ĐÂU CẦN ĐỢI TÀU CỘNG CHO PHÉP NHƯ VIỆT NAM !?

Image may contain: 4 people, people smiling, text
Lê Ngọc Thanh

ĐÂU CẦN ĐỢI TÀU CỘNG CHO PHÉP NHƯ VIỆT NAM !?

RFI – Phát ngôn viên Kim Eui Kyeom, được Yonhap trích dẫn, cho biết là tổng thống Hàn Quốc Moon Jae In sẽ chuyển thư mời của ông Kim Jong Un khi hội kiến giáo hoàng Phanxicô nhân chuyến công du châu Âu vào tuần tới. Trong chuyến công du này, ông Moon Jae In sẽ ghé Vatican hai ngày 17 và 18/10.

Theo lời phát ngôn viên nói trên, tổng thống Hàn Quốc sẽ kêu gọi sự trợ giúp của giáo hoàng Phanxicô cho việc thúc đẩy hòa bình ở trên bán đản Triều Tiên và thảo luận với ngài về hợp tác tương lai giữa Seoul với Tòa Thánh.

XƯNG TỘI VỚI LINH MỤC …

Van H Pham

CHUYỆN VUI NHÀ ĐẠO…

XƯNG TỘI VỚI LINH MỤC …
(LM Piô Ngô Phúc Hậu)

Một người đàn ông đồ sộ vỗ vai một ông linh mục, vừa hỏi vừa cười hóm hỉnh:

– Chỗ anh em với nhau, tôi hỏi thiệt tình, anh đừng giận tôi nha.

– Chuyện gì mà vô đề long trọng dữ vậy?

– Tôi nghe người ta nói: đạo của anh bắt tín đồ có tội phải đi xưng tội với cha cố và cha cố tha tuốt luốt. Cái đó có không?

– Có. Thì đã sao nào?

– Thì đạo của anh buồn cười quá à.

– Những gì làm anh buồn cười, thì kể cho tôi nghe coi.

– Nhiều lắm. Thứ nhất: linh mục các anh là người như người ta; cũng biết ăn gian nói dối; cũng biết ngoại tình… thì tại sao lại dám ngồi tòa tha tội cho người gian dối, gian dâm?

– Ông chánh án ngồi tòa: tha bổng, kêu án tử hình, kêu án tù chung thân…, thì ông chánh án là người hay là thiên thần?

– Ông chánh án cũng là người nên cũng có thể phạm tội, nhưng ông ngồi tòa với tư cách là đại diện công lý, đại điện cho dân.

– Thì linh mục chúng tôi có tha tội cho tín đồ với tư cách của cá nhân mình đâu. Chúng tôi tha tội nhân danh Chúa và do yêu cầu của Chúa. Đức Giêsu trước khi về trời đã nói với các Tông đồ rằng: “Điều gì chúng con tha dưới đất, thì trên trời cũng tha”.

– Tội phạm tới Chúa thì xưng với Chúa và xin Chúa tha, hà cớ gì Chúa lại trao quyền ấy cho các anh?

– Để tôi kể cho anh một câu chuyện:

Có một người mẹ đang mổ cá, tay dơ quá. Thằng cu tí của bà đang chạy chơi trên sân sũng nước, vì trời mới mưa, bỗng té ạch một cái. Bà không dám bỏ rổ cá đang dang dở, vì con mèo cồ đang ngồi liếm mép. Bà kêu cô chị của thằng cu tí: “Hai! Con đi tắm cho em!”. Cô chị cũng chẳng sạch sẽ gì, mới quét chuồng heo xong, thoang thoảng mùi cháo thiu, vội vàng dìu cu tí đi tắm. Cu tí sạch boong, thay quần áo mới, tóc rẽ ngôi láng coóng, thơm thơm mùi nước hoa của mẹ, nhảy tưng tưng, cười toe toét, thương chị quá chừng.

Vậy đó. Bây giờ tôi hỏi anh: Ở trên đời này, có thằng cu tí nào thắc mắc với cô chị nó rằng: “Chị lấy quyền gì mà tắm cho tôi? Chị có sạch sẽ gì đâu mà dám tắm cho tôi, chải đầu cho tôi, thay đồ cho tôi, lại còn lấy dầu thơm của mẹ mà xức cho tôi nữa. Bày đặt!”. Xin lỗi anh. Nếu trên đời này có thằng cu tí nào nói như thế, thì nó chính là anh đấy.

– Anh trả lời hay. Cho anh mười điểm.

– Còn thắc mắc gì nữa nào?

– Thắc mắc thứ hai: Có tội thì phải phạt. Còn các anh thì tội gì cũng tha tuốt luốt. Như vậy là các anh vẽ đường cho hươu chạy, là xúi người ta cứ phạm tội tối đa.

– Linh mục chúng tôi là cô chị của thằng cu tí. Cô chị chỉ mong muốn một điều là thằng em hết dơ. Dĩ nhiên là thằng cu tí chẳng muốn té. Nhưng có thể là nó sẽ còn té nữa. Nếu nó té nữa, thì cô chị lại tắm cho nó, an ủi và khuyên nhủ nó. Như vậy đâu phải là cô chị vẽ đường cho hươu chạy. Nói cho vui vậy thôi, chứ vấn đề tha tội trong đạo không đơn giản như thế. Theo giáo lý, thì muốn được tha tội, thì phải có điều kiện. Điều kiện một là phải thành tâm sám hối, mà thành tâm sám hối, thì bao hàm việc quyết tâm chừa tội. Điều kiện hai là phải đền tội xứng đáng. Nếu ăn trộm, phá hoại thì phải bồi thường. Bồi thường tiền của. Bồi thường danh dự,… vân vân… Xét về mặt tâm lý, người Công giáo xưng tội xong cảm thấy tâm hồn sung sướng, giàu nghị lực để tránh tội, chứ không có ý đồ phạm tội lại, phạm tội thêm. Đó chính là tâm tư của thằng cu tí sau khi được chị nó tắm cho. Chị tắm và em được tắm nảy ra một tình cảm rất thân thương. Thằng cu tí thấy mình sạch quá, đẹp quá, thơm quá và chẳng muốn ở dơ chút nào.

-Cho anh thêm mười điểm nữa. Không ngờ mà đạo của anh vừa có tình vừa có lý. Và… bây giờ là thắc mắc thứ ba. Nếu tôi là tín đồ Công giáo, tôi chỉ dám xưng ba cái tội lặt vặt thôi, còn tội quan trọng…, thì tôi hổng dám đâu.

-Ví dụ tội gì nào?

– Ví dụ tôi xưng tội ăn cắp xe của bố anh, mà em của anh là trưởng ban công an xã, thì thế nào anh cũng móc điện thoại đi động gọi cho em của anh ngay. Ví dụ tôi xưng tội tò tí với em dâu của anh, thì thế nào anh cũng bật mí cho thằng em trai của anh liền. Đúng không nào?

– Chà. Kẹt dữ ạ.

– Vậy là anh thua rồi phải không?

– Có thể thua thôi, chứ chưa thua đâu. Nếu tôi vì quá thương bố mất xe, vì quá thương thằng em làm công an đang bí lối và thương thằng em trai bị vợ cắm sừng, thì tôi có thể làm bật mí tội của anh. Trong trường hợp này, theo Giáo Luật, thì tôi phạm một tội rất nặng. Tội này có tên là “Lỗi ấn tòa xá giải”. Sau khi phạm trọng tội này, tôi không thể đi xưng tội với bất cứ một linh mục nào. Tôi phải xin ơn tha tội nơi Tòa Thánh.

– Đã có một linh mục lỗi ấn tòa xá giải rồi.

– Ai và ở đâu?

– Một tín đồ ở miền Tây theo cách mạng, rải truyền đơn chống Pháp, đi xưng tội. Thế là ông cha báo cò Tây đến bắt, đày ra Côn Đảo.

– Rải truyền đơn chống Pháp thì tại sao lại bảo là tội, tại sao lại đi xưng làm chi? Người làm cách mạng không lẩm cẩm như vậy đâu. Về vấn đề “lỗi ấn tòa” tôi khẳng định với anh rằng: linh mục là người, thì có thể phạm lỗi ấy. Nhưng trên thực tế, thì tôi chưa thấy xảy ra điều đó, dù bên Tây hay bên Đông, dù thời xưa hay thời nay. Ngược lại có nhiều linh mục vì bảo vệ ấn tòa mà lâm nạn. Tôi kể cho anh nghe hai chuyện thôi:

*Chuyện một. Sau thế chiến thứ hai ở bên Ý xảy ra một chuyện rất thương tâm. Một linh mục chánh xứ đang làm việc tại bàn giấy. Vào lúc 20 giờ 30 có người gõ cửa. Mở cửa ra thì gặp người khách lạ xin xưng tội. Hắn quỳ mọp xưng tội rất vội vã, rồi vội vàng rút lui y như người bị rượt đuổi.

Hắn vừa đi khỏi thì cảnh sát tới.

– Thưa linh mục, vừa có một vụ cướp của, giết người xảy ra ở nhà ga. Theo kinh nghiệm chuyên nghiệp của chúng tôi, thì hắn còn luẩn quẩn đâu đây. Vậy xin linh mục giúp chúng tôi chu toàn nhiệm vụ.

– Tôi không biết.

– Ủa, sao lại có khẩu súng lục ở trong sọt rác này?

– Tôi không biết.

– Nếu là súng của linh mục, thì xin vui lòng cho chúng tôi coi giấy chủ quyền. Nếu không phải của linh mục, thì xin vui lòng cho biết ai là chủ của nó. Khẩu súng này mới xài tức thời, vì nòng của nó có mùi khen khét.

– Tôi không biết.

– Chúng tôi sẽ khởi tố linh mục về tội sở hữu vũ khí bất hợp pháp. Linh mục còn phải trả lời trước tòa: tại sao súng mới nhả đạn lại nằm trong sọt rác, dưới gầm bàn của linh mục, ngay sau thời gian có vụ nổ súng tại nhà ga.

Quả thật, linh mục chánh xứ ấy phải đứng trước vành móng ngựa. Quan tòa và công tố viên đặt ra rất nhiều câu hỏi. Nhưng câu hỏi nào cũng được trả lời y như nhau: “Tôi không biết” – Cuối cùng tòa buộc hai tội: cướp của – giết người và khinh dể tòa án. Rồi tuyên án tù chung thân.

Một linh mục đi tù chung thân vì tội giết người cướp của. Buồn quá! Nhục quá! Mà cũng oan khiên quá! Nhưng linh mục ấy đã cúi đầu chấp nhận chỉ vì lương tâm không cho phép bật mí bất cứ điều gì mình biết trong tòa xá giải.

Mười ba năm sau, tên trộm ấy ra tự thú. Linh mục đi tù oan được trả cả tự do lẫn danh dự. Chua quá! Nhưng cũng vinh dự quá!
*************

*Chuyện hai. Chuyện này xảy ra trong một gia đình bất hạnh. Ông chồng thì đam mê cờ bạc, rượu chè, trai gái. Bà vợ thì cắn răng chịu đựng. Chịu đựng mãi thành hiện tượng dồn nén. Dồn nén mãi thì phải bùng vỡ. Hôm ấy ông chồng đi chơi mãi tới quá nửa đêm mới về. Ông gọi cửa. Bà mở cửa. Ông vừa đưa đầu vào, thì một lưỡi dao phập xuống…

Cơn điên qua rồi, bà vợ khóc lóc thảm thiết. Bà đến nhà thờ xưng tội với cha xứ, rồi đi thú tội với công an xã. Công an xã mời linh mục chính xứ tới để bổ túc hồ sơ.

– Bà Nguyễn Thị M. khai rằng bà đã đi xưng tội, kể lể hết mọi hành vi tội ác. Vậy yêu cầu linh mục cho chúng tôi biết bà M. đã khai gì với linh mục?

– Tôi không biết.

– Đương sự đã khai với linh mục, thì linh mục có nhiệm vụ phải khai với chính quyền, vì đây là vụ án quan trọng.

– Tôi không được nói, vì theo Giáo Luật, tôi không được làm lộ những gì người ta xưng trong tòa.

– Như vậy là ông coi thường chánh quyền. Nếu ông ngoan cố, tôi sẽ còng tay ông.

Ông trưởng ban công an xã đập bàn, giận dữ. Ông chủ tịch Mặt trận phải vội vàng chạy qua góp ý.

– Luật của đạo Thiên Chúa như vậy đó. Các anh cứ ghi nhận những gì bà M. đã khai – Bà M. đã tự thú, thì bà còn giấu giếm làm chi. Lời khai của bà là đủ rồi.

– Thôi, cụ đi về đi.

Anh công an hạ giọng, gấp hồ sơ, đứng dậy, đi tìm điếu cày…

Ông cha xứ 90 tuổi đi về, lòng buồn man mác. Anh công an rít một điếu thuốc lào, lòng nhẹ lâng lâng.

– Tôi giải đáp như thế là hết lời, hết ý rồi đấy. Anh vừa lòng chưa?

– Mới vừa lòng 90 phần trăm thôi.

– 90 hay 100 đã là “bên tám lạng bên nửa cân”. Tôi mừng lắm rồi. Chào anh.

 

 

Mẹ Têrêsa người Ba Na

Image may contain: 1 person, smiling, closeup
Image may contain: 3 people, people standing, beard and outdoor

Chơi Rong

Mẹ Têrêsa người Ba Na

Đã 83 mùa rẫy, Mẹ vẫn mẫn tuệ với tiếng anh trôi chảy, trò chuyện với đồng nghiệp, bác sĩ Smith lặn lội từ Mĩ tìm và ghé thăm Mẹ chiều qua tại cô nhi viện thuộc giáo sứ Kon Jơdreh – Kon Tum sau gần 58 năm xa cách.

Tên Mẹ: Gabrielle Y Chẽ sinh ra từ buôn Kon Hring Nao, vào nhà dòng học ngành y với chức danh Y Sĩ, sau khi vào nhà tập, Mẹ đã cống hiến trọn vẹn đời mình để cứu chữa không biết bao nhiêu sinh mệnh, làm việc tại bệnh viện Minh Quý (Kon Tum) từ năm 1958 cho đến kết thúc chiến tranh, Mẹ không phân biệt bên này bên kia, điều Mẹ quan tâm là làm sao cho người bệnh bớt đau đớn.

Sau năm 1975 Mẹ phải đi cải tạo hết 3 năm 3 tháng tại trại PleiBông, tại đây Mẹ cũng hết lòng chăm sóc cho cả hai phe với tất cả tấm lòng yêu thương tận tụy vô bờ, hết hạn cải tạo, ban quản lý trại yêu cầu Mẹ ở lại để phụ trách y tế, Mẹ từ chối để về lại nhà dòng.

Tưởng rằng sau khi cải tạo Mẹ sẽ được tự do, nhưng chính quyền cấm không cho Mẹ về lại nhà dòng, buộc Mẹ phải về làng. Mẹ vẫn vui vẻ về lại buôn làng nơi mình sinh ra, đi nương, đi rẫy lo cái ăn cho các cháu mồ côi, chăm sóc, chữa bệnh cho đồng bào mình.

Năm 1998, Đức Cha Chung đã tìm cách đưa mẹ về một cô nhi viện, tại đây, với kiến thức y khoa của mình, Mẹ chăm sóc các cháu mồ côi, hằng ngày mẹ vẫn đi nương rẫy để kiếm cái ăn cho các cháu, cho đến bây giờ vẫn vậy.

Khi ở gần Mẹ, cảm nhận dòng năng lượng tươi mát Mẹ cho, khi không còn cái tôi thì tình yêu thương, lòng từ bi bác ái không có đường biên.

Gần Mẹ, cảm thấy hỗ thẹn về cái tôi của mình, mỗi từng sát na nó đóng vảy từng lớp từng lớp dày, nội kết bên trong, khi chạm vào nó phun nọc làm tổn thương chính nó và mọi cái xung quanh. Để rồi chính nó phải nhận lãnh khổ đau.

Ta còn giỡn nữa hay thôi
Khói bay mờ tỏa luân hồi vòng vo
Gửi về đâu một chút tro
Kèn vang lộn mửa tiếng ò í e

(Sơn Núi)

GỬI BẠN, TỪ TRÁI TIM TÔI.    

GỬI BẠN, TỪ TRÁI TIM TÔI.    

Steve Jobs

Tôi đã đạt đến tột đỉnh của thành công. Trong con mắt người khác, cuộc đời tôi là một biểu tượng của thành công. Tuy vậy phía sau của công việc tôi có rất ít niềm vui. Tài sản của tôi cuối cùng cũng bình hoá với tôi. Trong lúc này trên giường bệnh viện, hồi tưởng về cuộc đời, những lời khen ngợi, tự cao, tự hào về tài sản nhưng tôi cảm thấy thật vô nghĩa trước tử thần, cái chết.

  

Trong bóng tối, khi nhìn ánh đèn màu xanh và tiếng ồn ào của máy dưỡng khí, tôi cảm nghiệm được những hơi thở của tử thần rất gần kề. Bây giờ tôi mới hiểu thấu, nếu một lần bạn đã có tiền đủ cho cuộc đời của bạn, bạn hãy đeo đuổi một mục đích khác không liên quan đến tiền bạc. Nên tìm một điều gì quan trọng hơn… Ví dụ như là lịch sử tình yêu nhân loại, nghệ thuật, ước mơ tuổi thơ… Đừng làm nô lệ cho vật chất, giàu sang, vì nó sẽ biến bạn thành một người yếu ớt như tôi.

   Tạo hóa dựng nên chúng ta để cảm nghiệm được tin yêu trong tim, chứ không phải những ảo tưởng về tiền tài, danh vọng như tôi đã làm trong suốt cuộc đời nhưng không thể đem theo tôi được. Tôi có thể mang theo được những kỷ niệm của yêu thương. Đây mới chính là sự giàu sang sẽ có thể đồng hành với bạn, là sức mạnh, ánh sáng soi sáng cho bạn tiến tới. Tình yêu có thể đi hàng ngàn cây số và chính vì thế cuộc đời không có giới hạn. Đi, tiến đến nơi mà bạn muốn, cố gắng lên để đạt được những mục đích. Tất cả là ở trong tim và trong lòng bàn tay của bạn !

     – Cái giường nào đắt giá nhất trên đời?

 Đó là giường bệnh viện, vì nếu có tiền, bạn có thể mướn tài xế lái xe cho bạn, nhưng không thể dùng tiền để thuê người mang bệnh cho bạn. Mất tài sản mình có thể tìm lại được, có một cái khi đã mất thì không thể tìm lại được: đó là sự sống. Dù đang ở giai đoạn nào trong cuộc đời, cuối cùng, tất cả phải đối diện khi bức màn sự sống kéo xuống.Làm ơn hãy nâng niu và nhận thức được giá trị tình yêu gia đình, tình yêu bạn đời và tình yêu bạn hữu, gìn giữ sức khỏe cho bạn và chăm sóc đồng bào của bạn”!!!

 *** (Những LỜI CUỐI CÙNG của Steve Jobs – người sáng-tạo ra Iphone Apple – chấn-động cả thế-giới !!!)

From: TU-PHUNG

Lòng dân trăm mối tơ vò

Lòng dân trăm mối tơ vò

Trịnh Hữu Long

Ảnh: Báo Người Việt.
Kể từ khi ông Nguyễn Phú Trọng được giới thiệu để Quốc hội bầu làm Chủ tịch nước, “lòng dân” lại được khai thác triệt để nhằm ủng hộ vị Tổng Bí thư.
Đơn cử, ông Vũ Mão, nguyên Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, phát biểu trên báo điện tử VOV rằng, “tôi rất mừng nếu Tổng Bí thư được bầu làm Chủ tịch nước bởi đây là phương án hợp lòng dân”.
Còn ông Nguyễn Đình Hương, nguyên Phó Ban Tổ chức Trung ương Đảng, thì nói trên tờ Viettimes: “Tôi không ngạc nhiên, bởi đó là ý Đảng, lòng Dân”.
Một nhân vật khác, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Trọng Phúc, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng cũng nói trên tờ Soha: “Đến nay, việc Tổng Bí thư làm Chủ tịch nước đã chín muồi, là phương án tốt nhất, hợp lòng dân, phù hợp với xu hướng chung”.
Dường như một cỗ máy truyền thông đang rầm rộ “làm công tác tư tưởng” cho dân chúng và xây dựng tính chính danh cho Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, dọn đường dư luận cho ông nắm giữ vị trí nguyên thủ quốc gia trong vài tuần tới.
Tại sao phải dọn đường dư luận?
Việc ông Nguyễn Phú Trọng trở thành Chủ tịch nước giờ đây đã là thực tế hiển nhiên, không cần chờ Quốc hội quyết định. Trong cơ chế chính trị một đảng cầm quyền ở nước ta, Quốc hội không làm được gì nhiều hơn là cơ quan hợp thức hoá các quyết định của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ông Trọng được 100% uỷ viên của cơ quan quyền lực bậc nhất của đảng giới thiệu ra Quốc hội thì có nghĩa là mọi sự đã an bài, sao vẫn cần dọn đường dư luận?
“Lòng dân” là một trong những khái niệm quan trọng bậc nhất trong khoa học chính trị. Trong tiếng Anh, từ này được gọi là “the people’s will”, nôm na là “ý chí của nhân dân”, hay dùng chữ của triết gia Pháp Jean-Jacques Rousseau là “the general will”, hay là “ý chí chung”.
Vốn dĩ xưa kia vua chúa lên ngôi là do thừa kế từ hoàng tộc chứ không cần quan tâm đến lòng dân. Mọi sự chỉ thay đổi từ khi có một thứ gọi là “dân chủ” (democracy) ra đời. Dân chủ nghĩa là dân làm chủ, mà biểu hiện rõ nhất là người dân bầu ra người đứng đầu chính quyền. Cơ chế này ban đầu xuất hiện ở Hy Lạp và La Mã cổ đại, thời kỳ trước Công nguyên. Tuy nhiên, dân chủ thời đó cũng khác xa với dân chủ thời nay. Khái niệm “dân” thời kỳ đó cũng chỉ bao gồm đàn ông tự do và có tài sản. Phụ nữ, nô lệ, dân lao động chân lấm tay bùn không có cửa bước vào chốn quan trường.
Những nền dân chủ sơ khai đó tồn tại được vài trăm năm thì lụi tàn, thế giới quay trở lại với sự thống trị của vua chúa và các thế lực tôn giáo trong hơn 1.500 năm sau đó. Các cuộc biến đổi chính trị sâu sắc ở châu Âu đã dẫn đến thời kỳ Khai Sáng với sự ra đời của những học thuyết chính trị mới mẻ vào thế kỷ 17, 18. Trong đó, đáng kể nhất là khái niệm “khế ước xã hội” do các triết gia như Thomas Hobbes, John Locke, hay Jean-Jacques Rousseau khởi xướng.

Một ý niệm lạ lẫm ra đời: mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng, quyền lực trong xã hội thuộc về nhân dân, và chính quyền là do dân chúng lập ra thông qua các “khế ước xã hội”.
Đó là đòn kết liễu cho quyền lực của các “thiên tử” nhân danh Trời và thế lực thần quyền nhân danh Chúa thống trị thế giới. Nó mở ra thời kỳ ra đời của các nền dân chủ, nơi chính quyền được lập ra thông qua các cuộc bầu cử định kỳ, hoạt động dựa trên nguyên lý chính quyền “của dân, do dân, vì dân”, nghĩa là nhân danh Dân. Bản “khế ước xã hội” nổi tiếng nhất là bản Hiến pháp Mỹ, ra đời năm 1787, vốn mở đầu bằng cụm từ “we the people”, nghĩa là “người dân chúng ta”.
Điều đó có nghĩa rằng, tính chính danh của một chính quyền, cái lý do cho sự tồn tại của một chính quyền, cái lý do cho chiếc ghế quyền lực của một nguyên thủ quốc gia, nằm cả ở “lòng dân”. Chuyện này cũng chẳng cần ông bà triết gia Tây phương nào nói thì ta mới biết. Cụ Nguyễn Trãi xưa, từ thế kỷ 13, cũng đã tám lần nhắc đến “dân” trong “Bình Ngô đại cáo”, chẳng hạn như “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”, “Nhân họ Hồ chính sự phiền hà, Để trong nước lòng dân oán hận”.
Ngày nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều tự xưng là các nền dân chủ và có tổ chức bầu cử định kỳ, trong đó có Việt Nam. Nếu có điều gì đó hay ho mà ông Hồ Chí Minh học được từ phương Tây thì đó chính là ý tưởng dân chủ, khi ông trích dẫn nguyên lý “mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng” trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 và thiết lập nên chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Các bản Hiến pháp của Việt Nam từ đó đến nay đều ghi nhận nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.
Vậy nên lẽ dĩ nhiên, dù đã nắm chắc chiếc ghế quyền lực trong tay thông qua một hội nghị với gần 200 người của một đảng chính trị vốn chỉ có bốn triệu đảng viên trên 100 triệu dân, người ta vẫn cần viện đến “lòng dân” để biện minh cho quyền lực của vị Chủ tịch nước tương lai, cho dù vị Chủ tịch nước đó mang dáng dấp của một ông vua nhiều hơn là một lãnh đạo dân cử.
Ông Nguyễn Phú Trọng tiếp xúc với cử tri quận Thanh Xuân, Hà Nội, ngày 17/6/2018. Ảnh: Báo Tổ quốc

Đo lòng dân bằng cách gì?

Chiến dịch truyền thông “lòng dân”, trên thực tế, hết sức khiên cưỡng và nhiều khả năng phản tác dụng. Lý do là các cơ quan truyền thông của đảng đã tuyên bố giành được “lòng dân” mà không hỏi dân một lời.
Muốn biết lòng dân ra sao thì cách tốt nhất là phải hỏi dân. Trên thế giới, người ta có mấy cách hỏi.
Một là bầu cử.
Muốn biết ông Nguyễn Phú Trọng có được “lòng dân” ủng hộ làm Chủ tịch nước hay không thì phải để cho người dân được bỏ phiếu một cách tự do. Bỏ phiếu tự do ở đây nghĩa là người dân có nhiều lựa chọn bên cạnh ông Trọng và bỏ phiếu cho bất kỳ ai họ thích, không bị ép buộc phải bầu cho ai. Điều này cũng tương tự như các cuộc bầu cử tổng thống trực tiếp ở Pháp, Ba Lan, Bồ Đào Nha, Indonesia, Đài Loan, Hàn Quốc, v.v. Một số nơi thì bầu cử tổng thống một cách gián tiếp như Mỹ chẳng hạn. Trong các nước theo chế độ nghị viện như Đức, Anh, Úc thì người đứng đầu chính phủ sẽ do đảng chiếm đa số trong quốc hội cử ra sau một cuộc bầu cử quốc hội.
Cách thứ hai là tổ chức trưng cầu dân ý.
Trưng cầu bằng cách bỏ phiếu giống như bầu cử, tuy nhiên kết quả trưng cầu có thể có giá trị bắt buộc hoặc tham khảo, tuỳ trường hợp và tuỳ nước. Nhưng có lẽ chẳng có nước nào trưng cầu dân ý cho vị trí nguyên thủ quốc gia mà chỉ qua bầu cử như cách (1) mà thôi.
Một cách nữa để biết lòng dân là thông qua các cuộc khảo sát, thăm dò ý kiến.
Ở nhiều nước có nhiều công ty được lập ra để chuyên đi khảo sát ý kiến công luận về đủ mọi vấn đề: thuế, môi trường, chiến tranh, chỉ số tín nhiệm của quan chức, v.v. Có thể kể ra vài cái tên như Pew, Gallup, ComRes, YouGov, v.v. Các tờ báo lớn cũng thường tự mình trưng cầu ý kiến công chúng hoặc thuê các hãng kể trên làm hộ. Dĩ nhiên, các khảo sát này chỉ hỏi ý kiến được một lượng nhỏ dân chúng, lên đến vài chục nghìn phiếu khảo sát đã là rất lớn. Khả năng kết quả khảo sát chêch lệch so với thực tế là đáng kể. Hồi năm 2016, hầu hết các bảng khảo sát đều cho thấy Hillary Clinton sẽ đắc cử tổng thống Mỹ, nhưng sau cùng Donald Trump mới là người chiến thắng.
Ngày nay, với cái gọi là dữ liệu lớn (big data) thu thập được từ Internet, người ta cũng có thể biết được lòng dân thông qua phân tích các dữ liệu này.
Với những cách thức như vậy, người ta biết được rằng, lòng dân cũng có năm bảy loại lòng. Barack Obama có giỏi lắm cũng chỉ kiếm được 51,1% phiếu phổ thông và 61,72% phiếu đại cử tri trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm 2012. Hay như ông Emmanuel Macron hồi năm 2017 cũng chỉ có 66,1% phiếu trong bầu cử tổng thống Pháp. Số còn lại là “thành phần chống đối” hoặc ít nhất là không ủng hộ.
Tuy nhiên, cách thức truyền thông của Đảng Cộng sản Việt Nam có vẻ như chủ ý lập lờ, không nói rõ các luồng ý kiến khác nhau trong công luận mà chỉ đưa ý kiến có lợi cho ông Trọng.
Một cuộc biểu tình phản đối Formosa ở Sài Gòn, ngày 1/5/2016. Ảnh: Chưa rõ nguồn

Những thứ không được coi là lòng dân

Nhìn lại quá khứ, đảng dường như chỉ cần đến một thứ lòng dân do họ tưởng tượng ra hoặc khuyếch đại lên mỗi khi cần biện minh cho một việc làm nào đó gây tranh cãi nhưng có lợi cho họ. Còn những biểu hiện thực tế của lòng dân mà bất lợi cho họ thì ít khi được tính đến và không bao giờ được nhắc đến.
Hãy lấy vụ biểu tình Formosa năm 2016 làm ví dụ. Đầu tháng 5/2016, liên tiếp hai cuộc biểu tình ngày 1 và ngày 8 diễn ra với hàng ngàn người ở Hà Nội và Sài Gòn, phản đối việc công ty Formosa xả thải ra biển và yêu cầu chính quyền xử lý thích đáng. Nhiều cuộc biểu tình khác cũng nổ ra rải rác từ đó cho đến nay ở vùng Nghệ An, Hà Tĩnh với quy mô thậm chí còn lớn hơn. Tuy nhiên, không có lãnh đạo, nguyên lãnh đạo hay cơ quan báo chí nhà nước nào gọi đó là “lòng dân”. Kết quả là cho đến nay, Formosa vẫn hoạt động bình thường ở Việt Nam sau một thoả thuận bí mật bồi thường 500 triệu đô-la, trong khi hầu hết các thông tin khác về kết quả xử lý đều không được công khai.
Một ví dụ khác là Luật An ninh mạng năm 2018. Nếu quan sát phản ứng trên Internet và kể cả ngoài đường, người ta dễ dàng nhận thấy làn sóng phản đối là rất lớn. Nó lớn đến đâu thì không ai dám chắc, nhưng dù sao đó vẫn là “lòng” của một bộ phận “dân”. Tuy nhiên, đảng lẫn Quốc hội đều không tính đến thứ lòng dân đó và kiên quyết thông qua đạo luật này vào ngày 12/6.
Còn một thứ lòng dân nữa, âm ỉ hơn nhưng rộng lớn hơn và quyết liệt hơn, đó là dòng dân oan bị cưỡng chế đất hoặc bị xét xử oan sai. Kể tên ra thì vô cùng nhiều, nhưng có thể kể đến dân oan mất đất hoặc có thể mất đất ở Văn Giang, Dương Nội, Đồng Tâm, Thủ Thiêm, hay người dân bị xét xử oan sai như Hồ Duy HảiLê Văn MạnhNguyễn Văn ChưởngĐặng Văn Hiến, v.v.
Tất cả những biểu hiện đó không được gọi là “lòng dân”. Thứ họ bị chính quyền chụp vào đầu là “chống đối”, “phản động”, “bị giật dây”, “Việt Tân”, v.v. Nhiều người trong số họ còn bị đánh đập, bắt bớ và bỏ tù. Ngay cả khi hoãn Luật Đặc khu năm 2018 hay ngừng chặt cây xanh ở Hà Nội năm 2015, chính quyền cũng không gọi những cuộc biểu tình trước đó là “lòng dân”.
Cứ cho rằng ngày hôm nay lòng dân đang ủng hộ ông Nguyễn Phú Trọng làm Chủ tịch nước, liệu mai kia khi đã ngồi vững trên chiếc ghế đó rồi, ông có để ý đến những lòng dân còn đang ngổn ngang trăm mối kia không?

T.H.L.
Nguồn: https://www.luatkhoa.org/2018/10/long-dan-tram-moi-to-vo/

SỨ ĐIỆP CỦA THÁNH TÊRÊSA CHO THỜI NAY

SỨ ĐIỆP CỦA THÁNH TÊRÊSA CHO THỜI NAY

Thánh Nữ Têrêsa Hài Đồng đã khám phá và sống trọn con đường tình yêu, con đường thơ ấu trong Phúc Âm.  Chính con đường đó đã dẫn đưa Têrêxa tới đỉnh cao thánh thiện và trở thành “Tiến Sĩ Hội Thánh”, tức là bậc thầy về đàng thiêng liêng.  Têrêxa đã ý thức về sự bất toàn và nhỏ bé của mình, nên biết rằng mình không thể nên hoàn thiện với sức riêng.  Têrêxa đã tìm thấy trong Phúc Âm chân lý về sự “nhỏ bé”, hoàn toàn tín thác nơi tình yêu Chúa, không cần phải trở nên “cao trọng”, nhưng trở nên bé nhỏ trong vòng tay của Chúa.

Trong bài thuyết trình tại Lisieux hồi cuối tháng 9-1996, ĐHY Paul Poupard, người Pháp, Chủ tịch Hội Đồng Tòa Thánh về Văn hóa, đã nêu những nét nổi bật trong sứ điệp của Thánh Nữ Têrêxa Hài Đồng cho nhân loại ngày nay như sau:

“Thiên Chúa là tình yêu.  Ai ở trong tình yêu, thì ở trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở trong người ấy” (1 Jn 4,16).  Têrêxa không ngừng suy niệm về những lời trên đây của thánh Gioan và của Tin Mừng, để từ tâm hồn thánh nữ nảy sinh những trang nồng cháy tình yêu đối với Chúa Giêsu, những trang sách này như một tiếng vọng Con Tim của Chúa: “Tôi hiểu rằng Tình Yêu bao gồm mọi ơn gọi.  Tình Yêu là tất cả; Tình Yêu tóm gọn mọi thời gian và không gian.  Trong con tim của Giáo Hội là Mẹ Tôi, tôi sẽ là tình yêu” (…).

“Vậy ai trở nên bé nhỏ như trẻ em ấy, sẽ là người lớn nhất trong Nước Trời” (…).  Tại sao trở nên bé nhỏ?  Thưa để chọn con đường thơ ấu được thánh nữ Têrêxa tái khám phá, và thánh nữ đã vẽ lại khi khám phá tình yêu của Thiên Chúa.  Quan niệm của thánh nữ về Giáo Hội thật là độc đáo và táo bạo: trong con tim của Giáo Hội là Mẹ tôi, tôi sẽ là Tình Yêu.  Khi Têrêxa mô tả viễn tượng lớn lao trên đây cho chị ruột là Maria Thánh Tâm ngày 8 tháng 9 năm 1896, thánh nữ đã 23 tuổi và chỉ còn sống được một năm nữa.  Chắc hẳn thánh nữ phải có một nhận thức sâu xa về Thiên Chúa cũng như về Giáo Hội nên mới có thể quả quyết rằng Giáo Hội có một con tim, và trái tim ấy nồng nhiệt tình yêu.  Chúng ta hãy đọc lại những lời tuyệt diệu đó, vừa đơn sơ và sâu xa, được sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo (n. 826) lấy lại:

“Tôi hiểu rằng nếu Giáo Hội có một thân mình, gồm những chi thể khác nhau, thì chi thể cần thiết nhất, cao thượng nhất trong tất cả các chi thể mà Giáo Hội không thể thiếu được, tôi hiểu rằng Giáo Hội có một Trái Tim, và Trái Tim ấy nồng cháy Tình Yêu.  Tôi hiểu rằng Chỉ có Tình Yêu mới làm cho các chi thể của Giáo Hội hành động, và nếu Tình Yêu ấy tắt lịm đi, thì các Tông Đồ sẽ không còn rao giảng Phúc Âm nữa, các vị Tử Đạo sẽ từ chối không đổ máu đào…  Tôi hiểu rằng Tình Yêu bao gồm mọi ơn gọi.  Tình Yêu là tất cả; Tình Yêu tóm gọn mọi thời gian và không gian…  Nói tắt một lời, Tình Yêu là vĩnh cửu!  Lúc ấy tôi kêu lên: Lạy Chúa Giêsu, tình yêu của con, ơn gọi của con, nay con đã tìm được rồi, ơn gọi của con chính là Tình Yêu. Thực vậy, con đã tìm được chỗ của con trong Giáo Hội, và chỗ đó, lạy Chúa, chính Chúa đã cho con.  Trong con tim của Giáo Hội là Mẹ con, con sẽ là tình yêu” (…).

“Là Tiến sĩ Tình Yêu, thánh nữ Têrêxa từng biết rõ thử thách của đức tin trong một thế giới bị nghi ngờ và vô tín ngưỡng vây bủa.  Về phương diện đó, thánh nữ Têrêxa có tính chất hết sức thời sự, trong một nền văn hóa quá chú trọng đến các phương tiện nhưng ít quan tâm tới mục đích, tạo nên sự bất mãn sâu xa, gây nên sự trống rỗng sâu rộng, gợi lên tiếng kêu lo âu.  Nhiều người ngày nay cảm thấy mang máng tiếng gọi của Thiên Chúa Tình Yêu.  Chỉ một mình Chúa mới có thể đáp ứng thực sự những mong đợi của con tim và trí tuệ loài người, trong cuộc tìm kiếm tình thương và chân lý, ánh sáng và sự tươi đẹp.  Như Đức Gioan Phaolô II đã nói ở Lisieux: “Chúng ta cảm tạ Chúa vì thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu.  Cảm tạ vì vẻ đẹp sâu xa, đơn sơ và trong trắng, được biểu lộ nơi thánh nữ cho Giáo Hội và thế giới.  Vẻ đẹp này có sức quyến rũ.  Và Thánh nữ Têrêxa thành Lisieux có một ơn đặc biệt thu hút bằng vẻ đẹp của tâm hồn ngài” (Lisieux 2-6-1980, trong cuốn Jean-Paul II, que fais-tu de ton baptême?, Le Centurion, Paris, 1980, p. 234).

“Thánh Nữ Têrêxa yêu mến Thiên Chúa với cùng tình yêu mà Chúa Cha yêu mến Chúa Con trong Chúa Thánh Linh.  Thánh nữ nhìn tha nhân với cùng cái nhìn như thế, cái nhìn được tình yêu biến đổi hoàn toàn, nhưng nhiều khi bị những tâm hồn nô lệ tội lỗi coi rẻ: “Tôi cảm thấy ước muốn nồng nhiệt hoạt động cho sự hoán cải người tội lỗi.” (…).

“Tình yêu Chúa lớn lên nơi thánh nữ Têrêxa, được nuôi dưỡng bằng cái nhìn hướng về Chúa Giêsu: khi còn nhỏ dù khi đi câu với cha, dù khi ngồi trên lòng đầu gối của mẹ đỡ đầu, hoặc ẩn núp sau chiếc màn che giường, Têrêxa đều nghĩ tới Chúa Giêsu, tới trời cao…  Về sau, Têrêxa hiểu rằng mình đã suy gẫm.  Thánh nữ nói: “Chúa Nhân Lành đã bí mật dạy tôi.”  Têrêxa sống và lớn lên trước nhan Chúa.  Ngày thánh nữ rước lễ lần đầu, biết Đấng mà mình tiếp rước: Từ lâu Chúa Giêsu và cô bé Têrêxa hèn mọn này đã nhìn nhau và hiểu nhau…  Hôm đó, không còn là cái nhìn bên ngoài nữa, nhưng là một sự kết hiệp thực sự, một sự chìm đắm sâu xa, như giọt nước bé nhỏ giữa lòng đại dương.  Được Tình yêu Chúa chiếm hữu, Têrêxa được Tình Yêu Chúa luôn dẫn đưa theo chiều hướng Bonum diffusivum sui (Điều tốt lành tự lan tỏa), như người xưa vẫn nói.  Tình yêu chỉ mong ước được trao hiến: Tôi cảm thấy tình bác ái đi vào trong tâm hồn tôi, nhu cầu phải quên mình để làm đẹp lòng, và từ đó tôi cảm thấy hạnh phúc.  Đó không phải chỉ là hạnh phúc mà thôi, nhưng còn là niềm vui mừng sâu xa nữa.  Têrêxa yêu Chúa bằng chính Tình yêu của Chúa.  Nơi Ngài, thánh nữ khám phá cái nhìn của Thiên Chúa về người khác, cái nhìn của Đấng Tạo Hóa say mê tạo vật của mình.  Têrêxa sống sâu xa mầu nhiệm Giáo Hội, mầu nhiệm các thánh thông công, trong đó tình yêu còn lớn lao hơn tình yêu gia đình, dù là gia đình lý tưởng nhất trên mặt đất này, như gia đình được triển nở ở Buissonnets.

“Một Chúa nhật kia, khi nhìn ảnh tượng Chúa Giêsu trên Thánh Giá, Têrêxa xúc động như thể máu đang chảy từ vết thương của mình.  Têrêxa cảm thấy vang dội trong con tim tiếng kêu của chính Chúa Giêsu trên Thánh Giá: “Ta khát.”  Têrêxa kể lại: “Những lời ấy khơi lên trong con một sự nồng nhiệt mãnh liệt chưa từng thấy…  Con muốn cho Đấng con yêu mến được giải khát và con cảm thấy chính mình đang bị dằn vặt vì niềm khao khát các linh hồn.  Bấy giờ con chưa bị thu hút vì linh hồn của các linh mục, nhưng là linh hồn của những người đại tội lỗi.”  Và Têrêxa quyết định vào dòng kín Camêlô, nơi Chúa Giêsu lôi kéo chị.  Chính trong nhà dòng kín đó mà chiều kích tông đồ của chị được phát triển đặc biệt.  Chị giúp việc đào tạo các tập sinh trong nhà dòng và đồng thời đảm trách việc hỗ trợ tinh thần cho hai thừa sai.  Sự cởi mở đó thật phù hợp với sự quan phòng của Chúa: đó là dịp để Têrêxa khám phá và biểu lộ sứ mạng tông đồ của chị trong Giáo Hội.  Ngày 18 tháng 8 năm 1890, chị Pauline của Têrêxa hỏi: “Vậy em có muốn lập công không?”  Têrêxa mau lẹ đáp: “Có chứ, nhưng không phải cho em, mà là cho những người tội lỗi đáng thương, cho các nhu cầu của Giáo Hội.”  Thái độ dâng hiến cho Tình Yêu Từ Bi thật là rõ ràng: “Con không muốn tích trữ công đức cho mình để được lên trời, con muốn làm việc cho Chúa là Tình Yêu duy nhất…  Con muốn nhận được từ Tình Yêu Chúa phần thưởng đời đời là chính Chúa” (Sách Giáo Lý Công Giáo, n. 2011).”

Cũng vì đạo lý của Thánh Nữ Têrêxa Hài Đồng rất hợp thời với con người ngày nay như thế, nên 50 HĐGM trên thế giới, trong đó có cả HĐGM Hoa Kỳ, đã ủng hộ đơn xin ĐTC tôn phong thánh nữ Têrêxa Hài Đồng làm Tiến Sĩ Hội Thánh, như chính ĐTC Gioan Phaolô II đã nhắc đến trong công thức phong Tiến Sĩ:

“Đáp ứng mong ước của đông đảo anh em trong hàng Giám Mục và rất nhiều tín hữu trên thế giới, sau khi nghe ý kiến của Bộ Phong Thánh và được ý kiến của Bộ Giáo Lý Đức Tin liên quan tới đạo lý nổi bật, sau khi đã suy nghĩ chín chắn và xác tín đầy đủ và chắc chắn, với trọn quyền Tông Đồ, Tôi tuyên bố thánh nữ đồng trinh Têrêxa Hài Đồng Giêsu và Thánh Nhan là Tiến Sĩ của Giáo Hội hoàn vũ.  Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.”

Trong bài giảng ngày lễ phong Thánh Nữ Têrêxa Hài Đồng làm Tiến Sĩ Hội Thánh, ĐTC ghi nhận rằng vị tân Tiến Sĩ là một phụ nữ, một nữ tu chiêm niệm, một người trẻ tuổi, nhưng đã trưởng thành trên con đường thiêng liêng, đáng được liệt kê vào số các bậc thầy tu đức.  Trong số những điểm nổi bật trong các tác phẩm của thánh nữ Têrêxa, chúng ta phải nói tới khoa học tình yêu.  Thánh nữ đã viết: “Đức ái đã mang lại cho con chìa khóa ơn gọi của con.  Con hiểu rằng nếu Giáo Hội là một thân thể, gồm nhiều chi thể, thì không thể nào thiếu được cơ phận quan trọng nhất.  Giáo Hội có một trái tim và trái tim ấy được nồng cháy Tình Yêu.  Chỉ có Tình yêu mới có thể huy động các chi thể của Hội Thánh.  Nếu Tình yêu tắt lịm thì các tông đồ không còn rao giảng Tin Mừng nữa, các vị tử đạo sẽ không còn dám đổ máu đào nữa…  Con hiểu rằng Tình Yêu bao gồm tất cả mọi ơn gọi…  Lúc đó, trong niềm vui tột đỉnh con thốt lên: Lạy Chúa Giêsu Tình Yêu của con… con đã tìm được ơn gọi của con, ơn gọi của con chính là Tình Yêu!” (Thủ bản B, 3v).

Đề cập đến ý nghĩa việc tôn phong Tiến Sĩ Hội Thánh cho thánh nữ Têrêxa Hài Đồng đối với con người thời nay, ĐTC nói rằng: “Đứng trước sự trống rỗng của bao nhiêu lời nói, Thánh nữ Têrêxa trình bày một giải pháp khác, Lời duy nhất cứu độ, khi được hiểu và sống trong thinh lặng, sẽ trở thành một nguồn mạch cuộc sống được đổi mới.  Đứng trước một thứ văn hóa duy lý và quá nhiều khi bị chủ thuyết duy vật thực hành tràn ngập, thánh nữ đơn sơ trình bày “con đường nhỏ”, nói lên cốt yếu của cuộc sống, dẫn tới bí quyết của cuộc đời: Tình yêu Chúa bao trùm và thấm nhập toàn thể cuộc phiêu lưu của con người.  Trong thời đại như thời chúng ta, thường bị ảnh hưởng một thứ văn hóa phù du và duy khoái lạc, vị Tiến Sĩ mới tỏ ra đặc biệt hữu hiệu trong việc soi sáng tâm trí những người khao khát sự thật và tình thương.”

Sau cùng, ĐTC khẳng định rằng “Thánh nữ Têrêxa đã đề ra một con đường nên thánh dành cho tất cả mọi người.  Đường nên thánh không phải hệ tại thi hành những công trình vĩ đại, nhưng là con đường tín thác và hoàn toàn phó thác cho ơn thánh Chúa.  Con đường đơn sơ đó không thiếu những đòi hỏi, vì Phúc âm đề ra nhiều yêu sách; nhưng lòng tin tưởng phó thác nơi lòng từ bi của Chúa khiến cho những cam go trở thành êm ái dịu dàng.”

Quả thực, trong một thế giới bị trào lưu vô thần, lý thuyết và thực hành, tấn công, các tác phẩm của thánh nữ Têrêxa Hài Đồng là một thành trì bảo vệ vững chắc, vì chứng tỏ một niềm tin được sống một cách chân thành, trẻ trung và nồng nhiệt.  Cũng thì thế, và dòng tu, nhưng cả trong các nhóm, phong trào và hội đoàn giáo dân, cũng như trong các gia đình.  Tác phẩm của thánh nữ thuộc vào loại được đọc nhiều nhất thời nay, và trở thành một vị hướng đạo cho hàng triệu người.  Ấn bản đầu tiên của cuốn Truyện một tâm hồn, xuất bản năm 1898 đã được dịch ra, ấn hành và tái bản trong hơn 50 ngôn ngữ với hàng triệu bản.

ĐHY Dionigi Tettamanzi, TGM giáo phận Milano, đã từng nói với các nữ đan sĩ dòng kín Cát Minh ở Genova: “Nơi thánh nữ Têrêxa tôi thấy được sự dịu hiền từ ái vô biên của Thiên Chúa.  Lời Chúa phán qua Sứ ngôn Isaia đã trở thành kinh nghiệm hằng ngày của Thánh Nữ: “… Những người con nhỏ của Chúa sẽ được bồng ẵm trên tay, chúng được vuốt ve trên đầu gối của Người.  Như một người mẹ an ủi con mình, Ta cũng sẽ an ủi các con như vậy” (Is 66,12-13).  Sứ điệp này quả thực có tính chất thời sự dường nào!  Con người ngày nay đang cần tình thương, cần được quan tâm, cần có những quan hệ tình người đầy ý nghĩa, cần phải làm sao để họ gặp được những chứng nhân đích thực về sự dịu hiền từ ái của Chúa. Có lẽ cũng vì thế, con đường của thánh Têrêxa cũng là con đường trở về được chuẩn bị cho những người đã rời xa Thiên Chúa.” (Báo Avvenire, 14-10-1997).

Lm Trần Đức Anh, OP

From Langthangchieutim

CẢM TẠ CHÚA ĐI VÌ NGƯỜI THIỆN HẢO

CẢM TẠ CHÚA ĐI VÌ NGƯỜI THIỆN HẢO

Tuyết Mai

 Lạy Thiên Chúa Đấng muôn đời quyền năng và luôn yêu thương con cái của Người! Hết thảy chúng ta hãy luôn mở miệng cao rao dâng lên Thiên Chúa lời chúc tụng, ngợi khen, tôn vinh và kêu lên danh thánh Người. Để tỏ lòng biết ơn và cảm tạ Người luôn ban cho bao nhiêu điều thiện hảo mà Người không ngừng ban phát và không ngừng yêu thương chúng ta.

Nếu kể ra những điều thiện hảo mà Thiên Chúa ban cho từng người chúng ta suốt một năm dài thì xin thưa nó còn nhiều hơn số tóc trên đầu của chúng ta nữa, thật là thế. Nếu không phải thì là vì chúng ta quá ư là bận rộn với công ăn việc làm hay học hành mà không để ý tới thôi nên không cho là đáng kể hay tệ hơn nữa là nghĩ rằng mọi thứ ta có trên đời là do chính khả năng của mình tạo ra mới có!?.

Ở đây chúng tôi chỉ muốn đưa ra những điều rất nhỏ nhưng lại là nỗi lo sợ đến mất ăn, mất ngủ như mất chìa khóa xe, mất chìa khóa hộp thư, mất giấy tờ quan trọng và mất số tiền khá lớn hay gia đình đang có sự xung khắc và hiểu lầm nhau mà chưa giải quyết được, v.v… Nhưng sau khi chúng ta thành khẩn cầu nguyện trong lo lắng với Thiên Chúa (với thánh Anton giúp) thì Người đều cho tìm lại được hay được người tốt lượm và trả lại cho.

Chuyện là từ suốt nguyên ngày hôm qua vợ chồng chúng tôi cũng lo không đến nỗi ăn mất ăn, mất ngủ nhưng trong đầu cả hai không ngừng lo lắng là vì ông nhà tôi đi lấy thư mà bỏ quên luôn 2 chìa khóa quan trọng ngoài thùng thư nhất là trong thời buổi có nhiều người xấu. Họ thường chờ đêm đến thì đi cạy cửa thùng thư để ăn cắp thư về bán hay làm giấy tờ giả mà mãi sau này mình mới khám phá ra thì đã quá trễ … Cũng đủ làm tổn hại lớn cho mình, cho gia đình mà không thể lường trước được.

Điều mà chúng ta cần thiết để luôn dâng lời cảm tạ một Thiên Chúa đầy quyền năng thế mà lại luôn yêu thương con cái của Người cách chịu thua và CHỜ ĐỢI khi chúng ta thì luôn sống trong vô ơn, bội bạc và không ngừng than trách Thiên Chúa đã để cho chúng bị thế nọ hay bị thế kia … Ai làm cha làm mẹ mà có con cái lớn khôn còn độc thân hay đã có gia đình thì đều cảm nhận biết điều này mà thông hiểu cho nỗi lòng rất buồn phiền của Thiên Chúa là Cha của chúng ta ở trên Trời như thế nào?.

Là khi chúng con cái có vấn đề gì không ổn cho bản thân thì chúng không nghĩ đến cha mẹ ở tuổi cũng cần tâm trí được thảnh thơi, nghỉ ngơi mà chúng cứ làm phiền suốt ngày đêm để than thở, khóc lóc ỉ ôi cho những sự việc đáng trách, thiếu suy nghĩ mà chúng đã tự gây ra. NHƯNG khi chúng nó hằng ngày vui vẻ, ăn uống sang trọng, đi chơi đây kia thật tốn kém, mua sắm cho mình đủ thứ phủ phê mà chẳng hề quan tâm hay nghĩ đến cha mẹ GIÀ đang cần những gì dù rất căn bản hoặc dành thời giờ mà đến thăm cha mẹ xem còn khỏe hay đã yếu đi nhiều; nói chi đến sự trả hiếu đúng cho nghĩa.

Thật phải, khi cha mẹ tuổi càng già yếu thì mới hiểu được lòng Thiên Chúa yêu thương con cái của Người như thế nào. Đúng thật là một tình yêu vô bờ bến, một tình yêu luôn trải rộng, không ngừng trao ban và luôn chờ đợi như chuyện của Người con hoang đàng và vòng tay mở rộng của người Cha mừng chạy ra đón thằng con trai hư đốn của mình TRỞ VỀ vì tưởng rằng nó đã chết từ lâu lắm rồi …

Y Tá của Chúa,

Tuyết Mai

2 tháng 10, 2018

——————————————————–

https://www.youtube.com/watch?v=rjQF0sa0yHM

Tâm Tình Với Chúa

Tuyết Mai (1) 10-08-2002

Chết theo kế hoạch, tử hợp quy trình!

Image may contain: one or more people and people standing

Van H Pham

Chết theo kế hoạch, tử hợp quy trình!

Huy Phương

Chủ tịch nước Trần Đại Quang qua đời vào ngày 21 Tháng Chín, 2018 tại bệnh viện Quân Đội 108. Chưa được chín ngày sau, cũng tại bệnh viện này, cựu Tổng Bí thư Đỗ Mười ra đi. Cờ đỏ sao vàng “sồi sụt” hạ xuống rồi kéo lên. Đó là người dân biết theo thông báo của đảng, còn đảng viên như sống chết ra sao, ngày nào là do chương trình xếp đặt của đảng. Đảng cho khai sinh trễ vài năm để dễ hy sinh thêm vài nhiệm kỳ, cho chết trễ vài ngày để tránh trùng tang. Ngay ngày Hồ Chí Minh “chuyển sang từ trần,” đảng cũng chưa cho phép chết, như theo Thông báo số 151-TB/TW ngày 19 Tháng Tám, 1989 của Bộ Chính Trị, “Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời lúc 9 giờ 47 ngày 2 Tháng Chín, 1969, ngày Quốc Khánh của nước ta nên để ngày Bác mất không trùng với ngày vui lớn của cả dân tộc nên Bộ Chính Trị quyết định công bố Chủ Tịch Hồ Chí Minh mất vào lúc 9 giờ 47 ngày 3 Tháng Chín, 1969!”

“Bác” mà Bộ Chính Trị còn đối xử như vậy, thì Trần Đại Quang, Đỗ Mười, hay Lê Đức Anh cùng chết chùm thì đảng cũng phải chia ra một hai tuần cho thưa thưa, không lại miệng tiếng ở đời độc ác lại cho rằng “trùng tang” hay “điệp tang,” không những “double” mà còn “triple!”

Theo phong tục Việt Nam, ngày xưa khi trong nhà có người chết, quan tài quàn tại nhà thì tất cả tủ kính, cửa kính đều phải dán kín lại, người ta sợ hình ảnh một quan tài phản chiếu trong kính thành hai, ba quan tài.

Không phải chỉ những ở Liên Xô, Trung Cộng, Bắc Hàn, lãnh tụ và đảng viên thường có những cái chết mờ ám vì tranh giành quyền lực, thanh toán phe phái, mà ngay ở Việt Nam, những cái chết như Nguyễn Bá Thanh, Trần Đại Quang hay mất tích như Đinh Thế Huynh, Phùng Quang Thanh cũng đem lại nhiều nghi vấn. Trước đây Phùng Quang Hải, con Phùng Quang Thanh bị cách chức chủ tịch Tổng Công Ty 319, và người được đưa lên thay lại là con trai của Trần Đại Quang. Bây giờ Chủ Tịch Nước Trần Đại Quang chết vì “vi-rus lạ,” còn cựu Bộ Trưởng Quốc Phòng Phùng Quang Thanh được cho là thân Trung Cộng, từng bị loan tin là bị đầu độc ở Pháp, có lần tái xuất hiện ở Việt Nam, rồi khi biến mất từ đó đến nay.

Nhưng dù có chết vì tuổi già, bị bệnh hiểm nghèo, bị đầu độc hay bị ám sát đều được đảng thương tiếc, che giấu và cải chính bằng cách ra một loại thông báo đại loại như nhau. Tục ngữ Việt Nam chúng ta đã có câu “có tật giật mình!”

Có gì mờ ám mà khi đồng chí nào chết, đảng cũng phải phân bua, rào đón “… dù được các giáo sư, bác sĩ trong và ngoài nước hết lòng cứu chữa, lãnh đạo đảng, nhà nước hết sức quan tâm, tạo điều kiện nhưng không qua khỏi.”

Xin đan cử một vài ví dụ:

*Chủ Tịch Nước Trần Đại Quang: “Ban Bảo Vệ Chăm Sóc Sức Khỏe Cán Bộ Trung Ương cho hay Chủ Tịch Nước Trần Đại Quang do mắc bệnh hiểm nghèo, dù được các giáo sư, bác sĩ trong và ngoài nước hết lòng cứu chữa, lãnh đạo đảng, nhà nước hết sức quan tâm, tạo điều kiện nhưng không qua khỏi.”

*Cựu Tổng Bí Thư Đỗ Mười: “Ban Bảo Vệ Chăm Sóc Sức Khỏe Cán Bộ Trung Ương thông báo, nguyên Tổng Bí Thư Đỗ Mười trút hơi thở cuối cùng lúc 23 giờ 12 phút ngày 1 Tháng Mười, tại bệnh viện Trung Ương Quân Ðội 108. Thời gian lâm bệnh, ông đã được đảng, nhà nước, tập thể giáo sư, bác sĩ trong và ngoài nước cứu chữa, nhưng không qua khỏi vì tuổi cao sức yếu.”

*Nguyên Thủ Tướng Võ Văn Kiệt: “Thông cáo đặc biệt của Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng chiều 12 Tháng Sáu viết, sau một thời gian lâm bệnh nặng, mặc dù được đảng, nhà nước, tập thể các giáo sư, bác sĩ tận tình cứu chữa, gia đình hết lòng chăm sóc, nhưng do tuổi cao, bệnh nặng, nguyên thủ tướng Võ Văn Kiệt đã từ trần hồi 7 giờ 40 phút ngày 11 Tháng Sáu, 2008, thọ 86 tuổi.

*Đại Tướng Võ Nguyên Giáp: “Do tuổi cao, sức yếu, mặc dù đã được đảng, nhà nước, quân ủy trung ương, Bộ Quốc Phòng và tập thể các giáo sư, bác sĩ, nhân viên y tế trong và ngoài quân đội cùng gia đình hết lòng chăm sóc, đồng chí đã từ trần hồi 18 giờ 9 phút, ngày 4 Tháng Mười, 2013 tại bệnh viện Trung Ương Quân Ðội 108; hưởng thọ 103 tuổi.”

Ngoài trường hợp ông Võ Văn Kiệt chết ở Singapore hay ông Phan Văn Khải chết ở quê nhà Củ Chi, còn thì quân đội hay dân sự đều phải qua một ngõ duy nhất: Bệnh viện Trung Ương Quân Đội 108. Lê Đức Anh hiện cũng đang nằm chờ ở đây.

Dù lúc sống hầm hè, ganh ghét, quắc mắt nhìn nhau, thiếu đường muốn ăn tươi nuốt sống nhau, nhân gian gọi là “như sừng với đuôi,” khi chết dù phải bắt ấn vì sợ, cũng vắt nước mắt, tìm chữ nghĩa để ca tụng nhau.

Lẳng lặng mà nghe ông Tổng viết lời phúng điếu:

*Chủ Tịch Nước Trần Đại Quang: “Vô cùng thương tiếc đồng chí Trần Đại Quang, ủy viên Bộ Chính Trị, chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam, nhà lãnh đạo đã có nhiều cống hiến cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của đảng, nhà nước và nhân dân ta, nhất là lực lượng công an nhân dân, xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc Việt Nam XHCN. Đồng chí mất đi là một tổn thất lớn với đảng, nhà nước và nhân dân ta, để lại niềm tiếc thương sâu sắc với tất cả chúng ta.”

*Cựu Tổng Bí Thư Đỗ Mười: “Vô cùng thương tiếc đồng chí Đỗ Mười, nhà lãnh đạo xuất sắc, có uy tín lớn của đảng, nhà nước và nhân dân ta; Người đảng viên cộng sản rất mực kiên trung, suốt đời chiến đấu hy sinh vì lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân; Người có nhiều công lao và cống hiến to lớn cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và trong công cuộc đổi mới, xây dựng, bảo vệ tổ quốc. Đồng chí mất đi là một tổn thất to lớn đối với đảng, nhà nước và nhân dân ta, để lại niềm tiếc thương sâu sắc đối với đồng chí, đồng bào cả nước và bạn bè quốc tế.”

*Đại Tướng Võ Nguyên Giáp: “Đồng chí mất đi là một tổn thất lớn đối với đảng, nhà nước, nhân dân và quân đội ta, để lại niềm tiếc thương sâu sắc đối với đồng chí, đồng bào, chiến sĩ cả nước và bạn bè quốc tế. Nguyện mãi mãi học tập tư tưởng, đạo đức, tác phong và tấm gương hết lòng vì nước, vì dân của đồng chí.”

Tình nghĩa đồng chí Cộng Sản với nhau, có bao nhiêu câu nói, chỉ cần nói đi lặp lại như luận điệu của loại loa phường. Nhưng cứ nhìn cái quắc mắt của Nguyễn Tấn Dũng khi nhìn Nguyễn Phú Trọng bên cạnh quan tài Trần Đại Quang, hay những đôi mắt hằn học của gia đình người bị bức tử ném về phía kẻ sát nhân, thì người ngoài cuộc cũng đã hiểu. Trong thế giới đồng chí với nhau, đã và sẽ có những cái chết theo kế hoạch và tử hợp quy trình của đảng!  

GỤC ĐẦU KHÓC TANG?

Chuong Tieng shared a post
Image may contain: 2 people, people standing and outdoor
Image may contain: 4 people, people standing and outdoor
Image may contain: 10 people, people standing and outdoor
Image may contain: 7 people, people standing, crowd and outdoor
Luân LêFollow

GỤC ĐẦU KHÓC TANG?

Những đứa trẻ ngây thơ với tình yêu trong sáng hay là theo chỉ thị của những người có thể điều khiến?

Trong một xã hội mà tình cảm yêu, ghét, thương, mến không còn được tự do, mà trở nên là một mệnh lệnh, nhất là với những thanh niên và trẻ em, thì điều đó thật đáng buồn và đáng lo cho đất nước.

Những đứa trẻ thì cần được sống tự nhiên theo tâm trí của chúng. Những thanh niên thì cần phải hiểu rõ về tình cảm của mình dành cho người khác, nếu không thì mọi sự đều trở nên giả tạo và dần tới sự lừa dối có hệ thống.

Thử hỏi chúng, ở nhà, chúng có cãi cha, cãi mẹ và phải để mẹ cha lo cho từng việc cỏn con hay không?

Nhìn chúng chẳng khác nào đám ma-nơ-canh, vô hồn và trống rỗng.

LIÊN LỤY

Nguyễn Công 

Khổng Tử có học trò tên Mỗ, người nước Đằng. Mỗ học vào loại trung bình, song luôn luôn tự cho mình là giỏi nhất. Học được vài năm, Mỗ xin về nước vì tưởng rằng đã học hết đạo của thầy. Tử Cống thấy vậy hỏi:
– Người ấy về nước rồi làm quan có sao không?
Khổng Tử rung đùi đáp:
– Không sao.

Lại hỏi tiếp:
– Làm tướng có được không?
Khổng Tử vuốt râu đáp:
– Được.

Lại hỏi tiếp:
– Thế nhỡ về làm giặc?
Khổng Tử vừa ngáp vừa trả lời:
– Cũng không hại gì.

Bấy giờ Tử Cống mới yên tâm mà thủng thẳng:
– Nghe nói Mỗ xin về nước chỉ để làm thầy!

Khổng Tử vừa nghe câu đó, bỗng giật bắn mình. Thế là chân không kịp xỏ giày, áo không kịp cài khuy, vội vàng lao ra cổng chạy như hớt hơ hớt hải. Học trò đuổi theo hỏi: “thầy chạy đi đâu?”. Khổng Tử vừa chạy vừa đáp:
– Sang ngay nước Đằng.

Học trò lại hỏi: “sang nước Đằng làm gì?”.

Khổng Tử vẫn vừa chạy vừa trả lời:
– Sang ngăn không cho tên Mỗ làm thầy. Hắn có làm quan thì cùng lắm chỉ hại đến một ấp. Làm tướng cũng chỉ hại đến một thành. Thậm chí có làm giặc cũng chưa chắc đã hại nổi ai. Nhưng nếu hắn làm thầy thì sẽ hại đến muôn đời. Ngay cả ta cũng khó mà tránh khỏi liên luỵ…”.
…………..
Sâm từu

Image may contain: 1 person, standing

So sánh Triều Tiên và Nam Hàn sau 70 năm bị chia đôi

Quân Hoàng shared a post
Image may contain: text

Bình Vương Gia

Sau 70 năm đất nước Triều Tiên bị chia đôi, tuy họ cùng một dân tộc, cùng vị trí địa lí, cùng điều kiện tự nhiên… Nhưng sau khi chia thành hai nước thì mỗi nước lại áp dụng một thể chế chính trị khác nhau và đến hôm nay như ta đã biết thì cho ra kết quả hoàn toàn khác nhau.

Vì vậy mà ta có thể khẳng định rằng vị thế và sự tồn vong của một đất nước, một dân tộc như thế nào?

Phụ thuộc vào thể chế chính trị mà quốc gia đó áp dụng cho đất nước mình.( xin mời các bạn thân coment thảo luận thêm ạ!)