Lê Thu Hà và hội chứng hậu chấn thương tâm lý

Chì những người đã từng hy sinh tuổi thanh xuân cho cuộc chiến 54-75. Hay tù tội, cải tạo trong gông cùm CS & đã trải qua chuyến vượt biển thập tử nhất sinh… họ mới hiểu biết và cảm thông với những anh chị em đang đấu tranh trong nước. Mới biết qúy trọng xương máu đồng bào và nhất là có tầm nhìn chính trị bao quát……

***********

Lê Thu Hà và hội chứng hậu chấn thương tâm lý

“Bạn có thể xếp tôi vào thành phần thiểu số những cá nhân hậm hực, bất mãn với chế độ, và bạn có thể dè bỉu khi bảo rằng tôi đang lầm đường lạc lối, nhưng bạn hãy chờ đi nhé, cho dù hiện nay, công cuộc đấu tranh này còn đối mặt với nhiều gian nan, trở ngại nhưng một ngày nào đó, tôi sẽ chứng minh cho bạn thấy con đường tôi đang đi hoàn toàn đúng. Hãy nhìn xuyên suốt lịch sử, bạn sẽ thấy một điều rõ ràng, tất cả mọi cuộc đấu tranh chính nghĩa đều bắt đầu từ thiểu số!”

Người viết câu khẳng khái này không phải là Ghandi, Nelson Mandela hay Lưu Hiểu Ba. Người viết câu này là một phụ nữ Việt Nam can trường, can trường không kém gì những Lê Thị Công Nhân, Mẹ Nấm, Đỗ Thị Minh Hạnh, Bùi Thị Minh Hằng, Tạ Phong Tần, Nguyễn Phương Uyên, Huỳnh Thục Vy, Phạm Đoan Trang, Trịnh Kim Tiến… và hàng ngàn phụ nữ Việt khác, đã và đang đối đầu từng ngày từng giờ với chính quyền Hà Nội, cái chính quyền hèn với giặc và ác với dân.

Lê Thu Hà là một nhà hoạt động nhân quyền trẻ, một hội viên tích cực ngay từ đầu của Hội Anh Em Dân chủ – mà LS Nguyễn Văn Đài là chủ tịch.

Lê Thu Hà bị bắt cùng với LS Nguyễn Văn Đài trong một chuyến đi vận động tại Nghệ An tháng 12/2015. Cô Hà và các thành viên khác của Hội Anh Em Dân chủ đã bị CS giam cầm khắc nghiệt suốt hai năm rưỡi. Cô đã bị biệt giam trong xà lim 6 mét vuông với 3 lần cửa sắt, hành hạ, khảo cung, khủng bố ngày đêm. Và trong thời gian này, cô đã lâm bịnh. Sức khỏe tinh thần bị gãy đổ nhanh chóng, như túp lều tranh trước cơn bão hung hãn.

Trong một phiên tòa dàn dựng kệch cỡm hôm 5.4.18, với cáo buộc “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền”, theo Điều 79, Hà bị tuyên án 9 năm tù, 2 năm quản chế. Trong tháng 6 vừa qua, Hà được nhà cầm quyền Hà Nội trả tự do (cùng với LS Nguyễn Văn Đài) sau những vận động tích cực của quốc tế, với điều kiện phải bị trục xuất ngay lập tức ra khỏi VN, đưa thẳng ngay qua Đức, mặc dù Hà không muốn rời bỏ quê hương.

Ngay từ ngày đầu tiên tại Đức, Hà cho thấy nhiều biểu hiện suy sụp tinh thần, lo âu lan tỏa và sợ hãi quá mức trong các tình huống xã hội thông thường.

Hôm 20.11. qua, Hà quyết định mua vé bay về VN. Và chuyện gì phải đến, đã đến: tại sân bay Nội Bài Hà bị chận lại, cấm không cho nhập cảnh và bị buộc phải rời đi ngay lập tức, sang Thái Lan để trở lại Đức. Tin tức đã được lan truyền nhanh chóng, làm dấy lên một làn sóng tranh cãi trên mạng xã hội, trong đó không thiếu những chỉ trích Hà một cách thiếu căn cứ, dù nhiều người không biết rõ sự tình bên trong cho lắm.

Bài này xin góp một cái nhìn từ góc cạnh y khoa.

Tiền sử về chấn thương cũng như các triệu chứng cho thấy, Hà mắc Hội chứng hậu chấn thương tâm lý, mà tên tiếng Anh là PTSD – Posttraumatic Stress Disorder. Ở VN thường gọi là “Rối loạn Stress sau sang chấn”. Đó là một rối loạn tâm lý, tổn thương về mặt tinh thần nghiêm trọng, ở những người đã trải qua một biến cố hãi hùng có gắn liền với những đe dọa đến tính mạng.

Rối loạn tâm lý này xảy ra muộn nhưng dai dẳng và vẫn tiếp tục kéo dài sau đó, khi sự kiện gây sang chấn đã kết thúc từ lâu. Tổ chức Ân xá Quốc tế cho biết, bệnh này rất thường gặp ở những cựu tù nhân bị tra tấn lâu năm, bị cưỡng hiếp, hoặc bị khủng bố tinh thần trong tù một cách có hệ thống, như bị đe dọa thủ tiêu, giết chết người thân…

Hội chứng hậu chấn thương tâm lý thường xuất hiện ở người trẻ tuổi. Chấn thương đối với nam giới đa số là tham gia chiến tranh, chứng kiến những cảnh giết chóc thảm khốc ngoài chiến trận, trong khi đối với nữ giới đa số là bị bạo hành hay cưỡng bức tình dục. Rối loạn này thường xảy ra nhất ở những người độc thân, ly dị, góa bụa …

Những chấn thương tâm lý nghiêm trọng nhất là khi có sự phá vỡ những mối quan hệ thân thiết, gây mất lòng tin nặng nề, hoặc khi có sự phá vỡ sự toàn vẹn của bản ngã, như trong trường hợp nạn nhân bị tra khảo, hay bị uy hiếp trong điều kiện stress quá sức chịu đựng.

Hội chứng hậu chấn thương tâm lý được ngành tâm thần hiện đại chia làm 3 nhóm triệu chứng tâm lý chính:

1.- Các triệu chứng cảm nhận lại: Bệnh nhân thường nhớ lại hoàn cảnh sang chấn một cách vô thức. Sự nhớ lại này cũng có thể được thể hiện qua các giấc mơ (thường là ác mộng), trường hợp nặng thì có ảo giác, ảo thanh hay ảo thị.

2.- Các triệu chứng tránh né: Bệnh nhân luôn cố tránh né các ý nghĩ, những hoạt động, nơi chốn, hay những cuộc nói chuyện có nội dung có thể làm họ nhớ lại hoàn cảnh sang chấn. Sự cố tình tránh né này có thể làm họ không còn nhớ nổi những điểm quan trọng về hoàn cảnh sang chấn. Họ không còn thích tham gia những hoạt động mà trước kia họ đam mê. Ngoài ra họ luôn bi quan về tương lai. Bệnh nhân có nhiều dấu hiệu của trầm cảm (nên thường dễ bị chẩn đoán nhầm là bị bệnh trầm cảm).

3.- Các triệu chứng tăng cảnh giác về một khả năng trở lại của sang chấn, làm cho nạn nhân luôn ở trong trạng thái đề phòng những việc xấu có thể xảy ra và thường bị giật mình, lo sợ mông lung. Khi triệu chứng nặng, trí nhớ suy sụp, giảm tập trung, giảm khả năng phán đoán và suy luận, làm cho bệnh nhân gặp khó khăn khi phải chủ động quyết định số phận của chính mình và việc hoạch định các hành động của họ thường thiếu tính logic (như việc đột xuất mua vé về Việt Nam của Lê Thu Hà vừa qua).

Theo cách phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) về 6 loại nạn nhân chịu tác động của thảm họa gây sang chấn, thì Lê Thu Hà thuộc loại I, nghĩa là người trực tiếp bị nạn.

Việc điều trị hội chứng hậu chấn thương tâm lý là một quá trình lâu dài và phức tạp. Lâu dài, vì các liệu pháp tâm lý như liệu pháp nhận thức hành vi (Cognitive behavioral therapy) hoặc điều trị phơi sáng (Exposure therapy) khi nào cũng đòi hỏi nhiều tháng và nhiều năm điều trị liên tục. Và phức tạp, vì trong trường hợp của Lê Thu Hà người ta gặp 2 khó khăn lớn: vấn đề ngôn ngữ và hỗ trợ gia đình – xã hội. Trong ngành tâm thần học, ngôn ngữ chung giữa người bệnh và thầy thuốc là vô cùng quan trọng để việc điều trị đem lại kết quả, mà Hà thì chưa thể rành rỏi tiếng Đức (một ngôn ngữ nổi tiếng là khó), còn bác sĩ chuyên khoa tâm thần học người Việt thì ở Đức lại quá hiếm hoi. Bên cạnh đó, sự nâng đỡ, trợ giúp của người thân và gia đình đối với bệnh nhân là điều rất cần thiết trong quá trình điều trị kéo dài, mà Hà lại ở trong hoàn cảnh “bơ vơ”, “mất chỗ dựa” sau khi bị trục xuất thẳng qua xứ lạ quê người, hoàn toàn trơ trọi, không gia đình, không bạn bè thân thiết.

Cho nên trước những chỉ trích có nhiều phần ác độc và đôi khi thể hiện nhận thức tương đối hạn hẹp của một số người, tác giả xin mời tất cả những ai hiện nay đang quá hăng hái trong việc chỉ trích việc Lê Thu Hà mua vé bay về VN hôm 20.11. vừa qua – hãy đọc lại đoạn văn khẳng khái ở đầu bài mà Hà đã viết đăng trên Facebook Lê Thu Hà ngày 17/10/2013, rồi thành thật tự trả lời 3 câu hỏi sau đây:

1.- Nếu Bạn đang sống ở VN và đối diện từng ngày với với bộ máy cầm quyền Hà Nội vừa tham ô, hà hiếp dân lành, vừa bán đất, bán rừng cho Tàu, thì Bạn có đủ can trường để tham gia không lưỡng lự vào công cuộc đấu tranh cho dân chủ và tương lai của đất nước, như Lê Thu Hà đã từng làm trước khi bị bắt vào năm 2015, hay không?

2.- Giả thử nếu Bạn bị CS bắt giam, đánh đập và khủng bố ngày đêm trong lao tù suốt 2 năm rưỡi trời, thì Bạn có đủ đảm lược để viết ra được những lời lẽ bất khuất như Lê Thu Hà đã làm, hay không?

3.- Và nay, khi đã hiểu một phần nào các hậu quả khốc hại của bộ máy trù dập và nghiền nát cả thể xác lẫn tinh thần con người của CSVN – qua trường hợp của Lê Thu Hà nói riêng và của hàng trăm, hàng ngàn anh chị em đấu tranh dân chủ khác trong nước nói chung – thì Bạn có thể đóng góp gì, làm gì thực tiễn để giúp đỡ và cưu mang họ?

Xin bình tâm suy nghĩ trước khi phê phán Lê Thu Hà.

Nguyễn Văn Vui
23.11.2018, Đức
**********

HÌNH: – Lê Thu Hà và Nguyễn Bắc Truyển tại phiên tòa ngày 5/4/2018

Image may contain: 4 people
Image may contain: 2 people

Bí quyết 90/10: Đừng quên, phản ứng của bạn quyết định đến 90% đối với những gì xảy ra

Bí quyết 90/10: Đừng quên, phản ứng của bạn quyết định đến 90% đối với những gì xảy ra

Chuyện bất ngờ xảy ra chỉ chiếm 10%, quyết định phản ứng của bạn chiếm tới những 90%.

Trên thực tế, 10% cuộc đời là những gì xảy đến đối với bạn, 90% cuộc đời là do những phản ứng của bạn đối với những chuyện xảy ra. Do vậy, cuộc sống của bạn sẽ diễn biến thế nào, phần lớn phụ thuộc vào những phản ứng của chính bản thân bạn.

Để dễ hiểu hơn, hãy lấy một ví dụ chắc chắn đã xảy ra đâu đó ngay xung quanh bạn:

Một buổi sáng thức dậy, bạn đang vui vẻ ăn bữa sáng với gia đình. Bất chợt, con bạn làm đổ ly cà phê lên áo bạn. Chuyện đó xảy ra bất chợt, bạn không kiểm soát được. Ðiều xảy ra tiếp sau đó là phản ứng thuộc quyền quyết định của bạn.

Bạn mắng bé. Cháu phát khóc.

Bạn quay sang trách vợ mình đã đặt tách cà phê quá gần rìa bàn, đã không trông con cẩn thận…vô vàn lý do bạn có thể đưa ra để trách cô ấy. Hai người bắt đầu cãi nhau.

Bạn giận dữ, đùng đùng bước lên lầu thay áo. Khi bạn trở xuống con bạn vẫn còn khóc, chưa ăn xong để đi học. Và bé bị lỡ chuyến xe đưa đón của trường. Vợ bạn dọn dẹp xong phải hối hả đi làm. Bạn đi nhanh ra, đưa con đến trường. Sợ trễ, bạn chạy xe vượt tốc độ cho phép. Sau khi chịu phạt nặng, bạn đưa con tới trường trễ 15 phút.

Con bạn chạy nhanh vào lớp không kịp chào bạn. Bạn đến văn phòng trễ 20 phút, lại thấy mình bỏ quên chiếc cặp ở nhà…

Một ngày của bạn đã bắt đầu thật khủng khiếp. Chuyện càng lúc càng tệ hại tiếp tục xảy ra…

Buổi chiều bạn buồn chán trở về nhà, và chắc chắn hôm nay vợ con không vui vẻ đón mừng mình như ngày hôm trước.

Tại sao bạn có một ngày buồn chán như thế?

-Tại tách cà phê chăng?

-Tại con bạn chăng?

-Hay tại anh cảnh sát đã phạt bạn?

-Hay do chính bạn gây ra đấy chứ?

Câu trả lời đúng, buồn thay lại chính là do bạn. Bạn đã không làm chủ cái 90% thuộc quyền phản ứng của mình. Cách phản ứng của bạn đã tạo nên một ngày buồn cho chính bạn và cả những người quanh bạn.

Bạn cũng đã có thể phản ứng một cách khác.

Khi tách cà phê đổ, cháu bé muốn khóc, bạn đã có thể nói: “Không sao đâu con, lần sau con nên cẩn thận hơn một chút”.

Bạn nhẹ nhàng lên lầu thay áo và mang theo chiếc cặp. Bạn xuống nhà và nhìn thấy vợ bạn đã kịp dọn dẹp xong, con bạn cũng đã dùng xong bữa sáng và chuẩn bị sẵn đồ để vừa kịp vẫy tay chào bạn trước khi lên xe bus đưa đón của trường. Vợ chồng bạn cùng đi làm.

Bạn đến văn phòng sớm năm phút và vui vẻ chào các đồng nghiệp buổi sáng. Có lẽ sếp cũng khen bạn về một ngày làm việc có hiệu quả.

Hãy nhớ rằng phản ứng của bạn rất quan trọng. Chuyện bất ngờ xảy ra chỉ chiếm 10%, quyết định phản ứng của bạn chiếm tới những 90%.

——————–

Gần đây trên mạng xã hội cũng đang lan truyền một câu chuyện cảm động lòng người. Một “lời nói dối ngọt ngào” hay một cách lựa chọn phản ứng của một người đã thay đổi cuộc sống của một người khác.

Ở một thị trấn nhỏ của nước Anh đã xảy ra một vụ cướp ngân hàng, tên cướp không cướp được tiền mà lại bị bao vây chặt bên trong. Hắn ta bắt một em bé 5 tuổi và yêu cầu cảnh sát phải chuẩn bị cho mình một khoản tiền lớn cùng một chiếc ô tô, nếu không hắn sẽ nổ súng giết con tin.

Phía cảnh sát cử một chuyên gia đến đàm phán, tuy nhiên tên cướp vẫn ngoan cố không chịu đầu hàng. Khi thấy tên cướp có ý định giết con tin, tận dụng đúng thời cơ, phía cảnh sát đã nổ súng bắn tỉa, tên cướp kêu lên một tiếng rồi ngã lăn xuống đất. Cậu bé nhìn thấy những vết máu và nghe thấy tiếng súng nên sợ hãi khóc thất thanh. Người đàm phán tranh thủ cơ hội chạy lại ôm cậu bé vào lòng.

Đây có lẽ cũng là câu chuyện xảy ra ở nhiều nơi, và cũng không hiếm người gặp phải. Tuy nhiên, câu chuyện chưa dừng lại ở đây.

Tiếng súng dứt, các hãng thông tin truyền thông cũng vừa kịp kéo đến, đúng lúc đó, mọi người chợt nghe tiếng người đàn ông hô to: “Tốt lắm, diễn tập đến đây là kết thúc!”. Cậu bé nghe xong liền ngừng khóc và hỏi người mẹ vừa kịp chạy đến bên cạnh: “có phải như thế không mẹ?”.

Mẹ cậu bé kìm nén nước mắt và gật đầu. Một viên cảnh sát khác cũng đi đến bên cạnh cậu bé và bình tĩnh khen ngợi: “Cháu diễn tốt lắm, cháu xứng đáng được khen thưởng”.

Những ngày sau đó, giới truyền thông đều im lặng, không ai nói một lời về vụ cướp bởi họ từ hiểu rằng, đó là cách tốt nhất để bảo vệ tâm hồn cậu bé!

Nhiều năm sau, một chàng trai tìm đến gặp người đàm phán năm xưa, hỏi ông: “Tại sao trong lúc ấy, ông lại hô lên như vậy ạ?”.

Ông cười và trả lời: “Khi tiếng súng vang lên, tôi nghĩ rất có thể cậu bé sẽ bị ám ảnh cả đời vì chuyện đáng sợ như thế này. Nhưng khi tôi tới gần cậu bé hơn thì dường như Thượng đế đã gợi ý cho tôi và thế là tôi thốt lên câu “Diễn tập kết thúc!”.

Lúc này, chàng thanh niên bật khóc và ôm chầm lấy ông: “Con chính là đứa trẻ năm xưa đây ạ, con đã bị nói dối suốt 20 năm qua, mãi cho tới gần đây, mẹ của con mới nói rõ sự thật cho con biết. Con cảm ơn bác, cảm ơn bác đã cho con một cuộc đời lành mạnh!”.

Ông nhìn người đàn ông trung niên rồi cười nói: “Con đừng cảm ơn ta! Nếu con muốn cảm ơn thì hãy cảm ơn tất cả những người đã biết chuyện nhưng vẫn sẵn lòng “lừa gạt” con ấy!”.

——————–

Hành động của người cảnh sát đó chính là 90% phản ứng của bạn với việc xảy ra. Vụ cướp, vụ nổ súng chỉ là 10% điều bất chợt xảy đến trong cuộc sống. Tuy nhiên, nếu người đàn ông năm đó không chọn phản ứng đó, mà mọi chuyện rẽ theo hướng khác, ông ôm cậu bé, an ủi rằng không sao, mọi chuyện qua rồi, thì chắc chắn cậu bé sẽ không thoát khỏi ám ảnh, và cuộc sống của cậu bé đã chuyển hoàn toàn sang một hướng khác.

Người đàn ông đã đem lại điều tuyệt vời cho cuộc đời của một đứa trẻ, bảo vệ tâm hồn của cậu bé khỏi những ám ảnh cả đời.

Hãy nhớ rằng phản ứng của bạn rất quan trọng. Chuyện bất ngờ xảy ra chỉ chiếm 10%, quyết định phản ứng của bạn chiếm tới những 90%.

Toàn văn tuyên bố của Tổng thống Donald Trump nhân Ngày Lễ Tạ Ơn

Bắt đầu từ Tổng thống George Washington, rồi tới Tổng thống Abraham Lincoln và các vị tổng thống Mỹ sau đó thường sử dụng tuyên bố tổng thống trong ngày Lễ Tạ Ơn để bày tỏ niềm hy vọng của họ về hòa bình, sự thịnh vượng cho nước Mỹ và toàn thế giới.

Hôm thứ Ba (20/11), Tổng thống Donald Trump đã có bài phát biểu tại Vườn Hồng, Nhà Trắng, cảm tạ hồng ân của Thiên Chúa, kêu gọi người dân Mỹ hướng tới sự đoàn kết lớn hơn, đồng thời ông cũng gửi lời cảm ơn quân đội, cảnh sát, lực lượng phản ứng nhanh vì sự hy sinh của họ cho quốc gia, dân tộc.

Ngài Tổng thống và Gia đình gửi lời chúc tất cả người dân Mỹ một khởi đầu yên bình, hạnh phúc và sức khỏe cho mùa lễ này.

Dưới đây là toàn văn tuyên bố của Tổng thống Donald Trump nhân Ngày Lễ Tạ Ơn:

***

Nhân dịp Ngày Lễ Tạ Ơn, chúng ta hồi tưởng lại cuộc hành trình dũng cảm và đầy cảm hứng của Những người hành hương gần bốn thế kỷ trước đã mạo hiểm vuợt đại dương bao la để trốn chạy khỏi đàn áp tôn giáo và xây dựng mái ấm tại Tân Thế giới. Họ đã đối mặt với bệnh tật, điều kiện khắc nghiệt và sự bất định, nhưng họ đặt niềm tin vào Thiên Chúa vì một tương lai tai sáng hơn. Trên chiếc thuyền buồm Mayflower, hơn 100 Người hành hương đã đặt chân tới Plymouth, Massachusetts và họ đã thấm nhuần vào Đất nước của chúng ta một đức tin mãnh liệt vào Thiên Chúa, tiếp tục là ngọn hải đăng hy vọng cho tất cả người dân Mỹ. Ngày Lễ Tạ Ơn là thời điểm cùng gia đình, bạn bè lắng lại và hồi tưởng về di sản của chúng ta và sự hy sinh của những người tiên phong của chúng ta, những người đã đảm bảo phước lành của tự do cho một đất nước độc lập, tự do và đoàn kết.

Sau khi sống sót trong một mùa đông lạnh lẽo và thu được vụ mùa thành công đầu tiên vào năm 1621, những Người hành hương đã dành 3 ngày để ăn mừng và cảm ơn sự thương xót và phước lành vô bờ của Thiên Chúa. Những thành viên của bộ lạc người da đỏ Wampanoag mà đã dạy cho những Người hành hương cách trồng trọt tại New England và giúp họ thích ứng và phát triển trong vùng đất mới cũng được chia sẻ thành quả lao động và chung vui lễ hội.

Để công nhận sự kiện lịch sử đó, vào năm 1789, Tổng thống George Washington đã ban hành một tuyên bố tổng thống tuyên bố về ngày Lễ Tạ Ơn quốc gia đầu tiên. Ông đã kêu gọi người dân của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ đoàn kết để gửi tới Thiên Chúa sự chân thành và lòng biết ơn khiêm nhường của chúng ta “vì Ngài đã chăm sóc và bảo vệ Người dân của Đất nước này” và “sự quan phòng ưu ái của Ngài”.

Tổng thống Abraham Lincoln đã hồi sinh truyền thống này khi Đất nước chia rẽ của chúng ta phải chịu đựng những nỗi kinh hoàng của cuộc Nội chiến. Từ sau đó, chúng ta đã dành ra ngày này để gửi lời cảm ơn đặc biệt tới Thiên Chúa vì nhiều phước lành, quà tặng và tình yêu mà Ngài đã ban cho chúng ta và đất nước của chúng ta.

Lễ Tạ Ơn năm nay, khi chúng ta tụ họp tại những nơi thờ phượng và quanh bàn ăn gia đình cùng những người thân yêu, với lòng biết ơn khiêm nhường cho những món quà dồi dào mà chúng ta đã nhận được, chúng ta hãy nhớ tới những đồng bào người Mỹ của chúng ta đã phải đối mặt với khó khăn và bi kịch trong năm nay.

Với tinh thần hào phóng và thiện lương, chúng ta hãy vui vẻ tiếp cận bằng lời nói và hành động, và chia sẻ thời gian và nguồn lực của chúng ta trên khắp các cộng động của chúng ta. Chúng ta cũng hãy tìm nhiều cách để trao cho những người kém may mắn hơn cho dù đó là hình thức chia sẻ một bữa ăn thịnh soạn, mở rộng một bàn tay giúp đỡ, hay nói ra những lời động viên.

Trích nguồn trithucvn.net

Image may contain: 2 people, people smiling, people standing and outdoor

ĐI TÌM THẾ LỰC THÙ ĐỊCH.

Đây là một bài viết của một đảng viên CS đã thức tỉnh.

=======================
ĐI TÌM THẾ LỰC THÙ ĐỊCH.

Từ lâu, tôi đã nghe nhiều, rất nhiều cụm từ “thế lực thù địch”. Nghe đến nhàm, nhưng chẳng ai chỉ giùm tôi, bởi nó vô hình. Vậy thì phải đi tìm thôi.

Tôi đã đi tìm thế lực thù địch từ những ngày hợp tác hóa, đầu những năm sáu mươi của thế kỷ trước, khi tôi còn ngồi trên ghế nhà trường xã hội chủ nghĩa.

Cái ngày mà tôi chưa phân biệt được chủ nghĩa Mác đúng sai thế nào.

Cái ngày mà khi có kẻng là xã viên hợp tác ra đồng, chờ phân việc, làm chiếu lệ vài giờ rồi về. Tối họp bình công chấm điểm thì cãi nhau om sòm, mà có nhiều nhặn gì đâu, giỏi lắm mỗi công một cân thóc. Để rồi “Ơi anh chủ nhiệm anh chủ nhiệm/ Hai tiếng thân yêu lời cảm mến/ Tay anh nắm chặt tay xã viên/ Xốc cả phong trào cùng tiến lên” đi vào trang sách học sinh theo thơ Hoàng Trung Thông.

Cái ngày mà khi thu hoach thì bố mẹ đi trước, con cái theo sau (gọi là đi mót) cướp hết những thứ ngon. Cuối buổi thu hoạch về sân kho hợp tác chỉ những đống lúa xơ xác, hoặc những đống khoai chạc khoai rễ. Để rồi “Dân làm chủ dập dìu hợp tác / Lúa mượt đồng ấm áp làng quê/ Chiêm mùa cờ đỏ ven đê/ Sớm trưa tiếng trống đi về trong thôn” đi vào trang sách học sinh theo thơ Tố Hữu .

Cái ngày mà đói triền miên, cả năm may ra có bữa no cơm và có thịt, đó là ngày tết. Để rồi “Những người lao động quang vinh/ Chúng ta là chủ của mình từ đây” đi vào trang sách học sinh theo thơ Tố Hữu.

“Chẳng nhẽ chủ nghĩa cộng sản lại thế này ư?” Từ thắc mắc đó tôi đọc “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản” và “Chính trị kinh tế học”. Vì còn tuổi vị thành niên, nên dù nghi ngờ nhưng tôi chưa dám nghĩ Mác sai, nhưng ít nhất là ta làm sai Mác. Mác nói, đại ý “phải phân biệt vô sản và vô sản áo rách (bọn khố rách, áo ôm)”. Ta đã dùng “vô sản áo rách” trong CCRĐ. Ta đã cưỡng bức vào hợp tác xã, trong khi lẽ ra phải hoàn toàn tự nguyện. Trong “Chính trị kinh tế học”, theo Khơ rút sốp “có thể đoạt chính quyền bằng nghị trường”, còn theo Bregiơnhep “chỉ có thể đoạt chính quyền bằng bạo lực”, ta theo bạo lực. Tại sao lại phải dùng bạo lực? Tôi tự hỏi vì tôi đã đọc đâu đó “bạo lực là sản phẩm của phía yếu, bất tài và vô lực”. Tất cả những nhà cầm quyền theo chủ thuyết “sức mạnh chính trị nằm trên đầu nòng súng” đã đưa đất nước họ (trục phát xít) gục ngã. Sau gục ngã có thể họ bị yếu, có thể họ thuộc bài nên đã điều chỉnh hướng đi. Các nước theo trục chủ nghĩa xã hội lại tiếp tục theo vết xe đổ đó, để đến nay tan rã. Thảm thay!!!

Cái thời mà, thế hệ cha anh tôi, những người đã qua CCRĐ luôn thuộc nằm lòng câu “Trí phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ” hoặc “chủ nghĩa cộng sản làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu”.

Tôi vào đại học, vào bộ đội. Dù làm khoa học và công nghệ, nhưng tôi luôn tìm hiểu về chế độ, khi mà tuyên truyền và thực tế luôn ngược nhau. Tôi đọc mọi loại sách, từ các sách văn học, xã hội học và chính trị; tiếp cận với nhiều tầng lớp người từ cao xuống thấp, từ cổ đến kim. Do công tác đi đây đó nhiều, nhất là các công xưởng, lại sống hòa nhập nên tôi có điều kiện tiếp cận thực tế. Qua lý thuyết và thực tế tôi đã dần tìm ra thế lực thù địch. Đúng hơn là cái gì đã kìm hãm sự phát triển của nước.

Còn nhớ những năm cuối thập niên bảy mươi của thế kỷ trước có lần tôi nói với bố tôi (đang là cán bộ cao cấp) rằng “đảng sai bố ạ”, bố tôi rằng “đường lối đúng, thực hiện sai”. Đáp “lý thuyết đúng là tự nó đem lại tốt đẹp cho xã hội, ta chẳng làm được gì cả, sao gọi là đúng? Nói vậy là bao biện”. Bố tôi lặng im. Lại hỏi “một xã hội sẽ ra sao nếu trí phú địa hào đào tận gốc, trốc tận rễ?” Rằng “câu hỏi đó đã được Gabriel García Márquez – chủ nhân của giải noben văn học 1982 đã hỏi trong một gặp gỡ các nhà văn Á – Phi – Mỹ La tinh, mà chẳng ai biết thế nào để trả lời”. Vài năm sau bố tôi nói “con đúng, bố sai – từ nay con thay bố giải quyết các việc trọng đại trong gia đình”. Cũng từ đó cho đến lúc lìa trần, ông dị ứng với vô tuyến, đài và báo chí (công cụ tuyên truyền) – những thứ mà trước đây là thực đơn hàng ngày của ông. Ông quay lại nghề tử vi, địa lý và kinh dịch – như là nghề gia truyền; nhưng khi đi theo đảng ông phải bỏ. Chính nghề này đã cứu ông cả vật chất, tinh thần và để lại nhiều ân đức trước khi qua đời.

Cuối những năm sáu mươi, đầu những năm bảy mươi của thế kỷ trước, khi người ta cơ cấu những cán bộ chính trị đi tập huấn một thời gian về làm hiệu trưởng các trường cấp 2 và 3, tôi như đã thấy manh nha một cái gì? Sau đó, khi “chuột chạy cùng sào, nhảy vào sư phạm”; tôi đã thấy rằng: “xã hội ta sẽ thê thảm khi những người học yếu nhất vào giáo dục”. Rồi cải cách giáo dục, như một sự tàn phá đất nước nhanh nhất. Mười lăm năm đi học không có ai dạy cho ta yêu bố mẹ, anh em cả; nhưng được dạy nhiều về lý tưởng cộng sản “vì lý tưởng cộng sản, thanh niên anh dũng tiến lên”. Phải chăng bỏ qua cái thực thể hữu hình, chạy theo cái vô hình kiểu “bỏ hình bắt bóng” là đặc trung nền giáo dục của chúng ta?

Rút cục ta đã đào tạo ra những thế hệ “ăn theo nói leo” là chính, ai không như thế được đội cái mũ “tiểu tư sản trí thức” ngay. Ta không dùng những người tài giỏi, nhưng lại coi trọng những người khôn vặt, láu cá nhiều mưu ma chước quỷ. Chính cái sự đào tạo và sử dụng người đã hủy hoại nhân cách của nhiều thế hệ.

Từ đầu những năm tám mươi của thế kỷ trước lại đây, tôi đã chứng kiến rất nhiều những cuộc chạy chức quyền, chia các vai quyền lực từ các bàn nhậu. Mấy chục năm công tác tôi thấy quá rõ kinh phí bôi trơn cho guồng máy, thông thường là 40% chi phí đầu tư, nhiều chỗ còn hơn. Kinh phí vào công trinh chỉ xấp xỉ một nửa. Đất nước không đổ nát mới là sự lạ.

Cách đây hơn năm thế kỷ Thân Nhân Trung đã viết:

“…Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn. Vì thế các bậc đế vương thánh minh không đời nào không coi việc giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia làm công việc cần thiết…”

Đất nước ta không đào tạo và sử dụng được hiền tài, chỉ dùng được những ai dễ sai bảo, biết ăn theo nói leo, thậm chí vô sản áo rách. Dùng hiền tài đâu có dễ, những người không tài làm sao sử dụng được hiền tài, các bậc hiền tài đâu chịu làm đầu sai. Những người có tri thức, biết được điều hay lẽ phải (tri là biết; thức là hay), sao lại có thể a dua theo bầy đàn không có tri thức dẫn lối? Trong hoàn cảnh ấy, hiền tài chỉ có hai con đường, hoặc vùng lên rồi bị diệt như “Nhân văn Giai phẩm” hay như “vụ xét lại chống đảng”. Hoặc co vào ở ẩn bất hợp tác như đa phần còn lại. Rút cục hiền tài không “can dự” được vào sự phát triển đất nước. Không phải vô cớ mà ở nước Đức có bia mộ ghi “ở đây đã an táng một người, mà người đó dùng được rất nhiều người tải giỏi”.

Vậy là “thế lực thù địch” của đất nước chính là sự ngu tối. Mà cái ngu là tổ phụ của cái ác, tàn phá đất nước hơn tỷ lần cái ác. Con đường cách mạng đất nước ta (mà đặc biệt là cách mạng phát triển xã hội sau năm 1975) đang đi là con đường thiếu ánh sáng tri thức soi đường. Để rồi sau bao nhiêu năm đi vào bóng đêm. Đất nước sau gần bốn mươi năm thống nhất tựa như đổ nát. Nạn tham nhũng tràn lan làm rỗng ruột kinh tế, tai nạn giao thông chết người như có chiến tranh, giáo dục lụn bại, nhân cách đạo đức suy đồi, kẻ thù truyền kiếp phương Bắc uy hiếp trên biên giới, rừng núi, biển đảo và đồng bằng. Cách mạng đâu phải là sự nghiệp của bầy đàn khố rách áo ôm kiểu “mo cơm quả cà đi xây dựng chủ nghĩa cộng sản”. Cũng do ngu tối mà từ ngày độc lập, chúng ta chưa tìm được con đường đi cho đất nước.

Không nghi ngờ gì nữa“thế lực thù địch” của đất nước chính là sự ngu tối, thế lực nào dung túng cho cái ngu, để cho cái ngu hoành hành thì đấy chính là thế lực thù địch của đất nước ta, dân tộc ta.

Thời nay ai thiết người tài

Chỉ cần tai tái, dễ sai hợp thời

Thằng thông minh nó lắm lời

Nó thuyết, nó giáo rối bời thằng ngu

Thằng ngu tuy có lù khù

Mưu ma chước quỷ nó bù thông minh

Sự đời nghĩ lại mà kinh

Nhân tình thế thái, rối tinh rối mù.

H.Q

Hãy sống trong hạnh phúc dù cuộc đời không như mơ

Hãy sống trong hạnh phúc dù cuộc đời không như mơ

Nữ nhà văn Mỹ Hellen Keller đã từng nói: “Tôi đã khóc vì không có giày để đi cho đến khi tôi nhìn thấy một người không có chân để mang giày”.

Nếu bạn hỏng xe dọc đường, phải cuốc bộ vài dặm mới tìm ra được người giúp đỡ – Hãy nghĩ tới những ai liệt cả đôi chân, luôn khao khát được bước đi như bạn.        

Đó là lúc khó khăn của bạn, đôi chân của bạn có thể đưa bạn đến bất cứ nơi đâu, đó là hạnh phúc và may mắn khi bạn sinh ra trên đời được có quyền đứng trên đôi chân của mình để đi. Khi không may đôi chân phải nặng nề hơn trên con đường đang bước thì hãy chớ vội nản lòng, khó chịu bởi đằng kia có rất rất nhiều người đang khao khát được bước và được đi như bạn dù chỉ một bước chân.       

Nếu bạn cảm thấy đời mình bị mất mát và băn khoăn về ý nghĩa kiếp người – Xin bạn hãy biết ơn cuộc sống vì có nhiều người đã không được sống hết tuổi trẻ của mình để có những trải nghiệm như bạn. Đừng bao giờ nghĩ rằng mình kém may mắn trong cuộc đời này, hãy biết trân trọng từng phút giây khi được sinh ra trên cuộc đời này.        

Nếu bạn cảm thấy mình là nạn nhân của những ai hay cay nghiệt, dốt nát, nhỏ nhen, nghi kỵ – Hãy nhớ rằng việc đời có khi còn tệ hại hơn thế rất nhiều. Sống là động nhưng lòng không dao động.

Mỗi sớm mai thức dậy việc đầu tiên mà ta phải làm là hãy nở một nụ cười thật tươi để trả lại cho cuộc sống đã cho ta được sinh ra trên cuộc đời này, có được một đôi chân vững chãi để bước đi, có được một đôi tay lành lặn để ôm ấp những người mà ta yêu thương, có được một đôi mắt sáng để nhìn ngắm thế giới xung quanh, có được niềm tin và nghị lực trong mỗi chặng đường đời để cảm thấy mình hạnh phúc dù ở trong hoàn cảnh nào.

Hãy biết nâng niu và trân trọng từng phút giây mà bạn đang có để biết yêu thương được đong đầy như thế nào trong cuộc đời mình.

From NguyenNThu

TUỔI GIÀ LÀ THỜI SUNG SƯỚNG NHẤT

TUỔI GIÀ LÀ THỜI SUNG SƯỚNG NHẤT

Bieu Nguyen*Paul Van 

Khi đã lớn tuổi, thì con người được nhiều tự do hơn, được thong thả hơn để sống. Không còn phải như em bé bị cha mẹ ép buộc, bây giờ thì muốn làm chi thì làm, muốn thức khuya dậy sớm gì, cũng chẳng còn ai la mắng dọa nạt, rầy la. Nếu vợ vì thương, sợ mất sức khỏe, thì cũng cằn nhằn chút chút thôi, mình không nghe thì cũng chẳng bị roi đòn gì.

  Không còn phải khổ công học tập, lo lắng cho tương lai mai sau, chẳng phải học thêm chi cho mệt trí, biết quá nhiều, biết quá đủ rồi. Nếu đã nghỉ hưu, thì học thêm làm chi. Nếu còn đi làm, thì cũng đã rành nghề, quen tay quen việc,  làm việc dễ dàng.

  Khi già tình yêu cũng không  còn là mối bận tâm, không quan trọng quá, chưa nghe báo đăng các cụ già trên dưới sáu mươi tự vẫn chết vì  thất tình. Tội chi mà chết vì tình trong tuổi già, vì cũng sắp thấy Diêm Vương rồi, việc chi mà đi sớm hơn. Khôn quá rồi, chết vì tình yêu là nông nỗi. 

Đời sống tình cảm của tuổi già êm đềm hơn, ít đau đớn ít sôi động, và bình lặng. Tuổi già rồi, các ông không còn tính chuyện mèo mỡ lăng nhăng, khỏi phải lo lắng sợ vợ khám phá ra chuyện dấu diếm mà nhà tan cửa nát. Đỡ tốn tiền quà cáp, đỡ tốn thì giờ lui tới các nơi bí mật. Hồi hộp, đau tim. Các bà khỏi phải lo chuyện đi đánh ghen, không còn cần phải chăm chút nhan sắc làm chi nữa, vì như chiếc xe cũ rệu, có sơn phết lại cũng xộc xệch, cũng méo mó. An tâm và chấp nhận, thì khỏi băn khoăn mà vui.

    Cũng có một số ít những cặp vợ chồng già đem nhau ra tòa chia tay, vì khi già cả hai đều trở thành khó tính. Hậu quả của ly dị trong tuổi già không trầm trọng như khi còn trẻ, vì con cái đã lớn, đã tự lập, không còn ảnh hưởng nhiều đến tương lai chúng và tương lai của chính mình. Vì còn sống bao lâu nữa mà lo lắng chi cho nhiều. Xa được ông chồng khó tính, độc tài là mừng. Dứt được bà vợ đanh đá, bạc ác là phải sung sướng. Khỏe trí.

     Tuổi già, cố giữ cho còn có nhau, khi đã đến nước ly dị, thì hai bên đều đúng, đều có lý. Đây là hành động tự cứu mình, và cứu người ra khỏi cảnh khổ lúc cuối đời, khi mà mộ bia đã thấp thoáng trước mắt, không còn bao nhiêu ngày nữa.

     Có điều ít ai nghĩ đến, là càng già, thì càng dễ tìm một người bạn đời để nối lại, để an ủi nhau trong tuổi xế chiều. Vì chung quanh họ, có thiếu chi người đứt gánh nửa đường. Chồng chết, vợ chết, ly dị. Vấn đề là không sao tìm được một người có chung nhiều kỷ niệm, nhiều tình nghĩa, nhiều chia xẻ như người phối ngẫu cũ.

     Tình già cũng nhẹ nhàng, thong thả, ít khổ đau, ít sôi nổi hơn tình khi còn trẻ trung. Sức lực cũng có còn bao nhiêu mà ghen tương nhau chi, mà lo lắng chi cho thêm mệt, những người lớn tuổi kinh nghiệm và biết rõ như vậy. Nhiều người trẻ, sau khi gia đình tan vỡ thì xuống tinh thần, uống ruợu đánh bài tìm quên, đôi khi không phải vì họ quá thương yêu người cũ mà tự hủy hoại đời mình, mà chính vì họ tự thương thân, tự ái bị xúc phạm, và rồi sa lầy vào ruợu chè cờ bạc. Người lớn tuổi thì suy nghĩ khác. Họ nghĩ rằng ta cũng đã gần đất xa trời rồi, có sống thêm bao lâu nữa mà sầu khổ cho mệt.  Mất củ khoai lang, thì kiếm củ khoai mì bù vào.

     Tuổi già biết giá trị tương đối của tình yêu nên không tìm tuyệt hão, không tìm lý tưởng, và nhờ vậy không bị thực tế phũ phàng làm vỡ mộng, đau khổ.  Khi già rồi, có ai hỏi tuổi, thì cũng không cần dấu diếm, không cần sụt đi năm bảy tuổi làm chi. Sướng lắm. Vì có sụt tuổi, cũng không dấu được những nếp nhăn, mà chẳng có ích lợi gì. Nếu tự cọng thêm cho mình chừng chục tuổi, thì không chừng được thiên hạ nức nở khen là còn trẻ, trẻ quá, và họ mơ ước được như mình.

    Các ông có vợ đẹp, khi lớn tuổi cũng đỡ lo bọn dê xồm dòm ngó, lăm le dụ dỗ vợ mình. Con người, ai mà không nhẹ dạ, ai mà không ưa lời nói ngon ngọt êm tai, ai mà không có khi thiếu sáng suốt. Vợ  chồng cũng có khi  bất hòa, buồn giận nhau, và những khi nầy, lòng người dễ chao đảo lắm. Bởi vậy, các ông đỡ nghe các bà hăm he ly dị, hăm he bỏ nhau. Tuổi nầy các bà cũng  thừa khôn ngoan để biết những tên ngon ngọt, hứa hẹn nhiều, thường chỉ là những tên phá đám, chứ không thể tin tưởng được.

    Đàn bà có chồng hào hoa, đẹp trai,  khi lớn tuổi cũng bớt lo, vì các ông cũng bớt máu nóng, bớt chộn rộn và khôn ngoan hơn thời trẻ trung. Biết kềm chế hơn, và biết rõ giá trị hạnh phúc gia đình cần gìn giữ hơn là chơi ngông.

    Tuổi già, vợ chồng sống chung với nhau lâu rồi, chịu dựng nhau giỏi hơn, quen với cái thói hư tật xấu của nhau. Không còn thấy khó chịu nhiều nữa. Dễ dung thứ cho nhau, chấp nhận nhau, vì họ biết rõ bên cạnh cái chưa tốt của người bạn đời, còn có rất nhiều cái tốt khác.

          Vợ chồng, khi đó biết bao nhiêu là tình nghĩa, bao nhiêu kỷ niệm, bao nhiêu thân thiết, cho nên hạnh phúc hơn, vui hơn.

Tình yêu trong tuổi già thâm trầm, có thì giờ bên nhau nhiều hơn, chia sẻ nhiều hơn. Cũng có nhiều ông bà già ưa cãi vã nhau ,cũng dễ hiểu, khi đó tai của cả hai ông bà đều lãng, người nầy nói một đường, người kia hiểu nẻo khác, cho nên buồn nhau giận nhau,  không gây gổ sao được?

      

Tuổi già, thì tất cả mộng ước điên cuồng của thời trẻ trung đã tan vỡ, đã lắng xuống, không còn khích động trong lòng, không còn thao thức nhức nhối. Họ biết sức mình đến đâu, và không tội chi mà ôm cao vọng cho khổ thân. Họ còn biết thêm rằng, nếu những cao vọng điên cuồng ngày xưa mà có thành đi nữa, thì e cũng chỉ là hư không, chẳng đáng gì.

    Khi tuổi già, thì biết khôn ngoan mà an phận, biết vui với bình thường. Biết đâu là hạnh phúc chân chính.  Nhiều người già rồi mới tiếc suốt một thời son trẻ không biết sống, phí phạm thời gian theo đuổi những huyễn mộng, làm đau khổ mình, làm điêu đứng người khác. 

     Tuổi già, vui khi thấy mình hết nông nỗi, nhìn đời bằng cái tâm tĩnh lặng hơn. Ai khen không hớn hở mừng, ai chê không vội vã hờn giận. Vì biết rõ mình không có gì xuất chúng để thiên hạ khen nịnh. Và biết mình cũng có nhiều cố tật không chừa được, đáng chê. Chê thì chê, khen thì khen. Khen cũng thế, mà chê cũng thế, thì ta vẫn là ta, là một kẻ già, đáng được khoan thứ hơn là trách móc.

     Lúc nầy, không còn muốn làm giàu, không bị con ma tham lam thúc bách để kiếm và tích trữ cho nhiều tiền nhiều bạc. Con cái cũng đã lớn, không phải chi tiêu nhiều thứ, thì tiền bạc, chỉ cần đủ sống thôi, cũng là thỏa nguyện. Họ cũng không cần se sua, tranh hơn thua với ai, tinh thần họ vui vẻ, dễ chịu và khỏe khoắn hơn.

       Mối lo âu về tài chánh cũng nghẹ gánh.  Bởi khi đó, nhiều người đã tích trữ được một số tiền nhỏ. Nhà cửa cũng đã có.  Nợ nhà, nợ xe cũng ít đi, hoặc không còn nữa. Con cái cũng đã lớn, không còn là gánh nặng cho mình. Chúng nó  đã có nghề nghiệp, đã làm ăn được. Chắc chắn tương lai chúng khá hơn mình nhiều. Người già không chi tiêu nhiều, ăn cũng ít đi rồi, chơi cũng không còn phung phí dại dột như tuổi trẻ.

      Khi già, thời gian mới là thực sự của mình, vì không còn phải chạy ngược chạy xuôi kiếm sống nữa. Không còn bị bó buộc bởi trách nhiệm bổn phận. Có thể ngồi mơ mộng hàng giờ trên ghế đá công viên, thưởng thức thiên nhiên tuyệt thú, có thể tìm được an bình tuyệt đối, không như thời còn trẻ, đi nghỉ mát, mà thỉnh thoảng cũng bị công việc nhà ám ảnh, nhắc nhở.

    Tuổi già về hưu, là một mong ước của gần như của tất cả mọi người. Nhiều người gắng làm sao kiếm cho nhiều tiền để dược về hưu sớm hơn. Nhiều thanh niên, ngày về hưu còn xa lắc, xa lơ mà vẫn mơ ước. Người Mỹ, trẻ già chi cũng ngĩ đến hưu trí. Hưu trí trong tuổi già là một phần thưởng của tạo hóa, của xã hội. Cho sung sướng, nghỉ ngơi. Già là nghỉ ngơi, là khỏe khoắn.

     Mỗi buổi sáng nằm dài trên giường, sáng nào cũng là chủ nhật trong tuần, muốn dậy lúc mấy giờ cũng được, muốn nằm cho đến trưa đến chiều cũng không sao. Nằm thoải mái, không ai chờ, ai đợi, không có việc gì gấp gáp phải làm, ngoại trừ cái bọng tiểu nó thúc dục, không cho mình nhịn lâu thêm được nữa. Thế thì sao mà không sung sướng.

     Nếu chưa về hưu, còn đi làm việc, thì cái tâm của người lớn tuổi cũng nhẹ nhàng, ít bị những sức căng, bị áp lực đè nén. Vì tài chánh cũng quan trọng, nhưng không quá quan trọng đến nỗi khi thất nghiệp thì mất xe, mất nhà, mất vợ mất con như những người còn trẻ. Khi này, nhiều thứ trong cuộc sống đã ổn định, nhu cầu tiền bạc cũng không quá nhiều. Vã lại, già rồi, kinh nghiệm công việc nhiều, cho nên giải quyết mọi sự trong dễ dàng, thong thả. 

       Bạn đồng sự cũng có chút nể nang, phần vì tuổi tác, phần vì kinh nghiệm. Có trường hợp, còn có việc thì tốt, mất việc thì mừng hơn, vì có lý do chính đáng để về hưu cho khỏe. Vì nếu việc có hoài, việc lại dễ dàng, thì tiếc, không muốn về hưu. Tuổi lớn, không cần thăng tiến, không cần đua chen với ai, cho nên tinh thần thoải mái, được bạn bè chung quanh thương mến hơn. Những người về hưu rồi, trở lại làm việc, thì đi làm, như đi chơi, chứ không phải “đi cày” như nhiều người khác quan niệm. Vui thì làm tiếp, chán thì về nhà nghỉ ngơi.

    Người lớn tuổi, thì sức khỏe xuống, bệnh hoạn ồ ạt đến tấn công, không ai thoát khỏi bệnh hoạn. Nhưng họ lại cảm được cái sung sướng của một ngày khi bệnh thuyên giảm. Một ngày khi cảm thấy gân cốt ít nhức mỏi hơn, dễ chịu trong từng khớp xương hơn. Ngưới trẻ đâu có thấy được những nỗi sung sướng này?  Vì họ chưa kinh nghiệm, chưa trải qua, nên chưa biết. Họ có sức khỏe, nhưng họ không biết đó là sung sướng, cho nên, xem như chẳng có giá trị gì. Anh chị xem, nếu anh chị có một tảng ngọc to bằng cái bàn nằm trong vườn, mà anh chị không biết đó là chất ngọc, thì không biết quý, không biết mình sung sướng có tảng ngọc, mà chỉ quý và sướng vì viên ngọc nhỏ xíu nằm trên chiếc nhẫn mà thôi. Có người viết sách rằng, tuổi già, buổi sáng ngủ dậy, nghe xương cốt đau nhức mà mừng, vì biết mình chưa chết. Tôi thêm rằng, biết mình còn sống là mừng, biết mình đã chết nhẹ nhàng, càng mừng hơn.

    Nầy anh chị có nhớ câu chuyện Thượng Đế khi đuổi tổ phụ loài người là ông Adam và bà Eva xuống  trần gian, có chỉ mặt mà phán : “Từ nay chúng mi phải đổ mồ hôi trán mới có hạt cơm vào mồm”. Đó là câu nguyền rủa độc địa nhất, là lời phán ý nghĩa nhất, là con người phải sống trong nhọc nhằn. Sách Phật cũng có viết đời là đau khổ, và tu để tránh khổ. Đó, đời nầy đáng sống lắm, nhưng cũng nhiều khổ đau lắm. Bởi vậy nên tôi nói, được sống là mừng, mà được chết, cũng mừng. Tôi đi đám ma ông bạn già, thấy gia đình khóc lóc, rên rỉ thảm thương, con cháu mếu máo kể lể. Tôi cười trong bụng, nghĩ rằng bọn nầy không biết luật của tạo hóa. Có sinh thì có diệt. Chúng nó muốn thân nhân của chúng sống đời đời sao? Biết đâu chỉ là khởi điểm của một cuôc rong chơi. Nầy, tôi đọc cho anh chị nghe một đoạn thơ của anh bạn tôi:

          Tôi đi trước, hẹn gặp nhau ở đó

Ai thay da mãi mãi sống muôn đời ?

Kẻ trước, người sau xếp hàng xuống mộ,

Biết đâu là khởi điểm cuộc rong chơi …

Khi tuổi già, thì xem cái chết như về. Ai không phải chết mà sợ. Sống qua khỏi tuổi năm mươi, là đã lời lắm. Tuổi trung bình của con người trên thế giới này chưa được con số năm mươi. Thì mình nên tự xem như được sống thêm đời thứ hai. Đời trước đã hoàn tất, có cả khổ đau lẫn hạnh phúc. Đời sau nầy, thì chắc chắn là sung sướng hơn hạnh phúc hơn đời trước. Vì đã từng trải, đã gom được kinh nghiệm của đời trước, để thấy đâu là hạnh phúc chân thật, đâu là phù du huyễn hão. Chết là về. Nhưng chỉ sợ không về được đến nơi đến chốn, mà như chiếc xe hư máy dọc đường. Làm khổ chủ xe, bắt nằm liệt mê man, không sống mà cũng không chết, đó mới là cái đáng sợ. Tôi biết vậy, nên đã làm di chúc, khi nào tôi bị mê ba ngày, thì xin rút ống cho tôi đi. Đi về bình an.

  Này, anh chị nghĩ sao về ông bác sĩ mà người ta đặt cho tên là bác sĩ tử thần? Già rồi tôi không nhớ rõ tên, hình như ông ta tên là “Ki-Vô-kiên” phải không? Cái tên gần gần như vậy. Theo tôi, thì ông nầy là một vị Bồ Tát, cứu độ cho chúng sinh mau qua khỏi khổ đau, để bị ra tòa, bị tù tội. Chỉ có cái tâm Bồ Tát thật lớn mới làm được việc đó. Tôi cố tìm một cái ảnh ông ta để thờ sống, mà không có. Tôi nghĩ, trong tương lai, luật pháp sẽ không ngăn cấm việc cho người đau đớn ra đi sớm hơn, vì đàng nào cũng chết, tại sao phải kéo cái đau đớn ra dài hơn mới được chết. Trừng phạt người ta hay sao?     

      Trong tuổi già, người ta biết ơn sự nhiệm mầu của tạo hóa. Có bộ máy nào, không phải là gang thép, bạch kim, mà chạy một mạch sáu bảy chục năm không ngưng nghỉ, mà vẫn còn hoạt động như quả tim, buồng phổi, trái thận, cái bao tử, não bộ. Có hệ thống ống dẫn nào hoạt động sáu bảy chục năm mà chưa thay thế như các mạch máu của hệ thống tuần hoàn. Thì dù có rò rỉ van tim, chất mỡ đọng nghẹt trong vài ba mạch máu, thì cũng là sự thường tình, và mừng là còn sống, còn sinh hoạt được. Dù có phải liền liền đi vào cầu tiểu mỗi ngày nhiều lần, thì họ vẫn sung sướng là cái vòi xài mấy chục năm mà vẫn chỉ mới rò rỉ sơ sơ. Mấy cái vòi nước trong nhà, bằng kim khí cứng, không rỉ sét, thế mà năm bảy năm đã phải thay rồi…

VNTB- Vì sao đảng ‘đánh’ vợ Lê Thanh Hải?

Hoa Kim Ngo and Trang Minh shared a post.
Image may contain: 6 people, people smiling, child

Phạm Chí Dũng

VNTB- Vì sao đảng ‘đánh’ vợ Lê Thanh Hải?

Thường Sơn

(VNTB) – Số phận Lê Thanh Hải “gia tộc Lê Thanh Hải” đang lộ ra những dấu hiệu khá rõ về sự sụp đổ trong một ngày không còn xa nữa…

Ảnh: “Gia tộc Lê Thanh Hải”

Học viện Cán bộ TP.HCM là cơ sở đào tạo duy nhất ở Việt Nam bị giáng một đòn choáng váng đúng vào 20/11 – ngày Nhà giáo Việt Nam – năm 2018.

Và nhân vật được xem là ‘nhà giáo Việt Nam – bà Trương Thị Hiền – đã bị cho ‘lên thớt’.

“Có dấu hiệu ‘thông đồng’ gói thầu hàng trăm tỉ tại Học viện Cán bộ TP.HCM” – báo Thanh Niên giật tít như thế và còn chú thích rằng bà Trương Thị Hiền là phu nhân của cựu ủy viên bộ chính trị, cựu bí thư thành ủy TP.HCM Lê Thanh Hải. Tuy nhiên, sau đó đoạn chú thích này đã biến mất, còn tựa đề được đổi thành “Hủy bỏ kết quả đấu thầu tại Học viện Cán bộ TP.HCM”.

Theo bài báo trên: “Kết luận thanh tra khẳng định Tư vấn quản lý dự án có dấu hiệu ‘thông đồng’ với Tư vấn đấu thầu trong việc triển khai xây dựng gói thầu hàng trăm tỉ tại Học viện Cán bộ TP.HCM”.

Giám đốc và Phó giám đốc Học viện được phân công phụ trách tại thời điểm phát sinh vụ việc. Vào thời điểm đó, giám đốc là PGS-TS Trương Thị Hiền…

Thanh Niên cũng là một trong vài tờ báo đầu tiên ‘nổ súng’ theo ý chỉ của đảng vào tháng Tư năm 2017 về vụ Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, để sau đó dẫn tới kết cục bi thảm 31 năm tù giam dành cho Ủy viên bộ chính trị Đinh La Thăng.

Còn việc đăng bài về Học viện Cán bộ TP.HCM và Trương Thị Hiền như một cách ‘tôn vinh’ Ngày nhà giáo Việt Nam thì ý tưởng đó có lẽ chỉ xuất phát từ những cái đầu thâm nho Bắc Hà hoặc những ‘người Bắc có lý luận’.

Với trường hợp Trương Thị Hiền, cho đến nay đảng đã đụng chạm đến hầu hết những người thân của Lê Thanh Hải, thít chặt hơn nữa vòng vây đối với cựu quan chức cao cấp có tục danh ‘Hải Heo’.

Kẻ đầu tiên trong ‘gia tộc Lê Thanh Hải’ bị đảng ‘làm lông’ là Lê Tấn Hùng – Tổng giám đốc Tổng Công ty Nông nghiệp Sài Gòn TNHH MTV (SAGRI) và là em ruột của Lê Thanh Hải. Vào tháng Ba năm 2018, Thanh tra TP.HCM bất chợt công bố kết luận thanh tra về việc Lê Tấn Hùng đã “chi khống 13,3 tỉ đồng” – một dấu hiệu hầu như chắc chắn là nếu không ‘biết điều’, Lê Tấn Hùng sẽ đi thẳng vào nhà giam.

Chỉ 5 ngày sau vụ Lê Tấn Hùng, đến lượt con trai cựu bí thư Lê Thanh Hải là ông Lê Trương Hải Hiếu – Thành ủy viên, Phó Bí thư quận ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận 12 – bị Ủy ban Kiểm tra thành ủy TP.HCM công khai thi hành kỷ luật. Theo đó, ông Lê Trương Hải Hiếu “đã vi phạm trong việc có quan hệ tình cảm với một phụ nữ và có con chung nhưng chậm báo cáo với tổ chức”. Ban Thường vụ Quận ủy Quận 12 đã quyết định kỷ luật ông Lê Trương Hải Hiếu bằng hình thức khiển trách.

Lê Thanh Hải từng được một số dư luận đồn đoán là “một trong những quan chức cộng sản giàu nhất Việt Nam”. Đặc biệt là mối quan hệ “đặc biệt” giữa ông Hải và bà Trương Mỹ Lan của Tập đoàn Vạn Thịnh Phát.

Lê Thanh Hải cũng từ lâu bị xem là ‘tội phạm’ ghê gớm trong vụ ‘ăn đất’ Thủ Thiêm mà đã đẩy hàng chục ngàn gia đình ở khu vực này vào cảnh bị cướp đất, màn trời chiếu đất và bị biến thành dân oan đất đai bất đắc dĩ, hàng chục năm trời rồng rắn kéo nhau đi khiếu nại tố cáo từ Nam chí Bắc.

Vào thời gian này và đặc biệt sau cái chết của Trần Đại Quang, những nước cờ tuần tự và có vẻ khá chắc chắn của Nguyễn Phú Trọng đang áp sát cựu bí thư Lê Thanh Hải, tương tự những nước đi của ông Trọng đối với “gia tộc Nguyễn Tấn Dũng”.

Chiến thuật trên đang khá tương hợp với đồn đoán trước tết nguyên đán 2018 về “từ sau tết đến Hội nghị trung ương 7, Lê Thanh Hải sẽ bị “đánh””.

Với vụ ‘nhà giáo Việt Nam’ Trương Thị Hiền được công khai trên báo chí nhà nước, trong khi những đàn em của Lê Thanh Hải là Nguyễn Hữu Tín bị bắt, Tất Thành Cang và Nguyễn Thanh Tài có thể bị bắt, số phận Lê Thanh Hải “gia tộc Lê Thanh Hải” đang lộ ra những dấu hiệu khá rõ về sự sụp đổ trong một ngày không còn xa nữa, để cá nhân Lê Thanh Hải gần như chắc chắn phải được kết thúc như một công đoạn đầu tiên để dẫn tới cửa nhà Nguyễn Tấn Dũng.

TẢN MẠN ĐỜI THA HƯƠNG

               Happy THANKSGIVING.

 

TẢN MẠN ĐỜI THA HƯƠNG

Linh mục Giuse Nguyễn Văn Thư

VÀO MÙA TẠ ƠN

Lời mở

Đây chính phải là mùa thật sự đem lại thoải mái, an bình, đi trước một tháng mở đường cho Mùa Giáng Sinh tuyệt vời (mùa mà ai cũng mừng vui với lời hứa từ trời cao “Bình an dưới thế cho người thiện tâm”). Tâm tình biết ơn sau khi thọ ơn, kể ra thì chả có chi cao đẹp và ý nghĩa hơn trong cuộc sống con người.

Được ơn sinh ra làm người là điều trước tiên phải ghi lòng tạc dạ muôn năm. Từ đó biết quý cuộc sống trên trần. Được làm con Chúa và chịu bao nhiêu hồng ân siêu nhiên ngày này qua tháng khác. Liên tục sau đó là trăm ngàn thứ ơn ta nhận từ tay bao nhiêu người khác ngoài xã hội. Ơn đất Mẹ Việt Nam cưu mang ta từ ngày ra đời. Từ trong nhà ơn cha ơn mẹ, ơn chồng ơn vợ, ơn cả với đàn con lũ cháu, móc nối qua bao nhiêu ân tình đầy vơi khôn tả. Ơn cả những người đã về bên kia thế giới mà ta chưa có dịp đền đáp.

Vào mùa này, người Mỹ nhắc ta về tâm tình nhớ ơn và đền ơn. Dân tỵ nạn Việt Nam đã mang một món nợ cao dày với dân tộc Hoa Kỳ. Cho nên, mỗi mùa Tạ Ơn đòi chúng ta mở rộng tâm hồn ra để ôn lại bài học TRI ÂN sâu rộng vô bờ bến.

Chỉ có những dân tộc man rợ bán khai mới sống với con tim vô ơn bạc nghĩa.

Đầu đuôi ngày lễ Tạ Ơn Hoa Kỳ

Câu chuyện xoay quanh dịp nhóm tín đồ ‘Thanh giáo’ gồm 102 người từ Anh quốc, muốn rời xứ qua Mỹ tìm đất tự do thực hành đạo riêng (bị Anh giáo kỳ thị) vào năm 1620. Họ tự gọi mình là nhóm Pilgrims (hành hương) và can đảm ra đi trên chiếc tàu buồm mang tên Mayflower, đổ bộ vào vùng Plymouth của khu thuộc địa New England (tuy vẫn thuộc Anh nhưng không kỳ thị tôn giáo).

Vì đói và lạnh với mùa đông khắc nghiệt đầu tiên, gần một nửa trong số họ đã chết. Nhưng qua sự nhẫn nại cần cù, và nhờ được số thổ dân ‘da đỏ’ giúp đỡ, họ đã thành công trong việc trồng trọt hoa mầu, để rồi vào mùa thu hoạch năm sau (tháng 11) họ đã sung sướng mời những người thổ dân tốt bụng mở đại tiệc ăn mừng và tạ ơn trời đất.

Hơn một thế kỷ sau, năm 1789, tổng thống tiên khởi của Hoa Kỳ đã tuyên bố ngày Tạ ơn chính thức phải được tổ chức vào ngày 26 tháng 11, vừa để mừng quốc gia độc lập khỏi ách cai trị Anh quốc, vừa để nhớ lại biến cố Plymouth đầy ý nghĩa năm nào. Về sau các tổng thống đổi ra ngày thứ năm của tuần lễ thứ tư trong tháng 11. Riêng tổng thống A.Lincoln còn muốn lễ này cũng là dịp  tạ ơn Chúa đã cho chấm dứt cuộc nội chiến Nam Bắc tương tàn, và để kêu gọi tinh thần đoàn kết hòa giải quốc gia. Bây giờ Lễ Tạ Ơn trở thành đại lễ quốc gia. Cũng là lễ đoàn tụ gia đình chính yêu trong năm.

Thật ra các sử gia có trưng ra bằng chứng rằng trước đó đã có các nhóm tới Mỹ tổ chức ngày Tạ ơn, như nhóm Tây ban Nha tới Texas năm 1541 hay Florida năm 1565, hoặc nhóm Âu châu khác tại Virginia vào năm 1619. Nhưng vụ tàu Mayflower vẫn nổi bật hơn cả, nên được đề cao hàng đầu.

Trên bàn ăn tối ngày lễ này, món chính vẫn thường là gà tây (gà lôi) được nhồi bằng đủ thứ hầm bà lằng vào bụng, trước khi đem quay trong lò : hành tây, vụn bánh mì, cà rốt, cần tây v.v…Kèm theo là món khoai tây xay nhuyễn, luộc cùng tỏi và bơ, có khi thêm thịt ba chỉ vụn. Hầu hết các gia đình cũng không quên làm món đậu đũa đút lò, được trộn với canh nấm pha sữa, rồi cộng với hành chiên. Họ cũng đòi phải có món bắp ngô non đút lò, thường đi chung với một ít cải bắp con, cùng thêm chút mứt cranberry. Có nhà còn đòi cho bằng được món khoai lang ‘mật’ vừa ngọt vừa thơm (hay đi kèm với ít kẹo xốp màu trắng (marshmallows). Cuối cùng là phần tráng miệng với bánh bí ngô (pumkin pie) truyền thống không thể thiếu.

Dân chúng ăn tiệc mừng, chia sẻ cho nhau những tâm tình trìu mến thiết tha. Cha mẹ dâng lời tạ ơn sốt sắng vào đầu bữa tiệc, nhắc bảo con cái sống tinh thần biết ơn ngày lẫn đêm. Đồng thời mở nhạc nghe những bài ca ý nghĩa, mang theo những lời tạ ơn Chúa đã thương dành nhiều ân huệ cho dân chúng và quốc gia Hoa Kỳ, như bài ca ‘America the beautiful’ : America, God shed His grace on Thee, and crown Thy good with brotherhood, from sea to shining sea ! Thật tuyệt vời !

Lễ Tạ ơn với người tỵ nạn Việt Nam.

Sau tháng tư đen năm 1975, già trẻ lớn bé xanh mặt chạy trốn giặc Cộng từ Bắc vào chiếm miền Nam. Dù công an biên phòng hung dữ, dù hải tặc đe dọa tứ bề, dù bão táp phong ba trên biển cả, bà con ta cứ liều mình ra đi tìm tự do (ai nấy cùng chuyền tai nhau “ngay cả cột đèn đường nếu có chân đi được cũng tìm cách ra đi”). Và nhờ ơn trời đất, với phúc đức ông bà để lại cho ghe thuyền được xuôi chèo mát mái, ta và gia đình đã không phải vùi thây dưới lòng nước sâu, hay chết đói chết khát giữa đại dương vô tình, nhưng cuối cùng may mắn tới được miền đất ‘lành’ cho chim đậu. Riêng với những đấng bị lên án là ‘ngụy quân ngụy quyền’ mà đã nhanh chân lên tàu trước ngày 30 tháng 4, thoát được cảnh bị ‘Bác và Đảng’ thưởng công với cái ‘học bổng cải tạo’ dài hạn mút mùa lệ thủy, ta không còn nhớ gì sao ? Bây giờ phải nghĩ chi đây ?

Không muốn nghĩ cũng phải nghĩ. Tuy cũng tổ chức ăn mừng như mọi người, nhưng cái tinh thần Lễ Tạ Ơn mới cần ghi nhớ. Phải tự vấn lương tâm coi mình đã đền đáp như thế nào. Đôi khi ta còn phải tìm dịp nói lên lời Tạ Lỗi vì mình đã quá vô tình. Khi đọc mấy giòng chữ này, xin mấy quý vị khó tính đừng đóng vai cố Hồng trong truyện ‘Số đỏ’ của Vũ trọng Phụng mà la toáng lên “Biết rồi. Khổ lắm. Nói mãi” nhé ! Chúng mình cùng chia sẻ tâm tình chân thành, chứ không phải chỉ bàn vớ vẩn hay lan man chuyện ‘nam tào bắc đẩu’ đâu.

Trước hết phải cám ơn các nước ‘tạm dung’ cho chúng ta trú chân : Mã Lai, Thái Lan, Nam Dương, Phi luật Tân…Dù đôi lúc họ có làm khó dễ ít nhiều, âu cũng chỉ vì lo cho chuyện ‘an ninh’ quốc gia của họ : biết đâu nhiều cán bộ CS len lỏi vào phá hoại, cùng với những băng đảng trộm cướp lợi dụng thời cơ ?

Cám ơn bao cơ quan thiện nguyện Liên hiệp quốc, cũng như các tổ chức từ thiện cứu trợ lớn nhỏ, các chương trình vớt nạn nhân vượt biển, cùng các nhà tranh đấu nhân quyền gần xa, hỗ trợ giúp chúng ta mau tới được miền đất hứa an toàn.

Dĩ nhiên lời Tạ ơn to lớn vẫn là gửi tới các quốc gia đầy lòng nhân ái : Hoa Kỳ, Canada, Úc, Pháp, Anh, Đức, Hòa Lan, Ý đã không ngừng nghỉ mở rộng đôi tay đón tiếp, tìm chỗ ở, kiếm công ăn việc làm để chúng ta có hoàn cảnh và cơ hội được ‘an cư lạc nghiệp’ như hôm nay. Nói tới nói hoài cũng không sao diễn tả cho vừa cho đủ…

Những ngày còn sống trên trại tạm cư, kẻ viết bài này hay được nghe tâm sự của mấy ông bạn, nói rằng ra đi vượt biên sẽ có thể đưa tới 3 kết cục : Một là nuôi cá (đắm tàu), hai là nuôi má (qua Mỹ có thể giúp mẹ ở nhà), ba là má nuôi (bị công an bắt tù và má phải thăm nuôi). Thấm thía làm sao ! Nay ở đây vừa được ăn cá, vừa giúp được má thay vì má phải nuôi !

Với Trời cao cũng như với nhân quần xã hội, giờ đây ta phải học cách đền ơn. Rồi phải biết thương xót đỡ nâng bao kẻ còn khốn khổ hơn mình. Một số tổ chức thiện nguyện người Việt có thói lành : hàng năm tới mùa Tạ Ơn, rủ nhau chuẩn bị đãi các kẻ vô gia cư một vài bữa ăn khá ngon lành. Hoặc quyên góp những món quà như đồ dùng và áo quần cho các gia đình nghèo. Vài tổ chức tôn giáo cũng dành thời giờ đi thăm viếng an ủi những kẻ ‘đơn độc không thân nhân’ trong các viện dưỡng lão…

Cũng nên bảo nhau phải biết bằng lòng với những cái ta hiện đang có, thay vì lúc nào cũng mơ mộng được làm…tỷ phú như ông Bill Gates. Cũng thỉnh thoảng nên cúi đầu mà tạ ơn Trời đã giúp ngăn ngừa ta sống đời phóng đãng bê tha, hay trộm cướp lọc lừa thiên hạ.  Truyện cũ kể về một vị nhân đức lên tiếng với Chúa thế này : ”Con xin đội ơn Chúa, dù con mới bị trộm ghé nhà, nhưng vì con nghèo nên chả mất thứ gì đáng giá, rồi cũng vì con vắng mặt, nên không bị đánh đập hành hung, nhất là cám tạ Chúa vì con chỉ bị ăn trộm, chứ chính mình đã không đi ăn trộm nhà ai…”

Tinh thần tạ ơn còn đòi ta biết xin lỗi và sửa lỗi. Một số người về thăm quê hương thấy có ‘sự cố’ mới khá ngộ : quá nhiều bạn hữu quên mất câu nói ‘Cám Ơn’ và ‘Xin Lỗi’ trên môi miệng. Với hoàn cảnh thác loạn ngày nay, họ chỉ biết có mình mình! Ai cũng phải suy tư: chúng ta thật sự đã bao lần lỗi phạm tới tha nhân, vô tình hay chủ ý, kể cả với những người quá cố. Đây là dịp ta tu sửa lối sống: mẫn cảm hơn với đồng loại, rộng lượng hơn với kẻ yếu đuối. Chỉ có vậy đời ta mới thực sự được an bình.

Tạ ơn vì ta đang còn gia đình thân nhân. Còn công ăn việc làm. Còn chân tay lành lặn. Còn có sức khỏe để sinh hoạt phục vụ nhau. Nhìn xa hơn, hãy tạ ơn những chiến sĩ Việt Nam xưa hy sinh xương máu bảo vệ xóm làng chúng ta được an ninh. Các vị tổ tiên ông bà đã làm gương sống lành thánh, và xây đắp nền tảng đức tin cho mình. Cám ơn các thày cô và ân nhân các cấp giúp ta trưởng thành khôn lớn. Các bác sĩ y tá đã tận tâm giúp mình khi bệnh hoạn yếu đau. Bao bằng hữu khích lệ động viên tinh thần trong nhiều hoàn cảnh. Rồi nếu từng thuộc cộng đoàn dân Chúa, cũng hãy nghĩ tới các vị lãnh đạo tinh thần, các Linh mục Tu sĩ bao năm tận tình dẫn dắt phần thiêng liêng linh hồn…

Cuối cùng hãy cầu nguyện và chúc nhau một mùa Tạ Ơn thật ý nghĩa.

From TU-PHUNG

Nhân ngày Nhà Giáo 20/11: Chút tâm tình gửi vào bụi phấn

Nhân ngày Nhà Giáo 20/11: Chút tâm tình gửi vào bụi phấn

Gioan Lê Quang Vinh

20/Nov/2018

Nhân ngày Nhà Giáo 21/11: Chút tâm tình gửi vào bụi phấn

Lại một ngày nhà giáo nữa đi qua. Những cánh thiệp. Những đoá hoa. Và những gói quà đủ kích cỡ đủ màu sắc. Tôi nhìn thấy những gương mặt hân hoan, của học trò, của thầy cô giáo và những nét âu lo của cả phụ huynh. Khi em gửi cho thầy cô một món quà, em gói trong ấy bao là tình cảm dễ thương và đáng quí. Chính những tình cảm ấy, chứ không phải tự những món quà, là sự khích lệ quí báu để thầy cô còn đủ can đảm đứng trên bục giảng. Hãy thử tưởng tượng, một ngày kia khi không còn tình nghĩa thầy trò, thì có ai còn can đảm chọn nghề giáo?

Nhưng em ơi, cho tôi xin lỗi vì hôm nay khi tôi đã từ chối không nhận món quà của lớp em và lúc đó em có vẻ không vui. Đối với tôi, món quà vẫn là cái gì tốt đẹp bởi vì trong đó có cả một tấm lòng. Nhưng hãy cho phép tôi từ chối, bởi vì tôi đã nhìn thấy nhiều quá, thấy những vất vả nhọc nhằn của bạn bè em, thấy những ánh mắt rụt rè e ngại khi không biết còn đủ tiền đóng vào quỹ lớp hay không. Và tôi cũng thấy những nét âu lo trên vầng trán và trong mắt em, khi mà học phí kỳ một chưa đóng, khi mà chủ nhà trọ đang hỏi tiền nhà, khi chỗ dạy kèm tháng này không có. Vâng, cuộc sống bao giờ cũng đẹp nhưng quả thật cuộc sống không bao giờ là dễ dàng cho những con người đang cố gắng bước đi trong đó. Và tôi, ước mong giúp em tránh đi một chút nhọc nhằn. Và đâu nhất thiết là cứ ngày nhà giáo là phải tặng quà?

Dù sao cũng xin cám ơn em, cám ơn em thật nhiều. 

Nghề giáo là cái nghề lạ lắm. Người ta không làm giàu bằng nghề giáo được cho dù có lúc cuộc sống cũng dễ thở. Không phải một người, hai người nói điều ấy mà đó là kinh nghiệm của lớp lớp người đã đứng trên bục giảng. Nhưng cái lạ không nằm chỗ đó, cái lạ là những ai đã gắn bó với nghề thì cũng như đã gắn bó với một người tình, không dễ gì dứt bỏ. Và nếu có phải vì những éo le của cuộc đời, như một thứ định mệnh, mà phải dứt bỏ nó, thì lòng người ta vẫn phải dằn vặt, tiếc nuối, và không dễ gì thích ứng với nghề mới mà quên đi được những ngày mình cầm phấn đứng trước những ánh mắt khát khao tri thức. Và cái khắc nghiệt cho người đã “trót” làm nghề giáo nằm ở chỗ đó. Có lúc không “dứt” được mà vẫn phải “bỏ”. Lâu lâu đọc một bài báo đặt vấn đề tại sao giáo viên nghỉ việc ai cũng xót xa cho cái khắc nghiệt ấy.

Có một anh bạn tôi là giáo viên giỏi một trường trung học có tiếng ở Sàigòn thập niên 2000. Anh đã quyết định bỏ nghề vì những qui định phi lý và cách ứng xử tệ trong ngành giáo dục. Anh thương yêu học trò và yêu nghề, nhưng anh không muốn làm trái lương tâm mình. 

Và ngày nhà giáo là dịp cho học trò tỏ tấm lòng đối với thầy cô. Tấm lòng học trò là phần thưởng lớn nhất, ánh mắt học trò là khích lệ cao quý nhất mà người thầy, chứ không phải ai khác, nhận được trong mỗi ngày làm việc của mình. Cái níu chân nhà giáo ở lại với bục giảng là ở đó. Thế thì có cần đến ngày nhà giáo không? Vâng, cần, cần ngày nhà giáo như cần một ngày mà người đi sau ngước nhìn người đi trước với sự kính trọng và cám ơn. Sự kính trọng và cám ơn như một mùi hương quí làm cho những bước chân trên đường sỏi đá, của cả thầy lẫn trò, đều dịu đi một chút và đẹp hơn một chút.

Nhưng sẽ là không cần chút nào cả khi đó là dịp để học trò phải tặng những món quà, có khi khá đắt giá, làm nặng thêm đôi vai học trò. Những món quà biểu lộ nhiều tấm lòng. Nhưng có một điều tôi có thể quả quyết mà không sợ sai lầm rằng tấm lòng không bao giờ đồng nghĩa với những món quà. Có những món quà biểu lộ tấm lòng, nhưng không bao giờ là đủ so với tấm lòng người tặng quà. Nếu món quà bằng với tấm lòng thì tội nghiệp tấm lòng quá! Nhiều tấm lòng đẹp mà chẳng cần biểu lộ bằng quà cáp. Và ngược lại, có những món quà lớn mà không hề biểu lộ chút lòng nào. 

Tôi xin được nhắc lại một câu chuyện cách đây ít lâu khi tôi mới đi dạy học. Trên một chuyến xe về Hố Nai, tôi ngồi cạnh một người đàn bà đứng tuổi, bà hỏi tôi: “Cháu làm nghề gì?” Tôi đáp thờ ơ: “Dạ cháu đi dạy”. Bà liền chép miệng: “Tội nghiệp cháu quá”. Tôi đã định nói cũng chẳng tội nghiệp gì lắm đâu bà ạ. Nhưng may mà tôi không lý giải gì cả. Sau này khi tôi học trường Luật, tôi nhớ có thầy kể lại một chuyện cũng gần giống như thế. Người ta nói với thầy là học Luật sao không đi làm luật sư “ngon” hơn (!). Có phải cần có những món quà ngày nhà giáo để an ủi người đã “trót lỡ”!

Chưa hết, ngày nhà giáo sẽ không cần khi mà nhân ngày đó người ta thi nhau khuyến mãi. Quà gói sẵn đủ loại đủ cỡ, có ghi giá đàng hoàng. Từ bông hoa hồng giả cho tới những quần áo thật. Từ cây bút nhẹ như bông cho tới chồng tập nặng như núi. Thầy cô đứng nhìn vào siêu thị là biết ngay mình sẽ có thứ gì trong ngày thiêng liêng ấy. Những bích chương, những quảng cáo. Khuyến mãi nhân ngày nhà giáo, biết là vì nhà giáo hay vì nhà buôn? Nhà tiếp thị giỏi là người biết tìm mọi cơ hội để đánh vào người tiêu dùng. Nhưng chắc cũng cần có một chỗ nào đó cho người ta quyết định theo con tim thì cuộc đời mới đẹp chứ phải không ? Chưa hết. Có những giờ học xong, học sinh thưa thầy (cô) ra ngoài một chút cho tụi em bàn chuyện riêng, mà thầy cô nào cũng biết là “tụi em góp tiền mua quà”. Có thầy cô nào không ái ngại.

Và cũng xin ai làm trong ngành giáo dục hãy tôn trọng học trò. Có một vị có chức quyền ở đại học nọ, khi nghe tôi nói rằng có nhiều sinh viên không đóng học phí được vì nghèo quá, vị đó la lên: “Không có tiền mà bày đặt đi học!”. Tôi bàng hoàng y như chính người bị hạ nhục, và vì quá bất bình, tôi đã phải thốt lên lời hơi nóng nảy. Nhưng cuộc đời này mà tính toán như thế thì buồn quá. Cùng với Francois Sagan, học trò cứ phải nói: “Bonjour, la tristesse” (Buồn ơi, xin chào). Không ít thầy cô khi phải nhận những món quà từ học trò, vừa cảm động vì tấm lòng của họ và vừa lo lắng cho hoàn cảnh của họ

Vậy hãy trả lại cho nhà trường và giáo dục ý nghĩa của nó và hãy giảm bớt đi những gồng gánh ăn theo. Thật ra ngày gọi là nhà giáo cũng chỉ là ngày của một hiến chương của các nước xã hội chủ nghĩa mà thôi, chứ chẳng phải của Việt nam và cũng chẳng phải của thế giới. Nhạc sĩ Vũ Hoàng có phổ nhạc bài thơ Phượng Hồng của Đỗ Trung Quân: “Những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng”. Còn tôi, tôi lại nghĩ đến “những chiếc giỏ xe chở đầy quà cáp” vào ngày 20 tháng 11 và những chiếc xe nặng nề của phụ huynh bươn chải kiếm sống!

Gioan Lê Quang Vinh

Những món nợ khó trả

 

Những món nợ khó trả

Nhà văn Huy Phương

Tạp ghi Huy Phương

(Nhân Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh Người Thương Binh VNCH kỳ 10, được tổ chức tại Nam California)

Sau Tháng Tư, 1975, hằng trăm nghìn người thương binh của miền Nam Việt Nam không thể nào che giấu lý lịch với đôi mắt mù, cái chân cụt và quá khứ đã là một người lính có thành tích chiến đấu chống Cộng Sản ngoài mặt trận. Không còn khả năng làm lụng để kiếm miếng cơm nuôi gia đình và chính bản thân mình, những người này còn phải sống trong không khí lạnh lùng, ngờ vực và khinh rẻ của kẻ chiến thắng không có tình người. Chính phủ, quân đội, đơn vị, cấp chỉ huy, đồng đội không còn, gia đình quyến thuộc không đủ sức cưu mang vì chính họ cũng bị nhận chìm tận cùng dưới đáy xã hội.

Trong xã hội mới, những người thương binh VNCH thật sự đã là “những người bị bỏ quên.”

Đã có những hội đoàn, những tổ chức, những nhóm thiện nguyện cứu đói, cứu nghèo, cứu bệnh tật, cứu gái sa chân, cứu trẻ bị bán ra nước ngoài, cứu già thiếu gạo…

Tôi có cảm tưởng những vùng đất cứu trợ trên đã được chính quyền trong nước cho khai quang, có khi còn giữ “an ninh bãi đáp” cho trực thăng đổ người xuống cứu trợ để đỡ tay đỡ chân cho đảng lo việc trấn áp dân chủ, nhân quyền. Trong khi đó, công việc cứu trợ các thương phế binh VNCH trong một xã hội còn đầy mìn bẫy, hầm hố, thù hận, phải tiến hành lén lút, bí mật hay đột kích gây thêm nhiều trở ngại, khó khăn cho cả phía những người hảo tâm và cả những nạn nhân xấu số này.

Thương phế binh, đáng lẽ là những người mà hải ngoại cần phải nhớ trước tiên, từ khi người sinh viên du học ra nước ngoài giữa lúc chiến tranh trở nên tàn khốc, lúc cấp chỉ huy quân đội miền Nam bước chân lên Đệ Thất Hạm Đội hay đảo Guam, từ khi người vượt biển được đặt chân lên đất liền, từ khi người cựu tù được người ra đón ở sân bay, lại là những người bị quên lãng nhất.

Bà Dương Nguyệt Ánh, chuyên viên chất nổ của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, tác giả trái bom “nhiệt áp” đã nói rằng, là một người tỵ nạn chiến tranh, bà “không bao giờ quên được hình ảnh người lính Hoa Kỳ và VNCH đã từng bảo vệ cho bà có một cuộc sống an toàn ở miền Nam trước đây.” Chúng ta cũng hiểu rằng người lính VNCH thiệt thòi hơn cả sau chiến tranh chính là người thương phế binh hôm nay.

Cô Liên Hương, một bác sĩ trong nhóm Huynh Đệ Chi Binh ở San Jose, cũng như chúng ta đã có mặt tại Hoa Kỳ tự do, no ấm hôm nay sau những ngày “tan hàng” đã hoạt động để cứu giúp “những người bị lãng quên,” vì cô nghĩ rằng cô đã mang ơn những người này, người thương phế binh VNCH:

“Tôi viết thư cho anh hôm nay không phải như một người Việt Kiều xa xứ được ưu đãi trong một đời sống an lành và thoải mái hơn về vật chất lẫn tinh thần đang nghiêng mình xuống với người đồng loại bất hạnh, nhưng tôi viết với tâm trạng của một cô gái năm xưa đã lớn lên yên ổn giữa thành phố Sài Gòn, nhìn tuổi thơ ấu của mình trôi qua dưới ánh hỏa châu và những tiếng bom đạn hằng đêm vẫn vọng về từ một chiến trường xa. Ở đó, bao nhiêu xương máu và nước mắt của cả một thế hệ tuổi trẻ đã đổ xuống để che chở cho những cô gái nhỏ như tôi được tiếp tục bình yên đến trường. Ở đó vẫn có biết bao nhiêu người chiến sĩ như các anh còn ôm tay súng chiến đấu đơn độc với những giờ phút chót, để gia đình chúng tôi có cơ hội xuống thuyền ra đi tìm đến những quê hương hạnh phúc mới bên này bờ biển Thái Bình Dương.”

“Chính với tấm lòng tri ân và ngưỡng mộ đó mà hôm nay tôi thấy cần phải viết cho anh cho các bạn của anh, những lời các anh xứng đáng được nghe nhưng có lẽ đã chưa bao giờ được nghe từ gần 30 năm qua, để các anh hiểu được rằng những hy sinh của mình đã không lãng phí hay vô ích. Những tượng đài có thể bị đạp đổ, nhưng những hình ảnh thần tượng ghi khắc trong lòng sẽ chẳng bao giờ bị xóa nhòa. Chúng ta đã mất mát rất nhiều thứ, những người thương binh như các anh đã mất hết một phần thân thể, tình yêu và tuổi trẻ, và những người Việt tỵ nạn như tôi cũng đã mất hết một nơi chốn dung thân để phải tha hương lưu lạc khắp mọi phương trời. Có một điều ngày hôm nay tôi mong chúng ta sẽ không đánh mất là tình người đến với nhau, để khoảng không gian anh đang sống và hít thở bớt đi niềm lẻ loi và cô độc.”

“Cuối cùng dù tôi không thể gởi nguyên một bài hát về cũng xin cho tôi được tặng anh và những người bạn anh hùng không tên tuổi của anh lời tựa của bài hát ‘You Are My Heroes,’ bởi vì cuối cùng trong cuộc đời này không có điều gì anh hùng và cao thượng hơn là hy sinh cuộc đời mình để cho người khác được quyền sống. Trong mắt tôi mãi mãi không có những người phế binh thương tật mà chỉ có những con người trai anh hùng một thời chọn cho mình con đường đi và và sống đích thực có ý nghĩa nhất.”

Những dòng chữ trên đây của một người con gái, một đứa em hậu phương cũng như tất cả chúng ta đã mang một món nợ không bao giờ trả nổi, món nợ xương máu mà chúng ta đã nương nhờ, vay mượn từ lúc chúng ta được yên ổn ở hậu phương, rất xa mặt trận, và cả đến lúc chúng ta ngoảnh mặt rời quê hương ra đi. Những năm trước, bức thư này đọc trên đài phát thanh ở Bắc California đã làm rơi lệ hằng nghìn người nghe ở hải ngoại, nhưng rồi cơm áo đa đoan, cuộc sống bề bộn, nhiều lúc chúng ta đã quên hẳn hình ảnh người thương phế binh Việt Nam một cách phụ bạc, nhẫn tâm mà đáng ra phải canh cánh ghi nhớ trong lòng.

Ở hải ngoại từ trước đến nay, những quyên góp giúp đỡ cho thương phế binh được đưa xuống hàng thứ yếu sau những chiến dịch dai dẳng cho người nghèo, cho trẻ thất học, cho chùa chiền, thánh thất, cho mổ mắt vá môi… Nếu có lòng, thì cũng với những hoạt động lẻ tẻ do một nhóm người, một tổ chức quy tụ một số thân hữu giúp cho năm bảy gia đình, hay khá hơn là vài trăm thương binh. Chúng ta chưa có được một ngày dành cho thương binh, một chiến dịch rộng lớn như những ngày chúng ta đóng góp cho quỹ kháng chiến, để rồi cuối cùng sự việc chẳng đi tới đâu, khiến lòng tin của hải ngoại mỗi ngày một suy kiệt.

Ẩn mình từ trong những xóm làng xa xôi sống nhờ trên mảnh đất khô cằn khoai sắn, hay bầm dập giữa phố thị với xấp vé số trên tay, thậm chí còn trở thành kẻ hành khất kêu gọi tình thương của người qua đường đâu đó. Nỗi xót xa, tủi nhục ấy bao giờ tiêu tan được, cũng như những nỗi đau sâu thẳm trong tâm hồn họ không bao giờ hết, trong khi qua thời gian làn da nơi chân tay què cụt đã chai đá, những vết thương đã lành. Lớn hơn hết là những người thương phế binh này đã mang mặc cảm là “người đã bị bỏ quên” trên quê hương, nơi mà thù hận chưa nguôi, đối xử vẫn còn phân biệt như những người lính lạc đơn vị bị bỏ lại trên đất địch.

Ôi những vòng hoa chiến thắng ngày nào, những câu hát từ người em gái hậu phương, những mỹ từ và lời xưng tụng người ta đã dành cho anh. Số phận của người lính thất trận đã đổ nhào thêm lên tấm thân cụt què, yếu đuối. Họ sống cuộc đời cay đắng ấy (nếu còn có thể gọi đó là cuộc đời), có người mới hơn 30 năm, có người đã gần hết cuộc đời, thế giới ngày nay của họ có thể là một chiếc giường tre của người bị bại liệt, trên chiếc xe lăn của người què cụt lê lết hay ốm đau, già nua quanh quẩn trên sân nhà.

Thế giới hôm nay của chúng ta so với đời sống thương phế binh ở quê nhà là thiên đường và địa ngục, tương phản giữa ánh sáng và bóng tối.

Dù có san sẻ tới mức nào cũng không lấp đầy nỗi thống khổ, dù bù đắp tới mức độ nào cũng không xứng đáng với sự hy sinh.