Hiểu gì không, ý nghĩa của trời thơ,

 Suy tư Tin Mừng đọc vào Chúa Nhật thứ Nhất Mùa Vọng năm C 

“Hiểu gì không, ý nghĩa của trời thơ,

 “Của hương hoa, trong trăng lờn lợt bảy?”

(Dẫn từ thơ Hàn Mặc Tử)

 Lc 21: 25-28, 34-36

 Trời thơ ở đời, nhà thơ nay đã hiểu. Thơ Trời của Đạo, người người rày cũng thấu. Hiểu và thấu Tin Mừng đầy những thơ, nay người đọc đà thấy rõ thánh Luca có nói về chất chính trị của mùa Vọng, ở trình thuật. Về, cả hứa hẹn đầy ngóng đợi Đấng Mêsia nay kịp đến.                                             

Hội thánh, nay chọn các bài Phụng vụ nói về thế giới phàm trần đang chết dần. Thế giới này, không của riêng ai. Và, cũng không riêng gì nhà Đạo. Bởi, Đạo Chúa đã và đang sản sinh nhiều điều rất mới. Sản sinh nguồn thơ sự sống, rất mới. Sinh sản cả ý nghĩa lời thơ nơi phụng vụ, hôm nay.

Ghi chép Lời Chúa, thánh Gioan là nhà thần bí, rất tuyệt vời. Trong khi các thánh Máccô và Mátthêu lại là thánh-sử chuyên kể chuyện. Chuyện dân gian Do thái. Chuyện Chúa mặc khải cho dân con Ngài, một sứ vụ. Riêng thánh Phaolô lại chẳng gồm tóm ý nghĩa của truyện kể lẫn nguồn thơ. Chỉ mỗi thánh Luca là đấng thánh có nguồn thơ lai láng, tràn ngập hai chương đầu trình thuật.

Ở hai chương đầu, thánh Luca đưa ra dấu chỉ về thời ấu thơ của Chúa. Cả chuyện kiểm kê là dấu chỉ về những o ép/bách hại từ vua quan, ở đời. Kiểm kê, còn là dấu hiệu của một lăng nhục. Và, câu nói: “Không có chỗ cho Ngài tá túc ở nhà trọ”, lại là dấu chỉ những kẻ lang thang khắp đây đó. Máng cỏ Chúa nằm, là dấu hiệu của việc đói ăn/thiếu mặc ở cõi đời đầy ô trọc. Và, tã quấn Hài Nhi, là dấu chỉ về vải liệm và nỗi chết Chúa sẽ chịu. Nhưng, dấu chỉ đây còn tỏ cho thấy niềm vui, nơi mọi người. Vui, vì Hài Nhi sinh ra là sinh cho ta. Còn sự chết, cũng sẽ bị sự sống rất mới khuất phục để trỗi dậy, không sợ sệt.  

Thế giới, nay gồm đầy những chuyên gia binh bị, kinh tế và triết học. Về binh bị, có người lại biết cả cách thức áp đặt nền dân chủ/hoà bình lên người khác, dù người khác không cần. Về kinh tế, có vị còn nói mình sẽ chỉnh đốn mọi khủng hoảng tiền bạc do họ tạo. Với triết học, có vị nghĩ mình thông thái biết hết mọi sự và làm được mọi việc. Còn ở nơi ta, có nhà thơ chỉ muốn nguồn thơ mình thai nghén sẽ giáng hạ sinh biến đổi con người từ bên trong, để thấy trẻ thơ sinh hạ, đến với ta. Và mỗi lần ta nhận ra được Nguồn Thơ Trẻ, sẽ tin vào tương lai/mai ngày mà thế giới không thể trao tặng. Làm được thế, ta sẽ sống trong Nguồn Thơ rất Vọng.

Mùa Vọng, là trông ngóng Hồn Thơ ra đời như thế. Hồn Thơ, có các thánh ngóng chờ như bài đọc kể Abraham và Sarah mừng vui sau bao ngày đợi chờ, đã sinh con. Có, Ysaya và ngôn sứ đợi chờ đoàn-tụ sau bao ngày lưu lạc chốn quê người. Chờ, như Gioan Tẩy Giả chờ nơi hoang dã để lời tiên tri thành hiện thực. Chờ, như Mẹ chờ Chúa Giáng hạ nơi cung lòng trinh trong của Mẹ. Và Mẹ tiếp tục chờ Chúa quang lâm ở đồi cao thánh giá. Tất cả, đều chờ Nguồn Thơ như chờ Giáng hạ.

Đọc sách Ysaya, ta thấy giòng thơ dào dạt đầy chờ trông. Đặc biệt, là giòng thơ trấn an dân con mọi người hãy cố chờ cả vào sau thời lưu đày, nữa. Chờ đây, là chờ Giêrusalem được dựng lại từ đổ nát. Chờ, như ngôn sứ lâu nay vẫn chờ Nguồn Thơ là tâm điểm thế giới, có Chúa vực đỡ quần thần/dân nước tề tựu nơi đó, để có được thị kiến giống nhà thơ Đạo.

Thánh Phaolô còn đi xa hơn, khi nhắn nhủ: ơn rỗi Chúa mang đến, không chỉ cho một dân tộc, mà là muôn dân nước. Thơ Nguồn cứu-độ không lệ thuộc dân con nước nào, hết. Chỉ cần ta có quan hệ mật thiết với Chúa, là sẽ thành công. Và, Nguồn Thơ Cứu Độ đến với mọi người dù họ có thuộc nhóm hội hoặc sắc tộc nào cũng sẽ được Nguồn Thơ Giáng Hạ rất đồng đều, ở vạn vật.

Tại các nước như Úc Châu, Hoa Kỳ hoặc đâu đó, chúng nhân từ muôn nơi đổ về đây sinh sống. Họ thuộc đủ mọi thành phần giòng giống/sắc tộc, tôn giáo hoặc truyền thống văn hoá rất khác biệt, vẫn đến đây để mừng ngày Đức Chúa là Nguồn Giáng Hạ đến với họ. Với họ, Chúa Giáng hạ Ngài không chỉ đến với đất nước hoặc sắc tộc nào tư riêng, mà cho hết mọi giống nòi, giòng tộc. Chúa Giáng Hạ, Ngài không chỉ đến với ai riêng rẽ mà là tất cả mọi người, như Nguồn Thơ lênh láng. Và Nguồn Thơ ấy, nay đã mặc lấy xác phàm làm Trẻ rất Thơ.

Nguồn Thơ Giáng hạ, có xác thể/hình hài giống như ta, nhưng không giống Ông Già Tuyết. Cũng chẳng là truyện thần thoại đầy xảo thuật làm loé mắt dân con mọi người. Và, Vương quốc Nước Trời là Trời Thơ của Chúa nay mặc xác phàm ở với thế trần, sống với ta. Trời Thơ đến với ta, đã biến cải thế giới của ta thành thế giới của Nguồn Thơ có nguồn sống, giống như ta. Trời Thơ của Chúa, lại cũng chấp nhận cuộc sống như ta. Chấp nhận cho cả lịch sử và giao ước, cùng nhu-cầu chậm bước vẫn nhẫn nhục, giống hệt ta. Trời Thơ, cũng giàn giụa nước mắt than khóc nhiều như ta từng khóc than những lúc quyết kiếm tìm cho đúng ngôn từ, nên đôi lúc cũng lạc loài, biến dạng, bị từ khước.

Mặc lấy xác phàm loài người, Đức Chúa cảm nghiệm nhiều điều giống Nguồn Thơ, từ: sự lạnh nhạt, yếu kém cho chí nỗi khước từ. Ngài cũng đã trải nghiệm vật vã, lưu lạc đến nỗi chết. Ngài cũng gặp cảnh huống ghen tuông, chối bỏ và trầm luân, lưu lạc sống khoảnh khắc thân xác lớn rất chậm.                       

Mặc lấy xác phàm để sống như con người bằng xương thịt, còn là đi vào với thế giới ngôn ngữ, diễn tả bằng ngôn từ của con người. Vào với thế giới của ngôn ngữ, Chúa cũng trải qua các giai đoạn tiến triển trong tạo dựng. Có trao đổi, hỏi han, có tham gia trở  thành tâm điểm để người khác theo đó mà tin. Có điểm đối chọi, để ta nhận ra động lực thúc đẩy mà sống vững chãi hầu đi vào quan hệ đặc biệt với người khác, biết mình và biết người.

Chúa mặc xác phàm làm người, Ngài tạo dựng chính mình Ngài để trở thành Con Người như ta, ở trong ta. Và, giữa ta. Ngài viết lên Bài Thơ nơi da thịt, xác phàm làm người của chính ta. Không Tin Mừng nào lại trình bày sự việc Chúa Nhập Thể cách đột ngột cả. Chúa Nhập Thể đến với con người là Ngài có chuẩn bị, từng chi tiết, rất như Thơ.

Có chuyển tiếp dẫn đưa con người đến giai-đoạn tháp-nhập vào với Người để hiện diện với đời, chứ không chỉ mang tính thiêng liêng/linh đạo rất tri thức. Chẳng linh-đạo nào lại có thể hiện diện ở thế giới của con người bằng xương thịt, trừ Chúa ra. Nguồn Thơ Chúa Nhập thể, là Ngài mặc lấy xác phàm nhưng Ngài vẫn 100% là Thiên Chúa và 100% là con người, cùng một lúc.

Đồ đệ Chúa thời ban đầu, lại cũng là đồ đệ của thánh Gioan Tẩy Giả, đấng thánh biết tự rút lui vào chốn hư không/trống vắng để Chúa toả sáng với những ai dõi bước theo Ngài. Thánh Gioan không tự nhận mình là tụ-điểm thu hút hết mọi người. Và, thánh nhân tuyên bố mình chỉ là cây đèn chứ không là ánh sáng chiếu dọi mọi người. Thánh nhân là tiếng nói chứ không là Lời của Trời Thơ.

Đồ đệ đến với Chúa như việc tự nguyện; tức: không o ép, bức bách hoặc bị dẫn dụ. Các thánh thấy Chúa nên đã đi theo như đã từng đi theo thánh Gioan Tẩy Giả vào nơi hoang dã. Và, Chúa nhìn đoàn môn đệ rồi cảm kích; và cứ thế, Thày trò nhìn nhau lại đã khám phá ra điều tuyệt vời ở nơi Cha, Đấng gửi Thày đến với mình. Và, với mọi người như Ngài từng gửi Nguồn Thơ Lời Ngài đến với trần thế. Cảm kích hơn, là khi đồ đệ thấy Thày mình là Nhà Thơ Tuyệt Cú. Để rồi, cả Thày lẫn trò là bầu bạn của Nguồn Thơ, vẫn tìm Nguồn Hứng nơi Cha, là Tất Cả. Và, Thày trò cứ thế ra đi tìm về Nguồn Hứng của Thi Ca, cũng là Nguồn Mạch mọi sự ở thế trần.

Thánh Âu Tinh từng kêu lên: “Lạy Cha, chính Cha đã làm nên chúng con để Cha vừa lòng, và tâm can chúng con sẽ không ngơi nghỉ cho đến khi nào chúng con được nghỉ ngơi, nơi Cha”. Chính vì thế, chúng ta vẫn kiếm tìm Chúa nhưng không biết mình đang làm gì, và chẳng biết Ngài là ai. Rất thiếu hụt, nếu không có Ngài thì tất cả chẳng là gì cả. Và, mọi sự sẽ đi từ thất bại đến tuyệt vọng hoặc từ rối rắm này đến ngõ bí khác. Chúng ta đến, vì lý do chính đáng. Ta ở lại, cũng vì lý do nào khác…

Phải chăng, đó là lý do để ta hiên ngang trông mong Chúa lại đến? Phải chăng Hội thánh Chúa sẽ dỗ dạy con dân mình Lời Thơ sự sống, dù Thơ Trời nay đã đến và ở với ta? Và đó, có lẽ là ý nghĩa đích đáng của mùa Vọng, rất chờ mong. Mong ai? Mong gì? Mỗi người và mọi người sẽ tự tìm ra câu giải đáp, rất thoả đáng.

Trong mong đợi Nguồn Thơ sâu sắc đến, cũng nên ngâm thêm lời thơ đời đầy ý nghĩa, rằng:

            “Hiểu gì không, ý nghĩa của Trời Thơ?

            Của hương hoa trong trăng lờn lợt bảy?

Của lời câm, muôn vì sao áy náy?

            Hiểu gì không? Em hỡi! Hiểu gì không?”

            (Hàn Mặc Tử – Trường Tương Tư)

Nhà thơ xưa cứ tương tư, dù đã hiểu. Hiểu “Lời Câm” hương hoa, vẫn kiếm tìm. Hiểu, “muôn vì sao áy náy”, “trăng lờn lợt bảy”. Hiểu cả Trời Thơ, nay đến ở với ta và với người, suốt cõi đời nhiều kiếp, rất ý nghĩa.   

Lm Kevin O’Shea CSsR biên soạn

Mai Tá lược dịch  

Sống trên đời này

Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ nhất mùa Vọng năm C 02-12-2018

“Sống trên đời này”

người giàu sang cũng như người nghèo khó.”

Trời đã ban cho ta cám ơn trời dù sống thương đau

Mai kia chết rồi trở về cát bụi giàu khó như nhau

Nào ai biết trước số phận ngày sau ông trời sẽ trao.”

(Lê Dinh – Trở Về Cát Bụi)

(Lc 2: 41)

 “Trở Về Cát Bụi”, lại có nghĩa “đi vào lòng đất”, lòng người và lòng đời, rất khơi khơi.“Trở về cát bụi” còn là và sẽ là trở về với nhà Đạo nhiều tầng lớp. Có lớp tầng đầy vàng son. Có tầng lớp lợi danh với chức quyền, như nhạc bản còn lên tiếng, như sau:

“Này nhà lớn lầu vàng son

Này lợi danh, chức quyền cao sang

Có nghĩa gì đâu… sao chắc bền lâu

Như nước trôi qua cầu

Này lời hứa…

Này thủy chung…

Này tình yêu… Chót lưỡi đầu môi cũng thế mà thôi

Sẽ mất ngày mai như áng mây cuối trời

Sống trên đời này tựa phù du có đây lại rồi mất.

Cuộc sống mong manh xin nhắc ai đừng đổi trắng thay đen

Nào người sang giàu đừng vì tham tiền bỏ nghĩa anh em

Người ơi xin nhớ cát bụi là ta… mai này chóng phai

Người nhớ cho ta là cát bụi trở về cát bụi

Xin người nhớ cho.”

(Lê Dinh – bđd)

“Người nhớ cho”, xin nhớ đủ mọi thứ chuyện. Cả đến truyện kể không nặng nề, nghe cũng thấy mê, đọc được ở bên dưới:

“Truyện rằng:

Một người đàn ông chết rồi, mới ý thức được rằng cuộc đời mình thật ngắn ngủi. Lúc đó, anh ta nhìn thấy Phật tổ tay xách một cái hòm, tiến lại phía mình. Phật tổ nói:

-Con trai, chúng ta đi thôi.

Người đàn ông đáp:

-Sao nhanh quá vậy, con còn rất nhiều việc vẫn chưa hoàn thành.”

Phật tổ nói:

-Ta rất xin lỗi, nhưng thời gian của con hết mất rồi!

Người đàn ông lại hỏi:

-Vậy thưa Phật tổ, trong chiếc hòm của ngài có chứa thứ gì vậy?

-Đó là di vật của con, Phật tổ trả lời.

Người đàn ông tỏ ra nghi ngờ, hỏi tiếp:

-Là di vật của con sao? Ý của người: đó là thứ thuộc về con, có phải là quần áo và tiền không ạ?”

Phật tổ đáp:

-Những thứ đó trước giờ chưa bao giờ thuộc về con, chúng thuộc về địa cầu.

-Vậy có phải trong đó là ký ức của con không?

Người đàn ông ngẫm nghĩ một lát rồi phỏng đoán..

-Không phải, ký ức thuộc về thời gian.

Người đàn ông lại đoán:

-Có phải là tài năng thiên phú của con?

-Không, chúng thuộc về cảnh ngộ.

Người đàn ông băn khoăn:

-Lẽ nào trong đó là bạn bè và người nhà con?

-Con trai ạ, không phải vậy đâu. Họ thuộc về hành trình mà con đã đi qua.

-Vậy có phải là vợ và các con của con trong đó không thưa Phật tổ? người đàn ông hỏi tiếp.

-Không, họ thuộc về trái tim con..

Người đàn ông lại phỏng đoán:

-Vậy nhất định đó là thân xác của con rồi.

-Không, thân xác của con thuộc về cát bụi.

Cuối cùng, người đàn ông khẳng định chắc chắn:

-Vậy đó nhất định là linh hồn của con!

Lúc này, Phật tổ mỉm cười, đáp:

-Con trai, con hoàn toàn sai. Linh hồn của con thuộc về ta.

Mắt ngấn nước, người đàn ông nhận chiếc hòm từ tay Phật tổ bên trong chiếm hòm trống rỗng. Nước mắt chảy dài trên má, trái tim vỡ vụn, người đàn ông hỏi Phật tổ:

-Lẽ nào từ trước tới nay con chẳng sở hữu bất cứ thứ gì sao?

Phật tổ đáp:

-Đúng thế con ạ. Trên thế giới này bây giờ chẳng có bất cứ thứ gì thực sự thuộc về con.

-Vậy thì cái gì mới là của con?

-Mỗi tích tắc khi con đang còn sống, chúng thuộc về con, còn bây giờ, con chẳng còn gì cả.

 Đến lúc này, người đàn ông mới như được thông suốt. Thì ra, sinh mệnh, đời người chỉ là những cái tích tắc ngắn ngủi và điều chúng ta nên làm nhất, là tận dụng nó sao cho thật hiệu quả, thật tốt, yêu quý nó, hưởng thụ nó. Còn được sống, đó đã là một sự chiến thắng vẻ vang. Việc kiếm tiền chỉ là một trò chơi không hơn không kém. Khỏe mạnh mới là mục đích và vui vẻ, hoan lạc mới là chân đế! 

Vậy nhưng trong cuộc sống này, thử hỏi có bao nhiêu người đang ra bị cuốn vào vòng quay tiền tài, danh vọng? Có bao nhiêu người vì chút lợi ích của bản thân mà làm tổn hại người khác và làm tổn thương chính mình mà không nhận ra? Có bao nhiêu người sẵn sàng bán sức, đánh đổi sức khỏe để lấy những vật ngoài thân…?

 Các bạn biết không, đó là sai lầm lớn nhất cuộc đời, bởi đến lúc chết, chẳng có bất cứ thứ gì trên thế giới này còn thuộc về chúng ta. Vậy thì tại sao không tận hưởng một cách triệt để nhất mỗi tích tắc được sống trên đời? Tại sao không làm cho quãng thời gian ngắn ngủi ấy trở nên ý nghĩa, trọn vẹn nhất?

 Từ lúc này, mỗi chúng ta hãy chọn cho mình một cách tận hưởng thời gian hiệu quả nhất, đơn giản thôi, đừng quá nặng nề với những yêu cầu xa vời, chúng chỉ khiến cuộc sống của chúng ta thêm mỏi mệt. Và cũng bởi cuộc đời rất ngắn, nên hãy dành cho những người xung quanh ta sự trân trọng, yêu quý hết sức có thể, đừng tranh chấp, cũng đừng giận dữ, hãy lựa lời, cùng thấu hiểu và thông cảm cho nhau.

 Thời gian của mỗi người trên đời càng đi càng ngắn lại, dù là thân thiết gắn bó đến đâu, cuối cùng cũng vẫn phải chia ly”. (Theo báo Trí Thức Trẻ)

Thời gian dài ngắn, đến trước đến sau, đều có những sự kiện để đời. Hệt như Đạo Chúa cũng có những sự-kiện để đời khiến con người không thể chối bỏ, tránh né hoặc bỏ bê không tham-dự. Chính đó, là lễ hội ở nhà Đạo được ghi nhận như sau:

“Mọi người chúng ta nên biết đôi điều về các ngày lễ được nêu tên trong Tân Ước diễn tả cuộc sống rất đặc trưng của Đức Chúa. Tôi sẽ kể ra đây một vài lễ hội quan trọng của Do-thái-giáo. Trước tiên, ngày trọng đại nhất là Lễ Vượt Qua. Đây là lễ hội chính trong năm kỷ niệm cuộc giải thoát dân Israel sau 400 năm sống đời cơ-cực ở Ai Cập.

   Hẳn mọi người còn nhớ Joseph, con trai của Giacóp bị các người anh của mình bán làm nô lệ cho Ai Cập, nhưng anh đã trỗi-dậy trở thành người quản-gia phục-vụ trong triều Pharaô. Suốt nhiều năm tháng kể từ ngày Israel phải chịu cơn đói kém trải dài, mấy người anh của Joseph đã thân chinh lên đường đi Ai Cập để kiếm cách độ nhật. Và theo lệnh Joseph, toàn-thể gia đình những người thân đã qua đó làm nô-lệ phục-vụ vua quan ở đó suốt 400 năm, khiến gia-tăng dân số lên gấp bội.

 Kế đó, tổ-phụ Môsê cũng đưa họ ra khỏi Ai Cập mãi đến lúc tử-thần chợt đến vào ban đêm giết sạch các con trai đầu lòng và cả thú vật của họ; riêng dân Do-thái được lệnh bôi máu chiên lên thành cửa thoát nạn, tình-hình khi ấy trở nên thập phần bi-đát khiến vua Pharaô biết chuyện đành phải thả họ về nước. (X. Sách Xuất hành đoạn 12 câu 1 đến câu 32)

Sau đó không lâu, người Do-thái-giáo đã cử-hành mừng lễ hội này vào mỗi tháng, tức: đúng buổi chiều ngày thứ 14 tháng Nisan, tức ngày tròn trăng của mùa Xuân. Và khi ấy, đã có lệnh lan truyền rằng: mỗi gia đình đều phải ăn một con trừu được hiến tế vào sáng sớm trong ngày cùng với bánh không men và rau đắng; đồng thời, mọi người được bảo phải uống thật nhiều rượu và đọc lời cầu sau nghi thức được chỉ định. 

Mọi nam-nhân khi ấy đều phải chuẩn bị đi Giêrusalem dự lễ hội và Đức Maria cùng thánh Giuse cũng đều tới đó mỗi năm (Lc 2: 41; Xh 23: 14-17). Lễ hội Vượt Qua kéo dài một tuần lễ, trong những ngày này mọi người chỉ được phép ăn bánh không men thôi.

 Tin Mừng thánh Mátthêu, Máccô và Luca, rõ ràng có chép: Đức Giêsu cũng cử-hành tiệc Tạ-từ qua nghi-thức mừng Lễ Vượt Qua như mọi người (Mc 26: 17). Làm thế, Ngài đã biến Lễ hội Vượt Qua thành Tiệc Thánh Thể mừng kính sự-kiện Thiên Chúa giải-thoát dân con loài người khỏi tình-trạng nô-lệ tội lỗi, nỗi chết và ác thần sự dữ bằng cái chết của Con Chiên Thiên Chúa trên thập-tự.

 Lại có lễ-hội khác, qua đó người Do-thái-giáo nối-kết với Lễ hội Vượt qua, là Lễ Bánh không men, bên tiếng Hy Lạp gọi là Azymes, tức: lễ hội ngày mùa qua đó nhà nông cùng nhau tụ-tập tiến dâng hoa quả đầu mùa lên Thiên Chúa  (x. Sách Lêvi 23: 15; sách Đệ Nhị Luật 16: 9)              

Do bởi người Do-thái không có khả năng trồng trọt và canh-tác mãi đến lúc họ trở về vùng đất hứa 40 năm sau  khi rời bỏ đất Ai Cập, rõ ràng là lễ hội này được định-vị từ ngày ấy mà thôi. Như thế còn có nghĩa, đã từ lâu lễ này được cử hàng cùng với lễ Vượt Qua bởi lẽ cả hai lễ hội đều chú trọng đến bánh không men và cả hai đều được mừng kính cùng một thời-điểm trong năm.

 Nghi-lễ này chính-thức được định-vị trong những năm tháng ngày dài sau đó, cả hai lễ hội này đều được mừng kính tại Giêrusalem. Nghi-thức được cử-hành bằng thức ăn của lễ Vượt Qua vào đêm tối trước ngày 14 tháng Nisan. Lễ hội này kéo dài suốt tuần lễ và suốt thời gian này dân con mọi người bị cấm chỉ không được ăn bánh có lên men hoặc men bột được cất giữ ở trong nhà. Và, các ngày lễ trọng thể nhất là ngày đầu và ngày cuối của lễ hội ấy cùng với ngày sabát rơi vào những ngày từ 14 đến 21 của tháng Nisan.

 Ngoài ra, còn một lễ hội khác cũng quan trọng không kém đối với người theo Do-thái-giáo, đó là: Lễ Ngũ Tuần hoặc còn gọi là Lễ Hiện Xuống. Lễ này được thiết-lập để dân con trong Đạo cảm-tạ Thiên Chúa đã phú ban cho họ hoa quả, đậu hạt, lúa miến, lúa mạch cùng nhiều lúa khác có màu đen. Dân con trong Đạo cử hành mừng lễ thất tuần hoặc 50 ngày sau lễ hội Bánh KHông Men , bên tiếng Hy Lạp gọi là Lễ Ngũ Tuần (Hiện Xuống).

 Đương nhiên, lễ hội này được nối kết chặt chẽ với lễ Bánh Không Men được cử hành xen kẽ vào ngày đầu và cuối vụ gặt. Với Lễ Vượt Qua, tất cả nam-nhân Do-thái phải có mặt ở đền thờ ở Giêrusalem để mừng lễ Hiện Xuống.

 Điều này cũng giải thích lý do tại sao tất cả mọi người Do-thái-giáo ở khắp mọi nơi trên thế-giới đều về Giêrusalem mừng lễ kỷ niệm ngày Thánh Thần Chúa hiện xuống với các thánh tông-đồ vào ngày lễ Ngũ Tuần (x. sách Công vụ đoạn 2 câu 5-11). Bầu khí tưng bừng vây quanh lễ hội này, là niềm vui cao cả, trong đó có yến-tiệc linh-đình hội-tụ tất cả mọi thành viên trong gia đình, từ người giúp việc cho đến khách quí được mời như người cùng nhà.” (X. Lm John Flader, Jewish feasts the roots of today’s Christian faith, The Catholic Weekly 14/8/2018 tr. 29)       

Trong những ngày vui đình đám như thế, giả như ai đó trong nhóm dân con đi Đạo lại cứ rủ nhau quay quần mà vui chơi, ăn uống luôn tiện mừng kính mọi ý-nghĩa này khác của đời người, hẳn mọi người sẽ không còn bận tâm gì đến lời lẽ của nhạc phẩm được trích dẫn ở trên với những ca-từ từa tựa như:

“Sống trên đời này

người giàu sang cũng như người nghèo khó.

Trời đã ban cho ta cám ơn trời dù sống thương đau

Mai kia chết rồi trở về cát bụi giàu khó như nhau

Nào ai biết trước số phận ngày sau ông trời sẽ trao.”

(Lê Dinh – bđd)

Để minh-họa tình-tiết của lễ-hội vui, buồn đình đám nói ở trên, thiết tưởng cũng nên đi vào vùng trời truyện kể, để kiếm tìm một câu truyện làm nền, hầu ghi nhớ. Truyện, là những câu chuyện được gửi gắm cho nhau, đến với nhau, những niềm vui như sau:

“Tôi không phiền lòng chuyện bạn tù của tôi là một “vợ”. Hắn rộng rãi chia với tôi những thỏi chocolate và thuốc lá mà bọn “chồng” mua cho hắn. Tôi cũng không khó chịu việc hắn là trí thức. Tôi cũng trí thức. Trong chốn này, chỉ cần kể được tên thủ phủ hai tiểu bang và đọc bảng chữ cái không vấp, người ta được coi là trí thức. Nhưng chúng tôi trí thức thứ thiệt. Chúng tôi biết cách lý lẽ. Khác nhau duy nhất giữa tôi và hắn: tôi trí thức hữu cơ, hắn trí thức vô cơ.

 Tôi nói vô cơ theo nghĩa, logic của hắn không được logic lắm. Hắn cho biết cả đời bị ám ảnh vì hình dạng những lưỡi kéo: “Tao khoái một số lưỡi kéo đầu tà, một số đầu nhọn. Chúng có thể đâm, cắt, mở toang hoác như miệng.” Hắn đưa hai ngón tay ngang mũi làm động tác cắt, cười tinh quái. Hắn nói cảm thấy ngây ngất được ở chốn này: “Suốt đời tao mong vào đây, dù không biết nó thế nào. Không phải sai lầm đâu, chỉ là một chọn lựa. Người ta chọn số phận mình.”

 Vớ vẩn. Tôi đâu chọn vào đây. Không ai chọn vào đây. Lý do đẩy tôi vào tù là một cơn bệnh ngoài tầm kiểm soát. Không ai có thể nói tôi thích tù hơn cuộc sống bên ngoài. Vì kiểu lý lẽ đó, hắn là một trí thức vô cơ. Hắn suy diễn những quy luật phổ quát dựa trên nhầm lẫn cá nhân. Hắn nói thêm: “Biết chấp nhận số phận, thậm chí một số phận quái đản, đầy đau đớn khổ sở của chính mình và kẻ khác, sau cùng ta trở nên thanh thản, thăng hoa!”

 Ý tưởng này đến từ tên tù chung thân không có khả năng được ân xá! Chuyện hắn đã làm chắc chắn là tội ác, nhưng không ghê tởm hơn tôi, hay hầu hết những kẻ trong này. Tôi không lên án hắn. Cũng không mong hắn ăn năn. Ðiều tôi phản đối là cách hắn nhìn tội ác như một phương tiện khám phá bản thể. “Ðể hoàn thiện một người,” hắn triết lý, “nhiều kẻ khác phải bị hủy hoại. Ðiều này cũng đúng với những quốc gia.”

 Nếu điều này là sự thật, tôi không hứng thú với sự viên mãn kiểu đó. Tôi thà làm nửa người đứng đắn còn hơn thành quỷ sứ nguyên con. Tôi vào đây vì đã làm tổn thọ mười hai mạng. Tôi không hãnh diện. Tôi lấy làm tiếc việc phải tiêu phần đời còn lại của chính mình trong sở thú bê-tông và song sắt, giữa đám nửa người nửa ngợm. (Tôi phục vụ trong quân đội bốn năm, nhưng chuyện đó chẳng nhằm nhò gì so với tù.)

 Hàng tuần, trước khi được uống Depo-Provera, một thần dược giúp giảm cơn dày vò tính đực, tôi là kẻ nửa người nửa quái vật, nhưng lúc này quái vật đang ngủ yên trong ruột, nên phần lớn tôi có thể được xem là người.

 Tôi tổn thương, khích động và căng thẳng đến mức bất kỳ kích thích nhỏ nào – mẩu quảng cáo đồ lót, tách cafe, chiếc bánh donut – cũng đủ khiến tôi nghĩ: Máu! Tôi từng nghĩ thân thể mình là lưỡi dao dài, ngày ngày thọc về phía trước tìm kiếm nạn nhân.

 Khởi đầu, tôi nhắm mắt giết bừa, như điên, chẳng triết lý, nhưng đến khi nạn nhân thứ sáu hoặc bảy gì đó câm miệng (Diana? Susan?), khi là kẻ duy nhất còn lại trong phòng, tôi bỗng nhận chân được mục đích. Hơn cả chuyện dứt bóng những mạng sống, tôi quan tâm việc tạo mối liên hệ với nạn nhân thông qua sự làm nhục. (Còn gì gần gũi hơn việc chia xẻ ô nhục). Sau phát hiện đó, mỗi lần chuẩn bị cắt cổ nạn nhân, tôi nói: “Giờ thì chúng ta đã biết bí mật nhau, đã hạ nhục nhau, chẳng còn gì ngoài việc gặp lại kiếp sau. Anh yêu em.” Quá xúc động bởi tuyên bố tình yêu, mắt tôi đẫm lệ. Tôi hôn hàm răng lạnh giá những người đàn bà.

 Có một sự im lặng kỳ lạ sau mỗi lần ra tay. Có vẻ xác chết đang hút hết tiếng động thế giới vào quỹ đạo phân rã của nó. Ngay khi vừa giết xong, ta có cảm tưởng mình là người cuối cùng trên mặt đất. Một cảm giác thanh bình, tuyệt diệu. Người ta từng bịt mắt cả tá nô lệ ném vào vòng đánh nhau cho đến khi chỉ sót lại một mạng. 

Sau nạn nhân thứ mười, tôi cảm thấy ngây ngất đến độ tin rằng Thượng Ðế sẽ gọi tôi. Tôi chăm chú nhìn chiếc điện thoại, chắc rằng nó sẽ reng. Tôi tin Thượng Ðế sẽ chúc mừng tôi việc tham dự trò đùa của ngài. Phụ nữ thông hiệp với Thượng Ðế ở điểm khởi đầu trò đùa bằng sinh sản. Ðàn ông ở điểm kết thúc, bằng giết chóc.

 Mắt của nạn nhân thứ mười một mở trừng trừng. Tôi hơi run. Trong lớp dạy làm thơ, tôi được học về chủ nghĩa Tượng trưng và Siêu thực. Tôi viết: “Mắt là cửa sổ tâm hồn. Khi tâm hồn rời chỗ lưu tồn, mắt nên nhắm lại.” (Thầy giáo tôi, Mr. William, khen ngợi hiệp vần “hồn” với “tồn”, “sổ” với “chỗ”). Tôi tham dự tất cả những lớp học trong tù. Ðiều quan trọng là không phung phí thời gian và phải mở rộng chân trời hiểu biết. 

Nhưng nhân tố lớn nhất giúp tôi hồi phục sự tỉnh táo là những trao đổi với một bạn thư, tên Julie.

Julie ở Úc. Nàng ba mươi chín tuổi, ly dị, và ung thư vú. Trong quá khứ, khi đau khổ của người khác là nguồn mạch hoan lạc của tôi, sự kiện sau cùng này sẽ khiến tôi ngây ngất. Nhưng giờ đây, tôi chỉ gởi lời an ủi đến nàng. Tôi cũng đều đặn tiêm cho nàng những liều bất hạnh của tôi, phóng đại khi cần thiết, để nàng cảm thấy dễ chịu khi so sánh. Tôi quan tâm Julie đến nỗi để giành lại hầu hết những chuyện tồi tệ nhất của đời sống ngục tù, chỉ chia xẻ khi nàng thật sự xuống tinh thần. Tôi nhạy cảm đến thế. 

Tôi cũng lưu ý giữ cân bằng giữa những chuyện kinh tởm và những chuyện thuần túy khôi hài. Chỉ trong thư thứ ba, tôi kể chuyện những tay gác tù phải khám dái và đít tôi thế nào trước khi cho phép vào sân đi dạo. Làm phụ nữ cười là điều tốt. Nụ cười sảng khoái có thể trì hoãn ung thư. Nhưng tôi thấy bạn đang nhăn. Bạn thấy tôi rơi vào trò tự bốc thơm. Bọn tù chúng tôi vẫn thường được coi là chỉ quan tâm đến mình. Ðủ rồi. Tôi phải hít một hơi dài và đổi giọng đơn điệu.

 Julie cho phép tôi dòm ngó vào đời sống thường nhật của nàng. Trước nay tôi chưa bao giờ quan hệ bình thường với phụ nữ. Nàng kể chuyện ăn sáng món gì, đọc sách gì. Nàng mô tả chiếc áo choàng đang mặc khi viết thư.

 Thư của Julie không mùi. Giấy chẳng có mùi. Tuy vậy, nó đã được chạm vào bởi một phụ nữ, một phụ nữ bằng xương bằng thịt. Vì thế tôi áp chặt lá thư vào mũi hít lấy một cách ngây ngất. Ðây là mẩu giấy có mùi tuyệt dịu nhất trần đời. Tôi không ngại thú nhận rằng tôi cũng vuốt ve mảnh giấy lên những bộ phận khác của cơ thể. 

Một vài tay trong tù lạm dụng bạn thư bằng những trò đại loại như yêu cầu các nàng ngồi lên máy photocopy, nhưng tôi không phải loại đó. Thực ra, tôi chưa xin Julie tấm ảnh nào.

 Julie chưa bao giờ hỏi lý do tù tội của tôi. “Tất cả chúng ta đều có một quá khứ đáng tiếc,” nàng viết, “Em cũng vậy. Ai cũng có quyền giữ bí mật riêng mình. Nếu tất cả bí mật được phơi bày, chúng ta sẽ bị khai trừ vĩnh viễn khỏi xã hội loài người.”

“Nếu gặp em cách đây mười năm,” tôi viết, “anh đã không vào tù.” 

Kiếp này tôi sẽ chẳng bao giờ được ôm Julie trong tay. Hẹn kiếp sau. Mặt khác, tôi lấy làm vui vì Julie ở rất xa, tôi sẽ chẳng bao giờ làm được chuyện khủng khiếp với nàng. Không phải tôi muốn chuyện như vậy. Julie sẽ không bao giờ là nạn nhân thứ mười ba. Ðiều quan trọng là trong đời, đàn ông ít nhất phải một lần có quan hệ thành công với phụ nữ. Giờ tôi đã làm được chuyện đó. 

Bác sĩ tâm lý của chúng tôi, ông Fang, nói sở dĩ tôi sợ đàn bà là vì trong quá khứ họ đã bắt tôi chiều chuộng, ý tứ, đê tiện, hy vọng, và can đảm, tất cả những phẩm chất tôi không có, không bao giờ quan tâm phát triển. Ông nói: “Tất cả các anh đều sợ đàn bà. Ðó là lý do khiến các anh vào đây.” 

Trong sâu xa tôi vẫn tin sẽ có ngày thoát khỏi nơi này. Có thể động đất hay một cuộc cách mạng sẽ khiến cửa tù bật mở. Có thể một cuộc xâm chiếm của người hành tinh. Có thể một thiên thạch.

Ðôi khi, khoảng trước giấc ngủ, lúc nửa tỉnh nửa mê, tôi mơ thấy đang thả bộ trên đường Pine ở Philadelphia. Nhưng mình không thể thả bộ được, đang ở tù mà! Trong giấc mơ chập chờn, tôi ý thức đang nằm trên giường, dưới tấm mềm mỏng ngứa ngáy, nhưng lại thấy rất rõ tiệm café Last Drop, đối diện bên kia đường là quán rượu Dirty Frank. Nếu thật tập trung, tôi có thể mở cửa Dirty Frank, bước vào. Tôi cảm thấy cơn giận khủng khiếp dâng lên, mắt mở to, nhìn thấy đáy giường gã bạn tù. 

Một lần, trong tình trạng như vậy, tôi gọi gã bằng những cái tên ghê tởm mà tôi lập tức hối hận. Khi hắn thức dậy, tôi biện hộ vừa trải qua cơn ác mộng.

Gã bạn tù của tôi lập gia đình năm năm. Năm năm tuyệt diệu, hắn kể. “Tụi tao làm tình mỗi tuần hai lần, cãi nhau to tiếng mỗi tháng một lần, nấu nướng ngoài trời và đi biển mỗi mùa hè.” Nhưng hắn đã vứt bỏ tất cả chỉ vì bị ám ảnh bởi hình dạng những lưỡi kéo. “Suốt đời, tao bị thôi thúc không chịu nổi việc phải đâm đàn bà. Chỉ sau khi đâm chết vợ trong khi ả đang ngủ, chẳng vì lý do gì, bằng một chiếc kéo, tao mới nhận ra ham muốn thầm kín được ở tù. Tao muốn được ở giữa những thằng đàn ông. Tao muốn đến phiên mình được đâm để thỏa mãn số phận.”

Phan Nhiên Hạo dịch từ nguyên bản tiếng Anh “Two Intellectuals” trong Linh Dinh, Blood and Soap (New York: Seven Stories Press, 2004).

Sống trong đời, mà lại ví dụ như nhà tù, thì thật không phải. Thế nhưng, đời người có gì là phải hoặc không phải. Nói cho cùng, cũng chỉ là lý-luận phải trái với nhau, mà thôi. Lý và luận, hết mọi sự trên đời. Cả trong cuộc đời đi Đạo hoặc sống Đạo ở ngoài đời. Nhất nhất, cũng chỉ là những ngày dài trong cõi đời, nhiều ngày sống.

Nói cách khác, tất cả chỉ là những ngày đi Đạo trong đời người cũng suy-tư, nguyện cầu hoặc nói năng cho trọn ngày, đoạn tháng, cũng thế thôi.

Nói thế rồi, nay mời bạn, mời tôi, ta kết thức câu chuyện phiếm lai rai, đường dài khá lẩn thẩn và vô bổ. Nghĩ thế rồi, nay mời mọi người hãy cùng tôi kết thức những giòng chữ trải dài một cách vô duyên, vô bổ và vô tích sự, ở trong đời. 

Trần Ngọc Mười Hai

Và những ngày dài

Vẫn quan niệm

Tựa hồ như thế.

 Một ngày nào đó, bạn sẽ phải cảm ơn những gian khổ mà mình đã trải qua.

 Một ngày nào đó, bạn sẽ phải cảm ơn những gian khổ mà mình đã trải qua.

Những gian khổ đã trải qua, một ngày nào đó sẽ khiến bạn mỉm cười, không phải vì những gian khổ kia chưa từng tồn tại, mà là bạn đã có đủ dũng khí để đối mặt. Những chuyện đã phát sinh sẽ không thay đổi, mà thay đổi chính là cái tâm của mình.

Những gian khổ đã trải qua, một ngày nào đó sẽ khiến bạn mỉm cười. 

Làm cha mẹ, ai cũng đều hy vọng con cái có đủ dũng khí đối mặt với tương lai mịt mờ phía trước. Để con cái có được sự tự tin, kiên cường, chính là lễ vật tốt nhất mà cha mẹ có thể lưu lại.

Đương nhiên, nhân sinh không ai có thể thuận buồm xuôi gió, khó khăn ngăn trở có thể xuất hiện bất cứ khi nào. Lúc con cái gặp trở ngại, bạn hãy đem câu chuyện này kể cho con, giúp con có được nghị lực mà vững vàng bước tiếp.

Một người đàn ông quyết định từ bỏ cuộc đời của mình. Vì thế, anh ta đi vào trong rừng rậm để nói chuyện một lần cuối cùng với Thượng đế.

Anh hỏi: “Thượng đế, ngài có thể cho con một lý do để con không từ bỏ cuộc đời này được không?”

Câu trả lời của Thượng đế khiến anh chấn động: “Con hãy nhìn xung quanh một chút, con có thấy cây dương xỉ và câu trúc kia không? Sau khi ta gieo hạt giống của chúng xuống đất, cho chúng ở trong cùng điều kiện ánh sáng và hơi nước, cây dương xỉ rất nhanh đã đâm chồi nảy lộc, lá xanh rậm rạp che phủ mặt đất. Nhưng hạt giống cây trúc vẫn không có biến đổi gì.

Năm thứ hai, cây dương xỉ ngày càng rậm rạp, trong khi hạt giống cây trúc vẫn y nguyên như vậy. Đến năm thứ ba, cây trúc bắt đầu nảy mầm, nhưng nó quá nhỏ bé so với cây dương xỉ. Nhưng chỉ 6 tháng sau, cây trúc đã có thể cao tới 3m, hoàn toàn bỏ lại cây dương xỉ ở dưới chân của mình”. 

Sống trên đời, không cần tiếc nuối vì những chuyện đã trải qua, việc tốt mang đến hạnh phúc, việc xấu mang lại kinh nghiệm, mọi chuyện đều là hảo sự. 

Thượng đế nói: “Con trai, thời gian này con đang phải chịu đựng những khó khăn, trên thực tế chính là tạo nền tảng để con sau này vượt trội. Đừng so sánh bản thân với người khác, lúc này, chính là cơ hội tốt dành cho con đó”.

Sống trên đời, không cần tiếc nuối vì những chuyện đã trải qua, việc tốt mang đến hạnh phúc, việc xấu mang lại kinh nghiệm, mọi chuyện đều là hảo sự, giúp bạn ngày càng trưởng thành hơn. Hạnh phúc cho bạn ngọt ngào, trải nghiệm cho bạn mạnh mẽ, thất bại cho bạn khiêm tốn, thành công cho bạn vinh quang.

Có một số việc từng khiến ta không cách nào vượt qua, nhưng sau một thời gian nhìn lại, chợt thấy nó thật nhẹ nhàng, cũng không còn cảm giác khó khăn như thế nữa. Nhưng tại thời điểm đó, cảm thấy vô cùng thống khổ, không cách nào có thể vượt qua.

Chẳng hạn lần đầu tiên thất tình, lúc đó tôi cảm thấy, đời này sẽ không thể nào gặp được một người đàn ông tốt như vậy, sẽ không bao giờ có một người nào khác khiến tôi thích đến vậy. Thế nhưng hôm nay, khi nhắc lại chuyện này, khóe miệng lại có thể mang theo một nụ cười, trong lòng không một chút vướng bận. Tôi chúc phúc cho anh ta, mà tôi cũng đã có được hạnh phúc của riêng mình.

 Dùng thất bại đổi lấy sự từng trải của nhân sinh, dùng khó khăn để bước đi thêm kiên cường, có một ngày bạn sẽ cảm kích những khổ cực đến với mình. 

Những chuyện từng khiến cho ta cảm thấy không cách nào chấp nhận được ấy, trên hành trình nhân sinh có lúc nhìn lại, sẽ phát hiện rằng những việc đó quả là nhỏ bé không đáng kể, hơn nữa có rất nhiều chuyện là tất yếu phải trải qua trong đời.

Thất tình, bạn bè rời xa, người thân nhất hiểu lầm… lúc phát sinh những chuyện này đều khiến chúng ta không cách nào buông xuống được, nhưng bạn thử nghĩ xem, ai trong đời mà chưa từng trải qua chuyện đó chứ? Điểm khác biệt là có người có thể thản nhiên vượt qua, có người lại mãi canh cánh trong lòng.

Sống trên thế gian này cũng nên chịu nhận những vết thương; dù vậy cũng đừng sợ hãi, bởi vết thương một ngày nào đó sẽ lành. Dùng thất bại đổi lấy sự từng trải của nhân sinh, dùng khó khăn để bước đi thêm kiên cường, có một ngày bạn sẽ cảm kích những khổ cực đến với mình, không có chúng, đến khi nào bạn mới có thể trở thành xuất chúng.

From: ngocnga_12 & NguyenNThu

Sáu người Việt Nam bị bắt vì giết sư tử ở Nam Phi

  • Sáu người Việt Nam bị bắt vì giết sư tử ở Nam Phi

    Có sáu người Việt Nam bị cơ quan chức năng Nam Phi bắt giữ vì giết 40 con sư tử tại quốc gia này.

    Truyền thông trong nước trích nguồn từ trang News24 cho biết là sáu người có độ tuổi từ 30 đến 60 bị bắt vào ngày 25/11 khi đang vận chuyển xương và da của các con sư tử mà họ giết chết.

    Trên xe của họ còn có các dụng cụ dùng để nấu cao.

    Cùng bị bắt với 6 người Việt Nam là ba người Nam Phi, trong đó có một người hiện đang làm việc cho một ông chủ người Việt đang bị tình nghi dính líu đến các đường dây săn bắn, buôn bán trái phép sừng tê giác, xương sư tử.

    Tất cả các bị cáo đã ra tòa vào ngày 27/11, với một luật sư được chỉ định để bào chữa cho họ. Tại tòa họ đã khai rằng họ đã giết chết 40 con vừa sư tử vừa hổ chỉ trong hai ngày.

    Thông tấn xã nhà nước Việt Nam cũng cho hay là Đại sứ quán Việt Nam tại Nam Phi đã nắm được sự việc và đang tiến hành các động tác pháp lý để bảo hộ công dân của mình.

    Đây không phải là lần đầu tiên công dân Việt Nam tham gia vào các đường dây săn trộm, buôn bán trái phép động vật hoang dã ở Nam Phi. Trước đây đã có những người Việt Nam bị bắt vì buôn bán sừng tê giác.

    Sừng tê giác và cao tức là loại nấu từ xương cọp hay xương sư tử, được nhiều người tại châu Á trong đó có Việt Nam tin rằng là những loại thần dược rất tốt cho sức khỏ

Tại sao đạo đức tan hoang?

Tại sao đạo đức tan hoang?

Mạnh Kim

29-11-2018

Sự tuột dốc đạo đức không có điểm dừng. Không chỉ những giá trị căn bản nhất của đạo đức đang thoái hóa mà thậm chí tình người cũng cạn kiệt. Sự khủng hoảng đạo đức đang trở nên điên loạn. Chừng nào nguyên nhân sâu xa cuộc khủng hoảng làm tê liệt và tàn phá xã hội này còn còn chưa dám thừa nhận thì vấn đề “chấn chỉnh” đạo đức không bao giờ có thể khôi phục.

Đạo đức rơi từng mảng như một bức tường mục nát. Đạo đức đang lao xuống vực như chiếc xe không phanh. Chưa bao giờ xã hội Việt Nam tan nát đến nhường này. Mọi cái xấu và cái ác tuôn ra ào ạt với mức độ vô phương kiểm soát. Cái xấu này kéo theo cái ác khác. Cái ác đang rất thèm khát thể hiện hung tính của nó. Cái ác trở thành đặc tính nổi trội trong một xã hội hỗn loạn không kỷ cương. Chỉ vì “nhìn đểu”, nạn nhân có thể bị chém chết tức thì. Con giết cha, trò đánh thầy, cô giáo “tra tấn” học sinh, bệnh nhân nện bác sĩ, “quan làng” hà hiếp người dân…, tất cả xảy ra như cơm bữa. Một xã hội ngày nào cũng được cung cấp một “thực đơn” như vậy thì con người sẽ biến thành gì?

Con người sẽ chỉ trở nên ác hơn. Cứ sau một sự việc kinh thiên động địa, chẳng hạn cô giáo cho học trò uống nước giẻ lau bảng hoặc cô giáo phạt “bạt tay hội đồng”, phản ứng xã hội luôn kinh khủng. “Giết chết cả họ nhà con mụ ấy đi! Con này mà rơi vào tay tao thì tao băm từng mảnh!…” – đó là “ý kiến” của đa số dư luận.

Tại sao hiện tượng “ác mồm, ác miệng” mỗi lúc mỗi phổ biến? Tại sao con người lại trở nên hung dữ hơn? Lý do trong mọi lý do là công lý đã bị chính quyền chà đạp đến mức chẳng ai còn tin vào sự phán xét và trừng trị của pháp luật. Trong một xã hội “vô pháp, vô thiên”, người dân sẽ có khuynh hướng cho mình quyền phán xét và quyền trừng phạt. Trong một xã hội mà công lý thường xuyên đóng vai một tên hề trơ trẽn thì quyền phán xét không còn thuộc về những kẻ ngồi xổm lên đầu nhân dân và đùa bỡn với công lý.

Trong một đất nước mà ngày càng có nhiều trường hợp chết trong đồn công an mà không bao giờ được điều tra và xử tội trong khi công an chẳng khác gì một tổ chức côn đồ khoác áo chính quyền thì tâm lý giận dữ và thù hằn càng thêm dồn nén. Trong một đất nước mà kẻ trộm con vịt bị xử 7 năm tù trong khi vô số kẻ cắp hàng tỷ lại được “phê bình kiểm điểm” thì sự phẫn nộ người dân trút lên đầu bất cứ ai gây ra bất kỳ hành động tàn ác nào là điều hoàn toàn có thể hiểu được.

Đó là sự xả tràn của vô số ức chế thường trực và luôn trong trạng thái chực chờ nổ tung. Dầu dường như chưa bao giờ thiếu để châm vào lửa trên đất nước này. Xã hội và những gì xảy ra hàng ngày luôn “cung cấp” thừa ngòi nổ, từ những tiêu cực trong giáo dục đến những tai ương môi trường, từ những phát biểu nhảm nhí đến thái độ im lặng trong những trường hợp mà người dân cần chính quyền lên tiếng. Còn nữa, trong một đất nước mà chính quyền thường xuyên thể hiện bộ mặt đạo đức giả của nó thì làm sao có thể kỳ vọng xã hội tử tế và đạo đức?

Vấn đề đạo đức tan hoang đã được báo chí đề cập ít nhiều. Trên SGGP (15-1-2018), gia đình đã được xem là “thủ phạm”: “Tình trạng đạo đức xuống cấp nghiêm trọng là do có sự buông lỏng việc giáo dục đạo đức cho học sinh từ ngay trong gia đình đến nhà trường. Ở nhà thì cha mẹ mải mê lo kiếm tiền bỏ mặc con cái, thiếu hẳn việc giáo dục con cái nền tảng đạo đức, giữ gìn đạo hiếu với ông bà cha mẹ, biết kính trên nhường dưới, biết tôn sư trọng đạo. Đó là chưa kể nhiều phụ huynh còn nuông chiều con quá mức, dung túng cả những thói hư, tật xấu của con em mình. Họ chưa thực sự là tấm gương sáng cho con mình”… Trên Nhân Dân (30-10-2018), “tình trạng xuống cấp trong lối sống của một bộ phận giới trẻ” đã được xem là một trong những nguyên nhân chính khiến đạo đức suy vong. Và trên nghị trường, đạo đức bi thảm là tại… kinh tế!

Sự tan nát đạo đức xã hội thật ra không thể loại trừ yếu tố chính trị. Nếu không dám đề cập đến chính sách giáo dục trong đường lối cai trị – đề cao “con người mới XHCN” hơn là văn hóa và đạo đức, đề cao việc trung thành với Đảng hơn là gắn bó với những giá trị đạo đức truyền thống – thì những “mổ xẻ” về việc đạo đức xuống cấp chỉ là hành động tương tự vớt lớp váng trên bề mặt của một cái ao tù nước đọng gây ô nhiễm xã hội từ những cặn bã hôi thối nằm sâu dưới đáy.

Đừng tránh né mà phải thừa nhận rằng chính đường lối cai trị cộng sản đã đập nát các giá trị đạo đức truyền thống, ngay từ những ngày đầu của lịch sử cộng sản. Những trận mưa dầm rỉ rả tuyên truyền cùng chính sách xây dựng “xã hội mới XHCN”, trong khi phủ nhận và triệt tiêu nhiều giá trị đạo đức căn bản, đã làm trốc gốc và gãy đổ những giá trị đạo đức vốn ngạo nghễ cả ngàn năm.

Khi mọi thứ được “Đảng trị” và “Đảng hóa”, kể cả tôn giáo, thì vị trí của những giá trị khác, trong đó có giá trị đạo đức, phải lùi lại và thậm chí bị vất đi. Cộng sản và cái gọi là “XHCN” của họ chẳng khác gì đám sâu đục khoét và tàn phá những cây cổ thụ đạo đức. Chẳng phải tự nhiên mà sự xuống cấp đạo đức của xã hội Việt Nam hiển hiện y hệt xã hội của “nước anh em” Trung Quốc.

Chính quyền làm gì để chấn chỉnh đạo đức? “Bộ Văn hóa đã tham mưu Trung ương Đảng ban hành nghị quyết 33 về xây dựng phát triển văn hóa con người đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước. Bộ cũng trình Chính phủ ban hành nghị định 110 về quản lý tổ chức lễ hội; nghị định 122 quy định xét tặng danh hiệu gia đình, thôn, bản, ấp văn hóa… Bộ Văn hóa cũng đề ra nhiều giải pháp để phát huy sứ mệnh của văn học nghệ thuật, vai trò của văn nghệ sĩ; tăng cường phối hợp liên ngành trong giáo dục đạo đức lối sống…” – phát biểu của Bộ trưởng Văn hóa Thể thao Du lịch Nguyễn Ngọc Thiện (trong phiên chất vấn Quốc hội ngày 30-10-2018).

Đó chẳng phải là giải pháp. Những điều đó chưa bao giờ là giải pháp. Mô hình “làng văn hóa”, “phường văn hóa”… chưa bao giờ đóng góp cho việc xây dựng đạo đức xã hội. Sự xuống cấp của đạo đức xảy ra cùng thời với sự bùng nổ những mô hình và cách thức “xây dựng văn hóa” này.

Điều mà Bộ Văn hóa cần “tham mưu Trung ương Đảng” là phải thay đổi chính sách giáo dục, phải lột bộ da chính trị ra khỏi cơ thể giáo dục, phải đập nát bộ máy giáo dục để xây lại hệ thống giáo dục từ đầu, lấy triết lý nhân bản làm trung tâm chứ không phải “con người XHCN”. Bộ Văn hóa cũng cần “tham mưu Trung ương Đảng” việc cần giảm liều lượng sợ hãi trước cái gọi là “suy thoái tư tưởng và đạo đức cách mạng” trong cuộc chấn chỉnh xây dựng Đảng, vì chẳng đảng cai trị nào có thể đứng vững và chẳng đất nước nào có thể đứng lên nếu nền giáo dục của nó bất thành trong việc tạo ra những cái phanh chặn lại sự tuột dốc của đạo đức.

Hạnh phúc đơn giản lắm, chỉ cần học cách quên và tha thứ thôi.

Hạnh phúc đơn giản lắm, chỉ cần học cách quên và tha thứ thôi.

Nhớ những cái cần nhớ, quên những cái cần quên và tha thứ cho tất cả. Đó là cách để bạn hạnh phúc!

Cuộc sống hiện đại luôn đầy rẫy những chuyện thị phi, oan trái, giết người, cướp của… Mỗi ngày, có biết bao nhiêu bài báo đề cập đến chủ đề tiêu cực và chính vì những đề tài giật gân ấy mà rất nhiều người bị cuốn theo vòng xoáy. Chúng ta coi đó là thứ để bàn tán, tranh luận, thậm chí to tiếng với nhau chỉ vì muốn bảo vệ quan điểm của mình. Chúng ta bàn tán về cuộc sống, công việc của một người chẳng hề quen và đưa ra lời phán xét trong khi chỉ biết về họ qua vài nguồn thông tin chưa được kiểm chứng. Chúng ta bị chìm đắm trong suy nghĩ, lo âu về những thứ xung quanh để rồi mỗi ngày qua đi, mọi thứ cũng chẳng hề thay đổi. Cuộc sống có quá nhiều điều bất ngờ và nếu không học cách quên, cách tha thứ, không học cách “làm ngơ” với những gì cần thiết thì chẳng bao giờ chúng ta thoát khỏi vòng luẩn quẩn ấy cả.

Tại sao lại phải học cách quên?

Có một câu chuyện như sau:

Một buổi tối, tôi đi thăm một người bạn từng bị vu cáo hãm hại. Lúc ăn cơm, anh nhận được một cuộc điện thoại, người trong điện thoại muốn nói cho anh biết ai đã hãm hại anh.

Nhưng anh bạn tôi đã từ chối nghe. Nhìn thấy vẻ mặt ngạc nhiên của tôi, anh nói “Biết rồi thì sao chứ? Cuộc sống có những chuyện không cần biết và có những thứ cần phải quên đi. Bởi vì mình đã chọn bỏ qua cho họ, nghĩa là cũng không cần thiết phải tìm hiểu họ là ai nữa. Mình an toàn, đó là điều rất may mắn”.

Bạn càng bị ám ảnh bởi những gì đã xảy ra, năng lượng tiêu cực càng kéo bạn xuống

Suy nghĩ của bạn, tuy thật khó giải thích, nhưng nó có thể khiến năng lượng bùng cháy. Càng nghĩ tiêu cực, bạn càng khiến mọi thứ xung quanh trở nên vô cùng tồi tệ. Bạn mất niềm tin vào cuộc sống, bạn muốn xé nát tất cả và điều đáng buồn là, chỉ có bạn đang tự giày vò mình. Những gì đã xảy ra, thực tế, chúng đã không còn ở hiện tại nữa.

Quy luật của sự hấp dẫn

Theo Jack Canfield (Tác giả cuốn sách nổi tiếng: Người nam châm – Bí mật của luật hấp dẫn): “Luật hấp dẫn là quy luật quyền năng nhất trong vũ trụ. Cũng giống như trọng lực, nó luôn phát huy tác dụng và luôn chuyển động. Ngay chính lúc này, nó cũng đang vận hành trong cuộc sống của bạn”. Điều này có thể hiểu đơn giản là bạn sẽ hấp dẫn tất cả những gì bạn tập trung vào. Bạn hướng niềm tin và dồn công sức vào những điều tích cực, bạn sẽ thu hút được thêm nhiều điều tốt đẹp vào cuộc sống của chính bạn. Ngược lại, nếu bạn chỉ liên tục nghĩ về những thứ tiêu cực, cuộc sống của bạn cũng sẽ trở nên rất bế tắc.

 

Đời người không phải lúc nào cũng được như ý muốn. Đôi khi để bản thân vui vẻ, mỗi người cần giảm áp lực cho chính mình và cách để giảm áp lực tốt nhất chính là học cách quên, bởi trong cuộc sống này có những thứ cần nhặt lên và bỏ xuống đúng lúc.

Học cách quên không phải điều xấu mà là một sự cân bằng. Hãy chấp nhận, chân thành và thản nhiên đối mặt với cuộc sống. Nếu cứ mãi bị dày vò bởi những sai lầm của người khác hay yếu điểm của bản thân thì chúng ta sẽ bị loại ra ngoài vòng tròn hạnh phúc.

Trong kinh Phật có một câu chuyện kể rằng:

Tiểu hòa thượng và lão hòa thượng cùng đi hóa duyên, tiểu hòa thượng lễ độ cung kính, việc gì cũng đều nhìn theo sư phụ. Khi tới bờ sông, một cô gái muốn qua sông, lão hòa thượng đã cõng cô gái qua sông, cô gái cảm ơn rồi bước đi, tiểu hòa thượng trong lòng cứ thắc mắc: “Sư phụ sao có thể cõng một cô gái qua sông như thế?”. Nhưng cậu ta không dám hỏi, cứ thế đi mãi được 20 dặm, cậu ta thực sự không kìm được đành hỏi sư phụ: “Chúng ta là người xuất gia, sao thầy có thể cõng một cô gái qua sông?” Sư phụ điềm đạm nói: “Ta cõng cô gái đó qua sông xong thì bỏ cô ấy xuống, còn ngươi thì đã cõng cô gái ấy 20 dặm rồi vẫn chưa bỏ xuống.”

 

Cuộc đời con người là một chuyến hành trình dài mà bản thân chúng ta chỉ biết điểm đến tiếp theo khi chúng ta thực sự đến. Chẳng ai biết trước hay dự đoán trước được tương lai cả. Chúng ta phải liên tục bước đi trên con đường đó và cho dù lựa chọn của mỗi người là gì thì tất cả đều di chuyển chứ không một ai dừng lại. Bạn sẽ nhìn thấy rất nhiều phong cảnh, có lúc đẹp, có lúc tối tăm, thi thoảng lại nhiều đèo dốc, gập ghềnh… khiến bạn chỉ muốn dừng lại. Nếu như đem tất cả những thứ này để ghi nhớ hết trong lòng thì bản thân chúng ta chỉ càng chứa thêm nhiều gánh nặng không cần thiết. Hãy nghĩ đến tuổi thơ. Thật hiếm có người nào nhớ hết được tất cả những gì đã từng xảy ra trong quá khứ, ngoại trừ những kỷ niệm đẹp, những thứ sâu sắc mà thôi. Tạo hóa đã khéo sắp đặt điều này và chúng ta hoàn toàn có khả năng quên đi rất nhiều thứ để đổi lấy những điều tốt đẹp.

Sự từng trải càng phong phú, nghĩa là càng “trải đời” thì áp lực càng lớn. Thay vì thế, hãy tự quên đi một chút, vứt bỏ một chút để hành trang gọn nhẹ hơn trên đường. Những gì đã qua chẳng bao giờ lấy lại được ngoài việc hãy khắc cốt ghi tâm những kinh nghiệm để đời, sống trọn từng phút giây và yêu thương hết thảy.

4 người cần tha thứ trong cuộc đời

Theo diễn giả Brian Tracy, có 4 người mà chúng ta cần phải tha thứ trong cuộc đời nếu muốn học cách sống. 

 Đầu tiên, đó chính là bố mẹ, cho dù họ còn ở bên cạnh chúng ta hay không còn nữa. Bởi lẽ, mỗi sai lầm mà họ đã mắc phải, dù vô tình hay cố ý, đều là để chăm sóc, nuôi dưỡng chính chúng ta. Thay vì ca thán, trách móc, hãy biết ơn vì bố mẹ đã đánh đổi cả cuộc đời mình để dành cho bạn những điều tốt đẹp nhất. Ngay bây giờ, bạn đang lướt web để thư giãn, bạn đọc hay xem những gì mình thích, bạn tự do làm tất cả những gì mình muốn… nên nếu bạn vẫn nghèo hay vẫn không thành công, đó là do bạn chứ không phải do ai cả.

Ngay bây giờ, nếu vẫn còn trong đầu suy nghĩ giận dỗi hay cảm thấy không hài lòng với bố mẹ điều gì đấy, bạn có thể gọi điện về nhà, thành thật và nói cho họ biết sự ân hận của bạn. Hành động đơn giản nhưng không phải ai cũng đủ dũng cảm để làm được này sẽ có ý nghĩa với bố mẹ hơn bất kỳ một món quà vật chất nào khác.

Nếu không tha thứ cho bố mẹ (khi họ đã phạm phải một sai lầm nào đó) thì bạn mãi mãi vẫn chỉ là một đứa trẻ. Bạn không dành cho bản thân cơ hội để trở thành một con người đủ nhận thức, đủ trưởng thành. Bạn vẫn tiếp tục coi mình là một nạn nhân. Tệ hơn, bạn giữ những suy nghĩ tiêu cực trong đầu và liên tục bị ám ảnh bởi chúng. Bạn có thể quên nên hãy rộng lòng tha thứ. Bố mẹ của bạn hoàn toàn xứng đáng cho điều đó.

Người thứ hai mà bạn cần tha thứ đó chính là vợ hoặc chồng của bạn. Bạn có quyền giận dữ nhưng bạn cũng có quyền lựa chọn nếu tình cảm của người bạn đời đã thay đổi. Liệu rằng với một mối quan hệ ép buộc khi cả hai không còn như xưa nữa có khiến bạn trở nên hạnh phúc hay chỉ càng làm cho cuộc sống của bạn thêm tồi tệ? Liệu rằng việc giày vò lẫn nhau có làm cho bạn được sung sướng? Nếu câu trả lời là không, hãy lựa chọn từ bỏ và tha thứ.

Người thứ ba mà bạn cần tha thứ đó chính là tất cả những người khác trong cuộc sống của bạn, kể cả những người đã từng làm tổn thương bạn. Hãy vứt bỏ chúng để dành chỗ chào đón những yêu thương đang chờ đợi bạn. Cho dù đó là ông chủ, đối tác kinh doanh, bạn bè, một người nào đó qua đường hay bất kỳ ai đi nữa.

Và người cuối cùng cần tha thứ đó chính là bản thân bạn.

Hãy tha thứ cho bản thân mình, cho dù bạn đã làm điều gì đó dại dột, thiếu suy nghĩ. Có thể mỗi ngày, bạn lao quá nhanh vào thứ mình thích để rồi vô tình khiến ai đó tổn thương hay bạn đi quá chậm khiến chính mình bỏ lỡ một điều gì đó. Đừng dằn vặt bản thân, vì chỉ như vậy, bạn mới tích lũy được kinh nghiệm cho mình. Đừng so sánh mình với một ai đó để rồi thấy mình tiến quá chậm, thiếu khả năng và thua kém người khác. Bạn được sinh ra là để hoàn thành sứ mệnh của bạn.

 “Xuân có hoa bách hợp, thu có trăng. Hạ có gió mát, đông có tuyết. Trong lòng không có việc phải phiền lo mới chính là mùa đẹp của nhân gian. Nhớ những cái cần nhớ, quên những cái nên quên, sống cuộc sống cởi mở, trong lòng không vướng mắc thì cuộc sống này sẽ hật tươi đẹp”.

Theo Brian Tracy / Elite Daily / Tổng hợp

From: ngocnga_12 & NguyenNThu

Mình phát mệt với tụi dân Mỹ này

Image may contain: 1 person, smiling, outdoor

Lê Vi

Mình phát mệt với tụi dân Mỹ này

Tụi nó suốt ngày cứ Thanks với Sorry… 

Hễ đi lỡ đụng nhẹ nó 1 cái là nó quay qua Sorry, I dont want to bother you (Xin lỗi, tôi ko cố ý đụng bạn đâu).

Còn khi 2 thằng đi đối mặt nhau, hễ mình chủ động nhường đường nó là nó Thanks liền, còn không thì nó cũng sẽ nhường đường cho mình.

Nó lỡ bước qua trước mặt mình, mà không chạm vào ng mình nó cũng Excuse me
hay trước khi bước qua cũng xin phép “excuse me” nếu không còn đường nào để đi, còn nếu có thì nó vòng ra sau lưng mình để đi.

Chả hiểu sao tụi nó lịch thiệp, có văn hoá đến thế… nhiều khi minh thắc mắc, bọn này suốt ngày nói Thanks và Sorry không thấy mỏi miệng ah

Chợt nhận ra, sở dĩ người dân Mỹ có nét văn hoá này là do nhân viên chính phủ, công chức nhà nước của nó làm trước, lúc nào cũng phải tôn trọng, ăn nói lịch thiệp với người dân.. từ đó người dân nhận được cái lịch thiệp đó, rồi người dân mới bắt chươc làm theo, ra đường con cái thấy bố mẹ làm thế thì cũng bắt chước làm theo… mình là khách du lịch, qua đây mà còn bị nhiễm thói quen này của tụi nó mà ^^

Chỉ có nhân viên chính phủ của các quốc gia dân chủ họ mới có thói quen ứng xử lịch thiệp, tôn trọng người dân như vậy… bởi vì khi đã làm cho nhà nước, họ được căn dặn là “các bạn phải biết đồng lương các bạn có là ng dân đồng thuế, cho nẻn các bạn phải ra sức phục vụ lại cho người dân, ân cần và làm hết trách nhiệm mà bạn được giao phó”…. 

Mà căn dặn thì căn dặn, không muốn làm theo cũng được vậy… uh thì cũng được, nhưng sẽ mất việc nhé, người dân đóng thuế mà nhân viên chính phủ mất dạy thì dân sẽ phản ánh ngay, báo lên cấp trên để đưa ra hình phạt… bây giờ cấp trên muốn bao che, hay có người quen làm to bao che cho được ko… không thể được đâu, vì quốc gia này là đa đảng, dám bao che không, đảng đối lập nó tố cáo liền đó, dám bao che không, người dân sẽ dùng “tự do báo chí” để tố cáo nạn COCC này cho toàn xã hội biết đó…

Do đó, từ thủ tướng, bộ trưởng cho đến anh cảnh sát quèn… đều phải lịch sự với dân, khi cùng người dân giải quyết xong 1 việc gì thì phải say Thanks, làm sai không cố ý cũng phải biết nói Xin lỗi… cái văn hoá làm sai phải từ chức, phải xin lỗi cũng từ đây mà ra chứ đâu…

Hihi muốn người dân 1 quốc gia có văn hoá, có ý thức đâu phải dễ đâum, phải không các bạn… phải xây dựng 1 hệ thống từ trên xuống dưới có quy củ, minh bạch và hiểu rõ chính quyền nhận gì từ dân, và phải có trách nhiệm làm gì ngược lại cho dân… những điều này chỉ làm được khi quốc gia đó áp dụng cơ chế dân chủ

Còn ở các quốc gia độc tài như VN chúng ta, thì làm sao để người dân có văn hoá đây… câu hỏi này chắc phải dành cho các “đỉnh cao trí tuệ cộng sản trả lời”.

#XinChiaSe!

NẾU CỘNG SẢN THẢ ANH THỨC…

 Kim Ngo and Nguyen Huynh Lan shared a post.

Pham Doan Trang

NẾU CỘNG SẢN THẢ ANH THỨC…

Hôm nay là sinh nhật anh Trần Huỳnh Duy Thức, ngày anh tròn 52 tuổi và cũng là sinh nhật thứ 10 của anh trong tù.

Những nỗ lực vận động để nhà nước cộng sản trả tự do cho anh chưa thành công, chủ yếu vì lý do “Đảng và Nhà nước” chỉ thả nếu anh chấp nhận ra nước ngoài – như thế anh sẽ mất vai trò biểu tượng, lãnh tụ tinh thần của phong trào đấu tranh vì dân chủ cho Việt Nam. Còn anh thì kiên quyết không cho chúng thoả nguyện.

Trong trường hợp anh Thức nhất định không chấp nhận “tự do và lưu vong”, trong khi nhà cầm quyền vì một sức ép hay nói đúng hơn, một lợi ích quá lớn nào đó, không thể không thả anh, thì theo bạn, chúng sẽ làm gì?

Tôi cho rằng chúng sẽ trả tự do cho anh trong tình trạng sức khỏe suy kiệt, tinh thần không còn minh mẫn nữa. Nghĩa là chúng sẽ thả anh sau khi bảo đảm rằng chúng vô hiệu hoá được tinh thần và vai trò biểu tượng của Trần Huỳnh Duy Thức: Chúng sẽ làm cho anh phải mất trí, tâm thần hoang tưởng; không loại trừ khả năng chúng đầu độc, ám sát anh.

Các bạn đừng nghĩ tôi đang tưởng tượng và nói ra những điều độc ác. Cách đây 5-6 năm trở về trước nữa, tôi cũng như đa số những người dân Việt Nam bình thường và lương thiện khác, không bao giờ tin đảng Cộng sản và lực lượng phò đảng có thể làm những điều tàn bạo và bẩn thỉu vượt ngoài sự hình dung của con người.

Bây giờ thì tôi tin rồi, tin chắc rằng cộng sản là bất cần thủ đoạn, không từ một việc gì dù độc ác và vô nhân nhất, miễn là chúng có lợi. Hãy nhớ: Không bao giờ cộng sản chịu thua dân, không bao giờ cộng sản chấp nhận thua thiệt (chỉ trừ trong quan hệ với quan thầy Bắc Kinh của chúng).

Nên cái kịch bản chính quyền cộng sản trả tự do mà không đày anh Trần Huỳnh Duy Thức ra nước ngoài luôn mang một “hàm ý chính sách” rằng chúng sẽ giết hoặc làm anh bệnh tật vĩnh viễn

Trần gian Một Khúc

Sống hòa hợp vui vẻ với mọi người xung quanh, không chấp nhất, tỵ hiềm. 

Trần gian Một Khúc

Con người ta sinh ra, ai thoát khỏi: sinh, lão, bệnh, tử ?

Sinh, Trụ, Hoại, Diệt là định luật của tạo hóa, không có cách chi thay đổi được.

Cây cối đâm chồi nảy lộc vào muà xuân, xanh tốt xum xuê trong mùa hè, lá héo vàng vào mùa thu, đến mùa đông thì lá vàng rơi rụng, chỉ còn trơ trụi cành cây. Rồi tới mùa xuân năm sau, cây lại đâm chồi nảy lộc. Cái chu kỳ sinh, trụ, hủy, diệt cứ tiếp nối nhau, không ngưng nghỉ.

Ðời người là bể trầm luân, cõi thế gian đầy những ưu tư phiền não. Vạn vật đều bị chi phối bởi luật vô thường.. 

Vừa mới sinh ra cất tiếng khóc oa oa chào đời. 

Rồi lớn lên, bước vào đời với bao nhiều mộng đẹp. Thoắt một cái, mái tóc đã điểm sương, mắt đã mờ, lưng đã mỏi, 2 chân đã chậm chạp. Rồi cuối cùng, là hai tay buông xuôi, đi vào lòng đất, bỏ lại trên thế gian tất cả các thứ mà cả đời phải bôn ba vất vả mới làm ra được..

Ðời người như giấc mộng. Người ngoại quốc cũng có câu:Life is too short. (cuộc đời quá ngắn) Thế mà, con người ta khi còn sức khỏe thì mải mê kiếm tiền, lo củng cố địa vị, danh vọng, không có thì giờ để hưởng đời đúng nghĩa.

Cũng ít ai sửa soạn tâm tư để đón nhận những cái vô thường của tuổi gìa. Ðến khi mái tóc đã điểm sương, da đã nhăn, mắt đã mờ, chân đã chậm thì mới giật mình, rồi buồn phiền, thất vọng, nuối tiếc. Khi đó, bao nhiêu tiền của cũng trở thành vô dụng. Ăn uống thì phải kiêng thứ này, cữ thứ kia vì đường lên cao, cholesterol lên cao. Ăn đồ cứng không được vì hàm răng cái rụng, cái lung lay. Ði chơi xa thì không dám vì sức khỏe kém, đầu gối đau nhức. Nghe nhạc, xem phim cũng không được vì tai đã nghễng ngãng, mắt đã kèm nhèm.

Người VN mình vốn cần kiệm, chăm làm, chắt bóp để có của ăn của để. Làm việc thì liên miên quên cả cuối tuần, bất kể ngày lễ hay ngày Tết. Làm thì nhiều, mà ít dám vui chơi huởng thụ như người Âu Mỹ..

Suốt đời cặm cụi, nhịn ăn nhịn mặc, để dành, mua cái nhà cái cửa để một mai khi chết thì để lại cho con cháu. Sống như vậy quả là thiệt thòi.

Người xưa đã nói:

Một năm được mấy tháng xuân

Một đời phỏng được mấy lần vinh hoa

Và:

Chẳng ăn, chẳng mặc, chẳng chơi

Bo bo giữ lấy của trời làm chi

Bẩy mươi chống gậy ra đi

Than thân rằng thuở đương thì chẳng chơi

Con người có tham vọng, có nhu cầu nên mới bon chen. Suốt đời cứ miệt mài lo tìm kiếm những thứ vô thường mà quên mất chữ “nhàn”. Những thứ vô thường này là nguyên nhân đưa đến lo âu, căng thẳng, mất ăn, mất ngủ. Và nếu kéo dài có thể đưa đến bệnh tâm thần.

Ông Cả ngồi trên sập vàng

Cả ăn, cả mặc, lại càng cả lo

Ông bếp ngồi cạnh đống tro

Ít ăn, ít mặc, ít lo, ít làm

Ðời người sống mấy gang tay

Hơi đâu cặm cụi cả ngày lẫn đêm

Hoặc là

Ăn con cáy, đêm ngáy o..o

Còn hơn ăn con bò, mà lo mất ngủ.

Người xưa tuổi thọ kém, ngay tới vua chúa cũng chỉ sống tới khỏang 50 tuổi. Tới 60 tuổi đã ăn mừng “lục tuần thượng thọ. Còn tới 70 tuổi, thì thực là hiếm hoi. Bởi vậy mới có câu: “nhân sinh thất thập cổ lai hy” (tức là, người ta có mấy ai mà sống được tới 70).

Ngày nay nhờ khoa học tiến bộ. Con người được sống trong điều kiện vật chất vệ sinh, và thoải mái hơn.

Những phát minh của ngành Y, Dược đã giúp nhân loại vượt qua được các bệnh hiểm nghèo, mà người xưa kêu là bệnh nan y như bệnh lao, bệnh phong cùi, bệnh suyễn. 

Ngày nay người ta sống tới 80, 90 tuổi không phải là ít. Tuy nhiên sống lâu chưa phải là hạnh phúc. Hạnh phúc là luôn cảm thấy vui vẻ, yêu đời, biết tận hưởng cuộc sống. Muốn vậy thì cần phải giữ cho thân tâm được an lạc.

Tâm thân an lạc là biết vui với những cái trong tầm tay của mình, chấp nhận những điều mình không thể nào tránh khỏi. Sống hòa hợp vui vẻ với mọi người xung quanh, không chấp nhất, tỵ hiềm.
 
Lớn tuổi thì không làm ra tiền, nhưng cũng may, ở những nước tân tiến đều có khoản tiền trợ cấp cho người gìà để có thể tự lực mà không cần nhờ cậy vào con cháu. Các cụ gìà nên mừng vì sang được xứ này, thay vì ấm ức với số tiền quá khiêm nhượng, không thể tiêu pha rộng rãi như bạn bè.

Già thì phải chịu đau nhức, mắt mờ, chân chậm, đừng nên than thân trách phận, cau có, gắt gỏng, đã không làm được gì hơn mà còn tạo sự áy náy, thương cảm cho những người xung quanh.

Ở đời mỗi người một cảnh, vui với cảnh của mình, không suy bì, thèm muốn, ganh ghét với những người xung quanh.

Biết đủ thì đủ (Tri túc, tiện túc).

Người ta bảo trên 60 tuổi, mỗi ngày sống là một phần thưởng cho thêm (bonus) của Thượng Ðế.

Vậy thì hãy nên vui vẻ, tận hưởng những ân sủng mà không phải ai cũng có được.

Ðời sống của mình vui tươi hay buồn thảm là tùy thuộc vào thái độ của mình đối với cuộc SỐNG.

 From: NguyenNThu

CHUYỆN ĐỊNH CƯ

CHUYỆN ĐỊNH CƯ

Trong tháng này, tui tiễn ba gia đình cùa ba người bạn đi định cư ở nước ngoài. Họ đều là những người thành đạt, giàu có ở Việt Nam. Rất thành đạt và tài sản tính đơn vị hàng triệu đô la.

Một bạn là doanh nhân, hai vợ chồng có tài sản khá lớn, nhiều bất động sản trên những khu phố vàng của Sài Gòn. Họ có ba đứa con đang tuổi lớn và đã có hai đứa đang học ở Mỹ. Gia đình anh đi diện EB5 định cư ở Mỹ.

Người thứ hai là một bác sĩ, anh là người thầy thuốc giỏi, từng tu nghiệp nhiều nước trên thế giới, tự hào đã nội trú nhiều bệnh viện lớn ở nước ngoài. Ở Việt Nam anh là bác sĩ có thu nhập khá cao, có biệt thự ở quận 2, có công việc ổn định. Vợ cũng là dược sĩ, có một pharmacie rất đông khách ngay trung tâm Sài Gòn. Anh chị chỉ có một đứa con gái, đang chuẩn bị vào đại học. Gia đình anh đi theo diện người chị vợ bảo lãnh đi Mỹ, hổ sơ chờ đã mười ba năm, từ lúc sự nghiêp anh chị chưa có bao nhiêu.

Người thứ ba là anh bạn học chung trưóng đại học, năm nay vừa đúng bảy mươi tuổi, đã đến tuổi già. Anh này cũng có một đời sống sung túc ở Việt Nam, hồi còn tuổi làm việc, anh là một quan chức ngân hàng, vốn là nghề của anh trước 1975. Hồi đó, sinh viên ngành ngân hàng, tài chánh ở Đại học Vạn Hạnh tốt nghiệp Cử nhân vào năm 1971-1972 đều được nhận vào các ngân hàng với chức vụ cao, một số làm ngay giám đốc các chi nhánh. Anh nằm trong số người được giao làm giám đốc. Sau 75, anh tiếp tục cho đến lúc nghỉ hưu. Nghề nghiệp thế nên cũng có thể gọi anh là giàu, có của ăn của để, có hai thằng con trai, đứa nào cũng thành đạt, một thằng có chức vụ trong ngành ngân hàng của Việt Nam, đưa kia làm chuyên viên tiền tệ ở nhà băng của Anh quốc. Nói tóm lại là thuộc giới thượng lưu ở xứ này. Bây giờ anh lại đi định cư ở Pháp theo diện bảo lãnh của người em.

Ba trường hợp nêu trên chứng minh họ đi định cư không phải vì sinh kế. Trước đây, ngoài lý do chính trị, đa phần ra đi vì đời sống ở Việt Nam thời đấy khổ quá, cả nước đói nghèo, họ đành dứt áo ra đi mong có tương lai sáng sủa, sung túc hơn. Còn bây giờ, như ba người bạn tui đó, họ ở Việt Nam rõ ràng là quá sung sướng về vật chất, họ chẳng thiếu thứ gì. Gia đình sinh hoạt như quý tộc, con cái sống như những hoàng tử và công chúa. Hàng năm họ đi du lịch khắp nơi, ở những khách sạn sang trọng, ăn những thức ăn với giá ngất trời. Nhưng họ vẫn ra đi.

Hỏi chuyện với họ, họ biết ra đi là sẽ gặp không biết bao khó khăn đang chờ trước mắt. Để làm lại một cuộc đời mới trên xứ sở xa lạ không phải là điều dễ dàng. Họ không ảo tưởng về nơi họ sẽ đến, vì họ đã từng du lịch qua đấy nhiều lần. Biết rất tường tận cuộc sống ở đó với những trở ngại khó lường.

Anh bạn bác sĩ bảo rằng anh rất yêu nghề y, nhưng khi định cư, muốn tiếp tục làm nghề, anh phải đi học lại, cũng đã gần qua tuổi năm mươi, ngổi học cũng không phải là điều dễ dàng. Và để sống, anh phải chọn một công việc nào đấy không như ý của mình.

Anh bạn doanh nhân dù có nhiều tiền nhưng để hợp thức hoá số tiền lớn đó cho hợp pháp cũng là điều khó khăn. Cho đến bây giờ, ngày đi đã đến, anh vẫn chưa hình dung con đường phía trước sẽ như thế nào?

Còn anh bạn đồng môn của tui, đã bảy mươi, sẽ chẳng có công việc gì dành cho anh nữa. Tui giỡn với anh thôi thì qua đó chiều chiều đi dạo sông Seine, hay lên đồi Montmartre ngắm mây bay hay ngồi trong khung cửa nhìn đám bồ câu bay lượn, chờ cuối đời nằm trơ trọi ở nghĩa trang xa lạ hay là trở thành một nhúm tro cốt nằm trong ngôi chùa hoặc thả bay trong gió. Anh cười buồn, một nụ cười chấp nhận.

Ai cũng buồn khi sắp rời bỏ quê hương. Ai cũng thấy đọan đường còn lại cũng lắm gian nan. Nhưng ai cũng bảo phải đi. Sức chịu đựng đã lên đến đỉnh rồi. Bởi cuộc sống không chỉ là tiện nghi, là vật chất để thụ hưởng. Mà cuộc sống còn cần phải có không khí để thở, tự do để sống, thoải mái để sinh hoạt. Sống chứ không phải để tồn tại. Sống là phải biết tương lai và tự mình định được tương lai cuộc đời mình. Những người bạn tui cho rằng ở lại là chấp nhận những bất công, những điều chướng tai gai mắt mà bất lực chẳng làm chi được. Xã hội tàn nhẫn quá, con người tàn ác quá. Ở lại là chấp nhận bị đầu độc, không chỉ bị đánh thuốc độc ở thực phẩm, ở hơi thở mà còn bị đánh độc cả tư duy. Chưa kể đất nước này, dân tộc này có còn tồn tại được không trước biết bao âm mưu thâm độc của kẻ thù và sự hà hơi tiếp sức của một bộ phận có quyền lực. Anh bạn già hỏi tui với ánh mắt buồn rầu: Cho thuê đất 99 năm thì nước Việt còn gì? Bạn trả lời tôi đi..

Anh bạn bác sĩ thì bảo không thể cho các con của mình lớn lên với một tâm hồn bệnh hoạn, một nhân cách méo mó và một cách sống giả tạo, dối lừa. Anh hỏi tui: Bây giờ ở Việt Nam, có gì là không láo? Láo tất. Do vậy tôi phải đi để tôi, gia đình tôi, con cháu tôi được sống và nghĩ suy bằng sự thật không dối lừa. Chúng tôi chọn ra đi như một cách phản kháng. Phản kháng trong im lặng. Và đành bỏ lại những thứ mà chúng tôi sẽ không bao giờ làm lại được ở xứ người.

Anh bạn doanh nhân thì bảo rằng, biết con đường trước mặt, sau lưng đầy cứt, thì tại sao không chọn con đường sạch mà đi.

Ở đây, tui chỉ đề cập đến chuyện ba người bạn của tui, tui không muốn nói đến những cán bộ, những người đã từng là quan chức của chế độ, có người từng là tổng biên tập một tờ báo lớn, những người một thời là những người đã từng tham gia hoạt động đấu tranh ở các đô thị miền Nam, họ hiện đang ở đầy xứ Mỹ, tiểu bang nào cũng có. Họ trốn chạy cái gì? Tui đã từng hỏi thế và họ cũng cười buồn. Bỏ qua những tên ăn cắp công quỹ mà trốn chạy. Những người khác đều ôm trong lòng một nỗi thất vọng không nói được.

Mà thôi, mỗi người có một cách để chọn lựa cuộc sống cho mình. Tôi chọn ở lại, các anh chọn đi. Đó cũng là chút tự do mỗi người có được chọn cho mình. Ngày xưa chỉ cần rời làng, đã mang tiếng ly hương, xa quê là nỗi đau. Bây giờ, người ta ồ ạt tìm mọi cách bỏ nước mà đi, có nỗi đau nào hơn cho một dân tộc, nhưng phải chấp nhận thôi. Tất cả các loài hoa đều vươn về phía ánh sâng, có hoa nào chịu chết rũ héo hon trong bóng tối đâu. Và ở trong bóng tối, có ai lại không nguyền rủa bóng tối, ngoại trừ những kẻ đang trục lợi từ bóng tối.

Chúc những người bạn của tôi bình an và có cuộc sống mới như ước mơ ở xứ người.

1.6.2018

DODUYNGOC

From : NguyenNThu

Lễ Tạ Ơn

Lễ Tạ Ơn 

Lm Trịnh Ngọc Danh

Ở Việt nam, thời Nhà Nguyễn, triều đình Huế, trong suốt 79 năm độc lập (1802- 1885), đàn Nam Giao luôn là nơi tổ chức nghi thức Tế Nam Giao đều đặn vào mùa Xuân hàng năm để tạ ơn trời đất cho mưa thuận gió hòa đem lại cơm no áo ấm cho toàn dân.  Đó là lễ tạ ơn của Việt Nam.  Từ năm 1886 đến 1890, không tổ chức lễ tế Nam Giao.  Bắt đầu từ năm 1891, cứ ba năm, vua nhà Nguyễn mới tế lễ Trời Đất ở đàn tế Nam Giao một lần.  Lễ tế Nam Giao cuối cùng của triều Nguyễn là vào ngày 23 tháng 3 năm 1945.  Tuy chỉ đặt hy vọng vào một thế lực thần thiêng là Trời Đất, nhưng dân tộc Việt Nam cũng có tâm tình biết ơn và tạ ơn.  Trước sự bất lực của con người, người dân Việt cũng đã cầu xin: Lạy trời mưa xuống – Lấy nước tôi uống – Lấy ruộng tôi cày – Lấy đầy bát cơm – Lấy rơm đun bếp.

Và trong quan hệ giữa người với người, người Việt cũng có những nét văn hóa biểu lộ tâm tình biết ơn người qua tục ngữ ca dao: “Uống nước nhớ nguồn.  Ăn quả nhớ kẻ trồng cây.  Ăn khoai nhớ kẻ cho dây mà trồng.”

Trên đất nước Hoa Kỳ, hằng năm vào ngày thứ năm tuần thứ tư của tháng 11, cả nước tưng bừng mừng lễ Tạ Ơn (Thanksgiving), một ngày quốc lễ.  Sau đây là đôi nét về nguồn gốc ngày lễ ấy:

Giống như tàu Noe ngày xưa, vào ngày 6 tháng 9 năm 1620, có 102 người gồm thủy thủ, đàn ông, đàn bà và trẻ con bước lên tàu Mayflower rời Anh Quốc vượt đại dương để đi tìm một vùng đất mới.  Họ là “những người hành hương” (Pilgrims) ra đi vì nỗi khát vọng tìm một vùng đất mới cho tự do tôn giáo.  Họ đi khắp nơi, và cuối cùng đã cặp bến Plymouth Rock, Massachusetts vào ngày 11 tháng 12 năm 1620.

Mùa đông đầu tiên, thời tiết khắc nghiệt, thực phẩm thiếu thốn và bệnh dịch hoành hành đã cướp đi 46 sinh mạng.  Những người sống sót nhờ ăn thịt gà tây hoang và bắp ngô do người dân Da Đỏ cung cấp.  Thổ Dân rất thân thiện và tận tình giúp đỡ trong cuộc sống mới bằng cách dạy cho họ trồng tỉa, săn bắn theo phong tục địa phương.

Được sự hướng dẫn của một người Da Đỏ tên là Squanto, vào mùa Xuân và mùa Hè năm 1621, bắp lên tươi tốt hứa hẹn một vụ mùa no nê.  Mùa màng đã gặt hái xong, thực phẩm dư thừa cho cả mùa Đông.  Họ quyết định tổ chức một ngày “Hội Ngày Mùa” (Harvest Festival) để tạ ơn Thượng Đế  đã cho họ sống sót qua mùa đông đầu tiên trên xứ lạ.  Đó là ngày lễ Tạ Ơn đầu tiên trên đất Hoa Kỳ vào đầu tháng 11 năm 1621.

Thực phẩm chính trong ngày lễ Tạ Ơn này gồm: bắp, bí đỏ, chim, vịt, ngỗng và gà tây.  Khách mời là Thổ Dân.  Tộc trưởng Massasoif đã dẫn 90 dũng sĩ đến dự và còn mang biếu thống đốc của nhóm người Hành Hương lúc bấy giờ là Bradford năm con nai.  Họ ăn uống vui chơi suốt tuần.

Lịch sử ngày lễ Tạ Ơn của người Mỹ cũng có nhiều thăng trầm nổi trôi theo vận nước.  Các tiểu bang thuộc địa đầu tiên không thống nhất được ý kiến chung về ngày lễ Tạ Ơn.  Khi cuộc chiến giữa các di dân Mỹ và đế quốc Anh xảy ra, và George Washington thoát khỏi cuộc bao vây ở Valley Forge, ông đã tuyên bố ngày lễ Tạ Ơn quốc gia vào ngày 26 tháng 11 năm 1789.

Mãi đến năm 1863, Tổng thống Abraham Lincoln thấy chiến tranh đã đến hồi kết thúc, nên chỉ định lấy ngày thứ năm cuối cùng của tháng 11 làm ngày lễ Tạ Ơn cho toàn quốc.  Nhưng chẳng may ông bị ám sát.  Andrew Johnson lên làm tổng thống lại duy trì truyền thống cũ, nhưng đổi lại ngày thứ năm tuần lễ thứ tư của tháng 11 làm ngày lễ Tạ Ơn.  Rồi trong khoảng thời gian từ năm 1939 đến 1941, Tổng thống Franklin Roosevelt đã chỉ định lấy ngày thứ năm của tuần lễ thứ ba của tháng 11 làm ngày lễ Tạ Ơn.  Nhưng lần này ông Roosevelt bị các thương gia và các đảng viên đảng Cộng hòa chống đối dữ dội, cho rằng tổng thống đã đi ngược lại truyền thống cũ.  Hai năm sau, tổng thống Roosevelt rút lại quyết định cũ và quyết định lấy ngày thứ năm tuần thứ tư của tháng 11 làm ngày lễ Tạ Ơn cho toàn quốc mãi cho đến ngày hôm nay.

Lễ Tạ Ơn mang một ý nghĩa sâu xa.  Con người có thể khác nhau về tôn giáo, chúng tộc, màu da nhưng đều có tâm tình biết ơn và tạ ơn.  Đối với người Kitô giáo nói riêng và đối với nhân loại nói chung, tạ ơn Thiên Chúa là một tâm tình thái độ phải có đối với Đấng Sáng Tạo vũ trụ đã hằng thi ân cho con người.

Nhân dịp mừng lễ Tạ Ơn, chúng ta có dịp để xét lại tâm tình, thái độ biết ơn tạ ơn Thiên Chúa, tạ ơn đời và tạ ơn người.

Trước hết đối với Thiên Chúa,thánh Luca có thuật lại một câu chuyện như sau: “Trên đường lên Giêrusalem, Đức Giêsu đi qua biên giới giữa hai miền Samari và Galilê.  Lúc Người vào một làng kia, thì có 10 người phong hủi đón gặp Người.  Họ dừng lại đàng xa và kêu lớn tiếng: “Lạy Thầy Giêsu, xin dủ lòng thương chúng tôi!”  Thấy vậy, Đức Giêsu bảo họ: “Hãy đi trình diện với các tư tế.”  Đang khi đi thì họ được sạch.  Một người trong bọn, thấy mình được khỏi, liền quay trở lại và lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa.  Anh ta sấp mình dười chân Đức Giêsu mà tạ ơn.  Anh ta lại là người Samari.  Đức Giêsu mới nói: “Không phải cả mười người đều được sạch sao?  Thế thì chín người kia đâu?  Sao không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này?”  Rồi Người nói với anh ta: “Đứng dậy về đi! Lòng tin của anh đã cứu chữa anh” (Lc 17:11-19).

Chín người được ơn chữa khỏi nhưng chỉ có một người trở lại tạ ơn Thiên Chúa.  Lòng biết ơn, tạ ơn coi bộ ít ỏi!  Thực tế cuộc sống của chúng ta cũng nói lên thực trạng đó.  Ngày xưa dân Israen được Thiên Chúa dìu đắt, nâng đỡ bao bọc để đi về miền đất hứa, thế nhưng họ vẫn không thật lòng biết tạ ơn Thiên Chúa, ngược lại còn phản lại những gì Ngài đã làm cho họ.

Phải tạ ơn Thiên Chúa, vì trong cuộc sống, chúng ta đón nhận không biết bao ân huệ của Thiên Chúa, nhưng chúng ta lại không nhận ra hay không muốn nhận ra những ân huệ ấy khi chúng ta tự xem những thành quả của công việc mình làm là do tài sức của mình.  Có khi chúng ta nghĩ những gì Thiên Chúa làm cho con người là việc Ngài phải làm.  Như thế là vô ơn!

Phải biết ơn người, biết ơn đời, vì trong cuộc sống của chúng ta hôm nay là kết quả của bao nhiêu người đã hy sinh, đóng góp làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn.  Chúng ta chịu ơn biết bao nhiêu người từ tổ tiên ông bà cha mẹ, bạn bè, người thân, những nhà khoa học, văn nghệ sĩ… đến những người vô danh đã tô đẹp cho cuộc sống hôm nay.

Lễ Tạ Ơn đối với chúng ta, những người Việt tị nạn trên đất nước Hoa Kỳ, là dịp để chúng ta nhìn lại cuộc hành trình gian khổ để đi tìm tự do, để tạ ơn Thiên Chúa đã cho chúng ta có được cuộc sống hôm nay, để tạ ơn đất nước Mỹ và người Mỹ đã cưu mang chúng ta.

Mừng lễ Tạ Ơn mà chỉ nghĩ đến du lịch, tiệc tùng, đi mua sắm, xem football mà không sốt sắng tham dự Thánh lễ Tạ Ơn để tạ ơn Trời, tạ ơn người, tạ ơn đời là một thiếu sót rất lớn vậy!

Lm Trịnh Ngọc Danh

 **************************************

Có những lúc trong đời ta quên lãng

Những phước lành mà Chúa đã ban cho

Mãi bon chen, mãi vất vả âu lo

Chuyện cơm áo, chuyện hơn thua cuộc sống

 Ta chưa hiểu, tạ ơn là hy vọng

Là giục lòng, là tiếng nói đức tin

Là lời ca, rung động cõi tâm linh

Là tiếng hát, là vần thơ chúc tụng

 Thơ Đa-vit, tạ ơn trong biến động,

Giữa muôn ngàn thử thách đang bủa vây

Vẫn hoan ca, cảm tạ Chúa đêm ngày 

Lòng tin quyết, đem thành công đắc thắng

 Chúa Giê-su, trong đêm dự tiệc thánh

Ngài dâng lời cảm tạ biết ơn Cha

Bánh vỡ ra, như thịt máu chan hoà

Thành mô thức, hiến dâng ơn cứu rỗi

 Chúa cảm tạ, khi tang gia bối rối

Khi lệ buồn, Chúa khóc với Ma-ry

La-za-rô, sống lại, đã bước đi

Ban hy vọng, nguồn vui mừng khôn tả

 Trong Đức tin, chúng ta cần cảm tạ

Về ơn lành, cứu rỗi Chúa đã ban

Về tình yêu, về chăm sóc, bảo toàn

Về an ủi, về bao che, dẫn dắt 

Hãy tạ ơn, khi bình minh chim hót

Hãy tạ ơn, khi lá rụng hoàng hôn

Hãy tạ ơn, khi biển nổi sóng cồn

Khi hoa nở, trời thanh trong gió mát 

Hãy cảm tạ, cùng trăng sao trời đất

Hát reo mừng, chúc tụng Đấng đại năng

Hãy hân hoan, ca ngợi Chúa vĩnh hằng

Được tôn thánh, hiển vinh ngàn muôn thuở.

 Thanh Hữu

From: Langthangchieutim