Ủy ban đối ngoại Hạ viện thông qua Dự luật nhân quyền VN

Ủy ban đối ngoại Hạ viện thông qua Dự luật nhân quyền VN

Thanh Trúc, phóng viên RFA
2013-06-28

20130508_093722-305.jpg

Dân biểu Ed Royce phát biểu tại buổi đệ trình lên Quốc Hội bản dự thảo “Đạo luật Nhân Quyền VN năm 2013” ở tòa nhà Hạ viện Rayburn hôm 8/5.

RFA

Dự Luật Nhân Quyền Cho Việt Nam H.R.1897, đồng soạn thảo bởi dân biểu Christopher Smith và dân biểu Ed Royce, được Ủy Ban Đối Ngoại Hạ Viện Hoa Kỳ đồng loạt thông qua trưa thứ Năm 27 tháng Sáu vừa qua.

Thông qua với đa số áp đảo

Ngay sau buổi điều trần kết thúc, dân biểu Ed Royce trả lời phần phỏng vấn do Thanh Trúc thực hiện, trước tiên ông cho biết:

DB Ed Royce: Trong bao năm qua Ủy Ban Đối Ngoại Hạ Viện đã mở nhiều cuộc điều trần về Việt Nam. Nếu những cuộc điều trần ấy có cùng một tiếng nói ố chung thì đó là nhân quyền tại Việt Nam càng ngày càng giảm sút. Những kẻ thừa hành trong chính phủ đó đã mạnh tay đàn áp người bất đồng chính kiến. Những ai dám dưa lên trang blog hoặc loan tải những tài liệu liên quan đến dân chủ, hoặc bất cứ điều gì có tính cách phê bình chỉ trích đảng cộng sản đương quyền, đều phải đối diện những năm tù giam và bị hành hạ đánh đập. Dự Thảo Luật Về Nhân Quyền Cho Việt nam được Ủy Ban Đối Ngoại Hạ Viện thông qua hôm nay là một thông điệp dứt khoát đối với đảng cộng sản Việt Nam là phải thay đổi phải cải thiện nếu muốn nhận thêm những nguồn viện trợ nằm ngoài tính cách nhân đạo từ Hoa Kỳ.

Thanh Trúc: Thưa ông dân biểu ED Royce, khi trình bày những điều này có phải ý ông muốn nói đó là lý do khiến Ủy Ban Đối Ngoại Hạ Viện, mà ông là chủ tịch, đã đồng loạt thông qua H.R.1897 với đa số áp đảo như thế?

DB Ed Royce: Là vì ai cũng phải sửng sốt và quan ngại trước cách hành xử của chính phủ Việt Nam. Chỉ trong vòng sáu tuần lễ đầu năm nay, nhà cầm quyền Việt Nam bắt giữ 40 người bất đồng chính kiến, buộc tội họ bằng những phiên tòa nặng phần trình diễn hơn là công lý. Chỉ hơn sáu tuần lễ thôi mà số người bất đồng chính kiến bị bắt giữ đã ngang bằng con số toàn năm ngoái. Nhà nước cộng sản Việt Nam đánh đập hành hung những ai dám lên tiếng bảo vệ nhân quyền.

20130508_093934-250.jpg

Dân biểu Chris Smith phát biểu tại buổi đệ trình lên Quốc Hội bản dự thảo “Đạo luật Nhân Quyền VN năm 2013” ở tòa nhà Hạ viện Rayburn hôm 8/5. RFA PHOTO.

Một lý do nữa mà tôi muốn trình bày là dự luật phải được thông qua bởi vì ở Việt Nam đề cập đến tự do tôn giáo là một cái tội, nói những gì nhà nước không thích cũng là phạm tội mà hậu quả là nhiều năm bị giam cầm. Đã có nhiều buổi điều trần tại quốc hội Mỹ về tình trạng nhân quyền ở Việt Nam, bằng chứng, hình ảnh và danh sách tên tuổi những người bị hành hạ bị đánh đập được trưng lên cho các vị dân biểu thấy.

Cộng đồng thế giới từng nói về những điều tệ hại này, và bây giờ chúng tôi cảm thấy đến lượt quốc hội phải lên tiếng, bước tiếp nữa là trình dự luật, đã được Ủy Ban Đối Ngoại nhất trí thông qua hôm nay, ra trước hạ viện để biểu quyết.

Thanh Trúc: Thưa ông, bao giờ thì H.R.1897 sẽ được đưa ra trước toàn thể hạ viện để biểu quyết?

DB Ed Royce: Tôi nghĩ vài tuần lễ nữa thì dự luật, vừa được Ủy Ban Đối Ngoại chúng tôi thông qua hôm nay, phải được trình ra trước toàn thể hạ viện để biểu quyết. Theo tôi có thể khoảng cuối tháng Bảy chứ không lâu hơn.

Thanh Trúc: Vậy ông có tiên liệu những khó khăn hay trở ngại có thể xảy ra khi Dự Luật Nhân Quyền Cho Việt Nam được mang ra trước toàn thể hạ viện sắp tới?

DB Ed Royce: Việc Dự Luật được Ủy Ban Đối Ngoại có các dân biểu lưỡng đảng thông qua hôm nay với đa số áp đảo tôi thấy không có sự khó khăn nào khi nó được đưa ra trước hạ viện lần này.

Thanh Trúc: Thưa trong quá khứ Dự Luật Nhân Quyền Cho Việt Nam từng được thông qua hai lần ở hạ viện cũng với đa số áp đảo, nhưng đã bị khựng lại khi lên tới Thượng Viện? Liệu năm nay có điều gì khác hơn?

DB Ed Royce: Là vì khi đó thượng nghị sĩ John Kerry, trong tư cách chủ tịch Ủy Ban Đối Ngoại trên thượng viện, đã tìm cách ngăn chận Dự Luật Nhân Quyền Cho Việt Nam lại. Hiện tại ông John Kerry không còn là chủ tịch Ủy Ban Đối Ngoại Thượng Viện nữa mà là ngoại trưởng Hoa Kỳ, thay vào chỗ ông ta là thượng nghị sĩ Robert Menendez.

Ông Robert Menendez cũng là người dễ bất bình về chuyện nhân quyền bị vi phạm. Từ Cuba di cư sang Hoa Kỳ, gia đình thượng nghị sĩ Robett Menendez từng trải nghiệm những hình thức vi phạm chà đạp quyền con người trong chế độ cộng sản Cuba, cũng là kinh nghiệm thực tế mà các nhà bất đồng chính kiến và các nhà hoạt động nhân quyền trẻ tuổi ở Việt Nam đang nếm trải khi tìm cách phổ biến, liên lạc, nối kết và giao lưu với nhau trên Internet.

Chính vì vậy tôi tin rằng lần này H.R.1897 sẽ được sự ủng hộ của trước nhất và quan trọng nhất là Ủy Ban Đối Ngoại Thượng Viện mà thượng nghị sĩ Robert Menendez đang là chủ tịch như vai trò chủ tịch hiện thời của tôi trong Ủy Ban Đối Ngoại Hạ Viện mà đã đồng loạt thông qua Dự Luật Nhân Quyền Cho Việt Nam hôm nay trước khi đưa ra hạ viện sắp tới.

Thanh Trúc: Xin cảm ơn ông dân biểu Ed Royce.

7 Differences Pope Francis has made

 

7 Differences Pope Francis has made

 

In these two photos there are 6 differences…

 

Fun & Info @ Keralites.net

 

1. Changed the golden throne by a wooden chair …
something more appropriate for
the disciple of a carpenter.

 

Ngài ngồi trên ghế gỗ chứ không ngồi trên một ngai Vàng

 

2. Did not want the gold-embroidered red stole,
heir of the Roman Empire, nor the red cape…

 

Ngài không mặc áo choàng ngắn màu đỏ và khăn quàng cổ có thêu chỉ Vàng


3. Uses same old black shoes, not the classic red.

 

Ngài vẫn mang đôi giày màu đen thường nhật chứ không mang màu đỏ.

 

3. Uses a metal cross, not of rubies and diamonds.

 

Thánh giá đeo trên ngực bằng kim loại thường chứ không cẩn đá quý hoặc diamond.


5. His papal ring is silver, not gold.

 

Nhẫn Giáo Hoàng của Ngài bằng Bạc chứ không phải Vàng.


6. Uses the same black pants under the cassock,

to remember that he is a another priest.

 

Bên trong áo choàng trắng của GH, Ngài vẫn mặc quần đen để nhớ là Ngài vẫn là một Linh Mục.

 


Have you discovered the 7th?

 

Bạn đã tìm ra điểm thứ Bảy chưa ?

 

Removed the red carpet ..

 

Bục ghế ngồi của Ngài không trải thảm đỏ.

.

He is not interested in fame and applause …

Every day I like more
Pope Francis !!!

TRƯỚC ĐÃ

 

TRƯỚC ĐÃ

Theo một tôn giáo thường được gọi là theo đạo.

Theo đạo là theo một con đường.

Điều này đặc biệt đúng đối với Kitô giáo (x. Cv 9, 2).

Làm môn đệ Đức Kitô là theo Ngài trên con đường Ngài đi, con đường đất quanh co trong xứ Palestine hay con đường đầy chông gai nhọc nhằn của sứ vụ.

Đức Kitô chẳng những dạy Đạo, Ngài còn là Đạo (x. Ga 14, 6).

Theo đạo là theo một ngôi vị hơn là theo một giáo lý.

Sống đạo là sống như Ngài, với Ngài, cho Ngài và trong Ngài.

Phần cuối của đoạn Tin Mừng hôm nay thuật lại chuyện ba người muốn theo Chúa.

Chúng ta chẳng biết họ là ai, cũng chẳng rõ cuối cùng họ có theo Chúa hay không, nên mỗi người chúng ta dễ thấy mình nơi hình ảnh họ, để rồi chúng ta phải đưa ra lời đáp trả của mình.

Người thứ nhất hăng hái xin theo Ngài đi bất cứ nơi đâu.

Chúa Giêsu không giấu anh hoàn cảnh bấp bênh của mình.  Ngài sống cuộc đời phiêu bạt, không mái nhà để trú, lúc nào cũng ở trong tư thế lên đường.  Chấp nhận theo Ngài là chịu bỏ mọi an toàn, ổn định, là sống thân phận lữ khách trên mặt đất (x. 1Pr 2, 11).  Theo Ngài là theo Đấng có chỗ tựa đầu, chỗ tựa đầu tiên là máng cỏ, chỗ tựa cuối là thập giá.

Cuộc sống nghèo làm Ngài tự do hơn, sẵn sàng hơn trước những đòi hỏi bất ngờ của Cha và nhân loại.

Người thứ hai chấp nhận theo Chúa với điều kiện cho anh về chôn cất người cha mới qua đời trước đã.

Anh muốn chu toàn bổn phận thiêng liêng của người con.  Chúa Giêsu coi trọng việc hiếu kính mẹ cha (x.Mt 15, 3-9), nhưng Ngài đòi anh dành ưu tiên cho việc loan báo Tin Mừng.

Câu trả lời của Ngài làm chúng ta bị sốc thực sự.

Loan báo Tin Mừng ư?  Cần gì phải vội vàng đến thế!  Dầu sao cái sốc giúp ta nhận ra mình vẫn quen thờ ơ trước một bổn phận thiêng liêng và hết sức cấp bách.

Người chết nằm xuống thật đáng kính trọng; nhưng có bao người sống đang cần phục vụ khẩn trương.

Người thứ ba xin về từ giã gia đình trước đã.

Chúa Giêsu đòi anh dứt khoát thẳng tiến như người cầm cày, không quay lại với những kỷ niệm quá khứ, không bị cản trở bởi những ràng buộc gia đình, để tận tâm tận lực lo cho Nước Thiên Chúa.

Trong đời sống, nhiều lúc ta phải chọn lựa.  Chọn lựa là chấp nhận hy sinh, bỏ một trong hai.

Chúa Giêsu không dạy ta sống vô cảm hay bất hiếu…  Ngài dạy ta can đảm tìm kiếm Nước Thiên Chúa trước đã.

Có bao nhiêu cái trước đã chi phối đời ta?  Đâu là lựa chọn ưu tiên một?  Chúng ta cần sắp xếp lại thứ tự các ưu tiên cho đúng.

Nếu Chúa Giêsu gặp tôi hôm nay và mời tôi theo Ngài, tôi có xin phép Ngài để làm cái gì đó trước đã không?

 

*****************************************

Lạy Chúa Giêsu, giàu sang, danh vọng, khoái lạc là những điều hấp dẫn chúng con.

Chúng trói buộc chúng con và không cho chúng con tự do ngước lên cao để sống cho những giá trị tốt đẹp hơn.

Xin giải phóng chúng con khỏi sự mê hoặc của kho tàng dưới đất, nhờ cảm nghiệm được phần nào sự phong phú của kho tàng trên trời.

Trích trong ‘Manna’

From: langthangchieutim và

Anh chị Thụ Mai gởi

Truyện Cổ Tích Đời Sau

Truyện Cổ Tích Đời Sau

Ai bỏ trước cổng Chùa

một đứa bé sơ sinh.

Thầy trụ trì lặng nhìn,

bồng vào Chùa nuôi dưỡng.

Thằng bé ngày một lớn,

Thầy dạy nó học, tu.

Khi nó qua tuổi thơ,

Thầy dẫn nó xuống núi.

Gặp thứ gì cũng hỏi.

Nó như đứa trẻ con.

Tu có lớn, chưa khôn,

nó vẫn ngây thơ lắm…

Nó không còn bụ bẩm,

nó rất là khôi ngô.

Nó là người trong mơ

của nhiều cô thiếu nữ…

Đi bên cạnh Sư Phụ

nó hỏi đủ…chuyện đời.

Nó gọi “con” con người,

ai vừa qua trước mặt.

Thầy dạy nó Chào Bác.

Thầy dạy nó Chào Cô.

Nhưng khi gặp một o,

nó không chào sao cả…

Cô gái đó cũng lạ

cứ nhìn nó chăm chăm.

Nó mới bạch Thầy rằng:

“Con này con gì vậy?”

Thầy bảo: “Con Cọp cái – nó ăn thịt người ta!”..

Nó chỉ một đóa hoa,

“Con thấy nó xinh quá!”.

“Hoa thì núp trong lá,

sao nó đi trên đường,

con thấy nó dễ thương,

con muốn hôn…Con Cọp!”.

Nhà Sư tìm lối thoát

bằng cách…trở về Chùa.

Nó như bị bỏ bùa,

ba bốn ngày bí xị…

Kinh, tụng thì lí nhí.

Mõ thì gõ nửa vời.

Nó biếng nói, biếng cười,

ngó lên trời thật tội!

Thầy vỗ về và hỏi:

“Con, con buồn chuyện gì?”.

Nó chắp tay: “Lậy Thầy,

con nhớ Con Cọp quá!”.

Ngó ra vườn, xanh lá,

Thầy thở dài: “Nam Mô!”.

Ngó xuống bệ cửa Chùa,

Thầy nhớ một đứa nhỏ…

Thầy không hỏi gì nữa,
đi về liêu Thầy nằm,
tưởng tượng Chúa Sơn Lâm
vồ một người ăn thịt!

TRÁI TIM CỦA THẦY

TRÁI TIM CỦA THẦY

“Tình yêu” có lẽ là hai chữ được dùng nhiều nhất trong đạo Công giáo chúng ta.  Mà hình ảnh để diễn tả tình yêu lại không gì khác hơn là hình trái tim.  Nhưng thế nào là một trái tim hoàn hảo?  Tôi nhớ có một câu chuyện kể như sau:

Một chàng thanh niên nọ một hôm đứng giữa thị trấn và tuyên bố mình có trái tim đẹp nhất vì chẳng hề có tí tỳ vết hay rạn nứt nào.  Đám đông đều đồng ý đó là trái tim đẹp nhất mà họ từng thấy.  Bỗng một cụ già xuất hiện và nói: “Trái tim của anh không đẹp bằng trái tim tôi!”.  Chàng trai cùng đám đông ngắm nhìn trái tim của cụ.  Nó đang đập mạnh mẽ nhưng đầy những vết sẹo.  Có những phần của tim đã bị lấy ra và những mảnh tim khác được đắp vào nhưng không vừa khít nên tạo ra một bề ngoài sần sùi, lởm chởm; có cả những đường rãnh khuyết vào mà không hề có mảnh tim nào trám thay thế.

Chàng trai cười nói:
– Chắc là cụ nói đùa!  Trái tim của tôi hoàn hảo, còn của cụ chỉ là những mảnh chắp vá đầy sẹo và vết cắt.

Cụ già ôn tồn giải thích:
– Mỗi vết cắt trong trái tim tôi tượng trưng cho một người mà tôi yêu, không chỉ là những cô gái mà còn là cha mẹ, anh chị, bạn bè…  Tôi xé một mẩu tim mình trao cho họ, thường thì họ cũng sẽ trao lại một mẩu tim của họ để tôi đắp vào nơi vừa xé ra.  Thế nhưng những mẩu tim chẳng hoàn toàn giống nhau, mẩu tim của cha mẹ trao cho tôi lớn hơn mẩu tôi trao lại họ, ngược lại với mẩu tim của tôi và con cái tôi.  Không bằng nhau nên chúng tạo ra những nếp sần sùi mà tôi luôn yêu mến, vì chúng nhắc nhở đến tình yêu mà tôi đã chia sẻ.   Thỉnh thoảng tôi trao mẩu tim của mình nhưng không hề được nhận lại gì, chúng tạo nên những vết khuyết.  Tình yêu đôi lúc chẳng cần sự đền đáp qua lại, cậu ạ.  Dù những vết khuyết đó thật đau đớn nhưng tôi vẫn luôn hy vọng một ngày nào đó họ sẽ trao lại cho tôi mẩu tim của họ, và lấp đầy khoảng trống mà tôi luôn chờ đợi.

Chàng trai đứng yên với giọt nước mắt lăn trên má.  Anh bước tới, xé một mẩu từ trái tim hoàn hảo của mình và trao cho cụ già.  Cụ già cũng xé một mẩu từ trái tim đầy vết tích của cụ trao cho chàng trai.  Chúng vừa nhưng không hoàn toàn khớp nhau, tạo nên một đường lởm chởm trên trái tim chàng trai.  Trái tim của anh không còn hoàn hảo nhưng lại đẹp hơn bao giờ hết vì tình yêu từ trái tim của cụ già đã chảy trong tim anh…

Câu chuyện gợi nhắc tôi về trái tim của Thầy Giêsu.  Trái tim ấy có vòng gai xung quanh, có cây Thánh giá cấm xuống giữa cuống tim và có ngọn lửa tỏa lan ánh sáng.

Vòng gai cho thấy con tim Thầy chẳng còn được nguyên vẹn.  Gai của lòng đố kỵ nơi các bác Pha-ri-sêu.  Gai của bọn lính hung hăng chỉ biết xả giận trên người tử tù trắng án.  Gai của sự phản bội nơi người môn đệ được Thầy tin tưởng giao cho quản lý túi tiền: Giu-đa.  Gai của nỗi sợ hãi trơ trẽn đến thê thảm của Phê-rô lãnh đạo.  Gai của nỗi đau khi thấy Chúa Cha bỏ rơi mình.  Những mẫu gai từ xa đến gần, từ sơ đến thân dường như chực chờ làm con tim Thầy tan nát, vụn vỡ.

Vậy mà, Thầy đã can đảm cắm thẳng cây Thánh giá vào giữa con tim còn mang thương tổn đầy vị đắng chát ấy.  Thầy như muốn khẳng định chỉ có ân sủng đổ ra từ cây Thánh giá mới có sức chữa lành và hàn gắn thật sự.  Chiều dọc của Thánh giá như chiếc máng kéo ân sủng từ trời xuống con tim nhân loại, làm con người lỗi tội có cơ hội chạm tới được sự thánh thiện của Trời.  Chiều ngang của Thánh giá như chiếc cầu hòa giải những tương quan đổ bể, xa vắng giữa người với người.  Hóa ra, Thánh giá của Thầy là phương dược làm khép miệng các vết thương do vòng gai tạo nên.  Vết thương đã hết nhưng sẹo còn đó.  Sẹo làm cho trái tim không còn đẹp nữa.

Nhưng hệ chi, một khi đã được lành, con tim ấy lại có sức tỏa lan ánh sáng.  Ánh sáng của một thứ tình yêu đã được luyện lọc.  Thứ tình yêu có khả năng “tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả”.  Ánh sáng tình yêu kia không bốc cháy rừng rực tựa hồ muốn thiêu rụi tất cả; nhưng trường kỳ liên lỉ tỏa hơi ấm an ủi những tấm lòng lạnh lẽo, soi lối những con tim lang thang, hun rèn những tâm hồn sốt mến.

Như thế đó, trái tim Thầy không còn độ cong hoàn hảo, cũng chẳng đẹp hồng như tranh vẽ; nhưng nó chứa đầy tình yêu cứu độ.  Đạo của Thầy không quảng cáo một tình yêu lãng mạn, không thương tích; nhưng nhắm thẳng đến những con tim đau khổ, tan nát mà vẫn khát khao đập những nhịp tha thứ, trắc ẩn và rộng mở.  Ước gì con cũng biết cắm cây Thánh giá của Thầy vào trái tim héo mòn của con để ơn cứu độ chữa lành và làm con bừng cháy lửa yêu.

Bảo Ân, SJ
Kính Thánh Tâm Chúa Giêsu
06 – 2013

From: ngocnga_12 và

anh chị Thụ Mai gởi

CẢM ƠN TRỜI

Cảm ơn

TRẦM THIÊN THU

Đăng bởi lúc 8:32 Sáng 24/06/13

VRNs (24.06.2013)– Sài Gòn-

CẢM ƠN TRỜI

Cảm ơn Trời đã để tôi sống nghèo thê thảm

Nhờ đó tôi mới biết cảm thương người nghèo nàn

Cảm ơn Trời đã để tôi bị hàm oan

Nhờ đó tôi mới cảm thông người bị xét xử

Cảm ơn Trời đã để tôi bị người ta ghét bỏ

Nhờ đó tôi mới thấy cảm thương những người cô đơn

Cảm ơn Trời đã để tôi bình thường nhất trong những người bình thường

Nhờ đó tôi mới cảm nhận thế nào là mơ ước

Cảm ơn Trời đã để tôi bị thua thiệt

Nhờ đó tôi mới biết khao khát vươn lên

Cảm ơn Trời đã để tôi không hiểu thấu những điều cao siêu hơn

Nhờ đó tôi mới không sa vào hố kiêu ngạo

Cảm ơn Trời đã để tôi biết phân biệt thực, ảo

Nhờ đó tôi mới cảm nhận cuộc sống vô thường

Cảm ơn Trời đã để tôi tha phương

Nhờ đó tôi mới có thể hòa đồng với người xa, kẻ lạ

Cảm ơn Trời đã để tôi mồ côi cả Cha lẫn Mẹ

Nhờ đó tôi mới biết trân quý tình cảm gia đình

Cảm ơn Trời đã để tôi “lạc loài” giữa cuộc đời loanh quanh

Nhờ đó tôi mới cảm nhận thế nào là bóc lột, áp bức

Cảm ơn Trời đã để tôi không giống ai hết

Nhờ đó tôi mới hiểu đừng bắt chước, cứ là chính mình

Cảm ơn Trời đã để tôi không may mắn như bạn bè, thua chị, kém anh

Nhờ đó tôi mới cảm nhận cảm giác của người bị hại

Cảm ơn Trời đã để tôi có những lần thất bại

Nhờ đó tôi mới cảm nhận chút hạnh phúc khi thành công

Tất cả là bất đẳng thức, bất thường mà bình thường

Tôi cố gắng vẽ bức-tranh-cuộc-đời-tôi bằng nét-cọ-số-phận

Trông lên thấy mình chẳng bằng ai, vô duyên và lận đận

Nhưng khi nhìn xuống, thấy còn bao người khổ đau

Họ không thấy niềm vui ở đâu

Không thể có – dù họ vẫn khao khát sống thanh thản!

TRẦM THIÊN THU

CÔNG HIỆU CỦA NƯỚC THÁNH

CÔNG HIU CA NƯỚC THÁNH

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyt

Cách đây gn 450 năm – tháng 6 năm 1562 – thánh n Têrêxa Đc Chúa GIÊSU, hay còn gi là Têrêxa thành Avila (1515-1582), hoàn tt cun ”T Thut”, viết theo lnh Cha Gii Ti. Nơi chương 31, thánh n đc bit nói v công hiu ca Nước Thánh – Nước Phép – đi vi ma qu, trong kinh nghim chính cuc đi thánh n.
+++
M
t ngày, khi tôi nhà nguyn, tên qu hin ra đng bên trái dưới hình dng trông tht ghê tm. Đc bit khi nhìn cái ming hn nói, thì ôi thôi, trông tht kinh khiếp. Người ta có cm tưởng mt ngn la ln phát ra t thân th cháy rc ca hn. Bng mt ging nghe tht hãi hùng, hn nói vi tôi rng tôi được cu khi tay hn, nhưng ri thế nào hn cũng bt tôi tr li.

Tôi s hãi vô cùng, lin giơ tay làm du Thánh Giá. Tên qu biến mt, nhưng tr li ngay sau đó. Hn biến đi ri tr li, đến hai ln như thế. Thú tht tôi không biết phi làm thế nào đ đui tên qu đi. Trong nhà nguyn có Nước Thánh, tôi lin ly Nước Thánh và ry vào ch tên qu đng. Ln này thì hn biến đi và không tr li na!
M
t ln khác, trong vòng 5 tiếng đng h liên tc, ma qu hành h tôi bng đ mi cách: đau đn th xác và bn lon tâm hn. Cơn hành h mnh đến ni tôi tưởng mình không th chu đng lâu hơn. Các n tu hin din, cũng kinh hãi và không biết phi làm gì. Phn tôi, tôi không biết phi làm thế nào đ chng c vi ma qu.

Thường thì khi nào b đau đn th xác quá đ, tôi vn c gng cu nguyn, van xin THIÊN CHÚA ban cho tôi s nhn nhc, và nếu là Thánh Ý Chúa, thì Chúa có th đ cho tôi chu đau kh như thế đến tn thế. Nhưng ln này, cơn đau đn mnh đến ni làm tê lit c nhng ý hướng tt lành.

May mn thay, Chúa t cho tôi biết: cơn hành h này do ma qu gây ra, bi vì ngay lúc đó, tôi thy mt đa bé da đen trông tht ghê tm đng bên cnh tôi. Thng nh lm-bm gin d như tuyt vng, b đánh mt vt mà nó tưởng đã nm chc.

Khi trông thy thng nh đen đi xu xí, tôi bng bt cười và không còn s hãi gì. Tuy thế, ma qu vn tiếp tc hành h thân xác tôi bng nhng cú đm đá d dn. Tôi không dám xin các n tu có mt mang Nước Thánh đến vì s các ch không hiu lý do, ri đâm ra hoang mang vô ích.

Tôi có kinh nghim là ch nguyên Nước Thánh thôi, đ đ đui ma qu chy trn và không bao gi dám tr li. Ma qu cũng s Thánh Giá và trn mt, nhưng tr li sau đó.
Công hi
u ca Nước Thánh qu tht ln lao!

Phn tôi, nim an i mà tâm hn cm nhn mi khi tôi dùng Nước Thánh thì tht là đc bit và đáng k. Tôi không biết din t thế nào, nhưng mà, mi khi tôi s dng Nước Thánh, thì y như là tôi được gii khát, được cm thy ngt ngào và an i trong tâm hn. Điu này không phi do trí tưởng tượng bày v ra, vì công hiu này không phi ch xy ra mt ln, nhưng xy ra thường xuyên, khiến tôi phi đc bit chú ý. Ging như th mt người b nóng nc, b khát nước mà được ung mt ly nước tht mát, thì cm thy mình đ khát vy.

Đi vi tôi, tôi nhn thy:
Tt c nhng gì Hi Thánh truyn dy thì tht là ln lao. Tht là thích thú khi thy rng li Linh Mc đc khi làm phép nước, qu đã đem li sc mnh ln lao, vì có mt s khác bit vô cùng rng ln gia Nước được làm phép và nước không được làm phép!

Do đó, vì thy các cơn đau đn vn không gim bt chút nào, tôi lin xin các n tu có mt mang Nước Thánh đến cho tôi. Các ch đi ly và ry trên người tôi, nhưng vn không có kết qu.

Thy thế, tôi lin ly Nước Thánh và ry chính nơi tên qu đng, tc khc tên qu chy trn ngay và mi ni đau đn cũng biến mt.

Tôi rút ra kết lun như thế này: Du mt linh hn và mt thân xác không thuc v ma qu, nhưng ma qu vn xin được phép ca Chúa đ làm kh chúng ta.

Vy nếu chúng ta không thuc v chúng, mà chúng hành h chúng ta như thế, thì th hi, khi chúng ta lt vào tay chúng, chúng s hành h chúng ta đến mc đ nào na? Ý tưởng này khiến tôi nht quyết không bao gi đ mình rơi vào vòng tay ca mt tên hèn-h, bn-tin, bn-thu và đáng kinh-tm là ma qu!!!
… By gi Đc Chúa GIÊSU được Thn Khí dn vào hoang đa, đ chu ma qu cám d. Người ăn chay ròng rã bn mươi đêm ngày, và sau đó, Người thy đói. By gi tên cám d đến gn Người và nói: ”Nếu Ông là Con THIÊN CHÚA, thì truyn cho nhng hòn đá này hóa ra bánh đi!” Nhưng Người đáp: ”Đã có li chép rng: Người ta sng không ch nh cơm bánh, nhưng còn nh mi li ming THIÊN CHÚA phán ra”. Qu li đem Người lên mt ngn núi rt cao và ch cho Người thy tt c các nước thế gian, và vinh hoa li lc ca các nước y, và bo rng: ”Tôi s cho Ông tt c nhng th y, nếu Ông sp mình bái ly tôi”. Đc Chúa GIÊSU lin nói: ”Satan kia, xéo đi! Vì đã có li chép rng: Ngươi phi bái ly THIÊN CHÚA ca ngươi và phi th phượng mt mình Người mà thôi”. Thế ri qu b Người mà đi, và có các s thn tiến đến hu h Người (Matthêô 4,1-11).
(”THÉRÈSE D’AVILA”, Oeuvres Complètes, Desclée de Brouwer, 1989, trang 220-222)

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

Anh chị Thụ Mai gởi

Thơ: Tâm sự đời con

Thơ: Tâm sự đời con

Đăng bởi lúc 6:01 Sáng 23/06/13

VRNs (23.06.2013) – Sài Gòn- TÂM SỰ ĐỜI CON

Tâm hồn con tan nát

Tìm đến Chúa tựa nương

Trái tim con luân lạc

Giữa cuộc đời đau thương

Bao trở trăn suy nghĩ

Ngày đêm chật âu lo

Những ước mơ dang dở

Vẫn không ngừng giằng co

Giữa dòng đời xuôi ngược

Con như kẻ mộng du

Khoảng trầm tư đơn độc

Lạc lõng và ngu ngơ

Tâm hồn con tơi tả

Cúi xin Chúa xót thương

Và đại lượng tha thứ

Những hoài bão ngổn ngang

Khuya 20-5-2013

PHÙ SA HỒNG ÂN

Sinh ra khóc để chào đời

Mọi người hạnh phúc cười tươi đón chào

Tình thương cha mẹ ngọt ngào

Vòng tay âu yếm sớm chiều chở che

Lớn lên suy nghĩ bộn bề

Vui, buồn, sướng, khổ – Sớm khuya không ngừng

Đường đời đầy những gai chông

Buồn nhiều, vui ít, ngổn ngang lòng người

Vẫn chưa mãn nguyện nụ cười

Tuổi già vội đến đứng ngoài cửa kia

Sông đời bồi đắp phù sa

Là Hồng Ân Chúa bao la tháng ngày

Dù cho gian khổ vơi đầy

Vẫn luôn cảm tạ Tình Ngài xót thương

TRẦM THIÊN THU

CON NGƯỜI CÓ LINH HỒN KHÔNG ?

CON NGƯỜI CÓ LINH HỒN KHÔNG ?

VÂN ĐÊ 07: Tôi đã ở bên rất nhiều người sắp chết, mà khi họ chết tôi chẳng thấy có linh hồn nào bay ra cả. Các nhà tôn giáo lợi dụng bản năng muốn tồn tại mãi của con người nên đã bày đặt ra linh hồn thiêng liêng bất tử để làm tiền những người ngu dốt tin theo. Thực sự chết đi là hết.

TRẢ LỜI:

I. CON NGƯỜI CÓ LINH HỒN, NHƯNG THIÊNG LIÊNG NÊN TA KHÔNG THẤY ĐƯỢC.

1. Giác quan con người có giới hạn:

Trong vũ trụ thiên nhiên, có nhiều vật hiện hữu thực sự, nhưng lại vượt quá tầm tiếp nhận của giác quan con người. Chẳng hạn: Mắt ta đâu có xem thấy dòng điện, đâu nhìn thấy được quang tuyến X, tia xích ngoại tuyến hay tử ngoại tuyến… Nhưng ai dám quả quyết không có điện, không có những tia kia? Giả như tạo hóa cho mắt con người xem được 4000 tỷ rung động của ánh sáng trong một giây đồng hồ, thì bộ mặt thực chung quanh ta sẽ thay đổi hẳn: Chúng ta sẽ chỉ còn thấy các bộ xương ngươì đeo đồng hồ tòn ten ở cổ tay đi lang thang ngoài đường phố: Tai cũng thế, nó chỉ có thể tiếp nhận âm thanh trong một giới hạn nào đó. Tai của loài chó được huấn luyện có thể nghe được tiếng còi siêu âm của chủ, đang khi tai con người đành chịu bất lực không thê nghe được.

Như vậy, KHÔNG XEM THẤY LINH HỒN BAY RA NƠI MÔT NGƯỜI CHẾT, KHÔNG PHẢI LÀ YẾU TỐ ĐỦ ĐỂ QUẢ QUYẾT CON NGƯỜI KHÔNG CÓ LINH HỒN.

2. Con người có linh hồn có đăc tính thiêng liêng :

Con người có linh hồn, nhưng sở dĩ ta không thấy được vì linh hồn có đặc tính thiêng liêng vô hình khác hẳn vật chất. Cũng như dù không trông thấy dòng điện nhưng ta vẫn công nhận có điện, khi thấy được hiệu quả của nó làm sáng bóng đèn, làm quay máy quạt thế nào, thì cũng vậy, dù mắt ta không trông thấy linh hồn thiêng liêng nhưng vẫn công nhận có linh hồn, nhờ thấy được hiệu quả của linh hồn làm cho thân xác sống động, và là nguyên nhân phát sinh tư tưởng và ý chí tự do qua trung gian óc não con người.

II. CHẾT KHÔNG PHẢI LÀ HẾT.

Con người vốn có 2 phần: thân xác vật chất và linh hồn thiêng liêng siêu hình. Chết là khi thân xác không còn sống động, không ăn uống, đi đứng, nói năng suy nghĩ… Nói cách khác: chết là khi linh hồn lìa ra khỏi xác. Khi ấy thân xác chỉ còn là một khối vật chất, gồm những tế bào không liên kết chặt chẽ với nhau như khi còn sống, vì thiếu sợi dây kết hợp là linh hồn. Xác con người sẽ theo định luật biến hóa của vật chất như bao vật khác: thịt xương, sẽ bị thối rữa do ảnh hưởng của nhiệt độ, không khí, vi trùng,v.v…để trở thành những chất khác.

Chết đi không phải là hết như có người lầm tưởng, vì linh hồn con người không tiêu tan theo thể xác, nhưng sẽ còn tồn tại mãi vì những lý do như sau:

1. Vì linh hồn có đặc tính thiêng liêng:

Linh hồn là nguyên lý sự sống của thân xác con người. Người ta chỉ có thể nhìn thấy hiệu quả của sự sống với hai tài năng là trí khôn và ý chí, nhưng không thể thấy được vì có đặc tính thiêng liêng vô hình. Vì linh hồn không phải vật chất cũng không bị biến hóa do ảnh hưởng của hoàn cảnh vật chất theo các định luật tiến hóa, nên linh hồn bất diệt, và luôn tồn tại mãi mãi.

2. Vì là một điều hợp lý:

a) Nhìn vào vạn vật trong vũ trụ thiên nhiên, ta nhận thấy có một sự xếp đặt trật tự hoàn hảo, vật dưới phải phục vụ cho vật trên, vật này làm thỏa mãn vật khác. Chẳng hạn: Mắt có khả năng và nhiệm vụ xem thì trong thực tế đã có ánh sáng, hình thể, màu sắc… đáp ứng với khả năng xem ấy. Tai có khả năng và nhiệm vụ nghe thì thực sự đã có âm thanh, tiếng đông làm thỏa mãn khả năng nghe ấy. Con cá có khả năng và nhu cầu sống dưới nước, thì khi thấy ở đâu có cá, đương nhiên ta cũng thấy có nước là thỏa mãn nhu cầu cần nước ấy v.v…Cũng thế, về phạm vi tinh thần, hầu như mọi người đều tự nhiên muốn đươc tồn tại mãi mãi, đều có nhu cẩu được trường sinh bất tử… thì thực tế cũng phải có đời sống vĩnh cửu sau khi chết để đáp ưng ước vọng chung tự nhiên ấy mới hợp lý.

b) Giả như bạn có thể nói chuyện với một bào thai, thì bạn sẽ nói với nó vê một đời sống tương lai của bào thai mà chính bạn đã có kinh nghệm và thực sự đang sống như sau:

– Hỡi bào thai, đời sống của mày ngắn ngủi nhưng tiếp theo còn một đời sống khác thực sự và lâu dài.

Vậy bào thai sẽ trả lời bạn ra sao? Nếu thiếu suy nghĩ thì chắc nó sẽ trả lời:

– Tôi chỉ công nhận có thực những gì tôi trông thấy và kiểm nghiệm được. Do đó chỉ có một đời sống hiện tại tôi đang sống, còn đời sống khác như ông nói chỉ là sự bịa đặt mê tín, không thể tin được.

Nhưng nếu có chút trí khôn suy nghĩ chắc bào thai sẽ cho rằng bạn có lý và tự nhủ:

– Ừ nhỉ, đây tôi có hai tay, mỗi ngày một phát triển hoàn bị thêm, Thế mà tôi chẳng cần dùng tới nó chút nào cả. Tôi cũng không thể duỗi chúng ra được! Nhưng tại sao tôi lại có hai cánh tay? Chắc là để dành cho một chặng đường tương lai mà sau này tôi sẽ cần đến chúng. Chân tôi cũng mọc dài ra mà tôi cũng phải buộc co gấp chúng. Vậy có chân làm gì trong khi hiện giờ tôi không cần mà mỗi ngày nó một phát triển thêm? Chắc là tôi sẽ phải sống ở một hoàn cảnh khác mà ở đó tôi sẽ phải sử dụng chân để bước đi. Tại sao có hai mắt? Trong căn phòng tối tăm dày đặc này thì có mắt cũng như mù. Vậy có mắt để làm gì? Chắc là tôi sẽ bước sang một thế giới đầy màu sắc và ánh sáng và khi ấy tôi sẽ cần sử dụng tới đôi mắt…

Tóm lại: Nếu bào thai có thể suy nghĩ về sự tiến triển của nó, thì nó sẽ hiểu rằng: Phải có một đời sống khác ngoài bụng mẹ, đời sống mà hiện nay nó chưa có chút kinh nghiệm, nhưng chắc chắn phải có vì hợp với nhu cầu phát triên tự nhiên của nó.

– Đối với linh hồn con người với hai tài năng là trí khôn và lòng muốn cũng vậy: khi còn trẻ, chúng ta thường suy xét thiếu khôn ngoan. Nhưng với năm tháng, dần dần trí óc học hỏi mở mang theo và con người mỗi ngày càng tăng thêm vốn liếng hiểu biết, khôn ngoan. Thế rồi khi chưa sử dụng sự khôn ngoan được bao lâu, thì thần chết lại đến dẫn đưa chúng ta xuống mồ. Như vậy, trí khôn thêm hiểu biết khôn ngoan làm gì nếu thực sự chết đi là hết? Vậy cũng như tay chân, mặt mũi dần dần xuất hiện với bào thai là để đề phòng cho đời sống ngoài đời thế nào, thì tâm hồn con người dần dần thêm kiến thức khôn ngoan, cũng là để nhằm đến đời sống khác thiêng liêng vĩnh cửu sau khi chết vậy.

Hơn nũa nếu chết là hết thực sự thì người tốt có khác gì kẻ xấu? Kẻ ăn trộm, tiểu nhân với những bậc vĩ nhân quân tử có gì là khác biệt ? Nếu chết là hết thì cần chi phải kêu gọi từ bi hỉ xả, đề cao sự lương thiện công bằng? Chết mà hết thực sự thì ai làm lành là ngu, nhân từ là nhu nhược, bác ái là dại dột. Chết mà hết thì sống trên đời cứ việc giết người cướp của thật nhiều, hưởng thụ khoái lạc cho đã, cần chi phải đề cao tinh thần nhân đạo? Chết mà hết thì tại sao phải cử hành giây phút mạc niệm anh linh những liệt sĩ ? Dựng đài tưởng niệm hoặc dâng hương trước di ảnh người quá cố? Nhưng may mắn thay, hầu hết nhân loại đều không thưa nhận chết là hết, mà mọi người đều tin chắc chắn có đời sống vĩnh cửu sau khi chết.

Socrate, nhà hiền triết Hi Lap thế kỉ năm trước công nguyên, khi được một người bạn hỏi ý kiến về việc chôn cất ông như thế nào, ông trả lời : ”Anh có thể vùi thân xác tôi như thế nào tùy ý … nhưng còn chính tôi, anh không thể chôn vùi được.” câu nói ấy đã chứng tỏ Socrate tin tưởng linh hồn vẫn còn tồn tại sau khi chết.

Nghiên cứu những di tích thơi kỳ tiền sử ta thấy một điểu chắc chắn là mọi dân tộc đều tin có đời sống trường cửu sau khi chết. Thực vậy, từ Âu sang Á, từ Bắc xuống Nam, ở Úc cũng như ở Mỹ hoặc Trung Hoa, đâu đâu cũng có những dấu tích chứng minh con người tin tưởng một đời sống bất diệt khi họ để khí giới, dụng cụ, lương thực trong tầm tay người chết là có ý để họ có thể sử dụng ở thế giới bên kia. Trong mộ chôn của người Ai Cập hầu hết đều có thuyền bồng, là để cho người quá cố đi sang kiếp khác. Ngày nay dân Pic-mê, một dân tộc sống trong thâm sơn cùng cốc ở Phi Châu, Úc Châu tượng trưng cho cố nhân ngày xưa còn tồn tại, cũng tin linh hồn bất tử. Nói đâu xa, nếu ai đó muốn điều tra về lòng tin tưởng linh hồn bất diệt của con người thời đại ngày nay như thế nào, thì cứ ra nghĩa trang trong những ngày lễ các linh hồn, hoặc ngày lễ Vu Lan … sẽ biết.

Ngay những người ngoài miệng tuyên bố không tin, nhưng trong thực hành vẫn làm những việc chứng tỏ lòng tin vào lúc sắp chết, nhiều người đã bỏ lập trường của mình để quay về với niềm tin: Điển hình hơn cả là cái chết của Voltaire, một người chống đối tôn giáo say mê nhất. Với ngòi bút sắc bén, ông đã cố hạ bệ Thiên Chúa và đánh đổ Giáo hội. Châm ngôn của ông là: “Phải tiêu diệt đứa quái gở“ (tiếng dùng để ám chỉ Thiên Chúa). Không một lời gian dối nào mà ông tởm gớm, không một lời cáo gian nào mà ông ghê sợ. Ông chiêu mộ một nhóm người lấy tên là nhóm “Anh em Beelzebuth” với mục đích tìm cách hạ bệ Thiên Chúa . Năm 1753 ông đã tuyên án cho Thiên Chúa như sau: “20 năm nữa Thiên Chúa có thể hồi hưu, vì không còn ai thèm phục vụ Ngài nữa“. Đúng 20 năm sau, năm 1773 Voltaire đã tắt thở cách thê thảm trên giường bệnh. Khi gần chết ông trông thấy những hình ảnh rùng mình ghê rợn đến nỗi ông la lên : “Một bàn tay đang lôi kéo tôi đến với Đức Chúa trời … Đây quỷ muốn tôi … Tôi trông thâý hỏa ngục ghê quá”. Rồi ông tru trếu gầm thét như thú vật hung dữ, lấy móng tay cấu xé thịt mình và rứt ra từng miếng. Một bà già chuyên giúp đỡ những người hấp hối sau khi chứng kiến cái chết của Voltaire đã nói: “Khi ấy tôi ở gần giường Voltaire đang hấp hối. Tôi không còn muốn chứng kiến 1 người vô đạo chết nữa”. Một người khác cũng đã nói thêm: “nếu quỉ có thể chết được thì chắc cũng không chết dữ như Voltaire”.

3. Vì chính Thiên chúa đã mạc khải cho biết có đời sống vĩnh cửu

Ngoài những lý lẽ suy luận của trí khôn nói trên, những người Thiên Chúa giáo còn có một lý chứng chắc chắn có đời sống vĩnh cửu sau khi chết dựa vào mạc khải của Thiên Chúa trong Thánh Kinh, đặc biệt là lời giảng dạy của Đức Giesu về đời sống của con người sau khi chết như sau: ”Linh hồn con người sẽ chịu xét xử về công việc của mình đã làm khi còn sống. Đến ngày tận thế, mọi xác chết đều được Thiên Chúa dùng quyền phép của Ngài mà cho sống lại để cùng chịu phán xét và chung số phận với linh hồn”.

Để chứng minh lời dạy bảo về việc kẻ chết sống lại, Đức Giêsu đã dùng quyền phép riêng của Ngài để tự sống lại sau khi chết chưa đủ 3 ngày. Ngài đã hiện ra với các môn đệ nhiều lần, trước khi về trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha.

Thánh Phaolô tông đồ đã viết: “Nếu việc kẻ chết sống lại mà không có thì Đức Kitô cũng chẳng sống lại. Và nếu Chúa Kitô không sống lại, tất nhiên lời tôi giảng cũng uổng công và Đức tin của chúng ta cũng hóa ra vô ích. Nếu những người chết không sống lại thì Thiên Chúa đã không cho Ngài sống lại…”

KẾT LUẬN : Với những lý lẽ do dự, suy luận của trí khôn con người, với những lời mạc khải của Thiên Chúa về một đời sống vĩnh cửu sau khi chết, linh hồn con người không bị tiêu hủy nhưng sẽ tồn tại mãi mãi…Chúng ta có thể quả quyết mà không sợ lầm lẫn: CHẾT ĐI KHÔNG PHẢI LÀ HẾT, CHẾT KHÔNG PHẢI LÀ TRỞ VỀ VỚI HƯ VÔ NHƯNG LINH HỒN SẼ TỒN TẠI MÃI ĐỂ ĐƯỢC HẠNH PHÚC BẤT DIỆT HAY SẼ PHẢI TRẦM LUÂN NƠI HỎA NGỤC MUÔN ĐỜI, TÙY THEO ĐỜI SỐNG CỦA CON NGƯỜI KHI CÒN SỐNG Ở TRẦN GIAN NÀY.

PHÚT HÔI TÂM

Chúa phán: “Linh hồn Thầy buồn phiền đến nỗi chết , anh em ở lại đây và tỉnh thức với

Thầy…”(Mc 14,,28-31). “Lạy Cha, con phó linh hồn con trong tay Cha”

Lạy Chúa Giê-su. Qua lời Chúa cầu nguyện, chúng con xác tín răng: mỗi người chúng con đều có một linh hồn thiêng liêng bât tử. Làm cho thân xác sống động. Chết là khi linh hồn lìa ra khỏi xác về với Thiên Chúa, Đâng đã thổi hơi ban linh hồn cho thân xác bằng bùn đất của A-đam xưa. Xin cho chúng con luôn sống đẹp lòng Chúa, để sau này con được Chúa đón nhận vào Nước Chúa muôn đời. Amen.

LM ĐAN VINH- HHTM

Trích từ Đặc san Giáo Sĩ số 199 ngày 23-06-2013

Tình Cha

Tình Cha

NhoCha copy

Viết về mẹ rất nhiều rồi

Tình thương đưa võng suốt đời ru con

Từ khi con mới đỏ hon

Đến khi khôn lớn mỏi mòn bước chân

Viết về cha lại bâng khuâng

Chắc cha nghiêm nghị ít gần gũi thôi

Nhưng mà thương lắm cha ơi

Thương từ ánh mắt tới lời dạy răn

Thưở con nhỏ phạm lỗi lầm

Là mông gánh chịu mấy lằn roi đau

Cha buồn nét mặt rầu rầu

Ôi lằn roi ấy tìm đâu bây giờ

Tay cha nâng tuổi ấu thơ

Thả con diều biếc qua bờ tuổi xanh

Cho con chăm chỉ học hành

Tiếng cười vui vẻ chạy quanh ghế bàn

Tình thương cha ấm tập trang

Mực xanh con vẽ ngày vàng trôi qua

Dòng mồ hôi rịn áo cha

Thấm bao gian khổ mưa nhòa bụi rây

Tuổi già như trái chín cây

Môt chiều trái rụng trời đầy xót đau

Vành khăn tang trắng mái đầu

Lệ con rơi đẫm giọt sầu ngàn thu

Còn đâu bóng cả che dù

Con đơn lẻ giữa mịt mù đường sương

Lễ Cha tháng sáu ngùi thương

Nhớ cha tê tái nỗi buồn cút côi.

TRẦM VÂN

HÃY TIN VÀO CHÚA THÌ NGƯỜI SẼ NÂNG ĐỠ CON!

HÃY TIN VÀO CHÚA THÌ NGƯỜI SẼ NÂNG ĐỠ CON!

… Sáng thứ bảy 12-1-2013 nhà thờ Saint-Cyprien ở thành phố Poitiers miền Trung nước Pháp đông chật tín hữu đến tham dự Thánh Lễ an táng bà Gisèle Calmès, Giám Đốc Bệnh Viện. Nhà thờ được trang hoàng nhiều hoa tươi lộng lẫy như dấu chứng nói lên lòng quý mến của những người đến tiễn đưa một nữ giám đốc qua đời ở lứa tuổi 52. Đặc biệt có sự hiện diện đông đảo của cộng đồng y khoa toàn nước Pháp đến vĩnh biệt và nói lời tri ân đối với một đồng nghiệp hoàn toàn xả thân vì lợi ích của người khác.

Trong tờ cáo phó của gia đình có hàng chữ viết: ”Gisèle, nữ giám đốc bệnh viện, hiệp sĩ huân chương, đã giã từ chúng ta để tiếp nối công trình phục vụ nơi khác và mãi mãi”.

Thật vậy,
người phụ nữ mang hai dòng máu Pháp-Việt có đôi bàn tay dịu dàng khéo léo, từng khởi đầu sự nghiệp với kết ước giản dị căn bản đã kiên trì tiếp tục một hành trình đưa đến những trọng trách sau đó, nhưng vẫn giữ nguyên phong độ của một phụ nữ luôn nghĩ đến người khác và dâng hiến cuộc đời cho người khác.

Bà Gisèle Calmès đã trải qua không biết bao nhiêu là thử thách cá nhân và gia đình trước khi nhận trách nhiệm nữ giám đốc bệnh viện. Bà làm việc cực nhọc không biết mệt mỏi như thân phụ từng dạy bà ngay thời thơ ấu. Đức tính can cường ấy đi kèm niềm hứng khởi đã khiến bà Gisèle luôn say mê công việc, yêu mến nghề nghiệp và không ngại gian khổ. Bà lắng nghe và gần gũi hết mọi người, từ các bệnh nhân, những kẻ bé nhỏ đến các y tá bác sĩ những người mà bà phải tiếp cận và có quan hệ trong lãnh vực y khoa.

Từ thân mẫu là người Việt Nam bà được nhắn nhủ: ”Con nên luôn luôn thực thi điều lành dẫu trong bất cứ hoàn cảnh nào. Điều lành luôn dội lên trên trẻ em, trên những người nhận nó và đến phiên họ, họ cũng có thể thực thi điều lành. Bởi vì, sự thiện rất dễ lây và luôn luôn chiến thắng”. Chính giáo huấn từ mẫu này đã chiếu sáng soi dẫn trọn cuộc đời bà Gisèle. Thêm vào đó, bà còn được thấm nhuần nền văn hóa Á Châu luôn giữ nơi nhà các vị lão thành đau ốm để tận tay chăm sóc với tâm tình trìu mến và kính trọng.

Sức sinh động, sự hữu hiệu, niềm vui sống và nụ cười luôn tươi nở trên đôi môi khả ái đã để lại một kỷ niệm khó phai mờ nơi tất cả những ai từng hân hạnh quen biết bà Gisèle Calmès. Nơi bà lan tỏa lòng quảng đại, sự vi tha, luôn nghĩ đến người khác. Bà khéo léo tạo nên các mối giao hảo, các cuộc gặp gỡ, thoa dịu các tranh chấp, kết nối mọi người xuyên qua các khác biệt để trở thành bạn hữu. Bà là thanh nam châm thu hút mọi người. Bà có niềm tin tưởng nơi con người.

Cuối năm 2012, khi cơn bệnh đi vào giai đoạn trầm trọng, vô phương cứu chữa, thì chính bà lại trở thành người can đảm, kiên trì, rạng rỡ và giúp mọi người chung quanh vượt lên trên thử thách của cơn bệnh. Đau thương nhất là các thắc mắc của những người thân yêu: ”Tại sao thế? Sao lại phải ra đi khi tuổi đời còn quá trẻ? THIÊN CHÚA, Ngài đang ở đâu?” Bao câu hỏi quay cuồng trong các đầu óc. Làm thế nào để tìm ra ý nghĩa của biến cố đau thương này?

Chưa hết. Khi hồi tưởng cuộc đời bà, người ta biết rằng bà đã mất người chồng trẻ thân yêu khi đang mang thai đứa con trai thứ hai. ”Tại sao thế? THIÊN CHÚA là Ai? Và người ta có thể nói gì về sự lành, sự dữ?”

Trước tất cả các nghi vấn xốn xang này, bà Gisèle Calmès đã trở thành một tấm gương can đảm và một Đức Tin vững chắc nơi THIÊN CHÚA là CHA. Chính tâm tình đơn sơ tốt lành tự nhiên đã hướng dẫn soi sáng cuộc đời bà. Và lòng quảng đại dâng hiến cuộc đời để phục vụ người khác là một chứng tá sống động hùng hồn nhất của bà Gisèle Calmès, giám đốc bệnh viện, hiệp sĩ huân chương qua đời ở lứa tuổi 52. Xin THIÊN CHÚA Nhân Lành đón rước linh hồn bà vào nơi an nghỉ muôn đời.

”Con ơi, nếu con muốn dấn thân phụng sự THIÊN CHÚA, thì con hãy chuẩn bị tâm hồn để đón chịu thử thách. Hãy giữ lòng ngay thẳng và cứ kiên trì, đừng bấn loạn khi con gặp khốn khổ. Hãy bám lấy Người chứ đừng lìa bỏ, để cuối đời, con được cất nhắc lên. Mọi chuyện xảy đến cho con, con hãy chấp nhận, và trải qua bao thăng trầm, con hãy cứ kiên nhẫn. Vì vàng phải được tôi luyện trong lửa, còn những người sáng giá thì phải được thử thách trong lò ô nhục. Hãy tin vào Người, thì Người sẽ nâng đỡ con. Đường con đi, hãy giữ cho ngay thẳng và trông cậy vào Người. Hỡi ai kính sợ THIÊN CHÚA, hãy trông đợi lòng lân tuất của Người, đừng lìa xa Người kẻo ngã. Hỡi ai kính sợ THIÊN CHÚA, hãy tin vào Người, và các bạn sẽ không mất phần thưởng đâu. Hỡi ai kính sợ THIÊN CHÚA, hãy đợi trông ơn lành, niềm vui không cùng và lòng thương xót” (Huấn Ca 2,1-9).

(”Église en Poitou”, Revue religieuse du diocèse de Poitiers, 13 Mars 2013, No 199, trang 26-27)

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

MỌI NẺO ĐƯỜNG CON NGƯỜI ĐI, THIÊN CHÚA ĐỀU THẤY RÕ!

MỌI NẺO ĐƯỜNG CON NGƯỜI ĐI, THIÊN CHÚA ĐỀU THẤY RÕ!

Đài Vatican



… Tối Thứ Bảy Tuần Thánh Đêm Vọng Phục Sinh 30-3-2013 tại nhà thờ Sainte Barbe Anzin thuộc Tổng Giáo Phận Cambrai ở miền Bắc nước Pháp, có 4 tân tòng lãnh bí tích Rửa Tội gia nhập Giáo Hội Công Giáo. Xin trích chứng từ của 1 nam và 1 nữ trong số 4 tân tòng này.

Anh Christophe 28 tuổi.
Tôi chào đời trong môi trường sống đạo hẳn hoi nhưng lại không được rửa tội sau khi sinh ra, vì lý do gia đình. Ý tưởng Rửa Tội thường xuyên xuất hiện trong tâm trí tôi và mỗi lúc một rõ rệt hơn, đôi khi trở thành quyết liệt như vấn đề sinh tử. Để có thể tiến bước trên con đường của một tín hữu Công Giáo thì trước tiên tôi phải lãnh bí tích Rửa Tội và điều này trở thành một nhu cầu thực tiễn cấp thiết. Tôi cảm thấy ước nguyện sâu xa muốn đi nhà thờ tham dự Thánh Lễ.

Hành trình tân tòng của tôi khởi đầu với Hervé Desprez. Tôi chuẩn bị lãnh phép rửa từ tháng 6 năm 2012. Sau đó tôi gia nhập nhóm có 2 tân tòng khác là Allison và Guillaume cùng với Thierry là người chuẩn bị lãnh phép Thêm Sức.

Lộ trình của nhóm tân tòng chúng tôi rất trang trọng. Người này có thể học hỏi từ người kia. Tôi sống lộ trình này với việc song song đi nhà thờ vào mỗi Chúa Nhật. ”Tôi sống Thánh Lễ của tôi”. Mỗi khi có những bàn tay đặt trên chúng tôi vào những dịp cử hành khác nhau đều khiến cho tôi xúc động.

Tôi khởi đầu đọc Kinh Thánh. Tôi rất thích đọc Sách Châm Ngôn. Tôi vừa đọc xong Diễm Tình Ca. Không có đoạn nào hay hơn đoạn nào bởi lễ mỗi một sách thánh đều mang đến một sứ điệp riêng. Tôi tham dự các buổi cầu nguyện Taizé diễn ra vào mỗi tối thứ tư tuần thứ hai tại Saint Géry. Tôi rất thích các bài thánh ca có tích cách suy niệm.

Sự kiện tôi xin lãnh bí tích Rửa Tội cho phép tôi nhận ra đâu là ý nghĩa đích thật của cuộc sống. Vật chất không thật sự hữu ích.

Ngày hôm nay Đức Tin giúp tôi tiến bước và chọn đúng hướng đi. Đức Tin tháp tùng tôi. Tôi muốn sống trọn vẹn trong Sự Thật.

Chị Allison, 34 tuổi.
Tôi luôn luôn ước muốn lãnh bí tích Rửa Tội. Tôi không được rửa tội ngay từ lúc chào đời mặc dầu tôi sinh ra trong một gia đình Công Giáo.

Yếu tố kích động khơi mào vào dịp chuẩn bị phép rửa cho đứa con trai thứ năm của tôi là Etan vào tháng 6 năm 2011. Thân phụ của 4 đứa con đầu là kẻ vô thần nên không cho phép tôi đặt vấn đề với anh về chuyện giáo dục con cái trong Đức Tin.

Và thế là tôi đặt vấn đề gia nhập nhóm dự tòng vào dịp chuẩn bị lễ rửa tội cho Etan. Chính khi đó tôi cảm nhận tiếng gọi tìm hiểu biết hơn về Đức Chúa GIÊSU KITÔ. Tôi khởi đầu công cuộc học hỏi giáo lý vào tháng 10 năm 2011. Cứ ba tuần một lần chúng tôi quy tụ để học hỏi.

Người chồng tương lai của tôi – anh Thierry – Ba của Etan và Mailyne, cũng chuẩn bị lãnh bí tích Thêm Sức với chúng tôi, diễn ra vào thứ bảy ngày 15-6 tại nhà thờ Préseau.

Hành trình tân tòng củng cố niềm ước ao của tôi muốn trở thành tín hữu Công Giáo. Lộ trình này thật tuyệt vời, xét vì sau cùng rồi thì tôi có thể nói về Đức Tin của tôi với người bạn đời mà tôi chọn làm chồng. Anh đọc cho tôi nghe các đoạn Kinh Thánh rồi giải thích cho tôi hiểu, bởi lẽ anh từng học giáo lý trong thời niên thiếu và đã xưng tội cùng rước lễ lần đầu.

Trước ngày được rửa tội, Đức Tin của tôi tăng trưởng. Tôi hiểu Đức Tin rõ hơn và thật cảm kích vì sắp được rửa tội!

Cha đỡ đầu cho tôi là người được Cha Mẹ tôi chọn ngay từ ngày tôi còn bé xíu, mặc dù lúc đó chưa phải là người đỡ đầu rửa tội của tôi. Trong khi mẹ đỡ đầu thì chính tôi chọn lấy. Đây là người bạn gái tốt nhất của tôi và Đức Tin của bạn hiền cũng hướng dẫn tôi nữa.

… Có lời rằng: ”Hãy mở đường khai lối, và san cho bằng phẳng, dẹp bỏ mọi chướng ngại trên đường nẻo dân Ta. Bởi vì Đấng muôn trùng cao cả, Đấng ngự chốn vĩnh hằng, Đấng mang danh chí thánh, Người phán như sau: Ta ngự chốn cao vời và thánh thiện, nhưng vẫn ở với tâm hồn khiêm cung tan nát, để ban sức sống cho tâm hồn những kẻ khiêm cung, và ban sinh lực cho những cõi lòng tan nát. Vì Ta chẳng trách cứ luôn luôn, không giận hờn mãi mãi, kẻo hơi thở mọi sinh linh chính Ta làm ra, trước mặt Ta, sẽ phải lụi tàn. Vì tội nó ham lợi mà Ta giận dữ, Ta đã đánh nó, đã ẩn mặt trong cơn giận dữ, nhưng nó vẫn ngỗ nghịch, theo con đường nó muốn. Những nẻo đường nó đi, Ta đều thấy cả, nhưng Ta sẽ chữa nó cho lành, sẽ dẫn nó đi và cho nó đầy tràn an ủi; còn những kẻ khóc thương nó, Ta sẽ làm cho môi miệng chúng hoan ca: ”Bình an! Bình an cho khắp xa gần! THIÊN CHÚA phán: Ta sẽ chữa lành cho nó” (Isaia 57,14-19).

(”Église de Cambrai”, quinzaine diocésaine, No 7, 11 Avril 2013, stjeananzin.cathocambrai.com)

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt