Chủ tịch Võ Văn Thưởng thăm Mỹ từ ngày 14/11

Theo Đài Á Châu Tự Do –  RFA

2023.11.09

sharethis sharing button

Chủ tịch Võ Văn Thưởng thăm Mỹ từ ngày 14/11Chủ tịch VN Võ Văn Thưởng đến Bắc Kinh, Trung Quốc hôm 17/10/2023 (minh họa)

 AFP

 

Chủ tịch Võ Văn Thưởng sẽ có chuyến thăm Mỹ lần đầu tiên trên cương vị mới vào ngày 14/11 tới đây theo lời mời của Tổng thống Mỹ Joe Biden để dự Hội nghị cấp cao Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) tại San Francisco, bang California.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng loan tin này trong họp báo thường kỳ vào ngày 9/11.

Theo thông báo, ông Thưởng sẽ dự APEC từ ngày 14 đến ngày 17/11, kết hợp với các hoạt động song phương tại Mỹ.

Chuyến đi cũng trùng với dịp kỷ niệm 30 năm Hội nghị cấp cao APEC đầu tiên diễn ra (năm 1993) và 25 năm Việt Nam gia nhập APEC (năm 1998).

Chuyến đi của Chủ tịch Võ Văn Thưởng đến Mỹ diễn ra trong bối cảnh Mỹ và Việt Nam vừa nâng cấp quan hệ lên mức cao nhất là Đối tác chiến lược toàn diện vào tháng 9 vừa qua nhân chuyến thăm của Tổng thống Joe Biden tới Việt Nam.

Trong chuyến thăm này, hai bên cũng đã ký kết nhiều thỏa thuận hợp tác về kinh tế, khoa học công nghệ, giáo dục và đào tạo, trong đó có các hợp đồng thương mại với tổng giá trị lên đến trên 10 tỷ đô la.

Theo thông báo của Bộ Ngoại giao, chuyến thăm của ông Thưởng tới Mỹ lần này nhằm triển khai các thỏa thuận hợp tác giữa lãnh đạo cấp cao hai nước nhân chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Joe Biden, thúc đẩy sự hỗ trợ của Mỹ về giáo dục và đào tạo, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, tăng cường hợp tác giữa các địa phương, giữa hai nước cũng như giao lưu nhân dân.

Luật sư Võ An Đôn kêu gọi thành lập “Phiên toà Nhân dân” để xét xử quan chức cộng sản

Luật sư Võ An Đôn kêu gọi thành lập “Phiên toà Nhân dân” để xét xử quan chức cộng sảnLuật sư Võ An Đôn khi còn ở Việt Nam  Photo: RFA

Luật sư Võ An Đôn, người cùng gia đình rời Việt Nam sang tị nạn chính trị tại Hoa Kỳ vào cuối tháng trước cho rằng, một phiên tòa có bồi thẩm đoàn là người dân trong và ngoài nước có tác dụng răn đe các quan chức cộng sản vi phạm nhân quyền.

Ông Võ An Đôn, 46 tuổi, được nhiều người biết đến sau khi tham gia bảo vệ quyền và lợi ích của bị hại trong vụ án năm công an dùng nhục hình khiến nạn nhân Ngô Thanh Kiều tử vong ở Phú Yên.

Ông bị rút thẻ hành nghề luật sư sau khi thường xuyên trả lời phỏng vấn các báo đài tiếng Việt về các vấn đề của đất nước, bảo vệ cho nhiều thân chủ là người hoạt động nhân quyền… và có các phát ngôn về nghề luật sư ở trong nước.

Hôm 3/11, ông viết trên trang Facebook cá nhân kêu gọi các luật sư đang tị nạn Mỹ thành lập “Đoàn Luật sư Việt Nam Hải ngoại” và “Phiên toà Nhân dân” nhằm trợ giúp người dân trong nước và răn đe quan chức nhúng chàm. Ý tưởng này được nhiều người đón nhận và chia sẻ, bên cạnh ý kiến cho rằng điều này là “ngây ngô.”

Theo ông Đôn, việc tập hợp các luật sư có lòng với đất nước chỉ với mục đích dùng kiến thức pháp luật để tư vấn pháp lý miễn phí cho người dân cũng như các vấn đề bức xúc trong nhân dân, và khai dân trí, phổ biến kiến thức cho người dân để xã hội văn minh hơn.

Ông chia sẻ với Đài Á Châu Tự Do (RFA) trong ngày 08/11:

Nhu cầu trợ giúp pháp lý trong nước rất là lớn bởi vì người dân rất cần luật sư trợ giúp, đặc biệt trong những vụ án bị cưỡng chế đất đai, tranh chấđất đai, các quan chức nhà nước thu hồi đất đai… tranh chấp, khiếu nại, tố cáo rất là nhiều.”

Bên cạnh đó, các thành viên của “Đoàn Luật sư Việt Nam Hải ngoại” có thể bình luận hoặc có bài viết phân tích để người dân xem về những vụ án hoặc những hành vi mà dư luận trong nước quan tâm.

Luật sư Võ An Đôn bị thu hồi thẻ hành nghề - Nhật Báo Calitoday

Ông cho rằng hệ thống toà án ở Việt Nam là công cụ của Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền để xét xử người dân trong khi các quan chức được bao che nên họ thường được bỏ qua tội trạng hoặc chỉ phải chịu những mức án nhẹ không tương xứng với hành vi phạm tội mà họ đã thực hiện.

Một ví dụ điển hình ông nêu ra là vụ án “Chuyến bay giải cứu,” trong đó nhiều quan chức của Bộ Ngoại giao, Bộ Công an cấu kết với một số doanh nghiệp và chính quyền một số địa phương để hồi hương người Việt từ nước ngoài với giá vé máy bay cao ngất ngưởng, sau đó họ bị nhét vào các khu cách ly với chi phí ăn ở rất đắt.

Trong vụ án Chuyến bay giải cứu, thiệt hại của người dân rất là lớn nhưng (quan chức bị- PV) xử rất nhẹ. Luật pháp quy định rõ ràng các chế tài rất nặng nhưng trong thực tế bản án rất nhẹ và thiệt hại của người dân không được bồi thường theo luật pháp khiến người dân rất bức xúc.”

Ngoài ra, Phiên toà Nhân dân cũng sẽ có thể được thành lập dùng để xét xử các quan chức công bằng và nghiêm khắc hơn.

i có ý tưởng cùng các luật sư khác thành lập phiên toà nhân dân, một phiên toà đúng nghĩa là của nhân dân, chứ không phải như các phiên toà nhân dân trong nước dùng luật pháp Việt Nam để xét xử quan chức Việt Nam giống như toà án quốc tế xử Putin (đương kim Tổng thống Liên bang Nga- PV) vừa rồi.

Hội đồng xét xử là các luật sư còn bồi thẩm đoàn là người dân trong nước và ngoài nước.”

Theo ông, hồ sơ và các chứng cứ của phiên toà này dựa vào kết quả điều tra của cơ quan công an, cáo trạng của Viện Kiểm sát, và thông tin bổ sung từ báo chí, điều tra trực tiếp từ những người liên quan trong vụ án.

Để tránh oan sai, Phiên toà Nhân dân chỉ hoạt động khi có chứng cứ rõ ràng.

Ông nói về tác dụng răn đe của phiên toà dạng này:

Chúng tôi không có nhà nước, không có quân đội, không có cảnh sát, không có nhà tù nên việc cưỡng chế thi hành bản án rất là khó. Nhưng bản án này thể hiện đúng luật pháp, dùng luật pháp Việt Nam và ý chí nguyện vọng của nhân dân Việt Nam cho nên nó có tác dụng răn đe rất là lớn.

Bản án này mà khi tuyên một ai đó vi phạm pháp luật hình sự Việt Nam thì tôi nghĩ rằng dù người đó có chức quyền lớn bao nhiêu cũng phải khiếp sợ về ý chí của người dân trong bản án này.

Theo luật sư Võ An Đôn, các luật sư mới từ Việt Nam sang tị nạn tại Mỹ có thể tham gia, rồi sau đó mạng lưới có thể được mở rộng với sự tham dự của các luật sư khác ở Mỹ và trên thế giới.

Ông nói giới luật sư ở Việt Nam có thể không thể tham gia ngay nhưng họ có thể âm thầm đóng góp cho công việc chung. Ông cho biết đã chia sẻ ý tưởng với nhiều luật sư và nhận được sự đồng tình và khích lệ từ họ.

Ông cũng cho rằng đây mới chỉ là ý tưởng ban đầu, và cần sự bàn bạc, thống nhất với các luật sư khác để xây dựng chi tiết dự án để biến thành khả thi.

Gii luật sư nói gì?

Luật sư Đặng Đình Mạnh, người tham gia bào chữa cho các thành viên tu tại gia của Tịnh thất Bồng Lai nhưng bị buộc đi tị nạn ở Hoa Kỳ từ giữa năm nay, cho biết “Phiên tòa Nhân dân” như đề nghị của đồng nghiệp Võ An Đôn là một cách thức đấu tranh mới, đầy sáng tạo và cũng là cách “chia lửa” với những người đang dấn thân tranh đấu vì những giá trị tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam.

Ông nói với RFA trong tin nhắn:

Khi nghe luật sư Đôn chia sẻ ý tưởng này, tôi đã hết sức tán thưởng và đồng tình ngay. Trong hoàn cảnh chưa thể chính thức thiết lập tòa án để xét xử tội ác chế độ Cộng sản, thì những Phiên tòa Nhân dân’  xét xử theo đúng các tiêu chuẩn luật pháp văn minh sẽ đều mang ý nghĩa tích cực cả.

Một mặt giúp công chúng có cái nhìn về tội ác của chế độ cộng Sản dưới góc độ pháp lý, chứ không phải chỉ là sự phê phán chung chung, đầy chất cảm tính. Mặt khác, không chỉ tích cực đối với công chúng, mà ngay cả những bị cáo, những tên tội phạm trong nước bị đưa ra xét xử trong Phiên tòa Nhân dân’  cũng sẽ phải biết đối diện với những tội trạng như thế nào và hình phạt đối với chúng ra sao để mà chuẩn bị hung hăng hơn hoặc chùn tay trước tội ác.”

Theo ông, phán quyết từ những phiên tòa như thế này cũng sẽ là cách thức khẳng định tính không chính danh của chế độ Cộng sản trong việc cướp chính quyền, nắm giữ quyền lực quốc gia và tham tàn, thu vén tài nguyên quốc gia làm của riêng.

Luật sư Đặng Đình Mạnh cho rằng không chỉ các luật sư phải lưu vong ra hải ngoại, mà hầu hết đồng bào quốc nội, những người đang là nạn nhân trực tiếp của chế độ cộng sản và đồng bào người Việt phải tị nạn tại hải ngoại để tìm kiếm tự do sẽ đều đồng tình với ý tưởng thiết lập “Phiên tòa Nhân dân” của luật sư Võ An Đôn.

Tôi đã đề nghị luật sư Võ An Đôn, với tư cách tác giả, nên phác thảo ý tưởng thành phương án để có cơ sở đưa góý chung vi các đồng nghiệp, kể cả tham khảo ý kiến các vị đã hoặc đang từng làm việc trong ngành tư pháp Việt Nam trước đây hoặc tại hải ngoại. Đến khi có phương án khả thi thì công bố chính thức ra công chúng.”

Luật sư Ngô Anh Tuấn, người từng tham gia bào chữa cho nhiều nhà hoạt động và đang sinh sống ở Hà Nội cho rằng, ý tưởng của luật sư Võ An Đôn “rất ngây thơ về mặt pháp lý, cả về pháp luật Việt Nam cũng như luật pháp quốc tế” và “khả năng thực hiện được là khó vì nó không nhận được sự đồng thuận của những người am hiểu về pháp lý.”

Về sự tham gia của luật sư trong nước, ông nói trong tin nhắn gửi RFA trong ngày 08/11:

Luật sư đang hành nghề hợp pháở Việt Nam gần như chắc chắn 100% không có ai tham gia, nếu họ không muốn bị chấm dứt hành nghề, thậm chí bị bắt ngay lập tức.

Ngay cả tôi, tôi là người ngay thẳng, ngang tàng nhưng tôi không hành xử kiểu lấy trứng chọi đá một cách bất chấp và ngây ngô như vậy.”

Từ Canada, luật sư Vũ Đức Khanh cho rằng đề nghị của ông Đôn khá thú vị nhưng còn quá sớm để nhận định về tính khả thi.


 

Khôi nguyên Giải Nobel Xanh: Hãy hỏi Formosa khi nào tôi ngừng tuyệt thực, tôi ở đây vì ngư dân Việt Nam

Theo Đài Á Châu Tự Do

2023.11.02
sharethis sharing button
Khôi nguyên Giải Nobel Xanh: Hãy hỏi Formosa khi nào tôi ngừng tuyệt thực, tôi ở đây vì ngư dân Việt NamBà Diane Wilson (thứ 2 từ trái sang), bà Nancy Bùi (đại diện Hội Công lý cho Nạn nhân Formosa, bên trái) và một số người dân Texas trước khi cuộc tuyệt thực bắt đầu hôm 31/10/2023.Ảnhcủa   Bà Nancy Bùi

 

Bắt đầu từ hôm 31 tháng 10 năm 2023, bà Diane Wilson, Khôi nguyên Giải Môi trường Goldman năm 2023, đã bắt đầu lãnh đạo cuộc tuyệt thực ngay phía trước nhà máy của Tập đoàn Formosa ở Texas, Hoa Kỳ, để yêu cầu tập đoàn toàn cầu này bồi thường trực tiếp cho ngư dân Việt Nam trong thảm hoạ môi trường do Formosa Hà Tĩnh gây ra  vào năm 2016 ở Việt Nam. 

Giải Môi trường Goldman là giải thưởng toàn cầu danh giá nhất cho các nhà hoạt động môi trường. Giải thưởng này thường được ví là Giải Nobel Xanh. Bà Diane Wilson trở thành Khôi nguyên của Giải thưởng này năm 2023 do bà đã lãnh đạo một cuộc đấu tranh pháp lý yêu cầu Formosa Texas đền bù cho ngư dân và người dân trong vùng vì những hậu quả môi trường do nhà máy của Formosa ở Texas xả thải ra vịnh Texas và môi trường xung quanh. Hiện nay, bà tiếp tục đấu tranh với Formosa bằng cách tuyệt thực trước nhà máy để yêu cầu tập đoàn toàn cầu này làm điều tương tự với ngư dân Việt Nam. 

RFA phỏng vấn bà Diane Goldman khi cuộc tuyệt thực bắt đầu. Để biết thêm chi tiết, xin xem hai cuộc phỏng vấn bà Nancy Bùi, Hội Công lý cho Nạn nhân Formosa, và Linh  mục Nguyễn Văn Hùng, một người trợ giúp cho nạn nhân Formosa Hà Tĩnh trong vụ kiện tại Đài Loan. Cuộc phỏng vấn thứ nhất về những khó khăn của vụ kiện, cuộc phỏng vấn thứ hai nói về những vấn đề pháp lý của vụ kiện. 

RFA. Xin bà cho biết mục đích của cuộc đấu tranh tuyệt thực này?

Diane Wilson: Mục đích của việc tiến hành cuộc tuyệt thực này là để buộc Formosa phải làm điều đúng đắn và bồi thường cho ngư dân Việt Nam đã bị hủy hoại cuộc sống vì Formosa. Formosa đã hủy hoại cuộc sống của họ. Chúng tôi muốn Formosa bồi thường cho họ.

Chúng tôi muốn Formosa không chỉ dọn dẹp những thứ ô nhiễm môi trường mà họ gây ra. Hơn thế nữa, chúng tôi muốn Formosa phải giải quyết những tác hại về sức khỏe do những ô nhiễm đó gây ra. Chúng tôi muốn họ thực hiện một cuộc khảo sát, điều tra về thảm họa, minh bạch về thông tin, muốn họ thể hiện tinh thần trách nhiệm bằng cách vận động trả tự do cho tất cả những người đã phải vào tù vì đấu tranh với họ hoặc vì cố gắng lấy thông tin về những gì đã xảy ra vào năm 2016 với cơ sở Formosa ở Việt Nam.

Mục tiêu của chúng tôi là làm cho tất cả những nơi khác nhau mà Formosa đã kinh doanh có thể đến với nhau. Bằng cách đến với nhau, chúng ta có thể mạnh mẽ hơn, hơn là khi mọi người bị chia cắt ở những nơi riêng biệt.

Chúng tôi biết ngư dân Việt Nam đã đấu tranh cho công lý từ năm 2016 nhưng Formosa đã làm ngơ họ. Chúng tôi ngay lúc này đây hiện đang ở trong xe bán tải của tôi. Có nhiều xe hơn đang đi vào và chúng tôi hiện đang ở cạnh con mương ngay trước Formosa Plastics.

Con đường ngay trước mặt tôi đang đứng bây giờ là nơi ban lãnh đạo Formosa, Texas và Tập đoàn Formosa Plastics từ Đài Loan đi qua. Vì vậy họ sẽ nhìn thấy chúng tôi. Tôi tin đó là điều bạn phải làm. Bạn phải đến gần và nhìn thẳng vào mặt họ nhất có thể. Tôi tin điều này. Tất cả chúng tôi từ những nơi khác nhau đang đến với nhau. Điều này sẽ tạo nên sự khác biệt, sự thay đổi.

Chúng tôi tin tưởng chắc chắn vào điều đó. Mọi người hỏi chúng tôi sẽ ở đây bao lâu. Tôi nói rằng hãy hỏi họ chúng ta sẽ ở đây bao lâu. Bạn biết đấy, chúng ta sẽ ở đây. Tôi biết rõ như vậy.

Ba Diane Wilson tam biet ban be truoc cuoc tuyet thuc.jpg
Bà Diane Wilson, Khôi nguyên Giải Môi trường Goldman, tạm biệt bạn bè trước cuộc tuyệt thực bắt đầu từ ngày 31/10/2023 cho đến khi Formosa phản hồi yêu cầu đền bù cho ngư dân Việt Nam của bà. (Ảnh: Bà Nancy Bùi.)

RFA. Thông điệp mà bà muốn gửi tới Formosa là gì?

Diene Wilson: Chúng tôi đang nói với tập đoàn Formosa Plastics rằng hãy làm điều đúng đắn. Họ phải bồi thường cho ngư dân Việt Nam, những người bị họ hủy hoại cuộc sống. Họ phải làm sạch ô nhiễm biển. Họ phải điều tra những thiệt hại về sinh kế, xã hội, môi trường mà họ đã gây ra. Họ phải làm rõ điều này với những người sống ở đó để họ có thể hiểu được.

Họ phải vận động để trả tự do cho những người bị bỏ tù vì đã lên tiếng về thảm họa xảy ra năm 2016 để phản đối họ.

Chúng tôi tin rằng điều đó cần phải được điều tra trước tiên. Đây là điều người ta phải làm, dù cho ở bất kì đâu trên địa cầu này. Chúng tôi yêu cầu Formosa hợp tác để tiến hành một cuộc điều tra như vậy.

RFA. Bà dự định sẽ tuyệt thực trong bao lâu?

Diene Wilson: Bạn nên gửi câu hỏi này cho Formosa. Hãy hỏi họ chúng tôi sẽ ở ngoài nhà máy này của họ bao lâu. Nếu họ làm đúng thì bạn biết đấy, đừng lo lắng. Một khi họ còn chưa chọn điều đúng để làm, chúng tôi sẽ ở đây. Họ biết chúng tôi khá quyết tâm. Tôi đã đấu tranh ở thị trấn nhỏ bé này của Texas trong 35 năm. Chúng tôi rất cứng đầu. Chúng tôi sẽ ở đây.

RFA. Ồ, vậy ý bà muốn nói là bà không ấn định trước thời gian tuyệt thực mà sẽ tiếp tục tuyệt thực cho đến khi Formosa phản hồi bà?

Diene Wilson: Đúng vậy. Đúng vậy.

RFA: Cảm ơn bà. Cuộc khủng hoảng ô nhiễm môi trường do Formosa gây ra ở Việt Nam năm 2016 và Texas ở Mỹ có điểm gì giống và khác nhau? Bà đã chiến đấu thành công ở Texas như thế nào và bà muốn đạt được kết quả gì trong trường hợp Việt Nam?

Diane Wilson: Chà, vấn đề là tôi có vụ kiện gần đây. Tôi đã khởi kiện Formosa Plastics, Texas và cả Formosa Plastics, Hoa Kỳ. Và đó là vì tất cả sự ô nhiễm chất thải nhựa của họ, những viên nhựa và bột nhựa mà họ đã thải ra khắp các vịnh và lạch nước nhỏ ở Texas.

Đối với việc xả thải ở Texas, họ chưa bao giờ tuân theo giấy phép họ có theo yêu cầu hợp pháp của tiểu bang và chính phủ liên bang. Họ hoàn toàn phớt lờ nó.

Vì vậy, tôi, với tư cách là một ngư dân đã nghỉ hưu, chúng tôi đã dành hai năm rưỡi để thu thập bằng chứng, đi bộ xuống nước và lấy mẫu vật để xét nghiệm. Bạn tin hay không thì tùy, nhưng các công nhân của nhà máy đã giúp đỡ tôi. Và chúng tôi đã thu thập được 2500 mẫu ô nhiễm nhựa. Chúng tôi kiện họ và khoản tiền bồi thường chúng tôi nhận được là 50 triệu đô la. Tất cả số tiền bồi thường đều thuộc về cộng đồng.

Formosa kinh doanh ngay tại mảnh đất Texas này đây. Số tiền 50 triệu đô la bồi thường đó đã được sử dụng cho tất cả các dự án này. Riêng với ngư dân, chúng tôi đã trao 20 triệu USD cho họ để xây dựng các hợp tác xã đánh cá bền vững. Và vấn đề là Formosa sẽ còn làm nhiều việc.

Chúng tôi đã phải nộp đơn kiện, nhưng vấn đề là Formosa phải chịu áp lực để làm điều đúng đắn. Thật không may, Formosa dường như không tự mình làm điều đúng đắn. Họ dường như không có quan điểm về môi trường, dù cộng đồng xung quanh rất có giá trị và họ cần phải làm điều đúng đắn. Vì vậy, tôi nghĩ việc thúc đẩy họ làm điều đúng là tùy thuộc vào mọi người.

Và điểm khác biệt là Formosa có thể làm điều tương tự ở nước khác, như họ đã làm ở đây với chúng tôi. Họ có thể trả tiền bồi thường. Họ có thể trả lại cho cộng đồng hoặc nhiều tiền hơn để đền bù xứng đáng cho những người mà cuộc sống bị huỷ hoại vì họ xả thải sai trái. Họ sẽ phải thực thi điều đúng. Chúng ta, chính quyền và người dân, có thể giám sát họ. Họ đã dọn sạch những ô nhiễm mà họ gây ra ở Texas. Họ có thể làm điều tương tự ở đây đối với những nơi khác, vì họ là Formosa, Đài Loan. Đó là Tập đoàn Formosa Plastics.

Họ là những người vận hành mọi thứ và họ có thể làm được điều đó ở Việt Nam. Ở Việt Nam, đáng tiếc là họ đã phớt lờ ngư dân ở đó. Đáng tiếc là người dân ở đó không thể làm cho Formosa lắng nghe. Vì vậy tất cả chúng tôi đã cùng nhau đến đây, ở Texas, và chúng tôi đang hỗ trợ lẫn nhau. Tôi tin rằng chúng ta có thể thúc đẩy sự tiến bộ nếu làm điều đúng đắn.

RFA. Ở Texas, Mỹ, bà có thể điều tra độc lập về tình trạng ô nhiễm môi trường do Formosa gây ra, nhưng ở Việt Nam hiện nay, bà không thể làm được điều đó. Vậy làm sao bà có được bằng chứng để nói chuyện với Formosa?

Diane Wilson: Vấn đề là đã có những người nỗ lực khởi kiện Formosa ở Việt Nam và Đài Loan. Hiện tại cũng đã có một chút chuyển động nào đó. Họ cũng có thể sẽ kiện Formosa ở Mỹ.

Tôi biết rằng khi đưa họ ra tòa, chúng ta có thể khám phá và lấy thông tin cũng như yêu cầu họ cung cấp thông tin mà họ có. Tôi tin rằng một số nhà khoa học đã trao cho Chính phủ Việt Nam nhiều bằng chứng. Họ đã cung cấp thông tin cho chính phủ. Chúng tôi đã nói chuyện với những nhà khoa học đó. Họ nói rằng họ thực sự không được cung cấp nhiều thông tin.

Nhưng khi bạn ra tòa, khi bạn kiện tụng, bạn sẽ khám phá ra nhiều điều. Toà án là nơi họ phải lật lại thông tin họ có. Nó có lẽ tương tự như những gì đã xảy ra ở Bhopal, Ấn Độ với Union Carbide. Và vì vậy mục đích của chúng tôi ở đây là buộc Formosa phải làm điều đúng đắn. Nếu họ làm đúng thì có lẽ bạn sẽ không cần phải kiện tụng. Nhưng hiện tại, điều quan trọng nhất là họ đã không làm điều đúng đắn và họ hoàn toàn phớt lờ nó. Họ chỉ đang bỏ nó mà đi.

Một công ty thành công là một công ty phải có trách nhiệm. Điều chúng tôi đang cố gắng làm ở đây là cố gắng buộc Tập đoàn Formosa Plastic phải chịu trách nhiệm. Họ rất mạnh. Họ có vòi xúc tu ở khắp mọi nơi. Nhưng tôi tin rằng người dân cũng có sức mạnh. Tôi tin rằng chúng ta có thể làm được bằng cách đối diện trước mặt họ. Chúng ta có thể khiến họ làm điều đúng đắn. Tôi thực sự tin điều đó.

Ba Diana Wilson bat dau tuyet thuc 2.jpg
Bà Diane Wilson bắt đầu tuyệt thực trước nhà máy Formosa Texas từ hôm 31/10/2023. (Ảnh: Bà Nancy Bùi.)

RFA. Formosa đã trả cho Chính phủ Việt Nam cách đây vài năm khoảng nửa tỷ đô la vì thảm hoạ môi trường ở Vũng Áng. Bây giờ làm sao bà có thể bắt họ tiếp tục trả tiền?

Diane Wilson: Formosa đã trả tiền, nhưng trả cho Chính phủ Việt Nam. Đúng không? Họ không đưa số tiền đó cho người dân. Chúng tôi tuyệt thực ở đây là vì ngư dân Việt Nam. Cộng đồng ở đó cần được nhận tiền tiền đền bù. Chúng tôi không ngồi tuyệt thực ở đây để ủng hộ việc Chính phủ Việt Nam nhận được 50 hay 100 triệu USD. Chúng tôi ngồi đây để yêu cầu họ bồi thường cho ngư dân Việt Nam.

Tại sao chúng tôi muốn bồi thường cho ngư dân Việt Nam?

Ba Diane Wilson bat dau tuyet thuc.jpg
Cuộc tuyệt thực của bà Diane Wilson bước sang ngày thứ hai, 1/1/2023, trước nhà máy Formosa Texas. (Ảnh: Bà Nancy Bùi.)

Vụ việc ở Việt Nam cũng giống như vụ kiện của chúng tôi ở Texas. Những người bị ảnh hưởng ở đây đã nhận được đền bù từ Formosa. Ở Texas, Formosa không trả tiền vào tay Chính phủ Hoa Kỳ. Số tiền 50 triệu đô la đền bù của Formosa được chuyển vào quỹ tín thác của chúng tôi, nơi xử lý số tiền và phân bổ số tiền đó cho tất cả các dự án môi trường khác nhau này. Số tiền đó là để thành lập một hợp tác xã cho ngư dân để họ  có chỗ đứng, để họ có thể nỗ lực vực dậy công ty của chính mình. Ý tôi là, số tiền đền bù đó phục vụ cho sinh kế của ngư dân bị ảnh hưởng và chúng rất hiệu quả. Đó chính là điều tôi muốn nói. Trong khi đó ở Việt Nam thì Formosa lại trả số tiền đó cho Chính phủ Việt Nam. Họ vẫn có nhà máy ở đó. Họ vẫn muốn làm việc ở đó. Họ đã đưa nó cho chính phủ. Họ không đưa nó cho người dân và người dân cũng không nhận được nó. Đó là lý do tại sao chúng tôi tuyệt thực ở đây, vì ngư dân Việt Nam và cộng đồng nói chung, để Formosa hiểu được điều đó.

RFA. Cảm ơn tinh thần tranh đấu của bà, không chỉ cho người dân Mỹ mà còn cho người dân Việt Nam, cũng như cho mọi người trên khắp thế giới. Hy vọng bà có thể sớm nhận phản hồi từ Formosa và ngưng cuộc tuyệt thực này.

Diane Wilson: Cảm ơn bạn. Chúng tôi thực sự quyết tâm. Tạm biệt.

RFA xin cảm ơn bà Diane Wilson đã giành cho chúng tôi cuộc phỏng vấn này.


 

Chuyện hay nước Mỹ: Cô vợ cũ của tỷ phú Bezos tiếp tục làm cho mình trắng tay

Theo tạp chí Vận May – Fortune

MacKenzie Scott made an “unexpected gift” of $15 million to Culver City, Calif.-based Century Housing, which finances, builds, and operates multi-family rental housing throughout the state.

MacKenzie Scott đã tặng một “món quà bất ngờ” trị giá 15 triệu đô la cho Century Housing có trụ sở tại Culver City, California, nơi tài trợ, xây dựng và vận hành nhà cho thuê dành cho nhiều gia đình trên toàn tiểu bang.© Greg Doherty—Hình ảnh Patrick McMullan/Getty

 

Theo trang Yield Give, kể từ khi thực hiện Cam kết cho đi vào năm 2019, Scott đã trao tặng hơn 14 tỷ USD cho hơn 1.600 tổ chức phi lợi nhuận tập trung giải quyết nhiều vấn đề khác nhau cũng như giúp thăng tiến ở các trường đại học. Theo Forbes, hoạt động từ thiện quy mô lớn của cô phần lớn được lấy cảm hứng từ “sự thôi thúc muốn giúp đỡ ai đó”, cô viết vào tháng 12 năm 2021.

Cam kết quyên góp ít nhất một nửa tài sản của mình cho tổ chức từ thiện , với tư cách là người ký Cam kết Cho đi cùng với những người giàu có khác ở Mỹ và trên thế giới , Scott đã trao tặng 5,8 tỷ đô la Mỹ cho các hội từ thiện vào năm 2020, một trong những khoản phân phối hàng năm lớn nhất của một cá nhân cho các tổ chức từ thiện đang hoạt động. Cô đã đóng góp thêm 2,7 tỷ đô la vào năm 2021.

Scott viết: “Nếu bạn nghĩ rằng bạn biết tác động của việc cho đi theo sự thôi thúc (như bổn phận) của bản thân thì bạn gần như chắc chắn đã sai. Mỗi biểu hiện độc đáo của lòng hào phóng sẽ có giá trị (làm ta được an ủi) vượt xa những gì chúng ta có thể tưởng tượng hoặc sống theo.” 

MacKenzie Scott là món quà không ngừng trao đi—theo nghĩa đen. Vợ cũ tỷ phú của người sáng lập Amazon Jeff Bezos đã thực hiện sứ mệnh của mình là chuyển phần lớn tài sản mà bà có được từ cuộc ly hôn của họ và gần đây bà tập trung vào việc chống lại cuộc khủng hoảng nhà ở giá rẻ ở California .

Trong chuỗi đóng góp mới nhất của mình cho các tổ chức phi lợi nhuận về nhà ở giá rẻ có trụ sở tại California, Scott đã trao “món quà bất ngờ” trị giá 15 triệu đô la cho Century Housing có trụ sở tại Culver City, California , nơi tài trợ, xây dựng và vận hành nhà ở cho thuê dành cho nhiều gia đình. khắp tiểu bang. Vào tháng 9, Scott cũng đã tặng một món quà trị giá 8 triệu đô la cho BRIDGE Housing có trụ sở tại San Francisco và quyên góp 20 triệu đô la cho Quỹ đất đai cộng đồng San Francisco.

illustration of Mackenzie Scott on an orange background with money floating behind her

Khoản quyên góp mới nhất này được đưa ra khi tiền thuê nhà gần như ngốn hết thu nhập của nhiều cư dân Nam California. Tính đến tháng 7, giá thuê trung bình hàng tháng cho một căn hộ ở Los Angeles là hơn 2.700 USD, theo RentCafe , một dịch vụ đăng tin trên mạng về bất động sản cho thuê. Đó là gần 60% thu nhập trung bình hàng tháng của một người trưởng thành ở Hoa Kỳ, dữ liệu CEIC cho thấy .

Người phát ngôn của Century Housing nói với Fortune: “Công việc của chúng tôi cấp bách hơn bao giờ hết khi giá thuê tiếp tục tăng, khiến nhiều người dân California có nguy cơ mất ổn định nhà ở, bao gồm các nhóm như người lao động nghèo và người cao tuổi  . “Chúng tôi sẽ sử dụng món quà đáng chú ý này để tăng nguồn cung nhà ở giá rẻ ở SoCal thông qua các khoản đầu tư và phát triển của chúng tôi, hợp tác với nhiều đối tác của chúng tôi để cung cấp an ninh nhà ở cho nhiều cư dân hơn—và cuối cùng là xây dựng các cộng đồng thịnh vượng, công bằng hơn.”

MacKenzie Scott ( nhũ danh Tuttle), sinh ngày 7 tháng 4 năm 1970 là một tiểu thuyết gia và nhà từ thiện người Mỹ. Tính đến tháng 12 năm 2022, bà có tài sản ròng trị giá 27 tỷ USD, nhờ 4% cổ phần của Amazon, công ty do chồng cũ Jeff Bezos thành lập với sự cộng tác rất đắc lực của bà vào thời kỳ đầu còn muôn vàn khó khăn.

Như vậy, Scott là người phụ nữ giàu thứ ba ở Hoa Kỳ và là người giàu thứ 47 trên thế giới. Scott được Forbes vinh danh là người phụ nữ quyền lực nhất thế giới vào năm 2021 và là một trong 100 người có ảnh hưởng nhất của Time vào năm 2020. 

  • Năm 2006, Scott giành được Giải thưởng Sách Mỹ cho cuốn tiểu thuyết đầu tay năm 2005 của cô , The Test of Luther Albright . 
  • Cuốn tiểu thuyết thứ hai của cô, Traps , được xuất bản vào năm 2013.
  • Cô là giám đốc điều hành của Bystander Revolution , một tổ chức chống bắt nạt kẻ yếu thế, kể từ khi cô thành lập nó vào năm 2014.
  • Cô nhớ lại việc viết lách một cách nghiêm túc đã tiến hành vào năm 6 tuổi, khi cô viết The Book Worm , một cuốn sách dài 142 trang đã bị phá hủy trong một trận lụt

Năm 1988, cô tốt nghiệp trường Hotchkiss ở Lakeville , Connecticut. [16] Năm 1992, Tuttle lấy bằng cử nhân tiếng Anh tại Đại học Princeton , nơi cô theo học với người đoạt giải Nobel về Văn học Toni Morrison , người đã mô tả Tuttle là “một trong những sinh viên giỏi nhất mà tôi từng có trong các lớp viết văn sáng tạo của mình”.

Forbes đưa tin, “bản chất từ ​​thiện không hạn chế và đáng tin cậy hơn của Scott là ngoại lệ, không phải là chuẩn mực trong thế giới của những người thường giúp từ thiện.” Tờ New York Times lưu ý rằng “Bà Scott đã thay đổi hoạt động từ thiện truyền thống… bằng cách giải ngân tiền của mình một cách nhanh chóng và không ồn ào, bà Scott đã xóa sự tập trung vào người cho đi và chuyển sự chú ý đó sang các tổ chức từ thiện phi lợi nhuận mà cô ấy đang cố gắng giúp đỡ.”

Scott cho biết cô tin rằng “những đội có kinh nghiệm hoạt động trong lúc đối mặt với thử thách sẽ biết cách tốt nhất để sử dụng tiền một cách hiệu quả.” Theo một báo cáo từ Trung tâm Từ thiện Hiệu quả, hơn một nửa trong số 277 tổ chức phi lợi nhuận được khảo sát cho biết rằng khoản trợ cấp của họ từ Scott đã giúp việc gây quỹ từ đó được trở nên dễ dàng hơn, một số cho biết họ có thể sử dụng nó làm đòn bẩy với các nhà tài trợ khác và món quà lớn “đã cho phép các tổ chức tập trung nguồn vốn vào những nơi cần thiết nhất để hoàn thành sứ mệnh của mình.”

Trang web Yield Giving do cô thiết lập đã và đang chia sẻ thông tin chi tiết về hoạt động từ thiện của cô. Yield Giving bí mật tìm kiếm các cơ sở từ thiện xứng đáng và hữu ích nhất theo tiêu chuẩn nghiêm nhặt và tặng số tiền lớn cho họ, tiêu biểu như các đơn vị sau: Hướng Đạo Sinh Nữ Hoa Kỳ, Viện phát triển trẻ em da đen Kansas, Hội Chuyển Biến Giáo Dục, Habitat – Xây Nhà miễn phí cho người nghèo, Sức Khỏe Tâm Thần, YMCA cơ sở phúc lợi cho cộng đồng, …


 

Mối Tình Thơ Mộng đã làm nên cơ ngơi ngàn tỷ đô của Amazon

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Trần Danh San

Báo Đàn Chim Việt

Tác Giả:  Tưởng Năng Tiến

Nơi chương 33, trong cuốn Đèn Cù I (Trần Đĩnh, Người Việt Books 2014) tôi đọc được câu: “Bị đánh đuổi sau Nhân văn – Giai phẩm, Nguyễn Mạnh Tường đói quá – có lần lả đi ở đường Trần Hưng Đạo…”

Bộ thiệt vậy sao?

Thiệt chớ!

Chính người trong cuộc cũng khẳng định vậy mà:

“Chúng tôi có một con chó do bạn bè cho. Nó rất khôn và chúng tôi yêu nó lắm. Nhưng nó đã già và chúng tôi không còn khả năng mua cho nó thịt và những thức ăn tăng sức, nó không còn sức đứng lên trong chuồng, ngẩng đầu nhìn tất cả chúng tôi, với một ánh mắt tin yêu của loài vật, chắc chắn với những dòng nước mắt và một nỗi buồn sâu thẳm vì đã đến lúc phải rời chủ. Chúng tôi bật khóc khi nó nấc những hơi thở cuối cùng…” (Nguyễn Mạnh Tường, Un Excommunié – Hanoi, 1954 -1991: Procès d’un intellectuel. Trans Nguyễn Quốc Vĩ – Kẻ Bị Mất Phép Thông Công Hà Nội, 1954-1991: Bản Án Cho Một Trí Thức).

Ủa! Sao luật sư ở bên Tây về (với hai cái bằng tiến sỹ lận) mà đói dữ vậy cà?

Theo nhiều người thì vì Nguyễn Mạnh Tường có “dây dưa” với nhóm Nhân Văn nên bị trừng trị. Cũng không ít kẻ nghĩ rằng ông bị chế độ hiện hành “chôn sống” vì đã trót dại lên tiếng (“Qua Những Sai Lầm Trong Cải Cách Ruộng Đất – Xây Dựng Quan Điểm Lãnh Đạo”) trong một phiên họp của Mặt Trận Tổ Quốc, vào hôm 30 Tháng Mười, 1956.

Thực ra, số phận của Nguyễn Mạnh Tường (nói riêng) và đám luật sư miền Bắc (nói chung) đã được “an bài” trước đó:

“Ngày 17-11-1950, Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 158-SL, quyết định việc bổ sung cán bộ công nông vào ngạch thẩm phán và thăng bổ các thẩm phán toà án nhân dân huyện lên toà án nhân dân tỉnh… Từ đây, theo ông Vũ Đình Hòe : ‘các thẩm phán huyện, đa số là đảng viên cộng sản, chỉ qua lớp chính trị và nghiệp vụ’. Quan điểm lựa chọn thẩm phán chủ yếu ‘đứng trên lập trường nhân dân’ của Hồ Chí Minh đã ảnh hưởng lâu dài đến nền tư pháp Việt Nam.” (Huy Đức. Bên Thắng Cuộc, tập II. OsinBook, USA: 2012).

Muốn biết cái nền tư pháp công nông hóa của bác Hồ “ảnh hưởng lâu dài” ra sao, xin xem qua dáng điệu và cử chỉ của một vị thầy cãi (được “mời bào chữa” cho ông Hoàng Minh Chính) sau khi nhân vật này bị bắt lại, vào năm 1996:

“Hôm xử Chính tôi không ra đứng ở cổng toà mà đến Hồng Ngọc tối trước. Đang trò chuyện thì ông luật sư K. gia đình mời bào chữa cho Chính đi vào. Một cái bóng lúp xúp. Cụp vai, cúi đầu thì thào dăm ba câu, cái dáng sợ bị nghe trộm, nhòm trộm. Tuy nhớn nhác nhưng ông trung thực, trước sau chỉ khe khẽ chối (nhưng lại gắt): Tôi không cãi được… ý gia đình như thế thì không cãi được đâu.

Hà, con gái cả Chính kêu lên: Thế thì im hả bác? Lúng túng giây lát ông luật sư lại gắt giọng nhưng vẫn thì thào: Không cãi được mà. Tôi hỏi thế nghĩa là gia đình nhận tội thì cãi được? Ông nói: Đã nhận thì cần gì cãi. Rồi lúp xúp đi ra. Ông biết trong bóng tối quanh đây đầy những con mắt lúc này đang theo đõi chặt. Rồi máy ghi âm. Có khi chụp ảnh nữa. Qua tư thế ọp ẹp, ông cố để lộ rõ ông đầu hàng Nhà nước.” (T. Đĩnh, s.đ.d., tập II, chương 27).

Giới luật sư ở miền Nam thì không thế: không “nhớn nhác,” không “lúp xúp,” không “cụp vai,” không “thì thào” gì sất. Đã thế, họ còn nói rất to (“bằng loa phóng thanh”) cho cả bàn dân thiên hạ nghe luôn:

Sau sự kiện giới trí thức Tiệp Khắc ban hành Hiến Chương 77 chống lại nhà cầm quyền Cộng Sản Tiệp Khắc, tại Sài Gòn, trong vòng đai lửa của chế độ mới, hai Luật Sư Trần Danh San và Triệu Bá Thiệp không thể im lặng. Cả hai đồng hoàn thành văn bản “Tuyên Ngôn Nhân Quyền Của Những Người Việt Nam Khốn Cùng”.

Hai anh và nhóm trí thức bất khuất gồm hơn mười luật sư, giáo sư, kỹ sư trước 1975 hành nghề tại Huế và Sài Gòn đã hẹn nhau chia làm hai ngã tiến theo hai đường tập trung trước Nhà Thờ Ðức Bà vào chiều ngày 23 Tháng 4, 1977. Trần Danh San dùng cái loa phóng thanh qua một máy ghi âm nhỏ đọc lên bản ‘Tuyên Ngôn Nhân Quyền của Những Người Việt Nam Khốn Cùng’ đến cùng đồng bào Sài Gòn, cũng của miền Nam lẫn miền Bắc đang mong chờ lần phục sinh từ bãi lầy cộng sản…

Trong trại giam Phan Đăng Lưu anh nhận đòn tứ trụ với sức chịu đựng tưởng chừng như không thực: Với thân hình cao không quá “một thước-sáu” nhận đòn đánh hội đồng từ bốn tên lực lưỡng chuyên nghiệp tra khảo người.

Sau những trận đòn chạm tới điểm chết, sau những tháng kiên giam nơi hầm tối của anh, viên cán bộ trưởng trại Phan Đăng Lưu có câu hỏi: Anh có ngừng chống đối không? Trần Danh San trả lời chắc chắn: Chống đối là điều tất nhiên! Câu trả lời được nhiều bạn tù nơi Phan Đăng Lưu năm ấy hiện nay đang cư trú tại vùng Nam Cali nghe rõ. (Phan Nhật Nam. “Trần Danh San, Tiếng Hò Khoan Đã Tắt”).

Chưa hết đâu!

Sau đó, khi ở A20 – nơi còn được A-20 Nguyễn Chí Thiệp mệnh danh là Trại Kiên Giam – Trần Danh San còn tham gia vào việc làm báo chui (underground press) nữa chớ:

“Anh đã chấp nhận đánh đu với tử thần để vừa cung cấp cho mọi người những thông tin cập nhật, những bài viết giúp họ mở mang kiến thức, kiên định lập trường, vừa giữ vai trò điều hợp một số hoạt động đấu tranh ở trong trại.

Sau khi Vũ Văn Ánh bị cùm trong xà lim rồi bị tuyên phạt ‘biệt giam vô thời hạn’, tôi được chỉ định làm ‘thư ký tòa soạn’ cho tờ báo. Nhiệm vụ của tôi là tuyển chọn bài, sửa chữa chút đỉnh chính tả, văn phạm rồi giao cho Hải Bầu, Ngọc Đen lên khuôn; sau đó tôi kiểm soát lại lần cuối và phát hành.

Trần Danh San kín đáo giao cho tôi một bài viết rất hay: Vì Sao Chúng Ta Tranh Đấu. Tôi đã giao cho Hải Bầu, Ngọc Đen đăng trong Hợp Đoàn số 4. Bài viết được nhiều anh em tù, đặc biệt là những anh em tù chính trị có án, ưa thích.” (Phạm Đức Nhì. “Nén Nhang Cho Một Anh Hùng”).

Đến tờ Hợp Đoàn số 5 thì cả đám lần lượt … vô cùm. Riêng Vũ Ánh, Trần Danh San, Nguyễn Chí Thiệp thì bị cùm hơi lâu khiến A-20 Nguyễn Thanh Khiết đâm ra sốt ruột và xót ruột:

Sáu năm biệt giam

ba muỗng nước, ba muỗng cơm

chưa lần lung lay ý chí

một đời anh – một đời sĩ khí

bước thấp, bước cao cắn nhục mà đi

ngọn bút hiên ngang

thay làn tên mũi đạn

giữa trại thù nét mực chưa phai

Dù thế, dù “sáu năm biệt giam/ ba muỗng nước/ ba muỗng cơm” nhưng Trần Danh San vẫn không hề nao núng:

“Tôi nhớ trại trưởng phân trại E của A-20, Lê Đồng Vũ mà chúng ta gọi là Tư Nhừ vì hắn mang lon thiếu tá công an, giọng lúc nào cũng nhừa nhựa như thằng say rượu, không biết nó sẽ rút cây K-54 ra bắn mình lúc nào, hỏi khích…: ‘Thế nào, anh San còn bẻ gậy chống trời nữa không’. Trần Danh San đáp tỉnh bơ: ‘Tất nhiên, cán bộ.’ Câu chuyện về bạn có thể viết được một cuốn tiểu sử rất dày về đời tư, đời công và đời tù của một nhà tranh đấu.”  (Vũ Ánh. “Bài Điếu Văn Cho Trần Danh San Một A-20 Vừa Ra Đi Vĩnh Viễn”).

Sao Trần Danh San lại quyết liệt và ngang tàng đến thế?

Câu trả lời có thể tìm được qua câu tâm sự của chính ông với một người bạn đồng tù: “Phải cho thế hệ sau biết để các em, các cháu có thêm nghị lực, dũng khí đi tiếp con đường chúng ta đi.”

Với ít nhiều chủ quan, tôi tin rằng không ít quí vị luật sư của thế hệ đến sau (Đặng Đình Bách, Nguyễn Văn Ðài, Lê Công Ðịnh, Võ An Đôn, Lê Trần Luật, Lê Thị Công Nhân, Lê Quốc Quân, Nguyễn Bắc Truyển …) đều đã được thừa hưởng cái “dũng khí” từ những người đi trước như Nguyễn Mạnh Tường, Trần Danh San…


 

Little Saigon ở Seattle sắp có Trung Tâm Văn Hóa Việt Nam trị giá 55 triệu đô la

Đằng-Giao/Người Việt

SEATTLE, Washington (NV) – Tổ chức bất vụ lợi Friends of Little Saigon (FLS) gần đây đạt được bước đột phá đáng kể khi mua được lô đất rộng 16,500 sq ft trên đường South Jackson Street, Seattle, Washington, mở đường cho việc thành lập Trung Tâm Kinh Tế và Văn Hóa Việt Nam đầu tiên tại đây.

 

Ba phụ nữ có công đầu trong việc thành lập Trung Tâm Văn Hóa Việt Nam tại Little Saigon, Seattle, Washington. Từ trái, Tiến Sĩ Tâm Đinh, chủ tịch Hội Đồng Quản Trị FLS; cô Valerie Trần, giám đốc hoạt động FLS; và cô Quỳnh Phạm, giám đốc điều hành FLS. (Hình: Friends of Little Saigon)

Đây là thành quả của hơn một thập niên lập kế hoạch, vận động và gây quỹ của FLS cùng các hội đoàn bạn. Trung Tâm Kinh Tế và Văn Hóa Việt Nam dự định khởi công vào cuối năm 2025 và khánh thành vào cuối năm 2027.

 

Nói với phóng viên nhật báo Người Việt, cô Quỳnh Phạm, giám đốc điều hành FLS, cho biết: “FLS đã theo đuổi dự án này từ hơn 10 năm nay và chúng tôi vô cùng hãnh diện đã có hôm nay.” Cô hứng khởi nói tiếp: “Chúng tôi có được $11 triệu tài trợ trong tay và sẽ quyên góp từ $3 đến $5 triệu để trang trải chi phí hoạt động ban đầu.”

 

Số tiền $11 triệu là tài trợ của thành phố Seattle, King County, và chính phủ liên bang, cô cho biết.

Phần trên của trung tâm là khu chung cư giá phải chăng sẽ do cơ quan Seattle Chinatown International District Preservation and Development Authority (SCIDpda), đối tác của FLS, đảm nhận.

Tiến Sĩ Tâm Đinh, giáo sư xã hội học đại học Seattle University và là chủ tịch Hội Đồng Quản Trị FLS, bày tỏ lòng biết ơn khi trả lời nguyệt san International Examiner hôm 5 Tháng Mười như sau: “Chúng tôi có mặt ở đây ngày hôm nay vì sự làm việc chăm chỉ, sự hy sinh và ước mơ của thế hệ đi trước và chúng tôi rất vui mừng được tiếp tục công việc này cho thế hệ tiếp theo.”

 

Trung Tâm Kinh Tế và Văn Hóa Việt Nam ở Seattle là điểm son của cộng đồng gốc Việt tại đây và xa hơn nữa.

 

Thượng Nghị Sĩ Joe Nguyễn (Dân Chủ, Địa Hạt 34) chia sẻ với nhật báo Người Việt khi biết tin này: “Là người gốc Việt có gia đình gắn liền với kinh nghiệm tị nạn, tôi không thể nhấn mạnh đủ rằng điều này có ý nghĩa như thế nào, không chỉ đối với cộng đồng Seattle, mà còn đối với người Việt ở khắp nơi.”

Ông thêm: “Trung tâm này là ngôi nhà của nhiều người, là những câu chuyện văn hóa và di sản của chúng tôi, tất cả đều ở dưới một mái nhà. Và nó không chỉ dành cho chúng tôi ở đây.”

“Hãy tưởng tượng ai đó đến từ một thị trấn nhỏ hoặc một quốc gia khác đang tìm cách kết nối với nguồn gốc Việt Nam của họ, trung tâm này cũng sẽ dành cho họ. Chúng ta đang nói về một nơi duy trì truyền thống của chúng ta cho dù chúng ta ở đâu trên thế giới,” ông hãnh diện chia sẻ.

Dân Biểu Thái Mỹ-Linh (Dân Chủ, Địa Hạt 41) vui vẻ nói: “Tôi có hai đứa con sinh ra bên này. Trung tâm này sẽ là nơi tôi kể cho hai đứa về phong tục và văn hóa Việt Nam.”

“Từ nay, chúng tôi có chỗ để tổ chức Tết Nguyên Đán, Tết Trung Thu, hoặc Ngày Quốc Hận và trả lại sự yên tĩnh cho các cơ sở tôn giáo,” bà tiếp. “Tôi hãnh diện vì trung tâm này.”

 

Thượng Nghị Sĩ Joe Nguyễn của tiểu bang Washington. (Hình: Facebook Sen. Joe Nguyen)

Mọi việc bắt đầu từ nhiều năm trước.

Năm 2011, một nhóm người gốc Việt năng nổ và chủ doanh nghiệp nhỏ tại Seattle thành lập FLS vì lo ngại sâu xa rằng Little Saigon, trung tâm văn hóa và kinh tế do các nhà lãnh đạo tị nạn thành lập vào đầu thập niên 1980, có thể biến mất vì thiếu nhà ở đa dạng lại thêm nhiều tội phạm dẫn đến sự phân tán.

Năm 2012, họ nghĩ đến kế hoạch chống chọi và thấy rằng quyền sở hữu và kiểm soát của cộng đồng rất quan trọng để xoay chuyển tình thế, đồng thời xác định ba đòn bẩy chính: trung tâm văn hóa, nhiều tiệm bán lẻ hơn, và nhà ở giá phải chăng.

 

Trong thời kỳ đại dịch, các cơ sở kinh doanh ở Little Saigon và Chinatown International District (CID) phải chật vật để tồn tại do vắng khách và nạn phá hoại cũng như tội phạm đường phố gia tăng. Năm 2022, siêu thị Viet-Wah tại 1032 South Jackson Street, trụ cột của Little Sai Gon, đóng cửa sau bốn thập niên.

 

Gần đây, tệ nạn buôn bán ma túy, trộm cắp và các tội phạm khác đã tập trung gần đường 12 và đường Jackson, khiến nhật báo The Seattle Times phải đăng bài báo có tựa đề u ám là “Little Saigon ở Seattle đã bị lãng quên” vào ngày 30 Tháng Tám.

Trung tâm văn hóa, theo cô Quỳnh, sẽ chào đón các hoạt động văn hóa, triển lãm, âm nhạc và khiêu vũ, nấu ăn, và các lớp học ngôn ngữ cùng với các doanh nghiệp khởi nghiệp và các hàng quán khác. FLS hợp tác với SCIDpda để xây dựng 71 đơn vị nhà ở giá phải chăng tại trung tâm.

Bà Jamie Lee, đồng giám đốc điều hành SCIDpda, nói với International Examiner rằng cấu trúc sẽ cao năm tầng, với trung tâm văn hóa ở tầng trệt. FLS sẽ sở hữu và vận hành trung tâm văn hóa. SCIDpda sẽ sở hữu và quản lý nhà ở.

Bà nói: “Chúng tôi dự kiến phần nhà ở sẽ tốn khoảng $53 triệu.”

 

Dân Biểu Thái Mỹ-Linh (Dân Chủ) của tiểu bang Washington. (Hình: housedemocrats.wa.gov/thai)

 

Cô Quỳnh đã gắn bó với FLS từ những ngày đầu thành lập. Cô từng làm cho bà Jamie Lee tại SCIDpda, nơi dự án ra đời. Cô đam mê dự án Little Saigon Landmark từ khi còn nhỏ. Cha mẹ cô làm chủ và và điều hành nhà hàng Như Ý Lucky ở Kent cho đến khi đóng cửa vào khoảng năm 2005. Mẹ cô còn mở tiệm Purity Nail & Spa ở Covington. Tiệm bị đóng cửa vì đại dịch COVID-19. Cô từng làm việc bán thời gian ở cả hai nơi khi còn đi học. Cô nói: “Bây giờ tôi là mẹ. Tôi có hai đứa con nhỏ. Nếu tôi không làm việc này thì con tôi sẽ thừa hưởng di sản văn hóa nào?”

Ngoài cô Quỳnh, mọi thành viên của FLS đều chung vai góp sức để có hôm nay. Cô Valerie Trần, giám đốc hoạt động FLS, cũng đam mê viễn ảnh này. Cô lớn lên trong một khu dân cư chủ yếu là người da trắng ở Central Valley, California, không có mối quan hệ chặt chẽ với cộng đồng Việt. Công việc của cô tại CID với tư cách là nhà quy hoạch đô thị đưa đẩy cô gặp cô Quỳnh và cô gia nhập Hội Đồng Quản Trị FLS năm 2018.

“Tôi hy vọng dự án Landmark này sẽ giúp khôi phục sự tồn tại cho cộng đồng,” cô Valerie nói với International Examiner. “Người lớn tuổi có thể tự hào và thấy mình được phản ảnh trong đó. Đây là nơi khơi dậy sự sáng tạo cho thế hệ sau để họ có thể tiếp nối di sản của thế hệ trước.”

Cô Quỳnh Phạm chia sẻ: “Tôi rất quan tâm sâu xa đến trung tâm này vì nó là chỗ cho gia đình, người lớn tuổi và trẻ em. Đây sẽ là nơi để gia đình tôi và con cái tôi tự hào và thường xuyên ghé thăm.”


 

Các Sinh Hoạt hiện nay của tổ chức FLS – Những Người Bạn của Sài Gòn Nhỏ ở thành phố Seattle, tiểu bang Washington

Dự án Landmark theo dòng thời gian

 

Kế hoạch Hành động Little Sài Gòn 

2012 – 2020 xác định quyền sở hữu và kiểm soát của cộng đồng là rất quan trọng để chống lại việc di dời và đô thị hóa đang đe dọa sự tồn tại của cộng đồng người Việt ở Seattle. Vào ngày 4 tháng 9, Hội đồng Thành phố Seattle thông qua Nghị quyết 31403 sau nỗ lực vận động quan trọng của FLS và các đối tác. Nghị quyết cho phép Nghiên cứu khả thi để phát triển “Dự án mang tính bước ngoặt”.

2014 – Nghiên cứu khả thi được hoàn thành với sự cộng tác của Cơ quan Bảo tồn và Phát triển Khu Phố Tàu Quốc tế Seattle (SCIDpda) , xác định các địa điểm tiềm năng, mục đích sử dụng và nghiên cứu tổng thể để đề xuất mô hình bền vững về mặt tài chính cho dự án Landmark.

2016 – FLS hoàn thành Báo cáo Gắn kết Cộng đồng Landmark để đảm bảo rằng nhu cầu của cộng đồng Việt Nam đa dạng và đang thay đổi vẫn định hướng cho tầm nhìn của Dự án Landmark.

2018 – Dự án Landmark trở thành một trong những dự án “tiến hành” nhận tài trợ từ Sáng kiến ​​Phát triển Công bằng Seattle (EDI) đặt tại Văn phòng Kế hoạch và Phát triển Cộng đồng (OPCD) của Seattle. EDI được tạo ra sau những nỗ lực vận động của FLS với sự cộng tác của Lực lượng đặc nhiệm về chủng tộc và công bằng xã hội.

2022 – FLS phát triển Kế hoạch hành động Little Sài Gòn năm 2030 , cung cấp lộ trình hướng dẫn cộng đồng Little Sài Gòn và các đối tác cùng hợp tác 

Kế hoạch bao gồm các ưu tiên dành cho các doanh nghiệp nhỏ đa dạng, khả năng chi trả nhà ở, cơ sở hạ tầng & tiện nghi cũng như sự hợp tác, tất cả đều là những thành phần quan trọng của dự án Little Sài Gòn Landmark.

2023 – FLS đóng cửa tại địa điểm Landmark tại 10th Ave South và South Jackson Street. 

FLS sẽ sở hữu và quản lý khoảng 7.500 ft vuông cho Trung tâm Kinh tế và Văn hóa Việt Nam, trong đó có (các) bếp ăn thương mại, không gian cho quầy hàng, chỗ ngồi mở, không gian văn phòng và không gian linh hoạt cho các hoạt động văn hóa.

 

 

Lơp học Việt Ngữ và Văn Hóa Việt ở Little Saigon

Mùa xuân năm 2023 là sinh viên tốt nghiệp khóa học ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam Cấp 2 của chúng tôi.

SỰ PHÂN BIỆT – MAI THỊ MÙI

MAI THỊ MÙI

Khi Obama đắc cử tổng thống Hoa Kỳ, dân Mỹ xầm xì, xôn xao về một tổng thống da màu đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ. Cái đó gọi là phân biệt chủng tộc.

Thánh Martino khi vào tu viện cũng không được tôn trọng vì ông là dân da đen. Cái đó gọi là phân biệt màu da.

Hoàng tử Anh William lấy Kate Middleton không sao. Tới lượt Harry lấy Meghan Markle thì hoàng gia xào xáo. Đó là sự phân biệt đẳng cấp.

Tại sao dân Chúa phải là dân Israel? Tại sao Đức giáo hoàng Gioan Phaolo II vẫn bị người ta xầm xì vì cái gốc Ba lan. Đó không phải phân biệt thì là gì? Vậy thì, phân biệt vùng miền, phân biệt tôn giáo, phân biệt chủng tộc, màu da, đẳng cấp vốn luôn là định kiến cố hữu trong mỗi người. Từ thuở khai thiên lập địa đã có sự phân biệt. Nhưng qua thời gian, theo sự phát triển của xã hội hướng tới sự văn minh và nhân đạo mà người ta giấu bớt cái tính xấu ấy đi. Gọi là giấu bởi vì nó chỉ ẩn đi chứ không mất đi. Và vì không mất đi nên mỗi khi có dịp là nó trỗi dậy. Nhưng, như đã nói, vì để thể hiện sự văn minh và nhân đạo mà người ta tránh nói đến nó. Thực tế là ai trong chúng ta cũng có sự phân biệt.

Cách đây gần thế kỷ, mỗi khi nhắc đến người Nhật người ta thường thêm chữ lùn. Mà quả thật người Nhật khi ấy họ rất lùn. Nhưng đến hôm nay thì sao? Chiều cao của họ hiện nay xấp xỉ người Châu Âu. Nhìn đội bóng chuyền nữ của Nhật mà sửng sốt. Cô nào cô nấy như cầu thủ bóng đá quốc tế. Vậy hồi đó khi nghe thế giới gọi mình là lùn, người Nhật có giận dỗi, gào lên là chúng mày miệt thị tụi tao không? Không. Họ lặng lẽ thay đổi chế độ dinh dưỡng để có được người Nhật như ngày hôm nay. Chứ ngồi đó mà tủi thân, khóc lóc, lên án cả thế giới thì đến hôm nay vẫn còn lùn. Mà lùn thì người ta bảo lùn là đúng rồi. Cãi cái gì!

Các bác cứ bảo tư bản nó bóc lột. Ấy thế mà đi làm toàn chọn công ty Mỹ với Châu Âu. Không chọn được nữa thì mới quay về Đài Loan, Trung Quốc, Hàn Quốc. Bọn Mỹ với Châu Âu nó cũng chả thèm đi cãi nhau với các bác làm gì. Làm cho nó lương cao, phúc lợi xã hội tốt, bảo hiểm đóng đầy đủ, chế độ lương thưởng rõ ràng. Quan hệ chủ-tớ văn minh, nhân ái. Bóc lột hay không cứ nhìn cách người lao động chọn công ty thì biết. Đấy, nó đâu cần thanh minh, thanh nga là chúng tôi không bóc lột. Cứ nhìn nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN tăng trưởng âm thì đủ biết thằng nào bóc, thằng nào lột ngay.

Vậy cho nên muốn người ta không phân biệt thì mình phải giống người ta. Khi giống nhau tức là trở nên một thì mới không có sự phân biệt. Ví dụ người ta cân 1 kí là mười lạng thì mình cũng cân đủ 10 lạng. Ai bảo cân 8 lạng thì người ta mới phân biệt “Bắc kỳ cân điêu”. Đẩy cái xe chôm chôm ra giữa đường, bày cái bảng 15 ngàn 1/2kg, số 1 rõ to, số 2 rõ bé, người ta ghé vào mua mới tức điên liên. Tức thì người ta chửi cái loại “Bắc kỳ ma giáo” đúng quá rồi còn gì. Cứ tạo ra sự khác biệt thì người ta phải phân biệt thôi. Nếu cả chợ ai cũng cân 1kg=1000gr, ai cũng bán xấp bánh tráng 30 cái chứ không phải 28 cái ngoài lành trong rách, ai cũng buôn thẳng, bán thật thì khi ấy trong đầu người ta chỉ có khái niệm cái chợ chứ làm gì có con mẹ Bắc kỳ bán cá trong chợ, thằng Bắc kỳ đẩy xe chôm chôm đầu chợ hay con Bắc kỳ bán mía cuối chợ.

Thay vì ngồi than thở, trách móc, tự ti, giận hờn, đòi bờ-lốc (block), ân-phen (unfriend) những người phân biệt vùng miền thì hãy như người Nhật, lặng lẽ thay đổi để xóa đi định kiến của người khác về mình. Bảo nhau đừng cân điêu, đừng bán gian, đếm dối. Đi đến đâu cũng nhã nhặn, lịch sự, giữ trật tự và giữ vệ sinh. Làm ăn, giao tế đứng đắn, trung thực thì ai người ta phân biệt làm gì. Tôi nói không ai tin thì đến chợ Tân Phong một lần mà xem. Sau lưng trường tiểu học Tân Phong A có xe rau của một anh Bắc kỳ, ngày nào cũng đắt như tôm tươi. Anh còn ngọng n-l luôn ý chứ. Nhưng thái độ buôn bán thì tuyệt vời. Ngoài giá rẻ hơn so với các sạp hàng khác thì gương mặt và lời nói hoà nhã. Mua bầu, bí là luôn tặng kèm hành ngò. Mua cà chua tặng trái chanh. Mua củ hành tặng nắm ớt. Nhà nào ăn ít mua nửa quả bí xanh hay một khe bí bỏ cũng cắt ra bán. Như thế ai chả thương. Tôi thấy Nam, Trung, Bắc gì đều mua của anh ấy hết. Đâu có ai nói tại ông này người Bắc tôi không muốn mua.

Cái passport của mình nó yếu vì vị thế đất nước mình trên trường quốc tế nó bẹp dí. Vừa mới ra khỏi khối Asean là phải xin visa rồi. Mà cũng không phải cứ xin là được. Thế xin không được thì quay ra chửi LSQ à? Người ta ớn mình bỏ mẹ người ta mới không cho. Sang đến nơi thì trốn ở lại. Ở lại thì làm chui, làm bậy, ăn trộm, ăn cướp, nhậu nhẹt, đàn đúm bầy hầy hết đất nước người ta ra thì ai chả ớn. Muốn cho người ta nhìn cái bát-bo mình mà không khinh thì phải thay đổi chứ ngồi đó tủi thân, tủi phận, trách móc, giận hờn thì suốt đời rúc kẹt như con gián.

Đấy, nói túm lại là muốn người khác không phân biệt thì mình đừng khác biệt. Mình hôi thì phải đi tắm. Mình sai thì phải sửa. Mình dốt thì phải học. Quê mùa thì phải quan sát mà học theo. Túng thiếu thì phải khiêm tốn. Chứ thấy người ta né mình thì lại lu loa lên ối giời ôi nó chê tôi hôi. Đèo mẹ! Hôi thì người ta bảo hôi. Cứ bắt người ta ngồi kế bên chịu đựng cho bể lỗ mũi à? Người ta không chịu được thì lại chửi người ta không nhân văn, thiếu nhân ái. Thế mình đã đủ nhân tính chưa?

 MAI THỊ MÙI

From: Truong Le


 

BI HÀI Ở TRẠI TẠM GIAM

Fb Huỳnh Thị Tố Nga

Kim Dao Lam

Khoảng thời gian ở tù đã trải qua, có lẽ khủng hoảng nhất là khoảng thời gian bị giam cách ly để điều tra. Vì nhiều yếu tố chi phối, thứ nhất, bản thân đang ở bên ngoài, đột ngột bị tống vào buồng giam cách ly, mọi thứ ở hai thái cực, từ thiên đường rơi xuống địa ngục. Thứ hai, thời gian bị hỏi cung mỗi ngày từ sáng tới tối, khi trở về phòng giam là cơ thể rã rời như không còn chút năng lượng. Cả ngày phải liên tục làm việc với trạng thái cân não, phải tỉnh táo trong toàn thời gian để không bị ép cung hay mớm cung, suốt mấy tháng ròng như vậy.

Buồng giam cách ly điều tra ở trại tạm giam B5, diện tích sử dụng khoảng 8 mét vuông, nền xi măng đen, một bệ dành cho chỗ nằm hai người, phía sau là một khoảng dành cho tắm giặt và bệ xí. Người nào nằm kế bệ xí, nếu người ở chung không có ý thức, đi vệ sinh dội mạnh là nước văng cả vào chỗ nằm. Tắm giặt, đi vệ sinh hoàn toàn lộ thiên. Đồ dùng cá nhân, và đồ ăn để 1 góc đối diện chỗ nằm, ngay đường đi rộng vài tấc. Phòng chỉ có ánh sáng mờ, đèn được lắp trong một hộp vuông kính mờ, ở góc phía trên cao của trần buồng giam. Ánh sáng chỉ đủ nhìn những vật dụng kích thước lớn, hai người ở chung không nhìn rõ mặt nhau.

THÈM CHỮ.

Bỏ qua việc ăn uống khắc nghiệt như tôi đã nói trong bài viết trước, sẽ có những bi hài khác mà người ở ngoài chắc không tưởng tượng được. Thời gian tôi ở khu điều tra, phòng hai người, thời điểm đó, tất cả phạm nhân nữ chỉ có 4 người, chia ra hai phòng, chỉ có tôi án chính trị, còn hai em án ma túy và một người án giết người. Tôi ở với một em án ma túy, còn trẻ. Tôi hầu như ngoài giờ bị đi cung khi trở về phòng chỉ ngồi hoặc nằm nghe em ấy kể về chuyện em ấy, rồi tôi cũng kể em nghe tại sao tôi bị bắt, tôi giảng giải cho em hiểu cơ bản về chính trị xã hội, em thích nghe, vốn thông minh sẵn, em hiểu và thương tôi, chị em chia sẻ như vậy.

(Hầu như những tù nhân án xã hội tôi gặp và tiếp xúc qua, họ điều quý mến vì biết rằng tôi đi tù không phải phạm tội như họ, họ hỏi tôi về những vấn đề xã hội mà họ chưa hiểu, họ thích nghe và nắm bắt cũng nhanh, họ sống có nghĩa khí, chỉ có vài trường hợp không được tốt, mà mấy người này, ai họ cũng gây chuyện chứ không riêng gì tôi, vậy nên, đối với tôi, cho dù là tù nhân phạm tội, họ vẫn là con người, vẫn phải tôn trọng họ. Sống trong một xã hội không nề nếp, việc họ phạm tội phải được nhìn rộng hơn, vì sao họ phạm tội? Đương nhiên, những trường hợp phạm tội một cách dã man thì tôi sẽ lên án và không bao biện cho họ).

Qua chừng một, hai tháng thì cũng hết chuyện để nói. Lúc đó, chúng tôi, nhất là tôi, thèm một cuốn sách để đọc. Trại giam không cho bất cứ một vật dụng gì có giấy trống hoặc có chữ vào buồng giam. Vỏ hộp bánh kẹo gửi vào họ bỏ hộp ra, chỉ đưa ruột vào. Suốt mấy tháng trời, thèm một cuốn sách, chưa bao giờ cảm giác thèm đọc nó ngốn nghiến mình đến vậy. Có bữa, em ở chung bị đau mắt, xin được chai thuốc nhỏ mắt vào, em nói quản giáo cho luôn tờ hướng dẫn sử dụng, vậy mà thấy nó quý quá chừng, tôi cất để dành, không dám bỏ! Hai chị em nói vui, nếu cứ kéo dài thế này, sau này ra tù chắc mình bị mù chữ vì quên luôn con chữ rồi. Thật sự ở trong phòng tối có mấy mét vuông, ngoài giờ ăn ngủ, chỉ ngồi nói chuyện qua ngày, thời gian trôi qua vô vị không sao diễn tả nổi, bình thường tôi cũng không phải siêng năng đọc sách, nhưng trong hoàn cảnh đó, sách là ước ao, còn quý hơn vàng. Mà nghĩ lại, nếu có sách cũng không đọc được, dù là ban ngày, thì ánh sáng cũng không rọi được vào buồng giam, lúc nào ánh sáng cũng lờ mờ, không thể nhìn chữ. Ở trong không gian như vậy vài tháng thôi, đã thấy mình như ở trong hang, mọi sinh hoạt cơ bản nhất của con người không còn được cảm nhận.

LA HÉT VÀ HÁT.

Phòng giam tối, ẩm thấp, nóng bức và ngột ngạt, thật sự phải chịu đựng lắm mới không phát điên. Dãy tù nam, kế bên dãy nữ không bao giờ thấy nhau, nhưng âm thanh lớn thì nghe rõ. Tôi từng nghe thấy nhiều người nam bị nhốt chịu không nổi, họ la hét, đập cửa đòi thả ra. Có lúc họ gào vài tiếng thì quản giáo lờ đi rồi thôi, nhưng khi họ đập cửa nhiều quá thì quản giáo xuống, thế là vừa tiếng la hét của tù nhân, vừa tiếng quát và đánh đập của quản giáo, tạo nên một âm thanh hỗn độn và dễ làm cho con người phát hoảng và đau lòng. Biết họ bị đánh nhưng lực bất tòng tâm. Ở trong môi trường như vậy, phát điên là bình thường, có vài người chịu không nổi, đã tự tử, thời tôi ở thì không có ai tự tử, nhưng tôi nghe kể lại như vậy.

Những lúc buồn quá, tù nam thường hát, một hai người hát thì người phòng khác hưởng ứng thế là gây ra âm thanh lớn. Có bữa quản giáo xuống, nghe giọng nói biết đã say rồi, anh ta lè nhè, tụi bây im chưa, có tin là tao bỏ tù hết cả đám không? Tụi tôi chỉ biết cười, không nói được gì, chẳng phải đang ở tù sao mà còn hăm bỏ tù!

KHÓC.

Nói, cười rồi khóc. Đó là em chung phòng với tôi, tôi nghe em tâm sự rồi thỉnh thoảng em khóc, thường những người trẻ mang án buôn bán ma túy, họ trải đời và có bản lĩnh lăn lộn, nên đa số cũng là dạng cứng cỏi so với bình thường. Thế nhưng vào tù rồi cũng phải rớt nước mắt. Tôi không nói sâu xa về việc phạm tội của họ, vì nói sâu vào vấn đề thì phải nói quá nhiều vấn đề xã hội, nhiều yếu tố góp phần đẩy họ vào con đường phạm tội. Gia đình, xã hội, sự giáo dục, đời sống kinh tế,… chung quy lại cũng là chánh trị. Vậy nên, nhìn những người trẻ phạm tội như vậy, tôi thương nhiều hơn là trách, vì như vừa nói, bản thân họ cũng không biết được họ phạm tội do nhiều yếu tố tác động như vậy, họ chỉ đơn giản là kiếm tiền, muốn thỏa sức nếm trải cuộc đời, mà không ý thức được tù tội. Ở đây chưa nói đến tội phạm ma túy đường dây tổ chức thế nào, những người trẻ này chỉ là những chấm nhỏ trong những đường dây đó, ai điều hành phía sau, họ đa số chỉ là nạn nhân cho một thị trường ranh ma và đầy cạm bẫy.

Còn tôi, thật sự là tôi chưa bao giờ khóc trong những năm tù tội này. Tôi bình thản đến mức chính tôi còn ngạc nhiên, còn bực mình về bản thân mình, vì đơn giản, có những áp lực đè nặng, chỉ cần khóc được là sẽ vơi bớt, nhưng mà tôi không khóc được. Những lúc nhớ con, nhớ gia đình, cũng chỉ rưng rưng, không ra được giọt nước mắt nào. Điều tra của tôi nói rằng, tính cách tôi giống… mẹ của anh ta(!!!), anh ta nói, mẹ anh ta là một người phụ nữ chịu đựng rất giỏi. Còn tôi, không phải chịu đựng mà là bình thản, lạnh lùng.

Mà thật sự, sao lại phải khóc, bản thân đi tù không phải là bất ngờ, đi tù cũng vì vận mạng chung cho một cộng đồng, lý tưởng hoàn toàn đúng đắn. Có chăng là khóc vì thương nhớ gia đình, nhưng lại cũng không khóc được vì bản tính bẩm sinh đã mấy chục năm không biết khóc, có lúc nào đó hiếm hoi tôi khóc, chỉ một chút rồi thôi.

Đấy, sơ lược về tù là vậy. Chỉ là sơ lược thôi, từ từ tôi sẽ kể tiếp!

HUỲNH THỊ TỐ NGA

Nov 8, 2023

Các anh công an đọc những bài viết của tôi nếu thấy khó chịu thì hãy suy nghĩ lại, tại sao các anh lại thấy khó chịu. Tôi viết 100% thực tế bản thân tôi đã trải qua, không thêm bớt. Vậy nên, thay vì các anh muốn che dấu nó, thì hãy thay đổi nó.

 

*********

Thêm Chi tiết về Chị Huynh Tố Nga (theo Đài Á Châu Tự Do)

Cựu TNLT Huỳnh Thị Tố Nga: Tôi không có tội với nhân dân!Cựu TNLT Huỳnh Thị Tố Nga

 Fb Selena Zen

Bà Nga, 40 tuổi, là chuyên viên xét nghiệm của Bệnh viện Nguyễn Tri Phương (thành phố Hồ Chí Minh). Bà bị bắt ngày 28/01/2019 cùng với anh ruột Huỳnh Minh Tâm vì các hoạt động trực tuyến cổ xuý cho quyền con người và dân chủ đa nguyên.

Trong phiên toà không có luật sư vào cuối tháng 11 năm đó, hai người bị tuyên tổng cộng 14 năm tù. Họ bị kết tội viết và chia sẻ nhiều bài viết có nội dung chống Nhà nước và kêu gọi người dân phản đối Luật An ninh mạng cùng biểu tình đòi tự do dân chủ.

Nói với Đài Á Châu Tự Do (RFA) ngày 25/4, bà khẳng định các hoạt động của mình có mục đích tốt cho dân tộc cho dù có thể có hại cho Đảng Cộng sản cầm quyền.

Tôi nói rõ trước toà là chúng tôi không có tội với nhân dân và đất nước của mình. Cứ đối lập bị cho là có tội. Nếu cho là có tội thì chúng tôi chỉ có tội với đảng cộng sản.”

Bà cho biết trong phiên toà mở nhưng không cho công chúng tham gia, cũng không có luật sư bào chữa hai anh em đón nhận bản án mà Toà án Nhân dân tỉnh Đồng Nai đưa ra.

Chúng tôi bình thản chấp nhận bản án. Tại vì tôi biết được là khi tôi làm, khi tôi chống lại, khi mình đối lập sẽ bị bắt bớ, bị tù đày.”

Đối xử tệ bạc trong nhà tù

Chế độ dinh dưỡng kém, lao động vất vả và chăm sóc y tế tồi là những vấn đề mà người tù phải trải qua, bà Nga nói sau khi bị giam 13 tháng trong Trại tạm giam B5 của Công an Đồng Nai và 37 tháng trong Trại giam An Phước.

Bà cho biết ở Trại giam An Phước, TNLT nào không tham gia lao động sẽ bị nhốt trong phòng giam chật hẹp cả ngày. Do vậy, hầu như tất cả TNLT phải đi lao động cho dù không vất vả như thường phạm.

Trong khi tù hình sự thường phải làm việc 8-9 giờ/ngày và mức khoán sản phẩm rất cao thì tù chính trị chỉ phải làm trong 6-7 giờ/ngày và không bị ép theo mức khoán.

Tuy nhiên, người tù phải làm hàng mã xuất khẩu sang Trung Quốc và Đài Loan với nguyên liệu từ rác thải tái chế nhưng không trang bị bảo hộ lao động tương xứng. Người tù không được trả công từ lao động của mình nhưng được xét giảm án, và bà Nga được giảm 10 tháng, bà nói với RFA.

Chế độ dinh dưỡng tồi tàn và không phù hợp với chế độ lao động, bà nói.

Khi bị ốm, cho dù là bệnh gì thì trạm xá của trại giam chỉ cấp cho vài thứ thuốc như giảm đau và an thần, cũng như kháng sinh trong trường hợp viêm nhiễm nhưng liều lượng thấp nên bệnh không được chữa trị triệt để. Việc xin phép đi chữa bệnh ở các cơ sở chuyên môn cao ở ngoài trại giam rất khó khăn, bà nhấn mạnh.

Hàng tháng, nữ tù nhân trong trại được cấp băng vệ sinh cùng bột giặt, kem và bàn chải đánh răng.

Bà cho biết trong thời gian hơn ba năm ở An Phước, bà bị kỷ luật bằng hình thức phải ở trong buồng giam hai tháng, với việc hạn chế đi lại nhưng không bị đánh đập và cũng không bị cùm chân.

Sách báo trong thư viện của trại giam ít và cũ, ít có giá trị tham khảo. Đặc biệt, sách về tôn giáo hầu như không có, ngoài mấy cuốn có tính tham khảo, bà nói với RFA.

Hàng tháng, gia đình được gửi thức ăn vào cho người thân, khoảng 6-7 kg trong những lần thăm gặp hay qua đường bưu điện.

Người tù cũng được sử dụng tiền lưu ký do người nhà gửi để mua thêm đồ trong căng tin trại giam nhưng giá ở đây đắt hơn nhiều lần so với giá ngoài thị trường, và nhiều khi phẩm cấp không được bảo đảm.

Một số tù nhân lương tâm sau khi ra tù tố cáo với truyền thông việc bị đối xử tệ bạc trong trại giam An Phước, ở tỉnh Bình Dương, tuy nhiên phóng viên nhiều lần gọi đến các số điện thoại của trại giam trên mạng internet để tìm hiểu vụ việc nhưng không thể kết nối.

Theo cáo trạng do báo chí nhà nước đăng tải, hai anh em Huỳnh Minh Tâm và Huỳnh Thị Tố Nga sinh ra trong gia đình có công với cách mạng nhưng do thường xuyên vào mạng Internet đọc nhiều trang của “các đối tượng phản động” nên cả hai đã “liên hệ và trao đổi với các đối tượng chống đối trong và ngoài nước, thường xuyên chia sẻ, viết và đăng tải nhiều bài viết có nội dung xuyên tạc, kích động, chống đối chính quyền lên mạng xã hội Facebook.”

Vẫn theo cáo trạng, từ cuối năm 2017 bà Nga đã sử dụng tài khoản Facebook “Selena Zen” và “Diệu Hằng” của mình để thường xuyên đăng tải các bài viết có nội dung bị cho là xuyên tạc tình hình trong nước, phỉ báng chế độ, bóp méo, xuyên tạc lịch sử dân tộc; bôi nhọ và nói xấu lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

Bà Nga cũng đã tham gia biểu tình, viết và đăng tải gần 50 bài viết đề cập nhiều chủ đề khác nhau, kêu gọi người dân xuống đường biểu tình…


 

Một Tù Chính Trị nói về kinh nghiệm ở Trại Giam An Phước, Bình Dương

Hoài Cổ – S.T.T.D -Tưởng Năng Tiến

Tưởng Năng Tiến

Tôi xa quê đã lâu, lâu đến nỗi không còn có thể nói hay đọc được tiếng mẹ đẻ một cách lưu loát và trôi chẩy nữa. Trên đường lưu lạc, có hôm, tôi lỡ bước đến Ayutthaya – nơi được vua U Thong chọn làm kinh đô của Xiêm La, từ thế kỷ XIV.

Nhìn thành quách, đền đài, phế tích điêu tàn giữa ánh nắng chiều mà không khỏi bùi ngùi, và chợt nhớ đến bài thơ (“Thăng Long Hoài Cổ”) của Bà Huyện Thanh Quan:

Tạo hoá gây chi cuộc hý trường
Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương
Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt
Nước còn cau mặt với tang thương …

Vì vốn liếng biết tiếng Việt nghèo nàn (và vì cách dụng từ có khuynh hướng hàn lâm của tác giả) nên tôi không dám chắc là đã hiểu hết được cái tâm cảm áo não của bà, sau một cuộc bể dâu. May mắn là ngay bên dưới bài thơ thượng dẫn còn có thêm vài câu chú thích, tuy ngắn gọn nhưng khá tường tận:

“Thăng Long là kinh đô nước ta từ đời nhà Lý đến đời nhà Lê, đến đời Minh Mệnh nhà Nguyễn thì đổi ra tỉnh Hà Nội. Đi qua cố đô, Bà huyện Thanh Quan, đại biểu cho giai cấp sĩ phu Bắc Hà, bâng khuâng trước sự di đô đổi triều, đau lòng trước sự tang thương.”

Thì ra là thế!

Tôi vốn không sính chuyện thơ văn (và cũng chả có tinh thần nghinh tân hay hoài cựu gì sất cả) nên hoàn toàn không cảm thấy “bâng khuâng” chi hết, “trước sự di đô đổi triều tang thương” xẩy ra trong thời đại của chính mình. Điều may mắn là dân Việt không chỉ toàn cái thứ thất phu và vô cảm như tôi nên mọi diễn biến thời cuộc, cùng tâm tình của thế nhân, đều đã được giới “sỹ phu Bắc Hà” ghi nhận:

  • Lê Phú Khải: “Ngày vui ngắn chẳng tày gang, không khí hồ hởi vui tươi sau chiến thắng Điện Biên Phủ, sau hòa bình lập lại 1954 ở Hà Nội cũng như toàn miền Bắc mau chóng nhường chỗ cho những ngày ảm đạm, u ám của những cuộc ‘đấu tranh giai cấp’, của cải cách ruộng đất, của cải tạo tư sản, đấu tố …”
  • Nguyễn Khải: “Một nửa nước được độc lập nhưng lòng người tan nát tài sản một đời chắt chiu của họ bị nhà nước tịch thu hoặc trưng thu khiến họ trở thành những người vô sản bất đắc dĩ. Tầng lớp trí thức chẳng có tài sản gì ngoài cái đầu được tư duy tự do, thì cái đầu cũng bị nhà nước trưng thu luôn.”
  • Nguyễn Văn Luận: “Hà Nội im lìm trong tiết đông lạnh giá, người Hà Nội e dè nghe ngóng từng ‘chính sách’ mới ban hành… Hà Nội đói và rách, khoai sắn chiếm 2 phần tem gạo, 3 mét vải ‘cung cấp’ một năm theo ‘từng người trong hộ’. Mẹ may thêm chiếc quần ‘đi lao động’ thì con nít cởi truồng.”
  • Bùi Ngọc Tấn: “Quản lý chặt dạ dày, hộ khẩu, duy trì tình trạng thiếu đói cả ở nông thôn và thành phố, chia nhau từng mét chỉ, nửa cây kim, nửa cái bát sành…”

Cuộc hý trường kế tiếp, xẩy ra 21 năm sau (năm 1975) cũng thê lương và thảm thương không kém: Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý/ Đồng Khởi lên rồi mất Tự Do! Tuy đã mất tự do và công lý nhưng nhiều người cầm bút vẫn còn giữ được lương tâm, và đã khẳng khái nói lên mọi cảm nghĩ chân thật của mình, dù thuộc bên thắng cuộc:

  • Nhà văn Dương Thu Hương: “Vào miền Nam tôi khóc vì sao? Là bởi vì tôi hiểu đạo quân chiến thắng ở miền Bắc phụ thuộc vào một chế độ man rợ.”
  • Nhà thơ Phan Huy: “Tôi đã khóc ròng đứng giữa thủ đô/ Giận đảng giận đoàn bao năm phỉnh gạt.”
  • Nhà báo Trần Quang Thành: “Những người chóp bu của Cộng sản đã lừa dối nhân dân Việt Nam và lừa dối cả nhân dân toàn thế giới.”
  • Nhà báo Huy Đức: “Có một miền Nam không giống như miền Nam trong sách giáo khoa của chúng tôi.”

Nó khác ra sao?

Ông Châu Hiển Lý (bộ đội tập kết) cho biết:  “Sự bẽ bàng còn lớn hơn vinh quang chiến thắng. Hòa bình và thống nhất đã chỉ phơi bày một miền Bắc xã hội chủ nghĩa thua kém miền Nam, xô bồ và thối nát, về mọi mặt. ‘Tính hơn hẳn’ của chủ nghĩa Mác-Lênin trở thành một trò cười. Sự tồi dở của nó được phơi bày rõ rệt cùng với sự nghèo khổ cùng cực của đồng bào miền Bắc.”

Với thời gian, cùng với sự “tồi dở” và “thối nát về mọi mặt” mỗi lúc được “phơi bầy rõ rệt” hơn, dân Việt đều trở nên hoài cổ ít nhiều. “Bao giờ trở lại ngày xưa?”(hay “Ngày xưa ơi biết bao giờ trở lại?”) có lẽ là lời than thở đầu môi, sau mỗi cuộc hý trường ở đất nước này:

Nguyễn Đình Toàn (1936 – ) : Sài Gòn ơi! Ta mất người như người đã mất tên/ mất từng con phố đổi tên đường/khi hẹn nhau ta lạc lối tìm/ ôi tình buồn như đã sống thêm (Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên).

Hoàng Anh Tuấn (1932 – 2006) : Mưa hoàng hôn, năm cửa ô sầu hắt hiu trong ngục tù/ Tủi thân nhớ bao ngàу qua/ Mưa ngùi thương nhòa trên giòng sông Hồng Hà/ Ôi còn đâu vàng son mùa thơ hiền hòa/ Đau lòng Tháp Rùa, Thê Húc bơ vơ, Thành Đô xác xơ! (Mưa Sài Gòn Mưa Hà Nội).

Vũ Thành (1926 – 1987) : Rồi đây dù lạc ngàn nơi / Ta hướng về chốn xa vời/
Tìm mộng xưa lãng quên tháng ngày tàn phai/ Nghẹn ngào thương nhớ em … Hà Nội ơi! 
(Giấc Mơ Hồi Hương).

Tuy kẻ mất người còn nhưng Nguyễn Đình Toàn, Hoàng Anh Tuấn, Vũ Thành … đều thuộc về một thế hệ đã qua. Họ có “dĩ vãng vàng son” để mà hoài cổ, và đó là chuyện thường tình. Điều bất thường là lớp trẻ bây giờ cũng thế, cũng có khuynh hướng … nhìn lui!

Ngày 4 tháng 10 năm vừa qua, nhà báo Lê Anh Hùng đã ghi lại một bức ảnh của chính ông, trong bộ cánh rất chỉnh tề và lịch sự, cùng với câu hỏi: “Bao giờ cho đến ngày xưa?”

Ngày xưa nào?

Lê Anh Hùng sinh năm 1973. Ông chào đời chưa bao lâu thì “cả nước đã quy về một mối, một mối hận thùmột mối đau thương! Tuổi thơ, cũng như tuổi trẻ của ông (e ) đều không êm đềm hay tươi vui lắm. Vậy mà ông vẫn hoài cảm (hay hoài cổ) thì nghĩ cũng hơi kỳ. Cuộc sống (xem chừng) mỗi lúc một tệ hại hơn với tất cả mọi người dân Việt, bất kể tuổi tác hay thành phần – trừ đám lãnh đạo ở đất nước này:

  • Nguyễn Phú Trọng: “Nhìn tổng quát, đất nước có bao giờ được như thế này không?”
  • Nguyễn Thị Kim Ngân: “Đất nước này được như thế này, ngẩng mặt lên nhìn với bạn bè năm châu bốn biển như thế này, vai trò vị thế như thế này đó là do chúng ta duy trì được sự ổn định chính trị và trật tự an toàn trong cả nước.”
  • Nguyễn Xuân Phúc: “Việt Nam tuy là nước có thu nhập thấp nhưng có chỉ số hạnh phúc cao thứ 5 thế giới.”
  • Nguyễn Mạnh Hùng: “Tôi có một niềm tin rằng người Việt Nam sẽ làm ra những thứ mà thế giới chưa từng làm”.

Sự tự tín, lạc quan và tin tưởng (hay hoang tưởng) của họ không khỏi khiến tôi nhớ những câu than trách của nhà báo Nguyễn Thông : “Đám cai trị xứ này cũng không hẳn là mù mắt, nhưng sự mù đầu mù óc, mù tư duy, suy nghĩ thì quá rõ. Như các cụ xưa bảo, đường quang chẳng đi lại đâm quàng bụi rậm. Quờ quạng cây gậy lý luận khua khoắng dò đường, chỉ đâm vào ngõ cụt.”

Sau cả nước “đâm quàng vào bụi rậm” rồi toàn dân lại “đâm vào ngõ cụt” thì hỏi ai mà không hoài cổ?

Tưởng Năng Tiến


 

Tại sao gia đình tôi hòa thuận?

Tôi rất sợ phải nghe ba mẹ cãi nhau. Tôi thường phải làm quan tòa và lẫn lộn không biết nên nghĩ gì. Mẹ hay nói:

– Con thấy ba kỳ cục không, nếu gặp người đàn bà khác, bà ta đã đập tan mọi thứ trong nhà ra rồi.

Ngược lại ba thường hỏi:

– Con gái, tuy con còn bé nhưng con có thấy ba chịu đựng mẹ giỏi như thế nào không? Ba phải làm sao đây?

Tôi hay nhìn những tấm hình ba mẹ chụp thời mới cưới treo trên tường, hai người nhìn nhau tươi cười hạnh phúc làm sao. Họ đã từng yêu nhau thắm thiết, tại sao tình yêu lại thay đổi mau chóng và thê thảm như vậy. Họ rất khó quên, khi gây gỗ thường kể đi kể lại những chuyện giận hờn xảy ra năm xửa năm xưa, rồi từ từ nặng lời với nhau. Tôi và em gái cũng hay có chuyện vì giành đồ chơi, hay vì phân công dọn dẹp nhà cửa không đều, nhưng chỉ chút sau là chúng tôi quên và tiếp tục chơi với nhau vui vẻ. Tôi muốn gia đình hòa thuận, êm ấm như hồi tôi còn bé. Lâu rồi chúng tôi không được đi picnic, đi câu cá với nhau.

Ngày ba tôi đập tan những tấm hình đám cưới treo trên tường, là ngày ba mẹ quyết định ly dị. Ba mẹ gọi hai chị em tôi vào phòng, chúng tôi đứng trên những mảnh vụn và được hỏi:

– Hai đứa con phải quyết định, đứa nào muốn ở với mẹ, đứa nào muốn ở với ba. Chúng ta sẽ phải chia hai.

Tôi và em gái chỉ biết khóc. Cách đây mấy tháng, tôi cũng giúp ý kiến thằng Tâm để nó chọn lựa bố hay mẹ. Bây giờ tới phiên nó sẽ giúp tôi? Tôi biết Tâm rất khổ, trong lớp nó không còn muốn chơi với ai cả ngoại trừ tôi. Cô giáo và những bạn hiểu chuyện thường nói lời an ủi, thương hại và cũng làm nó thêm bực mình, muốn lẩn tránh. Nó trở nên ít nói và không cười nữa. Tôi biết rồi sẽ phải trải qua những chuyện y như vậy. Tôi rất sợ.

Đêm hôm đó tôi không ngủ được, chạy sang phòng em thấy nó còn thức, tôi rủ nó ra bàn thờ cùng đọc kinh. Chúng tôi chỉ thuộc kinh Lạy Cha và Kính Mừng, tôi ước gì có thể đọc được những kinh thật dài như người ta đã đọc trong nhà thờ để Chúa hiểu và lắng nghe chúng tôi hơn.

Một chút sau ba má tôi cũng ra phòng khách cùng quỳ đọc kinh với chúng tôi – có lẽ vì nửa đêm tiếng cầu kinh của chị em tôi lớn quá làm họ không ngủ được. Thật là nhiệm mầu, sau khi đọc kinh, ba má tôi đã xin lỗi nhau và quyết định không ly dị nữa. Tất cả chúng tôi cùng khóc.

Tôi nghe mẹ tôi kể với bạn của bà, nhờ sự thành khẩn của hai đứa tôi trong lần đọc kinh đó mà bà đã suy nghĩ lại. Tình trạng gia đình tôi từ đó khá hẳn. Gia đình tôi càng ngày càng hòa thuận.

Ba đã treo lại những tấm hình đám cưới lên tường và treo thêm tấm gia đình bốn người chúng tôi vừa chụp ở tiệm.

Tôi tin lời cầu nguyện sẽ luôn được Chúa chấp nhận nếu mình cầu xin hết lòng và ở trong một hoàn cảnh thật sự cần giúp đỡ. Tôi cũng an tâm không cần phải học nhiều bài kinh dài và mới, Lạy cha và Kính mừng có thể tạm đủ.

ST

nguồn trên mạng

From:TU-PHUNG


 

Các Sinh Hoạt Từ Thiện cuối năm của Cộng Đồng Việt khắp nước Mỹ

Các Chượng Trình Thiện Nguyện bao gồm:

  • Bữa ăn và chăn, quần áo ấm cho người không nhà – Homeless
  • Thăm viếng các cụ cao niên ở nhà hưu dưỡng ỏ các  địa phương trên khắp Hoa Kỳ.
  • Ghi Ân và ủng hộ các anh Thương Phế Binh Quân Lực VNCH
  • Gởi tiền về Việt Nam cho các cơ sở Cô Nhi Viện và Trại Cùi
  • Các Hoạt Động Từ Thiện khác trực tiếp cho đồng bào nghèo, bệnh tật.

Một chương trình vận động gây quỹ cho hoạt động thiện nguyện phục vụ cộng đồng được các tình nguyện viên thực hiện tại Eden, trung tâm thương mại lớn nhất của người Việt ở khu vực thủ đô nước Mỹ.

Tình Bằng Hữu- Bạn Già – Bác sĩ Nguyễn Ý-Ðức

Bác sĩ Nguyễn Ý-Ðức

Tục ngữ Mỹ có câu nói: “Tiếp tục kiếm thêm bạn mới nhưng hãy duy trì bằng hữu cũ, vì bạn mới là bạc mà bạn cũ lại là vàng”.

Cụ Nguyễn Ðình Chiểu của chúng ta trang trọng bạn xưa với:

” Trong đời mấy bậc cố tri,

Mấy trang đồng đạo, mấy nghì đồng tâm”

Nhà thơ Lê Đại Thanh viết:

“Bạn là một nửa bản thân tôi

Nửa da thịt, nửa trái tim, khối óc”

Còn câu sau đây là diễn tả trình bạn trong Nhị Ðộ Mai:

“Nghĩa bằng hữu bậc trung trinh,

Thấy hoa mai bỗng động tình sót xa”

Nhiều vị tuổi cao cũng có ý nghĩ rằng khi về già, ngoài việc có một sức khỏe tốt, một gia đình êm ấm, thì tình bạn lâu năm là một hành trang quý giá mà họ đã mang theo được cho tới giai đoạn cuối của cuộc đời.

Vậy thì bạn hữu là gì?

Hiểu theo nghĩa thông thường, bạn là một nhóm người thường thì không có liên hệ ruột thịt, gắn bó với nhau qua những tương đồng về hoàn cảnh sinh sống.

Họ đến với nhau trong tâm đầu ý hợp, bằng kết nối những tâm tư, những nguồn giao cảm gần giống nhau.

Họ thân với nhau để chia xẻ vui buồn, để cùng thực hiện những hoài bão chung, để nương tựa lẫn nhau.

Họ hiểu nhau, tin tưởng nơi nhau, thích nhau. Đây là một gắn bó của sự thủy chung và thương yêu vị tha và lâu dài. Với nhau, họ là người đồng hành, là người tin cậy.

Bạn hữu khác với người quen biết, gặp nhau trong công việc hàng ngày như ở sở làm, trong cộng đồng, ngoài lối xóm. Đó chỉ là những tiếp xúc trong một thời gian giới hạn và cần thêm nhiều lôi cuốn, kết nối khác nữa để chuyển sang tình bằng hữu.

Trong đời sống hàng ngày, nhiều khi người ta đã lạm dung chữ bạn. Mới gặp nhau vài lần mà đã nói đó là bạn tôi, cứ như là thật. Ông bà chủ lấy lòng nhân viên, sai bạn ơi làm hộ tôi cái này, cái kia sao mà ngọt như mía lùi. Ðể rồi lay off nhau cũng mau như cắt.

Bạn hữu thường tập trung vào mấy nhóm.

Một số người có tinh thần độc lập, tự cho là không cần đến ai. Không phải họ sống cô độc. Nhưng, với họ, những giao tế qua lại thường nhẹ nhàng, có cũng được mà không cũng chẳng sao. Rồi tùy theo hoàn cảnh, tùy theo nhu cầu, nếu cần thì giao tiếp, nếu không có thể quên đi dễ dàng. Họ sống với hiện tại và thỏa mãn với những người mà họ mới gặp hay đã có sẵn. Cho nên khi mất một giao hữu, họ cũng chẳng tiếc mấy.

Những người kỹ tính, lựa bạn mà chơi thì có gắn bó sâu đậm đặc biệt với một số người mà họ coi là rất thân. Nên họ buồn tiếc khi mất. Còn những liên hệ khác thì chỉ là những thiển giao, quen biết nhiều hơn là kết bạn. Họ sống nhiều với bạn xưa và không muốn tìm bạn mới khi tới tuổi cao.

Người hiếu bạn có nhiều bằng hữu hơn: bạn quen từ những năm trước, bạn mới tạo ra sau này. Họ là những người sống với cả quá khứ, hiện tại trong tình bạn và sửa soạn cho tương lai với nhiều bạn bè. Họ luôn luôn dùng giao tế nhân sự để kiếm thêm bạn mới.

Nhiều nhà xã hội học phân biệt bằng hữu tương nhượng, bằng hữu tiếp thu và bằng hữu trong hợp tác.

Khi đôi bên cho nhau lòng trung thành và tình thương yêu thì có sự cân bằng của tình bạn, đôi bên nương tựa lẫn nhau.

Khi chỉ có một bên cống hiến tất cả và bên kia không đáp lễ thì chỉ có tình bạn một chiều.

Khi chỉ hợp tác vì một quyền lợi, một mục đích mà không có thương yêu, chung thủy thì giao tế không bền và rất giới hạn.

Đặc điểm của bằng hữu.

Khác với tình anh em, vợ chồng, bạn hữu có những sắc thái riêng biệt. Đây là một giao hảo có tính cách tự nguyện, một ràng buộc riêng tư do đôi bên hiểu ngầm thương lượng, một liên hệ qua lại trong tinh thần bình đẳng tràn đầy thiện tâm, thiện ý.

Vì tự nguyện với có quyền lựa chọn và được chọn lựa nên không ai bắt buộc ai phải là bạn. Nó cũng không có ràng buộc pháp lý như tình nghĩa vợ chồng, hoặc lễ nghĩa huyết tộc như tình anh chị em ruột thịt.

Cho nên dù có liên hệ huyết mạch, người cùng lối xóm, cùng sở làm mà không có tương khí tương đồng thì cũng không trở nên bằng hữu được. Ta có thể tỏ ra hết sức lịch sự với người cùng phòng, cùng sở nhưng không có điều gì bắt buộc ta phải thích và là bạn người đó. Ta không thể tự coi là bạn của một người khi ta không biết người đó có sẵn sàng nhận ta là bạn không. Tác giả người Pháp J Delille đã nói: “Cha mẹ là do số phận, bạn bè do lựa chọn ”.

Bình đẳng vì tình bạn xây dựng trên cá nhân mỗi con người. Nó không đòi hỏi sự bằng nhau tuyệt đối về học vấn, về địa vị trong xã hội, về sự giàu tiền, lắm bạc như nhau, thành công như nhau. Đã có nhiều tình bạn rất đẹp nẩy nở giữa chủ và thợ, giữa thầy và trò, giữa người giàu và người nghèo.

Tình bạn cũng tôn trọng tính cách độc lập của nhau: mỗi bên có nếp sống riêng tư, tự do quyết định cho đời sống của mình mà không bị bên kia can thiệp. Không có sự áp đặt chủ -nô hoặc khuất phục như lãnh chúa độc tài với thần dân.

Trong tình bạn, đôi bên dành cho nhau những cảm tình tốt, những chăm sóc, quan tâm tận tình, những giúp đỡ khi cần và sự rộng lượng, sẵn sàng với nhau. Thiện ý này không đưa đến sự lợi dụng nhau hoặc phụ thuộc nhau. Người giúp thấy thoải mái làm mà không cho là có bổn phận hoặc bị bắt ép phải làm, mà người nhận không bị ám ảnh là đã đòi hỏi quá nhiều ở bạn.

Vì khi đã phụ thuộc vào nhau thì sự tự do, bình đẳng không còn nữa. Một tình bạn đích thực không những chỉ cởi mở để cho mà còn vui vẻ để nhận.

Tình trạng sẵn sàng với nhau cũng là căn bản của bằng hữu và trong tình bằng hữu, không có sự ghen tị mà còn cần thành thật với nhau, không mầu mè, che đậy.

Để có bằng hữu

Tình bạn có thể được xây dựng trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào của con người.

Căn bản là ít nhất họ có cùng một thôi thúc tình cảm, có sự chia xẻ trao đổi những ý nghĩ giống nhau, có cùng sở thích, quyền lợi. Trong tình bạn tuy cũng có những khác biệt nhưng khác biệt này bổ túc cho nhau. Nếu hoàn toàn giống nhau thì đâu còn đối thoại, đồng cảm.

Bạn thường tìm thấy trong các nhóm có chung sinh hoạt: học cùng trường, ở cùng khu phố, làm cùng nghề, cùng thú vui giải trí, cùng lui tới cơ sở tôn giáo. Nó nẩy sinh ở những lứa tuổi khác nhau. Nhóm trung niên có lợi điểm là có bạn ở mọi lứa già trẻ trong khi người già có bạn ở cùng lứa tuổi hoặc trẻ hơn.

Về giống tính thì thường thường đàn ông đàn bà đều có nhiều bạn như nhau, nhưng chồng thì không hay tâm sự nơi bạn mà tin cẩn vợ hơn, còn vợ thì có nhiều bạn gái để tâm sự ngoài chồng mình.

Bằng hữu nẩy sinh trong những thôi thúc tình cảm giữa hai người. Thôi thúc càng cao thì bằng hữu càng sâu đậm.

Một câu hỏi thường được nêu ra là tại sao ta có ước muốn gắn bó với đối tượng này mà lại hững hờ với đối tượng khác. Có những tình bạn xuất hiện như tia chớp trên nền trời xanh: mới chỉ gặp một vài lần, chưa biết quá trình, hiện tại của nhau nhưng đã dành cảm tình cho nhau, đã muốn được có bạn và được nhận là bạn. Ý thức chưa thấy gì, nhưng tiềm thức đã nhận ra và tiên đoán là nhiều triển vọng tình bạn sẽ nẩy nở sau này.

Sự bá vai, chèo kéo, nài nỉ không đưa tới tình bạn, như các cụ ta thường nói: “Thấy người sang bắt quàng làm họ”.

Đồng nghiệp, đồng sở không đương nhiên thành bằng hữu vì đây chỉ là giao tế khách quan, không vượt qua lãnh vực nghề nghiệp.

Một vấn đề tế nhị là sự xét đoán và chấp nhận trong tình bạn: nhận xét một cách khách quan về việc làm của bạn hoặc chấp nhận và hỗ trợ vô điều kiện. Đa số đều kỳ vọng có sự chấp nhận không phê phán từ bạn mình. Một số khác lại tin cậy ở nhận xét của bạn để quyết định và để học cách hành xử trong hoàn cảnh mới. Như vậy mặc dù con người không thích bị đánh giá, nhưng một nhận xét chân thành của bạn có thể có ích cho họ.

Bạn Già
Giống như lúc mới sinh và trong thời còn thơ ấu, tuổi già đôi khi chịu một số phận không mấy vui là phải phụ thuộc vào người khác nhất là sau khi đã có nhiều mất mát.

Nhưng, thay vì vươn ra khỏi sự phụ thuộc như lớp tuổi thơ thì người già lại đi sâu vào vòng phụ thuộc. Họ không còn làm việc, bị giảm lợi tức, con cái đi ở riêng, mất dần bạn bè, người thân yêu, kém sức khỏe, bệnh hoạn. Cho nên về già mà có được những bạn cố tri thân thiết hoặc tạo thêm ra những bạn mới để nương tựa lẫn nhau là một điều rất an ủi.

Nhiều người cho rằng dù họ hàng thân thuộc có giúp đỡ nhưng bằng hữu thường gần gũi nhau hơn, dễ nói với nhau hơn. Và có nhiều điều mà chính người phối ngẫu cũng không cung ứng được bằng những bạn cố tri. Họ đã cùng vui buồn có nhau khi xưa mà bây giờ già rồi vẫn còn bên nhau. Họ nương tựa lẫn nhau để có bầu có bạn, hiểu nhau để giúp đỡ lẫn nhau. Họ lắng nghe nhau tâm sự, kể lại cho nhau những kỷ niệm, những việc đã cùng làm. Họ đối xử, xưng hô thân mật như mấy chục năm về trước.

Thường thường người già muốn có những người bạn cùng lứa tuổi, có hoàn cảnh như nhau, sở thích kinh nghiệm như nhau, sống gần nhau để thuận tiện qua lại. Nhưng họ cũng có khuynh hướng là tạo thêm bạn mới ở lứa tuổi trẻ hơn để thay thế vào chỗ của những người bạn cùng tuổi sẽ lần lượt ra đi. Cũng có người già tập trung nuôi dưỡng bạn cố tri, giới hạn trong việc tìm thêm bạn mới để tiết kiệm sinh lực và để tránh gặp những trái ý không cần thiết.

Về già cũng có một số hoàn cảnh khiến cho tình bạn gặp trở ngại.

Kém sức khỏe đưa đến không cùng nhau sinh hoạt. Quá phụ thuộc vào bạn trong các công việc hàng ngày. Nếu sự phụ thuộc quá nhiều thì đôi khi bạn cũng thấy khó chịu, xa dần. Rồi người già rơi vào cảnh cô lập, nhất là khi giảm khả năng đối thoại với tai nghễnh ngãng, mắt kèm nhèm.

Cũng nhiều người già không có thì giờ nhiều cho bạn bè vì bận rộn chăm sóc cho sức khỏe của mình hoặc để nghỉ ngơi. Ngoài ra, có trường hợp trong đó khi dư giả thì bạn bè năng tới lui, mà nghèo khó thì lại thưa vắng qua lại. Như tình huống của Nguyễn Hữu Chỉnh: “Ðã hẳn ai là mặt cố tri; Giầu sang tìm đến, khó tìm đi”

Tình nghĩa vợ chồng già dù như đũa có đôi, nhưng cũng nên có những bạn riêng để phòng hờ thời gian đơn côi, góa bụa.

Khi mất người phối ngẫu, lão nam cảm thấy lẻ bóng nhiều hơn vì đã mất người bạn đầu gối tay ấp cả dăm ba chục năm.

Bình thường quý lão bà có nhiều bạn tâm tình trong suốt cuộc đời. Nhưng khi bạn hiền ra đi, thì cụ bà thấy quan hệ với bằng hữu cũ của vợ chồng giảm dần. Cũng may là họ dễ dàng tạo thêm bạn mới, giao hảo mới bằng cánh tham dự vào nhiều sinh hoạt cộng đồng, tôn giáo. Đa số bạn của cụ bà khi đó là cô quả cùng cảnh ngộ, chỉ có một số nhỏ có gia đình. Cho nên khi còn sống với nhau mà bà vợ không chịu giao tế tạo bạn cho mình thì khi ở góa sẽ có nguy cơ cô đơn. Nhất là khi chẳng may khả năng tài chánh lại không được dồi dào.

Kết luận

Mặc dù có thể có những căng thẳng, những thay đổi ngoài tầm kiểm soát, tình bạn vẫn giúp người già cảm thấy vui lên rất nhiều. Cho nên mất một bạn cố tri là một tai biến vì nhiều người già cảm thấy không còn đủ thời gian để thay thế cái khoảng trống tình cảm đó.

Hơn nữa, như Simone de Beauvoir đã viết:” Cái chết của người bạn thân thiết là sự đoạn tuyệt đột ngột với quá khứ của mình. Chúng ta không những mất một sự hiện diện mà còn mất cả một phần của cuộc sống mà chúng ta đã gửi gắm nơi họ”.

Bác sĩ Nguyễn Ý-Ðức

From: Truong Le