TRÁI TIM CỦA THẦY

TRÁI TIM CỦA THẦY

“Tình yêu” có lẽ là hai chữ được dùng nhiều nhất trong đạo Công giáo chúng ta.  Mà hình ảnh để diễn tả tình yêu lại không gì khác hơn là hình trái tim.  Nhưng thế nào là một trái tim hoàn hảo?  Tôi nhớ có một câu chuyện kể như sau:

Một chàng thanh niên nọ một hôm đứng giữa thị trấn và tuyên bố mình có trái tim đẹp nhất vì chẳng hề có tí tỳ vết hay rạn nứt nào.  Đám đông đều đồng ý đó là trái tim đẹp nhất mà họ từng thấy.  Bỗng một cụ già xuất hiện và nói: “Trái tim của anh không đẹp bằng trái tim tôi!”.  Chàng trai cùng đám đông ngắm nhìn trái tim của cụ.  Nó đang đập mạnh mẽ nhưng đầy những vết sẹo.  Có những phần của tim đã bị lấy ra và những mảnh tim khác được đắp vào nhưng không vừa khít nên tạo ra một bề ngoài sần sùi, lởm chởm; có cả những đường rãnh khuyết vào mà không hề có mảnh tim nào trám thay thế.

Chàng trai cười nói:
– Chắc là cụ nói đùa!  Trái tim của tôi hoàn hảo, còn của cụ chỉ là những mảnh chắp vá đầy sẹo và vết cắt.

Cụ già ôn tồn giải thích:
– Mỗi vết cắt trong trái tim tôi tượng trưng cho một người mà tôi yêu, không chỉ là những cô gái mà còn là cha mẹ, anh chị, bạn bè…  Tôi xé một mẩu tim mình trao cho họ, thường thì họ cũng sẽ trao lại một mẩu tim của họ để tôi đắp vào nơi vừa xé ra.  Thế nhưng những mẩu tim chẳng hoàn toàn giống nhau, mẩu tim của cha mẹ trao cho tôi lớn hơn mẩu tôi trao lại họ, ngược lại với mẩu tim của tôi và con cái tôi.  Không bằng nhau nên chúng tạo ra những nếp sần sùi mà tôi luôn yêu mến, vì chúng nhắc nhở đến tình yêu mà tôi đã chia sẻ.   Thỉnh thoảng tôi trao mẩu tim của mình nhưng không hề được nhận lại gì, chúng tạo nên những vết khuyết.  Tình yêu đôi lúc chẳng cần sự đền đáp qua lại, cậu ạ.  Dù những vết khuyết đó thật đau đớn nhưng tôi vẫn luôn hy vọng một ngày nào đó họ sẽ trao lại cho tôi mẩu tim của họ, và lấp đầy khoảng trống mà tôi luôn chờ đợi.

Chàng trai đứng yên với giọt nước mắt lăn trên má.  Anh bước tới, xé một mẩu từ trái tim hoàn hảo của mình và trao cho cụ già.  Cụ già cũng xé một mẩu từ trái tim đầy vết tích của cụ trao cho chàng trai.  Chúng vừa nhưng không hoàn toàn khớp nhau, tạo nên một đường lởm chởm trên trái tim chàng trai.  Trái tim của anh không còn hoàn hảo nhưng lại đẹp hơn bao giờ hết vì tình yêu từ trái tim của cụ già đã chảy trong tim anh…

Câu chuyện gợi nhắc tôi về trái tim của Thầy Giêsu.  Trái tim ấy có vòng gai xung quanh, có cây Thánh giá cấm xuống giữa cuống tim và có ngọn lửa tỏa lan ánh sáng.

Vòng gai cho thấy con tim Thầy chẳng còn được nguyên vẹn.  Gai của lòng đố kỵ nơi các bác Pha-ri-sêu.  Gai của bọn lính hung hăng chỉ biết xả giận trên người tử tù trắng án.  Gai của sự phản bội nơi người môn đệ được Thầy tin tưởng giao cho quản lý túi tiền: Giu-đa.  Gai của nỗi sợ hãi trơ trẽn đến thê thảm của Phê-rô lãnh đạo.  Gai của nỗi đau khi thấy Chúa Cha bỏ rơi mình.  Những mẫu gai từ xa đến gần, từ sơ đến thân dường như chực chờ làm con tim Thầy tan nát, vụn vỡ.

Vậy mà, Thầy đã can đảm cắm thẳng cây Thánh giá vào giữa con tim còn mang thương tổn đầy vị đắng chát ấy.  Thầy như muốn khẳng định chỉ có ân sủng đổ ra từ cây Thánh giá mới có sức chữa lành và hàn gắn thật sự.  Chiều dọc của Thánh giá như chiếc máng kéo ân sủng từ trời xuống con tim nhân loại, làm con người lỗi tội có cơ hội chạm tới được sự thánh thiện của Trời.  Chiều ngang của Thánh giá như chiếc cầu hòa giải những tương quan đổ bể, xa vắng giữa người với người.  Hóa ra, Thánh giá của Thầy là phương dược làm khép miệng các vết thương do vòng gai tạo nên.  Vết thương đã hết nhưng sẹo còn đó.  Sẹo làm cho trái tim không còn đẹp nữa.

Nhưng hệ chi, một khi đã được lành, con tim ấy lại có sức tỏa lan ánh sáng.  Ánh sáng của một thứ tình yêu đã được luyện lọc.  Thứ tình yêu có khả năng “tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả”.  Ánh sáng tình yêu kia không bốc cháy rừng rực tựa hồ muốn thiêu rụi tất cả; nhưng trường kỳ liên lỉ tỏa hơi ấm an ủi những tấm lòng lạnh lẽo, soi lối những con tim lang thang, hun rèn những tâm hồn sốt mến.

Như thế đó, trái tim Thầy không còn độ cong hoàn hảo, cũng chẳng đẹp hồng như tranh vẽ; nhưng nó chứa đầy tình yêu cứu độ.  Đạo của Thầy không quảng cáo một tình yêu lãng mạn, không thương tích; nhưng nhắm thẳng đến những con tim đau khổ, tan nát mà vẫn khát khao đập những nhịp tha thứ, trắc ẩn và rộng mở.  Ước gì con cũng biết cắm cây Thánh giá của Thầy vào trái tim héo mòn của con để ơn cứu độ chữa lành và làm con bừng cháy lửa yêu.

Bảo Ân, SJ
Kính Thánh Tâm Chúa Giêsu
06 – 2013

From: ngocnga_12 và

anh chị Thụ Mai gởi

CẢM ƠN TRỜI

Cảm ơn

TRẦM THIÊN THU

Đăng bởi lúc 8:32 Sáng 24/06/13

VRNs (24.06.2013)– Sài Gòn-

CẢM ƠN TRỜI

Cảm ơn Trời đã để tôi sống nghèo thê thảm

Nhờ đó tôi mới biết cảm thương người nghèo nàn

Cảm ơn Trời đã để tôi bị hàm oan

Nhờ đó tôi mới cảm thông người bị xét xử

Cảm ơn Trời đã để tôi bị người ta ghét bỏ

Nhờ đó tôi mới thấy cảm thương những người cô đơn

Cảm ơn Trời đã để tôi bình thường nhất trong những người bình thường

Nhờ đó tôi mới cảm nhận thế nào là mơ ước

Cảm ơn Trời đã để tôi bị thua thiệt

Nhờ đó tôi mới biết khao khát vươn lên

Cảm ơn Trời đã để tôi không hiểu thấu những điều cao siêu hơn

Nhờ đó tôi mới không sa vào hố kiêu ngạo

Cảm ơn Trời đã để tôi biết phân biệt thực, ảo

Nhờ đó tôi mới cảm nhận cuộc sống vô thường

Cảm ơn Trời đã để tôi tha phương

Nhờ đó tôi mới có thể hòa đồng với người xa, kẻ lạ

Cảm ơn Trời đã để tôi mồ côi cả Cha lẫn Mẹ

Nhờ đó tôi mới biết trân quý tình cảm gia đình

Cảm ơn Trời đã để tôi “lạc loài” giữa cuộc đời loanh quanh

Nhờ đó tôi mới cảm nhận thế nào là bóc lột, áp bức

Cảm ơn Trời đã để tôi không giống ai hết

Nhờ đó tôi mới hiểu đừng bắt chước, cứ là chính mình

Cảm ơn Trời đã để tôi không may mắn như bạn bè, thua chị, kém anh

Nhờ đó tôi mới cảm nhận cảm giác của người bị hại

Cảm ơn Trời đã để tôi có những lần thất bại

Nhờ đó tôi mới cảm nhận chút hạnh phúc khi thành công

Tất cả là bất đẳng thức, bất thường mà bình thường

Tôi cố gắng vẽ bức-tranh-cuộc-đời-tôi bằng nét-cọ-số-phận

Trông lên thấy mình chẳng bằng ai, vô duyên và lận đận

Nhưng khi nhìn xuống, thấy còn bao người khổ đau

Họ không thấy niềm vui ở đâu

Không thể có – dù họ vẫn khao khát sống thanh thản!

TRẦM THIÊN THU

CÔNG HIỆU CỦA NƯỚC THÁNH

CÔNG HIU CA NƯỚC THÁNH

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyt

Cách đây gn 450 năm – tháng 6 năm 1562 – thánh n Têrêxa Đc Chúa GIÊSU, hay còn gi là Têrêxa thành Avila (1515-1582), hoàn tt cun ”T Thut”, viết theo lnh Cha Gii Ti. Nơi chương 31, thánh n đc bit nói v công hiu ca Nước Thánh – Nước Phép – đi vi ma qu, trong kinh nghim chính cuc đi thánh n.
+++
M
t ngày, khi tôi nhà nguyn, tên qu hin ra đng bên trái dưới hình dng trông tht ghê tm. Đc bit khi nhìn cái ming hn nói, thì ôi thôi, trông tht kinh khiếp. Người ta có cm tưởng mt ngn la ln phát ra t thân th cháy rc ca hn. Bng mt ging nghe tht hãi hùng, hn nói vi tôi rng tôi được cu khi tay hn, nhưng ri thế nào hn cũng bt tôi tr li.

Tôi s hãi vô cùng, lin giơ tay làm du Thánh Giá. Tên qu biến mt, nhưng tr li ngay sau đó. Hn biến đi ri tr li, đến hai ln như thế. Thú tht tôi không biết phi làm thế nào đ đui tên qu đi. Trong nhà nguyn có Nước Thánh, tôi lin ly Nước Thánh và ry vào ch tên qu đng. Ln này thì hn biến đi và không tr li na!
M
t ln khác, trong vòng 5 tiếng đng h liên tc, ma qu hành h tôi bng đ mi cách: đau đn th xác và bn lon tâm hn. Cơn hành h mnh đến ni tôi tưởng mình không th chu đng lâu hơn. Các n tu hin din, cũng kinh hãi và không biết phi làm gì. Phn tôi, tôi không biết phi làm thế nào đ chng c vi ma qu.

Thường thì khi nào b đau đn th xác quá đ, tôi vn c gng cu nguyn, van xin THIÊN CHÚA ban cho tôi s nhn nhc, và nếu là Thánh Ý Chúa, thì Chúa có th đ cho tôi chu đau kh như thế đến tn thế. Nhưng ln này, cơn đau đn mnh đến ni làm tê lit c nhng ý hướng tt lành.

May mn thay, Chúa t cho tôi biết: cơn hành h này do ma qu gây ra, bi vì ngay lúc đó, tôi thy mt đa bé da đen trông tht ghê tm đng bên cnh tôi. Thng nh lm-bm gin d như tuyt vng, b đánh mt vt mà nó tưởng đã nm chc.

Khi trông thy thng nh đen đi xu xí, tôi bng bt cười và không còn s hãi gì. Tuy thế, ma qu vn tiếp tc hành h thân xác tôi bng nhng cú đm đá d dn. Tôi không dám xin các n tu có mt mang Nước Thánh đến vì s các ch không hiu lý do, ri đâm ra hoang mang vô ích.

Tôi có kinh nghim là ch nguyên Nước Thánh thôi, đ đ đui ma qu chy trn và không bao gi dám tr li. Ma qu cũng s Thánh Giá và trn mt, nhưng tr li sau đó.
Công hi
u ca Nước Thánh qu tht ln lao!

Phn tôi, nim an i mà tâm hn cm nhn mi khi tôi dùng Nước Thánh thì tht là đc bit và đáng k. Tôi không biết din t thế nào, nhưng mà, mi khi tôi s dng Nước Thánh, thì y như là tôi được gii khát, được cm thy ngt ngào và an i trong tâm hn. Điu này không phi do trí tưởng tượng bày v ra, vì công hiu này không phi ch xy ra mt ln, nhưng xy ra thường xuyên, khiến tôi phi đc bit chú ý. Ging như th mt người b nóng nc, b khát nước mà được ung mt ly nước tht mát, thì cm thy mình đ khát vy.

Đi vi tôi, tôi nhn thy:
Tt c nhng gì Hi Thánh truyn dy thì tht là ln lao. Tht là thích thú khi thy rng li Linh Mc đc khi làm phép nước, qu đã đem li sc mnh ln lao, vì có mt s khác bit vô cùng rng ln gia Nước được làm phép và nước không được làm phép!

Do đó, vì thy các cơn đau đn vn không gim bt chút nào, tôi lin xin các n tu có mt mang Nước Thánh đến cho tôi. Các ch đi ly và ry trên người tôi, nhưng vn không có kết qu.

Thy thế, tôi lin ly Nước Thánh và ry chính nơi tên qu đng, tc khc tên qu chy trn ngay và mi ni đau đn cũng biến mt.

Tôi rút ra kết lun như thế này: Du mt linh hn và mt thân xác không thuc v ma qu, nhưng ma qu vn xin được phép ca Chúa đ làm kh chúng ta.

Vy nếu chúng ta không thuc v chúng, mà chúng hành h chúng ta như thế, thì th hi, khi chúng ta lt vào tay chúng, chúng s hành h chúng ta đến mc đ nào na? Ý tưởng này khiến tôi nht quyết không bao gi đ mình rơi vào vòng tay ca mt tên hèn-h, bn-tin, bn-thu và đáng kinh-tm là ma qu!!!
… By gi Đc Chúa GIÊSU được Thn Khí dn vào hoang đa, đ chu ma qu cám d. Người ăn chay ròng rã bn mươi đêm ngày, và sau đó, Người thy đói. By gi tên cám d đến gn Người và nói: ”Nếu Ông là Con THIÊN CHÚA, thì truyn cho nhng hòn đá này hóa ra bánh đi!” Nhưng Người đáp: ”Đã có li chép rng: Người ta sng không ch nh cơm bánh, nhưng còn nh mi li ming THIÊN CHÚA phán ra”. Qu li đem Người lên mt ngn núi rt cao và ch cho Người thy tt c các nước thế gian, và vinh hoa li lc ca các nước y, và bo rng: ”Tôi s cho Ông tt c nhng th y, nếu Ông sp mình bái ly tôi”. Đc Chúa GIÊSU lin nói: ”Satan kia, xéo đi! Vì đã có li chép rng: Ngươi phi bái ly THIÊN CHÚA ca ngươi và phi th phượng mt mình Người mà thôi”. Thế ri qu b Người mà đi, và có các s thn tiến đến hu h Người (Matthêô 4,1-11).
(”THÉRÈSE D’AVILA”, Oeuvres Complètes, Desclée de Brouwer, 1989, trang 220-222)

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

Anh chị Thụ Mai gởi

Thơ: Tâm sự đời con

Thơ: Tâm sự đời con

Đăng bởi lúc 6:01 Sáng 23/06/13

VRNs (23.06.2013) – Sài Gòn- TÂM SỰ ĐỜI CON

Tâm hồn con tan nát

Tìm đến Chúa tựa nương

Trái tim con luân lạc

Giữa cuộc đời đau thương

Bao trở trăn suy nghĩ

Ngày đêm chật âu lo

Những ước mơ dang dở

Vẫn không ngừng giằng co

Giữa dòng đời xuôi ngược

Con như kẻ mộng du

Khoảng trầm tư đơn độc

Lạc lõng và ngu ngơ

Tâm hồn con tơi tả

Cúi xin Chúa xót thương

Và đại lượng tha thứ

Những hoài bão ngổn ngang

Khuya 20-5-2013

PHÙ SA HỒNG ÂN

Sinh ra khóc để chào đời

Mọi người hạnh phúc cười tươi đón chào

Tình thương cha mẹ ngọt ngào

Vòng tay âu yếm sớm chiều chở che

Lớn lên suy nghĩ bộn bề

Vui, buồn, sướng, khổ – Sớm khuya không ngừng

Đường đời đầy những gai chông

Buồn nhiều, vui ít, ngổn ngang lòng người

Vẫn chưa mãn nguyện nụ cười

Tuổi già vội đến đứng ngoài cửa kia

Sông đời bồi đắp phù sa

Là Hồng Ân Chúa bao la tháng ngày

Dù cho gian khổ vơi đầy

Vẫn luôn cảm tạ Tình Ngài xót thương

TRẦM THIÊN THU

CON NGƯỜI CÓ LINH HỒN KHÔNG ?

CON NGƯỜI CÓ LINH HỒN KHÔNG ?

VÂN ĐÊ 07: Tôi đã ở bên rất nhiều người sắp chết, mà khi họ chết tôi chẳng thấy có linh hồn nào bay ra cả. Các nhà tôn giáo lợi dụng bản năng muốn tồn tại mãi của con người nên đã bày đặt ra linh hồn thiêng liêng bất tử để làm tiền những người ngu dốt tin theo. Thực sự chết đi là hết.

TRẢ LỜI:

I. CON NGƯỜI CÓ LINH HỒN, NHƯNG THIÊNG LIÊNG NÊN TA KHÔNG THẤY ĐƯỢC.

1. Giác quan con người có giới hạn:

Trong vũ trụ thiên nhiên, có nhiều vật hiện hữu thực sự, nhưng lại vượt quá tầm tiếp nhận của giác quan con người. Chẳng hạn: Mắt ta đâu có xem thấy dòng điện, đâu nhìn thấy được quang tuyến X, tia xích ngoại tuyến hay tử ngoại tuyến… Nhưng ai dám quả quyết không có điện, không có những tia kia? Giả như tạo hóa cho mắt con người xem được 4000 tỷ rung động của ánh sáng trong một giây đồng hồ, thì bộ mặt thực chung quanh ta sẽ thay đổi hẳn: Chúng ta sẽ chỉ còn thấy các bộ xương ngươì đeo đồng hồ tòn ten ở cổ tay đi lang thang ngoài đường phố: Tai cũng thế, nó chỉ có thể tiếp nhận âm thanh trong một giới hạn nào đó. Tai của loài chó được huấn luyện có thể nghe được tiếng còi siêu âm của chủ, đang khi tai con người đành chịu bất lực không thê nghe được.

Như vậy, KHÔNG XEM THẤY LINH HỒN BAY RA NƠI MÔT NGƯỜI CHẾT, KHÔNG PHẢI LÀ YẾU TỐ ĐỦ ĐỂ QUẢ QUYẾT CON NGƯỜI KHÔNG CÓ LINH HỒN.

2. Con người có linh hồn có đăc tính thiêng liêng :

Con người có linh hồn, nhưng sở dĩ ta không thấy được vì linh hồn có đặc tính thiêng liêng vô hình khác hẳn vật chất. Cũng như dù không trông thấy dòng điện nhưng ta vẫn công nhận có điện, khi thấy được hiệu quả của nó làm sáng bóng đèn, làm quay máy quạt thế nào, thì cũng vậy, dù mắt ta không trông thấy linh hồn thiêng liêng nhưng vẫn công nhận có linh hồn, nhờ thấy được hiệu quả của linh hồn làm cho thân xác sống động, và là nguyên nhân phát sinh tư tưởng và ý chí tự do qua trung gian óc não con người.

II. CHẾT KHÔNG PHẢI LÀ HẾT.

Con người vốn có 2 phần: thân xác vật chất và linh hồn thiêng liêng siêu hình. Chết là khi thân xác không còn sống động, không ăn uống, đi đứng, nói năng suy nghĩ… Nói cách khác: chết là khi linh hồn lìa ra khỏi xác. Khi ấy thân xác chỉ còn là một khối vật chất, gồm những tế bào không liên kết chặt chẽ với nhau như khi còn sống, vì thiếu sợi dây kết hợp là linh hồn. Xác con người sẽ theo định luật biến hóa của vật chất như bao vật khác: thịt xương, sẽ bị thối rữa do ảnh hưởng của nhiệt độ, không khí, vi trùng,v.v…để trở thành những chất khác.

Chết đi không phải là hết như có người lầm tưởng, vì linh hồn con người không tiêu tan theo thể xác, nhưng sẽ còn tồn tại mãi vì những lý do như sau:

1. Vì linh hồn có đặc tính thiêng liêng:

Linh hồn là nguyên lý sự sống của thân xác con người. Người ta chỉ có thể nhìn thấy hiệu quả của sự sống với hai tài năng là trí khôn và ý chí, nhưng không thể thấy được vì có đặc tính thiêng liêng vô hình. Vì linh hồn không phải vật chất cũng không bị biến hóa do ảnh hưởng của hoàn cảnh vật chất theo các định luật tiến hóa, nên linh hồn bất diệt, và luôn tồn tại mãi mãi.

2. Vì là một điều hợp lý:

a) Nhìn vào vạn vật trong vũ trụ thiên nhiên, ta nhận thấy có một sự xếp đặt trật tự hoàn hảo, vật dưới phải phục vụ cho vật trên, vật này làm thỏa mãn vật khác. Chẳng hạn: Mắt có khả năng và nhiệm vụ xem thì trong thực tế đã có ánh sáng, hình thể, màu sắc… đáp ứng với khả năng xem ấy. Tai có khả năng và nhiệm vụ nghe thì thực sự đã có âm thanh, tiếng đông làm thỏa mãn khả năng nghe ấy. Con cá có khả năng và nhu cầu sống dưới nước, thì khi thấy ở đâu có cá, đương nhiên ta cũng thấy có nước là thỏa mãn nhu cầu cần nước ấy v.v…Cũng thế, về phạm vi tinh thần, hầu như mọi người đều tự nhiên muốn đươc tồn tại mãi mãi, đều có nhu cẩu được trường sinh bất tử… thì thực tế cũng phải có đời sống vĩnh cửu sau khi chết để đáp ưng ước vọng chung tự nhiên ấy mới hợp lý.

b) Giả như bạn có thể nói chuyện với một bào thai, thì bạn sẽ nói với nó vê một đời sống tương lai của bào thai mà chính bạn đã có kinh nghệm và thực sự đang sống như sau:

– Hỡi bào thai, đời sống của mày ngắn ngủi nhưng tiếp theo còn một đời sống khác thực sự và lâu dài.

Vậy bào thai sẽ trả lời bạn ra sao? Nếu thiếu suy nghĩ thì chắc nó sẽ trả lời:

– Tôi chỉ công nhận có thực những gì tôi trông thấy và kiểm nghiệm được. Do đó chỉ có một đời sống hiện tại tôi đang sống, còn đời sống khác như ông nói chỉ là sự bịa đặt mê tín, không thể tin được.

Nhưng nếu có chút trí khôn suy nghĩ chắc bào thai sẽ cho rằng bạn có lý và tự nhủ:

– Ừ nhỉ, đây tôi có hai tay, mỗi ngày một phát triển hoàn bị thêm, Thế mà tôi chẳng cần dùng tới nó chút nào cả. Tôi cũng không thể duỗi chúng ra được! Nhưng tại sao tôi lại có hai cánh tay? Chắc là để dành cho một chặng đường tương lai mà sau này tôi sẽ cần đến chúng. Chân tôi cũng mọc dài ra mà tôi cũng phải buộc co gấp chúng. Vậy có chân làm gì trong khi hiện giờ tôi không cần mà mỗi ngày nó một phát triển thêm? Chắc là tôi sẽ phải sống ở một hoàn cảnh khác mà ở đó tôi sẽ phải sử dụng chân để bước đi. Tại sao có hai mắt? Trong căn phòng tối tăm dày đặc này thì có mắt cũng như mù. Vậy có mắt để làm gì? Chắc là tôi sẽ bước sang một thế giới đầy màu sắc và ánh sáng và khi ấy tôi sẽ cần sử dụng tới đôi mắt…

Tóm lại: Nếu bào thai có thể suy nghĩ về sự tiến triển của nó, thì nó sẽ hiểu rằng: Phải có một đời sống khác ngoài bụng mẹ, đời sống mà hiện nay nó chưa có chút kinh nghiệm, nhưng chắc chắn phải có vì hợp với nhu cầu phát triên tự nhiên của nó.

– Đối với linh hồn con người với hai tài năng là trí khôn và lòng muốn cũng vậy: khi còn trẻ, chúng ta thường suy xét thiếu khôn ngoan. Nhưng với năm tháng, dần dần trí óc học hỏi mở mang theo và con người mỗi ngày càng tăng thêm vốn liếng hiểu biết, khôn ngoan. Thế rồi khi chưa sử dụng sự khôn ngoan được bao lâu, thì thần chết lại đến dẫn đưa chúng ta xuống mồ. Như vậy, trí khôn thêm hiểu biết khôn ngoan làm gì nếu thực sự chết đi là hết? Vậy cũng như tay chân, mặt mũi dần dần xuất hiện với bào thai là để đề phòng cho đời sống ngoài đời thế nào, thì tâm hồn con người dần dần thêm kiến thức khôn ngoan, cũng là để nhằm đến đời sống khác thiêng liêng vĩnh cửu sau khi chết vậy.

Hơn nũa nếu chết là hết thực sự thì người tốt có khác gì kẻ xấu? Kẻ ăn trộm, tiểu nhân với những bậc vĩ nhân quân tử có gì là khác biệt ? Nếu chết là hết thì cần chi phải kêu gọi từ bi hỉ xả, đề cao sự lương thiện công bằng? Chết mà hết thực sự thì ai làm lành là ngu, nhân từ là nhu nhược, bác ái là dại dột. Chết mà hết thì sống trên đời cứ việc giết người cướp của thật nhiều, hưởng thụ khoái lạc cho đã, cần chi phải đề cao tinh thần nhân đạo? Chết mà hết thì tại sao phải cử hành giây phút mạc niệm anh linh những liệt sĩ ? Dựng đài tưởng niệm hoặc dâng hương trước di ảnh người quá cố? Nhưng may mắn thay, hầu hết nhân loại đều không thưa nhận chết là hết, mà mọi người đều tin chắc chắn có đời sống vĩnh cửu sau khi chết.

Socrate, nhà hiền triết Hi Lap thế kỉ năm trước công nguyên, khi được một người bạn hỏi ý kiến về việc chôn cất ông như thế nào, ông trả lời : ”Anh có thể vùi thân xác tôi như thế nào tùy ý … nhưng còn chính tôi, anh không thể chôn vùi được.” câu nói ấy đã chứng tỏ Socrate tin tưởng linh hồn vẫn còn tồn tại sau khi chết.

Nghiên cứu những di tích thơi kỳ tiền sử ta thấy một điểu chắc chắn là mọi dân tộc đều tin có đời sống trường cửu sau khi chết. Thực vậy, từ Âu sang Á, từ Bắc xuống Nam, ở Úc cũng như ở Mỹ hoặc Trung Hoa, đâu đâu cũng có những dấu tích chứng minh con người tin tưởng một đời sống bất diệt khi họ để khí giới, dụng cụ, lương thực trong tầm tay người chết là có ý để họ có thể sử dụng ở thế giới bên kia. Trong mộ chôn của người Ai Cập hầu hết đều có thuyền bồng, là để cho người quá cố đi sang kiếp khác. Ngày nay dân Pic-mê, một dân tộc sống trong thâm sơn cùng cốc ở Phi Châu, Úc Châu tượng trưng cho cố nhân ngày xưa còn tồn tại, cũng tin linh hồn bất tử. Nói đâu xa, nếu ai đó muốn điều tra về lòng tin tưởng linh hồn bất diệt của con người thời đại ngày nay như thế nào, thì cứ ra nghĩa trang trong những ngày lễ các linh hồn, hoặc ngày lễ Vu Lan … sẽ biết.

Ngay những người ngoài miệng tuyên bố không tin, nhưng trong thực hành vẫn làm những việc chứng tỏ lòng tin vào lúc sắp chết, nhiều người đã bỏ lập trường của mình để quay về với niềm tin: Điển hình hơn cả là cái chết của Voltaire, một người chống đối tôn giáo say mê nhất. Với ngòi bút sắc bén, ông đã cố hạ bệ Thiên Chúa và đánh đổ Giáo hội. Châm ngôn của ông là: “Phải tiêu diệt đứa quái gở“ (tiếng dùng để ám chỉ Thiên Chúa). Không một lời gian dối nào mà ông tởm gớm, không một lời cáo gian nào mà ông ghê sợ. Ông chiêu mộ một nhóm người lấy tên là nhóm “Anh em Beelzebuth” với mục đích tìm cách hạ bệ Thiên Chúa . Năm 1753 ông đã tuyên án cho Thiên Chúa như sau: “20 năm nữa Thiên Chúa có thể hồi hưu, vì không còn ai thèm phục vụ Ngài nữa“. Đúng 20 năm sau, năm 1773 Voltaire đã tắt thở cách thê thảm trên giường bệnh. Khi gần chết ông trông thấy những hình ảnh rùng mình ghê rợn đến nỗi ông la lên : “Một bàn tay đang lôi kéo tôi đến với Đức Chúa trời … Đây quỷ muốn tôi … Tôi trông thâý hỏa ngục ghê quá”. Rồi ông tru trếu gầm thét như thú vật hung dữ, lấy móng tay cấu xé thịt mình và rứt ra từng miếng. Một bà già chuyên giúp đỡ những người hấp hối sau khi chứng kiến cái chết của Voltaire đã nói: “Khi ấy tôi ở gần giường Voltaire đang hấp hối. Tôi không còn muốn chứng kiến 1 người vô đạo chết nữa”. Một người khác cũng đã nói thêm: “nếu quỉ có thể chết được thì chắc cũng không chết dữ như Voltaire”.

3. Vì chính Thiên chúa đã mạc khải cho biết có đời sống vĩnh cửu

Ngoài những lý lẽ suy luận của trí khôn nói trên, những người Thiên Chúa giáo còn có một lý chứng chắc chắn có đời sống vĩnh cửu sau khi chết dựa vào mạc khải của Thiên Chúa trong Thánh Kinh, đặc biệt là lời giảng dạy của Đức Giesu về đời sống của con người sau khi chết như sau: ”Linh hồn con người sẽ chịu xét xử về công việc của mình đã làm khi còn sống. Đến ngày tận thế, mọi xác chết đều được Thiên Chúa dùng quyền phép của Ngài mà cho sống lại để cùng chịu phán xét và chung số phận với linh hồn”.

Để chứng minh lời dạy bảo về việc kẻ chết sống lại, Đức Giêsu đã dùng quyền phép riêng của Ngài để tự sống lại sau khi chết chưa đủ 3 ngày. Ngài đã hiện ra với các môn đệ nhiều lần, trước khi về trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha.

Thánh Phaolô tông đồ đã viết: “Nếu việc kẻ chết sống lại mà không có thì Đức Kitô cũng chẳng sống lại. Và nếu Chúa Kitô không sống lại, tất nhiên lời tôi giảng cũng uổng công và Đức tin của chúng ta cũng hóa ra vô ích. Nếu những người chết không sống lại thì Thiên Chúa đã không cho Ngài sống lại…”

KẾT LUẬN : Với những lý lẽ do dự, suy luận của trí khôn con người, với những lời mạc khải của Thiên Chúa về một đời sống vĩnh cửu sau khi chết, linh hồn con người không bị tiêu hủy nhưng sẽ tồn tại mãi mãi…Chúng ta có thể quả quyết mà không sợ lầm lẫn: CHẾT ĐI KHÔNG PHẢI LÀ HẾT, CHẾT KHÔNG PHẢI LÀ TRỞ VỀ VỚI HƯ VÔ NHƯNG LINH HỒN SẼ TỒN TẠI MÃI ĐỂ ĐƯỢC HẠNH PHÚC BẤT DIỆT HAY SẼ PHẢI TRẦM LUÂN NƠI HỎA NGỤC MUÔN ĐỜI, TÙY THEO ĐỜI SỐNG CỦA CON NGƯỜI KHI CÒN SỐNG Ở TRẦN GIAN NÀY.

PHÚT HÔI TÂM

Chúa phán: “Linh hồn Thầy buồn phiền đến nỗi chết , anh em ở lại đây và tỉnh thức với

Thầy…”(Mc 14,,28-31). “Lạy Cha, con phó linh hồn con trong tay Cha”

Lạy Chúa Giê-su. Qua lời Chúa cầu nguyện, chúng con xác tín răng: mỗi người chúng con đều có một linh hồn thiêng liêng bât tử. Làm cho thân xác sống động. Chết là khi linh hồn lìa ra khỏi xác về với Thiên Chúa, Đâng đã thổi hơi ban linh hồn cho thân xác bằng bùn đất của A-đam xưa. Xin cho chúng con luôn sống đẹp lòng Chúa, để sau này con được Chúa đón nhận vào Nước Chúa muôn đời. Amen.

LM ĐAN VINH- HHTM

Trích từ Đặc san Giáo Sĩ số 199 ngày 23-06-2013

Tình Cha

Tình Cha

NhoCha copy

Viết về mẹ rất nhiều rồi

Tình thương đưa võng suốt đời ru con

Từ khi con mới đỏ hon

Đến khi khôn lớn mỏi mòn bước chân

Viết về cha lại bâng khuâng

Chắc cha nghiêm nghị ít gần gũi thôi

Nhưng mà thương lắm cha ơi

Thương từ ánh mắt tới lời dạy răn

Thưở con nhỏ phạm lỗi lầm

Là mông gánh chịu mấy lằn roi đau

Cha buồn nét mặt rầu rầu

Ôi lằn roi ấy tìm đâu bây giờ

Tay cha nâng tuổi ấu thơ

Thả con diều biếc qua bờ tuổi xanh

Cho con chăm chỉ học hành

Tiếng cười vui vẻ chạy quanh ghế bàn

Tình thương cha ấm tập trang

Mực xanh con vẽ ngày vàng trôi qua

Dòng mồ hôi rịn áo cha

Thấm bao gian khổ mưa nhòa bụi rây

Tuổi già như trái chín cây

Môt chiều trái rụng trời đầy xót đau

Vành khăn tang trắng mái đầu

Lệ con rơi đẫm giọt sầu ngàn thu

Còn đâu bóng cả che dù

Con đơn lẻ giữa mịt mù đường sương

Lễ Cha tháng sáu ngùi thương

Nhớ cha tê tái nỗi buồn cút côi.

TRẦM VÂN

HÃY TIN VÀO CHÚA THÌ NGƯỜI SẼ NÂNG ĐỠ CON!

HÃY TIN VÀO CHÚA THÌ NGƯỜI SẼ NÂNG ĐỠ CON!

… Sáng thứ bảy 12-1-2013 nhà thờ Saint-Cyprien ở thành phố Poitiers miền Trung nước Pháp đông chật tín hữu đến tham dự Thánh Lễ an táng bà Gisèle Calmès, Giám Đốc Bệnh Viện. Nhà thờ được trang hoàng nhiều hoa tươi lộng lẫy như dấu chứng nói lên lòng quý mến của những người đến tiễn đưa một nữ giám đốc qua đời ở lứa tuổi 52. Đặc biệt có sự hiện diện đông đảo của cộng đồng y khoa toàn nước Pháp đến vĩnh biệt và nói lời tri ân đối với một đồng nghiệp hoàn toàn xả thân vì lợi ích của người khác.

Trong tờ cáo phó của gia đình có hàng chữ viết: ”Gisèle, nữ giám đốc bệnh viện, hiệp sĩ huân chương, đã giã từ chúng ta để tiếp nối công trình phục vụ nơi khác và mãi mãi”.

Thật vậy,
người phụ nữ mang hai dòng máu Pháp-Việt có đôi bàn tay dịu dàng khéo léo, từng khởi đầu sự nghiệp với kết ước giản dị căn bản đã kiên trì tiếp tục một hành trình đưa đến những trọng trách sau đó, nhưng vẫn giữ nguyên phong độ của một phụ nữ luôn nghĩ đến người khác và dâng hiến cuộc đời cho người khác.

Bà Gisèle Calmès đã trải qua không biết bao nhiêu là thử thách cá nhân và gia đình trước khi nhận trách nhiệm nữ giám đốc bệnh viện. Bà làm việc cực nhọc không biết mệt mỏi như thân phụ từng dạy bà ngay thời thơ ấu. Đức tính can cường ấy đi kèm niềm hứng khởi đã khiến bà Gisèle luôn say mê công việc, yêu mến nghề nghiệp và không ngại gian khổ. Bà lắng nghe và gần gũi hết mọi người, từ các bệnh nhân, những kẻ bé nhỏ đến các y tá bác sĩ những người mà bà phải tiếp cận và có quan hệ trong lãnh vực y khoa.

Từ thân mẫu là người Việt Nam bà được nhắn nhủ: ”Con nên luôn luôn thực thi điều lành dẫu trong bất cứ hoàn cảnh nào. Điều lành luôn dội lên trên trẻ em, trên những người nhận nó và đến phiên họ, họ cũng có thể thực thi điều lành. Bởi vì, sự thiện rất dễ lây và luôn luôn chiến thắng”. Chính giáo huấn từ mẫu này đã chiếu sáng soi dẫn trọn cuộc đời bà Gisèle. Thêm vào đó, bà còn được thấm nhuần nền văn hóa Á Châu luôn giữ nơi nhà các vị lão thành đau ốm để tận tay chăm sóc với tâm tình trìu mến và kính trọng.

Sức sinh động, sự hữu hiệu, niềm vui sống và nụ cười luôn tươi nở trên đôi môi khả ái đã để lại một kỷ niệm khó phai mờ nơi tất cả những ai từng hân hạnh quen biết bà Gisèle Calmès. Nơi bà lan tỏa lòng quảng đại, sự vi tha, luôn nghĩ đến người khác. Bà khéo léo tạo nên các mối giao hảo, các cuộc gặp gỡ, thoa dịu các tranh chấp, kết nối mọi người xuyên qua các khác biệt để trở thành bạn hữu. Bà là thanh nam châm thu hút mọi người. Bà có niềm tin tưởng nơi con người.

Cuối năm 2012, khi cơn bệnh đi vào giai đoạn trầm trọng, vô phương cứu chữa, thì chính bà lại trở thành người can đảm, kiên trì, rạng rỡ và giúp mọi người chung quanh vượt lên trên thử thách của cơn bệnh. Đau thương nhất là các thắc mắc của những người thân yêu: ”Tại sao thế? Sao lại phải ra đi khi tuổi đời còn quá trẻ? THIÊN CHÚA, Ngài đang ở đâu?” Bao câu hỏi quay cuồng trong các đầu óc. Làm thế nào để tìm ra ý nghĩa của biến cố đau thương này?

Chưa hết. Khi hồi tưởng cuộc đời bà, người ta biết rằng bà đã mất người chồng trẻ thân yêu khi đang mang thai đứa con trai thứ hai. ”Tại sao thế? THIÊN CHÚA là Ai? Và người ta có thể nói gì về sự lành, sự dữ?”

Trước tất cả các nghi vấn xốn xang này, bà Gisèle Calmès đã trở thành một tấm gương can đảm và một Đức Tin vững chắc nơi THIÊN CHÚA là CHA. Chính tâm tình đơn sơ tốt lành tự nhiên đã hướng dẫn soi sáng cuộc đời bà. Và lòng quảng đại dâng hiến cuộc đời để phục vụ người khác là một chứng tá sống động hùng hồn nhất của bà Gisèle Calmès, giám đốc bệnh viện, hiệp sĩ huân chương qua đời ở lứa tuổi 52. Xin THIÊN CHÚA Nhân Lành đón rước linh hồn bà vào nơi an nghỉ muôn đời.

”Con ơi, nếu con muốn dấn thân phụng sự THIÊN CHÚA, thì con hãy chuẩn bị tâm hồn để đón chịu thử thách. Hãy giữ lòng ngay thẳng và cứ kiên trì, đừng bấn loạn khi con gặp khốn khổ. Hãy bám lấy Người chứ đừng lìa bỏ, để cuối đời, con được cất nhắc lên. Mọi chuyện xảy đến cho con, con hãy chấp nhận, và trải qua bao thăng trầm, con hãy cứ kiên nhẫn. Vì vàng phải được tôi luyện trong lửa, còn những người sáng giá thì phải được thử thách trong lò ô nhục. Hãy tin vào Người, thì Người sẽ nâng đỡ con. Đường con đi, hãy giữ cho ngay thẳng và trông cậy vào Người. Hỡi ai kính sợ THIÊN CHÚA, hãy trông đợi lòng lân tuất của Người, đừng lìa xa Người kẻo ngã. Hỡi ai kính sợ THIÊN CHÚA, hãy tin vào Người, và các bạn sẽ không mất phần thưởng đâu. Hỡi ai kính sợ THIÊN CHÚA, hãy đợi trông ơn lành, niềm vui không cùng và lòng thương xót” (Huấn Ca 2,1-9).

(”Église en Poitou”, Revue religieuse du diocèse de Poitiers, 13 Mars 2013, No 199, trang 26-27)

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

MỌI NẺO ĐƯỜNG CON NGƯỜI ĐI, THIÊN CHÚA ĐỀU THẤY RÕ!

MỌI NẺO ĐƯỜNG CON NGƯỜI ĐI, THIÊN CHÚA ĐỀU THẤY RÕ!

Đài Vatican



… Tối Thứ Bảy Tuần Thánh Đêm Vọng Phục Sinh 30-3-2013 tại nhà thờ Sainte Barbe Anzin thuộc Tổng Giáo Phận Cambrai ở miền Bắc nước Pháp, có 4 tân tòng lãnh bí tích Rửa Tội gia nhập Giáo Hội Công Giáo. Xin trích chứng từ của 1 nam và 1 nữ trong số 4 tân tòng này.

Anh Christophe 28 tuổi.
Tôi chào đời trong môi trường sống đạo hẳn hoi nhưng lại không được rửa tội sau khi sinh ra, vì lý do gia đình. Ý tưởng Rửa Tội thường xuyên xuất hiện trong tâm trí tôi và mỗi lúc một rõ rệt hơn, đôi khi trở thành quyết liệt như vấn đề sinh tử. Để có thể tiến bước trên con đường của một tín hữu Công Giáo thì trước tiên tôi phải lãnh bí tích Rửa Tội và điều này trở thành một nhu cầu thực tiễn cấp thiết. Tôi cảm thấy ước nguyện sâu xa muốn đi nhà thờ tham dự Thánh Lễ.

Hành trình tân tòng của tôi khởi đầu với Hervé Desprez. Tôi chuẩn bị lãnh phép rửa từ tháng 6 năm 2012. Sau đó tôi gia nhập nhóm có 2 tân tòng khác là Allison và Guillaume cùng với Thierry là người chuẩn bị lãnh phép Thêm Sức.

Lộ trình của nhóm tân tòng chúng tôi rất trang trọng. Người này có thể học hỏi từ người kia. Tôi sống lộ trình này với việc song song đi nhà thờ vào mỗi Chúa Nhật. ”Tôi sống Thánh Lễ của tôi”. Mỗi khi có những bàn tay đặt trên chúng tôi vào những dịp cử hành khác nhau đều khiến cho tôi xúc động.

Tôi khởi đầu đọc Kinh Thánh. Tôi rất thích đọc Sách Châm Ngôn. Tôi vừa đọc xong Diễm Tình Ca. Không có đoạn nào hay hơn đoạn nào bởi lễ mỗi một sách thánh đều mang đến một sứ điệp riêng. Tôi tham dự các buổi cầu nguyện Taizé diễn ra vào mỗi tối thứ tư tuần thứ hai tại Saint Géry. Tôi rất thích các bài thánh ca có tích cách suy niệm.

Sự kiện tôi xin lãnh bí tích Rửa Tội cho phép tôi nhận ra đâu là ý nghĩa đích thật của cuộc sống. Vật chất không thật sự hữu ích.

Ngày hôm nay Đức Tin giúp tôi tiến bước và chọn đúng hướng đi. Đức Tin tháp tùng tôi. Tôi muốn sống trọn vẹn trong Sự Thật.

Chị Allison, 34 tuổi.
Tôi luôn luôn ước muốn lãnh bí tích Rửa Tội. Tôi không được rửa tội ngay từ lúc chào đời mặc dầu tôi sinh ra trong một gia đình Công Giáo.

Yếu tố kích động khơi mào vào dịp chuẩn bị phép rửa cho đứa con trai thứ năm của tôi là Etan vào tháng 6 năm 2011. Thân phụ của 4 đứa con đầu là kẻ vô thần nên không cho phép tôi đặt vấn đề với anh về chuyện giáo dục con cái trong Đức Tin.

Và thế là tôi đặt vấn đề gia nhập nhóm dự tòng vào dịp chuẩn bị lễ rửa tội cho Etan. Chính khi đó tôi cảm nhận tiếng gọi tìm hiểu biết hơn về Đức Chúa GIÊSU KITÔ. Tôi khởi đầu công cuộc học hỏi giáo lý vào tháng 10 năm 2011. Cứ ba tuần một lần chúng tôi quy tụ để học hỏi.

Người chồng tương lai của tôi – anh Thierry – Ba của Etan và Mailyne, cũng chuẩn bị lãnh bí tích Thêm Sức với chúng tôi, diễn ra vào thứ bảy ngày 15-6 tại nhà thờ Préseau.

Hành trình tân tòng củng cố niềm ước ao của tôi muốn trở thành tín hữu Công Giáo. Lộ trình này thật tuyệt vời, xét vì sau cùng rồi thì tôi có thể nói về Đức Tin của tôi với người bạn đời mà tôi chọn làm chồng. Anh đọc cho tôi nghe các đoạn Kinh Thánh rồi giải thích cho tôi hiểu, bởi lẽ anh từng học giáo lý trong thời niên thiếu và đã xưng tội cùng rước lễ lần đầu.

Trước ngày được rửa tội, Đức Tin của tôi tăng trưởng. Tôi hiểu Đức Tin rõ hơn và thật cảm kích vì sắp được rửa tội!

Cha đỡ đầu cho tôi là người được Cha Mẹ tôi chọn ngay từ ngày tôi còn bé xíu, mặc dù lúc đó chưa phải là người đỡ đầu rửa tội của tôi. Trong khi mẹ đỡ đầu thì chính tôi chọn lấy. Đây là người bạn gái tốt nhất của tôi và Đức Tin của bạn hiền cũng hướng dẫn tôi nữa.

… Có lời rằng: ”Hãy mở đường khai lối, và san cho bằng phẳng, dẹp bỏ mọi chướng ngại trên đường nẻo dân Ta. Bởi vì Đấng muôn trùng cao cả, Đấng ngự chốn vĩnh hằng, Đấng mang danh chí thánh, Người phán như sau: Ta ngự chốn cao vời và thánh thiện, nhưng vẫn ở với tâm hồn khiêm cung tan nát, để ban sức sống cho tâm hồn những kẻ khiêm cung, và ban sinh lực cho những cõi lòng tan nát. Vì Ta chẳng trách cứ luôn luôn, không giận hờn mãi mãi, kẻo hơi thở mọi sinh linh chính Ta làm ra, trước mặt Ta, sẽ phải lụi tàn. Vì tội nó ham lợi mà Ta giận dữ, Ta đã đánh nó, đã ẩn mặt trong cơn giận dữ, nhưng nó vẫn ngỗ nghịch, theo con đường nó muốn. Những nẻo đường nó đi, Ta đều thấy cả, nhưng Ta sẽ chữa nó cho lành, sẽ dẫn nó đi và cho nó đầy tràn an ủi; còn những kẻ khóc thương nó, Ta sẽ làm cho môi miệng chúng hoan ca: ”Bình an! Bình an cho khắp xa gần! THIÊN CHÚA phán: Ta sẽ chữa lành cho nó” (Isaia 57,14-19).

(”Église de Cambrai”, quinzaine diocésaine, No 7, 11 Avril 2013, stjeananzin.cathocambrai.com)

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

“Ôi ta đã mửa ra từng búng huyết,”

“Ôi ta đã mửa ra từng búng huyết,”

“Khi say sưa với lượn sóng triền miên.”

(dẫn từ thơ Hàn Mặc Tử)

Lc 9: 51-62

Mửa ra huyết, là bệnh tình của nhà thơ khi lượn sóng. Ói thần hồn, là tâm trạng người bệnh được diễn tả ở trình thuật, rất hôm nay.

Trình thuật hôm nay, thánh Luca diễn tả tình huống người trừ quỉ nọ không thuộc nhóm đồ đệ của Chúa, nên thành chuyện. Thành câu chuyện, là do đồ đệ Chúa nêu ra để ta suy tư, ngẫm nghĩ. Câu chuyện, rút từ sách Dân Số kể về nhân vật Elđađ và Mêđađ không được nhận là ngôn sứ vì không thuộc nhóm tiên tri dù hai ông đã được Thần Khí đến với mình khi nói “ở trong trại”. Và khi ấy, Môsê được yêu cầu không cho hai ông làm thế, nhưng Môsê không nghe lại cứ cầu khẩn Thần Khí đến với người Do thái cho họ nói về Đạo.

Từ đó, có người đặt vấn đề chức năng thừa-tác ở trong Đạo. Bởi, người trong Đạo luôn đặt vấn đề khuôn phép chính thống, khi có người không cùng phe/nhóm của mình lại cả gan thi thố tài năng, sẽ bị hỏi về tính ủy-nhiệm hoặc bài sai qua giấy giới thiệu, bằng cấp, học vị khiến có địa vị chính đáng. Nhà Đạo ta, coi đó như tiêu chuẩn để xác-chứng phẩm-chất và khả năng của vị ấy.

Ở đời thường, chủ nghĩa bè/phái là động thái quyết bảo vệ quyền lợi của phe/nhóm mình. Sống trong xã hội đặt nặng chuyện tiêu-thụ, ta gặp chính mình nơi thị-trường người mua. Ta thấy tự tin hơn trong số ngững người công-khai hỗ-trợ mình, và nghi ngờ người ở ngoài phe/ngoài nhóm. Ta sống bằng lý-lẽ an-ninh/an-toàn và hệ-thống giai-cấp, rồi dùng đó làm rào-cản gây trở-ngại chống lại những gì thanh thoát, tự phát sinh. Chính Môsê khi xưa cũng từng kết án những người than vãn về hai ông Elđađ và Mêđađ vì ghen tuông. Và có lẽ, ông cũng than phiền cả chúng ta nữa.

Điều lạ là: chuyện như thế lại cũng thấy cả ở Tin Mừng nữa. Chính Đức Giêsu là người ngoài cuộc, Ngài không thuộc phe/phái nào và Ngài cũng chẳng xuất thân từ giai-cấp, trường lớp nào hết, cả đến trường/phái Sanhêdrin, cũng không. Mọi người đều biết Ngài đã sinh hạ trong chuồng bò và đã chết trên thập tự. Khi Phục sinh/trỗi dậy, Ngài đã hiện đến trước nhất với nữ phụ mang tên Maria Magđala, chứ đâu là Simôn Phêrô hoặc nhóm 12, đồ đệ Ngài. Ngay thánh Phêrô cũng được mời đến nhà người La Mã ngoài Đạo là ông Cornêliô chứ đâu là người Do thái, có thế lực.

Và thánh-nhân lại là người khám phá ra ông Cornêliô được Thần Khí đáp xuống trên mình ông, nên đã chấp-nhận thanh tẩy cho ông, là người đầu tiên ngoài Do-thái. Thánh Phaolô là người được gặp Chúa trên đường đi Đamát, trong khi trước đó ông từng thuộc nhóm/bè chuyên “phá hoại” hoạt-động của Chúa, tức: có thể cũng trở thành kẻ sát-hại tín-hữu Chúa. Và sự thực, thì không có thánh Phaolô, ta cũng chẳng là người Công-giáo chính-hiệu. Dù, khi chọn người thay thế Giuđa Iscariốt nhóm đồ đệ của Chúa lại chọn Mátthias, là người chẳng ai biết. Tóm lại, Thần Khí của Đức Chúa cao cả và cởi mở, là ý tưởng mà thánh Luca muốn giới thiệu với người đọc Tin Mừng hôm nay.

Thế thì, có phải Ngài là Thần Khí hiện diện trong thể chế Giáo hội không? Vâng. Chính thế. Nhưng, như thế không có nghĩa: Giáo hội đầy thể-chế lại có quyền hướng-dẫn/trực-chỉ Thần Khí hoặc giới hạn Thần Khí chỉ được có mặt ở một số băng-tần hoạt-động vì lợi-ích của người khác, thôi. Giáo hội không thể kiểm-soát Thần Khí. Giáo hội có mặt là để nhận-thức và chứng-thực hoạt-động tự-do của Thần Khí mà tín-hữu vẫn làm chứng, có thế thôi.

Trình-thuật về sự kiện tương-tự, thánh-sử Máccô lại để Chúa gói gọn ý-nghĩa của truyện kể, khi Ngài nói: “Ai không chống ta, là ở cùng ta.” Về lập trường này, có người lại lật ngược câu nói của Chúa, khi họ bảo: “Ai không theo ta, tức chống lại ta.” Hai câu khác hẳn nhau. Câu Chúa nói, phản-ánh tính mở rộng con người mình, tức chứng-tỏ: Tín-hữu Đạo Chúa là người không chủ-trương biên-giới; trong khi đó, câu nói sau, là niềm hãi sợ, tức: tạo biên giới để không có quá nhiều tín hữu Chúa.

Trình-thuật, nay còn đưa thêm vấn đề mới, như: chuyện “thuộc về ai”. Khi xưa, có thời-kỳ ta cứ nghĩ: là người Công giáo, tức là ta thuộc về Hội thánh Công giáo, chỉ mỗi thế. Có lẽ, ngày nay, nhiều người Công giáo chuyên chăm đi nhà thờ lại sở-hữu thêm nhiều thứ rút từ đạo khác chứ không chỉ mỗi Đạo Chúa thôi, chí ít là cung-cách tâm-trí và linh-đạo.  Nói cách khác, ngày nay ta đi vào thời-đại gồm nhiều thứ “thuộc về ai”, chứ không chỉ duy nhất một loại hình nào đó thôi.

Hiểu như thế, sẽ nảy sinh thêm vấn đề bảo rằng: có thể, ta cũng thuộc về thế giới ngoài đời hệt như ta từng thuộc về truyền-thống thể-chế, tôn giáo hoặc đạo nào đó. Nói như thế, không có nghĩa bảo là: ta đang bỏ đạo của mình để ôm cầm tính trần-thế, rất như thế. Như thế, cũng chẳng để bảo rằng: hãy để Hội thánh kiểm xem ta mang tính trần-tục đến độ nào. Nhưng, chỉ muốn nói lên sự kiện là: ta đang sống mỗi ngày và mọi ngày ở trần-thế, có thế thôi. Trần-thế, mang ý-nghĩa bao quát, cởi mởi. Cởi mở rồi, sẽ bao gộp mọi truyền-thống cũng như sinh-hoạt của đạo-giáo và thánh Hội.

Như thế, là ta đang cùng một lúc “thuộc về” những thứ thường ngày và các đặc-trưng/đặc-thù, thấy rất rõ. Bởi, muốn nối-kết cho chính đáng, hẳn ta cần kết-nối với mọi nhóm-hội/đoàn-thể có đặc trưng, cũng khác biệt. Mang tính linh-đạo mà không nối-kết chuyện thường ngày, là ý nghĩ kỳ quặc. Chuyện thường ngày mà ta để mất một vài nối-kết linh-đạo là mất mát một số sự việc rất thực tiễn.

Trình thuật, nay lại dấy lên vấn-đề khác hỏi rằng: ta thấy mình thế nào? Ta bắt đầu ra sao khi hỏi mình “thuộc về ai”? Ta có thấy mình thuộc về “thực-tại trần-thế”, rất ở ngoài không? Và, ta có thấy những người thuộc nhóm-hội/đạo-giáo nay theo tinh-thần như thế ấy không? Ta có nghĩ mình là người “Công-giáo gốc/đạo ròng” với đặc-trưng là mình thuộc về thế-giới riêng-tư giống thế, không? Ta có là người của thế-kỷ thứ 21 cũng Công-giáo hoặc là người Công-giáo sống ở thế-kỷ 21 không?

Chừng như, nay vẫn còn thấy một số người Công giáo lại nghĩ về mình như Công giáo “chánh hiệu” nhưng đã tráo-đổi chốn-miền mình thuộc về phe/nhóm chính-yếu đang sống đặc-trưng thực-tiễn ở ngoài. Họ vẫn sống theo đường lối Chúa dạy. Nhưng, lại ít liên-hệ với giáo-hội công-khai, thuộc bên trong. Tên gọi của người đó, cũng vẫn là Elđađ và Mêđađ, như thuở trước. Gọi họ là nhóm người gì, cũng còn tùy; nhưng, họ vẫn được Thần Khí đáp xuống trên người mình, thế mới lạ!

Và bên dưới, lại thấy có vấn đề khác cùng nảy sinh, là tư-thế “bất bạo-động”. Phần đông trong ta, đều kình chống chiến tranh những chém và giết. Ta kình-chống cả động-thái hung-hăng trong quan-hệ mật-thiết với mọi người. Và chừng như, trong tâm can, ta vẫn muốn một học-thuyết về cuộc chiến “chính đáng”, để rồi ta rút về đó mỗi khi cần. Cuối cùng, cũng trở về với động-thái khá bạo-động dù có ý-định thường tình, xuất sắc. Lại có nhiều người trong ta chẳng bao giờ thấy được nhượng-bộ giữa lý-tưởng bất-bạo-động của Kitô-giáo với các giáo-hội đang nối-kết với đế-quốc và/hoặc đất nước chủ-trương bạo-động theo cách-thế nào đó.

Và khi đối đầu/đối xử với kẻ nghèo/người hèn hoặc thiếu thốn, đôi lúc ta lại có động-thái nào đó cũng bạo-động qua việc chối-từ chẳng giúp ai. Bạo-động nơi ta, không do tính hung-hăng xác-thể, cho bằng mau chóng tẩy-trừ người nghèo-hèn túng-thiếu ra khỏi khu-vực sống của nhóm mình. Hoặc, nếu có bỏ họ ở đó một ít lâu cũng để được coi là đã làm việc “bố thí” tinh-thần, như thế khác nào bạo-lực/bạo-động.

Cởi mở/bất-bạo-động đối với người nghèo, là chọn-lựa họ làm của riêng cho mình. Và, nhận ra diện-mạo của Đức Chúa Phục sinh, ở nơi họ. Chọn họ, như đền thờ Chúa ngự, có Chúa hiện diện một cách sinh-động, vào mọi lúc. Hiểu như thế, thì cụm từ “bất-bạo-động” xem ra vẫn còn thiếu sót. Sống bằng động-thái giống như thế, là giấc mộng kinh-thánh vẫn dành-để cho con dân mọi người, không chỉ mỗi người Công giáo, mà thôi. Bởi, giấc mộng ấy đã thành-hình nơi Đức Kitô và Nước Trời của Ngài. Bởi, chính Ngài cũng muốn sự thể như thế được thể-hiện ở nơi ta. Và, có như thế, kẻ nghèo/người hèn hoặc túng-thiếu sẽ không là người mà ta cho là nghèo/hèn lại do chính Chúa chọn ta để làm thế.

Làm như thế, phải chăng là nối-kết chính-đáng ở Đạo Chúa? Làm như thế, chỉ khi nào ta thấy Chúa nơi người nghèo/hèn ta chọn làm đấng bậc mang Chúa đến cho ta/với ta, mà thôi.

Cảm nghiệm lý lẽ thực tế ấy, ta hãy cùng hát lên lời thơ đau của nhà thơ nghèo, từng hát rằng:

“Ôi ta đã mửa ra từng búng huyết,”

Khi say sưa với lượn sóng triền miên

Khi nhận lấy trong thân tâm cay nghiệt

Giọng hờn đau trăm vạn nỗi niềm riêng.”

(Hàn Mặc Tử – Biển Hồn Ta)

Niềm riêng, nay đâu còn “giọng hờn đau” chợt thấy trong “thân tâm cay nghiệt”. Mà, chỉ là tâm trạng say sưa lượn sóng triền miên, bất-bạo-động. Triền miên tìm kiếm Chúa nơi “Biển hồn” người  trong sáng, đà thấy Chúa nơi mọi người. Nhất thứ, là nơi kẻ nghèo/người hèn ở đây, lúc này.

Lm Nguyễn Đức Vinh Sanh – Mai Tá lược dịch

Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ Mười Ba mùa Thường Niên Năm C 30-6-2013

“Em về hãy về đi, ta phiêu du một đời”


Hương trầm có còn đây, ta thắp nốt chiều nay
Xin ngủ trong vòng nôi, ta ru ta ngậm ngùi,
Xin ngủ dưới vòm cây …”

(Trịnh Công Sơn – Ru Ta Ngậm Ngùi)

(Ga 16: 12-15)

Có lẽ trên đời này, không ai lại thấy có kiểu ru người/ru ta khá “ngậm ngùi” như câu hát. Có ru ngậm ru ngùi nhiều lắm cũng nào đã hơn gì truyện kể, ở bên dưới:

“Truyện rằng:

Đêm đó là đêm cuối tôi đi tìm những vị khách đặc biệt đến dự tiệc mừng Giáng Sinh. Khách đặc biệt, đó không là những người sang trọng, có địa vị, quyền cao chức trọng và cũng không là những người tôi quen biết. Đâu đó ở một góc tối của lề đường, dưới đèn vàng, hay nép sát mái hiên, họ ngủ ở đấy mặc cho đêm sương lạnh lẽo, những cơn gió độc, cái nhìn khinh miệt của người qua đường mà chỉ có muỗi bọ làm bạn. Giữa Sài Gòn hoa lệ, họ vật vờ như những chiếc bóng nhạt nhòa, như một viên sỏi lặng câm bên lề đường mà xã hội đã loại ra. Và tôi đã gặp chú trong một đêm đầy gió.

Con đường Đinh Bộ Lĩnh về khuya vẫn ào ạt người qua kẻ lại, dưới mái hiên một người đàn ông đang lui cui bế một người phụ nữ từ xe lăn đặt xuống manh chiếu rách. Sau đó, người đàn ông khẽ giở cái túi đựng đồ lấy cái mền màu đỏ đậm có những vết bẩn loang lổ đắp lên người phụ nữ, rồi lấy cái áo cuốn lại thành cái gối kê phía đầu. Xong xuôi, ông quay lại mắc chiếc võng nằm phía trên để canh chừng người nằm dưới cho dễ. Ông rút trong túi bao Basto điếu thuốc dở dang và bật hộp quẹt rít từng chập. Khi tôi vòng xe lại, ông đã yên vị trên chiếc võng và đung đưa theo từng hồi thuốc.

– Có gì không bé? Người đàn ông đội cái mũ cáu bẩn, tóc hoa râm ngước mắt lên hỏi tôi.

– Dạ, không ạ. Chỉ tại cháu thấy chú ngủ ở đây nên tới hỏi thăm thôi. Mẹ chú đấy ạ?

– Ai cũng hỏi chú như vậy hết. Vợ chú đấy.

Tôi đã nghĩ sai vì người phụ nữ nằm dưới đất kia có mái tóc bạc phơ, gương mặt nhăn nheo và bàn tay gầy guộc như cành củi khô. Đó chỉ có thể là một bà lão. Có ai ngờ “bà lão” chỉ mới… 47 tuổi. Nghe có tiếng động, người phụ nữ mở mắt nhìn tôi, nở một nụ cười méo mó rồi đóng mắt lại. Trong con mắt kia, có vẻ gì đó như rã rời và cạn kiệt.

Sau vài cái chép miệng chán nản, chú bắt đầu kể cho tôi nghe chuyện đời chú. Chú tên Hùng, thua vợ một tuổi. Vốn là người Sài Gòn có nhà cửa đàng hoàng, chỉ vì vợ chú bị bệnh tai biến mạch máu não mà giờ hai vợ chồng phải ra vỉa hè ngủ. Chú đã bán hết mọi tài sản, kể cả chiếc xe ôm là cần câu cơm mà vẫn không sao chữa khỏi bệnh cho vợ. Hai vợ chồng không có con cái. Bà con, bạn bè giúp hoài cũng phàn nàn lời ra tiếng vào. Chú biết nên không bao giờ đến xin xỏ gì nữa. Chú xin làm thợ hồ hoặc bốc vác thuê và đi đâu cũng mang vợ theo. Mới đầu người ta còn thuê chú, nhưng sau thấy chú lúc nào cũng kè kè bà vợ tật nguyền bên cạnh, kể cả khi ra công trường, người ta sợ phải gánh thêm trách nhiệm nên không dám thuê chú nhiều nữa. Nhưng chú biết gửi vợ ở đâu đây? Để ở vỉa hè một mình thì không được. Ăn uống ai lo. Khát nước ai lấy. Rồi tiêu tiểu nữa chứ. Chẳng ai lo dùm chú được mà để vợ một mình chú không yên tâm. Thôi thì, làm ít một chút mà vợ vẫn bên cạnh.

Tôi nhìn chú mà không giấu nổi sự ngỡ ngàng. Giữa Sài Gòn xô bồ này, tình cảm vợ chồng mong manh như một sợi tơ. Người ta xem chuyện ly thân và ly hôn là cách giải thoát cho nhau khi hai bên không thể hòa hợp nổi nữa. Người ta chia tay vì ham muốn danh vọng, tiền tài, chức tước. Đôi khi, tan vỡ xảy ra chỉ vì chuyện phòng the không thỏa mãn. Ông ăn chả, bà ăn nem. Đã qua rồi cái thời cha mẹ đặt đâu con ngồi đó. Và cũng đã qua rồi cái thời thủ tiết thờ chồng. Con người giờ đây muốn tự do cá nhân, muốn phá vỡ mọi giới hạn và muốn sống cho mình trước. Luân thường đạo lý, tình chồng nghĩa vợ là cái thá gì nếu không thể hưởng thụ, không được sung sướng. Còn chú, chú đã đánh đổi tất cả vật chất thế gian chỉ để giữ người vợ bên mình. Có mấy ai dám bán nhà bán đất để chữa bệnh cho vợ đến nỗi phải ra đường ngủ? Có mấy ai vợ bệnh hoạn mà vẫn tận tâm chăm sóc và lo lắng thế đâu? Chú hoàn toàn có thể bỏ vợ ra đi cho nhẹ thân vì túng quẫn, đói rách, vậy mà chú vẫn cưu mang, nâng niu vợ như trân trọng một tặng phẩm vô giá.

Tôi hỏi chú có cần giúp đỡ gì không. Chú cười, nụ cười bâng quơ nhưng chua chát. Có lẽ chú đã hết hy vọng vào lòng tốt của nhân gian mà câu nói của tôi chỉ như một trò đùa.

– Bé có thể giúp gì cho chú? Chú hỏi vặn lại tôi

– Nếu cháu không giúp được, cháu sẽ kêu những người khác giúp.

– Vậy à? Chú im lặng một lát rồi nói tiếp. Chú chỉ muốn gửi vợ vào một nơi nào đó có mái che đàng hoàng để vợ chú không còn phải ngủ ngoài đường như chú nữa.

Câu nói thoát ra từ miệng một người lang thang đầu đường xó chợ nhưng thấm đẫm tình thương đồng loại. Chú không muốn một cái gì đó cho mình mà cho người bạn đời của mình. Chỉ câu nói đó thôi, chú xứng đáng có một chỗ ngồi trên thiên đàng. Chú đã dệt những sợi tơ mỏng manh của tình cảm vợ chồng thành dải lụa bền chặt của tình người. Bàn tay thô ráp kia không chọn nắm vàng vòng tiền bạc mà chọn nắm một bàn tay khác.

Đêm nay, tôi trở lại để mời hai vợ chồng chú đi dự tiệc mừng Giáng Sinh. Tôi hy vọng chú sẽ tìm được một sự giúp đỡ nào đó trong bữa tiệc sắp tới. Dù chỉ là đốt lên một que diêm vẫn hơn là không thắp lên chút ánh lửa nào. Đã quen chú rồi, tôi nghĩ chú sẽ dễ dàng chấp thuận đề nghị của tôi. 279. Địa chỉ hai vợ chồng chú thường ngủ đây rồi. Nhưng sao không thấy võng, không thấy xe lăn. Chỉ có một mình chú nằm đó. Chắc chú đã tìm được một mái nhà để gửi gắm vợ rồi. Nếu không sao chú lại nằm bơ vơ thế kia. Tôi tấp vào vỉa hè. Trong lòng dâng lên niềm vui.

Chú đã ngủ, vẻ khắc khổ và mệt nhọc. Đầu vẫn đội chiếc mũ bẩn thỉu hôm nào. Bên cạnh không có thêm một vật gì nữa ngoài một chai nước hay rượu không rõ đặt trước mặt. Thấy chú ngủ say tôi cũng ngại gọi nhưng đã gặp chú, tôi đánh bạo. Tôi phải lay tới lần thứ tư chú mới hé mắt. Đôi mắt kẻm rẻm hấp háy mãi mới nhận ta tôi. Chú thều thào:

– Bé hả? Vợ chú chết hai ngày rồi bé ơi. Im lặng một lát, chú nói tiếp. Giờ chú chẳng còn gì cả.

Trời đất, tôi không tưởng tượng ra được mình sẽ phải nghe câu nói này trước tiên. Tôi còn chưa làm được gì cho chú. Tôi nghe trong mình vỡ òa một sự bất lực. Tôi đã thắp lên trong chú một hy vọng nhỏ nhoi nhưng tử thần đã nhanh tay hơn tôi. Cuộc sống này sao mong manh quá, mong manh như một nhúm hơi. Nhưng điều làm tôi xúc động nhất chính là bộ dạng tuyệt vọng của chú. Chú không ngồi dậy, chú nằm đó và thốt ra câu nói cay đắng kia. Nói xong, chú kéo sụp cái mũ che kín gương mặt như thể muốn giấu nỗi đau của mình. Tôi tưởng, chú sẽ thấy nhẹ nhõm phần nào vì bớt được gánh nặng. Thật không ngờ, chú suy sụp đến mức thốt lên rằng “chú chẳng còn gì cả”. Ôi! vợ chú mất, niềm vui cuối cùng trong đời chú cũng mất theo. Từ nay, chú chẳng còn ai để quan tâm, chẳng còn ai để lo lắng, chẳng còn ai để chăm sóc, cũng chẳng còn ai để thương yêu. Trong cuộc đời này chỉ cần một người, dù là một người bệnh hoạn và tật nguyền, để thương yêu còn hơn là không có một ai để nhàn hạ. Tôi nhìn chú mà run sợ. Vợ chú mất rồi, ai lấp được hố sâu thăm thẳm trong lòng chú? Ai thay được thói quen tất bật hằng ngày của chú? Ai chia sẻ cùng chú? Từ nay, chú không còn ai thân thích nữa và cũng chẳng còn niềm tin nào cầm cho ấm tay nữa.

Tôi như người cấm khẩu không biết phải nói sao. Biết nói gì trước một con người đang quằn quại trong đau thương và tuyệt vọng. Biết mở miệng thế nào để vết thương kia không rỉ máu. Mời chú đi dự tiệc ư? Tôi không thể thốt thành lời. Nghe nó sao giống giễu cợt quá. Bữa tiệc sẽ trống hai chỗ. Tôi không biết phải làm sao nữa, chỉ cảm thấy mình vô nghĩa và nhỏ bé như một chiếc lá rụng rơi. Tôi ra về. Gió vẫn thổi trên đầu. Tôi biết, đêm nay, chú sẽ lạnh hơn. (Truyện kể trích từ báo điện tử Đán Chim Việt của Từ Tâm)

Đọc truyện kể ở trên, chắc có vị lại cũng nghĩ như bầy tôi bần đạo, cứ nói bạo mà rằng: Giả như tôi là đấng bậc giảng dạy ở nhà thờ, tôi cũng sẽ dùng truyện kể “ngậm ngùi” như thế để làm nền cho bài chia sẻ khi nghe Chúa dạy về cách xử thế với nhân gian ở đời.

Quả là thế! Nhân gian ở đời không rao truyền Đạo Chúa  rất thương yêu bằng những câu văn đầy biện chứng/chứng biện để minh xác Thiên-Chúa-là-Tình-Yêu vẫn thương yêu con người như các nhà giảng thuyết vẫn luôn yêu môn triết lý thần học đầy biện luận.

Nhân gian loài người, giảng về thần học “yêu thương” đôi lúc cũng không rao giảng và chẳng lý giải gì đến tình yêu thương có trong con người, như một truyện thật khác được kể đi kể lại rất nhiều lần, cốt để nhân gian/trần thế nhớ mà chứng thực. Chứng rất thực, bằng cuộc sống. Chứng và thực, bằng tình tự cũng đầy cảm động và cảm xúc, như truyện khác đọc được ở đâu đó trên báo điện tử hoặc điện thư, như sau:

“Khi trận động đất xảy ra, khi đội cứu hộ tiếp cận hiện trường hoang tàn thuộc về ngôi nhà của một phụ nữ trẻ, họ trông thấy thi thể bất động của cô qua các khe nứt.  Nhưng tư thế của cô thật kì lạ, trông cô như đang quỳ xuống như khi cầu nguyện, thân cô hướng về phía trước, và hai tay cô như đang bọc lấy thứ gì đó.  Ngôi nhà đổ nát đã đè quỵ hoàn toàn lưng và đầu của cô.

Dù rất khó khăn, người đội trưởng vẫn cố gắng đưa tay qua các khe nứt để chạm tới thân người phụ nữ.  Ông hy vọng mong manh rằng cô vẫn sống.  Tuy nhiên, làn da lạnh và cơ thể cứng đã bảo ông rằng người phụ nữ này đã vĩnh viễn ra đi.

Ông và các thành viên còn lại của đội tiếp tục tìm kiếm ở các căn nhà đổ nát kế tiếp.  Linh tính mách bảo điều gì đó, người đội trưởng bị thôi thúc quay lại căn nhà sụp đổ của người phụ nữ đó. Một lần nữa, ông lại lần mò một cách khó nhọc bên dưới không gian chật hẹp cơ thể đã lạnh của người phụ nữ, và bất ngờ thay, ông reo lên một cách mừng rỡ: “Một đứa trẻ, là một đứa trẻ!”

Cả đội đã cùng với nhau, cẩn thận di dời từng mảnh đổ vỡ của căn nhà chung quanh người cô. Một cậu bé 3 tháng tuổi đã được tìm thấy trong tấm chăn hoa bên dưới thân người mẹ đã mất của mình.

Người phụ nữ rõ ràng đã thực hiện sự hy-sinh cuối cùng để cứu con trai mình.  Khi ngôi nhà của cô rơi xuống, cô đã ôm trọn đứa trẻ và đã dùng cơ thể của mình để làm tấm chắn bảo vệ con trai mình. Cậu bé vẫn ngủ một cách yên bình khi đội trưởng đội cứu hộ nhấc bé lên.

Bác sĩ nhanh chóng kiểm tra cậu bé, khi mở tấm chăn ông thấy một chiếc điện thoại di động bên trong. Có một tin nhắn văn bản trên màn hình, nói rằng: “Nếu con có thể sống sót, con phải nhớ rằng… mẹ luôn yêu con.”  Chiếc điện thoại này đã đi từ hết bàn tay này đến bàn tay khác. Tất cả những người đọc tin nhắn đã khóc. “Nếu con có thể sống sót, con phải nhớ rằng… mẹ luôn yêu con…”

“Con phải nhớ rằng: Mẹ luôn yêu con!” Chao ôi! Có truyện thực nào “thật” bằng truyện vừa kể, ở trên? Ôi chao! Có lời nhủ khuyên nào nhiều ý nghĩa bằng lời nhắn, như thế. Có lời nhắn và nhủ nào tựa hồ lời ru, như lời ca mà nghệ sĩ ở đời lại cứ hát. Hát, lời lẽ rất nhắn nhủ, hay ru ngủ một tình thực rất” thật tình” như lời nghệ sĩ hát ở dưới:

“Môi nào hãy còn thơm, cho ta phơi cuộc tình.
Tóc nào hãy còn xanh, cho ta chút hồn nhiên
Tim nào có bình yên, ta rêu rao đời mình
Xin người hãy gọi tên.”

(Trịnh Công Sơn – Bđd)

Trong cuộc đời, lời kể lể thật không dễ, nhưng vẫn kể. Kể rất hay. Kể rất nhuyễn hơn lời diễn giảng của ai đó, là thày sáu hay thày cả, ở nhà thờ. Lời ca đầy tính kể lể hoặc “ru ta ngậm ngùi” đầy tính chất rất ru ngủ nhưng vẫn cứ thức, cứ tỉnh “bơ” như sau:

“Khi tình đã vội quên, tim lăn trên đường mòn
Trên giọt máu cuồng điên, con chim đứng lặng câm
Khi về trong mùa đông, tay rong rêu muộn màng.
Thôi chờ những rạng đông..”

(Trịnh Công Sơn – bđd)

Vâng. Đúng thế. Thà là thế. Ta cứ “chờ những rạng đông” đi, rồi cũng thấy “những con tim lăn trên đường mòn”dù “tay (đã) rong rêu muộn màng”, vẫn còn thấy “rạng động” tuyệt vời ngời sáng, như câu hát của người nghệ sĩ chừng như đang ru tiếp:

“Xin chờ những rạng đông
Đời sao im vắng
Như đồng lúa gặt xong
Như rừng núi bỏ hoang
Người về soi bóng mình.
Giữa tường trắng lặng câm.”

Không. Đời người và đời mình hôm nay không còn “im vắng” nữa. Người người hôm nay, không còn “về soi bóng mình” để rồi sẽ lại chỉ thấy những là “bóng mình giữa tường trắng lặng câm.” Đành rằng tường trắng hôm nào vẫn lặng câm, khi anh khi tôi cứ “ru ta ngậm ngùi” bằng câu hát, chứ không phải là bằng những lời giảng và giải rất “dễ ngủ” ở nhà thờ.

Người đời hôm nay, vẫn diễn giải và minh chứng về tình yêu trong đời, không bằng lời dẫn giải minh xác, rất “triết/thần” cho bằng chính cuộc sống có hát ca, qua những ý/lời được thêm thắt ở lời cuối một nhạc bản, như sau:

“Có đường phố nào vui, cho ta qua một ngày
Có sợi tóc nào bay, trong trí nhớ nhỏ nhoi
Không còn, không còn ai, ta trôi trong cuộc đời
Không chờ, không chờ ai.”

Vâng. Quả có thế. Đời nghệ sĩ, có hát nhiều, nói nhiều cũng nào vui. Bởi, người nghệ sống trong đời có hát nhiều, nói nhiều và vui chơi không thiếu, rồi vẫn thấy chính cuộc đời mình như sợi tóc nhỏ nhoi, trôi bay trong giòng đời, rất nổi trôi.

Vâng. Có thể cũng như thế, nếu bạn và tôi suy nghĩ nhiều về những ý/lời diễn giải của đấng bậc vị vọng ở nhà thờ, nhà Chúa vẫn cứ dùng lời lẽ Chúa răng dạy, mà bảo rằng:

“Thày còn nhiều điều phải nói với anh em.

Nhưng, bây giờ an hem không có sức chịu nổi.

Khi nào Thần khí sự thật đến,
Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn.”

(Ga 16: 12-13)

“Nhiều điều phải nói với anh em. Có thể là những sự rất thật về “tình thương yêu” ta phải có với nhau. Tình yêu thương đó, không chỉ với vợ, với con còn nhỏ hoặc ai đó, nhưng còn là sự quan tâm để ý đến sự yên vui an nhàn của trẻ bé, lẫn người lớn như truyện kể khác được kể lại trên mạng vi tính rất linh tinh, như sau:

“Một gia đình gồm hai vợ chồng và bốn đứa con nhỏ. Dịp hè, họ cùng đi nghỉ mát ở một bãi biển. Bọn trẻ rất thích tắm biển và xây những tòa lâu đài trên cát. Bố mẹ chúng thuê một cái lều ngồi uống nước trên bờ, dõi nhìn các con vui đùa không quá xa ngoài kia phía trước mặt. Thế rồi họ trông thấy một bà cụ già nhỏ nhắn ăn mặc xuềnh xoàng, trên tay cầm một chiếc túi cũ đang tiến lại. Tóc bà đã bạc trắng, bị gió biển thổi tốc lên càng làm cho khuôn mặt nhăn nheo của bà thêm khó coi. Bà cụ đang lẩm bẩm một điều gì đó, dáo dác nhìn rồi thỉnh thoảng lại cúi xuống nhặt những thứ gì đó trên bãi biển, bỏ vào cái túi. Hai vợ chồng không hẹn mà cùng vội chạy ra gọi các con lại, căn dặn chúng phải tránh xa người đàn bà khả nghi kia.

Dường như họ cố ý nói to cho bà ta nghe thấy để bà ta nên đi chỗ khác kiếm ăn.Cụ già không biết có nghe thấy gì không giữa tiếng sóng biển ì ầm, chỉ thấy bà cứ từ từ tiến về phía họ. Thế rồi bà cụ dừng lại nhìn mấy đứa trẻ dễ thương đang ngơ ngác nhìn mình. Bà mỉm cười với họ nhưng không ai đáp lại, chỉ giả vờ ngó lơ đi chỗ khác. Bà cụ lại lẳng lặng làm tiếp công việc khó hiểu của mình. Còn cả gia đình kia thì chẳng hứng thú tắm biển nữa, họ kéo nhau lên quán nước phía trên bãi biển.

Trong lúc chuyện trò với người phục vụ bàn ăn cùng những khách hàng trong quán, hai vợ chồng quyết định hỏi thăm xem bà cụ khả nghi kia là ai và họ… sững sờ: Bà cụ ấy là người dân ở đây, từng có một đứa cháu ngoại vì bán hàng rong trên bãi biển, vô tình đạp phải một mảnh chai rồi bị nhiễm trùng, sốt cao, đưa đi bệnh viện cấp cứu không kịp và đã chết không lâu vì bệnh uốn ván.

Từ dạo ấy, thương cháu đến ngẩn ngơ, bà cứ lặng lẽ đi dọc bãi biển, tìm nhặt những mảnh chai, mảnh sắt hoặc hòn đá có cạnh sắc. Mọi người hỏi lý do thì bà đáp mà đôi mắt ướt nhòe: “ồ, tôi chỉ làm một việc nhỏ thôi ấy mà, để các cháu bé có thể vui chơi trên bãi biển mà không bao giờ bị chết như đứa cháu đáng thương của tôi!” Nghe xong câu chuyện, người chồng vội chạy ngay xuống bãi biển mong có thể nói một lời xin lỗi và một lời biết ơn chân thành, nhưng bà cụ đã đi rất xa rồi. Bóng bà chỉ còn là một chấm nhỏ trên bãi biển vắng người khi chiều đang xuống…”

Hôm nay, người những truyện kể rất ư là lễ mễ ở trên, hẳn bạn cũng như tôi, ta nghĩ nhiều về nhiều thứ. Những thứ như: ru ta ngậm ngùi sau cả một đời, rất phiêu du, cho chí tình của người chồng ít thấy ở một xã hội nhiễu nhương, khuynh loát; rồi lại đến tình mẹ hiền chấp nhận cái chết cho riêng mình để con nhỏ của mình được sống sót và đến tình của cụ già nhà ta vẫn lang thang đây đó lo cho các cháu nhỏ bị nạn như con cháu nhà mình. Thôi thì, đủ thứ tình cảm rất ư là “ta ru ta ngậm ngùi. Xin ngủ dưới vòm cây.”

Thế nhưng, làm sao ngủ dưới vòm cây được, khi Lời Ngài còn đó nỗi buồn, vì ta cứ quên. Quên rằng, điều Ngài khẳng định về Thần Khí của Sự thật sẽ dẫn đưa anh em loài người đi vào những sự rất thật, ở đời người. Sự thật ấy, người người cứ tưởng rằng khi được nghệ sĩ những “ru ta ngậm ngùi”, rồi sẽ chóng quên, khi đã ngủ vùi trong giấc mộng đầy thiền trong cõi “Tây Phương cực lạc”, lại rất vui.

Khi mọi người đã được Thần Khí Chúa dẫn đưa vào với Sự thật rất thực của mọi sự và mọi thứ rồi, thì tôi hay bạn cũng chẳng cần ai ru ai. Bởi, có “ru ta (đến) ngậm ngùi”, cũng chẳng ngủ. Vấn đề cuối cùng, vẫn là: “Ngài sẽ làm Ta vinh hiển vì Ngài lấy của Ta mà ban cho các ngươi.” (Ga 16: 15)

Trần Ngọc Mười Hai

sẽ cùng người anh, người chị

ở thánh hội nắm chắc Sự thật ấy

suốt đời mình.

ĐÂU LÀ CỦA RIÊNG AI

ĐÂU LÀ CỦA RIÊNG AI

Một đêm khi anh ngủ, trong giấc mộng có một vị thần hiện ra dặn anh sáng mai hãy đi thật sớm đến một khu rừng gần đó, anh sẽ gặp một vị tu sĩ, và hãy hỏi thì ông ta sẽ giúp cho anh có được một cuộc sống hạnh phúc.

Sáng hôm sau, anh ta mừng rỡ vội vàng lên đường đi về khu rừng ấy. Đến nơi, anh gặp một vị tu sĩ ăn mặc đơn sơ, y áo làm bằng những tấm vải vụn vá lại, ngồi dưới một gốc cây lớn dáng rất an vui và tự tại. Nhớ lời dặn của vị thần trong giấc mơ, anh quỳ xuống thưa:

“Kính thưa thầy, bấy lâu nay con đi tìm một con đường hạnh phúc. Con muốn đạt được một cái gì đó mà có thể giúp con luôn được an vui và tự tại trong mọi hoàn cảnh. Con đã đi tìm cầu khắp nơi, và học từ nhiều vị thầy, nhưng vẫn không cảm thấy đạt được những gì mình muốn. Con xin thầy thương sót từ bi chỉ dạy cho con.”

Vị tu sĩ ngước nhìn anh với ánh mắt từ ái, rồi nói,   “Thú thật ta cũng không có gì khác để dạy cho anh thêm nữa hết.” Rồi vị tu sĩ cúi xuống tìm trong túi vải mình và lấy ra một vật, ông nói, “Ta chỉ có một vật này, không biết của ai cúng dường cho, thôi anh hãy cầm lấy đở đi”.

Nói xong, vị tu sĩ trao cho anh một vật trông như một viên đá chiếu sáng lấp lánh. Anh cầm trong tay và xem kỹ lại thì đó là một viên ngọc quý rất lớn. Tim anh như ngừng đập! Chưa bao giờ anh được thấy, chứ đừng nói là cầm trong lòng bàn tay, một vật quý giá đến như vậy. Với viên ngọc quý này, nó có thể mang lại cho anh bất cứ một hạnh phúc nào trên cuộc sống mà anh muốn. Phải chăng con đường hạnh phúc mà anh đang tìm kiếm bấy lâu nay, nó đang rộng mở ra ngay trước mặt mình.

Anh mừng rở vô cùng, bật khóc và quỳ xuống đảnh lễ vị tu sĩ. Anh nhà nghèo từ giã vị tu sĩ và trở về căn chòi cũ của mình. Đêm hôm ấy anh trằn trọc và không tài nào ngủ được, anh cứ mơ tưởng về tất cả những sự sang giàu, quyền lực, địa vị và hạnh phúc trên cuộc đời mà mình có thể đạt được nhờ viên ngọc này. Và, anh cũng suy tư sâu xa về giấc mộng và vị tu sĩ ấy…

Sáng hôm sau, khi mặt trời chưa lên, anh đã vội vàng lên đường quay trở lại khu rừng ấy. Anh mừng rở khi thấy vị tu sĩ vẫn còn ở đó, ngồi yên với dáng thong dong. Anh đến cạnh bên và quỳ xuống thưa:

“Thưa thầy, con xin trả lại thầy viên ngọc quý này. Con đã suy nghĩ nhiều và hiểu rằng, viên ngọc quý này không thể nào mang lại được cho con một hạnh phúc mà con muốn. Điều mà con mong cầu, là làm sao có được cái tấm lòng của thầy mà đã có thể trao cho con viên ngọc quý ấy không chút luyến tiếc. Chứ con không cần viên ngọc này. Kính xin thầy chỉ cho con làm sao để có được tấm lòng rộng lớn ấy.”


Têrêsa  Ngọc Nga

A/C Thụ & Mai gởi

SAU LŨ LỤT THÁNG SÁU, LỘ ĐỨC LUÔN LÀ ĐƯỜNG THIÊNG TUÔN THÁNH ĐỨC

Lê Đình Thông
6/22/2013

Nước sông Gave lên gần tới tượng Đức Mẹ

Trong mấy ngày lũ lụt, nước sông Gave cuồn cuộn chảy. Cả vùng đồi núi Pyrénées nhuộm màu tang tóc. Phía trên đền thánh, vương miện Chúa Cứu thế uy nghi ngự trị, nhắc nhở các tín hữu ‘‘ngước mắt nhìn lên rặng núi, ơn phù hộ tôi đến từ Đức Chúa là Đấng dựng nên cả đất trời.’’ (Thánh vịnh 121):

Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt

Nước còn cau mặt với tang thương. (Bà Huyện Thanh Quan)

xem hình lũ lụt

Lộ Đức dịch âm địa danh Lourdes, từ gốc là Lorda, thổ ngữ miền Gascogne. Lộ Đức (路德): con đường thánh đức. Nữ thánh Bernadette Soubirous có ân đức được Đức Bà hiện ra 18 lần kể từ 11/02/1858 tại hang đá Massabielle. Nơi đây, Đức Thánh mẫu đã công bố danh hiệu Vô nhiễm Nguyên tội.

Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội và Vương quyền của Chúa Kitô luôn ngự trị trên trần gian. Ngày 21/06, linh mục Horacio Brito, Viện trưởng Đền thánh Lộ Đức, cho biết linh địa sẽ mở cửa cho khách thập phương đến suy ngắm và cầu nguyện từ 10 giờ 10 sáng thứ bẩy 22/06. Ngày thứ bẩy trong tuần là ngày của Đức Mẹ.

Việc quét dọn bùn lầy nước đọng là do công quả của 160 người thiện nguyện, cùng với nhân viên Đền thánh chung sức thực hiện.

Hôm thứ sáu, Đức Thánh Cha Phanxicô đã gửi thông điệp chia sẻ nỗi đau thương cùng các nạn nhân lũ lụt. Một thánh lễ sẽ được cử hành vào Chúa Nhật 23/06/2013 để cầu nguyện cho các nạn nhân lũ lụt và hai người bị chết đuối trong lúc đang lái xe.

CẦU NGUYỆN LÀ THIÊNG LIÊNG VÀ CÂN ĐỐI

CẦU NGUYỆN LÀ THIÊNG LIÊNG VÀ CÂN ĐỐI

Những năm làm việc sinh ích của chúng ta là một cuộc đua đường dài chứ không phải cuộc đua nước rút, do đó sẽ khó giữ vững tính mềm mại, lòng quảng đại và kiên nhẫn khi phải đi qua những lúc mệt mỏi, thử thách, cám dỗ vây quanh chúng ta trong suốt đời sống người lớn.  Khi phải dựa hoàn toàn vào chính mình, chỉ tin vào sức mạnh của ý chí, chúng ta thường bị mệt nhọc, sức chịu đựng đi xuống, làm việc nửa vời, cả trong sự chín chắn và kỷ luật của mình.  Chúng ta cần một hổ trợ từ bên ngoài, từ một nơi nào đó nằm ngoài hổ trợ của con người, và sự hổ trợ đó sẽ nâng đỡ chúng ta.  Chúng ta cần sự giúp đỡ của Thiên Chúa, một sức mạnh khởi xuất từ một điều gì đó cao hơn sức mạnh của con người.  Chúng ta cần cầu nguyện.

Nhưng thường thường chúng ta nghĩ về cầu nguyện là lòng mộ đạo hơn là một cái gì thực tế.  Hiếm khi chúng ta hiểu cho thấu cầu nguyện thật ra là một vấn đề sống chết đối với chúng ta.  Chúng ta cần cầu nguyện không phải vì Chúa cần lời cầu nguyện, nhưng nếu không cầu nguyện, chúng ta sẽ không bao giờ tìm thấy một cái gì kiên định trong đời sống của mình.  Đơn giản, nếu không  cầu nguyện, chúng ta sẽ luôn luôn hoặc sống quá nhiều về bản thân, hoặc quá thiếu sinh lực, nói cách khác, hoặc tự mãn hoặc chán nản.  Tại sao vậy?  Mổ xẻ vấn đề này, chúng ta sẽ thấy gì?

Dù hiểu theo tất cả những gì tốt đẹp nhất trong truyền thống Kitô giáo hay không, cầu nguyện mang đến cho chúng ta hai điều cùng một lúc: Nối kết chúng ta với sinh lực thiêng liêng và cho chúng ta nhận thức.  Năng lực này không phải của chúng ta, nó đến từ một nơi khác, và có lẽ chúng ta chẳng bao giờ xác định được.  Với tác động của nó, cầu nguyện sẽ đổ đầy sinh lực thiêng liêng cho chúng ta, cùng lúc nó cho chúng ta biết sinh lực này không phải của chúng ta, sinh lực này hoạt động trong chúng ta, nhưng không phải do chính chúng ta.  Để lành mạnh, chúng ta cần cả hai: Nếu mất nối kết với sinh lực thiêng liêng, chúng ta sẽ cạn kiệt sinh lực, nản lòng và thấy trống rỗng.  Ngược lại, nếu để sinh lực thiêng liêng tuôn chảy mà không cần xác định chính xác nó là gì, cứ nghĩ nó là của mình, thì từ đó chúng ta thành người tự đại, tự mãn, tự cho mình là quan trọng và kiêu ngạo, rồi từ đó sẽ ích kỷ và hư mất.

Để làm sáng tỏ điều này, Robert Moore đã minh họa một hình ảnh rất hữu ích, một chiến đấu cơ nhỏ cần được tiếp năng lượng trong lúc bay.  Chúng ta từng xem các đoạn phim ngắn, chiếu cảnh một chiến cơ được tiếp nhiên liệu trong khi bay.  Tàu mẹ với dự trữ nhiên liệu khổng lồ, bay trên tàu con. Tàu con phải bay đủ gần tàu mẹ, để vòi xăng từ tàu mẹ nối được với tàu con, và đổ đầy nhiên liệu cho nó.  Nếu không làm được cách nối này, tàu con sẽ cạn nhiên liệu và sẽ rớt.  Ngược lại, nếu nó bay thẳng vào và nhập một với tàu mẹ, thì nó sẽ cháy.

Một vài hình ảnh trên nói lên được tầm quan trọng của cầu nguyện trong đời sống chúng ta.  Không có cầu nguyện, mãi mãi chúng ta sẽ chỉ thấy mình giao động chập chờn giữa cạn kiệt sinh lực và quá nhiều cái tôi.  Nếu không nối kết với sinh lực thiêng liêng, chúng ta sẽ như phi cơ cạn xăng.  Nếu nối kết với sinh lực thiêng liêng theo kiểu đồng nhất vào đó, chúng ta sẽ hủy hoại chính mình.

Cầu nguyện sâu đậm vừa thêm sinh lực, vừa làm trụ nâng đỡ chúng ta.  Chúng ta có thể thấy điều này nơi mẹ Têrêxa, người thiết tha với sinh lực sáng tạo nhưng luôn luôn xác định rõ ràng, sinh lực này không xuất phát từ mình, mà chính từ Thiên Chúa, mẹ chỉ là tạo vật khiêm hèn mà thôi.  Thiếu cầu nguyện sẽ tạo ra hai dạng tương phản với mẹ Têrêxa.  Một mặt, nó làm cho những người đầy sinh lực sáng tạo trở nên cực kỳ tài năng và hăng hái, nhưng đồng thời cũng đầy cái tôi và tự đại; hay ngược lại, nó làm cho người ta cảm thấy trống rỗng và tẻ nhạt, không phát ra được sinh lực tích cực nào.  Không có cầu nguyện, chúng ta sẽ luôn luôn chao qua chao về giữa hai trạng thái tự đại và nản lòng.

Vì thế, là người nhạy cảm, nếu trong đời sống, tôi không cầu nguyện một cách trung thực, tôi sẽ sống trong khủng hoảng thường xuyên, ngại rằng nếu tôi bám lấy và hành động trên sinh lực của mình sẽ làm cho người khác nghĩ rằng tôi chỉ biết nghĩ đến cái tôi của mình.  Vì là người nhạy cảm, tôi không chấp nhận như thế, nên tôi chôn vùi các sinh lực tốt nhất của mình với lối suy nghĩ vô thức rằng nản lòng thì tốt hơn là bị cho là ích kỷ.  Nhưng Chúa Giêsu, trong dụ ngôn kể về các tài năng, đã cảnh báo mạnh mẽ về cái giá phải trả khi chôn vùi tài năng của mình, cụ thể là, những gì chúng ta phải trả là sự trống rỗng, giận dữ, và thiếu vui tươi trong cuộc sống.  Thường thường, khi chúng ta dò sâu xuống bên dưới các giận dữ, ghen tương, chúng ta sẽ thấy nơi đó có một tài năng bị chôn vùi đang cay đắng vì  bị đè nén.  Đức hạnh có được nhờ đè nén sinh lực sẽ dẫn đến nỗi chua cay mà thôi.

Ngược lại, nếu tôi không quan tâm đến việc người khác nghĩ tôi là người ích kỷ, cuộc sống tôi cũng chẳng biết cầu nguyện thực sự là gì, thì tôi sẽ để những dòng sinh lực thiêng liêng chảy tự do trong tôi, và tôi sẽ đồng nhất mình với chúng như thể chúng là của tôi, là tài năng của tôi và tặng vật của riêng tôi, kết cục tâm hồn tôi sẽ đầy cái tôi và tự đại, và rồi những người xung quanh sẽ mong tôi sớm gặp khủng hoảng!

Không có cầu nguyện, mãi mãi chúng ta sẽ hoặc cạn kiệt sinh lực hoặc mang trong mình quá nhiều cái tôi, chỉ vậy mà thôi.

Fr. Ron Rolheiser, OMI

From: ngocnga_12  &

Anh chị Thụ Mai gởi