Thành ngữ mới: Tư bản giãy chết

Báo Tiếng Dân

Nguyễn Thông

29-4-2023

Ngày 30.4. Ngày này 48 năm trước, người cộng sản sau 21 năm đốt cháy dãy Trường Sơn đã vào “giải phóng miền Nam”, tiêu diệt chủ nghĩa tư bản, đồng nghĩa với kéo lùi cuộc sống để miền Nam cùng miền Bắc sát cánh tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Thấy không khí rộn ràng, cờ đèn kèn trống, hừng hực tinh thần… thù địch, chối bỏ hòa hợp (mà rõ nhất là việc “rút phép thông công” nhà phê bình văn học Đặng Tiến vừa qua đời, kiên quyết không có một dòng về giải thưởng nước Pháp vừa trao cho nhà văn Dương Thu Hương), kiên định con đường đi lên… nghèo đói, chợt nhớ lại những ngày sau “giải phóng”.

***

Như đã nói, đây là thứ thành ngữ mới, tồn tại trong thời gian khá dài hơn nửa thế kỷ ở nước ta, phổ biến vài chục năm trước 1975 ở miền Bắc, sau đó thêm vài chục năm nữa ở miền Nam và cả nước. Bây giờ thì ít được nhắc đến. Nó là sản phẩm của tư duy cộng sản, nằm trong loạt thành ngữ mới như “bơ thừa sữa cặn”, “đế quốc sài lang”, “phồn vinh giả tạo”, “đời đời bền vững”, “ngăn sông cấm chợ”… (những thành ngữ này, tôi đã viết và tải lên FB cả rồi), do chính người cộng sản đẻ ra, cả trong thực tiễn lẫn lý luận.

Cần phải nói ngay rằng các đảng và tổ chức chính trị khi đứng ra giành quyền lãnh đạo luôn đề ra đường lối, chủ trương, xu thế cho đất nước và dân tộc. Nước nào cũng thế thôi. Đảng nào cũng thế thôi, chẳng riêng gì người cộng sản. Khi nó là lý thuyết thì thường rất hay, chỉ có trải qua thực tiễn mới biết được thực chất. Vì vậy, nếu ngay từ đầu, những năm nửa đầu thế kỷ 20 mà ai đó bảo chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản là xấu, là dở, là không tưởng sẽ bị đám đông lên án ngay. Chết như chơi. Liên Xô khi ấy là hình mẫu của xu thế cách mạng thế giới, xây dựng chủ nghĩa xã hội xong sẽ tiến lên chủ nghĩa cộng sản. Họ vẽ ra bức tranh đẹp, ưu việt hơn vạn lần chủ nghĩa tư bản. Những nhà cách mạng vô sản An Nam lặn lội sang học, lôi về và truyền bá ở nước mình.

Lứa chúng tôi sinh giữa thập niên 50 ở miền Bắc được nhét vào đầu biết bao lời hay ý đẹp về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, nào “thiên đường của loài người”, “mùa xuân của nhân loại”, “xu thế tất yếu của xã hội”, “làm theo năng lực, hưởng theo lao động” (trong giai đoạn xã hội chủ nghĩa), “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu” (xã hội cộng sản)… Rất vớ vẩn, không làm mà cũng có ăn. Đại loại họ cứ vẽ vống lên đủ thứ tốt đẹp để lôi cuốn đám đông cần lao, bất kể hiện thực cuộc sống diễn ra hoàn toàn ngược lại. Thế mà rất nhiều người tin. Tôi cũng tin. Mà không tin cũng chả được với họ.

Ở miền Bắc những năm trước 1975, học sinh cấp 3 và sinh viên đại học đứa nào cũng biết thuật ngữ “Ai thắng ai?” nói về cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản trên toàn thế giới. Những giờ học chính trị và triết học Mác – Lênin, các thầy khẳng định chắc như đinh đóng cột rằng phe tư bản, thực dân, đế quốc, bóc lột đang giãy chết, phe xã hội chủ nghĩa ngày càng lớn mạnh. Bọn tư sản, chủ nghĩa tư bản bị dồn đến cùng đường, chó dại cắn càn, gây chiến tranh, nhưng sẽ không tránh khỏi bị diệt vong. Họ bảo “chủ nghĩa đế quốc là giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản”. Diệt xong đế quốc, nhân loại sẽ lên thiên đường, “cùng làm cùng hưởng bình quân chia đều”, “bao giờ thế giới đại đồng/chúng ta sẽ thoát khỏi vòng gian truân”. Cuối những bài nhồi não, bao giờ các thầy hoặc báo cáo viên cũng kết luận “Sức ta là sức thanh niên/Thế ta là thế đứng trên đầu thù”, cả thầy lẫn trò đều hỉ hả.

Ngồi đáy giếng thấy bầu trời chỉ to bằng cái vung nồi. Tất cả sự thực đều bị bưng bít, gần như không ai biết chủ nghĩa tư bản nó thế nào. Bộ máy tuyên truyền của cộng sản rất thành công trong chính sách ngu dân. Đó là sự thực, mà thế hệ chúng tôi sinh sống ở miền Bắc thập niên 50 – 70 trải nghiệm rõ nhất. Cả thế giới bao la rộng lớn đa dạng như thế, nhưng người ta chỉ biết mỗi nước mình; mở rộng hơn chút nữa qua kênh văn học, phim ảnh và bộ máy tuyên truyền, báo chí mậu dịch thì biết thêm về những thiên đường Liên Xô, Trung Quốc, Ba Lan, Tiệp Khắc, Cuba, Triều Tiên, Mông Cổ… Đó mới thực là mơ ước của loài người. Còn đám Mỹ, Nhật, Pháp, Đức, Nam Phi, Hà Lan… tất cả đều phồn vinh giả tạo, tư bản giãy chết, đều trong cơn hấp hối, cùng đường, sắp sửa bị diệt vong, mà người đào mồ chôn chúng không ai khác chính là chúng ta, những công dân đang hăng hái xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Đang bụng đói cật rét, khổ sở trăm bề nhưng nghe vậy sướng lắm.

Sự dối trá ấy bị xé toạc khi những người ở thiên đường miền Bắc được tận mắt chứng kiến cuộc sống và nền kinh tế ở miền Nam. Người cộng sản không thể ngờ và nghĩ rằng đồng thời với việc họ “giải phóng” được miền Nam thì chính miền Nam cũng giải phóng đầu óc u mê cho hàng triệu người Bắc. Họ tận mắt thấy chủ nghĩa tư bản ở miền Nam đã xây dựng một nền kinh tế hàng hóa dồi dào tới mức những người quen sống trong chế độ bao cấp có nằm mơ cũng không dám nghĩ.

Tháng 4.1977 tôi vào nhận công tác ở Sài Gòn, chỉ một thời gian ngắn hiểu rằng những gì mình được trang bị về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản bị sụp đổ hoàn toàn, hay nói chính xác hơn là dối trá, đảo ngược. Những chuyến hàng hóa sinh hoạt, một dạng chiến lợi phẩm, ùn ùn chảy ra bắc, từ xe cộ, tivi, tủ lạnh, máy cassette, vải vóc, cục xà phòng, cây kem đánh răng, cục pin, hộp sữa tới cái kim sợi chỉ đều lên đường ngược bắc, đủ chứng minh cho cuộc nhận thức lại. Chả biết miền Nam “nhận họ” thì được cái gì, chứ miền Bắc “nhận hàng” không chỉ làm thay đổi cuộc sống vốn nghèo khó bền vững mà còn đổi cả nhận thức cho con người. Bây giờ còn rất nhiều người đã tham gia vào cuộc đối lưu nam – bắc ấy, nếu không tin cứ hỏi họ, chứ tôi chả dám đơn sai.

Rất tiếc là, tầng lớp cai trị đất nước sau năm 1975, cho tới tận bây giờ, hoặc không nhận ra điều đó bởi họ quá say chiến thắng hoặc cố tình lờ đi để củng cố quyền lực. Họ thừa hiểu chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản không thể nào đưa đất nước, dân tộc đến bến hạnh phúc; thừa hiểu phương thức sản xuất tư bản, xã hội tư bản có bao nhiêu điều tốt đẹp cần phải tận dụng và phát huy nhưng đối với họ thay đổi đường lối đồng nghĩa với tự sát nên cứ nhắm mắt lao vào đường hầm, tự đánh lừa chính mình, và ác độc nhất là lừa nhân dân, cả trăm triệu con người. Họ say sưa tự lừa dối chính mình/trong đói nghèo vẫn hét toáng quang vinh.

Tôi còn nhớ, năm 1980, tại nhà văn hóa Thanh niên (4 Phạm Ngọc Thạch, quận 1), ông Nguyễn Hộ khi ấy còn là yếu nhân của chính quyền TP.HCM đăng đàn diễn thuyết nói rằng chỉ 10 năm nữa Việt Nam sẽ thành cường quốc như Liên Xô, phe xã hội chủ nghĩa sẽ thắng lợi trên toàn thế giới. Cả hội trường vỗ tay rào rào. Vài năm sau, ông Hộ nhận thức lại (nói theo kiểu bây giờ là suy thoái, tự diễn biến), chả biết có nghĩ những lúc mình và đồng chí của mình đi trên mây và ngáo như thế không.

Cũng khoảng đầu thập niên 80, khi đám giáo viên chúng tôi người xanh rớt như tàu lá bởi ăn bo bo, mặt mũi ai nấy vêu vao (coi lại cái ảnh cưới do thầy Châu Hoàng Tiểng chụp đen trắng, chú rể là tôi, chỉ thấy hai gò má vêu ra, rất khiếp) thiếu thốn tới mức bốc thăm để được mua từng cuộn chỉ khâu bằng ngón tay út, viên đá lửa, con dao cạo râu… thì đám giáo viên chúng tôi được nghe ông Nguyễn Mại, khi ấy là Phó chủ nhiệm Ủy ban nhà nước về hợp tác đầu tư (tiền thân của Bộ kế hoạch – Đầu tư bây giờ) về hội trường của trường để thông não. Ông Mại say sưa khẳng định, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là cực kỳ đúng đắn, ai sẽ thắng ai, chủ nghĩa tư bản bóc lột tất yếu bị diệt vong. Chỉ chưa đầy chục năm sau buổi diễn thuyết của ông Mại, năm 1991, Liên Xô sụp đổ cái rầm, thành trì vững chắc của cách mạng thế giới tan như bong bóng xà phòng, kéo theo đám đàn em vào cuộc khủng hoảng toàn diện. Nhưng cơ hội nghìn năm có một để thoát khỏi đường cụt đã bị giới cai trị xứ này bỏ qua. Sau này lịch sử công minh cần lên án, vạch tội.

Vừa rồi, có một facebooker còm cho tôi, rằng nếu không có người cộng sản thì liệu đất nước có được như bây giờ không. Lý luận ấy tôi không lạ. Tôi chỉ giả nhời ngắn gọn, đúng như thế. So với năm 1945, 1954, 1975 thì đã thay đổi khá nhiều, kiểu như nông thôn đã có nhiều nhà ngói, nhà mái bằng. Cuộc sống bây giờ là sản phẩm của người cộng sản, của chế độ xã hội chủ nghĩa, nên đó một phần là công của họ. Nhưng, nếu không có họ lãnh đạo, chắc chắn đất nước sẽ khác rất nhiều, tốt hơn nhiều, những rồng châu Á như Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore… chưa chắc đã hơn.

Nhìn ra xung quanh, đừng ngó xa Mỹ, Nhật, Đức, Hà Lan, Bỉ… làm gì, cứ chú mục vào mấy nước gần cũng đủ thực tiễn trả lời “ai thắng ai”, tư bản có giãy chết không. Những con rồng châu Á: Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Hồng Kông đều là tư bản giãy chết. Những con hổ đang trỗi dậy trong khối ASEAN như Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Phippines không có nước nào theo chủ nghĩa xã hội. Họ càng giãy, càng vươn cao, tiến nhanh. Thậm chí “thằng em dại” Campuchia cũng đang ruổi những bước dài sau khi định lại đường lối, chấp nhận đa nguyên, đa đảng, từ bỏ thứ lý luận cũ rích về chủ nghĩa xã hội.

Còn ta, cứ kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, đã gần nửa thế kỷ sau chiến tranh, thử nhìn xem đã tạo dựng được vị trí như thế nào. Chừng ấy thời gian mà vẫn thua cả Thái Lan thì phải biết xấu hổ, chứ đừng vênh mặt lên mà ảo tưởng “tổ quốc có bao giờ đẹp thế này chăng”. Đẹp mà cứ kéo nhau sang tư bản giãy chết chữa bệnh, con cái từng đàn từng lũ sang tư bản giãy chết học hành, lập nghiệp, quyết không chịu sang những nước cùng phe như Cuba, Triều Tiên, thì đẹp ở chỗ nào.

Hiện thực thế giới rất rõ ràng. Không phải nước nào theo chủ nghĩa tư bản cũng giàu, nhưng những nước giàu nhất là những nước phát triển bằng đường lối và phương châm tư bản chủ nghĩa. Còn phe xã hội chủ nghĩa luôn chạy theo tư bản về nhiều mặt, nhất là kinh tế và mức sống của người dân. Nó, chủ nghĩa xã hội, như miếng da lừa, teo tóp dần, chẳng biết có giãy chết như tư bản không nhưng cứ dậm chân tại chỗ và thụt lùi so với các nước khác. Chủ nghĩa xã hội, nói một cách ngắn gọn, chỉ đem lại nghèo đói và lạc hậu.

Nếu đã xác định mục đích vì đất nước giàu mạnh, nhân dân sung sướng hạnh phúc, thì tại sao cứ phải chê bai chủ nghĩa tư bản, khư khư bám lấy chủ nghĩa xã hội.

Hãy dũng cảm làm cuộc đổi mới thật sự chứ không phải nửa vời, ông Trọng, ông Thưởng, ông Chính và các ông bà tai to mặt lớn ạ. Còn không thì mãi đi cùng các “bạn” Triều Tiên, Cuba, Venezuela và cuộc sống đầy bất công, nghèo đói.

THỰC TRẠNG BUỒN TRONG CUỘC SỐNG-Lm. Anmai, CSsR

Lm. Anmai, CSsR

Mới đây, nhiều người biết ba cây phượng vừa bị đốn tại Trường THPT Bùi Thị Xuân, TP.HCM gây bất ngờ khi vẻ ngoài xanh tốt, trổ hoa nhưng ruột trống rỗng, có đoạn đường kính lên đến 80cm, 90cm. Nhìn cây phượng rỗng ruột tôi lại miên man suy nghĩ về cuộc đời.

Ai ai trong cuộc sống cũng không thích giả tạo nhưng lại cứ giả tạo để cho người ta thấy mình sang, mình đẹp và mình giàu. Thế nhưng rồi có khi đàng sau cái vẻ đẹp ấy cũng chỉ như cây phượng buồn vừa bị đốn. Giàu có và vinh hoa cũng vậy. Có khi phía sau cánh cổng của biệt thự hay căn nhà phố mặt tiền lại là một đống nợ của gia chủ.

Vì muốn hãnh diện khoe mẽ với người khác cho nên ít ai chấp nhận cái thân phận thật của mình để rồi đua nhau chạy theo điều giả dối.

Thực tại, ta thấy câu mà người ta thường hay nói “Hình ảnh chỉ mang tính chất minh họa” là đúng.

Gia đình khá thân quen vẫn thường cho lên mạng hình ảnh đẹp của gia đình mình. Nhưng đàng sau lưng cái vẻ đẹp lung linh rực rỡ ấy đó là câu chuyện của hai vợ chồng trong gia đình đó. Họ không sống chung với nhau cả hơn chục năm trời. Thế nhưng bịt mắt thiên hạ, họ vẫn diễn.

Tôi đã nhiều lần như là trọng tài để chia sẻ, phân tích cho gia đình nhưng họ không nghe. Lâu lắm rồi không giao tiếp nhưng biết họ vẫn không ở chung với nhau như mọi người nhìn vào bức ảnh đẹp của cả gia đình.

Và, câu chuyện không dừng ở đó. Người dì của gia đình đó đã kể “thành tích” của đứa cháu vừa được báo chí tuyên dương. Người bố cũng khoe thành tích của con mình. Có điều, ở trong gia đình mới biết được đó là thành tích ảo. Tôi cũng đã nhiều lần khuyên và nhắn nhủ dì của chàng trai được vinh danh đó để cho cậu ta thay đổi lối sống nhất là quan tâm đến đời sống nhân bản.

Xem chừng tương lai sẽ là người thành đạt trong công việc học tập. Nhưng chưa chắc thành công khi làm việc bởi tính cách như thế. Đặc biệt người dì kể về cháu mình đó là về sự vô ơn.

Tôi không xét đoán, không bình phẩm nhưng chỉ thấy những gì người ta đưa trên mặt báo không đúng với con người thật của chàng thanh niên đó. Nó cũng giống như cây phượng bề ngoài thì xanh um và cho ra hoa  rất đẹp nhưng bên trong thì ruột bị rỗng.

Vấn đề đón nhận sự thật và chấp nhận sự thật xem chừng rất khó trong cuộc sống. Đơn giản là vì ai ai cũng thích khoe cái mẽ bề ngoài dù bên trong gia đình thì trầm trọng.

Dường như bây giờ đi đâu cũng thấy thực trạng đáng buồn này. Người ta bưng bít sự thật để cho mọi người không biết sự thật nhưng đến một ngày nào đó khi người ta phát hiện ra sự thật chắc chắn người ta sẽ rất chán chường.

Như cây phượng bị đốn. Nhiều người vẫn tiếc rẻ khi phải đốn hạ nó nhưng đâu ai ngờ rằng đốn hạ nó sẽ bảo toàn sinh mệnh cho bao nhiêu con người. Nếu như không đốn ngã nó, mưa to gió lớn nó ngã đổ và khi đó không biết sẽ cướp đi bao sinh mạng như bao cây phượng bị trốc gốc.

Như cơ địa của con người. Phần nào bị đau thì ta chữa trị hay như Chúa nói thà mất 1 con mắt mà vào được Thiên Đàng còn hơn cả thân xác vào hỏa ngục. Hay như là thà mất 1 tay để được vào Thiên Đàng còn hơn cả con người phải sa hỏa ngục.

Điều này như Chúa nói con người cần phải loại bỏ những gì xấu, những gì hư để cơ thể được lành mạnh và nhất là được vào Thiên Đàng.

Cũng chỉ vì sợ sự thật và yêu chuộng sự giả dối nên rồi có quá nhiều hậu quả xảy ra trong cuộc sống.

Như câu chuyện 2 người bạn chơi thân với nhau. Họ hết mình tin tưởng đặt niềm tin vào nhau. Đến một ngày nào đó người này phát hiện ra người kia không thật thà có lẽ là cay đắng lắm.

Nói về sự thật và sự bóng bẩy bề ngoài thì ngày hôm nay như là một trào lưu khi trào lưu sống ảo lên ngôi. Bao nhiêu lời nói hoa mỹ mà người ta dành cho nhau nhưng đàng sau sự hoa mỹ ấy toàn là sự giả tạo.

Người ta vẫn thường nói với nhau: “Thật thà thẳng thắn thường thua thiệt! Lọc lừa lươn lẹo lại lên lương!”. Đời vẫn thế mà!  Ai thẳng thắn thường bị trù dập còn ai manh mung thì lại được hưởng vinh hoa.

Thôi thì vẫn là sự tự do lựa chọn của mỗi người. Chuyện sống thật hay sống giả tùy vào sự lựa chọn của mỗi người. Hãy cố gắng sống thật hết sức có thể để đừng rơi vào tình trạng thùng rỗng kêu to hay như cái cây bàng kia nhìn bề ngoài xanh mơn mởn nhưng bên trong thì chẳng có tí ruột nào.

Lm. Anmai, CSsR

Nguồn:Thanhlinh

Tại sao 30 tháng Tư là ngày Quốc Hận?

Tác giả: Tiểu Thạch

Người Việt quốc gia đã chọn ngày 30 tháng 4 là ngày Quốc Hận. Từ “hận” [恨] có nghĩa là “oán giận” (theo Hán-Việt Tự-Điển của Đào Duy Anh, 1963; Hán-Việt Tự-Điển của Nguyễn Văn Khôn, 1960). Trong nghĩa giận còn có ý “oán” [怨] nữa, nghĩa là trách móc như trong câu oán thiên vưu nhân 怨天尤人, trách trời giận người (Hán Việt Từ Điển Trích Dẫn, Paris 2015). Giận vì Miền Nam đã thua Miền Bắc và oán trách vì người bạn đồng minh của mình đã phản bội.

Nhưng thua thì chịu thua. Tại sao lại phải giận? Và đồng minh đã phản bội như thế nào?
Đúng là thua, nhưng giận vì thua không hợp lý: Tự Do Dân Chủ mà phải thua Độc Tài Cộng Sản; Chính Nghĩa mà phải thua cái Ác; và nhất là đứng về mặt quân sự, sự thất bại của vụ tổng tấn công tổng khởi nghĩa của cộng sản Miền Bắc năm 1968, của cuộc tổng tấn công của toàn bộ lực lượng chính quy của cộng sản Miền Bắc trong vụ Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, cũng như sự kiên trì anh dũng giữ nước của quân lực Việt Nam Cộng Hoà từ 1972 đến 1975 đã hùng hồn chứng minh sự vượt trội của quân lực Miền Nam.
Gallery: 50 Years Ago - Vietnam War's Tet Offensive | Tampa Bay Times
Trong vụ tổng tấn công trong dịp Tết Mậu Thân 1968, cộng sản Miền Bắc, bất chấp thoả hiệp đình chiến 36 tiếng để dân chúng đón Tết, đã tấn công ồ ạt trên mọi tỉnh thành Miền Nam. Nhưng quân lực Việt Nam Cộng Hoà, dù quân số chỉ còn lại khoảng 1/61 vì đa số đã được nghỉ phép về quê ăn Tết, vẫn có thể anh dũng đẩy lui cuộc tấn công của toàn bộ quân đội miền Bắc.
Về quân sự, Tết Mậu Thân là một thất bại lớn cho diều hâu chiến tranh Lê Duẫn. Trong vụ tấn công này của cộng sản Miền Bắc, người ta tìm thấy nhiều trẻ em chết bên cạnh những ổ súng máy, chân bị xiềng2 vào ổ súng để chúng phải chiến đấu cho đến chết; có đứa bị xiềng chân vào cổ xe thiết giáp3 để khỏi đào thoát; những tên bắn sẻ thì bị cột chặt vào thân cây4. Những người này đã bị chết một cách thảm thương. Một vài bài viết của người cộng sản Miền Bắc mô tả quân đội Miền Bắc đã tấn công toà đại sứ Mỹ và đã lên đến tầng thứ ba của toà đại sứ với ý định giết đại sứ Mỹ. Nhưng sự thực ở Sài Gòn, ai cũng chứng kiến cảnh mười mấy tên đặc công cộng sản vừa xông vào sân toà đại sứ thì đã bị hạ gục ngay.
Thua về quân sự trong vụ Tết Mậu Thân ở Huế, cộng sản Miền Bắc khi tháo lui đã giết hại tổng cộng 5327 người dân Huế bằng cách bắn chết tại chỗ, chôn sống hằng ngàn người trong những nấm mồ tập thể rải rác khắp ngoại ô thành phố Huế, tại Khe Đá Mài.v.v…sau khi đã dùng cuốc đập vào đầu họ trong khi họ đang bị trói cánh khuỷu lại thành chùm với nhau. Trong số những người này có 4 giáo sư người Đức đang dạy y khoa tại đại học Huế. Ngoài con số 5327 người đã bị sát hại, chúng còn bắt đi biệt tích 1200 người dân Huế vô tội nữa. Về tâm lý quần chúng tại Việt Nam, vụ Mậu Thân 1968 cũng là một thất bại nặng nề cho Đảng Cộng Sản Miền Bắc. Chiến dịch Mậu Thân được gọi là “Tổng Tiến Công Tổng Nổi Dậy” vì Đảng Cộng Sản Miền Bắc có ảo tưởng là nhân dân Miền Nam sẽ đứng lên chống lại, lật đổ chính quyền Miền Nam khi họ tiến quân vào Miền Nam. Họ không ý hội được là nhân dân miền Nam ghê tởm cộng sản, nghe cộng sản đến đâu là nhân dân né tránh, chạy về phía quân lực Việt Nam Cộng Hoà để được che chở, bảo vệ. Ngay người dân miền Bắc cũng ghê tởm họ. Năm 1954 đã có hơn một triệu người Miền Bắc di cư vào Miền Nam để lánh nạn cộng sản. Nếu không có những khó khăn vì di chuyển và những ngăn chặn bằng bạo lực do đảng cộng sản ác độc chủ trương thì hẳn con số di cư còn cao hơn gấp bội.
Lá Thư Nói Thẳng Nói Thật Số 5 - Tượng Đài Cổ Thành Quảng Trị - Mùa Hè ...
Trong vụ Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, sau khi gần như toàn bộ quân đội Hoa Kỳ đã rút ra khỏi Việt Nam chỉ còn lại yểm trợ của không lực của Hoa Kỳ, thế mà quân lực Việt Nam đã đẩy lui trên 200,000 quân đội chính quy của Miền Bắc đồng loạt tấn công vào tất cả mọi thị thành ở Miền Nam.
Quảng Trị – Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 – dòng sông cũ
Sau 1972, khi quân đội Hoa Kỳ đã hoàn toàn rút khỏi Việt Nam; yểm trợ không lực của Hoa Kỳ cũng không còn nữa trong lúc Miền Bắc vẫn được sự tiếp tế đầy đủ của Nga và Tàu. Tàu đã đưa qua Miền Bắc trên 300,000 quân giữ hậu cần để cho quân chính quy Bắc Việt tiến công vào Miền Nam. Thế mà quân lực Việt Nam Cộng Hoà vẫn giữ được nước mãi cho đến tháng 4 năm 1975 với những trận đánh quyết tử Xuân Lộc và An Lộc, trong hoàn cảnh hoàn toàn thiếu thốn đạn dược và xăng nhớt cho xe cộ và máy bay.
Giận vì sự ác độc của người cộng sản còn được thể hiện rõ nét sau khi đã cưỡng chiếm được Miền Nam, họ đã đày đoạ hằng trăm ngàn cán bộ, công chức, quân nhân và cảnh sát trong các trại tập trung từ vài ba năm cho đến hai chục năm, ở những vùng xa xôi, hẻo lánh, trên rừng thiêng nước độc để những tù nhân oan trái này phải chết dần, chết mòn vì lao động kiệt lực, vì bệnh hoạn, và nhất là vì bị bỏ đói. Trong lúc đó thì của cải của những người này bị tước đoạt, nhà cửa bị trưng dụng, và trong một số không ít trường hợp, vợ của họ cũng bị cán bộ lấy.
Một lý do nữa để cho người Việt quốc gia phải căm giận là cả hơn hai triệu người phải liều chết để trốn thoát khỏi sự tàn bạo, cay nghiệt, độc ác của người cộng sản Miền Bắc. Khi trốn thoát bằng đường biển — trên những chiếc ghe nhỏ bé không thích hợp để vượt biển, có khi chỉ bằng những ruột xe hơi buộc lại với nhau — hằng trăm ngàn người hoặc đã bị sóng biển dập vùi xuống lòng đại dương, hoặc đã bị cướp biển Thái Lan chặn bắt, cướp đoạt tài sản, giết đàn ông, hiếp dâm phụ nữ. Những vụ cưỡng dâm con gái đã có lúc xảy ra trước mặt cha mẹ, vợ trước mặt chồng con. Những cảnh đau lòng này cũng thường xảy ra đối với những người vượt biên qua đường rừng núi Cao Miên, khi họ gặp phải quân lính Khmer Đỏ. Những đau xót này đã in dấu ấn đậm nét trong lòng người Việt quốc gia may mắn thoát được ngục tù cộng sản và đến được bến bờ tự do của những nước dân chủ.
Chuyện tù “cải tạo” của Phó Tổng Thanh Tra Ngân Hàng Quốc Gia VNCH ...
Ngoài sự căm giận, người Việt quốc gia chúng ta còn oán trách Mỹ, người bạn đồng minh đã phản bội lại chúng ta.
Đúng ra, người Mỹ chỉ là bạn đồng minh bất đắc dĩ.
Trước tiên, chúng ta cần phải khẳng định rằng Ông Ngô Đình Diệm không phải là do người Mỹ đưa lên mà chính vua Bảo Đại đã bổ nhiệm ông làm thủ tướng lúc ông qua Pháp sau khi vận động thất bại ở Mỹ. Trước năm 1953, nước Việt Nam, trên danh nghĩa, đã độc lập; nhưng trên thực tế vẫn chịu sự quản trị và khống chế của người Pháp. Do đó Ông Ngô Đình Diệm đã từ chức thượng thư bộ lại của triều nhà Nguyễn và xuất dương tìm đường cứu nước. Ông bắt đầu qua Nhật, tiếp xúc với Ông Cường Để với hy vọng thành lập một chính phủ quân chủ lập hiến, nhưng không thành công. Trong dịp này ông gặp được một giáo sư khoa chính trị học người Mỹ tên là Wesley Fishel, đang làm việc cho CIA. Ông này móc nối cho ông Diệm làm quen với một số chính khách Mỹ như chánh án Tối Cao Pháp Viện William O. Douglas, đức Hồng Y Francis Spellman, dân biểu Mike Mansfield thuộc tiểu bang Montana, dân biểu John F. Kennedy thuộc tiểu bang Massachusetts. Tuy nhiên, Ông Ngô Đình Diệm không tạo được sự hỗ trợ chính thức của Hoa Kỳ. Lý do chính là vì ông là người công giáo, nên người Mỹ nghĩ là ông không thể điều hành một quốc gia mà họ nghĩ đa số là người Phật giáo.
Ông Ngô Dình Diệm trở về Việt Nam ngày 7 tháng 7 năm 1954 trong cương vị Thủ Tướng cho toàn cõi Nam Trung Bắc Việt Nam, do quốc trưởng Bảo Đại bổ nhiệm. Ngày 21 tháng 7 năm 1954, Hiệp Định Genève đã được ký, chia đôi đất nước ở vĩ tuyến 17. Vùng đất thuộc bắc vĩ tuyến 17 do Hồ Chí Minh lãnh đạo. Ông Ngô Đình Diệm trách người Pháp đã giao Miền Bắc cho cộng sản. Tại Miền Nam Ông Ngô Đình Diệm được sự hỗ trợ của những đảng phái quốc gia chống cộng, của giáo phái Cao Đài và Hoà Hảo; ông dẹp loạn Bình xuyên do Bảy Viễn cầm đầu, loại trừ được sự chống đối của tướng Nguyễn Văn Hinh do Pháp xúi dục làm đảo chánh.
Late 1960s Photographs of Saigon Going about Its Business While the ...
Với quân đội do người Pháp trao trả, với sự hỗ trợ của các đảng phái quốc gia chống cộng và của Cao Đài và Hoà Hảo, ông Ngô Đình Diệm đã phá tan gần hết hạ tằng cơ sở của cộng sản để lại Miền Nam sau khi đã tập kết ra Bắc theo các điều khoản của Hiệp Định Genève. Ông Ngô Đình Diệm đã thiết lập được một thế đứng chính trị vững chắc cho nền Đệ Nhất Cộng Hoà.
Nhưng sự khai sinh của một Nền Cộng Hoà non trẻ thay cho một nền hành chánh thủ cựu, quan liêu của triều nhà Nguyễn cần sự hỗ trợ về tài lực, kinh tế, kỹ thuật, và quản trị. Đây là thời điểm mà ông Diệm cần sự giúp đỡ của người Mỹ. Và người Mỹ đã đến Việt Nam dưới hình thức cố vấn trong những năm 50 đến những năm đầu của thập kỷ 60. Số cố vấn Mỹ càng ngày càng tăng theo thời gian. Nhưng điều quan trọng là cái nhìn của chính phủ Ngô Đình Diệm không trùng hợp với cái nhìn của người Mỹ về phương diện chính trị. Ông Ngô Đình Diệm chú trọng vào sự thịnh vượng của đất nước và độc lập quốc gia, còn hình thái chính thể thì chưa thể tự do hoàn toàn như các nước Tây phương được. Cái nhìn của người Mỹ thì bao quát cả thế giới qua sự tranh chấp bá quyền và ảnh hưởng giữa lý thuyết tự do và lý thuyết cộng sản.
Nam Ròm: Hình Ảnh của thời Đệ Nhất VNCH (Nguồn http://thangtien.de/ )
Từ góc nhìn tranh chấp bá quyền và ảnh hưởng, người Mỹ thấy cần phải ngăn chặn sự bành trướng của cộng sản quốc tế xuống Việt Nam và sự lan toả của làn sóng này ra toàn cõi Đông Nam Á, bao gồm cả Lào, Cao Miên, Thái Lan, Mã Lai, Singapore, Indonesia, New Zealand và cả Australia. Để ngăn chặn sự bành trướng này, người Mỹ nhận thấy khẩn thiết cần phải đưa quân đội vào Việt Nam. Nhưng đây là điểm khác biệt chính yếu về quan điểm giữa ông Ngô Đình Diệm và chính phủ Hoa Kỳ. Đối với ông Ngô Đình Diệm, sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam sẽ (1) làm mất đi chủ quyền quốc gia Việt Nam, và (2) sẽ làm mất chính nghĩa quốc gia, đem lại cơ hội cho lãnh đạo miền Bắc kết án là Mỹ xâm lược, là Miền Nam Việt Nam làm lính đánh thuê cho Mỹ; và Miền Nam cần được “giải phóng” khỏi ách nô lệ của người Mỹ. Đồng thời Miền Bắc có lý do để yêu cầu sự hỗ trợ của các nước cộng sản anh em, Nga và Tàu. Nhưng trên quan điểm của người Mỹ thì dĩ nhiên chủ quyền quốc gia của một nước nhỏ, chậm tiến như Việt Nam không thể cân bằng hay nặng ký hơn quyền lợi của nước Mỹ. Chính nghĩa quốc gia thì đã có “bảo hiểm” bằng sức mạnh của Hoa Kỳ rồi!
Không chinh phục được ông Diệm, tình báo Mỹ đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các tướng lãnh Việt Nam lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm bằng cách khai thác yếu tố dân chủ và đào sâu sự hiềm khích tiềm ẩn giữa Công giáo và Phật giáo mà trong đó một thành phần lớn có ảnh hưởng đã bị cộng sản thẩm nhập. Vụ đảo chánh đã kết thúc bằng cái chết tàn bạo, dã man của hai anh em ông Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu.
Tháng 3 năm 1965, quân đội Mỹ tiến vào Đà Nẵng mà không cần hỏi ý kiến của chính phủ Việt Nam Cộng Hoà. Đến năm 1967, có trên 500,000 quân nhân Hoà Kỳ và một số ít quân đội Phi Luật Tân, Nam Hàn, và Thái Lan, v.v… trên đất nước Việt Nam. Trên thực tế, thực sự không ai biết rõ lý do tại sao quân đội Mỹ có mặt ở Việt Nam. Trên mặt chính thức thì quân đội Mỹ được công bố là được dùng để chặn làn sóng cộng sản quốc tế toả rộng xuống toàn cõi Đông Nam Á và như một hệ luận, để bảo vệ nền tự do và độc lập của Miền Nam Việt Nam. Nhưng cũng có người nghĩ rằng đó chỉ là một chiêu bài của nhóm tư bản tài phiệt thông đồng với giới kỹ nghệ để tiêu dụng các vũ khí của Đại chiến II còn sót lại và đồng thời dùng Việt Nam để thử nghiệm những khí giới mới được chế tạo. Quân đội VNCH vẫn sử dụng súng M1-Garand – thứ súng mà quân đội Mỹ dùng trong Đại chiến II – trong những năm 1967-1968. Đến khi Việt cộng sử dụng AK-47 (kalashnikov) thì quân đội VNCH mới được nhận M-16.
Cuộc chiến kéo dài gần như bất phân thắng bại mãi cho đến khi tổn thất kinh phí cũng như tổn thất nhân mạng lên quá cao đối với sức chịu đựng của nhân dân Hoa Kỳ, ảnh hưởng đến bầu cử tổng thống thì lãnh đạo Hoa Kỳ phải cố tìm lối thoát: Hiệp Định Paris 1973. Theo Hiệp định này thì Miền Bắc không được dùng võ lực để xâm chiếm Miền Nam. Nếu Miền Bắc vi phạm điều này thì Hoa Kỳ sẽ trả đũa thích đáng bằng võ lực. Tổng thống Nixon đã gửi thư cho Tổng thống Thiệu khẳng định điều này. Hoa Kỳ vẫn tiếp tục viện trợ kinh tế và quân sự. Về quân sự nếu VNCH hư hao, phế thải một quân cụ hay khí tài nào thì sẽ được thay thế ngay.
Như chúng ta đã thấy, Miền Bắc đã xâm chiếm Miền Nam bằng võ lực. Hoa Kỳ không những không phản ứng mà còn ngưng viện trợ kinh tế cho Miền Nam. Võ khí, đạn dược hoàn toàn không được thay thế, chiến xa và máy bay tác chiến không có xăng nhớt để hoạt động. Trong lúc đó, Miền Bắc được tiếp viện 300,000 quân lính Trung cộng để giữ hậu cần; súng ống, đạn dược, xăng nhớt được Nga và Tàu cung cấp đầy đủ. Dĩ nhiên là người Việt quốc gia mất Miền Nam không phải là vì hèn yếu, vì thiếu khả năng giữ nước, mà vì người bạn đồng minh đã phản bội. Họ đến không cần hỏi ý kiến và khi quyền lợi của họ đã được đáp ứng bằng cách kết cấu với Tàu cộng thì họ bỏ rơi Miền Nam Việt Nam.
Ngoài việc mất Miền Nam một cách tức tưởi, còn hằng trăm ngàn cán bộ, công chức, quân nhân, cảnh sát bị đày ải bao nhiêu năm trời ở nơi thâm sơn cùng cốc, phải lao động cật lực, bệnh hoạn liên miên, bị hành hạ thân xác, bị bỏ đói quanh năm, chết dần, chết mòn; còn năm, bảy trăm ngàn người bị chết trên biển cả vì thời tiết, vì ghe nhỏ không chịu nổi chuyến vượt biển, vì cướp biển giết, vì cướp biển hãm hiếp, vì Khmer Đỏ giết hay bị mìn nổ trong rừng núi Cao Miên. Tất cả những tang thương này đã xảy ra chỉ vì dân quân Miền Nam bị người Mỹ, người bạn đồng minh của mình “đem con bỏ chợ.” Làm sao không oán trách!
30 tháng Tư là ngày Quốc Hận, là ngày người Việt quốc gia phải căm giận về cái thua phi lý của VNCH cũng như về sự tàn ác tột cùng của đảng CSVN và oán trách người bạn phản bội. Tuy nhiên, chúng ta cũng không thể căm thù mãi mãi người bạn này được vì dù sao trên 3 triệu người Việt đã thoát được gông cùm cộng sản và được tiếp đón nồng hậu bởi Hoa Kỳ cũng như bởi những quốc gia tự do khác. Và con cái chúng ta có cơ hội giáo dục tốt, phát triển đời sống chuyên môn và cá nhân của chúng trong một bầu không khí tự do cởi mở. Khi chuyến máy bay đầu tiên chở các trẻ em mồ côi từ Việt Nam sang Hoa Kỳ, chính Tổng thống Ford đã ra tận sân bay đón tiếp. Tổng Thống Carter đã cho phép hàng trăm ngàn người Việt nhập cư. Hơn nữa chúng ta cần phải phân biệt lãnh đạo Mỹ và nhân dân Mỹ. Đa số người dân Mỹ rất tốt, đầy lòng nhân ái. Lãnh đạo Mỹ thì cũng có người tốt đối với người Việt Nam như Tổng thống Ford, Tổng thống Carter. Nhưng chính quyền Mỹ nói chung, cũng như lãnh đạo của bất cứ quốc gia nào khác, chỉ hành động vì quyền lợi quốc gia của họ mà thôi, và quyền lợi này biến đổi theo từng giai đoạn thời gian. Như cựu Thủ Tướng nước Anh Henri John Temple, 3rd Viscount Palmerston đã từng tuyên bố trước quốc hội Anh ngày 1 tháng 3 năm 1948 là: “Chúng ta không có đồng minh vĩnh viễn, và chúng ta cũng không có kẻ thù trường cửu. Chỉ có quyền lợi của chúng ta mới là vĩnh cửu và liên tục, và chúng ta có bổn phận phải đeo đuổi những quyền lợi này” (“We have no eternal allies, and we have not perpetual enemies. Our interests are eternal and perpetual, and those interests it is our duty to follow.”). Lỗi là lỗi lãnh đạo VNCH không hiểu rõ điều này để tiên liệu cho quyền lợi của đất nước mình.
Vietnam War Important Dates Timeline | Timetoast timelines
Ý thức được điểm quan trọng này, một quốc gia nhỏ bé không thể tin tưởng vào lòng tốt, vào sự hứa hẹn hay vào một phạm trù luân lý hay một lý thuyết chính trị để phán đoán lập trường của một quốc gia khác hùng mạnh hơn, cũng như không thể tin tưởng như thế để hành động đưa đến những quyết định liên hệ tới sự sống còn của đất nước mình. Một quốc gia nhỏ bé đang trên đà phát triển luôn luôn cần đến sự hỗ trợ của các quốc gia giàu mạnh hơn. Nhưng trước tiên, quốc gia nhỏ bé này phải có khả năng tự lực cánh sinh qua sự hỗ trợ của đại đa số quần chúng nhân dân để thiết lập một thể chế chính trị vững chắc. Sau đó mới có thể gầy dựng thế liên lập thế giới trên căn bản trao đổi bình đẳng.
30 tháng Tư là ngày Quốc Hận, ngày nhắc nhở một kinh nghiệm thương đau và xót xa cho toàn thể những người Việt quốc gia, nhưng đồng thời cũng là một bài học quý giá cho chúng ta trên con đường cứu nước và dựng nước.
Tiểu Thạch
Pennsylvania 30/4/2019

Thành quả sau 30-4: Tà Án Cộng Sản, Ăn tiền người chết COVID, Ăn rác, Ăn thuốc, Ăn giấy, Ăn phân, Ăn đủ thứ

Sau 30-4 quốc nạn, bất công tràn lan trong hệ thống tòa án, tòa phán quyết theo đảng ủy chỉ đạo chứ không theo luật pháp và công lý.

Trương Quốc Huy chỉ ra các điển hình tai tiếng và kỳ quặc của chế độ “tà án” Cộng Sản.

Tình trạng ăn đủ thứ ở Việt Nam kể cả ăn của người chết vì COVID

VĂN HÓA XHCN HAY TÔI KHÔNG TIN ĐƯỢC!

– Tôi tin được không khi cán bộ đội  chống ma tuý  là trùm  buôn bán  ma tuý?

– Tôi tin được không  khi sĩ quan cao cấp công an  chống cờ bạc  lại là  trùm cờ bạc ?

– Tôi tin được không  khi một  thượng toạ chức sắc của  Phật giáo  lại không hiểu gì  đạo Phật?

– Tôi tin được không  khi  Bộ trưởng Giáo dục  lại là  kẻ đạo văn và xài bằng giả ?

– Tôi tin được không  khi  Bộ trưởng y tế  lại là  chỗ dựa lưng  cho bọn buôn thuốc dỏm giá cao?

– Tôi tin được không  khi một  tổng biên tập tờ báo  lớn miệng luôn mồm yêu nước, thương dân, sống chết với đồng bào, gắn bó với đảng, ray rứt với hiện tình đất nước, sau khi  thu vén được món tiền to  liền đem hết vợ con, cháu chắt chuồn qua Mỹ, mua nhà, sắm xe, mở công ty?

– Tôi tin được không  những cán  bộ lương chẳng bao nhiêu  mà xây nhà hàng trăm tỷ,  con học  nước ngoài, vợ toàn xài hàng hiệu,  rượu uống  một chai hàng chục triệu?

– Tôi tin được không  khi những  quan chức ngành giáo dục  khắp nơi trên đất nước  bán chỗ dạy  học cho các giáo viên với giá hàng trăm triệu?

– Tôi tin được không  những  cán bộ, nhân viên  có nhiệm vụ giữ rừng  lại là những tên lâm tặc  phá rừng?

– Tôi tin được không những cán bộ giữ cánh cửa biên giới  lại  là những kẻ buôn lậu hoặc tiếp tay  cho buôn lậu mang những chất độc giết người vào cho nhân dân tiêu thụ đầu độc người dùng?

– Tôi tin được không những  cán bộ thanh tra, lực lượng chống tham nhũng  lại là  những kẻ tham nhũng  kinh khiếp nhất?

– Tôi tin được không những  tổng biên tập báo , những  nhà báo chống tiêu cực  lại là  thành viên thân cận với những quan chức tham ô, hối lộ, những doanh nghiệp vi phạm nghiêm trọng, những đám xã hội đen, những tập đoàn mafia.

– Tôi tin được không khi những  cảnh sát giao thông  không làm đúng chức trách của mình là giữ gìn và điều tiết giao thông  mà chỉ  đi thu tiền mãi lộ?

– Tôi tin được không  khi  những lãnh đạo hôm qua còn hò hét quốc kế dân sinh  hô hào  phong trào yêu nước, chống tội phạm…  hôm nay đã là kẻ phạm tội  đứng trước vành móng ngựa?

– Tôi tin được không  khi  lãnh đạo giáo dục  bắt các cô giáo phải đi  hầu rượu  quan chức như gái bia ôm?

– Tôi tin được không  khi  bệnh nhân vào cấp cứu  với bệnh trạng thập tử nhất sinh, muốn được thăm khám  phải đóng đủ tiền  thì các cán bộ y tế mới cho phép tiến hành cứu người?

– Tôi tin được không  khi  bệnh nhân  phải nằm bốn người trên một giường và  bộ trưởng y tế  khi đến thăm lại  lấy làm ngạc nhiên  với tình trạng quá tải ấy?

– Tôi tin được không  khi hàng ngàn Tiến sĩ không rành về lãnh vực mình được cấp bằng, cũng chẳng biết một ngoại ngữ nào và gần 60% là quan chức hoặc công chức. Người ta  còn có dự án  tiêu chuẩn hoá Tiến sĩ  xuống tận cấp phường.  Muốn có bằng, họ phải tốn tiền hàng trăm triệu cho đến tiền tỷ?

– Tôi tin được không  khi biết rằng  đa số thực phẩm  đều có chứa chất độc nhưng  rồi cũng phải tiêu thụ nó  để tiếp tục sống dù biết đó là con đường ngắn nhất đi đến nghĩa trang ?

– Tôi tin được không  khi  những người viết sử  có thể lãng quên những anh hùng liệt sĩ của cuộc chiến tranh chống xâm lược phương Bắc,  bóp méo lịch sử  vì sợ mất lòng kẻ thù ?

– Tôi tin được không  khi  người lãnh đạo cao cấp nhất của quân đội  lại ra lệnh cho chiến sĩ của mình  không được nổ súng  khi kẻ thù chiếm đảo để biến họ thành những tấm bia cho quân xâm lược tập bắn ?

– Tôi tin được không  trong thời đại này  người ta có thể đưa hết  con cháu, bà con xa gần, sui gia, dâu rể  ra làm quan, nắm hết chức vụ quan trọng  trong địa phương mình phụ trách ?

– Tôi tin được không  khi  người ta có thể đăng tin cung cấp luận án tốt nghiệp, bán bằng giả  trên mạng xã hội với địa chỉ và số điện thoại rõ ràng. Và đa số cán bộ đều sử dụng loại bằng này. Trong lúc  hàng ngàn sinh viên tốt nghiệp chính quy  phải thất nghiệp, lái xe ôm ?

– Tôi tin được không  khi có thứ  chính quyền đi cướp đất của dân, mua đất của dân  giá rẻ mạt, không mua được thì cưỡng chế, sau đó  bán lại  cho doanh nghiệp với giá gấp trăm lần để bỏ túi ?

– Tôi tin được không  khi người ta  bị bắt  vào đồn công an  sau đó  bị chết vì lý do tự tử bằng sợi dây thun ?

– Tôi tin được không  khi có  những người đảng viên , đang làm quan chức lại  đã, đang và sẽ  có trong mình cái thẻ xanh sẵn sàng định cư ở ngoại quốc ?

– Tôi tin được không  những  người cộng sản  lại giàu có và ăn chơi, tiêu xài gấp trăm lần những tài phiệt tư bản. Họ  vung tiền  khiến cho những đại gia tư bản phải xanh mặt. Ca sĩ, diễn viên nổi tiếng thế giới phải cúi đầu?

– Tôi tin được không  khi có  những vùng  mưa chưa tới, bão chưa qua mà lãnh đạo địa phương  đã ngồi lại làm báo cáo thiệt hại ?…

***

Trong xã hội Việt Nam ngày nay,  còn vô số điều tương tự, không thể tin được  mà “vưỡn” phải tin đấy Em à!

From: TRUONG LE

Tàu Trung Quốc chặn tàu Philippines trước sự chứng kiến ​​của phóng viên

Thông Tẫn Xã Hoa Kỳ AP

Trên tàu BRP MALABRIGO (AP) — Một tàu bảo vệ bờ biển Trung Quốc đã chặn một tàu tuần tra của Philippines đang tiến vào một bãi cạn đang tranh chấp ở Biển Đông, gây ra một vụ suýt va chạm đáng sợ trong hành động gây hấn mới nhất của Bắc Kinh trên tuyến đường thủy chiến lược .

Philippines South China Sea Patrol

Cuộc đối đầu trên biển hôm Chủ Nhật giữa tàu lớn hơn của Trung Quốc và tàu BRP Malapascua của lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines gần Bãi Cỏ Mây là một trong những khoảnh khắc căng thẳng mà nó và một tàu khác của Philippines chạm trán trong cuộc tuần tra chủ quyền kéo dài một tuần tại một trong những tuyến đường thủy tranh chấp gay gắt nhất thế giới.

Lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines đã mời một nhóm nhỏ các nhà báo, trong đó có ba nhà báo từ hãng tin AP, lần đầu tiên tham gia cuộc tuần tra dài 1.670 km (1.038 dặm) như một phần trong chiến lược mới của Philippines nhằm vạch trần các hành động ngày càng hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông . Biển Đông, nơi ước tính có khoảng 5 nghìn tỷ đô la thương mại toàn cầu đi qua mỗi năm.

Trong cái nóng mùa hè thiêu đốt nhưng vùng biển tương đối yên tĩnh, Malapascua và một tàu bảo vệ bờ biển khác của Philippines, BRP Malabrigo, đã hành trình đến tiền tuyến của các cuộc xung đột lãnh thổ sôi sục từ lâu. Họ đi ngang qua một chuỗi các đảo, đảo nhỏ và rạn san hô do Philippines chiếm đóng và tuyên bố chủ quyền rải rác để tìm kiếm các dấu hiệu xâm lấn, đánh bắt trái phép và các mối đe dọa khác.

Tại các khu vực do Trung Quốc chiếm đóng hoặc kiểm soát, các tàu tuần tra của Philippines đã nhận được cảnh báo qua đài phát thanh bằng tiếng Trung và tiếng Anh, ra lệnh cho họ ngay lập tức rời khỏi nơi mà lực lượng bảo vệ bờ biển và hải quân Trung Quốc gọi qua đài phát thanh tuyên bố là “lãnh thổ không thể tranh cãi” của Bắc Kinh và đưa ra những lời đe dọa thách thức không xác định.

Sự thù địch lên đến đỉnh điểm vào sáng Chủ nhật tại Bãi cạn Thomas thứ hai do Philippines chiếm đóng.

Khi hai tàu tuần tra tiếp cận vùng nước nông màu ngọc lam của bãi cạn để khảo sát dưới nước, lực lượng bảo vệ bờ biển Trung Quốc đã liên tục cảnh báo họ qua đài phát thanh rằng họ phải rời khỏi khu vực, cách tỉnh đảo Palawan của Philippines khoảng 194 km (121 dặm) về phía tây.

Sau một số cuộc trao đổi vô tuyến, một người gọi của lực lượng bảo vệ bờ biển Trung Quốc, nghe có vẻ kích động, đã cảnh báo về hành động thù địch.

“Vì bạn đã phớt lờ cảnh báo của chúng tôi, chúng tôi sẽ thực hiện các biện pháp cần thiết hơn nữa đối với bạn theo luật pháp và mọi hậu quả kéo theo sẽ do bạn gánh chịu”, người nói tiếng Trung Quốc nói.

Một tàu bảo vệ bờ biển của Trung Quốc đã nhanh chóng tiếp cận và che khuất hai chiếc Malapascua và Malabrigo nhỏ hơn. Thuyền trưởng của Malapascua, Đại tá Rodel Hernandez cho biết khi tàu Malapascua di chuyển về phía cửa bãi cạn, tàu Trung Quốc bất ngờ chuyển hướng để chặn nó, cách mũi tàu của nó khoảng 36 đến 46 mét (120 đến 150 feet).

Để tránh va chạm, Hernandez đột ngột đảo hướng tàu của mình rồi tắt động cơ để đưa thuyền dừng hẳn.

Các nhân viên người Philippines trên tàu — và các nhà báo, những người đã ghi lại khoảnh khắc căng thẳng trên máy ảnh — theo dõi trong sự im lặng đầy sợ hãi. Nhưng Malapascua đã bẻ lái đúng lúc để tránh một thảm họa có thể xảy ra.

Hernandez sau đó nói với các nhà báo rằng “hành động đột ngột và thực sự rất nguy hiểm” của tàu cảnh sát biển Trung Quốc đã coi thường các quy tắc quốc tế về tránh va chạm. Ông đã yêu cầu các tàu Philippines rời khỏi khu vực sau cuộc chạm trán vì sự an toàn của các tàu và nhân viên.

Trước đó, một tàu hải quân khổng lồ của Trung Quốc đã theo dõi hai tàu tuần tra của Philippines trong đêm tối khi chúng tuần tra gần Xu Bi, một trong bảy rạn san hô cằn cỗi mà Trung Quốc đã biến trong thập kỷ qua thành một căn cứ đảo được bảo vệ bằng tên lửa. Tàu hải quân Trung Quốc đã phát thanh cho các tàu Philippines “ngay lập tức rời đi và tránh xa.”

Lực lượng bảo vệ bờ biển đã liên lạc lại để khẳng định quyền chủ quyền của Philippines đối với khu vực trước khi bỏ đi.

Trung Quốc từ lâu đã yêu cầu Philippines rút đội quân hải quân nhỏ của mình và kéo tàu BRP Sierra Madre đang hoạt động nhưng đang bị hư hỏng. Con tàu hải quân đã cố tình đậu ở bãi cạn này vào năm 1999 và giờ đây được coi như một biểu tượng mong manh cho yêu sách lãnh thổ của Manila đối với đảo san hô.

Ông Hernandez cho biết các tàu Trung Quốc thường chặn các tàu hải quân vận chuyển thực phẩm và các nhu yếu phẩm khác cho các thủy thủ Philippines trên tàu, kể cả chỉ vài ngày trước đó.

Tại một rạn san hô khác do Philippines tuyên bố chủ quyền có tên là Whitsun, các tàu tuần tra của Philippines đã phát hiện hơn 100 tàu dân quân Trung Quốc bị nghi ngờ dàn trận cạnh nhau thành nhiều cụm ở vùng nước nông. Trung Quốc nói những con tàu giống như tàu đánh cá khổng lồ này là tàu đánh cá, nhưng lực lượng bảo vệ bờ biển của Manila nghi ngờ chúng được sử dụng để giám sát hoặc giữ rạn san hô để phát triển trong tương lai.

Nhân viên bảo vệ bờ biển Philippines trên hai thuyền máy đã tiếp cận các tàu Trung Quốc và ra lệnh cho họ qua loa rời đi, nhưng không có tàu nào làm như vậy.

Các quan chức Philippines yêu cầu các nhà báo tham gia không công bố thông tin ngay lập tức về chuyến đi để đảm bảo an toàn cho phái đoàn và để lực lượng bảo vệ bờ biển có thời gian báo cáo với các quan chức quốc phòng, tư pháp và đối ngoại phụ trách xử lý các xung đột lãnh thổ nhạy cảm.

Đối mặt với một Trung Quốc vượt trội về quân sự ở vùng biển tranh chấp, Philippines đã phát động chiến dịch vào đầu năm nay để vạch trần sự hung hăng của siêu cường châu Á, hy vọng nhận thức và chỉ trích của công chúng sẽ buộc Bắc Kinh phải tuân thủ luật pháp quốc tế.

Người phát ngôn lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines, Thiếu tướng Jay Tarriela cho biết chiến lược này đang phát huy hiệu quả. Ông lưu ý rằng đại sứ Trung Quốc tại Manila đã được yêu cầu tổ chức một cuộc họp báo để giải thích về phía Bắc Kinh trong bối cảnh phẫn nộ về một đoạn video được công bố công khai cho thấy một tàu bảo vệ bờ biển Trung Quốc nhắm vào tia laser cấp độ quân sự vào đầu tháng 2 khiến hai thủy thủ đoàn của tàu Malapascua bị mù tạm thời. bãi cạn Thomas thứ hai.

Các cuộc xung đột lãnh thổ liên quan đến Trung Quốc, Philippines, Việt Nam, Malaysia, Đài Loan và Brunei từ lâu đã được coi là một điểm nóng ở châu Á và là một đường đứt gãy mong manh trong cuộc cạnh tranh giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực.

Mặc dù Hoa Kỳ không đưa ra yêu sách nào đối với Biển Đông, nhưng họ đã triển khai các tàu chiến và máy bay chiến đấu để tuần tra và tập trận quân sự với các đồng minh trong khu vực nhằm bảo vệ quyền tự do hàng hải và hàng không, điều mà họ cho là vì lợi ích quốc gia của Mỹ .

Bắc Kinh đã chỉ trích một thỏa thuận gần đây của Philippines và Hoa Kỳ cho phép các lực lượng Mỹ tiếp cận các doanh trại quân sự bổ sung của Philippines . Trung Quốc lo ngại việc tiếp cận sẽ cung cấp cho Washington các căn cứ quân sự và tiền đồn giám sát ở phía bắc Philippines trên biển từ Đài Loan, mà Bắc Kinh tuyên bố là lãnh thổ của mình, và ở các tỉnh đối diện với Biển Đông, mà Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền gần như toàn bộ.

Washington đã nhiều lần cảnh báo rằng họ sẽ giúp bảo vệ Philippines – đồng minh hiệp ước lâu đời nhất của họ ở châu Á – nếu các lực lượng, tàu hoặc máy bay của Philippines bị tấn công ở Biển Đông.

Với nhiều cuộc xung đột xuất hiện ở nơi dường như là một vùng biển rộng lớn, nơi cá heo và bầu trời đêm đầy sao khiến những người đi biển chộp lấy máy ảnh của họ, thuyền trưởng Julio Colarina III của Malabrigo cho biết ông sẽ luôn cố gắng ở bên phải của một bãi mìn địa chính trị.

Ông nói: “Chúng tôi sẽ tránh xung đột trong khu vực càng nhiều càng tốt. “Tất cả những lợi ích cạnh tranh này chỉ cần một tia lửa.” ___

Các nhà báo của Associated Press Joeal Calupitan và Aaron Favila đã đóng góp cho báo cáo này.

Đôi nét về đồng tiền

  1. Tiền, không mua được thời gian, nhưng tiết kiệm được thời gian. Đứa đi xe đạp, có cố gắng thế nào cũng không nhanh bằng thằng ngồi phi cơ.
  2. Tiền, không mua được sức khoẻ, nhưng mua được phương pháp chữa bệnh tốt nhất.
  3. Tiền, không giải quyết được vấn đề, nhưng ít nhất có thể thu gọn lại vấn đề.
  4. Nhà lá hay nhà lầu, quan trọng vui vẻ sống với nhau. Nhưng mà phong ba bão tố, sấm chớp mưa giăng, vẫn là nhà lá bị thiệt thòi trước tiên.
  5. Có tiền chưa chắc sẽ hạnh phúc. Nhưng cũng không ai nói không tiền sẽ hạnh phúc. Có tiền thì đảm bảo được không khốn khó. Không tiền thì vừa khốn khó vừa không đảm bảo được hạnh phúc.
  6. Tiền cũng không có vai trò gì quá quan trọng. Chỉ là, có tiền thì có quyền lựa chọn cuộc sống.
  7. Tiền không mua được tình yêu, nhưng có tiền đi tán gái vẫn dễ hơn là không.
  8. Tiền không mua được đam mê nhưng cứ làm việc vì đam mê mà không cần tiền thì thử xem đam mê được bao lâu.
  9. Tiền không phải là tất cả nhưng không có tiền thì rất vất vả cả đời.
  10. Tiền quả thật không có chân nhưng cũng khiến con người cả đời phải chạy theo nó.

From: TU-PHUNG