Việt Nam dùng luật để khống chế xã hội dân sự

Cô Carol Nguyễn, Điều phối viên chương trình của Tổ chức BPSOS, một trong những tổ chức giúp Freedom Now, là một trong các diễn giả của buổi công bố báo cáo, hôm 16 tháng 11 nói rằng:

“Bất chấp những chỉ trích từ quốc tế này, Việt Nam tiếp tục gia tăng đàn áp tôn giáo với Luật tín ngưỡng, tôn giáo được sửa đổi và có hiệu lực từ ngày 1/1/2018 nhằm gia tăng sự kiểm soát của Chính phủ lên các nhóm tôn giáo và dùng luật này để trừng mạnh mạnh tay những người mà họ cho là vi phạm luật tín ngưỡng. “

About this website

RFA.ORG
Hôm 16/11/2018, tổ chức Freedom Now công bố báo cáo về tình trạng chính quyền Việt Nam sử dụng luật như một vũ khí để khống chế, đàn áp Xã hội Dân sự.

Đức cha Giuse Vũ Văn Thiên vừa được Đức thánh cha Phanxico bổ nhiệm làm tổng giám mục Hà Nội

Image may contain: 1 person, smiling

Pham Quang Long   

 

Đức cha Giuse Vũ Văn Thiên, 58 tuổi, từ Hải Phòng, vừa được Đức thánh cha Phanxico bổ nhiệm làm tổng giám mục Hà Nội, theo thông báo của Phòng báo chí Toà thánh trưa nay thứ Bảy ngày 17/11/2018 giờ Roma.

Thông báo của TGP Hà Nội cho hay Đức tân Tổng Giám mục Giuse sẽ nhậm chức ngày 18/12/2018.

Thế À!

Câu Truyện Thiền Số 3: Thế À!

“Thiền sư Hakuin rất được mọi người trọng vọng kính nể vì phong cách đạo đức thánh thiện của ông.

Một ngày kia, có một người con gái trẻ đẹp nhà gần chùa của thiền sư bỗng bị chửa hoang. Người ta không biết cha đứa bé là ai. Bố mẹ cô gái vô cùng tức giận và xấu hổ nên đánh đập tra khảo cô con gái về lai lịch tình nhân của cộ Ban đầu cô con gái không chịu nói gì cả, nhưng sau cùng vì bị đánh đập dữ dội, cô tiết lộ đó là thiền sư Ha kuin.

Tin xấu đồn ra nhanh chóng. Cha mẹ cô gái giận dữ, đùng đùng lên chùa và mắng xối xả vào mặt Hakuin. Khi họ dứt lời, Hakuin chỉ thốt hai tiếng “Thế à!”

Sau khi đứa bé chào đời, gia đình cô gái mang đứa bé quẳng cho Hakuin nuôi. Trong thời này, Hakuin đã bị tai tiếng và nhiều người chê bai trách móc ông đủ điều; nhưng Hakuin vẫn thản nhiên như không, dường như câu chuyện kia chẳng có dính líu gì đến ông cả.

Hakuin chăm sóc đứa bé thật tử tế và bồng nó đi xin sữa khắp nơi.

Một năm sau, cô gái vì cảm thấy ray rứt hối hận nên đã thú thực với cha mẹ là người cha đứa bé không phải là Hakuin mà là một chàng thanh niên làm việc ở chợ cá. Cha mẹ cô ta vội chạy lên chùa dập đầu tạ lỗi với Hakuin và xin mang đứa bé về.

Thiền sư Hakuin vẫn thản nhiên như không, thốt lên hai tiếng “Thế à!”

BÀN VỀ CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN Ở VN

Christina Lê

BÀN VỀ CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN Ở VN

Chế độ cộng sản Việt Nam hiện nay như một đám lục bình chỉ nổi bập bềnh trên mặt nước. Sự tồn tại của nó chỉ dựa vào sự trung thành của công an. Do đó, một mặt, đảng cộng sản đưa ra sự khuyến dụ đối với công an: “Còn đảng, còn mình”; mặt khác, họ ngoảnh mặt làm ngơ trước hai tệ nạn do công an gây ra: tham nhũng và trấn áp dân chúng một cách dã man.

Trước đây, trên thế giới, có 15 quốc gia chính thức theo chủ nghĩa cộng sản và 11 quốc gia tự nhận là cộng sản hoặc theo khuynh hướng cộng sản. Mười lăm quốc gia ở trên là: Albania, Bulgaria, Czechoslovakia, Đông Đức, Hungary, Mông Cổ, Ba Lan, Romania, Liên Xô, Yugoslavia, Trung Quốc, Cuba, Bắc Triều Tiên, Lào và Việt Nam. Mười một quốc gia ở dưới là: Angola, Benin, Congo, Ethiopia, Mozambique, Zimbabwe, Grenada, Nicaragua, Campuchia, Afghanistan và Nam Yemen. Tổng cộng, từ hai bảng danh sách ấy, có cả thảy 26 nước cộng sản hoặc có khuynh hướng theo cộng sản. Từ đầu thập niên 1990, tất cả các chế độ cộng sản ấy đều lần lượt sụp đổ. Hiện nay, trên cả thế giới, chỉ còn năm nước mang nhãn hiệu cộng sản: Trung Quốc, Cuba, Bắc Triều Tiên, Lào và Việt Nam.

Chưa có dấu hiệu nào cho thấy chủ nghĩa cộng sản ở năm quốc gia này sẽ sụp đổ sớm. Trong năm nước, có ba nước có quan hệ chặt chẽ với nhau: Trung Quốc, Việt Nam và Lào. Có lẽ Lào chỉ thay đổi được thể chế chính trị nếu, trước đó, Việt Nam cũng thay đổi; và Việt Nam có lẽ chỉ thay đổi nếu trước đó Trung Quốc cũng thay đổi. Như vậy, quốc gia có khả năng châm ngòi cho bất cứ sự thay đổi lớn lao nào là Trung Quốc.

Tuy nhiên, ngay cả khi Trung Quốc và Việt Nam chưa thay đổi và chưa từ bỏ chủ nghĩa cộng sản, giới nghiên cứu cũng phát hiện những dấu hiệu suy tàn âm thầm của chủ nghĩa cộng sản bên trong hai quốc gia này.

Ở đây, tôi chỉ tập trung vào Việt Nam.

Nhìn bề ngoài, chế độ cộng sản tại Việt Nam vẫn mạnh. Hai lực lượng nòng cốt nhất vẫn bảo vệ nó: công an và quân đội. Dân chúng khắp nơi bất mãn nhưng bất mãn nhất là nông dân, những người bị cướp đất hoặc quá nghèo khổ. Có điều nông dân chưa bao giờ đóng được vai trò gì trong các cuộc cách mạng dân chủ cả. Họ có thể thành công trong một số cuộc nổi dậy nhưng chỉ với một điều kiện: được lãnh đạo. Trong tình hình Việt Nam hiện nay, chưa có một tổ chức đối kháng nào ra đời, hy vọng nông dân làm được gì to lớn chỉ là một con số không. Ở thành thị, một số thanh niên và trí thức bắt đầu lên tiếng phê phán chính phủ nhưng, một, số này chưa đông; và hai, còn rất phân tán. Nói chung, trước mắt, đảng Cộng sản vẫn chưa gặp một sự nguy hiểm nào thật lớn.

Thế nhưng, nhìn sâu vào bên trong, chúng ta sẽ thấy quá trình mục rữa của chủ nghĩa cộng sản đã bắt đầu và càng ngày càng lớn. Như một căn bệnh ung thư bên trong một dáng người ngỡ chừng còn khỏe mạnh.

Sự mục rữa quan trọng nhất là về ý thức hệ.

Khác với tất cả các hình thức độc tài khác, chủ nghĩa cộng sản là một thứ độc tài có… lý thuyết, gắn liền với một ý thức hệ được xây dựng một cách có hệ thống và đầy vẻ khoa học. Thật ra, chủ nghĩa phát xít cũng có lý thuyết, chủ yếu dựa trên sức mạnh và tinh thần quốc gia, nhưng không phát triển thành một hệ thống chặt chẽ và có ảnh hưởng sâu rộng như chủ nghĩa cộng sản. Còn các chế độ độc tài ở Trung Đông chủ yếu gắn liền với tôn giáo cộng với truyền thống quân chủ kéo dài (thường được gọi là độc tài quốc vương, sultanistic authoritarianism) hơn là lý thuyết. Nhiều nhà nghiên cứu nhấn mạnh: các chế độ cộng sản không thể tồn tại nếu không có nền tảng ý thức hệ đằng sau.

Ý thức hệ cộng sản một thời được xem là rất quyến rũ vì nó bao gồm cả hai kích thước: quốc gia và quốc tế. Ở bình diện quốc gia, nó hứa hẹn giải phóng đất nước khỏi ách đô hộ của chủ nghĩa thực dân; ở bình diện quốc tế, nó hứa hẹn giải phóng giai cấp vô sản và tạo nên sự bình đẳng và thịnh vượng chung cho toàn nhân loại. Ở bình diện thứ hai, chủ nghĩa cộng sản, gắn liền với một ước mơ không tưởng, rất gần với tôn giáo; ở bình diện thứ nhất, đối lập với chủ nghĩa thực dân, nó rất gần với chủ nghĩa quốc gia. Trên thực tế, hầu hết các nước cộng sản trước đây đều cổ vũ và khai thác tối đa tinh thần quốc gia trong cả quá trình giành chính quyền lẫn quá trình duy trí chế độ. Sự kết hợp giữa chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa quốc gia dễ thấy nhất là ở các nước thuộc địa và cựu thuộc địa như Việt Nam.

Sau năm 1991, tức sau khi chủ nghĩa cộng sản tại Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, ý thức hệ cộng sản cũng bị phá sản theo. Thực trạng nghèo đói, bất công và áp bức dưới các chế độ cộng sản ấy đều bị vạch trần và phơi bày trước công luận. Sự hứa hẹn về một thiên đường trong tương lai không còn được ai tin nữa. Tính hệ thống trong chủ nghĩa Marx-Lenin cũng bị đổ vỡ. Nền tảng ý thức hệ của các chế độ cộng sản bị tan rã tạo thành một khoảng trống dưới chân chế độ.

Để khỏa lấp cái khoảng trống ấy, Trung Quốc sử dụng hai sự thay thế: chủ nghĩa Mao và Nho giáo (trong chủ trương tạo nên một xã hội hài hòa, dựa trên lòng trung thành). Việt Nam, vốn luôn luôn bắt chước Trung Quốc, không thể đi theo con đường ấy. Lý do đơn giản: Đề cao chủ nghĩa Mao là một điều nguy hiểm cả về phương diện đối nội lẫn đối ngoại; còn với Nho giáo, một là Việt Nam không am hiểu sâu; hai là, nó đầy vẻ… Tàu, rất dễ gây phản cảm trong quần chúng. Bế tắc, Việt Nam bèn tạo nên cái gọi là tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhưng ông Hồ Chí Minh lại không phải là một nhà lý thuyết. Ông chỉ là một người hành động. Ông viết nhiều, nhưng tất cả đều rất thô phác và đơn giản. Hơn nữa, ở Việt Nam hiện nay, cũng không có một người nào giỏi lý thuyết để từ những phát biểu sơ sài của Hồ Chí Minh xây dựng thành một hệ thống sâu sắc đủ để thuyết phục mọi người. Thành ra, cái gọi là tư tưởng Hồ Chí Minh hoàn toàn không trám được khoảng trống do sự sụp đổ của ý thức hệ Marx-Lenin gây ra. So với Trung Quốc, khoảng trống này ở Việt Nam lớn hơn gấp bội.

Mất ý thức hệ cộng sản, chính quyền Việt Nam chỉ còn đứng trên một chân: chủ nghĩa quốc gia.

Nhưng cái chân này cũng rất èo uột nếu không muốn nói là đã lung lay, thậm chí, gãy đổ.

Trên nguyên tắc, Việt Nam vốn có truyền thống yêu nước rất cao. Bao nhiêu chế độ ra đời từ giữa thế kỷ 20 đến nay đều muốn khai thác và tận dụng lòng yêu nước ấy. Tuy nhiên, với chế độ cộng sản hiện nay, việc khai thác vốn tài sản này gặp rất nhiều khó khăn. Lý do là lòng yêu nước bao giờ cũng gắn liền với sự căm thù. Không ai có thể thấy rõ được lòng yêu nước trừ phi đối diện với một kẻ thù nào đó của đất nước. Hai kẻ thù chính của Việt Nam, trong lịch sử mấy ngàn năm, là Trung Quốc; và gần đây nhất, là Mỹ. Nhưng Việt Nam lại không dám nói quá nhiều về hai kẻ thù này. Với Mỹ, họ cần cả về phương diện kinh tế lẫn phương diện chiến lược. Đề cao truyền thống chống Mỹ, do đó, là điều rất nguy hiểm. Đề cao truyền thống chống Trung Quốc lại càng nguy hiểm hơn: Trung Quốc có thể đánh hoặc ít nhất đe dọa VIệt Nam bất cứ lúc nào.

Bởi vậy, Việt Nam, một mặt, phải hạ giọng khi nói về truyền thống chống Mỹ và phải né tránh việc nhắc nhở đến truyền thống chống Trung Quốc. Hai hành động này có lợi về phương diện đối ngoại nhưng lại có tác hại nghiêm trọng về phương diện đối nội: chính quyền hiện ra, dưới mắt dân chúng, như những kẻ hèn, hèn nhát và hèn hạ. Từ một chế độ được xây dựng trên thành tích chống ngoại xâm, chế độ cộng sản tại Việt Nam lại bị xem như những kẻ bán nước, hoặc bán nước dần dần bằng cách hết nhượng bộ điều này sang nhượng bộ điều khác trước sự uy hiếp của Trung Quốc.

Trước sự sụp đổ của cả hai nền móng, ý thức hệ cộng sản và chủ nghĩa quốc gia, đảng Cộng sản Việt Nam bèn chuyển sang một nền tảng khác: kinh tế với phương châm ổn định và phát triển. Nội dung chính của phương châm này là: Điều cần nhất đối với Việt Nam hiện nay là phát triển để theo kịp các quốc gia khác trong khu vực cũng như, một cách gián tiếp (không được nói công khai), đủ sức để đương đầu với Trung Quốc. Nhưng để phát triển, cần nhất là phải ổn định về chính trị, nghĩa là sẽ không có thay đổi về thể chế và cũng không chấp nhận đa đảng.

Phương châm ấy, thật ra, là một sự bịp bợm: Nó chuyển vấn đề từ chính trị sang kinh tế với lý luận: nếu vấn đề quan trọng nhất của Việt Nam hiện nay là vấn đề kinh tế thì mọi biện pháp sửa đổi sẽ chỉ giới hạn trong phạm vi kinh tế. Với lập luận này, chính quyền có thể trì hoãn mọi yêu cầu cải cách chính trị.

Tuy nhiên, nó hoàn toàn không thuyết phục, bởi, ai cũng thấy, lãnh vực kinh tế là mặt mạnh nhất của chủ nghĩa tư bản và cũng là mặt yếu nhất của chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa cộng sản. Tất cả các quốc gia dân chủ ở Tây phương đều có hai đặc điểm nổi bật: về chính trị, rất ổn định và hai, về kinh tế, rất phát triển. Ở Việt Nam, người ta cố thu hẹp phạm vi so sánh: các cơ quan truyền thông chính thống chủ yếu tập trung vào các nước Đông Nam Á, đặc biệt Thái Lan với một thông điệp chính: đa đảng như Thái Lan thì lúc nào cũng bị khủng hoảng. Nhưng ở đây lại có hai vấn đề: Một, dù liên tục khủng hoảng về chính trị, nền kinh tế của Thái Lan vẫn tiếp tục phát triển, hơn hẳn Việt Nam; hai, ngày nay, do xu hướng toàn cầu hóa, tầm nhìn của dân chúng rộng rãi hơn nhiều; chính quyền không thể thu hẹp mãi tầm nhìn của họ vào tấm gương của Thái Lan được.

Về phương diện lý luận, chiêu bài ổn định và phát triển, do đó, không đứng vững. Về phương diện thực tế, những sự phá sản của các đại công ty quốc doanh và đặc biệt, khối nợ nần chồng chất của Việt Nam khiến dân chúng càng ngày càng thấy rõ vấn đề: các chính sách kinh tế của Việt Nam không hứa hẹn một sự phát triển nào cả, nếu không muốn nói, ngược lại, chỉ lún sâu vào chỗ bế tắc.

Thành ra, có thể nói, tất cả các nền tảng chế độ cộng sản Việt Nam muốn nương tựa, từ chủ nghĩa Marx-Lenin đến chủ nghĩa quốc gia và lập luận ổn định để phát triển, đều lần lượt sụp đổ. Chế độ cộng sản Việt Nam hiện nay như một đám lục bình chỉ nổi bập bềnh trên mặt nước. Sự tồn tại của nó chỉ dựa vào sự trung thành của công an. Do đó, một mặt, đảng cộng sản đưa ra sự khuyến dụ đối với công an: “Còn đảng, còn mình”; mặt khác, họ ngoảnh mặt làm ngơ trước hai tệ nạn do công an gây ra: tham nhũng và trấn áp dân chúng một cách dã man. Nhưng chính sách này chỉ càng ngày càng biến công an thành một đám kiêu binh và càng ngày càng đẩy công an cũng như chính quyền trở thành xa lạ với dân chúng. Sự xa lạ này càng kéo dài và càng trầm trọng, đến một lúc nào đó, trở thành đối nghịch với quần chúng.

Một nhà nước được xây dựng trên một đám kiêu binh, trong thời đại ngày nay, không hứa hẹn bất cứ một tương lai nào cả.

(Nguyễn Hưng Quốc)

CHÚNG TA SẼ NGHE VÀ NHÌN TRÊN THIÊN ĐÀNG

CHÚNG TA SẼ NGHE VÀ NHÌN TRÊN THIÊN ĐÀNG

Charles E. Miller

Ludwig Van Beethoven là một tác giả vĩ đại của mọi thời.  Trong lúc ông vẫn còn đang tạo ra những kiệt tác thì ông cảm thấy mình dần dần mất đi thính giác, ông không còn nghe thấy.  Sau khi ông đã trở thành hoàn toàn điếc, ông sáng tác ra bản giao hưởng số 9.  Ông đã không nghe một nốt nào.  Một số người nào đó nói những thiên tài thì bất tử bởi vì công trình của họ.  Họ tin rằng Beethoven đang sống trong âm nhạc của mình.  Shakespeare thì ở trong vở kịch của mình, và Edison ở trong phát minh của mình.  Beethoven biết tốt hơn.  Khi ông sắp chết, ông nói: “Tôi sẽ nghe nhạc ở trên trời.”  Ông ta nói rất đúng.

Chúng tôi tin rằng Beethoven bây giờ đang nghe, không chỉ nghe những tác phẩm của chính mình, nhưng là âm nhạc của vị thầy vĩ đại là chính Thiên Chúa của ông.  Beethoven đã được đặc ân hiệp nhất với các thiên thần và các thánh để ca bài ca vui mừng vô tận.  Shakespeare biết rằng tất cả những lời trong tác phẩm của ông chỉ là một tiếng vang mờ nhạt với Lời đời đời được nói bởi Cha trong cõi đời đời.  Lời đó chính là Con Thiên Chúa.  Edison liều lĩnh phát minh ra ánh đèn điện nhưng bây giờ ông đã tắm trong ánh sáng rực rỡ của thị kiến vinh phúc.  Bây giờ ông hiểu rằng chân lý trong sách bài đọc từ sách Đanien.  Nền tảng của sách đó là dân Israel đã bị chiếm đóng bởi Syrie, họ cố áp đặt trên người Do Thái một ngôn ngữ ngoại quốc, một nền văn hóa và tôn giáo ngoại quốc.  Nhiều người Do Thái đã chọn lấy cái chết hơn là bị bắt cầm tù.  Tác giả của sách đã hiến tặng môt sứ điệp hy vọng cho những người sống sót bởi tuyên bố: “Người khôn ngoan sẽ chiếu sáng… những người đó sẽ được dẫn tới sự công chính và những người công chính sẽ chiếu sáng như những vì sao mãi mãi.”  Sự phát minh của Edison ngay cả khi nó phát triển nó cũng chỉ là mờ nhạt khi so với ánh sáng của sự sống đời đời, đặc ân lớn lao của Đức Kitô đã ban xuống khi Ngài đến một lần nữa, Ngài đến lần thứ hai khi Ngài Phục Sinh từ cõi chết sống lại.

Shakespeare sẽ không bao giờ tưởng tượng ra cảnh Đức Kitô, Con Thiên Chúa sẽ đến trong đám mây với quyền năng lớn lao và vinh quang, cũng không bao giờ tìm thấy đủ từ ngữ để miêu tả sự kiện ấy.  Và cả chúng ta cũng như thế nữa.  Chúng ta đã hầu như không hiểu lời của những từ ngữ mà trong bài Phúc Âm ngày hôm nay.  Đó là tất cả những gì mà chúng ta muốn trở nên hay cả khi nó xảy ra chỉ có Cha trên trời mới biết được.

Trong lúc chúng ta không giống như những người Israel đang chịu đau khổ trên miền đất của mình bởi sự chiếm đóng của người Syrie.  Chúng ta đang bị bao quanh bởi đạo quân văn hóa của sự chết, đạo quân này gây chiến tranh trên giá trị và nhân phẩm của đời sống con người.  Nó tấn công con người khi họ rất dễ tổn thương: khi chúng bắt đầu đời sống trong dạ mẹ, và khi gần chấm dứt cuộc sống trong tuổi già.  Họ loại bỏ những người hầu như cần tới sự giàu có của quê hương chúng ta để cho họ được sống sót: là những kẻ không nhà, những kẻ đói ăn, những kẻ lãnh trợ cấp, và những dân nhập cư.

Trong lúc chúng ta vẫn trung thành với đức tin Công Giáo và những giáo huấn giá trị của Giáo Hội, chúng ta không phải chết đau khổ; ít nhất cũng là như thế.  Nhưng chúng ta bị nguy hiểm khi cho phép chính mình bị ảnh hưởng một cách tinh tế, bởi những giá trị thế tục như là ích kỷ, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, sự tham lam.  Để kháng cự lại những ảnh hưởng này, chúng ta phải suy niệm về lời hứa sự sống đời đời cho những kẻ còn giữ được lòng trung thành.  Chúng ta sẽ nhớ rằng bí tích Thánh Thể là một lời nài xin và một lời hứa của sự sống đời đời sẽ là động cơ thúc đẩy chúng ta trung thành mãi mãi.  Đức Kitô sẽ làm viên mãn những lời của bài đọc ngày hôm nay: “Những ai được dẫn tới sự công chính sẽ chiếu sáng như những vì sao trên trời.”  Bên cạnh sự chiếu sáng như những vì sao chúng ta sẽ nghe thấy và sẽ nhìn thấy chính Thiên Chúa.

 Charles E. Miller

Trích trong “Mở Ra Những Kho Tàng”  

From Langthangchieutim

Đại diện người Duy Ngô Nhĩ báo động về tội ác thu hoạch nội tạng

Ông Dolkun Isa, đại diện World Uyghur Congress, cho biết: “Việc thu hoạch tạng từ tù nhân chính trị đầu tiên được ghi chép lại là ở Đông Turkistan, hay còn được biết đến là khu tự trị Duy Ngô Nhĩ Tân Cương”, đây là “bãi thử” của tội ác khủng khiếp này.

Quốc hội Anh: Đại diện người Duy Ngô Nhĩ báo động về tội ác thu hoạch nội tạng
Ông Dolkun Isa.

Ông Dolkun Isa cho hay, các tù nhân Duy Ngô Nhĩ đã bị thu hoạch nội tạng từ hơn 25 năm trước. Theo đó, một cựu cảnh sát người Duy Ngô Nhĩ tại Urumchi đã nói với nhà điều tra độc lập Ethan Gutmann rằng ông ta phải chịu trách nhiệm tiêm thuốc cho các tử tù trước khi giải họ đi. Ông ta đã không suy nghĩ gì nhiều cho đến khi một tử tù hỏi: “Tại sao lại tiêm tôi?” Không có câu trả lời, người cựu cảnh sát đó đã chất vấn một bác sĩ tại đó, và nhận được câu trả lời: đó là thuốc chống đông, được sử dụng để hỗ trợ việc lấy nội tạng từ nạn nhân khi họ vẫn còn sống.

Trong một sự kiện nổi tiếng khác vào năm 1997 tại thành phố Y Ninh, 400 tới 1.600 người biểu tình đã bị bắt, nhiều người trong số họ bị tử hình. Một số nhân viên y khoa và cảnh sát đã làm chứng rằng những thanh niên trẻ tuổi bị bắt trong vụ việc này đã bị thu hoạch nội tạng.

Tuy nhiên, ông Dolkun Isa nhấn mạnh rằng tình hình hiện nay trở nên tồi tệ hơn rất nhiều. Theo các báo cáo mới nhất, hơn 1 triệu người Duy Ngô Nhĩ và Kazakh hiện đã bị đưa tới các trại giam giữ. Đây là hành vi bắt giữ người dân tộc thiểu số có tín ngưỡng lớn nhất kể từ Thế chiến thứ 2, và là lớn nhất trên thế giới vào thời điểm hiện tại. (Xem bài: LHQ: Trung Quốc giữ hàng triệu người Duy Ngô Nhĩ trong các trại bí mật)

Một số nguồn tin cho biết, 200.000 tới 300.000 người trong số đó đang bị vận chuyển bí mật. Một số đã bị chuyển tới tận Hắc Long Giang, cách Tân Cương 4.000 km. Ngành đường sắt Tân Cương đã dừng bán vé kể từ ngày 22/10, và động thái này được cho là để vận chuyển các tù nhân Duy Ngô Nhĩ.

Quốc hội Anh: Đại diện người Duy Ngô Nhĩ báo động về tội ác thu hoạch nội tạng
Hình ảnh một trại tập trung mới được ĐCSTQ xây dựng để giam giữ người Duy Ngô Nhĩ. Hình ảnh được BBC cung cấp trong một phóng sự điều tra mới đây.

Các thành viên gia đình của người bị bắt giữ không được thông báo bất cứ thông tin gì về người thân, nếu họ bị chết. Đa số trường hợp, các thi thể sẽ bị cảnh sát hỏa thiêu. Kể từ năm 2017, chính quyền ĐCSTQ đã bắt đầu xây dựng nhiều nhà hỏa thiêu tại Tân Cương. Cộng đồng Duy Ngô Nhĩ lưu vong lo ngại rằng những lò hỏa thiêu này được sử dụng để phi tang chứng cớ về vấn đề tra tấn, hành quyết và thu hoạch nội tạng từ người Duy Ngô Nhĩ.

Ngày càng có nhiều cáo buộc đáng tin cậy về việc ĐCSTQ thu hoạch nội tạng của những tù nhân lương tâm bao gồm người Tây Tạng, người Duy Ngô Nhĩ, các thành viên Thiên Chúa giáo không đăng ký, và các thành viên của nhóm Pháp Luân Công. Mới đây nhất, trong cùng một ngày, BBC và Forbes đã lần lượt có phỏng vấn độc quyền và bài viết về tội ác này. (Xem bài: Sau BBC, Forbes lên tiếng về nạn thu hoạch nội tạng ở Trung Quốc)

Con số 1 triệu người Duy Ngô Nhĩ bị bắt giam là rất đáng báo động. Nhà báo điều tra Ethan Gutmann từng nhấn mạnh trong một phiên tường trình trước các thượng nghị sĩ nước cộng hòa Czech vào tháng 7-2018 rằng: việc thu hoạch nội tạng thực sự diễn ra rầm rộ sau khi khoảng 1 triệu người tập Pháp Luân Công bị chính quyền ĐCSTQ đưa vào các trại lao động cải tạo. Ông lo ngại rằng điều tương tự có thể xảy ra với người Duy Ngô Nhĩ.

Quốc hội Anh: Đại diện người Duy Ngô Nhĩ báo động về tội ác thu hoạch nội tạng
Human Right Watch đưa tin về việc ĐCSTQ thu thập dữ liệu DNA, máu của dân tộc thiểu số, đặc biệt là người Duy Ngô Nhĩ.

Trước đó, chính quyền đã thực hiện lấy mẫu máu và DNA của tất cả người Duy Ngô Nhĩ dưới chiêu bài bảo vệ sức khỏe người dân. Tuy nhiên các nhà điều tra độc lập cho rằng thực chất ĐCSTQ đang muốn xây dựng một ngân hàng nội tạng sống tại Tân Cương phục vụ cho ngành công nghiệp giết mổ người của mình. (Xem bài: Hai ngành công nghiệp “giết mổ” người của Trung Quốc)

Minh Nhật

Minh Nhật

VN lần đầu tiên bị chất vấn ở LHQ về tình trạng ‘tra tấn’, chết trong đồn công an

  • Hoa Do shared a post.
    VOA Tiếng Việt

    5 hrs

    Vụ tín đồ Hòa Hảo Nguyễn Hữu Tấn và một số trường hợp chết trong đồn công an; các cộng đồng tôn giáo, người thiểu số Hmong bị bắt bớ, tra tấn; và vụ một đạo diễn tố giác bị công an đánh đến chấn thương ở Cần Thơ gần đây là những trường hợp điển hình được nêu ra trong phiên chất vấn của Ủy ban chống tra tấn LHQ đối với Việt Nam trong phiên họp ngày 14/11, bắt đầu cuộc kiểm điểm về việc thực hiện Công ước chống tra tấn của quốc gia thành viên.

    “Đây là lần đầu tiên Việt Nam phải giải trình trước Liên Hiệp Quốc về tình trạng tra tấn đang xảy ra tràn lan ở đất nước Việt Nam”, TS. Nguyễn Đình Thắng, Giám đốc BPSOS, tổ chức đã giúp đưa nhiều trường hợp của Việt Nam trình lên Ủy ban chống tra tấn của Liên Hiệp Quốc, nói với VOA khi ông đang có mặt tại trụ sở của LHQ ở Geneva,.

    Trong ngày đầu tiên của phiên điều trần kéo dài 2 ngày về trường hợp của Việt Nam, các thành viên Ủy ban Liên Hiệp Quốc đã đặt ra rất nhiều cầu hỏi cho phái đoàn từ Hà Nội, trong đó đặc biệt đề cập đến những cái chết trong đồn công an mà gia đình nạn nhân tin là bị tra tấn, trong khi phía nhà chức trách nói là do tự sát hoặc bệnh tật.

    “Liệu có thể tiến hành điều tra độc lập hay không?”, một thành viên trong Ủy ban đặt câu hỏi với phái đoàn Việt Nam khi đề cập đến cái chết của ông Nguyễn Hữu Tấn. “Khi gia đình yêu cầu cơ quan chức năng trả lời, khi họ cố gắng tiếp cận để thu thập bằng chứng thì bị đe dọa, bị tịch thu điện thoại nên họ không làm gì được cả. Câu hỏi của tôi là [Việt Nam] có cơ chế mở nào để cho phép những người liên quan [gia đình] kiểm chứng vụ việc hay không?”, thành viên này nói thêm.

    TS. Nguyễn Đình Thắng cho biết nhiều trường hợp khác như bà Trần Thị Hồng bị công an tra tấn liên tục suốt 2 tháng vì cho rằng bà đã cung cấp thông tin cho quốc tế, hay những người thiểu số Tây Nguyên bị đàn áp, trong đó có trường hợp của ông Hoàng Văn Ngài được cho là bị công an đánh đến chết… cũng đã được nêu ra tại phiên họp của Ủy ban Liên Hiệp Quốc. Đặc biệt, trường hợp của Đạo diễn phim Đặng Quốc Việt tố cáo công an Cần Thơ bắt, tra tấn và ép cung ông hôm 9/11 cũng đã được nhắc đến.

    “Có lẽ là một sự ngạc nhiên cho phái đoàn Việt Nam vì Ủy ban chống tra tấn đã nắm rất vững tình hình xảy ra tại Việt Nam”, TS. Thắng nói.

    Blogger Mẹ Nấm-Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, người từng bị kết án 10 năm tù với cáo trạng trong đó bao gồm tập tài liệu mà cô tập hợp các trường hợp công an đánh chết người, nói với VOA khi đang có mặt ở thủ đô Washington rằng cô “rất vui” và “hãnh diện” vì những đóng góp của mình trong việc đấu tranh nhằm chấm dứt tình trạng tra tấn ở Việt Nam.

    “Tình trạng người dân chết trong đồn công an và Công ước chống tra tấn bắt đầu được quan tâm là một phần thưởng lớn lao hơn những phần thưởng vinh danh khác, bởi vì mình nhìn thấy thành quả làm việc của mình hiện hữu trước mắt và mình tin rằng những gì mình đang theo đuổi, đang làm sẽ có kết quả trong một tương lai không xa”.

    Sau phần chất vấn của các thành viên Ủy ban LHQ, phái đoàn Việt Nam sẽ có cơ hội trình bày và trả lời các câu hỏi này vào ngày hôm sau (15/11).

    Tin cho hay Việt Nam đã cử một phái đoàn khoảng 30 người, đứng đầu là Thượng tướng Lê Quý Vương-Thứ trưởng Bộ Công an, đến Geneva để tham gia điều trần.

    Ngoài ra, Việt Nam cũng đã gửi một báo cáo trước đó cho Ủy ban.

    “Trong bản báo cáo đầu tiên của Việt Nam không nhắc gì tới nhiều đến những sự việc đã xảy ra và cách giả quyết như thế nào, mà nhấn mạnh nhiều đến việc họ cải tổ luật và nội luật hóa các cam kết quốc tế để đưa vào khung luật Việt Nam ra sao. Cái đó cũng là một điều mà chúng tôi nghĩ là đáng khuyến khích. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn là thực thi luật như thế nào”, TS. Nguyễn Đình Thắng cho biết.

    Việt Nam chính thức ký tham gia Công ước chống tra tấn của Liên Hiệp Quốc vào tháng 11/2013. Tại lễ ký, Đại sứ Lê Hoài Trung khẳng định việc tham gia Công ước thể hiệm cam kết mạnh mẽ của Việt Nam chống lại mọi hành vi tra tấn và đối xử tàn bạo, đảm bảo ngày càng tốt hơn tất cả các quyền cơ bản của con người.

Trúng số 315 triệu đô, người đàn ông không ngờ đó chỉ là khởi đầu của một chuỗi bi kịch

Trúng số 315 triệu đô, người đàn ông không ngờ đó chỉ là khởi đầu của một chuỗi bi kịch

  

Có lẽ chính Jack cũng không ngờ việc trúng số tưởng chừng như may mắn lại mở đầu cho chuỗi bi kịch đến với ông và các thành viên trong gia đình của ông.

Việc trúng số tưởng chừng như may mắn lại mở đầu cho chuỗi bi kịch đến với Jack Whittaker và các thành viên trong gia đình của ông.

Năm 2002, Jack Whittaker, sống ở bang West Virginia, Mỹ, trở nên nổi tiếng khi trúng số Powerball giải độc đắc lớn nhất thế giới với số tiền thưởng lên đến 315 triệu USD (hơn 6.600 tỷ đồng).

Trước khi vận may từ trên trời ập đến, ông vốn đã là một doanh nhân thành đạt, sở hữu khối tài sản khổng lồ.

Có lẽ chính Jack cũng không ngờ việc trúng số tưởng chừng như may mắn lại mở đầu cho chuỗi bi kịch đến với ông và các thành viên trong gia đình của ông.

Việc đầu tiên mà Jack làm sau khi lãnh tiền thưởng khổng lồ là sắm ngay một ngôi nhà và xe ô tô cho Brenda Higginbotham, nhân viên thu ngân tại cửa hàng tiện lợi, nơi ông tình cờ mua được tấm vé số trúng độc đắc kia.

Khoảng thời gian sau đó, Jack trở thành vị khách quen thuộc của câu lạc bộ thoát y Pink Pony. Theo lời nhân viên ở đây, ông thường xuyên đến cùng đoàn tùy tùng đông người và không ngại chi số tiền lớn để vui vẻ.

Việc Jack ăn chơi trác táng, thác loạn qua đêm khiến vợ ông là bà Jewell vô cùng phiền lòng.

Nhân viên ở Pink Pony lúc nào cũng nhiệt tình đón tiếp Jack vì biết ông là người thắng giải độc đắc vừa qua.

Dần dần, ông ỷ mình có tiền nên càng không xem trọng vẻ ngoài, nhiều lúc đến chơi trong tình trạng xuề xòa, áo sơ mi nhăn nhúm, chiếc mũ nhiều ngày chưa giặt và bộ râu xồm xoàm che gần hết gương mặt.

“Tôi là Jack Whittaker. Mấy người phải nghe lời tôi… Tôi còn có nhiều tiền hơn cả Chúa nữa” – Jack không hề tỏ ra khiêm tốn sau khi trở thành tỷ phú.

Sự nổi tiếng cũng mang lại cho Jack không ít rắc rối. Ông liên tục bị trộm đập cửa kính ô tô và cuỗm đi tiền mặt trong xe, lúc thì 500 nghìn USD, khi khác là 200 nghìn USD.

2 người đàn ông từng bị cảnh sát bắt và phạt hơn 1 năm tù vì tội chuốc rượu Jack và cướp tiền của ông.

Không chỉ Jack mà người thân của ông cũng phải gánh chịu số phận cay đắng sau khi gia đình mình trở nên giàu có. Đầu tiên là cháu gái của Jack, Brandi Bragg.

Chỉ 1 năm sau khi ông ngoại trúng độc đắc, Brandi mất gần hết bạn bè. Ông Jack cho rằng mọi người chỉ muốn tiếp cận với cháu gái ông vì tiền chứ không phải thật lòng yêu mến nó.

Không lâu sau, Brandi sa đà vào con đường nghiện ngập, thay người yêu như thay áo.

Cô bé không ngại chi tiền cho các chàng trai chỉ để tận hưởng cảm giác được họ vây quanh, săn đón. Năm 2003, một trong những người tình cũ của Brandi chết do sốc thuốc trong căn biệt thự thuộc quyền sở hữu của ông Jack.

Tháng 12 cùng năm, Brandi đột ngột biến mất. 2 tuần sau, thi thể của cô gái trẻ được tìm thấy trong một chiếc bao nhựa vứt ở phía sau chiếc xe tải gần nhà bạn của cô. Dù cảnh sát tích cực điều tra nhưng mãi vẫn không tìm ra hung thủ gây ra cái chết của Brandi.

Năm 2007, Jack trở nên khánh kiệt. Ông vướng cáo buộc xâm hại tình dục từ một nhân viên sòng bạc tên Kitti French vào năm 2003.

Hồi năm 2006, cả hai đã đạt được thỏa thuận chung khi Jack đồng ý đưa tiền bồi thường cho Kitti nhưng đến hơn 1 năm sau ông vẫn chưa trả hết món nợ ấy.

Chính vậy nên nạn nhân mới quyết định đệ đơn kiện, đưa vụ việc này ra ngoài ánh sáng. Jack cho biết ông rất muốn trả nợ nhưng tài sản trong ngân hàng đã bị trộm mạo danh và lấy đi hết.

Bi kịch chưa dừng lại ở đó, con gái của Jack, Ginger Bragg đồng thời cũng là mẹ của Brandi, bị phát hiện tử vong tại nhà riêng vào năm 2009.

Trước đó không lâu, bà Jewel cũng bỏ chồng ra đi vì không thể chịu nổi thói xài tiền vô tội vạ của ông. Năm 2016, ngôi nhà không mua bảo hiểm của Jack bị lửa thiêu cháy rụi.

Nói với tờ báo địa phương, bà Jewel khẳng định chính tờ vé số năm xưa đã phá hủy gia đình bà. Chính Jack cũng thừa nhận tiền là nguyên nhân gây ra cái chết cho cháu gái cưng của ông.

“Con bé là ngôi sao sáng, là tài sản quý báu nhất của cuộc đời tôi. Vợ tôi từng ước lúc đó bà có thể xé đi tấm vé số kia.

Giờ đây, tôi cũng mong muốn bản thân chưa từng trúng giải độc đắc đáng nguyền rủa ấy” – ông Jack trải lòng với tờ ABC News hồi năm 2007.

QUỐC HỘI – NƠI BÀN VỀ LỢI ÍCH NHÓM

QUỐC HỘI – NƠI BÀN VỀ LỢI ÍCH NHÓM

Trước đây có đề xuất tội tham nhũng nộp lại 3/4 số tiền thụt két thì được miễn truy tố. Nay lại sáng kiến thêm đề xuất “ở tù tại gia” thì rõ ràng, ý đồ phục vụ cho ai thì không cần phải bàn cãi. Tiền nhiều, xây biệt phủ nguy nga, vườn rộng cây xanh cây kiểng đẹp như thiên đường hạ giới rồi chui vào đó “ở tù”.

Tham nhũng ngàn tỷ nộp lại một phần thì được thoát tội. Nếu rủi bị truy tố rồi được ở tù trong thiên đường hạ giới thì quả là sướng như tiên. Từ những ý nghĩ nảy ra, chúng ta thấy quốc hội là một đám ngồi đó nghĩ ra những thứ quái đản nhất để bảo vệ cho tầng lớp của họ – tầng lớp tư sản đỏ.

Luật An Ninh Mạng bóp miệng dân. Ngoài mục đích bảo vệ chính sách phản dân của đảng thì nó còn bảo vệ tầng lớp quan chức tha hồ làm bậy. Đề xuất phạt 7 năm tù cho những ai “nói xấu lãnh đạo” là một đề xuất tương tự như đề xuất “ở tù tại gia”. Cũng là đề xuất bảo vệ quan chức. Chưa có một đất nước dân chủ nào mà phạt kẻ nói xấu quan chức cả, họ chỉ phạt kẻ vu khống nói sai sự thật mà thôi. Chính từ “nói xấu lãnh đạo” đã nói lên bản chất của các ông bà nghị này rồi. Họ mang danh đại diện cho dân mà không lấy sự thật làm tiêu chuẩn để viết luật mà lấy sự an toàn cho quan chức làm tiêu chuẩn.

Mỗi ngày họp của quốc hội ngốn hết 1 tỷ đồng tiền thuế của dân mà chỉ toàn là bàn làm cách nào bảo vệ sự sai trái của Đảng và quan chức. Hậu quả, đám quan chức cứ ngày càng xem thường nhân dân. Mà trong mắt họ dân chẳng là cái thá gì thì tất nhiên trong họ cũng chẳng có tổ quốc nào cả. Quốc hội ăn tiền dân bàn lợi ích nhóm. Lợi ích của nhóm nào? Của nhóm lợi ích lớn nhất – ĐCS.

NHỮNG CÁI CHẾT TRONG CUỘC SỐNG

NHỮNG CÁI CHẾT TRONG CUỘC SỐNG

Người ta thường có một thái độ rất mông lung trước cái chết.  Một đàng người ta không muốn nhắc đến nó, vì sợ rằng sẽ có điều không may xảy đến, nhưng đàng khác, người ta lại rất tò mò về nó, muốn tìm hiểu và khám phá nó.  Dù sao đi nữa, dù có muốn hay không, chúng ta đều biết rằng một ngày nào đó mình sẽ phải đối diện với cái chết.  Cái chết trở thành một phần của sự sống, của thân phận thụ tạo.  Nó là điểm chấm hết cho một cuộc hành trình.  “Cái chết” là một từ ngữ buồn bã.  Nó làm tắt đi tất cả nguồn sức sống, sinh lực.  Nó đưa ta về với vùng trời u ám mà chẳng ai muốn vào.  Tuy nhiên, giữa cuộc sống này, “cái chết” lại mang rất nhiều màu sắc.  Nói cách khác, có rất nhiều loại “chết”, trong đó, có cái làm ta buồn, nhưng cũng có cái làm cho ta được trở nên giá trị hơn.

Kiểu chết mà ta nghĩ đến đầu tiên là cái chết sinh học.  Cái chết này mang đến cho người ta sự tang thương chia cắt.  Bản thân người chết lẫn người thân của họ đều phải đối diện với sự tang tóc, đau buồn.  Cái chết này làm người ta đặt dấu hỏi về ý nghĩa của sự hiện hữu trên đời.  Có đó rồi mất đó.  Từ bụng mẹ chui ra rồi trở về lòng đất.  Có một thời ta đã không hiện hữu, rồi sau một thời gian ngắn được hít thở chút không khí, ta lại trở về với cái “không hiện hữu”.  Ta có thể còn tồn tại không ký ức, trong nỗi nhớ, nơi kỷ niệm, nhưng ta giờ đây chẳng còn là gì nữa.  Một thoáng mây bay, một kiếp hoa dại.  Cái chết này cho thấy sự mỏng dòn, yếu đuối của bản thân.  Nó đập tan tất cả mọi tham vọng, ngạo nghễ.  Nó sẽ ập đến bất cứ lúc nào nó muốn, không phân biệt thanh xuân hay tuổi già; giàu sang hay nghèo khổ; thông minh hay ngu dốt; khoẻ mạnh hay bệnh tật…  Nó là kẻ thù đáng sợ nhất của con người và mãi mãi, con người chẳng bao giờ có thể chiến thắng được nó.  Còn mang thân xác này, là còn phải đối diện với nó vào một khoảnh khắc nào đó ta chẳng hay.

Cái chết thứ hai là kiểu chết về tinh thần.  Cái chết này không làm cho người ta tắt thở, không đưa người ta vào lòng đất, nhưng đục khoét con người và làm cho con người “sống không bằng chết.”  Đó là khi người ta mất hết nhuệ khí, chẳng còn hy vọng.  Người ta chỉ có đó, hít thở không khí, chứ chẳng hề “sống” thật sự.  Từng ngày tháng dài trôi qua một cách vật vã.  Người ta không thấy được ý nghĩa của cuộc sống, không biết mình hiện hữu để làm gì, không biết tại sao mình lại được sinh ra trên đời, và đặc biệt, họ không thấy mình được yêu thương.  Họ chẳng biết yêu là gì.  Không được sưởi ấm và che chở bởi tình cảm nhân sinh.  Họ chỉ sống bằng một thân xác chơ vơ, ngày ngày kiếm sống như bao loài động vật khác.  Họ bị cô lập hoặc tự mình cô lập trong thế giới này.  Họ nhốt mình trong quá khứ buồn, trong những ký ức xa xưa, đến nỗi chẳng còn một ý chí thúc đẩy họ vươn tới, hướng về tương lai phía trước.

Cái chết thứ ba mang tính luân lý và tôn giáo.  Đó là cái chết của người không còn sống theo tiếng lương tâm ngay lành mách bảo.  Họ chẳng còn ý thức gì về sự chính trực, sự công bằng, về đạo đức.  Họ phạm tội này đến tội khác nhưng cứ xem đó như là niềm hãnh diện của mình, chứ không ý thức rằng, cứ mỗi lần phạm tội là họ tự chà đạp nhân phẩm của mình, làm cho sự hiện hữu của mình mất đi ý nghĩa.  Cứ để ý mà coi, người ta càng sống trong tội, càng cảm thấy bất an, sợ sệt.  Còn người nào càng tích trữ nhân đức cho mình thì càng sống cách an nhiên, tự tại, vui sướng.  Khi người ta thấy hạnh phúc, là khi sự sống trong họ trở nên trào tràn, họ thấy mình sung mãn năng lượng để vui hưởng cuộc sống.  Người nào không đặt đời mình trên nền tảng các nhân đức thì sẽ thấy những gì mình làm chẳng có giá trị tốt đẹp nào cả.  Càng sống trong đầm lầy của tội, người ta càng tự thấy mình dần chết đi.  Chính họ, chứ không phải ai khác, kết án mình và huỷ hoại sự sống của mình.

Cái chết cuối cùng đáng được nhắc tới lại có âm vị khác hẳn.  Nó là cái chết mà ai ôm ấp nó thì trở thành anh hùng và sống mãi trong trái tim của mọi người.  Người ta thường gọi cái chết thứ tư này bằng hai chữ rất thân thương: hy sinh.  Hy sinh là tiêu hao đi, là chịu thiệt thòi (vốn dĩ là những điều chẳng ai muốn), nhưng người ta chấp nhận nó vì một mục đích cao cả, và người ta chỉ có thể đón nhận nó bằng lực đẩy của tình yêu.  Phải, cái gì gắn liền với tình yêu thì luôn cao đẹp.  Điều kỳ lạ là, cứ mỗi lần người ta “chết” theo kiểu này, người ta lại càng cảm thấy như mình đang sống và sống cách sung mãn hơn, đến nỗi có thể nói như thế này: muốn sống thì phải biết hy sinh, phải biết chết đi để được sống.  Sống giữa đời, nếu không có những kiểu “chết” này thì cũng sẽ chẳng còn ý nghĩa gì nữa.  Cuộc sống của chúng ta có trở nên đẹp, chính là nhờ cái chết này.  Dù là nhỏ nhoi, dù là ít ỏi, nhưng mỗi lần ta hy sinh lợi ích của mình cho người khác, sự mất mát đó lại trổ sinh hoa trái, sự sống trong ta lại trở nên dồi dào và ta cảm thấy có một niềm vui thiêng liêng nào đó tràn ngập tâm hồn không sao diễn tả nổi.

Chúng ta sẽ là “người” hơn khi biết hy sinh cho nhau.  Đó không chỉ là bí quyết của cuộc sống mà còn là ơn gọi, là sứ mạng, là mệnh lệnh của Tạo Hoá dành cho chúng ta.  Khi ta tự nguyện thực hành những hy sinh trong cuộc sống, sự sống của ta trở nên đong đầy, đến nỗi, cả khi phải đối diện với cái chết sinh học, ta chẳng còn cảm thấy sợ hãi nữa; ta sẽ thấy mình được đong đầy bởi tình yêu nên cũng không còn cái chết tinh thần; và nhờ tích góp nhiều nhân đức, ta cũng thoát khỏi cái chết luân lý.  Một chút hy sinh ở đời này là góp phần dựng xây hạnh phúc ở đời sau.  Hay đúng hơn, ngay khi ta biết hành động với tình yêu trong những sự hy sinh nhỏ bé, chính là ta đã nếm được sự viên mãn của tâm hồn rồi.

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

From Langthangchieutim