MARIA, NGƯỜI NỮ THÁNH THỂ

MARIA, NGƯỜI NỮ THÁNH THỂ

Bài Tin Mừng tường thuật cuộc truyền tin kết thúc bằng hai tiếng “Xin Vâng” của Đức Mẹ. Với hai tiếng “Xin Vâng”, cuộc đời Đức Mẹ hoàn toàn thay đổi.  Từ nay Mẹ không còn sống cho mình nhưng hoàn toàn sống cho Thiên Chúa.  Mẹ kết hiệp chặt chẽ với Thiên Chúa qua Chúa Giêsu.  Và vì thế, Mẹ trở thành gương mẫu của lòng tôn sùng và thực hành bí tích Thánh Thể.

Thật vậy, với hai tiếng “Xin Vâng”, Mẹ là gương mẫu trong việc đón nhận Thánh Thể.  Khi đón nhận Ngôi Hai Thiên Chúa vào lòng, Mẹ hoàn toàn tin tưởng thịt máu của bào thai Mẹ được diễm phúc cưu mang trong lòng chính là Thiên Chúa.  Như thế, Mẹ khuyên dạy ta khi đón nhận Mình Thánh Chúa, hãy tin vững vàng ta đã đón nhận Thịt Máu của Chúa Giêsu.

Với hai tiếng “Xin Vâng”, tâm hồn Mẹ trở nên ngôi nhà chầu đầu tiên được đón tiếp, cất giữ Chúa Giêsu Thánh Thể.  Đây chính là ngôi nhà chầu xinh đẹp nhất vì cung lòng thanh khiết của Mẹ là một đền thờ nguy nga lộng lẫy.  Hơn nữa việc luôn ghi nhớ và suy niệm những điều thiên thần nói, giúp Mẹ luôn hướng về Chúa Giêsu trong lòng, biến Mẹ thành một người chầu Mình Thánh liên tục.  Như thế Mẹ khuyên dạy ta hãy năng chầu Mình Thánh Chúa.

Sau khi thưa “Xin Vâng”, Mẹ vội vã lên đường đi viếng bà thánh Elizabeth.  Đây chính là cuộc rước kiệu Thánh Thể đầu tiên.  Cuộc rước kiệu thật đơn sơ, không kèn trống, không đông đảo, nhưng đầy sốt sắng, đầy cung kính nên đã đem lại lợi ích phi thường: đem ơn cứu độ đến cho ông thánh Gioan Baotixita còn trong lòng mẹ, làm cho mọi người tràn đầy niềm vui.  Như thế Mẹ nhắn nhủ ta kiệu Thánh Thể sốt sắng sẽ đem lại nhiều ơn ích thiêng liêng.

Nhưng cũng với hai tiếng “Xin Vâng”, Mẹ luôn hướng về Chúa Giêsu.  Từ khi còn trong bào thai cho đến khi sinh ra trong hang đá Bêlem.  Từ khi ấu thơ cho đến khi hoạt động công khai.  Việc Mẹ tất tả đi tìm Chúa Giêsu trong đền thờ Giêrusalem nói lên sự gắn bó mật thiết.  Mẹ coi Chúa Giêsu là lẽ sống.  Mẹ không thể sống nếu thiếu vắng Chúa.  Với lòng tha thiết tìm kiếm Chúa, Mẹ khuyên dạy ta hãy yêu mến đến khao khát Chúa.  Vì Thánh Thể Chúa chính là nguồn sự sống của ta.

Với hai tiếng “Xin Vâng”, không những Mẹ vâng lời Thiên Chúa hoàn toàn, mà còn dạy mọi người biết vâng lời Chúa.  Nên tại tiệc cưới Cana, Mẹ khuyên nhủ gia nhân: “Người bảo gì các con hãy cứ làm theo” (Ga 2,5).  Thái độ hoàn toàn vâng phục đã được Chúa thưởng công bằng phép lạ “nước lã hóa thành rượu ngon”.  Hôm nay Mẹ cũng nhắc nhủ ta: Nếu Chúa đã dặn dò: “Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy” (Lc 22-19), thì hãy vâng lời Chúa, siêng năng tham dự thánh lễ, chầu Mình Thánh Chúa, chịu lễ, chắc chắn Chúa sẽ làm phép lạ đổi mới đời các con như biến nước lã thành rượu ngon.

Với hai tiếng “Xin Vâng”, Mẹ hoàn toàn kết hiệp với Chúa Giêsu, theo Chúa trên đường lên Núi Sọ và đứng dưới chân thánh giá để nên một với Chúa Giêsu trong việc dâng hiến chính bản thân mình, dâng những đau đớn khổ cực làm của lễ đền tội cho nhân loại.  Ở đây Mẹ đã sống mầu nhiệm Thánh Thể, mầu nhiệm tự hiến mình cho nhân loại.  Như Chúa Giêsu, tấm lòng tan nát của Mẹ đã trở thành tấm bánh bẻ ra ban cho nhân loại sự sống mới.  Như thế Mẹ dạy ta phải biết hiến thân chịu mọi đau đớn, vất vả trong đời sống để nên một với Chúa Giêsu Thánh Thể.  Việc kết hiệp với Chúa Giêsu Thánh Thể để hiến dâng thân mình sẽ đem lại hạnh phúc cho bản thân và cho tha nhân.

Và với hai tiếng “Xin Vâng”, một lần cuối cùng Mẹ vâng lời Chúa, nhận thánh Gioan làm con. Nhận thánh Gioan là nhận cả nhân loại làm con.  Vì thế Mẹ đã sống mầu nhiệm Thánh Thể khi hiệp nhất với tất cả mọi người, nhận tất cả nhân loại vào gia đình mình, đón tiếp mọi người vào đồng bàn trong bữa tiệc Thánh Thể, và trong bữa tiệc Nước Trời.  Hôm nay, Mẹ nhắn nhủ ta khi chịu lễ rồi hãy biết yêu thương đoàn kết vì tất cả chúng ta được đồng bàn với Chúa, cùng ăn một bánh, cùng uống một chén với nhau.  Và tất cả chúng ta đều là các chi thể trong thân thể của Chúa.  Tuy năm Thánh Thể đã kết thúc, nhưng việc yêu mến sùng kính và nhất là việc sống bí tích Thánh Thể vẫn tiếp diễn.  Đặc biệt trong tháng Mân Côi, nếu ta yêu mến Đức Mẹ, ta càng phải yêu mến Chúa Giêsu Thánh Thể, vì Mẹ chính là mẫu gương yêu mến Thánh Thể, đến nỗi Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô đệ nhị đã gọi Mẹ là “Người Nữ Thánh Thể”.  Nếu chúng ta siêng năng lần hạt Mân Côi, chắc chắn Đức Mẹ sẽ hướng dẫn ta đến yêu mến Chúa Giêsu Thánh Thể, vì tất cả các mầu nhiệm trong kinh Mân Côi đều hướng về Chúa Giêsu.  Và mầu nhiệm Năm Sự Sáng đưa ta trực tiếp tới bí tích Thánh Thể.  Thật là đẹp khi ta lần hạt trước Thánh Thể.  Vì như Đức Mẹ đã khấn cầu cho tiệc cưới Cana được ơn phúc thế nào, hôm nay, trước Thánh Thể, Đức Mẹ cũng khẩn cầu ơn phúc cho chúng ta như vậy.

Lạy Mẹ Mân Côi, xin dạy con biết yêu mến Chúa Giêsu Thánh Thể và xin Mẹ khẩn cầu cho con bên tòa Chúa.

TGM Giuse Ngô Quang Kiệt

From: langthangchieutim & Anh chị Thụ Mai gởi

Đau khổ có giá trị cứu độ

Đau khổ có giá trị cứu độ

TRẦM THIÊN THU

Tại sao Thiên Chúa cho phép những điều đó xảy ra?

Đó là câu hỏi người ta vẫn đặt ra, hầu như là “vấn đề muôn thuở”. Đau khổ xảy ra mọi thời và mọi nơi: Giết người tập thể, giết người hàng loạt, đánh bom khủng bố, động đất, sóng thần,… Rồi những thảm họa cá nhân: Em bé chết đuối trong cơn giông bão, người trẻ chết trong vụ tai nạn, người già chết đơn độc, đám cưới bỗng trở thành đám ma,…

Hãy bắt đầu với sự thật là bất kỳ ai cũng không thể có câu trả lời rõ ràng về vấn đề đau khổ!

Trong Cựu ước, Thiên Chúa thẳng thắn “đặt vấn đề” với Thánh Gióp: “Ngươi ở đâu khi Ta đặt nền móng cho đất? Nếu ngươi thông hiểu thì cứ nói đi!” (G 38:4). Và cả chương 38 trong sách Gióp là một loạt câu hỏi, chúng ta không dễ trả lời.

Trong Tân ước, khi nói về người mù từ khi mới sinh (Ga 9:1-3) và những người bị chết khi tháp sụp đổ (Lc 13:2-5), Chúa Giêsu nói rằng các trường hợp bi đát đó là cách của Thiên Chúa trừng phạt tội lỗi của ai đó chứ không hẳn là tội lỗi của chính người đó.

Cũng vậy, có gợi ý để chúng ta nhận biết những vấn đề tương tự – tại sao Thiên Chúa để cho điều đó xảy ra? Có thể áp dụng cho cả điều tốt và điều xấu. Tại sao Thiên Chúa cho phép hôn nhân hạnh phúc? Được thăng cấp trong công việc? Thỏa mãn trong nghề nghiệp? Những điều vui này có thật như những điều bất hạnh, và vẫn có bàn tay của Thiên Chúa trong cả điều tốt lẫn điều xấu. Tại sao Ngài cho phép chúng xảy ra?

Về điều tốt, dĩ nhiên chúng ta dễ trả lời: Thiên Chúa cho phép chúng xảy ra vì Ngài muốn chúng ta hạnh phúc. Nhưng cách trả lời như vậy còn quá thiển cận. Thiên Chúa muốn con người chịu đau khổ để cảm nhận hạnh phúc. Vậy tại sao Ngài lại để họ chịu đau khổ?

Để hiểu rõ lý do Thiên Chúa cho phép mọi thứ xảy ra, cả tốt và xấu, chúng ta cần biết toàn bộ kế hoạch tiền định của Ngài. Nhưng đó là điều chúng ta không thể biết cho tới khi chúng ta đối diện Thiên Chúa trên Thiên Đàng. Điều đó sẽ rõ ràng về mọi thứ phù hợp với nhau trong sự viên mãn của Ý Chúa. Hiện nay, chúng ta chỉ có thể phỏng đoán mà thôi.

Nhưng chúng ta có một số gợi ý để cố gắng xử lý. Trong tông thư Salvifici Doloris (11-2-1984, nói về “sự đau khổ mang tính cứu độ”), ĐGH Gioan Phaolô II đã noi gương Thánh Phaolô tìm kiếm “ý nghĩa sự đau khổ” theo Kitô giáo để thông phần đau khổ cứu độ của Đức Kitô. Đau khổ cho người ta cách trở nên người đồng công cứu độ với Đức Kitô, chia sẻ hoạt động cứu độ của Ngài, đền tội mình, và góp phần vào công cuộc cứu độ của Ngài mở ra cho mọi người.

Như vậy có sự khuyến khích đối với việc chịu đau khổ chăng? Không hề có. Cách giải thích này không không có ý nói về lý do Thiên Chúa cho phép đau khổ xảy ra, cũng không có ý nói chịu đau khổ là niềm vui. Về việc chịu đau khổ, ĐGH Gioan Phaolô II nói: “Giá trị của sự khám phá cuối cùng là niềm vui tiếp theo”.

Giá trị cứu độ của cuộc đời Chúa Giêsu không chỉ nằm trong sự đau khổ. Hiện tại trong cuộc đời Ngài là một tổng thể. Từ viễn cảnh đó, đau khổ tạo ý nghĩa để nghĩ về những điều hạnh phúc trong cuộc đời chúng ta để tham dự vào những khoảnh khắc vui mừng trong cuộc đời cứu độ của Đức Kitô: Ảnh hưởng gia đình tại căn nhà ở Nadaret, sự lao động trong xưởng thợ của Đức Thánh Giuse, cùng họp mặt với các tông đồ khi mọi sự êm xuôi. Mọi thứ đều có giá trị cứu độ cùng với Thập giá. Cũng như mọi thứ xảy ra trong cuộc đời chúng ta, cả đau khổ và hạnh phúc, đều có thể có giá trị cứu độ.

TRẦM THIÊN THU

(Chuyển ngữ từ CatholicExchange.com)

Lễ các Thiên thần Bản mệnh, 2-10-2013

4 vương cung thánh đường ở Việt Nam

4 vương cung thánh đường ở Việt Nam

Trong khoảng 6.000 nhà thờ trên cả nước, Việt Nam vinh dự sở hữu 4 vương cung tháng đường thuộc 4 tỉnh: Hà Nam, Nam Định, Quảng Trị và TP HCM.

Nhà thờ Thiên chúa giáo luôn có sức hấp dẫn đặc biệt với bất kỳ ai. Bởi vậy mà không ít tour du lịch, nhà thờ là điểm dừng chân không thể bỏ qua trong hành trình khám phá điểm đến. Trong đó phải kể đến các vương cung thánh đường, danh hiệu được Giáo hoàng tôn vinh đặc biệt dành cho những nhà thờ có kiến trúc to lớn, cổ kính, mang ý nghĩa lịch sử và tâm linh quan trọng.

1. Nhà thờ Kẻ Sở

Vương cung thánh đường Sở Kiện hay nhà thờ Kẻ Sở tọa lạc ở thị trấn Kiện Khê, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. Dù là một tiểu vương cung thánh đường mới được sắc phong năm 2010, nhưng nhà thờ Kẻ Sở thật sự là điểm đến thú vị với kiến trúc đồ sộ và phong cách Đông – Tây hội tụ.

Ke-So-hdgmvietnam-8076-1380514969.jpg

Toàn bộ nền được lót gỗ lim chống sụt lún. Ảnh: hdgmvn

Nhà thờ được xây dựng theo kiến trúc vòm cao vút cổ điển phương Tây từ trần đến cửa. Trên tường có các ô cửa kính màu vẽ tranh các vị thánh hoặc các sự kiện trong Kinh Thánh. Tuy nhiên, khu vực cung thánh và bàn thờ được làm bằng gỗ chạm trổ tinh vi, sơn son thiếp vàng theo phong cách truyền thống Việt Nam. Do xây dựng trên một cái đầm nên toàn bộ nền cũng được lót gỗ lim chống sụt lún.

Nhiều du khách đến đây tỏ ra thích thú với ngọn tháp cao treo 4 quả chuông mang các sắc âm đố – mi – son – đồ. Quả nặng nhất gần 2,5 tấn được người dân ở đây gọi là chuông “Bồng”. Vào ngày lễ, nơi đây phải huy động đến cả chục thanh niên trai tráng đến kéo chuông. Tiếng chuông vang lên như một bản đàn vang vọng từng thôn làng, ngõ xóm nơi đây.

2. Nhà thờ Phú Nhai

Nhà thờ Phú Nhai là vương cung thánh đường Đức Mẹ Vô nhiễm Phú Nhai thuộc Giáo phận Bùi Chu, xã Xuân Phương, huyện Xuân Trường, Nam Định.

Phu-Nhai-chudu-3262-1380514969.jpg

Đây được mệnh danh là nhà thờ lớn nhất Đông Dương. Ảnh: chudu

Khi mới xây dựng nhà thờ có phong cách kiến trúc Gothic đậm dấu ấn Tây Ban Nha. Đến nay nhà thờ được xây lại theo phong cách kiến trúc Gothic Pháp. Điều đặc biệt là nhà thờ Phú Nhai có hai tháp chuông. Bốn quả chuông đặt ở đây đều được đúc từ Pháp chuyển sang với trọng lượng từ 100 kg đến 2 tấn. Xung quanh nhà thờ có các phù điêu thể hiện 14 Đàng Thánh Giá.

Sau khi tham quan nhà thờ được mệnh danh lớn nhất Đông Dương, du khách chiêm ngưỡng được toàn cảnh của huyện Xuân Trường khi đứng trên ngọn tháp cao của nhà thờ Phú Nhai.

3. Nhà thờ La Vang

Nhà thờ La Vang nằm ở xã Hải Phú, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Năm 1961, nhà thờ được tôn phong là vương cung thánh đường. Ban đầu đây là một ngôi nhà thờ bằng ngói, được thiết kế theo kiến trúc cổ Việt Nam nhưng mặt tiền vẫn mang hơi thở châu Âu hiện đại với hai tầng mái và hai cánh thánh giá. Tháp chuông hình vuông hai tầng nổi bật lên giữa cảnh đồi.

La-Vang-wiki-JPG-6169-1380514969.jpg

Vẻ đẹp cổ kính của nhà thờ La Vang. Ảnh: wiki

Nhà thờ La Vang đã được nhiều lần trùng tu và xây mới, nhưng khi đến đây du khách vẫn được chiêm ngưỡng vẻ đẹp cổ kính của phong cách kiến trúc Việt qua hình dáng những mái ngói thân quen, kiểu dáng ngôi nhà ở, ngôi đình Việt. Thêm vào đó, du khách cũng sẽ bị lôi cuốn bởi quần thể tượng gồm 15 pho tượng diễn tả 15 điều màu nhiệm.

4. Nhà thờ chính tòa Đức Bà Sài Gòn

Nhà thờ chính tòa Đức Bà Sài Gòn đã không còn xa lạ với mỗi người dân TP HCM và khách du lịch trên cả nước. Nhưng ít ai biết rằng, đây là một trong 4 vương cung thánh đường của cả nước.

nha-tho-duc-ba-hochiminhcity-g-9079-4422

Nhà thờ Đức Bà là điểm đến yêu thích của nhiều du khách. Ảnh: hochiminhcity.gov.vn

Điểm nhấn của nhà thờ là bức tường được xây bằng gạch xuất xứ từ Marseille (Pháp) từ cuối thế kỷ 19 nhưng đến nay vẫn giữ nguyên màu sắc hồng tươi, không bám bụi rêu. Bởi vậy dù không hiểu hết ý nghĩa văn hóa và lịch sử của nhà thờ Đức Bà nhưng khi đến Sài Gòn, ai cũng muốn có một bức hình với công trình độc đáo ấy.

Ngay trước mái vòm nhà thờ là chiếc đồng hồ Thụy Sĩ. Trải qua hơn 130 năm nhưng chiếc đồng hồ vẫn hoạt động khá chính xác và được lên giây mỗi tuần. Trong 6 quả chuông mang âm đô – rê – mi – son – la – si, chuông Son nặng gần 8,8 tấn là một trong những quả chuông lớn nhất thế giới. Nằm giữa trung tâm thành phố năng động nhất cả nước, nhà thờ Đức Bà mang đến một nốt trầm xao xuyến níu chân du khách bốn phương.

Kim Anh

Nếu Ai Hỏi Con

Nếu Ai Hỏi Con

(Phỏng ý thơ “Khúc Tâm Tư” của Chúc Anh)

Quỳnh Vy

Nếu ai hỏi con:  ước mơ gì nhất?

Không ngập ngừng con sẽ nói:  thương yêu

Yêu Chúa hết lòng, hết sức sớm chiều

Yêu tha nhân bằng tình yêu chân thật

Nếu ai hỏi:  ngày nào con mong nhất?

Ngày Chúa gọi tên ban thưởng thiên đàng

Ngày diễm phúc trong thánh nhạc êm vang

Nơi bàn tiệc Cha ôm con thân mật

Nếu ai hỏi:  nữ trang con thích nhất?

Thập tự đơn sơ. Tràng chuỗi Mân Côi

Khoác vòng cổ, quấn quyện tay với lời:

Kinh Kính Mừng dâng Nữ Vương trời đất

Nếu ai hỏi con:  đường nào đẹp nhất?

Con đường chật hẹp chỉ dạy Phúc Âm

Người theo chân Chúa bác ái lặng thầm

Vì đường rộng rãi đưa vào hư mất

Nếu ai hỏi:  đời sau mơ gì nhất?

Kề cận Ngôi Cha-Thánh Thần-Giêsu

Hồn ấm nồng kinh, thánh vịnh-thánh thư

Muôn đời con yêu Ba Ngôi Thiên Chúa.

Quỳnh Vy

Genève 03-10-2013

ĐẠP XE,

ĐẠP XE,

Song Như.

Ông đạp bà đạp thế mà vui,
Đạp tới đạp lui kéo một nùi,
Băng qua đường lớn xuyên đường nhỏ,
Nón đội trên đầu vẫn đen thui…

Nhớ lúc còn thơ vượt đồi cao,
Đạp đổ mồ hôi chẳng ra sao,
Bây giờ đạp chút mà rên rỉ,
Mai mốt già thêm biết thế nào…?

Hởi ơi cái tuổi mười lăm ấy,
Giờ đếm ba lần đã mỏi tay,
Co chân đạp miết mà chưa tới,
Đội nắng đội mưa…đạp cả ngày…

Liverpool.3/10/2013.
Song Như.

Thân tặng anh Đào và Yến Nhi.

Kính gi quý Thy Cô và các bn LVC.
Kính chúc sức khỏe.
KT.

Ăn Mặc & Ăn Nói

Ăn Mặc & Ăn Nói

Tưởng Năng Tiến

Có lần, bên bàn nhậu, tôi nghe một cha nói (y như thiệt) rằng hồi năm 1941 Nhà Nước Thuộc Địa đã trao tặng giải thưởng và cấp bằng tưởng lục cho một người dân Việt vì đã chế ra cái đèn dầu Hoa Kỳ – hiện vẫn còn được lưu dụng, ở nhiều nơi.

Cùng thời điểm này, chính xác là vào ngày 7 tháng 12 năm 1941, xẩy ra trận Trân  Châu Cảng. Theo Wikipedia:

“Cuộc tấn công bao gồm hai đợt không kích với tổng cộng 353 máy bay xuất phát từ 6 tàu sân bay Nhật Bản. Trận tấn công đã đánh chìm 4 thiết giáp hạm Hoa Kỳ (2 chiếc trong số đó sau này được vớt lên và đưa trở lại hoạt động), và gây hư hỏng cho 4 chiếc khác. Quân Nhật còn đánh chìm hoặc phá hoại 3 tàu tuần dương, 3 tàu khu trục và 1 tàu thả mìn, phá hủy 188 máy bay ….”

So như thế (nghĩ) đã buồn nhưng sự thật còn buồn hơn thế nữa. Cha đẻ cái đèn dầu Hoa Kỳ – thực ra – là một người Ba Lan, Ignacy Łukasiewicz. Ông làm ra nó vào năm 1853.

Một trăm năm mươi hai năm sau, báo Tiền Phong – số ra ngày 7 tháng 10 năm 2005 – còn (chua chát) thêm rằng: “Chúng ta chưa tự làm được cái đinh vít!”

Dân Việt, rõ ràng, không có “năng khiếu” cao về khoa học và kỹ thuật. Ít nhất thì cũng không “cao” bằng dân Nhật. Nói cách khác (và nói một cách hơi hoa mỹ) Việt Nam là một xứ sở trọng nông hoặc thuần nông, chỉ chuyên về việc sản xuất lúa gạo thôi.

Đã có một thời mà mọi thứ ở đất nước này đều có thể có thể qui ra gạo, và gạo còn được dùng như một loại hoá tệ cho sinh hoạt mua bán thường ngày, kể cả việc … mua dâm – theo như lời kể của một nhà văn:

“Ga Vinh một buổi tối trời mưa. Một túp nhà lá nằm nép bên vệ đường, phía sau là khoảng nước dở ao dở rãnh, muỗi và cỏ nhiều. Một ngọn đèn dầu run rẩy vì gió, cháy leo lét được treo trước cửa sổ. Một con chó già còm cõi bê bết bùn đất và lạnh, nằm in bóng đèn dầu dưới cửa sổ, tru ư ử trong họng mà không dám vào nhà vì sợ đòn. Gió hú rít xoáy quanh cửa tranh nhau luồn vào nhà. Có tiếng mái tranh cọ nhau xào xạc như van xin. Tiếng chẫu chuộc gọi cái làm nhịp cho mưa rơi…

Có tiếng chân rẽ nước đi tới, rồi một cái đầu đàn ông thò vào cửa sổ, nhễu nước lã chã xuống con chó.

“Bao nhiêu?”

Bên này:

“Năm chục.”

“Ðắt thế, gái Sài Gòn còn chả tới nữa là…”

“Thế muốn bao nhiêu?”

“Hai chục…?”

“Thanh toán trước đi!”

“Gì mà vội thế, chả ‘tình’ tí nào cả.”

“Sao? Có tiền không?”

“Lấy gạo nhé?”

“Gạo gì? Mậu dịch hay gạo mới?”

“Mới chia tiêu chuẩn tháng ở cơ quan về, chưa xem.”

“Gạo mậu dịch rồi, tính bao nhiêu?”

“Hai chục.”

“Ðắt quá, mà cũng không có cân nữa.”

“Mười tám đồng vậy, đong đại bằng ống sữa bò đi…”

“Ừ, thế cho tiện, cân mất công, gạo đi mua nặng ký… mà này, có trộn đá dăm vào không đấy?”

“Mang đèn ra mà soi.”

“Gạo này chỉ mười lăm đồng.”

”Ðong vun tay thế kia thành hai cân của người ta chứ còn gì…”

Một thằng nhóc chừng chín tuổi thình lình hiện ra như chui từ dưới đất lên, đứng mút tay nhìn cảnh đong gạo. Người đàn ông còn đang loay hoay cột lại cái bao của mình thì nó giật túi gạo nơi tay người đàn bà, chạy vụt ra cửa.

“Nấu cơm nhé, đừng nấu cháo… Nhớ để phần cho chị đấy.”

(Thế Giang. “Chỗ Nước Đọng”. Thằng Người Có Đuôi. Costa Mesa: Người Việt, 1987. 99-104)

Câu chuyện trên, tất nhiên, đã cũ. Thời sổ gạo và tem phiếu đã qua. Ngày 27 tháng 9 năm nay, tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc, Thủ Tướng Việt Nam – ông Nguyễn Tấn Dũng – đã long trọng thông báo cho toàn thể nhân loại biết rằng:

“Từ một nước thiếu đói, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Chúng tôi không chỉ bảo đảm an ninh lương thực cho riêng mình mà còn góp phần tích cực bảo đảm an ninh lương thực thế giới.”

Hai năm trước, báo Công an nhân dân (số ra ngày 20 tháng 7 năm 2011) cũng đã khẳng định tương tự: “Cái đói bị đẩy lùi xa tít tắp.”

Nói như vậy chắc là xa dữ lắm. Theo như tường trình của phóng viên Uyên Nguyên, RFA, hôm 22 tháng 5 năm 2013, cái đói đã bị đẩy tuốt luốt lên tới … những huyện miền núi ở tỉnh Thanh Hoá:

“Nhìn bữa ăn của gia đình người Thái Trắng này, nó cũng giồng như nhiều bữa ăn khác của những gia đình Thái Trắng khác mà chúng tôi gặp ở Mường Lát, Quan Hóa, Ngọc Lặc, Lang Chánh… Một nồi cơm độn sắn lát, một bát cà rừng và một chén mắm chuột để chấm cà, chúng tôi chỉ biết ứa nước mắt nhìn đồng loại nuốt cơm!”

Hoặc còn xa hơn nữa, “tít tắp” mãi đến tỉnh Hà Giang, như tâm sự (nghe được vào ngày 25 tháng 9 năm 2012) của cô phó hiệu trưởng Trần Thị Phúc:

“Học sinh ở đây nghèo lắm, nếu không xuống tận địa bàn chắc khó có thể hình dung hoàn cảnh của từng cháu. Có những em quanh năm chỉ mặc duy nhất một bộ quần áo, chưa từng biết đến đôi tất và thường xuyên phải ăn mèn mén thay cơm.”

Cái đói và chuyện ăn độn, bây giờ, chỉ còn quanh quẩn (quanh năm suốt tháng) ở những vùng xa, vùng sâu, vùng căn cứ cách mạng thôi. Chứ còn ở miền xuôi, nói chung, ngay tại nông thôn người dân vẫn được ăn cơm, và ăn no.

Riêng tại Hà Nội hôm nay còn có những tách cà phê hay những tô phở trị giá (cỡ) … nửa triệu đồng! Câu thơ ngày xưa (Đảng còn kia bát phở hoá thành mơ) của Nguyễn Chí Thiện đã bị thời thế bỏ lại phía sau xa lơ, xa lắc. Uớc mơ của người dân Việt hôm nay, rõ ràng, đã vượt mức ăn/ mặc. Đã đến thời người dân đòi ăn/nói – như họ vừa dõng dạc Tuyên Bố Về Thực Thi Quyền Dân Sự và Chính Trị:

Chúng tôi yêu cầu nhà cầm quyền tôn trọng quyền bày tỏ quan điểm của công dân, thẳng thắn tranh luận và đối thoại, từ bỏ cách đối xử không công bằng, không minh bạch và không đường hoàng như đã và đang áp dụng đối với những kiến nghị sửa đổi Hiến pháp và những tiếng nói đòi dân chủ khác với quan điểm của nhà cầm quyền.

Ý kiến khác nhau cần được tranh luận thẳng thắn để tìm chân lý; còn dựa vào quyền lực để cản trở việc công bố, không đối thoại mà chỉ đơn phương phê phán, quy kết, thậm chí dùng nhiều cách ngăn cấm và trấn áp thì không những vi hiến và trái với Công ước quốc tế mà còn không đúng với tư cách chính đáng của một nhà cầm quyền.

………..

Thực tế ở nước ta cho thấy rõ: thể chế này đã tạo nên một bộ máy cầm quyền có nhiều quyết sách sai trái và quan liêu, tham nhũng nặng; một “bộ phận không nhỏ” trong bộ máy lợi dụng quyền lực (cả quyền cai trị và quyền sử dụng, định đoạt đất đai, tài nguyên, tài sản công) cấu kết với một số nhà kinh doanh làm giàu bằng nhiều thủ đoạn bất minh (cả trong khu vực kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân), hình thành các nhóm lợi ích bất chính, xâm phạm quyền lợi của nhân dân, dẫn tới sự phân hóa giàu nghèo quá bất công ở nước ta. Không ít người trong giới cầm quyền các cấp cùng với các nhóm lợi ích và sự hậu thuẫn của thế lực bên ngoài đang dựa vào bạo lực cùng nhiều thủ đoạn không chính đáng để duy trì quyền thống trị đất nước theo thể chế toàn trị, có phần do tư duy giáo điều, bảo thủ, nhưng phần quan trọng hơn, phổ biến hơn là do muốn bảo vệ và giành thêm lợi ích riêng bất chấp lợi ích chung của đất nước, của dân tộc…

Để vượt qua những thách thức hiểm nghèo đối với đất nước và dân tộc, giải pháp cơ bản là phải cải cách thể chế chính trị, chuyển từ toàn trị sang dân chủ …”

Điều đáng tiếc là những đòi hỏi thượng dẫn, xem ra, đều quá sức “chịu đựng” của chế độ hiện hành. Mâu thuẫn này khiến cho tình trạng xã hội Việt Nam xem ra có vẻ lôi thôi lắm, và e là sẽ còn lôi thôi lâu, cũng như (chắc chắn) sẽ lôi thôi lớn – trong tương lai gần.

Ông Trần Huỳnh Duy Thức, trước khi trở thành một tù nhân lương tâm, đã bàn luận về tình huống lưỡng nan hiện tại như sau:

“Trung quốc và Việt Nam … không thể tiêu hóa nổi kết quả đương nhiên của sự tiến hóa do vận động của nền kinh tế thị trường vốn bắt buộc đòi hỏi một thể chế chính trị ngày càng dân chủ … Mặc dù hai nước này đã chấp nhận kinh tế thị trường và nhận hưởng công trạng của nó, nhưng họ dường như không thấy được quy luật này diễn biến không thể đảo ngược như thế nào và nó sẽ đẩy tất cả các vấn đề kinh tế, xã hội, chính trị đến đâu. Nên họ kịch liệt chống lại sự tiến hóa tất yếu này…”

Ông Trần Duy Thức bị bắt vào ngày 24 tháng 5 năm 2009. Hơn ba năm đã trôi qua. Từ đó đến nay, cả đống nước sông (cùng nước suối, nước mưa, và nước mắt) đã ào ạt chẩy qua cầu và qua cống. Nhiều sự kiện đã xẩy ra khiến cho thái độ “kịch liệt chống lại sự tiến hóa tất yếu này” của Hà Nội – chắc chắn – sẽ không thể kéo dài lâu nữa, ít nhất thì nó cũng không thể lâu bằng bản án 16 năm tù mà chế độ này đã dành cho ông.

Câu hỏi đặt ra người Việt sẽ làm gì sau đó, sau khi những kẻ cầm quyền hiện tại buộc phải buông tay hay thay đổi? Tương lai thường không tốt đẹp, hay sáng sủa gì cho lắm, đối với những ai không sẵn sàng để chờ đón nó.

Tưởng Năng Tiến

LỜI KINH TUYỆT VỜI

LỜI KINH TUYỆT VỜI

Lm. Giuse NGUYỄN HỮU AN

Trích EPHATA 582

Phụng Vụ bước vào Tháng Mai Khôi. Suốt tháng này, lòng sùng kính của Dân Chúa đối với Đức Mẹ mang một đặc điểm riêng. Đó là cầu nguyện bằng Chuỗi Mai Khôi. Mọi tín hữu được cùng với Đức Mẹ trên từng cây số cuộc đời Chúa Giêsu và theo phong cách của Đức Mẹ là “lưu giữ và suy niệm trong lòng” qua từng lời kinh chuỗi hạt Mai Khôi.

Tràng hạt Mai Khôi là một hành trang và là phương tiện “bỏ túi”, “đeo tay”, “đeo cổ” gọn nhẹ. Lời kinh kỳ diệu này giúp thánh hóa bản thân, gia đình và xã hội. Kinh Mai Khôi không khác gì điện thoại di động hòa đời người vào mạng lưới Sự Sống thiêng liêng.

Chuỗi Mai Khôi trong tiếng Latinh là “rosarium” nghĩa là “vườn hoa hồng”. Tháng 10, lần hạt Mai Khôi, đoàn con cái hiếu thảo dâng biết bao hoa hồng lên Mẹ Maria. Bằng chuỗi Mai Khôi, Hội Thánh trở thành một vườn hồng mênh mông, hương thơm sắc đẹp tiến dâng Mẹ hiền.

1. Kinh Mai Khôi đem lại nhiều ơn ích thiêng liêng

Chuỗi Mai Khôi thật cao quý, ai biết siêng năng lần hạt sẽ nhận được hiệu quả phi thường.

Vào thế kỷ 13, bè rối Albigeois nổi lên ở miền Nam nước Pháp. Với Chuỗi Mai Khôi do Đức Mẹ truyền dạy, chỉ trong một thời gian ngắn, Thánh Đa Minh đã cảm hóa được 150.000 người theo bè rối trở về cùng Hội Thánh.

Năm 1511, lịch sử được chứng kiến một thành quả vĩ đại của Kinh Mai Khôi mang lại. Chính biến cố lịch sử này là nguồn gốc lễ kính Thánh Mẫu Mai Khôi. Khi ấy quân Hồi xâm lăng Âu Châu, tàn phá những nơi họ đi qua, tiêu diệt dân Công Giáo. Cùng với việc triệu tập Đạo Quân Thánh Giá từ hai nước Ý và Tây Ban Nha, Đức Giáo hoàng Piô V ( 1504 – 1572 ) kêu gọi mọi người siêng năng lần Chuỗi Mai Khôi.

Cuộc chiến quá chênh lệch đã diễn ra tại vịnh Lepante, nhưng với quân số ít ỏi và khí giới thô sơ, người Công Giáo đã thắng trận vẻ vang trước đoàn quân Hồi Giáo đông đảo và trang bị hùng hậu. Từ Roma, Đức Giáo Hoàng nghe tin chiến thắng và nói với các vị trong Giáo Triều hãy tạ ơn Chúa. Hôm đó là ngày 7 tháng 10. Đức Giáo Hoàng đã thiết lập Lễ Mai Khôi để tạ ơn Đức Mẹ và ghi nhớ cuộc chiến thắng lịch sử này.

Trước năm 1917, Bồ Đào Nha ở vào một tình trạng suy thoái một cách trầm trọng về phương diện tôn giáo. Gần hai thế kỷ, óc bè phái đã gây nên những chia rẽ và những cuộc nội chiến. Hội Thánh bị bách hại bởi những kẻ theo nhóm Tam Điểm. Nhà Thờ bị phá hủy, các Linh Mục và Tu Sĩ bị bắt bớ, khắp nơi người ta tổ chức những đoàn hội chống lại Hội Thánh. Thế nhưng kể từ năm 1917, năm Đức Mẹ hiện ra tại Fatima, Bồ Đào Nha đã đi vào một khúc quanh mới của lịch sử. Người ta tổ chức những đoàn hội chuyên lo lần hạt Mai Khôi để xin Mẹ chấm dứt những xáo trộn và ban mọi ơn lành xuống cho đất nước. Bồ Đào Nha đã xứng đáng với tước hiệu quê hương của Kinh Mai Khôi.

Lịch sử còn ghi lại nhiều thành quả kỳ diệu khác nữa của Kinh Mai Khôi. Chẳng hạn Kinh Mai Khôi đã mang lại chiến thắng tại Vienna ngày 12.9.1683, hay đã chấm dứt bệnh dịch tại Milan… Chuỗi Mai Khôi vẫn còn là một phương thế cứu rỗi hữu hiệu của mỗi tín hữu. Khi hiện ra tại Lộ Đức ( Lourdes ) hay tại Fatima, Đức Mẹ đều kêu gọi chúng ta hãy siêng năng lần chuỗi Mai Khôi.

Tạp chí Reader’s Digest số ra tháng 4 năm 1991 có kể lại cuộc gặp gỡ kỳ thú giữa Mẹ Têrêsa thành Calcutta ( 1910 – 1997 ) và một thương gia người Mỹ như sau:

Trên chuyến máy bay từ Chritiamy về Thanasity, thương gia trẻ tên là Jim Caiso ngồi kề bên Mẹ Têrêsa và một Nữ Tu khác. Jim Caiso nhận ra ngay khuôn mặt của người Nữ Tu thường được báo chí nhắc đến. Khi những người khách cuối cùng đã yên vị trên máy bay thì Jim thấy hai người Nữ Tu từ từ rút xâu chuỗi ra khỏi túi áo Dòng và lâm râm cầu kinh. Tuy không phải là một người Công Giáo sùng đạo nhưng Jim cũng cảm thấy bị lôi cuốn bởi sự cầu kinh của hai người Nữ Tu.

Khi máy bay đã lên cao, Mẹ Têrêsa quay nhìn người thanh niên và hỏi: “Anh có thường lần chuỗi không ?” Anh trả lời: “Thưa không !” Anh vừa trả lời thì Mẹ cầm tay anh, trao cho anh tràng chuỗi rồi mỉm cười nói: “Vậy thì anh hãy bắt đầu lần chuỗi đi nhé !”

Ra khỏi phi trường, Jim vẫn còn cầm trên tay tràng chuỗi của Mẹ Têrêsa Calcutta. Anh kể lại cho vợ nghe cuộc gặp gỡ với Mẹ Têrêsa và kết luận như sau: “Anh có cảm tưởng như mình đã gặp một Nữ Tu đích thực của Chúa”.

Chín tháng sau, Jim và vợ anh đến thăm một người đàn bà đã từng là bạn của hai người từ nhiều năm qua. Người đàn bà này bác sĩ cho biết đã bị ung thư tử cung. Theo các bác sĩ, đây là trường hợp đáng lo ngại. Nghe thế, Jim đưa tay vào túi quần, rút ra tràng chuỗi của Mẹ Têrêsa Calcutta và trao cho người bạn. Anh nói như sau: “Chị cầm lấy cái này, nó sẽ giúp chị…” Mặc dù không phải là người Công Giáo, người bạn này vẫn mở rộng bàn tay ra và trân trọng đón nhận món quà quý giá ấy.

Một năm sau gặp lại vợ chồng Jim, người đàn bà vui vẻ cho biết bà đã mang trong mình tràng chuỗi trong suốt năm qua và giờ đây trao lại cho Jim để may ra có thể còn giúp đỡ và chữa lành người khác.

Trong thời gian đó, người chị vợ của Jim đang bị khủng hoảng sau cuộc ly dị, bà cũng muốn được mượn tràng chuỗi của Jim. Sau này bà kể lại rằng: “Hằng đêm, tôi đeo chuỗi vào người. Tôi rất cô đơn và sợ hãi, nhưng khi mang chuỗi vào người, tôi cảm thấy như đang cầm lấy một bàn tay thân yêu…”

Tràng chuỗi mầu nhiệm ấy không mấy chốc đã được trao từ tay người này đến người khác. Mỗi khi gặp khủng hoảng hay bệnh tật, người ta thường gọi điện thoại đến Jim để mượn cho bằng được tràng chuỗi quý giá ấy. Jim suy nghĩ: phải chăng tràng chuỗi có một sức mạnh lạ lùng, hay đúng hơn, sức mạnh tinh thần được canh tân nơi tất cả những ai mượn tràng chuỗi ấy. Jim chỉ biết rằng, hễ có ai ngỏ ý mượn tràng chuỗi, anh luôn đáp trả một cách vui vẻ, và lần nào anh cũng căn dặn: “Khi nào không cần nữa thì cho tôi xin lại. Có thể sẽ có người khác cần đến”.

Cuộc sống của Jim cũng thay đổi kể từ cuộc gặp gỡ đó với Mẹ Têrêsa Calcutta. Khi Jim nhớ lại rằng: Mẹ Têrêsa mang tất cả hành lý của Mẹ trong cái xách tay nhỏ, anh cũng cảm thấy được thôi thúc để làm cho cuộc sống của anh được đơn giản hơn. Anh nói như sau: “Tôi luôn cố gắng nhớ rằng: điều quan trọng trong cuộc sống không phải là tiền bạc, danh vọng mà chính là tình yêu chúng ta dành cho người khác…”

2. Kinh Mai Khôi, một kho tàng quý giá của Hội Thánh

Chuỗi hạt Mai Khôi 200 hạt, 150 hạt, 50 hạt hay 10 hạt được dùng để đếm số Kinh Kính Mừng là “…lời ca tụng Đức kitô không ngừng. Đức Kitô được nhắc đến trong mỗi Kinh Kính Mừng cũng là Đấng được trình bày trong chuỗi các mầu nhiệm: Người là Con Thiên Chúa và là Con Đức Trinh Nữ…” ( Đức Giáo Hoàng Phaolô 6, Rosamrum Virginis Mariae, số 18 ).

Chuỗi Mai Khôi lần lượt diễn tả:

– Mầu nhiệm Vui: đồng hành với mầu nhiệm Nhập Thể và đời sống âm thầm của Chúa Giêsu.

– Mầu nhiệm Sáng: đồng hành với những mốc thời gian hoạt động đặc biệt có ý nghĩa trong cuộc đời công khai của Chúa Giêsu.

– Mầu nhiệm Thương: đồng hành với những đau khổ của cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu.

– Mầu nhiệm Mừng: đồng hành với vinh quang Phục Sinh của Đức Kitô.

Vì thế, Chuỗi Mai Khôi là kho tàng thiêng liêng quý giá của Hội Thánh.

Đức Chân Phước Gioan Phaolô 2 nói: “Chuỗi Mai Khôi là lời kinh tuyệt diệu, tuyệt diệu trong đơn sơ và trong sâu thẳm của nó…”

Đức Thánh Cha Lêô 13 ( 1810 – 1903 ) là vị Giáo Hoàng của Kinh Mai Khôi. Ngài đã ban hành 12 thông điệp nói về Kinh Mai Khôi. Ngài đã thiết lập Tháng Mai Khôi và thêm vào kinh cầu Đức Bà câu: “Nữ Vương rất thánh Mai Khôi, cầu cho chúng con.”

Đức Thánh Cha Piô 10 ( 1835 – 1914 ) đã nhắn nhủ các gia đình Công Giáo: “Nếu các con muốn cho gia đình được bình an, thì hãy lần hạt mỗi buổi tối… Khi gia đình được an vui hoà thuận, hãy lần Chuỗi Mai Khôi để xin Mẹ ban cho sự an vui hoà thuận yêu thương. Khi gặp người chồng thiếu trách nhiệm, hãy chạy đến với Mẹ nhờ tràng Chuỗi Mai Khôi, để xin Mẹ cảm hoá. Khi vợ chồng xung khắc nhau, hãy lần Chuỗi Mai Khôi, xin Mẹ tạo sự cảm thông”.

Thánh Piô Năm Dấu Thánh ( 1887 – 1968 ) chia sẻ: “Vũ khí của tôi là tràng hạt Mai Khôi. Đức Mẹ không từ chối tôi điều gì khi tôi xin với Mẹ qua Chuỗi Mai Khôi. Muốn làm Đức Mẹ vui lòng và muốn được Đức Mẹ thương yêu, hãy lần Chuỗi Mai Khôi”.

Cha Stefano Gobbi ( 1930 – 2011 ) viết: “Chuỗi Mai Khôi mang lại hòa bình cho bạn. Với lời Kinh Mai Khôi, bạn sẽ có thể nhận được từ Thiên Chúa hồng ân vĩ đại nhất là canh tân đời sống, thu phục các linh hồn về với Chúa trong sự ăn năn tội, tình yêu và thánh ân”. Và “Chuỗi Mai Khôi là lời kinh của tôi. Những lời kinh này dù khiêm nhường và mong manh cũng sẽ nên như xích sắt để khóa lại quyền lực tối tăm của thế giới, kẻ thù của thế giới và của các tín hữu”.

Đức Thánh Cha Piô 9 ( 1792 – 1878 ) đã khuyên nhủ: hãy lần chuỗi mỗi buổi tối trong gia đình.

Đức Thánh Cha Piô 11 ( 1837 – 1959 ) viết: “Chúng tôi khuyên các bậc làm cha làm mẹ hãy tập cho con cái mình thói quen lần chuỗi. Mỗi lần tiếp kiến các đôi vợ chồng trẻ, chúng tôi đều khuyên nhủ họ hãy siêng năng lần chuỗi. Ngay cả chúng tôi nữa, không ngày nào mà chúng tôi không lần chuỗi…”

Đức Thánh Cha Piô 12 ( 1876 – 1958 ) khuyên nhủ các bạn trẻ: Hãy yêu mến Mẹ qua việc lần chuỗi Mai Khôi. Năm 1951 ngài đã ra thông điệp về Kinh Mai Khôi, và xin các tín hữu hãy lần chuỗi gấp đôi trong tháng Mai Khôi. Trong một lần tiếp kiến, ngài nói với một vị Giám Mục: “Hãy yêu cầu các Linh Mục của ngài cầu nguyện và hãy nói cho họ biết: Đức Thánh Cha vẫn lần chuỗi mỗi ngày”. Khi về già, trước lúc đi ngủ, dù là nửa đêm, ngài cũng vẫn lần chuỗi.

Đức Thánh Cha Gioan 23 ( 1881 – 1963 ), ngay trong năm đầu của triều đại cũng đã ra một thông điệp về Kinh Mai Khôi.

Đức Chân Phước Gioan Phaolô 2 ( 1920 – 2005 ), ngay trong tuần lễ sau khi đắc cử Giáo Hoàng, đã nói với tất cả các tín hữu hiện diện tại quảng trường Thánh Phêrô khi đọc kinh Truyền Tin: “Chuỗi Mai Khôi là lời cầu nguyện mà tôi yêu thích nhất. Đó là lời kinh tuyệt vời. Tuyệt vời trong sự đơn giản và sâu sắc. Với lời kinh này chúng ta lập lại nhiều lần những lời mà Đức Trinh Nữ đã nghe sứ thần Gabriel và người chị họ Elisabeth nói với Mẹ. Toàn thể Hội Thánh cùng liên kết với những lời kinh ấy”.

Các Đức Thánh Cha đều khẳng định về sự tuyệt diệu của Kinh Mai Khôi và mong muốn mọi tín hữu hãy siêng năng lần chuỗi. Các tín hữu đã đáp trả lời mời gọi tha thiết ấy.

Đức Mẹ rất yêu mến những ai siêng năng đọc Kinh Kính Mừng. Qua Kinh Mai Khôi, chúng ta lặp đi lặp lại không những một hai lần Kinh Kính Mừng, nhưng là đọc đi đọc lại cả một trăm năm mươi lần, như một trăm năm mươi đóa hoa hồng dâng kính Mẹ, như lời Đức Giáo Hoàng Piô 5 đã nói: “Đây là việc tôn kính Đức Trinh Nữ Maria bằng cách đọc một trăm năm mươi Kinh Kính Mừng, theo con số các Thánh Vịnh của Đavít, chia thành từng chục kinh một với một Kinh Lạy Cha, đồng thơi suy ngắm các mầu nhiệm về toàn thể cuộc đời của Chúa Giêsu Kitô.”

3. Kinh Mai Khôi, lời kinh gần gũi cuộc sống

Sau hai mươi lăm năm, tức là vào dịp mừng Ngân Khánh Giáo Hoàng, trong Tông Thư “Kinh Mai Khôi”, một lần nữa, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô 2 ân cần nhắc lại kỷ niệm xưa mà nay đã trở thành xác tín: Kinh Mai Khôi là lời kinh kỳ diệu. Đơn giản trong hình thức, đơn sơ trong nội dung, nhưng không đơn thuần là một kinh dành cho giới bình dân như có thời người ta nghĩ, nhất là sau Công Đồng Vatican 2 ( 1962 – 1965 ) khi Phụng Vụ tìm lại được vị thế đỉnh cao và trung tâm.

Kinh Mai Khôi là kinh hạt phổ quát cho hết mọi người, phổ cập cho mọi trình độ và phổ biến trong bất cứ hoàn cảnh nào.

Ngày nay nhiều người phàn nàn không có giờ đọc kinh vì phải lo học hành, lo làm ăn xuôi ngược. Chuỗi hạt Mai Khôi sẽ nuôi dưỡng đời sống nội tâm phong phú. Con người hôm nay mệt mỏi, lo âu, căng thẳng, vội vã. Chuỗi Mai Khôi làm lòng người lắng dịu, thanh thản bình an để chiêm ngắm cuộc đời Chúa Giêsu và ca ngợi Mẹ.

Đức Giáo Hoàng Phaolô 6 ( 1897 – 1978 ) khích lệ: “Bản chất việc đọc Kinh Mai Khôi đòi hỏi nhịp điệu phải chậm rãi và có thời gian thư thả, để người ta có thời gian suy gẫm sâu xa về các mầu nhiệm cuộc đời Chúa Giêsu được nhìn qua Trái Tim của Đấng gần gũi nhất với Chúa.”

Điều thuận lợi của Chuỗi Mai Khôi là lần hạt ở đâu cũng được. Ta không buộc phải đọc 50 Kinh Mai Khôi một lần mà có thể đọc bao nhiêu tuỳ vào thời gian ta có. Ta cũng có thể vừa làm việc vừa đọc Kinh Mai Khôi, không nhất thiết phải có tràng hạt trên tay. Ta cũng có thể thì thầm bất cứ lúc nào: khi chờ xe bên đường, lúc đi học, khi giải trí, khi đau bệnh… thay vì đưa mắt nhìn chung quanh, thay vì nghe những chuyện không đâu, ta cũng có thể lần hạt. Dù bận bịu đến đâu ta cũng có thể lần hạt. Đó là cách cầu nguyện mà triết gia Jacques Maritain ( 1882 – 1973 ) gọi là “chiêm niệm bên vệ đường”.

THỰC HÀNH KINH MAI KHÔI NHƯ MỘT PHÁP MÔN TU

THỰC HÀNH KINH MAI KHÔI NHƯ MỘT PHÁP MÔN TU

PHÙNG VĂN HÓA, 2013

Trích EPHATA 582

Việc cầu nguyện nói chung và cầu nguyện bằng Kinh Mai Khôi nói riêng, có thể nói, đang gặp khủng hoảng. Có một nhận định như sau:

“Trong nguồn gốc của nó có nhiều lý do nhưng có thể tập trung chúng vào trong hai đặc thái sau đây. Thứ nhất là cuộc khủng hoảng của lời cầu nguyện sùng kính, trầm trọng vì sự tục hóa và các chủ thuyết nhân bản mới bị ý thức hóa. Thứ hai cuộc khủng hoảng lòng tôn sùng Mẹ Maria là bối cảnh sống còn tự nhiên của Kinh Mai Khôi.

Cuộc khủng hoảng còn đả thương Kinh Mai Khôi trong cấu trúc của nó là lời cầu nguyện thầm trong trí và đọc lớn tiếng bên ngoài. Trong cái khó khăn của việc suy ngắm và trong sự từ chối việc lập đi lập lại một lời kinh bị tố cáo là máy móc vô hồn, các khó khăn này có tầm nghiêm chỉnh của chúng và không thể trả lời với các kiểu nói quen thuộc được” ( Nguồn: Daobinhducme, Linh Tiến Khải, 26.8.2013, Tổng kết ý nghĩa Kinh Mai Khôi trong tình hình giáo lý sùng mộ và việc canh tân KMC hiện nay ).

Về hai… đặc thái nêu trên, ta thấy có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, trước hết là việc cầu nguyện sùng kính sở dĩ khủng hoảng là vì trong thời tục hóa này, người ta không biết phải cầu nguyện với Đấng nào. Hơn nữa Đấng ấy có thực hay không để mà cầu ? Tiếp đến là lòng tôn sùng Mẹ Maria, bởi không biết cầu với Đấng nào, thế nên vai trò của Đức Mẹ đương nhiên cũng trở thành vô nghĩa. Đang khi đó, ngay từ thuở sơ khai, Giáo Hội việc khẩn cầu với Đức Maria đã được các tín hữu thành Ephêsô hết lòng tuyên xưng: “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời cầu cho chúng con là kẻ có tội” ( Xem Lm. Bùi Đức Sinh, Lịch sử Giáo Hội Công Giáo ).

Lời khẩn cầu của các tín hữu xin Đức Maria làm Đấng Cầu bầu cho mình quả thật là ơn soi sáng của Thánh Thần, và từ đó, lời cầu này vẫn được thực hiện cách liên tục qua tràng chuỗi Mai Khôi. Như ai nấy đều biết trong tràng chuỗi Mai Khôi, Kinh Kính Mừng bao giờ cũng gắn liền với lời cầu “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời cầu cho chúng con là kẻ có tội, khi nay và trong giờ lâm tử. Amen”. Có thể nói đọc Kinh Mai Khôi mà không có lời này đi kèm thì chẳng phải là Kinh Mai Khôi ! Lý do bởi vì toàn bộ Kinh Mai Khôi chính là lời cầu của Đức Mẹ dâng lên Thiên Chúa. Cầu nguyện với Thiên Chúa thì phải cho xứng đáng, thế nhưng con người tự sức mình không thể làm được điều này. “Cũng một lẽ ấy Thánh Linh giúp đỡ sự yếu đuối của chúng ta. Vì chúng ta chẳng biết thế nào để cầu nguyện cho xứng đáng, nhưng chính Thánh Linh lấy sự than thở không thể nói ra được mà cầu thay cho chúng ta” ( Rm 8, 26 ).

Có Đức Mẹ cầu thay, việc cầu nguyện của chúng ta mới xứng đáng. Ấy vậy mà nay trong cái gọi là “Canh Tân Kinh Mai Khôi”, người ta đã gạt bỏ đi sự cầu thay vô cùng cần thiết ấy. “Nhiều nơi bên cạnh kiểu lần hạt Mai Khôi truyền thống, vì các lo lắng mục vụ, người ta cũng đã bắt đầu các hình thức lần hạt Mai Khôi khác, có mục đích chính xác là dành ưu tiên cho sức mạnh của Kinh Mai Khôi và cho thấy rõ ràng quyền năng định đoạt của chính nó. Chẳng hạn trong các hình thức mới này có việc đọc các văn bản Kinh Thánh liên quan tới các mầu nhiệm suy gẫm. Nghĩa là không chỉ tóm tắt mầu nhiệm mà đọc chính bản văn Kinh Thánh trình bày mầu nhiệm đó.

Thế rồi việc đọc Kinh Kính Mừng được rút ngắn chỉ giữ lại phần đầu tức là Thiên Thần Gabriel chào Đức Trinh Nữ mà thôi. Còn phần hai của Kinh Kính Mừng chỉ được đọc vào cuối chục kinh để nhấn mạnh vẻ đẹp của lời khẩn cầu luôn luôn diễn tả lòng sùng mộ của Giáo Hội đối với Đức Trinh Nữ và là lời khẩn nài tín hữu dâng lên Mẹ sau khi đã suy ngắm mầu nhiệm cuộc đời của Chúa” ( Nguồn: Linh Tiến Khải ngày 26.8.2013, bài đã dẫn ).

Do bởi ảnh hưởng của duy lý, thế nên ngay đến cả kinh nguyện cũng đem ra suy. Thay cho các ngắm thì lại… suy, và việc suy ấy là suy niệm về Thánh Kinh. Có nơi sau mỗi chục kinh người ta đọc lên một đoạn Kinh Thánh để suy về ý nghĩa Lời Chúa. Có nơi thì bỏ cả việc lần hạt, ấy vậy mà cũng cứ gọi là… nhóm lần hạt. “Tôi tới tham dự với một nhóm, điều làm tôi xúc động sâu xa là những phút thinh lặng rất đặc biệt. Việc cầu nguyện kéo dài khoảng một giờ. Phong trào gửi cho mỗi nhóm một cuốn sách nhỏ ghi đoạn Phúc Âm liên quan đến mỗi nhóm. Đầu tiên đọc Kinh Chúa Thánh Thần rồi một người trưởng nhóm giải thích. Thỉnh thoảng thinh lặng để mọi người đi sâu vào nội dung” ( Tu Sĩ André Sève, Cầu nguyện hôm nay ).

Bỏ hẳn lần hạt, điều ấy chẳng còn gì để nói, nhưng ngay cả việc đọc Kinh Thánh sau mỗi chục kinh cũng khiến cho toàn bộ cấu trúc của kinh này thay đổi, biến dạng, chẳng còn gì là Kinh Mai Khôi truyền thống nữa.

Trong tất cả những lần Đức Mẹ hiện ra, lần nào Ngài cũng hằng khuyên nhủ con cái phải siêng năng lần hạt. Điều ấy hơn ai hết Đức Mẹ hiểu rõ giá trị của Kinh Mai Khôi là ở chỗ nào. Mặt khác cũng vì thực hiện lời khuyên dạy của Đức Mẹ mà chị Bernadette ( Lộ Đức ), các em Lucia, Jacinta, Francisco ( Fatima ) v.v… đã gặt hái được biết bao là ân sủng của Thiên Chúa. Vậy thử hỏi những thụ nhân ấy có suy, có đọc Kinh Thánh trong khi lần chuỗi hay không ? Lại nữa, toàn thể các Thánh, đã không ngớt ca ngợi giá trị vô song của Kinh này, chẳng hạn như Thánh Piô Năm Dấu ( Padreo Pio ) lần cả trăm chuỗi mỗi ngày, vậy các ngài có suy niệm Kinh Thánh gì không ?

Đọc Kinh Mai Khôi là cùng cầu nguyện với Đức Mẹ chứ không phải để suy ngắm mầu nhiệm cuộc đời của Chúa. Quả thật, Kinh Mai Khôi là một phép ngắm nhưng phép ngắm ấy không phải là suy ngắm cuộc đời của Chúa Giêsu hiểu như một thứ hành vi của lý trí suy luận, nhưng là ngắm về bốn mầu nhiệm Vui Thương Mừng Sáng. Trước đây mỗi khi lần chuỗi, người xướng thường là ông bà quản, bao giờ cũng đọc câu này như một công thức “Phép lần hạt ngắm tắt năm sự Vui, hoặc Thương, hoặc Mừng…”

Kinh Mai Khôi được gọi là phép lần hạt, vậy thì “phép” ở đây chính là phương pháp, là pháp môn và hễ là pháp môn thì chỉ có thể là pháp môn tu.

Sở dĩ Kinh Mai Khôi rơi vào khủng khoảng không lối thoát là vì người ta đã không thực hành kinh này như là một phương pháp tu tập. Phép tu này vừa dễ thực hành lại vừa bảo đảm phần rỗi như lời Thánh Louis Marie Grignion de Montfort quả quyết: “Chúng tôi nhận thấy những người hư thân mất nết, lạc đạo kiêu căng thường tỏ thái độ khinh chê Kinh Mai Khôi. Trái lại những người có dấu hiệu tiền định nên Thánh hoặc được rỗi linh hồn thì thường tôn kính Kinh Mai Khôi và có lòng kính mến Đức Mẹ” ( Nguồn: Thành Thực Sùng Kính Mẹ ).

I. Kinh Mai Khôi, một phép tu

Thánh Đa Minh, người được Đức Mẹ trao sứ mạng truyền bá Kinh Mai Khôi đã quả quyết “Không có cách cầu nguyện nào đẹp lòng Chúa Giêsu và Mẹ Maria cho bằng đọc Kinh Mai Khôi cách sốt sắng”. Để việc thực hành Kinh Mai Khôi đem lại ơn ích lớn lao thì phải đọc cách sốt sắng.

Tuy nhiên làm sao để đọc cách sốt sắng thì đó là cả một vấn đề. Lý do bởi vì việc cầu nguyện nói chung là rất khó: “Vì chúng ta chẳng biết thế nào là cầu nguyện cho xứng đáng” ( Rm 8, 26 ). Muốn cầu nguyện cách xứng đáng thì phải tuân theo lời dạy của Chúa Kitô: “Còn ngươi, khi cầu nguyện hãy vào phòng kín đóng cửa lại rồi cầu nguyện Cha ngươi là Đấng ở nơi ẩn mật, và Cha ngươi là Đấng thấy trong chỗ ẩn mật sẽ báo đáp cho ngươi” ( Mt 6, 6 ).

Lời Chúa cho thấy cầu nguyện đích thực là phải xoay cái tâm vào bên trong mà cầu, bởi vì Thiên Chúa không ngự ở một nơi nào khác ngoài tâm hồn mình. Sở dĩ Thánh Đa Minh hết lời ca ngợi Kinh Mai Khôi là cách cầu nguyện tốt nhất bởi vì đó là phương pháp xoay cái nghe trở vào bên trong để nhận ra Bản Tính Con Thiên Chúa ở nơi mình ( Phản Văn Văn Tự Tánh ). Văn là nghe, còn phản văn là xoay cái tâm trở vào bên trong.

Về cách nghe rất chi là quan hệ, bởi vậy Chúa nói: “Hãy coi chừng về cách các ngươi nghe. Vì hễ ai có thì cho thêm. Còn ai không có thì dẫu điều họ tưởng mình có cũng sẽ bị cất đi luôn nữa” ( Lc 8, 18 ). Cách nghe Chúa nói đây là nghe với cái tâm vô phân biệt. Ai có, tức là có cách nghe với tâm vô phân biệt thì sẽ cho thêm, tức là ngày càng nhận biết Chúa ở nơi mình. Trái lại, nếu cứ nghe với tâm phân biệt thì cái mà họ tưởng là có như là sự khôn ngoan thông thái rồi có ngày cũng sẽ bị mất hết. Kinh Mai Khôi là một phương pháp cầu nguyện tối hảo bởi đó là cái nghe xoay cái tâm trở vào bên trong.

Phải chăng chính là vì kinh này là một phép nghe, thế nên ngoài các danh từ Mai Khôi, Mai Khôi nó còn mang một tên khác là Văn Côi ? Trong sách kinh xưa của các địa phận Hải Phòng, Bùi Chu, Thái Bình vẫn gọi là Kinh Văn Côi cùng với câu công thức mà các ông bà quản giáo vẫn xướng lên trước khi lần hạt: “Phép lần hạt Văn Côi ngắm tắt năm sự Vui, hoặc Thương, hoặc Mừng.”

Bởi Kinh Mai Khôi là một phép nghe với tâm vô phân biệt, thế nên cộng đoàn hay cá nhân cũng phải áp dụng cách nghe này. Khi cùng với cộng đoàn tại Nhà Thờ hay gia đình, dĩ nhiên phải đọc ra tiếng, một bên xướng, một bên thưa. Bên xướng đọc “Kính Mừng…”, còn bên thưa đọc “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời…” Khi bên xướng đọc thì bên thưa phải im lặng để lắng nghe từng lời kinh, không chia lòng chia trí, còn nếu chia trí thì phải lập tức trở lại ngay với lời kinh. Nếu người nào cứ cố tình chia trí thì không thể nào có thể tiếp tục đọc mà không nhầm lẫn về hạt, về thứ, về mùa được.

Có nghe Kinh với tâm vô phân biệt ( không chia lòng chia trí ) như thế thì Lời Chúa mới ở lại ( An Trú ) trong tâm mình và đây là điều mà Chúa Giêsu nói “Ai có sẽ được cho thêm” là vậy.

Lời Chúa là Lời Hằng Sống cho nên việc nghe Lời Chúa không thể chỉ diễn ra trong Nhà Thờ bằng việc đọc kinh nhưng cần phải ở khắp mọi nơi, mọi thời. Để Lời Chúa có thể thấm nhập tâm hồn mọi nơi mọi thời thì cố nhiên cần phải có thực hành cá nhân. Nếu chỉ đọc kinh lần hạt cùng với cộng đoàn mà cá nhân không đọc thì chẳng gặt hái được mấy ơn ích. Tại sao ? Bởi vì khi đọc chung cùng với cộng đoàn thì có thể chúng ta có thể ỷ lại để rồi cứ mặc tình chia trí mà không hề biết. Ngược lại, chỉ những khi một mình thì ta mới được đối diện với Chúa và đây cũng chính là ý nghĩa mà Chúa Giêsu nói đến trong việc cầu nguyện: “Khi các ngươi cầu nguyện thì hãy vào phòng đóng kín cửa lại…” Cửa ám chỉ cho sáu giác quan: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Đóng kín cửa lại có nghĩa là không phóng tâm ra bên ngoài nơi ngoại vật…

Trở ngại lớn nhất nhưng đồng thời cũng đem lại ơn ích lớn lao nhất đó là sự chia lòng chia trí trong khi thực hành Kinh Mai Khôi. Những ai siêng năng lần hạt mới thấy được sự chia trí nhiều như thế nào. Mặc dầu chia trí là điều không sao tránh khỏi, nhưng nếu biết ngay đó là chia trí, bèn quay về với lời kinh để tiếp tục lần hạt thì lại có ơn ích, và ơn ích này là do ý chí ta thuận phục Thánh ý Thiên Chúa. Nhà Thiền có câu “Bất úy tham sân khởi, duy khủng tự giác trì ( Chẳng sợ lòng tham, lòng giận khởi chỉ cần nhận biết nó ). Lòng tham sân khởi lên trong khi lần chuỗi thực chất của nó chỉ là vọng tưởng. Nhận biết đó là vọng thì vọng ấy liền tiêu.

Thế nhưng vọng này tiêu thì vọng khác lại khởi liên tu bất tận. Chính vì vọng khởi không ngớt như vậy mà lực quán sát của người tu ngày càng thêm đắc lực. Sự quán sát ấy chính là ý nghĩa của việc Ngắm trong Kinh Mai Khôi. Ngắm ở đây không phải là cái nhìn của mắt nhưng là của tâm. Để có cái nhìn của tâm thì cần phải có phương pháp dựa trên hai phương diện chủ và khách. Chủ ở đây là lời kinh, còn khách là những vọng tưởng ( chia lòng chia trí ). Sở dĩ vọng tưởng khởi biết là vọng là nhờ có lực mạnh mẽ sáng suốt của Lời Chúa. “Lời Đức Chúa Trời là Lời Hằng Sống, linh động sắc hơn mọi gươm hai lưỡi, đâm thấu đến nỗi chia hồn linh khớp tủy. Biện biệt tư tưởng và ý định của lòng người” ( Dt 4, 12 ).

Vọng tưởng tức là những ý tưởng tham lam, ganh ghét, giận hờn, đam mê, tranh đấu… Một khi chúng đã được nhận biết thì không còn tác dụng gì tới đời sống của ta nữa. Con người sở dĩ có những hành vi xấu xa ác độc là vì đã chấp chứa ở nơi mình những tư tưởng xấu ( chúng ác tưởng ). Trái lại, một khi không còn những tư tưởng xấu ác ấy thì sao có thể làm ác được ? Làm ác thì phải chịu quả báo ác, không thể tránh thoát ?

Kinh Mai Khôi là một phương pháp tu tập khiến cho tư tưởng ác ngày càng tiêu trừ đồng thời phát triển tư tưởng lành. Hành động nào cũng do nơi tư tưởng, chứa chấp tư tưởng ác sẽ hành động ác mà hành động ác tất sẽ phải khổ, khổ cả đời này lẫn đời sau vô cùng. Đức Mẹ ân cần khuyên bảo chúng ta hãy siêng năng thực hành Kinh Mai Khôi bởi vì đó là phương pháp thoát khổ bảo đảm chắc chắn nhất.

II. Nghe để thoát khổ

Lời nói nào gợi cảm giác đó, lời lành gợi cảm giác lành, lời ác gợi cảm giác ác. Nghe một bản nhạc cải lương não nề ai oán khiến tâm ta cũng phải buồn bã ủ ê. Ngược lại, nghe một bản hùng ca khiến lòng ta thêm phấn chấn. Lời nói là hình tướng của tư tưởng, nói cách khác, từ ở nơi tâm mà phát ra lời nói. Tâm ác thì phát ra lời nói ác. Tâm thiện thì phát ra lời nói thiện. “Người thiện do lòng chứa thiện mà phát ra điều thiện. Kẻ ác do lòng chứa ác mà phát ra điều ác. Vì do sự đầy dẫy trong lòng mà miệng mới nói ra” ( Lc 6, 45 ).

Nói đến chất chứa thì hẳn nhiên là phải có cái nơi để chất chứa và nơi ấy được ví như một cái kho. Duy Thức Học gọi cái kho đó là Tạng Tâm ( tàng là cái kho ). Tạng tâm là nơi con người chất chứa tất cả những gì mình đã làm đã nghe đã thấy và đã nghĩ tưởng, gọi là Nghiệp. Tạng Tâm người nào thì chất chứa nghiệp của người đó. Nghiệp tạo thành là do chất chứa, người làm nông là do chất chứa những kiến thức kinh nghiệm về nghề nông. Người làm nghề dạy học là do chất chứa kiến thức về sư phạm. Bác sĩ, kỹ sư v.v… cũng vậy.

Cùng một lẽ ấy sự chất chứa trong lãnh vực tâm linh cũng không khác. Có chất chứa những điều lành thánh mới được nên Thánh. Trái lại cứ mãi chất chứa toàn là những điều dối trá tham lam, ganh ghét, hận thù thì không thể tránh khỏi đọa vào ác đạo. Chất chứa điều thiện sẽ được quả thiện lành, chất chứa điều ác sẽ phải chịu quả ác. Sự chất chứa ấy chính là nhân, nhân nào thì quả nấy, không mảy may sai chạy dù chỉ một hào ly.

Tôn giáo hoàn toàn không phải là Triết Học nhưng là con đường tạo lập nhân lành để được hưởng quả lành. Kinh Mai Khôi do Đức Mẹ tạo lập với mục đích tạo cho con người một thứ nhân lành tuyệt hảo bằng cách lắng nghe Danh Thánh Chúa từ trong tâm tưởng. Người đời coi thường Danh – Sắc ( Tên gọi và Hình Tướng ) thế nhưng đây là điều vô cùng quan hệ đến đời sống hạnh phúc hay khổ đau của mỗi người.

Do bởi không biết được tính chất quan hệ của Danh Sắc như thế nên con người ngày nay hầu như ngày nào cũng dán mắt vào TV, xem hết phim Hàn, phim Tàu, lại đến phim Mỹ, ngồi lê đôi mách, nấu cháo điện thoại cả ngày không chán, đọc hết báo in lại đến báo điện tử, đầu óc tràn ngập đủ thứ tin tức quốc nội, quốc tế. Những người như thế chẳng qua chỉ là nạn nhân của những trò lừa bịp của quảng cáo đủ loại mà không biết !

Kinh Mai Khôi do Đức Mẹ tạo lập có mục đích cho ta xoay cái tâm trở vào bên trong để lắng nghe Tiếng Chúa và Tiếng Chúa ấy chỉ có thể nghe được cùng với Danh Thánh Chúa Giêsu. Cần phải ghi khắc ( chất chứa ) Danh Thánh Giêsu ở nơi tâm khảm để tạo cho mình một sức mạnh vô địch: “Nghe Danh Giêsu cả trên trời dưới đất và âm phủ đều phải quỳ gối” ( Pl 2, 10 ). Sở dĩ Danh Thánh có sức mạnh lớn lao như thế là vì đó là Danh của Đấng Cứu Độ, Ngài đã hiến cả mạng sống mình để làm giá cứu chuộc muôn người. Mặc dầu vậy Danh Thánh Giêsu chỉ có thể trở nên sức mạnh khi nào ta tạo lập được ở nơi tâm của chính ta. Chỉ khi ấy Danh Thánh mới có sức mạnh hầu chiến thắng thế gian xác thịt ma quỷ tức là những ác tưởng mà mình đã chất chứa từ bao đời bao kiếp.

Kinh Mai Khôi chính là phương pháp hữu hiệu nhất để cho ta có thể tạo lập Danh Thánh Giêsu ở nơi mình bằng cách lắng nghe Lời Chúa là lời chân lý. Sự lập đi lập lại Kinh Kính Mừng cùng với lời cầu bầu của Đức Mẹ đó là cách tốt nhất để chiến thắng tội lỗi khi nó vừa mới thoạt khởi trong tâm ta. Khi tư tưởng tham vừa khởi biết nó là tội, bèn xả bỏ ngay thì không bao giờ có hành động tham, mà đã không có hành động tham thì không phải khổ vì tham.

Tuy nhiên để việc thực hành Kinh Mai Khôi tạo được lực mạnh mẽ ở nơi tâm như thế thì phải có đường lối tu tập theo chính pháp có nghĩa phải sống trong ơn nghĩa Chúa: Yêu mến Chúa và vâng giữ lời Ngài “Ai yêu mến Thầy thì vâng giữ lời Thầy…”

PHÙNG VĂN HÓA, 2013

ASSISI, QUÊ HƯƠNG THÁNH PHANXICÔ

ASSISI, QUÊ HƯƠNG THÁNH PHANXICÔ

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

10/2/2013

Phòng Báo Chí Tòa Thánh công bố chương trình chi tiết chuyến viếng thăm mục vụ của Đức Thánh Cha Phanxicô đến Assisi ngày 4 tháng 10. Trong dịp này, Đức Thánh Cha sẽ đến viếng mộ Thánh Phanxicô và mộ Thánh Clara. Ngài cũng sẽ gặp những người nghèo và giới trẻ.Vào lúc 7 giờ sáng, máy bay trực thăng chở Đức

Thánh Cha rời Roma và đáp xuống sân vận động của Trung tâm Thánh Phanxicô tại Assisi lúc 7g45. Tại đây Đức Thánh Cha sẽ gặp các bệnh nhi và trẻ khuyết tật. Sau đó ngài đến viếng Đền thánh San Damiano vào lúc 8g45. San Damiano là ngôi nhà nguyện nhỏ được Thánh Phanxicô trùng tu. Sau đó Đức Thánh Cha đến Toà giám mục gặp những người nghèo được Caritas trợ giúp.Tiếp theo, Đức Thánh Cha đến Vương cung thánh đường Thánh Phanxicô. Tại đây Đức Thánh Cha xuống khu hầm mộ để viếng mộ Thánh Phanxicô.Lúc 11g00, Đức Thánh Cha sẽ chủ sự Thánh Lễ tại Quảng trường Thánh Phanxicô Assisi, sau đó đến Trung tâm tiếp nhận của Caritas, để dùng bữa ăn trưa với những người nghèo.Sau khi ăn trưa, Đức Thánh Cha đến thăm Tu viện Carceri và cầu nguyện trong căn phòng của Thánh Phanxicô. Buổi chiều, lúc 15g15, Đức Thánh Cha gặp các giáo sĩ, tu sĩ và các thành viên của Hội đồng Mục vụ Giáo phận tại Nhà thờ chính toà Thánh Ruffinô.

Sau đó ngài đến Vương cung thánh đường Thánh Clara, và thinh lặng suy niệm trước Thánh giá Thánh Đamianô.Tiếp theo Đức Thánh Cha đến Vương cung thánh đường Nữ vương các Thiên thần; vào lúc 17g45, Đức Thánh Cha gặp giới trẻ vùng Umbria tại quảng trường và trả lời các câu hỏi.

Chặng cuối cùng, lúc 18g45, Đức Thánh Cha viếng thăm Đền thánh Rivotorto.Cuối cùng Đức Thánh Cha đáp máy bay trực trăng lúc 19g15 và trở về Vatican lúc 20g00. (Vatican Radio).

Năm Đức Tin, tôi đi hành hương đến Assisi, xin gởi đến quý độc giả những ghi nhận từ những nơi hành hương để cùng hiệp thông với Đức Thánh Cha Phanxicô trong chuyến viếng thăm mục vụ của ngài tại Assisi.

1. Thánh Phanxicô chọn nếp sống nghèo khó

Phanxicô chào đời vào khoảng cuối năm 1182, tại thành Assisi phía bắc Rôma. Cha của ngài là ông Phêrô Bênađônê, một thương gia chuyên nghề bán len dạ. Mẹ là bà Pica, một phụ nữ hiền đức.Cậu Phanxicô rất hào hoa, lại được gia đình giàu có nuông chiều, nên mặc sức ăn chơi phung phí. Mộng công danh thôi thúc, Phanxicô theo bá tước Gauthie de Brienneur đi chinh phục vùng Apulia, gần thành Assisi. Nhưng ý Chúa nhiệm mầu đã khiến Phanxicô đau nặng và bắt buộc phải trở về quê hương.Lần này, tuy vẫn ăn chơi như trước, nhưng Phanxicô cảm thấy những thú vui xưa kia dần dần mất hết ý nghĩa. Thế rồi Phanxicô đi tìm lý tưởng cao đẹp hơn. Một hôm, lúc đang cầu nguyện trong nguyện đường Đamianô nhỏ bé, Phanxicô nghe tiếng Chúa phán ra từ cây Thánh Giá: “Phanxicô, con hãy đi sửa lại ngôi đền thờ của ta đang đổ nát !”. Phanxicô hiểu câu nói này cách nông cạn, nên tình nguyện đi xin từng viên đá đem về sửa lại các Nhà thờ cạnh Assisi. Trong hai năm, ngài đi hành khất, sống ẩn dật và sửa sang ba nhà thờ đổ nát trong miền Assisi: nhà thờ Thánh Đamianô, nhà thờ Thánh Phêrô và nhà thờ Đức Bà Porziuncula.Phanxicô chưa hiểu rằng, ngôi đền thờ mà Chúa muốn nói chính là Hội Thánh.

Ngày 24-2-1208, đang dữ lễ, Phanxicô nghe được đoạn Phúc Âm: “Các con hãy đi rao giảng Tin Mừng… Các con đừng mang theo tiền bạc, bao gậy…” (Mt 10,10). Phanxicô nhận ra tiếng gọi của Chúa, nên quyết tâm triệt để sống khó nghèo và theo Chúa trên con đường Thập Giá (Mt 19,21; Lc 9,1-6; Mt 16,24). Phanxicô công khai từ bỏ cha ruột của mình để thuộc trọn về Chúa. Ngài từ bỏ những cuộc vui chơi tiệc tùng với bạn bè để đi giúp những người phung cùi, những kẻ vô gia cư và những người bị xã hội khai trừ.Với tình yêu sự khó nghèo, Phanxicô yêu những người nghèo, những bệnh nhân. Ngài nhìn thấy Chúa Giêsu ở nơi họ. Ngài chỉ muốn giống Chúa Giêsu cách trọn vẹn trong khó nghèo, trong tình yêu, trong sự giảng dạy và trong đau khổ.

Lối sống của ngài thu hút trước tiên hai anh bạn đồng hương: anh Bernađô Cantavalê giàu có và anh Phêrô Catanê, nhà giáo luật. Tiếp đó có 9 anh khác nhập đoàn. Họ trở thành 12 “người đền tội” và lữ hành, không nhà cửa hoặc nơi cư trú cố định. Lúc đầu Phanxicô soạn một ít quy luật sống và đã được Đức Giáo Hoàng Innôxentê III chấp thuận bằng miệng; cuối cùng, ngài viết ra bản Luật Dòng Anh em Hèn mọn và đã được Đức Giáo Hoàng Hônôriô III phê chuẩn năm 1223 bằng sắc dụ.

Phanxicô bị giằng co giữa một đời sống tận hiến cho sự cầu nguyện và một đời sống tích cực rao giảng Tin Mừng. Và ngài đã quyết định theo đuổi đường lối sau, nhưng luôn luôn trở về sự tĩnh mịch bất cứ khi nào có cơ hội. Ngài muốn đến truyền giáo ở Syria và Phi Châu, nhưng trong cả hai trường hợp ngài đều bị đắm tàu và đau nặng. Ngài cũng cố gắng hoán cải các vua Hồi Giáo ở Ai Cập trong lần Thập Tự Chinh thứ năm.

Trong những năm cuối cùng của cuộc đời ngắn ngủi (ngài từ trần khi 44 tuổi) ngài gần như mù và đau nặng. Hai năm trước khi chết, ngài được in năm dấu thánh, là những vết thương của Ðức Kitô ở tay chân và cạnh sườn của ngài.Trong giờ phút cuối cùng, ngài lập đi lập lại phần phụ thêm của Bài Ca Anh Mặt Trời, “Ôi lạy Chúa, con ca tụng Chúa vì người Chị Tử Thần.” Ngài hát Thánh Vịnh 141, và khi đã đến giờ lìa đời, ngài xin cha bề trên cho ngài cởi quần áo ra để nằm chết trần truồng trên mặt đất, giống như Ðức Giêsu Kitô.

Ngài qua đời vào ngày 3-10-1226.
Đức Giáo Hoàng Grêgôriô IX đã phong ngài lên bậc hiển thánh vào ngày 16-7-1228.

2. Vương Cung Thánh Đường Đức Maria Các Thiên Thần

Vương cung Thánh đường nằm ở vùng đồng bằng dưới chân đồi Assisi. Sau khi chụp tấm hình chung đoàn tiến vào Nhà thờ. Bề ngoài trông đơn sơ nhưng bên trong rất rộng cùng với nhiều nhà nguyện nhỏ và nhiều bức tượng tranh ảnh nghệ thuật tuyệt đẹp.

Trong lòng Nhà thờ có “The Portiuncola”, nơi đây được coi như là nhà mẹ đầu tiên, nơi Thánh Phanxicô lập dòng Anh em hèn mọn.

Ngôi Nhà thờ nhỏ từ thế kỷ thứ 9 là Porziuncola, nơi linh thánh nhất đối với các tu sĩ Phanxicô. Đây là nơi Thánh Phanxicô thời thanh niên tìm hiểu ơn gọi rồi từ bỏ thế gian để sống nghèo khó giữa những người nghèo và bắt đầu phong trào Phan Sinh.

Sau khi thánh nhân qua đời năm 1226, các tu sĩ xây dựng những túp lều nhỏ chung quanh Porziuncola. Năm 1230, một phòng ăn và một số tòa nhà kế cận được thêm vào. Theo dòng thời gian, những mái cổng nhỏ và những phòng ở của các tu sĩ được thêm vào chung quanh Porziuncola. Từ năm 1967 và 1969, trong khi khai quật, người ta đã phát hiện một số cơ sở dưới nền của ngôi Vương cung Thánh đường hiện tại.

Khi khách hành hương đến Assisi ngày càng đông để lãnh nhận “ân xá Assisi”, không gian nhỏ bé của Porziuncola đã không còn đủ sức chứa. Nhu cầu là cần phải xây dựng một ngôi nhà thờ mới kết hợp với Porziuncola. Theo lệnh của Đức Giáo Hoàng Piô V (1566-1572), các tòa nhà chung quanh Đền thánh bị tháo gỡ, trừ nguyện đường Transito và căn phòng nơi Thánh Phanxicô qua đời.

Ngày 25 tháng 3 năm 1569, khởi công.Vương cung Thánh đường này được xây dựng theo phong cách Mannerist đến 1679 mới hoàn thành.

Phong cách Mannerist, tiền thân của phong cách Baroque. Hai kiến trúc sư nổi tiếng là Galeazzo Alessi và Vignola thiết kế. Công trình xây dựng tiến triển chậm chạp do thiếu tiền liên tục vì chỉ nhờ vào sự đóng góp địa phương. Mái vòm nằm trên cái trống hình bát giác với tám cửa sổ và những đường gờ trang trí chạy chung quanh, được hoàn thành năm 1667. Công trình xây dựng cuối cùng đã được hoàn thành vào năm 1679. Đến năm 1684, một tháp chuông đã được thêm vào. Ban đầu dự định có một tháp đôi, nhưng tháp thứ hai không được xây dựng.

Ngày 15 tháng 3 năm 1832, động đất đã phá hủy một phần nhà thờ. Đến năm 1836 tái thiết lại dưới sự điều khiển của kiến trúc sư Luigi Poletti. Công trình hoàn thành vào năm 1840. Ông sửa lại mặt tiền theo phong cách tân cổ điển. Khoảng năm 1924 – 1930, Cesare Bazzani đã đưa mặt tiền thánh đường trở lại phong cách Baroque ban đầu. Điêu khắc gia Colasanti đã tạc bức tượng mạ vàng Madonna degli Angeli và đặt trên đỉnh đầu của mặt tiền nhà thờ vào năm 1930.

Ngày 11 Tháng 4 năm 1909, Nhà thờ đã được Đức Giáo Hoàng Piô X nâng lên hàng “Vương Cung Thánh Đường thượng phụ và là nhà nguyện của Đức Giáo Hoàng”.

Nhà thờ với 126 mét dài, 65 mét rộng và mái vòm cao 75 mét.

Bên trong Thánh đường có gian giữa và lối đi hai bên với 10 nhà nguyện. Porziuncola nằm dưới mái vòm.

Nội thất Nhà thờ đơn giản nhưng thanh lịch với ít đồ trang trí, hoàn toàn trái ngược lối trang trí các nhà nguyện phụ. Gian giữa và các lối đi được xây dựng lại theo phong cách Doric tân cổ điển do Luigi Poletti thực hiện. Phần bán nguyện phía sau cung thánh là chỗ ca đoàn được làm bằng gỗ vào năm 1689 và được các tu sĩ Phanxicô tạc hình Nhà thờ Chính tòa và bàn thờ Giáo hoàng. Nhà nguyện của Transito có phòng nơi Thánh Phanxicô qua đời, vẫn còn được lưu giữ đến ngày nay.

Các nghệ sĩ lừng danh đã trang trí các nhà nguyện hai bên vào nhiều thời kỳ khác nhau. Antonio Circignani đã họa các bức tranh trong Nhà nguyện Thánh Anna (1602-1603). Francesco Appiani trang trí hai Nhà nguyện Thánh Antôn và Thánh Phêrô bị xiềng (1756-1760). Ventura Salimbeni trang trí Nhà nguyện Loại trừ Chúa (1602).

Rời Vương Cung Thánh Đường chúng tôi theo hướng Foligno đi khoảng 3 km đến Đền thờ Đức Maria Rivotorto là ngôi nhà đầu tiên của các tu sĩ Phanxicô.

3. Đền thánh Đức Maria ở Rivotorto.

Bước vào bên trong Nhà thờ, ngay cửa chính, tôi thấy có hai ngôi nhà cũ kỹ xây bằng đá, trần lợp tôn ximăng rất thấp. Đây là nơi các môn đệ đầu tiên của thánh Phanxicô trú ngụ, sau đó họ di chuyển đến Porziuncola.

Trong ngôi nhà nhỏ bé này, Thánh Phanxicô đã triển khai, áp dụng và viết luật Dòng theo tinh thần đơn sơ, khó nghèo và cầu nguyện.

Năm 1209, từ nơi này, thánh nhân đã khởi hành cùng với 11 người bạn đến Roma yết kiến Đức Giáo Hoàng Innocentê III. Đức Giáo Hoàng đã chấp thuận bằng miệng Luật dòng của ngài. Đến năm 1223, Đức Giáo Hoàng Onorio III đã chuẩn y Luật dòng.

Hai ngôi nhà nhỏ này có lẽ không phải là hai ngôi nhà nguyên thủy vào năm 1200, nhưng là kết quả của việc tái cấu trúc lại ngôi nhà từ năm 1445 do tu sĩ Monk Francecso Saccardo thực hiện. Linh mục Tổng đại diện ở Assisi đã cho phép xây dựng ngôi nhà nguyện để cử hành Thánh Lễ.

Ngôi nhà thờ hiện tại được xây dựng lại theo phong cách Gothic sau trận động đất năm 1854, nó thuộc quyền sở hữu của dòng Phanxicô thuộc phái Conventual (tuân thủ) có nhà dòng nằm bên cạnh.

Các cánh cửa được trang trí rất đẹp và trình bày những phép lạ của Rivotorto: Thánh Phanxicô đang chờ đợi để được hầu chuyện với Giám mục Guido II với hình ngài đang bay trên một toa xe ánh sáng từ các tu sĩ ở Rivotorto.

Chúng tôi tiếp tuc thăm nhà thờ Thánh Đamianô, nơi thánh Phanxicô lập tu viện cho dòng Clara. Xuôi theo con dốc gần cây số, 2 bên đường là vườn ôliu, tôi thấy tu viện Đamianô đơn sơ và thanh thoát.

4. Nhà Thờ Thánh Đamianô

Nơi đây, Thánh Phanxicô gặp gỡ Chúa Giêsu. Thánh nhân đã cầu nguyện tại San Đamiano ngay tại thời điểm Nhà thờ bị hư hại. Thánh Phanxicô đã nhìn thấy hình ảnh Chúa Kitô chịu đóng đinh sống động. Chúa với ngài: “Phanxicô, con không thấy ngôi nhà của Ta đổ nát hay sao, hãy đứng lên và khôi phục nó lại!”. Thánh Phanxicô đã sửa chữa lại nhà thờ San Đamiano. Sau đó, thánh nhân hiểu rằng sứ điệp của Chúa nói với ngài là phục hồi lại Giáo Hội hơn là sửa chữa ngôi thánh đường San Đamiano.

Cây Thánh Giá mà từ đó Chúa Giêsu nói với Thánh Phanxicô được coi như là cây Thánh giá Thánh Đamiano. Hiện nay cây Thánh giá đang được treo tại Vương Cung Thánh Đường Thánh Clara.

Nhà thờ Thánh Đamiano nối liền với tu viện. Đây là Tu viện đầu tiên của Dòng Thánh Clara, nơi Thánh nữ thiết lập cộng đoàn tiên khởi.

Chúng tôi thăm phòng nguyện, thăm nhà cơm nơi đặt bình hoa là chỗ ngồi hàng ngày của Clara. Lên gác thăm phòng ngũ thấy các Nữ tu sống khổ hạnh trong những phòng quá nhỏ bé nghèo nàn.

Từ Tu viện đi bộ lên dốc cao, rồi đi thang cuốn lên một dốc cao hơn chúng tôi đi đến Vương cung Thánh đường Clara.

5. Vương Cung Thánh Đường Thánh Clara

Vương cung Thánh đường Thánh Clara được xây dựng theo phong cách Gothic Ý giữa 1257 và 1265. Vật liệu kiến trúc là loại đá màu hồng được chiết xuất từ các mỏ đá của núi Subasio. Trong Đền thờ có những bức bích họa quý giá với niên đại vào khoảng từ thế kỷ XII đến thế kỷ XIV.

Bên phải có nhà nguyện, nhiều người đang chiêm ngắm tượng Chúa chịu nạn. Theo truyền thống, tượng chịu nạn này đã mời gọi Phanxicô “vực dậy Giáo Hội” ở Nhà thờ Thánh Đamiano.

Nhà nguyện này là di tích còn lại của ngôi Nhà thờ trước đó kính Thánh Giorgio.

Từ bên trái cung thánh có lối xuống tầng hầm. Nơi đây có phần mộ đặt thi hài thánh Clara. Ở đây lưu giữ một số di tích đặc biệt, trong đó có áo dòng của Thánh Phanxicô và tu phục của Thánh nữ Clara.

Từ quảng trường phía trước Đền thờ chúng tôi ngắm nhìn thung lũng Umbrian từ Montefalco tới Perugia trong ánh nắng lên đuổi bớt gió se lạnh đang thổi.

Thánh Clara làm bề trên tu viện trong 40 năm, nhưng có đến 29 năm ngài luôn đau yếu. Vậy mà lúc nào ngài cũng vui vẻ vì cho rằng đó là sự phục vụ Thiên Chúa. Nhiều người cho rằng các nữ tu đau yếu là vì quá khắc khổ. Ngài nói: “Họ nói chúng tôi quá nghèo khổ, nhưng một tâm hồn có được Thiên Chúa vĩnh cửu thì có thực sự nghèo hay không?”

Thánh Clara là người nữ đầu tiên viết luật dòng cho chị em mình. Năm 1252, Đức Giáo Hoàng Innocentê IV đã chính thức phê chuẩn luật dòng của Thánh nữ khi ngài tới ban phép lành cho Dòng “Clarisse” vào ngày 9-8-1253.

Thánh nữ qua đời vào ngày 11-8 -1253. Đức Giáo Hoàng Innocentê IV cử hành lễ tang cho ngài. Chính Đức Giáo Hoàng không muốn hát bộ lễ cầu hồn, ngài cử hành nghi thức thánh lễ các trinh nữ. Chỉ hai năm sau, Clara đã được Ðức Giáo Hoàng Alexander IV phong thánh.

6. Vương Cung Thánh Đường Thánh Rufinô

(Có giếng rửa tội nơi thánh Phanxicô và Clara đã được lãnh nhận Bí tích Thánh tẩy; trong Nhà thờ còn có tượng Pietà theo nghệ thuật của Đức vào thế kỷ XV).

Vương cung Thánh đường Thánh Rufino có tầm mức quan trọng trong lịch sử của dòng. Thánh Phanxicô, Thánh Clara và nhiều đệ tử ban đầu của Thánh nhân đã được rửa tội tại đây khi nghe Thánh Phanxicô rao giảng trong nhà thờ này. Năm 1209, Clara cảm động trước sứ điệp của Phanxicô rao giảng và thực hiện lời kêu gọi của ngài.

Nhà thờ được thiết kế theo phong cách Umbrian Roman và được xây dựng trên địa điểm có lưu giữ di tích của Giám mục Rufino tại Assisi, chịu tử đạo vào thế kỷ thứ III. Công trình khởi công từ năm 1140 theo thiết kế của Giovanni da Gubbio. Các dòng chữ ở bên trong vòng cung sau cung thánh đã chứng thực điều này. Có thể cũng chính Giovanni là người đã thiết kế các cửa sổ hoa hồng trên mặt tiền của Nhà thờ Đức Maria Maggiore vào năm 1163.

Năm 1228, trong khi đến Assisi để phong thánh cho Phanxicô, Đức Giáo Hoàng Gregoriô IX đã thánh hiến bàn thờ. Đức Giáo Hoàng Innocent IV đã khánh thành Nhà thờ được hoàn thành vào năm 1253.

Mặt tiền Nhà thờ theo phong cách Roma được xây dựng bằng đá lấy từ núi Subasio. Đây là một ví dụ điển hình của phong cách các nhà thờ vào thế kỷ thứ 12 ở vùng Umbria.

Ở bên trong Nhà thờ, giếng rửa tội được đặt ở đầu cánh bên phải Nhà thờ, Thánh Phanxicô đã được rửa tội ở đây vào năm 1182. Thánh nữ Clara được rửa tội ở đây vào năm 1193. Giếng rửa tội được làm bằng một miếng đá granit cổ đại và có một cái đai sắt. Nhà tạm bằng đất nung đỏ có từ năm 1882 nhân dịp kỷ niệm 700 năm ngày sinh của Thánh Phanxicô.

Cánh bên phải là Nhà nguyện Mình Thánh Chúa theo phong cách Baroque (bắt đầu năm 1541 và mở rộng năm 1663), 9 bức tranh tường được cho là vào thế kỷ 17 do họa sĩ Andrea Carlone thực hiện.

Ngôi Nhà nguyện Đức Mẹ An Ủi được xây dựng vào năm 1496.

Vào thế kỷ XIX, bàn thờ chính ở dưới mái vòm hình bát giác thời phục hưng nằm trên di tích của Thánh Rufinô. Ở hai bên có tượng cẩm thạch của Thánh Phanxicô và Thánh Clara do Giovanni Dupré thực hiện.

Có một vài bức tranh do Dono Doni vẻ: Các Thánh thờ lạy Đức Kitô (1555), ở hai bàn thờ hai bên có hai tác phẩm: Hạ xác Chúa (1562) và Chúa bị đóng đinh (1563).

Dưới Vương cung Thánh đường là hầm mộ với quan tài của một người Roma ngoại giáo từ thế kỷ thứ III. Nơi đây có hài cốt của Thánh Rufinô.

7. Francesco Piccolino (nơi sinh của Thánh Phanxicô).

Nơi sinh của Thánh Phanxicô được xem như là một nơi linh thiêng. Sau năm 1250 một thời gian ngắn, Piccardo, con trai của Angelo và là cháu của thánh nhân, đã biến căn phòng lưu trữ này trong ngôi nhà của Thánh Phanxicô thành một nguyện đường. Đến năm 1281, ông đã tôn tạo bên ngoài với một mái vòm lớn. Vào khoảng đầu Thế kỷ thứ 14, dòng chữ Latin được khắc trên mái vòm theo phong cách Gothic này dòng chữ: Đây là nguyện đường có thời là chỗ cho bò và lừa, nơi đó Thánh Phanxicô, tấm gương của thế giới được sinh ra. Bên trong có những bức bích họa chồng lên nhau có niên đại từ cuối thế kỷ thứ 13 và hai thế kỷ kế tiếp đó.

8. Vương Cung Thánh Đường Thánh Phanxicô, di sản thế giới.

Từ vương cung Thánh đường Clara đi bộ hơn cây số là đến Vương cung Thánh đường Thánh Phanxicô. Nổi bật trước mặt tiền Thánh đường là quãng trường rộng xanh mướt những thảm có.

Thánh Phanxicô Assisi qua đời ngày 3-10-1226 tại Porziuncula. Ngày hôm sau, 4-10, xác ngài được đưa về Assisi, và tạm thời được an táng trong nhà thờ thánh Georgiô. Anh Êlia đã viết một lá thư luân lưu cho Dòng, trong đó anh loan tin buồn về cái chết của Thánh Phanxicô.

Anh Êlia đã là Phó Tổng Phục vụ từ Tổng Tu nghị Lễ Hiện xuống 1221. Tại Tổng Tu nghị Lễ Hiện xuống 1227, ngày 30-5, anh Gioan Parenti, Tỉnh Phục vụ Tỉnh Dòng Tây Ban Nha đã được bầu lên thay anh Êlia và trở thành người kế vị Thánh Phanxicô trong vai trò Tổng Phục vụ Dòng Anh em Hèn mọn.

Cùng năm ấy, ngày 19-3-1227, Đức Hồng Y Hugôlinô, Hồng Y Bảo trợ Dòng, được bầu làm Giáo Hoàng, lấy hiệu là Grêgôriô IX. Một trong các ưu tiên của ngài là tôn vinh Thánh Phanxicô. Ngày 29-4-1228, ngài ra sắc dụ “Recolentes” trong đó ngài loan báo ý định của ngài là cho xây cất một ngôi “nhà thờ đặc biệt” để tôn vinh Thánh Phanxicô, trong đó thi hài Thánh nhân sẽ được cất giữ. Anh Elia được chỉ định làm kiến trúc sư điều hành công trình vĩ đại này, xây một tầng hầm đặt ngôi mộ và một ngôi nhà thờ tu viện.

Ngày 16-7-1228, Đức Giáo Hoàng Grêgôriô IX long trọng phong thánh cho Thánh Phanxicô tại Assisi, và ngày 19-7, sắc dụ phong thánh “Mira circa nos” đã được phổ biến. Trong cùng thời gian ấy, ngài đã đặt viên đá đầu tiên cho ngôi thánh đường mới mà ngài tuyên bố là sở hữu của Đức Giáo Hoàng, và ngài xin anh Tôma Xêlanô viết một cuốn tiểu sử chính thức về Thánh Phanxicô.

Năm 1230, tầng hầm mộ hoặc ngôi thánh đường tầng dưới đã hoàn tất. Hài cốt Thánh Phanxicô được rước về ngôi thánh đường mới ngày 25-5-1230 cách trọng thể. Anh Elia vội vã cất giữ hài cốt trong ngôi thánh đường mới mà Đức Giáo Hoàng tuyên bố là “caput et mater” (đầu và mẹ) của Dòng Anh em Hèn mọn.

Tại Tổng Tu nghị Lễ Hiện xuống 1230, anh Êlia toan tính nắm lấy việc quản trị Dòng, nhưng anh em bầu lại Anh Gioan Parenti. Một ủy ban đã được thành lập trong đó có anh Antôn Padua, đi Rôma xin Đức Giáo Hoàng Grêgôgiô IX một lời giải thích chính thức về Bản luật và Di chúc của Thánh Phanxicô. Đức Giáo Hoàng trả lời bằng sắc dụ “Quo elongati” (28-9-1230), qua đó, cùng với nhiều điều khác, ngài tuyên bố rằng bản Di chúc không buộc anh em phải tuân giữ như một bổn phận, và anh em được phép có một “người trung gian” (nuntius) và “những bạn thiêng liêng” để họ cung cấp cho anh em những nhu cầu cần thiết hằng ngày như Bản luật chung kết ấn định, tuy nhiên anh em không được sở hữu gì, nhưng chỉ được “sử dụng hợp với lời khấn nghèo khó” (usus pauper) những gì anh em đã nhận được.

Tại Tổng Tu nghị Riêti, 1232, Anh Êlia Bombarone được bầu làm Tổng Phục vụ. Anh đã hoàn tất việc xây cất Vương cung Thánh đường Thánh Phanxicô. Một tổng thể kiến trúc to lớn gồm cả một Tu viện rộng rãi cho anh em (Sacro Convento), và nhà ở của Đức Giáo Hoàng.

Chiều dài Đền thờ 80 mét, chiều rộng 50 mét, chiều rộng gian giữa 18 mét. Từ năm 2000, Unesco đã công nhận Đền thờ này là Di sản thế giới.

Vương Cung Thánh Đường Giáo Hoàng mang tên Thánh Phanxicô (Basilica Sancti Francisci Assisiensis) là Nhà thờ Mẹ của Dòng Phanxicô tại Assisi. Kế cận với Đền thờ là Tu viện Dòng Phanxicô.

Năm 1228 khởi công xây dựng Đền thờ bên cạnh một ngọn đồi gồm hai phần: Nhà thờ trên và Nhà thờ dưới. Có hầm mộ nơi để phần mộ của Thánh nhân. Phần trang trí bên trong của ngôi Nhà thờ trên theo phong cách Gothic ở Ý. Cả hai nhà thờ trên và dưới được trang trí với các bức bích họa do các danh họa thuộc trường phái La mã và Tuscan vào cuối thời Trung cổ, bao gồm các tác phẩm của Cimabue, Giotto, Simone Martini, Pietro Lorenzetti và của cả Pietro Cavallini. Đặc điểm này nói lên sự phát triển nghệ thuật Italia vào thời kỳ này.

Kiến trúc Đền thờ là một tổng hợp hai phong cách Roman và Gothic. Đền thờ có kiến trúc hình thập giá đơn giản, bên hông trái Nhà thờ có một tháp chuông theo phong cách Roman.

Nhà thờ dưới được xây dựng hoàn toàn theo phong cách Roman, không gian của Nhà thờ đã được mở rộng với một số nhà nguyện ở hai bên. Lối vào chính của gian giữa nhà thờ thông qua một ô cửa Gothic trang trí công phu được xây dựng giữa những năm 1280 và 1300.

Nhà thờ trên với mặt tiền gạch trắng và có một cánh cửa chính lớn theo phong cách Gothic. Phần phía trái của mặt đứng ta có thể nhìn thấy từ cả hai sân trước của Nhà thờ trên và Nhà thờ dưới thì lại theo phong cách Baroque, khi Đền thờ này được nâng lên hàng Vương cung Thánh đường vào năm 1754.

Bên trong của Nhà thờ trên vẫn mang hình chữ thập theo sự thiết kế của thầy Elias

Đền thờ này mang đặc trưng của kiến trúc nhà thờ Ý, những bức bích họa có sớm nhất nằm ở Nhà thờ dưới. Có nhiều nghệ sĩ trong đó có những người nổi tiếng như Cimabue và Giotto, nhưng cũng có nhiều nghệ sĩ không được biết đến thực hiện những công trình nghệ thuật này.

Trên cung thánh mái vòm cung thứ hai có những bức tượng bán thân Chúa Giêsu đối diện với Thánh Phanxicô và Đức Trinh nữ đối diện với Thánh Gioan Tẩy Giả. Mái vòm cung ở cửa ra vào có bốn vị Tiến sĩ Giáo Hội: Thánh Gregoriô đối diện với Thánh Giêrônimô, Thánh Ambrosio đối diện với Thánh Augustinô.

Phía tây của cánh ngang có nhiều bức bích họa của Cimabue trong đó có bức bích họa tráng lệ mang tên cuộc đóng đinh, trong đó Thánh Phanxicô quỳ gối tại chân cây Thánh Giá để tôn thờ cuộc Khổ nạn của Đức Kitô.

Có một loạt 28 bức bích họa do họa sĩ Giotto thời trẻ thực hiện dọc theo phần dưới của gian giữa. Họa sĩ này dựa theo tác phẩm Legenda Maior của thánh Bonaventure viết tiểu sử thánh Phanxicô (1266) để tái tạo lại những sự kiện lớn trong đời sống của thánh nhân. Những bức họa này mang nét sinh động như thể Giotto là chứng nhân những sự kiện chính này. Nhưng việc coi Giotto là tác giả những bức họa này còn đang trong vòng tranh cãi, người ta nghĩ rằng ít nhất có 3 họa sĩ riêng biệt sử dụng khái niệm nguyên thủy của Giotto để vẽ những bức họa này.

Mặt tiền của Vương cung Thánh đường có một cổng ra vào theo phong cách Gothic

Tu sĩ Êlia đã thiết kế Nhà thờ dưới như là một hầm mộ rất lớn giống như những phần mộ bằng đá cứng ở Syria.

Trên các cửa ra vào là một cửa sổ lớn kiểu hoa hồng, hai bên là hai cửa nhỏ hơn, người ta gọi chúng là “con mắt của ngôi nhà thờ đẹp nhất trên thế giới”. Ugolinuccio da Gubbio (khoảng năm 1550) đã trang trí phần bên trái cánh cửa gỗ, còn một nghệ sĩ vô danh vùng Umbrian thực hiện phần cửa bên phải vào năm 1573. Chúng miêu tả những câu chuyện về đời sống của Thánh Phanxicô, Thánh Clara, Thánh Louis và Thánh Antôn. Trên bức tường bên trái của mái hiên là tượng bán thân của Đức Giáo Hoàng Benedict XIV đã ban cho nhà thờ này tước hiệu Vương Cung Thánh Đường Thượng phụ. Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI đã đổi tên Đền thờ này là Vương Cung Thánh Đường Giáo Hoàng của Thánh Phanxicô.

Cổng chính Nhà thờ dưới ăn thông ra một Quảng trường nhỏ, dọc hai bên quảng trường là hai hành lang có mái che và có hàng cột. Đức Chân phước Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã có sáng kiến tổ chức buổi cầu nguyện liên tôn mỗi năm một lần tại quảng trường này. Ngài mời đại diện các tôn giáo lớn trên thế giới đến cùng cầu nguyện với nhau cho hòa bình thế giới. Truyền thống được các đấng kế vị tiếp tục cho đến ngày nay. Nhờ đó, nhiều người trên thế giới biết đến quảng trưởng nhỏ này trong khu vực nhà dòng cạnh Đền thờ.

Chúng tôi dâng lễ tại Nhà thờ trên, sau đó mọi người thinh lặng xuống Nhà thờ dưới quỳ cầu nguyện trước phần mộ thánh Phanxicô. Tham quan nhiều nhà nguyện nhỏ và những tác phẩm nghệ thuật độc đáo.

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II trong thư gửi Dòng Phanxicô nhân dịp lễ sinh nhật lần thứ 800 của vị Thánh Nghèo đã viết rằng, “trong suốt giòng lịch sử, thiên hạ vẫn luôn luôn ngưỡng mộ và yêu mến Thánh nhân vì họ thấy thực hiện nơi ngài một cách lạ lùng, điều mà họ ao ước cho mình, trên hết mọi sự trong đời: đó là niềm vui, sự tự do, hòa bình, hòa thuận và hòa hợp giữa loài người và giữa các dân tộc”.

CHIẾC VĨ CẦM

CHIẾC VĨ CẦM

Tác giả: Fr. Huynhquảng

Chuyến tàu định mệnh Titanic đã nằm sâu trong lòng biển, dầu vậy những tấm gương làm người vẫn được thỉnh thoảng nhắc tới cho nhiều thế hệ mãi đến hôm nay. Trong những mẫu gương ấy, mẫu gương chung thuỷ của người nhạc trưởng Wallace Hartley và Maria Robinson được nhắc đến như một câu chuyện tình buồn, nhưng đẹp – Đẹp vì là vì tính chung thuỷ và trân trọng những báu vật họ trao tặng nhau.

* * *

Trong khi mọi người đang hoảng loạn lo sợ trước cảnh chiếc tàu Titanic gặp nạn, nhằm để giữ vững tinh thần cho hành khách, người nhạc trưởng trẻ 24 tuổi, Hartley đã dũng cảm triệu tập ban nhạc gồm tám nhạc công để trình diễn trên boong tàu. Họ cứ tiếp tục chơi giữa phong ba bảo táp, giữa cảnh náo loạn kêu la, và họ đã giữ vững vai trò nhạc công của họ cho đến giây phút cuối cùng cùng với gần 1.500 hành khách chìm vào lòng biển sâu thẳm vào ngày 15 tháng 4 năm 1912.

Sau một thời gian dài, các nhà chuyên môn đã tìm được một số báu vật trong con tàu định mệnh; trong số đó họ tìm thấy chiếc vĩ cầm của nhạc trưởng Harley được đặt trong chiếc vali bằng da. Lạ thay, dù đã bị chôn kín trong lòng biển nhiều năm, chiếc vĩ cầm vẫn còn như nguyên vẹn. Cây vĩ cầm là quà tặng do bà Maria Robinson tặng cho nhạc trưởng Wallace Hartley nhân ngày họ đính hôn. Trên thân đàn, người ta tìm thấy dòng chữ: “Dành tặng anh Wallace nhân ngày đính hôn của chúng mình. Em Maria.” Sau đó, chiếc vĩ cầm được trao lại cho bà Maria Robinson, vợ của nhạc trưởng, người đã sống cuộc đời còn lại trong bậc sống độc thân. Sau khi nhận lại chiếc đàn, Bà Maria đã viết trong nhật ký, “Cây vĩ cầm giờ đây là sợi dây kết nối tình yêu giữa chúng ta.”

* * *

Bạn thân mến, câu chuyện tình đẹp là chuyện tình diễn tả sự trọn vẹn của mối tình ấy. Người ta vẫn thường rêu rao, “Tình chỉ đẹp khi còn dang dỡ” – cái đẹp của mối tình “dang dỡ” đó chẳng qua là “đẹp” về cảm xúc chứ không thể nói là mối tình đẹp trọn vẹn được. Vì nếu đẹp, tại sao còn dang dở; và vì nếu nó dang dở thì không thể đẹp được.

Mối tình của Wallace và Maria có đẹp không? Có dang dở không? Vâng nó đẹp và không dang dở. Đẹp và trọn vẹn vì chính Wallace và Maria chọn lựa sống mối tình mình cho đẹp cho trọn dù cho hoàn cảnh đẩy họ vào thế “dang dở” nhưng họ, nhất là bà Maria vẫn quyết chọn và làm cho mối tình của họ nên đẹp. Cuộc tình đẹp hay dang dở đều là do sự chọn lựa giữa họ với nhau mà thôi. Thử hỏi là nếu Maria chọn tái hôn, thì liệu rằng chiếc vĩ cầm mà họ tặng cho nhau có giá trị như hiện nay hay không? Liệu rằng chúng ta có bàn đến cuộc tình của họ với tất cả sự ngưỡng mộ hay không? Cả hai Wallace và Maria, họ có quyền kết thúc cuộc tình đẹp  của họ trong dang dở; dầu vậy, họ đã chọn kết thúc cuộc đẹp của họ trong trọn vẹn. Nhất là Maria, cô có quyền kết thúc cuộc tình đẹp của cô với Wallace, và cũng có quyền để xây đắp một mối tình đẹp khác. Dầu vậy, Maria đã chọn đi trọn giao ước trong cuộc tình với Wallace, vì hơn ai hết, Maria hiểu rằng, cuộc tình này chỉ thực sự đẹp khi trong khối óc và con tim của cô không có sự “dang dở.”

Cũng như tất cả những ai đã và sẽ bước vào đời sống hôn nhân, mối tình của bạn có đẹp không, có dang dở không? Vâng nó đẹp lắm – dĩ nhiên nó phải đẹp bạn mới bước vào đời sống hôn nhân; nhưng nó có dang dở không? Đây chính là câu trả lời dành cho sự chọn lựa của bạn. Những cuộc tình hôn nhân thật đẹp không có nghĩa là họ không gặp éo le, ngang trái. Thực ra, có khi họ còn gặp nhiều nghịch cảnh dang dở  nữa là đàng khác; nhưng cuộc tình của họ đẹp là vì họ vẫn chung thủy với nhau bất chấp tất cả nghịch cảnh dang dở.

Thưa bạn, nhìn vào những người thân chung quanh, chúng ta vẫn thấy gặp những con người làm nên nhiều cuộc tình đẹp vì sự chung thủy của họ. Vẫn có đó những cảnh “gà trống nuôi con.” Vẫn có đó những người mẹ đơn độc nuôi con vì chữ tính với chồng. Những con người này có gặp dang dỡ trong cuộc đời không? Thưa có, nhưng cuộc tình của họ vẫn trọn vẹn và đẹp vì lời thề nên trọn và hoàn tất.

Thưa bạn, những chọn lựa nhỏ bé trong từng ngày của bạn  cũng góp phần làm cho cuộc tình của bạn đẹp tương tự như những cuộc tình đẹp bất hủ trong lịch sử con người. Lịch sử đang ở trong tay bạn!


Fr. Huynhquảng

KHI VỢ KHÁC NIỀM TIN TÔN GIÁO – Phần 2

KHI VỢ KHÁC NIỀM TIN TÔN GIÁO – Phần 2

JOSEPH C. PHAM

Gửi người anh em,

Trong thư lần trước, chúng ta đã có dịp trao đổi với nhau khá đầy đủ về những khác biệt tạo nên sự ảnh hưởng không mấy tốt đẹp đến thế hệ kế tiếp của đời sống đôi bạn nếu cả hai thật sự phớt lờ đi những dấu chỉ nhãn tiền. Lần này, như anh đã hứa, chúng ta sẽ tiếp tục chia sẻ những ưu tư khác khi hai bạn đến với nhau trong bối cảnh khác niềm tin tôn giáo.

Hôm nay, anh muốn chia sẻ với người anh em trong khía cảnh hành xử theo điều mỗi người tin sẽ tạo nên những làn sóng rất mạnh mẽ gây bất hoà giữa hai bạn nếu cả hai thiếu nhân đức khiêm nhường – một nhân đức nền tảng cho mọi người trong mọi thời đại, dưới mọi bối cảnh văn hoá, lịch sử, và niềm tin.

Bạn sẽ thi hành điều mà bạn tin. Cứ nhìn cách họ sống thì biết điều họ tin

Đó chính là cách nói của những bậc thầy tinh thần trên thế giới. Quả đúng như thế, chúng ta tin vào điều gì thì chúng ta sẽ hành động theo đúng điều mà ta đang tin hoặc sẽ tin. Chẳng hạn, khi đi xem bói xem thầy nghĩa là chúng ta đã đặt niềm tin vào một sự phán quyết mang tính mập mờ, huyễn hoặc, và thiếu xác thực của những thầy bà mà chúng ta đến. Nghĩa là ta chẳng tin vào điều tốt lành kỳ diệu của cuộc sống và chúng ta được tạo ra để được sống và sống dồi dào trong tình yêu của Đấng Tạo Hoá.

Hay cứ nhìn một người sáng say chiều xỉn thì biết ngay là anh ta chẳng tin gì vào cuộc sống cả, với họ chỉ có ma men mới làm cho họ cảm thấy cuộc sống có ý nghĩa, bởi họ đã trốn tránh cuộc đời và trách nhiệm trong đó. Và còn nhiều ví dụ khác minh hoạ cho điều mà anh đang chia sẻ khi em chiêm ngắm cuộc sống này. Cũng thế, đời sống của hai bạn sẽ gặp khó khăn hoặc thuận lợi thì còn tuỳ thuộc vào niềm tin của hai bạn đồng bộ ( Syn ) đến đâu.

Sự đồng bộ trong niềm tin sẽ chỉ có được trên nền tảng của sự khiêm nhường chân thành nơi thẳm sâu trái tim hai bạn. Trên nền tảng này, mỗi người đều thấy được cái ưu và khuyết của nhau trên mọi bình diện của cuộc sống: tính cách, công việc, tôn giáo, văn hoá… để từ đó thay vì đối kháng và xung đột thì sẽ bổ sung và tạo nên sự hài hoà cho cả hai, và nhất là cho những đứa con của hai bạn sau này. Theo đó, người mang trọng trách nặng nề hơn trong việc giáo dục đời sống tinh thần và thiêng liêng giờ đây thuộc về người cha, vì theo nguyên tắc thì người cha hay mẹ Công Giáo sẽ có trách nhiệm nuôi dưỡng con cái theo luật Giáo Hội. Mà giáo dục ấy không có gì ngoài chuyện giáo dục Đức Tin.

Điều khó khăn ở đây nằm ở chỗ từ xưa tới nay giáo dục cho con trẻ thuộc về người nữ, vì đó thuộc phẩm chức và thiên chức cao đẹp của họ. Thế nên, giờ đây người anh em thành gà trống nuôi con trên bình diện thiêng liêng, còn bà xã vẫn cứ làm đúng thiên chức của người mẹ trên bình diện tình cảm và thể lý. Với vai trò là trụ cột gia đình, người anh em giờ đây mệt nhoài với chuyện kinh tế, giờ còn phải lo chăm sóc cho con về mặt tinh thần và Đức Tin, quả là một việc rất khó với phẩm chức của người đàn ông vốn mang tính bôn ba và bươn trải, về đến nhà chỉ còn muốn được nghỉ ngơi và hồi sức bên người thân yêu.

Khi rong ruổi giữa đời để mưu sinh, anh em không tránh khỏi nhiều phen đi vắng, thế nên ở nhà bằng tất cả sự khiêm nhường và nhận thức đầy đủ cũng như sư tôn trọng giá trị thiêng liêng nền tảng của chồng và con, người mẹ có trách nhiệm nhắc nhở con cái thi hành việc bổn phận trong niềm tin tôn giáo mà chúng đang theo bố.

Còn nếu đã không làm nhiệm vụ nhắc con, lại còn tiêm nhiễm làm nhiễu hệ thống và giá trị niềm tin tinh tuyền của con cái thì phải kể là thật tội cho người anh em đã cất công lao đao vun trồng giờ thì lại có người phá đổ, và tội cho cả cháu bé bị lung lạc và nhung nhiễu niềm tin.

Với cách hành xử theo điều mình tin, nhiều khi bà xã lại có kiểu cúng kiếng, vái lạy, van xin ở ngoài hè phố, đốt tiền giấy, đốt phông lông đuổi xúi quẩy, cúng rằm… là điều hợp với niềm tin của nàng, song với người anh em và người thân thì cảm thấy có gì đó chướng chướng.

Ở đây, chúng ta không phê phán cách hành xử nào là đúng hay sai, chỉ là sự khác biệt ấy sẽ gây biết bao rắc rối nếu không đồng bộ mà thôi. Nếu anh em góp ý, thì rất có khả năng anh em sẽ chết dưới cái lý luận của nàng: “Anh có cách sống và thực hành niềm tin của anh, em có cách thực hành niềm tin của em. Anh làm này làm kia em có than phiền gì đâu. Em tôn trọng anh thì anh cũng hãy tôn trọng em;” “Anh có cách giáo dục con của anh, em cũng có cách giáo dục con của em. Em là mẹ em cũng có bổn phận giáo dục nó như anh. Vậy thì anh nói đi, em sai chỗ nào và anh hay hơn chỗ nào ?” v.v…

Đến đây, nếu không khéo léo và sự khiêm nhường đi vắng thì sẽ bùng nổ nội chiến cách nặng nề. Vì ai cũng muốn bảo vệ niềm tin của mình, đó là điều hợp với lẽ tự nhiên.

Nàng đi chùa, tụng kinh, vái nhang khi đến Chùa, khi nàng đã là người Công Giáo

Đây quả là một câu chuyện nan giải, đặc biệt với phẩm chất nhất thuỷ nhất chung vốn có của người phụ nữ. Nàng sẽ cảm thấy trái tim mình bị giằng co tư bề khi giờ đây đã là người của một tôn giáo khác mà bỗng dưng có vẻ như phải ngừng lại hết mọi hoạt động vốn đã ăn sâu vào tâm thức và máu thịt mình, phải chăng mình đã bội phản ? Khi đối diện với vấn đề này nơi người bạn đời, người anh em đừng hoang mang hay hành xử theo kiểu không kiểm soát được thì lệnh cấm vận. Hãy bình tĩnh và giảng giải để nàng hiểu tường tận điều nàng đang khắc khoải băn khoăn.

Ở đây, theo thiển ý rất riêng tư, anh xin gợi ý vài điểm để anh em có thể phần nào thấy được vấn đề mình đang hoặc sẽ đối diện qua vài điểm sau.

Thứ nhất, không có sự mâu thuẫn nào trong hành trình tìm kiếm Chân Lý hết, bởi Chân Lý chỉ có một như thể mặt trời mọc hướng Đông và lặn ở hướng Tây. Thế nên, xưa kia nàng đi nhà Chùa thắp nhang vái Đức Phật và học các giáo lý mà Đức Phật truyền lại như một phương thế ( mean ) để người ta đạt tới Chân Như ( God ) thì ngày nay nếu vẫn cùng ý nghĩa ấy thì chẳng có gì là sai trái hay bội phản, nàng cứ việc đi Chùa để tìm kiếm Chân Như và vẫn cứ vái nhang Đức Phật như một bậc Thánh Nhân ( vì Đức Phật chưa bao giờ tự nhận mình là Chân Như ). Miễn là nàng đừng để sự lầm lạc nào đó để đồng hoá giữa Đức Phật với Đức Chúa Trời ( Chân Như ) để chuyển từ thái độ yêu mến sang thờ phượng.

Thứ hai, Đức Phật giới thiệu cho mọi người thời của ngài và cả thời chúng ta những phương thế tốt lành để đạt tới Chân Như, còn Đức Giêsu vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, sống như người trần thế ( Pl 2, 6 – 11 ) là để mang Thiên Chúa ( God) đến cho chúng ta qua lời giảng dạy và cả hành trình sống của Ngài.

Thế nên, tại điểm này Chân Lý gặp nhau giữa hai vị Đức Phật và Đức Giêsu ( Xét trên bản tính nhân loại của Ngài ). Thế nên, gặp gỡ Đức Kitô và đi theo Ngài không có nghĩa là phản bội lại Đức Phật mà đơn giản chỉ là một sự thăng hoa trong niềm tin tôn giáo và ân sủng mà thôi. Hãy cho nàng biết, điều nàng đang được hưởng trong tư cách là một Kitô Hữu là điều mà Đức Phật đã rong ruổi và bôn ba tìm kiếm suốt cả một đời mới gặp được, và chắc chắn điều ấy làm cho Đức Phật mà nàng mến yêu cảm thấy vui và hạnh phúc cho người thành tâm thiện chí tìm kiếm Chân Lý như nàng.

Người anh em thân mến, trên đây là phần chia sẻ của anh với người anh em về sự khác biệt tôn giáo giữa hai người khi sống đời vợ chồng, để anh em tham khảo và có cách hành xử thật đúng đắn và kiên nhẫn với người bạn đời của mình. Còn nhiều vấn đề quan trọng khác nữa phát sinh do sự khác biệt trong niềm tin tôn giáo giữa hai bạn trong đời sống vợ chồng mà anh muốn chia sẻ thêm, song có lẽ điều đó sẽ được đề cập nhiều hơn ở những thư chia sẻ sau.

Mến chúc các bạn được hoà hợp trong cùng một Đức Tin để cùng nhìn về một hướng mà thăng hoa tình yêu vợ chồng.

JOSEPH C. PHAM

Khi nói dối là…chuyện nhỏ

Khi nói dối là…chuyện nhỏ

Thanh Quang, phóng viên RFA
2013-09-30

RFA

10BaoAnh2392013164727758-305.jpg

Chủ tịch VN Trương Tấn Sang phát biểu tại Diễn đàn Doanh nghiệp Đan Mạch – Việt Nam hôm 20/9/2013 tại Đan Mạch

AFP photo

Trong phạm vi gia đình và học đường, tác giả Nguyễn Quang Thân của bài tựa đề “Ai dạy trẻ nói dối” báo động về “kết quả sững sờ” liên quan tình trạng học sinh, sinh viên tại VN ngày nay nói dối với cha mẹ, mà theo cuộc khảo sát của Trung tâm xã hội học VN, tỷ lệ nói dối cha mẹ của học sinh cấp I là 22%, cấp II 50%, cấp III 64% và ở sinh viên đại học lên tới 80% !

Tác giả lưu ý, “tỷ lệ này tăng phi mã, càng học lên cao càng thạo nói dối”, nói dối ngay trong giai đoạn còn “tuổi ngọc, mới rời nôi ‘nhân chi sơ’ chưa được mấy năm mà các em đánh mất ‘tính bản thiện’ ! “. Và trong “nỗi ngạc nhiên đến xót xa ấy”, tác giả cho biết tiếp, “mọi người vẫn muốn tự vấn” dù câu trả lời “đã có sẵn”, đó là: cái thói giới trẻ nói dối này từ đâu ra ? Tác giả Nguyễn Quang Thân phân tích:

Chúng ta không dạy con nói dối,( mà) dạy con sống lương thiện bằng sức lao động của mình, đối xử tử tế với đồng loại, thương yêu người nghèo khổ. Bằng khen, huân chương ta khuân về treo chật tường. Nhưng con cái biết ta xài bằng giả vì chúng chưa bao giờ thấy ta đi học. Ta nói với con rằng ta là người lương thiện với lương tháng mươi triệu đồng.

Vậy mà ta có ba bốn ngôi nhà, sắm ôtô siêu hạng, mỗi năm bỏ hàng trăm triệu chơi gôn và khi nổi nóng có thể đánh ngất một người giúp việc trên sân “để trêu đùa”. Nhà trường không dạy học sinh nói dối nhưng dùng mọi cách để có tỉ lệ tốt nghiệp cao ngất đến mức chính học sinh của trường cũng biết là chuyện khôi hài… Con cái và ngay cả chúng ta vẫn được nghe những lời hứa hẹn chung chung, hoa mỹ nhưng ngay người nói ra cũng biết chắc là sẽ không được thực hiện. Hệ lụy là cuộc sống thiếu minh bạch, thật và giả lẫn lộn không biết đâu mà lần…Điều tệ hại nhất của thói dối trá xảy ra khi nó bị đẩy đi xa tới mức phá vỡ niềm tin, gây ra nỗi hoài nghi thường trực…

Blogger Hạ Đình Nguyên đi xa hơn phạm vi gia đình và học đường để bao trùm cả xã hội, lưu ý rằng “Trẻ em nói dối thì bị quở mắng, có khi bị trừng phạt. Người lớn – với tư cách là người dân bình thường – nói dối thì hàng xóm, bạn bè tránh xa không muốn chơi, người thân thì không thể tin cậy. Người có cương vị xã hội mà nói dối thì bị nhiều người coi khinh; cương vị xã hội càng lớn, thì sự coi khinh càng nhiều, càng báo hiệu sự nguy hiểm”.

Qua bài “Sự nói dối cưỡng bức ?”, tác giả Hạ Đình Nguyên trước hết định nghĩa rằng bản chất của sự nói dối là biết sự thật nhưng cố ý nói khác đi để che giấu hay tránh né sự thật; còn trong trường hợp vì bị cưỡng bức mà không thể nói lên sự thật, phải “gượng lòng” mà nói dối,  trường hợp như vậy, tác giả tạm gọi là “nói dối cưỡng bức”.

Buộc phải nói dối?

000_Hkg8933723-250.jpg

Những cánh cửa sổ của một nhà tù ở Việt Nam, nơi giam giữ những blogger bất đồng chính kiến. AFP photo

Theo phân tích của tác giả thì ” Sự nói dối cưỡng bức được lặp lại nhiều lần, rồi quen đi, nó trở thành tính, thành nết, thành tật xấu, cuối cùng là hình thành sự ngụy tín cho chính mình. Sự nói dối bấy giờ trở nên trơn tru, hồn nhiên, giống y như nói thật, mà người nghe thì thấy nó trần trụi, nó gợi lên một cảm nhận trơ trẽn”.

Tác giả Hạ Đình Nguyên lưu ý rằng ở VN hiện nay, tình trạng các quan chức cao cấp nói dối về dân chủ, nhân quyền ngày càng trở thành đề tài thời sự “nóng hổi” trên các diễn đàn, kể cả diễn đàn quốc tế; và cứ mỗi lần như vậy, họ đã “thảy một mồi lửa vào đống rơm khô”, tức gây bất bình rộng khắp. Nhưng, theo tác giả, ” Người ta không tin rằng những con người ấy có tính nói dối bẩm sinh, cũng không thể tin rằng họ không biết sự thật, một sự thật mà người dân thường cũng hiểu được, với nhan nhản sự kiện đầy ắp trên trang báo, trang mạng mỗi ngày, mỗi tuần, mỗi năm và năm này qua năm khác. Chỉ có thể lý giải rằng đây là sự nói dối cưỡng bức, tức là bị bắt buộc phải nói dối”. Và tác giả dẫn chứng:

Cách đây không lâu, bà Phó Chủ tịch nước nói: Dân chủ của Việt Nam là “cao hơn gấp vạn lần so với dân chủ tư sản”. Câu nói ấy đã gây nhiều phản ứng, nhưng không phải là nói dối nếu so với giáo trình Mác-Lênin…Còn so với thực tế, nó rất vô nghĩa, một so sánh định lượng “quá mức tình cảm”, hoặc do quán tính thuần túy… Nhưng câu nói ấy không gây nên sự phẫn nộ từ dân chúng, mà chỉ gây nên một nỗi buồn đến kinh hoàng về sự tụt hậu của trình độ “suy thoái tư tưởng” mang tính biểu trưng của tầng lớp lãnh đạo. Nếu hiểu về mặt đạo đức của sự “trung thành” hay “kiên định” với ý thức hệ, thì cái đạo đức ấy cũng gây kinh hoàng không kém.


Chúng tôi có 86 triệu dân, trong đó trên 30 triệu người sử dụng internet hằng ngày, tỷ lệ đó biến đổi hàng giờ, không có bất cứ sự ngăn cấm nào cả… Ngoài ra, Việt Nam có khoảng trên bốn triệu blogger, rất tự do.
– Chủ tịch Trương Tấn Sang

Tới phiên ông Chủ tịch nước, tác giả Hạ Đình Nguyên cho biết, ” Người ta hỏi rằng bây giờ ông có đang đói bụng không, ông trả lời một cách biện chứng rằng, vì hôm qua ông có ăn nên hôm nay không thể đói được!”, hay ” Vì rằng nước ông (Việt Nam) đã từng chống ngoại xâm giành độc lập dân tộc cả trăm năm qua, nên đương nhiên có ý chí – thậm chí rất mãnh liệt – về khát vọng dân chủ và nhân quyền. Và vì ‘có’ khát vọng đó, nên đương nhiên dân chủ, nhân quyền phải ‘có’ thôi!”, hoặc ông ” Phải mượn tạm lịch sử”, như khi sang Mỹ, ông ” mượn tạm cái bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh cách đây 2/3 thế kỷ để gởi cho ngài Obama”, hay ông chỉ dám nói ” đồng chí X” nào đó mà thôi. Theo tác giả Hạ Đình Nguyên, thì những trường hợp đó là ông Chủ tịch mới “nói tránh/né”, “nói khéo”. Nhưng ông đã “nói dối 100%” khi công bố tại Đan Mạch rằng:

Chúng tôi có 86 triệu dân, trong đó trên 30 triệu người sử dụng internet hằng ngày, tỷ lệ đó biến đổi hàng giờ, không có bất cứ sự ngăn cấm nào cả… Ngoài ra, Việt Nam có khoảng trên bốn triệu blogger, rất tự do. Do vậy, ở ngoài thì đồn đại rất nhiều nhưng để hiểu Việt Nam nhiều hơn, hiểu về đời sống chính trị của Việt Nam thì xin mời các bạn hãy đến Việt Nam. Mặc dù chúng tôi còn nghèo nhưng cũng có trên dưới 200 kênh truyền hình, 700 tờ báo và không dưới 17.000 phóng viên…

Ai bắt họ nói dối?

000_170337959-250.jpg

Ảnh minh họa chuyện ngăn chặn facebook ở một số nước, trong đó có VN. AFP photo

Tác giả Hạ Đình Nguyên nêu lên câu hỏi rằng 4 triệu blogger “rất tự do” sao lại như cơn gió độc quất vào mặt các blogger dù họ đang ở trong nhà tù kín gió; 17.000 phóng viên, 700 tờ báo, 200 kênh truyền hình thì quả đúng là chơi sang khi đất nước còn nghèo; Riêng 17.000 phóng viên ư ? Nhưng trong đó, biết bao nhiêu tiếng thở dài ? bao nhiêu tiếng hò reo cùng với kèn trống ? Tác giả khẳng định:

Ông Chủ tịch và các ông lãnh đạo khác không thể không biết chính những điều mà các ông đã và đang làm, về dân chủ và nhân quyền bao nhiêu năm qua, ở cái xứ sở khốn khổ này. Một đất nước tràn trề tham nhũng mà lại có dân chủ và nhân quyền được sao, lạ thật! Thế nhưng không thể nói thật. Là “nói dối cưỡng bức” hay đã trở thành ngụy tín? Hầu hết trong bộ máy nhà nước, từ cao đến thấp, đều như thế! Nghĩa là cùng trong tình thế cưỡng bức. Và sự ngụy tín đã trở nên toàn diện, bao trùm. Nhưng ai có thể cưỡng bức họ? Câu trả lời là cơ chế của bộ máy này đã cưỡng bức họ, buộc họ không thể nói thật. Vì cơ chế đó được đặt trên một tiền đề không có thật nốt: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Dân làm chủ”. Quả là bi hài! Bị kẹp chặt và bẹp dí như con mắm, mà Dân còn làm chủ được sao?

Tác giả Hạ Đình Nguyên nêu thêm một câu hỏi nữa, rằng vì sao trong tình trạng “nói dối cưỡng bức” như vậy mà các quan chức có thể chịu đựng lâu dài, bền bỉ đến thế ? Câu trả lời, theo tác giả, rất dễ nhưng vấn đề lại rất gay go, đó là ” quá trình hy sinh và gắn bó với nhiều ràng buộc của quyền và lợi. Sự hy sinh của những ai đó có thể chưa nhiều lắm, mà sự gắn bó thì nhiều hơn, nhất là những cái chức đã mua bằng tiền, hoặc bằng sự thân quen nâng đỡ… Đang làm quan mà nói thật, thì mất hết, thân có thể vào nhà lao, tinh thần có thể bị giày xéo, nhục mạ, đã và đang có bao nhiêu là điển hình! Vì thế mà không thể nói thật. Nói dối cưỡng bức, lâu ngày thành nói dối hồn nhiên, bạo dạn, trơn tru…”

Nhưng ai có thể cưỡng bức họ? Câu trả lời là cơ chế của bộ máy này đã cưỡng bức họ, buộc họ không thể nói thật.
– Hạ Đình Nguyên

Bài “Lầm đường lạc lối” của blogger Nguyễn Bình có đoạn nhận xét rằng “Cả một bộ máy tuyên huấn, tuyên giáo, truyền thông đồ sộ được nuôi dưỡng, trả lương chuyên suy nghĩ, nói năng, viết lách dưới danh nghĩa ‘tiếng nói của nhân dân’, nhưng khi nhân dân nghe được hoặc đọc thấy thì nổi quạu, cho đó là giả danh, nói lấy được. Nhân dân nào lại xuẩn tới mức đồng tình với những chủ trương, đường lối, luật pháp bóp nghẹt sự sống tự do dân chủ của mình, biến đất đai được tạo lập bởi chính công sức bao năm của mình thành ‘tài sản thuộc sở hữu toàn dân’ do một nhóm phe đảng đại diện quản lý và tùy nghi quyết định ?”. Tác giả nhận xét:

Người ta cứ cố gán ghép bằng được “yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội”, trong khi trong thực tế tuy kiến thức cao thấp khác nhau, nhưng số đông người dân hễ nghe thấy bốn chữ “chủ nghĩa xã hội” hoặc “xã hội chủ nghĩa” đều hiểu đó là “đấu tranh giai cấp”, đó là “cải cách ruộng đất”, đó là “cải tạo tư sản”, đó là “đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” – nhưng thực tế không hề được làm chủ gì cả. Toàn những từ ngữ rùng rợn, nhắc nhớ bao sự việc khó tin nhưng có thật, đã diễn ra. Nói chung bốn chữ “chủ nghĩa xã hội” có giá trị, hay ho ở đâu không biết, nhưng chắc chắn và dứt khoát nó không phải là mong muốn của người dân Việt Nam – trừ những người bị mắc chứng hoang tưởng…