Cựu tổng thống Hàn Lee Myung-bak tù 15 năm

Van H Pham and BBC News Tiếng Việt shared a link.
About this website

BBC.COM

Cựu Tổng thống Hàn Quốc Lee Myung-bak vừa bị kết án 15 năm vì tội hối lộ, tham ô và lạm dụng quyền lực.
Van H Pham

**********

Cựu tổng thống Hàn Lee Myung-bak tù 15 năm

Cựu Tổng thống Hàn Quốc Lee Myung-bak vừa bị kết án 15 năm vì tham nhũng.

Ông Lee là nhà cựu lãnh đạo thứ tư của Hàn Quốc bị bỏ tù.

Ông đã bị kết án tại tòa án Seoul hôm thứ Sáu về tội hối lộ, tham ô và lạm dụng quyền lực, và phải trả khoản tiền phạt 13 tỷ won (268 tỷ VND).

Cựu tổng thống thì nói rằng các cáo buộc chống lại ông có động cơ chính trị.

Người kế nhiệm ông là bà Park Geun-hye trước đó đã bị kết án 33 năm tù sau khi bị kết tội lạm dụng quyền lực và đe dọa.

Ông Lee đã không có mặt tại tòa án, lấy lí do sức khỏe kém.

Thẩm phán tại Tòa án quận trung tâm Seoul cho biết “hình phạt nặng nề cho bị cáo là không thể tránh khỏi” vì tính chất nghiêm trọng của tội.

Tòa án cho rằng ông Lee đã nhận hàng tỉ won từ tập đoàn Samsung để tha tội cho cựu chủ tịch tập đoàn Lee Kun-hee.

Samsung phủ nhận hối lộ vị cựu tổng thống.

Mối quan hệ giữa các nhà chính trị gia và những tập đoàn gia đình khổng lồ thường được gọi là chaebols luôn bị dò xét và là tâm điểm của các cáo buộc hình sự.

Như cựu tổng thống Park, bà đã bị tòa tuyên là đã thông đồng với bạn thân Choi Soon-sil nhằm gây áp lực cho các công ty như Samsung và Lotte để họ tặng hàng triệu đôla cho các quỹ của bà Choi.

NHỮNG TỘI ÁC ĐƯỢC THẦN THÁNH HÓA

NHỮNG TỘI ÁC ĐƯỢC THẦN THÁNH HÓA

PHẠM ĐÌNH TRỌNG

1. NGÔI MỘ NHỎ GÓC VƯỜN QUÊ CỦA NHÀ VUA HIỂN HÁCH VÀ NẤM MỒ ĐẤT GIỮA RỪNG VẮNG CỦA VỊ TƯỚNG LẪM LIỆT

Ngô Quyền dựng cọc Bạch Đằng đánh tan quân Nam Hán năm 938 chấm dứt gần ngàn năm ách nô lệ phương Bắc đè lên thân phận người Việt, trói vào số phận nước Việt. Chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền năm 938 đã dựng lên nền độc lập bền vững cho nhà nước Nam Việt. Ngô Quyền trị vì trên ngôi Vua tuy ngắn ngủi, chỉ có 6 năm nhưng nhà Ngô đã mở ra những triều đại huy hoàng Lý, Trần, Lê, Nguyễn, mỗi triều đại kéo dài hàng trăm năm. Từ đó, cương vực lãnh thổ nước Việt từ Châu Hoan, Châu Ái, từ lưu vực sông Hồng, sông Mã, sông Chu được mở rộng trải dài từ Hà Giang tới Hà Tiên, ra tận Phú Quốc, Thổ Chu về phía Nam và Hoàng Sa, Trường Sa về phía Đông. Vì vậy sử sách Việt Nam gọi Ngô Quyền là “Vua đứng đầu các Vua” của người Việt.

Ngô Quyền có công với dân với nước Việt lớn như vậy, có vị trí vẻ vang trong trang sử Việt oanh liệt như vậy nhưng khi làm xong sứ mệnh lịch sử lớn lao, khi thanh thản từ giã cuộc đời, vị Vua đứng đầu các Vua Việt Nam lại về yên nghỉ dưới nấm mồ bình dị trong mảnh vườn nhỏ của ông cha trên vùng đất trung du lúp xúp gò đồi xứ Đoài quê nhà. Không chiếm một mẩu đất sống của dân của nước, không xây lăng tẩm bề thế, không bia mộ tầng tầng lớp lớp.

Sau này dân làng Đường Lâm xứ Đoài quê Vua mới góp công, góp của lâp đền thờ vị Vua đứng đầu các Vua ngay trên nền ngôi nhà Vua sinh ra. Ngôi đền nhỏ bé, khiêm nhường hơn rất nhiều so với những tòa nhà lầu của người nông dân bình thường hôm nay. Không tượng đồng bia đá, không lộng lẫy vàng son, vật quí giá nhất trong đền thờ Ngô Quyền là cọc nhọn Bạch Đằng đã đâm thủng thuyền giặc Nam Hán từ hơn ngàn năm trước, đã đâm gục nền Bắc thuộc kéo dài gần ngàn năm.

Phía trước đền, cách vài trăm mét trên sườn dốc gò đồi là ngôi mộ Vua Ngô Quyền, bé nhỏ, đơn sơ, dung dị như một ngôi miếu dân dã cũng do dân làng quê Vua lập. Đền thờ Vua liền kề ngõ xóm nhà dân. Mái ngói đền Vua còn thấp hơn mái bằng tòa nhà lầu của người nông dân trong xóm. Mộ Vua kế bên vườn rau, vạt ngô, ruộng lúa của dân. Diện tích cả đền và mộ vị Vua đứng đầu các Vua của người Việt chỉ xấp xỉ một sào Bắc Bộ, ba trăm sáu mươi mét vuông. Ba trăm sáu mươi mét vuông của mái ngói nền nã màu đất trung du, của sân gạch Bát Tràng rêu phong, của đoạn đường lát đá ong vô cùng thân thuộc với đời sống hàng ngày của người dân. Ba trăm sáu mươi mét vuông của màu xanh cỏ cây hòa trong màu xanh mênh mang vô tận của làng quê Việt Nam. Không có gì khác biệt, không có gì ngăn cách với cảnh sắc, với không gian làng quê Việt Nam.

Không tốn một xu tiền thuế của dân cho việc trông coi đền nhưng suốt hơn ngàn năm qua hương khói không ngày nào tắt trong đền Vua, trước mộ Vua. Suốt hơn ngàn năm qua hồn thiêng Ngô Quyền, khí phách Ngô Quyền vẫn luôn hiện hữu giữa làng quê trung du yên ả.

Chấm dứt kiếp nô lệ cho dân, kết thúc ngàn năm Bắc thuộc cho nước, để lại cho nước trang sử vàng độc lập, lập lên triều đại phong kiến nhà Ngô rồi vua Ngô Quyền thanh thản trở về gửi xác trong mảnh vườn đồi bình dị quê nhà và gửi hồn trong màu xanh cỏ cây đất nước.

Không phải chỉ có một ông vua phong kiến Ngô Quyền biết kết thúc cuộc đời của bậc đế vương như một dân thường. Chỉ số chính xác nhất, rõ rệt nhất, ứng nghiệm nhất về sự thịnh suy của một triều đại chính là chỉ số về sự gần dân của bậc cai trị. Bậc cai trị nào cũng từ dân mà ra. Có chức quyền thì thành bậc cai trị nắm vận nước, lo phận dân. Khi sống chăm lo sức dân làm kế sâu rễ, bền gốc, dân giầu nước mạnh. Cuộc đời gần gũi thân thiết với từng số phận người dân. Khi chết, chức quyền giao lại cho người khác, lại về làm dân, kết thúc đời người lặng lẽ, bình dị như mọi người dân. Những bậc cai trị đó đã tạo ra những thời huy hoàng của đất nước, triều thịnh, nước mạnh, dân an vui.

Trong lịch sử Việt Nam từ thời Hùng Vương đến hôm nay chưa có vị tướng cầm quân nào có chiến công lừng lẫy như Trần Hưng Đạo. Đạo quân Nguyên Mông hùng mạnh đã chinh phạt, khuất phục cả dải lục địa từ Á sang Âu. Suốt 30 năm 1258 – 1288, ba lần Nguyên Mông cất quân đông tướng tài tràn vào đánh Đại Viêt. Ba lần Trần Hưng Đạo thống lĩnh ba quân nhà Trần đánh giặc Nguyên Mông tan tác, giữ vững nền độc lập của Đại Việt. Vị tướng lẫm liệt, kiệt xuất để lại công lớn cho dân cho nước, viết lên trang sử Việt chói lọi như vậy, khi chết cũng chỉ có nấm mồ nhỏ âm thầm trong cánh rừng làng Vạn Kiếp, bên dòng sông Bạch Đằng lịch sử nay thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương.

Ngược lại kẻ cai trị khi sống đã xa dân vời vợi bằng cuộc sống ăn tàn phá hại, cuộc sống giầu sang có được trên sự kiệt quệ của nước, trên sự khốn cùng của dân. Khi sống, bòn rút của nước, cướp bóc của dân. Cả cái chết vẫn còn làm hại nước khi chiếm đất sống của dân xây mả lớn, đền to ở một cõi riêng, tạo ra cả một không gian thần thánh cho cái chết của kẻ cai trị đầy tội ác với dân với nước.

2. LĂNG MỘ HOÀNH TRÁNG CỦA ÔNG CÒ CẢNH SÁT CỘNG SẢN

Cách hôm nay hơn ngàn năm, thời Ngô Quyền, xã hội Việt Nam còn là thời phong kiến sơ khai. Nhà nước cộng sản ngày nay thực chất cũng chỉ là nhà nước phong kiến, chỉ khác là: nhà nước cộng sản không những học đòi tất cả những cái xấu xa, tệ hại của nhà nước phong kiến mà cái tệ hại phong kiến còn được cô đặc, nâng lên rất cao. Còn những nề nếp tốt đẹp của phong kiến thì người cộng sản không thể học được. Tuy có học hàm học vị cao chót vót, giáo sư, tiến sĩ nhưng văn hóa thực sự chỉ là văn hóa bổ túc công nông, đại học chuyên tu, đại học tại chức, nền tảng văn hóa đó không thể thấy và không thể học những giá trị, những khuôn mẫu tốt đẹp của xã hội phong kiến, những người cộng sản cầm quyền mở miệng ra là lên án xã hội phong kiến thối nát, bất công, nguyền rủa giai cấp phong kiến tội lỗi và những người cộng sản luôn vỗ ngực tự nhận là đảng cộng sản của họ không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của nhân dân.

Trả lời cho tuyên truyền lừa bịp cộng sản không có gì xác đáng, thuyết phục hơn là hiện thực cuộc sống. Từ cuộc đời hiển hách công trạng để lại cho dân cho nước và cõi trở về trong lòng dân của ông vua phong kiến Ngô Quyền, của vị tướng phong kiến Trần Hưng Đạo đối chiếu với cuộc đời mang nặng nợ máu với dân, cuộc đời chiếm đoạt quá nhiều của dân và cõi trở về ngàn trùng xa cách với dân của ông cộng sản vừa lìa đời, ông cò cảnh sát cộng sản Trần Đại Quang, để thấy sự giả dối ghê tởm của tuyên truyền cộng sản và bản chất phản dân hại nước của người cộng sản.

Chưa cần xét đến mức độ kệch cỡm về thẩm mĩ, sự vung phí nguồn lực của đất nước, sự lạc lõng với thời đại của lăng mộ lạnh toát màu đá và ngạo nghễ đúng thói kiêu ngạo cộng sản, sừng sững trên cả trăm ngàn mét vuông đất kim cương giữa kinh kì của ông Vua cộng sản số một Hồ Chí Minh. Chỉ riêng tiền bảo quản xác ướp ông Hồ mà dân gian gọi là ông Minh Râu và duy trì hoạt động của cả một Bộ tư lệnh lăng, mỗi tháng đã ngốn hàng trăm tỉ tiền thuế của dân. Chỉ lăng mộ của một ông cò cảnh sát cộng sản chiếm hơn sáu mươi ngàn mét vuông đất bờ xôi ruộng mật của người nông dân đồng bằng Bắc Bộ ngàn đời đói đất cũng thấy sự giả dối, nhẫn tâm và bất lương cộng sản.

Tuy có hai năm cuối đởi ông cò cảnh sát leo lên đến tột đỉnh quyền lực, Chủ tịch nhà nước cộng sản, nhưng quãng đời hai năm ngắn ngủi đó ông Chủ tịch nhà nước cộng sản đã dành phần lớn thời gian cho những đợt nằm chữa bệnh trong bệnh viện và những chuyến đi tìm kiếm sự cứu rỗi nơi cửa Phật. Sáu lần nằm bệnh viện tận bên Nhật Bản, mỗi lần kéo dài cả tháng. Những lần vào điều trị bệnh viện trong nước còn nhiều hơn. Rồi thời gian tìm đến cửa Phật trong nước, ngoài nước. Đến tận thủ đô Phật giáo thế giới ở Gaya, bang Bihar, heo hút Tây Bắc Ấn Độ, nơi Đức Phật sống những ngày cuối cùng của kiếp người hữu hạn, nơi bắt đầu cuộc sống vĩnh hằng của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Tìm đến để gục đầu vào bức tường đá ngôi đền Mahabodhi, nơi Phật đi vào bất tử, mong Đức Phật đoái thương. Vì vậy dù có hai năm danh nghĩa là Chủ tịch nhà nước cộng sản nhưng cuộc đời thật sự của ông cộng sản Trần Đại Quang là cuộc đời ông cò cảnh sát cộng sản. Và hơn sáu mươi ngàn mét vuông đất ruộng màu mỡ của dân cho năng suất lúa cao đã về tay ông từ thời ông còn làm cò cảnh sát.

Ngàn đời đói đất, với người nông dân đồng bằng Bắc Bộ đất là vàng ròng, được tính từng tấc, từng li chứ không thể hào phóng, xa xỉ tính bằng thước, bằng mét và câu cửa miệng của người dân mang nỗi đói đất truyền kiếp là: bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu. Không có đất cày cấy, bố ông cò cảnh sát cộng sản phải mưa nắng lặn sông, lội đầm đơm đó, đánh dậm kiếm con cua con cá, mẹ ông phải buôn thúng bán bưng, đòn gánh đè xuống vai, gánh vã nải chuối, thúng khoai, sản phẩm của đất quê đi chợ xa chợ gần. Vậy mà ngay từ khi còn sống, biết rõ nỗi nghèo khó vì thiếu đất sống của người dân Kim Sơn, Ninh Bình quê ông, ông cò cảnh sát cộng sản Trần Đại Quang cũng nỡ chiếm 6,2 hecta, sáu mươi hai ngàn mét vuông đất ruộng màu mỡ, đất sống của người nông dân đói đất quê ông làm đất chết cho ông, làm khu lăng mộ kì vĩ cho ông về với tổ tiên của ông.

Thời nhà Nguyễn, dân số cả nước ta chỉ có mười triệu người. Đất rộng, người thưa, các Vua nhà Nguyễn thời phong kiến xấu xa, tồi tệ nhưng khi xây lăng mộ cho Vua còn biết nghĩ đến dân, dành đất sống cho dân. Ngày nay, nhà nước cộng sản Việt Nam đã cắt mười lăm ngàn cây số vuông đất biên giới phía Bắc, bằng diện tích tỉnh Thái Bình, dâng cho Tàu Cộng. Rồi những vùng đất rộng lớn đã trở thành đất sang nhượng cho Tàu Cộng như đất bô xít Tây Nguyên, đất Formosa Vũng Áng, Hà Tĩnh. Những vùng đất đã trở thành đất chết như đất phủ bùn đỏ ở Tân Rai, Lâm Đồng, đất bụi than Vĩnh Tân, Bình Thuận. Diện tích đất sống đang mất đi, đang co lại ngày càng lớn. Trong khi dân số cứ phình ra, đến nay dân số nước ta đã lên tới gần trăm triệu người. Dân số tăng gấp hơn chín lần so với thời triều Nguyễn. Đất sống của người dân vô cùng ít ỏi. Vậy mà một ông cộng sản từ khi chỉ là ông cò cảnh sát đã chiếm sáu mươi hai ngàn mét vuông đất màu của người nông dân đói đất quê ông làm lăng mộ cho mình.

Khu lăng mộ Vua Khải Định nhà Nguyễn trên núi giữa thiên nhiên hoang sơ cũng chỉ rộng 5.674 mét vuông. Lăng mộ của ông cò cảnh sát cộng sản Trần Đại Quang chiếm 62 000, sáu mươi hai ngàn mét vuông ruộng lúa của dân, rộng gấp 11 lần lăng Khải Định.

Thuê thầy địa lí vạch kênh tạo dòng chảy, tạo long mạch. Khoanh hồ hứng nước mưa tụ lộc trời. Chỉ riêng việc đào kênh, kè bờ, vét ao, trồng cây cổ thụ, tạo cảnh quan phong thủy cho khu lăng mộ và làm con đường nhựa thênh thang dẫn đến lăng của ông cò cảnh sát cộng sản đã phải đổ ra cả núi tiền, phải tính tới hàng trăm, hàng ngàn tỉ đồng. Nhìn núi tiền đổ ra dựng lên lăng mả ông cò cảnh sát cộng sản Trần Đại Quang lại phải nhớ đến lời khai của ông quan tham nhũng Dương Chí Dũng đã phải chi ra cả triệu đô la tìm kiếm sự che chở của những ông tướng cảnh sát điều tra vụ án Dương Chí Dũng. Lại phải nhớ đến tên tội phạm Phan Văn Anh Vũ núp danh nghĩa công an đã chiếm đoạt của nhà nước hàng ngàn tỉ đồng và bóng dáng tên tội phạm Anh Vũ luôn thấp thoáng, cặp kè phía sau ông cò cảnh sát Trần Đại Quang.

Hàng ngàn tỉ tiền đổ ra cho lăng mộ ông cò cảnh sát cộng sản trong khi người dân nghèo chỉ mắc bệnh thông thường, dễ chữa như lao phổi. Ngày nay được chữa kịp thời bệnh lao cũng chỉ như bệnh cảm cúm. Biết là bệnh lao nhưng không có tiền mua thuốc, không có tiền viện phí không dám vào bệnh viện. Đến lúc hấp hối đành đánh liều vào bệnh viện thì đã quá muộn vì lá phổi đã bị vi trùng lao khoét ruỗng rồi, không còn thuốc nào cứu được nữa. Chết rồi, không có tiền thuê ô tô đưa xác người chết từ bệnh viện về nhà, người thân đành bó xác chết trong mảnh chiếu rách, buộc xác chết sau xe máy. Manh chiếu hẹp, hai chân xác chết người nghèo thòi ra ngoài chiếu cứ lắt lẻo trên suốt chặng đường dài như đôi chân đó đang cuống cuồng chạy trốn số phận người dân đen trong nhà nước cộng sản.

Nhà nước cộng sản mua sự trung thành của khẩu súng, của sức mạnh bạo lực bằng ân sủng, bằng biệt đãi, bằng lon tướng ban phát tràn lan cho công an. Thời lạm phát tướng công an thì ông tướng Trần Đại Quang cũng chỉ sàn sàn cá mè một lứa giữa hàng trăm ông tướng công an khác. Vụ nhà nước Dega nổ ra, người dân Ê Đê, Ba Na, Gia Rai Tây Nguyên nổi dậy đòi quyền sống, đòi quyền làm chủ núi rừng ngàn đời của họ là dịp để ông tướng công an Trần Đại Quang lấy máu người dân Ê Đê, Ba Na ghi công với nhà nước cộng sản và bộc lộ lòng trung thành với đảng cộng sản của ông.

Cả cuộc đời làm cò cảnh sát, làm công cụ bạo lực của nhà nước chuyên chính vô sản, ông cò cảnh sát Trần Đại Quang đã có công rất lớn với nhà nước cộng sản trong việc duy trì nền độc tài cộng sản nhưng lại có tội rất lớn với dân, tước đoạt những giá trị làm người của người dân, trói buộc kìm hãm người dân trong tăm tối nô lệ cộng sản mà nô lệ cộng sản còn độc ác, man rợ hơn cả nô lệ Bắc thuộc và nô lệ Pháp thuộc. Máu dân và thân phận nô lệ của người dân đã đưa ông cò cảnh sát Trần Đại Quang lên tới chức bộ trưởng bộ Công an và lên tới hàm đại tướng. Thời ông cò cảnh sát Trần Đại Quang là Bộ trưởng bộ Công an đã mở ra thời kiêu binh của công an. Công an lạm quyền. Bạo lực công an tràn lan. Hàng trăm người dân lương thiện bị công an đánh chết diễn ra khắp nơi, trên đường phố bình yên, giữa làng quê thanh bình, trong trụ sở công an, trong trại tạm giam. Dân oan bị quan tham cướp đất biểu tình ôn hòa đòi đất, người dân yêu nước biểu tình hợp pháp phản đối giặc Tàu Cộng xâm lược biển đảo đều bị công an vu cho người biểu tình tội gây rối trật tự công cộng, bị đàn áp dã man, bị bắt giam phi pháp. Phụ nữ bị đánh chan hòa máu mặt ngay trên đường phố. Đàn ông bị đánh chấn thương sọ não trong nhà giam.

Tồn tại bằng công cụ bạo lực nhà nước, nhà nước cộng sản dung túng bao che cho những tội ác tày trời mà đám quân của ông cò cảnh sát cộng sản Trần Đại Quang đã gây nợ máu với dân và những tội ác đó đã đưa ông cò cảnh sát Trần Đại Quang lên tới vị trí người đứng đầu nhà nước cộng sản. Tội ác của ông cò cảnh sát cộng sản Trần Đại Quang đã gây ra cho dân đã được nhà nước cộng sản dung túng bao che nhưng nhân dân dù bao dung vẫn đòi hỏi công bằng. Còn lịch sử luôn sòng phẳng và nghiêm khắc sẽ phán xét đảng cộng sản Việt Nam cùng những lãnh đạo hàng đầu của đảng trong đó có ông cò cảnh sát Trần Đại Quang tội chống lại nhân dân, chống lại dòng chảy tiến hóa của lịch sử, tội giam cầm, tù đày nhân dân trong nô lệ cộng sản.

Tượng đồng, tượng đá của Lê nin, ông trùm cộng sản thế giới đang bị giật đổ, đập nát ở khắp nơi trên những đất nước đã phải trải qua những năm dài tăm tối cộng sản. Ông cò cảnh sát Trần Đại Quang chồng chất nợ tự do, nợ máu với dân, một tội đồ của lịch sử Việt Nam thì lăng mộ hoành tráng của một tội ác như vậy sẽ tồn tại được bao lâu?

3. THẦN THÁNH HÓA TỘI ÁC

Triều đại nào đến hồi suy vi cũng nảy nòi ra nhiều trò hại dân, hại nước. Chỉ đến triều nhà Nguyễn, triều đại phong kiến cuối cùng mới có lệ dồn của cải tài nguyên của nước, vắt mồ hôi nước mắt của dân xây lăng tẩm cho Vua. Dồn dập, hối hả xây lăng tẩm nhưng bảy lăng tẩm bề thế, trùng trùng lớp lớp đền đài của các Vua nhà Nguyễn cũng không chiếm một tấc đất ruộng của dân. Không để dân mất đất sống, các Vua nhà Nguyễn đều chọn những triền núi hoang, không có vườn ruộng của dân, xây lăng mộ.

Là lăng tẩm Vua nhà Nguyễn nhưng không thấy nhà mồ, chỉ thấy những đền đài mang vẻ đẹp của kiến trúc Phật giáo Việt Nam, mang thẩm mĩ tinh tế và tài hoa sáng tạo của dân gian Việt Nam đã tạo ra công trình hài hòa cùng thiên nhiên Việt Nam. Mái ngói rêu phong cổ kính đền đài thấp thoáng trong màu xanh thiên nhiên, như là một phần tư nhiên của thiên nhiên vĩnh hằng. Không gian trầm tư của lăng tẩm sâu hút trong tiếng rì rầm bất tận của rừng cây. Vẻ đẹp kiến trúc lăng tẩm của các Vua triều Nguyễn tô điểm thêm vẻ đẹp mĩ lệ, huyền ảo cho thiên nhiên đất nước đã trở thành công trình nghệ thuật của muôn đời, trở thành tài sản văn hóa của nhân dân. Đó là sự đền bù cho tài nguyên của nước, cho công sức của dân đã đổ ra để có lăng tẩm các vua nhà Nguyễn.

Thời cộng sản, lăng mộ Hồ Chí Minh, một nhà mồ đơn độc khổng lồ ngạo nghễ giữa không gian mênh mông kinh kì đã nghĩa trang hóa, tha ma hóa cả kinh đô ngàn năm văn hiến. Trần trụi, bê tông hóa cả vùng đất bảng lảng sương khói huyền thoại với chùa Một Cột nhỏ nhắn như một đóa sen, với núi Nùng chỉ là gò đất giữa ngàn xanh bách thảo nhưng lãng đãng hơi sương Hồ Tây như thực, như ảo. Nhà mồ Hồ Chí Minh xám xịt, lạnh ngắt màu đá lạc lõng giữa sắc màu đô thị, lạc lõng giữa thời đại liên tiếp những cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật đưa con người tới nền văn minh tin học, giải phóng con người khỏi những thế lực thần quyền, con người đã trở thành những siêu nhân làm chủ cả vũ trụ. Lăng Hồ Chí Minh làm sống lại thế lực thần quyền, thần thánh hóa một thế lực chính trị phàm tục, đẫm máu dân và đã hết vai trò lịch sử. Lăng Hồ Chí Minh đưa Hồ Chí Minh lên thành vị thánh của cả nước, dìm cả một dân tộc đau thương thành thần dân của một thế lực thần quyền, thành nô lệ của một ông thánh do tuyên truyền cộng sản thêu dệt lên.

Cũng như lăng mả Hồ Chí Minh, lăng mả Trần Đại Quang cùng lăng mả, nhà bảo tàng, nhà tưởng niệm những nhân vật cộng sản hàng đầu khác như Trần Phú, Lê Duẩn, Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Văn Linh . . . đều nhằm thần thánh hóa con người cộng sản và tổ chức cộng sản đã gây quá nhiều đau khổ cho dân, đã gây quá nhiều mất mát, nguy hại cho nước. Lăng mộ Hồ Chí Minh đưa Hồ Chí Minh lên hàng thánh của cả nước thì lăng mộ Trần Đại Quang sẽ đưa ông cò cảnh sát Trần Đại Quang hai tay ròng ròng máu dân lên hàng thánh của một vùng quê đồng bằng Bắc Bộ. Rồi lăng mộ Đỗ Mười, lăng mộ Nguyễn Đức Bình và lăng mộ nhiều ông thủ lĩnh cộng sản kế tiếp sẽ đưa các ông đó lên hàng thánh ở vùng quê các ông. Từ nay, bầu trời tâm linh của người dân Việt Nam chỉ có các ông thánh cộng sản và đất sống của người dân Việt Nam trở thành đất sa mạc chết với trùng điệp, san sát, hiu hắt những lăng mộ cộng sản.

Lí tưởng sống của người cộng sản được tô vẽ vô cùng cao đẹp: Người cộng sản không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của nhân dân! Nhưng con người cộng sản trong cuộc đời thực từ lúc sống đến cả cái chết lại vô cùng thấp hèn. Những người cộng sản đã lấy máu của hàng chục triệu người dân Việt Nam, đã dìm cả dân tộc Việt Nam vào cuộc chém giết suốt gần nửa thế kỉ để làm cuộc cách mạng trừ phong phản đế, diệt trừ phong kiến, đánh đuổi đế quốc giành chính quyền cho người cộng sản. Khi có chính quyền trong tay, những người cộng sản đã thiết lập một nhà nước vừa là thế quyền độc ác, tàn bạo hơn cả chính quyền đế quốc xâm lược, vừa là thần quyền mê muội, tăm tối, ngột ngạt hơn cả thời phong kiến cổ hủ. Cuộc đời và lăng mộ những người lãnh đạo cộng sản đã chứng minh và ghi nhận về một thời bất hạnh của giống nòi Việt Nam và một thời đen tối của lịch sử Việt Nam, thời cộng sản.

Image may contain: tree, plant, sky, outdoor and nature
Image may contain: plant, tree, sky, outdoor and nature
Image may contain: 1 person, outdoor
Image may contain: grass, stadium, outdoor and nature
Image may contain: sky, tree, outdoor, water and nature

Cái Địt Giữa Tòa

Cái Địt Giữa Tòa

1 NguyenVanTuc

Les lois sont des toiles d’araignées à travers lesquelles passent les grosses mouches et où restent les petites. (Luật pháp là mạng lưới chỉ bắt được những con ruồi nhỏ).

Honoré de Balzac


Balzac qua đời năm 1850. Từ đó đến nay cả đống nước sông, nước suối (cùng với nước mưa, nước mắt) đã ào ạt chẩy qua cầu và qua cống. Loài người mỗi lúc một thêm tiến bộ và văn minh hơn. Theo thời gian luật pháp – nói chung – cũng vậy, cũng được cải thiện (dần dần) nghiêm minh và đàng hoàng hơn thấy rõ. Ruồi lớn, giờ đây, cũng bị vướng vòng lao lý đều đều.

Cả Tổng Thống Đài Loan (Trần Thủy Biển) lẫn Tổng Thống Nam Hàn (Park Geun-hye) đều bị ngồi tù chỉ vì lem nhem về tiền bạc. Mới đây, ngày 20 tháng 09 năm 2018, cựu thủ tướng Malaysia Najib Razak cũng vừa phải vác chiếu hầu toà vì tội biển thủ công quỹ.

Nhân loại – tất nhiên – không phải lúc nào cũng vui vẻ nắm tay nhau, hướng về phía trước, và cùng đồng nhịp bước tiến. Ở Zimbabwe, Tổng Thống Robert Mugabe (một con  ruồi lớn) vừa thoát lưới dễ dàng vì luật pháp ở xứ sở này – ngó bộ – có hơi xộc xệch.

Nói vậy rất dễ gây ngộ nhận là (dường như) luật pháp tại Á Châu tiến bộ hơn ở Phi Châu chăng?

Không dám hơn đâu!

Việt Nam thuộc Đông Nam Á, và hệ thống pháp luật của quốc gia này, xem chừng, vẫn đang có khuynh hướng thụt lùi. Cựu T.T Nguyễn Tấn Dũng đã hạ cánh an toàn, không một phiên toà hay ngày tù tội gì ráo trọi, dù ông được công luận ghi nhận là một nhân vật “đầy tì vết tham nhũng” và “phá chưa từng có!”

Ngành tư pháp của đất nước Zimbabwe hình thành và lùi/tiến ra sao, nói thiệt, tui hoàn toàn mù tịt nên không dám lạm bàn. Còn ở VN của mình thì tui có biết (sơ) nên xin phép được nói qua chút xíu, nghe chơi, để rộng đường dư luận.

Đại Học Đông Dương khai giảng lần đầu vào năm 1907. Tác giả Trần Thị Phương Hoa (Institute for European Studies) cho biết thêm:

“Lần khai giảng thứ hai năm 1917 mở ra một hình thức mới cho trường – đó là mô hình bách khoa với nhiều trường kỹ thuật. Giai đoạn thứ ba từ 1932 đến 1945 khẳng định diện mạo của trường với ba thành tố: Trường Y, trường Luật và trường Khoa học.

Mặc dù trường đại học hạn chế số lượng thành viên, uy tín chuyên môn của Đại học Đông Dương tăng dần. Kể từ năm 1932, trường Y và trường Luật trở thành một phân hiệu của trường Y và Luật Paris.”

Không chỉ muộn màng, ngành luật học ở Việt Nam còn gặp rất nhiều trắc trở:

“Ngày 17-11-1950, Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 158-SL, quyết định việc bổ sung cán bộ công nông vào ngạch thẩm phán và thăng bổ các thẩm phán toà án nhân dân huyện lên toà án nhân dân tỉnh… Từ đây, theo ông Vũ Đình Hòe: ‘các thẩm phán huyện, đa số là đảng viên cộng sản, chỉ qua lớp chính trị và nghiệp vụ’. Quan điểm lựa chọn thẩm phán chủ yếu ‘đứng trên lập trường nhân dân’ của Hồ Chí Minh đã ảnh hưởng lâu dài đến nền tư pháp Việt Nam.” (Huy Đức. Bên Thắng Cuộc, tập II. OsinBook, USA: 2012).

2 NguyenVan Tuc
Muốn biết “quan điểm lựa chọn thẩm phán ‘chủ yếu là đảng viên cộng sản’ và ‘đứng trên lập trường nhân dân’ của Hồ Chí Minh đã ảnh hưởng lâu dài đến nền tư pháp Việt Nam” ra sao, xin đọc qua một mẩu đối thoại (giữa quan toà và bị cáo) trong phiên toà xử Phan Thắng Toán và những người đồng vụ – vào  năm 1971 – do nhạc sĩ Tô Hải ghi lại:

Chánh án: – Anh có nhận là đã đánh nhạc của tư sản, là đồi truỵ không?

Toán xồm: – Dạ! Thưa quý toà, con chỉ đánh những gì in trên đĩa của Liên Xô, của Tiệp Khắc, của Cộng Hoà Dân Chủ Đức thôi ạ!

Chánh án: – Anh nói láo! Thế Paloma, Santa Lucia là của ai?

Toán Xồm: – Dạ! Paloma là của nước bạn Cu Ba ạ! Còn Santa Lucia là dân ca Ý ạ! Nhà xuất Bản của nhà nước đã in và sân khấu nhà nước đã có nhiều ca sỹ biểu diễn ạ!

Chánh án: – Vậy anh có biết cha cha cha là cái gì không?

Toán Xồm: – Dạ! Có ạ!! Đây là một nhịp điệu xuất xứ cũng tại nước bạn Cu Ba ạ!

Chánh án: – Thế còn Tango bleu chắc anh cũng đổ cho Cu Ba hết hả?

Toán xồm: – Dạ không! Tango là một điệu nhảy Ác-giăng-tin nhưng đã được quốc tế hoá. Vừa giờ Đoàn xiếc Tiệp Khắc sang ta và các nước XHCN đều xử dụng cả ạ!

Chánh án: – Nhưng người ta đánh khác, còn anh đánh khác. Đừng có ngụy biện!

Toán Xồm: – Dạ! Đánh y hệt ạ! Chỉ có thua họ về nhạc cụ họ tốt hơn… chứ nếu chúng con có đầy đủ nhạc cụ như họ thì chúng con chẳng thua gì họ cả ạ!

Chánh án: – Anh hãy im miệng! Đồ ngoan cố!

Và cứ như vậy, suốt phiên tòa Chánh án chỉ sử dụng câu “Im miệng! Đồ ngoan cố” để cắt lời người bị buộc tội. Không hề có ai bào chữa.

Cuối cùng, toà luận án và tuyên án:

“Việc làm của bọn này đã gây ảnh hưởng xấu cho phong trào trật tự trị an, phá hoại việc thực hiện một số chính sách của Nhà nước, nhất là chính sách lao động sản xuất, chính sách nghĩa vụ quân sự… xâm phạm nghiêm trọng đến hạnh phúc, phẩm giá của phụ nữ, đến đạo đức và đời sống của nhiều người, và tuyên truyền xuyên tạc lại chế độ xã hội chủ nghĩa trong lúc cả nước đang chiến đấu chống Mỹ xâm lược.

Do tính chất nghiêm trọng của vụ án nói trên, toà quyết định xử phạt Phan Thắng Toán 15 năm tù giam và sau đó 5 năm bị tước quyền công dân; Nguyễn Văn Đắc, 12 năm tù giam và sau đó 5 năm bị tước quyền công dân; Nguyễn Văn Lộc 10 năm tù giam và 4 năm bị tước quyền công dân …” (“Phan Thắng Toán và Đồng Bọn Đã Bị Xét Xử” – báo Hà Nội Mới 12/ 01/1971).

Với truyền thống ban phát án tù vô tội vạ như trên, của nền tư pháp công nông (hóa) ở Việt Nam, nên không có gì ngạc nhiên khi ông Lê Đình Lượng đã bị kết án đến 20 năm tù – vào ngày 16 tháng 8 vừa qua – chỉ vì “có nhiều bài viết với nội dung tuyên truyền, kích động, xuyên tạc, phỉ báng chủ trương, đường lối của Đảng.” L.S Đặng Đình Mạnh còn cho BBC biết thêm là “ông Lượng giữ quyền im lặng suốt phiên tòa, nên bị đánh giá là ngoan cố.”

Hơn ba tuần sau, vào hôm 14 tháng 9 năm 2018 – tại một phiên toà khác – ông Nguyễn Văn Túc bị kết tội “tổ chức phản động, hoạt động trái pháp luật, nhằm âm mưu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, lật đổ chính quyền nhân dân, thay đổi thể chế chính trị.” Khác với ông Lê Đình Lượng, ông Nguyễn Văn Túc không giữ im lặng mà bật tiếng chửi thề. Sự kiện này đã khiến nhà thơ Thái Bá Tân buông đôi câu cảm thán:

Hôm qua xử phúc thẩm
Y án mười ba năm
Với anh Nguyễn Văn Túc
Một tù nhân lương tâm.

Anh chấp nhận bản án,
Không van xin, kêu ca.
Nghe nói chỉ nhếch mép
Và chửi:“Địt mẹ tòa!”

FB Bùi Thị Minh Hằng bình phẩm:

“Chắc chắn câu chửi thề này sẽ trở thành ‘dấu ấn ô nhục’ cho nền tư pháp cộng sản.”

Tôi thì nghĩ hơi khác, câu chửi thề này không phải là dấu ấn, mà là dấu chấm (hết) cho hệ thống tư pháp công nông mù loà và thô bạo của thể chế hiện hành. Từ nay, vẫn theo lời Thái Bá Tân:

Đừng nhắc đến công lý
Với tòa án nước ta.
Tôi, bị đem ra xử,
Cũng nói:”Địt mẹ tòa!”

Ai cũng đều nói thế cả thì kể như xong phim!

Tưởng Năng Tiến

Vị kỷ của các lãnh tụ dân chủ và độc tài

Vị kỷ của các lãnh tụ dân chủ và độc tài

Lê Minh Nguyên

6-10-2018

Vị kỷ – vì mình, lấy mình làm trung tâm của mọi quyết định, tuỳ theo môi trường sống mà nó biến đổi giữa hai cực ích kỷ và vị tha – là một trong ba tiểu bản năng của Sinh Tồn (vị kỷ, tình dục, xã hội).

Các lãnh tụ dân chủ và độc tài đều giống nhau ở một điểm: tất cả đều vị kỷ. Nhưng, sau cái điểm giống nhau này là nó bắt đầu rẽ qua hai hướng khác nhau.

Các lãnh tụ độc tài thì bản năng vị kỷ nó chạy theo chiều ích kỷ, chỉ biết có mình, chỉ lo phục vụ sinh tồn cá nhân và gia đình mình, sẵn sàng hy sinh sự sinh tồn của dân tộc.

Khi sống họ lo tóm thu quyền lực và quyền lợi càng nhiều càng tốt, quyền lực để ép dân như ép hạt mè lấy dầu, quyền lợi để đem tài sản và gia đình ra bên ngoài Việt Nam, coi VN là một con thú để xẻ thịt, như Nguyễn Phú Trọng và các đảng viên cao cấp CSVN đang làm.

Khi chết họ làm quốc táng, lấy đất dân để xây lăng, tiêu tốn ngân sách nhà nước, thu hẹp sự sinh tồn của dân tộc, dù cho khi sống họ hạ độc lẫn nhau hay đì nhau cho chết, như Trần Đại Quang bị ép tiếp khách không ngừng nghỉ (cùng một ngày Quang bay từ Hà Nội dự APEC ở Đà Nẵng, xong bay vào Sài Gòn, chiều bay về Hà Nội tiếp tục họp). Ngày Quang chết, khoảng 10:00PM tối 20/9, Quang cũng phải cật lực làm việc và gục tại bàn họp. Trọng cho Quang chết theo quy trình, tức 10:05AM sáng ngày hôm sau 21/9.

Trọng muốn Quang chết trước ngày họp Trung Ương 8 (từ 2/10 đến 6/10) để ông ta sớm thu tóm chức chủ tịch nước vào tay, nếu không phải chờ thêm 6 tháng nữa ở hội nghị TƯ9, trong khi TƯ8 cần quyết vấn đề nhân sự.

Đó là chưa kể đến việc ông Quang bị bệnh gì, tại sao bị nhiễm “virus hiếm và độc hại”như lời ông Nguyễn Quốc Triệu, Trưởng ban Bảo vệ và Chăm sóc Sức khỏe Trung ương hé lộ. Với y học tân tiến của ngày hôm nay mà Nhật, nơi ông Quang trị bệnh lại không biết “virus hiếm và độc hại” này!? Lạ thật!

Ông Đỗ Mười Nguyễn Duy Cống chết, theo một số nguồn tin riêng từ Hà Nội, cũng là theo quy trình (11:12PM tối 1/10/2018) để cho vừa buớc sang tháng 10 thay vì còn trong tháng 9, tránh trùng đại tang trong cùng một tháng. Đây là những xác chết đóng băng chờ Đảng quyết định cho khi nào được chết.

Các lãnh tụ độc tài CS, họ nhân danh bảo vệ giai cấp vô sản, nhất là công nhân, nhưng thực sự là để phục vụ bản năng sinh tồn cá nhân theo chiều ích kỷ bằng cách xây dựng giai cấp cộng sản, một loại giai cấp quý tộc thời nay đứng trên hiến pháp và luật pháp mà họ ma mị bằng từ Nhà Nước Pháp Quyền (rule BY law). Quý tộc thời quân chủ chuyên chính xử theo Lễ, quý tộc CS xử theo Điều Lệ Đảng. Hình luật, trong quân chủ và CS, chỉ dành cho thứ dân.

Các lãnh tụ dân chủ thì bản năng vị kỷ nó chạy theo chiều vị tha. Trong khi không quên lấy mình làm trung tâm của mọi quyết định, họ muốn sinh tồn được trường tồn, tức các thế hệ về sau tuy không thấy họ sống nhưng thấy họ còn hiện hữu, nhắc đến họ và cảm kích các công ơn của họ vì khi sống họ biết nghĩ đến và để lại các lợi ích cho hậu sinh. Người chết chỉ thật sự chết đi khi không còn ai nhắc gì đến họ nữa.

Ngoại trưởng Mỹ William H. Seward mua Alaska từ Nga năm 1867, một lãnh thổ khổng lồ, to nhất trong 50 tiểu bang của Mỹ, có vị trí chiến lược và tài nguyên dầu khí, gỗ, hải sản vô tận, với giá $7.2 triệu đôla (khoảng $105 triệu bây giờ) cho thấy các lãnh tụ dân chủ giàu viễn kiến và năng lực xây dựng quốc gia dân tộc. Ông được nhớ tới qua một thành phố cảng có tên ông ở Alaska.

Dĩ nhiên, những kẻ ác, những kẻ bán nước cũng được nhắc đến, như những trang đen tối của lịch sử dân tộc.

Các lãnh tụ dân chủ chết đi nhưng không gây thiệt hại ngân sách nhà nước, không ngăn cấm giao thông, không lấy nhiều đất của dân, không xây đường nhanh, chớp nhoáng, phục vụ đám tang, trong khi dân nghèo qua sông bằng dây cáp hay bao ny lông. Mộ họ khiêm nhường, họ và những người yêu thương họ chung tiền xây thư viện mang tên họ. Họ vị kỷ, vì mình, nhưng vì mình bằng cách tạo lợi ích cho người khác.

Nói chung, họ phát triển bản năng vị kỷ qua ngã phục vụ và bảo vệ sức sống của dân tộc, lấy mình làm trung tâm họ hướng về phía vị tha để sinh tồn thăng tiến lên trường tồn.

Người cộng sản không có năng lực xây dựng quốc gia dân tộc, họ chỉ có khả năng xây dựng giai cấp đặc quyền đặc lợi, khả năng vận dụng bản năng sinh tồn về cực ích kỷ. Chủ nghĩa Mác-Lê vốn dạy họ phục vụ ngoại bang (nghĩa vụ quốc tế) và phá bỏ quốc gia (vô tổ quốc). Quốc gia trở thành một cơ thể bệnh hoạn mà ký sinh trùng cộng sản đang hoành hành. Muốn cơ thể khỏi bệnh thì không có cách gì khác hơn là phải tiêu diệt vi trùng cộng sản.

Đất nước cần một cuộc cách mạng để đổi chiều, thay đổi vận mạng đã và đang bất hạnh của dân tộc. Thay đổi có thể đến từ sự nổi dậy của dân chúng, đảo chánh cung đình, đảo chánh dân sự, đảo chánh quân sự, hay hiệu ứng dominoes từ Trung Quốc…

Chúng ta, những con dân đất Việt, nên chuẩn bị sẵn sàng cho một ngày hội lớn, để khi nó xảy ra, chúng ta cương quyết không để nó đi trở lại độc tài dưới một dạng thái khác, mà phải xây dựng cho bằng được các định chế của dân chủ pháp trị (democracy and the rule OF law), cũng cố và phát triển nó để bản năng vị kỷ của bất cứ ai lãnh đạo cũng đều được hướng về cực vị tha.

BÀI LUẬN BÀN TRIẾT LÝ SÂU XA về “HẬU SỰ”

Image may contain: outdoor and nature
Image may contain: outdoor and water

Trang Mac Văn

BÀI LUẬN BÀN TRIẾT LÝ SÂU XA về “HẬU SỰ”

Người Cộng sản triết lý về cái chết như thế nào?

Giang Nam (VNTB)

Cung Oán Ngâm Khúc của Nguyễn Gia Thiều (1741–1798) viết bằng chữ Nôm cả thảy 356 câu. Kiệt tác của ông có hàng trăm câu được nhắc nhở như những hạt ngọc tiếng Việt, trong đó có 4 câu thứ 101-104.

Tuồng ảo hóa đã bày ra đấy

Kiếp phù sinh trông thấy mà đau.

Trăm năm còn có gì đâu

Chẳng qua một nấm cổ khâu xanh rì !

Nhiều sách khác chép:

Trăm năm còn có gì đâu

Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì

Cho đến khi ai đó tìm được bản viết tay của cụ Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều và thấy câu 104 cụ dùng chữ “cổ khâu” là đúng nhất (cổ: cũ , khâu: gò, mộ / chữ nho).

Các nhà nghiên cứu phê bình văn học theo quan điểm mác- xit chê rằng nhà thơ quí tộc Nguyễn Gia Thiều đắm chìm trong triết lý của chủ nghĩa hư vô, tiêu cực. Nhưng dân gian và nhất là các bậc hiền triết lại ưa thích câu thơ triết lý nhân sinh đó sau khi đã hoàn thành bổn phận con người.

Trước thời đại Nguyễn Gia Thiều, Đức Thánh Trần nguyên tước hiệu Hưng Đạo đại vương – Trần Quốc Tuấn (1228–1300) để lại Di cảo được tái hiện lại trong tiểu thuyết lịch sử “Đức Thánh Trần”. Tác giả: nhà văn Trần Thanh Cảnh, nhà xuất bản Hội nhà văn.

Nhà văn tâm đắc lời huấn dụ của Đức thánh Trần:

Đất chật người đông, xin đừng bắt ông làm quan lớn Mộ
Con yêu cháu quí, hãy để người hoá cỏ thành cây.

Thánh Trần sinh thời được phong chức Tiết chế, như bây giờ tương đương “đại tướng, tổng tư lệnh quân đội”. Ngài di chcu1 cho con cháu đốt xác, chôn xương, xóa dấu tích. Ngôi mộ của ngài được san phẳng trên bề mặt đất, để Ngài được mau chóng hoà vào đất nước theo đúng di nguyện của Ngài. Dòng họ Trần vinh hiển, quyền uy trấn thiên hạ nhưng không dám nại ra lý do nào để làm trái Di huấn của ngài. Trái lại dân chúng khắp nơi tự nguyện lập đền thờ Ngài. Người dân ba miền đều nhớ ngày 20 tháng 8 âm lịch là ngày giỗ ngài và họ hẹn rủ nhau hành hương vào dịp ấy. Thậm chí cái ấn giả bằng giấy do đời nay chế ra cũng trở nên thiêng liêng trong phong tục phát ấn Đền Trần. Bỏ qua việc những người lợi dụng phát ấn với sự đồng loã của chính quyền địa phương để trục lợi, nhưng chúng ta thấy niềm tín ngưỡng của dân gian chẳng phải ngẫu nhiên..

Tình cờ thay, đến thời Lê – Trịnh lại có nhà thơ quí tộc Nguyễn Gia Thiều tước hiệu Ôn Như Hầu có cùng quan niệm về “nấm cổ khâu”.

Và cũng tình cờ nữa, để hình dung “nấm cổ khâu”, có thể chiêm ngưỡng ngôi mộ cỏ của văn hào Lev Tolstoi nước Nga thế kỷ XIX –XX. Nhà văn Tolstoi niềm tự hào của nước Nga cổ cận đại, di sản của cả nhân loại. Chuyện kể rằng trong Thế chiến II, khi mặt trận chống phát xít Đức lan đến gần làng quê Iasnaia Poliana nơi sinh văn hào quí tộc Tolstoi, một sư đoàn trưởng pháo binh xe tăng của Hồng quân cho liên lạc gặp chỉ huy quân Đức hung hãn tàn bạo xin kéo quân đi nơi khác pháo kích để bảo tồn ngôi mộ cỏ của văn hào. Tên thủ lĩnh quân đội Đức đồng ý. Hẳn là anh ta cũng biết và cảm tiếng tăm đức độ nhà văn quí tộc Nga. Ngày nay làng quê và ngôi mộ cỏ được người du lịch văn hóa cả thế giới đến nước Nga chiêm bái và suy ngẫm.

Suốt các triều đại lịch sử phong kiến Việt Nam chỉ có nhà Nguyễn làm lăng mộ kỳ công hơn cả. Tuy nhiên, đó là những công trình kiến trúc và phối cảnh chứa đựng đầy giá trị thẩm mỹ dân tộc và đặc biệt là tính khiêm tốn. Khiêm tốn ở chỗ không chiếm đất rộng, không xây hoành tráng. (ngày nay các Lăng vua nhà Nguyễn là những điểm nhấn của quần thể Di sản văn hóa thế giới tại Huế).

Ông Tổng bí thư thường hay nhắc nhở đảng viên cán bộ “giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc”, thậm chí còn sinh ra Nghị quyết mang nguyên câu nói ấy (Đại hội X Đảng đã nhấn mạnh kế thừa, phát huy và phát triển giá trị văn hóa trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế: “Xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế).

Thực ra thì chẳng biết ông Tổng thích “bản sắc nào ? – nhà Trần hay nhà Lê, nhà Nguyễn, hay là bản sắc dân gian thể hiện trong ca dao tục ngữ dân tộc ? Liệu di nguyện về cái chết và tang ma của người sáng lập Đảng (Di chúc) có được các đảng viên “học tập và làm theo” mà coi như triết lý không ?

Chỉ biết rằng, lời ông Tổng huấn thị như nước đổ đầu vịt. Bao nhiêu biệt phủ của quan chức đảng rải khắp nước Việt từ Yên Bái đến tận Bến Tre. Biệt phủ “dương trạch” ấy kiêm luôn cả chức năng “âm phần”. Họ chỉ khoe khoang giàu sang nhiều tiền lắm của chứ không có mấy năng lực thẩm mỹ văn hoá đặc trưng nào cả (trung tướng CA Hữu Ước xây sẵn âm phần ngoại ô Hà Nội và đặt tên mỹ miều là “Khu văn hóa tâm linh” được xây dựng trên mảnh đất rộng 1,5 ha, tiến hành xây dựng từ năm 2014. Trong không gian “tâm linh” này, tướng Ước đã xây dựng một quần thể bao gồm đình, chùa, khu thờ tự, ao cá, rất nhiều cây xanh và các phiến đá quý. Tướng Ươc rất khôn, xây cùng lúc cả “dương trạch” và “âm phần” lại đặt tên mơ hồ là “khu văn hoá tâm linh” ?! Ý hẳn anh ta xóa lằn ranh ngăn cách giữa hai cõi: “cõi tạm” và “cõi vĩnh hằng”. Khôn bá cháy !

Dân gian ngày nay

Người cao tuổi xứ mình bây giờ đa phần đều nói rất trơn tru từ “Cõi tạm”, rất thích khấn nguyện được siêu thoát. Thoát cho mau khỏi cõi đời cực nhọc bất công kêu trời không thấu. Tín ngưỡng thờ cúng đền chùa và lập thêm chùa mới tưng bừng cả nước từ bắc chí nam… Bà Q.chủ tịch Nước cũng cầu mong anh CT.Trần Đại Quang “giấc ngủ bình an” đi vào cõi “vĩnh hằng”, nghĩa là bà ấy cũng xem đời này là “cõi tạm” ! (xem sổ tang- báo Vietnamnet đăng và trang web văn phòng CTN).

Thế sao thực tế các vị lại chăm lo quá đáng cho cái xác phàm sau khi chết ? Phải chăng để linh hồn người mất quẩn quanh mãi cõi tạm không thể siêu thoát đến cõi vĩnh hằng? Hay là để tưởng thưởng cho gia đình người “có công” hưởng thụ?

Bởi vậy theo đà kinh tế thị trường, nghề dịch vụ hậu sự lại phát triển mạnh mẽ vào bậc nhất xứ này.

Chỉ một thành phố nhỏ trung du có hàng chục cơ sở kinh doanh dịch vụ tang ma, đặc biệt là mộ đá làm sẵn. Mồ mả đẹp kiên cốnhư thế thì siêu thoát thế nào được!. “Buông” làm sao bây giờ ? “Bỏ” thì tiếc hùi hụi. Nhất là khi những người được hưởng chính sách chẳng phải tốn tiền xây âm phần.

Liệu nghị quyết của Đảng CSVN có đi vào cuộc sống nếu các “ông to” không ai chịu làm gương ?

Thơ cố, triết lý cổ về sự sống và cái chết thực ra rất tương hợp với triết lý lành mạnh dân gian.

Nữ nhà văn Y Ban suy ngẫm về sự cố lễ truy điệu “rụng một con chữ”: “Một cái lá rụng xuống cũng có lý do của nó thì chữ G cũng thế.

Chữ G rụng xuống khiến “Vô Cùng” thành “vô cùn”. Ừ thì cứ cho là ngẫu nhiên nó thế. Nhưng cái bỗng dưng này chẳng phải bỗng dưng của con người mà là bỗng dưng của đất trời. 

Đất trời dung dưỡng“ba tấc đất” chứ không dung thứ “ba héc ta”. Hỏi có những vua chúa nào ở xứ này khiến Đất Mẹ phải bỏ ra đến 3 ha bờ xôi ruộng mật ở vùng đất thuần nông chỉ để dung nạp một thân xác ?”.

Tại sao lại phải vin vào đất trời ? Bởi còn biết tin vào ai nữa ở cái cõi này? Đất trời minh bạch lắm.

Đấy là suy ngẫm tâm linh của nhà văn ngày 27/9.

Còn tôi suy ngẫm tâm linh về đôi câu đối cổ nhân để lại.
未歸三尺土難保百年身
既歸三尺土難保百年墳

“Vị quy tam xích thổ, nan bảo bách niên thân.
Ký quy tam xích thổ, nan bảo bách niên phần”.
Dịch là:
“Chưa về với ba thước đất, khó mà giữ được thân mình đến trăm tuổi.

Đã về với ba thước đất, cũng khó mà giữ được cái mộ đến trăm năm”.
Đâu phải cứ đầu tư đá quí granite đá đỏ và đá trắng sẽ giữ ngôi mộ vĩnh cửu với thời gian!.

ảnh 1: Ngôi mộ của Lev Tolstoi. Nga. Ngày 30 tháng 4 năm 2017. Ảnh: pond5
Ảnh 2: Một góc khu Văn hóa Tâm linh của tướng Nữuớc. Ảnh: Dân Việt

SỰ LƯU MANH CỦA “BẬC NHÂN KIỆT” hay SỰ VÔ ĐẠO CỦA “NGƯỜI THẾ THIÊN HÀNH ĐẠO”

No automatic alt text available.

Hoàng Trường Sa

Định đi ngủ nhưng thấy bài hay quá! Nói có sách, mách có chứng nhé, hỡi những bút nô Phan Đăng, Huy Đức…

Thì ra lời nói, việc làm như thế này gọi là NHÂN KIỆT, là SĨ PHU BẮC HÀ ư? Nhà cháu tin rằng hương hồn sĩ phu-nhân kiệt từ cổ chí kim của Đại Việt sẽ chẳng để yên đâu…

SỰ LƯU MANH CỦA “BẬC NHÂN KIỆT” 
hay SỰ VÔ ĐẠO CỦA “NGƯỜI THẾ THIÊN HÀNH ĐẠO”

1. Trước đó không nói, sự lưu manh của “bậc nhân kiệt” thể hiện rõ nhất kể từ khi rục rịch chuẩn bị và tiến hành ĐH đảng 12. Hàng loạt các quy định về sức khỏe, độ tuổi, các quy định về chức danh TBT như: người miền Bắc, có lý luận… đã loại bỏ toàn bộ các đối thủ cạnh tranh chức TBT băng đảng.

Chưa hết, sự trơ trẽn còn được đẩy lên một mức cao hơn trong ĐH 12. Sau khi loại bỏ được 3X bằng các quy định lằng nhằng, đùng một cái, lúc sắp bầu cử chức danh TBT, ngày 18/01/2016, văn phòng Trung ương Đảng đưa ra thông điệp: “Không có giới hạn tuổi với vị trí Tổng bí thư”. (Ô hô, anh dùng các quy định, nghị quyết để loại bỏ và buộc toàn bộ các đối thủ phải rút khỏi cuộc đua, sau khi quét sạch các đồng đảng cạnh canh, anh ra tuyên bố: Làm TBT không cần giới hạn về độ tuổi. Độ lưu manh và trơ trẽn đạt đến tầm này, thử hỏi ai hơn bậc nhân kiệt?).

Sau đó, như quý vị biết: Một mình được “đề cử” vào chức vụ TBT, và “bậc nhân kiệt” trúng cử với 100% phiếu bầu. Bấy giờ, sự trơ trẽn và lưu manh một lần nữa lại hiển hiện không thể rõ ràng hơn. Bậc nhân kiệt, sau khi một người một ngựa độc chiếm chức TBT đã nói với báo chí- dư luận giọng kiểu: Tôi đã định về nghỉ, nhưng đảng và nhân dân trao trách nhiệm nên phải ở lại. Hoặc: Không ngờ lại được đảng và nhân dân 100% tín nhiệm…

2. Bắt đầu từ lúc này, bậc nhân kiệt gần như không có đối thủ trong việc thâu tóm quyền lực về cho bản thân và phe nhóm. Các chiến dịch đốt lò, mà dư luận cho rằng đây là cái lò có mắt, chỉ nhắm đến củi từ phe cánh đối thủ. Triệt hạ tay chân, tàn dư của kẻ thù từng là đồng chí, thanh trừng các tướng công an, quân đội trước đây phục vụ đối thủ, để đưa đàn em và bản thân vào nắm giữ 2 đơn vị là thanh kiếm lá chắn. Việc thanh trừng và nắm công an, quân đội là bước đi rất khôn ngoan và thể hiện sự lưu manh của bậc nhân kiệt. Nhỡ “nhất thể hóa” mà quân đội, công an còn lại các sĩ quan cấp cao là đàn em, người của phe kia, dễ có đảo chính lắm chứ. Nắm được 2 công cụ bạo lực này, bậc nhân kiệt mới có thể an tâm tính các bước kế tiếp trong công cuộc thu vén quyền lực.

3. Bây giờ mới đến chuyện nhất thể hoá- thu vén quyền lực. Mời quý vị đọc các bài viết, ý kiến của “Bậc nhân kiệt” về chuyện kiểm soát quyền lực trong quá khứ, đọc xong liên hệ với tình hình thực tại thì lưu manh- vô đạo chưa đủ để nói về con người này:

– Ngày 09/5/2015, khi nói chuyện với các cử tri ruột, chủ yếu là các cán bộ đảng viên già về hưu, ông Trọng hùng hồn phun châu nhả ngọc: “Bí thư kiêm chủ tịch thì to quá, ai kiểm soát ông”. (Bây giờ, sau khi đối thủ kẻ vào tù, người mất chức lui về ở ẩn, người lại mới chết bất ngờ. Chuyện “ai kiểm soát ông” đã không còn phải nói đến nữa. Kiểm soát ở đây là ta kiểm soát người, củi của đối thủ thôi. Chứ ai lại đi kiểm soát bản thân, phe cánh, đàn em mình?).

– Ngày 17/10/2016, trong một cuộc tiếp xúc cử tri, người trời nói: “Phải nhốt quyền lực vào trong lồng quy chế lập pháp”. (Bây giờ ai nhốt được quyền lực của bậc nhân kiệt đây?).

– Chuyện tìm “cái lồng” để nhốt quyền lực vẫn được “bậc nhân kiệt” ra rả đem ra nói mỗi khi có dịp trong hơn 2 năm trở lại đây. Giọng điệu quyết tâm lắm. Bây giờ “nhốt” hết được tay chân của phe đối thủ rồi, cái lồng là để nhốt ngai vàng cho người giời, không để ai tiếp cận được ngai vàng của “người”. Cái lồng cũng có mắt và biết nên úp lồng đồng thủ, úp lồng cái mâm ngon nhất cho bậc đế vương.

– Ngày14/08/2017, ông Nguyễn Phú Trọng ký ban hành Quy định số 89 – QĐ/TW về khung tiêu chuẩn chức danh, định hướng khung tiêu chí đánh giá cán bộ lãnh đạo quản lý các cấp, trong đó quy định: “Tiêu chuẩn cán bộ cấp cao: tuyệt đối không tham vọng quyền lực, không cơ hội chính trị”. (Nay nhân cơ hội ông Quang chủ tịch nước chết, bậc nhân kiệt chơi ngay chiêu nhất thể hóa. Đó là vừa nhân “cơ hội đồng đảng chết”, chứ không phải cơ hội chính trị đâu. Liền một lúc vơ 2 chức to nhất thì không phải là tham vọng chính trị đâu. Chỉ là đại lưu manh).

– Ngày 19/1/2018, tại hội nghị tổng kết công tác tổ chức xây dựng Đảng, ông Trọng nói: “Chưa có cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả”. (Vẫn là kiểm soát quyền lực của đối thủ, chứ bản thân ta là bậc nhân kiệt sao phải kiểm soát, cứ thoải mái thu vén quyền lực, vun đắp ngai vàng).

– Ngày12/5/2018, tại Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành TƯ Đảng, ông Trọng tiếp tục ra rả về chuyện: “Kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền”.

– Ngày 25/6/2018, trong Hội nghị toàn quốc về công tác phòng chống tham nhũng, người nhà giời vẫn điệp khúc: “thiết lập cho được cơ chế kiểm soát thực thi quyền lực đối với người có chức vụ, quyền hạn để bảo đảm quyền lực được vận hành công khai, minh bạch, đúng đắn, không bị tha hóa”.

– Ngày 02/10/2018, tại Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, ông Trọng được “100% đại biểu dự Hội nghị đồng ý giới thiệu làm Chủ tịch nước”. Và thật kỳ lạ, người giời, bậc nhân kiệt, người thế thiên hành đạo không một lời từ chối đề nghị này, để minh chứng cho luận điệu “không tham vọng quyền lực, không cơ hội chính trị” mà mình rao giảng bấy lâu nay.

– Hài nhất là cũng ngày 02/10/2018, ông Trọng đã phát biểu tại HNTƯ 8: “Nhiều cán bộ, đảng viên nói không đi đôi với làm”.

Nhân cơ hội đồng đảng chết (chứ không phải cơ hội chính trị nhé), bậc nhân kiệt- thế thiên hành đạo, người không ham quyền lực đã gom quyền lực về một mối. Với quyền lực trong tay hiện nay, với việc nắm quân đội, công an trong tay, với việc được Tập Hoàng đế của Trung cộng hậu thuẫn, ông ta thoải mái xưng vương ở đất An Nam. Mô hình cai trị của đảng CSVN đã hoàn toàn sao y bản chính mô hình của Trung cộng cai trị Trung Hoa.

Và chợt nhớ đến câu nói của bậc nhân kiệt: “Nếu để xảy ra đụng độ gì ( với Trung Quốc ở biển Đông) thì tình hình bây giờ bất ổn thế nào, chúng ta có ngồi đây mà bàn việc tổ chức đại hội Đảng được không?”. Sự thâm hiểm, lưu manh, tham vọng quyền lực điên cuồng của bậc nhân kiệt đã được phơi ra giữa ánh sáng ban ngày. Cái lưu manh của “bậc nhân kiệt”, sụ vô đạo của “người thế thiên hành đạo”, thật khiến người đời phải ngã mũ thán phục. Đáng phục nhất là những kẻ bưng bô bậc nhân kiệt lưu manh, những người ủng hộ và bênh vực, bảo vệ “người thế thiên hành đạo nhưng vô đạo” cũng đáng phục lắm.

(Hôm nay không điểm tin và bình loạn. Cũng xin không đưa bài tổng hợp về các thành tích- di sản của Đỗ Chục. Xin quý vị bỏ qua và đọc tạm bài tổng hợp về bậc nhân kiệt, người thế thiên hành đạo vậy. Nếu muốn mang đi, xin quý vị hãy copy để tránh trường hợp Facebook rọ mõm Cha Già).

Từ FB Bùi Văn

Yêu cầu báo Vnexpress cải chính, xin lỗi!

Image may contain: 7 people, people standing and text
Image may contain: one or more people and text
Trần Bang is with Cô Mười Họ Lê and 3 others.

Yêu cầu báo Vnexpress cải chính, xin lỗi!

Bài báo của nhà báo Lan Ngọc đăng trên Vnexpress chiều 5/10/2018 đã vu khống 5 người “Liên minh Dân tộc Việt Nam “ bị Toà án HCM xử 5/10/218, và đã lừa dối độc giả, xúc phạm nhà thờ, chia rẽ tôn giáo vì đã viết một điều giả dối (Luật sư tham dự phiên Toà 5/10 tại toà HCM cũng xác nhận là không có tình tiết đó trong cáo trạng) đoạn gạch đỏ trong ảnh chụp:

“ Ngày 6/11/ 2016, tại nhà thờ ở quận Tân Bình khi họ đang phát tài liệu để ra mắt tổ chức thì bị cảnh sát bắt quả tang”

Nhà báo Lan Ngọc của Vnexpress vô cùng độc ác khi viết vu khống người bị giam, bị cách ly không còn phương tiện phản biện. 
Lan Ngọc làm vậy khác gì “đâm dao vào lưng người đã bị trói , không còn khả năng chống đỡ”.

Thất đức lắm nhà báo Lan Ngọc ơi.

P/s Chị Thập vợ anh Lưu Văn Vịnh ( FB Cô Mười Họ Lê ) kể rằng “anh Vịnh Lưu đêm 5/11/2016 ngủ ở nhà và sáng 6/11/2016 anh Vịnh không đi đâu, đến khi gia đình 5,6 người đang ăn cơm trưa thì bị CA ập vào đánh bắt anh Vịnh, rồi mang anh Vinh đi đâu không rõ, đến chiều 6/11/2916 thì họ đưa anh Vịnh về lại nhà đọc lệnh bắt và khám nhà”.
Nay chị Thập xác nhận lại để minh bạch thông tin, và chị cũng yêu cầu báo Vnexpress phải cải chính.

Phiên toà xử “Liên Minh Dân Tộc VN” 

No automatic alt text available.
Image may contain: 5 people, outdoor
Image may contain: 2 people, outdoor
Image may contain: one or more people and people standing
Image may contain: 4 people
Trần Bang

Phiên toà xử “Liên Minh Dân Tộc VN” 

Phản đối bản án bỏ túi (lúc 14h40 ngày 5/10/2018) toà HCM đã tuyên tổng cộng 72 năm tù và quản chế cho 5 người yêu nước!

1.Lưu Văn Vịnh: 15 năm tù và 3 năm quản chế
2.Nguyễn Văn Đức Độ: 11 và 3 năm quản chế
3.Nguyễn Quốc Hoàn: 13 và 3 …
4.Phan Trung: 8 và 3…
5.Từ Công Nghĩa: 10 và 3…

(Tin, ảnh 1 FB LS Nguyễn Văn Miếng )
#ĐMTCS

Việt Nam xuất khẩu hơn 100.000 nô lệ ra nước ngoài trong 9 tháng qua!!!

Van H Pham

Việt Nam xuất khẩu hơn 100.000 nô lệ ra nước ngoài trong 9 tháng qua!!!

Trong 9 tháng đầu năm Việt Nam đã xuất khẩu hơn 100.000 nô lệ, đạt hơn 92% kế hoạch năm 2018.

Riêng tháng 9 có gần 17.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài, trong đó nhiều nhất là thị trường Nhật Bản với hơn 9.000 lao động, tiếp theo là Đài Loan với gần 6.000. Còn lại theo thứ tự là Hàn Quốc, Ả Rập, Malaysia, Romani, Kuwait, Algeria và các thị trường khác.

Hiện Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đang tiếp tục chương trình tuyển điều dưỡng, hộ lý sang Nhật Bản làm việc; tuyển lao động kết hợp kỳ nghỉ tại Australia.

Trong khi đó, theo một báo cáo mới đây của công ty Kiểm toán PricewaterhouseCoopers (PwC), 18% lao động Việt Nam hiện thiếu kỹ năng đáp ứng sự thay đổi của công nghệ. Báo cáo này được đưa ra tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới về ASEAN 2018 diễn ra tại Hà Nội hồi giữa tháng 9 vừa qua.

Theo nhận định của PwC, lao động giá rẻ không còn là lợi thế của Việt Nam bởi lợi thế cạnh tranh dựa trên lao động giá rẻ sẽ mất dần khi các công nghệ mới được vận hành.

Tại diễn đàn, Chủ tịch Cisco khu vực ASEAN, ông Naveen Menon khuyến cáo các doanh nghiệp Việt Nam cần tạo điều kiện để người lao động Việt Nam được đào tạo lại, trang bị những kỹ năng sẵn sàng cho sự thay đổi công việc cần kỹ năng cao. Ông cho biết lợi thế lao động giá rẻ của Việt Nam sẽ bị thay đổi trong 5 đến 10 năm tới.

About this website

RFA.ORG

Trong 9 tháng đầu năm Việt Nam đã xuất khẩu hơn 100.000 lao động, đạt hơn 92% kế hoạch năm 2018.

LỜI CHỨNG VỀ CHÚA CỦA MỘT PHI CÔNG!

LỜI CHỨNG VỀ CHÚA CỦA MỘT PHI CÔNG!

Cơ trưởng Mafella cho biết cả ngày thứ Sáu hôm ấy ông cứ cảm thấy bồn chồn, bất ổn mà không hiểu lý do tại sao.

Để loại bỏ cảm giác giác bồn chồn, lo âu này, ông ấy đã lớn tiếng hát vang những bài hát thờ phượng, tôn vinh Chúa suốt đường đi từ thành phố Ujung Pandang đến Palu, (“Thường thì tôi chỉ hát lí nhí, ấp úng trong miệng mình nhưng ngày hôm đó thật sự tôi muốn ca ngợi Chúa hết lòng và tốt nhất có thể”, ông nói). Thậm chí một phi công khác, đồng nghiệp người Hồi giáo của ông ngỏ ý vui rằng tại sao ông không đi thu âm và làm một đĩa CD các bài hát thờ phượng.

Sau đó, khi họ chuẩn bị hạ cánh xuống sân bay Palu, mặc dù lúc ấy bầu trời rất trong xanh nhưng gió thì lại rất mạnh và ông “nghe thấy một tiếng nói trong lòng mình”, rằng ông ấy hãy lượn một vòng trên bầu trời trước khi đáp máy bay xuống. Sân bay Palu nằm giữa hai dãy núi và điều này nhắc cơ trưởng Mafella về câu Kinh thánh được chép trong Thi thiên/Psalms 23:4

“Dầu khi tôi đi trong trũng bóng chết, Tôi sẽ chẳng sợ tai họa nào; vì Chúa ở cùng tôi; Cây trượng và cây gậy của Chúa an ủi tôi.”

Theo cơ trưởng, các phi công gọi các sân bay nằm giữa hai dãy núi là “thung lũng tử thần”, bởi vì khi đó họ phải hết sức cẩn thận khi hạ cánh, vì thế mà các phi công người Cơ đốc nắm lấy Thi thiên/Psalms 23:4 như một lời hứa vững chắc.

Một lát sau khi đã hạ cánh thành công, ông cảm thấy trong lòng rằng ông cần phải nhanh chóng rời khỏi đây. Do đó, ông chỉ thị cho phi hành đoàn của mình chỉ cần nghỉ 20 phút trước khi máy bay trở về thành phố Jakarta qua Ujung Pandang. Ông ấy thậm chí đã không rời khỏi buồng lái và xin phép Tháp kiểm soát không lưu cho phép mình khởi hành trước 3 phút. Ngay sau khi nhận được sự cho phép cất cánh từ nhân viên Cơ quan Kiểm soát Không lưu Indonesia, kiểm soát viên trẻ tuổi Agung [Anthonius Gunawan Agung] họ đã chuẩn bị cất cánh rời khỏi thành phố Palu. Cơ trưởng Mafella thừa nhận rằng vào thời điểm đó ông đã phá vỡ các thủ tục bay vì ông đã tiếp quản luôn cả công việc của đồng nghiệp mình bằng cách tăng tốc máy bay trong quá trình cất cánh. Ông không hiểu vì sao mình làm như vậy, chỉ biết là ông đã cứ giữ vững tay lái để tăng tốc máy bay trong quá trình cất cánh hôm ấy. Ngay cả khi, ông ấy thậm chí không biết rằng đã có một trận động đất tấn công vào thành phố Palu lúc đó, ông chỉ cảm thấy chiếc máy bay cứ lắc lư một chút sang trái và phải.

Theo cơ trưởng Mafella, nếu ông ấy cất cánh chỉ ba phút sau đó thôi thì ông ấy cũng đã không thể cứu được 140 hành khách trên máy bay, bởi vì lúc đó nhựa đường trên đường băng đã bị nứt ra, cứ dịch chuyển lên xuống như tấm màn bị thổi trong gió. Vài phút sau khi cất cánh, cơ trưởng đã cố gắng liên lạc với Tháp kiểm soát không lưu nhưng không nhận được bất cứ phản ứng nào từ kiểm soát viên Agung. Sau đó, cơ trưởng Mafella đã nhìn xuống dưới và chứng kiến một hiện tượng kỳ lạ. Khi ấy, nước biển tại bờ đã tạo thành một lỗ thủng rất lớn “lớn đến mức có thể để lộ ra mặt đáy biển.”

Khi máy bay bay đến thành phố Ujung Pandang, cơ trưởng Mafella được cho biết đã có một trận động đất và sóng thần ở Palu, và kiểm soát viên không lưu, người hướng dẫn chuyến bay này của ông ở trong tháp kiểm soát, anh đã không rời khỏi vị trí cho đến khi đảm bảo chuyến bay cất cánh an toàn, đã thiệt mạng ngay sau đó. Chiều cùng ngày, trước khi cơ trưởng Mafella rời đi để bay đến thành phố Kuala Lumpur, ông đã nhấn mạnh rằng việc chúng ta nghe được tiếng nói của Đức Chúa Trời thật là quan trọng dường bao. Và dẫu cho điều gì xảy ra, chúng ta cũng cần phải hết sức bình tĩnh, đừng bối rối hay sợ hãi để có thể nghe được điều Đức Chúa Trời phán với chúng ta qua Đức Chúa Thánh Linh – ông cho biết thêm, vì khi ông đảm nhận luôn vai trò của đồng nghiệp mình để tăng tốc khi cất cánh, lúc đó viên phi công cùng lái trông rất sợ hãi vì thân máy bay cứ lắc lư, chao đảo qua trái rồi phải.

Nguyện lời chứng của cơ trưởng Mefella hôm nay khích lệ mỗi chúng ta và giúp chúng ta nhận lấy những bài học cho riêng mình và nhìn thấy được những ơn lành và phước hạnh mà Đức Chúa Trời đã ban cho.

Tố Quyên dịch

(Nguồn: theelijahchallenge.orghttps://news.oneway.vn/loi-chung-tu-co-truong-mafella-truo…/

Image may contain: 1 person, smiling, airplane and text

Ký ức về những đợt đánh tư sản dưới trướng Đỗ Mười

Ký ức về những đợt đánh tư sản dưới trướng Đỗ Mười

Diễm Thi, RFA
2018-10-04

Tổng bí thư ĐCSVN Đỗ Mười nói chuyện với các nhà báo trong thời gian nghỉ tại Đại hội đảng lần thứ 8 tại Hà Nội ngày 30 tháng 6 năm 1996.

Tổng bí thư ĐCSVN Đỗ Mười nói chuyện với các nhà báo trong thời gian nghỉ tại Đại hội đảng lần thứ 8 tại Hà Nội ngày 30 tháng 6 năm 1996.

 AFP

Bị tịch thu nhà và đẩy đi kinh tế mới

Chỉ trong vòng mấy năm sau ngày 30/4/1975, người dân miền Nam Việt Nam phải chịu mấy đợt gọi là ‘đánh tư sản’, đưa dân đi vùng kinh tế mới. Kèm theo đó là mấy đợt đổi tiền.

Đối với nhiều người đó là những ký ức không bao giờ phai trong tâm trí, đặc biệt là nạn nhân. Một cô bé chỉ mới 10 tuổi vào thời điểm 1975 kể với chúng tôi:

Khi đó tôi lên 10 nhưng tôi nhớ rất rõ là bị đánh thức vào lúc 2 hay 3 giờ sáng gì đó… và rồi người ta đã lục xạo nhà tôi. Họ kiểm tra từng viên gạch, từng bát nhang trên bàn thờ, từng chân nến, từng khe cửa, từng bộ quần áo. Và chúng tôi ra khỏi nhà đúng nghĩa là hai bàn tay trắng.

Đợt đánh tư sản đầu tiên là vào tháng 9/1975 tại khắp các tỉnh thành phía Nam, tịch thu nhà cửa của những cư dân bị cho là tiểu tư sản, tư sản mại bản và cưỡng bức dân đi kinh tế mới. Một người dân nay đã hơn 80 tuổi nói với RFA:

Nó nhảy tường vô nhà nó lấy cớ là trốn quân dịch rồi nó khám xét tứ lung tung, nhưng nhà bác chẳng có gì cả, chỉ có mấy cái đồng hồ tốt thì nó lấy giống như ăn cướp ấy. Nó bắt ký giấy rằng của cải không phải của bác mà là tiền lấy của dân. Sau đó nó đến nhiều lần, nó đóng chốt rồi nó mang bác nhốt ở phường một đêm. Có mấy cái máy đan len đâu phải là tư sản, càng ngày bác càng biết ra nó ăn cướp. Nó cứ đổ oan cho mình vì mình sợ quá. Nó cứ bắt đi họp rồi nó bảo nhà này phải đi kinh tế mới.

Trong cuốn “Bên thắng Cuộc” của tác giả Huy Đức có đoạn ông Nguyễn Văn Trân, viện trưởng Viện Kinh tế Trung ương nói rằng “Khi bắt đầu chiến dịch, Bộ Chính trị chuyển anh Nguyễn Văn Linh sang làm Dân vận rồi đưa anh Đỗ Mười vào vì anh Đỗ Mười đã làm cải tạo công thương nghiệp ở Hà Nội. Anh Mười vào Sài Gòn áp dụng y chang những gì đã làm ở miền Bắc trong năm 1960”.

Lên trên đó thì cứ mỗi sáng ông già phải đi làm. Nó khoán cho mình một khu đất trồng mía, thơm. Không hoàn thành thì nó cắt phần lương thực của mình. Đi kinh tế mới từ năm 1977 đến năm 1980 sống khổ quá mấy anh em trốn về trước. – Anh Đông

Câu chuyện đánh tư sản và đẩy dân đi kinh tế mới chỉ lạ với người dân miền Nam vào thời điểm đó, nhưng với người dân miền Bắc thì họ không hề lạ gì. Bà Đức nói với RFA:

Tôi vào miền Nam từ năm 1954 thế nhưng tôi có một người anh kẹt lại ở miền Bắc và ông sống gần như suốt đời ở đó. Năm 1977 ông có vô miền Nam thăm gia đình, và ông đặn tôi rằng, thứ nhất là phải giữ chặt quyển sổ mua gạo. Thứ hai là phải “bám chặt” lấy cái cột điện và đường nhựa. Ý ông ấy dặn tôi là phải ở thành phố chứ đừng nghe người ta dụ đi kinh tế mới.

Anh Đông, một người từng đi kinh tế mới năm 1977, hiện sống ở Colorado nói với chúng tôi rằng vùng kinh tế mới Lê Minh Xuân lúc đó không có điện, không có nước, không có trường học. Mỗi hộ gia đình được cấp một cái chòi chỉ có mái, tứ bề trống rỗng. Anh nói thêm:

Lên trên đó thì cứ mỗi sáng ông già phải đi làm. Nó khoán cho mình một khu đất trồng mía, thơm. Không hoàn thành thì nó cắt phần lương thực của mình. Đi kinh tế mới từ năm 1977 đến năm 1980 sống khổ quá mấy anh em trốn về trước.

Lấy hết tài sản rồi “mượn” nhà

Một nhóm người Việt Nam gần cổng trại tị nạn Pillar Point ở Hồng Kông ngày 30 tháng 5 năm 2000.
Một nhóm người Việt Nam gần cổng trại tị nạn Pillar Point ở Hồng Kông ngày 30 tháng 5 năm 2000. AFP

Chị Cẩm Vân, hiện ở Canada, con gái của ông Bùi Văn Lự, một tư sản lớn ở Sài Gòn trước năm1975, chủ nhiều kios kinh doanh phụ tùng xe gắn máy ở trung tâm quận 1 kể cho chúng tôi câu chuyện của gia đình chị mà đến bây giờ, ba chị đã 95 tuổi vẫn còn bị ám ảnh trong giấc ngủ.

Rạng sáng ngày 10/9/1975, cả gia đình đang ngủ thì họ đến họ bao vây hết hai khu nhà, một bên là 29-29bis Ngô Tùng Châu, một bên là 62-64 Ngô Tùng Châu. Nó đập cửa vô và đọc giấy “Vi phạm luật giao thông”. Tôi mới nói các ông nói vô lý vì ba giờ khuya cả nhà đang ngủ, không ai chạy xe mà lại bắt tội vi phạm luật giao thông. Lúc đó họ mới nói “đó là cái cớ để bắt gia đình này”.

Lúc đó nó kiểm kê và niêm phong hết hàng hóa, còn tiền bạc nó lấy đi. Gạo từng bao cả trăm ký nó chở đi hết. Nó nhốt cả nhà vô phòng mà trong không ra được, ngoài không vô được. Sáng hôm sau nó chở ba tôi lên bót ở đường Trần Hưng Đạo và giam ở đó đến 24/12/1975 mới chở về và nó đọc lệnh phải chịu sự quản lý của nó. Hàng hóa thì thuộc về Sở Công nghiệp, còn căn nhà ở số 62-64 Ngô Tùng Châu phải ký giấy cho Sở Công nghiệp mượn 10 năm.

Tháng 12 năm 1976, chính phủ tiến hành Chiến dịch cải tạo tư sản lần thứ hai. Gia đình chị Cẩm Vân lại một lần nữa bị đánh tư sản:

Năm 1978 là chiến dịch cải tạo công thương nghiệp lần thứ nhì là ông Đỗ Mười làm mạnh dữ lắm. Cũng vô nhà tôi đóng chốt mà lúc đó hàng hóa của mình nó lấy đi hết rồi, tiến bạc nó lấy đi hết rồi, nghĩa là mình không có cái gì để mình sinh sống hết. Lúc đó khổ lắm. Nó bắt mình lên phường ký giấy để đi kinh tế mới nhưng ba tôi và gia đình không ai chịu ký giấy, cứ ngồi ở phường, nó nhốt hai, ba ngày cũng chịu, nhất định không đi kinh tế mới.

Hậu quả

Nhà báo Võ Văn Tạo, cũng là một cựu binh vô Sài Gòn năm 1978 nói với chúng tôi cảm giác của ông về vùng đất phồn thịnh mà ông chỉ được coi qua sách báo trước đó:

Năm 1978 Sài Gòn như một thành phố chết. Mọi hoạt động công nghiệp gần như không còn nữa. Những người dân có tiền trước đó, những tiểu thương bị tống đi kinh tế mới hết nên thành phố nó thưa, nó vắng.

Rồi nạn ngăn sông cấm chợ nên người dân quê lấy gạo trắng cho vịt cho heo ăn vì có đem lên Sài Gòn bán được đâu, trong khi Sài Gòn thì đói kinh khủng vì không có gạo với chủ trương tỉnh nào giữ cho tỉnh nấy.

Ngoài chính sách kinh tế sai lầm thì còn sự thù hận về mặt chính trị… Có hiện tượng vượt biên thì phải xử tội chính phủ này chứ không phải xử tội người vượt biên. – Ông Võ Văn Tạo

Dù không chứng kiến kinh tế Sài Gòn trước 1975 nhưng ông chắc chắn rằng sau 1975 thì Sài Gòn tiêu điều đi rất nhiều. Chính vì điều đó dẫn đến làn sóng vượt biên vì người dân không sống nổi thì phải bỏ nước ra đi thôi dù biết là đi thì một sống một chết. Ông nói thêm:

Ngoài chính sách kinh tế sai lầm thì còn sự thù hận về mặt chính trị. Con em của những người tham gia quân lực hay chính quyền VNCH thì có học giỏi mấy cũng không được vào đại học. Những chuyện đó họ thấy nghẹt thở thì họ phải đi tìm tự do thôi. Có hiện tượng vượt biên thì phải xử tội chính phủ này chứ không phải xử tội người vượt biên.

Mấy mươi năm đã trôi qua, hậu quả của các đợt đánh tư sản trong Nam cũng như cải cách ruộng đất ở ngoài Bắc để lại những nỗi đau thương, mất mát cho người dân qua biết bao thế hệ cả về tinh thần lẫn vật chất.

Nhà báo Huy Đức dẫn lời ông Võ Văn Kiệt thừa nhận rằng “Lúc đầu, tôi cũng cứ tưởng cải tạo tư sản sẽ khác với cải cách ruộng đất, một sai lầm mà những người ở miền Nam chúng tôi nhắc nhau phải tránh. Nhưng, tiến hành rồi mới thấy, cách cải tạo tư sản thương nghiệp mà anh Đỗ Mười làm, cũng không khác gì đánh tư sản mại bản nhưng tràn lan hơn.”

Ý kiến (1)

ĐM

nơi gửi Hanoi

Chính nó là thằng phá nát miền Nam. Chính nó là thằng đẩy 1 triệu người ra biển, 1 triệu người lên rừng, đói ăn. 
Mấy thầy chùa quốc doanh ráng cầu kinh gõ mỏ sao cho nó khỏi bị quỷ sứ bắt xuống địa ngục.

Trăm bệnh đều từ ‘tức khí’ mà sinh ra, muốn trường thọ hãy tiết chế nóng giận

Trăm bệnh đều từ ‘tức khí’ mà sinh ra, muốn trường thọ hãy tiết chế nóng giận.

Khi con người tức giận, cơ thể thật sự sẽ sinh ra “khí”, nên cũng nói là hỏa khí bốc lên, có thể thiêu đốt năng lượng, khiến người ta sinh bệnh thậm chí vì tức mà chết. Cho nên muốn trường thọ nhất định tiết chế nóng giận…

Có một vị phu nhân, thường vì những chuyện vặt vãnh mà sinh nóng giận. Có một ngày bà đi tìm một vị cao tăng thỉnh giáo. Cao tăng nghe xong, liền dẫn bà đến một gian thiền phòng, khóa cửa lại rồi rời đi.

Vị phu nhân tức giận chửi mắng ầm ĩ một hồi, cao tăng cũng không để ý tới. Rồi bà lại bắt đầu cầu khẩn, cao tăng vẫn ngoảnh mặt làm ngơ. Vị phu nhân cuối cùng đành phải im lặng.

Cao tăng ở bên ngoài cửa hỏi: “Bà còn tức giận không?”. Vị phu nhân nói: “Tôi chỉ tức giận chính mình, sao lại đến cái nơi quỷ quái này để chịu tội khổ không biết!”.

Cao tăng phẩy tay áo rời đi, nói vọng vào: “Người mà ngay cả chính mình cũng không chịu tha thứ, thì làm sao tâm có thể phẳng lặng như mặt nước được đây?”

Một lát sau, cao tăng lại hỏi: “Bà còn tức giận không?”. Vị phu nhân nói: “Hết rồi, tức giận để làm gì cơ chứ?”.

“Tức giận cũng có làm gì được đâu!”, cao tăng lại rời đi.

Lúc cao tăng trở lại lần thứ ba, vị phu nhân nói với ông: “Tôi hết tức giận rồi, bởi vì không gì đáng để tức giận”. Cao tăng cười nói: “Bà còn biết nó có đáng hay không, xem ra trong nội tâm vẫn còn cái gốc rễ của khí”.

Một hồi sau, đang lúc cao tăng đứng ở trước cửa ngắm trời chiều. Vị phu nhân hỏi: “Đại sư, khí là gì vậy?”. Cao tăng đổ nước trà vào trong tay làm rơi vãi khắp đất, vị phu nhân nhìn thật lâu chợt tỉnh ngộ, cảm tạ rồi rời đi.

Sinh mệnh của chúng ta cũng giống như chén nước trà trong tay vị cao tăng kia, chỉ trong giây lát đã hòa vào trong đất. Năm tháng ngắn ngủi như thế, những việc nhỏ nhặt trong đời đâu có đáng giá để chúng ta uổng phí thời gian mà đi tức giận?

Đôi khi trong cuộc sống, chúng ta vì những việc nhỏ nhặt mà tức giận, đơn giản là vì tranh giành cao thấp, hơn thua mạnh yếu, nhưng cuối cùng đều không ai chiến thắng cả. Bạn có thể thắng ở việc này, nhưng có thể lại thua ở việc khác. Lúc bạn nhắm mắt từ giã thế gian này, dù có là ai thì cũng đều giống nhau, chỉ là hai bàn tay trắng.

Đời người quan trọng nhất là làm được một chút việc gì đó mà bản thân cảm thấy có ý nghĩa, không nên tốn thời gian đi tranh danh đoạt lợi, không nên cứ lại hơn thua vì một câu nói mãi thế. Người có tu dưỡng chân chính sẽ biết nén cơn tức giận này xuống. Biết kiểm soát được nóng giận mới có thể khiến sự tình trở nên tốt hơn, mới có thể khỏe mạnh và trường thọ.

Nếu để bạn mắc bệnh nhẹ một tuần, bạn sẽ phát hiện tiền tài không còn là quan trọng, chỉ có gia đình và thân thể mới là đáng quý.

Nếu để bạn mắc bệnh nặng một tháng, bạn sẽ phát hiện tiền tài đặc biệt không hề quan trọng, thân thể và người nhà mới là trọng yếu.

Nếu để bạn mắc bệnh nặng nửa năm, đoán chừng bạn sẽ sẵn lòng buông bỏ hết thảy tiền tài và danh lợi, chỉ có thân thể mới là thứ quan trọng nhất.

Đáng tiếc là, thế giới này đại bộ phận mọi người đều như thế, vết sẹo lành rồi lại vội quên đi nỗi đau, kể cả tôi và bạn, cho nên, khi đọc tới đoạn này, tôi càng thêm kiên định mà biết rằng, trong cuộc đời, điều gì mới là quan trọng nhất. Tôi càng thêm minh bạch rõ ràng, người ta nên bình thản mà sống, khỏe mạnh, hạnh phúc mới là quý giá nhất.

Khỏe mạnh chính từ quan niệm.

Người thông minh dùng 100 phần tiền để dưỡng sinh, 50 phần tiền mua bảo hiểm, 10 phần tiền khám bệnh, 1 phần tiền cấp cứu.

Người ngu ngốc dùng 1 phần tiền để dưỡng sinh, 10 phần tiền uống thuốc, 50 phần tiền khám bệnh, 100 phần tiền cấp cứu.

Đại đa số mọi người, lúc 1-2 năm cuối đời sẽ tiêu hết tiền tích góp cả đời, chịu đựng tất cả các loại tác dụng phụ của thuốc tây, hơn nữa còn bị mổ vài lần, rồi mới rời đi.

Vậy phải đối phó với bệnh tật như thế nào? Đáp án chính là ở chỗ phòng bị.

Tức giận và tuổi thọ.

Hoa do tưới nước quá nhiều mà chết, cá ăn bể bụng mà chết, người vì tức khí mà chết. Bạn kiểm soát được cơn nóng giận được bao nhiêu, thì sẽ có thể sống thọ được tới đó.

Thường xuyên tự mình tìm người gây hấn, lòng dạ hẹp hòi, thông thường sống được 20-50 tuổi.

Thường xuyên chịu sự tức giận của người khác, gọi là người hầu, thông thường sống 50-60 tuổi.

Thường xuyên tự mình tức giận, cũng thường tức giận người khác, gọi là người phàm tục, thông thường sống 60-70 tuổi.

Thường xuyên để cho người khác tức giận, nhưng chính mình lại không quá tức giận người, gọi là vĩ nhân, thông thường sống khoảng 80 tuổi.

Bất luận người khác như thế nào, bạn cũng có thể coi như không, gọi là cao nhân, thông thường sống khoảng 90 tuổi.

Vừa không tức giận người khác, mà chính mình cũng không tức giận, gọi là chân nhân, thông thường có thể sống trăm tuổi hoặc hơn.

Trăm bệnh đều từ tức khí mà sinh ra. Cho nên, muốn trường thọ phải biết tiết chế cơn nóng giận, cải biến quan niệm, cải biến tập quán sinh hoạt không tốt, quan tâm đến bản thân mình, hãy bắt đầu ngay từ hôm nay.

From: ngocnga_12 & NguyenNThu