Điều tra: Giao ước ngầm trong “trại” nuôi người lấy thận ở Hà Nội
LĐO | 11/12/2018 | 10:47 AM
Điều tra: Giao ước ngầm trong “trại” nuôi người lấy thận ở Hà Nội.
Mối quan hệ cộng sinh giữa người bán thận và giới cò mồi khiến tất cả đều không muốn phá vỡ những giao ước ngầm.
Ảnh 1: Ảnh minh họa: Bệnh nhân trên bàn mổ.
Ảnh 2: Các ảnh bên trong “trại” nuôi người lấy thận.
Một ngày đầu tháng 12. Căn nhà cao tầng nằm sâu trong một con ngõ thuộc phường Ngọc Lâm (Long Biên, Hà Nội), một bữa tối ấm cúng chuẩn bị diễn ra với 10 thành viên.
Họ là những người đã và đang chuẩn bị bán thận nằm dưới sự quản lý của “cò” Thắng (tức Nguyễn Đức Thắng, SN 1989, quê xã Trường Thịnh, huyện Ứng Hòa, Hà Nội).
Những căn phòng đầy đủ tiện nghi với điều hòa, tủ lạnh, khu vệ sinh hiện đại thậm chí có cả thú cưng khiến nhóm PV Lao Động chứng kiến không khỏi bất ngờ.
Ảnh 3: Cảnh sinh hoạt tập trung của những người bán thận.
Thành (29 tuổi, Nghệ An) một người trong nhóm bán thận kể, cả nhóm được “cò” Thắng chu cấp toàn bộ tiền ăn uống, sinh hoạt cho đến khi giao dịch bán thận diễn ra trót lọt.
“Không đối xử tử tế, bọn em “đầu quân” cho “cò” khác, thiếu gì cò buôn thận, Thành nói rồi rồi lấy máy tính vuốt màn hình điện thoại chỉ vào những hội nhóm mua bán thận đang hoạt động nhan nhản trên Facebook.
Theo tìm hiểu của PV, một giao dịch trót lọt, những “cò” thận như Thắng có thể đút túi cả trăm triệu đồng.
Số tiền giao dịch lớn là vậy, nhưng theo lời kể của những người đã bán thận, Thắng rất sòng phẳng trả “không thiếu một xu” thậm chí còn cho ứng tiền trước khi lên bàn mổ.
“Không sòng phẳng thì bọn em báo công an thì chỉ có đi tù, làm cái này bắt buộc phải sòng phẳng thôi”, Thành cho biết thêm.
Một trong những thương vụ trót lọt gần đây của Thắng là Hoàng, quê Thanh Hóa. Hoàng kể: “Thận của em bán qua “cò” Thắng được 180 triệu đồng lúc đến tay người nhận là khoảng hơn 300 triệu đồng”.
Năm nay mới 27 tuổi nhưng sức khỏe của thanh niên này rất yếu. Cứ trái gió, trở trời là Hoàng mệt, không làm được việc nặng. Lý do được giải thích là, chỉ 1 tháng sau ngày bán thận, thì quả còn lại cũng đã bị suy cấp độ 1.
Ảnh 4: Vết mổ bán thận của Hoàng.
Vậy nhưng, sau khi nghe chính Hoàng kể lại về biến chứng khủng khiếp của việc bán thận, những thành viên còn lại trong ngôi nhà cũng chẳng mấy quan tâm. Bởi theo họ, khi đã nghĩ đến việc bán thận thì nhu cầu lớn nhất, chỉ là tiền. Cùng với một niềm tin mơ hồ rằng, ai cũng có thể mua lại thận, khi kinh tế khá khẩm hơn trong tương lai.
Chính mối quan hệ cộng sinh, đôi bên cùng có lợi khiến người bán thận và những cò môi giới bán thận không muốn phá vỡ những giao ước ngầm mà đôi bên đều đã quá hiểu.
* Tên nhân vật trong bài đã được thay đổi
Theo nguồn tin của PV Báo Lao Động, Công an quận Long Biên vừa khám phá chuyên án, bắt tạm giữ đối tượng Nguyễn Đức Thắng (SN 1989, HKTT: xã Trường Thịnh, huyện Ứng Hòa) về hành vi chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người (thận); thu giữ 01 khẩu súng (loại bắn đạn bi), 03 thanh đao. Hiện Công an quận Long Biên phối hợp với các lực lượng chức năng tổ chức điều tra mở rộng vụ án, làm rõ các đối tượng liên quan để xử lý theo quy định của pháp luật.
CHÊ CALI Tâm lý mọi người nói chung, khi đến nơi giàu sang tốt đẹp hơn quê nhà thì khen hết lời, khen để học tập. Đó là chuyện đương nhiên.
Tuy nhiên người Việt sống trong chế độ cộng sản, thì việc khen chê phải có định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nhớ hồi năm chín mấy của thế kỷ trước, lúc ông phó thủ tướng Trần Đức Lương mới đi thăm Mỹ về, tui phỏng vấn ông ta về nước Mỹ. Ông vô tư khen nước Mỹ nhiều thứ lắm, nhưng sau đó chợt nhớ ra, ông tự chấn chỉnh lại, “nhưng nước Mỹ cũng có nhiều cái xấu lắm”, tui hỏi cụ thể xấu cái gì thì ông lúng túng nói chung chung, nó bóc lột công nhân ghê lắm, nó tự do dân chủ quá trớn nên xã hội luôn mất ổn định…
Cũng vào thập niên 90, tui có mặt trong đoàn nhà báo đi thăm Hàn Quốc do anh Võ Như Lanh, tổng biên tập TBKTSG làm trưởng đoàn. Từ trong quê mùa của những năm 90, thấy Hàn Quốc, ai cũng choáng ngợp, đi đến đâu, thấy cái gì cũng khen ngất trời. Khen nhiều đến mức mà một nhà báo tiến bộ như anh Lanh cũng thấy không ổn, anh chấn chỉnh: khen nhiều rồi, bây giờ chúng ta phải tìm ra cái chi xấu, cái chi thua VN để chê. Vậy mà cả đoàn nhà báo gần 10 người, trong ba ngày còn lại không tìm ra một cái gì xấu, cái gì thua VN để chê. Cuối cùng tui bông phèn một câu rất mất quan điểm lập trường: Thằng Hàn quốc tệ hơn VN là không chịu để cho Triều Tiên giải phóng. Bây giờ tui qua Cali ở gần một tháng, mới khen phở Cali ngon và khen chuyện quản lý chăm sóc trẻ con tốt đã bị nhiều người Việt XHCN, cháu ngoan bác Hồ nhảy bổ vào chửi bới, địt mẹ thằng bu càng nịnh Mỹ, khen cả cứt Mỹ cũng thơm hầu xin xỏ suất tị nạn hoặc lợi lộc gì đó.
Chừ tui sợ quá, bằng tự điều chỉnh, tìm cách chê Cali đây.
Thời tiết, đất đai và thổ nhưỡng Cali tệ hơn VN rất nhiều. Bay từ San Francisco xuống Los Angeles, nhìn xuống thấy cả một vệt đất khô cằn, núi đồi trùng điệp phủ toàn một màu vàng khô của cỏ cháy hoặc của đất đá trơ cằn, mỏi mắt tìm một chút màu xanh không thấy.
Khi máy bay hạ thấp xuống mới thấy được cây xanh trong các khu dân cư và trong các thành phố. Trái với VN, bay ra khỏi thành phố là thấy màu xanh ngút ngàn. Cali mưa ít, phía Đông tiếp giáp với sa mạc nên thiếu nước trầm trọng. Hầu hết đồi núi đều khô trọc, nơi nào có rừng thì phần lớn là các loại cây có dầu như thông, tùng, sồi và cây gì đó rất giống cây bạch đàn…không khí lại rất khô nên cháy rừng xảy ra thường xuyên dù không bị đốt. Ngược lại ở VN ta rừng bị cố ý đốt liên miên nhưng cũng chỉ cháy chút chút rồi tự tắt chẳng cần phải cứu chữa khổ sở như ở Cali
Chủng loại cây đã ít mà chủng loại chim thú càng ít hơn VN. Tuy nhiên số lượng của chúng thì nhiều vô cùng. Chim ở đây thịt rất dỡ nên không ai thèm bắt ăn. Ngỗng, ngan, vịt trời, le le mập ú tràn ngập các hồ nước, công viên, có lẽ thịt nó tanh lắm và máu nó hôi hơn ngỗng vịt ở VN nên không bị bắt làm món tiết canh. Tự dưng rất tự hào khi nhớ đến lời ngài phó thủ tướng tiến sĩ kinh tế Vương Đình Huệ khi ngài cho rằng vịt trời là mũi nhọn xuất khẩu đặc sản của VN.
Con người ở Cali bị khó dễ mọi điều, bị cấm đoán đủ thứ như cấm uống rượu bia nơi công cộng, cấm hành hạ thú cưng và gia súc, cấm cả việc đụng chạm đến chim muông đến cả con sò con ốc, viên đá vô tri. Hôm qua tui mới đến chơi ở bãi biển Laguna và Dana Point, thấy có biển cấm to đùng cắm ngay bên mỗi cổng xuống biển với nội dung: Không dắt chó xuống biển, không dẫm đạp nghêu sò và tất cả các loại sinh vật biển, không nhặt lượm võ nghêu sò ốc hến, không nhặt sỏi đá, không thay đổi vị trí của các viên đá sạn…Vì thế mà nhà cầm quyền Mỹ rất tệ khi đã bắt phạt một vị đường đường đại sứ Việt Nam chỉ vì vị nầy vô tư mò ốc trên suối để cải thiện.
Cali rất thiếu bê tông, hầu hết nhà cửa phải làm bằng gỗ và vật liệu tổng hợp đã đành đến các ao hồ sông suối ngay trong lòng thành phố cũng hiếm khi được kè bê tông hoành tráng như Hồ Tây của Hà Nội. Các khu hoang dã thì để dưới mức hoang dã, đường đất quanh co, cây cối mọc nghiêng ngã lộn xộn, um tùm. Nơi nào buộc phải làm đường bê tông để du khách đi lại cho dễ thì hai bên đường trồng cây cối lau lách lên um tùm che khuất người với chim thú bên trong, thỉnh thoảng lắm mới bố thí cho người một chỗ nhòm chim thú hai bên đường bằng cách cắt thấp cây cỏ một ô chừng vài mét. Hồ Tây và các bờ sông vào thành phố ở VN sạch tưng, đố hòng tìm thấy một bụi lau sậy hoang dã…làm bẩn cả mắt.
Đất đai Cali rộng hơn VN nhưng toàn đất hoang đồi trọc, dân số thì ít hơn rất nhiều lại không thuần và ngoan như dân VN.
Dân Cali là một tập hợp hổ lốn phức tạp gồm da trắng, da đen, da vàng, da đỏ…đến từ mọi phương trời, ngôn ngữ thì hầm bà lằng gồm tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Tàu, tiếng Việt…Hì hì, lại không có tiếng Mỹ, thế có ốt dột không.
Dân Cali không ngoan vì họ chẳng sợ thằng nào kể cả thống đốc hay tổng thống và cũng chẳng thằng nào sợ họ. Họ chỉ sợ mỗi pháp luật, đứng trước pháp luật thằng nào cũng như thằng nào, cũng xanh mặt, thun cu kể cả thằng tổng thống. Nghe ngài Trump đang bị thế. Ngược lại dân VN tuy ngoan ngoãn nhưng rất anh hùng, chẳng sợ pháp luật, chỉ sợ thằng lãnh đạo cấp trên và thằng chí phèo thôi.
Dân số Cali chỉ gần 40 triệu, đất đai cằn cỗi, tài nguyên không nhiều, nhưng nó làm ra tiền khủng khiếp, GDP nó đứng thứ 6 toàn cầu nghĩa là nó chỉ thua 5 nước Mỹ, Tàu, Nhật, Đức, Anh mà thôi. Điều đó chẳng tốt lành gì, vì của cải đó phần lớn do bóc lột người lao động mà ra. Chỉ 40 triệu người mà làm ra lượng của cải khổng lồ đứng thứ 6 thế giới thì cường độ bóc lột, vét kiệt tâm sức người lao động đến mức cùng cực như thế nào khó mà kể siết. Do vậy nhận định của ngài Trần Đức Lương hoàn toàn không sai.
Nhà cầm quyền tư bản Cali nói riêng và nước Mỹ nói chung, rất lạnh lùng và vô ơn. Viết bài bưng bô ca ngợi nó bao nhiêu nó cũng chẳng thèm biết ơn tặng cho người viết phong bì hoặc ưu tiên cho một chút lợi lộc nào đó như ở VN. Ngược lại, nói xấu nó hay nói xấu làm mất uy tín lãnh đạo của nó, nó cũng rất vô cảm, chẳng thèm care.
Do vậy tui viết bài chê Cali này là nhằm phục vụ cái sướng cho các vị cháu ngoan bác Hồ, những con người mới xã hội chủ nghĩa, mong các vị tha thứ mà cho tui một suất trở về VN quê hương an toàn.
PS: Tui chỉ quanh quẩn Cali nên chỉ dám chê Cali, tui mà đi hết nước Mỹ thì phải biết, tui chê không còn manh giáp nào.
Ảnh: do tui chụp, mô tả cây cỏ ngổn ngang lộn xộn trên con đường đất ven hồ và trên bờ hồ của cái gọi là công viên quốc gia ngay trong lòng một thành phố ở Nam Cali
Tổ chức Rồng Xanh bí mật giải cứu phụ nữ Việt Nam bị bán sang Hoa Lục
Tin Hà Nội, Việt Nam – Blue Drangon, tạm dịch là Rồng Xanh, tổ chức phi lợi nhuận đặt trụ sở tại Hà Nội, không chỉ giải cứu và tái định cư trẻ em đường phố ở Việt Nam.
Công việc chính của nhân viên Rồng Xanh là giải cứu phụ nữ và trẻ em gái bị bán sang Hoa Lục làm nô lệ tình dục hoặc bị cưỡp ép lấy chồng bản xứ. Đây là công việc nguy hiểm vì gây thiệt hại cho hàng ngàn người đàn ông Hoa Lục đã bỏ tiền ra mua cô dâu Việt Nam, và các tổ chức buôn người đã thu hàng chục triệu Mỹ kim tiền huê hồng môi giới, để đưa phụ nữ từ các nước nghèo sinh sống dọc theo sông Mekong như Việt Nam, Cambodia, Myanmar và Lào sang bên kia biên giới.
Không ai biết tên tuổi, lai lịch của các thành viên của tổ chức Rồng Xanh. Họ hoạt động bí mật vì lý do an toàn. Vậy mà từ năm 2007 cho đến nay, họ đã giải cứu và đưa khoảng 400 nạn nhân bị lừa, dụ dỗ, bắt cóc bán sang Hoa Lục làm gái mãi dâm và làm cô dâu trở về Việt Nam đoàn tụ gia đình.
Theo nhật báo South China Morning Post, nhà sáng lập tổ chức Rồng Xanh là một công dân Úc, ông Michael Michaelowski đã tạo cơ hội để các nạn nhân có thể liên lạc với tổ chức Rồng Xanh thông qua dịch vụ tin nhắn WeChat. Chỉ cần cầm trong tay chiếc điện thoại di động, họ gỏ vào chữ QQ hoặc gọi Blue Dragon.
Phần lớn các nạn nhân, nhất là các cô gái mãi dâm, bị cấm tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Một cô gái bỏ trốn sẽ làm kẻ buôn người thiệt hại hàng ngàn Mỹ kim. Vì vậy mà việc giải cứu một người có thể kéo dài nhiều tháng trời để vạch ra và thực hiện kế hoạch. Có nạn nhân giả vờ bệnh hoặc đi kiểm tra sức khoẻ tại bệnh viện và gọi Blue Dragon. Có người bị bán vào nhà thổ đã phải mượn điện thoại của khách hàng để gọi Blue Dragon trước khi tẩu thoát bằng cửa hậu.
South China Morning Post kể câu chuyện giải cứu táo bạo cho thấy cảnh hai cô gái từ một tiệm cắt tóc phóng ra ngoài, nhảy lên một chiếc xe hơi để được đưa về Việt Nam. Cũng có trường hợp bỏ trốn bất thành, nạn nhân bị đánh đập kể cả bị giết chết. Một phụ nữ tên Lê Thị Vũ cho biết đã bị đưa vào nhà thổ ở tỉnh Quảng Tây suốt 4 tháng, và mỗi ngày phải tiếp 12 khách mua dâm. Blue Dragon còn tố cáo để công an cộng sản Việt Nam bắt 76 kẻ buôn người.
Việt Nam 14 tháng 12, 2018 Views: 181 Tổ chức Rồng Xanh bí mật giải cứu phụ nữ Việt Nam bị bán sang Hoa Lục Ảnh: scmp Tin Hà Nội, Việt Nam – Blue Drangon, tạm dịch là Rồng Xanh, tổ chức phi lợi nhuận đặt trụ sở tại Hà Nội, không chỉ g…
Nhiều người bước vào lễ Giáng Sinh một cách mệt mỏi, bận rộn, xao lãng, và bị vắt kiệt với đủ mọi ánh đèn, ca nhạc, và ăn mừng Giáng sinh. Mùa Vọng là thời gian chuẩn bị cho Giáng Sinh, nhưng với nhiều người trong chúng ta, đây không phải là thời gian chuẩn bị để Chúa Kitô có thể sinh ra lần nữa một cách sâu đậm trong đời sống mình. Thay vào đó, việc chuẩn bị cho Giáng Sinh, hầu như là để chuẩn bị cho các buổi ăn mừng với gia đình, bạn bè và đồng nghiệp. Những ngày hướng đến Giáng Sinh hiếm khi được yên bình. Thay vào đó, chúng ta cứ hối hả vội vã lo trang trí, mua quà, gởi thiệp, chuẩn bị đồ ăn, và dự các liên hoan Giáng Sinh. Hơn nữa, khi Giáng Sinh về, chúng ta đã chán ngấy các bài hát Giáng Sinh, đã nghe chúng cả trong các điệu nhạc giật gân trong các trung tâm mua sắm, trong nhà hàng, quảng trường, và trên đài phát thanh.
Và rồi Giáng Sinh đến với chúng ta trong một không gian chật chội và mệt mỏi, chứ không thư thái và yên bình. Thật vậy, đôi khi mùa Giáng Sinh như bài kiểm tra sức chịu đựng hơn là thời gian vui vẻ thực sự. Hơn nữa, và còn nghiêm trọng hơn, nếu chúng ta thành thật với bản thân, chúng ta phải công nhận, trong khi chuẩn bị chúng ta ít chừa chỗ cho việc thiêng liêng, cho Chúa Kitô sinh ra một cách sâu đậm trong lòng mình. Thời gian chuẩn bị thường dành để chuẩn bị nhà cửa hơn là chuẩn bị tâm hồn, mua sắm hơn là cầu nguyện, tiệc tùng hơn là chay tịnh chuẩn bị cho đại lễ. Mùa Vọng thời nay có lẽ là để ăn mừng trước hơn là chuẩn bị cho lễ Giáng Sinh.
Và kết quả là, như các chủ trọ đã không còn phòng cho Đức Mẹ và thánh Giuse trong mùa Giáng Sinh, chúng ta cũng thường “không còn phòng” không còn chỗ trong đời mình cho sự tái giáng sinh thiêng liêng. Lòng chúng ta thì tốt, chúng ta muốn Giáng Sinh tái sinh chúng ta về đường thiêng liêng, nhưng cuộc sống của chúng ta quá nhiều áp lực, quá nhiều hoạt động và quá mệt mỏi, đến nỗi chúng ta không còn sinh lực thực sự để làm cho Giáng Sinh trở nên thời gian đặc biệt để canh tân tâm hồn mình. Tinh thần Giáng Sinh vẫn ở trong chúng ta, vẫn thật, nhưng như đứa trẻ trong nôi bị bỏ bê đang chờ được bồng ẵm. Và chúng ta muốn bồng đứa trẻ lên, nhưng lại không bao giờ đến gần cái nôi cả.
Vậy thì chúng ta thật tệ biết bao?
Điều này thách thức chúng ta hãy nhìn vào chính mình, nhưng không đến nỗi xấu như nhiều chỉ trích lòng đạo thường hay nói đâu. Dự lễ Giáng Sinh với một cuộc sống quá bận rộn và quá lơ là việc dành chỗ cho Chúa Kitô, không biến chúng ta thành người xấu. Như thế không có nghĩa chúng ta là những kẻ ngoại đạo vô tâm. Và cũng không có nghĩa là Chúa Kitô đã chết trong lòng chúng ta. Chúng ta không xấu xa, mất đức tin và ngoại đạo chỉ vì chúng ta hướng đến Giáng Sinh theo thói quen một cách quá lơ là, quá bận rộn, quá áp lực và quá mệt mỏi đến nỗi không thể có một nỗ lực ý thức để làm cho đại lễ này trở thành dịp để canh tân linh hồn thực sự trong đời mình. Tình trạng thờ ơ đường thiêng liêng của chúng ta định rõ chúng ta là con người hơn là thiên thần, trần tục hơn là thuần khiết, và duy cảm hơn là duy thiêng. Tôi cho rằng Chúa hoàn toàn hiểu tình trạng này của chúng ta.
Thực sự, tất cả mọi nguời đều đấu tranh với điều này theo nhiều cách. Không ai hoàn hảo, không ai dành trọn không gian của đời mình cho Chúa Kitô, ngay cả trong thời gian Giáng Sinh. Điều này sẽ cho chúng ta đôi chút an ủi. Nhưng cũng cho chúng ta một thách thức cấp thiết. Trong cuộc sống bận rộn và lơ đãng của chúng ta, có quá ít chỗ cho Chúa Kitô! Chúng ta phải hành động dọn đôi chỗ cho Chúa Kitô, khi làm cho Giáng Sinh thành một thời gian phục hồi linh hồn và canh tân đời sống.
Làm sao chúng ta làm được chuyện này?
Trong những ngày cận kề Giáng Sinh, chúng ta cố gắng làm đủ mọi chuyện cần thiết để sẵn sàng cho tất cả những gì cần có trong nhà, trong nhà thờ, và nơi làm việc. Chúng ta đi mua quà, gởi thiệp, treo đèn và trang trí, soạn thực đơn, mua đồ ăn, dự đủ tiệc liên hoan Giáng Sinh ở nơi làm việc, nhà thờ và nhà bạn bè. Điều này, cộng thêm vào áp lực sẵn có trong cuộc sống, thường làm cho chúng ta nghĩ: Tôi sẽ không làm được! Tôi sẽ không sẵn sàng! Tôi sẽ không sẵn sàng cho Giáng Sinh! Đây là cảm giác chung của mọi người.
Nhưng, sẵn sàng cho Giáng Sinh, làm mọi việc cần làm, không phải là hoàn tất các việc chúng ta đã lên danh sách như mua quà, gởi thiệp, thức ăn, các bổn phận xã hội. Ngay cả khi danh sách những việc cần làm chỉ mới xong được một nửa, nhưng nếu bạn đi lễ nhà thờ ngày Giáng Sinh, nếu bạn ngồi được trong bàn ăn với gia đình vào ngày Giáng Sinh, và nếu bạn thăm hỏi hàng xóm và đồng bạn với đôi chút nồng hậu hơn, thì điều này không có nghĩa là bạn lơ là, mệt mỏi, quá tải, và không suy nghĩ rõ về Chúa Giêsu, và có nghĩa là bạn đã làm trọn những việc để đón Giáng Sinh rồi đó.
Việt Nam – Một chuyên viên Hội đồng nhân dân tỉnh Điện Biên vừa được phát hiện đã chết trong tư thế treo cổ trong phòng làm việc tại trụ sở công quyền.
Báo Người Lao Động ngày 14 tháng 12 năm 2018 loan tin, khoảng 8 giờ sáng ngày 13 tháng 12, một viên chức của tỉnh Điện Biên phát hiện ông N.Q.V, 36 tuổi, là chuyên viên Hội đồng nhân dân tỉnh đã tử vong trong phòng làm việc. Theo dự đoán, việc ông V. tử vong trong tư thế treo cổ có thể đã xảy ra từ ngày 11 tháng 12. Trước khi qua đời, ông V. đã để lại thư tuyệt mệnh với nội dung là nợ nần nhiều do thua độ bóng đá từ lâu chứ không phải mới và bị xã hội đen siết nợ.
Trước đó, vào ngày 26 tháng 11, ông Nguyễn Quang Dương, là viên chức sở Tài Chính tỉnh Bình Định cũng được phát hiện đã tư vong tại nhà vệ sinh của cơ quan trong tư thế treo cổ tự tử. Mặc dù chưa có sự thống kê chính xác về số lượng viên chức cộng sản tử vong trong tư thế treo cổ tự tử, nhưng khoảng hơn một năm nay, truyền thông trong nước liên tục loan tin về sự việc này. Đây cũng là cụm từ được Google trả kết quả lên đến con số 12 triệu trong vòng 0,53 giây.
Được biết, không chỉ riêng Việt Nam, mà tại Trung Cộng số lượng viên chức Cộng sản nước này tự sát đang tăng mạnh. Kết quả tìm kiếm cụm này trên Google là 122 triệu trong vòng 0,55 giây. Sự việc này dường như đang xảy ra ngày một nhiều hơn, kể từ khi tổng bí thư của hai nhà nước Cộng sản bắt đầu chiến dịch thanh trừng phe phái.SBTN.TVViên chức CSVN liên tục chết trong tư thế treo cổTin Saigon, Việt Nam – Một chuyên viên Hội đồng nhân dân tỉnh Điện Biên vừa được phát hiện đã chết trong tư thế treo cổ trong ph
Theo cơ quan Tín Vụ Á Châu thì ơn gọi linh mục và tu sĩ ở Trung Cộng đang tăng tiến, bất chấp việc tuyên truyền chủ nghĩa cộngsản vô thần và tình hình mất tự do tôn giáo. Một cuộc nghiên cứu được thực hiện bởi Viện Các Khoa Xã Hội Học ở Bắc Kinh cho thấy trên 60% sinh viên ở Bắc Kinh và Thượng Hải tỏ ra thiên về Kitô giáo. Ở vào một thời điểm Đảng Cộng Sản ở Trung Hoa đang trải qua cơn khủng hoảng về căn tính của nó thì chỉ còn một ítngười tin tưởng vào những lý tưởng của Mao Trạch Đông mà thôi, chứ nhiều ngườithuộc đảng này đang âm thầm tỏ ra chú trọng tới tôn giáo và đức tin Kitô giáo.
Sau đây là một câu truyện có thật về một đảng viên cộng sản năng nổ, một sinh viên thuộc miền bắc xứ sở này, đã trở thành mộtvị linh mục Công giáo (vì mục đích an ninh nên các địa danh và tên tuổi xinđược giữ kín).
Tên tôi là Bao Yuanjin và là một linh mục ở miền bắc Trung Hoa. Tôi làm linh mục mấy năm trước đây. Tôi được rửa tội 11 năm trước. Trước đó, tôi là một người vô thần, và thực sự là một tay năng nổ củaĐảng Cộng Sản Trung Hoa. Ở đại học, tôi đã lãnh đạo các thành viên Cộng Sản trẻthuộc phân khoa của tôi. Lòng tôi có nhiều dự án và tư tưởng cho tương lai, thếnhưng không có một sự nào trong những thứ ấy liên quan tới Thiên Chúa hết, bởivì, đối với tôi, Ngài thậm chí không hiện hữu. Gia đình tôi chỉ có bà của tôitheo Tin Lành. Khi tôi còn là một đứa nhỏ, tôi đã có lần nghe bà nói về Giêsu:Bà nói rằng Giêsu là con Thiên Chúa. Thế nhưng tôi chẳng có chú ý gì tới tôngiáo. Vấn đề giáo dục theo vô thần là những gì bắt buộc ở Trung Hoa, từ tiểuhọc lên đến đại học. Tâm trí của tôi đầy những lý thuyết về vô thần và tôi nghĩrằng vấn đề tin tưởng vào Thiên Chúa là một cái gì đó trẻ con, thậm chí là mộtcái gì đó hơi ngu ngốc nữa.
Vào năm thứ tư đại học, tôi đã gia nhập đảng Cộng Sản. Dân chúng ở Trung Hoa ghi danh nhập đảng này theo niềm xác tín chẳng có bao nhiêu, hầu hết để “làm bạn” hầu một ngày kia có thể giúp họ tìm việc làm hay giúp họ khi họ gặp rắc rối.
Đời sống của tôi trong tổ Cộng Sản chẳng tốt cũng không xấu. Nhóm sinh viên chúng tôi tỏ ra tử tế với mọi người, chăm chỉ chuyên cần và khéo léo tổ chức tất cả mọi sinh hoạt.
Thế nhưng, tôi đã bị dội lại bởi sự kiện là, ở Đảng Cộng Sản này, tất cả những vấn đề ấy, cho dù là tốt đẹp đi nữa, vẫn thực hiện không phải cho người khác mà là cho chính mình mà thôi, cho việc thăng tiến nghề nghiệp của mình mà thôi. Rồi vấn đề dối trá nữa: đặc tính chính yếu của chúng tôi là dối trá, ở chỗ, hết mọi người đều nói dối và hết mọi người đều biết đến những thứ dối trá ấy, song tất cả chúng tôi vẫn cứ dối trá như nhau. Chẳng hạn, ở hết mọi cuộc họp tổ đều có giây phút để thú nhận và tự kiểm (được gọi chính xác là “phê bình kẻ khác và phê bình bản thân”). Thực ra chẳng có vấn đề tự kiểm gì cả và cũng chẳng có ai thực sự là phê bình kẻ khác nữa.
Có một loại trao đổi chính thức đã được ấn định, một thứ trao đổi thậm chí có thể trở thành hình thức tâng bốc xua nịnh. Chẳng hạn, người ta có thể nói với người trưởng tổ rằng: ‘Thưa tổ trưởng, tôi cần phải phê bình một điều tổ trưởng không làm đúng. Tổ trưởng đã làm quá nhiều cho chúng tôi. Đúng thế, làm việc là điều quan trọng, nhưng sức khỏe của tổ trưởng cũng quan trọng nữa. Tổ trưởng cần phải để ý đến sức khỏe để còn làm việc hơn nữa cho cộng đồng”.
Vào những lúc như thế, từ lòng tôi vang lên tiếng nói: “Thật là điêu ngoa, đúng là dối trá!”. Thế nhưng, tôi cũng phải làm như vậy thôi.
Sau đó ít lâu tôi bị bệnh. Tôi thường có những cơn ác mộng làm tôi thức giấc. Vào một đêm kia, tôi đã mơ thấy rằng tôi tìm thấy được một cái hộp; tôi đã mở ra và thấy một cuốn sách trong đó. Đó là một cuốn Thánh Kinh, sáng rực. Tôi tỉnh dậy và nhớ lại rằng bà của tôi là người duy nhất đã nói với tôi về Thánh Kinh. Tôi nhớ lời bà nói rằng Giêsu là đấng toàn năng. Bởi thế tôi nghĩ rằng nếu Giêsu là đấng toàn năng thì ngài có thể chữa tôi lành. Và vì vậy tôi đã tìm đến một nhà thờ trong vùng và thấy một ngôi nhà thờ Tin Lành. Tuy nhiên, một đảng viên cộng sản bị cấm không được tin tưởng vào bất cứ một tôn giáo nào. Nên tôi đã kín đáo đi gặp những người Tin Lành. Vừa ra trường, nhờ Đảng đỡ đầu, tôi mau chóng tìm được một việc làm ngon lành ở một thành phố lớn. Trước khi nhận nhiệm vụ, hãng đó đã cho tôi lấy 1 tháng về thăm gia đình của tôi thuộc một miền khác. Vào cuối tháng nghỉ hè này, có một người bạn – sau này tôi mới khám phá ra là Công giáo – đã trao cho tôi 10 cuốn băng nhựa ghi những bài giảng của một vị linh mục Trung Hoa. Sau khi nghe những cuộc băng nhựa ấy, một trận chiến đã bắt đầu giằng co trong tâm khảm của tôi: tôi nghĩ rằng có lẽ Thiên Chúa thực sự hiện hữu; có lẽ Công giáo thực sự là một đạo đích thật…Thế nhưng, đồng thời tôi nhớ đến tất cả mọi lý thuyết về vô thần đã được học hỏi ở học đường và đại học. Tôi bị khống chế bởi một cơn buồn thảm đồng thời sợ rằng nếu tôi chấp nhận đức tin Công giáo tôi sẽ liều mình mất việc làm của tôi. Tôi không biết phải làm sao. Đó là ngày tôi phải trở về thành phố để thi hành công việc của mình. Tôi đã mua vé xe buýt rồi.
Lần đầu tiên trong đời tôi hướng về Đức Bà và nói cùng người rằng: “Hỡi Thánh Maria, nếu bà thực sự hiện hữu, nếu đức tin Công giáo là những gì chân thực, nếu bà muốn tôi trở thành người Công giáo, thì xin ban cho tôi một dấu hiệu, đó là, ngày mai, trong chuyến đi của tôi, hãy để cho một cái gì đó quan trọng xẩy ra, một tai nạn chẳng hạn, mà tôi còn sống sót, thì tôi sẽ tin”. Giờ đây, tôi nghĩ rằng tôi đã rất ư là điên khùng khi thách đố Thiên Chúa, đã thử ngài kiểu đó. Thế nhưng, vào lúc bấy giờ thì đó là lời cầu nguyện duy nhất nẩy lên trong tâm trí tôi mà thôi.
Ngày hôm sau, một tai nạn thực sự đã xẩy ra, ở chỗ, bánh xe ở đằng trước phía bên phải của chiếc xe buýt nổ tung khi chúng tôi đang đi xuống dốc với tốc độ nhanh. Chiếc xe buýt đâm vào lề và lật ngược bốn bánh lên trời. Tất cả chúng tôi đều sống sót, thế nhưng chúng tôi đã phải gắng gõi hết sức để chui ra khỏi chiếc xe bẹp dúm qua những cửa sổ của nó. Tôi kinh hoàng trước tai nạn này, nhưng tôi không chú ý lắm tới dấu hiệu đó. Sau vài tiếng đồng hồ chờ đợi, hãng xe buýt cho một chiếc xe khác tới và chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình của mình. Tuy nhiên, tai nạn ấy đã làm cho chúng tôi mất thời gian tính. Khi chúng tôi tới được trạm xe buýt – chuyến đi của tôi vẫn phải tiếp tục bằng xe lửa – thì đã quá trễ và vé xe lửa đã bán hết sạch. Người ta sắp hàng dài trước quay bán vé, và mọi người nói với chúng tôi rằng chỉ còn có những vé cho chuyến xe lửa trong vòng 3 ngày nữa thôi.
Tôi cảm thấy mất tinh thần và chán nản, vì tôi quá trễ việc làm đầu tiên của mình và vào ngày đầu tiên làm việc của mình. Tôi nghĩ đến việc cầu nguyện cùng Đức Bà một lần nữa rằng: “Xin giúp tôi mua được vé xe lửa. Nếu bà giúp tôi lần này nữa, tôi thề sẽ theo bà!” Trong khi chờ đợi ở một hàng dài, tôi đã mất hết hy vọng. Đùng một cái, một người đàn ông xuất hiện hô to lên rằng: “Đây là vé cho thành phố … Vé cho ngày hôm nay. Ai muốn mua tấm vé này?” Đó là điểm đến của tôi. Tôi liên mua ngay lập tức. Người này nói rằng ông ta vừa lấy được vé ấy cho một người bạn vừa gọi cho ông ta nói rằng họ không thể đến đúng giờ. Người bạn ấy xin ông ta hãy trả vé lại, thế nhưng, vì chuyến xe lửa sẽ rời trong vòng 40 phút nên quá trễ để được hoàn tiền lại do đó mà ông ta đã hỏi quanh quanh xem để cố gắng bán tấm vé đó cho người nào đó. Đó là một dấu hiệu nhỏ, nhưng là dấu hiệu ban đầu – bước đầu tiên cho cuộc trở lại của tôi.
Sau khi nhận việc, tôi đã tìm đến một Nhà Thờ Công Giáo để dự Lễ, song bao giờ cũng âm thầm kín đáo. Dần dần, tôi hiểu thêm về đức tin Công giáo, để rồi cuối cùng tôi đã xin rửa tội. Khi tìm được đức tin Công Giáo, tôi đã tìm thấy một cộng đoàn dân chúng đơn thành và tốt lành, nơi không có gì là gian dối. Tôi đã tìm được một số bạn bè thực sự. Tôi đã được giải thoát, ở chỗ, tôi không còn cần phải dối trá nữa. Dân chúng thực sự kiểm điểm họ và thậm chí nhận định về vị linh mục nữa. Tôi bắt đầu thấy được ánh sáng và hiểu rằng tôi đã thấy được ý nghĩa của cuộc sống. Tuy nhiên, để rửa tội, tôi cần phải thắng vượt một trở ngại lớn, đó là việc tôi làm thành viên của Đảng Cộng Sản.
Một đảng viên Cộng Sản là một người vô thần; một Kitô hữu là người tin vào Thiên Chúa: không thể nào vừa là người Công giáo vừa là đảng viên Cộng Sản. Ngay cả vị linh mục dạy đạo cho tôi cũng nói rằng tôi cần phải rời bỏ Đảng Cộng Sản. Thế nhưng, tôi không đủ can đảm để làm điều này, bởi vì, tôi sợ rằng việc rời bỏ Đảng tôi sẽ phải chấp nhận những hậu quả khủng khiếp, ở chỗ có thể bị mất việc làm hay thậm chí có thể bị bách hại nữa. Đảng Cộng Sản ở Trung Hoa kiểm soát tất cả mọi sự, bởi thế, để dứt tình với nó có nghĩa là một cách nào đó làm mất đi tất cả mọi niềm hy vọng được sống một cuộc đời yên hàn; có nghĩa là cảm thấy như mình trở thành một kẻ xa lạ. Trong Đảng Cộng Sản Trung Hoa có một qui luật là mỗi đảng viên đóng góp một số tiền hằng tháng nào đó cho Đảng. Nếu một người không đóng góp trong vòng 6 tháng liền thì bị trừng phạt và đôi khi còn bị đuổi ra khỏi Đảng nữa. Vì tôi không đủ can đảm để công khai rời bỏ Đảng nên tôi đã nghĩ đến cách ra khỏi đảng bằng cách ấy, bởi thế tôi đã không đóng góp gì trong vòng 6 tháng. Thế nhưng lại chẳng có gì xẩy ra cả, vì không hề cho tôi biết, người tổ trưởng, vì thấy tôi không đóng đã đóng cho tôi! Tôi không biết tại sao anh ta lại làm thế. Anh ta là một loại người bình thường, không tốt cũng chẳng xấu. Có lẽ anh ta nghĩ rằng tôi đã quên và ứng trước để tôi trả lại cho anh ta sau chăng; có lẽ anh ta không muốn các viên chức cấp trên của anh ta thấy rằng có những “kẻ chểnh mảng” ở tổ của anh ta, khiến anh ta bị phê bình khiển trách hay chăng. Cuối cùng, tôi chỉ còn một chọn lựa duy nhất đó là đi theo đường lối chính thức, và tôi đã viết một bức thư để xin bỏ Đảng. Tuy nhiên, tôi đã không đủ can đảm để nộp bức thư này. Tôi đã quyết định nhiều lần trình bức thư ấy, để rồi cuối cùng tôi đã không thực hiện nổi. Có lần tôi đã vận dụng tất cả lòng can đảm của mình để đi thẳng tới viên chức Đảng mà trao bức thư của mình cho người này. Ông ta không nói được một lời nào, vì đó là lần đầu tiên ông ta thấy có một người dám từ chối ở lại trong CCP (Đảng Cộng Sản Trung Hoa). Ông ta hoàn toàn không thể nào hiểu nổi.
Cuối cùng tôi đã được lãnh nhận phép rửa. Và với bí tích này, tôi đã bắt đầu hoan hưởng được niềm an bình sâu xa. Sau đó ít lâu, tôi đã gặp một người bạn cũ trong tổ của mình. Chúng tôi đã là bạn với nhau ngay cả trước khi gia nhập Đảng nữa. Anh ta nghe rằng tôi đã rời Đảng và trở thành một Kitô hữu. Anh ta bảo tôi rằng tôi rất can đảm và thêm rằng anh ta sẽ không bao giờ có thể can đảm như thế.
Sau khi trở thành một người Công Giáo, tôi đã tiếp tục tham dự Thánh Lễ mỗi Chúa Nhật, thế nhưng với một cộng đồng hầm trú không được chính quyền nhìn nhận. Có lần một nữ tu nói với tôi rằng: Tại sao em không theo Chúa Giêsu trọn vẹn hơn để làm linh mục? Tôi đáp ngay là “không”. Không có ai tin tưởng ở trong gia đình tôi cả và việc trở thành linh mục là việc khó khăn. Là người con trai đầu lòng, theo truyền thống Trung Hoa, tôi buộc phải nâng đỡ cha mẹ tôi khi các vị về già. Việc tôi vào chủng viện, thì kẻ thù đầu tiên của tôi sẽ là cha mẹ tôi.
Sáu tháng sau, khi đang cầu nguyện trong phòng, tôi nghe thấy tiếng gọi: “Hãy theo Ta”. Bấy giờ không có ai trong phòng cả. Tận đáy lòng tôi hiểu rằng chính Chúa Giêsu đã gọi tôi, thế nhưng tôi quá ư là run sợ, bởi vì, việc trở thành linh mục – thuộc Giáo Hội hầm trú – nghĩa là từ bỏ tất cả mọi sự, từ bỏ gia đình, việc làm, lao mình vào nguy hiểm, ôm lấy Thập Giá, chịu khổ ải, bị tù đầy. Tôi đã đáp lại là không. Thế nhưng, vì việc từ chối này mà tôi không còn được bình an nữa, khi tôi trở thành một kẻ khắc khoải khôn nguôi và mất đi tất cả mọi niềm vui. Tôi không muốn theo Chúa Giêsu vì tôi có một công ăn việc làm tốt, một đời sống bình lặng. Thế nhưng, tôi đã không thể nào chống cưỡng được tiếng Chúa gọi. Thế là tôi đã cầu xin cho được một việc làm khác ở một thành phố xa xôi. Có thế, tôi mới có thể bỏ việc làm của tôi một cách âm thầm kín đáo hơn, và mới có thể nhập chủng viện. Tôi đã làm việc ở thành phố ấy gần 2 năm trời, để kiếm được nhiều bao nhiêu có thể, dành dụm mọi sự để giành tiền cho cha mẹ tôi, rồi cuối cùng theo tiếng gọi của Chúa Giêsu. Tôi biết rằng tôi yếu đuối nên tôi đã nguyện cầu rằng: “Lạy Chúa Giêsu, nếu Chúa muốn, Chúa có thể làm con trung thành sống đời môn đệ của Chúa đến muôn đời. Điều này sẽ là một phép lạ rất cả thể”.
Tôi đã sống 5 năm ở chủng viện thuộc Giáo Hội hầm trú. Đời sống rất ư là khó khăn và nguy hiểm. Thức dậy vào lúc 5 giờ sáng. Sau buổi suy niệm nửa tiếng, chúng tôi cử hành Thánh Lễ và nguyện kinh thần vụ. Sau điểm tâm, chúng tôi thu dọn và bắt đầu học. Chúng tôi lên giường nghỉ vào lúc 10 giờ đêm. Đời sống ở chủng viện chui là một đời sống khá khó khăn, ở chỗ, chúng tôi sống ở một ngôi nhà miền quê của một tín hữu giành cho chúng tôi.Thế nhưng, khi chúng tôi nghe tin cảnh sát khám phá ra chúng tôi thì chúng tôi buộc phải thoát thân và định cư ở một nơi khác. Trong năm năm, chúng tôi đã đổi chỗ tất cả là 3 lần. Chủng sinh chúng tôi chẳng những phải lo thu dọn mà còn phải nấu nướng, dọn bữa cho mọi người nữa. Về vấn đề vật chất, cuộc sống thật là khó khăn: lương thực thì ít, rau cũng ít, hiếm khi có thịt ăn; phòng ở chật chội, không có chỗ nào là dư thừa cả. Thế nhưng, lòng tôi lại cảm thấy bằng an, thậm chí hết sức vui vẻ, khác với những gì tôi cảm thấy trước đó. Chủng sinh với nhau rất thân thiện và sống tình huynh đệ với nhau. Một khi mọi người lúc nào cũng tỏ ra yêu thương nhau thì việc thắng vượt khó khăn thật là dễ dàng.
Sau 5 năm học hỏi, ngày chịu chức linh mục đã tới. Bấy giờ tình hình căng thẳng xẩy ra trong giáo phận của tôi, và chúng tôi liều mình bị cảnh sát tống giam. Bởi thế chúng tôi đã cử hành lễ truyền chức vào lúc 4 giờ sáng. Lúc ấy mọi người ở Trung Hoa đang ngủ, kể cả cảnh sát nữa. Cho dù đời sống là người Công Giáo có khó khăn, đức tin của chúng tôi thực sự kiên cường. Điều này cũng là nhờ gương sáng của các vị linh mục trong ngục tù. Một thí dụ nhỏ, đó là, ở tỉnh của tôi, vào năm 1983, khi Trung Hoa bắt đầu thực hiện những cải cách cả thể về kinh tế, chỉ có 3 gia đình Công giáo. Giờ đây, sau gần 20 năm, con số đã lên tới trên 4 ngàn. Thật sự là máu tử đạo trở nên hạt giống mọc lên các Kitô hữu mới. Đối với cả tôi nữa, sức mạnh của tôi chính là Chúa Giêsu. Người đã nói rằng “Không phải các con đã chọn Thày, song Thày đã chọn các con” (Jn 15:16). Dọc theo con đường này, tôi gặp Thập Giá, nhưng cũng gặp cả niềm vui và an bình nữa. Với ơn Người trợ giúp, tôi mãi mãi theo Người, thắng vượt bất cứ những gì là khó khăn xẩy ra cho tôi.
Vào ngày 12 tháng Mười Hai hàng năm, Giáo hội mừng lễ Đức Mẹ Guadalupe, đánh dấu ngày 9/12/1531, khi Đức Mẹ hiện ra ở Mexico với một nông dân 57 tuổi tên Juan Diego. Khi ấy Juan Diego đang đi bộ đến khu vực mà nay là thành phố Mexico (đồi Tepeyac), thì ông thấy Đức Mẹ hiện ra.
Để chứng minh cho Đức Tổng Giám mục những gì ông đã thấy, Đức Mẹ bảo ông leo lên đỉnh đồi để hái hoa. Khi lên tới nơi, Juan Diego tìm thấy những bông hoa hồng Castilian, vốn không nở vào mùa này và cũng không phải là loài sống được nơi đây. Đức Mẹ đã sắp xếp số hoa tìm được vào chiếc áo tilma bằng sợi xương rồng của Juan. Và khi ông đến dinh thự của giám mục, mở chiếc áo choàng ra thì hoa rơi xuống sàn, trên bề mặt áo bỗng xuất hiện hình ảnh Đức Mẹ mà ngày nay được gọi là là “Đức Mẹ Guadalupe.” Chiếc áo tilma với hình ảnh Đức Mẹ chỉ trong vòng 7 năm đã tác động lên hàng triệu người, khiến họ chuyển sangđạo Công giáo.
Bên cạnh đó, chiếc áo hiện được trưng bày tại Vương cung thánh đường Đức MẹGuadalupe ở thành phố Mexicô, Mexicô còn có nhiều điều lạ lùng mà các khoa học gia chưa thể giải thích.
Dưới đây là 4 sự thật đáng kinh ngạc về chiếc áo tilma in hình Đức Mẹ.
1) Chất liệu và màu sắc đặc biệt mà loài người không thể tái tạo
Chiếc áo tilma được làm chủ yếu từ sợi cây xương rồng, một chất liệu có chất lượng rất kém và bề mặt thô ráp. Vì thế rất khó để mặc chúng, và thậm chí còn khó hơn nếu muốn giữ được hình ảnh đã vẽ lên vải. Tuy thế, hình ảnh Đức Mẹ trên tấm áo tilma nói trên vẫn còn cho đến ngày nay. Các nhà khoa học nghiên cứu vải tấm nhấn mạnh rằng, bề mặt tấm vải đã không được xử lý bằng bất kỳ kỹ thuật nào. Bề mặt trên tấm tilma có in hình Đức Mẹ khi chạm vào thì mềm như lụa, trong khi những phần còn lại tilma vẫn thô ráp.
Hơn nữa, các chuyên gia nhiếp ảnh hồng ngoại nghiên cứu vào cuối những năm 1970 xác định rằng, trên chiếc tilma không có bất kỳ nét cọ nào (hoàn toàn không), như thể ảnh Đức Mẹ được sáp nhập vào làm một với tấm vải. Tiến sĩ Phillip Callahan, một nhà sinh lý học tại Đại học Florida phát hiện ra rằng, khi đưa bức ảnh ra xa một chút thì có sự khác biệt về diện mạo của kết cấu và màu dacủa Mẹ, mà con người không thể tái tạo được: “Kỹ thuật đó không thể là do bàn tay con người làm nên. Nó chỉ thường xảy ra trong tự nhiên, như màu của lông chim hay cánh bướm và những màu tươi tắn trên bọ cánh cứng… Nếu từ từ lùi ra xa bức ảnh, đến một khoảng cách nhất định thì các sắc tố tự nhiên và bề mặt có in hình Đức Mẹ sẽ hòa quyện vào với nhau, vẻ đẹp tuyệt vời nơi chân dung Đức Trinh Nữ có màu của trái olive hiện ra như thể đó là ma thuật.”
Ngoài ra, tấm vải có in hình Đức Mẹ còn thay đổi nhẹ màu sắc tùy vào góc nhìn của người xem. Màu sắc của bức ảnh cũng không thể tìm thấy nơi các loài động vật hay trong các nguyên tố khoáng chất (vào năm 1531, chưa có màu tổng hợp), khiến nhiều câu hỏi chưa có lời giải đáp.
2) Mọi người cho đây chỉ là một bức vẽ, nhưng chiếc áo tilma ấy đã đánh bạimọi bức vẽ bản sao cả về thời gian lẫn chất lượng
Mỗi khi có ai muốn tạo ra một bản sao để thay thế bức ảnh gốc, thì kết quả là bản sao ấy sẽ nhanh chóng phai mờ, trong khi bản gốc dường như không bao giờ phai. Miguel Cabrera, một nghệ sĩ sống giữa thế kỷ 18, người đã sao chép ra ba trong số những bản sao nổi tiếng nhất (một dành tặng Tổng giám mục, một dành tặng Đức giáo hoàng và một cho chính ông) đã từng viết về sự khó khăn trong việc sao chép bức ảnh, dù là với những chất liệu tốt nhất:
Ông nói: “Tôi tin rằng dù một họa sĩ tài năng và cẩn thận nhất đi chăng nữa, nếu anh ta sao chép bức ảnh thánh thiêng này trên tấm vải vẽ có chất lượng kém
[như chiếc áo tilma gốc]
, thì dẫu anh có cố gắng khó nhọc đến mấy để họa lại 4 chất liệu trên bức ảnh, thì cuối cùng cũng phải mệt mỏi thừa nhận rằng mình không thể làm được. Điều này có thể được chứng minh rõ ràng qua rất nhiều bản sao đã được tạo nên, nhờ vào lợi thế của việc sử dụng véc-ni, tấm vải vẽ được chuẩn bị cẩn thận nhất và chỉ sử dụng một chất liệu là dầu – môi trườngthuận lợi nhất cho việc vẽ tranh…”
Tiến sĩ Adolfo Orozco, nhà nghiên cứu và nhà vật lý học tại Đại học Quốc gia Mêxicô, vào năm 2009 đã so sánh việc chiếc áo tilma được bảo quản quá hoàn hảo so với những bản sao của nó. Ví dụ, một bản sao năm 1789 được vẽ trên một bề mặt tương tự với các kỹ thuật tốt nhất vào thời điểm đó, sau đó bản sao được bọc kính và lưu trữ bên cạnh chiếc áo tilma gốc. Lúc đầu, trông bản sao thì đẹp khi mới sơn, nhưng chỉ 8 năm sau với khí hậu nóng ẩm của Mêxicô, người ta đã phải gỡ bỏ bản sao này bởi màu sắc đã phai mờ và có những vết nứt.
Tuy nhiên, Tiến sĩ Orozco cho biết, không có bất kỳ lời giải thích khoa học nào lý giải cho sự thật là “chiếc áo tilma gốc đã được trưng bày ngoài trời trong gần 116 năm mà không có bất kỳ biện pháp bảo vệ nào. Tấm áo đã hấp thu tất cả những tia hồng ngoại và tia cực tím từ phát ra từ hàng chục ngàn ngọn nến gần đó, đồng thời tiếp xúc với không khí ẩm ướt và mặn trong ngôi đền.”
3) Chiếc áo tilma giống như một cơ thể sống
Năm 1979, khi Tiến sĩ Callahan phân tích áo tilma bằng công nghệ hồng ngoại, ông cũng phát hiện ra rằng chiếc áo luôn duy trì một nhiệt độ không đổi là 98,6 độ F (tương đương 36,6 – 37 độ C), giống như nhiệt độ của một cơ thể sống.
Khi bác sĩ Carlos Fernandez de Castillo, một bác sĩ phụ khoa Mêxicô, kiểm tra áo tilma, đầu tiên ông thấy một bông hoa bốn cánh nằm ở vị trí là dạ con của MẹMaria. Người Aztec gọi loài hoa này là Nahui Ollin, đây là biểu tượng của mặt trời và còn là biểu tượng của sự sung túc. Sau khi kiểm tra kỹ lưỡng hơn, tiến sĩ Castillo kết luận rằng kích thước của cơ thể Đức Mẹ Guadalupetrong bức ảnh, tương tự với kích thước của một bà mẹ mang thai. (ngày 9/12, ngày Đức Mẹ hiện ra với Juan, chỉ hai tuần lễ trước Giáng sinh…).
Cuối cùng, một trong những phát hiện nổi tiếng nhất, đó là những khám phá nằm trong đôi mắt của Đức Mẹ trong bức ảnh. Tiến sĩ Jose Alte Tonsmann, một bác sĩ nhãn khoa người Peru đã tiến hành một nghiên cứu, và một trong những thí nghiệm của ông là phóng đại 2.500 lần hình ảnh đôi mắt Đức Mẹ. Với hình ảnh phóng đại này, nhà khoa học này phát hiện có hình ảnh 13 người ở cả hai mắt với các tỷ lệ khác nhau, giống như mắt của con người khi nhìn sự vật gì đó. Đôi mắt dường như đã chụp lại cảnh tượng khi thánh thánh Juan Diego trải chiếc áo tilma của mình ra trước mắt vị Tổng giám mục.
4) Bức ảnh dường như không thể bị phá hủy
Qua nhiều thế kỷ, có hai sự kiện đã đe dọa sự nguyên vẹn của chiếc áo tilma. Một xảy ra vào năm 1785 và một vào năm 1921. Năm 1785, khi một công nhân đang lau dọn bề mặt kính của bức ảnh, ông đã vô tình làm tràn 50% dung dịch a-xít nitric lên phần lớn bức ảnh. Vì thế, hình ảnh Đức Mẹ và những nơi còn lại của áo tilma ngay lập tức bị dung dịch ăn mòn gần hết. Tuy nhiên sau 30 ngày, bức ảnh tự phục hồi và còn nguyên vẹn cho đến này nay, ngoại trừ các vết bẩn nhỏ trên tấm vải không in hình Đức Mẹ.
Năm 1921, một nhà hoạt động chống giáo sĩ đã giấu một quả bom có chứa 29 thanh thuốc nổ trong một lọ hoa hồng, và đặt nó trước bức ảnh bên trong Vương cung thánh đường ở Gadalupe. Khi quả bom phát nổ, hầu như tất cả mọi thứ từ bàn thờ bằng đá cẩm thạch, sàn nhà cho tới cửa sổ cách đó 150m đều bị vỡ… nhưng bức ảnh và khung kính xung quanh vẫn không ảnh hưởng gì. Thiệt hại duy nhất xảy ra gần với áo tilma là một cây thánh giá bằng đồng thau bị xoắn và uốn cong bởi vụ nổ.
Một phụ nữ và congái bị bệnh được một ông giấu mặt nhường ngồi ghế hạng nhất trong chuyến bay từ Orlando, Florida đến Philadelphia, Pennsylvania.
Theo UPI, bà Kelsey Zwick, ghi trên Facebook, cho biết bà và con gái 11 tháng tuổi lên máy bay của hãng American Arlines từ Orlando đến Philadelphia để dẫn em bé đi khám bệnh. Bà vừa lên máy bay thì tiếp viên cho biết có một ông nhường bà và con gái lên hàng ghế hạng nhất ngồi chỗ của ông.
Cảm động, bà ghi lời cám ơn trên Facebook hôm Thứ Năm, 6 Tháng Mười Hai: “Gửi người ngồi ghế 2D, đi từ Orlando đến Philadelphia. Tôi không biết ông, nhưng tôi nghĩ ông thấy mẹ con tôi trước khi lên máy bay. Tôi phải vừa đẩy con vừa cầm máy thở cho con gái và vừa phải cầm tã. Tôi mua vé trước và có ghế ngay cửa sổ và thấy thoải mái lắm rồi. Tôi còn đùa tội nghiệp cho những người phải ngồi kế con gái của tôi vì em bé sẽ khóc.”
“Trên đường từ toa thường lên toa hạng nhất, tôi không cầm được nước mắt. Con gái Lucy của tôi cũng cảm nhận được lòng tốt của ông và cười. Chúng tôi cám ơn các tiếp viên, nhưng không có dịp để cám ơn ông đàng hoàng,” bà ghi tiếp.
Tuy không gặp được “người hùng giấu mặt,” nhưng bà Zwick cho biết bà sẽ tìm cách trả ơn cho ông.
Bà viết thêm trên Facebook: “Cám ơn ông, không chỉ vì nhường ghế cho mẹ
con tôi, mà vì còn vì để ý và cho rằng đời không phải lúc nào cũng dễ dàng.
Lòng tốt của ông làm tôi tin rằng trên thế giới vẫn còn nhiều người tốt.”
Sau khi lời cám ơn vô cùng cảm động trên Facebook của bà Zwick được gần 600,000 người lan truyền, bà cho Yahoo biết có người giúp bà liên lạc được với “người hùng giấu mặt” này.
Bà nói: “Chúng tôi liên lạc được với ông ấy và ông cho biết đó là ngày sinh nhậtcủa ông. Ông còn cám ơn tôi vì làm cho ngày sinh nhật đó thật đáng nhớ và cònlàm vợ chồng ông rơi lệ.
Ông còn nói“Ông rất mừng vì mẹ con tôi và ông đi cùng một chuyến bay.”
Chúng tôi y/c khởi tố hình sự tội “cố ý giết người và phá hủy tài sản người dân. Đồng thời chủ đầu tư phải bồi thường thỏa đàng cho các nạn nhân!!! **********
Vụ vỡ hồ bơi vô cực ở Nha Trang: Yêu cầu khởi tố hình sự…See More
Bình tĩnh là trí khôn, là sự dẻo dai, linh hoạt, là “viên linh
đan” cho tinh thần, là chìa khóa thành công trong cuộc sống.
Sự bình tĩnh sẽ giúp bạn rèn luyện cho mình bản lĩnh vững vàng.
Ngay cả khi sóng gió ập tới trước mặt, thậm chí gặp phải chuyện tưởng như không
thể cứu vãn được, sự bình tĩnh vẫn sẽ mang đến cho bạn cách giải quyết tốt
nhất.
Chuyện phú thương giấu tiền trong ô.
Chuyện kể rằng, khi xưa có một phú thương vì thời thế loạn lạc nên
muốn về quê sinh sống. Bấy giờ, ông đem tất cả gia sản đổi thành chi phiếu, sau
đó cất công đặc chế một chiếc ô (dù) có cán rỗng để nhét tất cả ngân lượng vào
ngăn bí mật trong đó.
Sau khi chuẩn bị hành lý, phú thương thay đổi y phục giống dân
thường, mang theo chiếc ô có chứa tất cả tài sản và lên đường hồi hương. Không
ngờ rằng, con đường về quê của ông lại đột nhiên xảy đến một biến cố bất ngờ.
Khi đó, phú thương vì mệt mỏi nên dừng chân tại một ngôi đình và
ngủ một giấc. Nào ngờ sau khi tỉnh dậy, chiếc ô chứa cả gia tài của ông đã
“không cánh mà bay”.
Nhưng phú thương dẫu sao cũng từng là một kẻ lão làng trên thương
trường, nên khi biến cố đột nhiên xảy đến, ông dù hốt hoảng nhưng rất nhanh đã
lấy lại bình tĩnh.
“Sao phải lo lắng về những thứ bạn không thể thay đổi?
Hãy buông bỏ và tiếp tục tiến lên vì cuộc sống không chờ đợi ai”. Vị phú thương nhận thức được rằng của
cải đã mất đi là có thật, công việc tiếp theo của ông không phải là hốt hoảng,
than thân, mà tìm cách lấy lại được những gì đã mất.
Vị phú thương cẩn thận quan sát xung quanh. Thấy bọc tay nải mình
mang theo vẫn không thiếu thứ gì, ông kết luận rằng có người lấy cây dù kia để
che mưa chứ không nhằm mục đích trộm của cải.
Tiếp tục suy nghĩ sâu xa hơn, ông lại khẳng định người lấy ô có
tới tám, chín phần sống ở khu vực lân cận. Người này hẳn là trên đường đi về
nhà gặp phải cơn mưa và trú dưới mái đình, khi thấy chiếc ô của ông thì tiện
tay mang đi.
Vì vậy, vị phú thương ấy quyết định tạm hoãn chuyến hồi hương của
mình, mua một ít đồ nghề, ở lại đó mở một sạp chuyên sửa chữa ô dù.
Xuân đi, hè đến, thu về, đông qua, thoáng một cái đã hai năm kể từ
ngày chiếc ô biến mất không tung tích. Vị phú thương vẫn kiên trì chờ đợi ở
ngôi đình, nhưng chưa hề gặp lại chiếc ô năm ấy.
Trong lòng chất chứa nhiều thất vọng, nhưng ông vẫn không nản chí.
Cẩn thận suy nghĩ thêm một chút, ông nhận ra rằng, khi ô đã cũ, có nhiều người
sẽ mua một chiếc mới thay vì mang chúng đi sửa.
Nghĩ vậy, ông quyết định mở một sạp bán ô, lại viết thêm một tấm
bảng hiệu có ghi: “Đổi ô cũ lấy ô mới, không phải bù thêm tiền”.
Quả nhiên số người tới đổi ô đông không đếm xuể. Không lâu sau đó,
có một người đàn ông trung niên cầm theo một chiếc ô làm từ giấy dầu đã cũ tìm
đến vị phú thương ấy.
Chỉ vừa nhìn thoáng qua một cái, ông đã biết chiếc ô cũ nát trên
tay người kia chính là thứ chứa gia tài tích cóp cả đời của mình. Chiếc ô không
còn mới, nhưng phần cán ô chẳng hề có lấy một chút suy chuyển nào.
Phú thương trong lòng dù mừng vui khôn xiết, nhưng ngoài mặt vẫn
tỏ ra điềm tĩnh, từ tốn đổi cho người đàn ông nọ một chiếc ô mới rồi nhận lại ô
cũ.
Người kia vừa rời đi, phú thương liền thu dọn sạp hàng, hồi hương
sống một cuộc đời giàu sang, phú quý.
Bài học thành công chỉ gói gọn trong chữ “tĩnh”.
Vậy mới thấy, sự bình tĩnh chính là nguồn cội đích thực của trí
khôn, là cái gốc sâu bền của thành công.
Giống như vị phú thương trong câu chuyện, cẩn thận suy nghĩ, lẳng
lặng chờ đợi, sau cùng cũng thu về kết quả như bản thân mong muốn. Khi biến cố
xảy đến, ông đã bình tĩnh đối mặt, tỉnh táo suy tính để tìm ra giải pháp tối ưu
nhất.
Bình tĩnh sẽ giúp chúng ta rèn luyện bản lĩnh vững vàng. Ngay cả
khi trước mặt ta ập tới sóng gió kinh hoàng hay suy nghĩ ngập tràn lo âu, khổ
não, thậm chí gặp phải chuyện tưởng như không thể cứu vãn được.
Trong cuộc sống, điều cần nhất vẫn là bình tĩnh. Có một câu danh
ngôn đại ý rằng, nếu một việc có thể giải quyết được, thì chắc chắn có hướng
giải quyết, còn nếu một việc không thể giải quyết được, thì có lo nghĩ cũng
không thể xử lý nó.
Bởi vậy, muốn làm được việc lớn nhất định bạn phải rèn được sự
bình tĩnh. Hãy luôn giữ một tâm thái an hòa, cố gắng tĩnh tại từ trong nội tâm
khi suy xét thực hiện một vấn đề. Người bình tĩnh có sự bình thản, hoà ái trong
tâm sẽ có thể nhìn xa, trông rộng mà không bị những sự việc nhỏ nhen, những thứ
lợi ích tầm thường che khuất mắt.
Bình tĩnh là trí khôn, là sự dẻo dai, linh hoạt, là “viên linhđan” cho tinh thần, là chìa khóa thành công trong cuộc sống.
Sự bình tĩnh sẽ giúp bạn rèn luyện cho mình bản lĩnh vững vàng.
Ngay cả khi sóng gió ập tới trước mặt, thậm chí gặp phải chuyện tưởng như không
thể cứu vãn được, sự bình tĩnh vẫn sẽ mang đến cho bạn cách giải quyết tốt
nhất.
Chuyện phú thương giấu tiền trong ô.
Chuyện kể rằng, khi xưa có một phú thương vì thời thế loạn lạc nên
muốn về quê sinh sống. Bấy giờ, ông đem tất cả gia sản đổi thành chi phiếu, sau
đó cất công đặc chế một chiếc ô (dù) có cán rỗng để nhét tất cả ngân lượng vào
ngăn bí mật trong đó.
Sau khi chuẩn bị hành lý, phú thương thay đổi y phục giống dân
thường, mang theo chiếc ô có chứa tất cả tài sản và lên đường hồi hương. Không
ngờ rằng, con đường về quê của ông lại đột nhiên xảy đến một biến cố bất ngờ.
Khi đó, phú thương vì mệt mỏi nên dừng chân tại một ngôi đình và
ngủ một giấc. Nào ngờ sau khi tỉnh dậy, chiếc ô chứa cả gia tài của ông đã
“không cánh mà bay”.
Nhưng phú thương dẫu sao cũng từng là một kẻ lão làng trên thương
trường, nên khi biến cố đột nhiên xảy đến, ông dù hốt hoảng nhưng rất nhanh đã
lấy lại bình tĩnh.
“Sao phải lo lắng về những thứ bạn không thể thay đổi?
Hãy buông bỏ và tiếp tục tiến lên vì cuộc sống không chờ đợi ai”. Vị phú thương nhận thức được rằng của
cải đã mất đi là có thật, công việc tiếp theo của ông không phải là hốt hoảng,
than thân, mà tìm cách lấy lại được những gì đã mất.
Vị phú thương cẩn thận quan sát xung quanh. Thấy bọc tay nải mình
mang theo vẫn không thiếu thứ gì, ông kết luận rằng có người lấy cây dù kia để
che mưa chứ không nhằm mục đích trộm của cải.
Tiếp tục suy nghĩ sâu xa hơn, ông lại khẳng định người lấy ô có
tới tám, chín phần sống ở khu vực lân cận. Người này hẳn là trên đường đi về
nhà gặp phải cơn mưa và trú dưới mái đình, khi thấy chiếc ô của ông thì tiện
tay mang đi.
Vì vậy, vị phú thương ấy quyết định tạm hoãn chuyến hồi hương của
mình, mua một ít đồ nghề, ở lại đó mở một sạp chuyên sửa chữa ô dù.
Xuân đi, hè đến, thu về, đông qua, thoáng một cái đã hai năm kể từ
ngày chiếc ô biến mất không tung tích. Vị phú thương vẫn kiên trì chờ đợi ở
ngôi đình, nhưng chưa hề gặp lại chiếc ô năm ấy.
Trong lòng chất chứa nhiều thất vọng, nhưng ông vẫn không nản chí.
Cẩn thận suy nghĩ thêm một chút, ông nhận ra rằng, khi ô đã cũ, có nhiều người
sẽ mua một chiếc mới thay vì mang chúng đi sửa.
Nghĩ vậy, ông quyết định mở một sạp bán ô, lại viết thêm một tấm
bảng hiệu có ghi: “Đổi ô cũ lấy ô mới, không phải bù thêm tiền”.
Quả nhiên số người tới đổi ô đông không đếm xuể. Không lâu sau đó,
có một người đàn ông trung niên cầm theo một chiếc ô làm từ giấy dầu đã cũ tìm
đến vị phú thương ấy.
Chỉ vừa nhìn thoáng qua một cái, ông đã biết chiếc ô cũ nát trên
tay người kia chính là thứ chứa gia tài tích cóp cả đời của mình. Chiếc ô không
còn mới, nhưng phần cán ô chẳng hề có lấy một chút suy chuyển nào.
Phú thương trong lòng dù mừng vui khôn xiết, nhưng ngoài mặt vẫn
tỏ ra điềm tĩnh, từ tốn đổi cho người đàn ông nọ một chiếc ô mới rồi nhận lại ô
cũ.
Người kia vừa rời đi, phú thương liền thu dọn sạp hàng, hồi hương
sống một cuộc đời giàu sang, phú quý.
Bài học thành công chỉ gói gọn trong chữ “tĩnh”.
Vậy mới thấy, sự bình tĩnh chính là nguồn cội đích thực của trí
khôn, là cái gốc sâu bền của thành công.
Giống như vị phú thương trong câu chuyện, cẩn thận suy nghĩ, lẳng
lặng chờ đợi, sau cùng cũng thu về kết quả như bản thân mong muốn. Khi biến cố
xảy đến, ông đã bình tĩnh đối mặt, tỉnh táo suy tính để tìm ra giải pháp tối ưu
nhất.
Bình tĩnh sẽ giúp chúng ta rèn luyện bản lĩnh vững vàng. Ngay cả
khi trước mặt ta ập tới sóng gió kinh hoàng hay suy nghĩ ngập tràn lo âu, khổ
não, thậm chí gặp phải chuyện tưởng như không thể cứu vãn được.
Trong cuộc sống, điều cần nhất vẫn là bình tĩnh. Có một câu danh
ngôn đại ý rằng, nếu một việc có thể giải quyết được, thì chắc chắn có hướng
giải quyết, còn nếu một việc không thể giải quyết được, thì có lo nghĩ cũng
không thể xử lý nó.
Bởi vậy, muốn làm được việc lớn nhất định bạn phải rèn được sựbình tĩnh. Hãy luôn giữ một tâm thái an hòa, cố gắng tĩnh tại từ trong nội tâmkhi suy xét thực hiện một vấn đề. Người bình tĩnh có sự bình thản, hoà ái trongtâm sẽ có thể nhìn xa, trông rộng mà không bị những sự việc nhỏ nhen, những thứlợi ích tầm thường che khuất mắt.
Mùa Vọng đã về. Đó là thời gian chuẩn bị mừng Lễ Giáng Sinh – Sinh Nhật Đức Giêsu Kitô, Đấng Thiên Sai và Đấng Cứu Độ. Niềm vui Lễ Giáng Sinh tùy vào cường độ mà chúng ta sống Mùa Vọng. Chúng ta hãy làm theo các gợi ý cụ thể và sống Mùa Vọng với niềm vui mừng, cầu nguyện, yêu thương và cương quyết. Hãy sống Mùa Vọng này như thể là Mùa Vọng cuối cùng trong cuộc đời mình. Hãy mạnh mẽ lên! Chúa Giêsu luôn nhắc chúng ta tỉnh thức, sẵn sàng và chuẩn bị cho cuộc tái lâm của Đức Kitô, bởi vì chúng ta chẳng biết lúc nào.
Đây là 5 gợi ý hữu ích để chúng ta làm cho Mùa Vọng này là Mùa Thánh Đức:
1/ Duy Trì Thinh Lặng
Hãy nhớ cuộc gặp gỡ của ngôn sứ Êlia với Thiên Chúa trên núi và trong thinh lặng: “Người nói với ông: ‘Hãy ra ngoài và đứng trên núi trước mặt Đức Chúa. Kìa Đức Chúa đang đi qua.’ Gió to bão lớn xẻ núi non, đập vỡ đá tảng trước nhan Đức Chúa, nhưng Đức Chúa không ở trong cơn gió bão. Sau đó là động đất, nhưng Đức Chúa không ở trong trận động đất. Sau động đất là lửa, nhưng Đức Chúa cũng không ở trong lửa. Sau lửa có tiếng gió hiu hiu. Vừa nghe tiếng đó, ông Ê-li-a lấy áo choàng che mặt, rồi ra ngoài đứng ở cửa hang. Bấy giờ có tiếng hỏi ông: ‘Ê-li-a, ngươi làm gì ở đây?’ Ông thưa: ‘Lòng nhiệt thành đối với Đức Chúa, Thiên Chúa các đạo binh, nung nấu con, vì con cái Ít-ra-en đã bỏ giao ước với Ngài, phá huỷ bàn thờ, dùng gươm sát hại các ngôn sứ của Ngài. Chỉ sót lại một mình con mà họ đang lùng bắt để lấy mạng con” (1 V 19:11-13).
Hãy cố gắng loại bỏ những thứ không cần thiết và dành những phút thinh lặng cho Thiên Chúa. Hãy “lên núi” và thinh lặng để lắng nghe Ngài, đừng chia trí vì những loại ô nhiễm nào khác.
2/ Cầu Nguyện Liên Lỉ
Hãy dành nhiều thời gian cầu nguyện trong Mùa Vọng Thánh này. Giáo hội khuyến khích chúng ta gia tăng cầu nguyện hàng ngày. Có nhiều cách cầu nguyện, đây là vài cách khả thi hữu ích:
– Kinh Phụng Vụ.
– Thánh Vịnh – cách cầu nguyện bằng Kinh Thánh.
– Giờ Thánh, đọc và suy niệm Lời Chúa.
– Thánh Lễ – cách cầu nguyện đặc biệt.
– Khẩu nguyện – đọc thật chậm, chú ý tới lời kinh với lòng yêu mến.
– Xét mình nghiêm túc.
– Kinh Mai Côi – cuốn Kinh Thánh rút gọn.
Chiêm ngưỡng Hang Đá, theo bước các mục đồng,… Những điều này có thể hữu ích thêm vào việc cầu nguyện, đọc sách thiêng liêng (sách đạo đức). Có nhiều cách, nhưng hãy chọn cách tốt nhất cho chính mình!
3/ Giúp Đỡ Người Nghèo
Trong Mùa Vọng này, có thể bạn tìm được cách phục vụ Chúa Giêsu nơi người nghèo. Hãy nhớ rằng chính Chúa Giêsu hiện thân nơi người nghèo. Mẹ Thánh Teresa Calcutta nói rằng chúng ta nên tìm kiếm Chúa Giêsu nơi người nghèo. Hãy đọc trình thuật Mt 25:31-46 – cuộc phán xét chung. Chúa Giêsu cho thấy rằng cuộc phán xét cuối cùng được dựa trên đức ái – cách chúng ta đối xử với người nghèo. Đừng bao giờ quên điều này: Bác Ái Bắt Đầu Từ Gia Đình.
4/ Tham Dự Thánh Lễ
Trong Mùa Vọng này, hãy cố gắng tham dự Thánh Lễ hàng ngày. Nếu bạn làm được như vậy, bạn có thể tiến tới một hoặc hai bước khác, hơn cả những gì bạn đang làm. Cố gắng đi lễ sớm để chuẩn bị đón nhận Chúa Giêsu Thánh Thể vào “Hang Belem” của bạn – gọi là Nhà Bánh, tức là cõi lòng của bạn. Hãy cố gắng khuyến khích các thành viên trong gia đình và bạn bè cùng gặp gỡ Chúa Giêsu qua Bí tích Thánh Thể. Thánh Anrê tông đồ đã đưa người khác đến gặp Chúa Giêsu, bạn cũng được mời gọi đưa người khác đến với Chúa Giêsu, Chiên Thiên Chúa và Đấng cứu độ nhân loại. Thật vậy, Chúa Giêsu là ngọc quý và là kho tàng vô giá. Hãy chia sẻ Ngài với người khác!
5/ Noi Gương Đức Mẹ
Trong cuốn sách “True Devotion to Mary” (Tôn Sùng Đức Maria, số 108), Thánh Louis de Montfort chỉ ra 10 nhân đức của Đức Mẹ: khiêm nhường, tín thác, tuân phục tuyệt đối, cầu nguyện không ngừng, luôn từ bỏ mình, khiết tịnh, yêu mến, kiên trì, tử tế, và khôn ngoan.
Hãy chọn một hoặc hai trong số các nhân đức của Đức Mẹ, cầu xin Mẹ cầu giúp nguyện thay để chúng ta noi gương Đức Mẹ. Trong Mùa Vọng này, hãy nỗ lực cụ thể là sống các nhân đức. Đức Mẹ là con đường ngắn nhất, mau nhất và dễ dàng nhất để đến với Thánh Tâm Chúa Giêsu: Ad Jesum Per Mariam – Nhờ Mẹ Đến Với Chúa Giêsu.
Lm Ed Broom (OMV – Oblates of the Virgin Mary – Dòng Tận Hiến Trinh Nữ Maria)
Bài viết quá hayvà có thể dùng làm cuốn cẩm nang sau khi hưu trí.
Xin mời dành khoảng 15 phút, trong bầu không khí thật tỉnh lặng, cùng thưởng thức video dưới đây: cảnh mùa Thu tuyệt đẹp, nhạc đệm quá hay và bài viết thật thâm thuý; làm ta phải suy ngẫm để tạo cho mình một cuộc sống có ý nghĩa ở tuổi xế chiều.