5 Chiếc Bánh Và 2 Con Cá (bài 2)

3. Chiếc Bánh Thứ Ba

Một bí quyết: Cầu nguyện

Các bạn hãy biết lắng nghe, trong thinh lặng cầu nguyện, câu trả lời của Chúa Giêsu: “Hãy đến và sẽ thấy”. (Gioan Phaolô II, Sứ điệp NQTGT XII, số 2)

Ở tù về, tôi được nhiều người chất vấn: “Cha sướng thật, trong tù cha đã có nhiều thời giờ để cầu nguyện!” Không phải đơn giản như các bạn nghĩ đâu! Chúa đã cho tôi có dịp hiểu rõ sự yếu đuối thể lý và tinh thần của tôi.

Thời giờ trong tù trôi qua chậm rãi, đặc biệt trường hợp của những ai bị biệt giam. Bạn hãy tưởng tượng một tuần, một tháng, hai tháng thinh lặng … thấy lâu dài cách kinh khủng. Khi thinh lặng ấy kéo dài từng năm, thì nó trở thành đời đời … Ông bà ta thường bảo: “Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại, nghĩa là, một ngày trong tù dài bằng ngàn thu tự do”.

Có những lúc quá đau, quá mệt không đọc được một kinh.

Tôi nhớ lại chuyện ông già Jim. Cứ mỗi ngày lúc 12 giờ trưa ông ta vào nhà thờ không quá hai phút. Ông từ (giữ nhà thờ) rất thắc mắc theo dõi, rồi một hôm chận ông Jim lại và hỏi:

– Tại sao bác vào đây mỗi ngày?

– Tôi đến cầu nguyện.

– Không thể được! Kinh gì trong hai phút?

– Tôi vừa già, vừa dốt, đọc kinh theo kiểu của tôi.

– Ông nói gì với Chúa?

– Tôi cầu nguyện: “Giêsu, có Jim đây!” rồi tôi về.

Thời gian trôi qua. Jim già yếu, bệnh tật, phải vào bệnh viện, nơi khu vực người già. Sau đó Jim yếu liệt, chuẩn bị đi xa … Linh mục tuyên úy và nữ tu y tá đến bên giường Jim:

– Jim ơi, hãy nói cho chúng tôi biết, tại sao từ ngày ông vào khu vực này, có nhiều điều thay đổi, bệnh nhân vui vẻ hơn, chấp nhận thuốc thang, sống có tình nghĩa hơn?

– Chả biết!… Lúc còn sức tôi đi quanh thăm mọi người, chào hỏi, chuyện trò một chốc; lúc sau liệt giường tôi gọi tên họ, thăm hỏi, làm cho họ cười. Với Jim ai cũng vui.

– Thế tại sao Jim vui, Jim hạnh phúc?

– Khi nào cha và sơ được người ta đến thăm mỗi ngày có vui không?

– Vui chứ! Nhưng có thấy ai thăm Jim đâu?

– Lúc mới vào, tôi có xin hai chiếc ghế, một dành riêng cho cha và sơ, một cho khách quí của tôi, thấy không?

– Khách của ông là ai?

– Là Chúa Giêsu. Trước kia tôi đến thăm Ngài ban trưa, nay đi hết nổi, cứ 12 giờ trưa Ngài đến thăm tôi.

– Ngài nói gì với Jim?

– Ngài bảo: Jim, có Giêsu đây!…

Trước lúc Jim chết, người ta thấy Jim đưa tay chỉ chiếc ghế như thể muốn mời ai ngồi, Jim mỉm cười, nhắm mắt ra đi.

Những lúc tôi không còn sức để đọc nổi dù một kinh, tôi lặp đi lặp lại: “Giêsu, có con đây”, tôi cảm thấy như Chúa Giêsu trả lời: “Thuận ơi, có Giêsu đây!” Tôi vui vẻ và bình an.

Các bạn hỏi tôi: “Cha thích đọc kinh nào?” Dĩ nhiên là tôi thích những kinh của Chúa Giêsu dạy, của Hội thánh: kinh Lạy Cha, kinh Kính mừng, kinh Tin kính…

Thú thật, tôi thích những kinh vắn tắt đơn sơ trong Phúc âm:

“Con ơi, nhà này hết rượu!” (Ga 2, 3). “Linh hồn tôi ngợi khen Chúa” (Lc 1, 46-55). “Xin Chúa thương xót con vì con là kẻ có tội” (Lc 18, 13). “Lạy Cha, nếu có thể được thì xin cho con khỏi uống chén đắng này” (Mt 26, 39). “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ lầm” (Lc 23, 34). “Xin Cha cho chúng hiệp nhất nên một” (Ga 17, 21). “Con phó linh hồn trong tay Cha” (Ga 23, 46).

Tôi thích dùng lời Thánh kinh, lời Chúa để cầu nguyện, khi đọc lên những Thánh vịnh, tôi sung sướng vì biết rằng đây là những kinh chính Chúa Giêsu và Mẹ Maria đã đọc. Mấy anh công an gác tôi làm đôi việc để “cải thiện” đời sống kinh tế, chẳng hạn họ cắt giấy rồi in tay … bán cho các công sở. Loại giấy “đầu thừa, đuôi thẹo” thì quét lại cả đống làm “giấy vệ sinh”, tôi lượm giấy vệ sinh ấy, mượn kim chỉ, đóng thành sổ bỏ túi, hai cuốn sổ tôi rất quí, một gồm trên 300 câu Thánh kinh bằng tiếng Latinh để cầu nguyện và một gồm đầu đề của vài trăm bài hát cũng để cầu nguyện. Còn bao nhiêu “giấy vệ sinh” khác mỗi ngày thu lượm một ít để dành viết sách.

Tôi rất ghi ơn sự huấn luyện ở chủng viện, những bài thánh ca đã ghi sâu vào lòng tôi. Ðặc biệt là tôi thuộc lòng hầu hết bài hát bình ca trong kinh phụng vụ, chưa bao giờ tôi cảm thấy ý nghĩa sâu xa và xúc động như vậy. Cũng không thể quên được những kinh Việt ngữ, tiếng mẹ đẻ của tôi, mà cả nhà cùng cầu nguyện mỗi tối trong nhà nguyện gia đình. Tôi hình dung được trước mắt Ông Bà, Ba Má và các em tôi, và nghe giọng mỗi người đang cầu nguyện. Nhất là ba kinh Kính mừng và kinh “Hãy nhớ” mà Mẹ tôi tập tôi đọc sớm tối từ lúc mới biết nói.

Như tôi đã nói, tôi ở tù biệt giam chín năm, chỉ có tôi và hai người gác. Ðể tránh cho khỏi thấp khớp và tê liệt, suốt ngày tôi không ngừng đi lại, xoa bóp, thể dục và hát để cầu nguyện: ca vịnh thống hối Miserere, kinh Tạ ơn Te Deum, kinh Chúa Thánh Thần Veni Creator, kinh các Thánh Tử đạo Sanctorum Meritis. Những bài hát của Hội thánh, được cảm hứng từ lời Chúa, như rót vào trong tôi lòng can đảm để theo Chúa Giêsu.

Cedantur gladiis, more bidentium, Non murmur resonant, non querimonia, Sed corde impavido, meus bene conscia, Conservant, patientiam. Muôn thử thách, vì Ngài đâu sá kể! Không hé một lời oán trách thở than! Chẳng xôn xao, lòng thơ thới yên hàn, Trước sau vẫn hiền hòa, luôn kiên nhẫn.

Ðể đánh giá, để nếm được sự quí đẹp của những kinh ấy, cần phải có kinh nghiệm ngục tù tăm tối, cô đơn, và ý thức được sự hiện diện của Chúa. Ngài chấp nhận những đau khổ dâng lên Ngài vì muốn trung thành với Hội thánh. Tôi cảm nghiệm được sự hiệp thông với Chúa Giêsu, với Ðức Thánh Cha, với toàn thể Hội thánh một cách tha thiết vững vàng mỗi khi tôi lặp lại suốt ngày.

Chính nhờ Ðức Kitô, cùng với Ðức Kitô và trong Ðức Kitô, Mà mọi chúc tụng và vinh quang đều qui về Chúa là Cha toàn năng Cùng với Chúa Thánh Thần muôn đời. Amen.

Có lúc Chúa dùng giáo dân để dạy tôi cầu nguyện. Thời gian bị quản thúc ở Giang xá, có ông lão nhà quê, tên là ông quản Kính, từ giáo xứ Ðại Ơn lẻn vào thăm tôi. Tôi không bao giờ quên được lời ông khuyên tôi:

“Thưa cha, cha không hoạt động tông đồ được thì xin cha cầu nguyện cho Hội thánh; ở trong tù cha đọc một kinh hơn một nghìn kinh cha đọc lúc ở ngoài tự do!”

Ðức Mẹ còn sử dụng cả người cộng sản để nhắc tôi cầu nguyện. Ông Hải đã từng ở tù, nằm cùng buồng với tôi để mật thám tôi, sau đã thành bạn của tôi. Trước ngày ông ta ra về, ông đã hứa với tôi:

Nhà tôi ở Long Hưng, chỉ cách La Vang 3 km, tôi sẽ đi La Vang cầu nguyện cho anh”.

Tôi tin lòng thành thật của anh bạn, nhưng tôi hoài nghi làm sao một người cộng sản mà đi cầu nguyện Ðức Mẹ cho tôi! Sáu năm sau, đang lúc tôi ở biệt giam, tôi đã được một bức thư của ông Hải, lạ lùng thật! Lạ hơn nữa là lời lẽ của ông như sau:

“Anh Thuận thân mến, tôi đã hứa với anh, tôi sẽ đi cầu nguyện Ðức Mẹ La Vang cho anh. Mỗi Chủ nhật, nếu trời không mưa, lúc nghe chuông La Vang, tôi lấy xe đạp vào trước đài Ðức Mẹ, vì chiến tranh bom đạn đã đánh sập nhà thờ rồi. Tôi cầu nguyện thế này:

Thưa Ðức Mẹ, tôi không có đạo, tôi không thuộc kinh nào cả. Nhưng tôi đã hứa sẽ đi cầu nguyện Ðức Mẹ cho anh Thuận, nên tôi đến đây. Xin Ðức Mẹ biết anh Thuận cần gì thì cho anh ấy”.

Tôi hết sức cảm động. Tôi đọc đi đọc lại rồi đặt thư xuống nhắm mắt lại: “Lạy Mẹ, Mẹ đã dùng anh cộng sản này để dạy con cầu nguyện; chắc Mẹ đã nhậm lời anh ấy, con mới còn sống đây!”.

Trước khi làm bất cứ việc gì, dù là việc mục vụ, xã hội, bác ái, chúng ta phải cầu nguyện. Như Chúa Giêsu, trước khi làm phép lạ nuôi dân chúng, đã ngước mắt lên trời, cầu nguyện cùng Ðức Chúa Cha. Ngài đã chọn Chúa trước rồi mới làm việc Chúa sau.

Các bạn thân mến,

Ðức Thánh Cha nhắn nhủ các bạn:

“Hãy thưa chuyện với Chúa Giêsu lúc cầu nguyện, lúc nghe lời Chúa; hãy nếm thử niềm vui lúc được Bí tích Hòa giải; hãy đón nhận Mình Máu Thánh Chúa Giêsu trong phép Thánh Thể…; hãy khám phá sự thật về chính mình các bạn, khám phá ra sự hiệp nhất nội tâm và sẽ tìm thấy “người Bạn” chữa các bạn khỏi những xao xuyến, những cơn ác mộng, khỏi óc chủ quan man rợ nó không để cho các bạn được bình an”. (Gioan Phaolô II, Sứ điệp NQTGT XII, số 3)

Biệt giam tại Hà Nội

25-3-1987

Lễ Thiên Thần truyền tin cho Ðức Mẹ.

4. Chiếc Bánh Thứ Tư

Sức mạnh độc nhất của tôi:

Phép Thánh Thể

Quanh bàn tiệc Thánh Thể được thực hiện và được tỏ bày sự hiệp nhất hài hòa của Hội Thánh, mầu nhiệm hiệp thông truyền giáo, trong đó mọi người nhận thấy mình là con Chúa và là anh chị em trong một đại gia đình. (Gioan Phaolô II, Sứ điệp NQTGT XII, số 7)

Trong tù cha có dâng lễ được không?“, đó là câu hỏi mà bao nhiêu lần nhiều người đã hỏi tôi. Và thực sự họ có lý, vì Thánh Thể là kinh nguyện đẹp nhất, là đỉnh cao của cuộc đời Chúa Giêsu. Mỗi khi tôi trả lời “có”, thì tôi đã biết ngay câu hỏi tiếp sau: “Làm sao cha kiếm ra rượu lễ, bánh lễ?

Lúc tôi bị bắt, tôi phải đi ngay và đi tay không. Hôm sau tôi được phép viết về nhà để xin đồ cần dùng nhất như áo quần, kem đánh răng, v.v… Hàng đầu tiên, tôi viết: “Xin gửi cho tôi ít rượu thuốc trị bịnh đường ruột“. Bên ngoài, giáo dân hiểu ngay. Hôm sau, ông trưởng ban chấp pháp cầm đến một ve nhỏ bên ngoài có dán giấy đề chữ “thuốc trị bịnh đường ruột” và bánh lễ xé nhỏ bỏ trong một cái lọ chống ẩm, ông ta hỏi:

– Ông có bị bịnh đường ruột không?

– Có.

– Ðây là thuốc bên ngoài gửi vào cho ông!

Không bao giờ tôi vui bằng hôm đó: từ đấy mỗi ngày với ba giọt rượu và một giọt nước trong lòng bàn tay, tôi dâng thánh lễ.

Tuy nhiên cách dâng lễ mỗi nơi mỗi khác. Dưới hầm tàu thủy chở tôi ra miền Bắc, ban đêm tôi ngồi giữa mấy bạn tù, bàn thờ là túi cói đựng đồ, dâng lễ thánh Phanxicô quan thầy của tôi và cho các bạn chịu lễ. Lúc ở trại Vĩnh Quang tôi phải dâng lễ trong góc cửa ban sáng lúc người ta đi tắm sau giờ thể dục. Lúc đã quen với thời khóa biểu của trại, tôi dâng lễ ban đêm, vì chúng tôi được chia thành từng đội 50 người, ngủ chung trên một láng gỗ, mỗi người được 50 cm, đầu đụng nhau, chân quay ra ngoài. Chúng tôi đã tự thu xếp để năm anh em Công giáo nằm quanh tôi. Ðến 9 giờ rưỡi đêm, nghe tiếng kẻng là tắt đèn và mọi người phải nằm trong mùng muỗi cá nhân; tôi ngồi cúi sát xuống để dâng lễ thuộc lòng. Tôi đưa tay dưới mùng để chuyển Mình Thánh cho anh em chịu lễ. Chúng tôi nhặt giấy nylon bọc bao thuốc hút để làm những túi nhỏ đựng Mình Thánh. Như thế Chúa Giêsu luôn ở giữa chúng tôi. Chúng tôi tin một sức mạnh: Thánh Thể. Thịt Máu Chúa làm cho chúng tôi sống, “Ta đã đến là để chúng được có sự sống, và có một cách dồi dào” (Ga 10, 10). Như manna nuôi dân Do Thái đi đường về Ðất hứa, Thánh Thể sẽ nuôi con đi cùng đường Hy vọng (Ga 6, 53).

Mỗi tuần, sáng thứ Sáu có một buổi học tập, tất cả 250 anh em phải tham dự. Ðến lúc xả hơi, các bạn Công giáo thừa dịp đó mang các túi nylon đựng Mình Thánh đến chia cho bốn đội kia, mỗi người thay nhau mang trong túi áo một ngày.

Ai cũng biết có Chúa Giêsu Thánh Thể đang ở giữa trại tù với họ. Chính Ngài an ủi, xoa dịu những khổ đau thể xác và tinh thần; chính Ngài thêm can đảm chịu đựng cho họ. Ban đêm, họ thay phiên nhau làm giờ thánh. Sự hiện diện thinh lặng của phép Thánh Thể biến đổi họ cách lạ lùng. Nhiều người Công giáo trở lại sống đạo đức hơn; nhiều anh em không Công giáo, Phật giáo tìm hiểu Phúc âm và lãnh phép Thánh tẩy trong trại cải tạo, hoặc sau lúc được tự do.Không có gì cưỡng lại được tình yêu Chúa Giêsu. Ðêm tối của ngục tù trở thành ánh sáng, hạt giống đã đâm chồi dưới đất đang lúc trời giông tố phong ba. Những ơn trọng này do Chúa Giêsu Thánh Thể chứ không phải do sức loài người.

Trong chín năm biệt giam, tôi dâng lễ một mình lúc 3 giờ chiều, giờ Chúa Giêsu hấp hối trên Thánh giá. Tôi ở một mình nên có thể hát tiếng Latinh, tiếng Việt, tiếng Pháp… Tôi luôn mang Mình Thánh trong mình “như Cha ở trong con và con ở trong Cha”.

Ðó là những thánh lễ đẹp nhất của đời tôi. Kinh Lauda Sion, Pange Lingua, Adoro Te, Te Deum và nhiều kinh Việt ngữ, mặc cho tiếng loa trước cửa từ 5 giờ sáng đến 11 giờ rưỡi đêm. Tôi cảm nghiệm cách đặc biệt một sự bình an, một niềm vui trong tâm hồn vì Chúa Giêsu, Ðức Mẹ và thánh Giuse ở với tôi. Tôi hát Salve Regina, Salve Mater, Regina Coeli, v.v… hiệp với toàn thể Hội thánh. Mặc cho Hội thánh bị vu cáo, chống đối, tôi hát “Này con là đá… Ta hãy nguyện xin cho Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô”…

Chúa Giêsu đã nuôi dưỡng dân chúng theo Người trên sa mạc; trong phép Thánh Thể Chúa Giêsu tiếp tục làm của ăn ban sự sống muôn đời.

Mỗi lúc dâng lễ, đọc lời truyền phép, với tất cả tâm hồn, tôi làm lại lời “giao ước mới, giao ước vĩnh cửu” với Chúa Giêsu. Không phải để sống an nhàn, nhưng để bắt đầu một cuộc cách mạng, đổi mới nhân loại, được máu Chúa cứu chuộc, sống xứng đáng phẩm giá con Thiên Chúa, trong văn hóa của tình thương và sự sống.

Trong Thánh Thể chúng tôi loan truyền sự chết của Chúa Giêsu và tuyên xưng sự sống lại của Ngài. Có lúc buồn nản vô cùng, tôi nhìn lên Chúa Giêsu chịu đóng đinh và bị bỏ rơi trên Thánh giá: Ngài không giảng dạy, thăm viếng, chữa lành bệnh tật; Ngài hoàn toàn bất động. Ðối với con mắt loài người, cuộc đời Chúa Giêsu là vô ích, là thất bại. Nhưng đối với đôi mắt Thiên Chúa, chính giây phút ấy lại là giây phút quan trọng nhất của đời Ngài, vì trên Thánh giá Ngài đã đổ máu mình để cứu chuộc nhân loại.

Chúa Giêsu là mẫu gương của tình yêu tuyệt đối với Ðức Chúa Cha và các linh hồn. Ngài đã cho tất cả, yêu thương đến cùng (Ga 13, 1), cho đến lúc trút hơi thở cuối cùng và nói lên tiếng “hoàn tất” (Ga 19, 30).

Khi nhìn thấy đoàn lũ theo Ngài, Ngài nói: “Tôi thương xót dân này” (Mt 15, 32). Ngài đã làm phép lạ cho bánh và cá hóa nhiều để nuôi họ. Ðây là dấu hiệu loan báo phép Thánh Thể mà Ngài sẽ thiết lập về sau.

Các bạn trẻ thân mến,

Mời các bạn nghe lời Ðức Thánh Cha: Chúa Giêsu sống giữa chúng ta, trong phép Thánh lễ; giữa những sự bất trắc, những hoang mang trong cuộc đời mỗi ngày, các bạn hãy noi gương hai môn đệ trên đường về Emmau… Hãy cầu xin Chúa Giêsu, để dọc các nẻo đường về bao nhiêu xóm nhỏ Emmau của thời đại ta, Ngài ở lại với các bạn. Ngài phải là sức mạnh của các bạn, là trung tâm của các bạn, là hy vọng trường cửu của các bạn. (Gioan Phaolô II, Sứ điệp NQTGT XII, số 7)

Biệt giam tại trại Phú Khánh, Nha Trang,

1-9-1976

Lễ các Thánh Tử Ðạo Việt Nam

5. Chiếc Bánh Thứ Năm

Yêu thương cho đến hiệp nhất

Chúc thư của Chúa Giêsu

Các bạn trẻ thân mến, Các bạn được gọi làm chứng nhân đáng tin của Phúc âm Chúa Kitô, Ðấng làm cho mọi sự nên mới… “nếu các bạn thương yêu nhau” (Ga 13, 35). (Gioan Phaolô II, Sứ điệp NQTGT XII, số 8)

Ở trại giam Phú Khánh, một đêm tôi đau quá, thấy một người gác đi qua, tôi kêu: “Tôi đau quá, xin anh thương tình cho tôi thuốc !” Anh ta đáp: “Ở đây chẳng có thương yêu gì cả, chỉ có trách nhiệm”.

Ðó là bầu khí chúng tôi ở trong tù.

Lúc tôi bị biệt giam, trước tiên người ta trao cho năm người gác tôi: đêm ngày có hai anh trực. Cứ hai tuần đổi một tổ mới, để khỏi bị tôi làm nhiễm độc. Một thời gian sau không thay nữa, vì “cấp trên” nói: “Nếu cứ thay riết thì sở công an bị nhiễm độc hết!”

Thực thế, để tránh nhiễm độc, mấy anh không nói với tôi, họ chỉ trả lời “có” hoặc “không”. Họ tránh nói chuyện với tôi. Buồn quá! Tôi muốn lịch sự vui vẻ với họ, họ vẫn lạnh lùng. Phải chăng họ ghét “cái mác phản động” nơi tôi: Tất cả áo quần đều đóng dấu hai chữ lớn “cải tạo”, kể từ ngày bước chân vào trại Vĩnh Quang ở Bắc Việt.

Tôi phải làm thế nào?

Một đêm đông lạnh quá, không ngủ được, tôi nghe một tiếng nhắc nhủ tôi: “Tại sao con dại thế? Con còn giàu lắm: Con mang tình thương Chúa Giêsu trong tim con. Hãy yêu thương họ như Chúa Giêsu đã yêu con”.

Sáng hôm sau, tôi bắt đầu mến họ, yêu mến Chúa Giêsu trong họ, tươi cười với họ, trao đổi đôi ba câu nói… Tôi thuật lại những chuyến đi ra nước ngoài, cuộc sống, văn hóa, kinh tế, khoa học kỹ thuật, tự do dân chủ ở Canada, Nhật Bản, Philippines, Singapore, Pháp, Ðức, Úc, Áo, v.v… Những câu chuyện đó kích thích tính tò mò của họ, giục họ đặt nhiều câu hỏi. Tôi luôn luôn trả lời… Dần dần chúng tôi trở thành bạn. Họ muốn học sinh ngữ Anh, Pháp… tôi giúp họ. Từ từ mấy chiến sĩ gác tôi trở thành học trò của tôi! Bầu khí nhà giam đổi nhiều, quan hệ giữa họ với tôi tốt đẹp hơn. Thậm chí cả những ông xếp công an, thấy tôi đối xử chân thành, không những họ xin tôi giúp các chiến sĩ học hành ngoại ngữ, nhưng họ còn gửi anh khác đến học.

Tôi sống theo lời Chúa Giêsu dạy: “Ðiều gì con làm cho một người bé mọn nhất trong anh em là làm cho chính mình Ta”.

Khi nào có hai hay ba người hợp nhau vì danh Thầy, thì có Thầy ở giữa họ”.

Một hôm một ông xếp hỏi tôi:

– Ông nghĩ thế nào về tờ tuần báo “Người Công giáo”?

– Nếu viết đúng cả nội dung cả hình thức thì có lợi; nếu ngược lại thì không thêm đoàn kết, lại còn thêm chia rẽ, bất lợi cho cả người Công giáo và cho cả nhà nước.

– Làm thế nào cải thiện tình trạng ấy?

– Những cán bộ phụ trách về tôn giáo phải hiểu đúng mỗi tôn giáo thì việc đối thoại, tiếp xúc các chức sắc mỗi tôn giáo cũng như các tín hữu mới có tính cách xây dựng, tích cực và tạo nên thông cảm giữa đôi bên.

– Ông có thể giúp được không?

– Nếu các vị muốn, tôi có thể viết một cuốn Lexicon (từ điển bỏ túi) gồm những danh từ thông dụng nhất trong tôn giáo, từ A đến Z, chừng nào các vị có giờ rảnh, tôi sẽ giải thích rõ ràng, khách quan. Hy vọng các vị có thể hiểu lịch sử, cơ cấu, sự phát triển và hoạt động của Giáo hội…

Họ đã trao giấy mực cho tôi, tôi đã viết cuốn “lexicon” đó, bằng tiếng Pháp, Anh, Ý, Latinh, Tây Ban Nha, và Trung Quốc với phần giải thích bằng Việt ngữ. Dần dà tôi có cơ hội giải thích hoặc giải đáp thắc mắc, tôi chấp nhận làm sáng tỏ những chỉ trích về Giáo hội. “Lexicon” ấy trở thành một cuốn giáo lý thực hành. Ai cũng muốn biết viện phụ là gì, thượng phụ là gì, Công giáo khác Anh giáo, Tin Lành, Chính Thống giáo chỗ nào? Tài chánh của Tòa thánh từ đâu mà có? Có bao nhiêu tu sĩ, giáo dân làm việc trong giáo triều, huấn luyện tu sĩ, giáo sĩ thế nào? Giáo hội phục vụ nhân loại thế nào? Tại sao Giáo hội gồm có nhiều dân tộc, sống qua nhiều thời đại cũng bị bắt bớ, tiêu diệt, cũng mang nhiều khuyết điểm mà vẫn tồn tại? Ngang đây là đến biên giới của siêu nhiên, của sự quan phòng của Thiên Chúa… Cuộc đối thoại từ A đến Z giúp xóa tan một số hiểu lầm, một số thành kiến, có những lúc trở nên thú vị và hấp dẫn. Tôi tin tưởng có nhiều người cởi mở, muốn tìm hiểu và với những biến chuyển trong thời đại ta, đã có những tầm nhìn mới mẻ và xây dựng.

Thời kỳ biệt giam ở Hà Nội, tôi được biết có 20 chiến sĩ nam nữ trẻ học tiếng Latinh với một cựu tu sĩ, để có thể đọc các tài liệu của Giáo hội. Trong số mấy anh gác tôi có hai anh trong nhóm học Latinh. Trông thấy bài vở, tôi nhận thấy họ học tốt. Một hôm, một trong hai anh ấy hỏi tôi:

– Ông có thể dạy tôi một bài hát tiếng Latinh không?

– Có nhiều bài hay tuyệt, nhưng biết anh thích bài nào?

– Ông hát cho tôi nghe, tôi sẽ chọn.

Tôi đã hát Salve Regina, Veni Creator, Ave Maris Stella… Các bạn biết anh ta chọn bài nào không? Anh ta chọn bài Veni Creator (Xin Chúa Ngôi Ba đoái thương viếng thăm…).

Tôi đã chép trọn cả bài cho anh ta và anh ta học thuộc lòng. Mỗi sáng quãng 7 giờ, tôi nghe anh ta chạy xuống thang gỗ, ra sân tập thể dục, rồi múc nước vừa tắm vừa hát: Veni Creator Spiritus… Tôi rất cảm động, làm sao mỗi sáng trong nhà tù cộng sản lại có một cán bộ hát kinh “Veni Creator” cho mình nghe!

Anh thứ hai lại chọn một bài hát tiếng Việt: “Ngày vinh phước hôm nay, hát mừng Tôma Thiện” kính thánh tử đạo chủng sinh. Anh rất thích nên thuộc lòng cả bài. Tiếng anh ngân nga, như nhắc tôi can đảm chịu khó:

Ôi! cái chết đẹp thay! Trên cổ một vòng dây, Cái vòng dây yêu mến, Buộc lòng tớ theo Thầy.

Ðâu có tình yêu thương, đó có vui tươi an bình, vì Chúa Giêsu ở đó. Con mang một đồng phục, nói một ngôn ngữ: bác ái. Bác ái là chứng tích để biết con là môn đệ Chúa (Ga 13, 35) là dấu hiệu rẻ mà khó kiếm nhất.

Trên núi Vĩnh Phú, trong trại tù Vĩnh Quang, một hôm trời mưa lớn, tôi cưa gỗ trong nhà. Tôi xin anh chiến sĩ gác tôi:

– Tôi xin anh một đặc ân.

– Anh muốn gì? Tôi cố gắng giúp anh.

– Tôi muốn cưa một miếng gỗ theo hình Thánh giá.

– Anh không biết ở trại nghiêm cấm mọi hình thức tôn giáo sao?

– Tôi biết, nhưng chúng ta là bạn, và tôi hứa sẽ giấu rất kín.

– Vô cùng nguy hiểm cho cả hai anh em mình.

– Anh nhắm mắt đi cho tôi làm, tôi sẽ cẩn trọng hết sức.

Anh ta quay lưng, bỏ tôi lại một mình. Tôi đã thực hiện ngay ý định, rồi giấu thánh giá gỗ ấy trong một cục xà phòng cho đến ngày tôi được tự do. Tôi thuê thợ bọc nó lại bằng “mêtan”. Miếng gỗ ấy có bao giờ nghĩ rằng mình sẽ trở nên thánh giá của Giám mục!

Gỗ thánh giá ấy lấy từ núi Vĩnh Phú, nơi có đền Hùng thờ các vua Hùng, tổ tiên chúng ta đã có công dựng nước. Ði đâu tôi cũng mang thánh giá ấy, mang trên mình Chúa Giêsu và quê hương Việt Nam.

Trong một nơi biệt giam khác, ở Hà Nội, tôi đã xin anh gác:

– Tôi muốn xin anh giúp tôi một chuyện.

– Ông cần gì tôi sẽ hết sức giúp đỡ.

– Anh kiếm cho tôi một sợi dây điện đồng.

Anh ta trợn mắt:

– Trời đất! Trong trường công an chúng tôi đã học: tù nhân nào giữ một sợi dây điện là dấu muốn tự tử.

– Không đâu, linh mục đâu lại đi tự tử!

– Nhưng ông dùng dây điện làm gì?

– Tôi muốn làm một sợi dây để mang tượng Thánh giá.

– Dây điện mà làm dây mang tượng thánh giá sao được? Khó hiểu quá!

– Anh cứ cho tôi mượn hai cái kềm nhỏ, tôi sẽ làm cho anh xem.

– Nguy hiểm lắm ông ơi! Không khéo cả ông cả tôi mang lấy vạ.

– Nhưng chúng mình là bạn mà!

– Tôi ngại lắm, nhưng để tôi suy nghĩ vài hôm rồi sẽ trả lời cho ông.

Sau ba hôm, anh ta bảo:

– Thực khó từ chối với ông. Tôi tính thế này, chiều nay tôi sẽ mang đến hai cái kềm, từ 7 giờ đến 10 giờ đêm, phải liệu cho xong. Tôi để anh bạn tôi đi chơi “Hanoi by night”. Nhỡ ai thấy chúng ta, nói đến tai cấp trên, chúng ta sẽ bị kỷ luật.

Chúng tôi đã cắt sợi dây điện ra từng mảnh như que diêm. Chúng tôi bẻ cong hai đầu lại. Trước 11 giờ đêm chúng tôi đã làm xong! Tôi mừng quá! Thắng lợi.

Hằng ngày tôi mang sợi dây này và thánh giá này trên mình, không phải để kỷ niệm ngục tù, nhưng vì nhắc cho tôi xác tín cách sâu xa rằng: Không phải dùng khí giới, đe dọa, áp lực mà có thể thay đổi được lòng người; chỉ có tình yêu Chúa Giêsu mới thay đổi được.

Ðiều khó hiểu nhất đối với chiến sĩ gác tù, là thái độ tha thứ yêu thương địch thù của mình. Có hôm mấy anh gác hỏi tôi:

– Ông có thương chúng tôi không?

– Có chứ, tôi yêu thương các anh cách thành thực, không có gì là khách sáo đâu!

– Kể cả khi người ta giam ông, mất tự do, năm này sang năm khác? Không xét xử gì cả?

– Anh nghĩ lại bao nhiêu năm ở với nhau. Tôi làm sao giấu được. Tôi thực sự yêu thương các anh.

– Chừng nào được tự do anh có sai giáo dân của anh trả thù không?

– Không, tôi vẫn tiếp tục yêu thương, dù các anh có muốn giết tôi.

– Nhưng tại sao lại yêu kẻ thù hại anh?

– Vì Chúa Giêsu đã dạy tôi yêu thương; nếu tôi không tuân giữ, tôi không đáng gọi là Kitô hữu nữa.

Thời gian eo hẹp và hoàn cảnh chưa thuận tiện để thuật lại cho các bạn nhiều chuyện rất cảm động, chứng tích của sức mạnh giải phóng do tình yêu Chúa Giêsu làm nên.

Trong Phúc âm, nhìn đoàn lũ theo Ngài đã ba ngày, Chúa Giêsu nói: “Tôi thương xót dân này” (Mt 15, 32); “Họ khác nào đoàn chiên không mục tử” (Mc 6, 34)… Trong những lúc bi đát nhất ở trong tù, tôi kiệt lực không còn sức mà đọc kinh, nguyện ngắm, tôi tìm một cách để tóm tắt cốt tủy của lời cầu nguyện, của sứ điệp Chúa Giêsu như thế này “Tôi sống chúc thư Chúa Giêsu”. Nghĩa là yêu mến mọi người như Chúa Giêsu đã yêu thương tôi, trong tha thứ, trong nhân từ, trong hiệp nhất, như Ngài đã cầu nguyện “Xin Cha cho họ nên một, như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha” (Ga 17, 21). Tôi năng cầu nguyện: “Tôi sống chúc thư Chúa Giêsu”. Tôi muốn làm như cậu bé đã dâng tất cả những gì mình có. Năm chiếc bánh và hai con cá không đáng gì cả, nhưng là “tất cả” của nó, để trở thành “khí cụ tình thương của Chúa Giêsu”.

Các bạn trẻ thân mến, Ðức Gioan Phaolô II nhắn nhủ các bạn: Các bạn sẽ gặp Chúa Giêsu ở đâu có người đau khổ và hy vọng: trong những xóm làng bé nhỏ rải rác khắp các lục địa, hầu như ở bên lề của lịch sử, như làng Nagiarét; trong những đô thị mênh mông, nơi mà từng triệu người chen nhau sống, lắm lúc như những người xa lạ. Chúa Giêsu sống bên cạnh các bạn … gặp khuôn mặt Ngài nơi bộ mặt của những người nghèo khổ bị bỏ rơi, thường là những nạn nhân của một chính sách kinh tế bất công, đặt lợi nhuận lên trên hết và làm cho con người thành phương tiện chứ không phải là mục đích… Gặp Chúa Giêsu ở giữa những người kêu cầu Ngài mà không hề biết Ngài. Gặp Chúa Giêsu ở giữa những người mang tên là Kitô hữu, cả nam lẫn nữ. Giờ phút này đứng trước ngưỡng cửa của năm hai nghìn, họ cần khẩn trương xóa tan gương xấu chia rẽ giữa anh chị em Kitô hữu. (Gioan Phaolô II, Sứ điệp NQTGT XII, số 5)

Các bạn hãy cảnh giác: sự lầm lạc lớn nhất là không nhìn thấy người khác là Chúa Kitô. Có nhiều người chỉ khám phá ra điều đó trong ngày cuối cùng.

Chúa Giêsu bị bỏ rơi trên Thánh giá, Ngài còn bị bỏ rơi trong mỗi anh chị em đang đau khổ trong mỗi góc xó trên thế giới. Tình thương không có ranh giới; hễ có ranh giới thì không còn là tình thương nữa.

Biệt giam tại trại Phú Khánh, Nha Trang,

1-9-1976

Lễ các Thánh Tử Ðạo Việt Nam

5 Chiếc Bánh Và 2 Con Cá (bài 1)

5 Chiếc Bánh Và 2 Con Cá

ÐHY Phanxicô Xaviê

Nguyễn Văn Thuận

1. Chiếc Bánh Thứ Nhất

Sống Phút Hiện Tại

Các bạn có thể gặp Chúa Giêsu, dọc theo những nẻo đường của cuộc sống mỗi ngày!… Ðây là chiều kích nền tảng của sự gặp gỡ đó: Không phải các bạn gặp một biến cố hay một sự vật gì đó, nhưng các bạn gặp một con người, đó là Thiên Chúa hằng sống. (Gioan Phaolô II, Sứ điệp NQTGT XII, số 1)

Tên tôi là Phanxicô Nguyễn Văn Thuận, người Việt Nam. Ðối với người ngoại quốc tên tôi khó đọc, nên ở Tanjania, Nigeria, Ðại Hàn, Ðài Loan, các bạn trẻ gọi tôi là “Bác Francis” (Uncle Francis) hay đơn giản hơn nữa là “Francis!”

Ðến 23-4-1975 tôi làm Giám mục đã được tám năm, tại Nha Trang, Trung phần Việt Nam, Giáo phận đầu tiên Tòa Thánh trao phó cho tôi. Tôi đã sống những ngày tháng hạnh phúc ở đó và Nha Trang vẫn chiếm một chỗ đặc biệt trong quả tim tôi. Ngày 23-4-1975, Ðức Phaolô VI đã đặt tôi làm Tổng Giám mục phó Sàigòn. Khi cộng sản đến Sàigòn, họ đã bảo rằng: “Việc bổ nhiệm một Giám mục một tuần trước khi chúng tôi đến Sàigòn là một âm mưu giữa Vatican và đế quốc, nhằm tổ chức chống cộng sau này”.

Ba tháng sau, ngày 15-8-1975, tôi được mời vào Dinh Ðộc lập lúc 2 giờ chiều và bị bắt ở đó.

Ðêm đó, trên đường dài 450 km, xe công an chở tôi về nơi quản thúc. Bao nhiêu tâm tình lẫn lộn trong đầu óc tôi: lo lắng có, cô đơn có, mệt mỏi có, sau mấy tháng căng thẳng… nhưng trong trí tôi, một quyết định sáng tỏ đã đánh tan mây mù. Tôi nhớ lời Ðức Cha John Walsh, một Giám mục truyền giáo gốc Mỹ, đã nói lúc ngài được tự do sau 12 năm tù ở Trung cộng: “Tôi đã mất nữa đời người để chờ đợi”. Rất đúng! tất cả mọi tù nhân, trong đó có tôi, phút giây nào cũng mong đợi tự do. Suy nghĩ kỹ, trên chiếc xe Toyota trắng, tôi đã đặt cho mình một quyết định: “Tôi sẽ không chờ đợi. Tôi sống phút hiện tại và làm cho nó đầy tình thương”.

Ðây không phải là một cảm hứng đột xuất, nhưng là một xác tín đã ấp ủ suốt quãng đời mãi từ tiểu chủng viện: “Nếu tôi mất giờ đợi chờ, không làm gì hết, biết đâu những điều tôi đợi sẽ không bao giờ đến. Chỉ có một điều, dù không đợi cũng vẫn đến, đó là sự chết!”

Trong làng Cây Vông, nơi tôi bị quản thúc, ngày đêm có nhân viên an ninh chìm nổi theo dõi. Trong óc một tư tưởng không ngừng làm tôi xót xa, thao thức: “Giáo dân của tôi! một đoàn chiên hoang mang, giữa bao hiểm nguy, thách đố của một giai đoạn lịch sử mới. Làm sao tôi có thể gần gủi, liên lạc với họ, trong giai đoạn họ cần đến người mục tử nhất! Các nhà sách Công giáo bị đóng cửa, trường học Công giáo do Nhà nước quản lý, tôn giáo sẽ không còn được dạy dỗ trong các trường nữa; các linh mục, sư huynh, nữ tu có khả năng phải đi ra thôn quê, đi nông trường lao động, không được dạy học nữa! Sự xa lìa giáo dân là một cú “sốc” giày vò tan nát quả tim tôi.

Tôi không đợi chờ. Tôi sống phút hiện tại và làm cho nó đầy tình thương. Nhưng làm thế nào?

Một đêm, một tia sáng đến với tôi: “Con hãy bắt chước thánh Phaolô. Khi ngài ở tù, không hoạt động tông đồ được, ngài đã viết thư cho các giáo đoàn. Ðơn giản vậy mà con đi tìm đâu cho xa?”

Sáng hôm sau, vừa mới tinh sương, giữa tháng 10 năm 1975, tôi làm hiệu cho một cậu bé 7 tuổi, tên Quang, vừa đi lễ 5 giờ ra, trời còn mù và lạnh: “Quang! con về nói má con mua cho ông mấy “bloc” lịch cũ, ông cần dùng”. Chiều tối, chú bé mang lại mấy “bloc” lịch cũ. Thế là mỗi đêm trong tháng 10 và tháng 11, 1975, tôi đã đóng hết cửa, lấy giấy xi-măng dán bên trong và viết “Sứ điệp từ ngục tù” cho giáo dân của tôi, dưới ánh đèn dầu leo lét, mặc cho muỗi tha hồ đốt.

Mỗi sáng thực sớm tôi trao cho bé Quang, mấy tờ lịch tôi đã viết sau lưng, mang về cho anh, chị của Quang chép lại kẻo mất. Nếu để trên bàn tôi, “ông An” (một giáo dân) thấy sẽ sinh tai họa. Ðấy là đầu đuôi sách “Ðường Hy Vọng“, sứ điệp lao tù thành hình là như thế. Hiện nay sách đã được xuất bản bằng tám thứ tiếng.

 

Chúa đã ban ơn cho tôi có nghị lực để tiếp tục làm việc, kể cả những lúc chán nản nhất. Tôi đã viết đêm ngày trong một tháng rưỡi, vì tôi sẽ bị “chuyển trại” và không có điều kiện hoàn tất được. Lúc viết đến số 1001 tôi quyết dừng lại, xem đây như công trình “nghìn lẻ một đêm”. Ngày 8-12-1975, lễ Ðức Mẹ Vô Nhiễm Tội, tôi đã tạ ơn Ðức Mẹ cho tôi viết xong “Ðường Hy Vọng” và trao trong tay Ðức Mẹ gìn giữ, đó là của Ðức Mẹ, nhờ ơn của Ðức Mẹ, xin Ðức Mẹ tiếp tục lo liệu. Ðoán vậy mà không sai, đến ngày 18-3-1976, tôi bị đưa vào trại Phú Khánh, biệt giam vất vả nhất.

Năm 1980, lúc bị đưa ra quản thúc ở Giang Xá, Bắc Việt, tôi đã tiếp tục viết mỗi đêm trong bí mật cuốn thứ hai, “Ðường Hy Vọng Dưới Ánh Sáng Lời Chúa và Công Ðồng Vatican II”, cuốn thứ ba, “Những Người Lữ Hành Trên Ðường Hy Vọng”.

Tôi không chờ đợi. Tôi sống phút hiện tại và làm cho nó đầy yêu thương.

Trong Phúc âm, các Tông đồ muốn chọn con đường dễ nhất, khỏe nhất: “Xin Thầy cho dân chúng về, để họ mua thức ăn”… Nhưng Chúa Giêsu muốn hành động trong phút hiện tại: “Chính các con hãy cho họ ăn đi” (Lc 9, 1). Trên thánh giá, khi người ăn trộm thưa với Chúa Giêsu: “Thưa Ngài, khi về thiên đàng xin Ngài nhớ đến tôi”. Chúa Giêsu đáp: “Hôm nay con sẽ ở cùng Ta trên nước thiên đàng” (Lc 23, 42-43). Trong tiếng “hôm nay” của Chúa Giêsu, tôi cảm thấy tất cả sự tha thứ, tất cả tình thương của Ngài.

Cha Maximiliano Kolbe sống tinh thần ấy khi ngài khuyên các tập sinh trong dòng: “Tất cả, tuyệt đối, không điều kiện”. Tôi đã nghe Ðức Cha Helder Camara nói: “Cả cuộc đời là học yêu thương”. Một lần Mẹ Têrêxa Calcutta gửi thư cho tôi, Mẹ viết: “Ðiều quan trọng không phải là số công tác đã thực hiện nhưng là mức độ tình yêu ta đã để vào mỗi công việc“.

Làm sao yêu thương đến cao độ như thế trong mỗi phút hiện tại? Tôi nghĩ rằng tôi phải sống mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút như là giờ phút cuối cùng của đời tôi. Dẹp bỏ những gì là phụ thuộc, tập trung cả tâm hồn cho những gì là chính yếu. Mỗi lời nói, mỗi tư tưởng, mỗi cử chỉ, mỗi cú điện thoại, mỗi quyết định phải là “đẹp nhất” của đời tôi. Tôi phải dành cho mỗi người tình yêu của tôi, nụ cười của tôi : tôi phải lo sợ đánh mất một giây phút nào trong đời mình vì đã sống không ý nghĩa…

Tôi đã viết trong sách Ðường Hy Vọng: “Con chỉ có một giây phút đẹp nhất: giây phút hiện tại (x Mt 6, 34; Gc 4, 13-15). Sống trong tình yêu Chúa cách trọn vẹn, đời con sẽ tuyệt đẹp nếu kết tinh bằng từng triệu giây phút đẹp nhất. Con thấy đơn sơ, không phải khó (ÐHV 997).

Các bạn trẻ thân mến, trong thời đại này, Chúa Giêsu cần đến các bạn. Ðức Gioan Phaolô II tha thiết kêu gọi các bạn hãy đương đầu với những thách đố của thế giới hôm nay:

Chúng ta đang sống trong một giai đoạn đầy biến chuyển kinh khủng. Những lý thuyết được xem là đủ sức thi gan cùng tuế nguyệt nay đã đến lúc xế chiều. Trên hoàn cầu, cần phải phác họa lại ranh giới của nhiều quốc gia. Nhân loại tự cảm thấy mình rất lúng túng, hốt hoảng, lo lắng (Mt 9, 36). Nhưng lời Chúa không bao giờ qua đi; đọc lại lịch sử, chúng ta thấy bao nhiêu biến cố thăng trầm, đang lúc ấy lời Chúa đứng vững và chiếu sáng (Mt 24, 35). Ðức tin của Hội thánh được xây dựng trên Chúa Giêsu Kitô, Ðấng Cứu thế độc nhất: hôm qua hôm nay và mãi mãi (Eb 13, 18). (Gioan Phaolô II, Sứ điệp NQTGT XII, số 2)

Cây Vông, Nha Trang

nơi tôi bị quản thúc

16-8-1975, hôm sau lễ Ðức Mẹ Lên Trời.

2. Chiếc Bánh Thứ Hai

Phân biệt giữa Chúa và

việc của Chúa

Thật đúng vậy, Chúa Giêsu là một người bạn hay đòi hỏi, hay chỉ cho ta nhắm những mục đích cao cả, … Hãy đạp đổ những rào cản của nông nỗi và sợ hãi bao vây các bạn! Hãy nhận ra mình là những “con người mới”.

(Gioan Phaolô II, Sứ điệp NQTGT XII, số 3)

Lúc tôi còn là một linh mục sinh viên ở Roma, có một người đã bảo tôi: “Ðức tính lớn nhất của bạn là “hăng say nhiệt tình”, còn tính xấu tệ nhất là “hay tấn công””. Dù thế nào đi nữa, tôi là một người ham hoạt động: hướng đạo sinh, tuyên úy tráng đoàn Lavang, cắm trại trên núi Bạch mã… Một tư tưởng thúc bách tôi mỗi ngày: phải chạy đua với đồng hồ! Làm tất cả những gì có thể được để củng cố và phát triển Giáo hội trong Giáo phận Nha Trang, trước khi thời gian khốn khó xảy đến, khi phải sống dưới chế độ cộng sản!

Trọng tâm hoạt động của tôi là huấn luyện nhân sự: gia tăng đại chủng sinh từ 42 đến 147 trong tám năm; gia tăng số tiểu chủng sinh từ 200 đến 500 trong bốn chủng viện; tu nghiệp các linh mục trong sáu giáo phận của Giáo tỉnh miền Trung; phát triển và huấn luyện các phong trào thanh niên, giáo dân, các hội đồng giáo xứ, mục vụ… Tôi rất quí mến giáo phận đầu tiên của tôi là Nha Trang.

Giờ đây, tôi phải đi vào Sàigòn lập tức, theo lệnh Ðức Phaolô VI bổ nhiệm. Không kịp từ biệt những ai đã từng hiệp nhất với tôi trong cùng một lý tưởng, cùng một quyết tâm, cùng chia sẻ hân hoan và thử thách.

Ðêm ấy 7-5-1975, khi tôi ghi âm những lời tạm biệt Giáo phận Nha Trang, tôi đã khóc nhiều, đó là một lần độc nhất tôi đã khóc nhiều, đó là một lần độc nhất tôi đã khóc thổn thức trong tám năm ở Nha Trang – vì thương nhớ. Nhưng tâm hồn tôi rất bình an, vì tôi vâng lời Ðức Thánh Cha.

Tiếp đến là gian khổ thử thách tại Sàigòn, là bị bắt đưa trở lại Nha Trang, nơi mà tôi đã bị biệt giam khắc nghiệt nhất, không xa Tòa Giám mục của tôi. Sáng tối tôi nghe tiếng chuông nhà thờ chánh tòa như xé nát tim tôi. Ðêm đến tôi nghe tiếng sóng biển vỗ cạnh buồng biệt giam.

Từ Nha Trang tôi bị đưa trở lại Sàigòn, ở trại Thủ Ðức, vùng Tam Hà, ngày đêm nghe không biết bao nhiêu tiếng chuông nhà thờ. Ðêm 1-12-1975, cùng với 1,500 bạn tù đói, mệt, chán nản, còng tay hai người chung một khóa số 8, bước xuống gầm tàu “Hải Phòng” đậu tại bến Tân cảng gần cầu Xa lộ, để chở ra trại cải tạo Vĩnh Quang, tỉnh Vĩnh Phú, trong thung lũng núi Tam Ðảo, mùa đông 1976-77 rét 20C.

Ðặc biệt nhất là nỗi gian khổ của 9 năm biệt giam một mình với hai người gác, không bạn bè, không có việc làm, tôi ở trong một sự trống rỗng tuyệt đối, đến mức có thể điên đi được. Tôi đi lại suốt ngày trong buồng giam, để vận động cơ thể kẻo nằm luôn thì tôi sẽ chết vì thấp khớp, viêm phổi.

Nhiều lúc một mình, tôi bị đau khổ giày vò, tại sao đang lúc mình 48 tuổi, trưởng thành và khỏe mạnh, sau tám năm Giám mục tôi đã có nhiều kinh nghiệm mục vụ, lại phải vào phòng biệt giam, xa giáo phận những 1,700 km?

Một đêm thanh vắng, một tiếng từ đáy lòng nhắc nhở tôi: “Tại sao con quẫn trí, hoang mang như thế làm gì? Con phải biết phân biệt giữa Chúa và công việc của Chúa.

Những gì con đã làm và tiếp tục làm như kinh lý giáo phận, huấn luyện nam nữ tu sĩ, giáo dân, thanh niên, kiến thiết thánh đường, cư xá sinh viên, mở mang các thí điểm truyền giáo… tất cả những công tác ấy đều là những việc tốt lành, là việc của Chúa, nhưng không phải là Chúa!

Nếu Chúa muốn con trao tất cả các việc ấy trong tay Ngài, con hãy làm ngay, và hãy tin tưởng vào Ngài. Chúa có thể làm tốt hơn con muôn nghìn lần; Ngài có thể trao việc của Ngài cho những người tài đức hơn con. Hãy chọn một mình Chúa thôi, chọn thánh ý Ngài, chứ đừng chọn việc của Chúa!”

Tôi luôn luôn học tập làm theo ý Chúa. Nhưng ánh sáng này mang lại cho tôi một sinh lực mới, thay đổi tận gốc lối suy nghĩ của tôi, giúp tôi vượt qua những bước gian truân mà hầu như cơ thể không chịu đựng nổi. Từ đây tôi cảm thấy trong lòng tôi “một sự bình an mà thế gian không cho được”.

Theo tính tự nhiên, những lúc chương trình đang thực hiện tốt đẹp phải bỏ dở, hoạt động đang hăng say phải bó tay, nhiệm vụ đang quan trọng phải hạ tầng công tác! Uất ức và chán nản! Tôi tự hỏi: Chúa gọi con “Hãy theo Thầy” hay “Hãy theo việc nọ, người kia?” Ðể đó, Chúa sẽ liệu, Ngài sẽ giải quyết tốt hơn con là cái chắc.

Ở trại Phú Khánh, tôi bị giam trong một phòng không có cửa sổ, phải đi qua 3 lớp cửa trong một hành lang mới đến khí trời. Vào đó nóng cực kỳ, tôi ngột ngạt và cảm thấy trí óc mất sáng suốt dần dần, cuối cùng là mê man. Có lúc người ta để đèn sáng như ban ngày, lúc khác lại nằm trong bóng tối. Buồng vừa nóng vừa ẩm, đến nỗi tôi xuống nằm dưới nền, còn nấm thì mọc lên trắng cả chiếc chiếu của tôi. Lúc nằm trong tối tăm, tôi thấy có một lỗ dưới vách, ánh sáng lọt vào, tôi lết đến, kê mũi vào đó để thở. Lúc nào trời mưa, nước ở ngoài ngập, những con trùng ở ngoài bò vào, có cả giun và có lần có cả con rết dài; dù thấy vậy, nhưng tôi yếu mệt quá không làm gì được, tôi cứ để cho chúng bò quanh, ngày nào nước xuống, thì chúng lại bò ra. Sau này hai linh mục bị giam cách tôi 2 lớp cửa, đã thuật lại cho tôi biết: “Một hôm cô Thanh, cấp dưỡng, đã mỡ cửa cho chúng con ra đứng nhìn Ðức Cha nằm dưới đất và bảo: cho hai anh nhìn thấy ông Thuận, ông sắp chết!” Nhưng trong cơn cơ cực này, Chúa đã cứu tôi!

Tôi phải chọn Chúa chứ không phải việc của Chúa: Chính Chúa muốn cho tôi ở đây, chứ không phải nơi khác.

Lúc tôi bị nhốt dưới khoang tàu Hải Phòng cùng với 1,500 anh em tù nhân bị đưa ra Bắc, tôi đã thấy trên nét mặt của họ nỗi thất vọng, lòng căm thù. Tôi chia sẻ đau khổ của họ. Nhưng tôi lại nghe tiếng: “Hãy chọn Chúa chứ không phải việc của Chúa!” Tôi đã thưa: “Lạy Chúa, chính đây là nhà thờ chánh tòa của con. Ðây là dân Chúa trao cho con phục vụ, con phải làm cho Chúa hiện diện giữa những người anh em chán nản, cùng khổ này. Ðây là ý Chúa, nên con phải chọn”.

Khi tôi lên trại cải tạo, giữa thung lũng núi Tam Ðảo, tỉnh Vĩnh Phú, tôi gặp 250 anh em cùng một chuyến đi, đa số không Công giáo, tôi vẫn nghe tiếng ấy thúc bách: “Hãy chọn Chúa chứ không phải việc của Chúa. – Lạy Chúa, Chúa sai con đến đây để làm cho tình thương của Chúa hiện diện giữa các anh em con, giữa đói khát và giá lạnh, giữa lao động cải tạo nhọc nhằn và tủi nhục bất công. Con xin chọn Chúa, không phải chọn công việc của Chúa. Con chọn thánh ý Chúa, giờ đây con là tông đồ truyền giáo của Chúa”.

Từ giây phút ấy, một sự bình an mới tràn ngập tâm hồn tôi, ở với tôi suốt 13 năm tù đày. Tôi cảm thấy thấm thía sự yếu hèn của tôi; tôi lặp lại sự chọn lựa của tôi, lúc ấy không bao giờ Chúa để lòng tôi thiếu an bình. Tất cả là hồng ân của Chúa.

Mỗi khi tôi tuyên bố: “Vì Chúa, vì Hội thánh”, tôi phải thinh lặng trước mặt Chúa, và thành thật hỏi Chúa: “Chúa thấy con hành động hoàn toàn vì ai? Con đã chọn vinh danh Chúa, sống và hành động tuyệt đối vì Chúa? hay Chúa là lý do thứ yếu, còn lý do khác mạnh hơn, con không tiện nói?”

Ðây là một sự chọn lựa tuyệt vời, nhưng không phải dễ dàng. Ðức Gioan Phaolô II kêu gọi các bạn :

Các bạn trẻ thân mến, như các môn đệ thuở ban đầu, hãy theo Chúa Giêsu! Ðừng sợ lại gần Chúa … Ðừng sợ “cuộc sống mới” mà Chúa muốn trao cho các bạn vì chính Ngài cho các bạn đủ sức đón nhận và thực hiện cuộc sống ấy, Ngài ban ân sủng của Ngài và Thánh thần của Ngài cho các bạn. (Gioan Phaolô II, Sứ điệp NQTGT XII, số 3)

Ðức Thánh Cha lại lấy gương thánh nữ Têrêxa Hài đồng Giêsu để soi sáng các bạn trẻ:

Hãy cùng Têrêxa tiến lên trên đường khiêm nhường và đơn sơ, trong tinh thần Công giáo trưởng thành, trong trường học của Phúc âm. Hãy cùng Têrêxa sống trong “quả tim” của Hội thánh, và triệt để chọn Ðức Kitô. (Gioan Phaolô II, Sứ điệp NQTGT XII, số 9)

Cậu bé trong Phúc âm đã có sự chọn lựa triệt để ấy, cậu đã hiến dâng tất cả: Năm chiếc bánh và hai con cá, trong tay Chúa Giêsu với lòng tin tưởng. Thế rồi Chúa Giêsu đã làm “việc của Chúa”: với chừng ấy, Ngài đã nuôi cả năm ngàn, cả vạn người!

Cầu Nguyện

Chúa và việc của Chúa

Vì lòng thương vô hạn,

Chúa gọi con theo Chúa,

làm con Chúa, làm môn đệ Chúa.

Rồi Chúa trao cho con một sứ mạng.

Không ai giống ai, nhưng cùng một mục đích

làm tông đồ, làm chứng nhân cho Chúa.

Tuy nhiên, kinh nghiệm bản thân cho con thấy,

nhiều lần con lẫn lộn hai điều này:

Chúa và việc của Chúa.

Chúa trao cho con công việc của Chúa,

cao trọng có, khiêm tốn có,

tầm cỡ có, bình dân có.

Con làm mục vụ giáo xứ,

mục vụ giới trẻ, mục vụ học đường,

mục vụ nghệ thuật, mục vụ gia đình,

mục vụ thanh niên, mục vụ lao động,

mục vụ truyền thông.

Con đổ vào đó tất cả nhiệt tình,

tất cả những gì có thể được.

Con không tiếc một điều gì, kể cả mạng sống con.

Giữa lúc con tận tụy, hăng say như thế,

con gặp thất bại ê chề.

Vì người ta vô ơn, vì không ai chịu cộng tác,

vì bạn bè hiểu lầm, vì bề trên không nâng đỡ,

vì bịnh tật ốm đau, vì thiếu phương tiện…

Có lúc con đang trên đà thành công rực rỡ,

mọi người hân hoan ca ngợi con, quyến luyến con.

Thì đùng một cái,

con phải thuyên chuyển,

nhận nhiệm vụ mới.

Con choáng váng như rơi vào đêm tối.

Sao Chúa bỏ con?

Con không muốn bỏ dở việc Chúa,

con phải làm cho hoàn thành việc Chúa.

Phải xây xong thánh đường, tổ chức xong hội đoàn…

Tại sao người ta phá việc Chúa?

Không ủng hộ việc Chúa vô cùng chính đáng?

Nhưng trước bàn thờ

Bên Mình Thánh Chúa,

con nghe Chúa Giêsu bảo con:

Con hãy theo Chúa, chứ không phải theo việc của Chúa!”

“Nếu Chúa muốn, con hãy trao việc Chúa lại trong tay Chúa,

Chúa sử dụng ai tiếp tục, mặc ý Chúa.

Có Chúa lo, mà Chúa lo thì muôn vạn lần hơn con lo.

Con hãy chọn một mình Chúa“.

Biệt giam tại Hà Nội

ngày 11-2-1985

Lễ Ðức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội hiện ra tại Lộ Ðức

BÀI HỌC CHIA SẺ

BÀI HỌC CHIA SẺ

Tác giả: Lm. Anmai, C.Ss.R.

Am 6, 1a.4-7; 1Tm 6, 11-16; Lc 16, 19-31

Bài học người quản lý bị cho nghỉ việc, Chúa Giêsu nói nhè nhẹ về cuộc đời của người quản lý. Chúa Giêsu dùng hình ảnh này như là khởi đầu cho nhiều bài học nói về đời sau cõi tạm này, cái chết sau cuộc sống này.

Ở đời, người ta vẫn thường nói : “cái gì nó cũng có cái giá của nó”. Quả không sai, nó như quy luật nhân quả của cuộc đời. Nếu như trong đời sống, mình gieo điều tốt thì ắt hẳn mình sẽ nhận được điều tốt và ngược lại.

Chúa Giêsu ví dụ hết sức cụ thế chứ không có nói bóng nói gió hay dùng dụ ngôn nữa. Đi vào thẳng vấn đề của cuộc sống luôn đó là câu chuyện về hai con người :một là giàu, ngược lại bên kia là nghèo.

Người giàu này được một cái là ngày ngày yến tiệc linh đình. Chuyện hết sức bình thường như những câu chuyện bình thường mà người ta vẫn thường nói : “chuyện thường ngày ở huyện”. Nhưng, trong cái bình thường này có cái không bình thường đó là có anh ăn xin ngồi ngay trước cổng nhà ông ta. Người ăn xin ghẻ chốc đầy và rồi them được ăn những miếng dư thừa từ nhà của ông nhà giàu nhưng không được ăn.

Chuyện gì đến nó phải đến. Ngày qua ngày, tháng qua tháng, năm qua năm, ông nhà giàu kia cũng chết và người ăn xin cũng chết. Có điều là không biết ai chết trước hay chết sau nhưng bảo đảm là phải chết vì dù giàu dù nghèo thì cũng không thoát được cái chết.

Nhưng, đàng sau cái chết, màn hình được mở ra. Dưới âm phủ, người chủ lại van xin với Ápraham : “Lạy tổ phụ Ápraham, xin thương xót con, và sai anh La-da-rô nhúng đầu ngón tay vào nước, nhỏ trên lưỡi con cho mát; vì ở đây con bị lửa thiêu đốt khổ lắm!” Nghe sao mà thương dễ sợ.

Chúng ta nghe ông Ápraham đáp: “Con ơi, hãy nhớ lại: suốt đời con, con đã nhận phần phước của con rồi; còn Ladarô suốt một đời chịu toàn những bất hạnh. Bây giờ, Ladarô được an ủi nơi đây, còn con thì phải chịu khốn khổ. Hơn nữa, giữa chúng ta đây và các con đã có một vực thẳm lớn, đến nỗi bên này muốn qua bên các con cũng không được, mà bên đó có qua bên chúng ta đây cũng không được.

Khi nghe tổ phụ nói như thế, nhớ lại những người thân và đặc biệt là anh em mình còn sống ở dương gian nên bèn thưa : “Lạy tổ phụ, vậy thì con xin tổ phụ sai anh Ladarô đến nhà cha con, vì con hiện còn năm người anh em nữa. Xin sai anh đến cảnh cáo họ, kẻo họ lại cũng sa vào chốn cực hình này!

Nghe thế, ông Ápraham đáp: “Chúng đã có Môsê và các Ngôn Sứ, thì chúng cứ nghe lời các vị đó.

Nài nỉ thêm : “Thưa tổ phụ Ápraham, họ không chịu nghe đâu, nhưng nếu có người từ cõi chết đến với họ, thì họ sẽ ăn năn sám hối.Ông Ápraham đáp: “Môsê và các Ngôn Sứ mà họ còn chẳng chịu nghe, thì người chết có sống lại, họ cũng chẳng chịu tin.”

Chuẩn hơn chỉnh luôn ! Không chỉ Môsê, các ngôn sứ mà nhiều và quá nhiều những chứng nhân cho những thực tại của đời này và gia tài vĩnh cửu ở đời sau rồi nhưng mấy ai chịu nghe. Hay, có chăng thì nghe đó nhưng thực hành được bao nhiêu với lời mà các vị tiền nhân đã nói, đã để lại.

Và, cũng chẳng cần phải nghe ai nói nữa, chỉ cần nhìn vào thực tại và thực tế cuộc sống thì thấy ngay vấn đề : Con người, ai cũng phải chết. Và, sau khi chết, có mang theo được cái gì đi theo mộ phần, mang theo bên kia thế giới hay không để rồi cứ phải ky cóp. cứ phải tham lam, cứ phải ích kỷ. Tham lam, ích kỷ để làm gì để rồi sau cái chết phải hưởng, phải đón nhận tất cả những gì mà mình đã hành xử khi còn sống.

Sống trên đời, chẳng ai mong mình nghèo và cũng chẳng ai có thể nghi rằng mình giàu cả. Giàu hay nghèo đến từ nhiều lý do. Có thể khách quan, có thể chủ quan, có thể có sự may mắn như người ta nói là thiên thời – địa lợi – nhân hòa nữa. Nếu như ai nào đó có tài nhưng rồi thời cơ không đến hay sự may mắn không đến thì cuộc sống của họ mãi mãi trong lam lũ nghèo khó. Có những người có tí tài năng cộng thêm với sự may mắn, sự thuận tiện để rồi sống trong cuộc sống dư giả giàu có.

Và, hết sức bình thường trong mọi thời, mọi nơi, mọi xã hội ta đều thấy những người giàu và người nghèo. Giàu không phải là cái tội và nghèo cũng chẳng phải là cái tội. Tội hay chăng đó là ta giàu mà ta không biết cách sống như thế nào cho đúng với lương tâm, đúng với luân thường đạo lý.

Chuyện quan trọng, chuyện căn cốt là ta sống như thế nào khi ta giàu có, ta có nhiều của cải vật chất. Không phải những người giàu là xấu. Có những người giàu nhưng họ khôn ngoan sống theo cái nhìn, theo lối sống của con cái Thiên Chúa chú không theo lối sống của thế gian.

Sống khôn ngoan theo lối sống của Thiên Chúa thì giàu hay nghèo cũng chẳng là cái gì cả. Cách riêng với những người giàu thì phải biết dùng những của cải vật chất mà Chúa ban cho như thế nào có ý nghĩa và đặc biệt có hậu về sau sau khi đã chết.

Những bằng chứng hết sức sống động trong cuộc sống của ta. Có những người ta thấy họ hết sức quảng đại, không phân biệt tôn giáo.

Khi nghe trang Tin Mừng hôm nay, có thể ta bảo rằng ông chủ này thật quá quắt, ngay cái người đầy tớ ở trước của nhà mà ông không đoái hoài đến nhưng hình phạt cho ông như vậy cũng là đúng ! Nếu ta nghĩ như thế, ta xét đoán như thế, ta kết án như thế không chừng ta lại kết án chính bản thân ta.

Có khi nào đó, ngay trong gia đình của ta, người nghèo không ngồi ở ngoài cổng hay ngồi ở vệ đường như ta tưởng nhưng người nghèo đó lại ngồi ngay bên cạnh của ta. Họ thèm ta cho họ một chút gì đó, có khi không chỉ phải là cơm bánh, vật chất nhưng điều họ cần đó chính là tình cảm. Có thể những cái mà ta cho những người xung quanh ta đó chính lại là cái thừa thãi của ta nhưng ta lại nghĩ đó là ân phúc mà ta trao ban. Ta quên đi điều căn cốt là những cái mà ta có, nhất là cái thân xác, cái hơi thở, cái sự sống mà ta đang có chính là quà tặng mà Thiên Chúa trao ban.

Nếu như Chúa lấy hơi thở, lấy sự sống của ta đi thì còn gì là giàu với nghèo, còn gì là sang với hèn. Chẳng còn là gì cả như người giàu có và kẻ ăn xin cùng chết. Chuyện quan trọng là sau cái chết đó, ta sẽ có gì trong tay. Ta sẽ được ơn cứu độ hay đánh mất ơn cứu độ mà cả đời ta ky cóp.

Sống sao đừng để một ngày kia khi sau cõi tạm này thì trên Thiên Đàng toàn là những người nghèo, những người trộm cắp, những người đĩ điếm, những người tội lỗi như Chúa Giêsu vẫn thường nhắc ta.

Luôn luôn ghi khắc trong tâm trí ta rằng cuộc đời ta có ngần có hạn và tất cả những gì ta có như là quà tặng từ nơi Thiên Chúa để ta biết san sẻ cho anh chị em đồng loại. Chúng ta, có kẻ giàu người hèn, kẻ sang người hèn nhưng ai ai cũng có tấm lòng, có trái tim. Tấm lòng và trái tim đó sẽ quý biết mấy khi nó san sẽ tình thương cảm, lòng mến cho những người đang sống ngay bên cạnh ta, trong mái ấm của ta, trong gia đình của ta.

Tác giả: Lm. Anmai, C.Ss.R.

Hãy Sống Đẹp Với Nhau – tại đây, lúc này.

Hãy  Sống  Đẹp  Với  Nhau – tại  đây,  lúc  này.

Ghi nhận của Đoàn Thanh Liêm

Vào giữa thập niên 1950, lúc còn theo học tại Trường Luật Saigon, thì tôi được nhận vào lưu trú tại một cư xá dành cho sinh viên có tên là Câu lạc bộ Phục Hưng. Cư xá này nằm trên đường Nguyễn Thông gần với Bệnh viện Saint Paul thuộc Quận 3 Saigon. Hồi đó, chừng 60 anh em chúng tôi sống quây quần bên nhau – tất cả đều còn ở vào cái tuổi đôi mươi, hãy còn hồn nhiên, lạc quan yêu đời, chỉ biết say mê chuyên cần với chuyện học tập nơi các phân khoa đại học.

Lớp sau này vào các năm 1960 – 1970, thì số lưu trú sinh tại cơ sở này lại còn đông hơn, trẻ tuổi hơn nữa. Tổng số các bạn đã từng sinh sống tại Câu lạc bộ Phục Hưng này – từ năm 1955 lúc mới thành lập cho đến năm 1975 lúc đóng cửa – thì có thể lên đến con số 4 – 500 người. Ngày nay, anh em Phục Hưng chúng tôi, thì người trẻ tuổi nhất cũng đã ngòai 60 – còn phần đông cũng đã ở vào cái tuổi “thất thập cổ lai hy” họăc còn cao hơn nữa. Mà trong đó cũng nhiều bạn đã ra đi, từ giã gia đình, bỏ lại anh em. Số còn lại, thì phân tán khắp bốn phương trời – ở lại quê hương cũng có, mà lưu lạc qua các xứ Âu Mỹ cũng có nữa. Anh em không thành lập Hội Ái Hữu để quy tụ lại với nhau, như các tổ chức khác. Tuy vậy, lâu lâu chúng tôi cũng gặp gỡ nhau qua dịp này dịp nọ – để hàn huyện tâm sự, ôn lại cái kỷ niệm vui buồn với nhau trong thời gian chung sống dưới mái nhà Phục Hưng thân thương ấy.

Riêng bản thân mình, thì mấy năm trước đây tôi đã viết một bài nhan đề là “Những ngày xưa thân ái ấy” – để ghi lại cái kỷ niệm thân thiết với các bạn cùng sát cánh với nhau tại cư xá Phục Hưng này trong thời gian giữa những năm 1950 thanh bình êm ả tuyệt vời đó.

Nhưng đúng theo với nhan đề ở trên, thì bài này không nhằm viết về chuyện riêng tư của anh em trong Đại Gia đình Phục Hưng chúng tôi – mà chủ yếu là để bàn về chuyện đa số chúng ta phải làm sao mà “Sống Cho Đẹp Với Nhau” – giữa cuộc đời tại thế nơi quê hương đất nước, vào ngay giờ phút hiện tại lúc này đây (như người Âu Mỹ thường dùng từ ngữ trong tiếng La tinh : “hic et nunc” – mà trong tiếng Anh, thì là : “here and now”). Tôi xin lần lượt khai triển chủ đề qua mấy mục sau đây.

1 – “Nếu muốn cúng cho tôi , thì hãy cúng ngay bây giờ – lúc tôi hãy còn sống sờ sờ ra đây này.”

Cách nay không lâu, một số anh em Phục Hưng chúng tôi ở Nam California được một anh bạn mời đến nhà anh chị tại thành phố Westminster để uống cà phê, ăn sáng. Gia chủ đó chính là anh chị Bùi Hòang Ân & Mỵ Nương đã cho chúng tôi thưởng thức món bánh và cà phê rất đặc sắc do chính anh chị đích thân chế biến. Câu chuyện râm ran thật vui vẻ, hồn nhiên sinh động giữa anh chị em chúng tôi – tiếp nối với cuộc Hội ngộ của đông đảo bạn hữu xảy ra vài ba tuần trước đó.

Chúng tôi ngạc nhiên về số thiết bị đồ sộ trong căn bếp và tò mò hỏi gia chủ, thì được anh chị kể lại nguyên do câu chuyện thật là ngộ nghĩnh như thế này. Mấy năm trước anh Ân có triệu chứng bị bệnh ung thư, nên phải nghỉ làm việc để điều trị. Trong thời gian nghỉ ngơi để chữa bệnh, anh Ân mới nói với chị Mỵ Nương đại khái như thế này ; “ Bệnh tình của tôi không biết sống chết như thế nào. Nhưng mà, nếu bà có thương tôi, thì đừng có đợi đến khi tôi lìa đời, rồi mới đem cúng giỗ của ngon vật lạ cho tôi nha. Mà trái lại, bà cứ cúng cho tôi ngay lúc này, khi tôi còn sống sờ sờ ra đây, tôi còn thưởng thức được những thứ ngon ngọt quý báu đó… Có như vậy, thì mới rõ là thật lòng với nhau đấy!”

Chị Mỵ Nương tiếp lời, nói với bọn tôi : “Các anh chị thấy đấy, anh Ân đã nói như vậy, thì tôi làm sao mà còn dám chối từ điều gì với anh ấy nữa. Và tôi đã hết sức chiều theo các ước muốn của anh – đó là lý do tại sao chúng tôi sắm sửa các vật dụng để chế biến cà phê và làm bánh như các bạn thấy bữa nay. May mà rút cục anh Ân đã tai qua nạn khỏi, căn bệnh ban đầu tưởng là hiểm nghèo, thì nay đã tan biến đi rồi để anh có thể đi làm trở lại như trước kia. Vợ chồng chúng tôi thật mừng rỡ và riêng tôi mỗi khi nhớ đến cái câu nói “ Xin cúng tôi ngay lúc này…” của anh Ân, thì tôi không khỏi cười thầm – và quả thật chúng tôi thật tâm đắc với nhau lắm lắm vậy đó…”

Bọn khách mời chúng tôi buổi sáng hôm đó – tất cả đều là các cựu lưu trú sinh ở câu lạc bộ Phục Hưng thời kỳ trước năm 1975 – thì không những được thưởng thức một bữa ăn sáng ngon miệng, mà đặc biệt lại được biết đến một câu chuyện vui vẻ, ngộ nghĩnh lý thú trong gia đình của anh chị bạn Hòang Ân & Mỵ Nương này.

2 – “ Nếu có yêu tôi, thì hãy yêu tôi bây giờ…”

Câu chuyện của anh chị Hòang Ân & Mỵ Nương nói trên làm cho tôi nhớ đến bài hát được nhiều người ưa thích, đó là bài có tựa đề “Nếu có yêu tôi” của nhạc sĩ Duy Đức phổ nhạc từ bài thơ của nữ thi sĩ Ngô Tịnh Yên. Xin ghi lại một vài đọan trong bài nhạc như sau :

“ Nếu có yêu tôi, thì hãy yêu tôi bây giờ

Đừng để ngày mai, đến lúc tôi qua đời

Đừng để ngày mai, có khi tôi thành mây khói

Cát bụi – làm sao mà biết mỉm cười.

Nếu có bao dung, thì hãy bao dung bây giờ

Đừng để ngày mai, đến lúc tôi xa đời.

……”

Rõ ràng bài ca này chứa đựng một nội dung triết lý rất là thực dụng, lạc quan, cụ thể – không hề chấp nhận một sự mơ hồ viển vông nào trong mối quan hệ giữa những con người hiện đang sát cánh với nhau mà sinh sống trên cuộc đất này. Đây cũng là một lời mời gọi để mỗi người nên quan tâm đến những nhu cầu thiết thực của nhau – hầu có những hành động thích đáng nhằm đem lại sự an vui thỏai mái cho người thân thiết gần gũi xung quanh mình.

Trên phạm vi rộng lớn hơn, thì bài thi ca này cũng làm cho ta nhớ lại câu văn bất hủ của văn hào người Nga Boris Pasternak – ông là tác giả cuốn truyện đặc sắc Doctor Zhivago, mà cũng là một nhà văn được cấp phát Giải thưởng Nobel về Văn chương năm 1958. Câu văn đó như sau : “Con người sinh ra để sống, chứ không phải để chuẩn bị sống” (Bản dịch Anh ngữ : “Man is born to live, and not to prepare to live”.

Nếu ta chú ý đến bối cảnh kinh hòang ở Liên Xô dưới chế độ tàn bạo của Stalin thời các năm 1930 – 40, thì lời phát biểu của Pasternak ghi trên thật là sáng suốt và can đảm. Đó cũng là một lời phủ định dứt khóat đối với sự hứa hẹn về cái “thiên đường cộng sản” – mà người theo chủ nghĩa marxist-leninist vẫn rêu rao khắp nơi từ thập niên 1930 (được gọi là thập niên đỏ = décade rouge) rằng sẽ có những “Ngày Mai Ca Hát” (des lendemains qui chantent như người cộng sản ở Pháp thường nói).

Ngày nay ở vào thế kỷ XXI, sau khi chế độ cộng sản hòan tòan bị sụp đổ ở Liên Xô và ở Đông Âu, thì tòan thể nhân lọai chúng ta càng nhận thức được rõ ràng hơn về cái thủ đọan mê hoặc, dối trá và cực kỳ tàn bạo của phe cộng sản – đến độ gây ra biết bao nhiêu thảm họa cho hàng mấy trăm triệu con người trong thế kỷ XX vừa qua.

3 – “Yêu thương nhau, đó là cùng với nhau nhìn chung về một hướng”.

Thế hệ sinh viên chúng tôi ở miền Nam Việt nam vào hồi thập niên 1950, thì hầu hết đều đọc thông thạo được sách báo tiếng Pháp. Ở độ tuổi đôi mươi, chúng tôi say mê đọc những cuốn sách của Raymond Aron, Jean-Paul Sartre, Albert Camus, Antoine de Saint-Exupéry v.v…Chúng tôi thật tâm đắc với cái định nghĩa về Tình Yêu của nhà văn – phi công Saint-Exupéry qua câu văn thật ngắn gọn như sau : “Yêu thương nhau, không phải là hai người nhìn ngắm nhau. Mà là cùng với nhau nhìn chung về một hướng”. (Nguyên văn tiếng Pháp là : “Aimer, ce n’est pas regarder l’un l’autre. Mais c’est regarder ensemble dans une même direction”)

Trong nội bộ của một gia đình, thì tình yêu giữa hai vợ chồng mỗi ngày càng được củng cố bền chặt hơn – chủ yếu bởi cái sự cố gắng bền bỉ mà cả hai người đều chung nhau lo lắng chăm sóc cho đứa con – vốn là kết quả phát sinh từ tình yêu chân thật của đôi lứa.

Còn trong phạm vi rộng lớn như sinh họat cộng đồng của cả một dân tộc, thì tình yêu thương đích thực giữa các thành viên cấu tạo thành cộng đồng này chính là cái ý chí chung, cái khát vọng và sự cam kết của cả tập thể dân tộc đó nhằm xây dựng một xã hội an vui, thịnh vượng và nhân ái – trong đó phẩm giá của mỗi người đều được tôn trọng và quyền con người đều được bảo đảm.

Chuyện cụ thể thiết thực và phấn khởi nhất của sự biểu lộ ý chí và cam kết này, đó là sự đồng lọat của nhiều người – thuộc đủ mọi giới ở trong cũng như ở ngòai nước – cùng bày tỏ gia nhập vào Diễn Đàn Xã Hội Dân Sự – mà vừa được phát động vào ngày 23 tháng 9 năm 2013 – đúng vào lúc tôi bắt đầu bài viết này.

Bản thân tôi cũng đã vừa ký tên gia nhập Diễn Đàn XHDS này, và trong danh sách những người đã ký tên gia nhập Diễn Đàn tôi nhận ra nhiều người đã từng là bạn hữu thân thiết lâu nay của tôi. Cái hành động “Dấn thân tập thể” đó chính là sự biểu lộ tình Liên đới mỗi ngày thêm mạnh mẽ hơn mãi – và cũng là sự khởi đầu của một Tập hợp Quần chúng nhằm đòi lại cái Quyền Chủ Động và Tự Quyết của Tòan thể Dân tộc – trong công cuộc giải thóat Đất nước khỏi cái vòng nô lệ cay nghiệt của cả hai thứ giặc nội xâm cũng như ngọai xâm hiện đang tung hòanh dày xéo trên giang sơn gấm vóc – mà cha ông chúng ta đã đổ ra biết bao xương máu để xây dựng và bảo vệ từ mấy ngàn năm nay.

Quả thật, chúng tôi yêu thương nhau vì cùng chung sát cánh với nhau trong công việc góp phần kiến tạo một xã hội tiến bộ, thịnh vượng và nhân ái cho thật xứng đáng với phẩm giá cao quý của mỗi thành viên trong cộng đồng dân tộc Việt nam thân yêu này vậy./

Costa Mesa California, ngày 25 tháng Chín 2013

Đoàn Thanh Liêm

CHUYỆN MỘT BÀI CA DAO CỔ – PHANVANCHO

CHUYỆN MỘT BÀI CA DAO CỔ – PHANVANCHO

alt

 

” Đi chợ tính tiền “là một bài ca dao lục bát.Bài đã được in làm bài Học thuộc lòng cho học sinh lớp ” sơ đẳng ” trong sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư ,năm 1948.Bài thơ kể chuyện một người phụ nữ đi chợ về,phải trình bày minh bạch ,rõ ràng việc chi tiêu với chồng.
Ngày xưa khi học bài này thầy giáo chỉ nêu đại ý như rứa,đồng thời nêu bật tính đảm đang,khéo vén của người phụ nữ xưa….sau đó yêu cầu học sinh học thuộc.Thầy không giảng về bài toán ẩn trong bài thơ,có lẽ vì thời thế đã khác (Khoảng năm 1958,chưa được vào trường công lập,người viết học với Ông giáo…  ở khoảng giữa cầu An Cựu và lăng Vạn Vạn,không biết có phải là thân sinh của nhà văn Hải Triều không?)đồng tiền cũng đã đổi thay,hoặc giải bài toán chắc chi những học trò nhỏ hiểu được.
Đã hơn năm mươi năm,bây giờ người học trò xưa đang ngồi ôm tóc trắng…một ngày mưa ngồi buồn chợt nhớ thầy đồ nơi xóm cũ ngày xưa chừ không còn,nhưng bài thơ vẫn còn đọng mãi trong đầu của bài Học thuộc lòng thửa ấy.Bèn tìm giấy giải thử.
Ngay câu thơ đầu tiên đã gặp ngay vấn nạn.”Một quan tiền tốt mang đi”.Một quan là bao nhiêu ?Quan là đồng tiền cổ,những người muôn năm cũ  giờ không còn,biết hỏi ai đây?Chợt nghe vang vang trong đầu một bài nhạc của nhạc sĩ Văn Phụng:

Một quan là sáu trăm đồng.

Chắt chiu tháng tháng cho chồng đi thi.(Thơ của Nguyễn Bính).

Vận dụng cả 4 phép tính cộng trừ nhân chia,đảo xuôi ngược,lên xuống…mãi vẫn không đủ 600 đồng cho một quan tiền!
Lại phải đi tìm  trong lịch sử.Trong một ngàn năm Bắc thuộc,dân Việt không có đồng tiền riêng . Mãi đến sau khi Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán ,dân Việt vẫn còn dùng đến đồng tiền của phương Bắc. Đến năm 968,Đinh Bộ Lĩnh sau khi dẹp loạn 12 sứ quân ,lên ngôi hoàng đế với đế hiệu Đinh Tiên Hoàng,niên hiệu Thái Bình. Năm 970 nhà vua đã cho đúc những đồng tiền Thái Bình Hưng Bảo.Đây chính là những đồng tiền đầu tiên của người Việt.Từ đó tiếp đến những triều đại sau đều theo .
Đơn vị để tính tiền xưa gồm có :quan,tiền ,đồng.Mỗi quan có giá trị là 10 tiền,mỗi tiền bằng bao nhiêu đồng tùy theo quy định của mỗi thời đại.Theo sử sách giá trị đồng tiền các thời đại như sau:
1/ Năm 1225,vua Trần Thái Tông định phép dùng tiền.1 quan bằng 10 tiền.1 tiền bằng 70 đồng.
2/ Năm 1428 vua Lê Thái Tổ cho đúc tiền Thuận Thiên.1 quan bằng 10 tiền.1 tiền bằng 50 đồng.
3/ Năm 1439,vua Lê Thái Tông quy định 1 quan bằng 10 tiền ,1 tiền bằng 60 đồng.
Như vậy 1 quan=10 tiền=600 đồng.
Từ đó các triều đại về sau,mỗi khi đúc một loại tiền mới đều theo tỷ lệ này,cho đến cuối triều Nguyễn năm 1945.Chỉ có tên đồng tiền là thay đổi theo tên hiệu.
Năm 1905 ,chính quyền bảo hộ Bắc kỳ  cho phát hành loại tiền đúc bằng hợp kim kẽm.Loại tiền này mặt trước in chữ Pháp,mặt sau ghi chữ Hán,có giá trị tương đương các loại tiền đồng như Gia Long Thông Bảo,Minh Mệnh Thông Bảo,Thiệu Trị Thông Bảo và Tự Đức Thông Bảo.

Trong những đời vua sau của nhà Nguyễn còn có thêm hai đồng tiền khác là Khải Định Thông Bảo và Bảo Đại Thông Bảo,hai loại tiền này không đúc như những đồng tiền xưa mà được dập bằng máy dập nhập từ nước Pháp.
Đến đây chắc chắn là bài toán ẩn bên trong bài ca dao đã giải được.Ghi lại như sau,bên phải là các phép tính đã giải.


ĐI CHỢ TÍNH TIỀN

Một quan tiền tốt mang đi,                                                     600
Nàng mua những gì mà tính chẳng ra.
Thoạt tiên mua ba tiền gà,                                   3×60       = 180
Tiền rưỡi gạo nếp với ba đồng trầu.                   60+30+3=   93

Trở lại mua sáu đồng cau,                                                    =     6

Tiền rưỡi miếng thịt,giá rau mười đồng.     (1,5×60)+10 = 100
Có gì mà tính chẳng thông?
Tiền rưỡi gạo tẻ,sáu đồng chè tươi.              60+30+6      =   96
Ba mươi, đồng rượu chàng ơi,                                              =   30
Ba mươi đồng mật,hai mươi đồng vàng.        30+20        =   50
Hai chén nước mắm rõ ràng,
Hai bảy mười bốn,kẻo chàng hồ nghi.            2×7             =   14
Hai mươi mốt đồng bột nấu chè,                                        =    21
Mười đồng nải chuối,chẵn thì một quan.                          =    10

CỘNG                                                                                      = 600

Ảnh PVC từ tủ sách GĐ

Trong sách QVGKT bên dưới bài học thuộc lòng này có 3 từ giải nghĩa,ghi nguyên văn như sau :”GIẢI NGHĨA.Tiền tốt=tiền tiêu được.Vàng=đồ làm bằng giấy cúng rồi đốt đi.Hồ nghi=ngờ vực,không biết rõ”.
Những giải nghĩa này chỉ để giải thích cho lớp học trò tóc còn để chỏm,dễ hiểu,dễ nhớ.Đi chợ tất phải đem theo tiền,tiền phải có giá trị trong mua bán… là chuyện đương nhiên. Nhưng sao gọi là tiền tốt?Một bài cao dao được lưu truyền,được in trong sách giáo khoa từ lúc ra đời (Bản in đầu tiên năm 1927) đến lúc cải tiến thay đổi,không lẽ vì bí vần mà viết vụng thế sao! Thế là người viết phải đi tìm tiếp.
Có một giai thoại trong văn học về Bà Chúa thơ Nôm.Chuyện kể rằng Hồ Xuân Hương thiếu tiền bèn hỏi mượn của Chiêu Hổ 5 quan để tiêu tạm. Chiêu Hổ gởi tiền đến,đếm hoài vẫn chỉ thấy có  3 quan.Nữ sĩ bèn làm bài thơ trách người cho mượn tiền:
Sao nói rằng năm chỉ có ba.
Trách người quân tử hẹn sai ra.
Bao giờ thong thả lên chơi nguyệt.
Nhớ hái cho xin nắm lá đa.


Chiêu Hổ họa lại:
Rằng gián thì năm,quý có ba.
Bởi người thục nữ tính không ra.
Ừ rồi thong thả lên chơi nguyệt.
Cho cả cành đa lẫn củ đa.
Trong bài họa của Chiêu Hổ có chữ gián và quý.Đây là cơ sở dẫn người viết đi tìm tiếp. Đã có công tất …chồng không phụ,kết quả đã tìm được:
Khoảng thế kỷ 18,dưới triều vua Minh Mạng có hai loại tiền lưu hành.Đó là tiền quý và tiền gián,tỷ lệ như sau: 1quan quý = 600đồng.         1 quan gián chỉ bằng 360 đồng.
Khi hỏi mượn tiền ,Hồ Xuân Hương chỉ nói mượn 5 quan,không nói là quan gì.Gặp lúc Chiêu Hổ chắc cũng đang thiếu nên chỉ cho mượn số tiền thấp xuống,nhưng vẫn đủ 5 quan:
Quan quý :   3×600      =1800 đồng
1800:360 =   5 quan gián

Giá trị của các loại tiền xưa như thế nào?Đây là những số liệu về lương tiền dưới triều vua Minh Mạng.
-Quan Nhất Phẩm lãnh mỗi năm 400 quan,300 phương gạo,70 quan tiền Xuân Phục,tức tiền áo quần.
-Quan Chánh ngũ phẩm,hàng tri phủ mỗi năm lương 40 quan,43 phương gạo,9 quan tiền Xuân Phục.
-Lính,thơ lại,phục dịch  …lương mỗi tháng 1quan,tiền,1 phương gạo.
Đồng quan ngày xưa nó to thế.Chẳng trách người ta bỏ …quan ra để mua phẩm hàm ,chức tước…để được làm quan!Chẳng trách người phụ nữ ” thời xưa”(tên khác của bài thơ Trăng sáng vườn chè) quên cả thanh xuân,gác tạm những ẩn ức ,dồn nén để một ngày chồng vinh qui về làng…cùng nhau trãi trọn trong một đêm trăng!
Qua những số liệu vừa tìm được,ta có thể thấy rõ bài ca dao “Đi chợ tính tiền” xuất hiện sớm nhất phải từ thời Minh Mạng.Bởi từ lúc này mới có “Một quan tiền  TỐT”mang đi.Tiền tốt chính là tiền quý,phân biệt với tiền gián có giá trị thấp hơn. Cũng thấy được,người phụ nữ trong một buổi chợ quê đã tiêu số tiền bằng lương tháng một người lính.Nhà nàng chắc phải có chuyện quan hôn,kỵ giỗ chi đây!

Thật thú vị,để giải bài toán ẩn bên trong bài ca dao,đã phải đi loanh quanh,lòng vòng.Gặp những bài thơ hay,giai thoại đẹp,biết thêm vài điều về lịch sử…Nếu không có Internet chắc gì người viết đã giải được bài toán ẩn bên trong bài ca dao cổ?Chỉ nghĩ đến kho sách phải lục tìm,những thư viện phải đi đến …đã thấy chồn chân chẳng muốn leo !


PVC (Pleiku 22-8-2011)

Để giết một người Mỹ!

Để giết một người Mỹ!

Bạn có thể bỏ qua mẩu tin này trong hàng đống tin tức hàng ngày, nhưng hiện nay có báo cáo cho biết một người nào đó ở Pakistan đã đăng quảng cáo trên báo chí là sẽ trao một giải thưởng cho bất cứ người nào giết được một người Mỹ, bất kỳ người Mỹ nào cũng được.

Vì thế nha sĩ người Úc này ngay ngày hôm sau đã viết một bản thông báo cho mọi người hiểu tường tận người Mỹ là ai, người Mỹ là thế nào, để mọi người có thể nhận diện khi gặp một người Mỹ!

Một người Mỹ có thể là một người Anh, hoặc người Pháp, người Ý, người Ái Nhĩ Lan, người Đức, người Tây Ban Nha, người Ba Lan, người Nga hoặc người Hy Lạp.

Một người Mỹ cũng có thể là một người Canada, người Mễ Tây Cơ, người từ Châu Phi, người Ấn Độ, người Trung Quốc, người Nhật, người Việt Nam, người Hàn Quốc, người H’ Mông, người Khmer, người Thái Lan, người Úc, người Mã Lai, người Iran, người Trung Đông, người Ả Rập, người Pakistan hoặc người Afghanistan.

Một người Mỹ còn có thể là người Comanche, người Cherokee, người Osage, người Blackfoot, người Navaho, người Apache, người Seminole hoặc là con dân của một trong những bộ tộc thổ dân da đỏ bản địa Mỹ trước kia.

Người Mỹ có thể theo đạo Thiên Chúa giáo, đạo Tin Lành, Do Thái giáo, đạo Phật, đạo Hồi.

Sự thật là số người theo đạo Hồi ở Mỹ đông hơn là ở  Afghanistan .

Sự khác biệt duy nhất là ở Mỹ, người ta có thể tự do sùng bái một tín ngưỡng nào đó mà họ đã lựa chọn.

Người Mỹ cũng có thể là một người được quyền tự do không tin vào bất kỳ tín ngưỡng nào.

Chính vì thế mà họ sẽ chỉ phải trả lời trước Thượng Đế, chứ không phải là trước nhà cầm quyền hoặc trước một nhóm vũ trang nào đó tự phong cho mình cái quyền phát ngôn thay cho nhà cầm quyền hay Thượng Đế.

Người Mỹ sống trong một đất nước trù phú nhất thế giới.

Cội nguồn của sự trù phú này là ở Tuyên ngôn Độc Lập của họ, thừa nhận rằng Thượng Đế đã ban cho mỗi người cái quyền được tự do mưu cầu hạnh phúc.

Người Mỹ rất độ lượng.

image

Người Mỹ đã chìa tay ra để giúp đỡ tất cả những dân tộc nào cần đến mình trên thế giới, mà chưa bao giờ đòi hỏi được trả ơn.

Khi đất nước Afghanistan bị xâm chiếm bởi quân đội Soviet  20  năm trước đây, người Mỹ đã đến cùng với vũ khí và tiếp liệu giúp cho người dân xứ này đứng lên giành lại đất nước!

Trước ngày 11 tháng 9 định mệnh ấy, Người Mỹ đã viện trợ cho dân nghèo  Afghanistan với số lượng nhiều hơn bất cứ quốc gia nào khác trên thế giới.

Biểu tượng quốc gia của Mỹ.

image

Tượng Nữ Thần Tự Do chào mừng những người đói nghèo và kiệt sức, những người đã bị chính quê hương mình từ chối, những kẻ vô gia cư, những người bị dập vùi sau cơn bão tố!

Thế rồi, sau đó chính họ là những người đã xây dựng nên nước Mỹ của ngày hôm nay!

Một số người trong số họ đang làm việc tại Tòa Tháp đôi vào buổi sáng 11  tháng 9 năm 2001, phấn đấu làm sao có được một mức sống tốt hơn cho gia đình của mình!

Thống kê cho thấy các nạn nhân ở tòa Tháp Đôi hôm ấy đã đến từ ít nhất 30 quốc gia, nền văn hóa, và ngôn ngữ ban đầu khác nhau, kể cả những kẻ trước kia đã từng giúp đỡ và ủng hộ các tên khủng bố. 

Vậy bạn hãy cố gắng giết một người Mỹ nếu bạn thực sự phải làm như thế!

Hitler đã giết!

Tướng Tojo của phát xít Nhật cũng đã giết!

Stalin, Mao Tse-Tung, cùng các tên bạo chúa khát máu khác trên thế giới cũng đã giết !…

Nhưng khi giết hại người Mỹ như vậy tức là bạn đã tự giết hại chính mình!

Vì người Mỹ không phải là một người đặc biệt ở một nơi đặc biệt nào đó trên trái đất này.

Họ là hiện thân cho tinh thần tự do của loài người!

Tất cả những người cùng đề cao tinh thần tự do ấy, cho dù họ ở bất cứ nơi đâu trên thế giới này thì cũng được xem như là một người Mỹ!

Hãy để thông điệp này bay đi!

Xin hãy để nó bay đi khắp thế giới!

Hãy giúp nó luân chuyển giữa tất cả các bạn bè của chúng ta.

Nó sẽ nói lên tất cả, nói tiếng nói tự do chung cho tất cả chúng ta!

Xin đừng xóa mà hãy gửi nó đi!

Xin cảm ơn tất cả các bạn!

(Lá thư này được viết bởi một nha sĩ người Úc. Biên dịch theo bản gốc tiếng Anh)

Thật kỳ lạ

Thật kỳ lạ


Sưu Tầm

9/24/2013

Thật kỳ lạ khi thấy một tờ giấy bạc có giá trị quá lớn khi bỏ vào giỏ nhà thờ, nhưng lại quá nhỏ khi đi chợ mua sắm!

Thật kỳ lạ khi thấy một tiếng đồng hồ ở trong Nhà Chúa sao mà lâu thế,
nhưng nếu mà đi xem xi-nê thì lại quá lẹ !

Thật kỳ lạ khi cầu nguyện thì chẳng biết nói gì,
nhưng khi nói chuyện với bạn bè thì lại chẳng hết chuyện cà kê dê ngỗng để nói!

Thật kỳ lạ vì chúng ta thấy rất hồi hộp khi trận đá bóng phải kéo dài thêm mấy phút phụ trội,
nhưng lại cầm ràm khi một bài giảng Thánh Lễ có vẻ dài hơn mọi khi!

Thật kỳ lạ vì chúng ta thấy khó khăn khi phải đọc một đoạn Kinh Thánh,
nhưng lại rất dễ dàng đọc hàng trăm trang tiểu thuyết liên tu bất tận !

Thật kỳ lạ khi thấy nhiều người thích ngồi những hàng ghế đầu khi đi dự những buổi đại nhạc hội hay các trận đấu bóng,
nhưng lại cứ tìm chỗ ngồi ở những hàng ghế cuối trong thánh đường!

Thật kỳ lạ khi chúng ta cần phải mất đến hai,ba tuần lễ trước để sắp xếp thời giờ cho những công việc của Nhà Chúa,
nhưng lại dễ dàng thích ứng thời giờ cho những chương trình khác trong chớp nhoáng vào phút chót!

Thật kỳ lạ sao thấy quá khó khăn để nhớ một đoạn Kinh Thánh hầu có thể thuật lại cho người khác,
nhưng lại rất dễ dàng để hiểu và nhớ những lời đàm tiếu gièm pha để kể cho người khác nghe!

Thật kỳ lạ sao chúng ta rất dễ tin những gì báo chí đăng tải,
nhưng lại tỏ ra nghi ngờ, đặt vấn đề này kia về vấn đề Kinh Thánh dậy!

Thật kỳ lạ sao ai cũng muốn được lên Thiên Đàng
mà lại không phải tin, không phải suy nghĩ, không phải nói hay làm gì cho đàng hoàng cả!

Thật kỳ lạ khi có thể gởi các câu chuyện bù khú tiếu lâm qua e-mail và nó sẽ được chuyển đi thật nhanh,
nhưng khi gởi những gì liên quan đến Thiên Chúa thì người ta lại suy nghĩ cẩn thận xem có nên gởi đi chia sẻ với người khác hay không?

Đức Biển Đức 16 trả lời một nhà toán học vô thần

Đức Biển Đức 16 trả lời một nhà toán học vô thần


Lm. Trần Đức Anh OP

9/24/2013

VATICAN. Đức nguyên Giáo Hoàng Biển Đức 16 đã trả lời cho những tấn công của một nhà toán học vô thần người Italia, ông Piergiorgio Odifreddi.

Ông thường xuất hiện trên truyền hình ở Italia và mạnh mẽ phê bình tôn giáo, đặc biệt là Công Giáo. Ông đã viết cuốn ”Giáo Hoàng thân mến, tôi viết cho ngài” (Caro Papa ti scrivo), để trả lời cho cuốn ”Dẫn vào Kitô giáo” (Introduzione al Cristianesimo) của ĐGH Ratzinger.

Lá thư dài 11 trang được Đức nguyên Giáo Hoàng viết trong tháng 8 gửi đến ông Odifreddi hồi đầu tháng 9-2013. Ông đã cho báo phe tả ”Repubblica” (Cộng Hòa), đăng tải trong số ra ngày 24-9-2013.

Trong thư ĐGH Biển Đức cho biết đã đọc sách của ông Odifreddi và ngạc nhiên vì giọng văn gây hấn và sự nhẹ dạ của tác giả trong các biện luận. Ngài bác bỏ lập luận cho rằng thần học là một khoa học giả tưởng, đồng thời xác quyết ngài không bao giờ tìm cách che đậy những điều xấu trong Giáo Hội, những vụ giáo sĩ lạm dụng tính dục. Thư của Đức Biển Đức 16 có đoạn viết: ”Tôi không bao giờ tìm cách che đậy những điều ấy. Sự kiện quyền lực sự ác thấu nhập đến mức độ đó vào trong lòng thế giới đức tin, đối với chúng tôi, đó thực là một điều đau khổ mà một đàng chúng tôi phải chấp nhận, và đàng khác chúng tôi phải làm tất cả những gì có thể để những vụ như thế không tái diễn. Cũng không phải là một điều an ủi khi biết rằng theo nghiên cứu của các nhà xã hội học, tỷ lệ các linh mục phạm những tội ác lạm dụng như thế không cao hơn tỷ lệ trong các giới chuyên nghiệp tương tự. Dầu sao đi nữa, không được ngoan cố trình bày sự lệch lạc ấy như thế đó là một sự nhơ bẩn riêng của Công Giáo mà thôi. Và cũng không được im lặng trước vết tích lớn lao về thiện hảo sáng ngời và tinh tuyền mà đức tin Kitô đã vạch ra qua dòng lịch sử. Và một điều thực sự là ngày nay đức tin đang thúc đẩy nhiều người yêu thương vô vị lợi, phục vụ tha nhân, sống chân thành và công chính”.

Sự trách cứ nghiêm khắc nhất Đức nguyên Giáo Hoàng dành cho ông Odifreddi là về đề tài lịch sử. Ngài viết: ”Điều mà ông nói về Đức Giêsu không đáng với trình độ khoa học của ông. Nếu Ông đặt vấn đề như thế, xét cho cùng, người ta không biết gì về Đức Giêsu, và không gì có thể chấp nhận được chứng tỏ Ngài là một nhân vật lịch sử, như thế thì tôi chỉ có thể quyết liệt mời gọi ông hãy tỏ ra có thẩm quyền hơn một chút về phương diện sử học. Về vấn đề này, tôi đặc biệt khuyên ông đọc 4 cuốn mà Martin Hengel, một nhà chú giải Kinh Thánh thuộc phân khoa thần học tin lành ở Tuebingen, đã xuất bản cùng với Maria Schwmer: đây là một thí dụ tuyệt hảo về sự chính xác lịch sử và cung cấp rất nhiều thông tin lịch s. Đứng trước sự kiện ấy, điều mà ông nói về Đức Giêsu thực là một kiểu nói nhẹ dạ không nên lập lại”.

ĐGH Biển Đức 16 cũng đặt câu hỏi với ông Odifreddi: ”Nếu ông muốn thay thế Thiên Chúa bằng ”Thiên Nhiên”, thì vẫn còn có câu hỏi: thiên nhiên này là ai hoặc là gì. Không có chỗ nào trong sách ông định nghĩa thiên nhiên và vì thế nó thiên nhiên xuất hiện như thần minh vô lý, chẳng giải thích gì cả.. Nhưng nhất là tôi muốn nhận xét rằng trong Tôn giáo của ông về toán học, có 3 đề tài cơ bản của cuọc sống con người không được xét tới: tự do, tình yêu và sự ác. Tôi ngạc nhiên vì ông chỉ nhắc lướt qua tới tự do, mặc dù đây đã và đang còn là giá trị chủ yếu của thời đại ngày nay”. Tình yêu cũng không được nói đến trong sách của Odifreddi và cả sự ác cũng chẳng được đề cập đến.. Tôn giáo toán học của ông không biết thông tin nào về sự ác. Một tôn giáo bỏ qua những câu hỏi cơ bản như thế thì là một tôn giáo trống rỗng”

Từ khi từ nhiệm và sống ẩn dật tại Vatican, đây là lần thứ hai ĐGH Biển Đức 16 ”xuất hiện” công khai, nhưng ngài vẫn giữ nguyên lời hứa ẩn mình đối với thế giới (Vat. Ins. 24-9-2013)

Việt Nam: Cái chết biết trước của tự do thông tin

Việt Nam: Cái chết biết trước của tự do thông tin

23.09.2013

Một hôm trước ngày Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng thăm Pháp, Tổ chức Phóng viên Không Biên giới RSF có trụ sở ở Pháp đã công bố phúc trình “Cái chết biết trước của tự do thông tin” tại Việt Nam.

Phúc trình xét đến những phương pháp mà chính phủ của ông Dũng đã sử dụng để kiểm duyệt truyền thông, gây rối các blogger và các người bất đồng chính kiến trên mạng.

RSF đã trình bày những kết luận của mình trong buổi họp báo hôm thứ Hai tại trụ sở của hội của Paris.

Thay vì đưa ra chi tiết nhiều vụ truy bức các blogger, phúc trình xét đến cơ chế đàn áp một cách tổng thể, ảnh hưởng đến tất cả người dân Việt Nam, không riêng gì con số độ 40 blogger.

RSF nói họ định lợi dụng chuyến đi Pháp của Thủ tướng Dũng để nói lên tình trang kinh khiếp về tự do thông tin tại Việt Nam, và để ông lưu ý về tình trạng của 35 blogger còn đang bị tù.

RSF cũng định trao cho Thủ tướng Dũng kiến nghị có 25.000 chữ ký kêu gọi trả tự do cho các blogger này, nhưng đáng tiếc sau nhiều lần tiếp xúc vẫn chưa có câu trả lời.

RSF kêu gọi chính phủ Pháp đừng làm ngơ về quyền tự do báo chí và thông tin tại Việt Nam, đừng quên những vụ hành hung nhà báo và blogger vào lúc Pháp và Việt Nam đang củng cố quan hệ.

Nguồn: Reporters Without Borders

TẤT CẢ LÀ HỒNG ÂN

TẤT CẢ LÀ HỒNG ÂN

Tác giả: Lm. Anmai, C.Ss.R.

Thường, sau giờ cơm, anh em chúng tôi có chút thời gian thư giãn, tếu táo với nhau một lát rồi đi nghỉ.

Trưa hôm nay, cảm hứng dậy lên trong lòng và người anh em kia ngêu ngao : “Hồng ân Chúa như mưa như mưa, rơi xuống đời con miên man miên man nâng đỡ tình con trong tay trong tay vòng tay thương mến …”. Nghe hát như thế, một người trêu lại : “… rơi xuống đời con te tua te tua …”.

Chắc có lẽ, dưới góc nhìn của người anh em về những kẻ thân phận phiêu bạt, trôi dạt vào một góc nào đó của cuộc đời nên trêu nhau tí cho đỡ buồn. Anh nói như thế như chia sẻ, cảm thông về phận của những kẻ bị gạt ra bên lề.

Hiểu lòng chạnh thương của anh và tôi nói với anh rằng biết là anh đùa nhưng mình không nên nghĩ như thế bởi lẽ trong cuộc sống, tất cả đều là hồng ân. Không phải sống trong cảnh khó khăn, bị bỏ rơi, bị gạt là hồng ân nhưng trong cảnh sống đó, ta có cơ may nắt gặp lòng “chạnh thương” thật sự của Thiên Chúa qua một số anh em.

Tôi nói, anh có nhớ hôm thứ Ba vừa rồi, trong bài chia sẻ của mình, cha giảng mời gọi anh em nhìn lại lòng chạnh thương của Chúa Giêsu khi Ngài thương cảnh mẹ góa phải chôn con côi. Cha nói rằng không phải lòng chạnh thương đó mình đặt ở đâu đó cách đây vài ba ngàn cây số hay ở đâu đâu. Lòng chạnh thương đó cần lắm ở những anh em đang nằm bệnh hay những anh em ở trên cao kia kìa, những anh em đang đang gặp khó khăn thử thách kìa …

Hóa ra rằng trong những giây phút khó khăn của cuộc đời, cũng có người chạnh thương đến anh em đang gặp khó khăn. Phải chăng đó là hồng ân mà Thiên Chúa đang trao gửi.

Và, tôi cũng nhắc với người anh em là mới hôm qua thôi. chẳng hiểu duyên cơ nào đến, cha giảng lại gợi lại hình ảnh của Phêrô và Giuđa. Cha giảng chia sẻ rằng có thể hôm nay con thấy mình thánh thiện nhưng biết đâu được đến một lúc nào đó con phản bội Chúa như Phêrô và Giuđa. Thế nhưng, chuyện quan trọng là trong lúc tăm tối của cuộc đời, ta có chạm đến ánh mắt chạnh thương của Chúa Giêsu hay không ? Ánh mắt của Chúa Giêsu đang bị trói ở góc sân Dinh Thượng Tế chứ không phải là ánh mắt khi làm phép lạ, khi hóa bánh ra nhiều, khi làm cho sóng gió yên lặng … Và, trong cuộc sống, ánh mắt của ta có chạm, có chạnh thương đến với những con người nghèo khổ đang ở ngay bên cạnh ta không ? …

Thế đó ! Hãy tạ ơn Chúa trong mọi hoàn cảnh như Thánh Phaolô mời gọi. Trong hoàn cảnh bi đát nhất của cuộc đời khi bị loại trừ, khi bị lên án, khi bị sỉ nhục đi chăng nữa thì ta vẫn còn một nơi để ta bám víu đó là chính ánh mắt, đó chính là lòng chạnh thương của Chúa Giêsu.

Trong cái thân phận bi đát tủi nhục của cuộc đời, ông Giob vẫn tin vào quyền năng của Thiên Chúa. Cuối đời, Thiên Chúa đã phục hồi cho ông những gì ông bị mất mát, đau khổ.

Trong cái nhìn khinh khi của cuộc đời, Đavit đã cúi đầu nhận tội với Thiên Chúa và ông được Thiên Chúa tha thứ. Trong cảm thức đau khổ, Đavít luôn xin Chúa chạnh thương con người yếu hèn của mình. Hồng ân thương xót tha thứ của Thiên Chúa đã đổ tràn trên đời của vua Thánh Đavít.

Với cảm nhận thực tại của cuộc sống ta sẽ cảm nhận đời ta quả là hồng ân Chúa cứ miên man miên man. Không phải chỉ nhắm đến cái ăn cái mặc cho cái thân xác tạm bợ bảy tám chục ký này nhưng khi nhìn vào thực tại cuộc sống, ta hạnh phúc hơn rất nhiều người.

Nghĩ xa hơn một tí, ta có thể bị thế này thế kia trong cuộc đời nhưng ta chưa phải lâm vào cảnh thiếu trước hụt sau hay phải chạy ăn từng bữa.

Những ngày này, thời tiết không như ta nghĩ và cũng không như ta mong muốn bởi ảnh hưởng của giông bão. Có thể sáng nắng đó nhưng chiều đến thì những cơn mưa giông thật lớn trào xuống. Và, cũng có thể trước khi ta đi ngủ, bỗng dưng cơn mưa nặng hạt như trút nước xuống. Và, dù mưa to gió lớn như thế nào đi chăng nữa, ta vẫn ấm êm trong căn nhà kiên cố để rồi gió và bão cũng chẳng làm gì được ta.

Và, ta đang vẫn còn hạnh phúc vơi thân thể chưa phải lâm vào cảnh trọng bệnh. Khi nào ta rơi vào cảnh đó ta mới cảm được thấu nỗi đau của phận người. Phận người vẫn mong manh và thật nhỏ bé trong bàn tay của Đấng Tạo Thành.

Hãy tạ ơn Chúa trong mọi hoàn cảnh, hãy chúc tụng Danh Chúa bởi vì muôn ơn lành Chúa vẫn ngày đêm tuôn đổ xuống trên đời ta và nhất là ánh mắt chạnh thương của một Giêsu giàu lòng thương xót luôn dõi nhìn ta dù cho ta có lỗi tội, dù ta phản bội Ngài.

Hãy xin cho có ơn như Phêrô và Giuđa để luôn dõi mắt nhìn ánh mắt chạnh thương của Chúa để được ơn cứu độ sau cõi tạm này.

Anmai, CSsR

Tác giả: Lm. Anmai, C.Ss.R.

KHI VỢ KHÁC NIỀM TIN TÔN GIÁO – Phần 1

KHI VỢ KHÁC NIỀM TIN TÔN GIÁO – Phần 1

Trích EPHATA 580

Người anh em mến,

Không khí tiết trời đang chuyển sang se se lạnh với gió nhẹ hiu hiu mỗi sớm mai thức dậy khiến nhiều người chúng ta đang trải nghiệm một cảm giác gì đó vừa thân quen lại vừa lạ lạ, bởi đất trời đổi thay và thời tiết thì cũng không nằm ngoài quy luật bất biến ấy. Cá nhân anh, cảm thấy lòng nhẹ nhàng và thanh thản đến lạ kỳ, khi mỗi sáng được ngồi bên khung cửa sổ của một quán cafe để chiêm ngắm cuộc sống.

Và ngay lúc này khi đang nghe đĩa nhạc thời danh Cantate Domino – một album nhạc cổ điển cho mùa Giáng Sinh đang về với chúng ta, đĩa nhạc được thực hiện bởi dàn nhạc Oscar’s Motet Choir dưới sự chỉ huy của Torsten Nilsson, với rất nhiều nhạc khúc tuyệt vời khác nhau của các nhà soạn nhạc tài ba qua mọi thời đại, anh chợt nhớ đến câu hỏi mà em đặt ra cho anh khi chúng ta trò chuyện cách đây ít lâu về chủ đề niềm tin tôn giáo trong cuộc sống lứa đôi.

Em cho anh biết, em đang quen bạn gái và người này lại khác niềm tin tôn giáo với em ( Một bên là Kitô Hữu Công Giáo và một bên là Phật Tử Phật Giáo ), em trăn trở vì không phải hai bạn khác nhau về niềm tin, nhưng là suy nghĩ đến thế hệ tiếp theo là những đứa con của hai em trong mối tương quan với tất cả những người xung quanh. Liệu con của các em nó có phát triển cách đúng đắn theo Đức Tin Công Giáo mà em đã được thụ hưởng không, hay nó sẽ bị rơi vào tình trạng rối loạn niềm tin như nhiều người khác mà em có dịp quen và làm việc chung với họ khi những người này là con của những gia đình khác niềm tin tôn giáo.

Trước vấn đề em suy nghĩ và trăn trở, anh xin được gửi đến em một vài chia sẻ khi đặt chính bản thân anh vào hoàn cảnh và tình huống của em. Những suy nghĩ này không có mối liên hệ gì đến Giáo Luật ( Vì Giáo Luật hoàn toàn cho phép hai bạn kết hôn khác niềm tin tôn giáo ), cũng không liên quan gì đến Pháp Luật ( Vì pháp luật không ngăn cấm ), và cũng không liên quan gì đến Đạo ( vì đạo nào thì cũng tốt theo nghĩa hướng người ta đến chỗ sống tốt ). Ở đây, anh chỉ đề cập đến yếu tố tập chú vào cháu bé khi còn nhỏ cho đến khi lớn lên trong mối tương quan cháu bé được hai em cho dự phần vào Đức Tin Công Giáo.

Vùng đất nhiễm phèn và ngập mặn

Ai cũng biết ở vùng đất thế này thì chẳng có cây gì có thể trồng trọt, canh tác, hay phát triển bình thường được. Đây là một sự thật từ thiên nhiên mời gọi chúng ta suy nghĩ về mối tương quan giữa hai bạn và các con của hai bạn sau hôn nhân trong mối liên hệ đến sự pha trộn quá nhiều cái mà chúng ta không gọi là sự khác biệt cho bằng sự bất đồng về quan điểm giáo dục và niềm tin. Nếu vùng đất nước ngập mặn và nhiễm phèn đã khó và gần như không thể canh tác và trồng trọt, thì hẳn một môi trường gia đình pha trộn sự bất đồng của nhiều yếu tố cũng khó có thể mang lại cho xã hội một nhân tố tốt lành và hữu ích. Cây đó nếu trồng được thì hẳn sẽ không bình thường nếu không muốn nói là èo uột, còn giả như bình thường thì hẳn trái của nó sẽ không ngon ngọt như những cây được trồng ở đúng vùng đất tốt và hoàn hảo.

Trước hết, chúng ta nói với nhau về sự bất đồng về quan điểm giáo dục. Ở đây, ai cũng nhân danh cái gọi là “muốn con mình là người tài đức và hữu ích cho gia đình và xã hội” trên môi miệng để tạo nên thế đối kháng khi giáo dục con cái về nhân cách. Có quá nhiều gia đình mà các bậc cha mẹ không thống nhất với nhau về quan điểm nuôi dạy con cái, đã tạo nên cho những người con mình một sự phát triển không đúng đắn về tâm lý và nhân cách sau này.

Vì sự không thống nhất này mà hễ cháu ngồi với cha thì cha nói một đằng, cháu nghe và áp dụng; khi ngồi bên mẹ, mẹ lại thủ thỉ một đằng khác trên cùng một vấn đề, và cháu thắc mắc vì sao có sự khác khác này giữa cha và mẹ thì cả hai đều thay vì giải thích để cháu thêm phong phú ( nếu có ) lại quay ra chê bai quan điểm của nhau, vì ai cũng muốn con mình tung hô và khen là tài giỏi ( Lớn rồi mà vẫn cứ như con nít ).

Thế nên, bối rối giữa cha và mẹ mà lại không được giải thích cặn kẽ, nên để khỏi mất lòng cha mẹ, cháu tự nghĩ ra một quan điểm mới mang tên là “Quan Điểm Của Tôi”. Từ nay, ông nói kệ ông, bà nói kệ bà, tôi sống theo cách của tôi. Về mặt này, người anh em cần suy nghĩ cho thật đúng đắn trước khi kết hôn, cần có những trao đổi thẳng thắn trong thời kì tìm hiểu chứ đừng vì sợ mất cảm hứng, hay mất vui, hay mất lòng mà ngần ngại không dám đề cập và trao đổi với nhau. Đây cũng là lầm lạc rất lớn của nhiều đôi bạn khi hoặc vì nhát đảm hoặc vì thiếu hiểu biết sâu sắc thật sự mà không dám đề cập khi đang “yêu nhau”, để rồi khi lấy nhau về họ cũng chưa dám nói ra, và khi có con thì mâu thuẫn từ đây nảy sinh. Và thế là thay vì khiêm tốn nhận ra thiếu sót và chân thành cùng bàn bạc ra một đường lối và quyết sách chung, họ lại áp dụng phương thức mạnh ai nấy dạy con cho nó thành quái nhân.

Thứ đến, chúng ta cùng nói về sự bất đồng trong quan điểm giáo dục niềm tin ( nói theo cách chung nhất, vì theo quan điểm Công Giáo thì gọi là Giáo Dục Đức Tin ). Người anh em vốn đã được giáo dục Đức Tin Công Giáo tinh tuyền từ tấm bé, thế nên theo Giáo Luật thì cha mẹ phải có trách nhiệm sinh sản và giáo dục theo Đức Tin Công Giáo. Đó là luật buộc, không thể tranh luận gì thêm.

Tuy nhiên, khi người vợ anh em hoặc giữ đạo mình theo Phép Chuẩn Công Giáo (chồng giữ đạo chồng, vợ giữ đạo vợ) hoặc gia nhập Giáo Hội ( Tức là có cùng một Đức Tin vì mới theo đạo ) nên hệ quan điểm có phần nào hoặc bất đồng hoặc vì chưa chắc chắn vì bản thân cô ấy còn quá mới so với mấy chục năm sống. Vì đứa bé sẽ được giáo dục theo bố, tức là học tất cả mọi điều theo truyền thống giáo dục Đức Tin của Giáo Hội, nên bố lúc này sẽ giữ vai trò quyết định. Tuy nhiên, bản thân bố vì nhiều lý do mà đôi khi bản thân đã không thông tường hết mọi điều về Tín Lý và Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo dạy đã thấy mình tự thân rối, nhưng vẫn ráng sức dạy dỗ cho con những điều căn bản.

Rồi người con ấy lại chạy đến hỏi mẹ, và mẹ vì không muốn con mình chê là thiếu hiểu biết nên đành giải thích theo cách mẹ nó hiểu ( Hiểu kiểu nào thì cũng sẽ gặp vấn đề, vì đức tin không thuộc phạm trù giải thích theo lý luận của triết học ), và từ đây đứa bé do thấy mâu thuẫn và thiếu thoả đáng, nó sẽ tự ý tạo ra một cách hiểu và thực hành Đức Tin mới có tên là “Kiểu Sống Đạo Của Tôi”. Từ nay, ông nói gì kệ ông, ông giải thích gì kệ ông, bà dạy gì thì tuỳ, tôi sống theo cách của tôi miễn sao lương tâm không cắn rứt và không hổ thẹn là được.

Về điểm này, anh em cần thẳng thắn hỏi lại bản thân mình cách nghiêm túc trước khi mời gọi người yêu của mình theo đạo hoặc đạo ai nấy giữ khi còn đang yêu nhau. Câu hỏi anh em cần đặt ra cho bản thân mình là “Tôi đã thực sự dùng thời gian để tìm hiểu kỹ càng Tín Lý và Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo dạy chưa ?”, “Tôi đã thực hành Đức Tin của mình thế nào để có thể trở thành mẫu gương cho người bạn đời này qua đó mà nhận ra Đấng mà tôi tuyên tín ?”

Nếu hai câu hỏi này mà anh em can đảm quả quyết “CHƯA !” thì anh em hãy khoan lập gia đình, không phải vì hèn nhát, nhưng vì phần ích và phần rỗi của cả vợ và con người anh em tương lai, nếu không muốn nói đến cả một cộng đồng to lớn phía trước đang chờ đón anh em phía trước.

Nếu phần anh em đã có chữ “RỒI” cách quả quyết thì cần hỏi về phía người anh em sẽ kết hôn. Câu hỏi là “Liệu nàng có thật sự tin theo một Đức Tin tinh tuyền mà Thiên Chúa đã đặt sẵn nơi trái tim không, hay theo như một thủ tục để có chồng cho xong ?”, “Liệu nàng có thiện chí để sống hoà hợp trong cùng một Đức Tin với mình để tạo nên thế đồng nhất trong việc giáo dục con cái không ?” “Liệu nàng có hoàn toàn tôn trọng Đức Tin và truyền thống giáo dục Đức Tin của Giáo Hội và để tôi giáo dục con cái, cũng như để con cái được tự do theo Đức Tin ấy trong trường hợp nàng giữ đạo nàng không ?” Nếu sau khi trao đổi, tìm hiểu, và phán đoán, anh em thấy “KHÔNG” nhiều quá, thì tốt nhất can đảm ngừng lại mối quan hệ này còn hơn là cứ ráng nhân danh tình yêu để rồi phải chuốc khổ và tội vào thân.

Người anh em thân mến, anh xin dừng lại câu hỏi của em tại đây và sẽ chia sẻ tiếp với em vào các lá thư khác cùng chủ đề. Trong thư này, anh mời gọi em suy nghĩ về hai khía cạnh anh vừa nêu ra trước khi tiến đến hôn nhân thực sự. Vì như anh em biết đấy, hai đặc tính quan trọng của Hôn Nhân Công Giáo là Đơn Hôn và Bất Khả Phân Ly. Theo đó, đơn hôn nghĩa là chỉ một vợ một chồng và chung thuỷ với nhau cả trong tư tưởng lẫn trong các mối quan hệ; bất khả phân ly nghĩa là mối dây hôn phối ấy khi được xem là hợp Pháp và hợp Giáo Luật thì tồn tại cho đến khi chết ( hoặc vợ hoặc chồng ) còn ngoài ra thì không còn sự gì có thể chia rẽ đôi bạn, điều này loại trừ luôn sự ly dị ( Nghĩa là không có sự ly dị ).

Chính vì lẽ này, mà chúng ta không có quyền chọn lựa theo kiểu sống thử hay lấy thử, hợp thì tiếp tục không hợp thì chia tay theo như nhiều anh em ngoài Công Giáo vẫn sống được. Anh em hãy kết hôn cách có ý thức và trách nhiệm tròn đầy không phải chỉ trước mặt người mình yêu hay con cái, mà là trước mặt Thiên Chúa và Giáo Hội.

Xin được hẹn anh em trong lá thư tới chúng ta sẽ trao đổi các vấn đề khác trong cùng một chủ đề. Có điều gì anh em chưa rõ thì đừng ngần ngại thư cho anh nhé. Mến chúc anh em tìm cho mình câu trả lời xác thực nhất để sống vui và hạnh phúc nhé.

JOSEPH C. PHAM

LÀM TÔI AI ?

LÀM TÔI AI ?

Trích EPHATA 580

Được biết vào tháng 9 năm 2013 ( từ ngày 9 đến 16 tháng 9 ) tại Hà Nội có hội diễn 10 vở kịch của Lưu Quang Vũ, để tưởng niệm 25 năm ngày mất của nhà thơ, nhà biên kịch tài danh.

25 năm trước, xã hội Việt nam sôi động vì những kịch bản của Lưu Quang Vũ xuất hiện ồ ạt trên sân khấu nghệ thuật, nội dung kịch bản chạm vào những vấn đề nhức nhối của xã hội, mà khi ấy không mấy ai dám nói, dám bình phẩm. Lưu Quang Vũ đã đem lên sân khấu để nghiềm ngẫm, lý giải, tiên đoán và gợi hướng thoát.

Là một khán giả ở phương Nam, say mê với cải lương Lá sầu riêng trổ bông, Dưới hai màu áo, tha thiết với kịch của Túy Hồng nhạc minh họa Lam Phương, bình tĩnh với kịch Vũ Đức Duy, lãng mạn với nhạc phim Nhật Trường – Thanh Lan, … tôi chưa quen lắm với lối diễn xuất kịch nghệ thuật từ phương Bắc, nhưng tôi đã hoàn toàn bị say đắm bởi kịch bản của ông khi đến rạp xem “Tôi và chúng ta”, “Hồn Trương Ba da hàng thịt”…

Đột nhiên một ngày nghe tin ông mất, chuyến xe định mệnh từ Hải Phòng về Hà Nội, ông ra đi cùng với đứa con yêu, Lưu Quỳnh Thơ, và người vợ tài hoa, thi sĩ Xuân Quỳnh. Thương tiếc và chán nản, vì cái chết xem ra khó hiểu và quá đột ngột. 25 năm sau, tôi không có dịp ra Hà Nội để xem hội diễn, nhưng báo chí bảo rằng: người ta chen nhau vào xem, có khi chỉ để ngồi sau lưng người khác nghe lời thoại.

Tôi tìm vào mạng xem vở kịch “Ông không phải là bố tôi”. Câu chuyện xoay quanh một gia đình ba thế hệ, từ “cuộc kháng chiến” người trai trẻ bỏ lại vợ con lên đường, hết chiến tranh anh ta không về lại quê nhà, khi vợ con tìm đến, anh sợ mất điểm với chế độ, vì bố vợ anh di cư vào Nam năm 1954, anh đã từ chối vợ con.

Kịch bản bắt đầu từ câu “Tôi không phải là bố anh” để rồi xuyên suốt vở kịch, câu “Ông không phải là bố tôi” được lập đi lập lại, từ miệng đứa con trai của anh bộ đội năm xưa, cho đến thế hệ kế tiếp nữa là đứa con trai của anh ta. Sân khấu bày ra sự bế tắc về xã hội mà nền tảng là gia đình bị phá vỡ, chỉ vì danh vọng, chỉ vì bám víu lấy sự tồn tại trên cõi đời, chỉ vì ham mê thế gian, con người lọc lừa gian dối nhau, từ chối nhau, hành xử bất nhân bất nghĩa với nhau…

Giữa những cái lùng nhùng bế tắc đó, anh con trai, thế hệ thứ ba, cháu nội của người cán bộ năm xưa từ chối con mình, đã thiết kế dàn dựng một bài học làm sáng mắt cha mẹ và ông nội mình, mang lại cho người xem chút hy vọng vào thế hệ trẻ, thế hệ ý thức và đảm nhận trách nhiệm đứng lên xây dựng lại nhân phẩm và con người.

Báo chí trong tuần qua tường thuật lại những phát biểu tại phiên họp Thường Vụ Quốc Hội Việt Nam, Từ ông chủ tịch Quốc Hội, đến bà phó chủ tịch Nước, cùng các đại biểu đều đưa ra những nhận định chua xót về xã hội, một xã hội phá sản đến tận cùng, một xã hội rơi xuống đáy của tôn ti trật tự, của lòng tự trọng và của nhân bản.

Lưu Quang Vũ có lời tiên tri trong các kịch bản của ông, lời tiên tri về sự xuống dốc, 25 năm đủ minh chứng lời ấy, và hình như lời tiên tri đó cũng đúng cho cả phần cuối. Một lớp trẻ đang ý thức và sẵn sàng đứng lên dựng lại cơ đồ.

Bài Tin Mừng Chúa nhật 25 Thường Niên C đưa ra một quả quyết “không ai có thể làm tôi hai chủ… Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi tiền của được” ( Lc 16, 13 ), phải có một chọn lựa dứt khoát, thế gian ( hiểu theo nghĩa xấu ) và Thiên Chúa là hai thái cực, hoặc chọn bên này mà bỏ bên kia, hoặc chọn bên kia mà bỏ bên này, đi tìm một thỏa hiệp là tự giết chết mình và phản bội sứ mạng.

Hãy làm chứng rằng Tin Mừng thật sự là tin mang đến nỗi vui mừng cho mọi người, người ta chen lấn đến dù chỉ để nghe lời thoại một vở kịch của một tác giả đã chết, vậy Lời thật của một Đấng hằng sống phải được công bố để làm thỏa cơn đói khát người nghe.

Lm. VĨNH SANG, DCCT, Chúa Nhật 22.9.2013