận và ý thức của người sĩ phu đối với con người và đất nước Việt Nam.

***

Hà Sĩ Phu, tên thật là Nguyễn Xuân Tụ, sinh năm 1940 ở Bắc Ninh. Tốt nghiệp Phó Tiến sĩ Sinh học tại Viện Hàn lâm Khoa học Tiệp Khắc. Về nước, Hà Sĩ Phu công tác tại Viện Khoa học Việt Nam. Từ năm 1988, Hà Sĩ Phu đã công khai chống lại chủ nghĩa và sự cai trị độc tài của Cộng sản Việt Nam. Những bài Hà Sĩ Phu viết như “Thằng Bờm,” “Biện chứng và Ngụy biện trong công cuộc đổi mới”; đặc biệt là bài “Dắt tay nhau đi dưới tấm biển chỉ đường của trí tuệ” và “Chia tay ý thức hệ” tạo ra nhiều tiếng vang lớn, trong cũng như ngoài nước.

Trong bài “Chia tay ý thức hệ” ông viết: “Không phải như Cộng sản thường nói rằng chủ nghĩa luôn luôn đúng, chỉ có con người thi hành sai mà ý thức hệ Cộng sản sai từ căn bản. Phải từ bỏ ý thức hệ đó thì mới xây dựng được đất nước.”

***

Một số đoạn trong bài phỏng vấn năm 1995:

Đinh Quang Anh Thái: Trong một bài của ông, ông viết rằng, dẫu còn điều kiện này hay điều kiện khác, vai trò lịch sử của trào lưu Cộng sản vẫn được mãi mãi ghi nhận. Và một đoạn khác ông nói, cùng với người hiệp sĩ ấy (ý ông ám chỉ người Sộng Sản) nhân dân ta đã có những ngày sống đẹp thanh khiết như thần tiên. Chúng tôi xin hỏi, ông ghi nhận những chuyện đó ở thời điểm nào? Ông cho ví dụ được không? Bà Dương Thu Hương thì đã có một giai đoạn gọi đó là một thứ thiên đường, về sau bà chua chát nhìn nhận đó là một “thiên đường mù.” Còn về phần ông, khi viết như vậy, ông muốn dùng uyển ngữ để gửi tín hiệu cho người đọc hay thực tâm ông nghĩ như vậy?

Hà Sĩ Phu: Những quá trình chuyển hóa hết sức là phức tạp. Đầu tiên là có sự xâm nhập và ký sinh của một thứ lý thuyết giai cấp cực đoan ảo tưởng phi khoa học, tức là cái dở. Nhưng nó ký sinh vào trong phong trào dân tộc. Và nó biến thành cái của dân tộc, mang thông điệp giải phóng của dân tộc. Đây là sự chuyển hóa đầu tiên. Lúc kháng chiến chống Pháp xong, lúc ấy cuộc sống còn nghèo, và cả đói nữa, cuộc thanh trừng giai cấp đã ló ra ở chỗ này, chỗ khác. Nhưng nhìn chung thì phải nhìn nhận rằng trong giai đoạn ngắn ngủi ấy, xã hội còn thanh bình, tình người còn trung hậu và xét trong số đông, tâm lý hồ hởi tin tưởng là có thật.

Về sau, do tính chất ảo tưởng cực đoan và phi khoa học của các học thuyết đó, cho nên nó thoái hóa, làm mất yếu tố tốt ban đầu, và biến những cái của dân tộc thành cái phi dân tộc và cản trở dân tộc. Thế rồi lại đến giai đoạn khác như hiện nay. Nhưng phải nhận rằng ngay trong tâm trạng bị vùi mình trong cái xấu như thế, thì một số các hạt nhân tinh hoa của dân tộc vẫn tồn tại chứ không mất đi. Và trong điều kiện như ở nước ta là một đảng đã nắm độc quyền lãnh đạo thì những hạt nhân bị vùi trong cái khối không tốt, chính họ chứ không phải ai khác, có khả năng bất ngờ tách ra, châm ngòi cho những cuộc đổi đời dân tộc một lần nữa để thanh toán cái xấu một cách hòa bình.

Tôi nghĩ nhận thức thực tiễn cũng như về phương pháp, tức là có cái phần gọi là sách lược, đều cần làm rõ điều này và thực tế ở thế giới, cũng như thực tế ở trong nước ta cũng dần dần xác định điều này. Thực tế, hiện nay những người bảo thủ ở nước ta sợ nhất khả năng chuyển hóa trong nội bộ của những nhân tố tốt đó. Cho nên họ cũng đề phòng kỹ lưỡng nhất cái khả năng này. Chỉ riêng điều ấy thôi, cũng cho thấy rằng nhận thức này, tức là nhận thức về yếu tố tích cực của phong trào Cộng Sản trong quá khứ không hề là một tư tưởng cải lương. Trái lại chính nó là một nhận thức mang xung lực mạnh mẽ nhất. Còn lối suy nghĩ có tính cách phân tuyến, đơn giản, một chiều, thì thoạt nghe có thể thấy là mạnh mẽ, có thể làm thỏa mãn một nhận thức chủ quan nào đấy, nhưng nó không phản ánh đúng cái bi kịch phức tạp của dân tộc, và do đó nó có ít khả năng tác động vào hiện thực.

Một nhà văn Cộng sản đã nói là “thế hệ chúng tôi ở tuổi 20 mà không theo Cộng sản thì không có tim, nhưng mà ở tuổi 50 mà còn theo Cộng sản thì lại không có óc.” Đấy, nhận thức nó lòng vòng như vậy, đâu có thể lấy hiện tại để làm chuẩn, để quy kết quá khứ hoặc là lấy quá khứ làm chuẩn để bênh vực hiện tại một cách suy diễn máy móc được.

Đinh Quang Anh Thái: Thưa ông, sau năm 1975, trong một lần nói chuyện với ông Vũ Sinh Hiên, một trí thức Công giáo và cũng là cây bút của Tạp chí Đứng Dậy, ông Hiên bảo tôi rằng, khi chọn thái độ ở lại để cộng tác với chế độ Cộng sản thì việc chọn đó là một “hành trình bắt buộc của trí thức.” Ông Hiên nói như thế sau khi đã tỉnh ngộ rồi. Câu tôi muốn được hỏi ông, là liệu người trí thức có phải chọn cái “hành trình bắt buộc” như ông Hiên nói hay không? Bởi vì theo chỗ tôi biết, có nhiều người ở lứa tuổi 20 đã sáng suốt để thấy rằng phong trào Cộng sản thực chất của nó không có gì tốt đẹp cả và nó chỉ đưa đất nước hoặc tập thể con người bị sự chọn lựa tới con đường đen tối thôi; như vậy không nhất thiết sự chọn lựa của lứa tuổi 20 theo con đường Cộng sản là phổ quát cho tất cả mọi người. Ông nghĩ sao?

Hà Sĩ Phu: Ý kiến của ông Thái có lý. Vì theo tôi nghĩ, sự chọn lựa đó là một sự chọn lựa của con tim, trong điều kiện là khối óc phát triển chưa tới. Cái đó, có thể nói là tình trạng DÂN TRÍ còn thấp. Và rất nhiều người trí thức mà ở trong một xã hội thông tin không đầy đủ, thì cái trí tuệ phát triển chưa tới. Tôi nghĩ là cùng trong giai đoạn đó rất nhiều nước văn minh va chạm với lý thuyết Cộng sản, nhưng họ không đi theo, họ có tin nhưng vì trí tuệ của họ đã phát triển cao hơn để họ không phải bước qua giai đoạn đó nữa.

Cho nên, thực ra, nếu nói đây là sự chọn lựa tất yếu, thì đó là sự chọn lựa tất yếu của những người trí thức nhưng mà trí tuệ phát triển chưa tới. Nếu đủ trí tuệ thì đã có thể tránh được [sự chọn lựa đó] rồi.

Đinh Quang Anh Thái: Trở lại một câu mà lúc nãy chúng tôi vừa mới trích dẫn trong bài viết của ông, là “cùng với người hiệp sĩ ấy nhân dân ta có những ngày sống đẹp như thần tiên,” thì khi viết như vậy, ông có nghĩ rằng ông đã xúc phạm đến vong linh hàng triệu nạn nhân đã lót đường cho chủ nghĩa mà bây giờ chính ông, ông cũng đang chống lại không?

Hà Sĩ Phu: Lúc nãy tôi có nói là dân tộc mình trải qua một quá trình vận động hết sức phức tạp của lịch sử. Cho nên cái lối tư duy phân tuyến đơn giản chia thành hai gói: một gói trắng, một gói đen, một gói phải, một gói trái, một gói chính, một gói tà; rồi trắng là trắng hết ngay từ đầu, đen là đen hết ngay từ đầu; thì thực sự ra nó không phản ánh đúng thực tiễn. Không phải vì tôi và anh đối địch, mà về sau là cứ khen bất cứ cái gì của tôi là xúc phạm tới anh; bởi vì trong tôi có cái đúng, cái sai. Và trong tôi, đâu phải là cá nhân tôi, còn cả tập đoàn của tôi có người thế này, thế kia. Bởi vậy khi mà khẳng định có những ngày sống đẹp, xin hiểu như thế này, cái đẹp đó là cái đẹp không trần tục, không phải là cái đẹp thực tế. Cái đẹp thần tiên làm sao tồn tại trên trần gian được? Cái đẹp đó được nẩy sinh trong điều kiện đơn giản, còn nghèo khó, còn ảo tưởng, chứ khi tiếp xúc với cuộc sống thực tiễn thì nó bị đẩy lui. Vì đó là cái đẹp mong manh của giai đoạn chưa phát triển. Thứ đến là có cái tốt lẫn cái ngộ nhận của dân tộc. Thế nhưng khi khẳng định mặt mà ta còn có thể coi là tích cực đó thì không hề có ý là phủ định những mầm mống sai lầm đã có ngay từ đầu.

Như tôi đã nói lúc đầu, trong lúc đa số có một sự hồ hởi như thế, thì một cuộc thanh trừng giai cấp có thể đã nổ ra ở một chỗ nào đó nhưng nó chưa chi phối tình hình tâm lý chung của cả nước. Vậy giữa cái sai và cái đúng, giữa mặt tích cực và tội lỗi, nó xen kẽ cùng một lúc, cho nên khẳng định vấn đề ở chỗ này, không có nghĩa là phủ định một vấn đề ở chỗ khác. Tôi nghĩ rằng, trong tình hình phức tạp đó, khi khẳng định mặt tốt trong đó có yếu tố dân tộc tham gia, tôi không hề có ý định phủ định các tội lỗi mà một bộ phận hay chính các thế lực ấy gây ra ở chỗ khác. Tôi nghĩ là hai cái đó không có gì mâu thuẫn nhau.

***

Hà Sĩ Phu là một trí thức sinh ra, lớn lên, chứng nghiệm Xã hội Chủ nghĩa Cộng sản bằng chính bản thân mình. Không thù hận, không báng bổ, ông từ tốn, lột trần bản chất của cái chủ nghĩa đang bị nhân loại vất vào thùng rác của lịch sử.

Trong nước, Hà Sĩ Phu trăn trở như thế. Ở hải ngoại, nhà thơ Lê Bi, một cựu sĩ quan Việt Nam Cộng hòa, cũng trăn trở khi đặt bút viết bài thơ BỨC TƯỜNG BÁ LINH CÓ THẬT vào năm 1999, trong bối cảnh người dân cả khối Đông Âu và Liên Xô đứng lên lật đổ các chế độ Cộng sản cai trị những đất nước này.

Bức tường Bá Linh có thật

Rất thật

Nhưng khi vỡ, nó vỡ như mơ

Rất mơ

28 năm lõa lồ trên mặt đất

Mất hôm qua hay tự bao giờ.

Đừng gởi về Việt Nam bất cứ viên gạch nào

của bức tường Bá Linh

Nó có thể làm tủi cả dòng sông Bến Hải

Đừng để lịch sử phải khóc

dù thời gian không thể quay đầu lại

Và mỗi người Việt Nam sẽ biết thêm

cái giá thống nhất nước mình.

Có những người đập phá bức tường

bằng tất cả niềm vui

Mà không kinh ngạc

Cũng chẳng ai thấy điều gì mất mát

Để chúng ta hiểu đó chỉ là chuyện bình thường

Khi con người bắt đầu đứng lên

đòi quyền sống thật

Ngay cả những giấc mơ cũng có thể bước ra đường

Mọc lên trăm ngàn ngọn nến

Những ngọn nến lung linh

Cả nước Đức phải thức

bước tới tương lai

Và trời sao cúi thấp

Chen lấn với người

Tôi cũng thức

Những cơn gió mùa thu 1989 làm rộn ràng nước Đức

Và tôi vội vàng giấu đi nước mắt

Những giọt nước mắt nuốt ngược ruột gan

Tôi ngoài Việt Nam ngoài nước Đức

Những cơn gió rộn ràng thổi ngoài Việt Nam

Gió ngoài Việt Nam

Rất ngoài Việt Nam.

Bức tường Bá Linh có thật

Quá thật

Bao nhiêu năm tôi mới có lần nhìn gần nước Đức

Nhìn từ cái búa cái đục

Trong tay những kẻ vô danh

Cũng cao hơn biết bao tầm nhìn trí tuệ

Khi thế giới chuyển mình nhìn nó đổ

Gạch đá cũng vui

Khi nhân loại tung lên những nụ cười

Một khoảng trời sao không thể ngủ

Khi những con người khám phá ra

quyền sống bình thường

Thở bình thường

Nói bình thường

Đi lại bình thường

Nước Đức không thể ngủ

Có những góc cạnh không thể ngủ

Những bản tin trên màn ảnh nhỏ

như những ngọn đèn không thể ngủ

Tôi không thể ngủ

Khi những ngọn đèn vẫn mọc ngoài Việt Nam

Chiếu sâu vào quá khứ

Tra tấn Việt Nam.

28 năm quá dài cho những kẻ đợi chờ

28 năm và 42 cây số quá ngắn

để che giấu cho một thời đại

Hãy giữ những phần còn lại

Giữ mãi

Như những bức tượng thời Trung cổ

Làm di tích

cho cả loài người.

Đừng, đừng nói với Việt Nam bất cứ một tin tức gì

về bức tường Bá Linh

Nó có thể làm Trường Sơn vùng lên tức tưởi

Những bà mẹ không thấy xác đàn con

Những oan hồn

không chiều dài chiều cao chứa nổi.

Hãy cứ để nó sần sùi

Ôi những tảng gạch vô tri vô giác

Đã thành não trạng của những niềm vui

Vừa tự vỡ.

28 năm cuộn tròn

28 năm không ngẩng mặt

Không dài hơn sông Bến Hải

Không cao hơn Trường Sơn

Hạnh phúc cho nước Đức

Đã dạy bao người bước qua ô nhục

Mà không phải hận thù

bạo lực

Và dạy tôi phải nuốt những giọt nước mắt

Giữa những niềm vui.

Nước Đức ở quá xa

Mưa tháng 11 quá xa

Tôi không ở gần được ôm được khóc

Hạnh phúc cho nước Đức

Và trận chiến không tốn máu xương

Và tất cả được sống bình thường

Hạnh phúc cho những bông hoa

Có thể chuyền tay cho bất cứ ai xa lạ

Những bông hoa may mắn hơn chán vạn hoa

Trong chốc lát bỗng nhiên thành cột mốc

Đón sự thật ùa ra.

Bức tường Bá Linh có thật

Nó có thật tự bao giờ?

***

Ngày mùng 5 tháng 12, 1995, đúng hai ngày sau khi trả lời phỏng vấn của đài VNCR, ông Hà Sĩ Phu bị bắt tại Hà Nội.

Phóng viên thường trú Robert Tampler tại Hà Nội của hãng thông AFP gọi điện thoại hỏi tôi, có phải vì bài phỏng vấn mà Hà Sĩ Phu bị bắt không? Tôi nói, tôi không nghĩ đó là nguyên nhân khiến Hà Sĩ Phu bị bắt.

Sáu ngày sau, sáng ngày 12 tháng 12, một bản tin khá dài, đánh đi từ Hà Nội, của hãng thông tấn quốc tế AFP, tường thuật vụ Hà Sĩ Phu bị Cộng sản Hà Nội bắt.

Mở đầu, bản tin AFP viết: “Hà Sĩ Phu bị công an ở Hà Nội bắt giữ, trên đường trở về thành phố Hồ Chí Minh vào ngày mùng 5 tháng 12, một ngày sau khi một đài phát thanh ở hải ngoại phát đi cuộc phỏng vấn trong đó ông kêu gọi chính phủ Mỹ khoan hãy cho Hà Nội quy chế tối huệ quốc.”

Phóng viên Robert Tampler của AFP từ Hà Nội gọi điện thoại tới đài VNCR để kiểm chứng về bài phỏng vấn và hỏi về lý do của vụ bắt bớ này. Tôi trả lời, và AFP tường thuật trong bản tin là VNCR không nghĩ rằng việc phát thanh bài phỏng vấn đã đưa tới việc Hà Nội bắt giữ ông Hà Sĩ Phu. Tuy nhiên, bản tin AFP không tường thuật đầy đủ luận cứ của VNCR: VNCR đã phỏng vấn nhiểu người ở trong nước, chứ không chỉ có Hà Sĩ Phu. Trước ông, VNCR đã phỏng vấn ông Nguyễn Hộ, một đảng viên Cộng sản từng giữ nhiều chức vụ quan trọng trong đảng và nhà nước Việt Nam Cộng sản. Sau ông, VNCR phỏng vấn nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự, tác giả cuốn truyện “Nửa Đời Nhìn Lại”, trong đó ông tỏ ra hối hận đã tin theo Cộng sản.

Về phần phân tích, bản tin AFP đưa ra sự kiện gần đây Hà Nội tiến hành nhiểu cuộc xử án và bắt bớ những thành phần chống đối trong nước, cho thấy Cộng sản Hà Nội thực sự e ngại sự chống đối này có thể trở thành phong trào, từ đó gây nguy hại cho chế độ.

Sau khi bản tin của AFP đánh đi khắp nơi trên thế giới, hai cơ quan tranh đấu cho nhân quyền là Amnesty International, trụ sở tại London, Anh Quốc, và Human Rights Watch/Asia, trụ sở tại Washington DC, đã liên lạc với VNCR để hỏi thêm chi tiết nội vụ và xin kẻ viết bài này bản ký chú cuộc phỏng vấn Hà Sĩ Phu.

Human Rights Watch/Asia sau đó cho biết, Hà Sĩ Phu bị bắt vào hồi 2 giờ chiều ngày mùng 5 tháng 12 nhân khi ông thăm viếng thân nhân ở Hà Nội. Ngày mùng 6 và mùng 7 tháng 12, công an lục soát nhà ông ở Đà Lạt, tịch thu hơn ba ngàn trang bản thảo và tài liệu, trong đó có một bài viết của ông Võ Văn Kiệt gửi Bộ Chính trị đảng Cộng sản Việt Nam bàn về chiến lược chuẩn bị cho Đại hội 8 của đảng này.

Nhà báo Huy Đức, trong cuốn Bên thắng cuộc, viết về vụ bắt Hà Sĩ Phu: “Ngày 5-12-1995, ông Hà Sĩ Phu, tác giả của nhiều bài chính luận sắc sảo được truyền đọc ở thời điểm ấy, đang đi xe đạp trên đường phố Hà Nội thì bị hai người đi xe máy chèn ngã. Ông Hà Sĩ Phu kêu to: ‘Ăn cướp! Ăn cướp!’ Lập tức công an xuất hiện. Thay vì bắt ‘cướp’, công an đã đưa Hà Sĩ Phu về đồn, khám túi xách, phát hiện bản sao chép thư gửi Bộ Chính trị ngày 9-8-1995 của ông Võ Văn Kiệt. Hà Sĩ Phu khai tài liệu này ông lấy từ ông Nguyễn Kiến Giang; ông Giang khai lấy từ ông Lê Hồng Hà, một cán bộ lão thành, từng là Chánh văn phòng Bộ Công an và trước đó, từng là giám đốc trường Đào tạo sĩ quan công an 500. Ba người có liên quan đến tài liệu này đã bị bắt ngày 6-12-1995.”

Ngày 22 tháng Tám, 1996, Tòa án Hà Nội xử ông Lê Hồng Hà hai năm tù, Hà Sĩ Phu một năm tù và Nguyễn Kiến Giang 15 tháng tù treo.

***

Hà Sĩ Phu được thả ra khỏi tù ngày 5 tháng 12, 1996, sau một năm bị giam giữ vì tội bị chế độ quy chụp là “có hành vi phát tán tài liệu bí mật của nhà nước.”

Thời gian ông Hà Sĩ Phu nằm tù, tôi thường xuyên điện thoại về Việt Nam hỏi thăm tình trạng sức khỏe của ông qua “Nhóm Đà Lạt” gồm nhà thơ Bùi Minh Quốc, nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự và nhà văn Hoàng Tiến, nhà thơ Hoàng Cương, tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang ở Hà Nội.

Khoảng hai tuần trước khi ông được thả, nhà báo Như Phong Lê Văn Tiến bảo tôi, có cách nào gợi ý với những anh em dân chủ trong nước tổ chức đến đón Hà Sĩ Phu ngay cổng trại giam không. Ông Tiến bảo, hành động này đã từng được những người đấu tranh tại các nước Cộng sản Đông Âu áp dụng. “Có tác dụng mạnh đối với quần chúng,” ông Tiến bảo tôi thế.

Như Phong Lê Văn Tiến là “nhà báo của các nhà báo,” theo cách gọi của nhà bình luận Ngô Nhân Dụng. Ông Tiến, tôi gọi bằng “cậu Tiến,” và cậu xem tôi như con của cậu. Lúc Hà Sĩ Phu bị bắt, hai cậu cháu chúng tôi ở cùng một mái nhà trong căn mobil home tại Quận Cam, California. Vì vậy, những lần tôi tiếp xúc bằng điện thoại với các nhân vật đấu tranh dân chủ tại Việt Nam, cậu luôn góp ý với tôi về nội dung các cuộc phỏng vấn. Vì cậu là chuyên gia hàng đầu trong lãnh vực “Cộng sản học” thời trước 1975 ở Sài Gòn, nên cậu biết khá tường tận người và việc của xã hội miền Bắc.

Phỏng vấn nhà văn Hoàng Tiến, ông bảo, Hà Sĩ Phu là người theo đuổi “nghĩa lớn” của dân tộc, mà đã làm vì “nghĩa lớn” thì phải chấp nhận hy sinh thôi. Ông nói thêm, chính bản thân cũng có một thời mê đắm chủ nghĩa Cộng sản, nhưng sau thấy “cái ác” của nó, ông dứt khoát từ bỏ, và bây giờ ông trở thành người tu đạo Phật tại gia. Và ông tin có nhân có quả, nên “Hà Sĩ Phu dấn thân vì nghĩa lớn, sẽ không có vấn đề gì đâu.”

Ý do cậu Tiến gợi, là “tổ chức đón Hà Sĩ Phu ở cổng trại giam,” tôi có trao đổi với ông Hoàng Tiến và nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự.

Ngày Hà Sĩ Phu ra tù, ngay trước cổng trại giam Thanh Xuân, đón Hà Sĩ Phu gồm: bà Thanh Biên (vợ Hà Sĩ Phu), ông đồ Nghệ An Tú Sót với một câu đối chữ Nho, người bạn Hữu Tiến từ Hải Phòng, và mấy người ruột thịt trong gia đình. “Phái đoàn” đón thẳng Hà Sĩ Phu về quê Thuận Thành-Bắc Ninh, nghỉ một ngày rồi đi máy bay vào Sài Gòn, rồi hôm sau đi máy bay lên Đà Lạt, tránh không dừng lại ở Hà Nội vì để giữ an toàn.

***

Ngày 11 tháng Bảy, 1995, Tổng Thống Bill Clinton tuyên bố chính thức bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Cộng Sản Việt Nam.

Trước tin hai kẻ cựu thù Washington và Hà Nội bắt tay nhau chấm dứt những năm tháng dài đối đầu thù nghịch, nhiều người cho rằng, thế là lại thêm một lần nữa, Mỹ hà hơi tiếp sức cho chế độ độc tài toàn trị để tập đoàn lãnh đạo củng cố quyền lực của nó; nhưng cũng nhiều người cho rằng đây là cơ hội tốt để có thể phát động rộng lớn tinh thần đấu tranh đòi dân chủ.

Hà Sĩ Phu nhận định ra sao về vấn đề này? Ông nói, trong cuộc phỏng vấn do tác giả thực hiện ngay sau khi có quan hệ bang giao Washington – Hà Nội:

a) Nếu đối với một đối tượng giáo điều cứng ngắc, phi lý, phi quy luật như trước đây thì cách hóa giải rất là dễ. Bởi vì nó phi thực tế, phi quy luật. Cho nên bây giờ cứ bình thường hóa mọi điều đưa nó trở về với xã hội thông thường, với quy luật là nó tự bộc lộ cái tính phi lý và tự tan rã.

b) Nhưng hiện nay đối tượng ấy đã thức tỉnh, biết triệt để lợi dụng các quy luật, lợi dụng thế thượng phong của người đã nắm quyền lực và tận dụng thực trạng tâm trí để thực hiện ý định của mình, thì việc hóa giải nó không dễ dàng chút nào. Vì thế cho nên việc bình thường hóa với thế giới, đặc biệt là bình thường hóa toàn diện với Hoa Kỳ không hẳn là đơn giản.

Tôi nghĩ việc bình thường hóa là một cái sàn đấu mà mọi đấu thủ cuối cùng đều phải trở về đấy, đều phải chọn cái đó, không thể nào khác được. Các đấu thủ đều phải trở về đó để đấu, nhưng cái sàn đấu ấy không phải thuận lợi riêng cho ai. Tại sàn đấu ấy, mọi cuộc đấu ấy sẽ bắt đầu, còn việc thắng thua vẫn còn ở phía trước. Bởi tự cái sàn đấu ấy nó không quật ngã ai cả, mà cũng không phải là nó dành sẵn huy chương vàng cho ai. Cho nên, việc bình thường hóa tự nó chưa mang một ý nghĩa [thuận lợi] cho bên này, hay bên kia. Vấn đề là tạo nên thực lực, vận động cho phong trào dân chủ mà thôi.

Thứ nữa, riêng về phía người Mỹ, chúng tôi không có ảo tưởng về chuyện này nhiều lắm. Nếu ở trong nước có một phong trào đấu tranh giữa dân chủ và phi dân chủ mạnh mẽ, thì tôi nghĩ rằng cái thái độ của Mỹ rất rõ, tức là ủng hộ phía dân chủ. Nhưng nếu tình hình của ta quá bê bết chẳng hạn, thì tôi nghĩ các nhà tư bản nói chung và Mỹ nói riêng cũng không dại gì chuốc lấy việc đương đầu với nhà nước Cộng sản làm gì.

Có người lại còn bình như thế này: Một anh tư bản nước ngoài muốn vào khai thác tận dụng các điều kiện sinh lợi ở các nước khác thì nó cần một chính phủ để ủng hộ nó. Thế là có khi làm việc với một chính phủ Cộng sản độc tài lại hay hơn bởi vì, chính phủ Cộng sản đã chi phối toàn bộ quần chúng rồi, nắm được chính phủ đó tức là dân chúng chẳng còn gì có thể gây trở ngại cho họ nữa. Bởi vậy họ muốn đàn áp bóc lột, nếu dân có biểu tình [phản đối], thì lập tức chính phủ ấy đã đứng ra đàn áp rồi. Còn nếu mà phong trào trong nước chưa có gì, thì chưa hẳn Mỹ và Cộng sản đối địch với nhau đâu. Có khi họ lại hợp tác với nhau rất là ngon lành cũng nên. Vì thế, việc bình thường hóa tự nó chưa đem lại sức mạnh gì quyết định nhưng mà phải công nhận nó là cái sàn đấu rất là thuận lợi cho dân chủ.

***

Trong nhiều năm, một số các tổ chức người Việt tỵ nạn Cộng sản tại hải ngoại liên tục tranh đấu để chế độ Hà Nội phải bỏ điều 4 Hiến Pháp (quy định vai trò cai trị độc tôn của Đảng) và tiến tới một cuộc bầu cử có quốc tế giám sát để người dân dùng lá phiếu quyết định thể chế chính trị của Việt Nam.

Tôi nêu vấn đề này với Hà Sĩ Phu.

“Về vấn đề này tôi thấy không nên nhận định tình hình theo cảm tính, theo nguyện vọng [của mình], mà phải theo đúng cái thực tế đang có. Nếu ở tình trạng như hiện nay, dẫu có một cuộc bầu cử hoàn toàn tự do, ngay đến cả có quốc tế giám sát chăng nữa, thì đảng Cộng sản vẫn có nhiều khả năng thắng phiếu, vì bốn lý do như thế này:

1) Người dân chỉ đòi hỏi những thay đổi nếu thấy không thể nào sống như cũ được nữa. Ví dụ: một đứa trẻ khi nó thấy cái giường của nó chật hẹp quá, nó mới nhảy xuống đất nằm. Còn lúc đứa trẻ chỉ mới biết bò thôi, thì được nhảy từ cái nôi sang cái giường, không gian của cái giường đối với nó như thế đã là đủ rồi. Bởi vậy, trước đây có sự o ép rất là triệt để, bây giờ nới ra một tí tẹo, đối với dân trí thông thường người ta thấy như thế là tạm đủ rồi. Như vậy, nhu cầu gọi là phá cái giới hạn đó, để đến một không gian dân chủ tốt hơn, thì hiện nay mới có ở thành thị và một số trí thức tiên tiến thôi.

2) Đối với số đông dân cư ở các vùng nông thôn, ở miền núi, thì người dân ở đó chưa biết cái gì tồn tại ở trên đời, ngoài đảng Cộng sản Việt Nam. Cho nên, ở các thành phố lớn, tình hình mới có thể đảo ngược. Còn khi tự do bầu cử thì ở nông thôn họ chưa chắc biết cái mới là cái gì đâu.

3) Sống quá lâu trong điều kiện dân chủ giả, dân ta đã có thói quen coi thường lá phiếu, không biết phải thực hiện quyền dân chủ bằng lá phiếu của mình. Cho nên họ coi đây là một thủ tục rất là hình thức, đi làm cho qua chuyện. Bao nhiêu năm nay bầu cho ai mà chả thế? Cho nên bây giờ nếu không được chuẩn bị, cứ thế mà tổ chức bầu cử, thì chả có cái trách nhiệm cân nhắc kỹ trong chuyện lựa chọn lá phiếu.

4) Tôi thấy cái thực tế do đảng Cộng sản [tạo nên] trong những năm vừa rồi đã khiến cho không có một tổ chức nào, không một nhân tài xã hội nào được phép nẩy nở, bên ngoài vòng tay của đảng. Hiện nay cũng không có đối tượng nào được phơi bày ra trong nước để người ta kén chọn. Như vậy, nếu cứ giữ nguyên trạng như thế này để mà bầu cử thì dù có dân chủ cũng chưa có triển vọng gì là tốt đẹp.”

***

Tháng Bảy, 1995, Hà Sĩ Phu nhận định như thế về mối quan hệ Washington và Hà Nội.

Tháng Sáu 2018, trong email gửi cho tôi, Hà Sĩ Phu viết: “Nhận định của mình năm 1995 đến nay vẫn đúng: Nếu tiến hành trưng cầu dân ý hoặc tổ chức bầu cử tự do ngay bây giờ thì ĐCS vẫn có thể dùng những thủ đoạn để giành phần thắng vì số dân thờ ơ với vận mệnh đất nước vẫn chiếm số đông hơn, và nhiều người (kể cả cán bộ, đảng viên có chút tỉnh ngộ), vẫn bị tiêm nhiễm bởi những luận điệu lâu đời của CS, nhất là từ thần tượng ảo HCM! Nhưng điều này mới là quan trọng: nếu để cho xã hội có một quá trình chuẩn bị sinh hoạt dân chủ thì tình hình sẽ khác hẳn. Thí dụ: nếu để một năm [cho mọi người dân] có sinh hoạt dân chủ thật thì lúc ấy tình hình bầu cử hay trưng cầu dân ý có thể đảo ngược.

Năm 2009, trong cuộc phỏng vấn đăng trên báo Người Việt xuất bản tại California, kẻ viết bài này nêu câu hỏi với ông Hà Sĩ Phu: Đảng Cộng sản Việt Nam hiện sợ gì nhất, ông nói:

“Những nhà lãnh đạo Việt Nam lo sợ trước sự đồng thuận và liên kết của các tầng lớp trí thức và nhân dân, lo sợ trước sự xuất hiện của các tổ chức, thậm chí các đảng phái… nhưng gom lại vẫn chỉ nằm trong hai nỗi lo sợ lớn mà thôi: lo sợ làn sóng dân chủ và lo sợ làn sóng chống Trung Quốc.

“Hai mối lo ấy bắt nguồn từ hai vấn nạn căn bản nhất của xã hội Việt Nam hiện nay là không dân chủ và không độc lập. Muốn có dân chủ phải chống lề thói toàn trị. Muốn có độc lập phải chống nạn Bắc thuộc đang hiện hình.”

Đa số đồng bào mình có nhìn thấy “hai nỗi lo sợ” ấy của đảng Cộng sản không?

“Hai mặt trận đấu tranh hiện nay của nhân dân có hai kẻ thù đều là giặc: giặc NỘI XÂM và giặc NGOẠI XÂM. Hai giặc này đang liên kết với nhau và sử dụng nhân dân hai nước hòng củng cố quyền lực và làm giàu.

“Như tôi đã nói nhiều lần, Chủ nghĩa Cộng sản ngự trị được ở Việt Nam là do ký sinh vào Chủ nghĩa Yêu nước, hút sinh lực từ lòng yêu nước của nhân dân. Trước đây nhiều người đã nghĩ rằng đất nước sẽ dần dần thoát khỏi chủ nghĩa ảo tưởng phi khoa học ấy bằng con đường Dân chủ hoá và Đổi mới toàn diện. Nghĩ thế cũng đúng nhưng chưa thật trúng. Ngày càng rõ rằng chủ nghĩa ấy đã vào bằng đường nào sẽ phải ra bằng đường ấy: đã mượn đường giành độc lập để vào thì sẽ bị trào lưu giành độc lập bảo vệ dân tộc trục xuất, ‘tiễn đưa’ ra. Sự có mặt của chủ nghĩa Trung Hoa trên đất nước này phải chăng là do trời đất xui khiến đến như một nhân tố tiền định để hoàn thành cho xong công đoạn tống xuất có tính lịch sử ấy? Hoặc là dân Việt Nam sẽ có cả độc lập và dân chủ trong sáng hoặc là mất trắng cả hai. Những lời “canh bạc cuối”, “tỷ lệ năm ăn năm thua” thiêng như lời sấm vậy, báo hiệu mọi điều đều có thể xảy ra.”

Thưa ông, hai cuộc “rước” chủ nghĩa và “tiễn” chủ nghĩa ấy có gì khác nhau?

“Đã bị nạn ngoại xâm (dù kiểu cũ hay kiểu hiện đại) thì nhân dân đều mất quyền làm chủ đất nước và đều gọi tắt là mất nước. Nhưng thời thuộc Pháp ta chỉ mất nước nhưng không mất dân tộc, vì Pháp không có khả năng đồng hoá dân tộc Việt Nam. Một khi dân tộc còn thì lòng yêu nước vẫn còn, và còn khả năng kháng chiến để giành lại nước. Nhưng ngày nay, nếu mất nước thì e sẽ mất luôn cả dân tộc tính! Chưa cần chứng minh bằng cách đi sâu vào lý luận, vào giáo lý Khổng Mạnh và văn hóa Trung Hoa. Chỉ cần tưởng tượng hàng vạn (biết đâu sẽ không hàng triệu) người Tàu tràn vào, lúc đầu là chiếm chỗ lao động rồi ở lại, mỗi chàng lấy một, hai hoặc ba người vợ Việt Nam bất cứ già trẻ miễn có thể sinh đẻ (hiện tượng này đã xảy ra rồi). Rất nhiều phụ nữ Việt Nam đang nghèo đói, lấy Tàu tại chỗ chẳng hơn phải sang làm nô lệ tình dục ở tận Đài Loan, Nam Hàn, Campuchia… ư? Những đứa trẻ sinh ra sẽ là Tàu hay là Việt, có lòng yêu nước nữa không, yêu nước Tàu hay yêu nước Việt?

“Bị Hán hoá là mất dân tộc. Mất dân tộc thì đau đớn hơn mất nước vì không bao giờ tìm lại được đất nước nữa mà vĩnh viễn trở thành quận huyện! Suốt bốn nghìn năm lịch sử Việt Nam, người Tàu không thực hiện được điều này, vì khi xưa còn thiếu một chủ nghĩa “Quốc tế Vô sản Đại đồng” để tiếp tay cho những kẻ thống trị (mà Mác vẫn tưởng là mình tiếp tay cho dân nghèo), cái chủ nghĩa giúp người nọ chiếm của người kia, nước nọ chiếm của nước kia cứ ngọt sớt, nó có tài biến sự chiếm đoạt thành sự tự nguyện hiến dâng, nó cứ nhân danh một người nào đó là y như rằng sẽ chiếm lĩnh được người ấy, thôn tính được người ấy. Không có chủ nghĩa Mác thì người Trung Hoa làm sao ký được 16 chữ vàng để ùa một cái tiến vào tận gan ruột Tây Nguyên giữa nước Việt Nam?”

Theo nhận định của ông, não trạng của giới lãnh đạo hiện nay tại Hà Nội ra sao mà họ lại để Trung Quốc hành xử ngày càng ngang ngược với Việt Nam, im lặng để “tàu lạ” bắt giữ, ngăn chặn ngư dân Việt Nam đánh cá trong vùng biển thuộc chủ quyền của tổ quốc chúng ta?

“Mặc dù biết sự tha hoá của quái ác quyền lực (nghĩa là khi có quyền lực người ta có thể biến chất thành một cái gì hoàn toàn khác, Lênin cũng nói vậy), nhưng tôi không tin rằng tất cả những người cầm quyền có thể đồng thuận một cách sai trái trước một nguy cơ quá lớn mà lại quá sơ đẳng như vậy. Nhất định trong thâm tâm một số người có sự giằng xé, nhất định trong nội bộ phải có sự phân liệt ý kiến. Nhưng tại sao cuối cùng ‘con tàu’ vẫn cứ một chiều lao tới không thể dừng?

“Chỉ có thể giải thích rằng yếu tố ngoại lai quá mạnh. Kẻ đã yếu bao giờ cũng phải lo xa, nhưng nhà nước Việt Nam toàn đi nước cờ muộn màng, luôn ấu trĩ ảo tưởng nên bị lừa rất sớm. “Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn” huống chi một chú nai vàng ngơ ngác đã bị con báo nhảy lên lưng?

“Điều nguy hiểm là tình thế đã muộn, khó gỡ lại đang bị đẩy cho tăng tốc, dồn dập, cấp tập, cốt tạo ra sự đã rồi, để tình thế không thể đảo ngược! Đã tàn ác thì phải tàn ác cấp tập ngay từ đầu, để sau đó sẽ nới ra một chút để tỏ lòng nhân ái, ấy là mẹo Machiavel. Thế nước như vậy chỉ có nhân dân mới làm thay đổi được. Nhân dân như vị tướng tài, như người khổng lồ vẫn bị giam lỏng, có thả vị tướng ‘vạn địch nhân’ này ra mới cứu được nước.”

Trước tình hình Trung Quốc ngày càng tỏ dấu hiệu bá quyền với Việt Nam, đồng bào mình trong và ngoài nước có thể làm được gì?

“Theo thiển ý, chúng ta cần làm cho mọi người Việt Nam tỉnh giấc để nhận ra tình huống rất bất thường của dân tộc mình trước nạn nội xâm và ngoại xâm đang ráo riết câu kết, đang có nguy cơ trở thành “sự đã rồi”. Lịch sử không cho thoát một ai, không châm chước cho ai ngủ gật hay giả vờ ngủ gật, hoặc thế này, hoặc thế kia đều phải trả giá trước lương tâm và trước lịch sử.

“Chỉ có nhân dân mới cứu được nước. Cần phát triển một xã hội dân sự cường tráng mới phát huy được sinh lực của dân.

“Cần dẹp mọi tị hiềm, mọi thù oán cũ để hướng vào vận mệnh đất nước, không hy sinh được một chút niềm riêng thì đừng nói chi điều đại nghĩa?”

***

Có lần trong cuộc trò chuyện điện thoại, Hà Sĩ Phu nói rằng “Chủ nghĩa Cộng sản đã vào Việt Nam bằng con đường lén lút; nó lẩn vào công cuộc chống Pháp của toàn dân chứ không qua sự nhận thức của trí tuệ. Bây giờ, giới lãnh đạo Hà Nội nếu khôn ngoan thì nên chính thức làm lễ tiễn cái chủ nghĩa này ra khỏi đất nước. Nếu không, đến một lúc nào dân tộc không còn chịu đựng được nữa thì cuộc nổi dậy sẽ đánh đuổi nó (Chủ nghĩa Cộng sản) như một tên ăn cắp.”

Đ.Q.A.T.

Nguồn: https://www.voatiengviet.com/a/ha-si-phu-dat-tay-nhau-duoi-bien-chi-duong-tri-tue/4572093.html

MỘT ĐỊNH NGHĨA QUÁ KINH KHỦNG

Phan Thị Hồng and Kevin Nguyen shared a post.
Image may contain: 1 person

Lê Ngọc Thanh is with Ngô Nhật Đăng.

MỘT ĐỊNH NGHĨA QUÁ KINH KHỦNG

Vừa đọc một stt về các bài viết của nhà văn hóa Phạm Quỳnh trên trang của anh Ngô Nhật Đăng, thấy có một định nghĩa gọi là “khoa học” về “chuyên chính” quá ghê, nên copy lại để mọi người đọc và gẫm thêm:

“Định nghĩa khoa học về chuyên chính là: Một quyền lực không bị hạn chế bởi bất cứ pháp luật nào, không bị ràng buộc bởi bất cứ quy tắc nào và trực tiếp dựa vào sức mạnh – Lenin, Nhà nước và cách mạng”.

Sẽ dạy tiếng Hoa từ lớp 1

Vũ Đình Hưng

Thay đổi chữ viết, rồi thay đổi cách phát âm, giờ là cho học sinh lớp1 học tiếng Hoa trong khi nó lại không phải là ngôn ngữ được quốc tế sử dụng làm ngôn ngữ giao tiếp chung, lại thêm cả việc cho sử dụng tiền nhân dân tệ ở 7  tỉnh biên giới và mới đây 1  công ty bảo hiểm VN hợp tác với 1  công ty bảo hiểm của tàu. Từ những sự việc trên thì đơn giản và dễ hiểu là tàu+ đang từng ngày từng tháng từng năm đồng hoá dân tộc VN và được tiếp tay bởi đảng cs
NEWS.ZING.VN
Theo dự thảo mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tiếng Hoa sẽ được dạy từ bậc Tiểu học, Trung học cơ sở. Ngay từ lớp 1, học sinh đã tiếp cận với môn học này.