SỰ BẤT MÃN THƯỜNG XUYÊN CỦA TÂM HỒN.

SỰ BẤT MÃN THƯỜNG XUYÊN CỦA TÂM HỒN.

Một tác giả nọ đã kể một câu chuyện ngụ ngôn về con lừa, con rùa và một con ruồi mà tuổi thọ chỉ có vỏn vẹn một ngày như sau:

“Nhận thấy kiếp sống của mình quá vắn vỏi, con ruồi đã than thân trách phận như sau:

-Nếu tôi được só nhiều thời giờ hơn, thì có lẽ mọi sự sẽ dễ dàng hơn. Các bạn cứ nghĩ xem, chỉ trong vòng 24 tiếng đồng hồ tôi phải sinh ra, phải lớn lên phải học hỏi kinh nghiệm, phải vui hưởng cuộc sống, phải đau khổ, phải già rồi cuối cùng phải chết. Tất cả đều diễn ra trong vòng 24 tiếng đồng hồ”.

Con lừa quanh năm ngày tháng chỉ bị đầy đọa trong những việc nặng nhọc thì lại than vãn:

-Giả như tôi chỉ có 24 tiếng đồng hồ để sinh ra, để sống, thì có lẽ tôi sẽ hạnh phúc hơn, bởi vì cái gì tôi cũng nếm thử được một chút và cái già tôi cũng chỉ chịu đựng trong một khoảng khắc mà thôi.

Đến lượt con rùa phát biểu như sau:

-Tôi không hiểu được các bạn, tôi đã sống được 300 năm nhưng tôi vẫn không thấy đủ giờ để kể hết những kinh nghiệm tôi đã trải qua. Khi được 200 tuổi, tôi chỉ mơ ước được chết cho xong, tôi thương hại chú ruồi, nhưng tôi lại ghen với ông bạn lừa.

Sau khi đã kể cho nhau nghe những kinh nghiệm sống của mình, xem chừng như không có ai thỏa mãn về kiếp sống của mình: người thì than phiền sống quá ngắn, người thì ngán ngẩm vì sống quá lâu. Cuối cùng ba chú mới rủ nhau đến tham vấn con nhện, vì con nhện vốn được xem là con vật khôn ngoan. Sau khi nghe mọi lời kể lể, con nhện mới dõng dạc ban cho mỗi con một lời khuyên. Với con rùa, nó nói như sau:

-Hỡi lão già rùa, đừng than phiền nữa, hỏi thử có ai được giàu kinh nghiệm cho bằng lão chưa?

Quay sang con ruồi, con nhện mới ra lệnh:

-Hỡi chú ruồi, chú đừng than thân trách phận nữa hỏi thử có ai có nhiều trò vui cho bằng chú không?

Với chú lừa, xem ra lời cảnh cáo của con nhện có vẻ nặng nề hơn cả, bác nói như sau:

-Còn đối với ông bạn lừa tôi không có lời khuyên nào cho ông bạn cả. Ông bạn là người bất mãn kinh niên. Ông bạn vừa muốn sống lâu như lão rùa, nhưng lại cũng muốn sống ngắn ngủi như chú ruồi. Trời nào có thể làm vừa lòng chú được.

Câu chuyện ngụ ngôn trên đây có thể nói lên sự bất mãn thường xuyên trong tâm hồn của con người. Thất bại hay thành công, nghèo hèn hay sang trọng, dốt nát hay thông minh, bệnh tật hay khoẻ khoắn, xem chừng như con người không bao giờ cảm thấy hoàn toàn hài lòng với chính mình, với người khác và với cuộc sống.  Con người dễ dàng đứng ở núi này để nhìn sang núi nọ. Tựu trung có lẽ sự bất mãn là biểu hiện của một thiếu sót lớn lao trong tâm hồn con người, đó là thiếu sót tình yêu. Có tình yêu, người ta sẽ không còn bất mãn, có tình yêu xem chừng như người ta cũng không màng đến thời gian. Một tác giả nào đó nói: “Thời gian quá chậm đối với kẻ chờ đợi và sợ hãi. Thời gian lại quá dài đối với những kẻ than phiền trách móc nhưng với những người đang yêu thời gian không còn nữa”. Phải chăng tình yêu không là liều thuốc để chữa trị căn bệnh bất mãn trong lòng người? Có chấp nhận chính mình, có yêu thương như chính mình chúng ta sẽ không còn phải than thân trách phận nữa. Có yêu thương tha nhân, có chấp nhận tha nhân chúng ta sẽ thấy được tha nhân là nguồn hạnh phúc của mình, và có yêu đời thì chúng ta mới thấy đời dễ thương. Nếu đưa mắt nhìn sang những tin “nóng” của thế giới: các em thai nhi bị giết từ trong lòng mẹ có được lên tiếng không? Những em nhỏ được cha mẹ “đồng giới” nhận làm con nuôi thì lên tiếng cách nào?

Hôm nay kỷ niệm ngày 9-11 của nước Mỹ.. Hỏi rằng những nạn nhân của tháp song đôi có thức dậy mà phàn nàn hay trả thù được ai không ? Những nước đang nội chiến thì họ than van trách móc ai để có “hòa bình” trở lại với họ ? Những nạn nhân “vũ khí hóa học” bên nước Syria có sống lại mà phản đối những người gieo tai họa không? Tỉ dụ trong tương lai những “cường quốc” muốn dùng vũ lực mà dậy đời cho những nước yếu thế thì sao? Đúng thế, trong mọi biến cố của cuộc đời đều có hai phía để nhìn vào; chỉ có những kẻ lạc quan vui sống sẽ tìm được chân lý trong đó: “đó là thánh ý Chúa thể hiện dưới đất cũng như trên trời”.

Lạy Chúa xin ban cho con được đôi mắt lạc quan để nhìn thấy nụ cười trong tất cả mọi sự. Xin ban cho con khối óc khôi hài để con có thể vững mạnh trước mọi hoàn cảnh, để cho dầu có khóc than, con cũng vẫn tiếp tục cười sau đó. Xin cho con đôi môi chỉ biết mỉm cười với mọi người và với cuộc đời. Xin ban cho con trái tim nồng nàn để chỉ biết yêu thương.

Amen.

Vhd sưu tầm 11-9-2013

Kỷ niệm 9-11-2001/2013

“Let Us Journey Together.”

-Pope Francis -St. Peter’s Balcony 3-13-2013.

Cột điện trên facebook của Bill Gates là “đặc sản” độc quyền Việt Nam

Cột điện trên facebook của Bill Gates là “đặc sản” độc quyền Việt Nam

nguồn:dântri.com.vn

(Dân trí) – Nhà tỉ phú nổi tiếng Bill Gates đăng lên facebook của ông bức ảnh cột điện chằng chịt dây điện mà ông chụp được ở đường phố Việt Nam kèm theo status: Tại Việt Nam, nhu cầu năng lượng đang tăng 14% một năm. Lưới điện cũ này bị quá tải. Nhưng đất nước như Việt nam làm sao để giải quyết nhu cầu điện ngày càng tăng”.
>>  Dân mạng Việt gây náo loạn Facebook của Bill Gates

Cột điện trên facebook của Bill Gates là “đặc sản” độc quyền Việt Nam

Những dòng trên status không có gì ghê gớm, nhu cầu điện tăng là chuyện đương nhiên, là rất bình thường. Vậy tại sao facebook của tỉ phú Mỹ thu hút sự chú ý của cộng đồng mạng như vậy?

Câu trả lời là vì cái cột điện. Có lẽ cộng đồng không quan tâm đến chuyện thiếu điện ở Việt Nam, mà sửng sốt trước cái cột điện như con quái vật trên đường phố. Bao nhiêu năm nay, dân mình thấy nó quá quen thuộc, quen thuộc đến độ chúng ta không xem nó là quái dị, là bất bình thường, là xấu xí, là nguy hiểm… Chùm dây điện trên đầu, chạy ngang qua cửa sổ nhà, dây điện từng gây chết người, móc vào cổ người đi đường, nhưng chẳng có gì quan trọng.

Nhưng cái cột điện với chùm dây mạng nhện “đặc sản” thuần Việt Nam trên facebook của Bill Gates đã gây sốc cho cả thế giới. Ở thế kỷ này rồi mà vẫn còn có quốc gia khai thác và truyền tải điện như Việt Nam quả thật rất đáng để tò mò. Những công dân văn minh của thế giới văn minh giật mình kinh hãi khi thấy cột điện nguy hiểm này, họ tự hỏi vì sao nó mất thẩm mỹ và mất an toàn như vậy mà vẫn cứ tồn tại ngay giữa đường phố của thủ đô Việt Nam.

Nhưng họ chưa biết rằng, không phải chỉ một cột mà ông Bill Gates chụp, còn có hàng vạn cột điện tệ hơn vậy trên khắp đường phố Hà Nội, TPHCM và nhiều thành phố khác của Việt Nam.

Nhiều người Việt Nam cảm thấy xấu hổ khi chuyện cái cột điện tệ hại được cộng đồng mạng đem ra bình luận. Ông tỉ phú người Mỹ đến Việt Nam và đã giới thiệu cho cả thế giới biết về sự lạc hậu của đất nước Việt Nam chỉ qua một tấm ảnh. Tấm ảnh đó rất điển hình, rất khái quát và rất trung thực về sự phát triển của ngành điện Việt Nam. Không trách ông Bill Gates, chỉ trách chúng ta quá tụt hậu và kém cõi.

Những người lãnh đạo ngành điện Việt Nam có xấu hổ khi hình ảnh quốc gia bị chính cái cột điện của các ông làm cho xấu xí trước mắt thiên hạ không?

Ngành điện độc quyền kinh doanh, bấu vào bầu sữa ngân sách, làm ăn thua lỗ, điện luôn không đủ cung cấp cho sản xuất và tiêu dùng. Những tồn tại và yếu kém đó bao năm không giải quyết được, hệ thống đường dây “quái vật” cũng thế, nó là một trong những sản phẩm từ sự yếu kém mà ra.

Cùng với cột điện và hệ thống dây điện trong thành phố, đô thị Việt Nam còn có hai thứ “đặc sản” khác là kẹt xe và ngập nước. Du khách nước ngoài đến Việt Nam luôn được thưởng thức quang cảnh kẹt xe. Nếu gặp cơn mưa, có thể câu cá hay chống xuồng đi trên đường phố. Những hình ảnh “ngộ nghĩnh” đó không thiếu ở các kênh thông tin, mạng xã hội. Làm một công dân có lòng tự trọng, thấy đó là một nỗi đau, huống chi là làm lãnh đạo.

Lê Chân Nhân

Tình bạn tuyệt vời của người xưa

Tình bạn tuyệt vời của người xưa

02920120821151629

Chuyện kể rằng vào đời nhà Tống ở Trung quốc có một đôi bạn thân, cả hai người đều học rộng, tài cao. Về phẩm hàm là quan nhất, nhị phẩm. Đó là nhà văn Vương An Thạch và nhà thơ Tô Đông Pha .Văn chương, thơ phú của cả hai người đều rất nổi tiếng, Vương An Thạch giữ chức Tể  tướng Còn Tô Đông Pha thì làm quan cai trị một vùng Hai người là bạn thân chơi với nhau từ lâu nhưng do mỗi người lại có năng khiếu và sở trường riêng, người này giỏi văn còn người kia thì lại giỏi về thơ, vậy cho nên Tô Đông Pha không  phục Vương An Thạch, coi bạn không giỏi bằng mình. Biết là bạn coi thường mình nhưng Vương An Thạch chỉ im lặng không nói gì cả. Có một lần Vương An Thạch chủ động mời Tô Đông Pha đến tư dinh Tể tướng của mình chơi để đàm đạo chuyện văn chương. Khi Tô Đông Pha đến, Vương An Thạch cố ý vắng mặt một cách tế nhị khi Tô Đông Pha bước vào thư phòng của ông . Vì không thấy chủ, lại thấy trên bàn có một bài thơ đã làm xong và một bài đang viết dở. Vì giỏi thơ, khi nhìn thấy có thơ là ông liếc mắt đọc ngay. Một bài có đôi câu như sau:

“ Minh nguyệt sơn đầu khiếu

Hoàng khuyển ngọa hoa tâm”.

Tô Đông Pha nhíu mày, nhăn trán suy nghĩ : Minh nguyệt là ánh trăng sáng, mà khiếu là hót. Vậy thì ánh trăng sáng, sao mà lại hót được ở đầu núi nhỉ? Câu tiếp là Hoàng khuyển là con chó vàng thì làm sao lại ngọa ( nằm) được ở trong tâm ( giữa) bông hoa ?. Ông lắc đầu và tỏ rõ ý coi thường tác giả của bài thơ. Ông nghĩ “ Vậy mà người ta cứ đồn là Vương An Thạch giỏi”? Nhân lúc vắng chủ nhà, và sẵn tiện có bút mực tại chỗ, ông sửa lại ngay hai câu thơ là :

“ Minh nguyệt sơn đầu chiếu

Hoàng khuyển ngọa hoa âm”

Có nghĩa là ánh trăng chiếu nơi đầu núi và con chó vàng nằm dưới bóng của bông hoa. Sửa xong hai câu thơ trên, Tô Đông Pha tỏ vẻ rất hài lòng và cho rằng khi đọc lại hai câu thơ này thì Vương An Thạch phải phục tài của mình lắm. Thơ phải sửa như thế mới đúng ngữ và nghĩa chứ !

Đọc tiếp bài văn thứ hai, thấy Vương An Thạch  tả cảnh mùa đông lạnh lẽo, tuyết rơi, hoa cúc rụng tơi tả. Tự liên hệ, ông thấy rất bực mình vì trên thực tế không bao giờ có chuyện hoa cúc lại rụng. Với hoa cúc, khi tàn héo nó vẫn cứ bám vào đài và thân hoa cho đến khi cây cúc chết.( Hoa cúc như vậy nên các đôi trai gái khi yêu thường lấy hoa làm biểu tượng để tặng cho nhau thể hiện sự chung thủy của mình) Ông cầm bút viết ngay vào bên cạnh bài văn để nói thẳng với tác giả rằng “ Hoa cúc không bao giờ rụng cả”. Biết mình chức, tước và phẩm hàm còn dưới Vương An Thạch nên lúc ra về suy nghĩ lại, ông biết mình phạm thượng, vì Vương An Thạch là quan đầu triều, chỉ dưới có một mình vua ( dưới một người, trên muôn vạn người). Thế nào mình cũng sẽ bị trị tội, bị trả thù là cái chắc. Quả đúng như dự đoán, sau một thời gian ngắn Tô Đông Pha nhận được “ trát” điều đi nhậm chức tận vùng phương Bắc xa xôi như đi “đầy”. Tô Đông Pha hối hận và nhận ra hậu quả việc làm bồng bột của mình ! Còn với tể tướng Vương An Thạch, sau khi ban “trát” điều Tô Đông Pha đi, ông hạ lệnh” các quan lại địa phương mà Tô Đông Pha đến làm việc là phải tạo mọi điều kiện  thuận lợi cho ông tìm hiểu đất đai, thổ nhưỡng cũng như thiên nhiên vùng đó và phải đối xử với tiên sinh Tô Đông Pha như  bậc đại khách” Là một người yêu thiên nhiên và biết cảm thông với nỗi thống khổ của người dân ở vùng đất khô cằn, khắc nghiệt, Tô Đông Pha thường xuyên tiếp xúc với dân, ông thỏa sức du ngoạn để tìm hiểu về con người và đất đai khắp vùng. Vì sống hòa đồng và hết sức thân thiện với mọi người nên ông đi đến đâu cũng được từ quan đến dân đón tiếp chân thành và nồng thắm. Có một lần đến thăm một làng quê nọ Tô Đông Pha bỗng nghe thấy tiếng chim lạ hót véo von, tiếng hót rất trong lại vang vọng vào núi đá. Nhà thơ hỏi đấy là loại chim gì mà hót hay như vậy ? Những người dân địa phương trả lời : Đấy là tiếng hót của chim Minh Nguyệt.  Có một lần khác khi đi thăm một vườn trồng hoa, thấy mọi người đang bắt sâu, đó là một loại sâu lạ nằm giữa bông hoa để ăn nhụy. Ông hỏi đó là sâu gì thế ? Những người nông dân trả lời : Đó là sâu Hoàng Khuyển. Thì ra trên thực tế có cả loại chim Minh Nguyệt và loài sâu Hoàng Khuyển thật. Vì tự cao không hiểu hết ý và  tự sửa bài thơ của Vương An Thạch, làm sai nội dung và tứ thơ hay của bài thơ ! Thời gian trôi đi, khi mùa đông phương Bắc lạnh lẽo tràn về, Tô Đông Pha ngồi trong nhà nhìn ra ngoài  thấy tuyết trắng xóa bay đầy trời và ở dưới vườn nhà những cánh hoa cúc bị tuyết bám vào rụng rơi lả tả. Nhà thơ lại giật  mình lần nữa và không tránh được tiếng thở dài, thì ra có hoa cúc rụng thật. Chỉ có điều là nó rụng trong hoàn cảnh và môi trường như thế nào mà thôi. Ông ngồi suy nghĩ và hồi tưởng lại những sự việc đã diễn ra trong thời gian vừa qua, thấy rõ sự hiểu biết quá cạn cợt của mình, nghĩ việc mình được bổ nhiệm làm quan nơi xa xôi, được tiếp xúc, du ngoạn và được đón tiếp thịnh tình lại có thêm nhiều hiểu biết và những vốn sống phong phú ở một vùng thiên nhiên kỳ thú nhưng cũng vô cùng khắc nghiệt này. Tô Đông Pha bỗng nhận ra bạn mình  Vương An Thạch, quan Tể tướng – Nhà văn không phải là người tầm thường, không phải trả thù hay “ đầy” mình lên biên cương mà chính là quan tâm tạo điều kiện cho mình đi “ thực tế” để có thêm vốn sống và kiến thức  từ trong dân gian. Vừa thấm thía, vừa biết ơn cộng với sự cảm phục, nhà thơ Tô Đông Pha liền ngồi viết thư tạ lỗi với tể tướng Vương An Thạch.

.Sưu tầm.

NHỮNG CON SỐ BẢY MAY MẮN

NHỮNG CON SỐ BẢY MAY MẮN

Từ Kinh Thánh cho đến sòng bạc, con số 7 thường được xem là con số may mắn, hoàn hảo và kỳ diệu. Chúa Giêsu bảo chúng ta hãy tha thứ bảy mươi lần bảy cho những ai lỗi phạm đến mình.  Rõ ràng Ngài có ý muốn bảo chúng ta tha thứ đến vô cùng.  Sách Sáng Thế nói về bảy ngày tạo dựng, Kinh Thánh nói về bảy tổng lãnh thiên thần, và Sách Khải Huyền nói về Bảy dấu niêm phong Mặc Khải.  Kinh Thánh đầy dẫy con số bảy.  Phải mất vài trang để liệt kê ra cho hết.
Những gì có trong Kinh Thánh Kitô giáo cũng có trong các văn hóa khác.  Có bảy phúc thần trong thần thoại Nhật Bản, các Phật tử tin rằng khi mới hạ sinh, Đức Phật bước bảy bước.  Trong đạo Do Thái, có bảy ngày than khóc, buổi giảng kinh hàng tuần cũng được chia thành bảy phần riêng biệt, có bảy phúc lành được đọc lên trong đám cưới Do Thái, tân lang và tân nương mừng hạnh phúc trong vòng bảy ngày, và có bảy cảm xúc căn bản hướng đến Thiên Chúa.  Trong truyền thống Hồi giáo, có bảy thiên đàng bảy thế gian, bảy ngọn lửa trong địa ngục, bảy cửa lên thiên dàng, và bảy cửa xuống địa ngục.
Và còn có nhiều điều có liên hệ với con số 7: Có bảy châu lục trên thế giới, bảy màu cầu vồng, bảy ngày trong tuần, bảy nốt nhạc căn bản, bảy ngôi sao trong chòm Đại Hùng, và bảy thiên thể thấy được bằng mắt thường.  Số bảy là mã điện thoại ở Nga.  Ở Bắc Mỹ, các giải bóng chuyền, bóng rỗ, và hockey chính đều chia cuộc đua vô địch thành loạt bảy trận, và nhiều vận động viên ưu tú chọn số bảy làm con số áo, kể cả Mickey Mantle.  Các sòng bạc cũng rất thích con số 7.  Xếp được một hàng số bảy là cách chơi của rất nhiều trò may rủi.

Chúa Giêsu, Đạo Do Thái, Hồi giáo, Phật giáo, tự nhiên, cách xếp tuần, mã điện thoại của Nga, các giải thể thao chính, Mickey Mantle, và các sòng bạc – và bây giờ là một điều khác nữa!  Chẳng tình cờ khi người ta dùng rất nhiều số bảy:
Ví dụ như: chúng ta có đủ kiểu số bảy trong thần học và trong giáo hội:
Thần học Kitô giáo nói về bảy Ơn Chúa Thánh Thần: Khôn ngoan, Hiểu biết, Lo liệu, Sức mạnh, Thông minh, Đạo đức, và Kính sợ Thiên Chúa. Về Bảy mối tội đầu: Kiêu ngạo, Ghen tỵ, Giận dữ, Biếng nhác, Tham lam, Ham ăn, và Dâm dục; cũng như về bảy nhân đức tương ứng: Khiêm nhường, Rộng rãi, Nhẫn nhịn, Siêng năng, Nhân từ, Tiết độ, và Trong sạch.  Giáo hội cũng nói về bảy lời cuối cùng của Chúa Giêsu: “Xin Cha tha cho họ vì họ không biết việc họ làm”; “Thật, ta bảo thật, hôm nay, ngươi sẽ được ở cùng ta trên thiên đàng”; “Lạy Cha, con xin phú linh hồn trong tay Cha”; “Thưa bà, này đây là con bà… Đây là mẹ con”; “Lạy Cha, sao Cha bỏ con?”; “Ta khát”; “Mọi sự đã hoàn tất”.
Mohandas Gandhi cũng nói về bảy Tội lỗi của xã hội: Chính trị không nguyên tắc, không làm mà có ăn, buôn bán vô đạo đức, hưởng lạc vô lương tri, tri thức thiếu nhân cách, khoa học thiếu nhân đạo, và tôn kính Thượng đế mà không chịu hy sinh.  Và về điều này, Công giáo La Mã cũng đã có Bảy Luận đề về Huấn Giáo Xã hội của Giáo hội Công giáo: Mạng sống và phẩm giá con người; yêu cầu đối với gia đình, cộng đồng, và bổn phận; quyền và trách nhiệm; chọn người nghèo và người cô thế; giá trị của lao động và quyền của người lao động; tình đoàn kết; và chăm lo cho những gì được Thiên Chúa tạo dựng.
Giáo hội Công giáo La Mã có Bảy Bí tích:
rửa tội, thêm sức, Thánh Thể, giải tội, xức dầu bệnh nhân, truyền chức thánh, và hôn phối.  Bảy Việc thương người: Cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới ăn mặc, cho kẻ cơ nhỡ trú ngụ, thăm viếng người ốm, thăm viếng tù nhân, và chôn xác kẻ chết.  Và kèm theo là Bảy Việc thương người phần hồn: Sửa dạy kẻ ngu muội, lấy lời lành mà khuyên người, răn bảo kẻ có tội, nhịn kẻ mất lòng ta, tha kẻ dễ ta, yên ủi kẻ âu lo, và cầu cho kẻ sống và kẻ chết.  Hơn nữa, Giáo hội Công giáo La Mã còn tôn kính Bảy sự thương khó Đức Mẹ: Lời tiên tri của ông Simeon, chạy nạn đến Ai Cập, lạc mất Chúa Giêsu trong đền thánh, gặp Chúa Giêsu trên đường Núi Sọ, Chúa Giêsu chết trên thập giá, nhận xác Chúa Giêsu trong tay, chôn cất Chúa Giêsu vào huyệt đá.
Và tất nhiên, vẫn chưa hết, chúng ta còn có Bảy Kỳ quan thế giới, dù bây giờ người ta đang tranh cãi nhau xem chính xác nên chọn cái nào làm kỳ quan: Một số đồng ý với danh sách cũ, Bảy kỳ quan của thế giới cổ đại, số khác lại ủng hộ Bảy kỳ quan của thế giới hiện đại, số khác lại nói về Bảy kỳ quan của thế giới Đương đại, và số khác nữa lại nhất quyết rằng những kỳ quan thật sự của thế giới này được dựng nên bởi tự nhiên và liệt kê ra Bảy kỳ quan Tự nhiên của thế giới.
Vậy đâu là danh sách xác đáng đây?  Những cái nào mới đúng là Bảy kỳ quan thế giới?
Gần đây trên Internet có xuất hiện câu chuyện thế này:
Một giảng viên yêu cầu các học sinh nêu tên Bảy kỳ quan thế giới.  Một số, chắc chắn có nhờ vào các phương tiện điện tử, nhanh chóng đưa ra những danh sách khác nhau.  Tuy nhiên, một cô gái trẻ, không dùng đến những tìm kiếm trên mạng như thế, đã tự viết ra danh sách của mình.  Bảy kỳ quan thế giới, theo kết luận của cô là: NHÌN, CẢM, NẾM, NGỬI, SỜ, THỞ và YÊU. Tôi tin rằng, danh sách đó, thắng vượt tất cả mọi danh sách khác và chứa đựng đủ tất cả bí tích thiêng liêng.


Fr. Ron Rolheiser

Chân dung Mẹ Têrêsa Calcutta

Chân dung Mẹ Têrêsa Calcutta

TRẦM THIÊN THU chuyển ngữ

Đăng bởi lúc 2:13 Sáng 8/09/13

chuacuuthe.com

VRNs (08.09.2013) – Sài Gòn – Chân phước Mẹ Têrêsa Calcutta cả đời đấu tranh cho giá trị nhân phẩm của những con người nghèo khổ nhất, đã nêu gương luân lý làm cầu nối các khoảng cách về văn hóa, giai cấp và tôn giáo. Một con người có vóc dáng nhỏ bé nhưng lại có trái tim “cực đại” và đầy lòng nhân ái. Bà nói: “Ngay cả những người giàu cũng khao khát tình yêu, muốn được quan tâm, muốn có ai đó thuộc về mình”.

Cha mẹ của bà là người Albani. Bà sinh ngày 26-8-1910 tại Shkup (nay là Skopje), thuộc Cộng hòa Nam Tư (Macedonia), trước đó là Yugoslavia, với tên “cúng cơm” là Agnes Gonxha Bojaxhiu. Bà là con út trong 3 người con. Lúc bà 7 tuổi, cha của bà bị giết, nên bà quan tâm chính trị. Tuổi thiếu niên, bà là thành viên của nhóm bạn trẻ trong giáo xứ, gọi là nhóm Tương tế Tôn giáo (Sodality), dưới sự hướng dẫn của một linh mục Dòng Tên, bà cảm thấy quan tâm việc truyền giáo. Lúc 17 tuổi, bà gia nhập Dòng Nữ tử Loreto ở Ai-len, một dòng chuyên về giáo dục, rồi bà được gởi tới Bengal năm 1929 để vào nhà tập. Bà chỉ lõm bõm tiếng Anh nhưng vẫn khấn lần đầu, với tên dòng là Têrêsa (chọn theo tên của Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu).

Đến năm 1950, nữ tu Têrêsa lập Dòng Truyền giáo Bác ái (Dòng Thừa sai Bác ái, Missionaries of Charity). Bà nhận Giải Nobel Hòa bình năm 1979 và nhận Giải Bharat Ratna (भारत रत्न, nghĩa là “Viên Ngọc Ấn Độ”, giải thưởng cao nhất của Ấn Độ dành cho người dân) năm 1980. Trước đó, năm 1962, bà đã được chính phủ Ấn trao giải Padma Shri. Trong những thập niên kế tiếp bà được trao tặng các giải thưởng lớn như Giải Jawaharlal Nehru về Hiểu biết Quốc tế năm 1972.

Trong thời kỳ Ấn Độ bị người Anh đô hộ (British Raj), trường Loreto nhận rất ít người Ấn, đa số là người Hindu Bengal, con gái các gia đình có thế lực ở Calcutta, nhưng đa số giáo viên vẫn là các nữ tu gốc Ai-len. Nữ tu Têrêsa không thuộc Dòng Nữ tử Loreto nữa nhưng thi thoảng bà vẫn về thăm. Bà dạy ở các trường nữ khác trong 3 năm trước khi (như bà nói) “theo Chúa đến với người nghèo khổ”. Theo các nữ sinh nói, sự gián đoạn đó không hoàn toàn thân thiện, ít là phần các nữ tu Dòng Loreto.

Hình ảnh nữ tu Têrêsa nhỏ bé, với tấm khăn choàng sari (trang phục của phụ nữ Ấn) xõa xuống vai và lưng, bước đi trên đường đá đỏ, trông thật giản dị và khiêm nhường. Bà luôn có một hoặc hai nữ tu choàng sari đi theo. Bà là con người kỳ lạ của thế kỷ XX. Có thể bà “khác người” vì chúng ta không thấy nữ tu nào choàng sari như vậy. Nhưng đó là thói quen của nữ tu Têrêsa vùng Calcutta, bà “quên” mình là người Albani để hòa nhập và hoàn toàn nên giống các phụ nữ Ấn.

Chính phủ đã “ầm ĩ” chống truyền giáo nhưng chưa bao giờ làm khó các nữ tu truyền giáo.

Đầu thập niên 1950, các học sinh không có đạo ở Nhà Loreto đã nghi ngờ ý định của Mẹ Têrêsa trong việc giúp đỡ các trẻ em đường phố hoặc trẻ mồ côi. Bà đang cứu vớt chúng để “dụ” đưa chúng vào đạo Công giáo? Cứ hai tuần một lần, Mẹ Têrêsa nói chuyện để vận động phụ nữ không phá thai và bảo vệ sự sống. Dự định của Mẹ Têrêsa là chăm sóc những người bệnh ở thời kỳ cuối, những người đến Đền Kalighat để được chết gần “thánh địa”. Mẹ Têrêsa không mong kéo dài sự sống cho họ, nhưng buồn về tình trạng nhơ uế và cô độc của họ trong thời gian cuối đời. Mẹ Têrêsa quan ngại về tỷ lệ tử vong và ám ảnh về cách chết của họ, ngược với quan niệm của người Hindu về sự tái sinh và sự chết là được giải thoát khỏi maya.

Mẹ Têrêsa lập một trại phong (Leprosarium) ở ngoại ô Calcutta, trên khu đất do chính phủ cấp. Bà là người lý tưởng hóa hơn là người lập dị. Người phong cùi bị coi thường không chỉ ở Calcutta mà ở khắp Ấn Độ, đến vài xu lẻ cũng không ai muốn bố thí cho họ. Ai cũng sợ bị lây nhiễm. Từ đó, người ta cũng có ánh mắt không thiện cảm với Mẹ Têrêsa.

Từ năm 1970, Mẹ Têrêsa trở nên một nhân vật nổi tiếng thế giới với các hoạt động nhân đạo cứu giúp người nghèo và những người sống trong hoàn cảnh tuyệt vọng, một phần cũng nhờ cuốn sách và bộ phim tư liệu tựa đề “Something Beautiful for God” (Điều tốt đẹp dành cho Chúa) của Malcome Muggeridge.

Bà không chỉ là nhà truyền giáo, mà còn là một “lương y” tận tình chăm sóc người phong cùi. Cách dấn thân của bà đã thay đổi người dân Calcutta, chính các nữ tu Dòng Loreto cũng trở lại tìm bà.

Dân Calcutta rất quý mến Mẹ Têrêsa. Các chị em ở trường nữ Loreto hồi thập niên 1970 đều trở nên các bà vợ tốt, có địa vị trong xã hội và tình nguyện hoạt động xã hội theo ý định của Mẹ Têrêsa, nhất là vì trại phong. Những năm sau, Mẹ Têrêsa rất tin tưởng những phụ nữ tốt nghiệp trường Loreto.

Số phận những người vận động luân lý dễ bị tổn thương vì các thay đổi của thói đạo đức giả hoặc tùy tiện của các chiến dịch. Những kẻ gièm pha đã kết tội Mẹ Têrêsa là phóng đại cảnh nghèo khổ của dân Calcutta. Mẹ Têrêsa luôn phải phải đấu tranh, dù vẫn bị người ta chỉ trích nhưng hoạt động của bà không suy giảm. Thậm chí bà còn thành công và cảm hóa chính những người đã nghi ngờ hoặc những người ghen ghét bà. Chính Mẹ Têrêsa đã thay đổi nhiều trái tim, đó là phép lạ thực sự vĩ đại.

Mẹ Têrêsa nói: “Ở Tây phương có sự cô đơn, điều mà tôi gọi là bệnh-phong-của-Tây-phương. Bằng nhiều cách, nó còn tệ hơn người nghèo của chúng tôi tại Calcutta. Tôi không bao giờ từ chối một đứa trẻ nào, không bao giờ, dù chỉ một”.

Năm 1950, cũng là năm Mẹ Têrêsa lập Dòng Truyền giáo Bác ái, ĐGH Piô XII đã phê chuẩn dòng này. Mẹ Têrêsa cũng đã từng có những lần sang thăm Việt Nam, chính Gx Thanh Đa (giáo hạt Gia Định, Saigon) đã được vinh dự đón tiếp Mẹ.

Vì tuổi cao sức yếu, Mẹ Têrêsa qua đời ngày 5-9-1997, sau hơn nửa thế kỷ phục vụ những người cùng đinh trong xã hội trong đức ái của Chúa Giêsu. Mẹ Têrêsa được ĐGH Gioan Phaolô II tôn phong chân phước ngày 19-10-2003.

Lạy Chân phước Têrêsa, xin ban cho chúng con trái tim nhân hậu như Mẹ để chúng con yêu thương mọi người, nhất là những người nghèo khổ, những người bị ruồng bỏ, những người bị ngược đãi,… Chúng con cầu xin nhân Danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

Kinh cầu Chân phước Mẹ Teresa Calcutta

Lạy Chúa Giêsu, xin giúp con truyền bá hương thơm của Ngài tới mọi nơi con đến. Xin đổ vào linh hồn con tràn ngập tinh thần và tình yêu của Ngài. Xin làm thấm nhuần và sở hữu con hoàn tòn để cả cuộc đời con là ánh sáng của Ngài. Xin chiếu sáng con và ở trong con để mỗi linh hồn con giao tiếp đều có thể cảm nhận sự hiện hữu của Ngài trong linh hồn con. Xin để các linh hồn nhìn lên và không còn thấy con nữa mà chỉ thấy Chúa Giêsu. Xin ở lại với con và con sẽ bắt đầu tỏa sáng như Ngài tỏa sáng, tỏa sáng để thành ánh sáng cho người khác. Amen.

+ Kinh cầu này dùng làm Tuần Cửu Nhật kính nhớ CP Mẹ teresa Calcutta từ 27-8 tới 5-9.

(http://catholicism.about.com/od/dailyprayers/qt/Daily-Prayer-Of-Mother-Teresa.htm)

TRẦM THIÊN THU chuyển ngữ

20 BÍ QUYẾT ĐỂ LOẠI TRỪ CĂNG THẲNG

20 BÍ QUYẾT ĐỂ LOẠI TRỪ CĂNG THẲNG     1/ Hãy yêu thích việc mình làm, bạn sẽ cảm thấy thú vị hơn và làm việc hiệu quả hơn    2/ Xét lại các yếu tố gây căng thẳng. Cố loại bỏ những yếu tố nào gây trói buộc và gây bực mình vô ích    3/ Đừng tìm cách làm vừa lòng tất cả mọi người. Bạn cần hiểu rằng: ta không thể nào làm được điều đó.    4/ Hãy sống đúng với con người mình. Tránh phí phạm năng lực một cách vô ích.    5/ Hãy biết làm vui lòng mình và lo nghĩ đến mình.    6/ Thỉnh thoảng hãy ra nơi thanh vắng và nhìn lại nội tâm mình.    7/ Hãy bộc lộ xúc cảm: Hãy nói ra những điều mình nghĩ, những điều mình cảm nhận.    8/ Muốn tránh dằn vặt suy tư, hãy đối diện với các vấn đề của mình. Đừng hoãn lại hôm sau những gì mình làm được hôm nay.    9/ Đừng để những thay đổi quan trọng trong cuộc sống xảy ra liên tục trong thời gian quá gần nhau. Những căng thẳng chồng chất sẽ làm bạn không đủ thời gian để giải quyết.    10/ Dành thì giờ để làm việc mình ưa thích, hoặc chỉ ngồi mà mơ mộng vẩn vơ.    11/ Mỗi ngày thực hiện hai lần thư giãn (mỗi lần 15 phút).     12/ Hãy tập thể dục, hãy làm tiêu hao bớt năng lượng. Hans Selye nói "Như khi ta đói thì ăn ngon miệng hơn, ta cần phải mệt thì nghỉ ngơi mới thoải mái trọn vẹn".    13/ Thỉnh thoảng để xe ở nhà mà đi bộ.    14/ Đừng hy sinh thì giờ nhàn rỗi của mình.    15/ Hãy sống điều độ, dùng thức ăn đầy đủ, đúng bữa và ngủ đủ giấc.    16/ Hãy bắt đầu với bữa ăn sáng đầy đủ chất bổ.    17/ Hãy mỉm cười! Tương quan của bạn với những người xung quanh sẽ tốt hơn.    18/ Hãy hít sâu vào khi mình bực bội. Khi chú ý đến hơi thở thì nỗi bực tức đã vơi đi một nửa rồi.    19/ Hãy học cách yêu thương (bằng những cử chỉ âu yếm). Tình yêu là liều thuốc an thần tốt nhất.    20/ Tránh xa tiếng ồn, đừng xem truyền hình trong khi ăn. Hãy tìm cho mình những giây phút thinh lặng và yên tĩnh.    ( Tác giả: David Niven, Ph. D.)

20 BÍ QUYẾT ĐỂ LOẠI TRỪ CĂNG THẲNG

1/ Hãy yêu thích việc mình làm, bạn sẽ cảm thấy thú vị hơn và làm việc hiệu quả hơn

2/ Xét lại các yếu tố gây căng thẳng. …Cố loại bỏ những yếu tố nào gây trói buộc và gây bực mình vô ích

3/ Đừng tìm cách làm vừa lòng tất cả mọi người. Bạn cần hiểu rằng: ta không thể nào làm được điều đó.

4/ Hãy sống đúng với con người mình. Tránh phí phạm năng lực một cách vô ích.

5/ Hãy biết làm vui lòng mình và lo nghĩ đến mình.

6/ Thỉnh thoảng hãy ra nơi thanh vắng và nhìn lại nội tâm mình.

7/ Hãy bộc lộ xúc cảm: Hãy nói ra những điều mình nghĩ, những điều mình cảm nhận.

8/ Muốn tránh dằn vặt suy tư, hãy đối diện với các vấn đề của mình. Đừng hoãn lại hôm sau những gì mình làm được hôm nay.

9/ Đừng để những thay đổi quan trọng trong cuộc sống xảy ra liên tục trong thời gian quá gần nhau. Những căng thẳng chồng chất sẽ làm bạn không đủ thời gian để giải quyết.

10/ Dành thì giờ để làm việc mình ưa thích, hoặc chỉ ngồi mà mơ mộng vẩn vơ.

11/ Mỗi ngày thực hiện hai lần thư giãn (mỗi lần 15 phút).

12/ Hãy tập thể dục, hãy làm tiêu hao bớt năng lượng. Hans Selye nói “Như khi ta đói thì ăn ngon miệng hơn, ta cần phải mệt thì nghỉ ngơi mới thoải mái trọn vẹn”.

13/ Thỉnh thoảng để xe ở nhà mà đi bộ.

14/ Đừng hy sinh thì giờ nhàn rỗi của mình.

15/ Hãy sống điều độ, dùng thức ăn đầy đủ, đúng bữa và ngủ đủ giấc.

16/ Hãy bắt đầu với bữa ăn sáng đầy đủ chất bổ.

17/ Hãy mỉm cười! Tương quan của bạn với những người xung quanh sẽ tốt hơn.

18/ Hãy hít sâu vào khi mình bực bội. Khi chú ý đến hơi thở thì nỗi bực tức đã vơi đi một nửa rồi.

19/ Hãy học cách yêu thương (bằng những cử chỉ âu yếm). Tình yêu là liều thuốc an thần tốt nhất.

20/ Tránh xa tiếng ồn, đừng xem truyền hình trong khi ăn. Hãy tìm cho mình những giây phút thinh lặng và yên tĩnh.

( Tác giả: David Niven, Ph. D.)

TỪ BỎ HẾT

TỪ BỎ HẾT

Suy Niệm:

Sống là chấp nhận từ bỏ.

Có những điều xấu phải từ bỏ
như tật nghiện thuốc lá, ma tuý, rượu chè, trụy lạc…
Cũng có điều tốt phải bỏ, để chọn một điều tốt hơn:
chọn nghề, chọn trường, chọn chỗ làm, chọn bậc sống…
Từ bỏ thường làm ta sợ và tiếc.
Bỏ chiếc giường êm để thức dậy đi lễ sáng.
Tắt tivi vì đến giờ đọc kinh tối gia đình.
Dành Chúa Nhật để học giáo lý và làm việc xã hội.
Nếu từ bỏ vì yêu, ta sẽ thấy nhẹ hơn, dễ hơn.
Người mẹ thức trắng đêm để đan nốt chiếc áo cho con.
Người mẹ là mẹ hơn qua những hy sinh vất vả.
Từ bỏ vì yêu chẳng bao giờ thiệt thòi, mất mát.
Cuộc sống văn minh cho ta nhiều chọn lựa.
Con người dễ chọn cái tầm thường hơn cái cao cả,
chọn khoái lạc phù du hơn hạnh phúc vững bền,
chọn lợi ích cho cá nhân tôi hơn là cho tập thể.
Xem ra con người thích cái dễ dãi hơn.

Kitô hữu là người đã chọn theo Ðức Giêsu.

Làm môn đệ Ngài là chọn đi vào đường hẹp, cửa hẹp.
Ngài đòi ta đặt tất cả dưới Ngài, yêu Ngài trên mọi sự,
trên những người thân yêu, trên của cải tinh thần, vật chất,
trên mạng sống mình, trên cả hiện tại tương lai.
Những thụ tạo trên thật đáng trân trọng,
nhưng chúng chỉ có giá trị tương đối
khi sánh với Ðức Giêsu, Con Thiên Chúa làm người.
Kitô hữu là người sống từ bỏ như Ðức Giêsu.
Ngài đã bỏ vinh quang thần linh để làm người như ta,
đã sống và đã hiến mạng sống vì yêu Cha và nhân loại.
Từ bỏ là đi vào cửa hẹp cùng với Ðức Giêsu.

 

Phép Rửa đã cho chúng ta trở thành môn đệ Ðức Kitô.

Nhưng để là môn đệ đích thực của Ngài,
chúng ta cần từ bỏ mãi cho đến khi nhắm mắt.
Từ bỏ phải là thái độ nội tâm cần gìn giữ luôn.
Chúng ta dễ nghiêng như tháp Pisa.
Ðiều hôm nay chưa dính bén, mai đã thấy khó gỡ.
Ðiều đã bỏ từ lâu, nay lại bất ngờ hấp dẫn.
Từ bỏ điều tôi có, và cứ có thêm mỗi ngày
thật là một cuộc chiến lâu dài và gian khổ.
Chúng ta không được nửa vời, lừng khừng, thỏa hiệp.
Tháp đã bắt đầu xây, cuộc chiến đã khai mào.
Không còn là lúc ngồi xuống mà tính toán nữa.
Cần đầu tư để xây tháp, cần dồn sức để tiến quân.
Cầu từ bỏ mọi vướng víu để tiếp tục trung tín.
Vẫn có những Kitô hữu chịu dở dang và bại trận,
vì họ không dám sống đến cùng ơn gọi làm môn đệ.

Từ bỏ là cách diễn tả một tình yêu.

Khi yêu người ta vui lòng từ bỏ tất cả.
Ước gì chúng ta vui khi gặp viên ngọc quý là Ðức Giêsu,
dám bán tất cả để thấy mình giàu có.

 

Cu Nguyn

Lạy Chúa Giêsu,

sống cho Chúa thật là điều khó.

Thuộc về Chúa thật là một thách đố cho con.

Chúa đòi con cho Chúa tất cả

để chẳng có gì trong con lại không là của Chúa.

Chúa thích lấy đi những gì con cậy dựa

để con thực sự tựa nương vào một mình Chúa.

Chúa thích cắt tỉa con khỏi những cái rườm rà

để cây đời con sinh thêm hoa trái.

Chúa cương quyết chinh phục con

cho đến khi con thuộc trọn về Chúa.

Xin cho con dám ra khỏi mình,

ra khỏi những bận tâm và tính toán khôn ngoan

để sống theo những đòi hỏi bất ngờ của Chúa,

dù phải chịu mất mát và thua thiệt.

Ước gì con cảm nghiệm được rằng

trước khi con tập sống cho Chúa

và thuộc về Chúa, thì Chúa đã sống cho con

và thuộc về con từ lâu. Amen.

 

Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ

So sánh GDP đầu người của Việt Nam với vài nước Á Châu

So sánh GDP đầu người của Việt Nam với vài nước Á Châu

Trần-Đăng Hồng, PhD

image

Hiện nay, năm 2013 nước Việt Nam giàu hay nghèo? Câu hỏi được trả lời trong bài đọc “So sánh GDP đầu người của Việt Nam với vài nước Á Châu cuả tác giả Trần-Đăng Hồng, PhD.

image

Ngày nay, người Việt nào cũng biết là Việt Nam còn nghèo. Chữ “giàu” hay “nghèo” chỉ diễn tả tình trạng định tính chung chung, ta không biết được giàu hay nghèo ở mức độ nào, vì vậy cần phải định lượng bằng con số để có thể so sánh dễ dàng.

Để so sánh mức sống (living standards) giữa các vùng hay quốc gia, các nhà kinh tế xử dụng chỉ số GDP đầu người (GDP per capita). GDP (Gross Domestic Product) là tổng sản phẩm nội địa tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi lãnh thổ hay quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm. GDP đầu người là số trung bình (bình quân) của GDP toàn quốc chia cho dân số. Để so sánh mức sống giữa các quốc gia, GDP đầu người phải được chuyển đổi theo cùng một hệ thống tiền tệ, US Dollar (US$). Tuy nhiên, mức sống tùy thuộc vào giá cả và hối xuất của mỗi quốc gia, để chính xác hơn, tính GDP đầu người theo sức mua tương đương (Purchasing Power Parity, PPP) trên cơ sở chênh lệch giá cả hàng hóa ở nước đó so với giá cả hàng hóa tương tự ở Hoa Kỳ.

Từ năm 2010, báo chí cho biết GDP toàn quốc của Trung quốc rất lớn, khoảng $5880 tỉ cho năm 2010, vượt qua Nhật Bản ($5470 tỉ), và nay đứng hàng thứ 2 sau Hoa Kỳ. Tuy đứng thứ 2 thế giới, nhưng mức sống của người Tàu còn rất nghèo so với người Nhật, vì GDP đầu người của Trung quốc chỉ $7.500 trong lúc của Nhật là $34.000 (4,5 lần cao hơn Trung quốc), chưa kể đến sự chênh lệch quá lớn giữa người nghèo và người giàu ở Trung quốc

Dựa vào chỉ số GDP công bố cho thời gian một hai thập niên qua, chúng ta biết Việt Nam hiện nay còn rất nghèo, nhưng không biết nửa thế kỹ trước Việt Namgiàu hay nghèo. May mắn, mới đây (2012), cơ quan Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) và Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF, International Monetary Fund) công bố chỉ số GDP đầu người cho 185 quốc gia, bắt đầu từ năm 1960 (1).

Vì không phải là chuyên gia về chính trị kinh tế, người viết bài này không dám lạm bàn về nguyên nhân hay chánh sách kinh tế. Phần này để bạn đọc tự tìm hiểu (hay đã hiểu). Thiển giả chỉ trình bày lại các dữ kiện khô khan của số liệu do WB và IMF cung cấp bằng các biểu đồ dễ dàng theo dõi hơn.

Việt Nam năm 1960

image

Biểu đồ 1. So sánh GDP (US$) đầu người giữa vài quốc gia Á châu năm 1960 (Vẽ từ tài liệu 1)

Theo biểu đồ 1, vào thời điểm 1960, trong số 10 quốc gia Á châu, Việt Nam Cộng Hòa (VNCH, South Vietnam, 223$) có GDP đầu người đứng sau Singapore (395$), Malaysia (299$), Philippines (257$), nhưng nhiều  hơn Nam Hàn (155$), hơn gấp đôi Thailand (101$), gấp 2,4 lần Trung quốc (92$), gấp 2,7 lần Ấn độ (84$), và gấp 3 lần Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (North Vietnam, 73$).

Trong thời gian từ 1954 đến 1975, năm 1960 là năm VNCH có nền kinh tế huy hoàng nhất. Vào năm này VNCH xuất cảng (xuất khẩu) tổng cộng 84 triệu US$, gồm 2 sản phẩm chánh là cao su (40 triệu US$) và gạo (27,7 triệu US$).  Riêng về xuất cảng gạo, năm 1960 là đỉnh cao nhất kể từ 1955 với khoảng 340.000 tấn, nhưng giảm dần sau đó, và từ 1965 Nam VN phải nhập cảng (nhập khẩu) 271.000 tấn, năm 1966 khoảng 434.000 tấn, và 1967 khoảng 749.000 tấn gạo (3). Tổng sản lượng quốc gia VNCH năm 1960 là 82 tỉ đồng VN, trong số này gồm có 4,481 tỉ đồng (5,5%)  là tiền viện trợ (3). Hối xuất chính thức trong đầu thập niên 1960 là 1US$ = 118 đồng Ngân Hàng Quốc Gia VN (VNCH, South Việt Nam), trong lúc hối xuất chợ đen năm 1968 là 235-245 đồng (3).

Cũng cần nhắc lại là thời điểm 1960, chiến tranh du kích đã phá hủy khá nhiều nền kinh tế ở nông thôn của Miền Nam, nhất là sản xuất cao su và lúa gạo. Theo tài liệu 2, từ 1955 đến 1961, chính phủ VNCH đã gia tăng đầu tư, nhờ vậy kỹ nghệ (công nghiệp) và nông nghiệp phát triển mạnh, nhưng sau 1961, các yếu tố trên bị suy giảm vì chiến tranh. Vì vậy, năm 1967, lợi tức đầu người (income per capita) Việt Nam Cộng Hòa giảm xuống 126 US$, trong lúc Thái Lan tăng lên 141 US$ (3).

Việt nam trước 1960

Câu hỏi là trước 1960, Việt Nam có nền kinh tế ra sao? Theo Anne Booth (2003), vì hậu quả của đệ nhị thế chiến và chiến tranh dành độc lập sau đó, cho tới năm 1960, vài nước Á châu như Indonesia, Miến Điện và Việt Nam vẫn chưa khôi phục lại GDP đầu người của thời tiền chiến.

Chẳng hạn, Miến Điện có thời kỳ kinh tế huy hoàng nhất là năm 1929 có GDP cao hơn năm 1960 tới 68%. Riêng Việt Nam, đặc biệt là Nam Kỳ có thời kỳ kinh tế huy hoàng nhất là năm 1938, có GDP cao hơn năm 1960 là 69%. Vì Đệ nhị thế chiến (1939-1945) tiếp theo chiến tranh với Pháp (1945-1954) kinh tế Việt Nam kiệt quệ, suy giảm nặng nề, mải tới năm 1956 kinh tế mới bắt đầu tăng trưởng trở lại ở Miền Nam, và năm 1960 Việt Nam Cộng Hòa chỉ mới phục hồi được 60% của GDP đầu người của năm 1938 (4).

Như vậy, ở cuối thập niên 1930s, Việt Nam có một nền kinh tế hùng mạnh có hạng của Á Châu, chỉ đứng sau Nhật Bản, có lẻ ngang ngửa với Malaysia (lúc này Singapore còn là lãnh thổ của Malaysia), Philippines, và hơn hẳn các quốc gia khác như Thái Lan, Trung quốc, Triều Tiên, Ấn Độ và Indonesia.

GDP đầu người của Việt Nam và vài nước Á Châu từ 1980 đến 2011

Việt nam thống nhất lãnh thổ từ sau biến cố 30/4/1975. WB không có công bố số liệu GDP của Việt Nam trong 4 năm từ 1976 đến 1979. Vì vậy, ở đây chỉ trình bày từ năm 1980 cho tới nay (2011).

Biểu đồ 1 trình bày GDP đầu người của 7 quốc gia Á Châu  trong thời gian 31 năm kể từ 1980 đến 2011.

Trong thời gian 1980 – 2011, có 3 thời kỳ khủng hoảng kinh tế thế giới gồm 1984-1986, 1997-2003 và 2008. Mỗi kỳ khủng hoảng phải mất vài ba năm mới phục hồi lại. Chẳng hạn cuộc khủng hoảng 1997, phải mất 6 -7 năm Singapore mới phục hồi, nhưng chỉ 1 năm với khủng hoảng 2008, trong lúc Nam Hàn với khủng hoảng năm 2008 tới nay mới phục hồi. Thái Lan, Indonesia, Philippines và Việt Nam coi như không bị ảnh hưởng gì (biểu đồ 1).

Theo biểu đồ 1, mọi quốc gia đều có tăng trưởng, nhưng với vận tốc tăng trưởng khác nhau. Nếu tính theo vận tốc tăng trưởng thì Singapore và Nam Hàn mạnh nhất, kế là Malaysia. Mặc dầu Nam Hàn có vận tốc tăng trưởng cao hơn chút ít, nhưng mức khởi đầu quá thấp, nên Nam Hàn vẫn chưa thể nào bắt kịp vàSingapore vẫn còn tiếp tục dẫn đầu. Còn Việt Nam phát triển chậm nhất, vẫn ở vị trí chót trong số 7 quốc gia Á Châu nói trên (biểu đồ 1).

image

Biểu đồ 2. Biến đổi chỉ số GDP đầu người (US$) của Singapore (1), Nam Hàn (2), Malaysia (3), Thái Lan (4), Indonesia (5), Philippines (6) và Việt Nam (7) qua thời gian 31 năm kể từ 1980 đến 2011.

Thay đổi vị thứ. Trong vòng 31 năm qua, Singapore vẫn giữ hàng đầu. Tuy nhiên, Nam Hàn nhảy hạng từ thứ 3 của năm 1980 lên hạng 2 vào năm 1985, và Malaysia tuột hạng từ 2 xuống  3. Philippines từ hạng 4 xuống hạng 6  trong lúc Thái Lan nhảy từ hạng 5 lên hạng 4 từ 1987, và Indonesia nhảy lên hạng 5 từ 2005. Việt Nam vẫn tiếp tục giữ hạng chót trong số 7 quốc gia nói trên.

Cách biệt GDP của vài quốc gia lân cận với Việt Nam.

Bảng 1. Số lần cách biệt GDP đầu người giữa một quốc gia đối chiếu với ViệtNam (tỉ số của GDP quốc gia đối chiếu/GDP của Việt Nam) ở hai thời điểm 1980 và 2011. Cột 4 là số lần gia tăng GDP của năm 2011/GDP của năm 1980 của một quốc gia. Cột 5 là số năm cần thiết để GDP tăng lên gấp đôi…

image

Theo Bảng 1, GDP đầu người  của Singapore nhiều 9,25 lần GDP của Việt Nam vào năm 1980, và chênh lệch tới 35,86 lần vào năm 2011. Thái Lan và Indonesiachỉ hơn Việt Nam chút ít vào năm 1980 (1,35 và 1,14 lần), nhưng nay Indonesiagấp 2,5 lần và Thái Lan gấp gần 4 lần Việt Nam.

Trong vòng 31 năm qua, GDP của Nam Hàn gia tăng 13 lần, tức chỉ cần 4,7 năm GDP tăng gấp đôi, Singapore 10 lần tức mỗi 6 năm GDP gấp đôi, Thái Lan 7,8 lần trong khi Việt Nam chỉ 2,7 lần, tức Việt Nam phải mất hơn 23 năm GDP mới tăng gấp đôi (Bảng 1). Như vậy, càng về sau Việt Nam càng tụt hậu.

Việt Nam có thể bắt kịp Thái Lan không?

Nhìn biểu đồ 2, chúng ta thấy là Việt Nam sẽ không bao giờ bắt kịp được Philippines, Indonesia, Thái Lan, chứ đừng mơ tưởng bắt kịp Malaysia, Nam Hàn hay Singapore.

Để có thể tiên đoán chính xác, tác giả dựa vào số liệu do IMF cung cấp trong 10 năm qua (2002-2011) để vẻ lại mức tăng trưởng GDP đầu người cho mỗi quốc gia. Sau đó, dùng máy vi tính thử nghiệm các mô hình toán học để vẻ nhiều đường biểu diễn, rồi chọn một đường biểu diễn nào phù hợp có độ chính xác cao nhất. Kết quả cho thấy là các đường biểu diễn cho các quốc gia trình bày trong biểu đồ 3 có độ chính xác cao nhất (R2 từ 0.944 cho Malaysia và 0.988 cho ViệtNam). Ở mỗi đường biểu diễn, chương trình toán học thống kê cũng cho một phương trình. Giải đáp bài tính lần lượt giữa hai phương trình của hai quốc gia để tìm ẩn số thời gian nơi hai đường biểu diễn gặp nhau, tức là thời kỳ GDP của quốc gia này bắt kịp một quốc gia khác.

image

Biểu đồ 3. Đường biểu diễn biến đổi chỉ số GDP đầu người (US$) của Singapore (1), Nam Hàn (2), Malaysia (3), Thái Lan (4), Indonesia (5), Philippines (6) và Việt Nam (7) qua thời gian 10 năm từ 2002 đến 2011. Đường biểu diễn do chương trình toán học thống kê cho kết quả phù hợp với các số dữ kiện với độ chính xác rất cao (R2 từ 0.944 cho Malaysia và 0.988 cho Việt Nam).

Kết quả phân tích toán học bằng máy vi tính cho thấy đường biểu diễn tăng trưởng GDP đầu người của mỗi quốc gia không phải là một đường thẳng (linear) như mắt ta thấy, mà là một đường cong theo hình dạng của một cánh parabole (parabolic curve). Càng xa trục tâm 0, đường biểu diễn càng cong lên hơn, tức vận tốc tăng trưởng theo phương trình lũy tiến.

image

Biểu đồ 4. Đường biểu diễn tiên đoán GDP đầu người trong thời gian 50 năm tới (trục tâm 0 là năm 2013) cho Singapore (1), Nam Hàn (2), Malaysia (3), Thái Lan (4), Indonesia (5), Philippines (6) và Việt Nam (7). Tiên đoán dựa theo vận tốc tăng trưởng của thời gian 2002-2011 của biểu đồ 3.

Cần nhớ rằng ở thời điểm 0 (tức năm 2013), các quốc gia không khởi hành cùng ở mức 0, mà ở những vị trí khác nhau trên trục tung (Y). Chẳng hạn Việt Nam có tọa độ 1.660 US trong lúc Singapore ở tọa độ 50.899 US$, tức GDP hiện có của các nước này ở thời điểm 2013. Ngoài ra, vận tốc lũy tiến (độ cong) của mỗi quốc gia cũng đều khác nhau.

Theo tiên đoán của biểu đồ 4, Indonesia sẽ bắt kịp Thái Lan trong 23 năm tới (tức 2036) và kịp Malaysia vào 2095. Nam Hàn có vận tốc tăng trưởng lũy tiến chỉ hơn Singapore chút đỉnh nên Nam Hàn vẫn chưa bắt kịp trong thế kỷ 21.

Riêng phần Việt Nam, vì vận tốc gia tăng thấp hơn mọi quốc gia, nên tiếp tục ở hạng chót, không những không bắt kịp được nước nào mà càng ngày càng tụt hậu, càng nghèo nếu so với các nước trên.

Biểu đồ 5 trình bày dữ kiện cung cấp bởi IMF tiên đoán tăng trưởng GDP từ 2011 đến 2017, cũng xác định rằng Việt Nam sẽ không bao giờ bắt kịp các quốc gia nói trên, nếu vẫn tiếp tục tăng trưởng với cường độ hiện tại (vận tốc ban đầu = (1374 – 440)/10 = tức tăng thêm 93.4 US/năm).

image

Biểu đồ 5. Tiên đoán GDP đầu người do IMF  thực hiện cho thời kỳ 2011 – 2017 cho Malaysia (3), Thái Lan (4), Indonesia (5), Philippines (6) và Việt Nam (7). Vẽ từ tài liệu của IMF (1).

Vì vậy, muốn bắt kịp các nước nói trên, Việt Nam phải có vận tốc tăng trưởng ban đầu tăng cao hơn nữa, trước nhất để bắt kịp Philippines, sau mới tới Thái Lan.

Sau đây là các bài tính với giả sử rằng Việt Nam từ năm 2013 lần lượt đạt được vận tốc tăng trưởng GDP từ thấp lên cao, trước nhất bằng Philippines, rồi Thái Lan, rồi tới Indonesia, Malaysia, Singapore và Nam Hàn.


Nếu Việt Nam tăng vận tốc tăng trưởng GDP ban đầu bằng Philippines (tăng thêm từ 93,4 lên 133 US$/năm), Việt Nam vẫn tiếp tục tụt hậu, vì vậy muốn bắt kịp Philippines phải có vận tốc tăng trưởng cao hơn, càng cao hơn thì bắt kịp sớm hơn.


Nếu Việt Nam có vận tốc tăng trưởng ban đầu và vận tốc lũy tiến (độ cong) bằng Indonesia hiện nay (ban đầu tăng thêm 259 US, tuy thấp nhưng lũy tiến tăng nhanh, xem đường cong ở biểu đồ 5), Việt Nam sẽ bắt kịp Philippines vào năm 2023, bắt kịp Thái Lan vào năm 2040, và bắt kịp Malaysia vào 2093.


Nếu Việt Nam có vận tốc tăng trưởng ban đầu bằng Thái Lan (tăng thêm 337,5 US$/năm, cao 3,6 lần hơn VN), Việt Nam sẽ bắt kịp Philippines trong 4,5 tới, tức giữa năm 2017, nhưng không bao giờ bắt kịp Thái Lan.

Nếu Việt Nam có vận tốc tăng trưởng bằng Malaysia hiện nay (tăng thêm 600 US/năm), Việt Nam sẽ bắt kịp Philippines vào năm 2015, Indonesia vào 2019, Thái Lan năm 2028, nhưng không bắt kịp Malaysia, Nam Hàn và Singapore.

Nếu Việt Nam có vận tốc tăng trưởng của Nam Hàn hiện nay (tăng thêm 1583 US$/năm), Việt Nam sẽ bắt kịp Philippines và Indonesia vào năm 2014, Thái Lan năm 2017, Malaysia vào 2022, Singapore vào 2117 (104 năm nữa).


Nếu Việt Nam có vận tốc tăng trưởng bằng Singapore hiện nay (tăng thêm 2724 US$/năm), Việt Nam sẽ bắt kịp Philippines vào giữa năm 2014, Indonesia vào cuối 2014, Thái Lan năm 2018, Malaysia vào 2020, nhưng không bắt kịp Nam Hàn và Singapore.


Trên đây chỉ là giả thuyết, bởi vì muốn đạt được vận tốc tăng trưởng ban đầu bằng Philippines (tăng thêm từ 93 lên 133 US$/năm) cũng vất vả lắm rồi.

image

Ông Lý Quang Diệu và sách mới xuất bản đầu năm 2013 “Hãy cảnh giác với Trung Quốc”.

Qua ba thập kỷ nhiệm quyền của Lý Quang Diệu, Singapore từ một quốc gia đang phát triển nay đứng trong hàng ngũ những quốc gia phát triển nhất thế giới, mặc cho dân số ít ỏi, diện tích nhỏ bé và tài nguyên thiên nhiên nghèo nàn. Lý Quang Diệu thường nói rằng tài nguyên duy nhất của Singapore là người dân và tinh thần làm việc hăng say của họ. Ông nhận được sự kính trọng của nhiều người Singapore, đặc biệt là những người lớn tuổi, họ luôn nhớ đến khả năng lãnh đạo của ông trong thời kỳ độc lập và tách rời khỏi Malaysia. Lý Quang Diệu vẫn thường được xem là nhà kiến trúc cho sự phú cường của Singapore ngày nay, mặc dù vai trò này có sự đóng góp đáng kể của phó thủ tướng, Tiến sĩ Goh Keng Swee, nhân vật chịu trách nhiệm xây dựng và phát triển nền kinh tế Singapore.

image

10 quốc gia có GDP đầu người dẫn đầu thế giới năm 2030 và 2040

Sau đây là danh sách của Citygroup công bố vào tháng 2/2011 tiên đoán về 10 quốc gia và lãnh thổ (như Hồng Kông) có GDP đầu người dẫn đầu thế giới vào năm 2030 và 2040 (1).

Theo bảng xếp hạng tiên đoán này, Singapore dẫn đầu thế giới, tiếp theo làNorway, Switzerland và Canada trong năm 2030 và 2040. Nam Hàn từ vị trí 9 năm 2030 sẽ lên vị trí 6 năm 2040, Hoa Kỳ tụt từ thứ 7 xuống thứ 9, trong lúc Hồng Kông không còn nằm trong danh sách “Top Ten” của năm 2040, mà thay thế bằng Anh quốc.

image

Tài liệu tham khảo

1.List of countries by past and future GDP (nominal) per capitahttp://en.wikipedia.org/wiki/List_of_countries_by_past_and_future_GDP_(nominal)_per_capita

2.Economy of the Republic of Vietnam

http://en.wikipedia.org/wiki/Economy_of_the_Republic_of_Vietnam

3. Timothy Hallinan (1969). Economic prospects of the Republic of Vietnam.www.rand.org/pubs/papers/2008/P4225.pdf

4. Tran Van Tho (2003). Economic development in Vietnam during the second half of the 20th century: How to avoid the danger of lagging behind. In: The Vietnamese Economy: Awakening the dorming dragon, ed. by Binh Tran Nam and Chi Do Pham, Routled Curzon, 2003, Chapter 2.

5. Anne  Booth (2003). The Burma Development Disaster in Comparative

Historical Perspective. SOAS Bulletin of Burma Research, Vol. 1, No., 1, Spring 2003, ISSN 1479-8484

Trần-Đăng Hồng, PhD

Cám ơn Anh Lê Khôi gởi

CHỈ CẦN CA NGỢI CHÚA RỒI ƠN LÀNH SẼ ĐẾN – II

CHỈ CẦN CA NGỢI CHÚA RỒI ƠN LÀNH SẼ ĐẾN – II

Phan Sinh Trần. 09/2013.

1.Ca Ngợi Chúa có tác dụng chữa lành, bạn biết rồi nhưng mà Ca ngợi Chúa cũng có tác dụng chữa cho liệu pháp chữa lành nữa. Có bao giờ Bạn cầu nguyện cho ai đó theo yêu cầu của họ mà bị bế tắc không kết quả, chắc là cảm giác của Bạn khi đó rất là ngỡ ngàng và hoang mang nữa phải không? Chúng tôi cũng đã có kinh nghiệm này.

Vào năm 2009, Chị Maria M, một người rất nhân hậu và nhiệt thành trong Giáo xứ Lord Incarnation, Houston, Texas. Chị thường đi viếng kẻ liệt và khi bệnh nhân hấp hối.Chị sẽ ở với người sắp ra đi cho đến khi họ về với Chúa, cho dù thời gian là 2 ngày, 3 ngày hay 1 tuần, dù lâu bao nhiêu đi nữa, chị túc trực đọc Kinh Thánh cho bệnh nhân. Ngồi bên cạnh giường bệnh, Chị an ủi bệnh nhân rồi thầm thỉ lần hạt và cầu nguyện cho họ. Có khi Chị phải nghỉ làm để có giờ gần gũi kẻ hấp hối. Chị M đã nói, đó là giờ phút quyết định của đời người khi mà Quỉ sẽ dồn hết sức để cám dỗ, làm nản lòng, gieo nghi ngờ tình thương của Chúa nơi bệnh nhân, nó mong lôi kéo cho bằng được linh hồn này về hỏa ngục với nó, cho nên đây là lúc mà người sắp ra đi cần đến sự hỗ trợ của Thiên Thần bản mệnh, cần lời cầu bầu của Đức Mẹ của Các Thánh và của mình nhiều nhất.

Rồi một ngày nọ, điều không may đã xảy ra , Chị bị suy nhược thần kinh nặng vì đã bị chồng bỏ rơi và đi lấy vợ khác, chị bị mất ngủ, các bắp thịt và tay chân đều đau, bệnh tình càng ngày càng nặng đến độ chị không nhắc nổi tay, chân để đi làm. Chị sống rất cô đơn ở nhà có một mình thôi. Điều đáng lo là nếu Chị không đi làm được thì có thể Chị sẽ bị mất nhà vì không có tiền đóng Mortgage cho nhà băng, đó là chưa kể đến tình trạng một thân một mình không có ai săn sóc và giúp đỡ Chị !

Dĩ nhiên là Chị đã đến Nhóm Cầu Nguyện Thánh Linh và các Hội Đoàn quen biết để nhờ chúng tôi cùng cầu nguyện xin Chúa Giê Su chữa lành cho, chúng tôi cầu nguyện cho Chị đã mấy lần, tình trạng bệnh vẫn kéo dài theo thời gian, đã 8-9 tháng trôi qua. Cuối cùng thì Chị mất ngủ hoàn toàn, không ăn được gần như không đi lại được. Chúng tôi càng cầu nguyện thì bịnh tình của Chị càng nặng, đến độ tôi mắc cỡ mỗi khi nhìn thấy Chị từ xa, lòng tôi vừa thẹn thùng vừa cảm thấy mình vô duyên! Thật là bế tắc !

Rồi hôm đó, là buổi tĩnh tâm Thánh Linh trong Giáo Xứ, chúng tôi ca ngợi Chúa rất hứng khởi với nhứng bài hát ý nghĩa này:

…Lời ca vang cánh đồng bên muôn hoa tươi hồng, tôi vui mừng luôn trong Đức Chúa.

In moment like this, I lift up my hand, I lift up my soul to the Lord.

Shine Jesus shine, Lạy Chúa, Ánh Sáng của Tình Yêu Chúa đang chiếu tỏa trong bóng tối …

Trong buổi ca ngợi này, ai cũng cảm thấy tình thương và sự hiện diện của Chúa, chúng tôi được mạnh mẽ trong đức tin. Thật là đúng lúc, Chị Maria đã đến, xin chúng tôi đặt tay cầu nguyện để có đủ sức đi đến Bác Sĩ và gặp được “thầy hay, thuốc đúng”. Chúng tôi họp lại thành một vòng tròn nhỏ, lòng tin tưởng dứt khoát và mạnh mẽ, chúng tôi cùng đặt tay cầu nguyện, xin Chúa cất đi bệnh tật cho Chị trong danh yêu kính đầy quyền năng của Chúa Giê Su, chúng tôi cầu nguyện tha thiết trong lòng cảm phục sự đẹp đẽ, nhân từ và thương xót của Chúa kính yêu. Ngay khi đó Chúa đã cho Chị hết đau nhức toàn thân, và lúc sau, khi Chị đi đến phòng mạch, Bác Sĩ khám và khuyên Chị ngưng dùng thuốc vì không thấy cần thiết nữa. Cảm tạ Chúa, năm ngoái, tôi đã trông thấy Chị, vẫn tiếp tục giúp hội chợ Giáo Xứ, Chị tươi vui, nhẩy múa và đùa giỡn như một cô gái 18 và làm việc nhiều như một cô gái đôi mươi mà không biết mệt dù tuổi chị đã lớn hơn gấp đôi con số đó.

Ca ngợi Chúa đã đem lại cho chúng tôi sức mạnh và có thể chữa cho sự cầu nguyện yếu và lu mờ trước đó của Nhóm Tôi. Cũng có thể lý do khác nữa là Chúa dành đến ngày Ca Ngợi để ban quà cho con cái người và dậy dỗ chúng tôi về lòng kiên nhẫn, cậy trông . Ca Ngợi Chúa có thể gia tăng mạnh mẽ lòng Tin, Yêu Chúa vốn là Sức mạnh cho lời cầu nguyện được có kết quả. Ca ngợi Chúa làm cho chúng tôi nên mạnh mẽ trong cầu nguyện và được Chúa nhận lời.

2. Sự Ca Ngợi Chúa một cách hết lòng của mình có thể biến đổi tâm hồn của người khác cách lạ lùng. Điều này thì có lẽ nhiều người trong chúng ta đã có kinh nghiệm, nhất là nơi các Bà Mẹ khi họ ca ngợi Chúa và dâng trình con cái mình cho Chúa.

Cuối năm 2010, Nhóm chúng tôi có kỳ tĩnh tâm 3 ngày cuối tuần tại trung tâm tĩnh tâm Renewal Centre, Dickinson, Texas do Cha Giu Se Nguyễn Thiện Lãm hướng dẫn. Bước vào Thánh lễ, chúng tôi hân hoan ca ngợi Chúa với tất cả sự hưng phấn của tâm hồn, với tất cả sự tin tưởng và phó thác . Chúng tôi cảm thấy Chúa thật là gần mình, lòng thanh lắng một cách nhẹ nhàng và rất an vui, sôt sắng, chúng tôi biết Chúa đang hiện diện trong Thánh Lễ này và như đã có lần xảy ra, Chúa sẽ có quà cho chúng ta.

Đúng là như vậy! Đến phần truyền phép Mình Máu thánh Chúa, chúng tôi thấy Chúa đang làm việc với một Anh Thanh Niên khoảng 25, 27 tuổi, to cao , vạm vỡ, anh đang quì và run rẩy toàn thân, Anh rên rỉ và nhăn nhó… Khi Cha dâng lễ xong và chuẩn bị đặt tay cầu nguyện thì Anh đã ngã ra và được bình an trở lại, anh nghỉ ngơi trong Chúa và thầm thì với Chúa .

Sau đó một vài tuần , anh có đến Nhóm tôi trong tình trạng rất an vui và làm chứng cho Chúa. Anh H cho biết mình là một người trong một băng đảng qui tụ khoảng trên một tá thanh niên trong khu vực, băng này thành lập đã mấy năm, bắt đầu khi Anh còn đang đến trường ở bậc Trung Học, thấy có những thanh niên Mỹ đen ăn hiếp người khác, anh tụ họp bạn bè lại để đánh trả, rồi từ từ đã đi đến chỗ phạm vào các hành vi đánh lộn và thao túng khác. Anh bỏ nhà ra đi, sống với băng nhóm của mình, Anh cho biết đã trải qua đủ mọi tội và từng sử dụng mọi thủ đoạn, rành rẽ từng loại vũ khí, dao, súng, … Rồi đến hôm đó, nể Mẹ năn nỉ và liên lỉ cầu nguyện ngày đêm cho Anh với Chúa và Đức Mẹ nên Anh H đã đến buổi tĩnh tâm, anh tham dự cho có, nhưng mà dần dần thì thấy quan tâm hơn, trong lúc Mình Thánh Chúa hiện diện, Chúa bắt đầu chiếu lại cuốn phim “lich sử đời Tôi” của chính Anh cho Anh xem, trong đầu Anh H diễn lại theo tuần tự thời gian các diến tiến manh động, bạo lực, với cảnh nạn nhân của anh thiệt thòi ra sao, đau khổ đến mức nào, cảnh mất mát của gia đình, … tất cả đã làm cho Anh thật là hối hận và đau đớn đến nhỏ nước mắt. Anh xin lỗi Chúa và quyết tâm không lầm lỗi nữa. Chúa đã nghe, đã tha thứ và ban cho Anh ơn đổi mới trong Chúa Thánh Linh. Anh cho biết, từ ngày đó, anh xa lánh băng nhóm, dù bạn bè có năn nỉ và rủ rê Anh, lòng anh luôn vui và bằng an. Chúa còn làm cho anh say mê đọc Kinh Thánh ngày đêm, có khi thức đọc Kinh Thánh đến quá khuya mà không hay! Thật là ngộ nghĩnh vì trước đó hầu như không bao giờ Anh muốn đụng tới sách vở, dù chỉ một vài dòng cũng không. Trong đời Anh cả khi người thân ra đi anh cũng không thể khóc mà nay anh lại có lúc mủi lòng. Ca ngợi Chúa làm biến đổi lòng Người, Chúa đã ra tay ban ơn khi ta đang ca ngợi Chúa và hiệp nhất với Ngài, trước khi chúng ta kịp xin ơn thì Ngài đã ban ơn hoán cải và đổi mới cho đối tượng rồi. Từ hung dữ thành hiền lành, từ thờ ơ thành sốt sắng, từ tham lam thành thật thà , chân thành… Ca Ngợi Chúa Thật là tuyệt vời phải không thưa Bạn ?

Thực ra Ca ngợi còn có nhiều kết quả cho cả nhà Anh H. Trước hết là Mẹ của Anh, bà N cũng được ơn yêu mến, đổi mới nhờ bền tâm trong 2 năm trời, tiếp tục ca ngợi Chúa trong Nhóm Thánh Linh của Giáo xứ. Rồi ơn đổi mới lan sang Mẹ Chồng khi bà tham dự các buổi Ca Ngợi Chúa cùng với con dâu, hai mẹ con trở nên yêu nhau thắm thiết như mẹ con ruột, đi đâu cũng có nhau như cặp uyên ương thật tâm đắc, sau đó, ơn đổi mới lan sang cho cả 3 người con trong nhà. Hiện nay, ơn đổi mới đang từ từ lan sang cho Chồng chị N . Tất cả bắt đầu từ sự Ca Ngợi Chúa trong Nhóm Thánh Linh và Cầu nguyện liên lỉ ở nhà.

Chúa cũng muốn ban ơn đổi mới cho gia đình Bạn nếu ta để hết lòng Ca Ngợi và Cầu Nguyện.

Tôi cho rằng Bạn biết bí quyết của sự Ca Ngợi là mặc lấy tinh thần đơn sơ, bé nhỏ của mình với Chúa và với Anh Em. Sự ca ngợi càng đơn sơ thì càng được Chúa yêu thích. Phần tôi cũng vậy, nửa đêm chợt thức giấc, nhớ đến Chúa Giê Su tôi thường hay thầm thì: “ Giê Su, thánh khiết của con, đầy lòng thương xót của con, gia tài của con. Con tôn thờ và cảm tạ Ngài”. Trong giờ phút kết hiệp với Chúa qua bí tích Thánh Thể, có lúc ta thảng thốt với Chúa: “Giê Su, (Chúa) là tất cả của con !”

Còn khi nào yêu Chúa quá thì sao ? Khi đó tôi và có khi một số trong các Bạn nữa phải không? Chúng ta sẽ nói đùa với Chúa, lời thì thầm, chỉ đủ cho một mình Chúa nghe mà thôi : “Cục vàng của con !!!”

CÁI NGUY HẠI CỦA PHƯƠNG PHÁP YOGA

CÁI NGUY HẠI CỦA PHƯƠNG PHÁP YOGA

Soeur Jean Berchmans Minh Nguyệt

Trung tuần tháng 12 năm 1989, Bộ Giáo Lý Đức Tin đã gửi cho các Giám Mục Công Giáo trên toàn thế giới một bức thư, lưu ý về việc suy niệm trong Kitô Giáo. Hiện nay có nhiều tín hữu Kitô dùng những phương pháp như nhập thiền, Yoga của các trường phái Ấn Giáo và Phật Giáo để giúp cầm trí cầu nguyện. Tuy nhiên vấn đề được đặt ra: khi thực hành phương pháp chiêm niệm của các tôn giáo Đông phương, các tín hữu Công Giáo đi tìm bầu khí thinh lặng, hay họ cũng tìm đến sự trống rỗng tuyệt đối, hoặc là tìm về cái ngã, cái tôi của mình?? Bởi vì bản chất của sự cầu nguyện hệ tại cuộc đối thoại với Chúa. Con người giữ im lặng ngõ hầu có thể lắng nghe và đáp lại Tiếng Chúa. Trong khi đó, một số phương pháp suy niệm theo các tôn giáo Đông phương chỉ nhằm tạo ra sự trống rỗng tuyệt đối, chứ không đả động gì đến việc gặp gỡ đối thoại với Thiên Chúa. Và đó chính là điều mà văn kiện về Suy Niệm Kitô Giáo của Bộ Giáo Lý Đức Tin muốn lưu ý. Sau đây là chứng từ của ông Christian Marie, tín hữu Công Giáo Pháp, về cái nguy hại của phương pháp Yoga. Ông viết:
Đọc xong văn kiện về Suy Niệm Kitô Giáo, tôi muốn bày tỏ vài thiển ý của riêng tôi. Yoga là một trong những phương pháp đông phương của thần bí triết học đang rất thịnh hành. Nhưng bên trong phương pháp này lại ẩn chứa một hiểm nguy mà ít người ngờ tới, nên tự để mình bị lôi cuốn vào vòng lừa đảo của nó.
Yoga là phương pháp khổ chế nhằm dẫn đưa tâm trí con người đến trạng thái của lương tâm tinh tuyền, của sự hiện hữu tinh tuyền. Đó là trạng thái mà con người ý thức về cái tôi của mình, nghĩa là về điều siêu việt hóa sự hiện hữu, trừu tượng hóa sự hiện hữu. Yoga khiến con người ý thức về cái ngã, cái vô thể, cái hòa lẫn trong khoảng không, bởi vì, nó không có chất thể, nghĩa là không có bản thể, không có một hiện hữu nào hết từ chính nó. Nói tắt một lời, Yoga trước tiên là một học thuyết của trạng thái trống không, một học thuyết của trống rỗng tuyệt đối. Mục đích tối hậu của Yoga là dẫn đưa linh hồn con người đến chỗ hòa lẫn, hiệp nhất với cái vô thể. Thế nhưng điều này không thể nào xảy ra được, do đó có thể kết luận rằng: Yoga là một phương pháp chỉ có thể thực hiện được với sự trợ giúp của các quyền lực quỷ dữ. Cái hiểm nguy là ở chỗ trạng thái tinh tuyền mà Yoga muốn đạt tới trở thành đối thủ của Thần Linh và nhường chỗ cho tên quỷ ngày xưa trong vườn địa đàng đã quyến rũ bà Evà rằng: “Các người sẽ trở thành những thần linh!”
Nói theo triết học thì Yoga được trình bày như một chối bỏ tất cả mọi hình thức của hữu thể. Và chính khi chối bỏ hữu thể cùng sự hiện hữu mà đồ đệ của trường phái Yoga phải đạt đến cái gọi là lương tâm tinh tuyền. Như thế Yoga là một loại triết học của vô thể. Để làm nổi bật ý tưởng này, xin trích dẫn vài tư tưởng của các triết gia đề cao chủ thuyết vô thể. Đó là ba nhà triết học hiện sinh vô thần nổi danh: Friedrich Nietzsche (1844-1900), người Đức; Jean Paul Sartre (1905-1980), người Pháp và Adolf Hitler (1889-1945), người Đức. Hitler còn là một tên độc tài khát máu. Nietzsche viết: “Tôi tuyên bố chỉ hư vô là vua có giá trị”. Còn Sartre thì nói: “Bởi vì tự chọn vô tôn giáo, vô tổ quốc, vô gia đình, nên tôi không đi về đâu hết”. Trong khi Hitler trơ trẽn tuyên bố: “Tại sao chúng ta lại ưu tư lo lắng về đạo lý tình yêu và về trách nhiệm luân lý? Tôi chống lại điều này và thay vào đó bằng học thuyết tối cao của hư không, và cái vô nghĩa hoàn toàn của cá thể, của thằng tôi”. Những câu tuyên bố như thế, phải chăng chỉ có thể xuất phát từ các đồ đệ của Satan?
Con rắn là loài xảo quyệt nhất trong mọi dã thú mà Thiên Chúa đã dựng nên. Nó hỏi người đàn bà: “Có phải thật Thiên Chúa đã dạy: các ngươi không được ăn quả cây nào trong vườn không?” Người đàn bà trả lời con rắn: “Chúng tôi được ăn các quả trong vườn, nhưng còn quả cây ở giữa vườn, thì Thiên Chúa đã phán: “Các con không được ăn, không được chạm tới, để khỏi phải chết”. Con rắn nói: “Không, ông bà sẽ không chết đâu, nhưng Thiên Chúa biết rằng, ngày nào ông bà ăn quả cây ấy, ông bà sẽ mở mắt ra, sẽ được nên như những vị thần, biết điều lành, điều dữ” (Sách Sáng Thế 3,1-5).
(“LE CHRIST AU MONDE”, 2/1992, trang 176-177).


(Sylvie là thanh nữ Pháp, 22 tuổi. Sau những tháng ngày mò mẫm tìm kiếm hạnh phúc trong hư vô lầm lạc, Sylvie đã hồng phúc gặp được Chúa GIÊSU, Đấng hiện hữu thực sự và Mẹ MARIA, Người Mẹ dấu ái của loài người). Sylvie kể lại cuộc hành trình tìm kiếm Thiên Chúa như sau. Cách đây 4 năm, Mẹ MARIA đã tìm đến gặp con trong chính cảnh khốn cùng cuộc đời con. Ngay từ tuổi thơ và suốt trong thời gian của tuổi dậy thì, tận sâu thẳm nội tâm, con luôn luôn khát vọng Thiên Chúa và mong mỏi gặp được Ngài.. Nhưng đáng buồn thay, con đã dại dột dùng những phương thế lầm lạc, đi theo những con đường giả dối. Thật ra con cũng bị bạn bè lôi cuốn một phần. Như bao người trẻ cùng lứa tuổi, con thích ca-vũ-nhạc-kịch và chạy theo bóng hình của một chàng trai!
Một buổi tối, người bạn gái hỏi con có muốn dự buổi thực tập ngồi thiền không. Cô bạn giải thích: “Đây là lối suy niệm siêu hình, hay đúng hơn, là kiểu ngồi thiền tìm kiếm hư vô”. Con tự nhủ: “Mình cứ thử xem sao. Biết đâu sẽ gặp được Thiên Chúa, thay vì đi đến nhà thờ!” Nghĩ thế nên con theo bạn dự buổi ngồi thiền. Người hướng dẫn buổi ngồi thiền là một phụ nữ. Bà nói với chúng con: “Suy niệm kiểu này sẽ mang đến cho con người sự điềm-tĩnh, sự tự-chủ, niềm bình-an, trở về với nguồn cội của tư tưởng và đạt được những sức mạnh phi thường, kể cả các bí thuật thần thiêng!” Lời giải thích nghe thật êm tai, đưa hồn giới trẻ chúng con vào cõi mộng .. Nếu chỉ ngồi thiền trong một thời gian không lâu mà đạt được những điều vừa nói, thì quả thật là quá hay và quá dễ! Chúng con phải ngồi thiền mỗi ngày hai lần và mỗi lần 20 phút. Trong vòng 20 phút đồng hồ, con phải ngồi yên và chỉ lập đi lập lại hai tiếng duy nhất là “hư-vô”. Ban đầu, con cảm thấy mình hạnh phúc và hớn hở với ý nghĩ: “Chắc hẳn rồi đây mình sẽ khám phá nhiều điều lạ lùng. Và biết đâu, mình chẳng khám phá được Thiên Chúa?” Nhưng rồi, thời gian qua đi cùng với việc thực hiện phương pháp ngồi thiền, con không hề khám phá ra ánh sáng. Trái lại, con cứ càng ngày càng chìm sâu trong bóng tối đen dày đặc! Thật là hãi hùng kinh khiếp. Cứ mỗi lần con ngồi yên nhắm mắt là đầu óc con quay cuồng giữa hư-vô tư-tưởng, rồi, hư-vô tư-tưởng, rồi, hư-vô tư-tưởng! Sau 20 phút ngồi thiền, thể xác con có phần nghỉ ngơi chút ít, nhưng linh hồn con lại rơi vào lo âu sầu khổ và tràn đầy tuyệt vọng. Tâm trí con cứ bị ám ảnh bởi hai tiếng hư-vô .. hư-vô .. hư-vô! Và vì chỉ lập lại hai tiếng hư-vô nên con không còn cầu nguyện cùng Chúa GIÊSU và Đức Mẹ MARIA nữa. Trong khi đó hai tiếng hư-vô làm con khiếp sợ và chỉ muốn tìm cách trốn thoát.
Trong cơn khốn cùng, Mẹ MARIA đã giơ tay cứu vớt con. Trong phòng con có Bức Tượng Đức Mẹ nhỏ. Con thưa với Đức Mẹ: “Xin Mẹ đến giúp con!” Con chỉ nói với Đức Mẹ có thế thôi.. Cho đến một ngày, con gặp nhóm tín hữu Công Giáo đi hành hương. Họ cùng nhau lần hạt Mân Côi. Rồi họ nói về nhân đức khiêm-nhường, sự nghèo-khó và lòng trong-sạch. Đối với con, đây là điều hoàn toàn mới lạ, vì con nghĩ rằng, chả còn ai thực hành ba cái thứ nhân đức lỗi thời ấy nữa! Từ đó niềm hy vọng nhen nhúm trong lòng con. Con bắt đầu cầu nguyện với Đức Mẹ qua tràng chuỗi Mân Côi. Con dần dần lấy lại niềm an bình. Sau cùng con khóc vì cảm động, vì đã tìm thấy niềm vui, lòng trong trắng và tình yêu thương. Vâng, chính Đức Mẹ đã giúp con không còn sợ hãi Thiên Chúa nữa. Ngài không phải là Thiên Chúa hư-vô, nhưng là Thiên Chúa Hằng Hữu và đầy tràn tình thương..
Rồi con gặp một vị Linh Mục. Ngài giúp con lãnh nhận bí tích Hòa Giải và trao ban ơn tha thứ của Thiên Chúa cho con. Thật là cuộc giải phóng tuyệt diệu! Con được tái sinh trong ơn thánh và tìm được hai vị Chủ Chăn dấu ái của cuộc đời con. Đó là Chúa GIÊSU KITÔ và Đức Mẹ MARIA. Con thay thế hai tiếng hư-vô bằng lời Kinh dấu ái: Kính Mừng MARIA Đầy Ơn Phước. Đức Chúa Trời ở cùng Bà, Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ. Và GIÊSU Con lòng Bà gồm phúc lạ. Thánh MARIA Đức Mẹ Chúa Trời. Cầu cho chúng con là kẻ có tội, khi nay và trong giờ lâm tử. Amen.
(Marie-Michel et Daniel-Ange, “Ce Jésus que tu cherches”, Le Sarment FAYARD, 1988, trang 118-120).

Chị Nguyễn Kim Bẳng gởi

Tuổi Già Tân Thời

Tuổi Già Tân Thời

Tác Giả: Bút Xuân Trần Đình Ngọc


Tuổi càng già, ta càng nên giản dị
Không cao lương, mỹ vị lắm mỡ, bơ
Không đòi này, đòi khác, gọi rồi chờ
Một chén cơm, đĩa muối vừng cũng đủ!

Đêm bảy tiếng, phải trọng tôn giấc ngủ
Ngày ba lần chén bát đụng trên mâm
Nước bốn ly ta uống rất ân cần
Không bia rượu nhưng cần nhiều hoa quả!

Nếu nợ nần thì ta lo mà trả
Không buồn phiền, không quấy nhiễu một ai
Sức khoẻ ta nhờ luyện tập dẻo dai
Bỏ hút thuốc để phổi tim thật tốt!

Chớ ngồi nhà như người đang bị nhốt…
Rủ vợ, chồng đi bộ ở ven đường
Ngày nửa giờ, đi hơi lẹ, bớt vương
chứng tiểu đường, máu cao, xương rỗng sốp…

Mặc giản dị, vệ sinh và chỉ cốt
Đủ ấm thân khi gió lạnh Đông về
Nhiều bạn hiền là hạnh phúc tràn trề
Truyện với bạn cũng làm tăng tuổi thọ!

Tuổi cao rồi không cần chơi bát họ
Nhưng rộng tay làm bác ái, giúp người…
Đồng tiền ta, ta biết giúp cho đời
Là bó hoa muôn mầu khi tạ thế!

Bỏ tính xấu ghét ghen vì nó tệ
Người hơn ta, ta ưu ái mừng cho
Đố kỵ, ghen tài chẳng có hay ho
Không chứng tỏ một tấm lòng quảng đại!

Mắt, tai yếu và khí lực giảm mãi…
Đừng buồn chi vì Tạo hóa sinh ra
Hễ hữu hình là hữu hoại, gần… xa
Ta biết thế không bao giờ buồn tủi!

Nếu con cái chăm lo, hằng lầm lũi
học ra nghề để kiếm sống, mưu sinh
Ấy là ta yên chí mọi sự tình
Có nhắm mắt vẫn an lòng, sung sướng!

Tác Giả: Bút Xuân Trần Đình Ngọc

Nghệ thuật làm giàu

Nghệ thuật làm giàu

Thiên Phúc
Nhïng béc £nh Ùng ¹p nh¥t cça cÙng Óng m¡ng (Ph§n 3)

Một ngày nọ, vua Nghiêu đi tuần thú đất Hoa, viên quan địa phương đất ấy ra nghênh đón và chúc vua rằng: “Xin chúc nhà vua sống lâu.” Vua Nghiêu nói: “Đừng chúc thế!” Viên quan lại chúc: “Chúc nhà vua giàu có.” Vua Nghiêu lại nói: “Đừng chúc thế!” Viên quan chúc nữa: “Xin chúc nhà vua đông con trai.” Vua Nghiêu lại nói: “Đừng chúc thế!” Quan lấy làm lạ mới hỏi nhà vua: “Sống lâu, giàu có, đông con trai, ai cũng thích cả, sao nhà vua chẳng muốn?” Vua Nghiêu đáp: “Đông con trai thì sợ nhiều. Giàu có thì việc nhiều. Sống lâu thì nhục nhiều. Ba điều ấy không mang lại nhân đức nên ta từ chối.”

Viên quan tâu: “Nhà vua nói thế thực là bậc quân tử, nhưng trời sinh ra mỗi người phải có một việc. Nếu đông con trai, hãy cắt đặt mỗi người một nhiệm vụ thì có lợi chứ có gì mà sợ? Giàu có mà đem phân phát cho người nghèo thì còn công việc gì mà lo? Ăn uống có chừng mực, thức ngủ có điều độ, trong lòng thanh thản, thiên hạ tài giỏi thì vui cái vui của họ, trăm tuổi nhắm mắt về cõi trời. Một đời chẳng gây tai hoạ gì, hỏi có gì là nhục?”

***


Đứng trước tiền của, người ta có những thái độ rất khác nhau: Vua Nghiêu vì quá thận trọng chỉ nhìn thấy mặt trái của đồng tiền, nên của cải không sinh ích gì cho ông. Người phú hộ trong bài Tin Mừng hôm nay lại quá cậy dựa vào tiền của, nên khi thần chết bất ngờ đến thì tiền muôn bạc nén cũng không cứu được linh hồn ông. Duy chỉ có viên quan địa phương là có thái độ đúng mực về tiền bạc: Nếu giàu có thì đem chia sẻ cho người thiếu thốn. Đó chính là sứ điệp mà Chúa Giêsu muốn loan báo cho chúng ta hôm nay: Hãy dùng của cải đời này mà “làm giàu trước mặt Thiên Chúa.” (Lc 12,21). Đó chính là “nghệ thuật làm giàu” đích thực.

Trước mặt Thiên Chúa, chúng ta chỉ là những con người nghèo khó. Cho dù có xây bao nhiêu kho lẫm, bao nhiêu két sắt, bao nhiêu tài khoản ngân hàng, cũng chỉ là con số không. Chúng ta chỉ thực sự giàu có trước mặt Thiên chúa khi chúng ta dốc cạn kho cho người nghèo khó, mở hầu bao giúp kẻ khốn cùng. Chúa phán: “Hãy bán của chi mình đi mà bố thí. Hãy sắm lấy túi tiền chẳng bao giờ cũ rách, một kho tàng chẳng thể hao hụt ở trên trời, nơi trộm cắp không bén mảng, mối mọt cũng không đục phá.” (Lc 12,33).

Quả thật, một kho lẫm dù có được khoá chặt đến đâu cũng không ngăn cản được kẻ trộm, nhưng chỉ có những tài sản đích thực mà không ai có thể đánh cắp, chính là những tài sản thiêng liêng.

Thật ra, khi người giàu chia sẻ của cải cho kẻ nghèo, cũng chỉ là bổn phận của người quản lý mà thôi. Augier đã nói một câu chí lý: “Trong dự tính của Thiên Chúa, người giàu chỉ là viên thủ quỹ của người nghèo.” Vì thế, những ai “ê hề của cải, dư xài nhiều năm” mà “cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống vui chơi cho đã” (Lc 12,19) chính là những kẻ ăn cắp. Thánh Tôma Aquinô quả quyết: “Những người giàu đã đánh cắp của người nghèo khi họ tiêu xài phung phí những của cải dư thừa.”

Có thể nói, chúng ta đánh cắp của người nghèo khi chúng ta thu lợi quá mức trên sức lao động của kẻ khác.

Chúng ta đánh cắp của người nghèo khi chúng ta giữ lại đồ đạc tiện nghi mà chẳng bao giờ dùng đến.

Chúng ta đánh cắp của người nghèo khi chúng ta ăn chơi, mua sắm như ném tiền qua cửa sổ.

Thánh Basilio không một chút ngần ngại nói với chúng ta: “Tấm bánh mà bạn giữ lại là của người đói khổ, chiếc áo mà bạn cất trong vali là của kẻ trần trụi.”

***


Lạy Chúa, Chúa để 80% của cải trên thế gian này vào tay 20% những người giàu có là để họ biết chia sẻ cho những người thiếu thốn, là để họ “làm giàu trước mặt Thiên Chúa”, chứ không phải để biến họ thành những kẻ đánh cắp.

Xin dạy chúng con chỉ nên giữ lại những gì cần thiết, và biết san sẻ hồng ân của Chúa cho mọi người, để thế giới này không còn cảnh bất công, nghèo đói, nhưng sẽ là một thế giới công bằng và yêu thương. Amen.

Thiên Phúc

From: ngocnga_12

Anh chị Thụ Mai gởi