SỰ THẬT SAU NHỮNG VỤ ĐẠI ÁN

Thánh nhân

Qua những vụ đại án vừa rồi chúng ta thấy điều gì về đội ngũ Đảng viên của Đảng CSVN?

Các vụ đại án đã khởi tố trong khoảng 1-2 năm gần đây có những điểm chung là: Đều có sự chống lưng, giúp sức của các thế lực có chức, có quyền; số lượng tiền tham nhũng và thất thoát cho ngân khố quốc gia cực khủng tính bằng con số hàng nghìn tỷ. Những đối tượng bị bắt hoặc bỏ trốn ra nước ngoài cũng chỉ là nạn nhân và là con “tốt” trong guồng máy tham nhũng và thao túng chính trị, kinh tế; khi họ bị “sờ gáy” cũng là lúc báo hiệu sự thất bại hoặc yếu thế của một phe nhóm chính trị, quyền lực nào đó trong nội bộ chính trị của ta.

Chúng ta đừng tưởng các đại gia hay nữ doanh nhân nào đó trở lên giàu có thành đạt là vì họ giỏi hay có đạo đức. Chính họ mới là những người đại diện cho các thế lực quyền lực tàn phá đất nước và phân hoá giàu nghèo cho đất nước mình. Giàu thì họ hưởng còn thiệt hại thì toàn dân phải chịu. Ví như tập đoàn Vạn Thịnh Phát có thể được gọi là tập đoàn Mafia.

Điều cần nói ở đây là các thế lực chống lưng giúp sức cho các tập đoàn mafia này đều là cán bộ, đảng viên có chức, có quyền. Không có họ chống lưng thì sao các doanh nghiệp dám làm sai, làm liều như vậy? Đến cả những người được mang danh là Kiểm toán hay Thanh tra mà vẫn nhận hối lộ cả triệu đô la để làm ngơ thì còn gì là kỷ cương phép nước? Pháp luật chỉ là công cụ để họ đạt được mục đích cá nhân. Đây là thời kỳ mà tham nhũng phát triển rực rỡ nhất từ xưa đến nay do các đảng viên của Đảng thực hiện.

Vậy nên cụ Tổng của ta có trăm tay, nghìn mắt, có đốt lò thêm hàng trăm nữa cũng chẳng hết được tham nhũng. Vì tham nhũng nó xuất phát từ cách quản lý đất nước độc quyền và độc tài. Cách quản lý độc tài này đã bị các nước văn minh họ vứt vào sọt rác cách đây hàng thế kỷ rồi.

Muốn đất nước thay đổi để phát triển thì trước tiên phải muốn và dám thay đổi tư duy về cách quản lý đất nước. Nếu không chúng ta đừng mong chờ những thế hệ đảng viên của độc đảng sẽ học tập và làm theo HCM để đưa đất nước tiến lên.

Hãy nhìn các nước dân chủ văn minh mà học tập.

Nguyễn Nguyên Quốc.


 

Đọc Kết Luận Điều Tra vụ Vạn Thịnh Phát: Luật pháp có thể… đút túi? (Phần 1)

Ba’o Tieng Dan

Blog VOA

Trân Văn

29-11-2023

18 trong số 25 viên chức đã nhận tiền, quà của SCB trong khi thi hành công vụ, nay có một người được cho là đã phạm tội “nhận hối lộ”, một người “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” và 16 người “lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”.

Theo Điều 354 Bộ Luật hình sự hiện hành (*) thì bất kỳ ai “lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian nhận hoặc sẽ nhận bất kỳ lợi ích nào cho chính bản thân người đó hoặc cho người hoặc tổ chức khác để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ” cũng là “nhận hối lộ”.

Theo Kết luận điều tra (KLĐT) vụ án “xảy ra tại Tập đoàn Vạn Thịnh Phát, Ngân hàng SCB và các đơn vị, tổ chức có liên quan”, có ít nhất 25 viên chức đã nhận tiền, quà của SCB trong khi thi hành công vụ để “làm hoăc không làm” đúng chức trách, dẫn đến thiệt hại như đã biết, song chỉ có 18/25 người là bị can của vụ án.

Nếu chịu khó đối chiếu các tình tiết được nêu trong KLĐT và nhận định của công an Việt Nam hẳn sẽ thấy, cơ quan điều tra (CQĐT) có thể tùy nghi diễn giải và áp dụng pháp luật. Luật pháp chẳng khác gì một loại đồ vật có thể dễ dàng bỏ vào hoặc lấy ra từ trong túi của bộ phận bảo vệ, thực thi pháp luật.

Công an điều tra, xử lý gần 55.000 vụ phạm tội trong 6 tháng đầu năm

***

18 trong số 25 viên chức đã nhận tiền, quà của SCB trong khi thi hành công vụ và nay bị CQĐT đề nghị truy tố, có một người được cho là đã phạm tội “nhận hối lộ” (bà Đỗ Thị Nhàn, Cục trưởng Cục Thanh tra Giám sát Ngân hàng [TTGS NH] 2, thuộc Ngân hàng Nhà nước [NHNN]), một người bị cho là đã phạm tội “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” (ông Nguyễn Văn Du, Quyền Chánh Thanh tra Cơ quan TTGS NH thuộc NHNN) và 16 người bị cho là đã phạm tội “lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” bao gồm: Một Phó Chánh thanh tra, một Thanh tra viên cùng của Cơ quan TTGS NH thuộc NHNN. Hai Cục phó, một Trưởng phòng, hai Phó phòng cùng của Cục TTGS NH 2 thuộc NHNN. Một Phó Giám đốc, ba Phó Chánh Thanh tra, một Phó phòng cùng của Cơ quan TTGS NH ở Chi nhánh TP.HCM của NHNN. Hai Thanh tra viên của Vụ Khiếu nại, tố cáo khối nội chính và kinh tế tổng hợp của Thanh tra Chính phủ (TTCP). Một Phó Chánh thanh tra của Kiểm toán Nhà nước (KTNN). Một Phó ban của Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia (UB GSTC QG). Tuy mô tả, nhận định của CQĐT về hành vi của họ giống hệt nhau nhưng CQĐT lại đề nghị truy tố họ các tội khác nhau.

Phân tích về tội nhận hối lộ

Đây là nhận định của CQĐT về bà Đỗ Thị Nhàn, Cục trưởng Cục TTGS NH NHNN, Trưởng Đoàn Thanh tra SCB trong cả hai đợt ở trang 216 KLĐT: “Đỗ Thị Nhàn với tư cách là Trưởng Đoàn Thanh tra, đã nhận 5,2 triệu USD (tương đương 118.143.400.000 đồng), bao che, bưng bít cho các sai phạm của Trương Mỹ Lan và Ngân hàng SCB; báo cáo các cấp không trung thực, không đầy đủ, sai lệch kết quả thanh tra theo hướng giảm nhẹ sai phạm để tạo điều kiện giúp cho Ngân hàng SCB tiếp tục được tái cơ cấu, dẫn đến NHNN, chính phủ không có đủ thông tin, tài liệu để chỉ đạo xử lý các sai phạm của Ngân hàng SCB, ngăn chặn hành vi phạm tội của Trương Mỹ Lan và đồng phạm xảy ra tại Ngân hàng SCB; các hành vi làm trái công vụ của Đỗ Thị Nhàn, quy định của pháp luật thanh tra là phương thức, thủ đoạn để Nhàn giúp đỡ Lan, tạo điều kiện cho Ngân hàng SCB và thực hiện thành công hành vi nhận hối lộ. Hành vi của Nhàn đã phạm vào tội “Nhận hối lộ”, quy định tại Khoản 4, Điều 354 Bộ Luật hình sự”.

Còn đây là nhận định của CQĐT về ông Nguyễn Văn Hưng, Phó Chánh thanh tra của Cơ quan TTGS NH thuộc NHNN, cấp trên của bà Nhàn và là người trực tiếp chỉ đạo, giám sát công việc thanh tra SCB của bà Nhàn ở trang 216 KLĐT: “Nguyễn Văn Hưng vì vụ lợi, động cơ mục đích cá nhân đã chỉ đạo Đỗ Thị Nhàn, Trưởng đoàn thanh tra; Nguyễn Thị Phụng, Phó Trưởng đoàn và Tổ Tổng hợp (Nguyễn Tuấn Anh, Vũ Khánh Linh) xây dựng dự thảo, chỉnh sửa, hoàn thiện các báo cáo NHNN và chính phủ, nội dung thể hiện không trung thực, không đầy đủ về: Tình hình, thực trạng tài chính yếu kém của Ngân hàng SCB; Che giấu, không báo cáo về vi phạm, sai phạm của Ngân hàng SCB, sai lệch với kết quả thanh tra, tạo điều kiện cho Ngân hàng SCB được tiếp tục thực hiện các phương án tái cơ cấu, dẫn đến NHNN, chính phủ không có đủ thông tin, tài liệu để chỉ đạo xử lý các sai phạm của Ngân hàng SCB, ngăn chặn hành vi phạm tội của Trương Mỹ Lan và đồng phạm xảy ra tại Ngân hàng SCB”.

Theo KLĐT: “Trong quá trình thực hiện chức năng nhiệm vụ của Người ra Quyết định Thanh tra và Phó Chánh thanh tra phụ trách Cơ quan TTGS NH, Nguyễn Văn Hưng khai đã nhiều lần nhận tổng số tiền 139.000 USD (quy đổi theo tỷ giá trung tâm các lần nhận tiền, tương đương 8.730.540.000 đồng)… đã phạm vào tội ‘lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ’ quy định tại Khoản 3 Điều 356 Bộ Luật Hình sự năm 2015 với vai trò là người chỉ đạo”.

Vạn Thịnh Phát

Rõ ràng hành vi phạm tội của bà Nhàn và ông Hưng chẳng khác gì nhau. Nếu đọc lại các dòng đã được tô đậm, tự nhiên sẽ thấy, khi soạn thảo KLĐT, CQĐT còn… sao chép nhận định về hậu quả bà Nhàn gây ra để đánh giá về tính chất, mức độ phạm tội của ông Hưng, chưa kể, ông Hưng mới là người chỉ đạo, ông không yêu cầu, không tán thành, bà Nhàn không thể “đổi đen thành trắng”. Thế thì tại sao chỉ có bà Nhàn bị xem là “nhận hối lộ” hình phạt nằm trong khung từ “20 năm, tù chung thân hoặc tử hình”, còn ông Hưng chỉ bị xem là “lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ”, hình phạt chỉ nằm trong khung từ “10 năm đến 15 năm”?

Trong KLĐT về vụ án “xảy ra tại Tập đoàn Vạn Thịnh Phát, Ngân hàng SCB và các đơn vị, tổ chức có liên quan” có rất nhiều trường hợp như vừa đề cập: Hành vi phạm tội được CQĐT mô tả, nhận định giống nhau nhưng khi xác định tội danh lại rất khác và… hình phạt khác hoàn toàn. Xin tham khảo thêm các trường hợp liên quan đến một số viên chức ở Chi nhánh TP.HCM của NHNN…

Tại trang 242 và 243 KLĐT, CQĐT nhận định như thế này về hành vi phạm tội của các ông Nguyễn Văn Dũng (Phó Giám đốc Chi nhánh TP.HCM của NHNN), Võ Văn Thuần (Phó Chánh Thanh tra phụ trách TTGS NH Chi nhánh TP.HCM của NHNN), Phan Tấn Trung (Phó Chánh Thanh tra phụ trách TTGS NH Chi nhánh TP.HCM của NHNN), Nguyễn Tín (Phó phòng Thanh tra hành chính, Giải quyết khiếu nại, tố cáo và Phòng chống tham nhũng, Cục TTGS NH TP.HCM thuộc Cơ quan TTGS NH NHNN) và bà Nguyễn Thị Phi Loan (Phó Chánh Thanh tra phụ trách TTGS NH Chi nhánh TP.HCM của NHNN): “Nguyễn Văn Dũng, Võ Văn Thuần, Phan Tấn Trung, Nguyễn Thị Phi Loan, Nguyễn Tín với vai trò là lãnh đạo Cục 2, NHNN Chi nhánh TP.HCM, TTGS NH Chi nhánh TP.HCM và Tổ trưởng Tổ Giam sát đã có các hành vi: Ngăn chặn, cản trở việc báo cáo hoặc báo cáo không trung thực các hành vi sai phạm và thực trạng tài chính rất xấu của Ngân hàng SCB lên NHNN và Cơ quan TTGS NH; Không kiến nghị NHNN đưa SCB vào diện kiểm soát toàn diện; Không kiến nghị Cơ quan TTGS NHNN; Không kiến nghị Cơ quan TTGS NHNN thanh tra pháp nhân SCB để kịp thời xử lý các sai phạm; Thu hẹp phạm vi thanh tra không đúng với đề xuất của Tổ giám sát, cố ý làm trái với ý kiến chỉ đạo của NHNN và Cơ quan TTGS NHNN. Đồng thời quá trình thực hiện, chỉ đạo công tác thanh tra, giám sát đối với Ngân hàng SCB, các cá nhân nêu trên đã nhận của Ngân hàng SCB từ 470 triệu đến 1,8 tỷ đồng”.

Đáng nói là, dù cho rằng: “Hậu quả của các hành vi sai phạm và nhận tiền của các cá nhân tại Cục 2, NHNN Chi nhánh TP.HCM và Tổ giám sát đã để cho nhóm Trương Mỹ Lan và SCB thực hiện hoạt động cho vay lũy tiến từng năm để Trương Mỹ Lan rút tiền sử dụng cá nhân/trả nợ cho các khoản vay trước đó nhằm che giấu thực trạng hoạt động tín dụng xấu của SCB, thiệt hại đến nay với số tiền đặc biệt lớn (dư nợ của các tổ chức, cá nhân thuộc nhóm Trương Mỹ Lan tính đến ngày 17/10/2022 là 677.286 tỉ đồng)” nhưng CQĐT chỉ xác định ông Dũng, ông Thuần, ông Trung, bà Loan, ông Tín phạm tội ‘lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ’ với hình phạt chỉ nằm trong khung từ “10 năm đến 15 năm”!

Ở Cộng hòa XHCN Việt Nam, không dễ để bị xem là… “nhận hối lộ” có thể vì hình phạt dành cho hành vi “nhận hối lộ” nặng tới mức các hệ thống không đành xuống tay với “đồng đội, đồng chí”, song cũng có thể vì công an… cũng thế – cũng như các viên chức mà họ điều tra! KLĐT không chỉ có những chuyện vừa kể…

(Còn tiếp)

Chú thích

(*) https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Trach-nhiem-hinh-su/Bo-luat-hinh-su-2015-296661.aspx


 

Kissinger và sự ảnh hưởng tới Việt Nam

Ba’o Tieng Dan

Dương Quốc Chính

30-11-2023

Kissinger là kiến trúc sư chính cho việc thiết lập bang giao Hoa Kỳ và Trung Quốc. Chính vì sự kiện ngoại giao này, nên ông được coi là nhà ngoại giao có sức ảnh hưởng lớn đến thế giới, do hệ quả của mối bang giao nói trên. Hệ quả chấn động nhất là Mỹ và Trung Quốc liên thủ để chống lại Liên Xô. Là một trong những tác nhân dẫn tới sự sụp đổ của Liên Xô và hệ thống XHCN.

Ảnh hưởng tiếp theo là tới Đài Loan và Việt Nam. Do Đài Loan bị Mỹ gạt ra, thế chỗ bởi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ở Liên Hiệp quốc, cũng dẫn tới thế chênh vênh của Đài Loan trước mối đe dọa TQ, biến quốc đảo này trở thành một quốc gia không chính thức.

Đối với Việt Nam, thì mối quan hệ hữu hảo Mỹ – Trung là nền tảng dẫn tới hòa đàm Paris được ký kết. Hòa đàm Paris thậm chí còn bắt đầu trước khi Kissinger đàm phán với TQ, nhưng không đi đến đâu. Chỉ sau khi Mỹ đã có mối quan hệ ngoại giao với TQ thì họ mới an tâm loại bỏ con đê chống CNCS lan tràn, là Việt Nam cộng hòa.

Mỹ yên tâm là làn sóng CS sẽ chỉ dừng lại ở Việt Nam, từ đó Nixon quyết định rút quân Mỹ khỏi VNCH. Vì lý do chính khiến Mỹ can thiệp vào VNCH là do học thuyết Domino, Mỹ lo ngại làn sóng đỏ từ TQ sẽ lan khắp Đông Nam Á, VNCH được gánh trách nhiệm là tiền đồn chống Cộng, giống Hàn Quốc và Tây Đức.

Kissinger cũng là đồng tác giả của Hiệp định Paris, ông có nhiều cuộc hội đàm bí mật với Lê Đức Thọ, từ đó dẫn đến HĐ Paris được ký kết. Hai người đều được trao giải Nobel Hòa Bình (nhưng Lê Đức Thọ đã từ chối nhận), vì có công cứu vãn hòa bình ở Việt Nam. Nhưng hòa bình chỉ thực sự diễn ra sau 2 năm, do Bắc Việt chiến thắng VNCH, chứ không phải do sự ngưng chiến theo HĐ Paris.

Ảnh chụp bìa sách “Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ – Kissinger tại Paris, của NXB Chính trị Quốc gia

Hiệp định Paris được cho là đã để cho VNDCCH được nhiều lợi thế để chiến thắng và chỉ nhằm mục đích để Mỹ được có hòa bình trong danh dự và ít đếm xỉa tới quyền lợi cũng như sự rủi ro của VNCH. Vì thế mà Tổng thống Thiệu đã từ chối ký HĐ cho đến khi Mỹ phải dùng B52 rải thảm Bắc Việt để lấy niềm tin là sẽ không bỏ rơi đồng minh.

Đó là vì, tuy Mỹ rút quân khỏi miền Nam Việt Nam nhưng VNDCCH lại không cần rút, chỉ đóng tại chỗ kiểu da beo. Từ đó họ có thể dễ dàng chiến thắng VNCH, do không còn sự hỗ trợ của Mỹ, trong khi Bắc Việt vẫn được Trung Quốc và Liên Xô viện trợ.

Vào nhiệm kỳ của Nixon, Mỹ rơi vào khủng hoảng kinh tế và họ đã chọn việc hỗ trợ Israel đương đầu với các nước Arab, thay vì hỗ trợ VNCH chống Cộng sản. Nhiều người cho rằng, cũng nhờ bàn tay của Kissinger, một người Do Thái.

Kissinger cũng [được] coi như là người Mỹ có công lao lớn nhất khiến TQ có thể trỗi dậy như ngày nay. Thực ra công Kissinger dẹp Liên Xô không lớn vì Liên Xô tự chết là lý do chính, chứ không phải nhờ vai trò của TQ. Còn TQ trỗi dậy được thì đúng là nhờ Mỹ chơi cùng. Chứ nếu mà Mỹ cứ chặn không cho vào LHQ, vẫn o bế cho Đài Loan thì TQ còn dặt dẹo chán. Vì xét cho cùng thì TQ đi lên được là nhờ học theo Mỹ, làm gia công cho Mỹ, sử dụng các phát minh nền tảng của Mỹ.

Vì vậy, có thể thấy rằng Kissinger là một nguyên nhân cơ bản dẫn tới việc Mỹ bỏ rơi VNCH, dẫn tới sự sụp đổ, khiến nhiều người Việt cho rằng ông ta là kẻ tội đồ.


 

Bộ trưởng nói Đài Loan tiếp tục chuyển đầu tư ra khỏi Trung Quốc

Theo Báo Nikkei Á Châu

TAIPEI – Các công ty Đài Loan đầu tư nhiều vào Đông Nam Á và Nam Á hơn Trung Quốc lần đầu tiên vào năm 2022, một bộ trưởng nội các nói với Nikkei Asia, khi Bắc Kinh phô trương sức mạnh kinh tế của mình để gây áp lực với cử tri trước cuộc bầu cử tổng thống Đài Loan.

Bộ trưởng Bộ Kinh tế Đài Loan Wang Mei-hua cho biết trong một cuộc phỏng vấn độc quyền hôm thứ Ba: “Đây là lần đầu tiên vào năm 2022, khoản đầu tư của Đài Loan vào Đông Nam Á và Nam Á thực sự vượt qua Trung Quốc”. “Chúng tôi nghĩ xu hướng này sẽ chỉ tiếp tục do sức ép từ căng thẳng thương mại Mỹ-Trung.”

Bà gọi đây là một cột mốc quan trọng trong nỗ lực của Tổng thống Thái Anh Văn nhằm xoay trục sang khu vực và tránh xa Trung Quốc theo Chính sách hướng Nam mới được đưa ra vào năm 2016. Đầu tư của Đài Loan vào các quốc gia Đông Nam Á và Nam Á, bao gồm cả Ấn Độ, đạt 5,2 tỷ USD vào năm 2022, vượt qua con số 5 tỷ USD đổ vào Trung Quốc trong cùng thời kỳ, Wang nói.

Bắc Kinh đang điều tra Đài Loan vì bị cáo buộc dựng lên các rào cản thương mại và nói rằng cuộc điều tra của họ sẽ hoàn tất một ngày trước cuộc bầu cử tổng thống vào ngày 13/1, một động thái mà ông Vương cho rằng “rất có động cơ chính trị”.

Trung Quốc chưa bao giờ cai trị Đài Loan nhưng coi hòn đảo 23,5 triệu dân này là lãnh thổ của mình và không loại trừ khả năng sử dụng vũ lực để chiếm giữ. Bắc Kinh đã nhiều lần tố cáo chính quyền bà Thái và ứng cử viên tổng thống Lai Ching-te của Đảng Dân chủ Tiến bộ (DPP) cầm quyền vì bảo vệ chủ quyền của Đài Loan.

“Trên thực tế, trong mọi cuộc bầu cử tổng thống, Trung Quốc đều sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để tìm cách gây ảnh hưởng đến cuộc bầu cử ở Đài Loan”, ông Wang nói, đề cập đến việc Bắc Kinh sử dụng các hạn chế thương mại để ép buộc cử tri chọn ứng cử viên ưa thích của họ. Bà chỉ ra việc Tổng thống Mỹ Joe Biden đã cảnh báo Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình không can thiệp vào cuộc bầu cử ở Đài Loan.

Bộ trưởng cảnh báo: “Chúng tôi thấy trước các phương tiện gây áp lực kinh tế từ Trung Quốc sẽ chỉ tăng chứ không giảm”.

Chính phủ Trung Quốc hồi tháng 8 cáo buộc Đài Loan vi phạm Thỏa thuận khung hợp tác kinh tế song phương (ECFA) bằng cách áp đặt các hạn chế đối với các sản phẩm của Trung Quốc. Bắc Kinh đe dọa chấm dứt thuế quan ưu đãi đối với hàng hóa Đài Loan đã được thỏa thuận theo ECFA, trong một cảnh báo ngầm gửi tới cử tri Đài Loan.

Một số người, bao gồm cả các đảng đối lập của Đài Loan, lo lắng rằng cuộc điều tra có thể dẫn đến việc chấm dứt hoặc chấm dứt một phần ECFA, nhưng ông Wang cho biết tác động của động thái đó sẽ tương đối nhỏ.

Wang đã dành sự nghiệp của mình trong ngành công vụ sau khi được đào tạo thành luật sư. (Ảnh của Lai Yung-hsiang)

 

Wang cho biết: “Khối lượng thương mại giữa Đài Loan và Trung Quốc thực sự rất lớn. Năm 2022, khối lượng xuất khẩu của chúng tôi sang Trung Quốc là 185,7 tỷ USD, nhưng lượng sản phẩm ECFA thực tế là 20,6 tỷ USD”. “Nếu ECFA bị chấm dứt, tác động thực sự sẽ tương đối nhỏ xét về tổng khối lượng xuất khẩu của chúng tôi sang Trung Quốc, nhưng nó sẽ ảnh hưởng đến nhiều ngành công nghiệp truyền thống hơn”.

Ngoài các mối đe dọa của ECFA, gần đây Bắc Kinh đã thắt chặt hơn nữa bằng cách cấm thêm nhiều sản phẩm nông nghiệp của Đài Loan và tiến hành các cuộc điều tra vào các nhà máy của Foxconn Technology sau khi người sáng lập Terry Gou tuyên bố tranh cử tổng thống với tư cách là một ứng cử viên độc lập.

Động thái của Bắc Kinh nhằm tăng cường giám sát Gou, mặc dù ông muốn có mối quan hệ chặt chẽ hơn với Trung Quốc, và các chiến thuật gây áp lực của họ làm suy yếu lời kêu gọi của các ứng cử viên tổng thống đối lập Hou Yu-ih của Quốc dân đảng và Ko Wen-je của Đảng Nhân dân Đài Loan về quan hệ kinh tế thân thiện hơn với Trung Quốc . Gou đã rút khỏi cuộc đua vào thứ Sáu tuần trước, điều này có thể giúp củng cố phiếu bầu cho phe đối lập.

Người phát ngôn của DPP Cho Kuan-ting cho biết cuộc điều tra thương mại là cách Trung Quốc nhắm vào bà Vương, nữ thành viên nội các cấp cao nhất trong chính phủ của bà Thái và được cho là bộ trưởng quan trọng nhất ngoài quốc phòng và an ninh quốc gia. Công việc của cô liên quan đến việc giám sát các lĩnh vực quan trọng như an ninh kinh tế và năng lượng, cũng như thương mại, công nghiệp, đầu tư nước ngoài và quan trọng nhất là lĩnh vực bán dẫn quan trọng của Đài Loan…

Taiwan planning US$2b relief fund for businesses affected by COVID-19 ...

Đầu tư ngày càng tăng của Đài Loan vào Đông Nam và Nam Á là di sản mà chính quyền đương nhiệm tự hào. “Chúng tôi chưa nói về việc ‘giảm rủi ro’ vào thời điểm đó [năm 2016], nhưng nguyên tắc là như nhau: Đừng bỏ tất cả trứng vào cùng một giỏ,” Wang nói, đề cập đến Chính sách hướng Nam mới.

Các nhà cung cấp công nghệ quan trọng của Đài Loan đã đẩy nhanh động thái đa dạng hóa khỏi Trung Quốc sau khi cuộc chiến thương mại giữa Washington và Bắc Kinh leo thang vào năm 2018. Trong thời gian này, nhiều khách hàng Mỹ đã yêu cầu các nhà cung cấp của họ xây dựng năng lực tại Đài Loan và các quốc gia Đông Nam Á như Việt Nam, Thái Lan và Ấn Độ. trước tình hình bất ổn địa chính trị.

Wang cho biết, xu hướng này càng trở nên rõ ràng hơn trong năm nay, đồng thời chỉ ra rằng khoản đầu tư vào Đông Nam Á và Ấn Độ của các công ty Đài Loan đạt 4,3 tỷ USD trong 9 tháng đầu năm 2023, so với chỉ 1,26 tỷ USD của Trung Quốc trong cùng kỳ.

“Sau chiến tranh thương mại Mỹ-Trung, các cuộc thảo luận về các sản phẩm điện tử liên quan đến an ninh mạng, từ máy chủ đến sản phẩm mạng, đã xuất hiện”, ông Wang nói và cho biết thêm rằng yêu cầu của khách hàng Mỹ và châu Âu rời khỏi Trung Quốc sẽ chỉ làm giảm thêm lợi ích của Đài Loan. dấu chân sản xuất ở đó.

Ông Wang cho biết, Đài Bắc đã tuân thủ chặt chẽ các quy định và kiểm soát xuất khẩu của Hoa Kỳ, và cái gọi là Danh sách thực thể của Washington – về cơ bản là danh sách đen thương mại của nước này – đóng vai trò là khuôn mẫu cho chuỗi cung ứng công nghệ của Đài Loan, đặc biệt là lĩnh vực bán dẫn.

“Chúng tôi nghiên cứu rất chặt chẽ các quy định kiểm soát xuất khẩu của Mỹ, vì các công ty của chúng tôi sử dụng nhiều công nghệ có nguồn gốc từ Mỹ”, ông Wang nói và cho biết thêm rằng chính phủ Mỹ cũng cử các chuyên gia kiểm soát xuất khẩu của họ tới Đài Loan để giải thích chi tiết về các quy tắc đó.

Nvidia unveils more AI products after $184 billion rally | Mint

Chính phủ Mỹ tháng trước đã thắt chặt hơn nữa các biện pháp kiểm soát xuất khẩu, hạn chế bán chip trí tuệ nhân tạo của tập đoàn chip Nvidia của Mỹ sang Trung Quốc, cũng như hạn chế xuất khẩu thêm thiết bị sản xuất chất bán dẫn sang các nước bao gồm Trung Quốc, Việt Nam và Trung Đông nhưng ngoại trừ Israel. Thiết bị sản xuất chip rất quan trọng để các công ty nâng cao năng lực sản xuất chip của mình.

Đài Loan sẽ sớm làm theo những động thái đó. Trong năm nay, chính phủ sẽ ban hành danh sách các công nghệ quan trọng cần được bảo vệ, Giám đốc Hội đồng An ninh Quốc gia Wellington Koo nói với Nikkei Asia gần đây.


 

Người Mỹ gốc Việt ‘không tiếc thương gì’ Henry Kissinger (vừa qua đời)

Theo VOA Tiếng Việt

Những người Việt ở Mỹ thuộc chính thể Việt Nam Cộng hòa trước đây bày tỏ thái độ bàng quan trước sự ra đi của cựu Ngoại trưởng Henry Kissinger và lên án ông đã gây ra sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam vào tay của quân cộng sản Bắc Việt, theo tìm hiểu của VOA.

Tiến sỹ Kissinger là một trong những ngoại trưởng nổi bật nhất trong lịch sử nước Mỹ, từng phục dưới hai chính quyền Richard M. Nixon và Gerald Ford, và cũng từng là Cố vấn an ninh quốc gia. Ông là người có ảnh hưởng trên chính trường Mỹ và định hình chính sách ngoại giao của Mỹ trong nhiều thập kỷ, kể cả từ sau khi ông rời chức vụ.

Ông đã qua đời tại nhà riêng ở bang Connecticut hôm 29/11 khi tròn 100 tuổi, Kissinger Associates, công ty tư vấn do ông sáng lập, loan báo nhưng không cho biết nguyên nhân.

Một trong những di sản đáng nhớ nhất của ông là Hiệp định Paris được ông ký kết với ông Lê Đức Thọ, cố vấn đặc biệt của phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, hồi đầu năm 1973, để chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Nhờ Hiệp định này mà ông cùng ông Thọ đã được trao giải Nobel Hòa bình nhưng ông Thọ không nhận.

Henry Kissinger bắt tay với Lê Đức Thọ sau khi ký kết Hiệp định Paris vào năm 1973

Vấy máu miền Nam?

Trong khi sự ra đi của ông Kissinger, nhân vật lịch sử có nhiều duyên nợ với Việt Nam, đã gây sự tiếc thương rộng rãi trong chính giới và dân chúng Mỹ thì trong cộng đồng người Việt ở Mỹ, phần đông có gốc gác Việt Nam Cộng hòa, phản ứng lại rất khác biệt.

Từ miền Nam bang California, nhà văn Phan Nhật Nam, từng là đại úy Binh chủng nhảy dù trước năm 1975, nói với VOA ông đang bận tâm về sự ra đi của nhà văn Nguyễn Đình Toàn và Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ vốn là những người có giao tình với ông hơn là cái chết của ông Henry Kissinger.

“Ông ta đã 100 tuổi thì chết là đương nhiên,” ông Nam nói. “Tôi không buồn, cũng không thương tiếc. Tôi đang viết bài tưởng nhớ ông bạn tôi là nhà văn Nguyễn Đình Toàn.”

Khi được hỏi nhận định về ông Kissinger, nhà văn này cho biết hồi năm 1973 sau khi Hiệp định Paris được ký kết, ông đã từng viết trong cuốn sách có tựa đề ‘Tù binh và Hòa bình’ như sau: “Tôi bảo rằng ông ta cũng như Lê Đức Thọ là những người hân hoan trên bàn tiệc máu Việt Nam với giải Nobel hòa bình.”

Theo lập luận của ông thì cố Ngoại trưởng Kissinger ‘có trách nhiệm rất lớn trong việc để miền Nam sụp đổ’ vì Hiệp định Paris được ký kết xong thì hai năm sau ‘cộng sản cưỡng chiếm miền Nam bằng vũ lực vào ngày 30/4.

“Thành quả lớn của hiệp định này là ‘hòa bình’ thì rõ ràng không hề có hòa bình. Thành ra hiệp định này trật lất hết,” ông Nam nói. Ông cho biết ông có quen biết nhiều người trong chính giới Việt Nam Cộng hòa đi đàm phán Hiệp định Paris và bản thân ông là thành viên trong ban liên hiệp quân sự thi hành Hiệp định nên phải tuân thủ mệnh lệnh của cấp trên.

Tuy nhiên, ông cho rằng với tư cách là một học giả, trí thức, nhà nghiên cứu thì ông Kissinger ‘không thể nào dốt nát hay dại dột’ khi ký hiệp định đó được. Theo lập luận của ông Nam thì ý định chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam ‘có quá trình kéo dài từ thời Tổng thống Lyndon Johnson cho đến Gerald Ford qua cả hai đảng Dân chủ và Cộng hòa chứ không phải của một mình ông Kissinger’.

“Tôi không chê trách những con người lịch sử. Người ta ở trong giai đoạn đó thì người ta phải làm như thế, đó là ông Kissinger, ông Nixon,” ông nói.

‘Vua đi đêm’

Ông Trung Tạ, kỹ sư làm việc trong ngành Quốc phòng và Không gian Mỹ, nhận định với VOA từ Quận Cam, bang California, rằng ông Kissinger là ‘một nhà ngoại giao tài giỏi nhưng rất là quỷ quyệt’.

Theo lời ông Trung thì ông Kissinger đã vận dụng tài năng ngoại giao của mình vào ‘con đường tà đạo, không đàng hoàng’ và nhắc lại biệt danh của ông là ‘Vua đi đêm’.

“Tôi không có thiện cảm gì với ông Kissinger, cho nên sự ra đi của ông không gây ra thắc mắc gì đối với tôi cả,” ông Trung, vốn là giáo viên dạy học ở Buôn Mê Thuột trước năm 1975, nói.

“Ông ta là tội đồ đối với người Việt Nam Cộng hòa tại vì chính ông với sự đồng thuận của Tổng thống Nixon lúc bấy giờ đã bức tử một chế độ rất là tốt đẹp là chính thể Việt Nam Cộng hòa và đặc biệt chính ông ta đã bức tử một quân đội rất oai hùng, rất can đảm,” ông phân tích.

Khi được hỏi đứng trên quan điểm lợi ích quốc gia của nước Mỹ thì hành động bỏ rơi Việt Nam Cộng hòa để lôi kéo Trung Quốc có nên được thông cảm hay không, ông Trung nói rằng chính sách đó của ông Kissinger ‘chưa chắc gây ra sự phân hóa giữa Liên Xô và Trung Quốc’.

Thời gian ‘đã chứng tỏ đường lối của ông Kissinger là sai lầm’, ông Trung nói, vì sau khi chiến tranh Việt Nam xong xuôi, mối liên hệ giữa Liên Xô và Trung Quốc ‘vẫn rất là gắn bó’.

Về việc ông Kissinger sau khi về hưu vẫn các được đời tổng thống Mỹ về sau tham vấn về chính sách đối ngoại, ông Trung cho rằng ‘tình hình thế giới biến đổi nhiều so với thời Kissinger còn làm ngoại trưởng nên có thể sự suy xét của ông không còn đúng nữa’ và có thể các tổng thống ‘vẫn lắng nghe Kissinger nhưng sẽ quyết định theo ý kiến của những nhân sự trong chính quyền của họ’.

Ông dẫn ra một phát biểu của ông Kissinger hồi tháng 5 năm ngoái rằng Ukraine nên chấp nhận nhượng một phần lãnh thổ cho Nga để có hòa bình và cho rằng đó là ‘phát ngôn rất bậy bạ’ vì nó ‘xâm phạm chủ quyền của một quốc gia’.

Kissinger tells Ukrainians to get real | The Seattle Times

“Đáng lẽ ông ấy phải nói là vấn đề chủ quyền phải để cho người dân Ukraine và chính quyền Ukraine quyết định.”

Người kỹ sư này bày tỏ hy vọng sự ra đi của ông Kissinger sẽ ‘làm vơi bớt sự tức giận đối với ông trong lòng những người Việt Nam Cộng hòa’.

“Đó là điều tốt. Đối với những người dân Việt Nam Cộng hòa là mình bỏ đi được vết thương lòng vì người Việt Nam có câu nói nghĩa tử là nghĩa tận,” ông nói.

‘Hãy để lịch sử phán xét’

Khác với ông Nam và ông Trung, ông Từ Đức Tháo, chủ tịch cộng đồng người Việt ở bang Oregon, nói với VOA từ Portland rằng ‘ông sẵn sàng gửi lời chia buồn đến với gia đình ông Kissinger’.

“Ông ấy đã chết thì mình cũng nên chia buồn, nhưng hãy để lịch sử phán xét công tội của ông ấy,” ông Tháo, vốn còn nhỏ tuổi khi ông Kissinger làm Ngoại trưởng và có cha là đại úy thuộc Sư đoàn 23 Bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, nói.

“Đối với tôi thì cũng không có gì phải căm thù ông ta cả. Chẳng qua ông ta chỉ thực hiện nhiệm vụ mà nước Mỹ giao phó cho ông ta.”

Theo nhận định của ông Tháo thì chính sách lôi kéo Trung Quốc của Henry Kissinger ‘về mặt kinh tế thì làm lợi cho nước Mỹ’ vì sau khi hai nước thiết lập bang giao, Mỹ có thể tiếp cận thị trường khổng lồ cũng như nguồn nhân công rẻ của Trung Quốc.

“Nhưng chủ thuyết cho rằng thay đổi kinh tế sẽ dẫn đến thay đổi về chính trị là hoàn toàn sai lầm, vì từ ngày Mao Trạch Đông gặp Nixon đến nay đã là 51 năm rồi mà chế độ cộng sản Trung Quốc có suy suyển gì đâu?” ông lập luận.

Ông nhắc lại lúc ba ông còn sống, ông ‘không có lời nào ca ngợi Kissinger cả’. “Ba tôi nói rằng Hiệp định Paris mà Kissinger là một trong các tác giả đã dẫn đến sự thất bại của miền Nam vào ngày 30/4,” ông cho biết.

Ông nói hiệp định đó mang tiếng là ‘hòa bình’ nhưng ‘thực tế là giấy thông hành cho Bắc Việt đưa thêm quân vào miền Nam’.

“Việt Nam Cộng hòa bị cắt viện trợ còn súng đạn đâu nữa mà đánh, trong khi đó khối cộng sản vẫn viện trợ cho Bắc Việt đến cùng.”

Theo lời ông thì hiệp định đó đã đem lại hậu quả tai hại cho miền Nam là ‘hàng trăm ngàn người bị đưa vào các trại cải tạo và biết bao nhiêu người đã chết trên biển khi tìm cách đi vượt biên’.

“Những người Việt thuộc về phía quốc gia họ không bao giờ trân trọng những gì ông Kissinger đã làm trong thời gian ông ta làm việc cho Chính phủ Mỹ,” ông Tháo nói.

Theo giải thích của ông Tháo thì chính sách của Kissinger là ‘thực dụng’ vì nó nghĩ đến lợi ích nước Mỹ trên hết nên đã ‘bỏ rơi một nước đồng minh nhỏ bé như Việt Nam Cộng hòa để bắt tay với một đất nước khổng lồ đem lại lợi ích cho Mỹ nhiều hơn’ trong khi Mỹ đã đổ xương máu ở Việt Nam quá nhiều mà không được gì.


 

Để con ‘thua ở vạch xuất phát’, người Đức sở hữu một nửa giải Nobel thế giới

Quỳnh Chi

Cha mẹ ngày nay rất coi trọng việc giáo dục con cái. Một số người đã dạy con học thơ, viết chữ, toán, ca hát và khiêu vũ… ngay từ khi con còn đang học mẫu giáo. Ở Đức, việc các bậc phụ huynh ép trẻ em học hành khi chúng chưa đến tuổi đi học bị cấm. (Ảnh: Shutterstock)
Posted by GLN

82 triệu người Đức đã giành được một nửa giải Nobel, còn hơn 6 tỷ người còn lại trên Trái đất chỉ đạt được một nửa còn lại. Rốt cuộc họ làm sao bồi dưỡng được nhiều nhân tài xuất sắc như vậy?

Cha mẹ ngày nay rất coi trọng việc giáo dục con cái. Một số người đã dạy con học thơ, viết chữ, toán, ca hát và khiêu vũ… ngay từ khi con còn đang học mẫu giáo. Tóm lại, trẻ học càng nhiều, cha mẹ càng vui… Đặc biệt, một số cha mẹ sẽ so sánh con cái họ với nhau, rằng con của họ đã viết được bao nhiêu chữ, thuộc bao nhiêu bài thơ…

Nhưng người Đức thì không làm vậy. Họ dám để con “thua ở vạch xuất phát”.

Ở Đức, việc các bậc phụ huynh ép trẻ em học hành khi chúng chưa đến tuổi đi học bị cấm. Tất nhiên, không phải là người Đức không lo lắng gì đến tương lai của con em mà là họ có những lý giải riêng về việc học đối với những đứa trẻ.

Trẻ em ở Đức đi học mẫu giáo ở khắp mọi nơi

Nhà trẻ ở Đức không giống nhiều quốc gia khác, họ không phân lớp rõ ràng, thông thường đều quản lý chung. Ở Đức, trẻ em không đến trường mẫu giáo để học một số tri thức, ví như đọc thuộc lòng, biết chữ, v.v. mà chúng được “chơi” và học ở khắp mọi nơi.

Mỗi ngày sau khi đến nhà trẻ, các bé sẽ tự chơi, tự kết bạn, tự chọn những thứ đồ chơi mà mình thích. Bởi vì đối với trẻ nhỏ thì “chơi” là nhiệm vụ quan trọng. Đôi khi thầy cô sẽ đưa các em đi tham quan những nơi như: tiệm bánh mì, trại trẻ mồ côi, sở cảnh sát và thậm chí là nhà tang lễ, thầy cô sẽ mời người làm việc ở những nơi này chia sẻ một số thường thức cơ bản cho các bé.

Mỗi ngày sau khi đến nhà trẻ, các bé sẽ tự chơi, tự kết bạn, tự chọn những thứ đồ chơi mà mình thích. Bởi vì đối với trẻ nhỏ thì “chơi” là nhiệm vụ quan trọng. (Ảnh: Shutterstock)

Ví dụ: Cho trẻ đến đồn cảnh sát, học cách báo cảnh sát, cách đối phó với người xấu, v.v. hay đến thư viện, học cách mượn sách và trả sách; học cách trả tiền, đi chợ mua đồ, phân biệt các cửa hàng; học cách đi xe buýt, học nhớ đường về nhà; đi đến công viên và học cách nhận biết hoa cỏ cây cối; vào mùa thu hoạch, đi đến các vùng nông thôn để hái trái cây và nấu ăn cùng các giáo viên…

Hình thức giáo dục mẫu giáo này chính là tự do “chơi” và “sống”.

Nếu hỏi trẻ em mẫu giáo ở Đức đã học được những gì, thì những gì chúng đã học được thể hiện ở ba khía cạnh: Thứ nhất, học ý thức xã hội cơ bản; Thứ hai, rèn luyện kỹ năng thực hành của trẻ; Thứ ba, tôn trọng bản chất của trẻ em, bảo vệ cảm xúc và cải thiện trí tuệ cảm xúc của chúng. Những điều này rất khác so với một số trường mẫu giáo ở các đất nước khác.

Dám để trẻ “thua ở vạch xuất phát” và không khai thác quá mức trí thông minh của trẻ

Nhiều bậc phụ huynh có lẽ sẽ nói rằng, nếu chiếu theo loại hình giáo dục mẫu giáo như ở nước Đức, thì trẻ em chắc chắn sẽ “thua ở vạch xuất phát”. Đúng vậy, nhưng người Đức dám để đứa trẻ “thua ở vạch xuất phát”, nguyên nhân là vì trí thông minh của trẻ không thể bị khai thác quá mức.

Họ cho rằng trẻ em nên lớn lên khỏe mạnh và hạnh phúc, nếu phát triển trí thông minh sớm sẽ biến bộ não của trẻ thành một đĩa lưu trữ, điều này sẽ làm giảm trí tưởng tượng và sáng tạo của trẻ.

Thậm chí, để tôn trọng bản tính vui chơi của trẻ em, luật pháp của họ còn cấm việc ép trẻ em học hành khi chúng chưa đến tuổi đi học; Không làm những điều vi phạm quy tắc tăng trưởng của trẻ em, cho phép trẻ tự do phát huy trí tưởng tượng của mình.

Trẻ em nên lớn lên khỏe mạnh và hạnh phúc, nếu phát triển trí thông minh sớm sẽ biến bộ não của trẻ thành một đĩa lưu trữ, điều này sẽ làm giảm trí tưởng tượng và sáng tạo của trẻ. (Ảnh: Shutterstock)

Người Đức bác bỏ việc học hành trước tuổi, hơn nữa càng chú ý bảo vệ trí tưởng tượng của trẻ

Không có gì ngạc nhiên khi người Đức sở hữu một nửa giải thưởng Nobel thế giới, nguyên do là họ đã bác bỏ việc ép trẻ em học kiến thức trước tuổi, để bảo vệ trí tưởng tượng của trẻ. Còn ở các trường mẫu giáo của đất nước chúng ta, rất nhiều kiến thức lớp 1 gần như đã được hoàn thành trước. Việc này khiến quá nhiều thứ được lưu trữ cố định trong não của trẻ, sẽ ảnh hưởng đến trí tưởng tượng của chúng.

Điều này cũng giống như việc cho trẻ em xem TV. Khi một đứa trẻ đã được xem phim hoạt hình “Bạch Tuyết”, nếu bạn yêu cầu nó vẽ bức tranh về Bạch Tuyết, thì rất có thể đứa trẻ sẽ vẽ hình dáng công chúa Bạch Tuyết như những gì nó đã được xem trên TV. Còn nếu đứa trẻ chưa được xem phim Bạch Tuyết, chúng sẽ biết tưởng tượng hình ảnh công chúa Bạch Tuyết từ những mô tả trong câu chuyện cổ tích mà chúng đã được nghe, và sẽ vẽ Bạch Tuyết theo trí tưởng tượng của riêng mình. Khi này, những bức tranh được vẽ tất nhiên sẽ đa dạng, phong phú, không cố định ở một hình mẫu Bạch Tuyết trên phim hoạt hình ở TV.

Theo người Đức, nếu ép trẻ học hành sớm, kiến thức cơ bản của trẻ có thể sẽ vững chắc, nhưng trí tưởng tượng và khả năng tư duy độc lập của chúng thì đã bị phá hủy.
Các bậc cha mẹ, bạn có nghĩ rằng bạn có thể để con bạn “thua ở vạch xuất phát” không?

Quỳnh Chi biên dịch

From: NGOC PHAN & KimBang Nguyen

 


 

Kissinger: kẻ phản bội dân quân VNCH vừa qua đời

Theo Báo Chí Quốc Tế và đài ABC TV

Henry Kissinger, cựu ngoại trưởng Hoa Kỳ dưới thời chính quyền Nixon và Ford, người được cho là một trong những nhà hoạch định chính sách đối ngoại có ảnh hưởng và gây tranh cãi nhất ở Hoa Kỳ thời hậu chiến, đã qua đời. Anh ấy đã 100 tuổi. Thông tin này đã được công ty tư vấn của Kissinger xác nhận vào tối thứ Tư.

Kissinger Associates, Inc. cho biết trong một tuyên bố hôm thứ Tư,  Kissinger sẽ được an táng tại một buổi lễ gia đình riêng và sẽ có lễ tưởng niệm vào một ngày sau đó tại thành phố New York.

Bức Tử VNCH năm 1975

Dựa theo đoạn văn ghi trên về ” sự ám ảnh với bí mật ngoại giao cá nhân” của ông Kissinger veef“ về hồ sơ năm 1975″, có thể hiểu ” bí mật ngoại giao” này  là  chuyến đi bí mật đến Bắc Kinh vào mùa Hè 1971 của TS Kissinger.

Theo biên bản cuộc họp giữa TS Kissinger và TT Chu Ân Lai, ông Kissinger hứa hẹn Mỹ  sẽ chấm dứt chiến tranh và rút quân khỏi Việt Nam theo như yêu cầu của Thủ tướng (Chu Ân Lai) – ” I can assure you that we want to end the war in Vietnam through negotiations, and that we are prepared to set a date for the withdrawal of all our forces from Vietnam and Indochina as you suggested before “ – « Sate.Gov/ Memorandum of Conversation, Beijing, July 9, 1971 »;   Về  “ hồ sơ 1975 “ với kết quả cuộc ” bí mật ngoại giao cá nhânl” đã  dẫn đến VNCH bị bức tử vào năm 1975.

Tướng Westmoreland đến Nam Cali và dành cho đài Radio Little Sài gòn cuộc phỏng vấn về vụ Tết Mậu Thân 1968 – và vụ tiến quân ra Bắc, do MC Việt Dũng phỏng vấn 9/1995, sau đó bài phỏng vấn được loan tải trên báo Hồn Việt (SD-Cali) 10/1995:

Tướng Westmoreland: “Chúng tôi đã biết trước cuộc tổng công kích sẽ xảy ra. Và tôi sẽ thú tội với mọi người khi nghĩ lại, là tôi đáng lý ra đã phải loan báo những tin tức này đến mọi người... Ông Averell rất là cứng rắn khi cho rằng cuộc chiến không được lan rộng ra khỏi lãnh thổ miền Nam và điều này đã trở thành chủ trương của Hoa Kỳ trong suốt thời gian tham gia cuộc chiến tại miền Nam, là chúng ta không được phát triển cuộc chiến ra ngoài phạm vi lãnh thổ này. Chúng tôi đã có những cuộc xâm nhập bí mật vào đường mòn HCM và tấn công những đơn vị Bắc Việt dùng con đường này để tiếp tế cho Miền Nam, nhưng chúng tôi không bao giờ được quyền đế cắt đứt con đường này dù chúng tôi dư sức làm điều đó, vì con đường mòn này là mạch sống của địch quân và việc cắt đứt con đường này  sẽ giảm thiểu các chiến lược của chúng tôi rất nhiều”.

Đài BBC phỏng vấn ông Frank Snepp, trùm tình báo CIA ở Việt Nam và được xác nhận rằng Mỹ bỏ rơi VNCH để lấy Trung Cộng.  Ông Frank Snepp nhận định rằng việc bỏ rơi này khởi đầu với Henry Kissinger, Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống Richard Nixon, và sau đó Gerald Ford.

Frank Snepp: Kissinger đã bỏ rơi VNCH vì lý do chính trị. Tôi đặt tựa cho cuốn sách mình viết là ‘Decent Interval’ (Khoảng cách Coi được). Tựa đó nhắc đến sự kiện năm 1972, khi Kissinger đàm phán hòa bình, dẫn đến việc ngừng bắn, điều duy nhất ông quan tâm là đưa Hoa Kỳ ra khỏi cuộc chiến, thoát khỏi vũng lầy xấu hổ. Kissinger muốn phải có một khoảng thời gian coi được giữa việc rút quân của Hoa Kỳ ra khỏi VN, và chiến thắng tất yếu sẽ đến của Cộng sản, để Hoa Kỳ không bị đổ lỗi cho việc thất trận.

Khi Kissinger gặp Chu Ân Lai năm 1971 để sắp xếp cho chuyến công du bí mật của Nixon đến Trung Quốc, ông nói với Bắc Kinh rằng nếu có ngừng bắn ở Việt Nam, Hoa Kỳ sẽ không tái can thiệp quân sự. Và chỉ cần có một khoảng thời gian hợp lý giữa cuộc ngừng bắn đến lúc Hoa Kỳ rút quân, và sự tiếp tục xâm lược của cộng sản, chúng tôi sẽ không quan tâm nếu đồng minh Bắc Việt của quý vị tấn công Nam VN, miễn là họ không tấn công ngay sau khi chúng tôi rút đi. Đó là khởi đầu của lý thuyết ‘Khoảng cách Coi được’ (Decent Interval) mà ngày nay nhiều người nhận định là sự phản bội VNCH của Hoa Kỳ.

Kissinger đến Paris vào mùa hè năm 1972 để đàm phán với Lê Đức Thọ về những gì sau đó trở thành Hiệp định Hòa bình. Lúc đó Kissinger bàn với Nixon rằng nếu mọi thứ chỉ cần kéo dài đến tháng 10 tới, tức vài tháng nữa, hay nói cách khác, qua cuộc bầu cử tổng thống kế tiếp, thì sẽ không ai thèm quan tâm đến điều gì xảy ra cho VN một năm sau đó, tức 1974. Sẽ không ai còn quan tâm và Mỹ thì đã rút khỏi cuộc chiến từ lâu.

________________________
Kissinger vẫn được trọng vọng ở Mỹ

Kissinger vẫn hoạt động chính trị trong nhiều thập kỷ kể từ khi còn đương chức và đã đảm nhận vai trò đàn anh được kính trọng đối với một số đảng viên Đảng Cộng hòa và Đảng Dân chủ. Ông đã gặp Thống đốc lúc bấy giờ của Alaska. Sarah Palin vào năm 2008 và Mitt Romney được cho là đã nói chuyện qua điện thoại với Kissinger trong chiến dịch tranh cử năm 2012. Kissinger gặp Donald Trump ngay sau khi Trump giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2016 và sau đó hai người gặp nhau tại Nhà Trắng vào năm 2017.

Hillary Clinton, người tranh cử với Trump vào năm 2016, đã gọi Kissinger là “một người bạn” và nói rằng bà “dựa vào lời khuyên của ông ấy” khi giữ chức ngoại trưởng từ năm 2009 đến năm 2013.

FILE - President Donald Trump shakes hands with former Secretary of State Henry Kissinger during their meeting in the Oval Office of the White House in Washington, DC, Oct.10, 2017.

 Tổng thống Donald Trump bắt tay cựu Ngoại trưởng Henry Kissinger trong cuộc gặp tại Phòng Bầu dục của Nhà Trắng ở Washington, DC, ngày 10 tháng 10 năm 2017.© Mandel Ngân/AFP qua Getty Images, FILE

Những năm đầu

Cựu ngoại trưởng tên khai sinh là Heinz Kissinger ở Fuerth, Đức, vào ngày 27 tháng 5 năm 1923. Cha mẹ ông, Louis và Paula Kissinger, đã trốn khỏi Đức Quốc xã và di cư sang Hoa Kỳ vào năm 1938, và chính tại quốc gia mới được ông tiếp nhận, con trai của một giáo viên người Đức gốc Do Thái đã học rất xuất sắc.

Ông đăng ký vào Quân đội Hoa Kỳ năm 1943 và khi đóng quân ở Nam Carolina ở tuổi 20, Kissinger đã nhập tịch Hoa Kỳ. Kissinger đã tham chiến cùng sư đoàn bộ binh 84 và tình nguyện làm nhiệm vụ tình báo trong Trận chiến Bulge.

Kissinger sau này nói về thời gian trong Quân đội, “Đó là một quá trình Mỹ hóa… Đây là lần đầu tiên tôi không đứng về phía người Do Thái ở Đức, tôi đã có được niềm tin vào Quân đội.”

Ông tiếp tục nhận bằng cử nhân khoa học chính trị tại Đại học Harvard vào năm 1951 và bằng Thạc sĩ và Tiến sĩ của trường đại học này trong những năm sau đó.

Năm 1955, Kissinger được Hội đồng Quan hệ Đối ngoại tuyển dụng để đứng đầu một nhóm nghiên cứu xem xét ý nghĩa của lời kêu gọi “trả đũa ồ ạt” của Ngoại trưởng John Foster Dulles như chiến lược Chiến tranh Lạnh của Hoa Kỳ chống lại Liên Xô. Chiến lược đe dọa hủy diệt hạt nhân tại các thành phố của Liên Xô chỉ vì những vi phạm nhỏ, đã bị Kissinger chỉ trích nặng nề trong báo cáo xuất bản dưới tựa đề “Vũ khí hạt nhân và Chính sách đối ngoại” năm 1957, một cuốn sách bán chạy bất ngờ.

A color portrait of Henry A. Kissinger in a dark suit jacket, white shirt and striped tie, his right hand pressed against his chin. A wall map of the world fills the space behind him.

Kissinger sau đó làm cố vấn cho một số cơ quan chính phủ và các viện nghiên cứu, bao gồm Văn phòng Nghiên cứu Hoạt động, Cơ quan Kiểm soát Vũ khí và Giải trừ Quân bị, Bộ Ngoại giao và Tập đoàn RAND, trước khi ông được bổ nhiệm làm cố vấn an ninh quốc gia của Nixon vào tháng 1 năm 1969.

Vai trò quan trọng trong chính sách đối ngoại của Mỹ

Là cố vấn an ninh quốc gia từ 1969 đến 1975 và ngoại trưởng từ 1973 đến 1977 dưới thời Tổng thống Richard Nixon và Gerald Ford, Kissinger đã cung cấp khuôn khổ khái niệm để qua đó những sáng kiến ​​táo bạo như détente (giảm bớt mối quan hệ căng thẳng) với Liên Xô và Chiến lược Các cuộc đàm phán về hạn chế vũ khí (SALT) đã được theo đuổi.

SALT – một loạt các hội nghị song phương và hiệp ước quốc tế giữa Hoa Kỳ và Liên Xô – bắt đầu vào năm 1969 dưới thời Nixon. Hai hiệp ước tương ứng – được hai nước ký kết vào năm 1972 và 1979 – đặt ra giới hạn về số lượng tên lửa đạn đạo tầm xa mà mỗi bên có thể sở hữu và sản xuất.

Kissinger cũng tìm cách mở rộng quan hệ ngoại giao với Trung Quốc. Một trong những thành công lớn nhất của mình là Kissinger đã sắp xếp một chuyến thăm cấp nhà nước giữa Nixon và lãnh đạo Trung Quốc Chu Ân Lai vào năm 1972. Những nỗ lực này đã dẫn đến Thông cáo Thượng Hải, trong đó đưa ra những hướng dẫn về bình thường hóa quan hệ giữa hai nước.

Kissinger cũng là người có công trong việc chấm dứt Chiến tranh Việt Nam. Tuy nhiên, một cách mà ông nhắm đến để giải quyết xung đột là thông qua các vụ đánh bom bí mật vào Campuchia và thủ đô Hà Nội của Việt Nam cũng như một cuộc xâm lược trên bộ vào Campuchia vào năm 1970 trong một nỗ lực rõ ràng nhằm gây áp lực lên các lực lượng Bắc Việt hoạt động giữa hai nước…

Tuy nhiên, sau khi Kissinger và lãnh đạo Bắc Việt Lê Đức Thọ gặp nhau bí mật nhiều lần ở Paris, họ đã đàm phán một hiệp định Paris đình chiến ngắn ngủi. Điều này dẫn đến việc hai nhà lãnh đạo nhận được giải Nobel Hòa bình năm 1973, mặc dù Thọ từ chối giải thưởng.

Theo Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ , hơn hai năm sau, 30 sư đoàn Bắc Việt đã chinh phục miền Nam Việt Nam, chấm dứt xung đột một cách chóng vánh .

…

Theo Isaacson, để làm chứng trước Quốc hội khi các lực lượng cộng sản đang hoàn tất việc tiếp quản Campuchia vào năm 1975, Kissinger thừa nhận rằng Hoa Kỳ đã nhẫn tâm coi thường Campuchia trong khi cố gắng đạt được các mục tiêu của mình ở Việt Nam. Kissinger nói: “Tội lỗi, trách nhiệm của chúng tôi, hay bất cứ điều gì bạn có thể gọi nó đối với người Campuchia là chúng tôi đã tiến hành các hoạt động của mình ở Campuchia chủ yếu để phục vụ các mục đích của chúng tôi liên quan đến Việt Nam và giờ đây họ đã bị bỏ rơi trong một hoàn cảnh rất khó khăn.”

Tuy nhiên, nhiều năm sau Kissinger đã nhận xét với Time rằng: “Nếu không có sự xâm nhập của chúng tôi, những người cộng sản đã chiếm được Campuchia nhiều năm trước đó”.

Di sản đang được xem xét kỹ lưỡng

Về cuối đời, lời kêu gọi Kissinger phải ra làm chứng hoặc chịu trách nhiệm về những quyết định của mình khi còn đương chức ngày càng lớn hơn.

Năm 2001, nhà báo người Anh Christopher Hitchens xuất bản cuốn “Vụ xét xử Henry Kissinger”, trong đó ông lập luận rằng Kissinger đã cho phép các chính trị gia tàn bạo liên minh với Hoa Kỳ giết chết hàng nghìn thường dân vô tội. Đến năm 2002, những giao dịch trong quá khứ của Kissinger ở Mỹ Latinh khi còn đương chức dường như quyết tâm ám ảnh ông, nếu không muốn nói là hủy hoại danh tiếng của ông.

Sau đó đã có lệnh triệu tập Kissinger ở năm quốc gia để tìm kiếm thông tin về vai trò của ông trong Chiến dịch Condor (ở Nam Mỹ), một âm mưu bị cáo buộc giết người, tra tấn và bắt cóc do các nhà độc tài Mỹ Latinh tổ chức vào những năm 1970, kéo dài qua biên giới Chile, Argentina, Paraguay, Brazil. , Bolivia và Uruguay. Với tư cách là cố vấn an ninh quốc gia của Tổng thống Nixon, Kissinger bị nghi ngờ là có đầy đủ kiến ​​thức về hoạt động này.

Cuộc tranh cãi lại bùng lên vào năm 2010 khi một bức điện đề ngày 16 tháng 9 năm 1976 được giải mật và phát hành bởi các cơ quan báo chí. Trong bức điện, Kissinger dường như đã từ chối đưa ra cảnh báo được đề xuất cho chính phủ Uruguay về các hoạt động của Condor và ra lệnh rằng Bộ Ngoại giao “không thực hiện thêm hành động nào về vấn đề này”, theo Los Angeles Times .

FILE - Former Secretary of State Henry Kissinger speaks in the Oval Office of the White House, Oct. 10, 2017, in Washington.

Henry Kissinger trong dịp được mời đến Tòa Bạch Ốc, 10-2017 ảnh của © Evan Vucci/AP, FILE

Nhưng Kissinger cho biết ngay sau khi công bố bức điện rằng ý nghĩa của nó đã bị “bóp méo” và nó chỉ nhằm mục đích phản đối một cách tiếp cận cụ thể đối với chính phủ Uruguay chứ không hủy bỏ kế hoạch đưa ra cảnh báo cho các quốc gia khác bị nghi ngờ tham gia vào mạng lưới Condor. LA Times đưa tin.

Trong một cuộc phỏng vấn với George Stephanopoulos của ABC News vào tháng 7 năm 2022, Kissinger đã bình luận về những tranh cãi xung quanh thời gian ông nắm quyền.

“Nixon và tôi, chúng tôi có xu hướng không ủng hộ việc leo thang. Nhưng chúng tôi cảm thấy rằng nếu phải leo thang, chúng tôi nên leo thang đến mức rất gần với mức mà phía bên kia có thể chấp nhận để tránh rơi vào tình thế khó khăn. một cuộc chiến tranh hạt nhân thông qua một loạt các bước nhỏ. Bước cuối cùng hóa ra là hạt nhân.”

Kissinger, khi được hỏi trong cuộc phỏng vấn về bất kỳ quyết định chính sách quan trọng nào mà ông sẽ rút lại, đã nói: “Tôi chưa đưa ra được câu trả lời tuyệt vời nào cho vấn đề đó. Bởi vì tôi đã suy nghĩ về những vấn đề này suốt cuộc đời mình. Đó là sở thích của tôi… đó là của tôi.” nghề nghiệp. Những khuyến nghị tôi đưa ra là điều tốt nhất mà tôi có thể làm được lúc đó.”

A black-and-white photo of Mr. Kissinger, in profile, seated on a cushioned chair at right while President Nixon, seated next to him, confers with him. Both have opened loose-leaf binders on their laps. A group of men in suits stand behind them. Ông Kissinger với Tổng thống Richard M. Nixon tại New York vào tháng 11 năm 1972 sau khi ông Kissinger trở về sau cuộc đàm phán bí mật ở Paris với nhà đàm phán Bắc Việt Lê Đức Thọ trong Chiến tranh Việt Nam.Tín dụng…Báo chí liên quan

Cuộc sống sau khi rời bỏ vị trí trong chính phủ

Sau khi rời chính phủ vào năm 1977, Kissinger thành lập một công ty tư vấn, Kissinger Associates, và yêu cầu những khoản thù lao lớn với tư cách là một diễn giả. Ông là thành viên của nhiều ủy ban tổng thống khác nhau và tiếp tục viết các chuyên mục báo chí và đưa ra ý kiến ​​​​của mình trên truyền hình. Năm 1994, Kissinger được thuê làm cố vấn cho hội đồng quản trị của cả MGM và Credit Lyonnais.

Ngoài giải Nobel Hòa bình, Kissinger còn là người nhận Huân chương Tự do của Tổng thống năm 1977 và Giải thưởng Woodrow Wilson cho Dịch vụ Công cộng năm 2006. Năm 1995, ông được bổ nhiệm làm Chỉ huy Hiệp sĩ Danh dự theo Huân chương Thánh Michael xuất sắc nhất. và Thánh George của Nữ hoàng Elizabeth II.

Nhìn lại cuộc đời và sự nghiệp của mình, Kissinger nói với Stephanopoulos, “Khi tôi 15 tuổi ở Đức, tôi chưa bao giờ nghĩ rằng một ngày nào đó tôi có thể trở thành ngoại trưởng Hoa Kỳ và có đủ khả năng để làm điều này. Đó là một sự tri ân đáng kinh ngạc đối với nước Mỹ rằng điều này có thể thực hiện được… Tôi là thành viên của một nhóm thiểu số bị phân biệt đối xử, vì vậy điều đó không phù hợp với tư duy nghề nghiệp.”

Anh nói thêm: “Đó là một số phận phi thường – và do đó là nghĩa vụ – phải làm điều tốt nhất mà tôi có thể làm được”. Đến năm 1980, ông nói với tạp chí Time rằng: “Tôi càng rời nhiệm sở lâu, tôi càng thấy mình không thể sai lầm”.

Cựu Ngoại trưởng Mike Pompeo gọi Kissinger là “một hình mẫu phục vụ và một người Mỹ vĩ đại”.

“Ông ấy đã để lại dấu ấn không thể xóa nhòa trong lịch sử nước Mỹ và thế giới”, ông Pompeo viết trong một bài đăng trên X, trước đây là Twitter. “Tôi sẽ luôn biết ơn những lời khuyên và sự giúp đỡ ân cần của ông ấy trong thời gian tôi làm thư ký.”

Kissinger để lại vợ ông, Nancy Maginnes Kissinger, và các con của ông, Elizabeth và David, từ cuộc hôn nhân trước với bà Alfred Kissinger. Tuy nhiên, tại nhiều thời điểm trước cuộc hôn nhân thứ hai, theo người viết tiểu sử của ông, Walter Isaacson, Kissinger đã hẹn hò với các nữ diễn viên Jill St. John, Shirley MacLaine, Marlo Thomas, Candice Bergen và Liv Ullman.


ĐẤT NƯỚC MÌNH

Đất nước mình lạ quá phải không em

Đến tù nhân giờ cũng đầy học thức

Nhiều giáo sư tiến sĩ nơi tù ngục

Chắc thế giới ít nơi nào có được

Đất nước mình kỳ quá phải không em

Có biết bao người lao động chân tay

Dám nghĩ dám làm chế tạo máy bay

Còn Giáo sư, Tiến sĩ cứ chơi hoài

Đất nước mình ngộ quá phải không em

Lương công chức mà xây toàn biệt phủ

Bao ” Đầy tớ ” giờ trở thành tỷ phú

Gánh nợ công để ” Chủ ” gánh hết đời

Đất nước mình rồi sẽ đi về đâu

Nạn tham nhũng cứ hoành hành tác quái

Bao tỷ đồng chảy vào túi những ai ?

Lò Bác Trọng vẫn đốt hoài đâu hết !

NVM (28/11/2023)

Ảnh sưu tầm

60% người Mỹ nghĩ tiền bạc mua được hạnh phúc, nhưng giá bao nhiêu?

Ba’o Nguoi-Viet

November 26, 2023

NEW YORK, New York (NV) – Trên thực tế, khi hầu hết các cá thể trong xã hội có đủ tiền trong ngân hàng, họ đều cảm thấy thoải mái hơn, vì những căng thẳng và các mối lo lắng thường ngày được giảm bớt. Qua đó, mức độ hạnh phúc, một cách tổng quát, được cải thiện.

Các cuộc nghiên cứu chứng minh rằng mức thu nhập nhiều hơn tương quan với mức độ hài lòng trong cuộc sống cao hơn và người Mỹ có xu hướng đồng ý quan điểm này khi có đến sáu trong 10 người nói rằng tiền có thể mua được hạnh phúc, theo một cuộc khảo sát gần đây từ công ty dịch vụ tài chính Empower.

Tuy nhiên, “giá hạnh phúc” như thế không hề rẻ. Khi được hỏi cần bao nhiêu tiền để có được hạnh phúc, người Mỹ cho biết trung bình cần có mức tài sản ròng khoảng $1.2 triệu, theo CNBC cho biết hôm Thứ Bảy, 25 Tháng Mười Một.

Tuy nhiên, thế hệ Millennials (sinh từ 1980 đến 1996) cho biết họ cần có tài sản ròng khoảng $1.7 triệu để có thể hạnh phúc.

Thế hệ X (sinh trong thập niên 1960 và cuối thập niên 1970) sẽ cần khoảng $1.2 triệu và những người thuộc thế hệ Baby Boomer (sinh cuối thập niên 1940 đến cuối thập niên 1950) cũng cho ý kiến tương tự rằng sẽ có hạnh phúc khi mức tài sản ròng khoảng $1 triệu.

(Hình minh họa: Joerg Koch/Getty Images)

Thế hệ Z (sinh trong khoảng 1997 và 2012, thời điểm bùng phát internet) là ngoại lệ. Trong số những thế hệ đạt tuổi trưởng thành trẻ nhất, nhóm Z chỉ cần tài sản ròng trung bình khoảng $487,000 là đủ để có được hạnh phúc tài chính, theo nghiên cứu của Empower.

Những con số vừa nêu cho thấy giá hạnh phúc cao nhất đối với thế hệ Millennials.

Khoảng 72% thế hệ Millennials đồng ý rằng tiền có thể mua được hạnh phúc hơn bất kỳ thế hệ nào khác. Họ cũng là thế hệ liệt kê mức lương hàng năm cao nhất cần có để được hạnh phúc, cao hơn gấp 4 lần so với con số của mọi thế hệ khác.

Đây là mức lương trung bình mà mỗi thế hệ cho rằng họ cần có để được hạnh phúc và ít căng thẳng hơn, theo Empower.

Thế hệ Z: $128,084

Thế hệ Millennial: $525,947

Thế hệ X:$ 130,344

Thế hệ Baby Boomers: $124,165

Những người được hỏi cho biết mức thu nhập trung bình hàng năm là $95,000 một năm sẽ khiến họ bớt căng thẳng hơn.

Mặc dù nói rằng cần phải kiếm được mức lương cao hoặc có tài sản ròng rất cao để cảm thấy hạnh phúc, nhưng ngay chính những điều đó không phải là điều khiến hầu hết người Mỹ hạnh phúc.

Thay vào đó, việc thanh toán tất cả các hóa đơn đúng hạn và đầy đủ sẽ xác định hạnh phúc tài chính cho 67% người Mỹ, Empower nhận thấy.

Không mắc nợ, 65% và tận hưởng những tiện nghi nhỏ nhặt hàng ngày, 54%, là hai cách phổ biến nhất mà người Mỹ cho rằng họ có thể hạnh phúc về mặt tài chính.

Nói chung, hầu hết người Mỹ đều hạnh phúc với 75% xếp hạng mức độ hạnh phúc tổng thể của họ ở mức 7 hoặc cao hơn trên 10.

Nhưng tài chính là lĩnh vực mà người Mỹ tìm thấy có thể thay đổi để tìm hạnh phúc nhiều nhất, theo Empower. (MPL)