CHUYỆN ĐỊNH CƯ

CHUYỆN ĐỊNH CƯ

Trong tháng này, tui tiễn ba gia đình cùa ba người bạn đi định cư ở nước ngoài. Họ đều là những người thành đạt, giàu có ở Việt Nam. Rất thành đạt và tài sản tính đơn vị hàng triệu đô la.

Một bạn là doanh nhân, hai vợ chồng có tài sản khá lớn, nhiều bất động sản trên những khu phố vàng của Sài Gòn. Họ có ba đứa con đang tuổi lớn và đã có hai đứa đang học ở Mỹ. Gia đình anh đi diện EB5 định cư ở Mỹ.

Người thứ hai là một bác sĩ, anh là người thầy thuốc giỏi, từng tu nghiệp nhiều nước trên thế giới, tự hào đã nội trú nhiều bệnh viện lớn ở nước ngoài. Ở Việt Nam anh là bác sĩ có thu nhập khá cao, có biệt thự ở quận 2, có công việc ổn định. Vợ cũng là dược sĩ, có một pharmacie rất đông khách ngay trung tâm Sài Gòn. Anh chị chỉ có một đứa con gái, đang chuẩn bị vào đại học. Gia đình anh đi theo diện người chị vợ bảo lãnh đi Mỹ, hổ sơ chờ đã mười ba năm, từ lúc sự nghiêp anh chị chưa có bao nhiêu.

Người thứ ba là anh bạn học chung trưóng đại học, năm nay vừa đúng bảy mươi tuổi, đã đến tuổi già. Anh này cũng có một đời sống sung túc ở Việt Nam, hồi còn tuổi làm việc, anh là một quan chức ngân hàng, vốn là nghề của anh trước 1975. Hồi đó, sinh viên ngành ngân hàng, tài chánh ở Đại học Vạn Hạnh tốt nghiệp Cử nhân vào năm 1971-1972 đều được nhận vào các ngân hàng với chức vụ cao, một số làm ngay giám đốc các chi nhánh. Anh nằm trong số người được giao làm giám đốc. Sau 75, anh tiếp tục cho đến lúc nghỉ hưu. Nghề nghiệp thế nên cũng có thể gọi anh là giàu, có của ăn của để, có hai thằng con trai, đứa nào cũng thành đạt, một thằng có chức vụ trong ngành ngân hàng của Việt Nam, đưa kia làm chuyên viên tiền tệ ở nhà băng của Anh quốc. Nói tóm lại là thuộc giới thượng lưu ở xứ này. Bây giờ anh lại đi định cư ở Pháp theo diện bảo lãnh của người em.

Ba trường hợp nêu trên chứng minh họ đi định cư không phải vì sinh kế. Trước đây, ngoài lý do chính trị, đa phần ra đi vì đời sống ở Việt Nam thời đấy khổ quá, cả nước đói nghèo, họ đành dứt áo ra đi mong có tương lai sáng sủa, sung túc hơn. Còn bây giờ, như ba người bạn tui đó, họ ở Việt Nam rõ ràng là quá sung sướng về vật chất, họ chẳng thiếu thứ gì. Gia đình sinh hoạt như quý tộc, con cái sống như những hoàng tử và công chúa. Hàng năm họ đi du lịch khắp nơi, ở những khách sạn sang trọng, ăn những thức ăn với giá ngất trời. Nhưng họ vẫn ra đi.

Hỏi chuyện với họ, họ biết ra đi là sẽ gặp không biết bao khó khăn đang chờ trước mắt. Để làm lại một cuộc đời mới trên xứ sở xa lạ không phải là điều dễ dàng. Họ không ảo tưởng về nơi họ sẽ đến, vì họ đã từng du lịch qua đấy nhiều lần. Biết rất tường tận cuộc sống ở đó với những trở ngại khó lường.

Anh bạn bác sĩ bảo rằng anh rất yêu nghề y, nhưng khi định cư, muốn tiếp tục làm nghề, anh phải đi học lại, cũng đã gần qua tuổi năm mươi, ngổi học cũng không phải là điều dễ dàng. Và để sống, anh phải chọn một công việc nào đấy không như ý của mình.

Anh bạn doanh nhân dù có nhiều tiền nhưng để hợp thức hoá số tiền lớn đó cho hợp pháp cũng là điều khó khăn. Cho đến bây giờ, ngày đi đã đến, anh vẫn chưa hình dung con đường phía trước sẽ như thế nào?

Còn anh bạn đồng môn của tui, đã bảy mươi, sẽ chẳng có công việc gì dành cho anh nữa. Tui giỡn với anh thôi thì qua đó chiều chiều đi dạo sông Seine, hay lên đồi Montmartre ngắm mây bay hay ngồi trong khung cửa nhìn đám bồ câu bay lượn, chờ cuối đời nằm trơ trọi ở nghĩa trang xa lạ hay là trở thành một nhúm tro cốt nằm trong ngôi chùa hoặc thả bay trong gió. Anh cười buồn, một nụ cười chấp nhận.

Ai cũng buồn khi sắp rời bỏ quê hương. Ai cũng thấy đọan đường còn lại cũng lắm gian nan. Nhưng ai cũng bảo phải đi. Sức chịu đựng đã lên đến đỉnh rồi. Bởi cuộc sống không chỉ là tiện nghi, là vật chất để thụ hưởng. Mà cuộc sống còn cần phải có không khí để thở, tự do để sống, thoải mái để sinh hoạt. Sống chứ không phải để tồn tại. Sống là phải biết tương lai và tự mình định được tương lai cuộc đời mình. Những người bạn tui cho rằng ở lại là chấp nhận những bất công, những điều chướng tai gai mắt mà bất lực chẳng làm chi được. Xã hội tàn nhẫn quá, con người tàn ác quá. Ở lại là chấp nhận bị đầu độc, không chỉ bị đánh thuốc độc ở thực phẩm, ở hơi thở mà còn bị đánh độc cả tư duy. Chưa kể đất nước này, dân tộc này có còn tồn tại được không trước biết bao âm mưu thâm độc của kẻ thù và sự hà hơi tiếp sức của một bộ phận có quyền lực. Anh bạn già hỏi tui với ánh mắt buồn rầu: Cho thuê đất 99 năm thì nước Việt còn gì? Bạn trả lời tôi đi..

Anh bạn bác sĩ thì bảo không thể cho các con của mình lớn lên với một tâm hồn bệnh hoạn, một nhân cách méo mó và một cách sống giả tạo, dối lừa. Anh hỏi tui: Bây giờ ở Việt Nam, có gì là không láo? Láo tất. Do vậy tôi phải đi để tôi, gia đình tôi, con cháu tôi được sống và nghĩ suy bằng sự thật không dối lừa. Chúng tôi chọn ra đi như một cách phản kháng. Phản kháng trong im lặng. Và đành bỏ lại những thứ mà chúng tôi sẽ không bao giờ làm lại được ở xứ người.

Anh bạn doanh nhân thì bảo rằng, biết con đường trước mặt, sau lưng đầy cứt, thì tại sao không chọn con đường sạch mà đi.

Ở đây, tui chỉ đề cập đến chuyện ba người bạn của tui, tui không muốn nói đến những cán bộ, những người đã từng là quan chức của chế độ, có người từng là tổng biên tập một tờ báo lớn, những người một thời là những người đã từng tham gia hoạt động đấu tranh ở các đô thị miền Nam, họ hiện đang ở đầy xứ Mỹ, tiểu bang nào cũng có. Họ trốn chạy cái gì? Tui đã từng hỏi thế và họ cũng cười buồn. Bỏ qua những tên ăn cắp công quỹ mà trốn chạy. Những người khác đều ôm trong lòng một nỗi thất vọng không nói được.

Mà thôi, mỗi người có một cách để chọn lựa cuộc sống cho mình. Tôi chọn ở lại, các anh chọn đi. Đó cũng là chút tự do mỗi người có được chọn cho mình. Ngày xưa chỉ cần rời làng, đã mang tiếng ly hương, xa quê là nỗi đau. Bây giờ, người ta ồ ạt tìm mọi cách bỏ nước mà đi, có nỗi đau nào hơn cho một dân tộc, nhưng phải chấp nhận thôi. Tất cả các loài hoa đều vươn về phía ánh sâng, có hoa nào chịu chết rũ héo hon trong bóng tối đâu. Và ở trong bóng tối, có ai lại không nguyền rủa bóng tối, ngoại trừ những kẻ đang trục lợi từ bóng tối.

Chúc những người bạn của tôi bình an và có cuộc sống mới như ước mơ ở xứ người.

1.6.2018

DODUYNGOC

From : NguyenNThu

Lễ Tạ Ơn

Lễ Tạ Ơn 

Lm Trịnh Ngọc Danh

Ở Việt nam, thời Nhà Nguyễn, triều đình Huế, trong suốt 79 năm độc lập (1802- 1885), đàn Nam Giao luôn là nơi tổ chức nghi thức Tế Nam Giao đều đặn vào mùa Xuân hàng năm để tạ ơn trời đất cho mưa thuận gió hòa đem lại cơm no áo ấm cho toàn dân.  Đó là lễ tạ ơn của Việt Nam.  Từ năm 1886 đến 1890, không tổ chức lễ tế Nam Giao.  Bắt đầu từ năm 1891, cứ ba năm, vua nhà Nguyễn mới tế lễ Trời Đất ở đàn tế Nam Giao một lần.  Lễ tế Nam Giao cuối cùng của triều Nguyễn là vào ngày 23 tháng 3 năm 1945.  Tuy chỉ đặt hy vọng vào một thế lực thần thiêng là Trời Đất, nhưng dân tộc Việt Nam cũng có tâm tình biết ơn và tạ ơn.  Trước sự bất lực của con người, người dân Việt cũng đã cầu xin: Lạy trời mưa xuống – Lấy nước tôi uống – Lấy ruộng tôi cày – Lấy đầy bát cơm – Lấy rơm đun bếp.

Và trong quan hệ giữa người với người, người Việt cũng có những nét văn hóa biểu lộ tâm tình biết ơn người qua tục ngữ ca dao: “Uống nước nhớ nguồn.  Ăn quả nhớ kẻ trồng cây.  Ăn khoai nhớ kẻ cho dây mà trồng.”

Trên đất nước Hoa Kỳ, hằng năm vào ngày thứ năm tuần thứ tư của tháng 11, cả nước tưng bừng mừng lễ Tạ Ơn (Thanksgiving), một ngày quốc lễ.  Sau đây là đôi nét về nguồn gốc ngày lễ ấy:

Giống như tàu Noe ngày xưa, vào ngày 6 tháng 9 năm 1620, có 102 người gồm thủy thủ, đàn ông, đàn bà và trẻ con bước lên tàu Mayflower rời Anh Quốc vượt đại dương để đi tìm một vùng đất mới.  Họ là “những người hành hương” (Pilgrims) ra đi vì nỗi khát vọng tìm một vùng đất mới cho tự do tôn giáo.  Họ đi khắp nơi, và cuối cùng đã cặp bến Plymouth Rock, Massachusetts vào ngày 11 tháng 12 năm 1620.

Mùa đông đầu tiên, thời tiết khắc nghiệt, thực phẩm thiếu thốn và bệnh dịch hoành hành đã cướp đi 46 sinh mạng.  Những người sống sót nhờ ăn thịt gà tây hoang và bắp ngô do người dân Da Đỏ cung cấp.  Thổ Dân rất thân thiện và tận tình giúp đỡ trong cuộc sống mới bằng cách dạy cho họ trồng tỉa, săn bắn theo phong tục địa phương.

Được sự hướng dẫn của một người Da Đỏ tên là Squanto, vào mùa Xuân và mùa Hè năm 1621, bắp lên tươi tốt hứa hẹn một vụ mùa no nê.  Mùa màng đã gặt hái xong, thực phẩm dư thừa cho cả mùa Đông.  Họ quyết định tổ chức một ngày “Hội Ngày Mùa” (Harvest Festival) để tạ ơn Thượng Đế  đã cho họ sống sót qua mùa đông đầu tiên trên xứ lạ.  Đó là ngày lễ Tạ Ơn đầu tiên trên đất Hoa Kỳ vào đầu tháng 11 năm 1621.

Thực phẩm chính trong ngày lễ Tạ Ơn này gồm: bắp, bí đỏ, chim, vịt, ngỗng và gà tây.  Khách mời là Thổ Dân.  Tộc trưởng Massasoif đã dẫn 90 dũng sĩ đến dự và còn mang biếu thống đốc của nhóm người Hành Hương lúc bấy giờ là Bradford năm con nai.  Họ ăn uống vui chơi suốt tuần.

Lịch sử ngày lễ Tạ Ơn của người Mỹ cũng có nhiều thăng trầm nổi trôi theo vận nước.  Các tiểu bang thuộc địa đầu tiên không thống nhất được ý kiến chung về ngày lễ Tạ Ơn.  Khi cuộc chiến giữa các di dân Mỹ và đế quốc Anh xảy ra, và George Washington thoát khỏi cuộc bao vây ở Valley Forge, ông đã tuyên bố ngày lễ Tạ Ơn quốc gia vào ngày 26 tháng 11 năm 1789.

Mãi đến năm 1863, Tổng thống Abraham Lincoln thấy chiến tranh đã đến hồi kết thúc, nên chỉ định lấy ngày thứ năm cuối cùng của tháng 11 làm ngày lễ Tạ Ơn cho toàn quốc.  Nhưng chẳng may ông bị ám sát.  Andrew Johnson lên làm tổng thống lại duy trì truyền thống cũ, nhưng đổi lại ngày thứ năm tuần lễ thứ tư của tháng 11 làm ngày lễ Tạ Ơn.  Rồi trong khoảng thời gian từ năm 1939 đến 1941, Tổng thống Franklin Roosevelt đã chỉ định lấy ngày thứ năm của tuần lễ thứ ba của tháng 11 làm ngày lễ Tạ Ơn.  Nhưng lần này ông Roosevelt bị các thương gia và các đảng viên đảng Cộng hòa chống đối dữ dội, cho rằng tổng thống đã đi ngược lại truyền thống cũ.  Hai năm sau, tổng thống Roosevelt rút lại quyết định cũ và quyết định lấy ngày thứ năm tuần thứ tư của tháng 11 làm ngày lễ Tạ Ơn cho toàn quốc mãi cho đến ngày hôm nay.

Lễ Tạ Ơn mang một ý nghĩa sâu xa.  Con người có thể khác nhau về tôn giáo, chúng tộc, màu da nhưng đều có tâm tình biết ơn và tạ ơn.  Đối với người Kitô giáo nói riêng và đối với nhân loại nói chung, tạ ơn Thiên Chúa là một tâm tình thái độ phải có đối với Đấng Sáng Tạo vũ trụ đã hằng thi ân cho con người.

Nhân dịp mừng lễ Tạ Ơn, chúng ta có dịp để xét lại tâm tình, thái độ biết ơn tạ ơn Thiên Chúa, tạ ơn đời và tạ ơn người.

Trước hết đối với Thiên Chúa,thánh Luca có thuật lại một câu chuyện như sau: “Trên đường lên Giêrusalem, Đức Giêsu đi qua biên giới giữa hai miền Samari và Galilê.  Lúc Người vào một làng kia, thì có 10 người phong hủi đón gặp Người.  Họ dừng lại đàng xa và kêu lớn tiếng: “Lạy Thầy Giêsu, xin dủ lòng thương chúng tôi!”  Thấy vậy, Đức Giêsu bảo họ: “Hãy đi trình diện với các tư tế.”  Đang khi đi thì họ được sạch.  Một người trong bọn, thấy mình được khỏi, liền quay trở lại và lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa.  Anh ta sấp mình dười chân Đức Giêsu mà tạ ơn.  Anh ta lại là người Samari.  Đức Giêsu mới nói: “Không phải cả mười người đều được sạch sao?  Thế thì chín người kia đâu?  Sao không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này?”  Rồi Người nói với anh ta: “Đứng dậy về đi! Lòng tin của anh đã cứu chữa anh” (Lc 17:11-19).

Chín người được ơn chữa khỏi nhưng chỉ có một người trở lại tạ ơn Thiên Chúa.  Lòng biết ơn, tạ ơn coi bộ ít ỏi!  Thực tế cuộc sống của chúng ta cũng nói lên thực trạng đó.  Ngày xưa dân Israen được Thiên Chúa dìu đắt, nâng đỡ bao bọc để đi về miền đất hứa, thế nhưng họ vẫn không thật lòng biết tạ ơn Thiên Chúa, ngược lại còn phản lại những gì Ngài đã làm cho họ.

Phải tạ ơn Thiên Chúa, vì trong cuộc sống, chúng ta đón nhận không biết bao ân huệ của Thiên Chúa, nhưng chúng ta lại không nhận ra hay không muốn nhận ra những ân huệ ấy khi chúng ta tự xem những thành quả của công việc mình làm là do tài sức của mình.  Có khi chúng ta nghĩ những gì Thiên Chúa làm cho con người là việc Ngài phải làm.  Như thế là vô ơn!

Phải biết ơn người, biết ơn đời, vì trong cuộc sống của chúng ta hôm nay là kết quả của bao nhiêu người đã hy sinh, đóng góp làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn.  Chúng ta chịu ơn biết bao nhiêu người từ tổ tiên ông bà cha mẹ, bạn bè, người thân, những nhà khoa học, văn nghệ sĩ… đến những người vô danh đã tô đẹp cho cuộc sống hôm nay.

Lễ Tạ Ơn đối với chúng ta, những người Việt tị nạn trên đất nước Hoa Kỳ, là dịp để chúng ta nhìn lại cuộc hành trình gian khổ để đi tìm tự do, để tạ ơn Thiên Chúa đã cho chúng ta có được cuộc sống hôm nay, để tạ ơn đất nước Mỹ và người Mỹ đã cưu mang chúng ta.

Mừng lễ Tạ Ơn mà chỉ nghĩ đến du lịch, tiệc tùng, đi mua sắm, xem football mà không sốt sắng tham dự Thánh lễ Tạ Ơn để tạ ơn Trời, tạ ơn người, tạ ơn đời là một thiếu sót rất lớn vậy!

Lm Trịnh Ngọc Danh

 **************************************

Có những lúc trong đời ta quên lãng

Những phước lành mà Chúa đã ban cho

Mãi bon chen, mãi vất vả âu lo

Chuyện cơm áo, chuyện hơn thua cuộc sống

 Ta chưa hiểu, tạ ơn là hy vọng

Là giục lòng, là tiếng nói đức tin

Là lời ca, rung động cõi tâm linh

Là tiếng hát, là vần thơ chúc tụng

 Thơ Đa-vit, tạ ơn trong biến động,

Giữa muôn ngàn thử thách đang bủa vây

Vẫn hoan ca, cảm tạ Chúa đêm ngày 

Lòng tin quyết, đem thành công đắc thắng

 Chúa Giê-su, trong đêm dự tiệc thánh

Ngài dâng lời cảm tạ biết ơn Cha

Bánh vỡ ra, như thịt máu chan hoà

Thành mô thức, hiến dâng ơn cứu rỗi

 Chúa cảm tạ, khi tang gia bối rối

Khi lệ buồn, Chúa khóc với Ma-ry

La-za-rô, sống lại, đã bước đi

Ban hy vọng, nguồn vui mừng khôn tả

 Trong Đức tin, chúng ta cần cảm tạ

Về ơn lành, cứu rỗi Chúa đã ban

Về tình yêu, về chăm sóc, bảo toàn

Về an ủi, về bao che, dẫn dắt 

Hãy tạ ơn, khi bình minh chim hót

Hãy tạ ơn, khi lá rụng hoàng hôn

Hãy tạ ơn, khi biển nổi sóng cồn

Khi hoa nở, trời thanh trong gió mát 

Hãy cảm tạ, cùng trăng sao trời đất

Hát reo mừng, chúc tụng Đấng đại năng

Hãy hân hoan, ca ngợi Chúa vĩnh hằng

Được tôn thánh, hiển vinh ngàn muôn thuở.

 Thanh Hữu

From: Langthangchieutim

Thân phận “phản động”

Ngẫm lại cũng buồn…..😔😔😔😔

Thân phận “phản động”

– Khi con bạn bị 231 cái tát, “phản động” lên tiếng để đòi công lý cho con bạn.
– Khi Formosa đầu độc biển, “phản động” kêu gào để nạn nhân được bồi thường.
– Khi đất Thủ Thiêm bị cướp, “phản động” tố cáo để tiếng nói của dân oan được lắng nghe.
– Khi tài xế bị BOT bóc lột, “phản động” đồng hành và ủng hộ.
– Khi nhà trường lạm thu, “phản động” lên tiếng để bênh vực phụ huynh và học sinh.
– Khi con bạn bị buộc uống nước giặt dẻ lau bảng, “phản động” la hét để kẻ vô lương phải trả giá.
– Khi giá xăng tăng vô lý, “phản động” tố cáo để bảo vệ quyền lợi cho chính bạn.
– Khi tướng tá công an bảo kê đường dây đánh bạc, làm tan nát bao gia đình, “phản động” lên tiếng đòi công lý được thể hiện.
– Khi CSGT mãi lộ, “phản động” share tin tức để sự thật được phơi bày.
– Khi Quốc Hội định thông qua Luật Đặc khu, “phản động” la hét để bảo vệ chủ quyền tổ quốc.
Khi… khi… và rất nhiều khi khác nữa…
NHƯNG
Khi “phản động” bị bắt, giam tù, hành hạ vì đã “phản động”, mọi người im lặng và xa lánh.
Chỉ có số “phản động” còn lại tiếp tục đấu tranh cho số “phản động” đang ở tù!

Fb Anthanh Linhgiang

Image may contain: 4 people, people standing and outdoor

Ước muốn cuối cùng của một tử tù sắp ra pháp trường

Duc Thong DO shared a post.

 

Image may contain: 2 people, people standing

Viet Tran

Ước muốn cuối cùng của một tử tù sắp ra pháp trường

Một tử tù đang chờ thi hành án, anh cầu xin một điều ước cuối cùng là một cây bút chì và một tờ giấy. Sau khi viết cho một vài phút, anh nhờ nhân viên bảo vệ nhà tù gửi giúp bức thư này cho người mẹ ruột của mình.

Trong thư anh viết …

Mẹ, nếu có công lý trong thế giới này, con và mẹ nên bị kết án từ hình cùng nhau. Mẹ cũng có tội cũng như con vì những gì con đã làm.

Mẹ hãy nhớ lại đi, khi con ăn cắp chiếc xe đạp của thằng bé gần nhà. Mẹ đã giúp con giấu chiếc xe đạp đó đi để bố không nhìn thấy nó.

Mẹ có nhớ lần con lấy trộm tiền từ ví của người hàng xóm không? Mẹ đã đi siêu thị mua sắm cùng với con.

Mẹ có nhớ ai đã bênh vực con khi con cãi lại bố đến nỗi bố phải bỏ đi không? Bố chỉ muốn sửa dạy con vì con đã gian lận trong bài thi và cuối cũng là con phải bị đuổi học.

Mẹ ơi, lúc đó con chỉ là một đứa trẻ, không lâu sau con đã trở thành một thiếu niên hư nghịch và bây giờ con đang là một tử tù chờ thi hành án.

Mẹ ơi, lúc đó con chỉ là một đứa trẻ con cần được bao biện, nhưng cái thực sự con cần là được sửa trị.

Nhưng thôi, con tha thứ cho mẹ! Con chỉ muốn viết thư này để nó có thể đến được nhiều người khác đang làm cha làm mẹ, với hi vọng rằng, họ có thể nhận ra điều tạo nên người tốt kẻ xấu trên thế giới này là sự giáo dục.

Cảm ơn mẹ đã cho con cuộc sống và cũng đã giúp con đánh mất nó.

Đứa con tử tù của mẹ.

“Giáo dục là vũ khí mạnh nhất mà bạn có thể sử dụng để thay đổi thế giới.”

Năng lực xã hội

Image may contain: 1 person, smiling, eyeglasses and closeup
Kimtrong Lam to Lương Văn Can 75.

Năng lực xã hội

Thứ tư, 7/11/2018,

Tôi sinh ra và lớn lên ở nông thôn miền Trung. Trong điều kiện còn chiến tranh, khó khăn nhiều mặt, một học sinh nông thôn miền Trung mà được học hết bậc Tú tài và vào được Sài Gòn để vừa đi làm vừa học đại học là rất may mắn.
Ở Sài Gòn vài tháng, tôi lại gặp một cái may định mệnh là ngẫu nhiên đọc được thông báo của Đại sứ quán Nhật về việc tuyển sinh du học với học bổng của Chính phủ Nhật Bản. Cuộc đời tôi đã sang một bước ngoặt lớn, một may mắn mà tôi chưa bao giờ mơ tới.

Tháng 4 năm 1968, tôi sang Nhật du học. Lúc đó tôi dự định học xong đại học hay nhiều lắm là xong bậc tiến sĩ sẽ về nước với hy vọng đất nước khi ấy đã hết chiến tranh, mọi người nỗ lực góp phần vào việc phục hưng xứ sở. Nhưng rồi thời thế đưa đẩy, tôi đã ở lại Nhật Bản cho đến ngày nay.

Dù không phải là con đường đã chọn ban đầu nhưng nơi đến cũng mở ra nhiều cơ hội. Là người Việt, tôi yêu quý Việt Nam, nay lại có thêm một đất nước để yêu mến. Người bạn đời của tôi cũng yêu mến Nhật Bản, yêu thích văn học Nhật Bản, đã và đang dịch nhiều tiểu thuyết, truyện ký Nhật Bản sang tiếng Việt.

Khi ra đi tôi chưa đầy 19 tuổi. Chiến tranh và điều kiện kinh tế không cho phép nên tôi chỉ quanh quẩn trong phạm vi nhỏ hẹp ở làng xóm, trường học. Vào Sài Gòn cũng không đi đâu xa, chỉ quanh quẩn ở nơi trọ, nơi làm việc và đại học. Trong hoàn cảnh bận rộn đó, ý thức về Việt Nam rất ít. Nhưng khi rời xa quê hương, tự nhiên tôi nhớ và suy nghĩ nhiều về đất nước.

Ngoài lòng tự hào dân tộc về một nước Việt có nền văn hóa thống nhất, lịch sử nhiều ngàn năm dựng và giữ nước, điều khắc sâu vào tâm tư tôi là quê hương mình nghèo quá. Tôi biết nhiều nhạc khúc ca tụng đồng quê nhưng cũng nói lên cuộc sống nghèo khó như “Nắng lên xóm nghèo”, “Quê nghèo”, “Tình nghèo”… Tôi mong chiến tranh chấm dứt nhanh, Việt Nam phải bước sang giai đoạn thoát nghèo và phát triển.

Tôi sang Nhật du học tháng 4 năm 1968. Lúc đó Nhật Bản kỷ niệm 100 năm Minh trị Duy tân và đang trong thời kỳ phát triển ngoạn mục, năm ấy cũng đánh dấu mốc Nhật vượt Tây Đức trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Sự kiện này làm tôi quan tâm, muốn học về kinh nghiệm phát triển của Nhật.

Tôi đã học về kinh tế, nhất là kinh tế phát triển tại Nhật Bản và thấy đó là điều rất ý nghĩa. Nhật Bản là nước đi sau trong trong dòng thác công nghiệp của thế giới, đã tích cực du nhập công nghệ, luật lệ, tổ chức hành chính, tri thức quản lý từ các nước tiên tiến Âu, Mỹ và đã thành công trong việc đuổi kịp các nước đi trước. Có rất nhiều nghiên cứu về sự thành công của Nhật, riêng tôi đã thử tìm một nguyên nhân tổng hợp nhất để có thể tham khảo được cho các nước đi sau Nhật. Tôi tìm ra một từ khóa để chỉ nguyên nhân đó: Năng lực xã hội.

Đó là năng lực và tố chất của những nhân tố cấu thành xã hội, cụ thể là chính trị gia, quan chức, lãnh đạo kinh doanh, trí thức và tầng lớp lao động. Mỗi nhân tố cấu thành phải có những tố chất nào để thúc đẩy kinh tế phát triển? Dĩ nhiên tố chất quan trọng của chính trị gia là năng lực lãnh đạo, của quan chức là năng lực quản lý hành chính, của giới kinh doanh là tinh thần doanh nghiệp. Nhưng trong trường hợp Nhật Bản, không phải chỉ có các tố chất đó.

Tôi nghiệm thấy rằng tố chất chung nhất của chính trị gia, của quan chức, của nhà kinh doanh Nhật Bản là lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc và phải là những người có văn hóa, có giáo dưỡng. Đặc biệt trong thời đại Minh Trị và thời kỳ phục hưng và phát triển hậu chiến, những tố chất đó biểu hiện mạnh mẽ nhất.

Tôi chỉ xin đơn cử trường hợp nhà kinh doanh. Thông thường thì nhà kinh doanh phát huy tinh thần doanh nghiệp để mưu tìm lợi nhuận chân chính. Tinh thần doanh nghiệp – entrepreneurship – thường được định nghĩa là tinh thần mạo hiểm và năng lực cách tân công nghệ, tích cực khám phá thị trường, ứng dụng công nghệ để làm ra các sản phẩm và dịch vụ cạnh tranh, đáp ứng nhu cầu của thị trường.

Nhưng những nhà kinh doanh tiêu biểu của Nhật không phải chỉ có thế. Hầu hết những nhà sáng lập những công ty tiêu biểu của họ hiện nay đều xuất phát từ lòng yêu nước, từ trách nhiệm xã hội.

Lấy trường hợp Sony, một trong những công ty đại biểu của Nhật ngày nay. Trong buổi lễ thành lập công ty vào năm 1946, bài diễn văn của Ibuka Masaru, người đồng sáng lập công ty, đã gây xúc động lòng người. Ông nói: “Ta phải nỗ lực đem công nghệ góp phần vào việc phục hưng tổ quốc của chúng ta”. Giữa cảnh hoang tàn đổ nát một năm sau chiến tranh, thái độ của những người có trách nhiệm trong xã hội đã gây phấn chấn và kích thích mọi người hăng hái tham gia vào việc phục hưng đất nước.

Với năng lực xã hội như thế, Nhật Bản đã theo kịp các nước Âu Mỹ. Thật ra thời trước Thế chiến thứ hai, Nhật đã theo kịp Tây phương trong một số ngành, lĩnh vực, nhưng phải đợi đến thập niên 1960, 1970, bằng một giai đoạn phát triển cao độ, Nhật Bản mới hoàn toàn theo kịp Âu Mỹ. Giai đoạn phát triển cao độ này, bắt đầu giữa thập niên 1950 – mỗi năm phát triển trung bình 10% và kéo dài tới 18 năm – đã đưa nước Nhật thành một cường quốc kinh tế. Nhiều người nói đó là giai đoạn phát triển thần kỳ, có nhà nghiên cứu đã nói “6.000 ngày làm thay đổi nước Nhật”.

Gần đây tôi khám phá ra một điểm mà tôi thấy thú vị là kinh tế Việt Nam hiện nay rất giống với đêm trước của thời đại phát triển thần kỳ của Nhật Bản. Giữa thập niên 1950, dân số Nhật cũng khoảng 90 triệu, cơ cấu kinh tế về sản xuất, xuất khẩu cũng như sự phân bổ lao động rất giống Việt Nam ngày nay. Nhưng từ sau đổi mới, Việt Nam tăng trưởng trung bình 6,5% mỗi năm và chưa có giai đoạn phát triển cao độ. Tôi rất mong Việt Nam sớm muộn cũng sẽ có một thời đại như Nhật Bản.

Thời trung học tôi đọc nhiều tiểu thuyết trong Tự lực văn đoàn. Trong một truyện dài, Nhất Linh đã để cho nhân vật chính của mình nói về lòng yêu nước mà tôi thấy rất thích hợp trong giai đoạn chưa phát triển của Việt Nam: “Biểu hiện cho đất nước không phải là những bậc vua chúa hay danh nhân mà là đám dân thường không tên không tuổi. Dân là nước, yêu nước là yêu chung đám thường dân, nghĩ đến sự đau khổ của đám thường dân”.

Cho đến bây giờ, tôi vẫn thấy đây là định nghĩa về lòng yêu nước rất đúng đắn.

Trần Văn Thọ 
(Bài viết trích từ Diễn từ của Giáo sư Trần Văn Thọ tại Lễ nhận huân chương Thụy bảo Tia vàng của Thiên hoàng Nhật Bản, ngày 15/8/2018)

LỜI NGUYỆN XIN TĨNH LẶNG 


LỜI NGUYỆN XIN TĨNH LẶNG 

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Hãy làm thinh và biết Ta là Đức Chúa.

Kinh thánh quả quyết với chúng rằng nếu chúng ta làm thinh thì sẽ biết Chúa, nhưng có được sự lặng yên thì nói dễ hơn làm.  Như Blaise Pascal từng nói, “Mọi khốn khổ của con người là do chẳng ai có thể ngồi yên trong một tiếng đồng hồ.”  Đạt được sự tĩnh lặng có vẻ là việc quá tầm chúng ta, và như thế chúng ta gặp một song đề: chúng ta cần tĩnh lặng để tìm Chúa, nhưng cần Chúa giúp để  tìm

sự tĩnh lặng.  Nghĩ như thế, tôi xin đưa gởi gắm các bạn một lời nguyện xin sự tĩnh lặng. 

Lạy Thiên Chúa của tĩnh lặng…

Xin làm tĩnh lặng những bồn chồn tuổi trẻ của con, tĩnh lặng cơn đói khát cứ ập vào con, cơn đói khát muốn nối kết với mọi người, muốn thấy và thưởng nếm mọi thứ, cơn đói khát khiến con mất bình an những buổi tối cuối tuần.  Xin tĩnh lặng những giấc mơ tự đại muốn mình nổi bật với người khác.  Xin cho con ơn sống hài lòng hơn với bản thân con.

Xin tĩnh lặng cơn bồn chồn khiến con thấy mình quá nhỏ bé.  Xin cho con biết rằng đời con là đủ, và con không cần đòi hỏi về mình, dù cho cả thế giới đang cố lôi kéo con làm thế với vô vàn những hình ảnh tiếng động khắp nơi.  Xin cho con ơn sống bình an trong cuộc đời mình. 

Xin làm tĩnh lặng tính dục của con, chỉnh đốn những khao khát bừa bãi, dục vọng của con, nhu cầu không ngơi muốn được thân mật hơn nữa của con.  Xin tĩnh lặng và chỉnh đốn những dục vọng trần tục của con mà không cần phải xóa bỏ chúng đi.  Xin cho con biết nhìn người khác mà không phải với con mắt tình dục ích kỷ. 

Xin tĩnh lặng những lo âu, trăn trở của con và đừng để con lúc nào cũng sống ngoài giây phút hiện tại.  Xin cho con biết ngày nào có mối lo của ngày ấy.  Xin cho con ơn biết rằng Chúa đã gọi con trong yêu thương, viết sẵn tên con trên thiên đàng, và con được tự do sống mà không cần lo lắng. 

Xin tĩnh lặng nhu cầu muốn bận rộn luôn mãi của con, muốn kiếm việc gì đó để làm, muốn lên kế hoạch cho ngày mai, muốn hoạt động mọi phút giây, muốn tìm cái gì đó để lấp đầy khoảng thinh lặng.  Xin cho con biết thêm tuổi thêm khôn ngoan.  Xin làm nguôi đi những cơn giận âm ỉ vô thức của con vì thấy quá nhiều mong muốn của mình chưa thành sự.  Xin tĩnh lặng sự chua cay vì thất bại của con.  Xin giữ con khỏi ghen tương khi con cay đắng chấp nhận những giới hạn của cuộc sống mình.  Xin cho con ơn chấp nhận những thất bại và hoàn cảnh của mình. 

Xin tĩnh lặng nỗi sợ chính mình, nỗi sợ trước những thế lực tăm tối đang đe dọa con trong vô thức.  Xin cho con can đảm để đối diện với bóng tối cũng như ánh sáng của chính mình.  Xin cho con ơn đừng sợ sự phức tạp của mình.

Xin tĩnh lặng nỗi sợ bẩm tại của con là sợ mình không được yêu thương, sợ con không xứng đáng để yêu.  Xin làm tĩnh lặng sự hoài nghi dằn vặt rằng con luôn là kẻ ngoài cuộc, rằng cuộc sống thật bất công, rằng con không được tôn trọng và thừa nhận.  Xin cho con ơn biết rằng con là con yêu dấu của Chúa, Đấng yêu thương con vô điều kiện.

Xin tĩnh lặng trong con nỗi sợ vô cớ đối với Chúa, để con đừng thấy Chúa xa cách và đáng sợ, mà thay vào đó là nhìn thấy Chúa nồng ấm và thân thiện.  Xin cho con ơn liên kết với Chúa thật hồn nhiên, như một người bạn mà con có thể chuyện trò, đùa giỡn, vui vẻ và thân thiết.

Xin tĩnh lặng trong con những suy nghĩ bất dung, về những giận hờn từ quá khứ, những bội bạc, lăng mạ mà con phải chịu.  Xin tĩnh lặng trong con những tội mà chính con đã phạm.  Xin tĩnh lặng trong con những tổn thương, cay đắng và giận hờn.  Xin cho con sự tĩnh lặng từ sự tha thứ, từ con và cho con. 

Xin tĩnh lặng những nghi ngờ, lo lắng về sự hiện diện của Chúa, về lòng trung tín của Chúa.  Xin tĩnh lặng trong con xung lực muốn để lại dấu ấn, muốn tạo nên gì đó bất tử cho bản thân mình.  Xin cho con ơn biết tin tưởng, ngay cả trong tối tăm và nghi hoặc, rằng chính Chúa sẽ cho con sự sống đời đời. 

Xin tĩnh lặng tâm hồn con để con biết Chúa là Thiên Chúa, và cho con biết Chúa đã tạo dựng và gìn giữ mọi hơi thở của con, rằng Chúa yêu thương con cũng như hết thảy mọi người, rằng Chúa muốn cuộc sống chúng con bừng nở, Chúa muốn chúng con hạnh phúc, Chúa yêu thương và chăm lo hết mọi người, rằng chúng con sẽ được an bình trong bàn tay nhân từ của Chúa, ở đời này và đời sau.  Amen! 

Rev. Ron Rolheiser, OMI

From NguyenNThu

Đảng Cộng sản kỷ luật nhà khoa học Chu Hảo: Thiếu trí tuệ, sự diệt vong tất yếu của ĐCS (Kỳ IV)

Đảng Cộng sản kỷ luật nhà khoa học Chu Hảo: Thiếu trí tuệ, sự diệt vong tất yếu của ĐCS (Kỳ IV)

Phạm Đình Trọng

24-11-2018

Tiếp theo kỳ I: Lương tâm và trí tuệ không có chỗ trong nhà nước tham nhũng  —  Kỳ II: Thiếu trí tuệ, tự trở thành nô lệ của ý thức hệ cộng sản — Kỳ III: Ủy ban Kiểm tra Trung ương của ĐCS và tòa án dị giáo của giáo hội

Kỳ IV: Lịch sử ĐCS là lịch sử loại bỏ tinh hoa, tiêu diệt trí tuệ, nô lệ hóa trí thức văn nghệ sĩ thành những trí nô, văn nô

Thời phong kiến, kinh tế Việt Nam hoàn toàn là kinh tế nông nghiệp. Công và thương chỉ có vài phường dệt vải với những khung cửi thủ công. Ở những vùng có núi đá vôi, lác đác vài lò vôi gia đình, nung đá lấy vôi xây nhà. Buôn bán là những gánh hàng xén, vài con thuyền nan chở nông sản của đồng bằng, chở lâm sản của miền núi, chở cá, mắm của miền biển đến phiên chợ quê, đến chốn kẻ chợ. 99% dân số sống bẳng nghề nông và nông nghiệp nuôi sống cả nước. Nông nghiệp ở vị trí hàng đầu trong đời sống kinh tế của xã hội phong kiến nhưng bảng giá trị xã hội lúc đó vẫn đưa kẻ sĩ, đưa trí thức lên cao nhất: Sĩ – Nông – Công – Thương.

Bảng giá trị này bất di bất dịch trong hàng ngàn năm. Mấy ông đồ, mấy thầy giáo làng, vì có chữ cũng được dân hết mực trọng vọng, tôn kính. Dẫn con đến nhà thầy xin học, người dân nói với thầy: Cháu xin đến ăn mày chữ thầy để cháu thành người. Phải có chữ, có trí tuệ mới thành người. Bảng giá trị của xã hội nào trước cộng sản cũng đưa kẻ sĩ lên cao nhất. Chỉ đến thời cộng sản, bảng giá trị này mới bị đảo lộn thành: Công – Nông – Binh – Trí. Trí tuệ đứng sau cùng, đứng sau cả người lính công cụ bạo lực. Còn thương nghiệp bị coi là buôn gian bán lận, kinh tế tư bản, chỉ chạy theo lợi nhuận, bị xóa sổ, loại khỏi đời sống xã hội!

Đảng cộng sản Đông Dương ra đời tháng 2 năm 1930. Chỉ bảy tháng sau, tháng chín, năm 1930 những người cộng sản đã làm cuộc bạo loạn Xô Viết Nghệ Tĩnh đẫm máu để xóa sổ bảng giá trị Sĩ – Nông – Công – Thương khi những người cộng sản kích động, tập hợp những người nông dân, tay cầm gậy gộc giáo mác, miệng gào thét: Trí, phú, địa, hào đào tận gốc, trốc tận rễ, tràn vào huyện đường, tỉnh đường, tràn vào nhà giầu, xông cả vào nhà thầy giáo, đập phá tài sản, lùng bắt trí, phú, địa, hào lôi ra giết.

Quân bạo loạn kéo đến huyện đường Nghi Lộc, Nghệ An. Trong huyện đường có một đội lính lệ hơn ba mươi quân bảo vệ an ninh trong huyện nhưng tri huyện Tôn Thất Hoàn không đưa quân ra đối đầu với những người nổi dậy sẽ gây đổ máu. Ông cùng một viên lục sự tay không ra gặp những người nông dân. Quan huyện Nghi Lộc Tôn Thất Hoàn cùng viên lục sự liền bị những mũi giáo, những lưỡi mác của lòng hận thù mù quáng xả thây, chặt đầu.

Trong cách mạng tháng tám năm 1945 nhiều trí thức hàng đầu của đất nước như Phạm Quỳnh đã bị những người sôi sục hận thù giai cấp, một phẩm chất cộng sản hàng đầu, thủ tiêu vô cùng hèn hạ. Gần hai trăm ngàn người dân miền Bắc Việt Nam bị xử bắn trong cải cách ruộng đất giữa thế kỉ hai mươi, phần lớn là những người ưu tú nhất, tài năng nhất trong sản xuất kinh doanh, làm ra của cải cho xã hội. Nhiều người đã có những đóng góp vô cùng to lớn, đóng góp sức người, đóng góp xương máu, đóng góp tiền bạc và tài sản cho cuộc kháng chiến chống Pháp của đảng cộng sản như bà Nguyễn Thị Năm đã bị xử bắn ngay khi mở đầu cuộc cải cách ruộng đất, cuộc nhảy múa của bóng đêm, của ác quỉ.

Những người bị nạn trong những vụ án ngụy tạo, Vụ Xét lại chống đảng, vụ Nhân Văn – Giai Phẩm đều là những nhân cách kẻ sĩ, những đảng viên trung thực hiếm hoi của đảng cộng sản như Vũ Đình Huỳnh, Hoàng Minh Chính, Đặng Kim Giang, Nguyễn Văn Vịnh.  .  . . Đều là những trí thức lớn không phải chỉ của Việt Nam mà còn của cả loài người như Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường. Là những nghệ sĩ tài năng, những tinh hoa quí hiếm của nền Văn hiến Việt Nam như Trương Tửu, Đặng Đình Hưng, Hoàng Cầm, Trần Dần, Văn Cao, .  .  .

Hung thần Sáu Búa Lê Đức Thọ ngụy tạo ra vụ án Xét lại chống đảng. Nhà cách mạng chuyên nghiệp Trường Chinh cùng nhà thơ tên Lành mà lòng dạ độc ác cộng sản dàn dựng ra vụ Nhân Văn – Giai Phẩm đều là những lãnh đạo hàng đầu của đảng cộng sản. Tội ác của họ không phải chỉ loại bỏ, đày đọa hàng trăm trí thức uyên bác, văn nghệ sĩ có tài đến chết rũ xương trong tù, đến thân tàn ma dại trong đời mà còn giết chết tư duy sáng tạo của cả đội ngũ những người có mặt trong cuộc đời chỉ với sứ mệnh duy nhất là sáng tạo. Đảng cộng sản đã biến những người có sứ mệnh sáng tạo chỉ còn là những trí nô, văn nô, những thư lại nịnh thần, vô liêm sỉ.

Hơn 100 hội viên hội Nhà Văn Việt Nam ở Sài Gòn mỗi kì ra Hà Nội họp đại hội đều được thành ủy miền đất Bến Nghé giầu có cho tiền vé máy bay đi về, lại cho mỗi nhà văn thêm một triệu tiền tiêu vặt. Trước khi các nhà văn bay ra Hà Nội, thành ủy gặp gỡ, chúc tụng và đãi bữa tiệc tiễn lên đường lai kinh. Trong lần phó bí thư thành ủy Nguyễn Văn Đua gặp gỡ, tiễn các nhà văn ra Hà Nội dự đại hội Nhà Văn Việt Nam lần thứ 8, năm 2010, một ông nhà văn già, nhỏ thó, hom hem và nhợt nhạt như một mẩu củi mục, vốn là giáo sư dạy văn ở trường đại học sư phạm, cũng là người lớn tuổi nhất trong cuộc gặp, đứng lên giọng run run xúc động: “Sự lãnh đạo của đảng chính là sự định hướng của thành ủy. Chúng tôi rất cần có sự định hướng kịp thời, đúng lúc của đảng. Mong thành ủy dành thời gian để mỗi năm cho chúng tôi được gặp thành ủy đôi lần, lắng nghe thành ủy!” Nhà văn đích thực là văn hóa, là kẻ sĩ. Kẻ sĩ là tâm hồn và khí phách của một dân tộc. Khí phách nhà văn Việt Nam sau trận đòn Nhân Văn – Giai Phẩm là như vậy đó, năn nỉ xin được gặp đảng để được đảng dạy bảo. Sau kì đại hội Nhà Văn Việt Nam lần đó, tôi đã từ bỏ mọi sinh hoạt, mọi tiếp xúc với hội nhà văn nài nỉ xin sự dạy bảo của đảng cộng sản.

Độc quyền lòng yêu nước của người dân. Độc quyền cả chân lí của cuộc sống, đảng cộng sản tự coi nghị quyết xơ cứng, giáo điều của đảng là tuyệt đối đúng. Coi cuộc sống phong phú, sinh động diễn ra không đúng với nghị quyết xơ cứng của đảng là cuộc sống sai trái, vi phạm, tự diễn biến, tự chuyển hóa. Trong khi sự sống là tự diễn biến, tự phát triển không ngừng. Chỉ những vật trưng bày trong viện bảo tàng không còn sự sống mới không tự diễn biến. Hiền tài và trí tuệ hiếm hoi của đảng không chịu bó mình trong nghị quyết xơ cứng cũng bị đảng trừng trị. Bảy mươi ba năm cầm quyền, ngoài những chiến dịch rầm rộ đấu tố, hãm hại, loại bỏ hàng loạt trí tuệ, tài năng của đất nước như vụ Xét Lại, vụ Nhân Văn còn có hai lần đảng cộng sản ra tay trừng trị, loại bỏ hiền tài của đảng muốn cứu đảng ra khỏi sai lầm về kinh tế, muốn cứu đảng ra khỏi tăm tối, bế tắc về tư tưởng triết học. Hai lần cách nhau 52 năm, năm 1966 và năm 2018 nhưng sự loại bỏ hiền tài thì vẫn độc đoán và hèn hạ như nhau.

Cung cách làm ăn tập thể, làm ăn bầy đàn của hợp tác xã nông nghiệp đã giết chết sự cần cù, sáng tạo, những phẩm chất quí báu nhất làm ra hạt lúa của người nông dân. Thâu tóm tư liệu sản xuất của nông dân, hợp tác xã nông nghiệp biến người nông dân từ người chủ đồng ruộng, thức khuya dậy sớm, một nắng hai sương với cây lúa thành những viên chức hành chính làm thuê cho hợp tác xã, ngày hai buổi nghe tiếng kẻng cắp nón ra đồng nhởn nhơ đợi tiếng kẻng báo hết giờ làm việc lại cắp nón về. Mặc cây lúa loi thoi, xơ xác giữa đám cỏ xanh tốt bời bời. Cung cách làm ăn đó cũng giết chết luôn cả nền nông nghiệp miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Nạn đói khủng khiếp của năm 1945 đã thập thò ló mặt trên khắp nông thôn miền Bắc. Năm đó 1966, cuộc chiến tranh mà đảng cộng sản phát động ở miền Nam đang tới đỉnh điểm, quyết định thắng thua. Nạn đói xảy ra. Hậu phương rối loạn. Người lính ngoài mặt trận cũng không còn sức chiến đấu.

Đúng lúc đó, bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phú Kim Ngọc sáng tạo ra hình thức quản lí sản xuất nông nghiệp mới: Khoán hộ. Giao ruộng và khoán sản phẩm cho từng hộ nông dân. Nhà nước vẫn quản lí được con người, tư liệu sản xuất và sản phẩm nông nghiệp mà sức sản xuất được giải phóng. Người nông dân lại được làm chủ mảnh ruộng nuôi sống mình, lại thức khuya dậy sớm, lại một nắng hai sương, vắt mồ hôi, dồn tình cảm, chắt chiu sự cần cù và trí sáng tạo vào mảnh ruộng khoán. Cả tỉnh Vĩnh Phú năng suất lúa tăng vọt. Nhà nhà ấm no. Không cần đôn đốc, người dân vui sướng, mau lẹ nộp đủ thóc nghĩa vụ. Cung cách làm ăn mới mang lại sức sống cho cây lúa Vĩnh Phú làm nhiều nơi khác trên miền Bắc như Hải Phòng cũng học theo và cánh đồng lúa Hải Phòng đã bội thu.

Nhưng giao ruộng cho người nông dân là giao tư liệu sản xuất cho tư nhân, là trái với học thuyết Mác, trái với chủ nghĩa xã hội, trái với nghị quyết của đảng. Những cái đầu giáo điều đứng đầu đảng cộng sản coi chủ nghĩa Mác phản tự nhiên, phản con người còn quan trọng hơn, cần thiết hơn sự ấm no của người dân và sự giầu mạnh của đất nước. Với lí luận Mác Lê nin sắt máu, với lập trường giai cấp rạch ròi, nhà cách mạng chuyên nghiệp Trường Chinh đã đánh tan tác đội ngũ trí thức văn nghệ sĩ trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm. Nay nhà cách mạng chuyên nghiệp Trường Chinh lẫm liệt trong giáp sắt lí luận Mác Lê, tay cầm lá cờ lệnh đó chói đấu tranh giai cấp lại xuất trận chặn đứng khoán hộ ở Vĩnh Phú. Bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phú Kim Ngọc phải làm kiểm điểm và tự nhận “có sai lầm nghiêm trọng trong khoán hộ”. Đồng đất Vĩnh Phú lại thuộc sở hữu của hợp tác xã. Cây lúa Vĩnh Phú lại xác xơ cùng cây lúa cả miền Bắc. Người dân Vĩnh Phú lại đói deo đói dắt cùng người dân cả miền Bắc.

Mãi đến năm 1988, khi đảng cộng sản phải chấp nhận kinh tế thị trường, chấp nhận kinh tế tư nhân để cứu vãn nền kinh tế xã hội chủ nghĩa đã sụp đổ thảm hại, khoán hộ trong nông nghiệp của bí thư tỉnh ủy Kim Ngọc mới lại được thực hiện ở hình thức triệt để hơn trên cả nước. Từ cảnh phải nhập hạt bo bo, thứ hạt nuôi heo ở xứ người về nuôi dân Việt Nam, khi người nông dân lại được làm chủ mảnh ruộng của mình, Việt Nam lập tức trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới. Nhưng khi đó hiền tài Kim Ngọc đã chết trong đau buồn 18 năm rồi!

Chủ thể của nông nghiệp là người nông dân. Người nông dân phải được làm chủ mảnh ruộng của mình, nông nghiệp mới khấm khá. Chủ thể của đất nước Việt Nam là người dân Việt Nam. Người dân phải làm chủ đất nước của mình, đất nước mới giầu mạnh. Độc quyền chính trị, coi đất nước là của riêng đảng, coi dân chỉ là bầy nô lệ, giáo điều và sắt máu, đảng cộng sản đang đưa đất nước đến những thảm họa như thảm họa nông nghiệp thời hợp tác xã lụn bại 1966.

Trên con đường chạy đua kinh tế, Việt Nam đang bị các nước bỏ lại phía sau ngày càng xa. Đất nước đang ngày càng tan hoang bởi sự xâu xé, vơ vét, tàn phá của các nhóm lợi ích được sự thao túng của đảng cộng sản. Khi đảng cộng sản đã đặt đảng lên trên đất nước, đặt lợi ích của đảng lên trên lợi ích dân tộc, coi sự sống còn của đảng còn cần thiết hơn sự sống còn của giống nòi thì đảng đã trở thành nhóm lợi ích lớn nhất, nguy hại nhất, mờ ám nhất, quyền uy nhất nên cũng khốn nạn nhất: Nhóm lợi ích làm ra pháp luật, đứng trên pháp luật vơ vét của cải, tài nguyên của nước, mồ hôi, xương máu của dân cho một nhóm người nhân danh đảng.  Đất nước đang ngày càng chìm sâu vào đêm tối của bất công, bạo lực và tham nhũng. Người dân ngày càng bị áp bức về tinh thần, bóc lột về vật chất và thân phận nô lệ ngày càng bị trói chặt bởi chằng chịt những bộ luật tước đoạt quyền con người, quyền công dân của người dân mà bộ luật cướp đoạt man rợ nhất quyền con người của người dân là luật An Ninh Mạng.

Như bí thư tỉnh ủy Kim Ngọc nhận ra làng quê Vĩnh Phú của ông xác xơ nghèo đói là do người nông dân không được làm chủ mảnh ruộng của mình. Trái tim con người Chu Hảo cũng đau thắt khi con mắt nhà khoa học Chu Hảo nhận ra đất nước Việt Nam thân yêu đang tan hoang, đang bị xâm lăng đe dọa, người dân Việt Nam đang chịu bao cay đắng cơ cực, bất công vì người dân không được làm chủ đất nước. Lập nhà xuất bản Tri Thức, xuất bản những cuốn sách mang ánh sáng dân chủ, dân quyền, nhà khoa học Chu Hảo không phải chỉ nhằm thức tỉnh người dân về quyền con người, về trách nhiệm công dân trước vận mệnh, thịnh suy của nước. Là đảng viên cộng sản, nhà khoa học Chu Hảo chủ trương cho Tri Thức xuất bản tủ sách Tinh Hoa còn hướng tới đảng của ông về trách nhiệm lịch sử với dân với nước. Muốn đi tới nền văn minh công nghiệp, nước nào cũng phải đón nhận triết học khai sáng, giải phóng cá nhân, nhìn nhận quyền con người, quyền công dân của người dân, trả lại quyền làm chủ đất nước cho người dân. Triết học ánh sáng ở châu Âu thời phục hưng thế kỉ 17, giải phóng con người, tách cá nhân khỏi bầy đàn dẫn đến cách mạng tư sản dân quyền thế kỉ 18, long trọng khẳng định quyền con người, quyền công dân, quyền tư hữu tài sản, đưa châu Âu vào thời công nghiệp phát triển rực rỡ suốt mấy trăm năm cho đến tận hôm nay.

Đảng cộng sản Việt Nam cầm quyền đang làm điều ngược lại. Đầu thế kỉ 20, nước mất, dân nô lệ nhưng Tự Lực Văn Đoàn và Thơ mới đã ghi nhận một dấu mốc lịch sử: cái Tôi cá nhân không còn lẫn trong đám đông. Cái Tôi cá nhân đã tách ra khỏi bầy đàn, đã có mặt trong cuộc đời và được xã hội nhìn nhận. Một thế kỉ sau, đầu thế kỉ 21, nước độc lập nhưng trong nhà nước cộng sản độc tài với những điều 109, điều 116, điều 331 của bộ luật hình sự và luật An Ninh Mạng, cái Tôi cá nhân đã bị xóa bỏ! Không có cái Tôi cá nhân, cũng không có quyền con người, không có quyền công dân, không có quyền tư hữu. Đó là bước thụt lùi thảm hại, đau đớn, nhục nhã của dân tộc, của lịch sử Việt Nam và đảng cộng sản Việt Nam phải chịu trách nhiệm.

Xuất bản tủ sách Tinh Hoa, nhà khoa học là đảng viên cộng sản Chu Hảo trước hết đã mang triết học khai sáng đến giúp những người lãnh đạo đảng của ông nhận ra ánh sáng tư tưởng mà dân tộc nào, đất nước nào muốn đi tới văn minh công nghiệp đều phải tiếp nhận. Xuất bản tủ sách Tinh Hoa, nhà khoa học Chu Hảo đã mang ánh sáng văn minh nhân loại cứu đảng của ông đang lạc lõng, bế tắc trong tăm tối triết học Mác Lê nin sai lầm và tội ác. Như hiền tài Kim Ngọc cứu đảng về kinh tế nông nghiệp thời hợp tác xã nông nghiệp lụn bại năm 1966.

Với “Khoán hộ”, hiền tài Kim Ngọc đã cứu đảng cộng sản về kinh tế nhưng Kim Ngọc đã bị đảng kiểm điểm. Phải nhận “có sai lầm nghiêm trọng trong khoán hộ” với đảng và xin rút khỏi chức bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phú nhưng với những người thân cận chí cốt bên ông, người cộng sản hiếm hoi thực sự vì dân Kim Ngọc vẫn tha thiết nhắc nhở: Phải để nông dân làm chủ mảnh đất của mình. Không thể bỏ khoán hộ. Bỏ khoán hộ là đói. Phải tìm mọi cách duy trì dưới mọi hình thức khác nhau. Nhà khoa học Chu Hảo xuất bản tủ sách Tinh Hoa đã cứu đảng của ông về tư tưởng. Nhưng ủy ban Kiểm tra trung ương đảng đã luận tội và đề nghị cấp có thẩm quyền kỉ luật ông. Không thể để những rô bốt không tim, không óc xúc phạm danh dự con người, nhà khoa học Chu Hảo tuyên bố từ bỏ đảng cộng sản. Hai tuần sau khi nhà khoa học Chu Hảo đã ra khỏi đảng, đảng cộng sản vẫn cố làm việc hèn hạ là khai trừ ông và dùng truyền thông, dùng những rô bốt, đấu tố ông.

Từ nửa sau thế kỉ 20, loài người đang liên tiếp tiến những bước thần kì trong những cuộc cách mạng của trí tuệ. Bắt bí thư tỉnh ủy Kim Ngọc phải nhận “sai lầm nghiêm trọng trong khoán hộ” cũng như kỉ luật khai trừ đảng nhà khoa học Chu Hảo vì xuất bản những cuốn sách mang trí tuệ khai sáng, đảng cộng sản đang dấn sâu vào tội ác với nhân dân, với lịch sử Việt Nam, tội ác chống lại văn minh nhân loại. Bền bỉ và quyết liệt loại bỏ hiền tài và trí tuệ trong đảng, đảng cộng sản đang tự diệt vong trước khi bị nhân dân và thời đại ném vào sọt rác lịch sử.

Làm cách mạng “khai dân trí”

Làm cách mạng “khai dân trí”

Kông Kông

25-11-2018

Vừa rồi ông Tổng-Chủ Nguyễn Phú Trọng tiếp xúc “cử tri” Hà Nội nói về vụ Giáo sư Chu Hảo bị đảng kỷ luật vì “tự diễn biến, tự chuyển hóa”. Phải “kỷ luật một vài người để cứu muôn người”(?)

“Kỷ luật một vài người” thì đã thấy và đã biết. Còn “cứu muôn người” là những ai? Chắc chắn ở đây không phải là cứu muôn (dân) vì dân chẳng liên quan gì đến điều lệ đảng! Như vậy ý Tổng-Chủ Nguyễn Phú Trọng là cứu muôn đảng viên. Đúng hơn là răn đe “muôn” đảng viên. Điều nầy tự nó đã xác nhận dư luận đang đúng. Vì dư luận cho biết là hiện đang có “muôn” đảng viên tự bỏ đảng nhưng chỉ âm thầm, chưa dám công khai.

Ở đây có 2 vấn đề (1) Đảng có dám thi hành kỷ luật với “muôn” đảng viên âm thầm bỏ đảng hay không? (2) “Muôn” đảng viên âm thầm bỏ đảng có dám công khai từ bỏ đảng hay không? Vì từ bỏ đảng là từ bỏ bổng lộc cá nhân cũng như việc con cháu có thể bị ảnh hưởng dây chuyền. Cụ thể hơn như quanh câu chuyện về Cái Sổ hưu mà “đồng chí” Đại tá Tiến sĩ Trần Đăng Thanh đã dạy cho trí thức Hà Nội hơn 10 năm trước!

Thử đặt vấn đề:

1. Hỏi, ông Tổng-Chủ có dám công khai kỷ luật khai trừ “muôn” đảng viên hay không? Câu trả lời chắc chắn là không. Vì kỷ luật “muôn” đảng viên là đảng tự chặt hết tay chân. Cơ thể đảng sẽ tàn phế nếu không muốn nói là đảng phải tự chặt luôn cả đầu của mình! Nếu như thế, “muôn” đảng viên bị kỷ luật chắc chắn nổ ra phong trào bỏ đảng và ra mặt công khai chống đảng. Đã gọi họ “tự diễn biến, tự chuyển hóa” là đương nhiên họ đi ngược đường với đảng. Mà ngược đường với đảng là đúng đường với thế giới văn minh. Thế giới hiện có 195 nước, không lẽ hơn 191 nước đều sai mà chỉ có 3, 4 nước nghèo đói và lạc hậu XHCN lại đúng? Đúng thì tại sao đi đến đâu cũng ngửa tay xin ăn bất kể liêm sỉ? Đã ăn xin mà gọi ân nhân là kẻ thù cần phải “giải phóng” nữa?

2. Hỏi, “muôn” đảng viên có dám công khai bỏ đảng hay không? Đa số nói ngày xưa vô đảng “vì yêu nước” thì ngày nay “tình yêu nước” đó có còn không? Câu trả lời khá đơn giản, nếu đúng là yêu nước thì đương nhiên phải công khai bỏ đảng. Vì không công khai sẽ bị đảng kỷ luật. Còn công khai là xác tín yêu nước đích thực. Bỏ đảng vì đảng đang phản bội đất nước và dân tộc. Không đồng lõa với đảng.

Trường hợp Giáo sư Chu Hảo, ông chỉ công bố bỏ đảng sau khi bị đảng đề nghị kỷ luật. Rồi 2 tuần sau đó bị đảng chính thức khai trừ khi ông không còn là đảng viên.

Theo dư luận thì Giáo sư Chu Hảo tự ý bỏ đảng từ lâu nhưng không công khai, vì ông muốn ở trong đảng để “tranh đấu sẽ có hiệu quả hơn”. (Một số đảng viên không nhỏ đang có lập luận nầy!) Cụ thể là làm Giám đốc nhà xuất bản Tri Thức xuất bản được nhiều sách có giá trị thực tiễn để “khai dân trí” theo bước đường của Chí sĩ Phan Chu Trinh.

Đương nhiên việc “khai dân trí” với xã hội VN hiện tại cũng như tương lai là hoàn toàn đúng! Nhưng số sách đã xuất bản rất ít người tìm đọc. Vì loại sách đó đòi hỏi phải có kiến thức tối thiểu, nếu không muốn nói là phải thuộc thành phần thượng tầng trí thức. (Người viết đã trực tiếp hỏi vài nơi bán sách họ cho biết nhờ vụ đảng khai trừ Giáo sư Chu Hảo nên số sách của nhà xuất bản Tri Thức từng phủ bụi trên kệ bỗng bán sạch mà số người tìm mua thì rất nhiều)

Thế nhưng, qua mạng xã hội, hàng ngày người dân đã tự “khai dân trí” rất sống động. “Khai dân trí” qua thực tế. Và nhờ thực tế tự nó đã “khai dân trí” cho “muôn” đảng viên. Ví dụ, hiện tượng chiếc dép ném thẳng về phía lãnh đạo Tp HCM và phát biểu mới đây nhất của chị Nguyễn Thị Thùy Dương là một.

Chiếc dép đó thực sự là ném thẳng vào mặt chế độ, vì Thủ Thiêm không phải ở nơi xa xôi hẻo lánh mà là Tp HCM, là trung tâm chính trị, kinh tế của cả nước mà “chính quyền” công khai cướp đất có hệ thống, dùng súng và nhà tù đàn áp người dân, không phải chỉ xảy ra nhất thời mà đằng đẵng những hơn 20 năm (!) Hỏi có tác dụng “khai dân trí” nào mạnh mẽ, cụ thể và gây chấn động hơn chiếc dép không?

Do đó nếu “muôn” đảng viên “tự diễn biến, tự chuyển hóa” nhờ kênh Tri Thức hay kênh bình dân, dám hành động cụ thể là cùng tuyên bố công khai bỏ đảng, chỉ cần công khai thôi, chứ chưa nói đến dám làm như chị Nguyễn Thị Thùy Dương (!) thì tự nó đã là hành động “khai dân trí”, sẽ cứu được… chẳng những cho danh dự cá nhân mà còn cho cả trăm triệu người chứ không phải… “muôn người”!

Thưa, còn với quý vị đảng viên trí thức đã “tự diễn biến, tự chuyển hóa” dám hòa mình trong lòng xã hội, “ăn cùng, ở cùng”, tự hạ mình với người dân hiền lành mộc mạc, như chị Nguyễn Thị Thùy Dương, thì tiếng nói của quý vị sẽ là cuộc cách mạng “khai dân trí” và sức lan tỏa còn nhanh hơn lửa gặp gió!

RA TAY

Đỗ Ngà

RA TAY

Tù nhân như là cá chậu chim lồng của chính quyền CS. Cá trong chậu có cần phải thuốc không? Thông thường chẳng cần, nhưng với tù nhân lương tâm (TNLT) Trần Huỳnh Duy Thức thì lại khác. Thử phân tích xem lí do tại sao chính quyền lại giở thủ đoạn tàn độc đến như vậy?

Như ta biết, TNLT có có sức ảnh hưởng xã hội luôn là con cờ trong tay của chính quyền. Nói đúng hơn, TNLT là người công dân mà chính quyền này đem ra buôn bán đổi chác để lấy những thỏa thuận ngoại giao nào đấy nhằm khoe khoang với thế giới rằng “đảng và nhà nước rất nhân đạo”. Và quan trọng hơn, đó là dập tắt hình ảnh có tính biểu tượng của tù nhân đó trong xã hội.

Với phong trào dân chủ thì chính quyền luôn phải có biện pháp đề phòng, phải làm cỏ từ khi phong trào manh nha nên hạ uy tín TNLT hoặc ít nhất làm cho họ không còn sức ảnh hưởng nữa luôn là ưu tiên số 1 của chính quyền CS. Vì thế khi anh Trần Huỳnh Duy Thức từ chối đi nước ngoài thì ý đồ ấy của chính quyền CS đã thất bại.

Thông thường, phong trào đấu tranh gắn liền với một biểu tượng bất khuất. Nelson Mandela ở trong tù 27 năm, cũng là một loại cá chậu chim lồng trong tay chính quyền Apartheid Nam Phi, nhưng khổ nỗi, chính quyền chỉ nhốt tù thân xác ông chứ không thể nhốt tù tinh thần ông. Thế nên tổ chức của ông ở bên ngoài cứ ngày một lớn mạnh dựa vào biểu tượng bất khuất Nelson Mandela, và tổ chức ấy đã thành công. Nếu có tổ chức chính trị đủ mạnh thì nó sẽ càng mạnh hơn nếu có ngọn đuốc tinh thần bất khuất soi đường. Chính vì thế, chính quyền CS sợ nhất là tinh thần bất khuất TNLT Trần Huỳnh Duy Thức trở thành tấm gương.

Suốt bao nhiêu năm nay, tên tuổi của Trần Huỳnh Duy Thức cứ hiện diện liên tục trên mạng xã hội, hiện diện trong vô số cuộc nói chuyện của người dân. Nhìn thấy thực trạng ấy, chắc chắn chính quyền CS không muốn. Với Trần Huỳnh Duy Thức, chính quyền hạ uy tín không được, tống xuất cũng không xong mà tên tuổi thì cứ ngày càng được nhiều người biết đến nên làm chính quyền này chưa biết xử lý như thế nào.

Hiện nay, tổ chức chính trị trong nước chưa hình thành, nhưng chắc chắn tương lai sẽ có. Khi tất cả các đảng phái có chung mục đích chống cộng, thì rất có thể tinh thần Trần Huỳnh Duy Thức sẽ được thắp lên. Một khi tổ chức chính trị đang phát triển mà gặp một biểu tượng tượng tinh thần bất khuất thì chẳng khác nào củi khô gặp lửa mạnh. Rõ ràng chính quyền CS bế tắc trong việc xoá bỏ hình tượng bất khuất của Trần Huỳnh Duy Thức.

Vừa cay cú, vừa lo sợ nên chính quyền CS đã ra tay nhằm dập tắt trước khi ngọn lửa ấy gặp phải củi khô dễ cháy. Đấy là một hành động tàn ác không thể chấp nhận nhận với loài người có lương tri. Vì thế, cần xã hội lên án mạnh mẽ để ngăn chặn tội ác.

Hãy sống để chính mình hạnh phúc, đừng sống để người khác ngưỡng mộ.

Hãy sống để chính mình hạnh phúc, đừng sống để người khác ngưỡng mộ.

 

Hy vọng thông qua ba câu chuyện có thật dưới đây, bạn sẽ hiểu ra được ý nghĩa thực sự của cuộc sống và để mỗi ngày của mình đều có thể trôi qua thật vui vẻ, thật xứng đáng.

  1. Năm ấy tôi 18 tuổi, tất cả các bạn học đều chuẩn bị hành lí rời quê hương lên thành phố nhập học Đại học, còn tôi thì lựa chọn rẽ sang một con đường khác.

Năm tôi 22 tuổi, tất cả các bạn học đều khoác lên mình chiếc áo cử nhân, vui vẻ hân hoan trong ngày tốt nghiệp Đại học. Còn tôi thì mặc bộ đồng phục của nhân viên đo lường số liệu trên dây chuyền lắp ráp.

Năm 28 tuổi, tôi hạnh phúc khi lần đầu tiên trong đời được thăng chức.

Năm 33 tuổi, tôi kết hôn. Tôi cũng là người cuối cùng trong lớp từ giã đời độc thân.

Năm 34 tuổi thì sinh con đầu lòng.

Năm 35 tuổi mới phát hiện ra niềm hứng thú của bản thân mình là gì và 36 tuổi bắt đầu lên kế hoạch theo đuổi nó.

Tiết tấu trong đời tôi có lẽ luôn chậm hơn người bình thường nửa nhịp.

 Tôi sẽ nghĩ rằng, nếu như tôi được làm lại từ đầu một lần, cuộc đời tôi có thể nào sẽ khác đi không? Nỗ lực học hành, thi đậu Đại học, tìm một công việc cao cấp, sớm gặp được một người đàn ông ưu tú, trải qua một cuộc đời mà người khác luôn mong đợi?

Tuy nhiên nghĩ đi nghĩ lại thì có lẽ, mỗi một bước đi trong đời đều là sự ban ơn của vận mệnh. Có nếm trải những đau khổ trong đời mới hiểu ra nỗ lực quan trọng nhường nào. Có bước qua những con đường gập ghềnh, trắc trở mới biết rõ bản thân cần sống ra sao.

Tôi giờ đây ở tuổi 36 mới đột nhiên giác ngộ ra một điều, rằng cuộc sống của tôi thực sự chỉ vừa mới bắt đầu. Chẳng cảm thấy muộn màng, chỉ cần có phương hướng, thì cứ thế mà tiến về phía trước là được. Chỉ cần cuối cùng có thể đi đến được cái đích do mình đặt ra thì tôi sẽ chẳng thấy nuối tiếc gì nữa.

  1. Có một lần tôi đến nhà bạn chơi, nhìn thấy trên bàn trà có chiếc chìa khoá xe hơi. Tôi chơi với cô ấy cũng đã 2-3 năm rồi, chưa bao giờ biết chuyện nhà cô ấy có xe hơi, cũng chưa từng nghe cô ấy kể qua về chuyện này.

Sau đó cô ấy giải thích rằng, vốn dĩ nhà cô ấy không cần thiết phải có xe hơi, chẳng qua là vì mặt mũi mà phải sắm sửa. Mấy người anh em của chồng cô ấy ai nấy kết hôn xong cũng đều mua nhà mua xe. Đến lượt anh ấy kết hôn nếu không có như người ta thì sẽ cảm thấy rất mất mặt. Vì vậy, hai vợ chồng phải cùng đi vay để mua chiếc xe này.

Mua xe xong, ngoại trừ một năm hai lần đi ra ngoại thành chơi, còn lại thì đều để trang trí, chẳng lái đi đâu. “Chúng tôi không biết đi đâu cũng không có gì lạ. Nhưng mỗi tháng tiền phí gửi xe, rồi phí bảo dưỡng đều tiêu tốn một số tiền không nhỏ. Bây giờ hai vợ chồng muốn ra ngoài ăn ngon, sắm vài bộ đồ đẹp nhưng chỉ cần nghĩ đến chuyện chi tiêu cho chiếc xe thì mọi ý muốn đều bị dập tắt ngay”.

Bởi thế, việc lắng nghe những yêu cầu bên trong chính mình, từ nội tâm hướng ra bên ngoài tìm kiếm giá trị sống mới có thể cảm nhận được những vui vẻ đích thực. Đi theo nhịp sống của người khác, từ bên ngoài hướng vào nội tâm để điều chỉnh nhịp sống của mình, cứ như vậy sẽ rất dễ bị người khác lôi kéo.

Điều ngu ngốc nhất trong tất cả mọi chuyện chính là chúng ta cứ nhiệt tình đi làm những chuyện đó nhưng lại hoàn toàn không biết tại sao mình phải làm.

Tương lai của chúng ta không phải do người khác quyết định làm như thế nào, mà là chính chúng ta quyết định nó. Nhận định tiêu chuẩn của hạnh phúc không phải là bạn sở hữu được bao nhiêu món đồ, mà chính là bạn có thể nhìn thấy bản thân mình muốn có được bao nhiêu thứ.

  1. Tôi có một thầy giáo cấp 3, thầy đã đào tạo ra rất nhiều học sinh ưu tú. Năm đó, trường học trong thị trấn của chúng tôi bị giải thể, thầy giáo cũng vì thế mà thất nghiệp. Một cậu bạn chung lớp của tôi nay đã là Giám đốc nói với thầy giáo rằng: “Thầy ạ, hay là thầy đi theo em lập nghiệp đi. Bảo đảm tiền đồ tươi sáng hơn thầy đi dạy học nhiều lắm”.

Thầy giáo liền từ chối, tìm cho mình một trường tiểu học và tiếp tục công việc gõ đầu trẻ. Thầy không cảm thấy bản thân có tài mà không thể phát huy, cuộc đời này của thầy ấy chính là muốn gắn liền với những đứa trẻ. Thầy nói trẻ con cũng giống như mầm non của đất nước, thầy muốn uốn nắn chúng, nâng đỡ chúng có thể đi con đường chính đạo.

“Danh lợi vật chất này là của em, nhưng học trò khắp thiên hạ là của tôi”.

Vài năm sau, người bạn học kia trở thành một doanh nhân nổi tiếng, rất nhiều người đều nói thật tiếc cho người thầy giáo kia. Nếu như không phải vì tính cố chấp, thì bây giờ người ở nhà cao, ngồi xe đẹp kia chính là ông rồi.

Người thầy nghe thấy liền cười ha ha, không buồn giải thích.

Không phải là cá, làm sao hiểu được niềm vui của cá? Một người trước giờ chưa từng nghĩ đến món đồ mình muốn đạt được có hình dáng thế nào, thì cũng sẽ không hiểu được cảm giác mất đi. Cũng không phải vì bản thân chưa từng có được món đồ đó mà trở nên đau khổ.

Có rất nhiều lúc, chúng ta không phải đang truy cầu hạnh phúc, mà là liều mạng truy cầu làm sao để hạnh phúc hơn người khác. Bị nhịp sống của người khác quấy nhiễu, sẽ rất dễ đánh mất đi chính mình.

Vậy thì, bạn lựa chọn đem số phận đặt trong tay mình hay tay người khác? Khổ – lạc – bi – hoan trong đời, đều là do những sách lược lớn nhỏ trong cuộc sống mang lại. Mỗi một quyết định đều có khả năng thay đổi hướng đi trong đời của chúng ta. Kết quả này đều dựa vào kinh nghiệm của bản thân, người khác không có cách nào thay thế chúng ta làm điều này được. Có thể vì cuộc đời của chúng ta mà chịu trách nhiệm, mãi mãi cũng chỉ có chúng ta mà thôi.

Đời người rất dài, bạn có thể mãi mãi đi theo trái tim của mình được không? Có thể không bao giờ phụ lòng những hi vọng của cuộc sống đối với bản thân mình không? Có thể tìm kiếm sự xứng đáng cho chính mình?

Thành công không phải hơn thua với người khác việc ai có nhiều tiền hơn, ai nổi tiếng hơn, mà là: bạn biết làm sao để sống và chăm chỉ, nỗ lực theo con đường riêng của bạn.

Hạnh phúc không phải việc có được sự khen ngợi, hò reo của người khác, mà là: không phụ lòng với mỗi ngày bạn sống, không thấy hối tiếc vì điều đó.

Đó mới chính là nghĩa vụ mà chúng ta phải đối với bản thân mình từng ngày. Hãy sống để chính mình hạnh phúc, đừng sống để người khác ngưỡng mộ.

From: ngocnga_12 & NguyenNThu

Tạ ơn Trời, cám ơn đời

Tạ ơn Trời, cám ơn đời

Tác giả: Phùng Văn Phụng 

 Suy tư nhân ngày lễ Tạ Ơn (Thanksgiving) ở nước Mỹ  

Hôm qua, ngày 21 tháng 11 tôi gặp lại người bạn thân quen gần 20 năm, là giáo sư toán ở Vĩnh Long, anh nhìn tôi chỉ cười, tôi hỏi anh có khoẻ không, anh cũng chỉ cười và không trả lời.Tôi thấy nụ cười rất hiền từ nhưng có cái gì đó bất ổn. Tôi hỏi vợ anh đang đi bên cạnh:

– Anh khoẻ không chị?

Chị vợ trả lời: Anh bị bịnh mất trí nhớ và bị bịnh rung tay. Tôi lớn hơn anh hai tuổi.

*   *     *     *

Tôi tạ ơn Trời, tạ ơn Thiên Chúa, đấng tối cao đầy quyền năng, đã cho tôi sống được tới tuổi này (75) tôi không có bịnh gì nhiều, sức khỏe tốt, mặc dầu tôi cũng từng bị bỏ đói triền miên gần 8 năm trong các trại tù của cộng sản từ năm 1975 đến 1983.

Cũng nhờ bị bỏ đói lâu ngày như thế để tôi cảm nghiệm được rằng thức ăn rất quý và nhờ đó mới có cảm nghiệm rằng, sau khi bị bỏ đói, không ăn cơm lâu ngày, khi gia đình gởi gạo ra, được ăn cơm với muối, cảm giác ngon kỳ lạ, tưởng chừng như ăn cơm với đường cát.

Tôi xin cám ơn ông bà, tổ tiên, cha mẹ đã sinh ra tôi sống ở miền quê nghèo nàn làng Đông Thạnh, quận Cần giuộc, tỉnh Long An, để tôi biết thông cảm với bà con nông dân chất phác, cực nhọc làm ruộng hai mùa mưa nắng.

Tôi được may mắn sống trong hai chế độ tư bản tự do và chế độ độc tài cộng sản để tôi có thể so sánh chế độ nào đem lại bình an, ấm no, hạnh phúc thực sự cho người dân.

Tôi cũng được may mắn sống trong thời kỳ mà ít có ai dám nghĩ tới là nhìn thấy sự tan rã hàng loạt của các chế độ độc tài từ Ba Lan, Đông Đức, Hung, Tiệp Khắc, Roumanie, Albanie và tại cái nôi của chủ nghĩa cộng sản là Liên sô trong những năm 1990-1991.

Tôi cũng cám ơn Trời đã cho tôi sống trong các trại cải tạo gần 8 năm qua các trại Long Thành, Thủ Đức, trại trung ương số 1 Lào Cai, trại Vĩnh Phú K3 và K4, trại Hà Nam Ninh. Vì nếu bị giam giữ dưới ba năm thì không thể được đinh cư tại Hoa Kỳ.

Tôi cũng cám ơn Chánh phủ và nhân dân Hoa Kỳ đã giúp đỡ, cho gia đình tôi đến bến bờ tự do, trợ cấp chỗ ở và thức ăn trong 8 tháng để chúng tôi hội nhập vào đời sống ở Mỹ.

Suốt 25 năm sống ở Mỹ tôi chưa bao giờ bị một nhân viên cảnh sát nào vào nhà hỏi thăm. Chẳng bù những ngày tôi ra tù 1983-1993, từ công an thành phố, công an phường, công an khu vực, Ủy ban nhân dân phuờng tôi ở, thường xuyên theo dõi tôi làm gì, đi đâu, tiếp xúc với ai, tại sao nhiều sĩ quan chế độ cũ đến nhà như vậy?

Tôi cũng cám ơn bạn bè, bà con đã giúp đỡ tôi trong những ngày đầu tiên đến Houston. Giới thiệu chỗ làm, chỉ dẫn từng việc nhỏ như đỗ xăng, mua tem, làm giấy “social”, thi bằng lái xe, hướng dẫn mọi điều tôi chưa biết vì mọi việc đối với tôi đều xa lạ, bỡ ngở.

Cám ơn bà xã, các con đã nổ lực tối đa để ổn định cuộc sống nơi xa lạ là nước Mỹ này.

So với những ngày đầu đến Mỹ cách nay 25 năm, phải đi xe bus trong mùa đông giá lạnh, phải học tập, làm việc cật lực, phải tiết kiệm tối đa để lo cho mọi sinh hoạt điện, nước, bảo hiểm xe…cùng để dành tiền lo cho, có một căn nhà để ở và môt chút tiền gởi về gia đình ở Việt Nam.

Cám ơn những bạn bè, cựu giáo sư, cựu học sinh trường Lương Văn Can đã chia xẻ tâm tình, an ủi nhau trong những lúc khó khăn tưởng chừng như không thể vượt qua được.

Tôi xin cám ơn khách hàng đã tin tưởng ủng hộ tôi trong 24 năm qua, và cũng cám ơn những người vì nghi ngờ hay hiểu lầm đã nặng nhẹ, gây gỗ, chửi bới tôi, nhưng cũng nhờ đó tôi học được tính kiên nhẫn, lòng khoan dung, có giận hờn đó nhưng rồi quên và tha thứ vì cần học “yêu kẻ thù”(1) như Chúa dạy.

Tôi cố quên thời gian cộng sản đã đày tôi đi biệt xứ, nhốt tôi trong những vùng rừng thiêng, nước độc, bỏ đói tôi, tôi đi ra đồng để cuốc đất, trồng khoai lang, khoai mì không muốn nỗi, bị cảm hoài, tưởng chết vì kiệt sức.

Tôi cũng tập quên, tập tha thứ khi bị chửi bới, nặng nhẹ. Tôi đã có kinh nghiệm, thông thường những người chửi bới nặng nhẹ tôi đều có tâm hồn bất ổn. Hay có những lý do riêng vì gia đình bất hoà, vì tức giận vợ (chồng) hay đang bị bịnh nan y hay bị bất ổn tâm lý do bị ngược đãi, mang từ trong trại cải tạo cộng sản vẫn còn ám ảnh, ảnh hưởng đến tâm hồn họ. Do đó, tôi là đối tượng để họ có cơ hội trút nổi giận hờn, đau đớn lâu ngày trong tâm hồn họ. Đó là một rủi ro nghề nghiệp hay đó cũng là thử thách mà Thiên Chúa đưa đến để mình học tập tính kiên nhẫn, tha thứ, yêu thương?

Nhân ngày lễ Tạ Ơn, xin cám ơn tất cả.

Ngày 22 tháng 11 năm 2018

Tác giả: Phùng Văn Phụng 

(1) Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ đã ngược đãi anh em (Mt5,44)