Phái đoàn Việt Nam tham dự Ngày Giới trẻ Thế giới

Phái đoàn Việt Nam tham dự Ngày Giới trẻ Thế giới

WHĐ (11.07.2013) – Trong tình hiệp thông với Đức Thánh Cha và các bạn trẻ đến từ bốn phương, đại diện giới trẻViệt Nam sẽ có mặt trong Ngày Giới trẻ Thế giới lần thứ 28, được tổ chức tại thành phố Rio de Janeiro, Braxin, từ ngày 23 đến 28 tháng 7 năm 2013. Đức Thánh Cha Phanxicô sẽ đến gặp gỡ các bạn trẻ trong dịp này. Ngài sẽ chủ sự giờ canh thức cầu nguyện đêm thứ bảy 27-07 và thánh lễ sáng 28-07.

Với chủ đề “Các con hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ!” (Mt 28,19), các bạn trẻ được mời gọi học hỏi và suy tư về sứ mạng loan báo Tin Mừng của Giáo Hội, đồng thời cũng là sứ mạng của người trẻ trong xã hội hôm nay.

Rio là thành phố lớn thứ hai của Braxin, đã chuẩn bị sẵn sàng để tiếp đón các tham dự viên đến từ khắp nơi trên thế giới.

Phái đoàn Việt Nam gồm 3 giám mục (Đức cha Micae Hoàng Đức Oanh, Đức cha Phaolô Nguyễn Thái Hợp và Đức cha Giuse Vũ Văn Thiên) và 24 thành viên, trong đó có 14 linh mục và 10 giáo dân. Hiện nay phái đoàn đang hoàn tất những thủ tục để xin visa nhập cảnh và sẽ lên đường vào ngày Chúa nhật 21-07-2013.

Chúng ta cầu nguyện cho sự thành công của Ngày Giới trẻ Thế giới và cho phái đoàn Việt Nam thực sự mang đến cuộc gặp gỡ này những nét văn hóa rất riêng của người công giáo là con cháu Lạc Hồng.

Gm Giuse Vũ Văn Thiên

Ngày Giới trẻ Thế giới Rio 2013 qua những con số

WHĐ (17.07.2013)– Những ngày này, khi hàng trăm ngànbạn trẻ Công giáo lũ lượt tuốn về Brazil, cũng là lúc các điều phối viên Ngày Giới trẻ Thế giới (GTTG) Rio de Janeiro đang hoàn tất những chuẩn bị cuối cùng cho Đại hội dự kiến sẽ đón tiếp đến 2,5 triệu người.

Tính đến ngày 15 tháng Bảy, hơn 320.000 người đã ghi danh tham dự sự kiện này. Điều phối viên truyền thông Carol Castro cho biết nhiều người sẽ ghi danh khi đến nơi, và sẽ có nhiều người tham gia các sự kiện mà không ghi danh.

Các quốc gia có số người ghi danh đông nhất là Brazil, Argentina và Hoa Kỳ, nhưng cũng có những bạn trẻ đến từ những nơi xa như Slovakia, Philippines và Việt Nam.

Hơn 8.400 linh mục từ khắp nơi trên thế giới đã xin xác nhận để tham gia sự kiện này. Khoảng 5.500 phóng viênđã được cấp phép để tường thuật chuyến tông du quốc tế đầu tiên của Đức Thánh Cha Phanxicô.

Trong số người tham dự đã ghi danh có 55 phần trăm là nữ và 60 phần trăm trong độ tuổi từ 19 đến 34. Khoảng 300.000 giường tại các gia đình, trung tâm thể thao và trường học ở Rio được dành sẵn cho các tham dự viên Ngày GTTG.

Ban tổ chức cho biết có hơn 270 địa điểm giảng dạy giáo lý bằng 26 ngôn ngữ, trong đó có tiếng Ba Lan, Latvia, Quan Thoại và Flemish.

Trong suốt tuần lễ Đại hội, sẽ có 60.000 tình nguyện viên, trong đó 7.000 là người nước ngoài, sẵn sàng giúp đỡ và hướng dẫn khách hành hương đến các địa điểm diễn ra các sựkiện ở Rio. Gần 800 ca sĩ, vũ công, diễn viên và nhạc sĩ sẽ tham gia vào những sự kiện chính.

Ban tổ chức đã chuẩn bị 4 triệu bánh lễ và 100 tòa giải tội.

Ngày 25 tháng Bảy, Đức Thánh Cha sẽ chào đón khách hành hương trên một lễ đài nhìn ra bãi biển Copacabana. Để phục vụ những người không thể đến được khu vực chính, ban tổ chức đã đặt 2 màn hình lớn và 16 màn hình nhỏ hơn cùng với 26 tháp âm thanh.

Đêm canh thức 27 tháng Bảy được tổ chức bên ngoài thành phố, tại một khu vực rộng tương đương 150 sân bóng đá, được gọi là Campus Fidei (Cánh đồng Đức Tin). Đây cũng là nơi Đức Thánh Cha Phanxicô cử hành Thánhlễ bế mạc vào ngày 28 tháng Bảy. Có 33 màn hình lớn ngoài trời giúp mọi người dễdàng tham dự Thánh lễ.

Những người nghỉ qua đêm tại khu vực này sẽcó thêm tiện nghi thoải mái với 4.673 phòng tắm di động, trong đó có 270 phòng thiết kế cho người khuyết tật.

Hơn 12 triệu lít nước được cung cấp cho cáckhách hành hương, phân bố ở 177 địađiểm trên khắp khu vực.

Lực lượng vũ trang của Brazil chịu trách nhiệm bảo đảm an toàn cho những người hành hương tại Campus Fidei. 1.500 binh sĩ sẽ đóng quân bên trong CampusFidei trong khi lực lượng an ninh quốc gia có 1.300 người tuần tra cả bên trong và bên ngoài khu vực canh thức.

Trong suốt thời gian diễn ra Đại hội, hơn 10.200 đơn vị quân đội sẽ phụ trách giữ an ninh cho khách hành hương. Sốthành viên của các lực lượng vũ trang được huy động để bảo đảm an ninh cho khách hành hương đã tăng thêm (từ 8.500) sau các cuộc biểu tình chính trị-xã hội gần đây tại một số thành phố ở Brazil. Đức Thánh Cha Phanxicô sẽ được 600 nhân viên quân sự và 80 người thuộc cảnh sát liên bang Brazil bảo vệ, không kể cảnh sát Vatican cùng đi với ngài.

(Theo CNS)

Minh Đức

TÌM HIỂU SỨ ĐIỆP NGÀY GIỚI TRẺ THẾ GIỚI 2013 CỦA ĐỨC THÁNH CHA BÊ-NÊ-ĐÍC-TÔ XVI

H. Ngày Giới Trẻ Thế Giới còn được gọi là ngày gì?

T. Ngày Giới Trẻ Thế Giới còn được gọi là Ngày Quốc Tế Giới Trẻ.

H. Ngày Giới Trẻ Thế Giới (hay Ngày Quốc Tế Giới Trẻ) năm 2013 sẽ diễn ra khi nào và ở đâu?

T. Ngày Giới Trẻ Thế Giới (hay Ngày Quốc Tế  Giới Trẻ) năm 2013 diễn ra từ ngày 23 đến ngày 28 tháng 7 năm 2013 tại thành phố Rio de Janeiro thủ đô Bra-xin.

H. Ngày Giới Trẻ Thế Giới (hay Ngày Quốc Tế Giới Trẻ) năm 2013 là Ngày Giới Trẻ Thế Giới lần thứ bao nhiêu?

T. Ngày Giới Trẻ Thế Giới (hay Ngày Quốc Tế Giới Trẻ) năm 2013 là Ngày Giới Trẻ Thế Giới (hay Ngày Quốc Tế Giới Trẻ) lần thứ 28, kể từ ngày được Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II thành lập.

H. Sứ Điệp Ngày Giới Trẻ Thế Giới (hay Ngày Quốc Tế Giới Trẻ) 2013 là của Đức Giáo Hoàng nào?

T. Sứ Điệp Ngày Giới Trẻ Thế Giới (hay Ngày Quốc Tế Giới Trẻ) 2013 là của Đức Thánh Cha Bê-nê-đíc-tô XVI. Ngài công bố Sứ điệp này vào ngày 16/11/2012 khi Ngài còn tại chức Giáo Hoàng.

H. Đức Giáo Hoàng nào sẽ hiện diện trong Ngày Giới Trẻ Thế Giới (hay Ngày Quốc Tế  Giới Trẻ) tại Rio de Janeiro?

T. Đức Thánh Cha Phan-xi-cô sẽ hiện diện trong Ngày Giới Trẻ Thế Giới (hay Ngày Quốc Tế Giới Trẻ)  tại Rio de Janeiro.

H. Chủ đề của Sứ Điệp Ngày Giới Trẻ Thế Giới (hay Ngày Quốc Tế Giới Trẻ) 2013 của Đức Thánh Cha Bê-nê-đíc-tô XVI là gì?

T. Chủ đề của Sứ Điệp Ngày Giới Trẻ Thế Giới (hay Ngày Quốc Tế Giới Trẻ) 2013 của Đức Thánh Cha Bê-nê-đíc-tô XVI là:  “Hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ”

H. Chủ đề của Sứ Điệp Ngày Giới Trẻ Thế Giới (hay Ngày Quốc Tế Giới Trẻ) 2013 có xuất xứ từ đâu?

T. Chủ đề của Sứ Điệp Ngày Giới Trẻ Thế Giới (hay Ngày Quốc Tế Giới Trẻ) 2013 có xuất xứ từ chính Lời của Chúa Giê-su Ki-tô Phục Sinh nói với các Tông đồ, trong Tin Mừng Mát-thêu, chương 28 cầu 19.

H. Trong Sứ Điệp Ngày Giới Trẻ Thế Giới (hay Ngày Quốc Tế Giới Trẻ) lần thứ 28 Đức Thánh Cha Bê-nê-đíc-tô XVI triển khai chủ đề như thế nào?

T. Trong Sứ Điệp Ngày Giới Trẻ Thế Giới (hay Ngày Quốc Tế Giới Trẻ) lần thứ 28 Đức Thánh Cha Bê-nê-đíc-tô XVI triển khai chủ đề qua lời mở đầu và 6 số

Số 1:  Một lời mời gọi cấp bách

Số 2:  Trở nên môn đệ của Đức Ki-tô

Số 3:  Các con hãy ra đi

Số 4:  Hãy qui tụ muôn nước

Số 5:  Hãy làm cho muôn dân trở thành môn đệ

Số 6:  Hãy kiên vững trong đức tin

Số 7:  Với toàn thể Giáo Hội

Số 8: “Lạy Chúa, này con đây”

Và lời kết thúc

H. Trong “lời mở đầu” của Sứ Điệp Ngày Giới Trẻ Thế Giới (hay Ngày Quốc Tế  Giới Trẻ) lần thứ 28 Đức Thánh Cha Bê-nê-đíc-tô XVI viết/nói gì với người trẻ

T. Trong “lời mở đầu” của Sứ Điệp Ngày Giới Trẻ Thế Giới (hay Ngày Quốc Tế  Giới Trẻ) lần thứ 28 Đức Thánh Cha Bê-nê-đíc-tô XVI

(a) gửi lời chào đầy niềm vui và yêu thương đến tất cả các người trẻ,

(b) mời gọi các người trẻ tham dự Ngày Giới Trẻ Thế Giới (hay Ngày Quốc Tế Giới Trẻ) lần thứ 28 tại Rio de Janeiro (Bra-xin) từ ngày 23 đến 28 tháng 7 năm 2013,

(c) nhắc đến tượng Chúa Giê-su Ki-tô Chúa Cứu Thế tại Rio de Janeiro là một biểu tượng nhiều ý nghĩa,

(d) mời gọi các người trẻ chuẩn bị cho Ngày Giới Trẻ Thế Giới (hay Ngày Quốc Tế  Giới Trẻ) lần thứ 28 tại Rio de Janeiro (Bra-xin) bằng việc suy niệm trên chủ đề của Ngày Giới Trẻ Thế Giới (hay Ngày Quốc Tế Giới Trẻ) năm 2013: “Hãy đi và làm cho muôn đân trở thành môn đệ” (Mt 28,19).

H. Trong tựa đề “một lời mời gọi cấp bách” (số 1) của Sứ Điệp Ngày Giới Trẻ Thế Giới (hay Ngày Quốc Tế  Giới Trẻ) lần thứ 28 Đức Thánh Cha Bê-nê-đíc-tô XVI viết/nói gì với người trẻ?

T. Trong tựa đề “một lời mời gọi cấp bách” (số 1) của Sứ Điệp Ngày Giới Trẻ Thế Giới (hay Ngày Quốc Tế  Giới Trẻ) lần thứ 28 Đức Thánh Cha Bê-nê-đíc-tô XVI

(a) nhắc đến nhiều người đã đóng góp cho việc mở mang Nước Chúa:

“với sự quảng đại bỏ mình, đã có những đóng góp lớn lao cho Nước Thiên Chúa và sự phát triển của thế giới này ngang qua việc công bố Tin Mừng. Được đổ đầy với lòng nhiệt thành, họ đã mang Tin Mừng Tình Yêu được biểu lộ nơi Đức Kitô; họ sử dụng những phương thế và những khả năng yếu kém hơn nhiều so với những gì chúng ta có hôm nay.

(b) nhắc lại tầm quan trọng của đức tin:

Đức tin giúp chúng ta hiểu rằng đời sống của mỗi người là vô giá vì mỗi người trong chúng ta là hoa trái của tình yêu. Thiên Chúa yêu thương mọi người, kể cả những ai đã rời xa hay xem thường Ngài. Thiên Chúa vẫn luôn kiên nhẫn chờ đợi. Thực vậy, Thiên Chúa đã cho con một của mình chết và sống lại để giải phóng chúng ta khỏi mọi tội lỗi. Đức Kitô đã sai các môn đệ của mình lên đường để mang niềm vui cứu độ và sự sống mới này đến với muôn dân trên khắp muôn nơi.”

(c) khẳng định sự trông chờ của Giáo Hội nơi người trẻ:

“Tiếp nối sứ mạng Phúc Âm Hoá này, Giáo hội trông chờ nơi các con. Các bạn trẻ thân mến, các con sẽ là những nhà truyền giáo tiên phong trong thời đại của các con.”

(d) nhắc lại sứ điệp của Công Đồng Vatican II và Đức Thánh Cha Phao-lô VI gửi các người trẻ ngày 12 tháng 8 năm 1965:

“Các bạn trẻ nam và nữ thân mến, chính các con là những người mà Công đồng muốn nhắn nhủ những thông điệp cuối cùng của mình. Vì chính các con là những người đã lãnh nhận ngọn đuốc từ tay những người đi trước, là những người sống trong một thế giới có những sự biến chuyển lớn lao chưa từng có trong lịch sử. Chính các con, khi đón nhận các mẫu gương sống động cũng như những lời khuyên nhủ của cha mẹ và thầy cô, các con sẽ là những người khuôn đúc nên xã hội mai sau. Một xã hội mà các con có thể được cứu hay bị diệt vong trong đó. Thông điệp kết thúc với những từ ngữ: “Với lòng nhiệt thành, các con hãy xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn”

(e) nhấn mạnh rằng:

“hôm nay đây lời gọi này vẫn còn cần thiết”

H. Trong tựa đề “trở nên môn đệ của Đức Ki-tô” (số 2) của Sứ Điệp Ngày Giới Trẻ Thế Giới (hay Ngày Quốc Tế  Giới Trẻ) lần thứ 28 Đức Thánh Cha Bê-nê-đíc-tô XVI viết/nói gì với người trẻ?

T. Trong tựa đề “trở nên môn đệ của Đức Ki-tô” (số 2) của Sứ Điệp Ngày Giới Trẻ Thế Giới (hay Ngày Quốc Tế  Giới Trẻ) lần thứ 28 Đức Thánh Cha Bê-nê-đíc-tô XVI

(a) nhắc nhở các người trẻ nhớ kỹ: “ơn gọi truyền giáo gắn liền với hành trình phát triển đức tin”.

(b) khẳng định với các người trẻ điều tối quan trọng:

Trở nên một nhà truyền giáo nghĩa là gì? Trên hết, nó có nghĩa là trở nên môn đệ của Đức Ki-tô. Nó có nghĩa là lắng nghe sự mới mẻ trong lời mời gọi theo Ngài và cậy dựa vào Ngài: “Hãy học với tôi, vì tôi hiền lành và khiêm nhường trong lòng” (Mt 11,29). Một người môn đệ là người chú ý đến lời của Đức Giê-su; người hiểu rằng Đức Giê-su là Thầy và là Đấng đã yêu thương chúng ta đến nỗi hiến mạng sống mình vì chúng ta. Vì thế, mỗi một người trong chúng ta nên để cho mình được khuôn đúc bởi lời của Thiên Chúa mỗi ngày. Điều này làm cho chúng ta trở thành bạn của Thiên Chúa, Đức Giê-su, và có thể dẫn những người trẻ khác đến và trở nên bạn với Ngài.”

(c) khuyến khích các người trẻ:

Cha khuyến khích các con hãy nhớ đến những quà tặng đã lãnh nhận từ Thiên Chúa, để đến lượt mình, các con cũng có thể trao ban cho người khác. Hãy đọc lại lịch sử cá nhân đời mình. Hãy ý thức về những di sản tuyệt các con đã lãnh nhận được từ các thế hệ trước. Có rất nhiều người, được đổ đầy bởi niềm tin, đã can đảm để trao ban đức tin cho dẫu phải đối diện với bao nhiêu thử thách và hiểu lầm. Chúng ta đừng bao giờ quên mình là những mắt xích quan trọng trong một dây chuyền vĩ đại nơi đó những người nam và người nữ đã thông truyền chân lý đức tin và họ cần chúng ta để có thể thông truyền nó cho người khác. Trở nên một nhà truyền giáo giả thiết một sự hiểu biết về di sản này, đức tin của Giáo Hội. Thật cần thiết để ý thức rằng các con tin vào điều gì để có thể công bố điều đó.”

H. Trong tựa đề “các con hãy ra đi” (số 3) của Sứ Điệp Ngày Giới Trẻ Thế Giới (hay Ngày Quốc Tế  Giới Trẻ) lần thứ 28 Đức Thánh Cha Bê-nê-đíc-tô XVI viết/nói gì với người trẻ?

T. Trong tựa đề “các con hãy ra đi” (số 3) của Sứ Điệp Ngày Giới Trẻ Thế Giới (hay Ngày Quốc Tế  Giới Trẻ) lần thứ 28 Đức Thánh Cha Bê-nê-đíc-tô XVI

(a) nhắc lại lệnh truyền của Chúa Giê-su Ki-tô:

“Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo. Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ; còn ai không tin, thì sẽ bị kết án” (Mc 16,15-16).

(b) nêu một cách hiểu chính xác và sâu sắc về Phúc Âm hóa:

Phúc Âm hoá có nghĩa là mang Tin Mừng Cứu Độ đến cho người khác và giúp họ hiểu rằng Tin Mừng chính là một con người: Đức Giê-su Ki-tô. Khi tôi gặp gỡ Ngài, khi tôi khám phá ra Thiên Chúa đã cứu độ tôi và Ngài yêu tôi biết dường bao. Lúc đó, tôi cảm thấy không chỉ khao khát nhưng còn là một nhu cầu để làm cho Thiên Chúa được người khác biết đến. Khởi đầu Tin Mừng của Thánh Gio-an, chúng ta thấy Anrê, sau khi gặp Đức Giê-su đã lập tức dẫn người em mình là Simon đến với Ngài (Ga 1,40-42). Phúc Âm hoá luôn khởi đi từ cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa. Những người đã đến với Đức Giê-su và đã kinh nghiệm về tình yêu của Ngài, lập tức họ sẽ muốn chia sẻ vẻ đẹp và niềm vui phát sinh từ tình bạn có được với Đức Ki-tô. Càng biết về Đức Giê-su, chúng ta càng muốn nói về Ngài. Càng thưa chuyện với Đức Ki-tô, chúng ta càng khao khát để nói về Ngài. Càng để Đức Giê-su chiếm đoạt mình, chúng ta càng khao khát lôi kéo người khác về với Ngài.”

(c) nhắc đến tầm quan trọng của các Bí Tích và Chúa Thánh Thần:

Ngang qua Bí Tích Rửa Tội, Bí tích mang cho chúng ta sự sống mới, Chúa Thánh Thần cư ngụ nơi chúng ta và Ngài thắp lên ngọn lửa trong tâm trí và con tim ta. Chúa Thánh Thần sẽ dạy cho chúng ta biết Thiên Chúa và giúp chúng ta đi sâu với tình bạn với Đức Ki-tô. Chính Chúa Thánh Thần là Đấng khích lệ chúng ta làm điều thiện, phục vụ người khác và từ bỏ mình. Qua Bí Tích Thêm Sức, chúng ta được trở nên mạnh mẽ nhờ ơn huệ của Thánh Thần để có thể làm chứng cho Tin Mừng một cách trưởng thành hơn. Do đó, chính Thánh Thần của tình yêu là nguồn trợ lực cho sứ mạng chúng ta. Thánh Thần thúc đẩy chúng ta biết “đi ra” khỏi mình và “ra đi” để loan truyền Tin Mừng”.

(d) khuyên các người trẻ:

“Các con hãy để cho chính mình được dẫn dắt bởi tình yêu Thiên Chúa. Hãy để cho tình yêu đó giúp các con vượt qua mọi khuynh hướng khép kín lại nơi thế giới, nơi các vấn đề và thói quen của mình. Hãy can đảm để “đi ra” khỏi mình, “để đến” với người khác và chỉ cho họ thấy con đường gặp gỡ Thiên Chúa.”

H. Trong tựa đề “hãy qui tụ muôn nước” (số 4) của Sứ Điệp Ngày Giới Trẻ Thế Giới (hay Ngày Quốc Tế  Giới Trẻ) lần thứ 28 Đức Thánh Cha Bê-nê-đíc-tô XVI viết/nói gì với người trẻ?

T. Trong tựa đề “hãy qui tụ muôn nước” (số 4) của Sứ Điệp Ngày Giới Trẻ Thế Giới (hay Ngày Quốc Tế  Giới Trẻ) lần thứ 28 Đức Thánh Cha Bê-nê-đíc-tô XVI

(a) lưu ý các người trẻ về nhu cầu truyền giáo và kêu gọi họ ra đi:

“Các con hãy mở mắt và nhìn xem xung quanh mình vẫn còn đó biết bao nhiêu người trẻ không tìm thầy ý nghĩa của cuộc đời. Hãy ra đi! Đức Giêsu cần các con. Hãy để cho chính mình bị bắt chộp và bị lôi kéo bởi tình yêu của Ngài. Hãy ở lại để phục vụ tình yêu lớn lao này vì nhớ đó tình yêu này có thể vươn tới mọi người, đặc biệt là những người “ở xa”.

(b) lưu ý các người trẻ về các lãnh vực cần họ dấn thân:

Các quốc gia” mà chúng ta được mời gọi để đi đến, không chỉ là những quốc gia trên thế giới nhưng cũng chính là những lãnh vực khác nhau trong đời sống chúng ta, như gia đình, cộng đoàn, môi trường học đường và làm việc, các nhóm bạn và những nơi chúng ta trải qua thời gian rảnh rỗi của mình. Việc công bố Tin Mừng trong niềm vui có nghĩa là Tin Mừng được công bố cho mọi lĩnh vực của đời sống chúng ta, không có một loại trừ nào.”

(c) cách riêng hai lãnh vực:

“truyền thông xã hội, cụ thể là thế giới mạng” vàdu lịch và di dân”

H. Trong tựa đề “hãy làm cho muôn dân trở thành môn đệ” (số 5) của Sứ Điệp Ngày Giới Trẻ Thế Giới (hay Ngày Quốc Tế  Giới Trẻ) lần thứ 28 Đức Thánh Cha Bê-nê-đíc-tô XVI viết/nói gì với người trẻ?

T. Trong tựa đề “hãy làm cho muôn dân trở thành môn đệ” (số 5) của Sứ Điệp Ngày Giới Trẻ Thế Giới (hay Ngày Quốc Tế  Giới Trẻ) lần thứ 28 Đức Thánh Cha Bê-nê-đíc-tô XVI

(a) nhắc lại lời của chính Chúa Ki-tô:

“Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy đã truyền cho anh em. và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,19-20).

(b) kêu gọi các người trẻ tự vấn về hành động truyền giáo:

Con đường để làm cho muôn dân trở thành môn đệ là thông qua Phép Rửa và việc học giáo lý. Như vậy, để dẫn người khác đi vào cuộc gặp gỡ với Đức Giê-su trước hết phải là một cuộc gặp gỡ sống động ngang qua Lời và các Bích Tích. Theo cách này, họ có thể tin vào Ngài; họ có thể đi đến việc biết Người và sống trong ân sủng của Ngài. Cha muốn mỗi người trong các con hãy tự vấn chính mình: Tôi đã bao giờ có đủ can đảm để đề nghị một người trẻ lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội chưa? Tôi đã bao giờ mời gọi ai đó dấn thân vào hành trình khám phá niềm tin Ki-tô giáo chưa? Các bạn thân mến, đừng e ngại đề nghị một cuộc gặp gỡ với Đức Ki-tô cho con người trong thời đại hôm nay. Hãy cầu xin sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần sẽ chỉ cho các bạn con đường để hiểu biết và yêu mến Thiên Chúa nhiều hơn, và để trở nên đầy sáng tạo trong việc công bố Tin Mừng.”

H. Trong tựa đề “kiên vững trong đức tin” (số 6) của Sứ Điệp Ngày Giới Trẻ Thế Giới (hay Ngày Quốc Tế  Giới Trẻ) lần thứ 28 Đức Thánh Cha Bê-nê-đíc-tô XVI viết/nói gì với người trẻ?

T. Trong tựa đề “kiên vững trong đức tin” (số 6) của Sứ Điệp Ngày Giới Trẻ Thế Giới (hay Ngày Quốc Tế  Giới Trẻ) lần thứ 28 Đức Thánh Cha Bê-nê-đíc-tô XVI

(a) mời các người trẻ đi sâu vào cầu nguyện và các Bí Tích nhất là Bí Tích Thánh Thể:

Vì thế cha mời gọi các con hãy bén rễ trong cầu nguyện và trong các Bí Tích…. Các con hãy biết tìm đến Thánh Thể là nguồn mạch của đời sống đức tin và của chứng tá Ki-tô hữu của chúng con. Hãy trung thành tham dự Thánh Lễ Chúa Nhật và bất cứ khi nào có thể. Năng chạy đến với Bí tích Hòa Giải: là một cuộc gặp gỡ quý báu với Lòng Thương Xót Chúa, hằng đón nhận chúng ta, thứ tha và đổi mới con tim chúng ta trong tình yêu. Nếu chúng con chưa lãnh nhận Bí tích Thêm Sức, đừng ngần ngại để lãnh nhận Bí tích ấy, chuẩn bị mình với việc quan tâm và dấn thân. Giống như Bí tích Thánh Thể, Bí tích Thêm Sức là bí tích của sứ mạng, bởi lẽ Bí tích ấy trao cho chúng ta sức mạnh và tình yêu của Thần Khí, để chúng ta tuyên xưng đức tin mà không còn sợ hãi. Cha khuyên các con hãy thực hành chầu Thánh Thể. Thời gian các con lắng nghe và thưa chuyện với Chúa Giê-su hằng hiện diện trong Mình Thánh sẽ trở nên nguồn lực mới mẻ lòng hăng say mới trong truyền giáo.”

(b) khuyến khích các người trẻ kiên trì trong đức tin:

Cha khuyến khích các con hãy kiên trì trong đức tin, tin chắc rằng Đức Ki-tô hằng ở cạnh bên các con trong mọi cơn gian nan thử thách. Ngài hằng lặp đi lặp lại với các con rằng “Phúc cho anh em khi vì Thầy mà bị người đời sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao. Quả vậy, các ngôn sứ là những người đi trước anh em cũng bị người ta bách hại như thế” (Mt 5, 11-12).

H. Trong tựa đề “với toàn thể Giáo hội” (số 7) của Sứ Điệp Ngày Giới Trẻ Thế Giới (hay Ngày Quốc Tế  Giới Trẻ) lần thứ 28 Đức Thánh Cha Bê-nê-đíc-tô XVI viết/nói gì với người trẻ?

T. Trong tựa đề “với toàn thể Giáo hội” (số 7) của Sứ Điệp Ngày Giới Trẻ Thế Giới (hay Ngày Quốc Tế  Giới Trẻ) lần thứ 28 Đức Thánh Cha Bê-nê-đíc-tô XVI

(a) nhắc các người trẻ nhớ đến chiều kích cộng đoàn của ơn gọi:

“Không ai có thể làm chứng cho Tin Mừng một mình. Đức Giê-su đã sai các môn đệ vào sứ vụ cùng với nhau. Ngài nói với họ trong số nhiều, khi nói: “Các con hãy làm cho muôn dân trở thành môn đệ.” Chứng tá của chúng ta thường được trao ban với tư cách là thành viên của một cộng đoàn, và sứ mạng của chúng ta chỉ sinh hoa trái nhờ vào sự thông hiệp với Giáo Hội.”

(b) diễn tả lòng biết ơn của ơn gọi của Người đối với các nhà truyền giáo:

Tại đây, cha không thể không diễn tả lòng biết ơn của mình đối với món quà lớn lao của những nhà truyền giáo, những người đã dâng hiến toàn bộ cuộc đời của mình cho công cuộc công bố Tin Mừng đến tận cùng thế giới. Cha cũng tạ ơn Chúa vì các linh mục, các tu sĩ, những người đã dâng hiến mình trọn vẹn để Đức Giê-su Ki-tô được biết đến và được yêu thương. Ở đây, cha cũng muốn khuyến khích những người trẻ, những người được Thiên Chúa kêu gọi hãy nhiệt thành dấn thân vào sứ mạng: “cho thì có phúc hơn là nhận” (Cv 20,35). Vì đối với những ai từ bỏ mọi thứ để theo Ngài, Đức Giêsu đã hứa ban cho họ gấp trăm ở đời này cùng với sự sống vĩnh cửu ở đời sau (Mt 19,29).

Cha cũng tạ ơn Chúa vì tất các những người giáo dân nam nữ, những người đã nỗ lực hết mình để trở thành nhà truyền giáo bất cứ nơi nào họ đến, dù là ở nhà hay công sở, để Đức Giê-su Ki-tô được yêu mến và được phục vụ và để Nước Thiên Chúa được lớn lên. Một cách đặc biệt, cha nghĩ về những người đang làm việc trong các lĩnh vực giáo dục, chăm sóc sức khỏe, kinh doanh, chính trị và tài chính, và trong nhiều lĩnh vực khác của tông đồ giáo dân. Đức Giê-su cần sự dấn thân và sự làm chứng của các con. Cho dẫu là khó khăn hay thiếu sự hiểu biết, các con đừng để mình bị nản chí trong việc mang Tin Mừng của Đức Giê-su đến bất cứ nơi đâu mà các con hiện diện. Mỗi người trong các con là một mảnh ghép quý giá trong bức tranh Mosiac của công cuộc loan báo Tin Mừng.”

H. Trong tựa đề “lạy Chúa này con đây” (số 8) của Sứ Điệp Ngày Giới Trẻ Thế Giới (hay Ngày Quốc Tế  Giới Trẻ) lần thứ 28 Đức Thánh Cha Bê-nê-đíc-tô XVI viết/nói gì với người trẻ?

T. Trong tựa đề “lạy Chúa này con đây” (số 8) của Sứ Điệp Ngày Giới Trẻ Thế Giới (hay Ngày Quốc Tế  Giới Trẻ) lần thứ 28 Đức Thánh Cha Bê-nê-đíc-tô XVI

(a) nhắc lại lời của ngôn sứ I-sai-a thưa với Chúa, để các người trẻ làm theo:

“Lạy Chúa, này con đây, xin hãy sai con!” (Is 6,8).

(b) nói/viết “lời kết thúc” cho Sứ Điệp Ngày Giới Trẻ Thế Giới (hay Ngày Quốc Tế  Giới Trẻ) lần thứ 28, gồm 2 việc:

(*) Đức Thánh Cha dâng lên lời cầu xin với Đức Maria là Ngôi Sao của công cuộc Tân Phúc Âm hóa, để xin Mẹ đồng hành với mỗi người trong sứ mạng làm chứng cho Tình Yêu Thiên Chúa.

(*) Đức Thánh Cha ban phép lành Tòa Thánh cho từng người trong Giới Trẻ.

Giêrônimô Nguyễn Văn Nội trình bày.

LÊN THIÊN ĐÀNG KHÓ HAY DỄ ?

LÊN THIÊN ĐÀNG KHÓ HAY DỄ ?
Phan Sinh Trần
image
Câu hỏi hệ trọng mà bất cứ Người Tín Hữu nào cũng tự hỏi đó là , Ta có được lên thiên đàng hay không ?
Vâng , đây thực là một câu hỏi rất quan trọng và cần thiết, nó cũng đầy tính tò mò về một điều mà hầu như không được mấy ai biết trước ngoại trừ Chúa và Các Thánh. Ngay cả đối với người đời, họ cũng tự hỏi nhau: “Có thiên đàng hay không , nó có xa vời thực tế của mặt đất quá hay không ?”

Còn quan niệm của Bạn về Thiên đàng ra sao ?

Có thể bạn đã từng trải cảm nghiệm rằng khi xa Chúa thì bạn thấy Thiên đàng thật là xa vời, trái lại khi gần Chúa thì bạn bỗng nhiên quan tâm tới Thiên đàng hơn.
Thực ra Thiên đàng là một thực tế , KInh Thánh nói : Ai chết trong ân sủng và tình nghĩa với Thiên Chúa, ai hoàn toàn được thanh luyện sẽ sống muôn đời với Đức Kitô, họ luôn luôn giống Thiên Chúa, vì họ đã thấy Ngài như Ngài hiện hữu, mặt đối mặt (1Ga 3,2)…
Thiên đàng được Chúa Giê Xu minh xác khi Ngài nói, trên Thánh Giá với người trộm lành :”Ngay hôm nay, con sẽ ở trên Thiên đàng với Ta” ( Lc 23,43). Chúa còn hứa với con cái của Chúa rằng: “Trong nhà Cha Ta, có nhiều chỗ ở , chẳng vậy, Ta đâu có nói với các ngươi là Ta đi dọn chỗ cho các ngươi”. (Gioan 14:2)
Với các Thánh thì thiên đàng là mục tiêu tối hận và rất gần bên. Thánh Phao lô trong thư Phi Lip đã minh xác rằng:
… nước quê ta là trời cao, tự đó sẽ đến vì Cứu Chúa mà ta ngóng đợi, Chúa Yêsu Kitô. 21 Ngài sẽ biến đổi thân xác khốn hèn của ta, sao nên đồng hình đồng dạng với thân xác vinh quang của Ngài, … (Phi 3: 20)
Thánh nữ Faustina, được thị kiến về Thiên Đàng , Ngài đã ghi lại trong nhật ký của mình,
Hôm nay ngày 27 tháng 11 năm 1936, tôi được ở trên Thiên đàng cách thiêng liêng. Tôi thấy những sự đẹp đẽ không thể diễn tả, và những hạnh phúc đang chờ chúng ta sau khi chết. Tôi thấy các tạo vật đang dâng lời ca tụng và tôn vinh Chúa không ngừng. Tôi thấy hạnh phúc trong Chúa lớn lao chừng nào, hạnh phúc lan ra mọi thụ tạo, làm cho họ sung sướng. … mà không bao giờ có ai hiểu hết hoặc đo lường hết được.
Nguồn mạch hạnh phúc này không thay đổi trong bản tính nó, nhưng lại luôn luôn đổi mới trong cách diễn tả, nó lan tràn ra hạnh phúc cho mọi linh hồn. Giờ đây tôi hiểu lời thánh Phaolô đã nói :”Mắt chưa hề thấy, tai chưa hề nghe, lòng chưa cảm thấy những gì Chúa đã dọn sẵn cho kẻ kính mến Người”. (Thánh Faustina, Nhật ký Tình Thương, số 777).

Thực ra niềm vui của Thiên đàng phải được bắt đầu từ hôm nay , ngay trong lòng bạn

Thật là tuyệt vời nếu Bạn có thể cảm được Thiên Đàng ngay từ bây giờ khi đang còn ở trên trái đất này, thậm chí có vị Thánh đã cho rằng Thiên đàng cao xa sẽ không có được nếu như ta không bắt đầu nó từ trên đất. NIềm vui Thiên đàng khi còn ở thế gian này chỉ là hình bóng mờ nhạt của một niềm vui vô cùng lớn lao và khôn tả sẽ đến trong tương lai , điều đó rất tốt và rất cần thiết phải không ? Bằng những cách rất thiết thực , Ta đi tìm và sẽ gặp được “niềm vui Thiên đàng trên đất”:
  • · Ta hãy có niềm vui của Thiên Đàng qua sự đón nhận Chúa một cách trọn vẹn trong đời mình thì rồi một bằng an , mãn nguyện xen lẫn phấn khởi sẽ âm thầm trào dâng một cách mãnh liệt trong tim , đó chính là một hình ảnh nhỏ, mờ của Thiên đàng ,
  • · Ta hãy chân thành tha thứ cho người mà mình giân hờn nhiều năm thì niềm vui của cảm thông sẽ triển nở , đó là thứ phấn khích xuất xứ từ Thiên đàng,
  • · Ta hãy ca ngợi Chúa hết sức , hết con tim, hết linh hồn thì niềm vui Thiên đàng sẽ đọng lại trong những giọt nước mắt sung sướng và trong nụ cười mãn nguyện của mình, nhất là sự hoan lạc trong Chúa Thánh Linh khi ta kết hợp với Chúa trong bí tích Thánh Thể , trong các buổi cầu nguyện lâu giờ và rất thân thiết với người bạn thân của mình tên là Gie xu.
  • · Ta hãy cầu nguyện không bao giờ mệt mỏi cho những nhu cầu cấp thiết của người Anh Em với một đức tin mạnh mẽ rồi thì Chúa sẽ mau mắn đáp lời , khi đó ta có niềm vui được thấy quyền năng, vinh quang của vị Chủa Tể Vũ trụ ban ơn lành xuống cho Anh Em, ta vui hưởng sự phấn khích khi mục kích vinh danh Chúa tỏ ra trên đất, vinh quang này vốn quá đầy dẫy trên Thiên đàng. Chúa hứa rằng: “Hãy xin và các ngươi sẽ được,hầu các ngươi được vui mừng trọn vẹn”. (Gioan 16: 24b)
… vâng, thưa bạn, tất cả những điều đơn sơ đó đều là niềm vui tập sự về Thiên Đàng . Cứ kết hợp với Chúa đi rồi bạn sẽ cảm thấy Thiên đàng !
Còn Thiên đàng của người thân của tôi thì sao ?
Chỉ cần Vợ Con , Cha Mẹ, Anh Em của Bạn bị một tai nạn xe , tai nạn té ngã thì mình hớt ha hớt hãi cứu giúp và quặn đau lòng nếu họ bị đau đớn dày vò. Thế còn hình phạt đời đời nếu họ sa hỏa ngục thì sao , hình phạt này đáng phải kinh hoàng , hoảng sợ hơn đến thế nào. Bằng mọi cách ta hãy mau mau, gấp gáp cứu giúp họ, cách tích cực nhất để cứu Anh Em mình khỏi sa hỏa ngục là hãy chia xẻ cho họ , một khi Bạn đã có và cảm nghiệm được, về một ” niềm vui Thiên đàng trên đất “của bạn. Hãy làm chứng cho Chúa về một Thiên đàng có thể cảm nghiệm được . Thiên đàng đó bắt đầu bây giờ , ngay hôm nay. Khi đó bạn và người thân sẽ không còn “mối lo hỏa ngục” nữa
Một lời sau hết , nếu bạn vẫn còn “ghiền” chuyện Thiên Đàng thì xin mời đọc thêm, nghe thêm ở đây:

SAI LẦM CỦA NGƯỜI THẦU KHOÁN

SAI LẦM CỦA NGƯỜI THẦU KHOÁN

Cha Mark Link, S.J.

Chủ đề: “Trong cuộc đời, chúng ta cần thời gian thinh lặng cầu nguyện
nếu chúng muốn quân bình và biết nhìn xa”

Vào buổi tối kia, một người cha đến dự phiên họp giữa thầy cô và phụ huynh trong một trường trung học ở Chicago. Trong bài nói chuyện của một thầy giáo, người cha này đã bật khóc nức nở.

Sau khi lấy lại bình tĩnh, người cha xin lỗi và nói: “Con tôi không còn sống với tôi nữa. Nhưng tôi vẫn yêu thương cháu và tôi muốn biết việc học hành của cháu như thế nào.”

Sau đó người cha cho biết vợ ông và bốn đứa con đã bỏ ông chiều hôm đó.

Ông là một thầu khoán xây cất và nhiều khi làm việc đến 16 giờ một ngày. Đương nhiên, ông ít gặp gia đình hơn, và dần dà họ càng xa ông hơn nữa.

Sau đó người cha nói lên một điều thật buồn thảm. Ông nói: “Tôi muốn mua cho vợ con tôi những gì mà tôi hằng mơ ước mua cho họ. Nhưng rồi tôi quá bận tâm làm ăn đến độ tôi quên đi điều mà gia đình tôi cần đến nhất: đó là một người cha có mặt trong gia đình hằng đêm để yêu thương và nâng đỡ vợ con.”

Câu chuyện có thật này cho thấy điểm quan trọng của bài phúc âm hôm nay. Đó là:

Chúng ta có thể quá bận tâm làm việc đến độ quên đi lý do tại sao chúng ta làm việc. Chúng ta có thể quá bận tâm đến đời sống đến độ quên đi mục đích của đời sống. Chúng ta có thể quá bận tâm theo đuổi những gì có thể mua được bằng tiền bạc mà quên đi những gì tiền bạc không thể mua được.

Đó là một loại sai lầm mà cô Máctha đã vấp phạm trong bài phúc âm hôm nay. Cô quá bận tâm đến việc nấu nướng cho Chúa Giêsu đến độ cô quên đi lý do tại sao Chúa đến nhà cô. Người đến không vì miếng ăn; Người đến vì tình bạn.

Giả như khi chúng ta còn nhỏ, sống với cha mẹ và nếu Đức Giêsu cho biết Người sẽ đến thăm gia đình, chúng ta biết các bà mẹ sẽ làm gì. Họ sẽ động viên toàn thể nhân lực trong gia đình từ nhiều ngày trước để dọn dẹp, lau chùi nhà cửa. Họ sẽ sai con cái đi chợ mua thứ này thứ kia. Nói tóm, họ sẽ hành động giống như cô Máctha.

Nhưng mẹ chúng ta cũng giống như cô Maria. Họ luôn dặn dò để biết chắc là con cái ăn mặc đàng hoàng tử tế, đến ngồi chung quanh Đức Giêsu, chú ý đến những gì Người nói. Mẹ chúng ta sẽ quân bình giữa sự lưu tâm đến miếng ăn cho Đức Giêsu và lưu tâm đến tình cảm mà gia đình dành cho Người.

Đó là những người mẹ có tài giữ quân bình mọi sự, từ việc cơm nước trong nhà đến việc giặt giũ lau chùi. Nhưng các bà mẹ còn cần đến các người làm cha có khả năng quân bình mọi sự, từ việc kiếm tiền cho đời sống vật chất đến việc giáo dục con cái, nâng cao giá trị tinh thần của đời sống.

Ngày nay, không may, chúng ta sống trong một thế giới thật khác biệt.

Thật dễ để đánh mất sự quân bình trong thế giới ngày nay. Thật dễ để đánh mất cái nhìn xa trông rộng. Thật dễ để xáo trộn những gì là ưu tiên. Thật dễ để đánh mất khả năng nhận ra những gì cần làm và tại sao chúng ta làm công việc ấy.

Trong Thế Chiến II, một người lính trẻ trấn đóng ở hòn đảo Saipan thuộc Nam Thái Bình Dương cho biết trong thời gian nghỉ ngơi, anh và bạn hữu đến bơi ở một chỗ vắng vẻ kín đáo, ngay ở mé hòn đảo. Đó là một nơi thật đẹp có núi đá bao quanh.

Khi đến nơi, họ thấy nước thật trong đến nỗi có thể nhìn thấy cá bơi lội sâu dưới nước cả 10 feet. Tuy nhiên, sau khi họ bơi lội chừng một tiếng đồng hồ, nước trở nên đục ngầu vì cát bị khuấy động, họ không còn thấy được dưới đáy dù chỉ cách có một feet.

Nhưng hôm sau, khi họ trở lại, cát đã lắng đọng. Nước lại trong trẻo như trước.

Tâm trí chúng ta cũng như vũng nước đó. Nó cũng có thể vẩn đục vì những biến động trong cuộc sống hằng ngày khiến chúng ta không còn nhìn thấy rõ ràng. Chúng ta mất khả năng nhìn thấy mọi sự: quan điểm của chúng ta trở nên mù mờ; những ưu tiên của chúng ta trở nên hỗn độn; sự quân bình của chúng ta đã bị mất.

Khi điều này xảy ra, điều chúng ta cần thi hành là tạm ngừng và để nước đục của tâm trí trở nên trong trẻo lại. Chúng ta cần thi hành điều mà cô Maria đã làm trong bài phúc âm hôm nay. Chúng ta cần ngồi dưới chân Đức Giêsu trong sự thinh lặng cầu nguyện. Chúng ta cần để Người dạy chúng ta biết điều gì là quan trọng và điều gì không đáng kể.

Bài phúc âm hôm nay là một lời mời gọi chúng ta mỗi ngày hãy dừng lại ở dưới chân Đức Giêsu trong sự cầu nguyện, cũng như cô Maria đã làm trong phúc âm.

Điều này nêu lên một câu hỏi. Nếu chúng ta quá bận rộn đến độ mất cả thói quen cầu nguyện thì sao? Nếu chúng ta không biết thinh lặng cầu nguyện dưới chân Đức Giêsu thì sao? Chúng ta có thể làm gì để biết cách cầu nguyện?

Thật may mắn là có chúng ta có thể thi hành vài điều gì đó. Và chúng ta có thể bắt đầu ngay tối nay. Chúng ta có thể áp dụng phương pháp cầu nguyện đơn giản đã từng giúp đỡ nhiều người như chúng ta làm lại thói quen cầu nguyện và biết được nghệ thuật cầu nguyện.

Mỗi đêm trước khi đi ngủ, chúng ta cần ba phút để làm ba điều.

Thứ nhất, chúng ta thinh lặng và nhớ lại những gì xảy ra trong ngày. Chúng ta nhớ đến các điều tốt đẹp khiến chúng ta vui sướng, tỉ như nhận được thư của người bạn cũ. Sau đó, chúng ta thành thật nói với Đức Giêsu về điều đó. Sau cùng, chúng ta cảm tạ Đức Giêsu vì lá thư ấy.

Trong phút thứ hai, chúng ta cũng nhớ đến những gì xảy ra trong ngày. Lần này, chúng ta nhớ đến điều không tốt, những điều làm chúng ta hối hận, tỉ như la hét cha mẹ, vợ chồng hay con cái. Chúng ta nói với Đức Giêsu về khuyết điểm này và xin Người tha thứ, chữa lành cho chúng ta.

Sau cùng, trong phút thứ ba, chúng ta nhìn đến ngày hôm sau, nghĩ đến một số điều quan trọng phải thi hành, tỉ như việc nói chuyện ôn hòa với cha mẹ, vợ chồng hay con cái về một vấn đề đã xảy ra. Chúng ta nói với Đức Giêsu về điều đó và xin Người soi sáng, thêm sức để chúng ta có thể thi hành cách tốt đẹp.

Phương cách cầu nguyện đơn giản này đã giúp nhiều người lấy lại thói quen cầu nguyện và học được nghệ thuật cầu nguyện. Điểm tuyệt vời của phương cách cầu nguyện này là không những giúp chúng ta quan hệ đến đời sống thực tế mà còn giữ liên lạc với Đức Giêsu.

Lạy Chúa, xin giúp chúng con đừng quá bận tâm đến đời sống mà quên đi lý do tại sao Ngài đã ban sự sống cho chúng con.
Xin giữ chúng con quá bận tâm đến đời sống mà quên đi mục đích của nó.
Xin giữ chúng con đừng quá theo đuổi những gì mà tiền bạc có thể mua được rồi quên đi những gì tiền bạc không thể mua được.

THIÊN ĐÀNG Ở ĐÂU?

THIÊN ĐÀNG Ở ĐÂU?

Đỗ Trân Duy

Đối với Kitô hữu, có lẽ ai cũng nghĩ rằng mình biết Thiên đàng ở đâu, dĩ nhiên là ở trên trời. Tin như vậy là đủ, chẳng ai cắc cớ thắc mắc thiên đàng ở chỗ nào trên trời. Vả lại ai có thẩm quyền trả lời cho một thực thể siêu hình đó. Cuối cùng chỉ những tay vô thần sừng sỏ nêu ra vấn đề này với thâm ý bắt bí tín lý Thiên Chúa giáo. Vấn đề xem ra không đơn giản, vì gần đây chính một số nhà tư tưởng Công Giáo cũng nói về “nơi chốn” của thiên đàng. Vậy chúng ta phải hiểu về chốn thiên đàng như thế nào? Bài viết này không dám trả lời cho vấn đề lớn đó. Đây chỉ là một chú giải nhỏ, phụ theo lời giảng của Giáo Hoàng Gioan Phaolô II mà thôi.

Thiên đàng hiểu theo truyền thống

Thiên đàng, theo đức tin truyền thống Việt Nam, là một nơi chốn cụ thể và được đồng hóa với cõi trời. Trong kinh “Lạy Cha” câu mở đầu nói rõ: “Lạy Cha chúng con ở trên trời”.  Rồi những khóm từ như “Đức Mẹ lên trời”, “lễ Thăng Thiên”, “hoan hô Chúa trên các tầng trời”… tất cả đều xác định thiên đàng là cõi trời. Trong những truyền thống đức tin khác, như của Âu Mỹ, họ không dùng chữ “trời” mà dùng danh xưng “heaven” (thiên đàng). Cũng trong kinh “Lạy Cha”, câu mở đầu là “Our Father who art in heaven.” Theo tiếng Hebrew, heaven có nghĩa là “trên cao” (Catholic Encyclopedia). Tuy heaven không xác định là ở trên trời, nhưng vẫn được hiểu ngầm như vậy. Trong thánh kinh có rất nhiều trình thuật gợi ý như “Hãy nhìn lên thiên đàng mà xem các tầng mây cao hơn ông biết mấy!” (Yob 35:5). Thánh Stêphanô nói, “Này tôi thấy các tầng trời mở ra, và Con Người đứng bên hữu Thiên Chúa” (CV 7:56). Thánh Gioan miêu tả cảnh phục sinh: “Rồi các ngài nghe một tiếng lớn từ thiên đàng: ‘Hãy lên đây’, và các ngài lên thiên đàng trong đám mây, trước mặt thù địch của các ngài” (KH 11:12). Sách Tông đồ công vụ miêu tả rõ hơn, “Khi Chúa Giêsu được đưa lên cao, các môn đệ nhìn theo Chúa cho đến khi một đám mây che kín mất Ngài” (CV 1:9).
Nếu chúng ta đi tìm lời nói của Đức Giêsu về vấn đề này, chúng ta không thấy có chỗ nào Người nói thiên đàng ở trên trời. Đức Giêsu cũng không đồng hóa Thiên Chúa với thiên đàng (hay trời). Lời cầu nguyện của vua Salômôn chứng tỏ người xưa cũng ý thức như vậy: “Có thật Thiên Chúa cư ngụ dưới đất chăng? Này, trời cao thăm thẳm còn không chứa nổi Ngài, huống chi ngôi nhà con đã xây đây!” (1 Vua 8:27)

Đại chúng cho rằng có thể suy diễn vấn đề trên qua nguyên tắc: thiên đàng là nơi Thiên Chúa ngự, vậy nếu biết Thiên Chúa ở đâu, ta sẽ biết thiên đàng ở đâu. Người ta cũng đã tưởng rằng chỉ có ba câu trả lời cho vấn đề ấy. Thứ nhất, thuở xưa người ta tin Thiên Chúa tạo ra vũ trụ nhưng Chúa là Đấng siêu việt vượt trên vật chất, nên không đồng hóa với vũ trụ. Thiên Chúa ở ngoài vũ trụ. Đến thế kỷ 18, con người khám phá ra vũ trụ vô cùng lớn, lớn đến mức dù ta có di chuyển với tốc độ ánh sáng, qua hằng ngàn năm, cũng chưa tới biên giới của nó. Con người không chấp nhận nổi có chỗ nào gọi là bên trên hay bên ngoài vũ trụ. Vả lại nếu Thiên Chúa ở bên ngoài vũ trụ, vậy vũ trụ càng lớn, Chúa lại càng ở rất xa con người. Làm sao con người có thể gần Thiên Chúa để cầu nguyện.

Câu trả lời thứ hai, người ta đặt Thiên Chúa vào bên trong vũ trụ. Do đó mà có niềm tin thiên đàng ở trên trời, tức là ở bên trong vũ trụ. Nhờ thế mà con người có thể gần với Thiên Chúa. Quan niệm này cũng không ổn, vì nếu ở trong vũ trụ Thiên Chúa phải là một sinh thể của vũ trụ. Có lý nào Thiên Chúa là một phần của vũ trụ mà vũ trụ ấy lại do chính Ngài tạo ra. Những niềm tin sơ thuần cho rằng Thiên Chúa ở bên ngoài hay bên trong vũ trụ đều đẩy trí thức đến ngõ bí vì kết quả vô lý của suy luận.

Câu trả lời thứ ba dựa vào tín lý. Trong lãnh vực này, chúng ta thấy có hai phe. Phe thứ nhất, đại diện là Joseph Campbell, tin rằng con người không thể nào biết được Thiên Chúa là ai. Vì vậy không nên đặt vấn đề sự hiện hữu của Thiên Chúa. Thánh kinh cũng nói: “Thiên Chúa vượt xa hơn và vượt trên tất cả những gì chúng ta có thể tưởng nghĩ về Ngài” (GLCG 2794). Thần học gia Paul Tillich phủ nhận lối diễn tả “hiện hữu của Thiên Chúa”. Ông cho rằng nói như vậy chúng ta đã mặc nhiên cho Thiên Chúa là một phần thực thể của thiên nhiên. Bởi vì “hiện hữu” có nghĩa là đang có và đang biệt lập đứng lơ lửng ở đâu đó ngoài mặt đất. Ông đổi ý niệm “hiện hữu” (exist) bằng ý niệm Thiên Chúa “thường hằng” (God is). Nhóm thứ hai cho rằng Thiên Chúa mang bản chất pantheism, nghĩa là mọi thứ đều ở trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở khắp mọi nơi (omnipresence) vì Ngài là Đấng vô hạn (immensity) (Council of Lateran, c. “Firmiter”; Vatican Council, Sess. III, c. 1.).  Như vậy vũ trụ ở trong Thiên Chúa. Tóm lại, như chúng ta thấy, với những nhận định trên, câu trả lời về “thiên đàng ở đâu” vẫn còn bỏ ngỏ.

Điểm thời sự không thể tránh

Trong buổi cầu nguyện với quần chúng ngày 21 tháng 7 năm 1999, Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã tạo nên vấn đề thời sự. Ngài nói: “Thiên đàng là một trạng thái sống (state of being) chứ không phải là một nơi chốn (place) theo nhận thức của ngôn ngữ loài người.”  Giáo hoàng nói rõ thêm,“Thiên đàng không phải là một khái niệm trừu tượng hay là một địa điểm cụ thể trong những cụm mây, nhưng là một lối sống, là mối quan hệ giữa cá nhân với Thiên Chúa Ba Ngôi. Đó là cuộc gặp gỡ Chúa Cha, diễn ra trong Chúa Kitô phục sinh, và hiệp thông với Chúa Thánh Thần.” (1) Đối với giới truyền thông ngoài Công Giáo, lời tuyên bố này quá bất ngờ vì đi ra ngoài nhận định về thiên đàng của truyền thống.

Mười một năm sau, 2010, dưới triều Giáo Hoàng Bênêđictô XVI, Tòa Thánh cho phát hành cuốn YOUCAT (Youth Catechism – Giáo Lý Công Giáo cho Giới trẻ). Trong tập sách này, hiện thực của thiên đàng được lập lại và chính thức đưa vào mục giáo lý. Theo đó thiên đàng không phải là một nơi chốn mà là một trạng thái sống (a kind of life) trong ý thức về Thiên Chúa hiện diện. Sự hiện diện này không lệ thuộc vào không gian và thời gian (không-thời gian). (2) Như vậy cả hai đức Giáo Hoàng, những vị có thẩm quyền tông truyền, đều quan niệm về “nơi chốn” thiên đàng như nhau.

Sự tiếp nhận

Ngay sau khi Giáo Hoàng Gioan Phaolô II phát biểu, không ít người sửng sốt và phản đối. Có người dè dặt cho rằng, “Có lẽ Giáo hoàng có một mạc khải tư nào đó về thiên đàng chăng.” Đa số tín hữu vướng mắc trong  những sự kiện như: Đức Mẹ hồn xác lên thiên đàng (trời), hay: đến ngày tận thế xác chết sống lại, kẻ lành lên thiên đàng… Họ cho rằng vì thể xác là vật chất, nếu không có nơi chốn thì thể xác sẽ tồn tại ở đâu. Ngoài ra những khóm từ gợi hình trong thánh kinh như: mở cửa thiên đàng, tầng trời mở ra, ngự bên hữu Chúa Cha… tất cả đều trình bày theo kinh nghiệm ở trong một nơi chốn.

Mặc dù thánh Phaolô đã giảng thân xác phục sinh là một thân xác thần linh (celestial bodies) không phải là thân xác huyết nhục. (1 Côr 15: 35-44) Thân xác Chúa Giêsu phục sinh là một điển hình. Chúa chợt “xuất hiện” để nói chuyện với hai đệ tử trên đường đến Emmaus, rồi “tan biến” khi tới nơi. Chúa cũng “hiện ra” giữa các môn đệ đang họp trong gian phòng cửa khóa kín, rồi cũng “biến mất” sau khi chúc lành cho họ. Xem thế, thân xác thần linh không cần một nơi chốn cụ thể để trú ngụ. Đa số tín hữu quen trong giới hạn của không gian 4 chiều, nên muốn giới hạn thiên đàng và Thiên Chúa trong không gian 4 chiều. Họ không thể tưởng tượng nổi một thân xác thần linh và một thiên đàng không có nơi chốn. Họ hoang mang đối diện với sự kỳ diệu của thực thể vô không-thời gian mà con người khó diễn tả và trí tưởng tượng phải dừng lại nơi giới hạn của nó.

Đàng khác cũng có rất nhiều người tiếp nhận lời giảng của Giáo Hoàng Gioan Phaolô II một cách dễ dàng. Họ cho rằng Giáo Hoàng đưa ra một nhận thức thần học đúng, nhưng tạo ra dao động chỉ vì ngài thiếu phần chú giải đi kèm. Nhận xét này rất chính xác. Chúng ta có thể đặt chú giải cho nhận thức đó qua nhận định về bản thể của thân xác hiển linh. Có lẽ không hình ảnh nào cụ thể hơn là bánh và rượu trong thánh lễ. Nếu thân xác Chúa Giêsu bị giới hạn trong thể chất, và trong không-thời gian, làm sao chúng ta có Mình Máu Chúa Giêsu, trong dạng bánh và rượu, hiện diện cùng lúc ở khắp mọi nơi trên thế giới. Bàn về thân xác hiển linh của Đức Mẹ, chúng ta cũng biết Đức mẹ đã hiện ra và biến mất rất nhiều lần. Mỗi lần hiện ra chỉ vài người tuyển chọn mới có diễm phúc chiêm ngưỡng Đức Mẹ. Chẳng hạn lần hiện ra ở Fatima, mặc dù có rất nhiều người đứng tại chỗ Đức Mẹ hiện ra, nhưng chỉ có 3 em nhỏ nhìn thấy Đức Mẹ. Như vậy thân xác Đức Mẹ vừa là hữu hình vừa là vô hình tùy theo liên hệ với từng cá nhân. Nếu xác Đức Mẹ là thể chất vật lý, mọi người đều phải thấy như nhau. Rõ ràng là thân xác phục sinh không bị trói buộc bởi bất cứ một luật lệ vật lý nào. Suy ra mối kết hợp giữa cá nhân và Thiên Chúa (thiên đàng) là một trạng thái sự sống riêng tư, chứ không theo bất cứ luật lệ vật lý nào.

Chân lý bao gồm cả đức tin lẫn kiến thức, nên tín hữu chúng ta buộc phải học hỏi tìm hiểu. Ðó là lý do Thánh Phêrô đã dạy, “Hãy nỗ lực bổ sung đức tin với nhân đức, và bổ sung nhân đức với sự hiểu biết” (2 Phê 1:5). Năm 2000, ký giả vô thần Peter Seewald hỏi Hồng y Ratzinger “Thiên đàng ở đâu?” Hồng y trả lời, “Những từ như ‘mây’ và ‘thiên đàng’ chỉ là cách nói mà con người muốn tìm cho Thiên Chúa có một nơi chốn. Đúng ra cách nói ‘Chúa Giêsu lên thiên đàng’ chỉ có nghĩa là không còn nhìn thấy trên mặt đất chứ không phải không còn hiện diện trên mặt đất.” (3) Bởi vậy vẫn có người tuyển chọn có ơn phước nhìn thấy Chúa Giêsu, chẳng hạn thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, thánh Padre Pio…

Quan điểm thần học

Chúng ta hãy bắt đầu bằng một tín lý quen thuộc và đặt tín lý đó vào một tam đoạn luận đơn giản: Thiên Chúa ở khắp mọi nơi. Thiên đàng là nơi Thiên Chúa ngự. Vậy thiên đàng ở khắp mọi nơi.

Như vậy phải chăng giữa thiên đàng và con người không còn ranh giới? Theo thần học, đoạn lý luận trên vô giá trị, bởi vì đã không thấy thiên đàng là ơn phước. Thiên đàng không phải là kết quả của một điều kiện hay của một định luật vật lý. Mặc dù Thiên Chúa ở khắp mọi nơi nhưng Chúa tỏ lộ vinh quang của Người qua phương cách ơn phước đặc sủng. Theo thần học gia Gerhard Ebeling, “Không phải Thiên Chúa ở đâu, thiên đàng ở đó, mà là thiên đàng ở đâu Thiên Chúa ở đó” (not that God is where heaven is, but rather heaven is where God is). Vì là ơn phúc nên phải có sự kết hợp sống động giữa cá nhân và Thiên Chúa. Cũng không phải ai cũng có mức độ ơn phước giống nhau. Gọi là thiên đàng, hay trời, chỉ là cách biểu đạt bất toàn của ngôn ngữ loài người về trạng thái cá nhân “hiệp thông trong sự sống và tình yêu với Thiên Chúa Ba Ngôi” (GLCG 1024). Nói cách khác, không hề có một thiên đàng tĩnh, tồn tại bất biến ở nơi nào đó trong vũ trụ.

Tình kết hợp giữa cá nhân và Thiên Chúa biểu lộ giáo huấn vô cùng quan trọng về tính tự do của con người. Tính tự do đặt con người ở thế chủ động trước ơn phước của Thiên Chúa. Ta muốn liên kết với Thiên Chúa hay không là tùy ở ta. Bởi vì Thiên Chúa chỉ “hiện diện” ở những nơi đạo đức tốt lành. Thiên Chúa không “hiện diện” ở nơi tội lỗi sa đọa. Đức Giêsu đã nói, “Phúc cho những ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa (Mat. 5:8). Tuy nhiên lại phải hiểu rằng “hiện diện” không nằm trong bất cứ phạm trù nào thuộc không-thời gian. Lm Phan Đình Cho tóm tắt rằng thiên đàng phải hiểu là một ơn phước mà Thiên Chúa dành cho người tốt lành và hoả ngục là một thái độ con người tự do từ chối ơn phước đó. (4)

Vài sự kiện trong hạnh các thánh có thể làm rõ hơn về ý tưởng thiên đàng là một ơn phước của Thiên Chúa.  Các vị thánh cao trọng như Gioan Thánh Giá (John of the Cross), Têrêsa Lisieux, và thánh Têrêsa  Calcutta đã trải qua một khoảng thời “mất ơn phước vì bị Thiên Chúa bỏ rơi”. Thánh Gioan Thánh Giá gọi kinh nghiệm này là “đêm đen của linh hồn”. Thiên Chúa cố tình không “đến” với họ khiến tâm hồn họ lạc lõng, trống rỗng, tối đen và đau khổ. Thiên Chúa dành riêng cho một số vị đặc sủng ơn thử thách “đêm đen” này. (5) Nhưng đây là một chủ đề khác, chúng ta không muốn đi ra ngoài chủ đề hôm nay.

Trở lại với tín lý “Thiên Chúa ở khắp mọi nơi”. Thần học dạy rằng chúng ta phải thấy tín lý đó theo hướng nhìn về ơn sáng tạo và ơn cứu độ phổ quát. Thiên Chúa ở khắp mọi nơi có nghĩa Thiên Chúa nâng đỡ sự hiện hữu của vũ trụ. Bởi vì duy chỉ có Thiên Chúa là Hữu. Không gì có trước Hữu, nên Thiên Chúa là Đấng tự Hữu, Hữu Tuyệt Đối. Thiên Chúa đã tạo dựng nên vũ trụ từ hư vô. Nghĩa là mọi vật từ hư vô nhờ Hữu, qua Hữu mà được thành hữu thể. Vì từ Hữu mà ra, nên mọi hữu thể đều thuộc về Hữu, và hiện tính của Hữu có trong mọi hữu thể. Vì vậy mọi hữu thể đều ở trong Hữu. Nếu Thiên Chúa vắng mặt mọi thứ trở thành hư vô ngay tức khắc.

Nếu cảnh giới thiêng liêng nằm ngoài không-thời gian, thì hiển nhiên thiên đàng không nằm trong vũ trụ vật chất. Vì ngôn ngữ của lời cầu nguyện, bắt buộc chúng ta phải xưng hô với Thiên Chúa như một Đấng ở đối diện, nhưng không phải như vậy. Thánh Augustine đã nói những lời cảm khái, “Chúa ở bên trong và luôn luôn ở cùng tôi.” Thánh Phaolô đã có lần đứng giữa chợ trong thành Athens giảng đạo. Thánh nói, “Họ đã đi tìm Thiên Chúa, nhưng thực ra Thiên Chúa đâu có ở xa chúng ta. Chúng ta sống và sinh hoạt trong Thiên Chúa. Nhờ đó chúng ta hiện hữu” (CV 17:27). Giáo hoàng Gioan Phaolô II nói, “Nếu Thiên Chúa là một đối tượng cụ thể có thể thấy được thì người đó không phải là Thiên Chúa.”

Điều mà hai Giáo Hoàng đưa ra đã được các thần học gia nói tới từ thời thánh Augustinô cho tới ngày nay. Thiên đàng là “điều mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe, lòng người không thể nghĩ tới, lại là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai mến yêu Ngài” (1cor 2:9). Vì vậy, hiện tại con người chỉ có thể “thấy” Thiên Chúa bằng đức tin mà thôi. Cho nên “thấy qua đức tin” là một trạng thái của sự sống. Cái thấy này khác với cái thấy trọn vẹn “mặt giáp mặt”, trong cõi vĩnh hằng, khi con người có thân xác phục sinh hiển linh. Khi đó con người không những kết hợp với Thiên Chúa, mà còn kết hợp với các thánh và với các thiên thần (GLCG 962). Thời điểm vĩnh hằng đó, đối với kinh nghiệm hạn hẹp của con người tại thế, chỉ có thể hình dung bằng cách đặt toàn bộ vào một nơi chốn. Theo truyền thống, ngôn ngữ loài người gọi “nơi chốn” đó là thiên đàng. Thiên đàng là một huyền nhiệm không thể nói rõ ra được.

Đỗ Trân Duy
————–
(1) Xin đọc “Heaven”, L’Osservatore Romano, Weekly Edition in English. 28 July 1999.
(2) Xin đọc các câu hỏi 52, 123, 158, 242, 285, và 518 về thiên đàng trong
YOUCAT. 2011. Ignatius Press, San Francisco
(3) Xin đọc “Where is God?” P. 105,
God and the World. 2002. Joseph Ratzinger. Ignatius Press, San Francisco.
(4) Phan Đình Cho. 2000. Câu hỏi 47,
Giải đáp 101 câu hỏi về cái chết và sự sống vĩnh hằng. University Press. New York, USA.
(5) Mẹ Têrêsa Calcutta.
Come Be My Light. 2007. Brian Kolodiejchuk chủ bút. Nhà xuất bản Doubleday. Đồng thời để hiểu rõ hơn ý nghĩa của “đêm đen” xin tham cứu bài “On A Dark Night” trong sách The Ascent To Truth. 1981. Thomas Merton. Nhà xuất bản Harcourt Brace & Company, San Diego, California.

Công an Trung Quốc đánh chết dân: Dư luận phẫn nộ

Công an Trung Quốc đánh chết dân: Dư luận phẫn nộ

RFI

Thành phần "dân đen" thường bị đội trật tự thành phố bắt chẹt và trấn lột (AFP /Ed Jones)

Thành phần “dân đen” thường bị đội trật tự thành phố bắt chẹt và trấn lột (AFP /Ed Jones)

Anh Vũ

Hãng tin AFP hôm nay, 18/7/2013, dẫn nguồn tin báo chí Trung Quốc cho biết một người bán dưa hấu tại một thành phố ở miền trung nước này đã bị lực lượng giữ gìn trật tự đánh đến chết. Vụ việc đang gây phẫn nộ trong các cư dân mạng Trung Quốc.

Trên các trang mạng Trung Quốc đang đăng tải rộng rãi những hình ảnh vidéo cho thấy cảnh một người đàn ông có tên Đặng Chính Gia, làm nghề bán dưa hấu trên hè đường ở một thành phố của tỉnh Hồ Nam ( miền Trung) nằm bất động trên đất.

Truyền thông Trung Quốc nói ông Đặng đã bị đội « thành quản », những người làm nhiệm vụ giữ gìn trật tự trong thành phố, đánh đập dã man. Theo vợ ông mô tả trên tờ Thời báo Bắc Kinh thì những nhân viên tự quản đã đấm đá và dùng quả cân dùng để cân hoa quả đập vào đầu ông mặc dù ông đã thu dọn quầy hàng theo đúng yêu cầu của thành phố.

Đội thành quản được giao nhiệm vụ theo dõi việc áp dụng quy định hành chính trong thành phố, nhưng ở Trung Quốc những nhân viên này thường xuyên bị tố cáo lạm dụng quyền được giao để ngược đãi hay bắt chẹt những người làm nghề bán hàng rong trên phố.

Hồi tháng Năm, một phát ngôn viên của tổ chức bảo vệ nhân quyền Human Rights Watch đã đưa ra nhận xét rằng « với rất đông người Trung Quốc, giờ đây, đội trật tự thành phố đồng nghĩa với bạo lực, bắt giữ bất hợp pháp và trấn lột dân đen » và nhất là những người này không mấy khi phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi bạo lực của mình.

Cái chết của người bán hàng rong họ Đặng tại Hồ Nam đã làm dấy lên làn sóng phẫn nộ trong cư dân mạng Trung Quốc trong những ngày qua. Chính quyền thành phố hứa sẽ điều tra vụ việc.

SÀI GÒN ĐÊM MƯA,

SÀI GÒN ĐÊM MƯA,

Sài gòn ngập nước mưa đêm,
Đường trơn lạnh lẽo dài thêm nỗi sầu,
Đèn vàng héo hắt trên cầu,
Rơi trên ngõ vắng niềm đau nhớ nhà…

Xa xa tiếng nhạc hài hòa,
Theo dòng ký ức nguôi ngoa lối về,
Mưa đêm thấm lạnh câu thề,
Người xưa cách biệt muôn bề nhớ sao…

Cà phê đắng giấc chiêm bao,
Mình ênh gậm nhấm niềm đau tháng ngày,
Còn đâu lối mộng mơ say,
Cho người ấp ủ trong tay trái sầu…

Liverpool.18/7/2013.
Song Như.

Kính gởi quý Thầy Cô và các bạn LVC.
Kính chúc vui vẻ.
KT.

Đa thọ đa khổ

Đa thọ đa khổ .

Hoàng Hải Thủy

(Một bài viết về tinh cảm của những cặp vợ chồng  già thật cảm động.)

 

Người Tầu có thành ngữ “Ða thọ đa nhục” : Người sống lâu bị nhục nhiều. Ông cha tôi – các ông Việt ngày xưa – hay dùng thành ngữ “Ða thọ đa nhục”.


Tôi không cho là người già bị nhục. Tôi thấy người ta càng nhiều tuổi càng khổ. Khổ vì không còn hưởng thụ gì được sự đời mà phải chịu những bệnh tật do già yếu sinh ra : Người già không tự lo được cho thân mình, mắt mờ, tai điếc, trí nhớ mất, sống nhờ người khác. Người già vua chúa hay cùng đinh, tỷ phú hay anh nghèo rớt một xu dính túi không có, kẻ quyền uy chấn động thế giới một thời hiển hách, hay anh phó thường dân cả đời cơm nhà, quà vợ, khi tuổi già đến đều có những nỗi khổ như nhau.

Người ta qua 60 tuổi được kể là già. Ở Việt Nam những năm 1940 – 1950 người 50 tuổi được gọi là cụ. Khổng Tử chỉ nói về Người đến tuổi 70 : “Thất thập nhi tùy tâm sở dục”. Tôi nghĩ ông muốn nói : “Người bẩy mươi tuổi muốn làm gì thì làm”. Nhưng người bẩy mươi tuổi còn làm gì được nữa. Người bẩy mươi cả Bốn Tứ Khoái đều không hưởng được, không làm được.

Năm nay – 2013 – tôi tám mươi tuổi. Một ngày đầu Xuân Kỳ Hoa Ðất Trích 2013, tôi viết bài này. Năm 2000, khi chia tay nhau lúc nửa đêm ở trước một Nhà Dành Cho Người Già Thu Nhập Thấp – Housing for Old Seniors Low Income – ở San Jose, ông bạn già của tôi nói : “Ðọc những bài viết của toa để nhớ, để thương Sài Gòn của chúng ta”. Ông cầm tay tôi : “Viết. Viết nữa. Viết đến năm toa tám mươi. Viết cho bọn moa đọc”. Ðêm mùa đông San Jose lạnh giá bao quanh chúng tôi khi chúng tôi từ biệt nhau, chúng tôi bắt tay nhau lần cuối.

Năm 2000 tôi 68 tuổi. Ông bạn HO già hơn tôi năm, sáu tuổi, tôi không biết hôm nay ông còn ở cõi đời này hay không. Thời gian và không gian làm chúng tôi không biết nhau sống chết ra sao. Tám mươi tuổi tôi vẫn viết. Tôi không còn viết phóng tác truyện dài. Tôi viết những bài như bài này.

Thời gian Sống, Yêu và Viết của tôi không còn bao lâu nữa, nên với nỗi Buồn vì phải xa mãi những người tôi yêu thương, hôm nay tôi viết những dòng chữ này.

***

Tôi bị ám ảnh bởi cái Chết, tôi ghét Chết, tôi sợ Chết, tôi không muốn Chết. Không phải bây giờ trong tuổi già, tuổi gần đất, xa trời, tôi mới sợ Chết, tôi sợ Chết từ những năm tôi năm, sáu tuổi, khi tôi bắt đầu biết suy nghĩ.


Nhà tôi ở cuối thị xã Hà Ðông, nhà có lầu, tiếng Bắc là nhà gác, nhà hai tầng. Trên gác nhìn ra tôi thấy cánh đồng với những nấm mồ rải rác trong những ô ruộng, ở gác sau nhìn ra tôi thấy Nhà Thương Hà Ðông và bãi tha ma ở cuối Nhà Thương. Những đêm mưa tôi thấy những chấm lửa lập lòe trong bãi tha ma. Về sau tôi biết đó là những ánh đèn của những người đi soi bắt ếch. Những năm xưa ấy tôi tưởng đó là những đốm lửa ma trơi.


Năm tôi năm, sáu tuổi, mẹ tôi 27, 28 tuổi. Tôi sợ mẹ tôi chết, người ta đem mẹ tôi ra chôn ở ngoài đồng. Mẹ tôi phải nằm một mình giữa cánh đồng vắng, lạnh, cô đơn, nơi mẹ tôi nằm ngập nước, đêm đông, mưa phùn, gió bấc, mẹ tôi khổ biết chừng nào. Ðó là nguyên nhân thứ nhất làm tôi ghét Chết, tôi sợ Chết.

Mời bạn đọc một chuyện Sống, Yêu và Chết tôi thấy trên Internet.

* Trong phiên xử ở Tòa Án Phoenix, Arizona, bị cáo là Ông George Sanders, 86 tuổi, bị xử vì tội giết vợ. Tất cả mọi người có mặt tại tòa, từ công tố viên đến chánh án, kể cả con cháu của kẻ bị cáo, đều thấy bị cáo phạm tội giết người, nhưng tất cả đều cho rằng đây là trường hợp pháp luật nên thông cảm, thương hại, tha thứ hơn là trừng phạt kẻ có tội. Anh cháu của bị cáo George Sanderss nói trước tòa :

– Ông tôi sống để thương yêu bà tôi. Suối đời ông tôi làm mọi việc để bà tôi có hạnh phúc. Mối tình của ông bà tôi là mối tình lớn. Tôi tin ông tôi bị bắt buộc phải làm việc ấy vì yêu thương bà tôi, bà tôi chịu đau quá nhiều rồi, ông tôi không thể để bà tôi chịu đau nhiều hơn nữa.

Ông Sanders bị bắt Tháng Bẩy năm 2012 sau khi ông nói với cảnh sát bà Virginia, vợ ông, 81 tuổi, xin ông làm bà chết. Vì ông Sanders nhận tội nên tòa án không dùng đến đoàn bồi thẩm, nhưng ông vẫn có thể bị kết án đến 12 năm tù.

Bà Virginia bị bệnh nan y năm 1969, bà liệt bại, bà phải ngồi xe lăn. Năm 1970, ông bà sang sống ở Arizona vì khí hậu ở đây ấm nóng. Ông Sanders là Cựu Chiến Binh Thế Chiến II. Ông là người nuôi và săn sóc bà vợ. Ông nấu ăn cho bà, làm mọi việc trong nhà. Mỗi sáng ông giúp bà trang điểm, mỗi tháng ông đưa bà tới Nhà Thẩm Mỹ để bà làm tóc, làm móng tay.

Năm tháng qua, sức khoẻ của ông Sanders suy mòn. Ông phải đặt máy trợ tim, ông không còn săn sóc chu đáo được bà. Rồi bà Virginia bị ung thư phá ra ở chân, bà phải vào một Nursing home để người ta lo cho bà sống qua những ngày tàn cuối đời. Ông Sanders nói với những viên chức điều tra :

– Ðây là giọt nước làm tràn ly nước. Virginia nhất quyết không chịu vào Nursing home. Vợ tôi tự cắt những ngón chân bị ung thối.

Ông nói :

– Vợ tôi xin tôi cho bà ấy chết. Tôi nói tôi không thể.

Vợ tôi nói :

– Anh làm được mà. Em biết anh làm được.

Sanders cầm khẩu súng lục, ông lấy khăn bông quấn ngoài khẩu súng, nhưng ông không sao bóp cò súng được. Ông kể :

– Vợ tôi nói : Bắn đi anh. Cho em đươc chết.

Tôi nói lời cuối với vợ tôi :

– Em sẽ không cảm thấy đau.

Và :

– Anh yêu em. Vĩnh biệt em. Tôi nổ súng.

Trước toà, người con trai của ông Sandsers nói :

– Tôi muốn quí toà biết rằng tôi yêu thương mẹ tôi, tôi cũng yêu thương bố tôi như thế.

Steve Sandes, anh con, nghẹn ngào kể :

– Bố tôi yêu thương mẹ tôi trong 62 năm. Những đau đớn thể xác và việc chịu đau vô ích đã làm bố mẹ tôi đi đến quyết định ấy. Tôi không kết tội bố tôi. Với tôi bố tôi là người tôi cảm phục nhất.

Ông già George Sanders chỉ nói trong khoảng một phút, giọng ông run run :

– Tôi gặp Viginia năm nàng 15 tuổi, tôi yêu nàng từ năm nàng 15 tuổi. Tôi yêu nàng khi nàng 81 tuổi. Có nàng làm vợ là một ân phúc Thiên Chuá ban cho tôi. Tôi sung sướng được chăm sóc nàng. Tôi làm theo ý muốn của nàng. Tôi xin lỗi các vị vì vợ chồng tôi mà các vị phải bận lòng.

Ông Công tố đề nghị ông Chánh án không phạt tù giam George Sanders, ông nói tòa nên xử án treo. Ông Chánh án John Disworth nói ông đặt nặng tình nhân đạo trong vụ án này. Ông nói :

– Bị cáo phạm tội giết người, nhưng được tòa giảm nhẹ mức án.

Ông tuyên phạt ông già George Sanders 2 năm tù treo. Tù treo không bị cảnh sát kiểm soát.

***

Chuyện ông bà Sanders làm tôi suy nghĩ lan man. Tôi nhớ chuyện Cái Bát Gỗ tôi đọc những năm tôi 10 tuổi. Anh con thấy ông bố già run tay, khi ăn hay đánh rơi bát cơm, bát vỡ. Anh làm cái bát bằng gỗ cho ông già ăn cơm. Ông có làm rơi bát, bát gỗ không bị vỡ. Một hôm anh thấy thằng con nhỏ của anh hí hoáy đục đẽo một cục gỗ, anh hỏi nó đục gỗ làm gì, con anh nói : “Con làm cái bát gỗ, để khi bố già, con cho bố ăn cơm”.

Chuyện – dường như – ở trong sách Quốc Văn Ðộc Bản – đã 70 năm tôi không quên nó – nó đây là chuyện Cái Bát Gỗ – nhưng chẳng có dịp nào tôi nhớ nó. Hôm nay tôi nhớ nó. Từ sau năm 1975 ở Hoa Kỳ Nhà Xuất Bản Xuân Thu in lại tất cả những sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư, Luân Lý Giáo Khoa Thư. Nhưng sách Quốc Văn Ðộc Bản – sách có nhiều bài thật hay – thì không thấy in lại. Tôi không biết tại sao Quốc Văn Ðộc Bản không được in lại ở Hoa Kỳ. Tôi đã đọc lại tất cả những sách Giáo Khoa Thư được in lại ở Hoa Kỳ, tôi muốn đọc lại những bài trong Quốc Văn Ðộc Bản.

Tôi nhớ lâu rồi, từ những năm 1950 khi tôi chưa gặp Tình Yêu Vợ Chồng, tôi đọc trên trang sách nào đó lời một ông Tầu viết :
– Vợ chồng như hai con chim tình cờ cùng đậu trên một cành cây. Ðến lúc phải bay đi, mỗi con bay đi một phiá.
Năm xưa còn trẻ, tôi muốn phản đối lời diễn tả trên. Ông Tầu muốn nói vợ chồng là chuyện ngẫu nhiên, chẳng có tình nghĩa gì giữa vợ và chồng. Hôm nay tôi mới dịp viết ra lời phản đối.


Ông bác sĩ điều trị cho vợ chồng tôi mỗi tuần một ngày vào chẩn bệnh cho những ông bà già trong một Housing for Old Seniors – Housing này có nhiều ông bà già Mỹ trắng – ông nói :
– Có những cặp vợ chồng về già không nhìn được mặt nhau”.
Lời kể của ông làm tôi buồn. Vợ chồng sống với nhau đến già, ở chung một nhà già – mỗi người một phòng – sắp ra nghĩa địa, sắp vào hũ sành mà thù hận nhau đến không nhìn mặt nhau ? Thù hận gì dữ dội đến thế ? Những người ấy thật khổ.
Bát đại khổ não ghi Tám Nỗi Khổ Lớn của con người :
– Sinh, Lão, Bệnh, Tử : 4 Khổ ai cũng phải chịu.
– Muốn có mà không có : Khổ 5
– Có mà không giữ được : Khổ 6.
– Yêu nhau mà không được cùng sống : Khổ 7.
– Ghét nhau mà phải sống gần nhau : Khổ 8.
Có người chỉ phải chịu có 7 Khổ. Ðó là những người không yêu ai cả.
Nhiều người Việt phải chịu cả 8 Khổ. Ðó những người thù ghét bọn Việt Cộng mà cứ phải sống với bọn Việt Cộng.

***

Mùa thu mây trắng xây thành,
Tình Em mây ấy có xanh da trời.
Hoa lòng Em có về tươi,
Môi Em có thắm nửa đời vì Anh ?

Tôi làm bài thơ trên Tháng Bẩy năm 1954 ở Vũng Tầu, ngày chúng tôi yêu nhau. Cuộc Tình của chúng tôi đã dài trong 60 năm. Cuộc Tình Vợ Chồng. Trong cuộc đời Tám Khổ này, nàng và tôi chỉ phải chịu có Bẩy Khổ. Năm 1979 nằm phơi rốn trong Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu, nhớ Nàng, tôi làm bài thơ :

Yêu nhau ngày tháng qua nhanh,
Hai mươi năm lẻ chúng mình yêu nhau.
Từ xanh đến bạc mái đầu,
Tình ta nước biển một mầu như xưa.
Yêu bao giờ, đến bao giờ,
Thời gian nào rộng cho vừa Tình ta.
Hoa lòng Em vẫn tươi hoa,
Môi Em thắm đến Em già chưa phai.
Yêu kiếp này, hẹn kiếp mai,
Ngàn năm yêu mãi, yêu hoài nghe Em.
Mặt trời có lặn về đêm,
Sớm mai Em dậy bên thềm lại soi.
Cuộc đời có khóc, có cười,
Có cay đắng, có ngọt bùi mới hay.
Thu về trời lại xanh mây,
Ðầy trời ta thấy những ngày ta yêu.
Càng yêu, yêu lại càng nhiều,
Nhớ Em, Anh nhắn một điều : “Yêu Em.”

Năm 2013 tôi đổi hai tiếng trong bài thơ :

Yêu nhau ngày tháng qua nhanh,
Sáu mươi năm lẻ chúng mình yêu nhau.

***

12 giờ buổi trưa tháng Sáu, 2012, Nàng bước hụt, ngã nhào qua bốn bực thềm cửa, nàng ngất đi. Ngồi bên nàng trong nắng trưa mùa hạ Virginia, chờ ambulance đến, nước mắt tôi ưá ra. Trong ICU – Ai Si Yu – Intensive Care Unit – tỉnh lại, nàng nói :
– Xin Thiên Chúa tha tội cho em.
Tôi nói
– Em có tội gì. Mà Em có tội gì, Thiên Chúa cũng tha cho Em rồi.


Nàng chỉ bị dập xương nên không bị mổ, không bị ghép xương, không phải bó bột. Về nhà nằm, uống Vitamin D, chờ vết xương nứt lành lại. Tình trạng bi đát. Nhiều người nói người trẻ khi bị nứt xương mới mong vết xương nứt liền lại, người già 70 thì vô phương. Nếu vết xương nứt không lành, nàng sẽ phải nằm mãi trên giường.


Tôi hầu nàng ngày đêm. Gần như suốt ngày đêm, tôi xin Ðức Mẹ Maria cho nàng đi lại được. Tôi chỉ xin Ðức Mẹ cho nàng đi được từ giuờng ngủ vào nhà bếp, vào toilet, ra ngồi bàn ăn cơm, nàng tự tắm được. Bộ Xã Hội cấp cho nàng đủ thứ nàng cần dùng : Xe đẩy, gậy chống, ghế để ngồi tắm… Chuyên viên y tế – therapist – đến nhà mỗi tuần ba lần, giúp nàng ngồi lên, tập đi. Một tháng sau nàng đi được.

***

Ba năm nay Nàng có tới ba, bốn lần đau nặng, hai ba lần nàng tự nhiên ngã. Một lần nàng hôn mê. Ðêm khuya trong bệnh viện, nằm trên cái canapé nghe tiếng nàng thở khò khè, tôi nghĩ :
– Tiếng thở này tắt là…
Tôi cầu xin :
– Xin Mẹ cho vợ chồng con được sống với nhau 5 năm nữa.


Tôi không muốn tôi chết trước nàng, tôi không muốn nàng chết trước tôi. Nàng chết trước tôi không biết tôi sống ra sao. Tám mươi tuổi, tôi sống với nàng 60 năm, tôi sống dựa vào nàng. Tôi sống bằng Tình Yêu của nàng.


Năm 1976 gặp lại nhau, Lê Trọng Nguyễn nói :
– Tao không biết mày có đi được không. Tao cứ tưởng mày làm USIS là mày đi được. Hôm tao gặp thằng S. ở trong khu nhà mày, tao hỏi nó mày có đi được không ? Nó nói mày không đi được. Tao kêu lên : “Làm sao nó sống ? Nó sống bằng gì ? ” S. nó nói : “Nó sống bằng Tình Yêu của vợ nó”.

Người bạn cùng tuổi tôi – 80 – lấy vợ cùng năm với tôi – năm 1954 – vợ chồng anh cũng sống với nhau 60 năm, một sáng từ Cali anh gọi phone cho tôi báo tin vợ anh qua đời, tôi hỏi :
– Ðau lắm không ?
Ðau thì tôi biết bạn tôi đau nhưng tôi muốn biết anh đau đến ngần nào. Hỏi dễ, trả lời khó. Bạn tôi nói :
– Ðứt ruột, nát gan.
Lần cuối tôi gặp ông Lê Văn Ba, ông hơn tôi 10 tuổi, ông nói với tôi :
– Tôi nói với bà nhà tôi : Bà nên đi trước tôi là hơn, tôi đi trước bà, bà sẽ khổ lắm.


Năm sau ông đi trước bà. Ðứng bên quan tài ông, tôi nhớ lời ông nói. Ông bạn HO có bà vợ bại liệt, ông phải đưa bà vào Nursing Home. Ðể bà ở lại ông một mình lái xe về. Dọc đường ông run tay lái, mắt ông mờ. Ông đậu xe bên đường, xuống đi bộ vài vòng lấy lại tinh thần. Khi trở lại tìm xe, ông quên không nhớ ông đậu xe ở đâu. Ông mở cellphone gọi ông bạn đến giúp.

***

Người đời chỉ nói “Good bye”,
“See You next week, next time” là cùng.
Ðôi ta ngọc nữ, tiên đồng,
Ðôi ta Từ Thức vợ chồng Giáng Hương.
Ngàn đời vẫn nhớ, còn thương :
Em yêu, đã đến cuối đường :

“Good bye. See You next Life”.

LỐI XƯA,

LỐI XƯA,

Xa rồi bóng nắng mơ say,
Tan trường thuở ấy cùng ai lối về,
Phượng rơi lấm tấm trên đê,
Con đò sóng vỗ say mê với người,
Sang sông đánh mất môi cười,
Long lanh giếng mắt thêm lười đáy tim,
Quên bao cảnh cũ im lìm,
Mây trôi cuối bãi…ai tìm mối tơ,
Đầy vơi thổn thức mong chờ,
Về ngang xóm vắng hồn thơ dại khờ…

Liverpool.16/7/2013.
Song Như.

Kính gởi quý Thầy Cô và các bạn LVC.
KT.

Hà Nội chống lại tiến trình phong chân phước cho Hồng y Nguyễn Văn Thuận: Nhân chứng bị ngăn chận tại sân bay

Hà Nội chống lại tiến trình phong chân phước cho Hồng y Nguyễn Văn Thuận: Nhân chứng bị ngăn chận tại sân bay
Lan Chi
7/14/2013

Ông Nguyễn Hoàng Đức

Ông Nguyễn Hoàng Đức, nhà phê bình văn học, trước đây từng là công an, đã bị chặn khi ông đang lên máy bay. Ông là người được dự kiến ​​sẽ đến Rome theo lời mời chính thức (của toà thánh) để có mặt trong lễ bế mạc của cuộc điều tra (phong chân phước) cấp giáo phận. Cuộc gặp gỡ của ông với vị Hồng Y đã bắt đầu hành trình biến đổi nơi ông, dẫn đến việc ông đã lãnh nhận phép rửa tội. Chính quyền Cộng sản muốn cản trở tiến trình này.

Hà Nội ( Thông Tấn Xã AsiaNews ) – Nhà cầm quyền Việt Nam đã ngăn chặn nhà phê bình văn học Nguyễn Hoàng Đức, một nhân chứng sống trong tiến trình phong chân phước cho Đức HY Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận, khi đang lên máy bay đi Roma. Là một cựu viên chức của Văn phòng Ban Tôn giáo và An ninh của ngành Công an, lẽ ra vào ngày 05 tháng bảy ông dự kiến sẽ có mặt tại Vatican cho lễ bế mạc của cuộc điều tra cấp giáo phận để bày tỏ nhận định của mình trong tiến trình phong chân phước cho vị Hồng Y người Viêt. Tuy nhiên, bất kể đã có lời mời chính thức, ông đã bị nhân viên an ninh ngăn chặn. Một trong những lý do được đưa ra là do Hà Nội muốn chống lại tiến trình phong chân phước.

Theo câu chuyện ông này kể lại trong bản tin tiếng Việt của Đài phát thanh Á Châu Tự Do (RFA), vào tối ngày 02 tháng 7 Nguyễn Hoàng Đức đến sân bay Nội Bài, Hà Nội, trình vé máy bay của mình tại quay vé của một hãng Thái Lan, là hãng hàng không ông dự định sẽ sử dung trong chuyến đi du lịch tới Ý. Tuy nhiên, ông đã được mời đến trình diện tại trụ sở công an của sân bay.

Một quan chức nói với nhà phê bình, trí thức người Việt này rằng ông “không được phép” rời đất nước, nhưng lại không nêu rõ lý do vì sao ông bị từ chối. Các nhân viên (an ninh) chỉ đơn thuần nói thêm rằng họ đang “thi hành lệnh cấp trên”. Sau nhiều cuộc đàm phán và thảo luận, ông đã gắng thiết lập một thủ tục bằng lời nói, để việc từ chối cho ông xuất ngoại do nhà chức trách áp đặt phải được “trình bày rõ ràng”.

Trong số những lý do cho sự can thiệp của công an cửa khẩu, là việc “không đồng ý” của chính quyền Cộng sản với tiến trình phong thánh cho Đức Hồng Y, người đã sống 13 năm đằng đẵng đầy khốn khó trong nhà tù của chế độ (cs). Điều này nêu bật lên bằng việc “hạn tù bị gia tăng” của một vị giáo sĩ cao cấp trong nhà tù của chính quyền. Sau đó là các lý do khác mà phần lớn liên quan đến “tư cách cá nhân” của nhà phê bình văn học, trước đây là một quan chức nhà nước, bây giờ là một nhà văn tự do và thường xuyên chỉ trích chính quyền.

Ông Nguyễn Hoàng Đức ngày nay được biết đến và đánh giá cao về các tác phẩm văn học của mình, nhưng cuộc sống của ông lại có những liên kết chặt chẽ với Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận, vì nhờ gặp gỡ vị Hồng Y này mà ước muốn được cải đạo đã được khơi dậy nơi ông Đức.

Theo lời cựu quan chức này, ông đã “say mê” tư cách cá nhân của Đức Hồng Y. Đã có ba “phép lạ”, ông nói đã lãnh nhận từ cuộc gặp gỡ với Đức Hồng Y: chuyển đổi sang đức tin Kitô giáo, được chữa lành bệnh tật và được báo trước về một sự kiện trong tương lai. Cuộc hành trình chuyển đổi sang đạo Công Giáo và lễ rửa tội của ông sau này được kể lại trong một đoạn văn mang tên “Con đường của đức tin, qua sự trung gian của Đức Phan Xi cô-Xavie Nguyễn Văn Thuận”. Câu chuyện này đã góp phần vào việc phong chân phước cho Đức Hồng Y Việt Nam mà nhà cầm quyền Hà Nội muốn ngăn cản.

(Source: http://www.asianews.it/news-en/Hanoi-against-the-beatification-of-Cardinal-Van-Thuân.-Canonisation-process-witness-stopped-at-airport-28451.html)

TRÁNH SỰ NGỘ NHẬN

TRÁNH SỰ NGỘ NHẬN

Thánh Gia-cô-bê dạy: “Mau nghe, chậm nói, khoan giận” (Gc 1,19).

Trong cuộc sống hằng ngày, một vấn đề thường xảy ra làm phương hại đến quan hệ giữa các cá nhân với nhau là sự ngộ nhận về người khác.  Nhiều khi sự hiểu lầm còn dẫn đến hậu quả tai hại khôn lường, mà dù hối hận đến đâu cũng không thể bù đắp được những thiệt hại đã gây ra.  Câu chuyện sau đây là một bằng chứng:

Năm đó tại ALASKA Hoa Kỳ, có một đôi vợ chồng sống chung với nhau trong một căn nhà ở bìa rừng.  Sau một thời gian, chị vợ mang bầu và đã từ giã cuộc đời trong lúc sinh con, để lại cho chồng một bé trai kháu khỉnh.  Từ khi vợ chết, anh chồng vất vả với cảnh gà trống nuôi con: hằng ngày anh phải địu đứa con theo vào rừng săn bắn và chở gỗ mang đến nhà máy gần chợ bán lấy tiền nuôi con. Rất may, một ngày kia anh đã gặp một con chó hoang đang bị thương nằm thoi thóp bên đường, anh liền mang về nhà chăm sóc và huấn luyện trở thành chó nhà giúp việc đắc lực cho anh.  Đây là giống chó bẹc-dê rất thông minh và mạnh khỏe.  Nó luôn ngoan ngoãn đi theo giúp chủ chăm sóc em bé khi chủ làm việc trong rừng.

Ngày nọ, anh chủ nhà có việc phải ra khỏi nhà không tiện mang theo con nhỏ.  Trước khi đi, anh ta đã dặn dò con chó phải ở nhà thay anh trông coi đứa bé cho anh.  Lẽ ra công việc chỉ cần sáng đi tối về, nhưng hôm đó trời có bão tuyết, nên anh đành phải ở nán lại tránh tuyết mãi đến trưa hôm sau mới về đến nhà.  Anh hơi chột dạ khi thấy cổng ngoài nhà anh đã bị mở toang và con chó của anh từ trong nhà khập khiễng chạy ra vẫy đuôi chào chủ.  Thấy miệng con chó còn dính đầy máu tươi, anh liền chạy vào nhà thì thấy một quang cảnh tan hoang: Đồ đạc lộn xộn, chỗ nào cũng có máu đỏ, ngay cả trên giường cũng bê bết máu nhưng không thấy con anh đâu cả.  Anh gọi nhưng không thấy con trả lời. Nghĩ là con chó của anh đã trở lại cái tính dã man của loài thú hoang trước kia để ăn thịt con mình, trong lúc nóng giận, anh liền rút súng ra nhắm bắn vào đầu con chó tội phạm.  Nó chỉ kịp kêu “ẳng” lên một tiếng rồi ngã lăn ra đất giãy chết.  Ngay lúc đó, anh đã nhìn thấy đứa con của anh đang từ dưới gầm giường bò ra và kêu lớn tiếng gọi ba.  Anh vội bồng con lên quan sát từ đầu đến chân.  Tuy trên mình nó cũng có vết máu, nhưng dường như con anh không bị thương chỗ nào cả.  Anh nhìn lại con chó, thấy trên đùi của nó bị mất một miếng thịt, và tại góc nhà gần đó là xác một con chó sói bị chết nằm giơ bốn vó lên, trên miệng con chó sói vẫn còn đang ngậm miếng thịt cắn con chó nhà anh.  À, thì ra con chó bẹc-dê của anh đã anh dũng chiến đấu chống lại chó sói để cứu cậu chủ, nhưng lại bị chính ông chủ “lấy oán đền ơn” ra tay giết hại oan uổng.  Đây là một sự ngộ nhận gây hậu quả nghiêm trọng, mà từ đó về sau mỗi lần nghĩ tới anh đều cảm thấy áy náy và đau nhói trong tim.  Anh luôn tự trách mình đã quá nóng nảy hồ đồ, khi chưa hiểu rõ thực hư, đã vội giết chết con chó trung thành đã có công bảo vệ con mình khỏi bị sói rừng cắn xé.

***********************************************

Nguyên nhân dẫn đến ngộ nhận hiểu lầm một phần là do tính nóng nảy giận dữ như người ta thường nói: “Giận quá mất khôn”.  Phần khác do có thành kiến về người khác như anh chủ nhà trong câu chuyện trên đã nghĩ sai là con chó bị biến đổi về tính hoang dã trước kia.  Nhưng có lẽ nguyên nhân chính là do thái độ thiếu kiên nhẫn và quyết định hồ đồ khi chưa biết rõ thực hư như anh chủ nhà đã hấp tấp giết hại con chó trung thành.

Sự ngộ nhận tiến triển từ sự nghĩ không tốt cho đối phương, làm cho sự hiểu lầm càng lúc càng thêm trầm trọng, đưa đến chỗ không thể ngồi lại nói chuyện phải quấy với nhau được.  Ngộ nhận đối với một con vật mà đã phát sinh hậu quả nghiêm trọng như câu chuyện trên, thì sự ngộ nhận giữa người với người còn tác nghiêm trọng đến mức độ nào.

***********************************************

Lạy chúa, trong cuộc sống chung với tha nhân, chúng con thường hay hiểu sai về người khác và cũng thường bị người khác hiểu không đúng về mình.  Theo con nghĩ: nguyên nhân chính dẫn đến hiểu lầm về nhau là do thành kiến về người khác, do thái độ hồ đồ thiếu cẩn trọng khi xét đoán sự việc, và hành động theo tính nóng nảy của mình.  Xin cho chúng con quyết tâm thực hành lời Chúa trong thư thánh Gia-cô-bê Tông Đồ: “Mau nghe, chậm nói và khoan giận”.  Nhờ đó, chúng con sẽ bình tĩnh suy xét thấu đáo mọi việc và hành xử đúng đắn trước bất cứ tình huống nào trong cuộc sống chung xã hội.

LM Đan Vinh – hhtm

From: langthangchieutim

DÒNG SÔNG NHỚ THƯƠNG,

DÒNG SÔNG NHỚ THƯƠNG,

Sông sâu nước chảy hai màu,
Phù sa lớp lớp đua nhau đắp bồi,
Buồn đời hỏi lại riêng tôi,
Vì sao cứ phải xa xôi xóm nghèo,
Khi xưa bé bỏng mè nheo,
Nhìn người xuống bãi đua theo học đòi,
Lên tàu nước mắt như ngòi,
Thương thay số phận buồn thôi ngập dòng,
Bây giờ cách biệt thay lòng,
Đau đầy giếng mắt còn mong lối về,
Trăng cao khảm mấy câu thề,
Đòng đưa gió thổi hồn tê tái buồn,
Mây đùn nhỏ giọt mưa tuôn,
Câu thề rụng mất vào nguồn đáy sông…
Chèo xuồng vớt lại tình nồng,
Mà sao nước lại mênh mông khắp trời…

Liverpool.16/7/2013.
Song Như.

Kính gởi quý Thầy Cô và các bạn LVC.
KT

Suy ngẫm

Suy ngẫm

Con người ta sinh ra, ai thoát khỏi: sinh, lão, bệnh, tử?

Sinh, Trụ, Hoại, Diệt là định luật của tạo hóa, không có cách chi thay đổi được.

Cây cối đâm chồi nảy lộc vào muà xuân, xanh tốt xum xuê trong mùa hè, lá héo vàng vào mùa thu, đến mùa đông thì lá vàng rơi rụng, chỉ còn trơ trụi cành cây. Rồi tới mùa xuân năm sau, cây lại đâm chồi nảy lộc. Cái chu kỳ sinh, trụ, hủy, diệt cứ tiếp nối nhau, không ngưng nghỉ.

Ðời người là bể trầm luân, cõi thế gian đầy những ưu tư phiền não. Vạn vật đều bị chi phối bởi luật vô thường.. Vừa mới sinh ra cất tiếng khóc oa oa chào đời. Rồi lớn lên, bước vào đời với bao nhiều mộng đẹp. Thoắt một cái, mái tóc đã điểm sương, mắt đã mờ, lưng đã mỏi, 2 chân đã chậm chạp. Rồi cuối cùng, là hai tay buông xuôi, đi vào lòng đất, bỏ lại trên thế gian tất cả các thứ mà cả đời phải bôn ba vất vả mới làm ra được..

Ðời người như giấc mộng. Người ngoại quốc cũng có câu: Life is too short. (cuộc đời quá ngắn) Thế mà, con người ta khi còn sức khỏe thì mải mê kiếm tiền, lo củng cố địa vị, danh vọng, không có thì giờ để hưởng đời đúng nghĩa.

Cũng ít ai sửa soạn tâm tư để đón nhận những cái vô thường của tuổi gìa. Ðến khi mái tóc đã điểm sương, da đã nhăn, mắt đã mờ, chân đã chậm thì mới giật mình, rồi buồn phiền, thất vọng, nuối tiếc. Khi đó, bao nhiêu tiền của cũng trở thành vô dụng. Ăn uống thì phải kiêng thứ này, cữ thứ kia vì đường lên cao, cholesterol lên cao. Ăn đồ cứng không được vì hàm răng cái rụng, cái lung lay. Ði chơi xa thì không dám vì sức khỏe kém, đầu gối đau nhức. Nghe nhạc, xem phim cũng không được vì tai đã nghễng ngãng, mắt đã kèm nhèm.

Người VN mình vốn cần kiệm, chăm làm, chắt bóp để có của ăn của để. Làm việc thì liên miên quên cả cuối tuần, bất kể ngày lễ hay ngày Tết. Làm thì nhiều, mà ít dám vui chơi huởng thụ như người Âu Mỹ..

Suốt đời cặm cụi, nhịn ăn nhịn mặc, để dành, mua cái nhà cái cửa để một mai khi chết thì để lại cho con cháu. Sống như vậy quả là thiệt thòi.

Người xưa đã nói:

Một năm được mấy tháng xuân

Một đời phỏng được mấy lần vinh hoa

Và:

Chẳng ăn, chẳng mặc, chẳng chơi

Bo bo giữ lấy của trời làm chi

Bẩy mươi chống gậy ra đi

Than thân rằng thuở đương thì chẳng chơi

Con người có tham vọng, có nhu cầu nên mới bon chen. Suốt đời cứ miệt mài lo tìm kiếm những thứ vô thường mà quên mất chữ “nhàn”. Những thứ vô thường này là nguyên nhân đưa đến lo âu, căng thẳng, mất ăn, mất ngủ. Và nếu kéo dài có thể đưa đến bệnh tâm thần.

Ông Cả ngồi trên sập vàng

Cả ăn, cả mặc, lại càng cả lo

Ông bếp ngồi cạnh đống tro

Ít ăn, ít mặc, ít lo, ít làm

Ðời người sống mấy gang tay

Hơi đâu cặm cụi cả ngày lẫn đêm

Hoặc là

Ăn con cáy, đêm ngáy o..o

Còn hơn ăn con bò, mà lo mất ngủ.

Người xưa tuổi thọ kém, ngay tới vua chúa cũng chỉ sống tới khỏang 50 tuổi. Tới 60 tuổi đã ăn mừng “lục tuần thượng thọ. Còn tới 70 tuổi, thì thực là hiếm hoi. Bởi vậy mới có câu: “nhân sinh thất thập cổ lai hy (tức là, người ta có mấy ai mà sống được tới 70).

Ngày nay nhờ khoa học tiến bộ. Con người được sống trong điều kiện vật chất vệ sinh, và thoải mái hơn.

Những phát minh của ngành Y, Dược đã giúp nhân loại vượt qua được các bệnh hiểm nghèo, mà người xưa kêu là bệnh nan y như bệnh lao, bệnh phong cùi, bệnh suyễn. Ngày nay người ta sống tới 80, 90 tuổi không phải là ít. Tuy nhiên sống lâu chưa phải là hạnh phúc. Hạnh phúc là luôn cảm thấy vui vẻ, yêu đời, biết tận hưởng cuộc sống. Muốn vậy thì cần phải giữ cho thân tâm được an lạc.

Tâm thân an lạc là biết vui với những cái trong tầm tay của mình, chấp nhận những điều mình không thể nào tránh khỏi. Sống hòa hợp vui vẻ với mọi người xung quanh, không chấp nhất, tỵ hiềm. Lớn tuổi thì không làm ra tiền, nhưng cũng may, ở những nước tân tiến đều có khoản tiền trợ cấp cho người gìà để có thể tự lực mà không cần nhờ cậy vào con cháu. Các cụ gìà nên mừng vì sang được xứ này, thay vì ấm ức với số tiền quá khiêm nhượng, không thể tiêu pha rộng rãi như bạn bè.

Già thì phải chịu đau nhức, mắt mờ, chân chậm, đừng nên than thân trách phận, cau có, gắt gỏng, đã không làm được gì hơn mà còn tạo sự áy náy, thương cảm cho những người xung quanh.

Ở đời mỗi người một cảnh, vui với cảnh của mình, không suy bì, thèm muốn, ganh ghét với những người xung quanh.

Biết đủ thì đủ (Tri túc, tiện túc).

Người ta bảo trên 60 tuổi, mỗi ngày sống là một phần thưởng cho thêm (bonus) của Thượng Đế.

Vậy thì hãy nên vui vẻ, tận hưởng những ân sủng mà không phải ai cũng có được : Ðời sống của mình vui tươi hay buồn thảm là tùy thuộc vào thái độ của mình đối với cuộc SỐNG

Anh chị Thụ & Mai gởi