Phương Cách Xóa Nghèo

Phương Cách Xóa Nghèo

Một người nghèo hỏi Đức Phật:


– Tại sao con nghèo như thế? Phật nói:

– Vì con chưa học được cách bố thí cho người khác. Người ấy hỏi:

– Con không có thứ gì cả, thì lấy gì con bố thí.” Đức Phật dạy:

– Cho dù con hoàn toàn không có cái gì, con vẫn có thể thực hiện bố thí 7 thứ


1. Nhan thí – Bố thí nụ cười,

2. Ngôn thí – Bố thí ái ngữ, nói lời hay.


3. Tâm thí – Bố thí tâm hòa ái, lòng biết ơn.


4. Nhãn thí – Bố thí ánh mắt nhìn thẳng hiền từ.

5. Thân thí – Bố thí hành động nhân ái.


6. Tọa thí – Bố thí nhường chỗ cho người cần.


7. Phòng thí – Bố thí lòng bao dung

S.T.

MÔI-SÊ THỤ GIÁO

MÔI-SÊ THỤ GIÁO

Có người đã kể về Môi-sê như sau:

Trước khi được sai đi lãnh đạo cuộc giải phóng dân Do thái khỏi ách nô lệ bên Ai cập, Môi-sê đã đến thụ giáo với một vị thầy nổi tiếng tại vùng núi Ma-đi-an.

Qui luật tối thượng mà vị này buộc Môi-sê phải giữ trong suốt thời gian thụ huấn là tuyệt đối giữ thinh lặng.

Ngày ngày thầy trò cùng ngao du sơn thủy.  Ðứng trước núi non hùng vĩ và bao vẻ đẹp của thiên nhiên, Môi-sê cảm thấy không gì dễ và thích thú cho bằng được ở thinh lặng.

Thế nhưng, một hôm, khi hai thầy trò đang đi dọc theo bờ biển, Môi-sê bỗng thấy một bé trai đang chới với trong nước, và người mẹ kêu la cầu cứu inh ỏi.  Môi-sê không thể giữ im lặng được trước một cảnh tượng như thế.  Ông cất tiếng hỏi thầy:

– Thưa thầy, thầy không làm gì để cứu đứa bé sao?

Nhưng vị thầy làm dấu bảo thinh lặng rồi tiếp tục đi.

Môi-sê bước theo thầy mà lòng không yên chút nào.  Ông cứ suy nghĩ tại sao thầy mình lại nhẫn tâm như thế?  Ði được một đoạn Môi-sê bỗng dừng lại giơ tay chỉ ra biển và nói với thầy:

– Thầy nhìn kìa, cả một chiếc thuyền chở đầy người đang đắm kìa!

Lại một lần nữa Môi-sê được thầy ra lệnh giữ thinh lặng và tiếp tục đi, như thế họ không cần phải quan tâm đến những gì đang xảy ra trước mắt.

Tâm hồn nhạy cảm của Môi-sê càng bối rối thêm nữa.  Ông đưa chuyện ấy thưa với Chúa và muốn biết tại sao thầy mình đã cư xử như vậy.  Chúa đã biện minh cho cử chỉ của thầy như sau:

– Thầy của con hoàn toàn có lý.  Ðứa bé chới với bên bờ biển chỉ là một dàn cảnh để khai mào một cuộc chiến tranh khốc liệt giữa hai dân tộc.  Còn chiếc thuyền đang đắm ngoài khơi là thuyền của một bọn cướp đang chuẩn bị tấn công một ngôi làng ven biển.

Thầy của con đã có lý, để giữ con đứng bên ngoài những hành động tội ác ấy.

******************************************

Tư tưởng và hành động của Thiên Chúa thường không giống với tư tưởng và hành động của con người.

Thánh Kinh kể lại rằng Môi-sê đã được nuôi dưỡng trong triều đình Ai cập, nhưng ông vẫn luôn ý thức được nguồn gốc Do thái của mình.

Một hôm chứng kiến cảnh một người Ai cập hành hạ một người Do thái.  Nhìn chung quanh không thấy có ai, Môi-sê đã ra tay giết chết người Ai cập rồi vùi xác người đó dưới cát.  Ngày hôm sau thấy hai người Do thái đang xâu xé nhau, Môi-sê đến can thiệp.  Nhưng một trong hai người đã đe dọa tố cáo ông về tội giết người Ai cập hôm trước.  Bị bại lộ, Môi-sê đành rời bỏ cung điện và trốn lên núi.

Môi-sê đã tưởng mình hành động đúng.  Ông không biết rằng Chúa đang có một chương trình, một kế hoạch đòi hỏi ông phải suy nghĩ, chờ đợi và kiên nhẫn hơn.

Sống đức tin là một hành trình đi vào kế hoạch của Thiên Chúa.  Qui luật tối thượng của cuộc hành trình ấy chính là thinh lặng.

Thinh lặng trước những ồn ào, dành dật của cuộc sống.  Thinh lặng trước những đam mê sôi sục và những tính toán đê hèn.

Thinh lặng để không ngừng lắng nghe tiếng Chúa trong từng giây phút, từng biến cố của cuộc sống.

R. Veritas

******************************************

Lạy Thiên Chúa, Đấng ưa thích sự thinh lặng, xin dạy chúng con thinh lặng để ở một mình với Ngài, trò chuyện, lắng nghe và thấm nhuần Lời Hằng Sống.

Xin dạy chúng con thinh lặng nơi con mắt, biết nhắm lại trước những vấp váp của tha nhân, biết quay đi trước những dịp tội gây xao xuyến.

Xin dạy chúng con thinh lặng nơi đôi tai,để nghe được tiếng kêu của người nghèo đói, để khép lại trước những mời mọc của ma quỷ.

Xin dạy chúng con thinh lặng nơi miệng lưỡi, để biết ca tụng Chúa và đem lại an vui cho muôn người, tránh cho mọi lời nói gây đau đớn đổ vỡ.

Xin dạy chúng con thinh lặng nơi trí khôn,để mở ra trước sự thật và khép lại trước dối trá.

Cuối cùng xin dạy chúng con thinh lặng nơi quả tim,để tránh xa mọi ích kỷ,thù hằn,ghen ghét,để yêu mến và ước ao Thiên Chúa trên hết mọi sự. Amen!

From: ngocnga_12

 

ĐÂY CHIÊN THIÊN CHÚA

ĐÂY CHIÊN THIÊN CHÚA

TGM Ngô Quang Kiệt

Trong Thánh Lễ, ta đọc Chiên Thiên Chúa nhiều lần.  Có lẽ ít người hiểu được ý nghĩa của cụm từ “Chiên Thiên Chúa”.  Nhưng khi Gioan Baotixita giới thiệu Chúa Giêsu cho dân Do Thái: “Đây là Chiên Thiên Chúa” thì người Do Thái hiểu rõ ý nghĩa của từ ngữ.

Trong Kinh Thánh, chiên được dùng làm biểu tượng cho những người hiền lành, đạo đức.  Trong dụ ngôn về ngày phán xét, Chúa đã tách chiên ra khỏi dê.  Chiên ở bên phải, dê ở bên trái.

Thế nhưng chiên còn có một ý nghĩa sâu xa hơn.  Hằng năm, vào Lễ Vượt Qua của người Do Thái, mỗi gia đình có tục lệ ăn thịt một con chiên.  Phải lựa con chiên non dưới một năm tuổi, tốt đẹp, không tì vết.  Người Do Thái ăn thịt Chiên Vượt Qua, không phải để mừng mùa đông đã qua và mùa xuân vừa mới khởi đầu.  Nhưng là để kỷ niệm ngày Chúa giải phóng họ khỏi ách nô lệ Ai Cập.

Lễ Vượt Qua được cử hành vào đầu mùa xuân.  Người Do Thái nhớ đến con chiên.  Con chiên đã chết cho họ được sống.  Máu chiên đã đưa họ ra khỏi mùa đông tăm tối, tiến vào mùa xuân tươi sáng.  Máu chiên đã giúp giải thoát khỏi ách nô lệ Ai Cập, đưa họ về miền Đất Hứa, sống trong tự do.

Chúa Giêsu đã chịu tử hình vào dịp Lễ Vượt Qua của người Do Thái.  Bữa tiệc ly chính là tiệc Lễ Vượt Qua mà Chúa Giêsu ăn với các môn đệ.  Chịu chết vào dịp Lễ Vượt Qua, Chúa Giêsu chính là con chiên của Thiên Chúa bị sát tế để cứu nhân loại.

Chúa Giêsu là con chiên hiền lành, không hé môi khi bị đem đi xén lông.  Người khiêm nhường gánh lấy tội lỗi nhân loại.

Bản tiếng Việt dịch là Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian.  Từ ngữ “xóa” là một cách nói văn hoa nhẹ nhàng, nhưng không lột hết ý nghĩa của nguyên ngữ.  Tiếng Hy Lạp dùng từ ‘airein’, tiếng La tinh dùng từ ‘tollit’ có nghĩa là nhận lấy vào mình, gánh lấy, vác lấy.  Có lẽ nên dịch là Chiên Thiên Chúa, Đấng ‘gánh’ lấy tội nhân loại thì đúng hơn.  Xóa là đứng ngoài cuộc.  Đức Giêsu không đứng ngoài cuộc.  Người đã nhập cuộc, gánh lấy thân phận con người, và nhất là gánh lấy tội lỗi của con người.  Chính vì gánh lấy tội lỗi mà Người, Đấng hoàn toàn trong sạch, vô tội đã chịu hạ mình xếp hàng giữa những người tội lỗi xin Gioan rửa tội.  Chính vì gánh lấy tội lỗi nhân loại mà Người lui tới với những người tội lỗi, chuyện trò với họ, ăn uống đồng bàn với họ.  Nhưng nhất là chính vì gánh lấy tội nhân loại mà Người phải chịu chết giữa hai tội phạm, đồng số phận với họ, đồng bản án với họ, như những người trộm cướp.

Người gánh lấy tội của ta để ta được tha thứ.  Người hạ mình xuống để ta được nâng lên.  Người trở nên nghèo hèn để ta được giàu có.  Người làm con loài người để ta được làm con Thiên Chúa.  Người trở nên yếu hèn để ta được nên mạnh mẽ.  Người chịu nhục nhã để ta được vinh quang.  Người nhận lấy thân phận nô lệ để ta được tự do.  Người cam lòng chịu chết để trả lại cho ta sự sống.

Người tín hữu thường được gọi là “Con chiên của Chúa”.  Danh hiệu đó ngầm chứa một lời cầu chúc: Mong cho người tín hữu được xếp vào loại ‘chiên’ trong ngày phán xét.  Được đứng bên hữu Vua Thẩm Phán.  Được vào hưởng vinh quang trong nước Chúa.

Nhưng danh hiệu đó phải chăng cũng gợi lên một ước mong.  Ước mong người tín hữu sống theo gương của Chiên Thiên Chúa.  Ước mong những con chiên con nối gót theo chiên mẹ đầu đàn đi vào con đường hiền lành khiêm nhường.  Ước mong đoàn chiên tự hiến đời mình như một của lễ dâng lên Thiên Chúa.  Và ước mong đoàn chiên gánh lấy số phận của người khác, để yêu thương, đoàn kết, liên đới, chia sẻ với anh em tất cả mọi niềm vui nỗi buồn của họ.

Lạy Chiên Thiên Chúa, Đấng gánh tội con, xin thương xót con.

TGM Ngô Quang Kiệt

From: langthangchieutim

 

 

10 điều suy ngẫm !

10 điều suy ngẫm !


1. Cầu nguyện không phải là “bánh xe dự phòng” để lấy ra khi gặp khó khăn, nhưng là “tay lái” để lái đi đúng đường suốt cuộc tạm hành trên đất nầy.

2. Tại sao xe hơi có KIẾNG TRƯỚC lớn hơn nhiều so với KIẾNG CHIẾU HẬU? Vì QUÁ KHỨ của chúng ta không quan trọng so với TƯƠNG LAI. Vậy, hãy nhìn thẳng phía trước và đi tới.

3. Tình bạn như một QUYỂN SÁCH. Chỉ cần vài phút để đốt đi, nhưng cần vài năm để viết.

4. Tất cả những điều mình có trong đời sống nầy đều tạm bợ. Nếu được hạnh thông, hãy vui hưởng, vì nó sẽ chóng qua. Nếu không thuận lợi, cũng đừng lo lắng, vì nó cũng sẽ không kéo dài.

5. Bạn cũ là Vàng! Bạn mới là Kim Cương! Nếu ta có Kim Cương, đừng quên Vàng! Vì muốn giữ được Kim Cương, ta luôn cần Vàng để bọc Kim Cương!

6. Thường khi ta mất hy-vọng và nghĩ đây là đoạn cuối đường, THƯỢNG ĐẾ ở trên cao cười và nói: “Hãy thư giản, con yêu của ta, đó chỉ là khúc quanh, chứ không phải là đường cùng.

7. Khi Thượng Đế giải quyết những vấn đề của ta, ta đặt niềm tin nơi Ngài. Khi Thượng Đế không giải quyết những vấn đề của ta, Ngài đặt niềm tin vào khả năng của ta.

8. Một người mù hỏi thánh Anthony: “Có thể còn điều nào khổ hơn là bị mù không? Ông thánh trả lời: “Có, lúc ngươi mất định hướng!”

9. Khi chúng ta cầu nguyện cho người khác, Thượng Đế lắng nghe và ban phước cho người đó, và đôi khi chúng ta bình an, hạnh phúc, hãy nhớ rằng một người nào đó đã cầu nguyện cho ta.

10. Sự LO-LẮNG không dẹp bỏ được sự KHÓ-KHĂN ngày mai. Nhưng nó lấy đi sự BÌNH-AN hiện tại.

“Tất cả những điều mình có trong đời sống nầy đều tạm bợ”

BÀI GIÁO LÝ CỦA ĐTC PHANXICÔ VỀ BÍ TÍCH RỬA TỘI

BÀI GIÁO LÝ CỦA ĐTC PHANXICÔ VỀ BÍ TÍCH RỬA TỘI

Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ

“Nhờ Bí Tích Rửa Tội, chúng ta có khả năng tha thứ và yêu thương ngay cả những người xúc phạm đến mình và làm tổn thương mình, chúng ta có thể nhận ra trong những người rốt hết và những người nghèo khổ nhất khuôn mặt của Chúa là Đấng đến thăm và gần gũi chúng ta.”

Dưới đây là bản dịch bài Giáo Lý ĐTC Phanxicô ban hành ngày 8 tháng 1 năm 2014 trong buổi Triều Yết Chung được tổ chức tại Quảng Trường Thánh Phêrô.  Hôm nay ĐTC bắt đầu loạt bài giáo l‎ý‎ về các Bí Tích, mở đầu bằng Bí Tích Rửa Tội.

* * *

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Hôm nay chúng ta bắt đầu một loạt bài giáo lý về các Bí Tích, và Bí Tích thứ nhất là Bí Tích Rửa Tội.  Với một sự trùng hợp ngẫu nhiên rất hạnh phúc là Chúa Nhật tới đánh dấu Lễ Chúa chịu Phép Rửa.

1. Bí Tích Rửa Tội là Bí Tích mà trên đó đức tin của chúng ta được xây dựng và cho chúng ta trở thành phần tử sống động của Đức Kitô và Hội Thánh của Người. Với Bí Tích Thánh Thể và Thêm Sức, Bí Tích Rửa Tội tạo thành các Bí Tích gọi là “Khai Tâm Kitô Giáo”, tạo thành một biến cố Bí Tích lớn duy nhất, cho chúng ta được trở nên giống Thiên Chúa và biến chúng ta thành một dấu chỉ sống động của sự hiện diện và tình yêu của Ngài.

Nhưng chúng ta có thể thắc mắc là: Bí Tích Rửa Tội có thực sự cần thiết để sống như Kitô hữu và để theo Chúa Giêsu không? Theo cơ bản đó có phải một nghi lễ đơn giản, một hành động chính thức của Hội Thánh để đặt tên cho một em bé không?  Đó là một câu hỏi có thể được đặt ra. Và những lời của Thánh Tông Đồ Phaolô viết đã làm sáng tỏ điều này: “Anh em không biết rằng: khi chúng ta được dìm vào nước thanh tẩy, để thuộc về Đức Kitô Giêsu, là chúng ta được dìm vào trong cái chết của Người sao? Vì được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta đã cùng được mai táng với Người. Bởi thế, cũng như Người đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới” (Rm 6:3-4 ). Vì vậy, nó không phải là một thủ tục!  Bí Tích Rửa Tội là một hành động chạm đến cuộc sống chúng ta một cách sâu xa.  Một em bé đã được Rửa Tội và một em bé chưa được ữa tội không giống nhau!  Một người được Rửa Tội không giống một người chưa được Rửa Tội.  Chúng ta, qua Bí Tích Rửa Tội, được đắm mình trong nguồn vô tận của sự sống là cái chết của Chúa Giêsu, hành động cao quí nhất của tình yêu trong lịch sử; và nhờ tình yêu này mà chúng ta có thể sống một đởi sống mới, không còn đưới quyền thống trị của sự dữ, của tội lỗi và của sự chết, nhưng trong sự hiệp thông với Thiên Chúa và với anh chị em mình.

2. Việc nhiều người trong chúng ta không nhớ cuộc cử hành Bí Tích này của mình là điều hiển nhiên, nếu chúng ta đã được Rửa Tội một thời gian ngắn sau khi sinh ra. Tôi đã hỏi câu hỏi này hai hoặc ba lần ở Quảng Trường này: Ai biết ngày Rửa Tội của mình, giơ tay lên.  Biết ngày mà tôi được dìm vào dòng nước cứu độ của Chúa Giêsu là điều quan trọng.  Tôi xin phép khuyên anh chị em một điều.  Nhưng còn hơn một lời khuyên nhủ, một bài tập ở nhà cho ngày hôm nay.  Hôm nay ở nhà, anh chị em hãy tìm và hỏi xem ngày Rửa Tội của mình là ngày nào, và do đó anh chị em sẽ biết thật rõ ngày Rửa Tội tốt đẹp ấy.  Biết ngày Rửa Tội của chúng ta là biết một ngày rất vui.  Nếu chúng ta không biết nó, chúng ta có nguy cơ mất ký ức về những gì Chúa đã làm trong chúng ta, ký ức về hồng ân mà chúng ta đã nhận được.  Chung cuộc chúng ta chỉ coi nó như là một biến cố đã xảy ra trong quá khứ – và thậm chí không do ý muốn của chúng ta, nhưng do ý‎ muốn của cha mẹ chúng ta – điều đó không còn có bất kỳ ảnh hưởng nào đến hiện tại của chúng ta.  Chúng ta cần phải đánh thức k‎‎‎ý ức về ngày Rửa Tội của mình.  Chúng ta được mời gọi sống Bí Tích Rửa Tội của chúng ta mỗi ngày, như một thực tại có thật trong cuộc sống của mình.  Nếu chúng ta theo Chúa Giêsu và ở lại trong Hội Thánh, bất chấp những giới hạn, những yếu đuối và tội lỗi của chúng ta, chính nhờ Bí Tích này mà qua đó chúng ta đã trở thành những tạo vật mới và đã mặc lấy Đức Kitô.  Thực ra, chính nhờ Bí Tích Rửa Tội mà chúng ta được giải thoát khỏi Tội Nguyên Tổ, chúng ta được ghép vào mối liên hệ của Chúa Giêsu với Thiên Chúa Cha, chúng ta thành những người mang một niềm hy vọng mới, vì Bí Tích Rửa Tội cho chúng ta niềm hy vọng mới này: hy vọng bước đi trên con đường cứu độ suốt cuộc đời mình.  Và không điều gì hoặc không ai có thể dập tắt niềm hy vọng này, bởi vì hy vọng không làm chúng ta thất vọng.  Hãy nhớ rằng: hy vọng nơi Chúa không bao giờ làm cho chúng ta thất vọng.  Nhờ Bí Tích Rửa Tội, chúng ta có khả năng tha thứ và yêu thương ngay cả những người xúc phạm đến mình và làm tổn thương mình, chúng ta có thể nhận ra trong những người rốt hết và những người nghèo khổ nhất khuôn mặt của Chúa là Đấng đến thăm và gần gũi chúng ta.  Bí Tích Rửa Tội giúp chúng ta nhận ra trên khuôn mặt những người nghèo, những người đau khổ, ngay cả trong những người lân cận của mình, khuôn mặt của Chúa Giêsu.  Tất cả những điều này có thể được là nhờ vào sức mạnh của Bí Tích Rửa Tội!

3. Một yếu tố quan trọng cuối cùng. Và tôi đưa ra câu hỏi: Một người có thể tự Rửa Tội cho mình được không? Không ai có thể tự rửa tội cho mình được!  Không ai.  Chúng ta có thể yêu cầu được rửa tội, mong muốn được rửa tội, nhưng chúng ta luôn luôn cần một người nhân danh Chúa ban Bí Tích này cho chúng ta.  Bởi vì Bí Tích Rửa Tội là một món quà được ban tặng trong bối cảnh quan tâm và chia sẻ huynh đệ.  Luôn luôn trong lịch sử, một người rửa tội cho một người khác, một người khác, và một người khác nữa… đó là một chuỗi, một chuỗi ân sủng.  Nhưng, tôi không thể tự làm phép rửa cho mình: tôi phải xin người khác rửa tội cho tôi.  Đó là một hành động huynh đệ, một hành động liên kết với Hội Thánh.  Trong việc cử hành Bí Tích Rửa Tội, chúng ta có thể nhận ra những đặc tính chân chính nhất của Hội Thánh, là một người mẹ tiếp tục sinh ra những con cái mới trong Đức Kitô, trong hoa quả của Chúa Thánh Thần.

Vậy giờ đây chúng ta hãy xin Chúa bằng cả tâm hồn để chúng ta có thể cảm nghiệm nhiều hơn và nhiều hơn nữa trong cuộc sống hàng ngày, ân sủng này mà chúng ta nhận được qua Bí Tích Rửa Tội.  Để khi gặp gỡ chúng ta, anh chị em chúng ta có thể gặp những con cái thật của Thiên Chúa, những người em thật sự của Chúa Giêsu Kitô, các phần tử thật sự của Hội Thánh.  Và đừng quên bài tập ở nhà ngày hôm nay: tìm kiếm, hỏi cho biết ngày chịu phép Rửa Tội của mình.  Như một người biết ngày sinh của mình, tôi cũng phải biết ngày rửa tội của tôi, vì đó là một ngày lễ!

Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ

http://giaoly.org/vn/

Tác giả: GLV. Phạm Xuân Khôi (chuyển ngữ)

MÙA XUÂN, ÁO MỚI

MÙA XUÂN, ÁO MỚI

Phan sinh Trần

Bạn ơi khi mình yêu ai thì mỗi buổi gặp gỡ là một kỷ niệm rất thích thú phải không ?

Trong buổi hẹn hò, mình hay chú ý hình dáng của người yêu, chú ý cái áo thường là rất đẹp của người yêu mặc. Tôi còn nhớ, mình đã từng làm bài thơ này khi thấy người yêu mặc áo sơ mi lụa hồng phấn, lần đầu đến thăm tôi tại nhà trong Ngày đầu Xuân.

Chiều mồng ba Tết đến nhà,

Ôi em mắt biếc, lụa là mới xinh

Áo hồng em mặc lung linh

Mịn màng má trắng, môi trinh nguyên nồng

Thơ ngây, e ấp em cười

Anh nghe xuân mới sáng tươi cuộc đời

Lòng anh nở hội sao đăng

Đơn sơ áo lụa mà răng nhớ hoài…

Đó là chuyện của Ngày xưa còn bé phải không? Bây giờ thì sao rồi.

Đáng tiếc là tình yêu thế gian dù ít, dù nhiều cũng có sự  “bể mộng”, chưa lấy thì “nay ước mai ao “, tranh đấu mãi để có nhau, nhưng khi lấy được rồi thì lại “ sáng mắt như tôi mới chừa”. Nếu bạn lập gia đình rồi thì  biết rõ điều này phải không ? Vì những truân chuyên trong cuộc đời làm cho hoa mộng vơi vãi đi rất nhiều, những khiếm khuyết của uyên ương lộ ra sau ngày cưới cũng làm phôi pha hình ảnh của thần tượng. Có cách nào làm sao để tình còn mãi, tinh nguyên và mặn nồng ?…

Trong tình yêu dành cho Chúa Giê Su mình cũng mặc áo mới khi bắt đầu mối tình đầu với Ngài. Bạn có biết khi nào  ta từng mặc áo thiêng liêng, áo mới Chúa ban không? Có thể bạn sẽ nói vào dịp ta rửa tội hay thêm sức. Thực ra việc này cũng có thể xảy ra vào một dịp ta tham dự tĩnh tâm Canh Tân Đặc sủng, hay Tĩnh tâm Linh Thao, Tĩnh tâm Coursillo, Thăng Tiến Hôn Nhân…, bạn có thể đã từng được mặc Áo mới Chúa tặng . Điều khác biệt là Áo đó không phải do mình mua rồi may cắt theo sở thích mà là Áo mới thiêng liêng do Chúa Giê Su ban tặng và Chúa Thánh linh mặc cho ta.  Áo đó chính  là tình trạng của một tấm lòng hoàn toàn mới, đơn sơ, vui mừng do Chúa ban tặng khi Ngài thăm viếng hồn ta và rồi Thánh Linh của Ngài  làm cho ta thêm mãi tình yêu mến Chúa Giê Su quá đỗi, quá chừng. Tình yêu đó  làm cho tim bạn tan chảy và muốn thuộc về Chúa trọn vẹn ,  không muốn phạm bất cứ một tội nào nữa làm buồn lòng Chúa kính yêu của mình phải không ? Trong cuộc tình với Chúa, nó rất thơ mộng và tuyệt vời , tôi và một số bạn luôn gọi nó là Tình Đầu với Chúa vì nó có đủ mọi ưu điểm của Tình Đầu

Có một bài hát nói lên tình trạng này , mà tôi rất thích, bài “ at the foot of the Cross” , lời của bài có  tâm tình như sau :

Nơi gốc cây Thập Tự ,
Chỗ  ân huệ và thương tổn gặp  nhau
Ngài đã tỏ tình Ngài cho con
Qua án xử mà Ngài nhận lấy

Và Chúa đã chiếm trái tim con ,
Và Chúa chiếm đoạt tim con rồi.
Giờ thì con có thể …
đổi tro bụi này   lấy thanh cao đẹp đẽ,
Con đội ơn tha thứ như vương niệm lấp lánh.
hôn đôi chân của lòng xót thương.
Con đặt hết gánh nặng dưới chân cây Thập Tự

At the foot of the Cross ( Xin bấm vào link)

Trong cuộc tình,  Chúa mặc Áo mới cho mình, đặc điểm của Áo mới Chúa ban là gì ?

Áo trắng của lòng tinh tuyền mặc vào ta không còn ham muốn tiền tài , danh vọng và lạc thú ở Đời nữa

Áo nhẹ như tơ trời của lòng đơn sơ, bé nhỏ mặc áo vào,  lòng ta sẽ rất nhẹ nhàng như mây trời, thậm chí cái “Tôi”  vốn to như ngọn núi có thể tan chảy hồi nào mà mình không hay biết.

Áo điểm tô bằng ngọc ngà của sự tha thứ và yêu thương, mặc vào lòng ta luôn chạnh thương và sắn lòng tha thứ cho Anh Em một cách dễ dàng trong sự rộng lượng, thông cảm về thân phận yếu đuối của con người.

Áo mượt mà óng ả của tình bác ái  đi đâu ta cũng muốn phục vụ và cầu nguyện cho mọi hoàn cảnh khó khăn của Anh Em.

Áo của Chúa ban còn vô vàn điều tuyệt vời có lẽ khó mà diễn tả , nhưng cách để biết rõ về nó là ta hãy đầu phục Chúa hoàn toàn trong một buổi lễ rửa tội thiêng liêng , khi ta có dịp để thực sự từ bỏ mọi oán hờn , mọi đam mê, đầu phục Chúa hoàn toàn và để Chúa khoác áo mới vào cuộc đời của mình. Áo đó thực ra là một cuộc cách mạng triệt để làm thay đổi hoàn toàn cuộc đời của mình , giống như tình trạng được bắt đầu lại hay là sinh lại lần thứ hai, Chúa Giê Su từng minh xác với Ông Ni cô Đê Mô rằng:

–          Quả thật, quả thật, tôi bảo ông, ai không sinh ra bởi Nước và Thần khí,

thì không thể vào được Nước Thiên Chúa. ( Gioan 3: 3)

Kinh Thánh cũng nói về dụ ngôn Nước Trời giống như một tiệc cưới mà trong đó khách mời ai cũng phải mặc y phục dành cho tiệc cưới :

–          Nhà vua đi vào coi khách dự tiệc, mới thấy ở đó một người không mặc y phục lễ cưới, nên mới nói với y: “Này bạn, làm bạn vào đây mà lại không có y phục lễ cưới?” Người ấy câm miệng. Bấy giờ, vua bảo quân hầu: “Hãy trói chân tay nó lại mà đuổi nó ra tối tăm bên ngoài: ở đó nó sẽ phải khóc lóc và nghiến răng”.( Mattheu 22:11-13)

Không ai vào được nước Trời nếu không có một đời sống mới, có sự thay đổi giống như tình trạng mình mặc Y phục thánh thiện tinh tuyền trong tiệc cưới Nước Trời .

Bây giờ, tôi xin phép được trỏ lại với câu hỏi ban đầu, làm sao cho tình trần gian được bảo tồn ?

Tình đầu của Chúa, Áo Chúa ban tặng có giúp ích gì cho Tình yêu riêng tư đôi lứa giữa bạn và người yêu trần gian không ? Vâng , theo kinh nghiệm mà tôi nhận ra thì có, và có rất nhiều là đằng khác, nó làm cho Tình yêu trần gian có thêm yếu tố yêu vô điều kiện, yêu vô vụ lợi và làm cho đôi uyên ương sẵn lòng hy sinh cho nhau , làm cho uyên ương thêm nhiều hạnh phúc ý nghĩa đến dài lâu,  vì đơn giản là khi ta biết  nhìn lại mình,  khi ta đơn sơ nhỏ bé thì Ta cũng đương nhiên sẽ dễ yêu người, yêu nhau hơn .

Yêu Chúa rồi Yêu nhau , Yêu Người như là một hệ quả tất nhiên từ nguồn sung mãn của Đấng vô vàn kính yêu. Kinh nghiệm của chúng ta là càng yêu Chúa thì càng yêu nhau hơn.

Một người trí thức VN nhập đạo nói về cảm nghiệm “Đi tìm Giáo Hội”

Một người trí thức VN nhập đạo nói về cảm nghiệm “Đi tìm Giáo Hội”


Vũ Văn An

01/11/2014

Nhiều người thích đọc lời mô tả hết sức cổ điển về Giáo Hội trong cuốn tiểu thuyết của Myles Connolly, viết năm 1951, đã hơn 60 năm qua, tựa là Dan England and the Noonday Devil. Lời mô tả này nhắc ta nhớ rằng Giáo Hội không phải là một định chế mà là một Thân Thể, là Chúa Kitô. Xin nhường lời cho Myles Connolly:

Với tôi, Giáo Hội là tất cả những điều quan trọng ở khắp mọi nơi. Giáo Hội là thẩm quyền và hướng dẫn. Giáo Hội là hy vọng và bảo đảm. Giáo Hội là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Giáo Hội là Đức Bà và Thánh Giuse. Giáo Hội là Thánh Phêrô và Đức Piô XII. Giáo Hội là giám mục và cha xứ. Giáo Hội là giáo lý và là mẹ đang cúi xuống nôi dạy ta đọc kinh tối. Giáo Hội là nhà thờ chính tòa thành Chartres và là túp lều với thánh giá trên nóc ở Ulithi. Giáo Hội là các tử đạo tại Colosseum và các tử đạo tại Uganda, các tử đạo tại Tyburn và các tử đạo tại Nagasaki. Giáo Hội là vị nữ tu già và cô dự tu mắt đầy tha thiết. Giáo Hội là gương mặt rạng rỡ của vị tân linh mục dâng thánh lễ mở tay, và là cậu bé giúp lễ ngái ngủ để lộ đôi giầy trắng chơi quần vợt đã cũ mèm dưới chiếc áo giúp lễ đen…

Giáo Hội là đỉnh tháp nhọn thoáng thấy từ cửa sổ xe lửa và là nhà thờ thu nhỏ hình thánh giá nhìn xa từ trên cao máy bay nhìn xuống. Giáo Hội là Thánh Lễ 6 giờ sáng với một nhúm thánh nhân vô danh tại chấn song rước lễ trong bóng tối mờ nhạt và là Thánh Lễ đại trào với đám đông vĩ đại và vẻ huy hoàng sáng lạn tại Nhà Thờ Thánh Phêrô… Giáo Hội là Ca Đoàn Nhà Nguyện Sistine và là đoàn rước kiệu Tháng Năm của trẻ em Trung Quốc miệng hát Lạy Nữ Vương Thiên Đàng ở Bắc Kinh.

Giáo Hội là tu sĩ Carthusian trẻ trung tại Monte Allegro và là tu sĩ Dòng Tên đang dạy nhận thức luận ở Tokyo. Giáo Hội là linh mục gốc Scheutveld của Bỉ đang chiến đấu chống bệnh ngủ tại Congo và là tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế đang tranh đấu chống thành kiến tại Vermont. Giáo Hội là tu sĩ Biển Đức, Augustinh, Thương Khó, Đa Minh, Phanxicô. Giáo Hội là mọi tu sĩ và đặc biệt Dòng Các Cha Xứ vĩ đại nhưng vô danh.

Giáo Hội là Nữ Tu Cát Minh đang đốt những ngọn nến cho buổi kinh chiều trong cái giá lạnh thê lương của Iceland và là Nữ Tu Đức Bà Namur đang may những chiếc khăn trùm Rước Lễ Lần Đầu tại Kwango. Giáo Hội là Nữ Tu Vincentian đang chăm sóc một người Da Đen Baptist sắp chết vì ung thư tại Alabama và là Nữ Tu Maryknoll đang đối diện với một ủy viên Cộng Sản tại Manchuria. Giáo Hội là Nữ Tu Dòng Trắng đang dạy những người Ả Rập nghề làm thảm tại Sahara và là Nữ Tu Chúa Chiên Lành tại St Louis đang cung cấp nơi ẩn náu cho một đứa trẻ bị bỏ rơi, một mái ấm cho con chiên lạc. Giáo Hội là Nữ Tiểu Muội của Người Nghèo đang thoa thuốc mỡ cho những vết lở loét của một ông già bị bỏ rơi ở Marseilles, là Nữ Tu Áo Xám đang phục vụ những người cùng khốn tại Haiti, là Nữ Tu Thánh Thể đang giúp một thanh niên Da Đen làm thơ tại New Orleans. Giáo Hội là Nữ Tu Bác Ái… Giáo Hội là tất cả các Nữ Tu khắp nơi.

Giáo Hội là người đàn bà nhăn nheo đang giữ cho tươi mát những bó hoa trước bàn thờ Đức Mẹ và là người nữ giáo lý viên trẻ đang dạy các tân tòng đi chân đất tại những đồi núi xa xôi. Giáo Hội là thiếu nữ đang từ bỏ cuộc chơi bài để lái các Nữ Tu tới trại giam và nhà người nghèo, và là người đàn bà tới từng cửa xin giúp đỡ các trẻ mồ côi. Giáo Hội là bà mẹ hãnh diện của vị linh mục và là bà mẹ đứt ruột đứt gan của tội nhân. Giáo Hội là tất cả các bà mẹ và bà chị bà em đang khóc, đang đau, và đang cầu nguyện để những người con trai,người anh, người em trai duy trì được đức tin.

….Giáo Hội là những bài giảng xấu và những bài giảng tốt, những ơn gọi giả và những ơn gọi thật. Giáo Hội là người thanh niên cao lớn đi Đàng Thánh Giá mỗi chiều và là người cha của mười đứa con đang đẩy xe đưa đứa con bệnh đi Lễ sáng Chúa Nhật tại Bệnh Viện Quận.

Giáo Hội là Thánh Martin và Thánh Martin de Porrès, Thánh Augustinô và Thánh Phocas, Thánh Grêgôriô Cả và Thánh Grêgôriô Thaumaturgus, Thánh Ambrôsiô và Charles de Foucault, Thánh Inhaxiô Tử Đạo, Thánh Thomas More và Thánh Barnaba. Giáo Hội là Thánh Têrêxa và Thánh Philomena, Gioan thành Arc và Thánh Winefride, Thánh Annê và Thánh Maria Euphrasia. Giáo Hội là mọi các thánh, xưa và nay, được nêu danh và không được nêu danh, và mọi kẻ tội lỗi.

Giáo Hội là tiếng bật ca Sáng Danh vào Thứ Bẩy Tuần Thánh và là hang đá tù mù trong Thánh Lễ hừng đông vào Lễ Giáng Sinh. Giáo Hội là phẩm phục mầu hồng của Chúa Nhật Laetare (Hãy Vui Lên) và là chiếc áo khoác làm việc mầu lam của linh mục đang làm việc với các lao công tại một hầm mỏ ở vùng Ruhr.

Giáo Hội là những đôi giầy mới bóng loáng và các khuôn mặt đầy tôn kính của cô dâu và chú rể Tháng Sáu đang qùy trước bàn thờ phủ hoa trắng trong Thánh Lễ Hôn Phối, và là người mẹ trẻ tái nhợt, bối rối tại giếng rửa tội, vì niềm vui của bà trộn lẫn với nỗi lo âu khi thấy đứa con đầu lòng khóc lời phản đối nước rửa tội. Giáo Hội là hàng nối đuôi dài, mờ ảo, nhấp nhô các hối nhân đang đứng chờ ngoài tòa giải tội lúc chạng vạng của một buổi chiều mùa đông, mỗi người đều cách biệt và cô đơn một cách long trọng với các tội lỗi của riêng mình, và là hình ảnh đang khom lưng của một linh mục in bóng lên các chiếc đèn chiếu của xe cảnh sát trên xa lộ tối đen khi ngài đọc những lời kinh cuối cùng trên thân xác tan nát đang nằm trên vỉa hè bên cạnh chiếc xe bẹp dúm.

Giáo Hội là Kinh Magnificat và là kinh tạ ơn đọc trước các bữa ăn. Giáo Hội là cuốn sách lễ nhầu nát và là bức tượng sứt mẻ của Thánh Antôn, là chiếc hộp thu tiền cho người nghèo và là chiếc chuông nhà thờ đã nứt nẻ. Giáo Hội là Chiếc Cửa qua đó tôi bước vào đức tin và là Chiếc Cửa qua đó, nếu Chúa muốn, tôi sẽ ra đi về miền vĩnh cửu.

Chổi cùn, bút lông vô giá trị

Giáo Hội quả là các thánh và những người tội lỗi. Năm 1986, tại Đà Lạt Việt Nam, một người trở lại Đạo Công Giáo năm 1949 lúc Việt Nam đang cựa mình thật mạnh trong giấc mơ độc lập của mình, cũng có cùng một ý nghĩ ấy về Giáo Hội. Đó là ông Nguyễn Khắc Dương, cựu quyền khoa trưởng khoa văn Đại Học Đà Lạt, tác giả hồi ký Quia Dilexit Humilitatem Meam (Vì Người Thích Sự Khiêm Nhường Của Tôi). Bỏ ngoài các nhận định về chính trị, là những nhận định có thể gây tranh cãi, cuốn tự thuật này qúy giá ở chỗ cho ta cái nhìn rất trung thực của một người, sau khi đã trải qua nhiều kinh nghiệm tâm linh, cuối cùng đã chọn Thầy Giêsu làm lẽ sống trong lòng Giáo Hội.

Nguyễn Khắc Dương vốn là em ruột Nguyễn Khắc Viện, một trong các lý thuyết gia hàng đầu về văn hóa của Cộng Sản Bắc Việt, nên hồi nhỏ, đương nhiên không thích Đạo Công Giáo. Cũng như nhiều người khác, cậu tin rằng Đạo này có trách nhiệm dẫn đường cho Pháp cướp nước ta. Đạo này còn là “tà đạo” dạy những điều mê tín dị đoan, có những lễ nghi kỳ quặc… Người Công Giáo lại “cứ quây quần trong mấy xứ đạo như tách rời khỏi cộng đồng dân tộc, do mấy cố đạo chỉ huy, gây ấn tượng làm sao ấy! Thấy người Công Giáo ra vào lui lủi nơi các toà giải tội, lên “lè lưỡi” rước lễ, rồi trở về mắt nhắm tay chắp gối quỳ – thật là không tài nào chịu nổi! Và nhìn người Công Giáo nào cũng có vẻ như bị “bùa mê”, như “mê” một cái gì đó, bị một ma lực nào quyến rũ, ám ảnh, mê hoặc (possédé, envouté)! Cho nên, chúng tôi – con nhà khoa bảng, học thức – hơi có vẻ khinh đạo Công Giáo, cho như là một hình thức quyến rũ, mua chuộc, mê lú, mà các cố đạo đã đánh bả cho một lớp người hạ lưu trong xã hội! Trong họ vừa có cái gì dễ ghét, vừa có cái gì đáng tội nghiệp như là những người bị mê hoặc”.

Nhưng cậu ấm con quan này thi hỏng chương trình Việt vì môn chính tả, nên bà mẹ gửi vào Huế học chương trình Pháp không có môn chính tả tại tư thục Công Giáo Thiên Hựu. “Vào học trường Thiên Hựu, tôi được dấn bước vào thế giới Công Giáo, mà dần dần khám phá ra những giá trị của nó”. Trước hết là sự tận tâm chức nghiệp của các linh mục giáo sư. “Điều thứ hai là ‘tình yêu người’ được bộc lộ ra qua cách đối xử”. Theo Nguyễn Khắc Dương, yêu khác thương. Khổng Giáo và Phật Giáo đều dạy thương người, thậm chí thương cả vạn vật nữa, “nhưng ‘yêu’ người thì hình như chỉ có đạo Kitô mới dạy và mới giúp người ta thực hiện được”. Vì yêu là xem người yêu như “một giá trị duy nhất vô nhị và không thể thay thế… và như thế là mình được nhìn nhận đúng phẩm giá làm người của mình, như là một ngã vị, một chủ thể duy nhất, như là được lên ngôi”. Yêu không hẳn là một đức hạnh (vertu) mà là một tác phong (comportement) “bắt nguồn từ một cảm thức dựa trên căn bản một nhận thức nào đó về giá trị con người”.

Nguyễn Khắc Dương cho rằng vị thượng tọa cậu quen biết, về mặt luân lý, “có lẽ ít linh mục Công Giáo nào sánh kịp”, có thể “liều chết cứu tôi, nhưng động thái (comportement) của ngài có cái gì lạnh nhạt. Tôi có cảm tưởng dù thương tôi hết sức, nhưng ngài thương tôi trong cái đại từ bi vô ngã đối với một chúng sinh vô ngã như bất cứ chúng sinh nào! Và tôi xin vô lễ (vì tôi rất kính mến ngài) mà cả gan suy diễn rằng có lẽ ngài xót thương cho cái chấp ngã hiện hữu của tôi, thay vì vui mừng vì hiện hữu của tôi như một ‘ngã vị’. Và xin thú thật rằng: tôi rất tôn kính Đức Thích Ca, nhưng mỗi lần chiêm ngưỡng tượng Ngài điềm nhiên trên toà sen, tôi vẫn có cảm tưởng như vậy. Tôi được chiếu rọi bởi ánh từ bi của Ngài, nhưng không có cảm tưởng được sưởi ấm cõi lòng bởi lửa yêu mến của Ngài”.

“Sau này tôi mới hiểu rằng cái ấn tượng người Công Giáo như bị “bùa mê thuốc lú”, bị “thần ám” (possédé), bị “huyễn hoặc” (envouté) không phải là không có lý do! Bởi vì trong căn bản, người Công Giáo là kẻ có cảm thức được yêu bởi Thiên Chúa, được yêu một cách khủng khiếp (được yêu mà cũng có thể nói là bị yêu, vì tình yêu nào cũng có tính cách ràng buộc: nợ tình) và được mời gọi đáp lại tình yêu như vậy. Có cái gì như kẻ si tình, chứ không phải bậc Đại Giác, Đại Ngộ như Phật dạy. Si ở đây bắt nguồn từ sự điên rồ của màu nhiệm Khổ giá (la folie de la croix); và như chữ Thương khó, khổ nạn (passion) không phải không có âm hưởng của cái gì như là đam mê (cũng là passion). Sự so sánh các thánh Kitô giáo với các thiền sư, đạo gia, thì một bên có cái gì da diết, đầy đam mê (passion), một bên thì thanh thản, đầy minh triết (sagesse)”.

Rồi nhờ học giáo lý, Nguyễn Khắc Dương khám phá ra Chúa Giêsu. “Cuộc đời của Đức Giêsu trước hết gợi lên lòng thương của tôi đối với một người vô tội bị oan khiên, sau là sự hấp dẫn của một người dịu dàng, đơn sơ, bình dị. Có thể nói tình cảm đầu tiên đối với Ngài là lòng thương mến (có pha trộn một chút tội nghiệp nào đó) hơn là lòng tôn kính đối với một bậc tôn sư: có một cái gì như tình bạn ít nhiều bình đẳng giữa hai người cùng hội cùng thuyền. Ấn tượng đầu tiên đối với Ngài có cái gì tương tự như sự an ủi của mẹ hiền, bạn quí, hàn gắn thương đau, khuyết điểm, khuyến khích về mặt cảm tính khi chán nản; sưởi ấm cõi lòng khi cô đơn – nhiều hơn là một vị tôn sư dạy một giáo thuyết”.

Cậu cho rằng “sự hấp dẫn của chúa Giêsu hình như do chính con người và cuộc đời của Ngài từ việc sinh ra trong máng cỏ, qua 30 năm âm thầm lặng lẽ, ba năm nay đây mai đó, trà trộn với dân chúng, rồi bị giết oan, nhiều hơn là do đạo lý Ngài truyền dạy. Bởi vì, xét về mặt tâm lý đạo đức thì các bài dạy của Ngài cũng chẳng có gì là cao siêu tuyệt vời, nhưng điều làm cho tôi cảm mến Ngài chính là “con người” và “cuộc sống” (gồm cả cái chết của Ngài): sa “personne” et sa “vie”. Đã có cảm tình với Ngài rồi thì khó quên, khó phai và hình như càng lâu càng thắm thiết hơn… Đối với các bậc thánh hiền khác, thì có thể nhớ bài dạy của Ngài mà quên đi con người và cuộc đời của các ngài. Đối với Đức Giêsu thì khác hẳn: đôi khi quên lời Người dạy, nhưng chính Ngài thì không quên được. Và có lẽ càng hay sống trái lời Ngài dạy, thì hình ảnh Ngài lại càng thêm xoáy vào tâm khảm… nhớ quay nhớ quắt, nhớ quằn quại đến độ không chịu được!… Thông minh, tài trí, dũng cảm… Có lẽ nhiều người hơn Giêsu, nhưng đáng yêu nhất thì có thể chỉ có duy nhất một mình Ngài mà thôi!”

Rồi cậu “gặp Pascal”, một thiên tài “cuối cùng đã vất bỏ tất cả để sống một cuộc đời cống hiến cho Chúa Giêsu! Vì sao? Vì Pascal đã cảm nghiệm được rằng Giêsu đã yêu Pascal đến chết, Giêsu đã nhỏ những giọt máu cho Pascal. Và Pascal đã nhìn nhận Giêsu là Thiên Chúa”

Nhưng hình như Đấng Giêsu này đã bị Giáo Hội do Người sáng lập, ít nhất là cái Giáo Hội trước mắt Nguyễn Khắc Dương, tức Giáo Hội Việt Nam đang ở lúc trưởng thành, phản bội. Vì cái Giáo Hội này đã biến “con chiên bổn đạo” thành “một đàn cừu của Panurge!”: khúm núm, khép nép, cúi đầu “trước một ông Trời làm chúa tể qua trung gian mấy cha cố”, nhất là các cha cố Tây. Cậu cho rằng “Tin vui cứu chuộc của Giêsu đã bị Giáo Hội biến thành một thứ bùa mê để thao túng, cầm buộc con người trong một xiềng xích tinh thần, làm cho con người trở nên ngoan ngoãn, hiền lành, dễ bảo, dễ trị; nhưng thiếu khí phách, thiếu tự do phóng khoáng – cởi mở – tiến bộ: một dạng “ngu dân” nào đó!”. Trái ngược “với Giêsu Na-da-rét là người đã có ý muốn nâng cấp cứu vớt con người, nhất là lớp người thấp hèn, khốn khổ. Tôi hình như mang máng có ý nghĩ là giáo quyền đã phản ngược lại lý tưởng của Giêsu Na-da-rét”.

Nhưng biến cố 1945 đã quét sạch “cái hình ảnh Hội Thánh gắn liền với quyền bính… Cái vỏ ‘cố Tây’ được bóc vất đi để lộ nguyên hình là các vị ‘thừa sai’ của Chúa Kitô, mà đã có thời tỏ rạng qua dáng dấp của chân phước Théophane Vénard”. Hình ảnh vị “Giám Mục Việt Nam tiên khởi địa phận Vinh lúc ra Thanh Hóa thụ phong Giám Mục, được gánh đi lủi thủi không tiền hô hậu ủng, không kèn, không trống âm thầm lặng lẽ phục xuống trước bàn thờ, như bị đè bẹp dưới cuốn Kinh Thánh đặt trên mình, đã xóa nhòa hình ảnh các vị Giám Mục áo Vàng áo Tím, oai vệ ngồi trên khán đài danh dự cạnh quan Khâm quan sứ trong các buổi duyệt binh vào dịp lễ Quốc khánh của nước Bảo Hộ Đại Pháp trước 1945”.

Nguyễn Khắc Dương cho rằng năm 1945 “quả là Năm Đại Hồng Phúc đối với riêng tôi” làm thay đổi hẳn tương quan của cậu đối với Giáo Hội. Từ từ, cậu nhận ra “trong một môi trường chịu ảnh hưởng của Chúa Giêsu Na-da-rét, tương quan liên-ngã-vị (relation intersubjective, interpersonnelle) cũng đậm đà hơn. Một gia đình, một họ đạo, một cơ sở Kitô giáo nào cũng mang màu sắc ấy (dù trình độ văn hóa và kể cả trình độ đạo đức cá nhân có thể là thấp)”. Bầu không khí của cộng đoàn Công Giáo luôn “có cái gì thân hữu, đầm ấm”. Dù có thể lắm lúc xảy ra cãi cọ tranh chấp, “nhưng vẫn là có nhau – nghĩa là dù tốt hay xấu đều có nhau, đều có tương quan liên- ngã-vị, hữu ngã và hữu tha trong cái với nhau”. Cậu cho rằng “cái tương quan liên-ngã-vị quan trọng như vậy là vì từ trong nguồn gốc của mỗi hữu thể, tức là trong Mầu Nhiệm Thiên Chúa tương quan lập hữu giữa Ba Ngôi (Cha, Con và Thần Khí) không phải là một tùy thể thêm vào một hữu thể nòng cốt; nhưng chính là “bản tính” của hữu thể. Nơi con người cái tương quan là cha, là con, là thầy, là trò chỉ là một chuyện phụ thuộc, có vất bỏ đi vẫn còn có con người. Còn nơi Thiên Chúa: Chúa Cha chỉ là Cha thôi, nếu không là Cha thì không còn gì nữa, cho nên chính cái tương quan ấy (Cha, Con, Thần Khí…) là bản tính của Hữu thể”.

Từ đó, cậu luôn tìm về với một gia đình, một cộng đoàn Công Giáo để tìm ra cái tương quan liên ngã vị này. Rất may, sau khi đậu tú tài 2 năm 1946, cậu có dịp được dạy Việt Văn tại Trung Học Đậu Quang Lĩnh tại Vinh. “Được trở về sống trong cái khí quyển mà tôi đã hấp thụ sáu năm tại trường Thiên Hựu, tôi như một ngọn cây đang bị héo rũ, bỗng được tưới mát hồi sinh… Dần dần, tôi mới khám phá ra rằng chỉ có môi trường Công Giáo mới hợp với con người tôi, và có lẽ tôi chỉ sống được trong môi trường ấy mà thôi”. Vì sau Cách Mạng Tháng Tám, chỉ “tại các xóm đạo, trong các gia đình Công Giáo thì tôi cảm thấy như sinh khí vẫn dồi dào, tương quan vẫn có cái gì đằm thắm sâu xa mật thiết, đầy sinh khí tuy có vẻ thầm lặng kín đáo nhưng vẫn vui tươi ấm áp. Nhất là những giờ kinh sáng tối trong gia đình hoặc tại nhà thờ tuy chưa có đức tin tôi vẫn cảm thấy như mình là cây được cắm vào lòng đất có nhựa sống, được bao bọc và sưởi ấm bởi tình người trong tương quan liên-ngã-vị. Có lẽ tôi đã cảm nghiệm mầu nhiệm các Thánh thông công trong sinh hoạt của Hội Thánh Công Giáo trước rồi sau mới phát giác ra rằng: mối dây của sự thông công ấy là Chúa Giêsu mà ngôi thánh đường có nhà tạm, nơi Chúa ngự, có đèn thắp sáng là trung tâm và vị linh mục, Giám mục là đại diện và thừa tác viên… Mỗi giáo xứ, mỗi Cộng đoàn Công Giáo quả là một gia đình! Bếp lửa, mỗi tổ ấm ấm cúng, có lò lửa sưởi ấm là Chúa Giêsu, mà Thánh Thể là bí tích về sự hiện diện, tuy vô hình nhưng thực sự của Ngài, vị tư tế là đại diện và thừa tác viên, các tín hữu là anh chị em, là con chung của Cha trên trời. Và trong tổ ấm ấy, đời sống cộng đoàn (communauté) chứ không phải tập thể (collectivité) vẫn không làm giảm tương quan liên-ngã-vị cá thể: vì mọi tín hữu đều có tương quan riêng duy nhất, trực tiếp với Chúa Giêsu trong một sự kín nhiệm mà không một người thứ ba nào có quyền xâm lược bằng bạo lực hay âm mưu xảo trá”.

Ngoài ra, “tôi nghĩ rằng vấn đề căng thẳng giữa cá nhân và đoàn thể, chỉ có cộng đoàn Công Giáo là giải quyết tuyệt vời. Sau này tôi mới biết rằng là nhờ phạm trù nhiệm thể và chi thể Đức Kitô mà vấn đề được giải quyết mỹ mãn đến mức độ tối đa… Hầu như tổng hợp rất nhuần nhuyễn tính cách quân chủ và dân chủ”.

Tuy nhiên, nếu chỉ xét ở bình diện con người, thì người và cộng đoàn Công Giáo Việt Nam chỉ mới ở mức độ rất bình thường, đôi khi còn kém thua người khác. Nói chung, họ thiếu khí phách hiên ngang so với mẫu người Nho Giáo. Nhưng “điều đáng lưu ý nhất nơi những cá nhân và Cộng đoàn Công Giáo nằm ở chỗ họ đang làm chứng một cách nào đó về một cái gì rất kỳ lạ, nói đúng hơn, về một con người: Đức Giêsu người Na-da-rét, còn gọi là Đức Kitô… Thực ra từ bản chất, không phải chính họ chủ động trong sự làm chứng ấy bằng nỗ lực nêu gương sáng, nhưng chính là Đức Kitô đã dùng họ mà tỏ mình ra cho dù họ là những người rất tầm thường, và đôi khi còn tệ hơn nữa là khác! Nói theo tiếng chuyên môn thần học, người Công Giáo cá nhân cũng như tập thể, đều là ‘bí tích của Đức Kitô’, là sự hiện diện và tác động của Đức Kitô trong hiện tại và ở nơi này (hic et nunc) chứ không phải họ chỉ loan truyền một tin vui xảy ra trong quá khứ cách 2000 năm về trước ở Thánh Địa xa xôi. Họ gần như là bí tích Thánh Thể vậy! Cũng như lúa mì thuộc hạng tốt hay xấu vậy, bột mì dùng làm bánh Thánh có loại thơm loại không thơm, loại thô, loại mịn, loại trắng, loại hẩm, nhưng khi đã được vị tư tế đọc lời truyền phép dưới tác động của Chúa Thánh Thần đều trở nên Thánh Thể cả, cũng đều có Chúa Kitô hiện diện thực sự…”

Giáo Hội, vì thế, theo Nguyễn Khắc Dương “chỉ là chứng tích và là dấu chỉ” qua đó, cậu “tiếp cận được với một người đang hiện diện và tác động ‘hic et nunc’: Đức Giêsu Kitô”. Cái Giáo Hội này cũng có nhiều nét tiêu cực, không hẳn “đạo đức tài trí vượt bực! Thế nhưng, cái Giáo Hội này đã “giúp tôi thấy sự hiện diện và tác động của Đức Kitô gần như là còn sống, sống giữa, sống trong Hội Thánh ấy! Và tôi thấy rằng những sai lầm thiếu sót của Hội Thánh, của các Giáo Hoàng, Giám Mục, Linh Mục, Tu Sĩ, Giáo dân suốt 2000 năm lịch sử Tây Phương và gần 100 năm chủ nghĩa thực dân, những sai lầm thiếu sót mà trước đó đã làm cho tôi nghĩ rằng Hội Thánh đã phản ngược lại lý tưởng nguyên thủy của đạo Tin Mừng, thì nay tôi bỗng nhận thấy rằng: Hội Thánh Công Giáo không phải là một cộng đoàn lý tưởng gồm những kẻ tài cao đức trọng, đã thể hiện được một đạo sống theo một giáo thuyết cao siêu thâm thúy gì cả! Hội thánh chỉ là một số người đủ loại, y như số người hành khất tật nguyền dơ bẩn lê lết bên vệ đường, bỗng được gọi vào dự tiệc cưới mà Chúa Giêsu có nhắc đến trong bài dụ ngôn mô tả Nước Trời. Họ được Ngài gọi, được Ngài chọn để sai đi làm chứng và mang sự hiện diện tác động của Ngài theo họ, tất cả do Ngài chứ không phải do giá trị cá nhân của họ gì cả. Borgia đã làm Giáo Hoàng, Richelieu làm Hồng Y. Cauchon làm Giám mục thì nếu có một ông Linh mục Tây nào đó, có thể đã nộp một Linh mục Việt Nam tham gia cách mạng cho mật thám Pháp, thì cũng thường tình. Ở thế kỷ thứ 19, một người Tây Âu mà không có óc thực dân thì phải là bậc Đại Trí, Đại Thánh! Người mà Đức Giêsu chọn là bọn thu thuế sài lang, có khi là đĩ điếm, trộm cướp còn đầy thành kiến, ganh tị, nhỏ nhen, ngớ ngẩn, sai lầm đủ thứ… Thế nhưng, tất cả chỉ làm một việc này: làm chứng về Đức Giêsu, làm cho người ta thấy Đức Giêsu hiện diện và tác động qua họ. Các môn đệ của Đức Giêsu như lời Bernadette ở Lộ Đức “đều là cái chổi cùn Chúa muốn dùng, dùng xong thì xếp xó” hay như chính Tê-rê-sa Hài Đồng nói: “tất cả đều là ngọn bút lông vô giá trị trong tay một nghệ sĩ tài tình!” Và như vậy thì nói hơi quá cho dễ hiểu: chổi càng cùn, bút lông càng xoàng lại càng chứng tỏ có sự hiện diện và tác động của Chúa. Hội thánh Công Giáo không những với tất cả những gì là nhân loại tính tầm thường (lắm lúc còn ghê rợn: như các giàn hỏa thiêu) của nó mà đôi khi xét trên một phương diện nào đó, chính nhờ sự tầm thường ấy mà nó là dấu chỉ, làm chứng cho sự hiện diện và tác động của Chúa Giêsu. Alexandre, César, Hán Cao Tổ, Thành Cát Tư Hãn, Napoléon… các thánh nhân và hiền triết dù vĩ đại đến đâu, đều là những người đã chết; còn Giêsu người Na-da-rét thì đang sống vì đang hiện diện và tác động. Hội thánh Công Giáo cũng chỉ là nhóm người đủ loại như bất cứ nhóm người nào, chỉ khác ở chỗ là cho thấy được Đức Giêsu đang còn sống, hoạt động giữa trần gian mọi ngày, mọi giây, mọi phút, ở mọi nơi và sẽ như vậy cho đến tận thế”.

Nguyễn Khắc Dương xác tín rằng: không thể tách Giáo Hội khỏi Chúa Giêsu, như tách rời một tổ chức với người sáng lập ra nó. Vì “không có Thầy các con chẳng làm nên trò trống gì”.

Cô gái Công giáo Lizzie làm xôn xao cộng đồng mạng

Cô gái Công giáo Lizzie làm xôn xao cộng đồng mạng

chuacuu the.com


VRNs (12.01.2014) – Sài Gòn – Những ngày gần đây, một video trên trang mạng youtube đang gây sốt cộng đồng mạng với gần 2.5 triệu lượt xem. Video chiếu lại một buổi nói chuyện của Lizzie Velasquez để truyền lửa cho thế giới do TedTalk tổ chức.

Cô Lizzie Velasquez

Cô Lizzie Velasquez

Lizzie Velasquez được cộng đồng mạng đặt cho một cái tên khá ấn tượng vì nó không hề nói lên hình dáng bên ngoài của cô: ‘người phụ nữ đẹp nhất thế giới”.

Là một trong 3 người duy nhất trên thế giới mắc chứng bệnh lạ bẩm sinh từ khi còn trong bụng mẹ, Lizzie không thể phát triển và cơ thể cô gầy đến độ chỉ con da bọc xương. Chưa bao giờ cô tăng cân quá 26kg và còn mang một con mắt bị mù bẩm sinh.

Điều đáng nói, Lizzie là người Công giáo và chính cô xác nhận rằng: Đức tin đã giúp cô chiến thắng hoàn cảnh vô cùng khó khăn của mình.

Khi chuẩn bị rời khỏi ghế nhà trường, cô phát hiện một video nói về mình trên trang youtube, thu hút tới 4 triệu lượt truy tại cập thời điểm đó với cái tên “Người Phụ Nữ Xấu Nhất Thế Giới”.

Không biết ai đã phổ biến video ác nghiệt này, nhưng chủ nhân quyết không gỡ bỏ khỏi trang mình.

Thay vì giận dữ, tuyệt vọng hay trầm cảm, Lizzie đã vượt qua, tốt nghiệp đại học và 3 tập sách của cô viết đã được xuất bản sau đó, truyền cảm hứng cho rất nhiều độc giả.

Giờ đây, Lizzie đã trở thành một diễn giả nổi tiếng tại Mỹ, xuất hiện ở nhiều nơi và trên nhiều chương trình truyền hình. Với thân hình nhỏ bé của mình, Lizzie cũng tích cực hoạt động chống lại nạn bắt nạt trong học đường.

Tâm sự với mọi người, cô nói:  Niềm tin vào Thiên Chúa như tảng đá vững chắc giúp tôi vượt qua tất cả mọi thứ, chỉ cần ngồi một mình cầu nguyện và nói chuyện với Chúa và biết rằng Ngài ở đó là vì tôi.

Lizzie cũng có kế hoạch đi du lịch bất cứ nơi nào để làm chứng cho câu chuyện về sự kiên trì và đức tin của mình trong năm 2014 này.

httpv://www.youtube.com/watch?v=c62Aqdlzvqk#t=271

PHÉP RỬA KHIÊM NHƯỜNG

PHÉP RỬA KHIÊM NHƯỜNG

TGM Ngô Quang Kiệt

Sông Gio-đăng, tiếng Do Thái là “yarad” có nghĩa là đi xuống.  Sông Gio-đăng phát nguồn từ ngọn núi Héc-mon ở độ cao 520m.  Suốt 220km đường dài dòng sông không ngừng đi xuống.  Thoạt tiên sông chảy vào hồ Hu-lê chỉ còn 68m trên mực nước biển.  Kế đó sông chảy vào biển hồ Galilê, nơi Chúa Giêsu thường qua lại, và các tông đồ thường chài lưới.  Ở đây lòng hồ sâu 212m dưới mực nước biển.  Sông tiếp tục chảy xuống miền Nam, đổ vào Biển Chết.  Ở đây độ sâu là 394m dưới mức nước biển.  Có thể nói đây là điểm thấp nhất của địa cầu.

Khi Chúa Giêsu bước xuống sông Gio-đăng để chịu phép rửa, Người đã xuống chỗ thấp nhất không chỉ về chiều sâu theo không gian địa lý mà còn về chiều sâu tâm lý xã hội.  Bước xuống để Gioan Baotixita làm phép rửa tội, Chúa Giêsu đã hòa mình vào dòng thác người tội lỗi, cần thống hối ăn năn. Tuy đến để cứu độ người tội lỗi, nhưng Chúa Giêsu không cho mình quyền đứng trên kẻ tội lỗi.  Người đã hạ mình xuống ngang hàng với họ, liên đới với họ và trở nên anh em của họ.  Không ai nhận ra Người.  Mọi người đều cho rằng Người là một trong những kẻ tội lỗi.

Trong đêm Giáng Sinh, ta được chứng kiến một Thiên Chúa hạ mình xuống làm người.  Làm một người bé nhỏ nghèo hèn như chưa đủ đối với tình yêu thương vô biên của Thiên Chúa, nên hôm nay người lại hạ mình xuống thêm một bậc nữa, xuống tận đáy xã hội nhân loại khi nhận mình tội lỗi.

Hôm nay, bắt đầu cuộc đời công khai của Chúa Giêsu.  Người bắt đầu xuất hiện để rao giảng Tin Mừng.  Trước khi tiến ra gặp gỡ quần chúng, Chúa Giêsu đã tới dìm mình trong dòng sông Gio-đăng. Để chuẩn bị ra gặp loài người Chúa Giêsu cảm thấy cần phải thanh tẩy.  Mặc lấy xác phàm, Chúa Giêsu chưa cảm thấy mình gần với nhân loại cho đủ.  Người còn hạ mình xuống làm một người tội lỗi. Người dìm mình xuống lòng sông Gio-đăng, dường như muốn mượn làn nước trong xanh tẩy sạch đi tất cả dáng vẻ cao quý của Thiên Chúa còn vương vấn nơi thân xác nhân loại của Người.  Tẩy sạch đi tất cả những gì ngăn cách, để Người được thực sự là một người anh em của mọi người.

Dòng nước sông Gio-đăng có trong xanh đến mấy cũng đâu đủ sức rửa Thiên Chúa làm người.  Thực ra chính Người tự rửa mình bằng sự khiêm nhường thẳm sâu.  Khiêm nhướng là một phép rửa.  Vì khiêm nhường là sự quên mình, là chết đi một chút.  Dìm mình vào dòng sông là chấp nhận đau khổ và chết đi.  Cái chết chính là phép rửa như Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ: “Thầy còn phải chịu một phép rửa, và Thầy những bồn chồn chờ đến lúc hoàn tất” (Lc 12,50).  Người còn hỏi hai ông Gioan và Giacôbê khi hai ông này đến xin được ngồi bên tả, bên hữu trong nước Người: “Các ngươi có thể uống chén Ta uống và chịu thanh tẩy thứ thanh tẩy Ta phải chịu không?” (Mc 10, 38).  Khi nói thế Chúa Giêsu có ý nói đến cái chết Người sẽ phải chịu.

Một câu châm ngôn nói; Không ai thấy được tình yêu.  Người ta chỉ thấy được những bằng chứng của tình yêu.  Bằng chứng tình yêu của Chúa Giêsu đối với ta đó là sự hạ sinh làm một em bé nghèo hèn yếu ớt. Đó là sự khiêm nhường hoà mình vào đoàn lũ những tội nhân tới dìm mình trong dòng sông Gio-đăng.  Tình yêu đã thúc đẩy Người đi những bước táo bạo, bất ngờ.  Mượn dòng nước sám hối xoá đi mọi khoảng cách còn lại giữa Thiên Chúa và con người.

Cử chỉ khiêm nhường của Người là một lời mời gọi ta.  Nếu ta cảm thấy mình còn xa cách Chúa.  Nếu ta cảm thấy mình cần được thanh tẩy.  Đừng ngần ngại thay đổi đời sống.  Hãy mạnh dạn tiến đến lãnh nhận phép rửa của Chúa Giêsu để trở nên gần gũi với Người.  Nếu ta chưa thể lãnh nhận phép rửa trong cái chết tủi nhục như Chúa Giêsu, ta vẫn có thể được thanh tẩy trong phép rửa khiêm nhường. Hãy rửa mình trong dòng lệ sám hối.  Hãy tắm mình trong dòng nước khiêm cung.  Như lời vua Đavit nói: “Lễ dâng Chúa là tâm hồn sám hối.  Một tấm lòng tan nát giày vò, Ngài sẽ chẳng khinh chê” (Tv 50).

Khiêm nhường sám hối là bước khởi đầu để ta đón nhận Phúc Âm.  Khiêm nhường sám hối là quay trở về nhà Cha, sống trọn tâm tình của người con thảo hiếu.  Khi khiêm nhường trở về, ta sẽ gặp được người Cha nhân hậu đang đứng chờ ta.  Người sẽ nói về ta như nói về Chúa Giêsu: “Đây là con Ta yêu dấu, Ta hài lòng về con”.

Lạy Chúa Giêsu, xin giúp con biết đến với Chúa và đến với anh em bằng sự khiêm nhường sám hối. Amen.

TGM Ngô Quang Kiệt

From: langthangchieutim & Anh chị Thụ Mai gỡi

 

TÊRÊSA – BÔNG HỒNG NHỎ

TÊRÊSA – BÔNG HỒNG NHỎ

Tác giả: Fr. Huynhquảng

Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu (1873 – 1897), một nữ tu bé nhỏ thuộc dòng kín Carmêlô thành Lisieux. Suốt cuộc đời ngắn ngủi chỉ vỏn vẹn 24 năm sống trên dương thế, vậy mà chị đã để lại con đườg nên thánh thật tuyệt vời và đơn sơ biết bao. Lòng đạo đức và ơn thánh thiện Chúa ban cho chị đã lan rộng và nhanh trên khắp hoàn vũ. Vì lẽ đó, chị được Giáo hội phong thánh chỉ sau 28 năm từ khi qua đời. Chị còn được chọn làm bổn mạng các xứ truyền giáo, và gần đây vào năm 1997, Chị được nâng lên bậc Tiến sĩ Hội Thánh – Thầy dạy cho chúng ta con đường nên thánh.

Khi bàn đến lòng khao khát nên thánh, ta không thể không nói đến lòng chung thuỷ và trung tín trong ơn gọi làm người và làm Kitô hữu. Sự chung thuỷ của mỗi con người chúng ta đến từ đâu? Động  lực lý do nào làm chúng ta cố gắng sống chung thuỷ và trung tín với ơn gọi của mỗi người? Thực sự con người có đủ khả năng để sống chung thuỷ như mình mong ước không? Những câu hỏi này được tìm thấy trong cuộc đời của Chị Têrêsa, đặc biệt trong lưu bút của Chị. Với những suy tư trong đời sống cầu nguyện, Chị Têrêsa giúp chúng ta tìm được sức mạnh để sống chung thuỷ và trung tín với ơn gọi của mình. Chị đã cho chúng ta thấy được rằng nếu chúng ta có sống chung thuỷ được là nhờ vào tình yêu chung thuỷ của Thiên Chúa chứ không phải sức của chúng ta.

Trong bài cuối của chủ đề Chung Thuỷ – Trung Tín, qua sự diễn giải của linh mục JacquesPhilippe, mục Sống Sao Cho Đẹp xin điểm lại một vài ý tưởng của Chị Têrêsa, đặc biệt về sự tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa, để giúp chúng ta nhận định lại thật chính xác về sự chung thuỷ và trung tín mà chúng ta đang cùng nhau học hỏi và thực hành.

* * *

Đối với Chị Têrêsa, điều quan trọng và thiết yếu nhất trong đời sống đạo chính là tin tưởng vào lòng trung tín của Thiên Chúa. Hãy tin rằng, Thiên Chúa không dựng nên chúng với một mục đích tầm thường: sống – chết, tan biến như bao loài thụ tạo khác. Nhưng thực ra, Thiên Chúa muốn làm điều vĩ đại nơi mỗi con người chúng ta. Chúng ta được dựng nên với mục đích nên thánh, sống đời sống thần linh với Thiên Chúa. Đó chính là mục đích cao cả nhất trong công trình sáng tạo con người. Xác tín này dẫn Chị Têrêsa đến một niềm quả quyết chắc chắn rằng dù Chị bất xứng, yếu hèn, tội lỗi, Thiên Chúa không bao giờ và sẽ không bao giờ thay đổi kế hoạch nên thánh đối với con người. Thiên Chúa chung thuỷ và trung tín với con người bất kể con người có phản bội và khước từ Ngài đến bao nhiêu lần đi nữa. Chị Têrêsa chia sẻ với Mẹ Agnes, “Đừng nghĩ rằng con không không phạm tội nên con có lòng tín thác mạnh mẽ vào Thiên Chúa. Xin hãy nói rõ cho mọi người biết rằng, nếu con có khả năng phạm các loại tội, thì con vẫn giữ nguyên lòng tín thác vào Chúa.” Niềm tín thác này thật đơn giản chỉ vì “Thiên Chúa là Cha, và chúng ta là con của Ngài.”[1] Thật đơn sơ, nhưng chắc chắn biết bao.

Với sự đơn sơ xác tín ấy, Chị Têrêsa quả quyết, “Thiên Chúa không thể khơi gợi một lòng ước muốn [nên thánh] trong con người chúng ta nếu chúng ta không có cơ hội để có thể đạt được.”[2] Như thế, qua Chị Têrêsa chúng ta đi tới xác tín rằng, những khao khát nên hoàn thiện (dù vẫn thường sa ngã thất bại) trong con người của chúng ta thực sự là quà tặng của Thiên Chúa. Chúa cho chúng ta ơn khao khát và Chúa hứa giúp chúng ta đạt được sự thánh thiện ấy. Vì thế bao lâu ta còn nhận ra mình yếu đuối bất toàn, bấy lâu ta vẫn còn lòng khao khát nên hoàn thiện. Ôi, Thiên Chúa thật chung thuỷ và trung tín với ta biết bao – Miễn là chúng ta tín thác vào Ngài, Ngài sẽ dùng mọi phương nhằm giúp ta đạt được đời sống thần linh với Ngài.

Hơn nữa, sự trung tín của Thiên Chúa đối với chúng ta – là những tội nhân không hề lệ thuộc vào khả năng và nhận định của chính ta: Liệu rằng chúng ta có sống tốt hay không, có hạnh phúc hay không, có đạt được thành quả này nọ hay không. Nhưng thực ra lòng tin tưởng và trung tín của chúng ta chỉ dựa vào tình yêu của Thiên Chúa; vào sự trung tín, lòng ân cần, lòng thương xót vô bờ bến, vì quả thật Ngài không bao giờ bỏ rơi chúng ta. Đúng như cha Jacques Philippe nhận định, “Nếu ta không đặt trọn đời ta vào sự trung tín tuyệt đối của Thiên Chúa đối với mỗi người, chúng ta sẽ không bao giờ đạt được tự do thật sự bởi vì chúng ta chỉ loay hoay với sự yếu đuối bất toàn của chúng ta… ta lấy ta làm trung tâm thay vì là Chúa.”[3] Đó cũng là mối nguy hiểm trong đời sống tâm linh. Vì dù khi ta “Nại lý do tìm sự thánh thiện ta quá chi li với đời sống nội tâm bằng cách đánh giá và cân đo đông đếm [thành quả thiêng liêng]… Nguy hiểm của cám dỗ này là lấy ta làm trung tâm mà quên điều chính yếu trong đời sống đạo chính là ta nên tung mình vào lòng trung tín của Chúa với một lòng tin tưởng vô hạn vào Ngài.” Như thế, sự trung tín của ta không lệ thuộc vào khả năng thành bại hơn thua của ta, nhưng là từ niềm tin xác tín lòng trung tín tuyệt đối của Thiên Chúa dành cho mỗi người.

Chúng ta cầu nguyện cho nhau để “tung mình” vào lòng trung tín không thay đổi của Thiên Chúa. Sự thất bại vẫn có thể xãy ra, nhưng hãy lấy Chúa làm trung tâm để ta lại được hồi sức, và luôn xác tín rằng: Kế hoạch vĩ đại mà Chúa chuẩn bị cho đời ta sẽ không bao giờ thay đổi.

Fr. Huynhquảng

 


[1]Bài giảng về Chị Têrêsa của Chân Phước John Paul II tại Lixieus , 2-6-1980.

[2]Philippe, Jacques (2012-06-07). The Way of Trust and Love – A Retreat Guided by St. Therese of Lisieux (Kindle Locations 156-157).

[3] Lược dịch từ: Philippe, Jacques (Loc. 1114 – 1122).

Tác giả: Fr. Huynhquảng

CHUYỆN KHÓ NGHĨ

CHUYỆN KHÓ NGHĨ

Tác giả: Lm. Anmai, C.Ss.R.

Thỉnh thoảng gia đình, người thân chia sẻ, trao đổi với nhau về cuộc sống.

Lòng người hết sức tự nhiên sẽ chạnh thương khi thấy những người nghèo sống thiếu thốn hay bị đẩy ra bên lề của cuộc sống.

Cách đây vài hôm, như mọi lần thăm hỏi, người cô vào đề ngay trước khi chia sẻ về cuộc sống đó là chuyện cô đọc được thông tin của một sinh viên nghèo nào đó phải bỏ học vì không có tiền đóng học phí. Cô tìm địa chỉ để liên lạc chia sẻ nhưng chỉ biết tên của người sinh viên đó, ngoài ra không biết gì hơn về địa chỉ hay số điện thoại để liên lạc.

Cô kể ra và tôi nghe. Nghe tôi cũng đành chịu bởi lẽ cái biển người nghèo chạy ăn từng bữa và thiếu trước hụt sau quá nhiều. Chưa lo đủ cái ăn làm sao lo đến chuyện học nên dù có đậu đại học đi chăng nữa nhưng cổng trường còn ở thật xa với những người nghèo.

Những người tha hương cầu thực quá vất vả để lo toan cho cuộc sống. Thế nhưng, khi rảnh rỗi, họ đọc tin tức và đâu đó bất chợt gặp những hoàn cảnh khó khăn lòng của họ lại hướng về với những người nghèo, những người kém may mắn để sẻ chia.

Đây không phải là lần đầu tiên gặp những người có thiện ý sẻ chia như vậy. Nhiều lần nhiều lúc người thân cũng đã dò đến địa chỉ để sẻ chia dẫu rằng sự sẻ chia đó quá ít so với nhu cầu thực tế của những người nghèo. Nhưng, dù sao đi chăng nữa người nghèo cũng nhận được chút tấm lòng của người đồng loại.Với những người thân quen, với những tấm lòng chạnh thương là như vậy. Họ cũng phải đi cày, họ cũng phải quá vất vả để đi kiếm tiền nhưng họ tằn tiện để giúp những người đồng loại kém may mắn.

Trở về với thực tại của cuộc sống, không phải những ngày này nhưng quá khứ cũng đã có những câu chuyện buồn của cuộc sống. Những câu chuyện buồn đó là những đồng tiền được người ta chuyền tay nhau chi dùng một cách vô tội vạ. Số tiền đó không phải nhỏ. Người ta đem quy ra đầu người thì số nợ đó thật kinh khủng.

Chẳng phải là nhà kinh tế, cũng chẳng phải là nhà nghiên cứu nhưng nhìn thực tại sao mà đau lòng. Khi nhìn những con số ngàn ngàn tỷ mà người ta vung vít nó làm sao đó so với những nhu cầu nhỏ bé của những con người nghèo.

Cách đây không lâu, chuyện cậu bé đậu đại học nhưng người cha phải tá túc trong ống cống với nghề bơm vá xe và người mẹ làm thuê làm mướn thật đau lòng. Với ý chí, với nghị lực, cậu bé đã đủ điểm vào đại học nhưng cổng trường khép lại vì gia đình quá nghèo. Thật may mắn đến với cậu khi có gia đình kia mời gia đình của cậu về ở trong một phòng của gia đình và đồng thời quản lý các phòng trọ khác của gia đình để có kế sinh nhai và đắp đổi qua ngày.

Nghịch lý là đứng trước những cảnh nghèo như thế, những người nghèo lại mở lòng và đùm bọc lẫn nhau trong khi những người khác lại cứ thoải mái “đưa tiền ra cửa sổ”. Khoảng cách giàu nghèo trong xã hội ngày một tăng khi người ta đánh mất quân bình của thu nhập. Người nghèo cảm thấy đuối khi phải lăn lộn với cuộc sống hàng ngày.

Ta thấy nghịch lý và mâu thuẫn khi số tiền bạc tỷ nhảy múa trong tay những người trục lợi để rồi những người nghèo chỉ mong có số lẻ như thế để đắp đổi qua ngày.

Dĩ nhiên trong xã hội nào cũng thế, cũng có những chuyện này chuyện kia trong đầu tư hay quản lý. Thế nhưng, khi những đồng tiền do công sức của người dân đóng góp lại chảy vào túi của những người nào đó, của nhóm người nào đó thì khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng. Và, khi khoảng cách giữa giàu nghèo ngày một tăng thì lại nảy sinh ra nhiều chuyện đau đầu cho con người và xã hội.

Qua các phương tiện thông tin đại chúng, người dân không thể nào nghĩ ra được số tiền khổng lồ như thế mà nó cứ vui vẻ “nhảy múa và hát ca” trong tay của một số người.

Vài tỷ với một gia đình cũng chỉ là niềm mơ ước mà cả đời chẳng bao giờ có được. Nói gì đến tiền tỷ cho cam. Chỉ cần vài trăm triệu để mua căn nhà ở với mức bình dân trong xã hội hiện tại nhưng nằm mơ cũng chẳng hề có. Dẫu rằng không nghĩ ra nhưng rồi nó vẫn xảy ra. Những điều khó nghĩ đã xảy ra và để lại hậu quả tổn thấy vô cùng to lớn cho con người và xã hội.

Mới đây thôi, khi đoạn đường cao tốc nọ chưa kịp khánh thành thì đã phát hiện ra những điều thật khó nghĩ. Số tiền chạy ra khỏi công trình quá lớn so với số tiền thực tế để thi công. Và như vậy, chất lượng của con đường cũng sẽ chỉ đạt được với số tiền thực sự bỏ ra. Tất cả những thiệt hại như thế lại cứ phải đổ lên đầu của những người dân đen nghèo khổ. Không phải người ta không biết hậu quả để lại khi người ta làm như thế nhưng vì lý do nào đó thật khó hiểu và cũng chẳng ai lý giải được. Chỉ biết là ngày mỗi ngày cuộc sống càng thêm những gánh nặng của khó khăn, của bế tắt khi tìm kế sinh nhai.

Và, cũng qua những phương tiện thông tin đại chúng, còn có quá nhiều người nghèo chạy ăn từng bữa phải đương đầu với cuộc sống. Cánh cửa bước vào đời của những con người nghèo ngày càng hẹp lại và những lắng lo của cuộc sống ngày càng lớn. Thương thay cái phận nghèo.

Khi cuộc sống có quá nhiều điều khó nghĩ thì khi ấy càng nhiều điều phải lắng lo.

Vẫn là những trăn trở về những mảnh đời khó nghèo và chật vật phải đương đầu với cuộc sống ngày một khó khăn.

Anmai, CSsR

Ngọc ngữ của Mẹ Teresa

Ngọc ngữ của Mẹ Teresa

Ngày đẹp nhất ?       ——      Hôm nay

Việc dễ dàng nhất ?  ——      Phạm tội

Trở ngại lớn nhất ?   ——      Sợ hãi

Sai phạm nghiêm trọng nhất ? — Tự ruồng bỏ chính mình

Nguồn gốc của mọi sự ác ?  —— Ích kỷ

Thú tiêu khiển tốt nhất ?      —— Làm việc

Thất bại nặng nề nhất ?        —— Chán nản

Thầy dạy tốt nhất ?   ——       Trẻ em

Nhiêm vụ cần ưu tiên nhất ? —— Hiểu biết lẫn nhau

Điều có thể làm cho người ta vui nhất ? —– Hữu ích với tha nhân

Mê hoặc lớn nhất của đời người ? —– Tử vong

Khuyết điểm lớn nhất của con người ? —– Tính nóng nảy

Nhân vật nguy hiểm nhất ? —— Kẻ nói dối

Cảm giác hèn kém nhất ? ——  Hận thù

Tặng vật cao quý nhất ? ——  Tha thứ

Điều không thể thiếu ? —— Gia đình

Đường tắt ngắn nhất ? —— Đường thẳng

Cảm giác khiến con người vui nhất ? —— Bình an trong tâm hồn

Bằng chứng của hành phúc nhất ? —— Mỉm cười

Cách giải quyết có hiệu quả nhất ? —— Lạc quan

Thỏa mản lớn nhất ? —— Hoàn thành được việc phải làm

Sức mạnh lớn nhất trên toàn thế giới ? —— Cha mẹ

Một trong những niềm vui lớn ? —— Có người bạn thực sự _   nhận thức được có người cùng đồng hành với bạn,và cũng biết rõ rằng họ không thể giải quyết những vấn đề của bạn.

Điều đẹp nhất trên thế gian ? —— Yêu

Nhưng tất cả những điều tốt đẹp trong cuộc sống, đều xuất phát từ Tình yêu và Ân sủng vô biên của Thiên Chúa.