Sổ Tay Thượng Dân K’ Tien – Một chút tình riêng về miền sơn cước

Báo Đàn Chim Việt

Tác Giả:  Tưởng Năng Tiến

Chẳng hiểu em nói cái gì
nhìn môi một cụm xuân thì cũng thương
em xinh như đóa hướng dương
mọc hoang theo lối về buôn bản nghèo (H’na Cô Gái Tây Nguyên – PTN)

 Tác giả những câu thơ vừa dẫn, thi sĩ Phan Ni Tấn, là một người vô cùng may mắn. Vô số kẻ đã đến miền sơn cước nhưng có lẽ chỉ riêng mình thằng chả là có mối duyên tình với nàng sơn nữ (”xinh như một đóa hướng dương”) dù rằng hai bên bất đồng ngôn ngữ.

Tôi biết một nhân vật khác, cũng lặn lội lên đến cao nguyên, và đến nơi rất sớm nhưng không có cái diễm phúc tương tự. Ông tên là Văn Trí, người viết bản nhạc Hoài Thu (“Mùa thu năm ấy / Trên đường đến miền Cao nguyên …) vào năm 1951.

Ðà Lạt (ở thời điểm này) theo như lời mô tả của tác giả là một nơi “núi rừng thâm xuyên,” với những “bầy nai ngơ ngác, lá vàng rơi đầy miên man,” và… chấm hết! Tuyệt nhiên, không hề thấy bóng dáng bất cứ một cô sơn nữ nào ráo trọi!

Tôi ra đời sau tác phẩm Hoài Thu và dưới một ngôi sao xấu. Dù sinh trưởng ở miền sơn cước, tôi chưa bao giờ có hân hạnh được trao (hay nhận) những lời yêu thương đến cô gái H’ Na – như Phan Ni Tấn. Tương tư suông, nghĩa là yêu đơn phương, cũng miễn có luôn.

Tôi cũng không được cái vinh dự nhìn thấy nét man dại, trinh nguyên của một vùng đất mới như ông Văn Trí. Sự hoang dã của cao nguyên Lâm Viên, đối với những kẻ sinh sau đẻ muộn như tôi (có chăng) chỉ còn là dư âm – qua những câu chuyện kể – đại khái như:

– “Hồi đó, ở Ðà Lạt, cọp thiếu mẹ gì. Nhiều bữa, con nít đang lơn tơn đến trường bỗng thấy mấy ông cọp bự nằm chơi phơi nắng. Vậy là đám lật đật nín thở, nhè nhẹ quay lưng, và chầm chậm… đi về.”

Khoẻ!

Sự gần gũi (giữa cọp và người) như thế – tiếc thay – không kéo dài luôn, và cũng chả kéo dài lâu. Trong những tháng ngày thơ ấu, mỗi sáng đi học, tôi đều cầu nguyện và van xin (Phật, Chúa,Thánh, Thần…) để được nhìn thấy vài ông cọp bự  – cũng đang ngồi chơi phơi nắng giữa đường – như “những ngày xưa thân ái” đó.

Dù tôi hết sức chí tình, sự khẩn cầu này – tiếc thay – chưa bao giờ ứng nghiệm. Lòng tin của tôi vào các đấng thiêng liêng giảm sút (không ngừng) kể từ thưở ấy.

Khi tôi được “bế” lên Ðà Lạt, vào giữa thập niên 1950, thành phố này đã bị đô thị hóa.Voi, cọp, heo, beo, gấu, khỉ, vượn, nhím, mển, gà, công, trĩ, hươu, nai, trăn, rắn, sóc, chồn… không còn chung sống với người. Người Thượng (nói chung) và những cô sơn nữ (nói riêng) cũng không mấy khi xuất hiện trên đường phố. Họ ở cách xa, nơi những bản làng heo hút.

Văn hóa miền núi, tất nhiên, có nhiều nét dị biệt với miền xuôi; do đó, trong giao tiếp giữa người Thượng và người Kinh (đôi lúc) đã có những hiểu lầm vô cùng đáng tiếc!

Thuở ấu thơ, tôi đã có lần chứng kiến cảnh một chàng thanh niên từ miền sơn cước xuống chợ miền xuôi, và bị “tiếng sét ái tình” với một cô gái bán hàng. Chàng đứng ngẩn ngơ, chân không thể bước. Trước tình huống đó, có người buột miệng nói đùa:

– Người Kinh không có “bắt chồng” như người Thượng đâu. Muốn “bắt vợ” thì tuần trăng sau phải mang hai con trâu tới đây mới được.

Chàng trai miền núi mừng rỡ gật đầu, hăm hở quay về. Không hiểu phải qua bao nhiêu đường đất, và gặp bao nhiêu khó khăn ở thôn bản của mình nhưng đúng hẹn chàng trở lại. Nhác trông thấy người xưa – dắt theo hai con trâu, như giao ước –  cô gái vội vàng bỏ trốn!

Chờ hoài không thấy cố nhân, chàng thẫn thờ (mãi) rồi lặng lẽ dắt trâu đi. Một chuyện tình buồn thảm thiết như thế mà khi kể xong vẫn có người cười. Nói thiệt: sao tôi cười… không nổi! Cách đùa cợt đó, ngay từ khi còn bé, tôi đã cảm thấy có cái gì rất là không ổn. Sau này, lúc đã cắp sách đến trường, cũng đã có lần tôi suýt khóc khi đọc một câu thơ trào phúng:

Xu hào rủng rỉnh Mán ngồi xe!

Tú Xương sinh năm 1870 và mất năm 1907. Câu thơ (thượng dẫn) có thể được viết từ cuối thế kỷ XIX. Vào thời điểm này, khi mà mọi phương tiện truyền thông và giao thông đều vô cùng giới hạn nên cách nhìn lệch lạc của thi sĩ về một người đồng bào miền núi – tôi cố nghĩ – có thể thông cảm được.

Đến đầu thế kỷ XXI, theo bài viết về “Mọi” của Duy Ngọc (đọc được trên talawas) thì tình cảm của người Việt đối với “những đồng bào thuộc sắc tộc ít người’ (hoàn toàn) không có gì thay đổi: “Thử lên Tây Nguyên sống vài tháng sẽ thấy cái nhìn kỳ thị như thế trong rất nhiều người Kinh đối với các cộng đồng người dân tộc thiểu số vẫn còn nặng nề như thế nào.”

Khỏi phải “thử lên Tây Nguyên sống vài tháng” làm chi, cho má nó khi. Cứ ngồi nhà google vài chữ – “thằng mọi, thằng mán, thằng mường” – là sẽ tìm được vô số định kiến vô cùng đáng tiếc. Tự thâm tâm, có lẽ, những người thuộc dân tộc Kinh ở Việt Nam chưa bao giờ coi đồng bào Thượng là đồng bào (thiệt) cả.

Bà Tòng Thị Phóng (khi còn là Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Dân vận Trung ương) cũng đã lớn tiếng kêu gọi:

Quan tâm đặc biệt đến vùng cao, vùng sâu, vùng căn cứ cách mạng và kháng chiến trước đây; tăng cường cơ sở khám bệnh, cán bộ y tế cho các xã, thôn ấp, nâng cao hơn nữa chất lượng công tác chăm sóc sức khoẻ đồng bào dân tộc thiểu số; khuyến khích trồng và sử dụng các loại thuốc dân gian; từng bước ngăn chận tình trạng suy giảm dân số, suy giảm đời sống của một số dân tộc thiểu số.”

Bà Phóng (cũng) nói cho nó đã miệng vậy thôi chớ sáu năm sau, theo báo cáo của Ngân Hàng Thế Giới thì “các sắc dân thiểu số ở Việt Nam có tỉ lệ người nghèo cao hơn 5 lần tỉ lệ của người Kinh.”

Cách đây chưa lâu báo Tiền Phong cũng (buồn bã) loan tin: “THPT Đinh Tiên Hoàng nằm sâu trong hẻm núi xã Sơn Dung, huyện Sơn Tây, nơi phần lớn là người dân tộc K’dong sinh sống, cách thành phố Quảng Ngãi hơn 100 km, không có học sinh nào đậu tốt nghiệp trong kỳ thi vừa qua.”

Nguyên do, theo lời của thầy hiêu trưởng Nguyễn Hải Thịnh: “Đây là hệ quả tất yếu của một hệ thống đào tạo có chất lượng thấp.” Nói cách khác là “gạo nào cơm nấy,” thế thôi.

Còn ông Phạm Tấn Hoàng, chủ tịch UBND huyện, cho biết thêm: “Sơn Tây có 6/6 xã thuộc diện đặc biệt khó khăn, tỉ lệ nghèo đói còn 78% trên tổng số 3.706 hộ. Do địa bàn cách trở giao thông, điều kiện kinh tế học sinh khó khăn, nơi ăn ở cho học sinh chưa có nên các em không an tâm học tập.”

An tâm gì nổi, hả Trời! Đời sống có những ưu tiên sắp sẵn: ăn – mặc, ăn – học. Cơm áo lo chưa xong, nói chi đến học – mấy cha?

Theo tường trình của Ủy ban Dân tộc thì “người như PuPéo, Rơ-măm, Brâu chỉ  còn lại… vài trăm!” Nhà văn Nguyên Ngọc, trong bài “Phát triển bền vững ở Tây Nguyên” cho biết thêm: “Người Châu ở trong thung lũng Mường Hon của núi Ngok Linh, chỉ có khoảng 80…”

Ngoài bờ biển phía Đông ra, phần biên giới còn lại của Việt Nam đều là nơi cư ngụ của những dân tộc bản địa tự ngàn xưa. Với cuộc sống đơn giản và hài hoà với thiên nhiên, họ đã giữ cho môi trường sinh thái được quân bằng và tạo một “vòng đai xanh” cho cả nước.  Cũng chính họ là những tuyến đầu, và là vòng đai an ninh cho tố quốc. Cớ sao toàn Đảng (cũng như toàn dân) tỏ thái độ khinh thị, và cương quyết tìm mọi cách đẩy họ đến bước đường cùng như thế?

“Khi bọn bành trướng Bắc Kinh tràn sang hồi năm 1979, một bộ phận không nhỏ dân tộc thiểu số, sống ở vùng biên giới, đã đồng loạt ngả theo, làm tay sai cho ngoại bang. Ðó chính là hậu quả của chính sách sai lầm trong lãnh vực sắc tộc” (Lý Hồng Xuân. Nhận Diện Chân Dung Nhà Văn. Văn Nghệ: California 2000).

“Bọn bành trướng Bắc Kinh” (xem chừng) đang sắp sửa muốn tràn sang lần nữa, và “những chính sách sai lầm trong lãnh vực sắc tộc” thì mỗi lúc lại càng tệ hại hơn!

Hơn 30 năm nhìn lại, nhân dân và đất nước Việt Nam vẫn là nạn nhân của “giải pháp tạm bợ” của đảng CSVN

Báo Tiếng Dân

Trương Nhân Tuấn

23-6-2023

“Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” là giải pháp tạm bợ đưa ra để cứu đảng trong nhứt thời, trong hoàn cảnh thế giới XHCN sụp đổ. Bởi vì “kinh tế thị trường” thì không ai có thể “định hướng” được hết cả.

“Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” là giải pháp tạm bợ, là phương tiện để Việt Nam hội nhập cộng đồng quốc tế. Tạm chấp nhận “Nhà nước pháp quyền” mang nội hàm của “Etat de Droit”, thì “Etat de Droit” chỉ có thể xây dựng trên một xã hội dân sự, dân chủ tự do (chớ không thể xây dựng trên nền tảng XHCN).

Phỏng vấn Dân Oan LÊ THỊ KIM-THU – VẤN NẠN DÂN OAN – Đài Phát Thanh Đáp ...

Vấn đề là đảng CSVN đã lấy cái tạm bợ để làm cái vĩnh cửu.

“Chính sách ngoại giao cây tre” hay “quốc phòng bốn không” của Việt Nam thể hiện cụ thể cho chính sách (ngoại giao và quốc phòng) tạm bợ đó.

“Đưa người cửa trước rước người cửa sau”. Đây không phải là cái cách hành xử của một quốc gia có uy tín trên quốc tế. Nếu Việt Nam là quốc gia độc lập có chủ quyền thì việc tiếp đón hàng không mẫu hạm Mỹ ở Đà nẵng là chuyện của Việt Nam. Thủ tướng Phạm Minh Chính cùng thời gian (tàu Mỹ cặp bến Việt Nam) lại công du qua Trung Quốc.

Không hề có loại ngoại giao “quan hệ trên nhiều chân kiềng”! Khi nói “chân kiềng” là người ta nghĩ đến những gì chắc chắn, vĩnh cửu. Có gì vĩnh cửu khi lợi ích của các quốc gia luôn biến hóa?

Cá chết, ngư dân ít ra khơi, tàu Trung Quốc xâm phạm lãnh hải

Tàu cá Trung Quốc xâm phạm lãnh hải Việt Nam với sự trợ lực của Hải Cảnh TQ

Về nội trị, giải pháp tạm bợ đã trở thành “chủ nghĩa tạm bợ”. Cán bộ lãnh đạo vì vậy không có trách nhiệm về bất cứ cái gì. Ba mươi năm qua, tài sản của quốc dân, thể hiện qua các xí nghiệp nhà nước (xí nghiệp quốc doanh), do hệ quả của “chủ nghĩa tạm bợ” lần hồi trở thành tài sản của tài phiệt đỏ, hoặc phục vụ cho lợi ích của tài phiệt đỏ.

Nếu có “tầm nhìn” thì đã không để xảy ra hiện tượng thiếu năng lượng (khiến các xí nghiệp nước ngoài bỏ Việt Nam qua các nước khác).

Nếu có tầm nhìn, làm cái gì cũng lâu dài, thì làm gì có vụ thanh niên, sinh viên Việt Nam bỏ học đi làm nhân công nước ngoài?

xuat-khau-lao-dong-nhat-ban-kho-sang-de-ve - Luật Minh Bạch

Vốn quí của quốc gia là “con người” chớ không phải là mỏ dầu, mỏ titan nọ kia.

Đi hết, người tài giỏi bỏ nước ra sống nước ngoài hết, thì lấy ai xây dựng đất nước?

Hệ quả của “giải pháp tạm bợ” thiệt là kinh khủng. Vấn đề là giải pháp này có lợi cho giai cấp cầm quyền. Kẻ có quyền thì có tiền.

Không biết tài sản quốc gia nay còn lại cái gì?

Họa sĩ biếm triển lãm tranh biếm họa về phòng, chống tham nhũng


 

Một tháng lương của Sơ là bao nhiêu?

Make Chrisntiaity Great As Always

 “Một tháng lương của các sơ là bao nhiêu?”. Đó là câu hỏi mà anh tài xế taxi hỏi mình. Bạn ấy là người không cùng tôn giáo, nhưng gia đình bạn ở gần cổng một nhà Dòng nên cũng có chút khái niệm về các sơ.

Anh taxi tuyệt nhất quả đất: Tại sao lại phải cáu với vợ khi vợ gọi ...

“Mình cũng chẳng biết các sơ mỗi tháng được bao nhiêu tiền lương nữa! – Tôi trả lời. Nhưng mình thấy Nhà Dòng thì có trường Mầm Non, các sơ làm việc ở đó để có của nuôi sống nhau. Mọi sự, các sơ đều để vào làm của chung nên thường thì các sơ cũng không quan tâm mình có bao nhiêu lương cả! Các sơ đi tu không chỉ để kiếm tiền nuôi thân mà còn phải nghĩ đến người khác, giúp những người nghèo, những người bệnh, những người đau khổ cần sự giúp đỡ của các sơ…”.

Về tới nhà, tôi vẫn mải suy tư …“một tháng lương của sơ là bao nhiêu?” Tôi cười thầm, nghĩ bụng: “Lương của các sơ là niềm vui khi giúp được các em học sinh nghèo có cơ hội đến trường, những người bệnh tật nhận được sự ủi an, những người cô đơn nhận được sự cảm thông, những người nghèo đói nhận được sự chia sẻ… Lương của các sơ sau một ngày vất vả với sứ vụ là sự bình an nhẹ nhàng của các giờ kinh nguyện, là niềm vui nho nhỏ của tình yêu cộng đoàn, là tiếng cười của hạnh phúc, hay nhiều khi là nước mắt của khổ đau thân phận kiếp con người. Nước mắt ấy đến từ những khác biệt của nhau về quan điểm sống, về tính cách, về văn hóa. Nước mắt ấy cũng có thể rơi xuống do cuộc chiến đấu nội tâm của mỗi cá nhân… Lương của các sơ cao nhất vẫn là sự bình an, là sức khỏe, là thì giờ Chúa ban. Và niềm vui mỗi khi nhận được số lương ấy thể hiện ở hoa trái thu hoạch được, ấy là sự thăng tiến về đời sống thiêng liêng; hay nói cách khác, là mỗi ngày các sơ cảm thấy mình gần Chúa hơn. Đó chẳng phải là số lương khổng lồ sao?”

the advocate | WCW: Mother Teresa

Nhờ câu hỏi của anh bạn, tôi khám phá lương tháng của các sơ không hề tính bằng tiền. Đặc biệt hơn nữa, lương thưởng tháng Mười Ba của các sơ là những ngày nghỉ Tết với người thân tại quê nhà, là niềm vui được nghỉ ngơi với nhau, đón phúc lành của Chúa Xuân vào cộng đoàn, làm ấm thêm tình yêu thương khắng khít mà các sơ dành cho nhau, cho nhà Dòng….

Lương tháng của các sơ thật là “độc lạ”! Các sơ ơi! Các sơ hạnh phúc lắm đó!

=Trần Tây Sơn, MTG Tại Thế=

———-

Ảnh: Các sơ Hội Dòng Đức Mẹ Hiệp Nhất đang tham gia chống dịch tại Bắc Giang.

Luật sư Đào Kim Lân sẽ báo cáo gì với Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hợp Quốc?

Đài Á Châu Tự Do 

Hai năm qua, các luật sư tham gia bào chữa cho các nạn nhân bị cáo oan ở Tịnh Thất Bồng Lai (TTBL) đã nhiều lần kiến nghị đến các cơ quan pháp luật và lãnh đạo Đảng và Nhà nước cao nhất về sai phạm của Công An (CA) huyện Đức Hòa và tỉnh Long An nhưng không được xem xét giải quyết. CA Long An lại tạo dựng đơn thư tố cáo các luật sư vi phạm Điều 331 Bộ luật Hình sự (Lợi dụng các quyền tự do dân chủ), tạo cớ “mời”, ra “thông báo truy tìm” các luật sư để điều tra. Luật sư Đào Kim Lân đã bị cấm xuất cảnh không được tham dự lễ khai giảng ở trường cũ mà Luật sư từng học tập và tốt nghiệp. CA cũng đến tận nhà đe dọa, trấn áp tinh thần người thân luật sư Lân. Nguy cơ bị khởi tố, bị bắt giam đang hiển hiện.

Mong muốn làm sáng tỏ vụ việc, liên tiếp từ ngày 13-6 đến 18-6, Luật sư Đào Kim Lân đã có nhiều buổi livestream trần tình với cộng đồng mạng đang chuẩn bị hồ sơ để báo cáo sự việc lên Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc. Trong trạng thái xúc động, livestream khá dài, để mọi người dễ theo dõi chúng tôi xin tóm tắt dưới đây những nội dung chính.

#RFAVietnamese #tinhthatbonglai #daokimlan

RFA.ORG

Luật sư Đào Kim Lân sẽ báo cáo gì với Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hợp Quốc?

TUỔI GIÀ, KHI THIẾU MỘT NGƯỜI BẠN ĐỜI.

Nguyễn Kim Thủy-Những câu chuyện Nhân Văn

Trong cuộc sống, nhất là khi về già, một trong những điều quan trọng nhất, đó là có cho mình một người bạn đời. Nếu người ta không may, vì mộ lý do nào đó, ví dụ như ly hôn, hay một trong hai người kia ra đi quá sớm, mà phải sống cuộc đời còn lại một mình đơn lẻ, thì quả là một điều bất hạnh.

Bởi vì, người bạn đời là một trong những yếu tố quan trọng, để quyết định cho bạn có một cuộc sống trong quãng thời gian còn lại, hạnh phúc và viên mãn kể cả khi bạn nghèo, thậm chí nó còn giúp cho bạn kéo dài thêm tuổi thọ.

Thật vậy, các bạn thử nghĩ xem, khi con người ta bắt đầu bước sang cái tuổi xế chiều, với những năm tháng của cuộc đời, mà phải sống trong cô đơn và im lặng, thì sẽ buồn như thế nào.

Đến bữa ngồi ăn một mình, và tối đến đi ngủ cũng một mình, đêm đêm khi tỉnh giấc, nhìn sang bên cạnh cũng chẳng có ai, sáng sáng tỉnh dậy, cũng vẫn chỉ một mình…thì đó là một điều đáng sợ và buồn tủi.

Cuộc đời này, người sống bên bạn lâu nhất, không phải là bố mẹ và con cái, cũng không phải anh em hay bạn bè, càng không phải là đồng nghiệp hay người yêu, mà chính là người bạn đời. Đấy mới thực sự là người duy nhất chung sống bên bạn suốt đời.

Bạn bè, dù có chân thành đến mấy, cũng không thể ở bên bạn mãi mãi. Bố mẹ, dù có tốt đến mấy, cũng không thể sống với bạn cả đời. Con cái, có thân thương là vậy, cũng không thể sống mãi bên cạnh bạn, rồi cũng có lúc chúng vỗ cánh bay đi, để có một cuộc sống riêng.

Anh em, dù có là máu mủ ruột thịt thân tình, cũng không thể ở bên bạn mỗi ngày, cũng không thể chăm sóc bạn những khi “Tối lửa tắt đèn”. Chỉ có vợ chồng, người mà ta vẫn thường gọi là bạn đời, mới có thể chung sống và bên bạn lúc sớm chiều.

Trong cuộc sống hằng ngày, mỗi khi nhìn thấy những cụ ông, cụ bà với mái tóc bạc phơ, dắt tay nhau từng bước đi bộ trên đường, tôi rất ngưỡng mộ.

Lúc đó, tôi mới hiểu được rằng, con người ta có được những khoảnh khắc hạnh phúc như vậy, họ đã phải cùng nhau trải qua không biết bao nhiêu những sóng gió gian truân của cuộc đời, để rồi, họ vẫn còn ở bên nhau, tay nắm tay, và cùng nhau đi nốt quãng đời còn lại, cho đến hết cuộc đời của mình.

Đừng vì một điều gì trong cuộc sống, mà đánh mất đi người vợ hay người chồng của mình, người mà hằng ngày vẫn hết mực yêu thương mình nhất. Vì suy cho cùng, họ mới chính là người sẽ ở lại bên bạn, và sống với bạn trong cuộc đời này.

Chính vì thế, hãy thật trân trọng người bạn đời của mình, và trân trọng những gì mình đang có khi còn có thể !!!

( Sưu tầm ).

Luật Sư đi trốn – Hành vi 331 của Trọng Lâm phá hoại hệ thống tòa án Việt Nam.

Luật sư bào chữa vụ Tịnh Thất Bồng Lai đến Hoa Kỳ

Luật sư Nguyễn Văn Miếng và Luật sư Đặng Đình Mạnh tại thủ đô Washington, D.C Hoa Kỳ hôm 16/6/2023. Ảnh của RFA

Cộng Sản thời điện toán của thế kỷ thứ 21 thật là “lọa”, chúng sáng chế ra luật 331, “Lợi dụng quyền tự do ngôn luận xâm phạm lợi ích Nhà Nước”.

  • Độc đáo của Luật này là biến bất kỳ ai, nhà tu, nhà giáo, thậm chí Luật Sư, nhà báo, … tất tần tật thành nghi phạm, tội phạm.
  • Luật đã giúp Côn An bỏ tù bất kỳ ai mà Đảng muốn một khi họ dám lên tiếng phản biện về xã hội trước công luận qua báo chí, qua các kênh Youtube, qua mạng Facebook, …
  • Luật 331 là chiếc đũa thần vạn năng của Đảng có sức hô biến thiện thành ác, trắng thành đen quả là kỳ diệu.
  • Luật 331 dư sức biến quyền của Luật Sư trước tòa thành quyền của củ khoai, Đảng ta muốn ăn tươi nuốt sống củ khoai lang lúc nào cũng được.
  • Điều không may cho Đảng là, nay đang có 2 ông Luật Sư cứng cựa, can trường sau khi cãi miễn phí cho các sư Thiền Am ở Long An xong thì bị Côn An tức khí điều tra vì họ dám phê phán mình điều tra sai, điều tra không đúng, không đủ.
  • Các Luật sư này láo phải cho chúng biết tay, thế là Côn An ra nhiều giấy, nhiều lần triệu tập với lý do,  Luật sư có dấu hiệu vi phạm điều thần diệu 331, lợi dụng quyền “tự ro ngôn nuận”.
  • Thế mà có hai ông Luật Sự lại dám không thèm trình diện theo lệnh của Côn An Long An. Họ chạy trốn sang Mỹ. Đó là hai ông luật sư Nguyễn Văn Miếng và Đặng Đình Mạnh.
  • Còn đâu là uy danh vang lừng của Côn An nữa, Luật Sư coi bộ chả coi lệnh của Côn An ra cái gì, các Luật Sư còn nói Côn An không làm đúng pháp luật, trình tự tố tụng, cho nên Luật Sư không có lý do gì phải gặp và giải trình với Côn An.
  • Không đâu oai bằng CHXHCN Việt Nam, đến Luật sư cũng phải đi trốn, hệ thống pháp luật ê chề như luật lệ Đại Bàng trong nhà tù hình sự.

Tiến sĩ Trọng, Tiến sĩ Tô Lâm thích nhá, muốn bắt ai thì bắt, muốn bỏ tù ai thì bỏ tù. Chỉ có điều trong mắt nước ngoài, coi chừng họ coi các Ngài chỉ là tội phạm vừa hèn với giặc, vừa ngu ác đến mức hành vi 331 của Trọng Lâm đủ sức phá tan hệ thống tòa án Việt Nam.

Luật sư Đặng Đình Mạnh

Luật sư Đặng Đình Mạnh, người đã giúp tranh tụng cho các vụ án nhân quyền như vụ cướp đất ở Đồng Tâm, vụ án tôn giáo như Thiền Am, tịnh thất Bồng Lai, … (Hình của Ls Mạnh)

Luật sư Đặng Đình Mạnh sáng 19 tháng 6 năm 2023 cho biết:

Tôi có biết về quyết định truy tìm đối với tôi của công an tỉnh Long An. Vì quyết định ấy không căn cứ theo những quy định của tố tụng hình sự, cho nên, tôi đánh giá rằng tôi không có trách nhiệm phải chấp hành.

Hơn nữa, việc tôi xuất cảnh, đi lại, cư trú và chọn nơi lao động như thế nào là quyền của tôi. Đây là quyền tự do của công dân theo hiến pháp. Không một cơ quan nào có thể cản trở những quyền này của tôi cả. Thực tế, tôi đang thực hiện các quyền tự do của công dân theo Hiến pháp quy định mà thôi.”

Nói với luật sư Nguyễn Văn Miếng về cáo trạng đối với Nguyễn Quốc Đức ...

Luật sư Nguyễn Văn Miếng trình bày:

“Tôi đến Hoa Kỳ vào trưa ngày 16/6/2023 trong cơn mưa nhè nhẹ tại phi trường Dulles, tiểu bang Virginia. Tôi như trút được một gánh nặng sau 100 ngày bị săn đuổi, ngay khi máy bay tiếp đất, lăn bánh trên phi đạo…”

Còn một Luật Sư nữa, ông Đào Kim Lân cũng đến được bến bờ tự do và đang ở Mỹ.

Vụ Tịnh thất Bồng Lai: Một luật sư bị điều tra - Báo Tiền Phong

Số phận các Luật Sư tham dự Tòa còn như vậy huống hồ gì dân đen.

Tội nghiệp cho dân Việt nước tôi.

12 người đàn ông giận dữ hay câu chuyện về sự đồng thuận của bồi thẩm đoàn

Chau Nguyen Thi

Tại Mỹ, bồi thẩm đoàn là 12 thường dân được lựa chọn một cách ngẫu nhiên. Việc lựa chọn ngẫu nhiên giúp cho cả hai phía nguyên cáo và bị cáo không thể nào tác động đến quyết định của 12 con người này. 12 người này sẽ có học vấn khác nhau, quan điểm khác nhau, nhận thức khác nhau về công lý và thậm chí cũng không quen biết nhau trước đó. Những người dân bình thường tham gia bồi thẩm đoàn cũng không quen biết thẩm phán, không quen biết luật sư bào chữa và công tố viên nên sẽ ra quyết định một cách độc lập mà không chịu sức ép từ bên ngoài.

Tại sao Luật pháp Mỹ cho phép làm vậy? Là vì họ cho rằng đó chính là cách giúp cho Công lý được tìm ra và thực thi. Bởi 12 thành viên này chính là một mô hình xã hội thu nhỏ. Sau khi nghe các thành phần trong phiên tòa cung khai, bào chữa và phán quyết, họ, những người dân thường có đồng thuận hay không. Và dù muốn, sẽ không thể nào hối lộ được toàn bộ những người nằm trong danh sách những người có khả năng được chọn làm bồi thẩm đoàn. Vì họ là những lựa chọn ngẫu nhiên.

301 Moved Permanently

Và khi muốn ra phán quyết, chỉ cần một trong 12 người này nói Không, thì lập tức Bồi thẩm đoàn sẽ phải sẽ phải xem xét điều tra lại.

Vào năm 1957, nước Mỹ đã làm ra bộ phim 12 người đàn ông giận dữ. Câu chuyện bắt đầu ở một tòa án ở Thành phố New York, nơi một thanh niên 18 tuổi từ một khu ổ chuột đang bị xét xử vì tội đâm chết người cha. Đến lúc bồi thẩm đoàn phải đưa phán quyết, quan toà yêu cầu đoàn bồi thẩm xác định bị cáo có tội hay không, và thông báo thêm rằng nếu họ kết tội, bị cáo sẽ phải chịu hình phạt tử hình.

Ban bồi thẩm được đưa đến một phòng riêng, lúc đầu họ bỏ ra một thời gian ngắn để nói lời xã giao trước khi bắt đầu công việc. Có thể thấy rõ vào đầu các bồi thẩm viên đã quyết định rằng bị cáo có tội, và họ có ý định đưa phán quyết này mà không cần bàn thảo – chỉ trừ một người là Bồi thẩm #8 , người duy nhất biểu quyết “vô tội” trong cuộc biểu quyết đầu tiên. Ông ta giải thích rằng đây là một việc hệ trọng cho nên không thể đưa ra phán quyết mà không bàn thảo.

Lá phiếu của ông đã làm tức giận các bồi thẩm viên khác, đặc biệt là Bồi thẩm #7 người đang để tâm trí vào một trận bóng chày tối hôm đó, và Bồi thẩm #10, người tin rằng hầu hết mọi người xuất thân từ các khu ổ chuột có khả năng phạm tội cao hơn người bình thường.

Nhưng chỉ vì một lá phiếu vô tội đó, từ từ sự thật được hé lộ trong 96 phút suy nghĩ, bàn thảo, xem lại các chứng cứ- luận cứ của vụ án và bỏ phiếu. Kết quả, toàn bộ 12 thành viên Bồi thẩm đoán bỏ phiếu Vô tội cho chàng thanh niên.

Bộ phim này đã mô tả thực trạng của tư pháp Mỹ. Và tới nay nó là 1 trong 100 bộ phim kinh điển hay nhất nước Mỹ qua mọi thời đại. Trong học đường, trẻ con trung học cũng dựng kịch 12 người đàn ông giận dữ để học hỏi.

Tại một buổi chiếu phim ở Trường luật Đại học Fordham, thẩm phán Sonia Sotomayor của Tối cao pháp viện Hoa Kỳ nói rằng bà đã chịu ảnh hưởng từ bộ phim khi xem nó trong lúc học đại học, khiến bà muốn theo ngành luật. Bà nhận cảm hứng từ lời nói của bồi thẩm viên số 11 vốn là một người nhập cư, về lòng tôn kính của ông đối với hệ thống tư pháp Mỹ.

Hãy nghĩ về phán quyết vô tội với thanh niên 18 tuổi từ 12 người đàn ông giận dữ này.

Indiana Repertory Theatre

Hệ thống bồi thẩm đoàn của họ được xây dựng dựa trên niềm tin vào lương tri của những thường dân trong xã hội, dựa vào những người có khả năng cảm nhận đúng – sai một cách thông thường hơn là dựa vào trình độ chuyên môn.

Nếu như những con người bình thường mà không chấp nhận những phán quyết vô lý từ một vụ án quy tội sát nhân cho một thanh niên, thì phỏng việc coi anh ta là sát nhân có ích gì? Anh ta có thể chết nhưng niềm tin vào Công lý, vào Công bằng, Liêm Chính và sự Nghiêm cẩn khi phải phán một người tội chết, sẽ tan tành mây khói.”

Ảnh của

Fb Phung Chi Kien


 

Đừng cố học giỏi ở Việt Nam

LÂU LÂU ĐỌC ĐƯỢC 1 BÀI VIẾT HAY

Bài viết gây bão cộng đồng mạng:

“Ăn thì phải no, học thì phải giỏi, yêu là phải cưới, cưới là phải sinh con, sinh con thì con cũng phải học giỏi, học giỏi là phải trường chuyên, trường chuyên nhưng còn phải lớp xịn, lớp xịn là phải đỗ đại học, đại học là phải top đầu, top đầu là phải… không thất nghiệp, và không thất nghiệp… rất có thể phải “chạy” – điều mà những người Giỏi thực sự không bao giờ làm.  Bạn thấy đấy, rất nhiều nghịch lý luẩn quẩn hiện có trong xã hội của chúng ta đều ít nhiều liên quan đến một từ: GIỎI. Tuy nhiên, đã bao giờ bạn nghĩ chúng ta chẳng nên cố bằng mọi giá để học quá giỏi? Dưới đây là 5 lý do mà bạn có thể sẽ cực kỳ “phản đối”!

  1. Để học giỏi ở Việt Nam cần phải tốn quá nhiều thời gian cho việc học, học trên lớp, học ở nhà, học thêm, học phụ đạo… Trong khi một ngày mãi mãi cũng chỉ có 24 giờ do đó, thời gian dành cho những thói quen lành mạnh như chơi thể thao, thư giãn rèn luyện thân thể không có nhiều và càng học lên cao càng bị cắt ngắn, dẫn đến nguy cơ lâu dài: sức khoẻ yếu. Sức khoẻ yếu, học giỏi vô nghĩa!
  2. Để học giỏi ở Việt Nam, bạn cần phải “học đều” – một khái niệm đặc sản nhưng không hề thơm ngon của nền giáo dục Việt Nam, tức là phải học giỏi tất cả các môn, đầu tư thời gian dàn trải để giỏi tất cả các môn đồng nghĩa là rất khó cho bạn để có chặng nghỉ nghĩ về những gì mình yêu thích nhất và có tiềm năng phát triển nhất. Rất nhiều học sinh giỏi cái gì cũng giỏi nhưng chẳng thật sự giỏi cái gì. Rất nhiều học sinh khi được hỏi “Em thích làm gì nhất?”, trả lời “Em không biết.” Một hành trang quá cồng kềnh và bị nhồi nhét chỉ làm cho cuộc hành trình của bạn thêm mệt mỏi. Hãy biết chọn lọc!
  3. Để học giỏi ở Việt Nam, bạn cần phải hấp thụ rất nhiều kiến thức bạn học xong không biết để làm gì? Không là kỹ sư, không theo nghiệp kỹ thuật, bạn sử dụng đạo hàm, sử dụng hàm số, sử dụng tích phân để làm gì……….? Mà muốn sử dụng, bây giờ có vô số phần mềm và ứng dụng làm thay con người những tính toán đó. Bạn có định tự kéo cày trong khi nhà có trâu và có máy? Người ta hay nhắc bạn tiết kiệm điện, tiết kiệm nước, nhưng không ai nhắc bạn tiết kiệm tài nguyên não của chính bạn.
  4. Để học giỏi ở Việt Nam, ít nhiều bạn bị mất một chút tự do, và buộc phải là bản sao tư duy của ai đó. Nói đến Tấm là phải ngoan hiền, nói đến Cám là phải gian ác, trong khi bạn đang nghĩ đến điều ngược lại, nhưng không được đâu, cô không thích điều này! Bạn chưa hiểu, bạn cần học lại, học kỹ hơn, không được, lớp cần 90% học sinh giỏi, chỉ tiêu chỉ được 10% học sinh khá, và tuyệt nhiên không được ai ở lại lớp. Bạn cần phải là một bông hoa đẹp trong vườn hoa toàn Học sinh Giỏi của cả lớp, của trường, trong cánh rừng học sinh giỏi của Thành phố. Việc chấp nhận mất tự do tư duy từ nhỏ trong học đường làm cho bạn dễ chấp nhận hơn với việc mất tự do trong cuộc sống sau này.
  5. Để học giỏi ở Việt Nam, cuộc sống của bạn rất dễ bị mẻ, bị nứt, bị lệch và rất có thể bị vỡ nữa. Bạn còn quá trẻ và non nớt, vì thế nên bạn cần đi học để trưởng thành lên theo năm tháng, nhưng bố mẹ và thầy cô luôn cần bạn phải là số 1, không được là số 2, nhất định phải là số 1, và họ thi nhau chất lên lưng bạn những áp lực nặng nề mà chính bạn cũng không thể biết được đâu là tới hạn. Đến khi bạn kém giao tiếp, ứng xử lúng túng, không biểu đạt ngay cả những gì mình muốn nói, không tự tin giữa đám đông chỉ vì ngoài giờ học bạn không còn người bạn thân nào hơn Facebook, Zalo và máy tính và điện thoại, không có thời gian để quan sát cuộc sống tươi đẹp xung quanh. Coi chừng! Rất có thể, đấy là cách những tờ giấy khen Học sinh giỏi âm thầm đánh cắp tuổi thơ của bạn.

Bố mẹ Việt đang nhầm lẫn tai hại giữa: học Tốt và học Giỏi, nhiều phụ huynh cứ có niềm tin mù quáng là con cứ học giỏi là chắc chắn là có vé đi ga “Tương Lai Hạnh Phúc” thế là cứ cố nhồi con học cho đến khi họ nhận ra sự thật bẽ bàng: học giỏi mà không hạnh phúc thì còn bất hạnh hơn học dốt mà biết cái gì là tốt.

Vấn đề không nằm ở Bộ Giáo dục, mà nằm ngay trong chính tâm thức mỗi ông bố bà mẹ: có dám để cho con mình học dốt – học theo đúng năng lực của mình hay không, hay sợ dư luận chê cười? Sợ đến chết!

Bên cạnh quyền được Khổ, quyền được Dốt cũng là một trong những quyền của học sinh đang bị phụ huynh Việt xâm phạm thô bạo.

Nếu con bạn là cây Tùng xin đừng trồng trong chậu, chăng đủ thứ đồ trang trí lên và gọi nó là cây Thông Noel”.

________________

Bài viết của tác giả Hoàng Huy.

Bạn nghĩ sao?

Khoảng lặng…

Khoảng lặng…

LS Ngô Anh Tuấn

Luật sư Nguyễn Văn Miếng và Luật sư Đặng Đình Mạnh tại thủ đô Washington, D.C Hoa Kỳ hôm 16/6/2023. Ảnh: RFA

Chỉ trong một thời gian ngắn, một số người bạn mà tôi yêu quý đã lần lượt rời bỏ đất nước ra đi. Nguyễn Anh Tuấn, một người bạn trẻ tuổi nhưng chín chắn, chững chạc, một người tri thức có tầm ảnh hưởng thực sự trong giới đấu tranh cho sự tiến bộ xã hội đã tới Canada. Luật sư Đặng Đình Mạnh, một luật sư mạnh mẽ, khôn ngoan, kiên định, một người đồng nghiệp thân thiết trong rất nhiều vụ án chính trị đã tới Hoa Kỳ. Hai luật sư thân tín khác là luật sư Nguyễn Văn Miếng và Đào Kim Lân cũng đã tới Hoa Kỳ. Tôi mừng cho cá nhân những người bạn của mình nhưng tôi lo cho những người ở lại. Liệu rằng làn sóng ra đi sẽ chấm dứt hay sẽ tiếp tục có những người sẽ ra đi? Liệu rằng những tiếng nói phản biện vẫn sẽ còn tồn tại hay sẽ tắt dần theo thời gian?

Những người bất đồng chính kiến dám thể hiện ra hành động (dù chỉ là thông qua lời nói), vốn đã rất ít. Những luật sư dám đứng ra bảo vệ những người này vốn đã ít nay càng ít hơn, khi mà một số người bị tước thẻ hành nghề, một số người dừng cuộc chơi giữa chừng, số khác thì phải đi nước ngoài. Tổng trên cả nước, những luật sư dám đứng ra bảo vệ thân chủ trong các vụ án có màu sắc chính trị, đếm đi đếm lại không quá hai bàn tay, nay bị bớt đi gần một nửa. Số lượng giảm, chất lượng chưa biết giảm đi bao nhiêu nhưng tinh thần người trong cuộc là giảm đi rõ rệt. Còn nhớ, khoảng 3 năm trước, trong một vụ án đình đám, khi kết thúc phiên toà dài ngày, tôi bị cưỡng ép để lấy luôn USB dữ liệu điện tử ghi nhận diễn biến phiên toà, luật sư Mạnh và luật sư Miếng chạy lại hỗ trợ, bảo vệ tôi nhưng bị cản trở, xô ngã. Phiên toà mới đây ở Đà Nẵng, tôi bị buộc ra khỏi phiên toà một cách tức tưởi dù không vi phạm nội quy phiên toà. Dù rất muốn lên tiếng, nhưng đồng nghiệp tôi phải ngồi im, vì nếu anh ấy phản ứng lại và theo chân tôi thì không còn ai ở lại bảo vệ thân chủ nữa. Nếu như trước đây, có nhiều luật sư cùng tham gia thì nếu có 1-2 người bị mời ra thì cũng bình thường vì những người còn lại vẫn có thể tiếp tục phần việc của mình. Thế nhưng, những ngày tươi đẹp ấy có vẻ như đã thành dĩ vãng xa rồi.

Những người ra đi: hoặc là họ bị dồn nén tới mức phải dứt áo ra đi hoặc là họ không còn động lực để ở lại. Không ít nghi vấn: nhiều người lên tiếng đấu tranh với mục đích là kiếm được “tấm vé” xuất ngoại; tôi nghĩ có thật, nhưng vô cùng hiếm hoi. Nhiều lần tôi tự hỏi, thay vì dồn ép những người bất đồng chính kiến tới mức họ phải đưa ra những lựa chọn cực đoan thì tại sao chính quyền không lắng nghe, đối thoại với họ để tháo gỡ mâu thuẫn, tận dụng tri thức của họ để góp phần xây dựng đất nước dân chủ, tiến bộ hơn? Tôi tự hỏi rồi cũng tự trả lời.

Với một số người khác đang nằm trong “danh sách đen”, có lẽ cả hai điều trên chưa có nên họ vẫn còn ở lại đây. Nếu chỉ sống cho bản thân thì quá dễ dàng với không ít người– họ có thể xuất ngoại mà không phải chọn con đường tị nạn chính trị. Tuy vậy, vì nhiều lý do riêng mà họ không chọn cách ra đi. Thế nhưng, điều họ muốn chưa hẳn đã là điều người ta muốn; nên việc họ muốn ở lại chưa chắc đã là thứ quyết định việc họ buộc phải ra đi. Trên mảnh đất này, bạn không thể tự quyết được mọi điều bạn muốn đâu! Vậy nên, hãy cứ sống tốt, sống vui được ngày nào thì hãy cứ cố gắng để mai này không phải ân hận khi ngước nhìn về quá khứ, thế là đủ. 

N.A.T.

Nguồn: FB Tuan Ngo

NHÀ VĂN NGUYÊN NGỌC:-“Giá chúng ta giữ Tây Nguyên như một Bhutan”

Đức Tâm (TBKTSG Online)

Sáng ngày 17-9, nhà văn Nguyên Ngọc có buổi nói chuyện cùng các bạn trẻ TPHCM về Tây Nguyên, mảnh đất mà ông đã gắn bó hơn nửa cuộc đời. Câu chuyện nói về Tây Nguyên nhưng cũng đặt ra nhiều vấn đề xã hội đáng quan tâm trong bối cảnh hôm nay. TBKTSG Online lược ghi.

Tôi lên Tây Nguyên lần đầu năm 1950 và đến nay đã trải qua 66 năm gắn bó với mảnh đất này. Nơi đây không chỉ cứu sống và nuôi dưỡng tôi qua hai cuộc kháng chiến mà còn dạy tôi nhiều điều về minh triết trong cuộc sống.

Tây Nguyên rất đặc biệt, nhưng cũng rất đáng lo. Tôi mong mọi người hãy nghĩ, hãy đến Tây Nguyên và làm gì đó để cứu mảnh đất này.

Nói đến Tây Nguyên là nói đến rừng và làng. UNESCO đã rất tinh tế nhận ra khi công nhận di sản văn hóa thế giới của Tây Nguyên, không phải là cồng chiêng, cũng không phải là âm nhạc cồng chiêng, mà là không gian văn hóa cồng chiêng, tức không gian làng, với rừng của làng. Rừng và làng chính là không gian văn hóa của Tây Nguyên. Không còn hai yêu tố này, sẽ không còn văn hóa Tây Nguyên, hoặc nếu có, cũng không còn là văn hóa thật.

Tây Nguyên - YouTube

Thế nhưng vấn đề quan trọng nhất hiện nay ở Tây Nguyên là sự đổ vỡ của các làng và rừng thì bị tàn phá.

Rừng tự nhiên đến nay đã không còn nữa. Một số bị thay thế bởi cây công nghiệp như cà phê, cao su. Người ta gọi những mảnh đất rộng trồng cao su là rừng cao su. Nhưng nói đến rừng là nói đến tính đa tầng, độ che phủ; là nói đến yếu tố giữ nước. Cao su, rễ cọc, không giữ nước được nên hiểu theo nghĩa tự nhiên, cao su không được gọi là rừng. Rừng tạp mất đi, độ che phủ không còn và rồi Tây Nguyên sẽ mọc lên những rừng gai thấp lúp xúp. Chúng ta sẽ để lại cho con cháu những rừng gai lúp xúp? Chúng ta có muốn như vậy không?

Để khôi phục rừng Tây Nguyên, chúng ta phải trồng lại rừng, tạo rừng đa tạp. Có người hỏi tôi mất bao lâu? Tôi cho rằng chúng ta phải thực hiện trong 100 năm. Gì mà nhiều vậy? Thử nghĩ xem, 41 năm qua, mình đã khai thác rừng cạn kiệt mà. Giờ phải kiên trì trồng lại, cắn răng mà làm và 100 năm là không nhiều. Nếu không có rừng thì không còn Tây Nguyên đâu.

Chúng ta cần phải cứu Tây Nguyên. Đây là một tấm gương về nông nghiệp sinh thái, phụng dưỡng đất đai. Tôi bảo người Tây Nguyên là những nông dân Mansanobu Fukuoka. Họ làm nông nghiệp giống hệt như người cha đẻ của “Cuộc cách mạng một cọng rơm”, không hóa chất, không thuốc trừ sâu với phương pháp chọc tỉa. Người chồng đi trước, dùng cây gậy chọc xuống đất, người vợ theo sau, tỉa hạt rồi dùng chân lấp đất lại. Họ rất tin đất đủ sức mạnh nuôi cây trồng. Họ không làm lười đất bằng phân bón.

Trước đây, dân số Tây Nguyên không nhiều. Với đất nước, họ là dân tộc thiểu số nhưng trên mảnh đất Tây Nguyên, họ chính là đa số tuyệt đối. Mỗi gia đình có 10-20 rẫy. Mỗi rẫy họ trồng 3-4 năm, đất bạc màu thì chuyển qua rẫy khác. Lúc đầu chúng tôi gọi là luân canh, nhưng luân canh dễ gây hiểu nhầm rằng trồng cây này rồi chuyển sang cây khác. Do vậy, sau, chúng tôi gọi là luân khoảnh. Lưu ý, họ luân khoảnh chứ không du canh du cư như ta từng nghĩ.

Trong tư duy người Tây Nguyên, đất chính là rừng và rừng chính là đất. Đất rẫy là khoảnh đất mà con người ở đây mượn của rừng, làm rẫy, rồi trả lại cho rừng. Rừng mạnh lắm, sẽ lấn lại ngay. Người Kinh thấy rừng là gỗ, còn người dân tộc thấy rừng là Mẹ, là cội nguồn sự sống, là tôn trọng, là phụng dưỡng. Đây cũng chính là bài học tôn trọng tự nhiên và sống khiêm nhường giữa trời đất.

Sau năm 1975, chúng ta thực hiện một cuộc đại di dân và dân số Tây Nguyên tăng gấp 5,5 lần, đến nay người Kinh chiếm 80% dân số tại đây và người dân tộc, từ tuyệt đại đa số, trở thành thiểu số trên chính mảnh đất xưa nay họ sinh sống. Đi kèm với di dân là chính sách quốc hữu hóa đất đai. Người dân tộc mất đất, trước họ có 10-20 rẫy, nay còn một, làm một thời gian, bạc màu, đâu còn đất để luân khoảnh, họ bán rẻ lại cho người Kinh, thậm chí cho không qua một cuộc rượu. Người dân tộc mất đất, bị đẩy sâu vào rừng, rồi sinh ra phá rừng và bắt đầu du canh du cư. Cấu trúc làng xã bị phá vỡ. Rừng bị tàn phá.

Các tộc người Tây Nguyên cũng rất văn minh. Với họ, loạn luân được xem là tội nặng nhất vì làm ô uế tinh thần của làng. Họ đặt tinh thần cao hơn vật chất trong đời sống của họ. Như vậy không văn minh sao?

Họ có một nền văn minh rất đặc biệt mà người Kinh nên tôn trọng, học tập. Ngay từ năm 1937, hai anh em Nguyễn Kinh Chi và Nguyễn Đổng Chi, qua tác phẩm Mọi Kontum đã viết, “Người Bahnar có những điều tốt hơn hơn chúng ta rất nhiều”.

Xin nói qua từ mọi. Lâu nay chúng ta hiểu sai từ mọi và càng sai khi dùng từ mọi rợ theo nghĩa khinh miệt để chỉ các tộc người Tây Nguyên.

Thật ra, từ mọi vốn ban đầu không hề có ý nghĩa xấu. Nó bắt nguồn từ từ tơmoi trong tiếng Bahnar, có nghĩa là khách đến thăm nhà mình; hoặc khách mời từ một làng khác đến; hoặc kẻ thù hoặc người ngoại quốc theo từ điển Bahnar – Pháp của Guilleminet. Những người phương Tây đầu tiên lên Tây Nguyên là các linh mục Thiên chúa giáo. Họ đến được vùng người Bahnar ở Kon Tum, lập xứ đạo Kon Tum, là xứ đạo Thiên chúa giáo đầu tiên tại đây, đến nay vẫn là xứ đạo Thiên chúa lớn nhất và quan trọng nhất ở Tây Nguyên. Bấy giờ những người Bahanr Kon Tum đến gặp các nhà truyền giáo thường xưng là tơmoi, là khách. Các nhà truyền giáo lại hiểu rằng đấy là họ tự giới thiệu tên tộc người của họ. Về sau dần dần tiền tố tơ bị rớt đi, còn lại moi, moi nghiễm nhiên trở thành tên gọi người bản địa. Người Pháp gọi là moi, người Việt gọi là mọi, hoàn toàn là một danh xưng.

Nói tiếp chuyện văn minh. Tôi lấy ví dụ về nghệ thuật. Trong nghệ thuật Tây Nguyên, tượng nhà mồ Tây Nguyên là những tác phẩm đẹp tuyệt vời. Họ làm rồi bỏ hoang và để mưa gió tàn phá.

Tôi từng thấy một bức tượng gỗ tuyệt đẹp. Hỏi dò thì biết một thanh niên kia làm. Trong chờ bữa rượu, tôi hỏi chàng thanh niên đó xem ở nhà còn bức tượng tương tự nào không. Đột nhiên anh ta nổi giận: “Nói tầm bậy”. Và những thanh niên trong xung quanh cũng bày tỏ thái độ như vậy.

Sau, tôi được anh Núp, một người bạn của tôi ở Tây Nguyên giải thích rằng với họ, làm nghệ thuật không phải để ngắm hay để bán mà làm vì có cái gì đó thôi thúc trong lòng, cần làm để bày tỏ lòng ngưỡng mộ với thần linh. Họ thăng hoa trong quá trình làm ra tác phẩm chứ không phải lúc tác phẩm hoàn thành.

Tôi chia sẻ điều này với một người bạn học nghệ thuật ở Frankfurt – Đức và cô rất ngạc nhiên bởi nó giống như quan điểm của nghệ thuật đương đại, tức nghệ thuật là con đường chứ không phải đích đến. Cô bạn lên Tây Nguyên khám phá rồi mời vị giáo sư của mình bên Đức sang. Vị giáo sư sang xong rồi lại dẫn cả lớp của ông ấy sang.

Sau năm 1975, giá như chúng ta dũng cảm giữ Tây Nguyên như một Bhutan thì thật tốt. Chúng ta sẽ có một tấm gương để học cách sống sao cho có hạnh phúc, sống thế nào để khiêm nhường với trời đất.

Emerging Ethnobiologists: Forest of Bhutan I. The biodiversity of the ...

Ngày xưa người nông dân không dám làm điều ác, họ sợ thất đức. Ngày ngay, xã hội không còn khái niệm về thất đức nữa. Người nông dân, những người bình thường nhất, đã không còn sợ cái ác, không còn sợ làm điều ác. Và đây là điều đáng sợ nhất. Con người, ở giữa đất trời, sống vô thần và không biết đến trời đất thì nguy hiểm quá.

Nay tôi đã 84 tuổi, tính tuổi ta thì 85. Những năm cuối đời, tôi sẽ viết để kể với mọi người về một nền văn minh ở Tây Nguyên, rằng chúng ta có một nền văn minh như thế. Tôi sẵn lòng đi chia sẻ để nói tất cả mọi điều về Tây Nguyên. Tôi  mong khơi gợi trong các bạn lòng ham muốn hiểu về Tây Nguyên và tìm được người kế tục để sau cùng có thể cùng chung sức cứu được Tây Nguyên.

Ảnh: NV Nguyên Ngọc và Anh hùng Núp.

 From: Do Tan Hung & KimBang Nguyen


 

Nhiều học sinh giỏi ở Nghệ An, Hà Tĩnh bỏ đại học, đi ‘xuất khẩu lao động’

Báo Nguoi-viet

June 20, 2023

HÀ TĨNH, Việt Nam (NV) – Nhiều năm qua, ở các làng quê Nghệ An, Hà Tĩnh, nhiều học sinh giỏi đỗ vào trường đại học danh tiếng ở Việt Nam nhưng bỏ không học, mà chuyển hướng đi “xuất khẩu lao động” ở xứ người mong đổi đời.

Theo báo VietNamNet hôm 19 Tháng Sáu, nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên là do sau khi tốt nghiệp đại học nhiều em thất nghiệp, công việc trái chuyên môn, thu nhập thấp … đã khiến nhiều gia đình hướng con em mình ra ngoại quốc kiếm tiền.

Nhiều học sinh giỏi ở miền Trung từ chối vào trường đại học trong nước để đi “xuất khẩu lao động” mong đổi đời. (Hình: Người Lao Động)

Do vậy, số lượng học sinh học đại học trong nước giảm, thậm chí có nhiều làng xã, nhiều năm liền không có sinh viên đại học.

Trước đây, nhiều phụ huynh ở Hà Tĩnh vẫn luôn nghĩ rằng, dù vất vả thế nào cũng cho con đi học đại học, bởi đây là niềm tự hào của gia đình, cả dòng họ và đó là “con đường duy nhất để thoát nghèo.”

Tuy nhiên, rất nhiều sinh viên khi ra trường, thậm chí cầm trong tay tấm bằng “đỏ,” vẫn không xin được việc làm, nhiều em chật vật kiếm được việc làm nhưng lại không đúng chuyên ngành. Hoặc nếu có việc nhưng tiền lương không đủ sống.

Ông Lê Hoài Nam, phó hiệu trưởng trường trung học phổ thông Nguyễn Trung Thiên, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, cho biết trước đây, học sinh của trường đậu vào các trường đại học chiếm số lượng lớn. Nhưng hiện nay, nhiều học sinh giỏi, xuất sắc không thi đại học mà đi “xuất khẩu lao động” hoặc vừa học, vừa làm ở ngoại quốc.

“Thực tế, đi ‘xuất khẩu lao động,’ các em có tay nghề và có mức thu nhập cao. Mỗi năm, trường có nhiều học sinh khá, giỏi chọn phương án này thay vì học đại học,” ông Nam thừa nhận.

Nói với báo VietNamNet, nhiều hiệu trưởng trường trung học phổ thông ở Hà Tĩnh cho biết hiện nay, học sinh có định hướng rất thực tế, mục tiêu chỉ học hết lớp Mười Hai, lấy bằng tốt nghiệp tú tài và không thi vào đại học, mà dành thời gian học tiếng Hàn, Nhật… và các kỹ năng nghề phù hợp với bản thân để đi “xuất khẩu lao động.”

Gia đình chị Nguyễn Thị Hoa ở xã Thạch Hải, huyện Thạch Hà, Hà Tỉnh, có năm người con có học lực khá giỏi nhưng không ai chọn lựa đi học đại học. Hiện, ba người con gái đi “xuất khẩu lao động” ở Nhật, còn con trai út 19 tuổi cũng đang học tiếng để đi Nam Hàn.

“Đi học đại học mất thời gian hơn bốn năm và một khoản học phí không nhỏ, nhưng không chắc chắn về cơ hội việc làm. Vì suy nghĩ đó, các con tôi chọn ra nước ngoài làm việc, có cơ hội kiếm được khoản tiền lớn. Khi có kinh tế, các con sẽ tự chủ trong cuộc sống,” chị Hoa nói.

Tương tự, thời điểm năm 2016, chị Nguyễn Thị Thu có con gái là em Nguyễn Thị H. thi đậu hai trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội và Đại Học Ngoại Thương được nhiều người ngưỡng mộ, song em H. từ chối vào đại học, mà xin đi du học nghề ở Nam Hàn.

Chị Nguyễn Thị Hoa có con đều học khá giỏi nhưng không ai theo học đại học ở Việt Nam, mà đi “xuất khẩu lao động.” (Hình: VietNamNet)

Hiện em H. đang học tập, làm việc ở Nam Hàn, có mức thu nhập tốt, hàng tháng, em gửi về 10 triệu đồng ($425) cho cha mẹ.

Chị Thu nói thêm, ở xã cũng có rất nhiều trường hợp như em H., đỗ đại học nhưng theo con đường “xuất khẩu lao động.” Gia đình ai có con đi theo hướng này thì cha mẹ có tiền tỷ gửi ngân hàng, xây được nhà cao tầng, càng khiến học sinh ở các vùng quê này không mặn mà với giảng đường đại học trong nước. (Tr.N)


 

DƯƠNG NHƯ NGUYỆN – NỮ THẨM PHÁN TỪNG ĐOẠT GIẢI VĂN CHƯƠNG MỸ

Lê Vi

Chào đời tại Hội An, Quảng Nam và đến Hoa Kỳ năm 1975, Dương Như Nguyện (Wendy Nicole Dương) tốt nghiệp Cử nhân báo chí tại ĐH Southern Illinois, sau đó là Tiến sĩ Luật của ĐH Houston và LLM của Harvard.

Tuổi 24, cô đã làm tổng giám đốc Vụ Bồi thường rủi ro cho Quận Học chánh Houston, rồi tốt nghiệp luật sư năm 1984. Hành nghề luật được 18 năm thì cô trở thành giáo sư luật thực thụ ở Đại học Denver, là nữ thẩm phán Hoa Kỳ đầu tiên người gốc Việt.

Cô viết văn từ khi còn ở Việt Nam và là người cuối cùng đoạt giải danh dự Cuộc thi Văn chương Phụ nữ toàn quốc Lễ Hai Bà Trưng của VNCH năm 1975, khi ấy cô là nữ sinh 12C Trường Trưng Vương, Sài Gòn.

Hai cuốn sách của cô – “Mimi and Her Miror” (Mimi và tấm gương soi) và “Postcards From Nam” (Bưu thiếp của Nam), đoạt luôn giải nhất và giải nhì của Giải thưởng Sách quốc tế, dạng tiểu thuyết đa văn hóa (multicultural fiction), được tổ chức bởi JPX Media Group của Los Angeles, tiểu bang California, Hoa Kỳ, năm 2012.

Hai tác phẩm được chọn cho giải thưởng này nằm trong bộ ba tiểu thuyết (trilogy) của Dương Như Nguyện (bút hiệu Uyen Nicole Duong cho các tác phẩm tiếng Anh) do AmazonEncore xuất bản. Bộ ba tiểu thuyết này mô tả thảm cảnh cũng như đời sống của người di dân gốc Việt sau năm 1975, trong bối cảnh chiến tranh Việt Nam chấm dứt với sự sụp đổ của Sài Gòn.

Amazon Corporation đã quyết định đem 2 cuốn sách của Dương Như Nguyện vào dự thi giải thưởng này. Việc AmazonEncore tham dự thi xảy ra trong thời gian tác giả đang phục vụ chương trình Fulbright ở nước ngoài qua sự bảo trợ của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, vì thế chính tác giả cũng không biết là tác phẩm của mình đã đoạt giải, cho đến nhiều tháng sau, khi bà đã kết thúc chương trình Fulbright và quay trở lại Mỹ.

Trước đó, cuốn “Con gái của sông Hương” xuất bản năm 2005 đã gây nhiều tiếng vang, là truyện đời của một cung phi, và tiếp nối cuộc đời của bốn thế hệ hậu duệ. Tác giả đã chân chính dùng tên tự “River Hương” cho dòng sông, thay vì ghi thành tên dịch ra tiếng Anh là “Perfume River”.

Như vậy Sông Hương đã hiện diện đúng cung cách, tên tuổi, đầy đủ nhiệm mầu để chuyên chở qua thời gian và không gian thân phận, định mệnh và truyền thống của những con người được chọn lựa đảm nhận cuộc sống trên mảnh đất lân cận, từ những cội nguồn xa xăm. Thân phận người ở đây được trao cho thân nữ làm đại diện nhân cách, vừa nhẹ nhàng thâm sâu, vừa quyết liệt khi phải đương đầu với sinh tử.

Có lẽ người đàn bà gần gũi nhất với cái sống và cái chết, khi sinh đẻ, nuôi dưỡng đàn con, nên bẩm sinh quyết liệt với sinh tồn, với lẽ sống. Hơn một lần trong truyện, người đàn bà đã đảm nhận hiện tượng sinh và tử như một đặc quyền bất khả xâm phạm, bất khả tước đoạt. Tác phẩm này đã được dựng thành phim ảnh.

(st)

Xin giới thiệu một bài văn của Dương Như Nguyện:

EM CHỈ MUỐN YÊU ANH

Em tỉnh giấc sáng nay để thấy tâm hồn mình tràn đầy cái tươi thắm của mùa xuân, cái mát lạnh của đầu thu… Em biết anh đang ở ngoài xa, có lẽ đang đợi chờ em băng lục địa để đến với anh… Nắng buổi sáng ôm lấy căn phòng em bằng tất cả sự rực rỡ và ấm áp và trái tim em gần vỡ tung vì em đang khám phá… Anh đã rót vào đời em tia hạnh phúc này, quá tuyệt diệu, quá bất ngờ như thể sự sống đã sinh nguồn trở lại, biến tất cả trong em thành một thực thể mới.

Nếu ngay giây phút này, em có thể mượn cánh thiên thần, em sẽ bay ngược thời gian, tung cánh vào không gian, để đến thăm anh không hẹn định. Em sẽ rón rén đặt môi dịu dàng trên đôi mắt say ngủ của anh và em sẽ đánh thức để mang anh ra khỏi mộng mơ nào đẹp nhất. Ðể đền bù, em sẽ mang với em mật nào ngọt nhất, trái dâu nào mật nhất, muỗng kekem nào bùi nhất, và những nụ hồng nào đẹp nhất, để bắt đầu một ngày của anh bằng những gì dịu dàng thân ái nhất. Em sẽ mở tung cửa sổ để căn phòng anh tràn ngập những tia nắng sớm nhất đầu ngày, đem đến cho anh an bình và hy vọng. Như một nữ thần Hy Lạp xưa, em sẽ hát bài hát nào hay nhất, múa những điệu vũ nào đẹp nhất, và tưới vào hồn anh khúc nhạc nào thần tiên nhất bằng phím tơ đàn của thời trung cổ. Và rất nhẹ nhàng, em sẽ nép đầu vào ngực anh để lắng nghe buồng tim anh hòa nhịp với em.

Nhưng em không thể mượn cánh thiên thần, nên giờ này em chỉ biết đứng đây lắng nghe tiếng chim buổi sáng, chiêm ngưỡng mặt trời buổi sáng… Và như trong giấc mộng dữ, em nhặt khẽ một sợi tóc vướng cô đơn trên gối. Em đặt sợi tóc của chính mình trong lòng tay, khẽ nhướng chân với ra bên cửa sổ, thở một hơi thật dài để thu lại cái yên tĩnh của một ngày mới. Rồi em thổi bay sợi tóc theo ánh mặt trời, hy vọng sợi tóc con sẽ vượt vạn lý để đến với anh ở một góc đặc biệt của địa cầu – nơi mà chúng ta đã gặp nhau.

Rồi khép mi cầu nguyện sợi tóc của em sẽ nối liền trái tim của chúng ta, sẽ thành lưới kéo hồn anh vào hồn em, sẽ buông trói chân anh và chân em để tự nhiên chúng ta ngừng bước viễn du. Phải chi sợi tóc ấy sẽ biến thành anh của riêng em, trong vòng tay của riêng em, trong vòng tay em hôm nay và ngày mai…

Phải chi sợi tóc ấy sẽ thay cánh thiên thần mang em đến với anh… Phải chi sợi tóc ấy sẽ rót lời em thầm thì vào tai anh… Ðể em nói cho anh biết rằng… em chỉ muốn yêu anh.

D.N.N.

(1998)

Fb Oanh Vy Lý