Có phải công chức nhiều làm túi tiền quốc gia eo hẹp?

Có phải công chức nhiều làm túi tiền quốc gia eo hẹp?

Vũ Hoàng, phóng viên RFA
2013-10-31

cong-chuc-305

Đợt thi tuyển công chức trực tuyến đầu tiên do Bộ Nội Vụ tổ chức hồi tháng 1 năm 2013.

Courtesy TPO

Cùng với ngân sách Chính phủ gặp nhiều khó khăn, cân đối thu chi căng thẳng, dù kiến nghị giảm lương 100.000 đồng đối với mỗi cán bộ công chức đã bị Thủ tướng bác bỏ, song ít nhiều những động thái này cho thấy túi tiền quốc gia đang nhiều eo hẹp, trong đó, nhân tố gánh nặng công chức khiến nhiều người lo lắng.

Dư 30% số công chức

Với nhận định của Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cách đây không lâu: “có tới 30% số công chức không có cũng được, bởi họ làm việc theo kiểu sáng cắp ô đi, tối cắp ô về không mang lại bất cứ thứ hiệu quả công việc nào”, đã ít nhiều cho thấy thực trạng cồng kềnh và trì trệ của giới công chức Việt Nam. Nếu đối chiếu con số này với một phân tích khác của nguyên Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Vũ Đức Đam rằng: “cứ hình dung nếu ngân sách thu 100 đồng…có 65% chi cho thường xuyên, trong số này khoảng một nửa là chi lương cho công chức, viên chức”, thì mới thấy một lượng ngân sách nhà nước đã bị lãng phí ra sao.

Hãy khoan bàn tới các con số cụ thể của từng bộ ngành hay các cấp tỉnh thành, tính đến hết năm 2012, Việt Nam có trên 2,2 triệu công chức viên. Theo khái niệm của Luật cán bộ, họ là các đối tượng thuộc cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị hay xã hội làm việc trên khắp 63 tỉnh thành Việt Nam.

” Bây giờ người ta nói nhiều đến chuyện tinh giản biên chế, nhưng sẽ dẫn đến những khó khăn trong việc sửa luật, nghị định rồi thông tư, điều này rất là khó.
-TS Vũ Ngọc Xuân”

Vẫn biết mọi so sánh là khập khiễng, nhưng thử làm một phép tính: Hoa Kỳ có trên 310 triệu dân, số công viên chức quản lý khoảng 2,2 triệu người, trong khi Việt Nam có dân số chưa bằng 1/3 nhưng số công viên chức cũng xấp xỉ, chưa kể xét về địa lý Việt Nam lại nhỏ chưa bằng 1/10 Hoa Kỳ… Những con số biết nói này cho thấy Việt Nam đang gặp một trở ngại lớn về hiệu quả làm việc của đội ngũ công chức… phải chăng túi tiền quốc gia eo hẹp vì lượng công chức quá đông, quá nhiều? Câu hỏi này của dư luận hẳn không phải là không có cơ sở.

Giải thích về hiện tượng trên, T.S Vũ Ngọc Xuân, giảng viên chính khoa Kinh tế, trường Đại học Kinh tế Quốc dân cho chúng tôi biết:

“Về mặt thể chế Việt Nam có mô hình giống với Trung Quốc, công chức viên chức mang tính chất là gắn bó suốt cuộc đời. Cho nên thu nhập của công chức ở Việt Nam thấp, một mặt là do cơ chế của Việt Nam là kinh tế thị trường nhưng định hướng xã hội chủ nghĩa. Về yếu tố con người, để sa thải người lao động thì luật pháp không cho phép mặc dù có một số trường hợp nhưng rất khó để vận dụng. Vì thế, bây giờ người ta nói nhiều đến chuyện tinh giản biên chế, nhưng sẽ dẫn đến những khó khăn trong việc sửa luật, nghị định rồi thông tư, điều này rất là khó.”

cong-chuc-1-250

Công chức làm việc trong một cơ quan hành chính công ở Đà Nẵng, ảnh minh họa chụp trước đây. Courtesy LĐ.

Vấn đề mà T.S Vũ Ngọc Xuân phân tích chính do cơ chế và luật định của “định hướng xã hội chủ nghĩa” là những rào cản khiến việc sa thải công chức tại Việt Nam không dễ dàng… chưa kể những chuyện chưa nói ra ai cũng biết là một lượng lớn thành phần này lại nằm ở những vị trí được xem là “dễ chấm mút,” là con ông cháu cha hay có các mối quan hệ chằng chịt với giới lãnh đạo… vì thế không phải ngẫu nhiên mà bản thân Chủ tịch Nguyễn Sinh Hùng từng thừa nhận “chạy này, chạy kia… khâu nào cũng có.”

Để có góc nhìn của người trong cuộc, chúng tôi trao đổi với ông Trương Văn Quảng, một cán bộ phụ trách nhân sự ở một bộ tại Hà Nội, ông cho biết còn rất nhiều bất cập không chỉ ở khâu cuối sa thải, mà bắt nguồn ngay từ khâu đầu vào tuyển dụng công chức ở Việt Nam:

“Khi tuyển dụng những người mới vào làm thì năng lực còn hạn chế, chưa có kinh nghiệm… nhưng do mối quan hệ cấp trên cấp dưới, do chạy chọt hay nể nang nhau nhưng cứ tuyển người vào làm, nên hiệu quả công việc trong quá trình triển khai thực tế gặp rất nhiều khó khăn, nên không đáp ứng được nhu cầu công việc. Có bức xúc trong vấn đề tuyển dụng cán bộ ngay từ khâu đầu vào.

Đáng lẽ giải quyết công việc nhanh gọn nhưng do cơ chế, chính sách văn bản chồng chéo, thủ tục hành chính cồng kềnh, số lượng người ngồi chơi xơi nước hơi bị nhiều, điều đó làm cản trở công việc.”

Làm ít, thưởng nhiều

Không chỉ những đối tượng được cho là “ngồi chơi xơi nước hơi bị nhiều” mà điểm đáng chú ý là khi có chế độ khen thưởng, tăng lương hay nhận hưởng các quyền lợi thì thường những cán bộ công chức này lại đứng đầu danh sách xét duyệt, ông Quảng cho biết tiếp:

” Vấn đề tăng lương hay sắp xếp tổ chức công việc gặp nhiều khó khăn bởi do những quan hệ cấp trên cấp dưới, nể nang đâm ra không đi thẳng vào năng lực cán bộ.
-Ô. Trương Văn Quảng”

“Khi họ đã làm việc thì vấn đề tăng lương hay sắp xếp tổ chức công việc gặp nhiều khó khăn bởi do những quan hệ cấp trên cấp dưới, nể nang đâm ra không đi thẳng vào năng lực cán bộ, đây là thực trạng trong bộ máy hành chính sự nghiệp của các bộ ngành hay thành phố hay các cơ sở của các tỉnh.”

Ngoài ra, ông Quảng còn cho biết thêm rằng, bởi nhiều khi trình độ của người quản lý có hạn, họ cần nhận vào tổ chức mình những thành phần “tay chân” để coi như có những người hậu thuẫn anh em, luôn đứng ra ủng hộ mỗi khi bầu cử, bỏ phiếu… Nghiễm nhiên thành phần đó là những kẻ ngồi chơi xơi nước, đi muộn về sớm, ăn cắp giờ công, đến nơi làm việc chỉ để lên mạng mua sắm, facebook, hết giờ về đi nhậu… phải chăng vì thế Việt Nam nghèo nhưng tỉ lệ người dùng internet thuộc diện cao nhất trên thế giới? và Việt Nam cũng trở thành quốc gia tiêu thụ hàng đầu thế giới 2,6 tỉ lít bia mỗi năm?

Nếu nhìn vào gốc gác vấn đề, những đối tượng cán bộ công chức là những người hưởng lương từ ngân sách nhà nước, mà ngân sách nhà nước là tiền thuế của dân. Quay lại chuyện 30% công chức “sáng cắp ô đi tối cắp ô về” nghĩa rằng chúng ta đang có chừng hơn 700.000 cán bộ dôi dư, nhân với con số trung bình 2 triệu đồng/ tháng, nghĩa là, mỗi năm Việt Nam lãng phí khoảng 17.000 tỷ đồng để chi trả cho bộ máy công chức nhà nước.

Số tiền này được chắt chiu từ mồ hôi công sức của những người nông dân chân lấm tay bùn, bán mặt cho đất bán lưng cho trời, của những người công nhân vất vả trong các xưởng may nóng nực…họ đóng thuế để cho những công chức ngồi hưởng thụ trong các phòng điều hòa mát lạnh. Phải chăng nỗi nhức nhối cho vấn đề bội chi ngân sách hay túi tiền quốc gia eo hẹp mà Quốc hội đang đau đầu đã có lời giải đáp?

Hẳn câu hỏi mà quý vị đang đặt ra là làm sao để loại bỏ những thành phần “ăn cơm chúa múa tối ngày”này! Chắc chắn không dễ dàng, bởi họ đã có một hệ thống dày đặc những văn bản pháp lý đứng ra bảo vệ, họ có một lớp quan hệ thần thế đứng ra bao bọc. Chỉ khi nào cái tâm của nhà quản lý, của các cấp lãnh đạo thực sự nghĩ đến lợi ích chung của toàn xã hội thì việc chọn lọc và loại bỏ những đối tượng trên mới có thể trở thành sự thật…

Sự Sống Bất Diệt

Sự Sống Bất Diệt

 

Hôm ấy, một hoàng tử nọ và ba vị cận thần lên đường kinh lý kiểm tra đất nước rộng lớn của vua cha.  Khi tới trên đỉnh núi cao, hoàng tử đưa mắt nhìn xuống miền đất mênh mông phía dưới.  Một lúc sau, hoàng tử ngậm ngùi lên tiếng:

– Ôi, quê hương thân mến!  Ôi đất nước dấu yêu!  Ngươi thật xinh đẹp biết bao với những thung lũng êm dịu, những mặt hồ trong xanh đầy ánh sáng, những cánh đồng với đủ thứ hoa muôn màu sắc, những núi đồi hùng vĩ và những khu rừng tĩnh mạc êm đềm.  Thế nhưng, ta sẽ phải chết và sẽ phải từ biệt ngươi, sẽ không bao giờ còn được chiêm ngắm vẻ đẹp của ngươi nữa.  Ôi sự chết, nhưng tại sao lại phải có sự chết?

Rồi hoàng tử buồn sầu nức nở.  Thấy vậy, hai vị cận thần cũng mủi lòng khóc theo.  Họ than thở và tìm cách ủi an hoàng tử. Trong khi đó, vị cận thần thứ ba chỉ mỉm cười và không một lời phát biểu.  Về tới triều đình, hoàng tử gọi vị cận thần thứ ba đến và trách hỏi:

– Hôm nay, khi đứng trên núi cao, tâm hồn ta buồn sầu khôn tả.  Trong khi hai vị cận thần kia tìm cách an ủi ta, còn ngươi, tại sao ngươi chẳng nói gì mà lại mỉm cười như thế?

Vị cận thần thứ ba khôn ngoan trả lời:

– Tâu lạy hoàng tử.  Xin hoàng tử hãy nghĩ lại xem.  Nếu những vị danh nhân đại tướng từ trước đến nay tiếp tục sống mãi, không ai phải chết, đời sống họ sẽ ra thế nào và vận mệnh thiên hạ sẽ ra sao?  Nếu hoàng đế, vua ông nội của hoàng tử không phải chết thì làm sao vua cha của hoàng tử có thể lên ngôi kế vị được?  Nếu vua cha của hoàng tử còn tiếp tục sống mãi thì làm sao hoàng tử có thể cai trị trên ngai vua cha được?  Nếu như tất cả các hoàng tử và các vua chúa trên trần gian này còn tiếp tục sống mãi thì lúc này hoàng tử sẽ thế nào?  Hôm nay, hạ thần đã nhìn thấy một hoàng tử thiếu hiểu biết sự thật về thân phận con người, lại thêm hai vị cố vấn chỉ biết nịnh bợ vuốt ve sự khờ dại của hoàng tử nữa thì làm sao mà hạ thần lại không thấy buồn cười được?

Lời nói khôn ngoan của vị cận thần thứ ba đã làm cho hoàng tử thức tỉnh và cảm thấy hổ ngươi vì sự khờ dại của mình.  Hoàng tử nói thêm:

– Sau này, khi giờ chết đến, ta chỉ muốn một mình ngươi bên cạnh giường ta mà thôi.

Là người, ai lại không sợ chết.

Bởi vì biết rõ những gì phải bỏ lại đàng sau, nhưng không biết trước mắt sẽ gặp thấy điều gì, chính vì những điều chưa biết đó làm cho con người thêm băn khoăn lo sợ.  Tuy nhiên, trên trần gian này không có chân lý nào chắc chắn hơn là sự chết.  Mỗi người sinh ra trên trần gian đều phải chết, tuy không ai biết được chính xác mình sẽ phải chết khi nào, chết cách nào và chết ở đâu.  Thế nhưng, đâu phải tất cả mọi người đều nghĩ tới cái chết của mình.  Biết bao nhiêu người sống như thể là sẽ không bao giờ phải chết hoặc vì dửng dưng, hoặc vì cố tình muốn gạt bỏ nó sang một bên để khỏi phải bận tâm đến cuộc sống hiện tại của họ.

Chúa Giêsu tuy là Con Một của Thiên Chúa hằng sống và là nguồn mạch sự sống, nhưng đã tự nguyện mặc lấy thân phận con người hay chết, và hơn nữa đã muốn chấp nhận cái chết khổ nhục trên thập giá để nhắc nhở con người thực tại về sự chết là gì và đâu là con đường dẫn tới sự sống hạnh phúc thật, sự sống bất diệt.

Trong Phúc-âm, trước khi bước vào con đường khổ nạn, Chúa Giêsu đưa ba môn đệ thân cận nhất lên núi cao và cho họ thấy trước vinh quang của Ngài để củng cố niềm tin của họ, để họ không nản lòng thất vọng vì sẽ phải đứng trước cái chết khổ nhục của Ngài, vì biết rằng đó là ngưỡng cửa dẫn vào vinh quang của sự sống bất diệt.

Con đường cứu độ đó không thể nào chỉ dừng lại trong vinh quang của núi Tabor, nhưng là vững bước cùng Chúa vác thập giá tiến lên núi Sọ qua sự chết đi từng ngày trong cuộc sống của mình.

Chết đi cho tính kiêu ngạo, cho lòng ích kỷ tự ái và mọi thói hư nết xấu, để sống cho Chúa trong tinh thần phục vụ và yêu thương.

 

R. Veritas

From: ThiênKim & Nguyễn Kim Bằng

Quyền lực và trách nhiệm

Quyền lực và trách nhiệm

Nguyễn Hưng Quốc

28.10.2013

Bản chất của chính trị là quan hệ quyền lực. Quyền lực, nói một cách tóm tắt, là khả năng ảnh hưởng đến cách suy nghĩ cũng như hành vi của người khác. Trong hệ thống đẳng cấp của chính trị, chức vụ càng lớn, quyền lực càng nhiều; quyền lực càng nhiều, ảnh hưởng trên suy nghĩ và hành vi của người khác càng sâu và rộng. Ở vị trí cao nhất trong một quốc gia, ảnh hưởng ấy có thể tác động đến mọi công dân trong nước ấy. Ở Tây phương, hầu như ai cũng biết: Khi thay đổi lãnh tụ, chúng ta thay đổi chính phủ; và khi thay đổi chính phủ, chúng ta thay đổi cả quốc gia.

Về phương diện chính trị, có nhiều loại quyền lực, nhưng đơn giản và phổ biến nhất, có hai loại chính: quyền lực chính đáng và quyền lực không chính đáng. Quyền lực chỉ được xem là chính đáng khi nó được dân chúng ủy thác: Lúc ấy, quyền lực (power) biến thành thẩm quyền (authority).

Có thể nói thẩm quyền là thứ quyền lực được sự đồng thuận giữa người cai trị và những người bị trị. Hình thức phổ biến nhất của sự đồng thuận ấy là qua các cuộc bầu cử tự do, bình đẳng, công khai và minh bạch.

Tuy nhiên, dù được tiến hành dưới hình thức nào thì mọi quyền lực và mọi thẩm quyền đều phải đáp ứng được một số điều kiện dân chủ, trong đó, quan trọng nhất là giới hạn và trách nhiệm. Cái gọi là giới hạn ấy có hai khía cạnh chính: một là giới hạn về thời gian (có tính chất nhiệm kỳ, không phải vĩnh viễn, cha truyền con nối) và giới hạn của chính quyền lực (phải chấp nhận phân quyền và chịu sự kiểm soát của các cơ quan độc lập). Những điều này đã có nhiều người viết. Ở đây, tôi chỉ xin tập trung vào yếu tố trách nhiệm.

Nếu bản chất của quyền lực, dưới các chế độ dân chủ, là sự đồng thuận thì hai cơ sở chính để duy trì sự đồng thuận ấy là: sự tín nhiệm và trách nhiệm. Nói đến tín nhiệm là nói đến một thứ quan hệ nhiều chiều, nhưng trong đó, chiều quan trọng nhất là chiều từ dưới lên: những người bị trị tín nhiệm những người cai trị. Trách nhiệm, ngược lại, chủ yếu là theo chiều từ trên xuống: những người có quyền lực phải chịu trách nhiệm về chính quyền lực của mình, và với những người đã ủy thác quyền lực ấy cho mình.

Quyền lực không phải là một cái gì có tính chất tự thân: quyền lực vì quyền lực. Mọi quyền lực chính đáng đều có tính mục đích: quyền lực để làm một cái gì. Dưới chế độ độc tài, cái gì đó là bản thân người và/hoặc gia đình người có quyền lực; dưới chế độ dân chủ, cái gì đó là những mục tiêu chung mà mọi người tin tưởng và giao phó, thuộc về cộng đồng, hay rộng hơn, quốc gia. Những mục tiêu chung ấy chính là trách nhiệm.

Có thể nói, quyền lực chỉ chính đáng trong chừng mực nó gắn liền với trách nhiệm và chu toàn trách nhiệm. Một nhà lãnh đạo lý tưởng phải nhắm đến trách nhiệm nhiều hơn là quyền lực. Ở Việt Nam, ngược lại, với quyền lực, người ta muốn tuyệt đối (độc quyền lãnh đạo), nhưng với trách nhiệm, người ta lại muốn chia sẻ (trách nhiệm tập thể). Hậu quả là không ai chịu trách nhiệm về điều gì cả, ngay cả với những sai lầm của chính mình và/hoặc thuộc quyền hạn của mình.

Tất cả những điều ấy, người ta đều thấy từ lâu. Vụ thất thoát tài sản đến cả mấy tỉ đô la của tập đoàn kinh tế Vinashin: Không ai chịu trách nhiệm cả. Các vụ vỡ nợ liên tục của các tập đoàn kinh tế quốc doanh khác sau đó: Không ai chịu trách nhiệm cả. Kinh tế càng lúc càng suy thoái: Không ai chịu trách nhiệm cả. Nạn tham nhũng càng ngày càng phát triển từ một số con sâu đến cả một “bầy sâu”: Không ai chịu trách nhiệm cả. Đạo đức ở khắp mọi nơi càng ngày càng suy đồi: Không ai chịu trách nhiệm cả. Giáo dục càng ngày càng xuống dốc: Không ai chịu trách nhiệm cả.

Mới đây, gây xôn xao dư luận trong nước nhiều nhất là những chuyện liên quan đến ngành y tế: Nhiều bác sĩ, vì bất cẩn và thiếu đạo đức, làm chết hàng loạt bệnh nhân, trong đó có các sản phụ và trẻ em, thậm chí, một bác sĩ thẩm mỹ ở Hà Nội làm chết bệnh nhân rồi vứt xác xuống sông Hồng để phi tang. Trách nhiệm thuộc về ai? Không có ai nhận cả. Mọi người cứ đổ lỗi cho nhau. Dân chúng bức xúc đến độ, lần đầu tiên trên báo chí chính thống (PetroTimes) trong nước, có người kêu gọi Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến từ chức.

Có lẽ, cuối cùng, bà Nguyễn Thị Kim Tiến vẫn tiếp tục làm Bộ trưởng. Như tất cả những nhà lãnh đạo khác của Việt Nam từ trước đến nay. Vô trách nhiệm đến mấy, cái ghế của họ vẫn bất khả xâm phạm, dù cái giá mà họ và đảng họ phải trả rất đắt: Càng ngày càng mất sự tín nhiệm của dân chúng.

Không có trách nhiệm, mọi quyền lực đều là ăn cắp. Không có sự tín nhiệm, mọi quyền lực đều là ăn cướp. Không có cả hai, người ta vừa ăn cắp vừa ăn cướp.

NHỮNG NGƯỜI DỌN ĐƯỜNG

NHỮNG NGƯỜI DỌN ĐƯỜNG

Việc đi thăm những công viên quốc gia ở Mỹ là một trải nghiệm không thể quên được.  Nhưng việc khám phá ra một trong những công viên đó còn đáng nhớ hơn nhiều.  Ở những con đường dành cho những vận động viên đi bộ đường dài, chúng ta sẽ thấy nhiều chỉ dẫn được xếp đặt cẩn thận để giúp cho họ đi dễ dàng hơn.  Trên những con đường đó, chúng ta sẽ thấy nhiều cột định vị.  Ở những đoạn dốc khó đi, chúng ta sẽ thấy các bậc thang được đục ra từ những hòn đá lớn.  Ở những chỗ đầm lầy, chúng ta sẽ thấy những viên đá được kê sẵn để người đi bước qua dễ dàng.  Ở những đoạn nguy hiểm, chúng ta sẽ thấy những bảng cảnh báo được đặt sẵn.

Nhờ vào sự sắp xếp cẩn thận đó, các vận động viên thậm chí không chuyên nghiệp có thể an toàn băng qua rừng sâu và địa hình núi non hiểm trở.  Khi đi trên đường đó, ta sẽ ngạc nhiên thấy một sự chuẩn bị rất công phu.  Ta sẽ dễ dàng nhận ra một điều: không có những con đường như thế thì một vận động viên bình thường cũng sẽ hoàn toàn thất bại.

Các vị Thánh đã làm những điều tương tự như thế cho chúng ta.  Họ đã dọn sẵn đường đi cho chúng ta. Các Ngài đã đặt những dấu hiệu để báo trước cho chúng ta.  Các Ngài là những người đi tiên phong để dẫn đường cho chúng ta, những người dẫn đường tuyệt vời.  Các Ngài đã chỉ cho chúng ta thấy người bình thường như chúng ta vẫn có thể thực hiện được nhiều điều lớn lao cốt làm đẹp lòng Thiên Chúa. Họ là những tấm gương sáng ngời về sự cương quyết, hiến dâng và hy sinh.

Người Kitô hữu cần noi theo các vị Thánh đó.  Một số các vị ấy đã hoàn thành tốt sứ mệnh.  Một số khác đã vấp ngã, đã lầm lỡ, đã thất bại nhưng cuối cùng các Ngài đã đi vào chính lộ.  Tất cả các vị Thánh ấy đã cố gắng trải rộng tình yêu và lòng dũng cảm trong chính nơi con người các Ngài.

Tất cả tấm gương tốt đều không bị bỏ qua trong danh sách các vị Thánh.  Tất cả các Ngài đều ở giữa chúng ta, thậm chí ngay trong thời của chúng ta.  Các vị Thánh cả nam lẫn nữ và những câu chuyện của các Ngài đã hướng dẫn chúng ta đi trên hành trình cuộc đời.  Đó là những câu chuyện về lòng mến Chúa yêu người – là hai giới răn cao trọng nhất đã được kết hợp thành một giới răn duy nhất mà tầm quan trọng của nó thật phi thường.

Chúng ta có thể đón nhận nguồn động viên, sự khích lệ từ các Thánh đã đi trước chúng ta và dọn đường cho chúng ta.  Mỗi vị đã dọn một con đường cho chúng ta đi qua dễ dàng hơn.  Khi chúng ta nếm trải sự chán nản, cảm giác thất bại thì cũng là lúc các Ngài nói với chúng ta: “Chúng ta luôn ở bên con.  Đừng bỏ cuộc.”

Tuy nhiên, chúng ta thường có khuynh hướng đặt các Thánh lên vị trí cao qúy đến mức chúng ta cảm thấy xứng đáng khi tự bào chữa về việc noi gương sống của các Ngài.  Trong trường hợp đó, sự sùng kính các Thánh sẽ trở nên một chướng ngại hơn là một sự giúp đỡ.

Các vị Thánh như những mẫu gương cho chúng ta noi theo.  Vì các Ngài trước kia cũng là những người tội lỗi.  Các Ngài là những người luôn nhắc chúng ta nhớ về cuộc sống thế gian này.  Các Ngài đã thắp lên lòng nhiệt huyết nơi chúng ta, hướng dẫn, khích lệ chúng ta và cho chúng ta niềm hy vọng. Dĩ nhiên các Ngài cũng là những người trung gian cầu bầu cho chúng ta bên tòa Chúa.

Nhưng các Ngài không thể nào làm thay những việc bổn phận chúng ta phải làm.  Các Ngài không dạy cho chúng ta phương pháp nào ngắn gọn để giúp ta tránh khỏi những vấn đề khó khăn hay dễ dàng đi qua con đường hẹp.  Chúng ta đừng mong chờ người khác làm việc thay cho chúng ta trong khi chúng ta lại không tự mình nghiêm túc rèn luyện.  Chính chúng ta phải đi trên con đường đó, phải đi bằng chính đôi chân của mình.  Các vị Thánh chỉ giúp chúng ta thêm lòng can đảm để vượt qua khó khăn mà thôi.

Phaolô Nguyễn Hồ Hữu Thành

Phỏng dịch từ New Sunday Holyday

From: langthangchieutim

Cha Khách…

Cha Khách…


Nhà thờ xóm tôi thỉnh thoảng có cha ngoại quốc ghé qua làm lễ, mỗi cha một vẻ, từ diện mạo cho đến phong cách giảng. Đa phần các cha dựa vào mẫu giấy đã soạn trước để diễn giải phúc âm bằng ngoại ngữ, vì tiếng pháp không phải là tiếng mẹ đẻ của ngài.

Mùa Thu năm nay, cha trẻ gốc Châu Phi đến xóm tôi làm lễ hai lần. Ngoài lợi điễm thông thạo pháp ngữ, ngài có lối giảng như người dẫn chương trình TV hiện nay. Vừa giảng, vừa hỏi rồi để giáo dân « suy tư bên bờ vắng », đó là cách lôi kéo giáo dân « nhập cuộc » với ngài, nhưng « cái đinh » của bài giảng là quan điễm riêng của ngài rất sát với thực tế.
Thánh lễ dành cho gia đình chiều nay với dàn nhạc sống của giới trẻ và những bài thánh ca hào hứng, còn có cha khách chủ tế, thật thú vị.
Mở đầu bài giảng, cha bật mí, lần đầu tiên trong đời linh mục, tôi được giáo dân « ra chủ đề » để tôi làm bài, bữa nay các bạn trẻ yêu cầu tôi nói làm sao để các bạn phải nhớ đến bài phúc âm này dài lâu.
Ngài gãi đầu thỏ thẻ, hình như vị trí của tôi vừa bị hoán đổi, không sao, có Chúa Thánh Thần soi sáng, tôi tin có thể đáp ứng yêu cầu của các bạn.
Trong bài phúc âm này, Chúa bảo nếu chân, tay hay mắt của chúng ta làm đều xấu, thì phải chặt bỏ phần đó đi, nói vậy đạo của Chúa xem ra « hơi ác độc » và mất hẳn đức nhân từ, không dạy chúng ta phải tha thứ như thường nghe.
Quý vị nghĩ gì, và hiểu thế nào về từ ngữ chúng ta vừa nghe, hình như đoạn phúc âm này chúng ta đã nghe nhiều lần trong đời, chắc quý vị đã nghe các cha giải đáp những lần trước rồi, tôi phải nói làm sao để không nhàm chán đây.

Cha nhìn mọi người cười cười, hồi nhỏ tôi nghe bài phúc âm này cũng thấy đạo của mình khá rùng rợn, nhưng từ khi đi tu tôi mới hiểu hết ý Chúa.
Theo Thánh Kinh, Chúa bảo, thân thể chúng ta hư hỏng tới đâu chặt bỏ tới đó, kiểu này hầu như ai trong chúng ta cũng một lần trong đời trở thành phế nhân.

Nói vậy mà không phải vậy, động từ chặt đứt, vứt bỏ tay chân hay khoét mắt đó, đưa tới hình ảnh « không toàn thân » của chúng ta, bài phúc âm đưa ra câu hỏi, ai trong chúng ta dám tự hào mình là người hoàn thiện.
Chúa chấp nhận chúng ta khuyết tật, không hoàn hảo, vì thế Chúa mới đến tìm những con chiên ghẻ để cứu vớt, nhưng đáng buồn thay, chúng ta quá tự mãn nên có thấy Chúa đâu.
Chúa ra đời trong cảnh nghèo khó, lớn lên cặp bồ đánh bạn với dân chài lưới, bà góa, dân khố rách áo ôm, và chịu chết vì cái tính trịch thượng của chúng ta.

Thưa quý vị, trong đời tu trì, tôi từng được giáo dân săn đón, ưu đãi, bỡi vì tôi

«đại diện Chúa» theo cái nhìn trần tục của quý vị, vô tình đôi khi quý vị bóp méo thánh kinh.
Chúa đến để phục vụ chứ đâu phải để làm Chúa ăn trên ngồi trước, tôi làm cha là để rao giảng Tin Mừng, tôi thuộc lớp người đi phục vụ chứ đâu phải mặc áo dòng để « làm cha thiên hạ ».

Bây giờ tôi xin trả bài với các bạn trẻ đây, các bạn chơi nhạc, hát hay, có tương lai tươi sáng trước mặt, biết đâu sau này có bạn sẽ trở thành thị trưởng, dân biểu, một người nỗi danh, hay cũng chỉ là thường dân như đa số chúng ta đây.
Sau này dù có là gì đi nữa các bạn cũng nên nhớ đến cái Đức Khiêm Nhường, đó là kim chỉ Nam để chúng ta không lạc lối và xa rời Chúa. Biết mình là người không hoàn hảo, người khiếm khuyết, nghĩa là nhận ra thân phận con người phải liên tục tu luyện để giống hình ảnh Chúa tạo ra chúng ta thuở ban sơ, thuở con người chưa tự kiêu, tự mãn để bị sập bẩy con rắn độc.
Hình ảnh con rắn phỉnh gạt bà Eva cũng chính là tính ngạo mạn, tự đại, tự mãn của chúng ta đó thôi, tội nghiệp cho thân phận mỏng dòn của chúng ta, dễ vỡ, dễ sa lầy lắm. Tôi nói ít, hy vọng quý vị và các bạn trẻ hiểu nhiều vì tôi chủ trương, tôi gợi ý Lời Chúa, quý vị là người tìm lời giải đáp và thực hành điều mình tìm thấy, nếu mình làm sai thì làm lại, Chúa luôn ở bên ta để dìu dắt ta.

Xin cảm ơn cha xứ đã cho phép tôi đến với quý vị, cảm ơn các bạn trẻ đã ra đề bài để tôi có cơ hội « mở đề bài », các bạn làm bài tiếp nhé và hãy nhớ chúng ta không phải là người hoàn hảo nên phải luôn tìm đến Chúa xin Người giúp đỡ.
Lần này cũng như lần trước, cha lại làm tôi suy tư, hình ảnh con người tàn phế này tôi đã thấy đâu đây, chính xác, chính chúng ta đó thôi chứ ai vào đây. Vì đã có lần ta tự khoát vào người chiếc áo hào nhoáng của kẻ tài ba, khôn ngoan, cao siêu hơn người khác, những tĩnh từ phù du chỉ đưa ta xa rời con đường đến với Chúa.
Cha khách nói hay hơn cha xứ dân Tây chính gốc, có thể vì ngài « mặc cảm » mình là dân ngoại quốc, cũng chỉ là khách vãng lai của xứ đạo nên ngài phải « soạn bài » thật kỷ để thu hút giáo dân.
Tôi không nghĩ như vậy, vì môn hùng biện cha nào cũng được đào tạo trong lúc học Thần Học, bài vỡ thì Phúc Âm từ ngàn xưa vẫn không thay đổi, có chăng là tài hùng biện của mỗi người mới là thiên phú.
Cái duyên ăn nói là đặc tính riêng của từng người, và cha khách đã « lấy lòng » giáo dân xóm tôi qua tài dẫn chuyện rất chuyên nghiệp. Cái nghiệp vãng lai của ngài hình như đang bén rể ở xóm tôi, tôi hy vọng rồi cha sẽ tiếp tục lai vãng đến đây để lôi cuống giới trẻ, và cả dân sồn sồn sắp bước vào giới « lão niên » như tôi đây, khám phá Phúc Âm, dù đã hơn hai ngàn năm vẫn có sức hấp dẫn, làm ta thắc mắc, tự vấn xem mình đã phụ lòng Chúa bao nhiêu lần rồi.

Tôi vừa viết xong bài này, cũng là lúc Roma ra thông báo Đức Thánh Cha vừa đâm đơn từ chức vì lý do sức khoẻ.
Giáo dân kẻ khen, người tiếc, tôi thán phục ngài sát đất, người uy quyền nhất Giáo Hội vừa thừa nhận, lực bất tồng tâm.

Đức Thánh Cha cũng chỉ lập lại bài phúc âm cha khách đề cập đến vài tháng trước, ngài tự nhận mình mang thân phận tầm thường như mọi người trước mặt Chúa và nhờ ơn Chúa Thánh Thần soi sáng ngài đã lấy một quyết định gương mẫu, một bài học để đời cho hậu thế.
Cuộc đời này rồi sẽ qua đi, còn chăng là dấu ấn của ngài, « thời đại » của ngài tuy ngắn hơn Đức Thánh Cha Jean Paul II, nhưng lại kết thúc trong bối cảnh đáng được chúng ta chiêm nghiệm.
Chung cuộc chúng ta cũng chỉ là khách vãng lai của trái đất này thôi, vậy hãy sống thật xứng đáng những ngày dù buồn hay vui đều là những ngày có Chúa trong cuộc đời chúng ta.

July 2013 / Đoàn Thị

THÁNG MƯỜI MỘT, NGHĨ SUY VỀ CÁI CHẾT

THÁNG MƯỜI MỘT, NGHĨ SUY VỀ CÁI CHẾT

Jos.Vinc. Ngọc Biển

Tháng Mười Một lại về, trong tâm trí bạn và tôi.  Tháng Mười Một là tháng mà Giáo Hội mời gọi ta hãy suy nghĩ về cái chết của mình và tha nhân. Khi ta suy nghĩ về sự chết, ta sẽ nhận ra sự yếu đuối của thân phận con người, sự mong manh và tính bất định của sự sống. Như vậy, khi suy nghĩ về sự chết thì cũng là lúc ta suy nghĩ về sự sống. Bởi vì nhờ suy nghĩ về sự chết mà ta có thể sống tốt cũng như hài hòa hơn trong các mối tương quan với tha nhân, đồng thời thêm xác tín mạnh mẽ vào sự sống trường sinh mai hậu. Nhà thơ R.Tagore đã viết thật chí lý khi ông dám chấp nhận cái chết là một sự thật: “Cuộc sống không phải là một cái gì bền vững và thường hằng, đó là một phát hiện đau đớn, nhưng lại đem đến cho tôi một cảm giác nhẹ nhàng” và “Cái chết đã đem lại cho tôi một cái nhìn đúng đắn hơn”[[1]]

Bạn thân mến!

Khi chọn tháng mười một là tháng dành riêng để cầu nguyện cho các linh hồn, hay những dịp cầu hồn, an táng, những dịp kính nhớ tổ tiên…Giáo Hội muốn mời gọi con cái của mình một mặt tưởng nhớ tới những người đã khuất để cầu nguyện cho họ. Mặt khác, Giáo Hội cũng muốn chính những người còn đang sống hãy nghĩ đến thân phận của mình, một ngày nào đó rồi cũng sẽ phải ra đi như những người thân yêu của mình đã lần lượt lìa bỏ thế gian để về với thế giới bên kia. Vậy, đâu là ý nghĩa của cuộc sống? Cuộc đời sẽ đi về đâu? Bên kia cõi chết là gì? Qua bài viết này, người viết xin được chia sẻ tính hiệp thông trong mầu nhiệm Giáo Hội. Đồng thời cũng là một suy niệm về cái chết trong cuộc sống thực tại. Và,  đây cũng là lời mời gọi mọi người hãy suy nghĩ về cái chết để được sống, đáng sống và tồn tại. Tất cả, xin được khiêm tốn chia sẻ những gẫm suy về ý nghĩa cái chết của những người có niềm tin.

Trong mười điều răn, Thiên Chúa đã dành hẳn điều răn thứ bốn nói về lòng hiếu thảo của con cháu đối với ông bà cha mẹ, trước các điều răn hướng về con người. Đây không phải là lời khuyên mà là một luật buộc phải thi hành như các điều răn khác.

Vậy hiếu kính cha mẹ là yêu mến, biết ơn, vâng lời, giúp đỡ cha mẹ khi còn sống và cầu nguyện cho các ngài khi đã qua đời. Nhưng mang trong mình những giới hạn nhất định, nên nhiều khi chúng ta đã không thể chu toàn được với các ngài. Thật vậy, không ai có thể chu toàn lòng kính mến đối với những bậc ông bà cha mẹ, hoặc vuông tròn sự yêu thương hoà đồng giữa anh chị em ruột thịt trong nhà, và bà con thân thuộc lối xóm được. Cho dù nếu có, thì trong tháng các linh hồn này, Hội Thánh cũng nhắc nhở chúng ta làm mới lại những yêu thương ấy đối với những người đã khuất, để từ đó làm mới lại mối dây liên lạc yêu thương, tương kính với những người đang sống. Những người mà chúng ta gặp gỡ hằng ngày.

Truyền thống của Giáo Hội dạy cho ta biết rằng: các linh hồn là những người đã một thời sống cùng, sống với chúng ta trên cõi trần này, nhưng các ngài đã ra đi trước. Vì mang trong mình thân phận của con người, nên nhiều khi các ngài mang lấy tội mà đi vào cõi chết. Những  lỗi lầm đó có thể là do yếu đuối của các ngài, có khi vì chúng ta mà các ngài phải bị liên luỵ…như vậy, trước khi về hưởng trọn vẹn niềm vui và hạnh phúc bên Chúa như các thánh, các ngài phải thanh luyện cho xứng đáng trước sự thánh thiện vô cùng của Thiên Chúa. Những người còn sống có thể dâng thánh lễ, làm các việc lành đạo đức, dâng những hy sinh, hãm mình…để cầu nguyện cho các linh hồn. Mặt khác, khi cầu nguyện cho các linh hồn, Giáo Hội muốn cho chúng ta hiểu được rằng, đây còn là thái độ của lòng biết ơn. Vì: trước hết, ta sống là nhờ cha mẹ và người thân. Quả vậy, chúng ta lớn dần lên trong sự vất vả một nắng hai sương của cha mẹ. Từ những đêm thức trắng lo toan, đến những tần tảo quanh năm suốt tháng để ta được nuôi dưỡng nên người. Trong nụ cười của chúng ta có sự chết (hy sinh) của cha mẹ. Trong niềm vui của chúng ta có đau khổ của đấng sinh thành. Và thế rồi, dầu cha mẹ có khuất núi, thì các ngài lại đang hiện diện nơi con cháu là chúng ta, vì chúng ta mang trong mình huyết nhục cũng như sự hy sinh của các ngài[[2]]. Như vậy, với niềm tin vào Đức Kitô chết và Phục Sinh, vào những lời Chúa hứa, chúng ta phó thác người thân chúng ta nơi Lòng Thương Xót của Thiên Chúa.

Ngoài việc đọc kinh, cầu nguyện…cho các linh hồn thì việc đi viếng nghĩa trang, việc sửa sang phần mộ là việc tốt. Nhưng điều tốt này lại có ích cho người còn sống nhiều hơn. Bởi lẽ, từ cái nghĩa trang mà chúng ta thấy đó, từ cái nấm mồ mà chúng ta đang sửa sang tô quét đó, từ những hũ đựng hài cốt mà chúng ta ngắm nhìn đó, chúng ta thấy được cái kiếp sống vắn vỏi của con người. Suy nghĩ về vấn đề này, thánh Augúttinô nói: “Mọi sự dầu hay, hay dở, đều không chắc chắn, chỉ sự chết là chắc chắn sẽ xảy đến”. Thi sĩ  R.Tagore cũng nói: “Với ông, sự sống và cái chết chỉ là hai bờ của một dòng sông, là hai bầu vú mang đầy sữa ngọt ngào trên ngực trần của người mẹ: “Khi mẹ giằng con khỏi vú bên này, con oà khóc, nhưng liền đó lại thấy nguồn an ủi ở bầu vú bên kia”[[3]]. Cái đích điểm mà tất cả mọi người ở trần gian này sẽ phải đến gặp nhau là ở chỗ: ba tấc đất sâu, và một nấm mộ cô đơn lạnh lẽo. Chính vì thế mà Giáo Hội muốn chúng ta không dừng lại ở những tấc đất, nấm mộ đó mà hãy đi tìm cho mình một ý nghĩa đằng sau cái chết. Muốn cái chết của mình thật sự có ý nghĩa, thì trước tiên hãy nghiêm túc suy nghĩ ngay đến cái chết của chính mình trong cuộc sống hiện tại, hầu chuẩn bị cho xứng đáng khi đến trình diện với Chúa trong ngày chết của chúng ta. Thoạt nghe, có vẻ vô lý! Tại sao đang sống mà lại phải suy nghĩ về cái chết?

Thiết nghĩ, trước khi bàn về vấn đề này, tưởng cũng nên nhắc lại những tâm tình trong Kinh Thánh và lời của các các thánh nói về cái chết: “Chính anh chị em đã rõ: ngày của Chúa sẽ đến bất ngờ, như kẻ trộm lúc đêm khuya.” ( 1Tx 5, 2);Hãy tỉnh thức, vì Con Người sẽ đến phán xét chúng ta vào giờ chúng ta không ngờ.” (Lc 12,40);còn thánh Grêgory đã nói về cái chết như sau: “Chúng ta không biết trước sẽ chết giờ nào, để chúng ta luôn chuẩn bị sẵn sàng.” ; thánh Bênađô tiếp: vì chúng ta có thể chết bất cứ giờ nào, bất cứ ở đâu, nên muốn chết lành, được cứu rỗi, phải sẵn sàng đón nhận sự chết: “Thần chết đến bất cứ giờ nào, bất cứ ở đâu, nên chúng ta phải luôn sẵn sàng chờ đợi nó.”

Suy niệm đến đây, tôi sực nhớ cách đây mấy năm, tôi có quen một thầy tu, khi đến thăm, tôi thấy trên bàn học của thầy luôn có một chiếc quan tài nhỏ, trong chiếc quan tài đó có tấm hình của thầy và một bản cáo phó mà chính thầy viết cho mình. Khi hỏi thì được thầy giải thích như sau: chiếc quan tài này là hình bóng của sự chết, bởi vì nó sẽ ôm trọn xác chết khi con người ta hết hơi. Con người khi còn sống có là vua chúa quan quyền, hay người phu quét rác; dù là tỷ phú hay người ăn xin; dù là giáo hoàng hay giáo dân…chết là hết. Cái chết là sự thật. Nên mỗi khi đi đâu về, tôi thường hay ngắm nó, và suy nghĩ về cái chết của chính mình…từ đó tôi lo sám hối về những thiếu xót và xin ơn tha thứ của Thiên Chúa. Còn bài cáo phó mà tôi tự tay viết cho chính mình là vì tôi thiết nghĩ: điều tốt cho tương lai mà tôi muốn, thì hãy chuẩn bị ngay từ bây giờ. Điều tốt mà tôi mong muốn cho tương lai là gì nếu không phải là được ở bên Chúa. Vậy ngay từ giây phút này, tôi hãy lo sống sao cho đáng sống, để cái chết của tôi thật sự là một cuộc đi về như lời bài hát: lạy Chúa, bao ngày tháng con hằng mơ ước, tìm về bên Chúa, niềm vui suối an hoà…hay “Chúng ta  biết rằng : nếu ngôi nhà chúng ta ở dưới đất, là chiếc lều này, bị phá hủy đi, thì chúng ta có một nơi ở do Thiên Chúa dựng lên, một ngôi nhà vĩnh cửu ở trên trời, không do tay người thế làm ra” (2 Cr 5,1). Vì thế, cái chết là “một cõi đi về” và “Hãy để cuộc đời tươi đẹp như hoa mùa hạ, và hãy để cái chết về như lá mùa thu”[[4]4]

Nghe đến đây, tôi thực sự cảm thấy “sốc”. Sốc vì tôi sực nhớ đến câu chuyện trong Kinh Thánh: nhân vật chính của câu chuyện là “một người giàu có”, ruộng nương sinh nhiều hoa lợi, đến nỗi ông quyết định xây nhiều kho mới, lớn hơn. Ông nói: “Ta sẽ tích trữ tất cả thóc lúa và của cải vào đó” và “ta sẽ nhủ lòng: Hồn ta hỡi, mình bây giờ ê hề của cải, dư xài nhiều năm, cứ nghỉ ngơi, ăn uống, vui chơi cho đã”. Nhưng Thiên Chúa bảo ông ta: “Ðồ ngốc, nội đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng ngươi” lúc đó ngươi tính sao? (x. Lc 12,16 -20). Và chuyện đã xảy ra đúng như vậy. Ở tận đỉnh cao của vinh hoa phú qúy, người giàu có ấy phải lìa bỏ đời này…Sốc nữa vì đây là sáng kiến táo bạo của thầy. Nhưng nghĩ suy một chút, tôi mới nhận ra đây là một chân lý. Bởi đã có nguời định nghĩa cuộc sống là một hành trình để tiến tới… cái chết. Hay như thánh Phaolô: “mỗi ngày tôi phải đối diện với cái chết” (1Cr 15,32). Thật thế, mỗi ngày sống là đời ta ngắn lại; mỗi hoàng hôn ta mất đi một ngày. Sống là đang đi dần tới cõi chết. Sự sống và cái chết nó hoà quyện lại với nhau.

Thật vậy, cái chết là một người bạn thân thiết với con người. Chả thế mà thánh Phanxicô Assisi đã gọi nó là “Chị Chết”. Chị Chết này dù muốn dù không, Chị cứ đến với cuộc đời ta như người nhà. Không cần báo trước, chẳng cần ai dẫn đường. Chị đến như một người trộm. Như vậy, thân phận con người là một cái gì đó mỏng dòn dễ vỡ. Cuộc sống nơi dương gian này chỉ là tạm bợ. Ý thức được như thế là để xin ơn tha thứ, đồng thời cũng lo chuẩn bị cho mình một cái giấy thông hành trên hành trình về với Chúa. Giấy thông hành này không mua được bằng tiền, không có được bằng quyền, mà phải đánh đổi bằng: lòng sám hối, sự canh tân, việc đạo đức, những hy sinh, hãm mình…sống và làm theo Lời Chúa dạy. Có thế, ta mới hy vọng được chung hưởng hạnh phúc muôn đời với các thánh.

Ước mong sao, mỗi người hãy dâng những hy sinh hãm mình, đặc biệt là thánh lễ để cầu nguyện cho các linh hồn. Đây là tấm lòng biết ơn cao cả mà Chúa muốn nơi chúng ta khi tưởng nhớ đến người quá cố, đồng thời đây cũng là trách nhiệm của mỗi người chúng ta khi sống trong mầu nhiệm Giáo Hội hiệp thông. Đàng khác, đây cũng là thời gian thuận tiện để ta suy nghĩ về chính cái chết của mình. Thật vậy, suy gẫm về sự chết là điều cần thiết, giúp ta biết quan tâm hơn đến cuộc sống: làm thế nào để yêu, để tha thứ và để chấp nhận; làm thế nào để tránh những tội lỗi, những vấp phạm, và giết chết cái tôi ích kỷ của mình như hạt lúc gieo vào lòng đất, để chỉ còn muốn sống cho Chúa cách trọn vẹn hầu phụng sự Ngài và phục vụ tha nhân.

Như vậy, khi suy nghĩ về cái chết, chúng ta hãy có tâm tình như thánh Phaolô:“Đối với tôi, sống là Đức Kitô, và chết là một mối lợi”. Vì thế, “Không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.” (Rm 8, 39). Và cuối cùng, cái chết đến với tôi như một niềm hãnh diện:“Còn tôi, đã đến giờ tôi phải  ra đi. Tôi đã thi đấu trong cuộc đấu cao đẹp, đã chạy hết quãng đường dài. Giờ đây tôi chỉ còn đợi vòng hoa dành cho người công chính. Chúa sẽ trao phần thưởng đó cho tôi, và không phải chỉ cho tôi, nhưng cho tất cả những ai mong đợi Người” ( 2 Tm 4, 6-8). Chỉ có chết trong tội mới tách rời chúng ta ra khỏi Chúa, còn chết trong Chúa là một giải thoát, đưa chúng ta vào sự sống viên mãn của Ngài.

Để kết thúc bài viết này, xin đặt mình vào tâm tình của người sắp ra đi và mong muốn được khắc ghi trên chính bia mộ của mình những hàng chữ sau như một lời chăng trối cho người còn sống:

“Những gì tôi đang có, xin trả lại cho đời.

Những gì thuộc về tôi, nay không còn nữa.

Những gì tôi cho đi, từ nay thuộc về tôi.

Trao ban là còn mãi – Tình yêu không thể chết.”



[1] X. R.Tagore, thời đại, tr. 185.

[2] Gm Giuse Vũ Văn Thiên, Sự sống – sự chết, truy cập ngày 22-12-2012, trên: http://www.hdgmvietnam.org/su-song-%E2%80%93-su-chet/2821.54.11.aspx.

[3] R.Tagore, tập thơ dâng, bài 95.

[4]. Đào Xuân Quý, những cánh chim bay lạc, tr. 45.

Tác giả: Tu sĩ Jos. Vinc. Ngọc Biển

TÌNH NGƯỜI CÓ CÒN KHÔNG ?

TÌNH NGƯỜI CÓ CÒN KHÔNG ?

(Trích tập san GHXH tập 10)

Mẩu Bút Chì

“Tự một mình, có công lý thôi chưa đủ. Thật vậy, công lý có thể phản bội chính mình trừ khi nó biết mở ra cho một sức mạnh sâu xa hơn, là bác ái” (TLHT, 203).

Vào thập niên 1980, lúc ấy tôi còn nhỏ, Việt Nam đói nghèo xác xơ. Tại quê tôi, nhiều gia đình phải ăn bánh gói làm từ khoai mì với nhân hạt mít. Ăn như thế triền miên, có khi còn đói ròng đói rã.

Một buổi sáng nọ, một kẻ trộm từ phương nào đến đột nhập vào ẩn nấp ngay trong vườn nhà ông tổ trưởng, chưa kịp hạ thủ đã bị người ta phát hiện, bắt trói gô vào gốc cây giữa sân. Khi tôi hay tin chạy đến – cố chen qua đám đông để nhìn cho rõ – thì mặt mũi anh ta đã sưng húp, người tím bầm, toét máu, áo quần bị xé rách bươm. Thanh niên trai tráng trong xóm kẻ cầm gậy, người tay không, nhảy vào đấm đá túi bụi. Mọi người đều hả hê, đáng đời cho phường đạo tặc! Chứ ai đời người thì cong lưng bòn tro đãi sạn chưa có cái bỏ vào miệng, còn kẻ thì rình rập trộm cướp, còn gì là công lý?

Ban đầu tôi thấy anh ta còn rúm ró, run rẩy, sau một hồi thì vẹo đầu đứng yên. Tôi không dám nhìn nữa, lại cố chen để thoát ra ngoài. Trái tim bé dại của tôi cứ đập thình thịch, tâm thần bấn loạn và chỉ chực bật khóc. Mặc cho người lớn vẫn oang oang chửi bới, mắng nhiếc, chẳng hiểu sao tôi lại ước có một phép màu để giải cứu anh ta ra khỏi nơi đó. Tôi chạy một mạch về nhà, trốn vào góc tủ bưng miệng khóc. Tôi sợ người khác biết tôi khóc thương một “thằng” ăn trộm, điều mà ngay chính đầu óc bé thơ của tôi cũng không giải thích được vì sao tôi lại dám làm cái “chuyện tày trời” như vậy! Chỉ biết rằng tôi ngồi đó, lần lượt tưởng tượng “thằng” ăn trộm bị đánh thê thảm ấy là anh Hai, anh Tư, chị Năm,… thân thương của tôi, những người rất thương tôi, và cũng đã đôi lần vì thấy tôi đói quá mà đã đánh liều lẻn vào rẫy người ta bẻ trộm bắp non, nướng cho tôi ăn cầm hơi…

Lớn lên chút nữa, xem thời sự trên tivi, tôi lại len lén khóc thương cho những người tử tù, nhất là những phạm nhân tuổi đời còn phơi phới. Tôi chẳng biết cảm xúc của mình là đúng hay sai, bởi rõ ràng công luận đều cho rằng kẻ phạm tội phải được nghiêm minh trừng trị, trả lại sự công bằng cho người bị hại. Nhưng tôi cảm thấy, nếu phải tước đoạt sinh mệnh của con người để trả lại sự công bằng cho xã hội, thì dường như sự “công bằng” ấy có cái gì đó không bình an, không “có hậu”, nó chỉ làm thỏa mãn sự giận dữ và lòng thù hận của con người… Lòng tôi vẫn day dứt khôn nguôi!

Khi biết Chúa và biết Tin Mừng, tôi hả lòng khi Chúa trả lời những người Do Thái muốn ném đá người phụ nữ ngoại tình: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi” (Ga 8, 7), và “họ bỏ đi hết, kẻ trước người sau, bắt đầu từ những người lớn tuổi” (Ga 8, 9).

Tôi hả lòng vì nhận ra rằng có một nền công lý không giống với công lý của thế gian, nó vượt lên trên cái công bằng thường tình hạ đẳng của loài người. Công lý ấy đầy ắp yêu thương, có quyền năng cải hóa con người, vì “chỉ có tình yêu mới có thể phục hồi con người về lại với chính mình” (TLHT, 582). Đó là Công Lý của Chúa. (TLHT, 583).

Nói đến đây, tôi chợt nhớ lại lời một linh mục đã chia sẻ với chúng tôi trong lớp học giáo huấn xã hội Công giáo rằng: ở Philippines, một nước có hơn 90% dân số là người Công Giáo, họ đã có một hệ thống nhà tù và chính sách cải tạo con người mang màu sắc của Tin Mừng. Hệ thống ấy đã giúp cải tạo con người một cách đúng nghĩa, tạo cho họ cơ hội hoàn lương để dễ dàng hội nhập vào đời sống cộng đồng. Trong nhà tù, họ vẫn được học hành đến cấp cử nhân, thạc sĩ, được tham gia thi thố tài năng,… Ở một số quốc gia, luật tử hình đã được hủy bỏ. Vì luật tử hình đã tước đi niềm hy vọng và cơ hội được phục thiện, được làm lại cuộc đời của một con người.

Dường như ai cũng hiểu “công bằng” là điều tích cực đáng được tôn trọng. Nhưng không phải ai cũng hiểu “công bằng là cấp độ tối thiểu của tình yêu” (Đức Phao-lô VI, Caritas in Veritate, 6). “Không công bằng” ngày nay thường được hiểu theo nghĩa tiêu cực là “bất công”. Nhưng “không công bằng” còn có nghĩa là trên cả công bằng, là hy sinh vì tình yêu. Như tình yêu và sự hy sinh của cha mẹ dành cho con cái chẳng bao giờ đòi hỏi sự công bằng. Trước khi trút hơi thở trên Thập Giá, Chúa Giêsu đã thực hiện nền công lý tuyệt đối: “Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23, 34).

Tôn trọng sự công bằng là cần thiết, nhưng chỉ quy chiếu về công bằng để rồi gạt bỏ cả yêu thương, từ chối hy sinh và không muốn chịu đựng, không tôn trọng sự khác biệt của nhau thì có khi dẫn đến những tổn thương khôn lường. Phải chăng chính sự mơ hồ, không phân định được ý nghĩa giữa “yêu thương” và “không công bằng” là nguyên nhân của nhiều mâu thuẫn, nhiều sự đổ vỡ gia đình, xào xáo anh em? Bởi ai cũng đòi hỏi công bằng mà không ai chịu nhường nhịn ai. Yêu thương và hy sinh bị quên lãng, thế mà ai cũng tưởng mình đang thực thi công lý! Cũng vì thế, gia đình ngày nay – đặc biệt là gia đình Việt Nam –  đang bị chao đảo dữ dội. Điều đó thể hiện qua tình trạng đổ vỡ, ly dị của các cặp hôn phối (kể cả người Công giáo), và ngày càng xuất hiện nhiều những án mạng xuất phát từ sự tranh chấp của cải trong nội bộ gia đình chỉ vì phân chia tài sản không đồng đều. Quả là đáng lo thay!

Lạy Chúa! Chúa vẫn ở đó, lặng lẽ đau thương trên Thập Giá. Chắc hẳn hết đời này con cũng chưa hiểu hết được Mầu Nhiệm Chúa trao ban. Hôm qua con biết Thập Giá là Mầu Nhiệm Cứu Chuộc, Mầu Nhiệm Tình Yêu, nhưng hôm nay con chợt nhận ra rằng Thập Giá chiếu soi Công Lý nước Trời. Công Lý ấy phá đổ cái công lý thiển cận, ấu trĩ của loài người bằng cái Chết Vì Yêu của Đấng Công Chính. Xin dạy chúng con biết yêu thương như Chúa đã yêu, xin dạy chúng con về đường lối của Ngài (Tv 25, 4), vì chỉ có yêu thương mới dẫn chúng con đến với Công Lý Thật.

Tác giả: Mẩu Bút Chì

Phát triển toàn cầu: nghèo có giảm, nhưng 1.2 tỷ người vẫn nghèo cùng cực

Phát triển toàn cầu: nghèo có giảm, nhưng 1.2 tỷ người vẫn nghèo cùng cực


Vũ Văn An

10/27/2013

Con số người nghèo cùng cực trên thế giới đã giảm đáng kể trong 3 thập niên vừa qua, nhưng theo một cuộc phân tích mới đây của Ngân Hàng Thế Giới, vào năm 2010, số người nghèo cùng cực vẫn bao gồm chừng 400 triệu trẻ em. Đây là bản văn đầu tiên phân tích sâu xa khuôn mặt những người nghèo nhất trên thế giới.

Công bố ngày 10 tháng Mười vừa qua, bản phân tích cho hay: số người nghèo nhất thế giới, tức những người có thu nhập hàng ngày dưới 1.25 đôla, đã giảm đi 721 triệu người vào năm 2010 so với con số năm 1981. Nhưng phúc trình cũng đã kết luận rằng con số trẻ em trong số này không cân xứng chút nào. Các em hiện chiếm một phần ba trong số 1.2 tỷ người cùng cực nhất trên thế giới hiện nay. Ở các nước có thu nhập thấp, bách phân này còn tệ hơn nữa: đến nửa số trẻ em phải sống trong cảnh nghèo tận cùng.

Jim Yong Kim, chủ tịch Nhân Hàng Thế Giới cho hay: “Chúng ta từng chứng kiến tận mắt việc chuyển dịch lịch sử số người đông đảo ra khỏi cảnh nghèo trong ba thập niên qua, nhưng con số trẻ em hiện sống trong cảnh nghèo khiến ta biết chắc: vẫn còn nhiều điều cần phải làm. Chúng ta rất có thể đạt được mục tiêu chấm dứt nạn nghèo và thăng tiến thịnh vượng chung, kể cả việc chia sẻ sự thịnh vượng ấy với các thế hệ tương lai, nhưng chỉ với điều kiện phải hành động với nhau một cách khẩn trương. Không nên kết án trẻ em một cách dã man phải sống cuộc sống vô hy vọng, thiếu giáo dục và thiếu chăm sóc y tế xứng đáng. Chúng ta phải làm tốt hơn cho các em”.

Các nhà phân tích của Ngân Hàng Thế Giới cũng thấy rằng trong năm 2010, người nghèo vẫn tệ như năm 1981, ngoại trừ người nghèo tại Ấn Độ và Trung Hoa. Người nghèo “trung bình” tại các nước có thu nhập thấp mỗi ngày chỉ có 78 xu mỹ để sống trong năm 2010 so với 74 xu năm 1981.

William O’Keefe, phó chủ tịch tại Cơ Quan Cứu Trợ Công Giáo, cho rằng phúc trình này “lên tài liệu cho việc thành công trong cuộc chiến đấu toàn cầu chống nghèo đói hiện nay và các thách thức trước mặt”. Vì theo ông, giống như ở Hoa Kỳ, “nạn nghèo trên thế giới mỗi ngày mỗi trỡ thành số phận của trẻ em.

“Cơ Quan Cứu Trợ Công Giáo đang mở rộng một cách thành công và cải tiến các cố gắng canh nông, dinh dưỡng và y tế; các cố gắng này sẽ giúp các trẻ em nghèo hơn tại các nước nghèo đạt được các tiềm năng của chúng. Nhưng một mình chúng tôi, chúng tôi không thể giúp cả 400 triệu trẻ em được.

“Đức Thánh Cha đang kêu gọi người Công Giáo đương đầu với nạn đói hoàn cầu, và điều này một phần có nghĩa: thúc đẩy chính phủ của ta ở đây phải làm nhiều hơn nữa. Nền chính trị đầy ích kỷ của việc đóng cửa các cơ quan nhà nước đã khiến người ta sao lãng việc trợ giúp trẻ em khắp thế giới và tại quê nhà”.

Phân tích của Ngân Hàng Thế Giới cho thấy khó có thể đạt được mục tiêu chấm dứt nạn nghèo cùng cực vào năm 2030. Dù việc giảm nghèo trong mấy năm gần đây đã tiến bộ đáng kể tại các nước có thu nhập bậc trung như Trung Hoa và Ấn Độ, các nước có thu nhập thấp vẫn cho thấy một mức tiến bộ chậm hơn thế. Xét chung, nạn nghèo cùng cực đã xuy giảm, nhưng 35 nước có thu nhập thấp, trong đó 26 nước thuộc Phi Châu, đã ghi nhận sự gia tăng của hơn 100 triệu người nghèo cùng cực nữa so với ba thập niên trước. Năm 2010, 33 phần trăm người nghèo cùng cực sống tại các nước có thu nhập thấp, so với 13 phần trăm vào năm 1981.

Bản phúc trình cũng tính rằng số tiền mỗi năm cần có để kéo hơn một tỷ người ra khỏi nạn nghèo cùng cực là khoảng 169 tỷ đôla, bằng phân nửa phí tổn năm 1981.

Người nghèo cùng cực, thường tập trung tại các khu vực nông thôn, cũng là những người tiếp tục không được hưởng đầy đủ các dịch vụ căn bản khác. Chỉ khoảng 26 phần trăm người nghèo có nước sạch vào năm 2010, so với 56 phần trăm những người có thu nhập trên 1.25 đôla, vốn được dùng chỉ mức nghèo hiện nay.

Trong khi đó, ít hơn một nửa, chính xác là 49 phần trăm, những người nghèo nhất có điện dùng mà thôi. Và trong khi 61 phần trăm những người sống trên mức nghèo 1.25 đôla được hưởng các hệ thống vệ sinh căn bản, thì chỉ có 20 phần trăm những người nghèo cùng cực được hưởng các dịch vụ tương tự mà thôi

CÓ THIÊN ĐÀNG KHÔNG VÀ HẠNH PHÚC THIÊN ĐÀNG RA SAO ?

CÓ THIÊN ĐÀNG KHÔNG VÀ HẠNH PHÚC THIÊN ĐÀNG RA SAO ?

LM ĐAN VINH

I. THIÊN ĐÀNG HIỆN HỮU THỰC SỰ :

1) Đây là một điều phù hợp với sự khôn ngoan và đức công bình vô cùng của Thiên Chúa, và đó cũng chính là cùng đích mầu nhiệm cứu chuộc của Đức Giê-su: Người đến để trả lại cho loài người chúng ta sự sống mà nguyên tổ A-đam E-và xưa đã đánh mất khi phạm tội vì bất phục tùng, để phục hồi địa vị làm con Thiên Chúa cho chúng ta bắt đầu từ trần gian, và kéo dài mãi trên thiên đàng đời sau (x. Rm 5,12-21).

2) Đây còn là một chân lý đức tin:

a)Đức Giê-su nhiều lần đề cập đến thiên đàng trong các bài giảng của Người:

– “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5,2).

– “Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa” (Mt 5,8).

– “Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao” (Mt 5,12).

-“Anh em đừng tích trữ cho mình những kho tàng dưới đất, nơi mối mọt làm hư nát, và kẻ trộm khoét vách lấy đi. Nhưng hãy tích trữ cho mình những kho tàng trên trời, nơi mối mọt không làm hư nát, và kẻ trộm không đào ngạch và lấy đi được (Mt 6, 19-20).

-Trong dụ ngôn “Những nén bạc”, ông chủ nói với người đầy tớ biết làm lợi thêm những nén bạc ông đã trao: “Khá lắm, hỡi người đầy tớ tài giỏi và trung thành ! Được giao ít mà anh đã trung thành, thì tôi sẽ giao nhiều cho anh. Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ anh !” (Mt 25,21).

b) Đức Giê-su cũng nói với các Tông đồ về thiên đàng như sau: “Trong nhà Cha của Thầy có nhiều chỗ ở, nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi. Vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy sẽ trở lại và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu anh em cũng ở đó” (Ga 14,2-3).

c) Đến ngày tận thế, Đức Giê-su Vua Thẩm Phán sẽ tái lâm để phán xét chung. Tin mừng Mát-thêu tường thuật như sau: “Bấy giờ Đức Vua sẽ phán cùng những người ở bên phải rằng: Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa” (Mt 25,34).

d) Tin Mừng Lu-ca đã ghi nhận về sự kiện Đức Giê-su lên trời như sau: “Chúa Giêsu được đem lên Trời” (Lc 24,51). Trời đây không phải trời xanh, mà là Thiên đàng, nơi Ba Ngôi Thiên Chúa là Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần ngự trị muôn đời.

e) Thánh Phao-lô cũng quả quyết có thiên đàng vĩnh cửu sau cuộc đời trần gian hôm nay: “Quả thật, chúng ta biết rằng: Nếu ngôi nhà của chúng ta ở dưới đất là chiếc lều này bị phá hủy đi, thì chúng ta có một nơi ở do Thiên Chúa dựng lên, một ngôi nhà vĩnh cửu ở trên trời, không do tay người thế làm ra” (2 Cr 5,1).

II. HẠNH PHÚC THIÊN ĐÁNG RA SAO?

1)Những quan niệm sai lạc về hạnh phúc thiên đàng: Một số người có những ý nghĩ không đúng về thiên đàng. Chẳng hạn:

a)Thiên Đàng là phần thưởng của Thiên Chúa ban nhằm thúc đẩy con người ăn ngay ở lành, giống như cha mẹ hứa cho con cái mình bánh kẹo để khuyến khích chúng chăm chỉ học tập. Như thế chẳng lẽ người ta chỉ làm các việc lành vì ích kỷ, nhằm tới lợi riêng cho mình sao ?

Thực ra, thiên đàng tuy là một phần thưởng (x. Mt 5,12), nhưng trước hết, thiên đàng là cùng đích cuộc đời chúng ta. Nếu con người sống mà không hướng về Thiên Chúa thì cuộc đời của họ sẽ vô nghĩa. Chúng ta làm lành để biểu lộ lòng yêu mến Thiên Chúa ở đời này giống như người gieo hạt giống tốt, và đương nhiên sẽ gặt được hoa trái là hạnh phúc thiên đàng đời sau.

b)Một số người lại tưởng tượng ra hạnh phúc thiên đàng theo sở thích của mình: Là nơi không còn phải ưu phiền thử thách, khỏi bị đau khổ, nhưng được sung sướng khoái lạc, được nhìn thấy những phong cảnh đẹp chưa từng được thấy, được nghe những điệu nhạc du dương chưa từng được nghe ở trần gian…

Thực ra, hạnh phúc Thiên Đàng trước hết là hạnh phúc siêu nhiên tinh thần, thỏa mãn được những như cầu của linh hồn chúng ta, được hưởng kiến tôn nhan Thiên Chúa “diện đối diện” như lời thánh Phao-lô dạy: “Bây giờ chúng ta thấy lờ mờ như trong một tấm gương, mai sau sẽ được mặt giáp mặt” (1 Cr 13,12).

c)Có người lại quan niệm thiên đàng theo kiểu tình cảm trần gian. Theo họ: khi lên thiên đàng chúng ta sẽ được gặp lại những người thân của mình trươc đây, được nối lại tình xưa nghĩa cũ, vợ chồng con cái, cha mẹ anh em sẽ sống quây quần bên nhau như ở trần gian…

Thực ra, thiên đàng không phải chỉ là nơi để gặp gỡ các người thân của mình. Thiên Đàng tuy là một gia đình, nhưng là một gia đình thiêng liêng, là nhà của Thiên Chúa là Cha chung, trong đó mọi người đều là anh chị em với nhau.

2)Vậy hạnh phúc thiên đàng thực sự thế nào ? : Hiện nay chúng ta không thể diễn tả hạnh phúc Thiên Đàng như thế nào, vì chưa có ai được lên đó. Muốn hiểu hạnh phúc ấy, ta nên dựa vào Lời Chúa như sau:

a)Theo sách Khải huyền: “Rồi tôi nghe từ phía ngai có tiếng hô to: ‘Ðây là nhà tạm Thiên Chúa ở cùng nhân loại, Người sẽ cư ngụ cùng với họ. Họ sẽ là dân của Người, còn chính Người sẽ là Thiên Chúa ở cùng họ. Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ biến mất” (Kh 21.3-4).

b)Thánh Phê-rô cũng khuyên các tín hữu: “Được chia sẻ những đau khổ của Đức Ki-tô bao nhiêu, anh em hãy vui mừng bấy nhiêu, để khi vinh quang Người tỏ hiện, anh em sẽ được vui mừng hoan hỷ” (1 Pr 4,13).

c)Thánh Phao-lô đã viết về hạnh phúc Thiên đàng như sau: “Điều mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe, lòng người không hề nghĩ tới. Đó lại là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai mến yêu Người” (1 Cr 2,9).

3)Sự tiếp nhận hạnh phúc thiên đàng nhiếu ít là do phấn đấu của mỗi người:

a)Ơn cứu độ được ban cho hết mọi người: Trong dụ ngôn “Những người thợ đi làm vườn nho”, nhiều người đi làm vườn nho vào những thời điểm khác nhau trong ngày, nhưng đến cuối ngày, mọi người đều được chủ trả lương một đồng bằng nhau (x. Mt 20,1-15). Qua đó cho thấy: Người ta được ơn cứu độ là do tinh thương bao dung của Thiên Chúa, hơn là do công sức riêng của bản thân mình.

b)Tuy nhiên, mọi người không được hạnh phúc bằng nhau: Mỗi người được hưởng kiến tôn nhan Thiên Chúa nhiều ít tùy theo công việc tốt đã làm khi còn sống ở trần gian. Ai yêu mến và làm các việc lành theo thánh ý Thiên Chúa nhiều thì ở đời sau sẽ được hưởng hạnh phúc nhiều hơn. Còn người yêu mến ít và làm ít việc lành khi còn sống, nên đương nhiên sẽ được hưởng hạnh phúc ít hơn trên thiên đàng.

b)Đây cũng là điều hợp lý và phù hợp với đức công bằng vô cùng của Thiên Chúa. Thánh Kinh đã đề cập về vấn đề này như sau:

-Đức Giê-su đã nói với các môn đệ: ”Lòng anh em đừng xao xuyến. Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha của Thầy có nhiều chỗ ở. Nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi. Vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy sẽ trở lại và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu anh em cũng ở đó” (Ga 14,1-3).

-“Vậy ai bãi bỏ dù chỉ là một trong những điều răn nhỏ nhất ấy, và dạy người ta làm như thế, thì sẽ bị gọi là kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời. Còn ai tuân hành và dạy làm như thế, thì sẽ được gọi là lớn trong Nước Trời” (Mt 5,19).

-Thánh Phao-lô trình bày về hạnh phúc thiên đàng khác nhau như sau: “Ánh mặt trời thì khác, ánh mặt trăng thì khác, ánh tinh tú thì khác, bởi vì ánh sáng tinh tú này khác với ánh sáng tinh tú kia. Việc kẻ chết sống lại cũng vậy: gieo xuống thì hư nát, mà trỗi dậy thì bất diệt; gieo xuống thì hèn hạ, mà trỗi dậy thì vinh quang; gieo xuống thì yếu đuối, mà trỗi dậy thì mạnh mẽ, gieo xuống là thân thể có sinh khí, mà trỗi dậy là thân thể có thần khí” (1Cr 15,39-44).

-Về sau, Công đồng Florence (1414 -1418) cũng đã khẳng định: “các Đấng Thánh tùy theo công trạng khác nhau sẽ được thấy Chúa khác nhau, người này hoàn hảo hơn người kia”.

-Tuy không bằng nhau, nhưng sẽ không có phân bì ganh ghét, vì mỗi người đều được tràn đầy hạnh phúc, đều ý thức rõ ràng tình yêu và sự công bằng vô cùng của Thiên Chúa. Ta có thể ví hạnh phúc Thiên Đàng giống như nước được đổ vào các đồ chứa mỗi người mang theo lên thiên đàng. Ai ở trần gian làm được nhiều việc lành giống như người sắm cho mình một chiếc chậu to, đang khi người khác làm ít việc lành lại chỉ có được một chiếc tô hay chén nhỏ… Vì ai nấy đều được Chúa đổ đầy ân sủng, nên tuy được hưởng hạnh phúc nhiều ít khác nhau, nhưng không có sự phân bì ganh ghét lẫn nhau.

4)Thiên đàng là nước tình yêu của Thiên Chúa:

a)Người tín hữu sống trên trần gian hướng về Thiên Chúa bằng ba nhân đức đối thần là Tin, Cậy, Mến:

Đức Tin làm cho ta thấy Chúa hiện diện trong mọi tạo vật để ngợi khen cảm tạ Chúa.

Đức Cậy làm cho ta vững lòng cậy trông để cầu xin Chúa ban ơn cứu độ.

Đức mến làm cho ta yêu mến Chúa trên hết mọi sự và tìm cách đáp lại tình yêu ấy.

b)Nhưng ở trên Thiên Đàng thì khác:

Đức tin không còn cần thiết vì ta đã được nhìn thấy Thiên Chúa “diện đối diện”.

Đức cậy cũng không còn, vì ta luôn có Chúa và không sợ phải lìa xa Chúa bao giờ.

Chỉ có đức mến sẽ tồn tại mãi mãi.

Các thánh trên thiên đàng sẽ luôn yêu mến Thiên Chúa vả yêu mến nhau, nên các ngài luôn được hưởng hạnh phúc viên mãn.

c)Thiên Đàng là Nươc Tình Yêu: Các Thánh sẽ không ngừng yêu mến Thiên Chúa, và nhờ tình yêu sẽ có tất cả như thánh Phao-lô đã viết: “Hiện nay, đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại. Nhưng cao trọng hơn cả là đức mến” (1 Cr 13,13). Các tín hữu đang sống ở trần gian vẫn có thể được hưởng hạnh phúc thiên đàng khi biết loại khỏi lòng trí các tội lỗi và các thói hư, để luôn sông tình mến Chúa yêu người. Khi sống trong tình yêu thương là chúng ta sẽ được sống trong Thiên Chúa, hưởng được niềm vui và sự bình an trong tâm hồn, được hưởng hạnh phúc ngay từ đời này và sẽ kéo dài hạnh phúc ấy mãi mãi trên thiên đàng đời sau.

Trích Đối thoại năm Đức Tin: Các vấn đề Kinh Tế, Xã Hội và Thiên Đàng
LM ĐAN VINH

Lễ các linh hồn : Nay người – mai ta

Lễ các linh hồn : Nay người – mai ta


Anmai, CSsR10/27/2013


Chiều nay chầm chậm lần bước vào con đường mòn quen thuộc thường ghé. Lòng nặng trĩu nhớ người ra đi nơi phần mộ nằm khuất sau 3 dãy : Mẹ tôi.

Ngày Mẹ mất, Mẹ được nằm ở mặt tiền của khu mộ, đi vào thăm Mẹ không vướng víu gì cả. Vài năm sau đó, hàng mặt tiền che khuất bởi một hàng mộ mới. Và, vài năm sau nữa muốn đi vào thăm Mẹ phải đi ngang, đi dọc qua mấy người nữa mới đến Mẹ.

Thắp hương, nguyện cầu cho Mẹ cũng như cho những người nằm chung quanh Mẹ. Làn hương tỏa lên, cảm xúc lại dâng trào nhớ Mẹ, nhớ những người thân quen đã hơn một lần mình gặp gỡ nay đã ra đi mãi mãi.

Nguyện kinh, nguyện xin mà hình dung ra thân xác của Mẹ ngày xưa. Một thân xác tuyệt vời mà Thiên Chúa tạo dựng và rồi qua Mẹ, những đứa con được sinh thành. Thân hình đó, thân xác của Mẹ đó nay đã nằm sâu trong lòng đất và giờ đây sau hai mươi năm trời trở thành cát bụi thật sự.

Tạm biệt nghĩa trang chìm nơi Mẹ an nghỉ, tôi trở về với nghĩa trang nổi nằm trong khuôn viên của Tu Viện. Trong nghĩa trang nổi ấy, nơi tạm giữ tàn tro của biết bao nhiêu người thân quen, cách riêng quý cha quý thầy trong Dòng và riêng hơn nữa là những cha những thầy đã có một thời nên duyên nên nợ.

Nén hương trầm tỏa lan và những khuôn mặt thân quen lại dần hiện :

Cha già Giuse nhiều năm trời ở chốn lao tù, cách riêng ngài có tài hài hước qua những câu chuyện tục mà thanh để vơi bớt nỗi buồn. Cha cũng đã ra đi khi hơi tàn sức kiệt …

Thầy già Phêrô, một tu sĩ đi tu từ bé nên vẫn nhiệm nhặt giữ những quy luật của Nhà Dòng. Nếu ai không hiểu thầy thì sẽ khó chịu nhưng biết rồi thì cũng dễ đón nhận. Hình ảnh thầy già tưới cây, đạp chiếc xe đạp chạy quanh quanh nhà dòng nay cũng chẳng còn nữa vì theo quy luật của thời gian.

Cha G.B đầy nhiệt huyết nhưng rồi lại ra đi trong căn bệnh ung thư quái ác. Những ngày cuối đời, vòm họng đã làm cho Cha đau đến tột cùng và Cha cũng đã ra đi.

Cha F.X gần như cả đời mục vụ gắn kết đời mình với vùng truyền giáo nghèo biển mặn. Lửa truyền giáo vẫn bừng cháy nơi Cha nhưng vì sứ vụ Cha đi phục vụ trong công việc khác. Vẫn ước ao trở về quê Mẹ để phục vụ người nghèo nơi vùng truyền giáo nhưng ước mơ đó chưa trọn. Nay Cha trở về quê Trời thật sự, nơi mà lòng Cha hằng mong ước.

Cha Giêrađô, một con người cương trực thẳng tính. Cũng một thời phục vụ Tin Mừng và những năm cuối đời trở về ở trong ngôi nhà Mẹ của Nhà Dòng thật êm đềm. Hành trình về nhà Mẹ của Cha êm đềm như thế nào thì hành trình về nhà Cha của Cha Giêrađô cũng êm đềm như vậy. Chuẩn bị đi dâng Lễ ở xóm giáo thì Cha lại trở về nhà Cha.

Thầy Emmanuel, vì hoàn cảnh sức khỏe, thầy phải chịu đựng một thời gian dài. Thầy đã trở về nhà Cha để được bình an và thanh thản.

Cha già Stêphanô, cả một đời dấn thân cho người nghèo, đặc biệt trong truyền thông. Hình ảnh những ngày cuối đời của cha già vẫn còn in dấu trong tôi. Trong những cơn quặn đau của thể xác một cách tuyệt vời để cùng chịu đau khổ với Đức Kitô …

Nhiều và nhiều hình ảnh thân thương của quý cha quý thầy vẫn còn như đang sống với anh em bởi lẽ cũng đã từng chung chia với nhau sứ vụ, chung chia với nhau bữa cơm và chung chia với nhau cả giận hờn của tính người. Thế nhưng nay, những người đó chỉ còn là nắm tro nằm trong cái hủ chờ ngày Phục Sinh. Những người ấy, giờ đây ta muốn trò chuyện, hàn huyên tâm sự cũng chẳng còn cơ hội. Và, hơn thế nữa, có muốn giận, có muốn hờn, có muốn ghen với họ và ngược lại cũng chẳng được bởi lẽ hai thế giới cách biệt. Khi nằm xuống, xuôi đôi tay, ngừng hơi thở coi như mọi chuyện chấm dứt.

Trở về với góc phòng của Tu Viện, nhớ lại hình ảnh của Mẹ, của ông bà, của quý cha quý thầy thân quen … Những người đó thật gần nhưng giờ cũng đã xa. Dù có muốn làm gì đó cho những người thân đó cũng chẳng được dẫu là một bữa ăn ngon, một cái bánh cũng chẳng được. Và, dù có muốn giận, muốn hờn, muốn trách họ cũng không xong bởi lẽ họ không còn nói được với ta. Chỉ trong niềm tin, trong sâu lắng, trong lặng thầm, trong cõi thiêng ta nguyện cầu cho họ và họ nguyện cầu cho ta.

Ông bà, cha mẹ, những người thân thương nay đã ra đi. Còn ta ? Chẳng lẽ ta ở mãi trong cái cõi tạm này ? Mấy mươi năm ? Giỏi chăng cũng được một trăm. Sợ chưa đến gọi là thọ chứ làm gì có đến tuổi một trăm như thế. Cũng trong quy luật của cuộc sống, nay người thì mai lại đến phận ta. Dù có thuốc tiên đi chăng nữa cũng chẳng ai có thể trường tồn. Và, cũng chẳng ai lột da để sống mãi trên trần thế này. Mỗi ngày qua đi là mỗi ngày đời sống ở dương gian của ta dần khép lại.

Nhớ đến những người thân đó cũng là nhắc đến phận người của chúng ta. Nhắc như thế để liệu làm sao sống cho nhẹ nhàng và thanh thản. Và, hơn thế nữa, hãy cố sống làm sao để khi ta nhắm mắt thì mọi người khóc còn ta, ta mỉm cười thanh thản ra đi.

Nay người, mai ta ! Nhớ như thế để ngày mỗi ngày ta dần buông những gì là vướng bận của cuộc đời để thanh thản trở về Quê Trời, nơi mà cả đời ta hằng thao thức và mong đợi.

Anmai, CSsR

Vụ án Đinh Nhật Uy làm nổi bật thế hệ mới của những nhà tranh đấu ở Việt Nam

Vụ án Đinh Nhật Uy làm nổi bật thế hệ mới của những nhà tranh đấu ở Việt Nam

Blogger Ðinh Nhật Uy sau khi được trả tự do.

Blogger Ðinh Nhật Uy sau khi được trả tự do.

Marianne Brown

29.10.2013

HÀ NỘI — Blogger Đinh Nhật Uy đã bị tòa án Việt Nam xét là can tội “lợi dụng quyền tự do dân chủ” vì đã dùng trang mạng xã hội Facebook để vận động cho việc trả tự do cho em trai là một người chỉ trích chính phủ đang bị bỏ tù. Theo tường thuật của thông tín viên Marianne Brown của đài VOA ở Hà Nội, đây là vụ xử mới nhất liên quan tới một thế hệ mới của những người tranh đấu đặt căn cứ trên internet.

Ông Đinh Nhật Uy, 30 tuổi, đã bị đưa ra tòa xét xử hôm thứ ba vì đã đăng tải thông tin trên trang Facebook để ủng hộ người em trai của ông đang thọ án tù 4 năm về tội phát tán truyền đơn chống chính phủ.

Ông Hà Huy Sơn, luật sư của ông Uy, nói rằng sau một phiên xử ngắn tòa án đã ra phán quyết cho rằng thân chủ của ông phạm tội dùng trang mạng xã hội này để chỉ trích chính phủ.

“Ðây là một trong những vụ án đầu tiên ở Việt Nam mà trang Facebook có vị trí trung tâm đối với những gì mà ông ấy (Ðinh Nhật Uy) bị truy tố.”

Phil Robertson, Human Rights Watch.”

“Theo văn bản khởi tố được đăng lại trên trang blog chính trị Dân Luận, những thông tin trên trang Facebook của Đinh Nhật Uy có những nội dung ngụy tạo, vu khống và xâm phạm lợi ích của nhà nước, tổ chức và công dân.”

Ông Phil Robertson, phó Giám đốc bộ phận Á châu của tổ chức nhân quyền Human Rights Watch, nói rằng lệnh khởi tố ông Đinh Nhật Uy có tính chất khác thường vì nó đặt trọng tâm vào việc ông sử dụng trang mạng xã hội Face book.

“Ngay cả trong trường hợp có những vụ án khác ở Việt Nam dính líu tới những người đã đăng tải thông tin trên Facebook, tôi vẫn cho rằng đây là một trong những vụ án đầu tiên ở Việt Nam mà trang Facebook có vị trí trung tâm đối với những gì mà ông ấy bị truy tố.”

Vụ án này làm nổi bật một thế hệ mới của những nhà tranh đấu ở Việt Nam, là nước có 32 triệu người sử dụng internet trong khối dân khoảng 90 triệu người.

Hơn 70% công dân mạng ở Việt Nam sử dụng Facebook và mặc dù có đôi lúc bị ngăn chặn bởi một số các công ty cung cấp dịch vụ internet, trang mạng xã hội này đã trở thành một diễn đàn rất sinh động cho những người viết blog chính trị ở Việt Nam.

” Hiện nay có một thế hệ mới của những nhà hoạt động internet. Họ là những người rất trẻ, rất can đảm. Họ dùng blog và mạng lưới xã hội để trao đổi thông tin và bày tỏ tình cảm, ý nghĩ của mình.

Nhà hoạt động Vũ Sỹ Hoàng.”

Ông Vũ Sỹ Hoàng, một nhà hoạt động ở Sài Gòn, là một trong số hàng ngàn người tham dự lễ thắp nến cầu nguyện tại một nhà thờ ở Sài Gòn hôm chủ nhật để bày tỏ sự ủng hộ đối với Đinh Nhật Uy và gia đình. Ông Hoàng cho biết cảm nghĩ như sau.

“Tôi nghĩ rằng hiện nay có một thế hệ mới của những nhà hoạt động, những nhà hoạt động internet. Họ là những người rất trẻ, rất can đảm. Họ dùng blog và mạng lưới xã hội để trao đổi thông tin và bày tỏ tình cảm, ý nghĩ của mình.”

Tuy hầu hết các nhân vật tranh đấu chính trị sử dụng truyền thông xã hội, các nhà quan sát nói rằng thế hệ trẻ hơn, lớn lên trong một hoàn cảnh kinh tế khá hơn, có cách tiếp cận riêng trong việc thảo luận về đề tài cải cách chính trị.

Ở Việt Nam trước đây, thảo luận về cải cách là lãnh vực riêng của các nhà trí thức. Nhưng giờ đây, theo giáo sư Jonathan London của Đại học Thành phố Hồng Kông, internet đang mở rộng cuộc thảo luận tới một khối người đông đảo hơn.

“Chúng ta đang thấy sự du nhập hoặc đa dạng hóa của những mô thức bày tỏ quan điểm chính trị. Và dĩ nhiên sức hấp dẫn của truyền thông xã hội ở Việt Nam là nó mang lại cho người dân Việt Nam một điều gì đó rất đặc biệt. Đó là tự do diễn đạt, là ngôn luận chính trị không qua trung gian. Đó là một việc thật sự mới mẻ ở Việt Nam và dĩ nhiên nó làm cho người ta cảm thấy phấn khởi.”

” Điều mà chúng ta đang chứng kiến là cuộc tranh đấu để thấy được những gì làm nên quyền tự do ngôn luận ở Việt Nam…

Jonathan London, Ðại học thành phố Hong Kong.”

Trong lúc các blogger chính trị tìm cách truyền bá thông tin và gây ảnh hưởng lên hàng triệu người sử dụng internet, chính quyền ở đây đang chật vật để tìm hiểu và quản lý diễn đàn mới của cuộc thảo luận chính trị. Giáo sư London cho rằng vụ xử Đinh Nhật Uy nêu bật mối căng thẳng đó.

“Một mặt, những người Việt Nam thuộc mọi thành phần đang đang ứng phó với một cuộc bàn thảo không ngừng thay đổi về xã hội và chính trị. Tôi nghĩ rằng đó là một quá trình mà tự bản thân nó là quá trình rất thú vị và phức tạp. Và mặt khác, đây là một vấn đề chính trị. Điều mà chúng ta đang chứng kiến là cuộc tranh đấu để thấy được những gì làm nên quyền tự do ngôn luận ở Việt Nam.”

Ông Phil Robertson của tổ chức Human Rights Watch cho biết ông tin là cáo trạng nhắm vào ông Đinh Nhật Uy có mục đích hăm dọa để những nhân vật tranh đấu và gia đình của họ không đi theo con đường của ông.

Nhiều người trong gia đình của các nhân vật bất đồng chính kiến đã sử dụng mạng internet để tranh thủ sự ủng hộ cho cuộc vận động của họ.

” Chúng tôi làm việc này cho tương lai. Tôi có một đứa con trai và tôi nghĩ về nó rất nhiều. Cho nên tôi nghĩ rằng điều mà tôi đang làm là làm cho nó…

Nguyễn Trí Dũng, con trai blogger Ðiếu Cày.”

Ông Nguyễn Trí Dũng, con trai của blogger Điếu Cày đang bị bỏ tù, cũng dùng trang Facebook của mình để vận động cho cha ông được thả. Ông nói rằng ông có thể bị bắt vì Điều 258 nhưng ông sẵn sàng chấp nhận hậu quả.

“Tôi không biết Kha và Uy nghĩ gì, nhưng tôi nghĩ rằng chúng tôi làm việc này cho tương lai. Tôi có một đứa con trai và tôi nghĩ về nó rất nhiều. Cho nên tôi nghĩ rằng điều mà tôi đang làm là làm cho nó và mẹ tôi hiểu được điều đó.”

Theo Human Rights Watch, 61 nhà hoạt động và bất đồng chính kiến ở Việt Nam đã bị tòa án Việt Nam kết tội trong năm nay, tăng đáng kể so với con số khoảng 40 người của cả năm 2012. Ông Robertson cho biết ông lo ngại là vụ xử Đinh Nhật Uy chứng tỏ xu hướng này sẽ tiếp tục.

Tôi Không Xin

Tôi Không Xin

Tôi không xin cả cuộc đời
Chỉ mong một chút tình người Việt Nam
Đời tôi nắng dãi mưa dầm
Ôm thương nhớ đứng gọi thầm tên nhau
Con tôi lưu lạc phương nào
Đứa ra miền Bắc, đứa vào miền Nam
Đứa về theo núi theo sông
Chết trong Trại Cấm, chết lòng biển sâu
Nhà tôi dột nát đã lâu
Bốn nghìn năm để một màu khăn tang
Tôi người hành khất Việt Nam
Ngồi nghe máu nhỏ xuống bàn tay khô
Tôi không giành giựt cơ đồ
Chỉ xin một chút tự do làm người.

Khuyết Danh