Tại Thiên đình, sáng nay 24/9/2018, một nhóm người lố nhố đứng chờ Chủ tịch nước Trần Đại Quang. Một thanh niên xuất hiện, người quản lý hỏi:
– Anh tên là Trần Đại Quang?
– Vâng.
– Anh là Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam?
– Không, tôi là kẻ giết người. Tôi giết con gái người tình già trong vụ việc ở vùng ven Hồ Chí Minh. Xét xử tử hình ngày 3/2/2015, Báo Lao động đã đưa tin các ông không đọc à?
– Vậy sao mày lên được đây? Tội mày phải đày xuống địa ngục cho quỷ xé thịt chứ lên đây được à?
– Vâng, tôi đã bị đày dưới địa ngục, nhưng bỗng dưng hôm qua thấy sạch hết tội lỗi và được đưa lên đây. Tôi hỏi lại thì mới biết có một đám sư hết sức đông đảo cầu siêu cho tôi . Nhờ đám đó mà tôi được siêu thoát đấy. Tôi chưa kịp về cảm ơn họ.
– Đâu có, người ta cầu siêu cho Chủ tịch nước Trần Đại Quang chứ đâu cầu cho mày? Nhố nhăng, mày định gian lận nơi cửa Thiên đình à?
– Thưa không, rõ ràng là họ cầu siêu cho tôi, sư ông còn réo tên tôi cả ngày hôm qua. Đúng tên tuổi, ngày sinh tháng đẻ mà. Tôi có biết thằng cha chủ tịch nước là thằng nào đâu.
Cả Thiên đình náo loạn, người nọ hỏi người kia, bộ phận lưu trữ tài liệu sổ sách và Nam Tào được kêu đến.
Nam Tào hỏi:
– Mày tên tuổi gì, sinh ngày tháng năm nào?
– Tôi tên Trần Đại Quang, sinh ngày 12/10/1956 tại Hồ Chí Minh. Giết con gái người tình ngày 8.8.2013. Bị xét xử tử hình ngày 3/2/2015 tại Tòa án Hồ Chí Minh.
Nam Tào tra sổ một hồi lâu quay lại bảo:
– Bỏ mẹ, đúng là thằng này rồi, nó sinh ở Hồ Chí Minh, giết người ở Hồ Chí Minh và xử tử ở Hồ Chí Minh. Nó bị đày ở tầng địa ngục thứ 2, không được xét đặc xá.
Hôm qua 500 sư sãi tại Hồ Chí Minh cầu siêu cho Trần Đại Quang sinh ngày 12/10/1956 nên nó thoát tội được lên đây. Đúng nó rồi chứ không ai khác. Vào chỗ đi.
Đám đông nhao nhao hỏi:
– Vậy thì Chủ tịch nước của chúng tôi chờ từ sáng đến giờ đâu?
– Ở đây không có thằng nào là chủ tịch nước nhé. Chủ tịch ở đây gọi là Ngọc Hoàng nhé.
– Nhưng ông ta mới chết hôm 21/9 đây cơ mà. Trần Đại Quang cơ mà? Hôm qua hàng trăm sư sãi cầu siêu cho Chủ tịch cơ mà.
– À, Trần Đại Quang mới chết hôm 21/9 à? Sổ Nam Tào ghi rõ là nó sinh 12/10/1950. Vậy thì hôm qua bọn nó cầu siêu cho thằng kia, nó đúng tên và sinh đúng ngày 12 tháng 10 năm 1956, nó lại ở Hồ Chí Minh nên đám sư Hồ Chí Minh mới cầu siêu cho nó chứ.
Còn Trần Đại Quang sinh năm 1950 kia thì đang ở dưới tầng cuối của địa ngục. Tội của nó thì phải tập trung cả chục sư đoàn sư may ra mới cầu siêu nổi.
Thôi, giải tán, không được tập trung người trái phép nơi công cộng.
Chợt thấy nữ sĩ Hồ Xuân Hương đứng đằng xa ngâm lên câu thơ: Bá ngọ sư ông, bé cái nhầm.
Một người Pháp kể chuyện gặp một ông VN ở Thụy sĩ. Ông này quê mùa, ăn uống nhồm nhoàm, nói lớn như giữa chợ, trong một khách sạn sang trọng khiến mọi người khó chịu, nhưng khách sạn hết sức chiều chuộng. Vì là khách sộp, uống rượu đắt tiền như uống nước lã. Mua sắm loạn cào cào, thí dụ mua một cái đồng hồ Philippe Patek gần 200 ngàn dollars, như ta mua một ký khoai tây. Anh bạn hỏi: nghe nói VN là một xứ nghèo, tiền bạc đâu ra khủng khiếp như vậy? Rất khó giải thích cho những người bình thường chuyện VN.
Hồi Eltsine nắm quyền, tư hữu hoá nước Nga, bán đổ bán tháo các cơ sở quốc doanh cho bè đảng, người ta kể chuyện một ông mafia đỏ, mua được một khu thương mại, băng qua đường, bán lại cho người khác đang chờ sẵn, với giá gấp 100 lần giá mua. Và mua bằng tiền lèo, do ngân hàng… nhân dân, cũng là phe cánh ký giấy, hứa cho vay. Nghe chuyện, bán tín bán nghi, nghĩ chắc người ta cũng phóng đại đôi chút. Ngày nay, thấy VN còn bỏ xa chuyện làm ăn vặt ở Nga. Đúng là “top” thế giới, như các quan chức vẫn khoe khoang.
Nguyễn Văn Đua bị “tố” là đã ký một quyết định về quy hoạch Thủ Thiêm mà đã vượt quyền khi phủ nhận cả quyết định trước đó của thủ tướng chính phủ. (Hình: Youtube)
Lấy thí dụ Thủ Thiêm. Chỉ cần quen thằng vẽ bản đồ, mua vài mảnh đất (bà Ngân nói dân… hiến đất), hôm trước hôm sau có thể mua vài cái Philippe Patek tặng bạn bè.
Một thước vuông đất xây cất, gọi là đất đô thị, bồi thường 2 triệu đồng, bán giá thị trường 70 triệu, gấp 35 lần giá vốn. Một thước vuông đất nông nghiệp, mua 200 ngàn, bán 28 triệu, gần 150 lần giá vốn. Ngon nhất là được dân thương, “hiến” với giá nông nghiệp, bán với giá đô thị, 350 lần giá vốn.
Để so sánh, bạn để tiền trong quỹ tiết kiệm, mỗi năm lời trên dưới 1%. Đầu tư có thể lời hơn, 5 hay 6,7 % nhưng cũng có thể mất cả chì lẫn chài.
Chỉ vẽ lại bản đồ Thủ Thiêm các quan chức đã chia nhau 12 tỷ USD
Một tờ báo tính chỉ cần vẽ lại bản đồ, các quan chức Thủ Thiêm đã chia nhau 12.000.000.000 (12 tỷ) dollars. Bạn có tưởng tượng nổi 12 tỷ dollars mặt mũi nó như thế nào không? Chỉ tưởng tượng, chúng ta cũng không làm nổi, trong khi họ thực sự chia nhau. Có những người sống ở một thế giới khác với thế giới của người thường. Một xã hội thiên đường như vậy, quả thực rất đáng hy sinh hàng triệu sinh mạng để xây dựng và bảo vệ.
Một cuộc thăm dò cho biết đa số người Pháp không hình dung nổi một triệu Euros nó như thế nào. Nếu thăm dò ở VN, chắc con số đó rút xuống, còn 100 ngàn hay 10 ngàn dollars. Mười hai tỷ…
Tôi loay hoay tính mãi chưa ra: 12 tỷ dollars mua được bao nhiêu cái đồng hồ Philippe Patek. Chưa nói tới sửa được bao nhiêu cái trường học chuồng bò, mua được bao nhiêu sợi dây cho các cháu lội qua sông đi học.
LĂNG TẨM LÀM GÌ KHI BẢN THÂN LÀM TOÀN NHỮNG ĐIỀU Ô DANH?
Phong kiến là gì? Phong là phong tước, kiến là kiến địa. Từ phong kiến xuất phát từ đó. Thời kì sơ khai của xã hội loài người, khi một ông vua khai quốc lên ngôi, ông ta sẽ phong tước cho con cháu dòng họ và công thần. Đi kèm với phong tước sẽ là việc chia chác đất đai cho những người ấy, điều này người ta gọi là “phân phong”.
Việc chia chác này xem như mỗi người được phong sẽ là vua trên vùng đất của mình. Chính việc phân phong đó mà quyền lực của vua ở trung ương bị mất dần qua nhiều đời sau. Thế là một quốc gia to lớn và hùng mạnh ban đầu trở thành những quốc gia nhỏ và chúng đánh nhau liên miên. Thời kì nhà Chu trước Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa cổ đại là dạng nhà nước đó – nhà nước phong kiến phân quyền cát cứ. Loại phong kiến này đã đưa đất nước Trung Hoa bị xé nát thành từng mảnh nhỏ và kéo theo đó chiến tranh xâm chiếm suốt thời Xuân Thu – Chiến Quốc kéo dài hơn 500 năm.
Doanh Chính – Tần Thủy Hoàng là một ông vua nước Tần, chỉ là một nuớc trong rất nhiều nước thời Chiến Quốc. Ông ta có tài quân sự, đã đưa nước Tần thành một quốc gia thống nhất Trung Quốc kết thúc thời Chiến Quốc đầy chiến tranh loạn lạc. Đấy là công lớn đầu tiên của ông ta. Nhưng đó chưa phải là công lao to lớn duy nhất, ông ta còn có công xoá bỏ phong kiến phân quyền cát cứ thời Xuân Thu – Chiến Quốc và lập nên phong kiến tập quyền về sau. Thời ông chỉ có phong tước mà không kiến địa cho công thần và con cháu dòng họ. Tất cả không ai là vua con ở lãnh địa của mình, mà chỉ là thay vua quản một khu vực địa lý. Vua có thể bổ quan đi bất cứ nơi đâu chứ không phải quan là lãnh chúa ở một chỗ làm vua con như thời phong kiến phân quyền.
Từ chỗ xoá phong kiến phân quyền thiết lập phong kiến tập quyền, nước Trung Hoa mạnh lên và bắt đầu đi xâm chiếm lân bang để mở rộng bờ cõi thành nước Trung Hoa rộng lớn như hôm nay.
Tần Thủy Hoàng công lao lớn thế, nhưng ông ta rất tàn bạo. Bắt dân xây Vạn Lý Trường Thành và rất nhiều trong họ phải chết vì lao lực. Ông cũng nổi tiếng đốt sách và chôn sống những nho sĩ đương thời. Và người đời sau chỉ nhớ đến Tần Thủy Hoàng như ông vua bạo chúa mà quên đi công lao to lớn của ông ta. Mua danh ba vạn bán danh ba đồng, gây tiếng thơm cho hậu thế quả thật không dễ.
Sau nhà Tần sụp đổ, Trung Hoa loạn thời gian ngắn thì triều đại nhà Hán thay thế. Hán Cao Tổ – Lưu Bang cho xây dựng nhà nước Trung Hoa theo mô hình phong kiến tập quyền do Tần Thủy Hoàng sáng lập. Nhờ mô hình này mà nhà Hán tồn tại và phát triển hơn 400 năm (206TCN-220CN) đến thời Tam Quốc mới kết thúc. Thời cực thịnh, nhà Hán đã mở rộng và sáp nhập rất nhiều lãnh thổ về cho Trung Hoa, đến nỗi dân tộc Trung Hoa tự nhận mình là người Hán. Và tư tưởng đại Hán cũng từ đó mà hình thành. Tính đến nay, tư tưởng Đại Hán đã thấm vào dân tộc này hơn 2000 năm, nó cùng với hệ tư tưởng Khổng Giáo là thứ gần như không thể xoá được với người Trung Hoa. Ngày nay, hệ tư tưởng đó sẽ trói dân tộc Trung Hoa khó theo kịp văn minh và nó cũng là mối nguy cho khu vực.
Quay trở lại con người của Doanh Chính – Tần Thủy Hoàng. Rõ ràng ông ta là một tài năng kiệt xuất, vì bạo tàn xem thường mạng dân nên mọi công lao to lớn ấy bị người đời xem nhẹ. Và những thứ đó được Lưu Bang hưởng trọn. Cho dù ông ta – Tần Thủy Hoàng có cho xây lăng tẩm vĩ đại để mong người đời sau ghi nhớ công lao. Nhưng không! Người đời sau chỉ nhớ đến sự bạo tàn của ông ta mà thôi. Đó là lẽ thường.
Đấy là nói đến Tần Thủy Hoàng, người đầu tiên thống nhất Trung Hoa và xoá bỏ phong kiến phân quyền. Còn lãnh tụ CS thì sao? Chỉ là kẻ mang chủ thuyết lạc hậu để áp vào đất nước chả có công gì mà chỉ là tội đồ. Để mất một phần chủ quyền về tay ngoại bang làm lãnh thổ mà tổ tiên để lại bị thu hẹp. Gây chiến tranh tương tàn đẫm máu làm chết từ 2 – 4 triệu đồng bào cũng là tội ác. Một chế độ cai trị sau 1975 dù không chiến tranh nhưng rất hà khắc với nhân dân, ý đồ giáo dục ngu dân để trị, và liên tục nhượng lãnh thổ cho giặc. Duy trì sự đói nghèo và thù hằn những người đòi hỏi cải tổ chính trị cũng là điều đáng nguyền rủa. Như vậy có xây lăng tẩm to đùng thì thì dân cũng phỉ nhổ mà thôi. Đến đại công như Tần Thủy Hoàng còn không cứu nổi ô danh chứ đừng nói chẳng có công gì cho đất nước như mấy lãnh đạo CS.
“Theo một cán bộ xã Quang Thiện, khu vực dự kiến an táng thi hài cố Chủ tịch Trần Đại Quang trước đây là cánh đồng lúa của người dân nhưng đã được hợp thửa sau đó san ủi, đổ đất đá làm nền và trồng cây xanh từ mấy năm trước. Giáp với khu nghĩa trang này có một dòng sông nông giang nhỏ, nước trong xanh. Hai bờ sông (dài khoảng hơn 500 m) đã được kè đá hộc và làm ba cây cầu đá kiên cố bắc qua. Các tuyến đường gom bao quanh khu đất đều trải nhựa, lát vỉa hè bằng đá xanh. — Trích từ VN.Express.
— Với chiều dài là 500m,
— Chiều rộng bằng 1/4 chiều dài ( theo hình ảnh) sẽ là 125m.
— Diện tích khu lăng mộ là 62.000m2. Tức là 6.2 héc ta.( hình trên) Rộng gấp 11 lần diện tích lăng Khải Định là : 5.674m2.(hình dưới)
– Vua thời xưa lên tận núi làm lăng.
– Vua thời nay làm lăng mộ giữa cánh đồng lại còn to gấp 11 lần thời phong kiến
Đại ca Mẽo là người tử tế, sức mạnh toàn điện. Đại ca Chệch là tên lưu manh chuyên nghiệp, và cũng là một tay mới nổi. Thằng nhóc Việt luôn nịnh nọt đại ca Chệch nhằm tìm kiếm chỗ dựa. Đại ca Mẽo thấy nhóc Việt nghèo khó nên ưu ái. Nhưng Việt không biết trân trọng, hắn ngu ngốc nghe lời thằng lưu manh Chệch cầm dao găm thọc sườn Mẽo. Vì có võ, Mẽo phát hiện bợp tai Việt một cái cảnh cáo và đấm thằng lưu manh Chệch một phát trời giáng. Giờ tìm đâu ra sự ưu ái của Mẽo nữa hả Việt?
Đã bao nhiêu năm, Việt Nam đã buông lỏng cho doanh nghiệp Trung Cộng vào với rất nhiều ưu ái. Với dự án gọi thầu quốc tế vốn ngân sách Tàu trúng thầu đến trên 90% gói thầu EPC (thiết kế, cung cấp thiết bị, vật tư xây lắp). Điều này có nghĩa là những gói thầu công nghiệp, Trung Quốc đã trúng đến trên 90%. Như thế thì xem như nền sản xuất Việt Nam là bãi rác cho Tàu. Rất nhiều nhà máy, xí nghiệp vừa được xây lắp xong thì đắp chiếu chờ bán sắt vụn, bởi vì khâu lập dự án bọn họ không tính tới hiệu quả kinh tế mà chỉ tính đến phần lại quả để chia chác nên rước các cục nợ này về. Điều này làm cho ngân sách cạn kiệt, chính phủ tăng thuế dân bù vào cái hoang phí có tính phá hoại của đám làm kinh tế nhà nước. Đấy là hậu quả của vấn đề lệ thuộc kinh tế Trung Cộng theo định hướng chính trị của BCT.
Đã vậy, các doanh nghiệp Trung Quốc còn mượn đường Việt Nam để đi đường vòng xuất khẩu sang Mỹ tìm kiếm ưu đãi thuế. Nhưng Mỹ là Mỹ, một cường quốc kinh tế số 1 thế giới sao để nhóc con Việt Nam qua mặt? Thế là Mỹ áp thuế cao cho tất cả các mặt hàng mà họ nghi Trung Quốc mượn đường Việt Nam vào Mỹ. Điều này thể hiện một đường lối dại dột của thằng láu cá Việt Cộng. Một sự yếu kém trong quản lý vĩ mô của chính phủ ông Phúc. Kết quả, tất cả các doanh nghiệp Việt Nam sản xuất mặt hàng cùng loại đều bị hoạ lây. Thế đường vào Mỹ ngày một khó khăn. Như vậy kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ có nguy cơ tóp lại làm giảm nguồn ngoại tệ chảy về Việt Nam. Điều nay kéo theo nhiều hệ lụy khác mà chính phủ bắt dân phải gánh.
Còn làm ăn với Trung Quốc được lợi gì? Có thể người Việt được hưởng hàng hóa rẻ bèo. Nhưng trong cái rẻ bèo ấy không có lợi. Vì sao?
Như ta biết, hàng công nghiệp của Tàu đã được chứng minh là xài không kinh tế. Chiếc xe Tàu mua thì rẻ, nhưng đi không an toàn, và tổng chi phí sửa chữa hết vòng đời sản phẩm có khi cao hơn xe Nhật cùng loại. Còn máy móc công nghiệp Tàu thì khỏi nói, Việt Nam nhận quả đắng rất nhiều. Cái rẻ bèo là cái nhìn thấy trước mắt, hậu quả về sau rất nặng nề. Như vậy, sự làm ăn với Trung Quốc cứ mở toang cho họ vào mà không dùng rào cản thuế hoặc các tiêu chuẩn khắc khe, sự quản lý chặc chẽ để chặn phần rác rến lại thì Việt Nam chẳng có lợi gì cả. Hãy buộc hàng Trung Cộng đúng tiêu chuẩn thì mới cho nhập vào và không được thả nổi. Việc này sẽ không khả thi, vì BCT đã chỉ đạo mở toang thì chính phủ cũng bó tay thôi.
Nói về hàng nông sản thì ngoài giá rẻ bèo, người Việt được gì? Chẳng được gì cả. Nông nghiệp nước nhà bị khốn khổ, kéo theo ngày càng phụ thuộc hàng Tàu. Khi nông nghiệp Việt không sống nổi trên đất Việt thì điều gì xảy ra? Việt Nam lại thành bãi rác tiêu thụ nông sản kém chất lượng và độc hại của Tàu mà thôi.
Chơi với Trung Cộng, không tự khắc khe thì hậu quả sẽ khó lường. Cho Tàu mượn đường xuất sang Mỹ thì bị Mỹ phạt, mở toang cửa cho Tàu thì Việt Nam cũng chết, nó giết cả công nghiệp và nông nghiệp Việt. Vậy nên, đứng giữa cuộc chiến thương mại Trung – Mỹ mấy ông phải làm gì? Đã quá muộn rồi. Lẽ ra mấy ông nên chơi sòng phẳng với Tàu từ lâu thì nay không bị kẹt như vậy. Còn bây giờ không khéo, thằng Mỹ nó bợp tai thêm mấy cái vì dại dột làm tay sai cho Tàu thì hết đường gỡ. Giờ này mới nói đã muộn rồi anh Niểng.
Để thấy cuộc sống trên trần gian này tràn đầy ý nghĩa cao đẹp tình người, mỗi khi bạn có cơ hội được phục vụ tha nhân vô vụ lợi, bạn sẽ nhận lại nhiều được hơn những gì bạn đã cho đi.
Câu chuyện bắt đầu từ một người nông dân nghèo tên Fleming ở Scotland. Một ngày nọ ông đang làm việc để nuôi gia đình thì bỗng nghe tiếng kêu cứu từ cái đầm lầy gần đó. Ông vội chạy đến nơi thì nhìn thấy một cậu bé bị sa lầy trong ao, sình ngập đến đầu. Cậu bé đang giãy giụa gào khóc. Người nông dân liền lập tức cứu cậu bé lên bờ.
Hôm sau, một cỗ xe sang trọng đi tới căn lều của Fleming. Một người đàn ông ăn mặc sang trọng bước ra, tự giới thiệu mình là Randolph Henry Spencer Churchill, cha của cậu bé được ông cứu sống ngày hôm qua.
Ông ta nói: “Tôi đến để cảm ơn và hậu tạ anh đã cứu mạng con trai tôi!”
Ông Fleming đáp: “Không có chi. Đây là chuyện nên làm và ông không cần phải hậu tạ, thưởng công. Tôi quyết không nhận đâu.”
Ông nhà giàu hỏi: “Đây là con trai anh phải không?”. “Vâng.” Ông Fleming trả lời đầy vẻ tự hào.
Nhà quý tộc ân cần hỏi cậu bé: “Khi lớn lên, cháu muốn làm gì?” Cậu bé nhỏ nhẹ thưa: “Thưa ông, chắc cháu sẽ tiếp tục nghề làm ruộng của cha cháu.” Nhà quý tộc lại gặng hỏi: “Thế cháu không còn ước mơ nào lớn hơn nữa sao?”
Cậu bé im lặng cúi đầu một lúc rồi mới trả lời: “Dạ thưa ông, nhà cháu nghèo thế này thì cháu còn biết ước mơ điều gì nữa đây?”
Lại tiếp tục một câu hỏi chân tình: “Nhưng bác muốn biết, nếu cháu được phép mơ ước thì cháu sẽ ước mơ điều gì”
Và lần này cũng lại là một câu trả lời thật thà: “Thưa ông, cháu muốn được đi học, cháu muốn trở thành một bác sĩ!”
Vậy thì cho phép tôi đề nghị như thế này anh Fleming: “Hãy để tôi chu cấp việc học cho con trai anh hệt như tôi đã lo cho con trai mình. Nếu con trai anh mà giống tính cha nó thì tôi tin rằng ngày sau này cậu ấy sẽ trở thành một người mà cả hai chúng ta đều hãnh diện.”
Ông Fleming nhà nghèo nghe vậy thì đồng ý.
Thế là từ đó cậu con trai của Fleming được theo học tại những trường danh tiếng và tốt nghiệp đại học Y khoa Stainte-Marie ở London. Nhờ có hoài bão lớn lao, không ngừng phấn đấu, cuối cùng tài năng của cậu cũng được cả thế giới công nhận.
Cậu chính là bác sĩ lừng danh Alexander Fleming.
Vào năm 1927, bác sĩ Alexander Fleming sáng chế ra thuốc kháng sinh Penicillin cứu mạng được không biết bao nhiêu người trên thế giới. Năm 1945, ông được trao giải Nobel về y học.
Vài năm sau, người con trai của ông được cứu sống khỏi đầm lầy ngày xưa bị bệnh viêm phổi. May nhờ thuốc Pénicillin này đã cứu cậu thoát chết. Tên cậu là Winston Churchill. Sau này cậu trở thành một vĩ nhân, là người mà cả nước Anh đều tự hào và hãnh diện. Đó chính là Thủ tướng trứ danh của nước Anh — Thủ Tướng Winston Churchill.
Bác sĩ Alexander Fleming mất năm 1955 tại London ở tuổi 74 và Thủ tướng Winston Churchill mất năm 1965 ở tuổi 91 tại London. Cả hai ông đều yên nghỉ trong cùng một nghĩa trang.
Điều này chứng minh rằng hành thiện nhất định sẽ gặp thiện báo. Tất cả những gì ta cho ra đều sẽ được nhận lại; những gì bạn đã cho, tặng cho người khác bằng cả trái tim thì nhất định sẽ không mất.
Chúng ta phải thẳng thắn nhìn vào sự thật đau lòng, đừng mang ảo tưởng quê hương giàu đẹp, văn minh, trí tuệ, có ai đụng vào thì giãy lên như đỉa phải vôi, kêu la là “chống phá tổ quốc, tay sai ngoại bang, thù nghịch với nhân dân !” **************
Có Những Sự Thật Không Cãi Được
Tạp ghi Huy Phương
Càng sống lâu trong xã hội chủ nghĩa, con người càng thiếu đạo đức.
“Trăm năm trồng người…”
Một bản tin ngắn, rất tầm thường ở Việt Nam, không chắc làm cho bạn quan tâm, đau lòng, đó là bản tin từ Hà Nội, cho biết nạn bẻ kính chiếu hậu xe hơi bắt đầu tràn lan. Chỉ với một chiếc Porsch Panamera giá $200,000 đã được quân gian chiếu cố, chỉ trong hai năm, đã bị bẻ kính bảy lần. Ngay một sinh viên trường Cao Đẳng Văn Hóa-Thể Thao Hà Nội, Đặng Huy Việt, trước đây cũng từng là thủ phạm loại ăn cắp vặt này. Theo tôi, trong cái thời buổi tệ mạt này, rõ ràng là chuyện “trăm năm trồng người” đã có kết quả hay hậu quả đau lòng.
“Trăm năm trồng người…”
Một trong những “ranh ngôn” của Hồ Chí Minh được CSVN ca tụng nhất là câu: “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người,” nhưng trẻ em“quàng khăn đỏ” ít đứa nào biết tới ông Quản Trọng bên Tàu là tác giả chính hiệu danh ngôn này, đã bị “bác” bứng nguyên cây về trồng trong vườn nhà“bác.”
Câu này lấy từ ý của Quản Trọng trong sách Quản Tử, nguyên văn là: “Nhất niên chi kế, mạc như thụ cốc, thập niên chi kế, mạc như thụ mộc, chung thân chi kế, mạc như thụ nhân.” (Kế sách cho một năm, lấy việc trồng lúa làm đầu; kế sách cho mười năm, lấy việc trồng cây làm đầu; kế sách cho trăm năm, lấy việc trồng người làm đầu).
Những gì “bác” đã gieo giống, chăm sóc, tưới nước bón phân, ngày nay rõ ràng là đã có kết quả. Sách Minh Tâm Bảo Giám, chương Kế Thiện, có câu: “Trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu. (Chủng qua đắc qua, chủng đậu đắc đậu). Không ai gieo hạt chanh chua mà lại hái được giống cam ngọt, nói đơn giản, gieo nhân nào thì gặt quả nấy! Hạt giống độc địa ấy từ ngày được Hồ Chí Minh mang về gieo trong khu vườn nhà đã như là “loài cỏ dại, mọc trên hoang tàn của chiến tranh; là loài trùng độc, sinh sôi nảy nở trên rác rưới của cuộc đời” như câu nói của Đức Đạt Lai Lạt Ma, Tây Tạng, khi nhận xét về chủ nghĩa cộng sản.
Sau ngày cộng sản chiếm miền Nam Việt Nam, nơi Bắc Việt gọi là vùng tạm chiếm, tệ nạn xã hội càng ngày càng gia tăng, làm băng hoại đạo đức xã hội, luân thường đạo lý, như những chuyện băng đảng nhóm xã hội đen, cướp của giết người, mại dâm, ma túy, cờ bạc, hiếp dâm trẻ em, loạn luân, lừa gạt, chiếm đoạt tài sản.
Lúc đầu, nói về tình hình trật tự xã hội, đề cập đến những điều xấu xa đầy rẫy này, đảng cộng sản tránh né trách nhiệm, đổ lỗi cho đó là hậu quả, tàn dư của chế độ cũ để lại, chỉ đích danh là Mỹ, Ngụy, nhưng rõ ràng là sau hơn 39 năm “làm chủ” đất nước, thực tế ngày nay không thể còn đổ lỗi cho ai. Sau nữa là cả nước từ 60 năm nay, dưới sự cai trị của đảng, do chủ trương của đảng, là “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh!” Vậy thì những gì được ghi nhận hôm nay là thành quả chiếu sáng từ tấm gương ấy, đó là chân lý, mà chân lý này không bao giờ thay đổi. Không ai dám hỏi Hồ Chí Minh thực sự có đạo đức hay không, và cả đất nước mù quáng tin theo những gì đảng nhồi nhét từ những đứa trẻ, làm đông đặc đầu óc thanh niên, bắt người ta tin vào những chuyện không có thật.
Hậu quả là ngày nay cả nước nói dối như cuội. Hậu quả là ngày nay cả nước ai cũng gian dối để sống. Hậu quả là ngày nay, lý tưởng của cuộc sống là đồng tiền.
-Ở xã hội ấy cái gì cũng mua được bằng tiền, cái gì cũng được đem bán, và người ta sẵn sàng bán đi cả những gì quý nhất.
– Ở xã hội ấy, người ta không biết hổ thẹn vì nhân cách, nhưng cảm thấy hổ thẹn khi thua sút những người chung quanh vì cái nhà, cái xe, cái điện thoại, cái xách tay…
– Ở xã hội ấy, ai cũng muốn bỏ đi, những ai còn ở lại vì không đi được, hay đang còn kiếm tiền để chuẩn bị đi hay lo cho những người đã đi.
– Con người là vốn quý như ai đó đã từng nói, nhưng một mạng người không đáng giá bằng một con chó!
– Con người là vốn quý, nhưng người ta coi rẻ sinh mạng của nhau, cầm dao giết nhau chỉ vì một cái nhìn, một chuyện tranh cãi hay để cướp đoạt tài sản của người khác.
– Con người là vốn quý, nhưng công an, thế lực của chế độ, sẵn sàng đánh chết dân vì dân không chịu nhận tội mình không làm.
– Xã hội chủ trương mình sống vì mọi người, nhưng người vá xe sẵn sàng rải đinh trên đường để cho tiệm mình đông khách, thêm lợi nhuận.
-Xã hội chủ trương mình sống vì mọi người nhưng bọn phục vụ cho dân, ăn gian, làm dối, sống chết mặc bay.
– Cộng sản đã từng ca tụng: “Chủ Nghĩa Xã Hội là đỉnh cao trí tuệ loài người!” Hà Nội là lương tri của nhân loại! Báo Quân Đội Nhân Dân đã ca tụng “đỉnh cao của khí phách và trí tuệ Việt Nam,”nhưng ngày nay nhân dân Việt Nam đi đến đâu đều được mọi quốc gia có những cái nhìn thiếu thiện cảm.
Nhật, Thái Lan, Nam Hàn, Singapore… kết án người Việt trộm cắp, ăn tham, xả rác, bán dâm… khiến hình ảnh Việt Nam đang dần trở nên xấu xa. Cả nhân viên nhà nước cũng buôn lậu, ăn cắp, hối lộ, vậy người Việt ra nước ngoài còn dám ngẩng mặt nhìn ai?
– Ở trong nước dân Việt đã bày tỏ dân trí bằng cách ẩu đả, chửi bới nhau để chen lấn mua bánh Trung Thu ở Hà Nội, giành giật đạp lên nhau để giành được một miếng sushi miễn phí ở một cửa hàng mới khai trương, hỗn loạn trèo lên đầu nhau để mua bằng được lá ấn trong lễ khai ấn đền Trần, hôi của khi có tai nạn qua đường như rơi tiền, đổ bia…
Người ngoại quốc và các tòa đại sứ ở Việt Nam thì bắt đầu “sợ” dân Việt khi những cây anh đào được đem từ Nhật đến bị đám đông nhào đến vặt sạch, chính phủ Hòa Lan tổ chức phát 3,000 chiếc áo mưa cho dân chúng để tỏ tình hữu nghị thì đám đông ào ạt, hung dữ nhào lên sân khấu cướp từ tay các tình nguyện viên và nhân viên đại sứ quán.
– Chính giới trí thức trong nước, như Giáo Sư Nguyễn Thanh Giang đã viết rằng,“Phải nói rằng kể từ khi đưa Chủ Nghĩa Mác vào Việt Nam thì con người Việt Nam bấy giờ còn tha hóa hơn con người Việt Nam hồi thời phong kiến. Và tư chất, đạo lý của con người Việt Nam bây giờ còn thua cái thời Pháp thuộc. Cho nên điều đó là do ảnh hưởng của chế độ chính trị và của tổ chức xã hội. Tổ chức xã hội mà chủ yếu đẩy con người vào tình trạng không cạnh tranh lành mạnh, không cạnh tranh dựa trên đạo lý, không dựa trên pháp luật, mà bằng phe nhóm, ỷ thế, ỷ quyền, ỷ vào giai cấp, ỷ vào thành phần lý lịch, ỷ vào con ông cháu cha. Hơn nữa, kể từ khi đưa cái Chủ Nghĩa Mác vào, lấy chuyên chính vô sản vào, thì người ta không tôn trọng pháp luật nữa. Cho nên người ta sẵn sang giẫm đạp lên pháp luật, lên đạo lý, từ đấy ảnh hưởng đến tâm tính của con người Việt Nam. Rồi đời sống không cần đạo lý, không cần pháp luật. Thì đó là cái tội của chế độ chính trị và tổ chức xã hội này.”
Ai đưa Chủ Nghĩa Mác vào Việt Nam, phải chăng là công ơn “bác Hồ” cho nên hôm nay, chưa đến một trăm năm, mà việc trồng người của “bác” đã có kết quả “khả quan,” đưa đất nước vào chỗ lụn bại, tha hóa.
Muốn gieo lại hạt giống tốt thì phải quét sạch, khai quang, đào xới lại cả khu vườn, thay đất mới, và phải mất trăm năm nữa, con người hôm nay mới trở lại được cái tử tế, văn hóa, chỉ mong được tương đối như người miền Nam trước 1975, hay nói xa hơn là cả cái thời Pháp thuộc.
Chúng ta phải thẳng thắn nhìn vào sự thật đau lòng, đừng mang ảo tưởng quê hương giàu đẹp, văn minh, trí tuệ, có ai đụng vào thì giãy lên như đỉa phải vôi, kêu la là “chống phá tổ quốc, tay sai ngoại bang, thù nghịch với nhân dân !”
Thầy Thích Viên Lý, trụ trì chùa Điều Ngự (Westminster, California), giải thích với tôi về chuyện “nghiệp” trong giáo lý nhà Phật, tại một cuộc phỏng vấn vào cuối tháng 12/2014.
– HỎI: Nhà nước Việt Nam hay tuyên truyền rằng người tu hành thì cứ lo việc tu thôi chứ lo làm gì việc đời; sư sãi chống lại chủ trương của nhà nước tức là ủng hộ bạo lực và tạo nghiệp xấu… Thầy nghĩ sao về luận điểm đó?
– ĐÁP: Tạo nghiệp là gì? Trước hết phải hiểu nghiệp xuất phát từ đâu. Từ ba nơi, thứ nhất là tâm, tức là ý. Thứ hai là khẩu, tức là lời nói. Thứ ba là hành động.
Mình không muốn những người cướp đất chùa tạo ra những nghiệp bất thiện, sẽ đọa vào cảnh giới khổ đau. Vì từ bi, thương họ, nên mình phải chặn đứng những hành động tạo ra ác nghiệp. Cái đó (chống cướp đất) là tâm từ bi. Còn mình nói từ bi mà thấy người khác phạm pháp, làm việc tội lỗi, chuốc lấy hậu quả khổ đau, mình không ngăn chặn, thì mình đâu phải là người đang hành giáo lý từ bi?
Tôi lấy ví dụ, thấy một sát thủ cầm súng chuẩn bị sát hại những học sinh vô tội mà mình cứ ngồi “Nam Mô A Di Đà Phật”, chứ không tước lấy khẩu súng đó hoặc không kêu cảnh sát đến cứu các học sinh, thì mình có từ bi hay không? Từ bi nguyên nghĩa là “từ năng dữ lạc, bi năng bạt khổ”. Mình dâng hiến lòng yêu thương đích thực cho tất cả muôn loài chớ không phải là gieo khổ đau, tạo thù oán. Đó là nghĩa của “từ”. Còn “bi”, tức là mình nhổ sạch cội rễ của khổ đau, chứ không phải chỉ trên ngọn. Thấy người khác lâm vào tình cảnh bất công thì mình phải ra tay hành động để cứu thế.
Dường như người cộng sản không hiểu từ bi là gì, sứ mệnh thiêng liêng cao cả của những tu sĩ Phật giáo như thế nào, tôn giáo có nhiệm vụ ra sao đối với xã hội, đất nước. Hoặc giả họ hiểu đấy, nhưng họ cố ý định hướng sai lạc để dễ bề thao túng quần chúng cho họ muốn làm gì thì làm.
– HỎI: Nếu có thể dành cho chính quyền một lời khuyên thì thầy khuyên gì nhà nước Việt Nam?
– ĐÁP: Họ cần ý thức rõ rằng bạo lực không thể chặn đứng cái ác. Nhưng tôn giáo thì có thể. Ở tình trạng lý tưởng, khi con người ý thức rõ được về luật nhân-quả thì không cần có cảnh sát, pháp luật. Tôi lấy thí dụ: Ở Mỹ, dân chúng chạy xe trên xa lộ thường không đi quá tốc độ hay vượt đèn đỏ, vì sợ cảnh sát phạt tiền. Vấn đề là nếu không có vé phạt thì ai nấy có thể tha hồ chạy xe, tạo ra vô số nguy hiểm. Nhưng nếu chúng ta ý thức được hiểm nạn xảy ra đối với bản thân và với người khác thì chúng ta sẽ tự chế. Dù có hay không có cảnh sát nhưng khi đã ý thức được luật nhân-quả, ý thức được nhân là lái xe quá tốc độ, quả là tai nạn, thì chúng ta sẽ đều cố gắng làm sao để bảo vệ chính mình và mọi người.
Nếu mọi người dân đều hiểu được luật nhân-quả thì họ sẽ không làm điều ác, và như vậy thì xã hội sẽ thái bình, đất nước sẽ ổn định.
Nếu chính quyền Việt Nam để cho các tôn giáo chăm sóc đời sống tâm linh đạo đức của dân chúng thì xã hội đâu loạn lạc như ngày nay? Nhà nước không tốn gì cho tôn giáo mà lợi ích tôn giáo mang lại cho đất nước rất lớn lao.
Chúng tôi khuyên họ cố gắng thấy được điều này: Chỉ dùng bạo lực để trấn áp và xem quần chúng như kẻ thù chứ không phải người thân thì họ không thể an ổn được đâu. Nên họ phải tôn trọng nhân dân, lắng nghe ý kiến, tôn trọng truyền thống văn hóa, tâm linh của dân. Họ mà làm được như vậy thì các tôn giáo đâu có lý do gì để chống họ? Đằng này, làm mất lòng dân, đàn áp tôn giáo, để tạo sự bất mãn lớn lao thì chắc chắn chế độ không thể nào đứng vững được.
Chính quyền phải hiểu rằng họ có thể che đậy nhiều việc nhưng không che đậy được sự thật, họ có thể trốn tránh nhiều thứ nhưng không thể tránh được luật nhân-quả.
Hãy nhìn Tổng thống Saddam Hussein ở Iraq. Đã có thời đến những cái bồn rửa mặt của ông ta cũng dát vàng, ông ta sống trong nhung lụa, quyền lực. Nhưng do tham vọng và tinh thần chấp ngã, ông ta phải trốn chui trốn lủi mà cuối cùng bị treo cổ. Mạng mất, tài sản tích lũy nhiều chục năm cũng tiêu luôn. Đó là tấm gương nhãn tiền cho những người cộng sản không tin luật nhân-quả mà liên tục làm điều ác. Mình thấy mà thương thay cho họ, cho những kẻ vô minh.
Đỗ Mười có hỗn danh là Hoạn lợn, một phần vì ông làm nghể thiến heo trước khi tham gia cách mạng, một phần vì đầu óc ông không vượt được giới hạn của nghể nghiệp nên người dân nhớ tên ông kèm theo cái nghề rất ít người làm.
Cuộc tấn công đánh tư sản Miền Nam do Đỗ Mười chỉ đạo từ trên xuống dưới không cấp nào được vượt quyền ông, cho thấy một tay thất phu khi có quyền hành sẽ trở nên nguy hiểm đến mức nào. Nó làm cả Miền Nam kiệt sức vì mọi công ty xương sống của quốc gia, mọi nhà máy công nghiệp nặng nhẹ, mọi cơ sở thủ công nhỏ lẻ của người dân có chút máy móc trợ lực đều bị phá bỏ.
Gần 30 ngàn chủ nhân những cơ sở ấy hoặc tự tử vì uất ức, hoặc trốn chạy bằng đường vượt biển hay bị áp giải lên rừng sâu nước độc được gọi là kinh tế mới. Lòng người than oán còn hơn trong thời kỳ chiến tranh. Sự hận thù ấy bồi đắp lên cái tên Đỗ Mười như ông bình vôi, mỗi ngày ruột một đặc lại vì sự oán ghét của dân chúng như vôi nhét vào bình, chiếc bình vôi Đỗ Mười đang nằm chỏng gọng chờ ngày phán xét trong sự phấn khởi ngày càng lớn của người dân.
Nếu Đỗ Mười tàn bạo vì tin vào sự tích Xã hội Chủ nghĩa, mông muội và xem thường xương máu nhân dân thì Lê Đức Anh lại xem trọng vai trò đàn anh của Đảng cộng sản Trung Quốc bất kể người đàn anh ấy giết dân chúng, bộ đội Việt Nam như giết ngóe.
Sau sự sụp đổ của Liên sô và khối Đông Âu, Lê Đức Anh trong cương vị Bộ trưởng Quốc Phòng đã tham mưu cho BCT bằng mọi giá phải lập lại quan hệ hữu nghị với Trung Quốc nếu không muốn bị xóa sổ như Liên sô. Là Bộ trường Quốc phòng, Lê Đức Anh đưa ra những con số âm về sức chiến đấu của bộ đội, về vũ khí quân dụng, về địa thế của Việt Nam đối với Trung Quốc và nhất là đồng minh đầy tiềm năng là Liên sô đã không còn nữa.
Bộ Chính Trị bị ông ta dắt mũi vì nỗi ám ảnh Trung Quốc để từ đó Hội Nghị Thành Đô ra đời kéo theo hệ lụy cho đến ngày nay khi Trung Quốc nghiễm nhiên trở thành ông chủ thực sự của BCT Đảng Cộng sản Việt Nam hết đời TBT này sang đời TBT khác.
Lê Đức Anh còn một tội ác khó dung tha nữa là ra lệnh bộ đội binh chủng công binh không được nổ súng vào lính Trung Quốc trong trận chiến Gạc Ma năm 1988 để kết quả là 64 chiến sĩ làm bia sống cho bọn côn đồ phương Bắc. Nỗi oan ức của họ vẫn chưa được bạch hóa cho tới ngày nay sau khi cuốn sách “Gạc Ma, vòng tròn bất tử” ra đời chỉ rõ những sai trái của Lê Đức Anh nhưng không ai trong chính quyền này làm tới nơi tới chốn một tội đồ dân tộc với tội danh không thể nào rõ ràng hơn: Phản quốc.
Tội ác của Lê Đức Anh không phải vì tin vào Chủ nghĩa Xã hội mù quáng như Đỗ Mười mà vì hèn nhát sợ chiến đấu với Trung Quốc.
Trong cương vị Bộ trưởng Quốc phòng, Lê Đức Anh đã rất sợ hãi khi nghĩ lại cuộc chiến tranh biên giới năm 1979 và những trận chiến dai dẳng trên khắp biên giới phía Bắc sau đó. Ông ta biết chống Trung Quốc thì sẽ mất ghế và mất cả Đảng, mà mất Đảng thì rất nhiều kẻ như ông ta lo sợ, vì thế những đồng chí sát sườn ông ta đã không ngần ngại ủng hộ cho giải pháp đem con bỏ chợ nhằm lấy lòng bọn bất lương miễn sao giữ được Đảng, mà Đảng là nồi cơm là vinh hoa, quyền lực của họ.
Bất kể có sự trừng phạt ở bên kia thế giới cho những kẻ ác ôn hay không, thì Đỗ Mười và Lê Đức Anh đã và đang bị trừng phạt ở cõi này bằng hằng hà phỉ nhổ, nguyển rủa của gia đình nạn nhân chết dưới tay họ. Làm sao kẻ thủ ác thoát được lưới trời cho dù cái lưới ấy chỉ là nước bọt ngày ngày bắn vào hai ngôi mộ hoành tráng được hai dòng họ cố công xây dựng?
Trung Thu em chẳng đèn lồng Chỉ mong hạt gạo cho lòng thêm no Trăng rằm trăng sáng thật to Em cầu tấm áo thêm cho ấm người Đau cho số kiếp cuộc đời
Kẻ nơi cung ấm kẻ ngồi thiếu chăn
Dân đen thèm miếng bánh ăn
Quan to bánh lớn ruột lăn sợi vàng
Xã hội nay đã tan hoang
Thằng ăn không hết người mang nỗi thèm !
Khi thông tin chính thức ông Chủ tịch nước Trần Đại Quang qua đời lúc 10:05 phút ngày 21.09 được công bố, có lẽ chỉ trừ báo chí truyền thông nhà nước phải làm nhiệm vụ tuyên truyền, viết những bài “thương vay khóc mướn” về một trong “tứ trụ triều đình Hà Nội” vừa mới ra đi này, còn lại cả ngày hôm đó và hôm sau, trên mạng xã hội facebook chỉ tràn ngập những status biểu lộ sự vui mừng, hả hê, châm biếm, diễu cợt. Và ở ngoài đời, nhiều người Việt Nam kể rằng thái độ của dân chúng cũng rất thờ ơ, thậm chí có những người cũng không ngần ngại nói huỵch toẹt kiểu như “Mong sao cả đám quan chức ăn tàn phá hại chết hết cho rảnh”!!
Ông Trần Đại Quang không phải là trường hợp duy nhất bị người dân bày tỏ sự thờ ơ hay hả hê khi qua đời. Trước cái chết của một nhân viên công an/cảnh sát cho tới nhiều quan chức, lãnh đạo khác ở nước này, người dân đều có những phản ứng như vậy.
Khác với một số chế độ độc tài, quyền lực tập trung vào tay một nhân vật duy nhất, kể cả ở Nga hay Trung Cộng bây giờ, quyền lực của Putin hay Tập Cận Bình cũng hết sức lớn, ở VN quyền lực lẫn trách nhiệm chia cho “tứ trụ”, rộng hơn là 19 người trong Bộ Chính trị. Trong nhiều năm qua VN không có một khuôn mặt nào thật sự nổi trội và nắm hết mọi quyền lực trong tay, như thời Hồ Chí Minh hay Lê Duẩn. Thi thoảng, trong từng giai đoạn, một người nào đó khuynh loát được nội bộ, nắm được nhiều quyền lực hơn do phe cánh mạnh hơn, như ông Cựu Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng có một thời “làm mưa làm gió” và bây giờ, theo như nhiều người nhận xét, quyền lực đang nằm chủ yếu trong tay ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Chính vì vậy, người dân không thật sự biết được ai có năng lực hơn ai, ai phải chịu trách nhiệm trực tiếp về từng chủ trương, chính sách hại dân hại nước nào. Mọi bức bối, phẫn nộ đành chia đều!Nên có thể nói, bây giờ ai trong “tứ trụ” hay Bộ Chính trị hay các “Thái thượng hoàng” Lê Đức Anh, Đỗ Mười ra đi thì dân cũng phản ứng như nhau. Lòng dân đã quá chán ngán cái chế độ này.
Đừng bảo dân ác mồm ác miệng. Đừng bảo nghĩa tử là nghĩa tận v.v và v.v…Phải hỏi tại sao lãnh đạo chết mà dân lại mừng, lại hả hê? Vả lại đối với dân đen bây giờ, vũ khí duy nhất của họ chỉ là tiếng cười và sự châm biếm, khi nào họ không cười, không châm biếm nữa mà họ đùng đùng nổi giận, đứng lên xuống đường thì lúc đó mới là lúc cái chế độ này tắt thở!
Nhưng nói thật, với tất cả tội ác mà đảng cộng sản đã gây ra cho đất nước này, dân tộc này thì nhân vật nào còn được chết trên giường bệnh hay chết vì tuổi già là còn phúc! Sau này lại đến lúc những nhân vật còn sống phải ra tòa trả lời về những tội ác đã làm nữa kia! Còn những ai chết rồi cũng chưa xong đâu, mai mốt lịch sử sẽ ghi lại từng người, ai cam tâm làm lính đánh thuê cho ngoại bang, ai đẩy đất nước vào mấy cuộc chiến tranh rồ dại, ai bán nước, ai dâng đất cho Tàu…rành rành còn đó, sách sử nghìn đời ghi chép lại.
Quan chức, chính khách cộng sản đối với nhau
Ở VN, từ đời riêng cho tới tình trạng sức khỏe, lý do bệnh tật của các quan chức lãnh đạo cấp cao luôn luôn là một bí mật đối với dân chúng. Người dân chỉ được biết những gì mà nhà nước cho biết. Ngay cả ngày chết cũng nhiều khi bị ém lại chờ ý kiến, quyết định của Bộ Chính trị rồi mới công bố, như trường hợp ông Hồ Chí Minh, ông Võ Văn Kiệt hay ông Nguyễn Bá Thanh…Nhưng từ khi có mạng internet, có báo chí “lề trái”, dù nhà nước đã ra sức bưng bít nhưng những thông tin rò rỉ, những câu chuyện “thâm cung bí sử” phía sau hậu trường chính trị, trong đó có cả chuyện sức khỏe, bệnh tật của các quan lớn cứ bị rò rỉ, lan truyền trên các trang mạng xã hội và trong dân chúng.
Như ông Nguyễn Bá Thanh, Trưởng Ban Nội chính Trung ương từ năm 2012-2015, trước đó là Bí thư thành ủy Đà Nẵng, Chỉ tịch Hội đồng Nhân dân thành phố Đà Nẵng từ năm 2003-2013, toàn bộ quá trình bệnh tật, lý do bệnh tật cho tới thực sự chết khi nào đều bị nhà nước này giấu diếm, quanh co. Trong lúc trên mạng xã hội những hình ảnh ông nằm trên giường bệnh điều trị ở nước ngoài với cái đầu cạo trọc, làn da xám ngoét, dấu hiệu của người đang xạ trị bệnh ung thư, hình ảnh chuyến bay từ Mỹ được cho là đưa ông về VN (nhưng không ai thấy mặt ông) cùng với những “tin đồn” về chuyện ông bị các đồng chí đầu độc bằng chất phóng xạ cứ lan truyền không kiểm soát nổi.
Thậm chí dân tình còn đồn rằng ông Nguyễn Bá Thanh đã bị bệnh viện Mỹ trả về vì không còn có thể cứu chữa được, nhưng báo chí nhà nước thì vẫn tiếp tục đưa tin ông về và đang điều trị tại Đà Nẵng, các quan chức vẫn vào thăm, ông còn nói “Tau khỏe mà, có chi mô”, nhưng cũng không có một hình ảnh nào của ông, kéo dài hàng tháng, trước khi nhà nước chính thức công bố ông Nguyễn Bá Thanh qua đời!
Trường hợp ông Trần Đại Quang cũng vậy. Từ năm ngoái dân tình đã đồn đãi về tình trạng sức khỏe của ông. Khi ông phải đi Nhật chữa bệnh lần 1, lần 2, nhà báo Huy Đức đã thông báo trên facebook của mình trong lúc báo chí nhà nước vẫn im lặng. Trong những ngày cuối đời, khi thần sắc ông đã rất kém, ông vẫn phải đóng tròn vai trò của mình là xuất hiện chỗ này chỗ kia, lịch làm việc dày đặc. Một ngày trước khi ông mất, ngày 20.9, nhà báo Huy Đức nhận xét trên facebook:
“Sức khỏe của Chủ tịch nước
Với hình ảnh của Chủ tịch nước xuất hiện trên VTV tối qua và diễn biến chiều nay (20-9-2018), tôi nghĩ, TTX nên bắt đầu phát đi những bản tin đầu tiên về sức khỏe cảu Đại tướng Trần Đại Quang. Lãnh đạo cũng không tránh khỏi quy luật sinh – lão – bệnh… Người dân có quyền được biết và ông cũng nên được đối xử như một con người, ốm thì phải được nghỉ ngơi chữa bệnh.”
Và hôm sau thì ông Trần Đại Quang qua đời. Có lẽ chuyện phải làm việc cho đến tận phút cuối cùng là một trong những lý do khiến ông phải đi sớm như tác giả Đinh Ngọc Thu viết trong bài “Vì sao Chủ tịch nước Trần Đại Quang qua đời?” đăng trên trang Tiếng Dân.
Trong một chế độ dối trá, cả đến cái chết cũng phải được đảng, được các đồng chí của mình cho phép. Đó là chưa nói nguyên nhân, lý do thực sự vì sao một số ông lại phải ra đi, có phải do bị các đồng chí của mình hãm hại trong cuộc tranh giành quyền lực như dân tình đồn đãi hay không. Chỉ khi nào có một thể chế minh bạch, được vận hành bởi luật pháp, cộng thêm sự giám sát của báo chí và tiếng nói của nhân dân thật sự có trọng lượng, thì lúc đó những cuộc tranh giành đấu đá hãm hại nhau trong bóng tối mới khó có cơ may xảy ra…
Cọp chết để da, người ta chết để tiếng
Nhớ lại gần đây khi Thượng nghị sĩ John McCain, ứng cử viên tổng thống Mỹ năm 2008, người từng bị giam cầm ở Hà Nội thời Chiến tranh Việt Nam, đã qua đời sau một thời gian dài điều trị chứng ung thư não ác tính, không chỉ người Mỹ, mà rất nhiều lãnh đạo, chính khách trên thế giới đã bày tỏ niềm thương tiếc, kính trọng. Đặc biệt nhiều người Việt đang sống tại VN, tại Mỹ và nhiều nơi khác cũng bày tỏ sự thương tiếc khi ông qua đời, vì những nỗ lực của ông trong quá trình gác bỏ hận thù, bình thường hóa quan hệ giữa hai nước, cũng như chương trình HO mà ông là tác giả, đã giúp đưa hơn 500 000 sĩ quan quân lực VNCH và thân nhân của họ được định cư trên đất Mỹ.
Còn đối với người dân Mỹ, ông không chỉ là một anh hùng chiến tranh mà còn là một con người yêu nước thực sự, đã cống hiến cả cuộc đời để bảo vệ những giá trị của nước Mỹ, dù trên chiến trường hay trong lòng nước Mỹ. Một chính khách trung thực, có lương tri, có đạo đức, luôn luôn đặt lợi ích của quốc gia lên trên đảng phái, sẵn sàng lên tiếng bào vệ đối thủ chính trị hay chỉ trích những việc làm, sai trái của Tổng thống đương nhiệm cho dù là người cùng đảng Cộng Hòa. Nói về ông, người ta nói về một nhân cách lớn, một con người quân tử, cao thượng, một người yêu nước. Những tính từ đẹp nhất để nói về một con người-một quân nhân và một chính khách.
Không biết khi thấy những phản ứng đối nghịch rất rõ của người VN dành cho một “cựu thù” và cho một quan chức lãnh đạo của chính nước mình như vậy, những con người đang ngồi trên những vị trí cao nhất của đảng và nhà nước cộng sản VN có suy nghĩ gì hay không?
Có lẽ họ cũng biết, nhưng họ vẫn chọn con đường coi như không thấy không biết, một phần vì vẫn còn quá ảo tưởng vào sức mạnh của chế độ, tưởng như chế độ này cứ thế tồn tại mãi nhờ vào bạo lực và sự sợ hãi, một phần do không ai trong số họ đủ tâm, đủ tầm, đủ sức để làm bất cứ một sự thay đổi nào. Họ sợ hãi mọi sự thay đổi. Họ chọn lựa cách dễ dàng là bảo vệ đến cùng những gì đang có.
Cũng như từ trước đến nay, đảng và nhà nước cộng sản luôn luôn lựa chọn con đường dễ dàng nhất, có lợi nhất cho mình, bất chấp lợi ích của đất nước, dân tộc, bất chấp những xoay chuyển của thời cuộc khách quan, dòng chảy của lịch sử…Hậu quả là cả đất nước này, dân tộc này phải đi trên con đường khó khăn nhất, chậm chạp nhất và tổn thất nhất để giành lại Tự Do, Dân Chủ, Hạnh Phúc.
Nhưng hậu quả ấy còn đến với chính đảng và nhà nước cộng sản chọn lựa đàn áp nhân dân để bảo vệ chế độ đến cùng thay vì tự thức tỉnh và thay đổi, đó là chính họ đã đóng cửa con đường quay về trong hòa bình với nhân dân. Bạo lực, thù hận do đó khó mà tránh khỏi.
Cuộc đánh tư sản sắt máu của Đỗ Mười đã “tạo ra” loại con cái đấu tố cha mẹ ruột mình. Lý Mỹ (điển hình) là con gái một gia đình kinh doanh buôn bán, có một cửa hàng ở đường Cách mạng Tháng Tám, quận 10. Khi X-3 (cuộc đánh tư sản do Đỗ Mười chỉ huy) nổ ra, Lý Mỹ mới 17 tuổi, được tổ chức đoàn tuyên truyền giáo dục lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, được kết nạp đoàn khóa 26-3, được nghe đích thân ông Đỗ Mười nói chuyện về chính sách cải tạo công thương nghiệp. Trái tim non trẻ của cô học sinh mười bảy tuổi như sôi sục bầu máu nóng đấu tranh giai cấp, cô đã chọn đối tượng để đấu tranh, đó chính là cha mẹ mình…
X-3, với “công lao to lớn” của Đỗ Mười, thu được khoảng hơn 4.000 kg vàng, gần 1.200.000 đô la, và một khối lượng hàng hóa không thống kê hết. Từ chiếc xe hơi, TiVi, tủ lạnh, đến bịch bột giặt, quả trứng gà đều khê khai và tịch thu chất trong các kho, để rồi không cánh mà bay, hoặc biến thảnh phế thải…
X-3, cú đòn trời giáng cuối cùng, biến “Hòn ngọc Viễn Đông” thành “Thành phố chết”, đẩy thêm dòng người bỏ đất nước ra đi bất chấp hiểm nguy, bao nhiêu số phận đã rã rời trên biển sâu…
Chiều 21-3-1978, Hội trường của trường đảng Nguyễn Ái Quốc II, Thủ Đức, như nghẹt thở. Mấy trăm cán bộ cơ quan trung ương và các tỉnh, thành phố phía Nam được triệu tập về đây từ hai, ba ngày trước. Ăn, ngủ ngay tại đây, nội bất xuất, ngoại bất nhập, công an giám sát chặt chẽ. Tôi là phóng viên báo Tiền Phong, Trung ương Đoàn trưng dụng làm “nhiệm vụ đặc biệt” cũng nằm trong số đó.
Nhiệm vụ đặc biệt gì không ai được biết. Qua vài thông tin rò rỉ, các “quân sư quạt mo” nhận định chuẩn bị đánh tư sản thương nghiệp, mật danh X-3, dưới sự chỉ huy của “Bàn tay sắt” Đỗ Mười và giờ G đã điểm! Khi đó, ông Đỗ Mười là Phó Thủ tướng kiêm nhiệm Trưởng ban Cải tạo Công thương nghiệp Xã hội chủ nghĩa, phụ trách vấn đề cải tạo Công thương nghiệp XHCN tại miền Nam.
Hôm đó, Đỗ Mười mặc chiếc quần Kaki màu cà phê đậm, chiếc áo sơ mi ngắn tay cùng màu, chân đi dép, khổ người khệnh khạng, mặt chữ “nãi”, trán ngắn đầy nếp nhăn, miệng cá trê, bờm tóc dựng trông rất dữ. Tôi đã được nghe nói nhiều về tính bốc đồng, nóng nảy của Đỗ Mười, hôm đó được giáp mặt, quả đúng vậy.
Đúng như mọi người dự đoán, chiến dịch X-3 đã bắt đầu.
Đỗ Mười đọc Quyết định của Thủ tướng, đọc Chỉ thị 100-CP, và triển khai kế hoạch cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh tại thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam.
Đỗ Mười nói: “Từ sau giải phóng chúng ta đã thực hiện X-1, tập trung bọn ngụy quân, ngụy quyền học tập cải tạo. (Rất cần phải nhắc lại cái kế hoạch X-1 do hung thần Đỗ Mười đề xuất: Sĩ Quan Ngụy tù Trung Úy trở lên, Công chức từ cấp Chánh Sự Vụ trở lên: “Tử hình”. May mà tuị Pol Pot làm quá nên bị cả Thế Giới nguyền rủa và lên án nên CSVN mới chùn tay). Đã thực hiện X-2 đánh bọn tư sản mại bản. Bây giờ chiến dịch X-3, quyết liệt nhất, nhằm tiêu diệt tận gốc rễ chủ nghĩa tư bản, tay sai đế quốc Mỹ, diệt triệt để, diệt không nương tay…ông vừa nói vừa chém tay vào không khí.
“Đánh rắn phải đánh dập đầu, ta đã đánh dập đầu rồi, nhưng con rắn tư bản đánh dập đầu nó chưa chết, cái đuôi nó còn nguy hiểm hơn cái đầu. Không giần cho nát cái đuôi của nó, thì nó vẫn tác oai tác quái phá chúng ta. Vừa qua kẻ nào vơ vét mì chính (bột ngọt), vải vóc, đường, sữa đầu cơ trục lợi, rồi lại đổ tội cho nhà nước ta chuyển ra Bắc nên thị trường khan hiếm (đúng là nhà nước vét hết để chở ra bắc vì dân bắc sống sung sướng trong thiên đường XHCN nên các cửa hàng trống rỗng, thực phẩm phải mua bằng tem phiếu, vải được phân phối mỗi năm 4 mét/người). Chính là bọn tư sản thương nghiệp! Kẻ nào tích trữ thóc gạo để dân ta đói? Chính là bọn đầu nậu lúa gạo. (thực ra chính CS đã đầu nậu). Tôi hỏi các đồng chí, kẻ nào cung cấp lương thực, thực phẩm cho tổ chức phản động trên Lâm Đồng chống phá cách mạng? Kẻ nào? Chính là bọn tư sản đấy! Bọn gian thương đầu cơ, phá hoại, bọn ngồi mát ăn bát vàng, rút rỉa máu xương đồng bào ta, ngăn cản con đường tiến lên xã hội chủ nghĩa của đảng ta…”
Đỗ Mười nói say sưa, hùng hồn, quyết liệt. Mép sủi bọt. Tay vung vẩy. Mồ hôi trán đầm đìa. Lúc đầu mặc quần áo nghiêm chỉnh, sau một hồi diễn thuyết khoa chân múa tay, Đỗ Mười bật nút áo sơ mi phanh ngực ra. Cuối cùng cởi phăng cái áo sơ mi ướt đẫm mồ hôi, trên người ông chỉ còn mỗi chiếc áo may ô ba lỗ.
Đỗ Mười vẫn hăng nói: “Cho nên chúng ta phải róc thịt chúng ra. Bắt chúng lao động sản xuất, tự làm lấy mà ăn. Phải biết cày ruộng, cấy lúa, trồng ngô. Đất hoang còn nhiều, bắt chúng đổ mồ hôi sôi nước mắt kiếm miếng ăn…”
Bầu không khí ngột ngạt và kích động muốn nổ tung hội trường. Sức nóng từ Đỗ Mười truyền đến từng người. Tiếng vỗ tay rào rào, tiếng cười tiếng nói hả hê. Những gương mặt hừng hực khí thế “xung trận”.
Xin đừng ở vị trí hôm nay phán xét những người trong cuộc ba mươi lăm năm trước, thời điểm đó tư duy của mọi người khác bây giờ, nhất là tư duy của những cán bộ đảng viên vốn tin tưởng tuyệt đối vào đường lối chính sách của đảng. Những người mà đảng bảo sao cứ làm đúng phắc như vậy. Hãy bình tĩnh nhìn lại một cách trung thực, khách quan, để thấy một phần nỗi đau của mình, bạn bè mình, dân tộc mình, nỗi đau từ sự ấu trĩ, nóng vội, làm ào ào, đặt trái tim không đúng chỗ ngay từ khởi đầu!
Đỗ Mười kết thúc buổi triển khai chiến dịch X-3, bằng mấy cái chém tay như có ‘thượng phương bảo kiếm’: “Anh nào, chị nào nhụt ít chí thì lui ra một bên. Kẻ nào tỏ ra nhân nhượng với bọn tư sản là phản bội giai cấp, không phải Bôn-sê-vích, có tội với đảng với dân, sẽ bị trừng trị!”
Chúng tôi ra về với một tâm trạng nặng nề, mang theo lời cảnh tỉnh “Tuyệt đối bí mật”.
Nhưng hình như linh tính đã báo điềm chẳng lành cho thành phố Sài Gòn. Đó là cảm giác của tôi khi chạy xe máy từ cầu Công Lý lên cảng Bạch Đằng vòng qua Chợ Lớn. Người dân đổ ra đường nhiều hơn, vội vã, tất tưởi, gương mặt thất thần, nhiều tốp người tụm nhau bàn tán. Người ta nháo nhào đi mua từng cân muối ký gạo, như sắp chạy càn. Người dân thành phố vốn nhạy cảm và đó lại là cảm giác đúng: Thủ tướng nào thì chưa biết, nhưng trước hết phải lo thủ lấy miếng ăn!
Bảy giờ sáng hôm sau, ngày 23-3-1978, tất cả các cửa hàng kinh doanh to nhỏ, đủ mọi ngành nghề, ngóc ngách, đóng cửa, án binh bất động theo lệnh của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Một bản thông báo ngắn gọn do ông Vũ Đình Liệu thay mặt UBND thành phố ký được ban hành ngay sau đó, xác nhận “Chiến dịch X-3”, bắt đầu ở thành phố mang tên Bác.
Bên cạnh các chiến dịch đánh tư sản, Hà Nội còn áp dụng thêm một số biện pháp có tính toán nhằm triệt tiêu mầm mống tư sản ở miền Nam thông qua cái gọi là “kinh tế mới”
Tất cả các cơ sở kinh doanh, buôn bán, nhà hàng, cửa hàng, kho tàng, trung tâm dịch vụ bị niêm phong. Danh sách đã được lên từ trước. Họ làm bí mật lâu rồi. Như một trận đánh giặc đã được trinh sát, điều nghiên tỉ mỉ, chính xác. Các tổ công tác ập vào từng điểm bất ngờ, nhanh chóng niêm phong tài sản, khống chế mọi người trong gia đình nội bất xuất, ngoại bất nhập. Mỗi điểm niêm phong có tối thiểu một tổ ba người, không cùng cơ quan, không quen biết nhau. Họ là thanh niên xung phong, thanh niên công nhân các nhà máy, sinh viên các trường đại học, cả những thanh niên các phường được huy động vào chiến dịch.
Ngay buổi chiều hôm ấy một cuộc mít tinh tuần hành từ Nhà văn hóa thanh niên do Thành đoàn tổ chức. Hàng ngàn học sinh, sinh viên rầm rộ xuống đường, diễu hành khắp các phố chính Sài gòn, Chợ Lớn, hoan nghênh chính sách cải tạo công thương nghiệp của đảng, đả đảo bọn gian thương. Suốt đêm Câu lạc bộ thanh niên vang lên bài ca “Tình nguyện”, “Dậy mà đi”. Khi chống Mỹ sinh viên học sinh hát những bài hát ấy, giờ cũng hát những bài hát ấy để tăng bầu nhiệt huyết đánh tư sản!
Ngày 26-3-1978, cô công nhân Nguyễn Thị Bé B. ở nhà máy dệt Phong Phú được kết nạp đoàn vì từ chối nhận một món quà của một cơ sở kinh doanh mà cô canh giữ. Tiếp theo một trường hợp tương tự, anh thanh niên Vũ Ngọc Ch. ở nhà máy dệt Thắng Lợi.
Mấy ngày sau tiếng trống ở trường Trần Khai Nguyên quận 5, vang lên, như trống trận. Đó là nơi tập trung của 1.200 thanh niên học sinh người Hoa xuống đường ủng hộ chính sách cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, người dẫn đầu là cô học sinh lớp 11, có gương mặt búp bê, mái tóc cắt ngắn: Lý Mỹ.
Lý Mỹ là con gái một gia đình kinh doanh buôn bán, có một cửa hàng ở đường Cách mạng Tháng Tám, quận 10. Khi X-3 nổ ra, Lý Mỹ mới 17 tuổi, được tổ chức đoàn tuyên truyền giáo dục lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, được kết nạp đoàn khóa 26-3, được nghe đích thân Đỗ Mười nói chuyện về chính sách cải tạo công thương nghiệp. Trái tim non trẻ của cô học sinh mười bảy tuổi như sôi sục bầu máu nóng đấu tranh giai cấp, cô đã chọn đối tượng để đấu tranh, đó chính là cha mẹ mình.
Lý Mỹ vận động thuyết phục cha mẹ kê khai tài sản, cha mẹ chần chừ, cô trực tiếp đứng ra kê khai. Cô theo dõi bố mẹ cất giấu vàng bạc, của cải, báo cho tổ kê khai moi móc ra bằng hết. Lý Mỹ phát biểu trên báo: “Tinh thần Pavel Corsaghin sáng chói trong trái tim tôi! Tôi không cần vàng bạc, của cải, cha mẹ tôi bóc lột của nhân dân. Từ hôm nay tôi từ bỏ giai cấp bóc lột, bước sang cuộc sống mới, hòa vào dòng người lao động vinh quang xây dựng xã hội chủ nghĩa” (Báo Tiền Phong số 40,1978).
Khi cha mẹ vật vã than khóc, và dọa ra nước ngoài, Lý Mỹ tuyên bố nếu cha mẹ xuất cảnh, cô sẽ ở lại một mình, chấp nhận cuộc sống cô đơn để cống hiến cho lý tưởng cộng sản!
Không phải chỉ có một Lý Mỹ, mà hàng trăm “Lý Mỹ” như vậy. Những “Lý Mỹ” được sinh ra nóng hổi dưới lá cờ Đoàn thanh niên cộng sản Hổ Chí Minh, và qua sự khích động của Đỗ Mười.
Trong cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc có con tố cha mẹ, vợ tố chồng, bạn bè tố nhau. Những cán bộ từng hoạt động bí mật trong chiến tranh, được những gia đình buôn bán, giàu có bao bọc, giờ quay ngoắt lại tịch thu tài sản ân nhân của mình. Những tính từ bọn, đồng bọn, “tên tư sản”, “con buôn” thay danh từ ông, bà, anh, chị. Gần ba chục năm trước, người bị quy là địa chủ, phú nông xấu xa thế nào, thì 1978, người bị gọi là tư sản, con buôn xấu xa như vậy. Người ta, vỉ ngu dốt như Đỗ Mưởi, đã phủ nhận một tầng lớp tiên tiến của xã hội, nhục mạ tầng lớp đó, đào hố ngăn cách giữa các tầng lớp nhân dân, và kéo lùi sự phát triển của đất nước, đó là một sự thật lịch sử cần ghi nhận.
Chiến dịch X-3 thành phố Hồ Chí Minh, đã đánh gục 28.787 nhà máy, xí nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh, hộ buôn bán.
Ông Nguyễn Văn Linh nói: “Khi tôi làm Trưởng ban cải tạo trung ương, tìm hiểu và dự kiến Sài Gòn, Chợ Lớn có khoảng 6.000 hộ kinh doanh buôn bán lớn. Khi Đỗ Mười thay tôi, anh ấy áp dụng theo quy chuẩn cuộc cải tạo tư sản Hà Nội từ năm 1955, nên con số mới phồng to lên như vậy” (Nguyễn Văn Linh, Những trăn trở trước đổi mới).
Đỗ Mười đưa hàng ngàn hộ tiểu thương, trung lưu vào diện cài tạo, gộp luôn những hộ sản xuất vào đối tượng đó.
Ông Nguyễn Văn Linh nói: “Anh Mười không trao đổi với chúng tôi. Anh ấy có ‘thượng phương bảo kiếm’ trong tay, toàn quyền quyết định” (Nguyễn Văn Linh trăn trở cuộc đổi mới).
Đỗ Mười thay Nguyễn Văn Linh làm Trưởng ban cải tạo ngày 16-2-1978. Trong chiến dịch X-3, Đỗ Mười không sử dụng người của Nguyễn Văn Linh, mà đưa hầu hết cán bộ từ miền Bắc vào nắm giữ những vị trí quan trọng. Đồng thời Đỗ Mười bố trí cán bộ các ngành thương nghiệp, giao thông vận tải, công nghiệp nhẹ, kho hàng vào tiếp quản. Đỗ Mười đóng đại bản doanh ở Thủ Đức, trực tiếp chỉ đạo, không tham khảo bất cứ ý kiến ai trong cơ quan lãnh đạo thành phố Hồ Chí Minh.
Kết quả X-3, với “công lao to lớn” của Đỗ Mười, thu được khoảng hơn 4.000 kg vàng, gần 1.200.000 đô la, và một khối lượng hàng hóa không thống kê hết. Từ chiếc xe hơi, TiVi, tủ lạnh, đến bịch bột giặt, quả trứng gà đều khê khai và tịch thu chất trong các kho, để rồi không cánh mà bay, hoặc biến thành phế thải.
X-3, cú đòn trời giáng cuối cùng, biến “Hòn ngọc Viễn Đông” thành “Thành phố chết”, đẩy thêm dòng người bỏ đất nước ra đi bất chấp hiểm nguy, bao nhiêu số phận đã rã rời trên biển sâu. Năm 2005, nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt nhìn nhận: “Trong các chiến dịch cải cách ruộng đất và cải tạo công thương nghiệp, nhiều nhân sĩ yêu nước, nhiều nhà kinh doanh có công với cách mạng đã không được coi như bạn nữa, gây những tổn thất lớn về chính trị và kinh tế”.
Có lần chúng tôi hỏi nhà báo Trần Bạch Đằng: “Hình như trong 63 năm tham gia cách mạng và làm lãnh đạo, Đỗ Mười không để lại một tác phẩm nào?”. Ông Trần Bạch Đằng chớp mắt nhếch cái miệng méo xẹo: “Cha ấy để lại cho đời tác phẩm cải tạo công thương nghiệp, biến Sàigòn và miền Nam thành những vùng đất chết!” .
Ông Đoàn Duy Thành, nguyên Phó Thủ tướng chính phủ kể: “Một lần anh Mười xuống Hải Phòng, tôi và anh Nguyễn Dần dẫn anh ấy đi thăm nhà máy đóng tàu. Đi ngang Quán Toan thấy cái nhà hai tầng, anh Mười hỏi: “Nhà ai đây?” tôi trả lời: “Dạ nhà anh Bút lái xe”, anh Mười nói: “Nếu tôi mà là bí thư, chủ tịch thành phố tôi sẽ tịch thu ngay cái nhà này làm nhà mẫu giáo!”. Đỗ Mười là người đố kỵ với Võ Nguyên Giáp, không biết vì ghen ghét tài năng hay nguyên nhân gì. Ông Đoàn Duy Thành kể: “Chuẩn bị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V, anh Mười gọi tôi tới, nêu vấn đề anh Văn năm 16 tuổi được thực dân Pháp cho sang Pháp học 6 tháng. Rồi anh Mười bảo, về nói cho đoàn đại biểu Hải Phòng biết, và những ai quen biết ở các đoàn khác cũng nói cho các đồng chí ấy biết. Tôi hỏi anh Trường Chinh, anh Trường Chinh bảo: “Võ Nguyên Giáp năm 1941-1942, kể cả việc làm con nuôi Martin trùm mật thám Đông Dương là chuyện bịa hết!… Anh Mười, anh ấy rất võ biền. Các cuộc họp tôi nói, anh ta thường chặn lời tôi…” (Làm người là khó).
Ông Nguyễn Văn Linh trong một lần hội nghị ở T78 đã nói thẳng với Đỗ Mười: “Anh Mười tưởng rằng làm Ủy viên Bộ chính trị là to lắm, muốn nói gì thì nói, muốn làm gì thì làm, muốn phê bình ai cũng được… Anh Mười đứng dậy nói: “Tôi nói đó là tinh thần Bôn-sê-vich” (Làm người là khó).
Ông Đoàn Duy Thành kể tiếp: “Có lần tôi hỏi anh Tô (Phạm Văn Đồng): “Còn Đỗ Mười thì sao?”. Anh Tô suy nghĩ hai ba phút rồi nói: “Chỉ có phá !”.
Nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói rất đúng với trường hợp cải tạo công thương nghiệp. Cũng đúng thôi, vì ông Mười xuất thân từ nghề hoạn lợn thiến heo sau đi theo cách mạng. Ông đâu có được học hành gì, bởi thế những suy tư và hành động của ông là suy tư và hành động của những tên lưu manh, vô lại, khi bỗng nhiên có chức, có quyền.
Năm nay Đỗ Mười hơn chín chục tuổi rồi. Nghe nói vẫn phải nuôi con mọn do cô hộ lý sinh ra và nói là con của ông??? Không biết có đúng không, và nếu đúng, tương lai nó sẽ ra sao? Cầu trời, nó đừng như những “đứa con” sinh ra từ cuộc cải tạo công thương nghiệp 1978 như Lý Mỹ!