Nguyên nhân “bịnh thành tích”

Nguyên nhân “bịnh thành tích”

Thiện Tùng

Trong đời mình chưa bao giờ tôi thấy xã hội ăn gian nói dối như ngày nay. Người ta đặt cho sự gian dối ấy với cái tên ngộ nghĩnh “bịnh thành tích”. Nói chứng bịnh đã có nhiều người, nhưng chưa thấy ai nói rõ xem nó xuất phát từ đâu. Theo tôi nguyên nhân chính từ “thi đua khen thưởng”.

Sau 1975, tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Nam, cả nước quản lý xã hội theo kiểu tập trung bao cấp. Tâm lý “Mài sừng cho lắm cũng là trâu”, bịnh lười biếng… xuất hiện ngày càng sâu rộng. Có lẽ từ đó, Trung ương chủ trương các cấp thành lập Ban Thi đua Khen thưởng nhằm kích thích lao động, ổn định kinh tế, xã hội.

Về tâm lý, là con người ai không ham danh lợi – khen là được vinh danh, thưởng là được hưởng lợi. Thế là chủ trương thi đua khen thưởng có sức hấp dẫn đặc biệt đối với mọi người, ai cũng lao vào, khiến cho thi đua trở thành ganh đua.

Người có tài năng hoàn thành xuất sắc công việc trên giao được khen thưởng chẳng nói mà chi, đàng này bất tài, không hoàn thành trách nhiệm, muốn không bị quở trách, được khen thưởng, không cách nào khác, phải “thêm mắm dặm muối” – báo cáo láo.

Báo cáo láo bị trên phát hiện thì sao? – Ít khi lắm, vì cùng có lợi. Cùng có lợi là sao? – Xin đơn cử, ngành Giáo dục chẳng hạn, trong phong trào “dạy tốt, học tốt”: Lớp tốt Trường mới tốt; Trường tốt Phòng mới tốt; Phòng tốt Sở mới tốt; Sở tốt Bộ mới tốt. Thế rồi, bất chấp nên hư, bằng mọi cách khích lệ nhau, làm cho dưới tốt để mình được tốt, cùng được khen thưởng bất chấp hậu quả.

Chính từ những vụ lợi ấy, nảy sinh “ngành ngành thi đua, người người thi đua, ta nhất định thắng, xã hội nhất định thua”.

Nói thế có chứng cớ gì không? – Sao không! Nhiều lắm, nghe chán chết, xin kể một số việc tôi nghe thấy ở xứ tôi:

1/- Khi phát động phong trào xây dựng ấp + khu phố, xã + phường văn hóa, phường tôi ở trung tâm thành phố, chợ búa, lắm khách vãng lai, người đông san sát, bao hỗn tạp diễn ra hàng ngày. Về mặt văn hóa không có gì nổi trội so với người ta. Có lẽ nhờ “khéo” báo cáo, nó được tỉnh công nhận là phường đầu tiên trong tỉnh đạt chuẩn “Phường văn hóa”. Ngoài được vinh danh, còn cấp bộ bàn ghế hội cho trường, thưởng tiền mở tiệc ăn mừng nhậu mệt nghỉ. Thế rồi từ đó nhân ra diện, cho đến nay, trên phạm vi toàn tỉnh, đi đến đâu đều thấy không phường, xã, cũng khu phố, ấp treo bản văn hóa. Đâu chỉ thế, người ta còn thi nhau cấp giấy chứng nhận gia đình văn hóa cho từng hộ, và còn “sáng kiến” vẽ bản gia đình văn hóa bán cho mỗi hộ treo trước cửa cho oai. Tất nhiên “đạt chuẩn” mới được treo bảng, mới được khen, mới được thưởng tiền mở tiệc ăn mừng,

Một bữa nọ, hẻm chật, nham nhở, tôi dựng xe đầu hẻm vào nhà người thân. Chủ hộ góc hẻm nhắc: “Khóa kỹ coi chừng mất”. Tôi chỉ bảng “khu phố văn hóa” căng trên đầu hẻm, nói đùa: “Mất tôi kiện khu phố trưởng. Đây là khu phố văn hóa mà”. Người ấy nói lại: “Ở đó mà văn hóa! Hở là nó chộp”.

2/- Bữa nọ tôi vào khoa nội cán (khoa nội dành cho cán bộ) thăm bịnh, đến giờ bác sĩ khám và cấp thưốc cho bịnh nhân, tôi và người cùng đi ra băng đá bên ngoài ngồi hút thuốc, bà trưởng khoa nhìn chúng tôi nói: “Các ông hút thuốc ở đây sẽ làm cho chúng tôi mất điểm thi đua!” – Phải chi bà trưởng khoa nói “Hút thuốc ảnh hưởng sức khỏe không chỉ cho riêng mình” thì tốt biết mấy.

3/- Sau bỏ phiếu bầu cử Quốc hội, anh P, đại tá Công an nghỉ hưu, trong Ban Tổ chức bầu cử phường, giám sát tổ bầu cử khu phố 2 đến tôi chơi. Tôi hỏi:

– Kết quả bầu cử tổ ở khu phố mình ra sao?

– Kết thúc trước giờ qui định, tỷ lệ đi bầu đạt 99% – Anh P trả lời.

– Dân ở chợ bận mua bán mà sao giỏi vậy, có bí quyết gì? – Tôi hỏi.

Xem chú như người trong nhà, tôi nóibí quyết”: Được phép bỏ thay cho người trong hộ / Cho khui thùng phiếu nhiều đợt – đến trước kiểm trước, đến sau kiểm sau / Họp tổ xử lý liền tại chỗ phiếu trắng, phiếu không hợp lệ chuyển thành hợp lệ, ưu tiên cho những chức danh chủ chốt theo cơ cấu.

Sao lại làm vậy? – Tôi hỏi.

Nếu không làm vậy, ngoài bị chê trách, xấu mặt xấu mày, còn mong gì được khen thưởng.

Trên biết được tới số? – Tôi lo ngại.

– Chẳng cần phải lo, “tốt lá tốt nem”, cùng có lợi mà. Cái chính là phải kín mồm kín miệng, đừng dại “thưa ông con ở lùm này”, v.v.

4/- Bí thư chi bộ ấp 4 xã T rỉ tai tôi: Chi bộ này họp kiểm tra tư cách đảng viên định kỳ (theo tiêu chuẩn 4 tốt), đem từng người ra mổ xẻ, cuối cùng chỉ có 54% đảng viên đạt chuẩn. Khi xem kết quả báo cáo của chúng tôi, Đảng ủy xã không ưng ý, cho người xuống kiểm tra. Qua bước “xào nấu” gia giảm, 88% đảng viên ấp này đạt chuẩn. Thế rồi xã tiếp tục “chiên xào” bằng cách nào đó, đảng bộ xã T có đến 94% đảng viên đạt chuẩn. Thế là đảng bộ xã T được biểu dương “làm tốt công tác xây dựng đảng”. Là bí thư, tôi cảm thấy áy náy về sự thiếu trung thực này, nhưng đành vậy!

Sẽ không công bằng, nếu tôi nói rõ địa danh, tên người…, vì những tệ hại này không chỉ xảy ra ở những nơi đây. Hãy kiểm lại xem, nó lan tràn trên cả nước?!.

Bịnh thành tích là bịnh nói dối. Lừa trên dối dưới trở thành dịch bịnh lan truyền cả nước. Nói dối một cách tự nhiên không chớp mắt, không biết ngượng là gì, nó trở thành nếp sống văn hóa, chưa có thuốc kháng.

Tôi nghĩ: Nên lấy lương làm động lực – chỉ cần trả lương xứng đáng với kết quả lao động. Ai không làm tốt chức phận, công việc… của mình thì cách chức, sa thải. Muốn trị được “bịnh thành tích” tốt nhứt là xóa bỏ chủ trương “thi đua khen thưởng”.

27/01/2013

T. T.

Ngày Mồng hai Tết: Sống Chữ Hiếu

Ngày Mồng hai Tết: Sống Chữ Hiếu

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

14012601

VRNs (28.01.2014) – Đồng Nai – Chuyện xảy ra ở hành lang một bệnh viện. Cô con dâu nhăn mặt nói với chồng: “ở nhà đủ thứ phải lo, làm sao mà vô trong đây hầu ba được? Anh nói cô Năm hay cô Bảy ở không thì chia nhau vô chăm sóc ba “. Anh con trai chưa kịp trả lời thì có lẽ cô Năm hay cô Bảy gì đó đã cong môi phản đối: ” Tui cũng có đủ thứ chuyện để lo chứ bộ, quên tui đi”. Một cậu con trai khác cau cau lông mày: “Nói chung là ai cũng bận hết, với lại ba mắc bệnh lây nhiễm, vô hầu ba rồi lỡ bị lây thì làm sao ? “. Cô con dâu trưởng phán một câu: “Thôi khỏi bàn tán gì hết, mướn người nuôi là xong chuyện “.

Tất nhiên sau đó, sự việc xảy ra đúng như hoạch định của họ. Một phụ nữ khỏe mạnh, có dáng vẻ nông dân đang nuôi một người bệnh nằm giường bên cạnh ông cụ đã chủ động đề nghị nuôi bệnh cho ông cụ luôn. Công việc tỉ mỉ, cần sự chu đáo, từ việc cho uống sữa, uống thuốc đến thay quần áo, lau người, nhưng chị vẫn làm với sự chăm chút, không để lộ bất cứ thái độ ghê tởm nào, lại còn có vẻ hiền hậu, dịu dàng như con đối với cha mẹ.

Trong lúc ấy, có lẽ yên tâm vì cha đã có người chăm sóc, đám con trai, con gái, dâu, rể hơn một chục người của ông cụ thỉnh thoảng mới lượn qua như một luồng gió nhẹ. Tiếc thay, sự chăm chút của chị phụ nữ không kéo dài bao lâu, chỉ hơn một tuần sau là ông cụ đã qua đời. Con cái, cháu chắt ông kéo vào mới đông chứ. Họ khóc lóc khá ồn ào nhưng vẫn bình tĩnh chỉ huy việc khâm liệm ông cụ, và ở hành lang lại xảy ra một cuộc cãi vã xem người nào phải chi nhiều nhất cho đám tang ?… Anh con trai trưởng cầm một xấp tiền đến trả cho chị phụ nữ đã nuôi bệnh cha mình. Hai mắt đỏ hoe, chị trả lời: ” Tôi nuôi cụ ấy vì thấy xót xa cho cụ có lắm con nhiều cháu mà chẳng ai đoái hoài, chứ tôi có làm cái nghề này đâu mà lấy tiền ?”.

Đám người đang khóc mếu, cãi nhau… đột nhiên im bặt. Rồi từng người một lẻn ra ngoài…

Đúng là “một mẹ nuôi được 10 con nhưng 10 con lại không nuôi được một mẹ”. Cho dù câu ca dao xưa dạy rằng:

Đói lòng ăn hột chà là

Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng

Thế nhưng, lời dạy ấy dường như chỉ dừng lại nơi môi miệng mà rất khó mang ra thực hành. Dẫu biết rằng đi khắp thế gian cũng không có tình nghĩa nào cao sâu cho bằng tình cha tình mẹ yêu con. Dẫu biết rằng không ở đâu có tình yêu chân thành cao cả như tình cha mẹ yêu con.

Con đi khắp vạn nẻo đường

Giờ con mới hiểu tình thương mẹ hiền

Người con yêu quý nhất trên đời

Chính là mẹ đó tuyệt vời tình sâu

Ngày xuân con cái sum vầy bên cha mẹ không chỉ để nhận phong bao lì xì hay chỉ để kính biếu các ngài đồng quà tấm bánh mà quan yếu là để nhận sự chúc lành của các ngài, để nói lời cám ơn các ngài và tỏ tâm tình tri ân về tình yêu thẳm sâu mà các ngài dành cho con cháu. Ngày xuân là dịp để con cháu thổ lộ chữ hiếu dành cho các bậc sinh thành. Đây là dịp để nói lên tấm lòng chân tình tri ân dâng lên bậc sinh thành:

Tạ ơn cha đã cho con nhìn thấy

Núi rất cao và biển rất tuyệt vời

Tạ ơn mẹ, đã cho con hơi thở

Và trái tim nhân ái làm người

Đây là dịp con cái biểu lộ chữ hiếu qua những hành vi không chỉ dâng hương kính bậc tổ tiên mà còn khiêm cung cúi mình kính lạy các bậc sinh thành.

Lạy thứ nhất con kính mừng tuổi mẹ

Phong sắc hồng hào tâm thể khang an

Những lo toan cơm áo chẳng dễ dàng

Nên quá ít thời gian hầu cận mẹ

Lạy thứ hai xin tạ lòng trời bể

Ơn sinh thành dưỡng dục kể sao khuây

Mỗi lần xuân con cháu tụ về đây

Mừng tuổi mẹ kính dâng thêm một tay

Như thế, mùa xuân còn là mùa của đoàn tụ, của sum họp. Mùa xuân không chỉ có không gian rạng ngời mà lòng người cũng tràn ngập niềm vui vì có nghĩa tình đằm thắm của tình cha mẹ, ông bà, anh em một nhà sum vầy bên nhau. Ước chi mùa xuân mãi ở lại đây để tình nghĩa gia đình mãi hòa hợp  yêu thương, để con cháu mãi sum vầy bên cha mẹ và anh em hòa hợp bên nhau.

Xin Chúa làm chủ thời gian xin ban cho nhân gian một mùa xuân hạnh phúc sum vầy bên nhau. Xin Chúa xuân chúc lành cho những ngày sum họp gia đình được đằm thắm yêu thương. Amen

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

 

Di sản Việt Nam cộng hòa

Di sản Việt Nam cộng hòa

Kính Hòa, phóng viên RFA
2014-01-28

Báo Tuổi Trẻ, tờ báo có số lượng phát hành lớn nhất nước đã tung ra loạt bài kỷ niệm 40 năm trận hải chiến Hoàng sa.

Báo Tuổi Trẻ, tờ báo có số lượng phát hành lớn nhất nước đã tung ra loạt bài kỷ niệm 40 năm trận hải chiến Hoàng sa.

Source TuoiTre online

Nghe bài này

Nhà nước VNCH đã chấm dứt sự tồn tại hữu hình của nó gần 39 năm. Thể chế ấy sau nhiều năm bị phủ nhận hoàn toàn bởi những nhà cai trị Việt Nam hiện tại, lại đang được nhắc tới trong thời gian gần đây. Kính hòa trình bày.

Thắm thoát đã 39 năm từ ngày nhà nước VNCH sụp đổ. Năm nay không phải là một năm chẳng cho biến cố tháng tư 1975, nhưng nhà nước ấy lại được nhớ đến bằng một sự kiện diễn ra hơn một năm trước đó, tháng giêng 1974, là lúc mà quần đảo Hoàng sa bị nước Trung quốc cộng sản đánh chiếm. 74 người lính hải quân của quân đội VNCH đã hy sinh trong trận chiến đó.

Việt Nam cộng hòa xuất hiện sau 40 năm

Bốn từ Việt Nam cộng hòa được nhắc lại khá nhiều trên cả phương tiện truyền thông của nhà nước Việt Nam hiện tại. Liên tục trong hơn nửa tháng đầu năm 2014, báo Thanh Niên và Tuổi Trẻ, hai tờ báo có số lượng phát hành lớn nhất nước đã tung ra loạt bài kỷ niệm 40 năm trận hải chiến Hoàng sa. Những hoạt động kỷ niệm và biểu tình nhân sự kiện này dù không thành, như ở Đà Nẵng, hay bị dẹp đi như ở Hà nội, nhắc nhở rằng một định chế nhà nước cùng với cấu trúc chính trị và xã hội của nó bao phủ trên một nửa đất nước không thể dễ dàng bị quên lãng.

Di sản VNCH không phải đã bị cuốn đi trên những chiến trực thăng của tháng tư năm 1975, nó cũng không phải được mang đi hết bởi những người vượt biển ra đi trong những năm 70, 80 đầy bi kịch …mà nó tiềm ẩn trong những giá trị tinh thần như âm nhạc, quan hệ xã hội…

Trận hải chiến thất bại ở Hoàng sa là một phần trong di sản của chính thể ấy.

Di sản VNCH không phải đã bị cuốn đi trên những chiến trực thăng của tháng tư năm 1975, nó cũng không phải được mang đi hết bởi những người vượt biển ra đi trong những năm 70, 80 đầy bi kịch của thế kỷ trước. Nó không phải chỉ mang hình hài vật chất như những tòa nhà được trưng dụng làm công sở hay “phân phối cho cán bộ,” mà nó tiềm ẩn trong những giá trị tinh thần như âm nhạc, quan hệ xã hội, …hay một tinh thần báo chí mà hai tờ báo lớn Tuổi Trẻ và Thanh niên đã tiếp nhận không ít thì nhiều. Di sản ấy đi ngược ra cả miền Bắc qua những dòng văn học của các nhà văn Dương Thu Hương, Phạm Thị Hoài, nhà báo Huy Đức.

Báo Thanh Niên, tờ báo có uy tín trong nước cũng cho ra loạt bài kỷ niệm 40 năm trận hải chiến Hoàng sa.

Báo Thanh Niên, tờ báo có uy tín trong nước cũng cho ra loạt bài kỷ niệm 40 năm trận hải chiến Hoàng sa. Source ThanhNien online

Một di sản cần trân trọng

Dưới chính thể VNCH hai cây đại thụ của âm nhạc Việt nam hiện đại là Trịnh Công Sơn và Phạm Duy đã đâm hoa kết trái, phần chắc là do tránh khỏi cái thời tiết khắc nghiệt của đấu tranh giai cấp trên miền Bắc, nơi mà người tiền bối của họ là Văn Cao đã im lặng trong hàng chục năm trời. Trịnh Công Sơn và Phạm Duy đã không hề suy suyển sau những chiến dịch “bài trừ văn hóa đồi trụy,” mà âm thầm lặng lẽ cất lên trên vỉa hè Sài Gòn, và cả Hà nội, để rồi hôm nay đường đường ngự trị một không gian lớn của âm nhạc VN bằng những bài hát đầy tính nhân văn của họ.

Tính nhân văn ấy nằm trong triết lý của nền giáo dục của chính thể VNCH: Nhân bản, Dân tộc, và Khai phóng. Hãy nghe Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang một trí thức bất đồng chính kiến tại Hà nội nói về nền giáo dục đó,

Chế độ VNCH ngày xưa có nhiều điểm ưu việt hơn chế độ chính trị của miền Bắc. Khi giải phóng vào thì tôi thấy là nền giáo dục của họ rất tốt, họ giáo dục cho trẻ em cái Lễ, chứ không phải là đấu tranh giai cấp. Con người ở miền Nam họ sống với nhau cũng có nghĩa hơn

Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang

Chế độ VNCH ngày xưa có nhiều điểm ưu việt hơn chế độ chính trị của miền Bắc. Khi giải phóng vào thì tôi thấy là nền giáo dục của họ rất tốt, họ giáo dục cho trẻ em cái Lễ, chứ không phải là đấu tranh giai cấp. Con người ở miền Nam họ sống với nhau cũng có nghĩa hơn, chứ không phải như những con người giả dối, trong hội trường thì tung hô một nẻo, về nhà thì nói một nẻo. Rồi còn có báo chí, nhân quyền được tôn trọng hơn, có tự do ngôn luận hơn chứ không như ở miền Bắc là bưng bít, phải nói theo đảng làm theo đảng, không được phê bình đảng, không nói được nguyện vọng của nhân dân, của quần chúng,”

Triết lý Nhân bản, Dân tộc, và Khai phóng được trang báo mạng Vietnamnet nhắc lại trong một bài báo vào cuối năm 2013. Phải chăng sự bế tắc của nền giáo dục Việt nam hiện tại đã đánh thức nhiều người Việt hiện nay rằng có một di sản giáo dục cần trân trọng?

Sáng ngày 19/1/2014, dân Hà Nội đã có mặt tại  tượng đài Lý Thái Tổ – Hồ Gươm – Hà Nội để tham gia buổi Lễ tưởng niệm tri ân 74 quân nhân  Hải Quân VNCH đã hy sinh trong trận hải chiến năm 1974 ở Hoàng Sa

Sáng ngày 19/1/2014, dân Hà Nội đã có mặt tại tượng đài Lý Thái Tổ – Hồ Gươm – Hà Nội để tham gia buổi Lễ tưởng niệm tri ân 74 quân nhân Hải Quân VNCH đã hy sinh trong trận hải chiến năm 1974 ở Hoàng Sa

Trong xu hướng dân chủ hóa xã hội Việt Nam hậu cộng sản, nếu đồng ý rằng chủ nghĩa cộng sản đã cáo chung cùng với bức tường Berlin hồi năm 1989, ngôn ngữ chính trị chính thống của nhà nước Việt Nam cũng nhẹ nhàng hơn. Trong một lần trao đổi với chúng tôi, một bạn trẻ từ trong nước cho biết,

Em có một thông tin là hồi em học lớp 12 thì cô giáo dạy sử của em có nhấn mạnh việc thay đổi cụm từ ngụy quyền bằng chính quyền Sài Gòn hay là Việt nam cộng hòa. Em nghĩ đó cũng là một hành động chứng tỏ trung lập hay hòa giải, ít nhất là như thế.”

Năm 2013 dường như đã chứng kiến nhiều cố gắng cho sự hòa giải ấy, như là việc ông Thứ trưởng bộ ngoại giao đến thắp hương ở nghĩa trang tử sĩ VNCH tại Biên hòa, và những ngày tháng đầu năm 2014 người đọc báo trên cả nước được nhìn thấy trong nhiều ngày bốn chữ VNCH.

Nhưng mọi thay đổi không phải là chuyện dễ dàng.

Lễ kỷ niệm được chuẩn bị một cách công phu tại Đà Nẵng đã bị hủy bỏ, và báo chí ngưng việc đưa tin về VNCH và Hoàng sa.

Bên cạnh đó cũng có những tiếng nói bực dọc trước bốn chữ VNCH. Một bài viết trên mạng mang tựa đề “Vài lời về hải chiến Hoàng sa 1974, những kẻ muốn vực dậy thây ma” công kích nhà báo Đỗ Hùng của báo Thanh Niên về những gì ông viết về 40 năm trận chiến Hoàng sa, với ngụ ý không công nhận bốn từ VNCH. Đây không phải là điều mới mẻ của “dòng lý luận chính thống,” vốn chỉ coi trọng những gì diễn ra dưới bóng che của đảng cộng sản mà thôi.

Theo tôi thì chúng ta cần kế thừa tất cả những tinh hoa của lịch sử để lại. Thực thể chính trị VNCH có những điều tốt, điều hay mà chúng ta cần phải chắt lọc, cần phải sử dụng…

Ông Lê Thăng Long

Song, hình ảnh của viên thiếu tá VNCH Ngụy Văn Thà, hy sinh trong trận hải chiến Hoàng sa, xuất hiện vừa qua tại Hà nội thủ đô một thời của cải cách ruộng đất và đấu tranh chống xét lại, một điều khó tưởng tượng ra chỉ cách đây vài năm, chứng tỏ rằng giới trẻ VN dường như đang bước ra khỏi cái dòng lý luận chính thống ấy.

Ông Lê Thăng Long một cựu tù nhân chính trị hãy còn trẻ, người mới đây tuyên bố xin gia nhập đảng cộng sản Việt Nam để giúp đảng này thoát qua cơn khủng hoảng hiện tại, nói với chúng tôi về di sản của VNCH,

“Theo tôi thì chúng ta cần kế thừa tất cả những tinh hoa của lịch sử để lại. Thực thể chính trị VNCH có những điều tốt, điều hay mà chúng ta cần phải chắt lọc, cần phải sử dụng. Và những cái gì trong quá khứ phía đảng cộng sản và chính quyền VN hiện nay có những sai lầm đối với chính thể VNCH thì cũng cần chính thức ngỏ lời xin lỗi, xét lại quá khứ và cùng nhau hướng tới một tương lai vì dân tộc VN hùng mạnh trong thời gian sắp tới.”

Năm 1975 đánh dấu sự thất bại của một thực nghiệm mô hình dân chủ đầu tiên trong lịch sử VN. Năm 1989 với sự sụp đổ của bức tường Berlin lại đánh dấu sự thất bại của thực nghiệm cộng sản trên toàn thế giới. Lịch sử là một dòng liên tục, không thể chỉ giới hạn trong một không gian chính thống muốn phủ nhận quá khứ. Quá khứ nối liền qua hiện tại để hướng đến tương lai. Có phải chăng đã đến lúc nhìn nhận một cách nhân bản di sản mà thực thể chính trị xã hội VHCH để lại trong lòng xã hội Việt nam, từ ý thức dân tộc cho đến những giá trị nhân văn của nó? Để tránh cái mà nhà văn xứ Dagestan bên Nga, Rasul Gamzatov, trích lời một hiền triết Arab viết rằng:

“Nếu bạn bắn vào quá khứ bằng súng lục, thì tương lai sẽ bắn trả bạn bằng đại bác.”

Kiêng cữ và Đức tin

Kiêng cữ và Đức tin

Chúa Giêsu nói: “Ai nghe lời tôi và tin vào Đấng đã sai tôi, thì có sự sống đời đời và khỏi bị xét xử, nhưng đã từ cõi chết bước vào cõi sống” (Ga 5:24).

Tiền nhân nói: “Có thờ có thiêng, có kiêng có lành”. Tinh thần và thể lý có liên quan mật thiết với nhau, do đó mà việc kiêng cữ tốt cho cả tinh thần và thể lý. Ví dụ: Kiêng sử dụng chất béo để tránh béo phì, tránh được béo phì thì sống khỏe, sống khỏe thì tinh thần minh mẫn. Kiêng ăn chất béo không chỉ để giảm béo, mà còn giảm bệnh, giảm bệnh thì tính khí cũng thoải mái. Cũng vậy, tránh nghĩ đến điều xấu để tinh thần không bị cám dỗ, không bị cám dỗ thì bớt phạm tội.

Thái quá bất cập. Người ta kiêng cữ quá mức cũng không tốt, đến nỗi trở thành mê tín, dị đoan – nhất là trong vấn đề kiêng cữ thuộc lĩnh vực tinh thần. Cưới xin thì kỵ tuổi, tình cảm mà cũng bị người ta lạm dụng. Hai người yêu nhau mà tuổi thuộc “vùng” tứ hành xung thì chỉ có nước đợi… kiếp sau! Ngày nào cũng đủ 24 giờ, thế mà người ta cũng “tạo ra” giờ tốt và giờ xấu; hướng đi đã có đường sẵn mà người ta lại “biến hóa” thành hướng tốt và hướng xấu. Ví dụ cổng nhà hướng Đông, đi ra theo hướng đó không tốt, vậy phải chui “lỗ chó” mà đi ngang hoặc phía sau nhà cho hên sao? Mà có hên thật không? Có ai cưỡng lại được “mệnh trời” chưa? Đúng là “rách việc”, nhảm nhí hết sức!

Ai có thể biết giờ nào tốt? Vậy giờ chết và giờ sinh thì sao? Ai biết chắc? Nếu thực sự biết giờ nào tốt, sao không ráng chờ đến đúng giờ phút tốt rồi chết hoặc sinh, sao lại “quéo” người lại mà lo sợ? Người ta có chủ động chọn giờ tốt để “dọn chỗ” mà chết hoặc sinh? Còn nữa, ba ngày Tết phải cữ quét nhà vì “sợ” tiền của “đi ra”. Nghe nói mà đủ thấy “nóng mặt”. Rác rưởi bừa bộn, mất vệ sinh, ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng sức khỏe không lo lại lo “bò trắng răng”!

Nuôi chó thì cho là tốt, là hên, vì chó sủa “gâu gâu”, người ta cố ý hiểu là “giàu”. Nuôi mèo thì cho là xấu, là xui, vì mèo kêu “meo meo”, người ta cố ý “dịch” ra là “nghèo”. Không phải là mê tín, dị đoan, mà là hủ tục và nhảm nhí! Kiêng cữ kiểu nhảm nhí như vậy thì chỉ có nước là không ăn gì, không uống gì, không đi đâu, không gặp ai, vậy là tốt nhất, hên nhất, chắc cú nhất! Có ai muốn như thế, có ai dám làm vậy?

KIÊNG CỮ

Tết đến, Xuân về, khoảng thời gian thanh thản nhất, chúng ta cùng “điểm” lại vài tục lệ kiêng cữ của dân ta, gọi là “nói chuyện vui đầu Xuân” để… lấy hên. Thôi kệ, xấu tốt gì cũng vô thưởng vô phạt, mà cũng có chuyện để nói cho vui.

1. Kiêng quét nhà – Theo quan niệm của Người Việt, nếu quét nhà trong 3 ngày đầu năm mới thì Thần Tài sẽ đi mất, tiền bạc sẽ không ở lại với gia đình, thậm chí còn mang lại điềm xấu. Có lẽ do một điển tích của Trung quốc: Trong “Sưu thần ký” có chuyện người lái buôn tên Âu Minh, khi đi qua hồ Thanh Thảo thì được Thủy Thần ban cho một người hầu tên Như Nguyệt. Sau vài năm, Âu Minh làm ăn phát đạt và trở thành người giàu có. Mồng Một Tết năm nọ, Âu Minh tức giận đánh Như Nguyệt. Nàng sợ quá chui vào đống rác và biến mất. Từ đó, nhà Âu Minh cứ nghèo dần đi. Theo đó, mọi người kiêng không dám quét nhà và không đổ rác trong mấy ngày Tết.

2. Kiêng mặc quần áo trắng hoặc đen – Theo quan niệm của người xưa, màu trắng và đen là màu của tang tóc và chết chóc, thế nên không được dùng hai màu này vào ngày đầu năm. Thay vào đó, mọi người thường mặc các bộ trang phục có màu sắc tươi tắn như màu hồng, đỏ, vàng, xanh…

3. Kiêng khóc lóc, buồn rầu, nói điều không vui – Lỡ gặp chuyện buồn thì cũng ráng nhịn, chớ có khóc lóc, phải cố gắng kiềm chế để có thể hưởng thụ mấy ngày đầu năm mới cho trọn niềm vui bên người thân, bạn bè. Đồng thời, người ta còn phải kiêng nói những điều không vui, vì khi nói ra cũng có nghĩa là làm cho người khác “lây nhiễm” nỗi lo lắng, u buồn theo mình, gây không tốt trong những ngày đầu năm. Người ta còn phải kiêng nói to, kiêng cãi nhau, kiêng nói xấu, kiêng chửi rủa hoặc la mắng người khác.

4. Kiêng làm đổ, làm vỡ – Người ta cho rằng sự đổ vỡ vật dụng sẽ tạo nên sự chia cắt, đứt lìa, là điềm gở cho cả năm. Vì thế, cần phải hết sức thận trọng khi sử dụng các đồ vật dễ vỡ như đồ thủy tinh, sành, sứ, gốm, pha lê,… Tất nhiên cũng phải tránh làm đổ chất lỏng tùm lum, vì như thế là xui xẻo.

5. Kiêng vay mượn tiền bạc, đồ đạc – Người xưa cũng quan niệm rằng, những ngày đầu năm mới, chúng ta không nên vay tiền hoặc mượn đồ dùng, vì làm vậy có thể khiến chúng ta rơi vào cảnh túng thiếu cả năm, cứ phải đi vay đi mượn.

6. Kiêng đi chúc Tết khi gia đình có tang – Nếu gia đình có đại tang thì người ta kiêng đi chúc Tết đầu năm. Người xưa quan niệm rằng nếu những người có tang đến chúc Tết gia đình ai đó thì sẽ mang nỗi buồn đến “chia sẻ” cho gia đình đó. Ngược lại, xóm giềng lại cần đến chúc Tết và an ủi gia đình bất hạnh ấy.

7. Kiêng đi chúc Tết vào sáng mồng Một – Người ta có tục lệ xông đất hoặc xông nhà đầu năm. Theo tục lệ này, người đầu tiên bước vào nhà ai trong ngày mồng Một Tết chính là “người quyết định” sự may mắn hoặc xui xẻo đối với gia đình ấy suốt năm, người ta gọi là “hãm tài”. Vì thế, nếu không được gia chủ mời, nên tránh đi chúc Tết vào sáng mùng Một. Người được mời xông đất phải là người có uy tín, có thế giá, vị vọng hoặc giàu có.

8. Kiêng cho nước, cho lửa – Lửa và nước tượng trưng cho sự may mắn, sự thuận lợi. Nếu chúng ta cho lửa và nước vào mấy ngày đầu năm, nghĩa là gia đình sẽ không giữ được tiền bạc và may mắn trong cả năm, vì cho người ta hết.

9. Kiêng giặt giũ vào mồng Một và mồng Hai – Vì sinh nhật của Thủy Thần là ngày 1 và 2 tháng Giêng (âm lịch), do đó nên tránh giặt quần áo trong hai ngày này để đề phòng chuyện xui xẻo xảy đến với mình.

10. Kiêng mở tủ – Người ta còn có tục lệ kiêng mở tủ vào ngày mùng Một, vì họ tin rằng mở tủ lấy tài sản ra tức là “tống tiễn” tài lộc ra khỏi nhà. Do vậy, người lớn thường nhắc trẻ con cần gì thì lấy sẵn ra trước, bất cứ đồ gì (quần áo, của cải, đồ trang sức, dụng cụ,…), và phải lấy trước giờ giao thừa.

11. Kiêng xõa tóc – Tại các vùng quê Việt Nam và một số gia đình gốc Hoa, người ta kỵ việc xõa tóc của các thiếu nữ. Họ cho rằng tóc xõa rũ rượi gợi lên những hình ảnh ma quái thuộc cõi âm. Vì vậy, vào những ngày này, phụ nữ nên chọn các kiểu tóc buộc, tết, kẹp sao cho gọn gàng khi ra đường.

12. Kiêng ăn một số món – Dân miền Trung có tục lệ kiêng ăn trứng vịt lộn hoặc thịt vịt trong ngày Tết, và cả tháng Giêng. Người ta cho rằng ăn thịt vịt sẽ “gặp xui xẻo”. Tại một số vùng, người ta còn kiêng ăn tôm vì sợ “đi giật lùi như tôm”. Nếu ăn tôm trong ngày Tết, công việc trong năm mới sẽ không xuôi xắn, cứ giật lùi chứ không thể tiến tới. Vả lại, tôm còn là con vật mà người ta cho rằng “họ nhà tôm cứt lộn lên đầu”.

MÊ TÍN và CUỒNG TÍN

Thật là “mệt mỏi” với chuyện kiêng cữ. Không chỉ liên quan thể lý, việc kiêng cữ còn có phần liên quan tâm lý, tinh thần, thuộc phạm trù tâm linh. Ví dụ: Treo “vật may mắn” để lấy hên, treo “gương” trước cửa để trừ tà thần, treo một số lá cây để trừ tà khí, tránh bệnh tật,… Như vậy, việc kiêng cữ dẫn tới mê tín dị đoan.

Mê tín dị đoan là tin vào những điều mơ hồ, nhảm nhí, không phù hợp với lẽ tự nhiên – tin vào bói toán, chữa bệnh bằng phù phép, ngoại cảm…, dẫn tới hậu quả xấu. Mê tín là tin suông một điều gì đó chứ không hề biết rõ nguyên nhân, chỉ tin theo kiểu a dua, hùa theo, thấy người ta tin thì mình cũng tin – tin tưởng theo cách u mê. Còn cuồng tín là tin điều gì đó một cách rồ dại, đến nỗi đầu óc không còn tỉnh táo và trở thành điên cuồng. Cuồng tín là phi tôn giáo.

Mê tín hoặc cuồng tín đều dẫn tới hệ lụy không tốt, nhưng mê tín có vẻ tệ hại hơn cuồng tín. Nguyên nhân dẫn tới mê tín và cuồng tín là do mong cầu điều gì đó thái quá mà hóa lú lẫn, hoặc do lo sợ xui xẻo quá mà “nhắm mắt, đưa chân”. Ít hay nhiều gì thì cũng có phần nào ảnh hưởng quan niệm về “luật nhân quả”, khiến người ta sợ hãi.

Một dạng “lú lẫn” cấp thấp hơn là thần tượng. Thần tượng ai đó cũng là một dạng thuộc phạm trù mê tín dị đoan hoặc cuồng tín, nhưng thần tượng không thuộc lĩnh vực tâm linh mà về phương diện hữu hình. Thần tượng là ngu xuẩn, tự đánh mất chính mình, không còn khả năng phân biệt cái gì “phải” hoặc “trái”, ngay cả cái sai của người ta mà mình cũng thấy là tốt. Thật là nguy hiểm!

Mê tín dị đoan, cuồng tín và thần tượng đều là mù quáng! Do kém hiểu biết, không biết mà lại cố chấp, thế nên dễ sinh ra bi kịch trong cuộc sống.

ĐỨC TIN

Các Kitô hữu là những người đã có niềm tin vào Đức Kitô, thế mà vẫn chưa “thoát” ra khỏi vòng kiềm tỏa của mê tín và cuồng tín. Đâu đó vẫn có những người mê tín khi thích “ngâm cứu” sách tử vi, tướng số. Ngay cả trong việc thực hành đức tin qua các kinh nguyện và lòng sùng kính, nhiều người vẫn còn ấu trĩ nên không hiểu (hoặc không muốn hiểu) rằng chính khi chúng ta tôn kính các ảnh tượng Chúa, mẹ và các Thánh, nếu không khéo thì cũng là thờ ngẫu tượng. Mà thờ ngẫu tượng chính là mê tín và cuồng tín. Đức tin cũng cần có lý trí, chứ không chỉ là cảm tính hoặc cảm xúc.

Kinh Thánh là Lời Chúa. Trong đó cũng có nhắc tới những điều kiêng cữ hoặc cấm kỵ.

Sách Công Vụ nói: “Thánh Thần và chúng tôi đã quyết định không đặt lên vai anh em một gánh nặng nào khác ngoài những điều cần thiết này: là kiêng ăn đồ đã cúng cho ngẫu tượng, kiêng ăn tiết, ăn thịt loài vật không cắt tiết, và tránh gian dâm. Anh em cẩn thận tránh những điều đó là tốt rồi” (Cv 15:28-29).

Chỗ khác, sách Công Vụ cho biết: “Còn về những người ngoại đã tin theo, thì chúng tôi đã viết thư thông báo những quyết định của chúng tôi, là họ phải kiêng: ăn đồ cúng cho ngẫu tượng, ăn tiết, ăn thịt loài vật không cắt tiết, và tránh gian dâm” (Cv 21:25).

Sách Lê-vi nói: “Các ngươi hãy bảo con cái Ít-ra-en kiêng cữ khi bị ô uế, như vậy chúng sẽ không phải chết vì sự ô uế của chúng, khi chúng làm cho Nhà Tạm của Ta ở giữa chúng ra ô uế. Đó là luật về người bị bệnh lậu và người xuất tinh và bởi vậy ra ô uế, về người khó ở vì kinh nguyệt, về người đàn ông bị lậu hay người đàn bà bị rong huyết, cũng như về người đàn ông nằm với người đàn bà bị ô uế” (Lv 15:31-33).

Sách Thủ Lĩnh nói về vợ ông Ma-nô-ác, thuộc chi tộc Đan, là người son sẻ và không sinh con. Sứ giả của Đức Chúa hiện ra với người vợ và nói với bà: “Này, bà là người son sẻ và không sinh con, nhưng bà sẽ có thai và sinh một con trai. Vậy bây giờ phải kiêng cữ: đừng uống rượu và thức có men, cũng đừng ăn mọi thứ không thanh sạch. Vì này bà sẽ có thai và sinh một con trai. Dao cạo sẽ không được lướt trên đầu nó, vì con trẻ sẽ là một na-dia của Thiên Chúa từ lòng mẹ. Chính nó sẽ bắt đầu cứu Ít-ra-en khỏi tay người Phi-li-tinh” (Tl 13:3-5).

Sau đó, Sứ giả của Đức Chúa nói với ông Ma-nô-ác: “Tất cả những điều tôi đã nói với bà ấy thì bà ấy phải giữ. Tất cả những gì bởi cây nho mà ra, thì bà không được ăn, cũng không được uống rượu và thức có men; tất cả những gì không thanh sạch, thì bà không được ăn. Mọi điều tôi đã truyền, thì bà phải tuân giữ” (Tl 13:13-14).

Trong diễn từ của ông Gia-cô-bê có câu: “Tôi xét là không được gây phiền hà cho những người gốc dân ngoại trở lại với Thiên Chúa, nhưng chỉ viết thư bảo họ kiêng những thức ăn ô uế vì đã cúng cho ngẫu tượng, tránh gian dâm, kiêng ăn thịt loài vật không cắt tiết và kiêng ăn tiết” (Cv 15:19-20).

Thánh Phaolô nói với dân Côrintô: “Phàm là tay đua, thì phải kiêng kỵ đủ điều, song họ làm như vậy là để đoạt phần thưởng chóng hư; trái lại chúng ta nhằm phần thưởng không bao giờ hư nát” (1 Cr 9:25).

Thánh Phaolô nói với Giám mục Timôthê: Họ cấm không được kết hôn và bắt phải kiêng một số thức ăn; thật ra, những thức ăn này là những thứ Thiên Chúa đã tạo dựng để các tín hữu, những kẻ đã nhận biết chân lý, được dùng trong tâm tình tri ân cảm tạ (1 Tm 4:3).

Cuối cùng, điều kiêng cữ quan trọng và độc đáo nhất của các Kitô hữu là Thập Giới của Thiên Chúa, tức là Mười Điều Răn. Đây là những điều không chỉ NÊN mà còn PHẢI kiêng cữ suốt đời, nhờ đó mà hồn an và xác mạnh, cuối cùng được tận hưởng Mùa Xuân Bất Diệt tại Thiên Quốc cùng với Thiên Chúa Ba Ngôi, Đức Mẹ Maria, Đức Thánh Giuse, Chư Thần và Chư Thánh, mãi tới muôn đời muôn kiếp.

Năm Giáp Ngọ, chúc mọi người khả dĩ phi nhanh như Ngựa trên đường nhân đức để mau “hoàn thiện như Cha trên trời” (Mt 5:48) và sớm đạt Đích Cứu Độ.

Happy New Year – Chúc Mừng Năm Mới!

From: ThiênKim & Nguyễn Kim Bằng

” Ngân hàng VN đang ngoài vòng pháp luật “

” Ngân hàng VN đang ngoài vòng pháp luật “

Thứ hai, 27 tháng 1, 2014

Huỳnh Thị Huyền Như nhận án tù chung thân.

Tòa tại Việt Nam vừa tuyên án tù với hàng chục bị cáo trong vụ án Huỳnh Thị Huyền Như, được gọi vụ lừa đảo lớn nhất trong lịch sử ngành ngân hàng Việt Nam.

Chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành bình luận về phán quyết này cũng như tình trạng mà ông gọi là hệ thống ngân hàng Việt Nam đang hoạt động ngoài vòng pháp luật.

BBC: Ông có ngạc nhiên khi tòa ra phát quyết trách nhiệm cá nhân thay vì trách nhiệm ngân hàng với lập luận là ngân hàng “không biết” [hoạt động lừa đảo]?

Theo tôi thì ngân hàng [VietinBank] hoàn toàn có trách nhiệm chứ làm sao nói rằng đó là chuyện cá nhân được. Ngân hàng phải có nhiệm vụ quản lý nhân sự của mình. Một người thực sự là giám đốc của một chi nhánh mà làm những việc như thế thì thanh tra kiểm tra ở đâu mà để xảy ra những việc như vậy. Bây giờ nói là việc cá nhân là không được. Nền tư pháp Việt Nam phải làm tốt hơn nữa.

“Việt Nam thì nói là không có tam quyền phân lập. Thế thì nghĩa là tư pháp phải nghe theo lệnh của ông khác để xử.”

Sẵn đây cũng nói là hiện ở Việt Nam cái việc tổ chức nhà nước chưa được hoàn chỉnh. Việt Nam thì nói là không có tam quyền phân lập. Thế thì nghĩa là tư pháp phải nghe theo lệnh của ông khác để xử lý thì như vậy sao được.

Tư pháp, hành pháp và lập pháp không thực sự phân lập ra để khi xử lý một việc lớn thì có tính khách quan trong đấy. Tòa án ở Việt Nam có nhiều vấn đề lắm, không riêng gì vụ này. Tòa án Việt Nam chưa có hoàn toàn độc lập. Còn riêng về vụ này mà các ông xử thế thì các ông nên suy nghĩ lại, nghiên cứu lại về cơ sở pháp l‎ý về hoạt động của ngân hàng chứ còn nói như vậy là không có chính xác.

BBC: Nhìn rộng ra VietinBank cũng chịu sự quản lý và kiểm tra của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) thì phải chăng NHNN cũng có trách nhiệm liên đới?

Mở bằng chương trình nghe nhìn khác

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có trách nhiệm theo dõi đôn đốc quản lý của các ngân hàng thương mại, không chỉ riêng VietinBank mà còn bao nhiêu ngân hàng thương mại khác đều chịu sự kiểm soát, kiểm tra thanh tra của NHNN, mà các nước khác gọi là ngân hàng trung ương, thì việc đấy rõ ràng là có vấn đề. Vai trò ngân hàng trung ương quản lý ở đâu. Còn Vietinbank là ngân hàng lớn thì anh làm sao lại để việc lớn như vậy xảy ra với nhân viên của anh. Ra tòa anh từ chối thì chuyện từ chối trách nhiệm là chuyện không thể chấp nhận được. Cho nên phải xem lại cả hệ thống ngân hàng chứ không riêng gì VietinBank.

Trong 10 năm nay hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam hoàn toàn không có sự quản lý chặt chẽ. Lãi suất huy động mười mấy, hai chục phần trăm, rồi cho các doanh nghiệp vai tới hai mươi mấy phần trăm là không thể chấp nhận được. NHNN phải quản lý mặt bằng lãi suất như thế nào cho nền kinh tế phát triển ổn định bền vững chứ không thể bơm lãi suất độc hại như thế để giết chết doanh nghiệp, do đó phải nghiêm túc và nhanh chóng hoàn chỉnh việc quản lý hệ thống ngân hàng.

BBC: Thủ tướng Việt Nam cũng nói về điều ông gọi là tái cơ cấu hệ thống ngân hàng Việt Nam thì theo ông động thái đó có đi đến điều mà người ta mong muốn hay không?

“Trách nhiệm ở Trung ương là thế nào, trách nhiệm của Chính phủ là sao, trách nhiệm của nhà cầm quyền tối cao là Bộ Chính trị là như thế nào? Anh có biết hay anh không biết? Nếu anh không biết thì cực kỳ nguy hiểm và nếu anh biết mà anh vẫn để xảy ra như thế thì lại còn nguy hiểm hơn”

Chuyên gia Tài chính Bùi Kiến Thành

Tôi là chuyên gia chứ không phải chính trị gia. Ông Thủ tướng nói thế là với tính chất Thủ tướng Chính phủ, một nhà chính trị lãnh đạo của một đất nước. Hai việc đấy nó khác nhau. Còn nếu hỏi tôi về phương án tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Việt Nam như hiện nay thì tôi có thể trả lời thẳng thắn, với tư cách là một chuyên gia, là chúng ta chưa làm một cái gì cả, chúng ta chưa đạt được cái gì cả. Hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay đang hoạt động ngoài vòng pháp luật, không tôn trọng điều khoản của luật về vấn đề lãi trần cho vay, vân vân.

Mọi chuyện rất đáng trách, NHNN ở đâu mà không xử lý các việc vi phạm của cả hệ thống ngân hàng như thế? Đưa đến nợ xấu tràn lan, chiếm tới 15%-17% tổng dư nợ là như thế nào. Đồng thời tạo điều kiện để giết chết hàng vạn, hàng chục vạn doanh nghiệp với lãnh suất độc hại hai mươi mấy phần trăm là như thế nào?

Tức là anh có biết rõ trách nhiệm và quyền hạn của một ngân hàng trung ương hay không? Hay là anh không biết? Không thể nào lại có ngân hàng trung ương mà để xảy ra hoạt động trong hệ thống ngân hàng thương mại mà chúng ta thấy như thế trong cả 10 năm nay được. Do vậy quản lý ngân hàng ở Việt Nam nó có vấn đề từ gốc của nó chứ không phải là một trường hợp riêng lẻ.

BBC: Giới quan sát nói rằng một trong các nhóm lợi ích chính là ngân hàng vì ngân hàng đẻ ra ra các công ty hay doanh nghiệp “sân sau” hay còn gọi là sở hữu chéo. Vậy nếu không xử lý những vấn đề nhùng nhằng thì làm sao có thể giải quyết được bình ổn kinh tế vĩ mô?

“Ở Việt Nam ai chẳng biết có sở hữu chéo, ai chẳng biết những ngân hàng nhỏ nhỏ đang làm loạn lên và đưa nền kinh tế đến suy thoái kinh khủng”

Tình trạng ấu trĩ của hệ thống ngân hàng Việt Nam là một. Việc thiếu nghiêm túc, thiếu thanh tra kiểm tra của ngân hàng nhà nước thì mới để xảy ra những việc như thế thì chúng ta phải xem lại xem trách nhiệm ở đâu và phải xử lý người nào có trách nhiệm đấy.

Ở Việt Nam ai chẳng biết có sở hữu chéo, ai chẳng biết những ngân hàng nhỏ nhỏ đang làm loạn lên và đưa nền kinh tế đến suy thoái kinh khủng.

Tất cả các việc đấy là việc của NHNN quản lý mà anh lại không quản lý để đưa đến tình trạng kinh tế bất ổn rồi đấm lưng nhau rồi vỗ ngực nhau khen thưởng nhau trong lúc cả nền kinh tế đang chết thì thế là như thế nào. Phải xem lại các việc làm từ mấy năm nay và cần coi lại tại sao để lãi suất cao ngất ngưởng như vậy. Và từ cấp tối cao cho những cấp ở dưới phải xem lại tại làm sao để có những việc như thế.

Ai chịu trách nhiệm? Trách nhiệm ở đâu? Trách nhiệm ở Trung ương là thế nào, trách nhiệm của Chính phủ là sao, trách nhiệm của nhà cầm quyền tối cao là Bộ Chính trị là như thế nào? Anh có biết hay anh không biết? Nếu anh không biết thì cực kỳ nguy hiểm và nếu anh biết mà anh vẫn để xảy ra như thế thì lại còn nguy hiểm hơn.

Do đó chúng ta nên nhân cơ hội này đặt lại cả vấn đề là trách nhiệm của ai trong việc hoạt động không có tôn trọng luật pháp, không tôn trọng qui định của thế giới về hoạt động ngân hàng, không tôn trọng quyền lợi của nhân dân Việt Nam và cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam rằng họ cần phải phát triển. Anh để xảy ra những việc như thế là sao? Ai trách nhiệm đây? Đó là những vấn đề ta cần phải suy nghĩ và đặt câu hỏi.

“Chuyện lạ” đầu năm

“Chuyện lạ” đầu năm

Thanh Quang, phóng viên RFA
2014-01-27

1-294-305.jpg

Đội thi công cưa đá dưới chân tượng đài Lý Thái Tổ sáng 19/1/2014 nhằm giải tán những người dân đến tưởng niệm trận hải chiến Hoàng sa

Photo by Nguyễn Hữu Vinh

Khi còn vài ngày nữa là tới Tân Niên Giáp Ngọ 2014 thì tại Hà Nội xảy ra “chuyện lạ” mà blogger Hiệu Minh cho là “sáng tạo”, còn blogger Người Buôn Gió gọi đó là “một điều cũng rất vĩ đại”.

Qua bài “Chuyện viên đá bị cưa dưới tượng Lý Thái Tổ”, blogger Hiệu Minh “quyết định” bình chọn bức ảnh anh Kiên, phó công an phường Tràng Tiền, Hà Nội, đã giả làm “thợ cưa đá” ngay dưới chân tượng Đức Lý Thái Tổ, với “sức sáng tạo có một không hai trên thế giới” nhằm giải tán những người biểu tình yêu nước! Nhà báo Hiệu Minh nhận xét:

Sau “trốn thuế”, “hai bao cao su đã qua sử dụng”, và nhiều “mưu” khác, nay đến đá và cưa. Chuyện xảy ra sáng 19-1-2014, nhân kỷ niệm 40 năm Hoàng Sa bị mất vào tay Trung Quốc, một đoàn biểu tình nhỏ tiến tới chân tượng Lý Thái Tổ nhằm dâng hoa và dâng hương các chiến sỹ ngã xuống vì biển đảo, thì gặp một cách giải tán biểu tình theo mẹo (hạ cấp). Đó là nhóm các nhân viên an ninh giả vờ làm công nhân cưa đá, bụi mù và gây tiếng ồn để đoàn biểu tình phải bỏ đi.Các Thủ tướng Campuchia, Thái Lan và Ukraine nên sang Việt Nam học mẹo giải tán biểu tình này vì ba vị đang nhức đầu với hàng chục vạn dân đổ ra đường chống chính phủ.

Tác giả nhân dịp này bỗng nhớ về thuở học trò hồi thập niên 1970 khi thầy bắt phải phân tích bài thơ “Tức cảnh Pắc Pó” của cụ Hồ viết về bàn đá, nơi ông dịch sử đảng năm 1942:

Sáng ra bờ suối, tối vào hang,

Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng

Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng,

Cuộc đời cách mạng thật là sang!

Và, blogger Hiệu Minh phát giác ra rằng, sau hơn 7 thập kỷ, con cháu Bác đã dùng bàn đá trước tượng vua Lý Thái Tổ để viết nên một trang sử khác của đảng CS Việt Nam – không phải bằng bút mà bằng cưa điện gắn kim cương để “viết” nên “trang sử nham nhở”.

” Một ngày đầu năm 2014, cách bài thơ Hòn Đá của Hồ Chí Minh hơn nửa thế kỷ, các học trò của Hồ Chí Minh, một lần nữa, lại đưa hình tượng hòn đá đi vào lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, nhưng một cách khoa học hơn.
– Người Buôn Gió “

Chuyện “viết sử nham nhở” ấy khiến tác giả liên tưởng đến cách đây hàng ngàn năm, khi Lý Thái Tổ quyết định dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long năm 1010 và lên ngôi vua, mang lại thái bình, an lạc cho thiên hạ qua chính sách “thân dân”, nhiều lần miễn thuế vì thương thần dân của Ngài. Ba năm sau đó, Ngài mang quân chinh phục quân Man nổi dậy ở Diễn Châu, khi về bỗng trời đất tối sầm, cuồng phong, sấm sét ầm ầm dữ dội, nên đốt hương và khấnTrời. Sau khi Vua Lý Thái Tổ khấn xong, giông tố sấm sét dần trở nên yên lặng. Từ sự việc như vậy, blogger Hiệu Minh thắc mắc:

2-262-300x217-250.jpg

Những viên đá bị cưa nham nhở. Photo by Nguyen Huu Vinh

Hôm rồi, vua Lý Thái Tổ đứng trên bục, nhìn xuống thấy cảnh dân biểu thị lòng yêu nước ngay dưới chân mình, giữa thủ đô Hà Nội, dân bị giải tán và đàn áp, liệu Ngài có nghĩ rằng, thế hệ lãnh đạo ngày nay có biết khấn vái trời đất hay không ?

Chuyện con cháu Bác cắt đá thành “trang sử nham nhở” cũng khiến blogger Người Buôn Gió liên tưởng đến “Hòn đá to và hòn đá nhỏ”, nhớ về bài thơ “Hòn Đá” của chủ tịch HCM quả “là một trong những bài thơ trác tuyệt nhất từ xưa đến nay”, nhất là vì những vầng thơ đơn giản ấy lại “ẩn chứa một bí kíp võ lâm” để một thời đòan kết được thiên hạ – thành quả mà đến giây phút gần lâm chung, Bác còn dặn các “đồng đảng” – nói theo lời Người Buôn Gió – phải giữ sự đoàn kết như giữ con ngươi trong mắt mình. Nhưng sao lại “Hòn đá” trong thơ Bác ? Bởi vì, theo nội dung bài thơ “trác tuyệt” đó,  chuyện đánh Tây, đánh Mỹ khó khăn như một hòn đá nặng mà nếu không có nhiều người xúm lại chung tay thì khó mà nhấc được hòn đá ấy. Rồi Người Buôn Gió nhận thấy:

Một ngày đầu năm 2014, cách bài thơ Hòn Đá của Hồ Chí Minh hơn nửa thế kỷ, các học trò của Hồ Chí Minh, một lần nữa, lại đưa hình tượng hòn đá đi vào lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, nhưng một cách khoa học hơn. Có lẽ thời Bác ngồi hang Pắc Pó chưa có dụng cụ cắt đá cầm tay chạy điện như bây giờ. Ngày hôm nay, với khoa học tân tiến, học trò của Bác đã chứng minh một điều cũng rất vĩ đại không kém phần triết lý là “cắt nhỏ hòn đá ra sẽ nhấc lên dễ hơn”… Hòn đá này được cắt nhỏ bởi một đảng viên có chức vụ, nơi cắt diễn ra tại chân tượng đài tiền nhân Lý Thái Tổ, giữa trung tâm thủ đô Hà Nội. Phải chăng ngày hôm nay, xẻ nhỏ lòng đoàn kết yêu nước ra là giữ được đất nước ?

“Đảng vẫn chưa trưởng thành”

Khi Xuân Giáp Ngọ 2014 đang đến với quê hương, dân tộc thì từ Hà Nội, LS Nguyễn Văn Đài nhớ lại đây cũng là lúc kỷ niệm lần thứ 84, ngày đảng CSVN được thành lập ở Quảng Châu, Trung Quốc. Và dù đảng đã trải qua chừng ấy năm, nắm quyền lãnh đạo tuyệt đối, từng “đánh Tây đánh Mỹ”, LS Nguyễn Văn Đài nhận thấy, “Đảng vẫn chưa trưởng thành”, ““vẫn như một đứa trẻ chậm hiểu”, “chưa biết tự bảo vệ quyền lực của mình bằng bản lĩnh, trí tuệ, đạo đức, uy tín” ; LS Nguyễn Văn Đài phân tích tiếp, “Sự tồn tại của đảng CSVN vẫn phải dựa vào nòng súng, bạo lực và nhà tù của quân đội và công an, như nhạc sĩ lão thành Tô Hải từng cảnh báo:

Quan trọng nhất là bộ máy đàn áp. Việc đàn áp vì tư tưởng và đàn áp đúng nghĩa của đàn áp thì ở nước ta kinh lắm! Ở nước ta bất cứ chuyện gì cũng trở thành tội phạm. Tôi xin nói rằng bây giờ họ không có ngại gì cả. Về quân đội và công an thì tôi xin nói đó là những con người được chế độ chìu chuộng số một, chiều chuộng về lương bổng các thứ. Do đó các bộ phận đó tuyệt đối trung thành vì không có đảng là họ mất hết. Cho nên họ nêu khẩu hiệu là “còn đảng còn mình”. Cái bộ máy đàn áp đó quá đầy đủ, quá sung sướng nên họ bảo vệ đến cùng chế độ.

bolapquechoa-200.jpg

Anh Kiên, phó công an phường Tràng Tiền, Hà Nội, đã giả làm “thợ cưa đá” ngay dưới chân tượng Đức Lý Thái Tổ

Trở lại bài “Đảng vẫn chưa trưởng thành”, LS Nguyễn Văn Đài cũng không quên lưu ý rằng đảng CSVN chưa thể duy trì hoạt động của mình bằng sự đóng góp đảng phí của các đảng viên, mà vẫn phải dựa vào tiền thuế của nhân dân để tồn tại”. LS Đài khẳng định:

Rất rõ ràng là đảng CSVN chưa đủ bản lĩnh, trí tuệ, đạo đức, lương tâm và hệ tư tưởng dân chủ tiến bộ để lãnh đạo đất nước xây dựng xã hội dân chủ, công bằng và văn minh. Ngoài ra, cái mà đảng CSVN đang thiếu đó là văn hóa dân chủ, thiếu đạo đức chính trị để ứng xử với những công dân và tổ chức đối lập.

Trong khi đó, blogger Phạm Đình Trọng nhận xét rằng “ Chưa cần nhắc đến sai lầm, ảo tưởng của chủ nghĩa Cộng sản, chưa tính đến sự man rợ mất tính người của chuyên chính vô sản mà đảng Cộng sản Việt Nam đã thực thi suốt gần một thế kỉ qua gây nhiều tội ác với dân tộc Việt Nam. Chỉ nhìn hình ảnh đảng Cộng sản Việt Nam trong hiện tại đã thấy rõ ‘thực chất chỉ là đảng của những tập đoàn lợi ích’ cướp bóc của dân, tàn phá đất nước”.

” Hòn đá này được cắt nhỏ bởi một đảng viên có chức vụ, nơi cắt diễn ra tại chân tượng đài tiền nhân Lý Thái Tổ, giữa trung tâm thủ đô Hà Nội. Phải chăng ngày hôm nay, xẻ nhỏ lòng đoàn kết yêu nước ra là giữ được đất nước ?
– Người Buôn Gió “

Trong giai đọan sắp tới ngày Tết Giáp Ngọ 2014, nhà văn Phạm Đình Trọng nhận thấy cái hình ảnh thực tại đó là cả nước có 63 tỉnh thì 15 tỉnh phải xin nhà nước cấp gạo cứu đói gấp, phát xuất từ nền “kinh tế nhà nước chủ đạo” khiến người dân chỉ hưởng “những từ ngữ lấp lánh vàng mã và sáo rỗng” trong khi, nhà văn Phạm Đình Trọng bức xúc, “Sức mạnh vật chất của đất nước là của nổi của chìm, là nền kinh tế, Hiến pháp 2013, đã trao cho đảng Cộng sản Việt Nam; Sức mạnh bạo lực của đất nước là quân đội và công an, Hiến pháp 2013 cũng trao nốt cho đảng Cộng sản Việt Nam”. Nhắc tới hiến pháp, MS Nguyễn Trung Tôn từ Thanh Hóa cảnh báo:

Bản hiến pháp mới vừa ra đời, họ tiếp tục duy trì điều 4 Hiến pháp và khẳng định quyền lực của đảng CSVN. Đó là, một lần nữa, họ muốn thông qua hiến pháp để củng cố quyền lực đối với người dân cũng như tạo uy tín đối với thể giới. Điều thứ hai là họ cũng muốn thông qua hiến pháp để phô trương với quốc tế rằng VN đã có bản hiến pháp tiến bộ hơn, đó là quyền con người được đưa lên những chương hàng đầu, quyền con người được tôn trọng hơn, được quy định ở trong văn bản, giấy tờ nhằm đánh lừa quốc tế để tìm vị thế tốt hơn hay cao hơn trong mối quan hệ quốc tế. Nhưng thực ra, hiến pháp không thể đi sâu vào cuộc sống của người dân. Người dân VN vẫn không có cơ hội để tìm hiểu hoặc tiếp cận với hiến pháp. Mặc dù đảng CS vẫn nói là đưa hiến pháp vào cuộc sống, nhưng thường ở VN, luật pháp được phổ biến tới người dân về mặt nghĩa vụ mà thôi, tức người dân chỉ được nghe về những nghĩa vụ mà họ phải thực hiện, còn về quyền lợi thì người dân hầu như chẳng bao giờ biết họ có được những quyền gì.

Cũng nhân thời điểm mừng năm mới này, Thông điệp đầu năm 2014 của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng với tuyên bố “thay đổi thể chế” khiến blogger Việt Hòang không khỏi thắc mắc qua bài “‘Thay đổi thể chế’ là thay đổi cái gì? Ai thay đổi?”. Và tác giả lưu ý:

Nước Việt Nam có lịch sử gần 4000 năm và trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử với bao triều đại như Đinh, Lê, Lý, Trần, Nguyễn… Những vị vua và anh hùng dân tộc trong lịch sử đã có công rất lớn trong việc dành lại độc lập và đánh đuổi ngoại xâm. Hậu thế ghi nhận công lao của họ và lịch sử không bao giờ quên ơn họ nhưng không thể vì thế mà con cháu họ lại có quyền thừa kế…đất nước Việt Nam. Đảng cộng sản cũng không thể là ngoại lệ. Nếu có công họ sẽ được lịch sử ghi nhận. Nếu họ muốn tiếp tục cầm quyền và lãnh đạo đất nước thì họ phải có chính danh trong hiện tại. Chính danh đó chỉ có được nếu họ được đa số người dân Việt Nam lựa chọn thông qua một cuộc bầu cử dân chủ, công bằng và minh bạch với sự tham gia của tất cả các đảng phái khác nhau.

Đêm nay khi em đi rồi

Đêm nay khi em đi rồi

VRNs (27.01.2014) – Úc Đại Lợi – Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ 4 mùa thường niên Năm A 02-02-2014

“Đêm nay khi em đi rồi,
Đường khuya riêng một mình tôi.
Đêm nay khi em đi rồi
Tôi về đếm bước lẻ loi.”

(Nguyễn Ánh 9 – Ai Đưa Em Về)

(Lc 2: 1-2)

Nếu câu hát trên đây, là một khẳng định nào đó gửi đến đấng bậc chủ quản ở trên cao, hẳn rằng câu trả lời cũng rất khó. Khó, không vì sự kiện người Em ấy hoặc người Anh đây nay đi rồi, mà vì sự thể cho thấy bọn tôi ở lại cũng đơn côi, sầu buồn, khó sống? Buồn, vì những lo rằng: tương lai mai ngày chẳng biết sẽ ra sao? Xấu/tốt thế nào? Bền đỗ không, vv…?

Dẫn nhập dài dòng như trên, có lẽ là câu nhập và dẫn cũng rất mạnh, cốt bảo rằng: vào tháng ngày hôm trước, khi dân con Đạo Chúa nhận được tin tức rất dị-thường cho biết: Đức Bê-nê-đích-tô 16 đã quyết-định từ-nhiệm chức-vụ tối-cao ở nhà Đạo, thì: ngay khi ấy, đã có bạn đạo của bầy tôi đây, lại nhớ đến tình-huống hôm nào của riêng mình, rồi áp dụng chuyện chung vào lời hát ở câu tiếp, rất da diết như sau:

“Người yêu ơi trong tình muộn!
Người yêu ơi trong tình buồn!
Trọn tình yêu ta đã cho nhau.
Hãy quên niềm đau.
Thời gian ơi xin dừng lại!
Thời gian ơi xin dừng lại!
Cho đôi tình nhân.
Yêu trong muộn màng.
Đừng khóc ly tan.”

(Nguyễn Ánh 9 – bđd)

Thật ra, có ới gọi tình nhân hay tình bạn thân đến như thế, thì: lời ca trên so với tình hình nhà Đạo mình, khi ấy, cũng chẳng có gì phải hát thế. Nhưng hôm nay, sau “9 tháng 10 ngày” ngồi nghĩ lại mà suy về sự thể xảy ra trong Đạo, hẳn bạn đạo và bầy tôi đây, ta thấy cũng khác nhiều.

Nhiều đấng bậc nhà Đạo, lâu nay tuy tài giỏi và thánh-thiện, nhưng khi đã rũ áo ra đi, chắc chắn sẽ có vị khác đến nối tiếp con đường do Hội thánh đặt ra, có khi còn tốt đẹp hơn trước cũng rất nhiều. Thế nên, bọn tôi đây công nhận rằng: với Hội thánh, Thần Khí Chúa vẫn không ngừng hoạt động hầu đỡ-nâng thánh Hội mình, vào mọi lúc.

Thế đó, là tình hình của Hội thánh rất Công giáo, ở đây/bây giờ. Chí ít, là khi Đức Giáo Tông tân-cử lại là đấng bậc tươi mát, cởi mở và sung sức. Tươi và sung, về nhiều thứ. Mới và cởi, về nhiều sự. Chí ít, là những thứ và những sự được báo đài/truyền thông đã và đang bình luận cũng khá nhiều. Có vị lại đã hứng chí hát thêm đôi câu ghi bên trên, như thể bạn mình đã tìm ra lời giải-đáp cho tình hình cụ-thể, mà rằng:

“Đêm nay tôi đưa em về.

Đường khuya sao trời lấp lánh.

Đêm nay tôi đưa em về.

Mắt em sao chiếu long lanh.

Đêm mai ai đưa em về.

Mình em trên hè phố vắng.

Đêm mai ai đưa em về.

Mắt em lệ ướt long lanh.”

(Nguyễn Ánh 9 – bđd

Hoặc:

“Đêm mai không ai đưa về.

Người ơi xin đừng hờn dỗi.

Đêm mai cô đơn đi về.

Xin người hãy nhớ tình tôi.”

(Nguyễn Ánh 9 – bđd)

Quả thật, hôm nay, một bạn đạo khác của bần đạo lại dõng dạc tuyên bố những điều rất “quá sức mình”, rằng: giả như ai đó cho phép bạn so sánh và bình “loạn” về tình-hình rất riêng của đấng bậc “chóp bu” của Đạo, thì bạn ấy sẽ có giòng-chảy tả cảnh/tả tình, tả cả thế-thái nhân-tình thời hôm nay, luôn cho tiện.

Vâng. Có thể là như thế, với người đời. Có thể sẽ như vậy, với chốn tịch-liêu sầu buồn của nhà Đạo hôm trước, nay có khác. Khác ở chỗ: nay lại thấy xuất hiện Đấng bậc Chủ quản thật siêu-đẳng khiến dân con mọi người còn nhớ: ngài vốn dĩ một thân một mình, dám đưa lưng ra mà gánh chịu cả một giáo hội trong tình trạng khá rối rắm cả trong lẫn ngoài, khiến người người rồi sẽ tung hô ngài bằng danh xưng hiền-từ, lành thánh rất “Phanxicô”.

Chẳng thế mà, vừa qua, nhiều vị ở đâu đó lại cũng tưng-bừng “bốc” lên nhiều lời tụng-ca/xưng hô coi ngài là bậc vĩ-nhân hiền-từ ít thấy vào thời cách mạng truyền thông/vi tính, như tin tức từng đăng tải như sau:

“Tạp chí Time vừa công bố Đức Giáo-Hoàng Phan-xicô là “Nhân Vật Trong Năm 2013” và ca ngợi ngài là tiếng nói lương-tâm mới cho toàn-thể thế-giới…

Bà Nancy Gibbs, chủ-bút báo Time, công bố về sự bình-chọn như sau: “Dựa vào sự việc ngài đã đưa chức-vụ giáo-hoàng ra khỏi chốn cung-điện mà đi vào các đường phố, đã quyết-tâm đưa một Giáo hội lớn nhất thế-giới đối-diện với những nhu-cầu sâu-xa nhất của nhân-loại và đã cân bằng giữa sự phán xét với lòng thương xót, Đức Thánh Cha Phanxicô là “Nhân vật Trong Năm 2013 của báo Time.” (xem Trần Mạnh Trác, Phản ứng trước việc Đức Giáo Hoàng Phanxicô là Nhân Vật Trong Năm của báo Time, Vietcatholic 12/1/2014)

Xem thế thì, thế giới ta đang sống, nay có thêm nhận-định rằng: chỉ trong vòng có hơn 9 tháng trời vỏn vẹn, thế giới nay thấy xuất-hiện một nhân-vật lỗi-lạc nhất năm 2013. Nói thế có nghĩa: đức “thánh-là-cha” của Đạo, đã có tất cả và là tất cả, tự bao giờ.

Góp giọng cùng với báo đài/truyền thông khắp nơi, riêng tại Úc đã thấy đấng bậc vị vọng cấp cao ở Sydney, cũng cùng cương vị Tổng Giám Mục mang tên “George” lại đã tham-gia ý-kiến tỏ-bày về sự lỗi lạc của “đức-thánh-là-cha-Phanxicô” bằng giọng nhẹ nhàng, rằng:

“2013 là năm tuyệt vời đối với người Công giáo ở khắp nơi. Tháng hai năm này, lần đầu tiên kể từ 1294 đến giờ, ta lại thấy một Đức Giáo Hoàng ở tuổi 85 nhất-quyết từ-nhiệm chức-vụ tối-cao trong Giáo hội.

Vào dạo đó, Đức Bê-nê-đích-tô 16 có nói rằng: sức khoẻ của ngài không còn thích-hợp để dẫn-dắt một Giáo-Hội tầm cỡ hơn 1 tỷ hai trăm triệu thành-viên nữa. Ít ngày sau, Mật-hội Hồng-y đã bầu Đức “Tổng” George Bergoglio của Argentina, một sĩ-tử Dòng Tên tròm trèm 76 tuổi đời chọn danh-tánh thánh Phanxicô Assisi chứ không chọn thánh Phanxicô Xaviê của bổn Dòng làm danh-xưng chính-thức cho tên gọi Giáo Hoàng của ngài. Nói tóm lại, ngài là tu-sĩ Dòng Tên đầu tiên và cũng là vị giáo chủ đầu đời của Đạo muốn mọi người gọi mình bằng tên tục nhẹ nhàng của vị thánh hiền-lành, khiêm hạ nhất trong hàng ngũ các thánh nam nữ, là thế.

Là linh-mục Dòng Tên từng tuyên-hứa sống đời nghèo-khó, ngài đã nghiêm chỉnh giữ lời thề kể từ ngày thụ-phong linh-mục và suốt thời gian làm Tổng Quản thành Buenos Aires, nước Argentina. Ngài không thích sống trong lâu-đài quyền quí, và chẳng muốn ở lại mãi trong phòng-ốc cao sang dành cho các Giáo-hoàng đương-nhiệm; nhưng, lại ưa dùng nơi đó làm chốn tiếp-tân các vị thượng-khách từ xa đến viếng toà thánh La Mã. Và, ngài chọn sống trung-thực với quyết tâm của ngài trong căn hộ nhỏ ở Vatican và chỉ chấp-nhận di-chuyển bằng chiếc xe gọn/nhỏ của do lễ-tân cung cấp, mà thôi.

Ngài chủ-trương sống chân phương, bình-dị, có lòng thương xót dân con tầm-thường như những người trẻ ở Assisi bị chứng tâm thần ngặt-nghèo mà ngài từng hạ giá ghé thăm…” (x. ĐHY George Pell, Francis defies the conventional, The Catholic Weekly 12/01/2014, tr. 2)

Chân phương/bình dị, không se-sua nổi-trội như dân làng hèn kém ở Assisi, đó mới là đặc-trưng/đặc-thù của Đức-thánh-(là)-cha ở Rôma quyết sống khó nghèo, trầm lặng theo kiểu cách Phanxicô Assisi. Đàng khác, đường đường là Giáo Chủ/Giáo Tông của Đạo Chúa rất “Rôma” ai cũng biết, thế mà ngài lại cứ sống khác thường/khác kiểu với các vị tiền-nhiệm, thế mới khó. Khó hơn nữa, là: làm sao thuyết-phục được cả một thánh Hội rộng lớn sống sao cho đúng tôn-chỉ của Đức Giêsu khó nghèo, hèn mọn xuất từ thôn làng vừa nghèo/vừa khó, rất túng thiếu như thôn làng Nazarét trầm lặng.

Thôi thì, hôm nay, bần đạo đây đề-nghị bạn/đề nghị tôi, ta thử ngang qua một vài chi-tiết có tình-tiết gói gọn trong các bản tin/bài viết này khác cho rõ lý lịch của đấng bậc rất “thánh cha”, mới được. Quyết thế rồi, nay bần đạo mời bà con tham gia tản mạn vào “miệt vườn” truyền thông có những điều được nói rõ bằng giòng chữ nhỏ, để thấy được tình hình thực tế khá khó và nghèo buộc Hội thánh phải sống cũng rất nghèo và rất khó, như sau:

“Đức Giáo Hoàng Phanxicô vừa hứa tặng $5 triệu Mỹ Kim giúp đỡ Tổng Giáo Phận Rio De Janeiro thanh-trả món nợ “nhỏ” theo sau Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới, ở đây. Toán thanh-tra tài-chánh có tên là ERNST & YOUNG vừa xem xét các chi tiêu của Đại Hội ngày 31/8/2013, thấy là: Ban Tổ chức Đại Hội đã thua lỗ đến $43 triệu Mỹ kim, cả thảy. Sau tính-toán thương thảo với các công-ty chức năng và sau khi đã bán đi một số tài-sản do Giáo-hội sở-đắc, Toà Tổng Rio de Janeiro đã giảm-thiểu món nợ đầm đìa hơn $18 triệu Mỹ kim. Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới 2013 ở Rio de Janeiro, là chuyến công-du đầu của Đức Phanxicô, sau khi ngài được bầu làm Giáo Hoàng. Thực tế, thì Đại Hội nói trên đã thu hút đến gần 3 triệu khách hành-hương khắp nơi đến Bãi biển Copacabana, Ba Tây kể từ ngày 23 đến 28 tháng 7 năm 2013, vừa rồi.” (xem Bản Tin Ngắn đăng ở cột 4 trên tuần báo The Catholic Weekly ngày 12/1/2014, tr. 4)

Bằng vào nhận xét của người đứng ngoài khi nghe tin trên, nhiều vị lại đã nhận ra rằng: bên cạnh các sự-kiện xôn xao/nổi cộm thường vẫn có những mặt tiêu cực/yếu kém ở trong và ở bên dưới. Yếu kém và tiêu cực, đôi lúc còn kéo theo nhiều đề-nghị bà con hãy đề-cao cảnh-giác cách trực-tiếp hoặc gián-tiếp, tức đề-nghị của một số người đứng ở ngoài hoặc thiết thân mới có thể giải-quyết được vấn đề những khó và nghèo.

Xét thế rồi, lại có vị cũng nhân cơ-hội có sự-kiện đình đám/nổi trội ở vài nơi, lại đã đưa ra một số câu hỏi khá “tréo cẳng ngỗng” gửi đến đấng bậc vị vọng, theo hình thức hỏi/đáp như sau:

“Thưa Cha,

Con đây vừa nghe một vị thức-giả nọ giải-thích chuyện các thần-sứ thánh-thiêng khi xưa được tạo-dựng để gần gũi Chúa, nhưng lại đã sa-ngã vấp-phạm nên trở thành một thứ ác-thần/quỉ dữ. Câu hỏi của con, vỏn vẹn chỉ thế này: sao lại thế được? Sao các thần-sứ ấy không có cơ-hội để tự sửa-đổi và được cứu-vớt như đám người phàm thấp bé là chúng ta? (Người hỏi không đề tên trên thư, nên chẳng rõ là nam hay nữ).

Nhận được câu hỏi nào cũng thế, đấng bậc có trọng trách giải đáp, cứ việc lấy giấy bút ra mà đáp-giải, chẳng cần biết người hỏi là ai, gái trai, già trẻ, lớn bé, ở đâu đến. Và, câu trả lời như sau:

“Muốn có câu trả lời cho thích-hợp, tôi thiết nghĩ: ta cũng nên đưa chuyện này vào đúng bối-cảnh của nó để nhớ rằng: thủy tổ loài người chúng ta khi xưa bị mê-hoặc, dụ-dỗ đến mê-hồn về sự cao sang/hào nhoáng theo hình thù con rắn/rít (x. Stk 3: 1-7).

Mọi người đều biết: quỉ dữ/ác thần lúc đầu được tạo-dựng theo hình thù sao đó có đủ quan-năng/phúc-hạnh tựa hồ thần-sứ rất thánh, nhưng vì lý do nào đó, họ bị Thiên Chúa khước từ, hủy bỏ mọi ân-lộc và giáng họ xuống thánh một thứ “người không ra người, ngợm chẳng thành ngợm” xa rời Chúa mãi mãi để rối rớt xuống vực sâu, chốn hoả hào.

Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo có nói về loài rắn/rít ác thần này như sau:

“Kinh Sách và Thánh Truyền của Giáo Hội thường coi chúng như “thiên thần gẫy cánh” với tên gọi “Satan” hay ác thần/quỉ dữ. Giáo Hội dạy rằng: Satan thuở đầu là thần-sứ tốt lành/hạnh đạo do Chúa dựng và sách này còn thêm: “Ác thần quỷ dữ lúc đầu là tạo-thành được Chúa thiết-lập giống như mọi loài nào khác, nhưng đã ngã-quỵ vì hành-vi khuất tất của họ.” (xem Công Đồng Latêranô IV năm 1215, DS 800; sách GLHTCG đoạn # 391).

Như anh/chị đề cập trong thư, có bảo rằng: đám ác quỷ hoặc lúc đầu là thần-sứ ấy xưa đã được phép gần-cận Chúa nơi Thiên Tòa. Nhiều vị trong/ngoài Đạo cũng suy luận như thế, nhưng rõ ràng là: các thần-sứ thánh-thiêng được Chúa chúc phúc cho ở gần, đã không còn ở trên Thiên Quốc. Bởi, linh hồn nào được ở trên Thiên Quốc gần-cận Chúa, lúc nào cũng được cuốn-hút gần Chúa đến độ không thể chống lại được để rồi được vào với tình hương-yêu hiền-dịu của Chúa; và không thể chối bỏ Ngài dù một phút. Thật khó tưởng tượng rằng: linh hồn nào đã ở với Chúa trên Thiên Quốc rồi mà lại có thể lỗi phạm hoặc vấp ngã được.

Từ đầu, Chúa phú ban cho mọi thần-sứ thánh-thiêng nhiều ơn lành trợ giúp. Trong cảnh sống thiên-nhiên tự-tại, các ngài là thần-sứ tinh-tuyền lúc nào cũng tự do, như mọi thần thánh khác.

Bằng vào bản chất thánh thiêng do Chúa tạo dựng, thần sứ nào trên Thiên Quốc cũng đều ở trên bất cứ mọi thọ-tạo nào khác, kể cả con người. Ở chốn cao-siêu nhiệm-mầu ấy, thần-sứ thánh-thiêng cũng giống như Ađam Evà, được Chúa ban cho ân-huệ tự-tại, tức được san sẻ đời sống lành thánh có bản-chất rất thánh. Quả là, các ngài rất cận-kề Thiên-Chúa cả vào lúc các ngài không hiện-diện cách thực-tế nơi Thiên-toà nữa, cũng thế. Các ngài nhận biết Thiên-Chúa và có khả-năng yêu-kính Thiên-Chúa bằng nhận-thức và tình thương tuyệt-vời hơn chúng ta. Và, đương-nhiên là các ngài được kêu gọi đi vào cuộc sống vĩnh-hằng gần cận Thiên Chúa.

Thế nhưng, làm sao có được sự thể là một số thần-sứ lại chối bỏ Thiên Chúa được? Câu trả lời chỉ có thể là: do lòng tự cao dự đại. Nhiều thánh Tổ-phụ trong Giáo-hội từng áp-dụng lời Chúa nói với dân Do-thái cho các ác thần/quỷ dữ, như:

“Phải, từ lâu rồi, ách đè lên ngươi, ngươi bẻ gẫy,

Xiềng xích trói buộc ngươi, ngươi giật phăng;

Ngươi còn dám nói: “chẳng làm tôi đòi ai cả.” (Giê 2: 20)

Cả khi có được bản-chất “hơn hẳn” như thế, một số thầnsứ nhà Trời không còn muốn phục-vụ ai hết, ngay cả Thiên Chúa là Đấng dựng ra mình và chúc phúc mình rất nhiều, cũng không. Tác-giả John Milton, trong cuốn “Thiên Đàng luột mất” đã đưa vào miệng ác-thần/quỷ dữ những câu như: Thà được thống trị chốn hoả-hào còn hơn cứ phải phục-vụ trên Thiên-Quốc.” (x. Sách đã dẫn chương I trang 263)

Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo lại cũng dạy: “Sa-ngã của các thần-sứ là chọn lựa tự do, bởi các vị ấy đã chối bỏ Thiên-Chúa và quyền-năng Người một cách triệt-để không thể thu hồi lại được. Suy về hành động nghịch-chống Thiên-Chúa, ta thấy rõ nơi lời khuyến-dụ của Tên Cám Dỗ bậc thủy-tổ loài người như câu: Các người sẽ giống như Thiên Chúa biết được điều thiện điều ác.” (x. Sáng Thế Ký 3: 5, GLHTCG đoạn #392)

Xem thế thì, cả loài quỷ dữ/ác thần nữa cũng muốn như Thiên-Chúa nên đã bị tống vào chốn hoả-hào đầy than khóc. Thánh Phêrô có lần nói:

“Thật vậy, Thiên Chúa không dung thứ cho các thần-sứ có tội, nhưng đã đưa họ vào chốn ngục-thất tối tăm, chờ ngày phán xét.” (x. 2Phêrô 2: 4)

Riêng thánh Mát-thêu lại cũng ghi chép Lời của Chúa nói về những người bị kết tội vào ngày phán xét buổi thế tận, có những câu như:

“Hỡi quan bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào nhốn lửa đốt đời đời, nơi dành sẵn cho tên Ác Quỷ và các sứ-thần của nó.” (Mt 25: 41)

Ai không tin vào hoả ngục, cũng nên ghi nhớ những lời đanh thép của Phúc Âm. Chắc chắn, Ác-thần/Quỷ Dữ vẫn hiện-hữu và chúng đang ở chốn hoả hào/ngục thất; thế nên, ít nhất phải có hoả-ngục hoặc địa-ngục cho đám này. Hỏi rằng: tại sao các Ác-thần dữ tợn này không được ban thêm ân-huệ nào hoặc huệ-lộc như chúng ta? Thì, câu trả lời nằm trong đầu óc rất biết điều của các thần-sứ cao sang nhiều hiểu biết. Các ngài hiểu rõ ràng ngay từ đầu về hậu-quả của sự việc mình chọn lựa, khi các ngài dám chối-bỏ Thiên-Chúa.

Các ngài biết rõ rằng: chỉ có một cơ-hội độc nhất mà thôi, và chọn lựa của các ngài không thu hồi được. Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo đã trích lời thánh Gioan Đamascene từng nói: “Chính vì đặc tính không thu hồi chọn lựa của mình được, nhất thứ trong việc đào-thoát chối-bỏ tình thương-yêu vô bờ bến của Thiên-Chúa đã khiến cho tội lỗi của các thần-sứ trên cao không thể tha thứ được.” Và sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo lại cũng thêm: “Không có chuyện sám-hối đối với các thần-sứ trên trời sau khi sa ngã như con người, vì không thể có hối cải sau khi chết rồi.” (xem cuốn De Fide Chương 2, câu 4; và GLHTCG đoạn #393)

Để kết luận, tưởng cũng nên phấn đấu sao cho mình biết sống khiêm hạ và hạnh-phúc khi phục-vụ Thiên-Chúa là Đấng đến để phục vụ con người chứ không phải để con người phục vụ Ngài.” (Mt 20: 28) (Xem Lm John Flader, Fall of the Angels, Question Time, The Catholic Weekly 12/1/2014 tr. 10)

Giải đáp và nhủ khuyên theo đường lối chính-mạch như đấng bậc vị vọng ở trên từng làm, là “nghề của chàng”. Thiện/Ác hai bên, dứt khoát không thể trộn lẫn/nhào quyện được. Đó là thần-học nghe rất quen. Tức, thứ thần-học chết chóc chuyên nhắm vào chuyện doạ dẫm với hình-phạt. Thần-học “Thiên-Chúa-là-Tình-Yêu” chẳng bao giờ trừng phạt ai thì sao? Tình-Yêu chân chính của Chúa đâu bao giờ doạ dẫm hay trả thù! Đó là chưa kể, chuyện thần-sứ sa-ngã thành quỷ sứ có là sự thật lịch sử, khách quan hay chỉ là nghĩa bóng nào đó, mà các thánh-sử muốn diễn-tả?

Thật ra thì, hỏi hay nói như thế vẫn là những vấn-nạn thần-học khó minh định. Hay nhất là, mời bạn và mời tôi, ta đi vào những gì tích-cực và vui đẹp của nền thần-học Kinh-thánh, tựa hồ đề-nghị của Đức-thánh-đương-nhiên-là-cha Phanxicô hôm nọ có nói, làm đoạn kết cho mục phiếm hôm nay, rằng:

“Đức Giáo Hoàng Phanxicô có nói: Hội thánh nên để ý đến “tâm-thức của kẻ tin” (sensus fidelium) khi thi hành thẩm-quyền dạy-dỗ của mình. Nhưng, đừng bao giờ lẫn lộn tâm-thức ấy với chánh-kiến phổ-cập của nhiều người về vấn-đề đức tin.

Phát biểu trước các thành-viên của Ủy Ban các nhà Thần-học trên thế giới, một bộ-phận cố vấn cho Vatican vào ngày 6/12/2013, rằng: Nhờ vào ân-huệ của Chúa Thánh Thần, anh chị em thành-viên của Hội thánh có được tâm-thức niềm tin. Đây là vấn-đề về loại-hình “quan-năng tinh-thần” vốn cho phép ta cùng với Hội-thánh suy-nghĩ và luận-giải những gì phù-hợp tính kiên-định của niềm tin rao giảng và tinh thần của Phúc Âm. “

Đức Giáo Hoàng có nói với giới chức có thẩm quyền dạy-dỗ trong Giáo hội rằng các vị có bổn phận phải quan tâm để ý đến những gì được Chúa Thánh Thần tỏ cho Hội thánh biết ngang qua những biểu-tỏ thực-thụ nơi “tâm-thức của kẻ tin”, mới được. Nhưng ngài cũng căn dặn các vị thần-học-gia này rằng: đừng lẫn lộn tâm-thức này với thực-tại mang tính xã-hội-học của phần đông những người có lập-trường quan-điểm chung. Đó lại là chuyện khác. Chính đó là chuyện rất quan trọng và công tác của các vị là trau chuốt các chuẩn-mực vốn dĩ cho phép ta luận-giải các biểu-tỏ đích-thực về “tâm-thức của kẻ tin”, như thế.” (xem Francis Rocca, Papal message to theologians: don’t assume too much, The Catholic Weekly 15/12/2013 tr. 7)

Suy nghĩ thế rồi ta cứ đầu cao mắt sáng, hiên ngang mà cất lên lời ca của nghệ sĩ ở trên để thêm niềm tin vào “Thiên-chúa-Là-Tình-Yêu” rất tích cực và vui đẹp rằng:

“Đêm nay tôi đưa em về.

Đường khuya sao trời lấp lánh.

Đêm nay tôi đưa em về.

Mắt em sao chiếu long lanh…”

(Nguyễn Ánh 9 – bđd)

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn suy nghĩ rất lung

Về lời của thần-học-gia Phanxicô

và các thần-học gia chuyên hù-dọa

về chuyện tin Thiên-Chúa-Là-Tình-Yêu

Cũng rất nhiều.

Một lời nói phải

Một lời nói phải

Tưởng Năng Tiến

2014-01-23

hinh1-305.jpg

“One kind word can warm three winter months: Một lời nói tử tế có thể làm ấm lòng suốt cả mùa Đông.”

Courtesy Photo

Tôi thấy trên tờ lịch tháng Giêng năm nay – tại văn phòng khai thuế – ảnh chụp những cành lá tuyết phủ trắng xoá, và bên dưới là một câu ngạn ngữ của người Nhật Bản:  “One kind word can warm three winter months: Một lời nói tử tế có thể làm ấm lòng suốt cả mùa Đông.

Tôi đã trải qua hơn ba mươi mùa Đông (lạnh giá) nơi xứ người nhưng dường như chưa bao giờ nghe được một lời lẽ tử tế nào ráo trọi. Năm nay, may thay, vào những ngày cuối năm (khi nhiệt độ nhiều nơi rơi xuống trừ âm) nhưng tôi vẫn cảm thấy rất ấm lòng vì chợt nghe được một lời nói phải:

Hòa giải mới có thể phát triển

“Còn nhiều trang sử cần được mở ra, không chỉ có ở Hoàng Sa, dù ở đâu trên mảnh đất của ông cha, người Việt Nam chỉ nên để súng ống quay về cùng một hướng. Chỉ có hòa giải quốc gia mới có thể phát triển quốc gia. Một dân tộc không thể vững mạnh nếu như lòng người phân tán.” Đó là kết luận của nhà báo Huy Đức trong bài viết (“Hoàng Sa & Hoà Giải Quốc Gia”) mới nhất của ông, đọc được vào hôm 12 tháng 1 năm 2014:

“Hóa ra họ cũng có ý thức bảo vệ đất nước không hề kém chúng ta”. Phải khi Trung Quốc đánh Hoàng Sa, 19-1-1974, ông Nguyễn Đăng Quang – một thành viên của phía Hà Nội trong “Phái đoàn liên hiệp quân sự 4 bên” thi hành Hiệp định Paris (1973) – mới nhận ra điều này. Họ ở đây là các sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa, bên mà cho đến nay, nhiều người vẫn gọi là phía “ngụy”.

Phải mất 40 năm sau, báo chí nhà nước mới bắt đầu đăng hình bà quả phụ trung tá Ngụy Văn Thà lên trang nhất, sau khi một tổ chức “dân lập” – trung tâm Minh Triết – chứng nhận chồng bà đã “hành động vì biển đảo”.

Phải mất 40 năm sau, các thế hệ người Việt trong nước mới biết hình ảnh trung Tá Ngụy Văn Thà, thiếu tá Nguyễn Thành Trí, đứng thẳng trên đài chỉ huy chiến hạm Nhựt Tảo khi những loạt đạn đang bắn từ các tàu Trung Quốc; biết đến, hai hạ sĩ Lê Văn Tây và Ngô Văn Sáu từ chối xuống tàu cứu sinh, chiến đấu cho đến viên đạn cuối cùng rồi đi vào lòng biển Hoàng Sa cùng con tàu Nhựt Tảo…

Bên dưới là vô số những lời tán thưởng, xin đọc chơi (vài/ ba) cho nó … đã:

“Đọc bài này tôi xúc động chảy nước mắt!”

“Anh viết nhiều nữa đi, cho lòng người thống nhất.”

“Bài viết hay,xin cám on anh HD đã nói thay cho cả triệu tấm lòng.”

hinh3-250.jpg

“Tôi không biết những người mặc thường phục vô cớ hành hung tôi là ai, tôi tha thứ cho tất cả họ.Tôi mong rằng họ đừng để ĐCSTQ lợi dụng, hãy để cho chúng tôi yên ổn tu luyện!” Linh Phan, học viên Pháp Luân Công Việt Nam. Ảnh và chú thich: Dân Làm Báo.

Nói phải củ cải cũng nghe: “Một dân tộc không thể vững mạnh nếu như lòng người phân tán.” Nhân tâm quả đang ly tán. Tuy nhiên, mọi thành phần của dân tộc Việt sẽ vẫn có nhiều cơ may, cũng như cơ hội (không mấy khó khăn) cùng ngồi lại bên nhau – ngoại trừ những người cầm đầu đảng cộng sản ở Việt Nam. Nói chuyện phải/quấy với củ cải (e) vẫn dễ hơn với họ, những kẻ luôn luôn nói một đường nhưng làm một nẻo.

Hãy coi thử xem Đảng và Nhà Nước CSVN đã thực thi “chính sách đại đoàn kết dân tộc” ra sao, kể từ khi họ nắm được quyền bính đến nay:

-Vào những năm đầu của thập niên 1950, nhân danh chuyện “cải cách ruộng đất,” họ đã “nâng thành phần” vài trăm ngàn nông dân (ở miền Trung và miền Bắc Việt Nam) lên thành phú nông hoặc trung nông, để mang ra đấu tố, rồi giết hại.

-Cuối thập niên 1960 (trong cái gọi là Trận Tổng Công Kích Mậu Thân) họ đã chôn sống hàng chục ngàn người dân miền Nam, sau khi dán cho nạn nhân cái nhãn hiệu là “thành phần ác ôn”, cần phải thủ tiêu.

-Cũng chính họ – trong một phần tư thế kỷ – đã chia người dân miển Bắc thành nhiều giai cấp riêng biệt và dùng chính sách tem phiếu “gạo ngô, từng lạng từng cân (để) cắt nhỏ tình thâm cốt nhục” của mọi gia đình.

-Sau đó, sau khi chiếm được cả nước, họ phân định dân chúng miền Nam ra nhiều thành phần khác biệt (đối nghịch hoặc thù nghịch với nhau) rồi bắt cả trăm ngàn “ngụy quân” và “ngụy quyền” vào trại cải tạo, lùa hàng triệu gia đình “ngụy dân” đi kinh tế mới, đánh cho tán gia bại sản những kẻ bị gọi là “tư sản mại bản.”

-Rồi cũng chính họ đã biến cả nuớc Việt Nam thành một trại tù ngột ngạt, đói khát khiến hàng mấy triệu nguời đã phải liều chết đâm xầm ra biển, và ít nhất là một phần tư trong số những người này đã vùi thây dưới lòng đại dương.

Những kẻ sống sót, vừa kịp bước chân lên những bờ bến lạ đã nghe họ tới tấp ném theo những lời chửi bới và nguyền rủa vô cùng tàn tệ: “thành phần bất hảo, cặn bã của xã hội, ma cô, đĩ điếm, trộm cướp, trây lười lao động, ngại khó ngại khổ, phản bội tổ quốc, chạy theo bơ thừa sữa cặn… ”

Tôi không biết những người mặc thường phục vô cớ hành hung tôi là ai, tôi tha thứ cho tất cả họ.Tôi mong rằng họ đừng để ĐCSTQ lợi dụng, hãy để cho chúng tôi yên ổn tu luyện!” Linh Phan, học viên Pháp Luân Công Việt Nam.

Giải pháp

Làm cách nào có thể “để súng ống quay về cùng một hướng,” và để “có hòa giải quốc gia” với những kẻ có “thành tích” bất hảo, bất nhân, bất nghĩa, bất tín trí và bất trí (đến) như thế? Đây là chuyện vô phương thực hiện, nếu nhà đương cuộc Hà Nội không tiên quyết thực thi hiện những điều căn bản sau:

-Bãi bỏ điều 4 HP, từ bỏ độc quyền cai trị đất nước.

-Giải tán cái quốc hội hiện hành, với hơn 90 phần trăm dân biểu là ĐVCSVN, một cơ chế dân cử trá hình, chỉ có mục đích là thao túng mọi ý nguyện của người dân.

-Trả lại đất đai cho nông dân.

-Trả lại nhà máy và công đoàn cho công nhân.

-Phi chính trị hoá quân đội.

-Trả lại hoàn toàn sự tự trị và độc lập của tất cả tôn giáo lớn nhỏ ở đất nước này, cùng tất cả tài sản vốn                     thuộc quyền sở hữu của mọi giáo hội.

-Chấm dứt mọi hình thức kỳ thị những nhóm dân bản địa và thiểu số.

-Ngưng đàn áp sách nhiễu những tổ chức xã hội dân sự, và thành viên, dưới mọi hình thức.

-Tổ chức Tổng Tuyển Cử Tự Do để người dân có quyền lựa chọn một thể chế đa nguyên, với một nhà nước tam quyền phân lập, như đa phần các quốc gia văn minh tiến bộ khác trên thế giới.

-Phóng thích hơn 355 tù nhân sinh quán ở Tây Nguyên (phần lớn bị bắt giam với tội danh “phá hoại tình đoàn kết dân tộc”) và tất cả những tù nhân lương tâm khác, cùng với lời xin lỗi cũng như mọi bồi thường thoả đáng.

hinh2-250.jpg

Cảnh sát cơ động tỉnh Gia Lai, ảnh minh họa. Photo courtesy of LD.

Bao giờ mà những yêu cầu căn bản vừa nêu chưa được thực hiện thì mọi lời kêu gọi đoàn kết dân tộc, hoà giải quốc gia (của chế độ hiện hành) chỉ là một thứ chiến thuật được xử dụng vì nhu cầu tình thế. Chiến thuật này đã được những người CSVN xử dụng nhuần nhuyễn, và thành công nhiều lần, trước đó:

Trước 1954, họ thành lập Hội Liên Hiệp Quốc Dân Việt Nam. Văn Kiện Đảng Toàn Tập, tập 8 (1945-1974) ghi rõ:

“Trước hết, Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam không phải là một mặt trận thống nhất riêng của các đảng phái yêu nước, chẳng hạn như Việt Minh. Nó là một khối kết hợp các đảng, các phái và các tầng lớp nhân dân vô đảng vô phái cùng chung một mục đích: vì nước.”

Mới thanh toán xong được nửa nước họ đã không ngần ngại “làm thịt” ráo những đảng viên của những “đảng phái yêu nước khác,” rồi gửi đám công chức thời trước vào tù, và coi những “ngụy dân” như những công dân hạng bét trong phần đất mà họ vừa chiếm được.

Sau đó, họ cũng đã dựng lên Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, Phong Trào Tây Nguyên Tự Trị, Liên Minh Các Lực Lượng Dân tộc, Dân Chủ và Hoà Bình Miền Nam Việt Nam để “đoàn kết Bắc – Nam, đoàn kết quân – dân, đoàn kết nhân dân nông thôn và nhân dân thành thị, đoàn kết tất cả các tầng lớp nhân dân vì mục tiêu chung: giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.”

Xong việc, là họ giở mặt ngay tức khắc – theo như lời “than phiền” của ông Ya Biloh, một người dân của Tây Nguyên:

“Nhưng từ sau gày 30-4-1975, những đóng góp và hy sinh của họ cho phe cộng sản tan biến vào mây khói, những lời hứa cho tự trị trước kia bị nhận chìm vào quên lãng. Phong trào Tây Nguyên Tự Trị, cũng như Mặt trận Giải phóng Miền Nam, đã không những bị giải tán mà còn bị cấm nhắc tới…

Ngày nay không những chính quyền cộng sản đã phản bội những kết ước ngày xưa mà còn áp dụng chính sách phân biệt đối xử với cộng đồng người thiểu số Tây Nguyên một cách không nễ nang. Họ đã cậy đông hiếp ít, cậy mạnh hiếp yếu, cậy gian manh hiếp thật thà. Khao khát duy nhất của người Thượng là được sinh sống bình yên trên lãnh thổ của cha ông để lại cũng không được toại nguyên, họ bị xua đuổi vào những vùng hẻo lánh để chết dần chết mòn theo thời gian vì không thể canh tác.”

Có lẽ vì nghĩ rằng dân tộc Việt không ai còn có trí nhớ nên họ đang thản nhiên hô hào: “Để giữ vững chủ quyền phải đoàn kết dân tộc.”

Trước nhà báo Huy Đức, vào tháng 12 năm 2007, nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự cũng đã hy vọng viễn tượng bị xâm sẽ “là cơ hội vàng cho dân tộc và Đảng Cộng Sản Việt Nam. Vài năm sau, sau khi sinh viên  tổ chức biểu tình đồng loạt ở Sài Gòn và Hà Nội để phản đối Trung Quốc xâm lược – vào tháng 8 năm 2011 –  ông vẫn kiên nhẫn trông đợi đây là “cơ hội vàng – lần thứ hai.”

Bản án hơn hai mươi năm tù dành cho Tạ Phong Tần, Điếu cầy Nguyễn Văn Hải – ngay sau đó – chắc chắn đã làm cho những người nhẫn nại và lạc quan cũng đều phải nản lòng, và thất vọng. Nếu vẫn chưa, xin đọc thêm (đôi dòng) về bản tin vừa loan của , nghe được vào hôm 18 tháng 1 năm 2014:

“Đêm thắp nến tri ân tử sĩ Hoàng Sa vào tối 18/1 ở Công viên Biển Đông Đà Nẵng đã chính thức bị hủy bỏ…

Từ Đà Nẵng, ông Nguyễn Khắc Mai, giám đốc Trung Tâm Minh Triết Việt, cho biết:

“Hiện nay là người ta dập nến rồi, không cho đốt nữa. Tức là người ta định là thanh niên sinh viên đốt nến xếp hình tổ quốc Việt Nam, hai  quần đảo Hoàng Sa Trường Sa, nhưng mà lệnh từ Hà Nội vào là không được đốt nến nữa, không được đốt nến, không được thắp lửa trong lòng người…”

Qua hôm sau, 19 tháng 1 năm 2014, RFA đưa tin tiếp: Hà Nội: “Lễ tưởng niệm trận Hoàng Sa bị giải tán.”

Tôi thành thực tin rằng nói chuyện phải/quấy với củ cải vẫn dễ hơn với “lãnh đạo” cộng sản ở Việt Nam, và xin mượn lời của ông Trần V. (độc giả của trang Dân Luận) để thay lời kết cho bài viết ngắn ngủi này:

“Khi nào Đảng Cộng còn cầm quyền, khi đó họ còn tiếp tục làm cho công việc hoà giải dân tộc không thể nào thực hiện được.”

Tưởng Năng Tiến,

23-01-2014

Thánh Phaolô, Tông đồ của mọi người

Thánh Phaolô, Tông đồ của mọi người

Trầm Thiên Thu (Chuyển ngữ)

Chúa Cứu Thế


VRNs (25.01.2014) – Sài Gòn – Từ một người hăng say bắt đạo Chúa, thậm chí còn tham gia giết chết Thánh Stêphanô (Phó tế, Tử đạo tiên khởi), đã trở thành người nhiệt thành rao giảng Chúa-Giêsu-bị-đóng-đinh. Có thể nói rằng nếu không nhờ con người mạnh mẽ, thông minh và có ảnh hưởng rộng lớn này, thì niềm tin Kitô giáo có thể vẫn chỉ ở phạm vi nhỏ hẹp tại Do thái.

Từ Giêrusalem đến Damascô, sau 3 năm Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên Thập giá, một thanh niên Do thái ở Tarsus tên Saolê bị ngã ngựa vì một thị kiến ấn tượng. Tiếng Chúa Giêsu gọi: “Saolê! Tại sao anh tìm bắt tôi?”. Bị mù vì thị kiến, thanh niên này phải có người dẫn vào thành phố. Chưa đầy 3 ngày, thanh niên này bình phục và trở nên một thụ tạo mới – một người được tuyển chọn của Thiên Chúa.

Như vậy, nhờ sự thay đổi lớn trong tâm hồn, một trong các nhân vật vĩ đại nhất trong lịch sử Kitô giáo đã trở nên một người có đức tin. Chàng đã bỏ tên Do thái để thay tên Latin là Phaolô. Với tư cách là Tông đồ của dân ngoại, Phaolô được sai đi truyền giáo ở Địa trung hải. Ông chuyển Kitô giáo từ một giáo phái nhỏ Do thái thành một tôn giáo có tầm cỡ thế giới. Khi thuyết giảng và thư từ, Phaolô đã có hệ tư tưởng mà cho đến nay vẫn là nền tảng của việc giáo huấn Kitô giáo.

Ngoài các thư chúng ta có, trong sách Công vụ Tông đồ là nhật ký của bạn bè, thánh Luca – thầy thuốc và tác giả Phúc âm thứ ba. Từ các nguồn đó nổi bật một đời sống có nhiều khủng hoảng, quyết định nhanh chóng, lối thoát nhỏ hẹp, những dịp gặp gỡ, và những bùng nổ rải rác tạo nên câu chuyện phiêu lưu kỳ thú.

Thánh Phaolô sinh khoảng năm 5 tại Tarsus, Tiểu Á, ngày nay là thành phố tĩnh lặng ở Thổ nhĩ kỳ, nhiều người ở đây đã trở nên công dân của Đế quốc Rôma.

Khi còn nhỏ, Saolê học kinh doanh, có thể vì người cha là người buôn vải. Nhưng Saolê lại có tài lãnh đạo. Hơn 10 tuổi, Saolê đến Jerusalem học với thầy Gamaliel. Trong đền thờ chật người, lần đầu Saolê nghe nói đến Đức Kitô rao giảng ở Galilê. Dù chưa hề gặp Chúa Giêsu, “tiếng gọi” kia vẫn làm ông thay đổi. Ông đã bách hại Giáo hội sơ khai bằng cách hành hạ các tín hữu cho đến chết, trói và tống ngục cả đàn ông lẫn phụ nữ. Người đầu tiên bị Phaolô thủ tiêu là thánh Stêphanô, bị ném đá đến chết trước mặt người Pharisiêu. Vô tri bất mộ. Nhưng rồi Phaolô đã nhận là mình được Thiên Chúa thương đặc biệt. Phaolô đã tin tưởng, kiên trì, tự nhận mình yếu đuối, và ơn tha thứ tuôn đổ trên ông. Phaolô cũng đã than phiền về tính vô định của mình: “Điều tôi muốn thì tôi lại không làm, điều tôi không muốn thì tôi lại làm” (Rm 7:19). Nhưng nhiệm vụ lịch sử của Phaolô là định mệnh không chọn một người khá hơn. Là dân biệt phái, Phaolô đã trích Cựu ước khoảng 200 lần trong các thư gởi các Giáo đoàn. Là người Rôma, Phaolô đã đi khắp Đế quốc, nói 3 ngôn ngữ: tiếng Aram, tiếng Do thái và tiếng Hy lạp, đồng thời còn thông thạo tiếng Latin nữa.

Với tài năng như vậy, Phaolô khả dĩ tự biến thành “mọi sự cho mọi người” – Do thái đối với người Do thái, Rôma đối với người Rôma, ngụy biện đối với người ngụy biện, chân chất đối với người chân chất. Trổi vượt, khôn ngoan và hòa đồng, Phaolô còn là người rất nhân bản, dám tin rằng mọi người đều bình đẳng dù sống ở thời kỳ phân biệt giai cấp.

Hành trình tông đồ của thánh Phaolô đã đưa ngài tới những miền đất lạ, rảo bước khắp Tiểu Á, đến đảo Cyprus để “thả lưới”, vượt sang Âu châu để rửa tội cho những người ở Macedonia. Ngài đến đâu cũng gặp thuận lợi và được chấp nhận như một người Do thái. Chỉ khi đến với dân ngoại, thánh Phaolô mới gặp sự tức giận của người Do thái. Các tư tế cho rằng nam giới phải chịu cắt bì mới được cứu độ, vì luật đã ghi như vậy. Nhưng với tư cách một nhà truyền giáo, thánh Phaolô yêu cầu mỗi Kitô hữu phải bỏ luật Môi-sê, nếu không Kitô giáo không bao giờ là tôn giáo của mọi người, mà vẫn chỉ là sự thay đổi của Do thái giáo: Đức tin mới là vấn đề chứ không phải lề luật theo nghĩa hạn hẹp của nó. Từ đó phân chia thành Công giáo và Do thái giáo.

Không hiểu bằng cách nào mà thánh Phaolô “thương lượng” được để có thể đi qua vùng Cilician Gates, nơi có nhiều bọn thảo khấu ẩn nấp trên các vách đá cheo leo và các thác nước hiểm trở như thế. Ngài thường đi bộ, nhiều đêm phải ở lại trong hang động ẩm ướt, gió lộng, tuyết phủ, mưa bão liên tiếp. Chỉ một mục đích duy nhất khiến ngài miệt mài hành trình tông đồ là “tận hiến cuộc đời cho Chúa Giêsu Kitô”.

Ngài vẫn mưu sinh khi có thể, bằng cách làm vải lều – nghề cũ của ngài. Chẳng hạn ở Côrintô, thành phố trù phú của người Hy lạp, ngài làm chung với vợ chồng người Ý. Cơ sở phát triển tốt. Mọi tầng lớp dân chúng đều ghé vào mua hoặc tham quan và trò chuyện. Tính cách và sự duyên dáng của ngài đã gây ấn tượng với khách thập phương: Một cộng đoàn mới.

Nhiều người ngoại giáo gia nhập đạo. Thánh Phaolô khuyên họ đừng nóng giận, xảo trá, nguyền rủa hoặc mỉa mai người khác. Thời gian ngài ở Côrintô khoảng năm 51 (sau công nguyên), cũng là thời điểm ngài viết các thư gởi các giáo đoàn và các sứ đồ. Kho tàng văn chương độc nhất vô nhị này là một phần trong Tân ước ngày nay, được xuất bản cùng với các Phúc âm. Được viết bằng tiếng Hy lạp cho các giáo đoàn sơ khai và các cá nhân, các thư của ngài viết không có ý tạo nên công việc đơn lẻ. Kết hợp với nhau, các thư có cấu trúc chặt chẽ về tư ưởng tôn giáo, làm cho thánh Phaolô trở nên thần học gia đầu tiên của Kitô giáo. Ngài còn là học giả uyên bác, tử tế, lịch thiệp. Những điều ngài viết ra là những trân châu ngọc bảo.

Thư gởi giáo đoàn Rôma là thư dài nhất và là kiệt tác của thánh Phaolô. Các nền tảng như ân sủng, công trạng và ý muốn tự do, bắt đầu bằng khả năng và chính xác, đó là khởi nguồn cho các thần học gia Kitô giáo. Quan niệm chính của thánh Phaolô là Ơn Cứu Độ: Loài người sống trong tội cho đến khi Thiên Chúa sai Con Ngài là Đức Giêsu đến cứu thoát. Nhờ cuộc sống và cái chết trên Thập giá, Đức Giêsu đã cứu độ nhân loại. Mọi người thực hiện Ơn Cứu Độ của chính mình bằng ân sủng và đức tin. Thánh Phaolô ẩn dụ bằng việc cởi bỏ “con người cũ” có thể ám chỉ việc thay đổi tâm tính của ngài sau biến cố ở Damascus. “Con người mới” sống trong Đức Kitô và “cái chết không còn thống trị trên Ngài”. Trước đây cô đơn và bị bỏ rơi, nhưng thánh Phaolô đã tìm thấy nguồn vui nơi chính Đức Kitô và anh em, và hân hoan tuyên bố vào cuối thời gian rằng chúng ta được kết hợp với Chúa trong vinh quang của Ngài, chúng ta sẽ gặp Ngài trực diện.

Nhiệm vụ của thánh Phaolô gọi ngài đến một nơi khác là Giêrusalem, dù ngài định đi Rôma. Ngài đến Palestine với điềm chẳng lành. Sự thù ghét manh nha trong giới lãnh đạo Do thái. Khi thánh Phaolô vào đền thờ, có tiếng gọi giật ngược. Ngài bị kết án tử vì tội đưa dân ngoại vào đền thờ. Họ kéo ngài ra khỏi đền thờ và hành hạ gần chết. Một binh sĩ Rôma kịp xông vào cùng với vài binh sĩ khác giải cứu thánh Phaolô. Rồi sau đó ngài lại bị tống ngục ở Rôma. Nhiều học giả cận đại cho rằng thánh Phaolô bị kết án và được tha bổng. Các tác giả viết sách Kitô giáo cho biết thánh Phaolô đến tận Tây ban nha và Á châu. Đó là thời gian chống Kitô giáo dữ dội. Khoảng năm 60, thánh Phaolô bị bắt lần nữa và bị giải về Rôma. Tương truyền chính vua Nero, người chống Kitô giáo kịch liệt, đã ngồi ghế thẩm phán kết án thánh Phaolô bị xử trảm tại Hang Khuynh Diệp gần Rôma. Người ta nói rằng thủ cấp của thánh Phaolô rơi xuống và nảy lên 3 lần trên đất tạo thành 3 giếng nước. Cách đó khoảng 2 dặm là Đại Thánh đường Thánh Phaolô Ngoại thành được xây dựng chỉ sau khi ngài tử đạo một thời gian ngắn.

Đức Giêsu đã tạo lập một niềm tin mới, chuyển hóa một Saolê thành một Phaolô hiên ngang đem niềm tin đó tới mọi nơi trên thế giới để có một đạo Công giáo như ngày nay.

ERNEST O. HAUSER

Trầm Thiên Thu (Chuyển ngữ)

BÀI THƠ ĐÔI DÉP

BÀI THƠ ĐÔI DÉP
A POEM OF A PAIR OF SLIPPERS

Lời Việt: NGUYỄN TRUNG KIÊN
Lời Anh: NGUYỄN THỊ BÍCH NGA


Bài thơ đầu anh viết tặng em
Là bài thơ anh kể về đôi dép
Khi nỗi nhớ ở trong lòng da diết
Những vật tầm thường cũng biến thành thơ

Hai chiếc dép gặp nhau tự bao giờ
Có yêu nhau đâu mà chẳng rời nửa bước
Cùng gánh vác những nẻo đường xuôi ngược
Lên thảm nhung xuống cát bụi cùng nhau

Cùng bước mòn, không kẻ thấp người cao
Cùng chia sẻ sức người đời chà đạp
Dẫu vinh nhục không đi cùng người khác
Số phận chiếc này phụ thuộc chiếc kia

Nếu ngày nào một chiếc dép mất đi
Mọi thay thế đều trở nên khập khiễng
Giống nhau lắm nhưng người đời sẽ biết
Hai chiếc này chẳng phải một đôi đâu

Cũng như mình trong những lúc vắng nhau
Bước hụt hẫng cứ nghiêng về một phía
Dẫu bên cạnh đã có người thay thế
Mà trong lòng nỗi nhớ cứ chênh vênh

Đôi dép vô tri khắng khít song hành
Chẳng thề nguyền mà không hề giả dối
Chẳng hứa hẹn mà không hề phản bội
Lối đi nào cũng có mặt cả đôi

Không thể thiếu nhau trên những bước đường đời
Dẫu mỗi chiếc ở một bên phải trái
Nhưng tôi yêu em ở những điều ngược lại
Gắn bó đời nhau vì một lối đi chung

Hai mảnh đời thầm lặng bước song song
Sẽ dừng lại khi chỉ còn một chiếc
Chỉ còn một là không còn gì hết
Nếu không tìm được chiếc thứ hai kia

*

The first poem which I wrote to you
was the one I talked about a pair of slippers
When I kept feeling tormented because of missing you
all the normal things then turned into the poems

I didn’t know when both of them met each other
but they were never far apart as if they loved each other so much
they were side by side on all of the roads down and up,
on the velvet carpets or even on the dirt and sand

Both of them were the same, neither higher nor lower
they shared the people’s trampling with each other
no mattter how glorious or how humiliated, they would never be left
this one’s destiny always depended on that one’s

If some day, one slipper would disappear
all of the displacements would be unsuitable
both of them might resemble one another but people would know
they weren’t from the same pair

Like us when we had each other no more
we stepped limpingly, leaning to one side
though there was a displacement next to ourselves
in our souls, the missing was still lurching

A pair of inanimate slippers only walked with themselves
they never swore and they never deceived
they never promised but they never betrayed
no matter where they traveled, they were always with each other

On the roads of life, this slipper couldn’t lack that one
though each of them was at each side of the pair
but I loved you from the opposite things of yours
our lives were so attached because of the same way

Two quiet lives kept walking side by side
they would stop when there was only one left
Only one left that meant nothing at all
if they couldn’t find out the other one


Nói Dối

Nói Dối

Nói dối là nói điều không thật: Bịa đặt, phao truyền, xuyên tạc, để nói xấu, vu khống, chụp mũ, bôi bẩn – hoặc tráo trở, đổi trắng thay đen, “nhổ rồi liếm” là thủ đoạn trong đấu trường chính trị hoặc của kẻ phản phúc, của phường vô ơn, ăn cháo đá bát, có thể xảy ra trong bất cứ xã hội nào trên thế giới. Tuy nhiên – trong xã hội Việt Nam hiện nay, điều nầy trở thành một căn bệnh trầm kha, lan tràn khắp nước, khắp mọi lãnh vực, mọi cơ quan, mọi lứa tuổi. Bệnh dối trá đang hoành hành thống trị cả nước ta…

Hai mươi năm (1954-75) miền Bắc sống dưới chế độ hoàn toàn bưng bít, nhà cầm quyền CS thường phịa ra những chuyện hoang đường như chuyện “miền Nam nghèo khổ không có chén ăn cơm”, “xe tăng địch làm bằng giấy”, “cháu ngoan bác Hồ dùng súng trường, một mình bắn hạ 6 tàu bay “con ma” của địch” v.v… để giáo dục nhồi nhét vào đầu trẻ con và tuyên truyền trong quần chúng… Trẻ con in trong trí. Người lớn tin bằng lời.

Bởi vì – “nói dối, nói dối mãi, người ta sẽ tin”. Câu chuyện Tăng Sâm giết người trong sách QVGKT là một bằng chứng: Lần thứ nhứt có người nói Tăng Sâm giết người. Mạnh mẫu không tin. Lần thứ 2, không tin. Lần 3, bà mẹ Tăng Sâm hoảng hồn bỏ chạy… Adolf Hitler áp dụng những phương pháp trị dân trong quyển “Mein Kampf” (Mon combat) – do chính ông là tác giả: “Nói dối nhỏ, người ta không tin – nói dối lớn, nói mãi, người ta sẽ tin”.

Nói dối, gian trá, lừa dối đã được các chế độ CS thế giới nghiên cứu đến mức tinh vi… được nâng lên hàng sách lược trị dân. Ông Hà nhân Văn – một nhân sĩ tại hải ngoại nhận xét về sự nói dối của chế độ CS: “Nói láo không ngượng miệng, không biết hổ thẹn, không biết liêm sĩ… Nói láo như là 1 phản ứng của con chó Pavlov, để ngụy tạo sự “tự nguyện” là sở trường. Nhưng khi bị lật tẩy, thực tế được phơi bày thì phải sử dụng phương án 2 là bạo lực. Bỏ sở trường, dùng sở đoản”.

Vua nói dối, quan nói dối – dân cũng phải nói dối – nói dối từ trên xuống dưới – nói dối ở mọi cấp, mọi ngành – nói dối trong học đường, ngoài xã hội, trong sự đối xử với nhau. Nói dối để làm ăn, để giao dịch – để thăng quan tiến chức, cả đến trong sự đối xử nhau trong cuộc sống hằng ngày. Trong một xã hội, mọi người đều nói dối, mà mình ngay thật, thì thật khó sống? Rốt cuộc người ngay thật nhất cũng phải nói dối – nói dối để sống còn. Về chuyện nầy, ông Khổng có nói một câu nói rất hay: “Ở chung với người bất lương thì như đi vào chợ cá ươn, lâu mà chẳng biết hôi tanh vì mình đã hóa hôi tanh rồi vậy”. Sống trong một xã hội nói dối, lâu ngày mình cũng thành người nói dối mà không biết, vì mình đã hóa người nói dối rồi!

Xã hội Việt Nam bây giờ – “giả dối lên ngôi, đạo dức suy đồi” – đến ông Bộ Trưởng Giáo dục Nguyễn thiện Nhân cũng phải lên tiếng công nhận “Đạo đức trong gia đình Việt Nam đồng nghĩa với sự dối trá”. Thầy dối trá thầy, trò dối trá trò – quản lý giáo dục báo cáo láo, nạn mua bằng bán bằng, bán đề thi, mua quan bán tước hiện đang là một đại họa cho nền giáo dục Việt Nam. Thậm chí đến trong gia đình cha con, chồng vợ cũng dối nhau, vì không tin nhau, nói dối như là một phản ứng của con chó Pavlov. Việc chính trị hóa nền giáo dục đã tạo cơ sở cho sự DỐI TRÁ đang làm bá chủ đất nước. Xin hãy nghe những nhà trí thức, nhà văn, nhà báo, bloggers, diễn đàn trên mạng trong nước lẫn ngoài nước, các đài quốc tế RFA, RFI, BBC…

Nói láo từ A tới Z:

Hầu hết những trí thức, nhà văn, nhà giáo có lương tâm, những ai còn nghĩ đến tiền đồ Tổ Quốc Việt Nam, đều lên tiếng về một xã hội dối trá đến cùng cực: Giả dối từ A đến Z: Ông giáo sư Trần kính Nghị từ Hà nội mỉa mai: Ở VIỆT NAM, MỌI THỨ ĐỀU GIẢ, CHỈ CÓ NÓI DỐI LÀ THẬT”. Một giáo sư khác từ Huế – ông Hà văn Thịnh, nói: “Tình trạng giả dối ở Việt Nam lan tỏa từ A đến Z. Trong bản chất, xã hội Việt Nam có SỰ GIẢ DỐI, ÍCH KỶ, VÔ CẢM VÀ TÀN NHẪN. Đó là những biểu hiện văn hóa Việt Nam hiện nay. Người ta giả dối từ A đến Z, từ trên xuống dưới, ai muốn làm gì thì làm, ai muốn lừa sao thì lừa, muốn tự tung, tự tác hay ăn cướp thế nào đó vẫn được”

Căn bệnh trầm kha:

Nói dối đã trở thành CĂN BỆNH TRẦM KHA. Nhà văn Nguyên Ngọc không giấu được sự cảm xúc của mình: “Một trạng thái chán chường sâu sắc và mênh mông về đạo dức xâm chiếm mọi người. Tâm trạng chán chường trước sự sa sút về đạo đức phát sinh từ một căn bệnh cứ vây kính quanh mình, va vào đâu cũng gặp, dưới mọi kiểu, trắng trợn hay tinh vi – ĐÓ LÀ SỰ GIẢ DỐI”. Tôi cho rằng căn bệnh nặng nhứt, chí tử nhất, toàn diện nhứt của xã hội ta là BỆNH GIẢ DỐI”.

Trong một tham luận nổi tiếng của nhà văn Trần mạnh Hảo đọc tại Đại hội nhà văn lần thứ XIII – ông nói rằng: “Ông cha chúng ta đã đánh thắng giặc Hán, Đường, Tống, Minh, Thanh, để bảo vệ đất nước. Tất cả các thứ giặc kể trên cọng lại cũng không ghê gớm bằng giặc NÓI DỐI đang tàn phá Tổ Quốc, giống nòi ta.”.

Nhiều đảng viên, tuổi đảng cao hơn tuổi hai cuộc chiến tranh tại Việt Nam, đặc biệt là ông Nguyễn Khải, cuối đời rất đau xót mà phải lên tiếng về sự dối trá toàn diện của xã hội Việt Nam trong quyển sách “Đi tìm cái tôi đã mất”: “Nói dối hiển nhiên không cần che đậy (bỏ một đoạn)… Nói dối lem lém, nói dối lì lợm nói không biết xấu hổ, không biết run sợ vì không có ai hỏi lại.”(Nguyễn Khải – Đi tìm cái tôi đã mất)

Tướng Trần Độ cũng nhận xét về xã hội Việt Nam hiện nay: “Đặc điểm bao trùm chế độ chính trị xã hội hiện nay là NÓI LÁO – nói một đàng làm một nẻo. Lãnh đạo lừa dối, Đảng lừa dối, cán bộ lừa dối, làm ăn giả dối, giáo dục giả dối, đến gia đình cũng lừa dối nhau”(Trần Độ – Nhật Ký Rồng Rắn)

Tại sao?

Tất nhiên – phải do nhiều nguyên nhân đến từ nhiều phía: Theo nhận xét của tác giả Đại Nghĩa (Danlambao): “Do chính Hồ chí Minh mang con vi trùng bệnh hoạn từ chủ nghĩa CS quốc tế về truyền bá trong đất nước ta”. Và do sách lược của Đảng Cộng sản (ban Tuyên giáo Trung Ương) chủ trương: Kiểm soát toàn bộ đời sồng tinh thần của nhân dân bằng một bộ máy tuyền truyền tinh vi có hệ thống – biến thái nhân dân thành con người XHCN, viết lại lịch sử bằng sử quan CS, hủy diệt đạo đức truyền thống của Tổ tiên và thay thế bằng văn hóa duy vật, tôn sùng lãnh tụ, vinh danh “anh hùng lao động”, đề cao “đạo đức Cách Mạng”, “yêu nước là yêu Xã hội chủ nghĩa, yêu nước là yêu đảng”, tẩy não, cải tạo mọi tầng lớp nhân dân. Để thực hiện chánh sách trên – bộ máy tuyên truyền phải sử dụng vũ khí NÓI DỐI, bóp méo lịch sử để nhào nặn ra con người XHCN. Thực trạng xã hội hiện nay là đạo đức truyền thống gần như bị hủy diệt. Cảnh nhiễu nhương hỗn loạn, đạo đức suy đồi là kết quả của sách lược hủy diệt văn hóa cũ của chế độ CS. Ngoài ra – để củng cố bộ máy độc tài, trị dân có sách lược, các lãnh tụ CS thế giới đều nằm lòng tư tưởng của 2 tác phẩm nổi tiếng sau đây:

1.- “The prince” của NICCOLO MACHIAVELLI, xuất bản năm 1613, Machiavelli viết: “Vì con người vô ơn hay thay đổi, phản phúc khi có quyền lợi, hèn nhát và tham lam, nên tạo sự sợ hãi thì an toàn hơn là tạo sự yên thương”. Theo tác giả, phép trị dân không thể dùng tình thương để cảm hóa vì con người thường vô ơn và hay phản phúc, nên phải dùng bạo lực sắt máu cho dân sợ hãi mà phục tùng. Bạo lực phải đi đôi với nói dối. Nói dối phải đi kèm với sự bưng bít và bạo lực. Nói dối không đi kèm với 2 điều kiện nầy thì nói dối dễ bị khám phá, bị lật tẩy – và vô hiệu. Bạo lực mà không nói dối thì chỉ là bạo lực của chế độ độc tài phong kiến, dễ bị lật đổ. Muốn cho dân tin thì phải nói dối. Và “Phải làm cho dân vừa yêu, vừa sợ. Nếu không thể làm cho dân yêu mến thì cũng phải tuyệt đối duy trì nỗi sợ hãi, để họ không bao giờ có ý nổi loạn. Đảng ta luôn luôn biến động thay đổi không ngừng, biết bù đắp khiếm khuyết, che dấu yếu điểm, phô trương sức mạnh và vô cùng linh động làm lan tỏa chân rết đến mọi ngỏ ngách của xã hội, kiểm soát cái dạ dày lẫn linh hồn của nhân dân”.(Bài nói chuyện trong buổi họp kiều vận của một cán bộ cao cấp tại hải ngoại). Nguồn: Việtland.

2.- “Mein Kampf” (Mon combat) xuất bản ngày 18-Juillet 1925 tại Đức và 1934 – do dịch giả André Calmettes, nhà xuất bản Les Nouvelles Editions Latines Paris, ấn hành 1934. Sách được dịch ra 16 thứ tiếng và bán được từ 1924 đến 2008 là 80.000.000 quyển. (Nguồn: Vikipedia). Theo đó – Hitler sử dụng những phương pháp tẩy não con người, để bắt con người phải phục tùng tuyệt đối. Một phương pháp đặc biệt trong sách lược trị dân là NÓI DỐI: “Cứ nói dối, nói dối mãi, người ta sẽ tin”.

Vì muốn nắm quyền lực lâu dài, 2 tác phẩm trên đây chắc chắn là sách gối đầu giường của các lãnh tụ CS thế giới. Ngoài ra – các nhân vật lịch sử nổi tiếng độc tài như Napoleon đệ nhứt, tàn bạo như Tần thủy Hoàng, tài ba như Ngô Khởi, Quản Trọng và ghê gớm như Vệ Ưởng – một kỳ tài, tác giả của “Ngũ gia liên bảo”và hình luật tố cáo nhau vô cùng tàn khốc đời chiến quốc – chắc chắc sẽ được Mao trạch Đông nghiên cứu rút tỉa những phương sách và kinh nghiệm trị dân bằng bạo lực và nói dối.

Nhìn lại các chế độ CS Liên Xô, Nam Tư, Đông Âu, Trung Quốc, Bắc Hàn v.v… sách lược trị dân đều là NÓI DỐI VÀ BẠO LỰC. Đảng CS Việt Nam không là một ngoại lệ, cũng rập khuông CS Trung Quốc và Liên Xô.

Chính Tổng bí Thư M.Gorbachev xác nhận: “Tôi đã bỏ nửa cuộc đời đi theo lý tưởng CS, nhưng hôm nay tôi phải đau buồn mà nói rằng CS chỉ biết nói dối và truyên truyền.

Còn ai biết rõ Cọng sản hơn ông Trùm Cộng Sản Liên Xô?

Đạo đức suy đồi, Văn hóa xuống cấp…

Đạo đức xuống dốc thê thảm dìm xã hội trong sự hỗn loạn, trong tệ trạng chưa từng thấy. Nhan nhãn hằng ngày trên mặt báo “lề đảng”, “lề dân”, các diễn đàn trên mạng, các bài phóng sự từ trong nước gửi ra, hình ảnh xác thực trong you tube, các bài của các người về nước chứng kiến tại chỗ.

Bộ mặt xã hội Việt Nam:

Tại Việt Nam hiện nay, ngày nào cũng cướp, cũng giết, cũng có những tội phạm xã hội khủng khiếp. Nó lan tràn khắp nước, không còn là một hiện tượng riêng lẻ mà toàn bộ hệ thống xã hội.

Những vụ chặt tay cướp xe, đâm người cướp của giữa đường phố, xông vào tiệm vàng cướp giựt, xông vào nhà bắt trói gia chủ cướp của giữa ban ngày, thậm chí trộm một lúc 11 xe gắn máy tại một chung cư… (Văn Quang – Thời Báo) Nạn gã gẫm phụ nữ, trẻ em vị thành niên bán vào các đông mãi dâm ở Kampuchia, Ma cau… Nạn buôn phụ nữ, bắt cỡi trần truồng cho mấy thằng Đại Hàn, Trung Quốc, Đài Loan ngắm nhìn sờ mó để tuyển chọn.. Phụ nữ Việt bị để trong lồng kiến bán đấu giá tại Mã Lai, trên bích chương bán công khai tại Đại Hàn. Đó là một quốc nhục chưa từng thấy. Nhân phẩm người phụ nữ Việt xuống cấp như một món hàng bày bán ngoài chợ… Những sự thật sờ sờ ra đó – ngày nay không còn ai nghi ngờ gì nữa.

Ở học đường, giáo dục bị chính trị hóa. Học sinh không được giáo dục những giá trị nhân bản về tinh thần, về quốc gia dân tộc, về đạo đức làm người. Chỉ có một loại đạo dức là đạo đức Cách Mạng: “Yêu nước là yêu đảng”. Chính sách giáo dục hủy diệt văn hóa truyền thống của ông cha, tạo ra những hậu quả hỗn loạn, học sinh đánh đập, đâm chém nhau đổ máu, một nhóm học sinh đứng ngoài vỗ tay cổ võ (tại trường Ứng Hòa B -Hà Nội), cảnh nữ sinh nắm tóc, xé áo, xô ngã té xuống đất, chửi nhau bằng lời lẽ hết sức thô tục, hạ cấp, một số nữ sinh lạnh lùng ngồi ngó (xem ảnh). Tháng 3 – 2010 – một nữ sinh khác đánh đập rất tàn nhẫn một nữ sinh ngay giữa hè phố, dân chúng đi đường làm ngơ, vô cảm…

Tồi tệ hơn nữa – một Hiệu Trưởng Trung học tên Sầm Đức Xương tại Hà Giang, bắt ép nữ sinh của mình làm gái chơi hiến thân cống nạp cho các quan đầu tỉnh là Nguyễn trường Tô. Chuyện thầy giáo Nguyễn quang Hoàng dùng súng khống chế, cưỡng ép tình dục với nữ sinh tại khách sạn – chuyện một nữ sinh ở Cà Mau khai trước Công An là có quan hệ tình dục với thầy giáo Phạm Thái Tây 2 lần, để được thầy hứa cho tiền và cho biết đề thi để lên lớp… Tại TP mang tên bác, một cô giáo trường Marie Curie phạt một nam sinh 18 tuổi bằng cách sờ ngay vào chỗ kín của cậu nầy. Chuyện động trời như vậy mà H.T Nguyễn Văn Vân lại bao che lấp liếm, cho là “một sai sót nhỏ”. (Tin CTV News). Thật đáng xấu hổ cho nền giáo dục Việt Nam hiện nay.

Học đường không còn là nơi tôn nghiêm để dạy dỗ học sinh nên người, nơi mà tình phụ tử, tình mẫu tử, tình sư đệ, tình anh em bầu bạn, những giá trị đạo đức truyền thống của ông cha: Nhân, nghĩa, Lễ, Trí, Tín, được giảng dạy trong môn Đức Dục. Nền giáo dục cũ dựa trên Nhân Bản, Dân tộc và Khai Phóng đã bị xóa bỏ… Cho nên những cảnh trên đây xảy ra cùng khắp nước. Không thể ghi hết được.

Học đường nay là nơi buôn bán cấp bằng, bán đế thi, thầy dụ dỗ trò, trò quan hệ tình dục với thầy. Trò với trò đánh nhau đổ máu. Nữ sinh giựt tóc, xô té xuống sân trường, đánh nhau với nữ sinh. Trẻ con nói chuyện với nhau bằng một ngôn ngữ hết sức hạ cấp. Thậm chí, trò nói với thầy bằng câu: “Đéo biết” – thầy hỏi vậy trả lời “đéo” được. Thầy giáo, nhà mô phạm hành xử như một côn đồ, xách dao rượt chém người láng giềng đổ máu phải vào bệnh viện tại thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Tiến sĩ Nguyễn xuân Diện ngao ngán nói rằng: “Những vụ giết người càng ngày càng táo bạo, kẻ ác thủ tuổi đời ngày càng trẻ, cách thức giết người càng ngày càng dã man, độc ác hơn”.

Nói có sách, mách có chứng. Một cuộc điều tra xã hội của báo chí tại Việt Nam, kết quả như sau: 30 – 40% học sinh tiểu học nhiễm thói lừa dối – 40-50 % hs Trung Học nhiễm thói lừa dối và gian lận – lên Đại Học tăng đến 50-60 %. Càng lên cao càng lừa dối và gian lận. (Đối thoại online ngày 24-7-2007). Ở trường dối gạt thầy, về nhà dối gạt cha mẹ. Cấp 1:20% ; Cấp 2: 25 % ; Cấp 3: 64 %. Càng cao càng thạo nói láo. (RFA online ngày 30-9-2013).

Bộ mặt xã hội nhiễu nhương, trộm cắp giết người, đánh nhau đổ máu xảy ra như cơm bữa – người đối xử với người không một chút tình người, không chút lòng nhân trước cảnh thương tâm bệnh hoạn ngặt nghèo. Mọi người như chực hờ xâu xé nhau. Ra đường, chỉ vì một cái nhìn, một câu nói mà có thể xảy ra án mạng. Con có thể giết cha, vợ giết chồng (cô Văn thị Thủy cùng tình nhân bắt trói ông chồng tên Thanh, rồi dùng giây dù siết cổ đến chết…) Còn việc tham ô, hối lộ, là cách kiếm tiền đương nhiên. Dối trá, lường gạt là tiêu chuẩn giao tiếp, coi pháp luật là đồ trang sức cho chế độ, coi bản án hình sự là món hàng mua bán. Thanh niên thì tôn thờ chủ nghĩa lai căng, chủ nghĩa kiếm tiến kiếm danh bằng mọi giá – tôn thờ thần tượng Michael Jakson, hôn đít ghế ngồi của tài tử Đại Hàn Be Rian. Đó là nhận xét của mục sư Nguyễn trung Tôn (Thanh Hóa). Ngoài sự nói dối – con người trong xã hội VN hiện nay rất lạnh lùng, vô cảm, sẵn sàng vồ xé nhau vì một chuyện cỏn con… một lý do không đáng kể…

Vô Cảm

Tâm lý cầu an, tránh phiền phức trong một nền luật pháp tùy tiện và tham nhũng – người dân không còn tin tưởng nơi loại luật pháp “Tao là luật”, không còn tin tưởng nơi chính quyền, nơi giữa con người với nhau và tự bản thân không được giáo dục những giá trị nhân bản về đạo làm người – nên con người trở nên VÔ CẢM. Trong gia đình vợ chồng, cha con cũng phải e dè – tâm lý dối trá, luồn lọt, làm mọi cách để kiếm tiền, đưa con người đến chỗ vô cảm, vô tâm và tàn nhẫn.

Hình ảnh một người bị cướp giựt cái xách tay làm đổ tung tóe những tờ giấy bạc, những người đi đường bu quanh, tranh nhau giành giựt những tờ giấy bạc mà không một ai ngó ngàng đến nạn nhân đang quằn quại ngã quỵ xuống đất. Mặc kệ… nạn nhân rên siết với cánh tay bị gẩy lìa, máu tuông xối xả… những người đi đường, sau khi giành được vài tờ giấy bạc, rồi lạnh lùng bỏ đi…

Còn các đại gia thân nhân các quan cán bộ giàu có, các vương tôn công tử, những triệu phú, tỉ phú tiền xanh, ở trong những biệt thự cực kỳ sang trọng, đi xe Roll Royce, Cadillac, Ferrari, Mercedes xài tiền như nước, đánh cờ ăn thua cả thì VN đồng một ván, ăn phở thịt bò Kobe nhập cảng, cá độ bóng tròn hàng chục ngàn đô la, làm đám cưới cho con rước dâu bằng xe bóng láng đắt tiền dài hàng cây số, mua áo cô dâu tại Paris giá đến 200.000 Euros một chiếc. Họ càng vô cảm hơn ai hết. Không có gì làm cho họ động lòng trắc ẩn, thương xót người nghèo đói, tật nguyền…

Vì vô cảm, không một chút tình người, các đại gia nhẫn tâm thả chó căn chết người ngay giữa thành phố. Còn một bà già nghèo khổ tại Ban Ma Thuột, đi mót hột cà phê bị một đại gia thả cả bầy chó cắn chết… Bầy chó tranh nhau xé xác chết thành từng mảnh, nhầy nhụa… Chủ nhà làm ngơ không can thiệp. Vô cảm đến mức tàn nhẫn, mất tính người. Rồi đến nạn cướp đất làm sân golf, xây khách sạn, cho ngoại quốc thuê dài hạn, cho Trung Quốc lập làng (Thí dụ tại Cà Mau, công Ty sx phân bón lập 1 làng có 5000 người từ TQ sang) vô cảm đến nỗi mẹ con bà Nguyễn Thị Lài ở Cần Thơ phải dùng sự phơi bày thân thể như là cái vũ khí cuối cùng của người đàn bà, để chống sự cướp đất, nhưng cũng vô hiệu… Công an coi như pha. Vô cảm đến nỗi phải cướp đến phần đất hương hỏa mấy đời của một bà mẹ chiến sĩ, huy chương đầy ngực… Nói tóm lại – sự vô cảm lan tràn khắp nước, khắp nơi, từ thành thị đến thôn quê, từ dân thường đến nhà cầm quyền – từ người nghèo khổ đến kẻ giảu sang….

Cả đến ngành y tế cũng vô cảm, tàn nhẫn còn hơn những ngành khác. Bệnh viện Mắt ở Hà nội đánh tráo thủy tinh thể, khiến cho 3000 bệnh nhân có thể lâm vào cảnh mù lòa. Cảnh bệnh nhân nằm bất tỉnh trước bệnh viện Từ Dũ, không được cứu cấp vì không có tiền nộp… Nói hoài không hết. Viết mãi cũng còn…

Quả là một thời mạt pháp. Thiên hạ sống trong sự giả trá. Đạo đức suy đồi. Văn hóa xuống cấp trầm trọng chưa từng thấy. Con người bị vong thân, tha hóa đến tột cùng. Nhìn đâu cũng thấy con người đối xử với con người, vô cảm, nhẫn tâm và tàn bạo…

Tuy nhiên – đạo đức hiểu theo đạo đức truyền thống, những giá trị luân lý ngàn đời của ông cha để lại… Còn đạo dức của chế độ CS là đạo đức Cách Mạng. Đạo đức và tư tưởng bác Hồ, đạo dức khóc lãnh tụ như đại thi hào Tố Hữu:

“Xít ta lin, ông ơi! ông mất đất trời có không?

Thương cha thương mẹ thương chồng

Thương mình thương một, thương ông thương mười”

Đó là đạo dức Cách Mạng. Mà hiểu đạo dức theo nghĩa đạo dức Cách Mạng thì có phải là đạo đức suy đồi không? Câu trả lời dành cho Đảng CS Việt Nam.

Giả định bà Nguyễn thị Đoan còn hiểu đạo đức theo nghĩa cũ, nên bà Phó Chủ Tịch nước CHXHCN, lên tiếng xác nhận một sự thật bất khả phủ nhận: Đó là ĐẠO ĐỨC SUY ĐỒI THÊ THẢM TẠI VIÊT NAM, bà tuyên bố:

“Đạo đức xã hội xuống cấp đến mức báo động – xuống cấp ở mọi lãnh vực, kể cà y đức và giáo dục”: Bạo lực học đường (một học sinh bị đánh chết vì đẹp trai). Niềm tin nhân dân giảm sút nghiêm trọng. Có nơi, dân tự xử những trường hợp ăn cắp – chỉ vì bắt trộm một con chó mà bị đánh chết. cướp ở thành phố xảy ra mỗi ngày – du đảng, bảo kê lộng hành ở các thành phố lớn.

Còn ai đủ thẫm quyền xác nhận tình trạng đạo đức suy đồi, xã hội tha hóa, hỗn loạn ở Việt Nam, hơn bà Phó Chủ Tịch nước VNXHCN.

 

Nhà thơ Bùi minh Quốc đau lòng thốt lên 2 câu thơ:

Ngoảnh mặt vào đâu cũng phải ghìm cơn mữa

Cả một thờ đểu cáng đã lên ngôi.

Xuân Giáp Ngọ 2014

 

Tết Tây – Tết Ta

Tết Tây – Tết Ta

2014 vừa đến thì Giáp Ngọ cũng phi nước đại vào. Mỗi năm, người Á Đông chúng ta được ăn Tết hai lần. Trong dịp này, tôi bỗng cần “ôn” lại phong tục tập quán ngày Tết ta và nhân thể nhắc qua ngày Tết “Tây” ở những quê-hương thứ hai của mình, nhân thể khai bút luôn.

Ngày đầu năm là một ngày lễ đã được ăn mừng từ lâu năm, lần đầu tiên hình như đã hơn bốn ngàn năm tại Babylone (hiện thuộc nước Iraq).
Thuở nguyên thuỷ, lúc kinh-tế dựa trên canh nông, người ta thường đánh dấu năm mới vào đầu mùa xuân, lúc vạn-vật bắt đầu sống lại và người nông dân bắt đầu gieo hạt đầu mùa. Dần dần, năm mới được “đồng hoá” vào ngày 1 tháng 1 đầu năm trong tất cả các loại lịch (âm-lịch hay dương-lịch).

1. Âm lịch – Dương lịch

Ngày Tết của người Tây phương được tính theo dương lịch (do Giáo-Hoàng Gregorio XIII lập nên). Ngày, tháng, năm được tính theo vị tri của quả đất chuyển động chung quanh mặt trời (do đó gọi là dương lịch): 365,5 ngày một năm (365 ngày hoặc 366 ngày những năm nhuận, mỗi 4 năm).
Ngày Tết ta thì được tính theo âm lịch, nghĩa là tháng được tính theo chu kỳ vận-hành của mặt trăng chung quanh quả đất: ngày đầu tháng là tháng mới (new moon / nouvelle lune) và ngày thứ 15 là trăng tròn (full moon / pleine lune) và 1 năm chỉ có 354 (29,5 x 12) ngày.
Trên thực tế, các loại lịch này phải được gọi là âm-dương lịch vì tháng được tính theo mặt trăng nhưng năm thì lại tính theo mặt trời để trùng khớp với mùa màng, cho nên cứ 2 (hoặc 3) năm phải thêm vào 1 tháng để 1 năm có đủ 365,5 ngày..
Ngày nay, dương lịch đã trở thành lịch quốc-tế, âm-dương lịch chỉ còn dùng cho những ngày lễ cổ-truyền hay tôn giáo (ngày Tết, Trung Thu, lễ Vu Lan…) hay trong thiên văn, tử vi.

2. Tết Tây

Hết năm cũ, sang năm mới là một cơ-hội để ăn mừng trên toàn thế-giới và ngày mồng 1 tháng giêng dương-lịch đã trở thành ngày lễ mừng năm mới trên (gần như) toàn cầu.
Nếu Giáng Sinh được xem như một ngày lễ trong gia-đình và ở nhà thì người ta thường ăn mừng năm mới với bạn bè ở ngoài (tiệm ăn, vũ trường, …).
Và đã gọi là sang năm mới thì năm cũ phải kết-thúc, cho nên thời-điểm quan-trọng phải là lúc chuyển-tiếp, nghĩa là ngày 31 tháng 12 (dương-lịch), và đặc biệt là lúc 12 giờ khuya, trước khi bước qua năm sau.
Giao thừa bên Pháp gọi là “Réveillon de la Saint Sylvestre”. Người Pháp thường đón giao-thừa bằng một bữa ăn thịnh soạn với gan ngỗng (foie gras) và champagne, rồi nhảy đầm; đến 12 giờ đêm thì hôn má và chúc mừng năm mới nhau dưới một cành tầm gửi (gui). Ở Paris, thì mọi người hay tụ tập nơi tháp Eiffel hay trên đại-lộ Champs Elysées.
Mừng năm mới thường chấm dứt vào ngày lễ Hiển Linh (Épiphanie) ngày 6 tháng 1 và hôm đó mọi người chia nhau ăn “bánh vua” (galette des rois).

Bên Mỹ, đặc biệt là ngày New Year’s Eve (giao thừa), ở Nữu Ước (New York City), mọi người tụ tập ở 1, Time Square để xem quả cầu pha-lê (to 2 thước đường kính, nặng 500 ký) được từ từ hạ xuống, một phút trước 12 giờ đêm.

Một tục-lệ khác là gửi nhau thiệp chúc mừng năm mới, nhưng thời buổi Internet, thiệp giấy dần dần bị thay thế bằng thiệp điện-tử (email, text messages, …).

Đầu năm, người Tây-phương còn có một tục-lệ có ý nghĩa là “ý định cương quyết” (tôi thật không biết phải dịch chữ “resolutions / résolutions” như thế nào?) : “Năm nay, tôi cương quyết sẽ… bỏ hút thuốc, xuống 10 ký-lô, đi học đàn/nhảy/nấu bếp…, bớt làm việc và dành nhiều giờ với gia-đình hơn, …”
Tinh thần của những “nghị quyết” này là mượn dịp năm mới để sống lại (rebirth / renaissance), để làm lại từ đầu (starting fresh / repartir du bon pied), là không phó mặc cho số phận mà nhất quyết làm chủ đời mình. Làm được hay không lại là chuyện khác…

Đấy, tham khảo đó đây đại khái chỉ bấy nhiêu, ăn Tết kiểu Tây phương chỉ giản-dị vậy, đến khi vào Wikipedia xem “Tết Nguyên Đán” thì sơ sơ cũng hơn chục trang.

3. Tết Nguyên Đán
(phỏng theo Wikipedia)

Tết Nguyên Đán (hay còn gọi là Tết Cả, Tết Ta, Tết Âm lịch, Tết Cổ truyền hay chỉ đơn giản Tết) là dịp lễ quan trọng nhất của Việt-Nam.
Chữ “Tết” do chữ “Tiết” (節) mà thành. Hai chữ “Nguyên đán” (元旦) có gốc chữ Hán: “nguyên” có nghĩa là sự khởi đầu hay sơ khai và “đán” có nghĩa là buổi sáng sớm, cho nên đọc đúng phiên âm phải là “Tiết Nguyên Đán”.
Phong-tục, tập quán của người Á-Đông chung quanh ngày Tết thì thật phức-tạp, có thể nói là “rườm rà” nên, nhất là thời buổi này, ít có gia-đình nào, trong hay ngoài nước, áp dụng hoàn toàn được. Chúng ta cũng nên duyệt sơ qua, gọi là ôn lại chút ít truyền-thống văn-hoá của dân-tộc mình.

3.1 Những giai-đoạn chính:

Sự khác biệt giữa âm lịch và âm-dương lịch khiến cho ngày Tết ta muộn hơn Tết tây và thường rơi vào giữa ngày 21 tháng 1 (dương lịch) và ngày 19 tháng 2 (dương lịch).
“Tháng giêng là tháng ăn chơi,
tháng hai trồng đậu, tháng ba trồng cà…”
Bài ca dao này muốn nói người ta ăn Tết không phải chỉ một ngày mồng một.

Nói đúng hơn nữa, không khí Tết đã bắt đầu từ ngày 23 tháng chạp là ngày mà người Việt cúng ông Táo (Táo Quân). Ông Táo vừa là thần bếp trong nhà vừa là người ghi chép tất cả những việc làm tốt xấu mà gia chủ đã làm trong năm cũ và báo cáo về Ngọc Hoàng.

Một số gia đình ở nông thôn vẫn còn gìn giữ phong tục dựng cây nêu để chống lại quỷ dữ và những điềm gở.

Ngày Tất niên (trước Tết) có thể là ngày 30 tháng chạp (nếu là năm đủ) hoặc 29 tháng Chạp (nếu là năm thiếu).
Buổi tối ngày này, gia đình sum họp lại với nhau để ăn cỗ cúng Giao thừa, là lễ cúng để đem bỏ hết đi những điều xấu của năm cũ sắp qua để đón những điều tốt đẹp của năm mới sắp đến. Giữa ngày 30 (hoặc 29) tháng Chạp và ngày mồng 1 tháng giêng (từ 23 giờ hôm trước đến 1 giờ hôm sau), giờ Tý là thời khắc quan trọng nhất của dịp Tết. Nó đánh dấu sự chuyển giao giữa năm cũ và năm mới và được gọi là Giao thừa.
Trong thời khắc giao thừa mọi người trong gia đình thường dành cho nhau những lời chúc tốt đẹp nhất.

Qua ngày mồng 1, chúng ta bước vào Tân niên (năm mới, sau Tết) và ăn Tết 7 ngày.
Ngày mồng Một tháng Giêng (còn gọi là ngày Chính đán) là ngày Tân niên đầu tiên và được coi là ngày quan trọng nhất trong toàn bộ dịp Tết. Không kể những người tốt số, hợp tuổi được mời đi xông đất vào sáng sớm ngày này, người Việt cổ thường không ra khỏi nhà, chỉ bày cỗ cúng Tân niên, ăn tiệc và chúc tụng nhau trong nội bộ gia đình.
Đối với những gia đình đã tách khỏi cha mẹ và cha mẹ vẫn còn sống, họ đến chúc tết các ông bố theo tục: Mồng Một Tết cha.

Cứ năm mới tới, mỗi người tăng lên một tuổi, bởi vậy ngày mồng Một Tết là ngày con cháu “chúc thọ” ông bà và các bậc cao niên.
Ngược lại, người lớn thường tặng trẻ em tiền bỏ trong một bao giấy đỏ, hay “hồng bao”, gọi là “lì xì” với những lời chúc mừng ăn no, chóng lớn. Theo cổ tích Trung Quốc thì trong “hồng bao” có 8 đồng tiền (là Bát Tiên hóa thân) được đặt dưới gối đứa trẻ để xua đuổi quỷ đến quấy nhiễu, vì ma sẽ sợ giấy màu đỏ. Tiền mừng tuổi nhận được trong ngày Tết gọi là “Tiền mở hàng”.
Ngày mồng Hai là ngày có những hoạt động cúng lễ tại gia vào sáng sớm. Sau đó, nguời ta chúc tết các bà mẹ theo tục Mồng Hai Tết mẹ. Riêng đàn ông chuẩn bị lập gia đình còn phải đến nhà cha mẹ vợ tương lai (nhạc gia) để chúc Tết theo tục “Đi sêu”.
Ngày mồng Ba là ngày sau khi cúng cơm tại gia theo lệ cúng ít nhất đủ ba ngày Tết, các học trò thường đến chúc Tết thầy dạy học theo tục Mồng Ba Tết thầy,
đúng theo truyền-thống
Mùng Một thì ở nhà cha,
Mùng Hai nhà vợ, Mùng Ba nhà thầy
hay nói cách khác
Mùng Một tết cha,
Mùng Hai tết mẹ,
Mùng Ba tết thầy.

Xông đất (hay đạp đất, mở hàng) là tục lệ đã có lâu đời ở Việt-nam.
Với quan niệm ngày mồng Một “khai trương” một năm mới, vào ngày này, nếu mọi việc diễn ra suông sẻ, may mắn, cả năm cũng sẽ được tốt lành, thuận lợi. Ngay sau thời khắc giao thừa, bất cứ người nào bước từ ngoài vào nhà với lời chúc năm mới được coi là đã xông đất cho gia chủ.
Người khách đến thăm nhà đầu tiên trong một năm cũng vì thế mà quan trọng. Cho nên cứ cuối năm, mọi người cố ý tìm xem những người trong bà con hay láng giềng có tính vui vẻ, linh hoạt, đạo đức và thành công để nhờ sang thăm. Nếu không tìm được người “lý tưởng” thì gia chủ tự xông đất bằng cách ra khỏi nhà rồi bước vào trở lại.

Hoá vàng: Ngày mồng 4 tháng Giêng theo lịch cổ là ngày con nước. Trong ngày này (hoặc ngày mồng 5), người Việt làm lễ cúng tổ tiên đã về ăn Tết với con cháu và đốt nhiều vàng mã để tiền nhân về cõi âm có thêm tiền vốn đầu năm, mà phù hộ độ trì cho con cháu hậu thế làm ăn phát đạt. Tại nhiều vùng ở Đồng bằng Bắc Bộ, người Việt có tục hát chèo đò đưa tổ tiên trở lại thế giới bên kia.

Ngoài ra, còn có những tục lệ khác như:
– xuất hành: lần đi ra khỏi nhà ngày đầu tiên trong năm, thường được thực hiện vào ngày tốt đầu tiên của năm mới để đi tìm may mắn cho bản thân và gia đình, có người đi du xuân luôn;
– khai xuân tuỳ theo nghề nghiệp: khai trương, khai thương mở hàng, khai ấn (nếu là người có chức tước), khai bút (học trò, sĩ phu), khai canh (nhà nông) hay… khai pháo;
– hái cành lộc: ở các nơi đền, chùa miền Bắc ngụ ý xin hưởng chút lộc của Thần, Phật;
– khai hạ: hạ cây nêu ngày mồng 7 Tết, chấm dứt Tết nguyên đán để sau đó bắt đầu bước vào việc làm ăn trong năm mới;
– … …

3.2 Sắm Tết – Trang hoàng

Đã gọi là Tết thì phải linh đình, năm mới cái gì cũng phải mới và đây là dịp để đi sắm Tết. Chợ Tết là những phiên họp chợ vào trước Tết, từ 25 tháng Chạp cho đến 30 tháng Chạp, bán nhiều mặt hàng, nhưng nhiều nhất là các mặt hàng phục vụ cho tết Nguyên đán. Vào những ngày này, các chợ sẽ bán suốt cả đêm, và đi chợ Tết đêm là một trong những cái thú đặc biệt. Kèm theo các chợ mua bán ngày giáp tết đông đúc, nhiều nơi còn tổ chức các chợ hoa nhằm vui xuân.Những loại chợ Tết đặc biệt cũng sẽ chấm dứt vào trước giờ Ngọ.
Cây Tết tiêu biểu nhất là cây nêu, một loại tre cao khoảng 5-6 thước, ngọn thường treo nhiều thứ (tùy theo từng địa phương) như vàng mã, bùa trừ tà, cành xương rồng, bầu rượu bện bằng rơm, hình cá chép bằng giấy để táo quân dùng làm phương tiện về trời,…
Ngoài ra, cây quất được trang trí trong phòng khách, cây xum xuê, lá xanh tốt, quả vàng chi chít thể hiện sự trù phú, hứa hẹn năm mới được mùa, ăn nên làm ra, dồi dào sức sống.

Mâm ngũ quả là một mâm có khoảng năm thứ trái cây khác nhau thường có trong ngày Tết.
Mâm ngũ quả của người miền Bắc gồm chuối, bưởi, đào, hồng, quýt, nhưng hầu như tất cả các loại quả đều có thể bày được, miễn là nhiều màu sắc.
Mâm ngũ quả người miền Nam gồm dừa, đu đủ, mãng cầu, xoài, sung, với ngụ ý “cầu sung vừa đủ xài”.

Cũng không thể quên quả dưa hấu mà An Tiêm đã mang lại cho chúng ta và đã được người Trung Hoa khen: “Hẩu”.
Hoa Tết thì không thể thiếu hoa đào (để xua đuổi ma quỷ, theo sự tích hai vị thần ở núi Sóc Sơn) và hoa mai (màu vàng tượng trưng cho sự cao thượng vinh hiển cao sang, cho sự phát triển nòi giống).
Hoa để cúng có thể là vạn thọ, cúc, huệ, … và hoa để trang trí thì muôn màu sắc như hồng, thuỷ tiên, lan, cẩm chướng, thạch thảo, …

Để trang trí trong những ngày Tết, đặc biệt còn có tranh Tết và câu đối Tết.
Tranh Tết là một phần không thể thiếu và những màu sắc rực rỡ như khơi gợi nên cảm giác mới mẻ ấm cúng rộn rã sắc xuân trong mỗi gia đình của người Việt.

Câu đối Tết được viết bằng chữ Nho (màu đen hay vàng) trên những tấm giấy đỏ hay hồng đào cho nên còn được gọi là câu đối đỏ:

Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ
Nêu cao, pháo nổ, bánh chưng xanh.
(Xin mời đọc thêm về câu đối trong bài “Tôi yêu tiếng nước tôi: Chơi chữ” tháng này

Và không ai là không nhớ bài thơ “ông đồ” của Vũ Đình Liên:

Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu, giấy đỏ
Bên phố đông người qua

Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa, rồng bay

Nhưng mỗi năm, mỗi vắng
Người thuê viết nay đâu
Giấy đỏ buồn không thắm
Mực đọng trong nghiên sầu

Ông đồ vẫn ngồi đấy
Qua đường không ai hay
Lá vàng rơi trên giấy
Ngoài trời mưa bụi bay

Năm nay đào lại nở
Không thấy ông đồ xưa
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ ?

3.3 Ẩm-thực ngày Tết

Thành ngữ Việt Nam có câu “Đói giỗ cha, no ba ngày Tết”. Tết đến, dù nghèo khó đến đâu thì người ta cũng cố vay mượn, xoay xở để có đủ ăn trong ba ngày Tết sao cho “già được bát canh, trẻ có manh áo mới”. Hơn thế nữa, dù có đói khát quanh năm thì đến Tết, mọi người, nhất là trẻ em thường được ăn uống no đủ.
Bữa ăn ngày Tết thường có nhiều món, đủ chất hơn và sang trọng hơn bữa ăn ngày thường. Vì vậy mà người ta cũng thường gọi là “ăn Tết”.

Thức ăn mặn thì nhất định phải có những bánh truyền-thống như bánh chưng (vuông), bánh dày, bánh tét (còn gọi là bánh chưng tày hay bánh tày, tròn và dài) với dưa hành, gắn liền với các sự-tích cổ thời vua Hùng.
Tôi vẫn nhớ các món ăn giỗ ông bà hay cỗ Tết người Bắc có thể có bóng bì, canh măng, chân giò, miến gà, xôi gấc đỏ, thịt gà, thịt đông với dưa muối, giò lụa, nộm, cơm rượu, …
Ngoài ra, các gia đình miền Nam thường có thêm nồi thịt kho, nước dừa (thịt kho rệu) và nồi khổ qua hầm và nem bì, dưa giá miền Nam, củ kiệu ngâm, bánh tráng (để quấn) để ăn mấy ngày Tết. Thông thường, người nội trợ miền Nam lục tỉnh nghỉ ngơi, không nấu nướng trong 3 ngày Tết, mà chỉ dùng thức ăn đã được chuẩn bị sẵn trước Tết.
Miền Trung có dưa món và món tré (giống giò thủ của miền Bắc nhưng nhiều vị củ riềng), thịt chua và tai heo, …

Mứt Tết và các loại bánh kẹo khác để thờ cúng, sau đó dọn ra để đãi khách. Tôi cũng nhớ những lần cắn hạt dưa đến đỏ cả môi và tay, hạt bí, hạt hướng dương, …
Thức uống ngày Tết vẫn là rượu: rượu truyền-thống như rượu nếp thơm, nếp nương, nếp cẩm, rượu đế, … hay những rượu Tây-phương như cognac, whisky, bia, …
Sau bữa ăn, người ta thường dùng trà xanh.

3.4 Phong-tục, tập quán và sinh hoạt Tết
Phong-tục Tết thì nhiều lắm. Ngoài những gì đã đề-cập ở phần trên, còn có:

Đốt pháo thường hay có trong dịp cúng tất niên hay thời khắc giao thừa ngày Tết cổ truyền để xua ma, trừ quỷ.

Áo quần mới: Ngày xưa, trước Tết một thời gian ngắn, các bà các mẹ trong nhà phải thức khuya quay tơ, dệt vải, may áo quần mới cho cả nhà. Công việc này thường kết thúc vào ngày cuối năm để đến sáng mùng Một Tết, cả nhà dậy sớm, thay quần áo mới làm lễ gia tiên. Người ta cho rằng cần phải rũ bỏ những cái cũ, cái không may mắn đi theo quần áo cũ và đón một năm mới với nhiều hy vọng và niềm vui mới từ bộ quần áo mới đó.

Trả nợ cũ: Đối với nhiều người Việt, cuối năm là dịp trả nợ cũ, xóa bỏ xích mích của năm cũ, để hướng tới năm mới vui vẻ.

Tuỳ theo bản sắc văn hóa của mình, mỗi địa phương đều tổ chức lễ hội ngày tết với những phần “lễ” và phần “hội” chứa đựng những nét văn hóa khác nhau rất phong phú.
Các lễ hội truyền-thống thường có thi đấu cờ người (không phải loại của bà Hồ Xuân Hương đâu nhé), đua thuyền, đấu vật, múa lân, múa rồng, thi thả chim bồ câu…
Trò chơi dân gian: bịt mắt bắt dê, múa võ, hát bội, hát cải lương, hát chèo, đánh đu, chọi gà và nhiều trò dân gian cổ truyền khác.

Cờ bạc: Ngày xưa các gia đình có nề nếp quanh năm cấm đoán con cháu không được cờ bạc rượu chè nhưng trong dịp Tết thì tam cúc, chắn, tổ tôm, cờ gánh, ai thích gì thì cứ chơi. Đến lễ khai hạ (hạ nêu) thì xé bộ tam cúc, cất bộ tổ tôm… hoặc đốt các bộ bài trong lễ hóa vàng.

Còn nhiều phong-tục thất -truyền nữa như “đi sêu Tết” (trước ngày Tết, con rể tương lai mang lễ đến biếu bố mẹ vợ), lạy sống ông bà, hát sặc bùa (trẻ con nghèo đến cửa các nhà vừa hát vừa gõ trống để được chủ nhà phát tiền mừng tuổi), …
3.5 Tín ngưỡng ngày Tết

Đi lễ chùa: Có người cả năm không đi lễ, nhưng đến Tết nhất thiết phải qua chùa thắp nén hương, dâng tiền giọt dầu hoặc tiền công đức cho chùa. Trong những ngày đầu năm âm lịch thì rất nhiều người thích đi lễ ở các lăng tẩm, đền chùa để cúng bái và xin xăm, nhất là vào buổi sáng mồng một. Phong tục này thường được tiến hành chung với tục lệ chọn hướng xuất hành và hái lộc.
Xin xăm là một hình thức tin vào các thẻ xăm có ghi lời sấm báo trước điềm lành hay dữ trong năm và thường cần có thầy bàn xăm. Ở miền Bắc có tục “bốc quẻ thẻ” giống như tục “xin xăm” ở phía Nam.

Người Việt ta hay tin dị-đoan.
Mong sao có những điềm lành như:
– Sau Giao thừa, nếu hoa mai (loại 5 cánh) nở thêm nhiều và đầy đặn thì đó là một điềm may. Và may mắn hơn nữa khi có một hoặc vài bông hoa 6 cánh;
– Chó lạ vào nhà: theo tục ngữ “Mèo đến nhà thì khó, Chó đến nhà thì sang”;
– Cây đào nếu có nhiều cánh kép (hoa kép) 3 lớp (hàng) trên đài hoa và có hình dáng như bông hồng thì sẽ có nhiều phúc lộc;
– Cây quất nếu có nhiều chồi xanh mọc thì năm đó sẽ có nhiều lộc. Nếu có đủ Tứ quý: quả chín, quả xanh, hoa và lộc thì sẽ may mắn và thành đạt cả năm;
… … …

Và cũng có nhiều điều kiêng kỵ nên tránh như:
– Kỵ mai táng: Ngày Tết Nguyên Đán là ngày mở đầu cho vận hội hanh thông của cả một năm, có ý nghĩa rất thiêng liêng và gia đình phải tạm gác mối sầu riêng để hoà chung với niềm vui toàn dân tộc;
– Ngày mùng Một Tết người ta rất kỵ người khác đến xin lửa nhà mình vì quan niệm lửa là đỏ, là may mắn, nên giữ, không nên cho đi;
– Kiêng cho nước đầu năm vì nước được ví như nguồn tài lộc trong câu chúc “tiền vào như nước”, nếu cho nước thì coi như mất lộc;- Theo quan niệm dân gian, việc quét nhà trong ngày Tết sẽ quét đi theo cả lộc xuân (xác pháo đốt trong đêm giao thừa), người quét nhà sẽ bị “rông” (xui xẻo) cả năm;
– Ngày đầu năm cũng như ngày đầu tháng, người ta rất kiêng kỵ việc vay mượn hay trả nợ, cho vay (cho nên phải làm dịp cuối năm cho xong);
– Trong ăn uống, người ta kiêng ăn thịt chó, cá mè, thịt vịt… nếu không sẽ “xúi quẩy”.
Ngoài ra, người già cũng khuyên con cháu trong ngày này không được đánh vỡ bát đĩa, cãi nhau, nói xấu, kiêng những điều không vui xảy ra với gia đình;
Người ta thường kiêng khóc lóc, buồn tủi hoặc nói tới điều rủi ro hoặc xấu xa trong dịp Tết, kiêng mặc quần áo màu trắng và đen (màu của tang lễ);- … … …
3.6 Tết tha-hương

Tôi nhớ mãi những buổi văn-nghệ Tết bên Bỉ, bên Pháp khi tôi còn là du học sinh, bao giờ cũng vừa vui, vừa buồn. Vui vì có dịp vui chơi với bao nhiêu bạn bè, buồn vì có vui mấy cũng chỉ là vui “tạm bợ” nơi xứ người, xa gia-đình, xa quê-hương.
Và bây giờ tôi vẫn “phải” tiếp tục vui Tết tha hương.

Người Việt hải-ngoại nếu không có điều kiện về Việt Nam cũng tổ chức những hoạt động trong dịp Tết Âm lịch mang đậm truyền thống văn hóa.
Những nơi đông Việt Nam như quận Cam, San Jose, Houston, Cabramatta-Úc, Paris, … cũng có chợ Tết, chợ hoa, những khu thương xá cũng có bán các mặt hàng mứt, bánh chưng, hạt sen, …, cũng có đốt pháo, múa lân, …
Các cộng đồng và các hội đoàn người Việt, các chùa, các giáo xứ, các hội sinh-viên, … có tổ chức Hội tết và ca nhạc văn nghệ Tết.
Chúng tôi có dịp đi giúp vui văn-nghệ trong những buổi Tết cộng-đồng, thường có đốt pháo, múa lân, ăn uống (món ăn Tết), bầu cua, cá cọp, lì xì cho trẻ em, văn nghệ thường có nhạc Tết, nhạc quê-hương, cải lương, nhạc vui, có những màn múa thanh thiếu niên và trẻ em.

Hội Tết nào cũng thật vui, nhưng bao giờ tôi cũng cảm thấy bùi ngùi, không hiểu vì sao?
Con người “xa mặt, cách lòng” và dù muốn dù không, xa quê-hương, chúng ta cũng mất mát đi một chút gì văn hoá truyền-thống của mình.
Tết ngày hôm nay nơi xứ người, chúng ta còn giữ được những gì trong tất cả những phong-tục, tập quán của người Việt-Nam ta? Còn giữ được bao lâu?
Vui buồn lẫn lộn.

Yên Hà,

tháng Giêng, 2014