76 Câu Nói Hay

76 Câu Nói Hay

1. Hãy cười lên và cả thế giới sẽ cười cùng bạn, nếu khóc, bạn sẽ phải chỉ khóc một mình.

2. Nếu bạn không thể xây dựng một thành phố thì hãy xây lấy một trái tim hồng.

3. Một người bạn thật sự là người bước vào cuộc sống của bạn khi cả thế giới đã bước ra.

4. Yêu thương cho đi là yêu thương có thể giữ được mãi mãi.

5.Một nụ cười có thể thay đổi một ngày, một cái ôm có thể thay đổi một tuần, một lời nói có thể thay đổi một cuộc sống.

6. Nếu bạn không thể là Mặt Trời thì cũng đừng làm một đám mây.

7. Hãy là một con tem, gắn chặt vào mục tiêu cho tới khi đến đích.

8. Có hai nơi mà không gì là không thể xảy ra : trong giấc mơ và trong tình yêu.

9. Nếu bạn luôn cố để giống một người nào đó, bạn sẽ đánh mất những gì đặc biệt nhất về chính mình.

10. Cuộc sống giống như hoa hồng, vẻ đẹp luôn đi cùng với gai.

11. Chẳng sao cả nếu bạn cố, và cố, và cố nữa, nhưng vẫn thất bại. Nhưng thật tệ hại nếu bạn cố rồi thất bại, và không muốn cố lần nữa.

12. Chỉ khi bạn mở được cánh cửa của lòng tin, bạn mới mở tới cánh cửa của tình bạn.

13. Một tâm hồn không có trí tưởng tượng cũng như một nhà quan sát không có kính thiên văn.

14. Khi bạn có thể cười ngay cả trong thất bại, đó là bạn đã đạt tới thành công thật sự.

15. Mỗi ngày đều là ngày đầu tiên của phần còn lại trong cuộc sống của bạn.

16. Không bao giờ có thang máy đi tới thành công, bạn luôn phải đi cầu thang bộ.

17. Một người thông minh giống như một dòng sông, càng sâu thì càng ít gây ồn ào.

18. Tình yêu là khi chúng ta nhận ra chính mình ở trong một người khác, và tự hào vì điều đó!

19. Bạn trưởng thành không phải khi biết tự chăm lo cho mình, mà là khi bạn có thể chăm lo cho người khác.

20. Tình bạn là một sợi chỉ bằng vàng nối trái tim của cả thế giới.

21. Bạn cần phải đứng vững vì ít nhất một điều gì đó, nếu không, bạn sẽ ngã vì bất kỳ điều gì.

22. Hãy luôn nhớ rằng mỗi người bạn tốt đều đã từng là một người xa lạ.

23. Dù bạn không giỏi nhất, nhưng hãy cố gắng cao nhất.

24. Trái Đất là một con tàu lớn mà không hề có hành khách, tất cả chúng ta đều là thuỷ thủ.

25. Hãy cười như thể không ai đang nhìn bạn, và sống như thể không gì có thể ngăn cản bạn.

26. Chẳng có dấu hiệu nào ghi trên cái kén rằng nó sẽ trở thành một con bướm xinh đẹp.

27. Để vẽ một bức tranh hoàn hảo, nhất thiết bạn sẽ cần một vài màu tối.

28. Lo lắng quá nhiều giống như việc trả nợ mà bạn không biết có vay hay không.

29. Muốn nhìn thấy cầu vồng, bạn phải biết chịu đựng cơn mưa.

30. Nếu bạn muốn thành công, đừng sợ thất bại.

31. Hạnh phúc không tuỳ thuộc vào bạn là ai, bạn làm gì mà tùy thuộc vào bạn nghĩ gì.

32. Cách tốt nhất để có một ý tưởng xuất sắc là có thật nhiều ý tưởng.

33. Trái tim tôi mỉm cười khi bạn bước lại gần và nói “xin chào!”

34. Đôi khi những điều nhỏ bé nhất lại mang đến những điều kỳ diệu nhất.

35. Dũng cảm là vượt qua nỗi sợ hãi chứ không phải không sợ hãi.

36. Cái đầu quá nóng và trái tim quá lạnh không bao giờ giải quyết được việc gì.

37. Thắp nến lên đi, đừng ngồi than vãn trong bóng tối.

38. Tâm trí bạn giống như chiếc ô : chỉ hoạt động khi nó được mở.

39. Hãy để mọi người nhớ mãi nụ cười của bạn.

40. Mỗi cuốn sách là một bức tranh kì diệu về cuộc sống.

41. Bí quyết để có một đôi môi đẹp : hãy nói những lời tử tế.

42. Học tập chỉ mở cửa, bạn phải tự bước qua cánh cửa đó.

43. Thành công lớn nhất là đứng dậy sau mỗi lần bị vấp ngã.

44. Bạn không bao giờ bị đánh bại, cho đến khi bạn tự bỏ cuộc.

45. “Và tôi nhận ra rằng, trong cuộc sống luôn luôn có (ít nhất) một người dõi theo một người bằng cả trái tim, để rồi (có thể) người đó lại dõi theo người khác với tất cả tấm lòng của họ. Nhưng có hề gì, chỉ cần bạn được yêu thương ai đó và “yêu thương vô điều kiện”, cuộc sống sẽ vô cùng ý nghĩa. Và với tôi, thế là đủ!” (Trích từ một truyện ngắn trên báo HHT)

46. Ai yêu mãnh liệt thì ít lời.

47. Đời thay đổi khi chúng ta thay đổi. (Tựa đề một quyển sách rất nổi tiếng của Andrew Matthew.)

48. “Chúng ta sinh ra là để lấp đầy cho nhau. Như những mảnh xếp hình với dáng vẻ kỳ dị, đầy những ưu điểm và khiếm khuyết, sở trường và sở đoản, là vô nghĩa dù hiện hữu, nếu không lấp đầy cho nhau, để tạo nên một thế gian rực rỡ và hoàn hảo.” (Trích từ “Trò chuyện đầu tuần” trên báo HHT.)

49. “Tôi đã luôn tin chắc rằng ai cũng có thể tìm thấy những điều đẹp nhất ở những nơi ít ngờ tới nhất, chỉ cần thật sự để tâm. Và tôi đã đúng.” (HHT)

50. “Bây giờ thì con hiểu, yêu và thương luôn là và phải là một… Yêu thương là khí trời, là nắng ấm giúp cây non lớn lên, em là búp măng non, em lớn lên trong mùa yêu thương… Em biết, an lành và hạnh phúc chỉ có khi em yêu thương.” (HHT)

51. “Hãy năng động, sáng tạo, mơ những gì muốn mơ, làm những gì mình muốn làm, đến những nơi mình muốn đến. Hãy là một phần ý nghĩa của cuộc đời chính bạn và những người xung quanh bạn.” (HHT)

52. Hãy khám phá những điều nhỏ nhoi đang làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn. Những khoảnh khắc ấy là những hạt vàng trên lối đi toàn sỏi đá… Để ta nhận ra rằng “Cuộc đời là một điều kỳ diệu”. (Trái tim có điều kỳ diệu)

53. Tất cả kho tàng trên trái đất không thể nào so sánh nổi với hạnh phúc gia đình. (Calderon)

54. Một người vĩ đại là một người đã không đánh mất trái tim trẻ thơ của mình. (Mencius)

55. Nơi nào có tình thương yêu, thì nơi đó luôn có những điều kỳ diệu. (Loilla Cather)

56. Yêu thương là cái gì đó vĩnh cửu. (Vincenl Van Gohg)

57. Con cái được giáo dục sẵn nếu chính cha mẹ được giáo dục. (Goethe)

58. Một số người tặng thời gian, một số người tặng tiền, một số tặng kỹ năng tay nghề và mối quan hệ, một số đã hiến máu… Và ai cũng có một thứ gì đó để trao tặng. (Barbara Bush)

59. Lòng yêu thương là điều mà chúng ta có thể mang theo khi chúng ta ra đi, và nó khiến cho giây phút cuối trở nên dễ dàng chịu đựng. (Louisa May Alcott)

60. Tình yêu không có thời hạn, chừng nào trái tim còn đập người ta còn yêu. (Karamzin)

61. Hãy có lòng nhân ái, bởi vì bất kỳ ai bạn gặp đều đang chiến đấu gian khổ hơn bạn. (Plato)

62. Phải yêu bạn vì hạnh phúc thương yêu không vì lợi lộc có thể khai thác được. (La Bruyere)

63. Nguyên nhân chính của các lỗi lầm loài người mắc phải được tìm thấy trong những thành kiến được thu thập từ thời thơ ấu. (Descartes)

64. Tình bạn là nhận thêm niềm vui và chia bớt nỗi buồn. (Thomas Fuller)

65. Đứng sau động từ “yêu thương” thì “giúp đỡ” là động từ đẹp nhất trên thế giới. (Bertha Von Suttner)

66. Có những tình cảm sống suốt cả đời và chỉ chấm dứt cùng với đời sống. (Fosefine)

67. Đừng bao giờ mất kiên nhẫn, đó chính là chiếc chìa khoá cuối cùng mở được cửa. (Saint Exupery)

68. Trong tâm hồn cao thượng tất cả đều cao thượng. (Pascal)

69. Tình thương yêu là một trái cây luôn nở rộ và vừa tầm hái. (Mẹ Teresa)

70. Người lạc quan cho đấy là cái bánh, kẻ bi quan lại thấy đó là cái lỗ tròn.

71. Nhân từ, ngọt ngào là dấu hiệu của tính cao thượng. (Pythagore)

72. Bởi vì ông Trời không thể có mặt ở khắp mọi nơi nên ông mới tạo ra các bà mẹ. (Ngạn ngữ Do Thái)

73. Trong xã giao đừng đổi bạn thành thù mà hãy đổi thù thành bạn. (Pythagore)

74. Cái gì mà chúng ta học được ở tuổi thơ thì luôn còn mãi. (Cerventes)

75. Thực trạng không phải là thứ bạn ao ước có, cũng không phải là thứ mọi người thấy mà là thứ thực sự là như thế. (Robert J. Ringer)

76. Trẻ em : không chỉ là những người bé. Trẻ em thật sự là những con người đặc biệt. Trên đời này không ai giống trẻ em cả. (Adrian Wagner)

From: christophernguyenhoang & Anh chị Thụ Mai gởi

“Đêm qua ra đứng bờ ao,”

“Đêm qua ra đứng bờ ao,”

Trông cá, cá lặn, trông sao, sao mờ
Buồn trông con nhện giăng tơ
Nhện ơi, nhện hỡi, nhện chờ mối ai.”

(Văn Phụng – Đêm Buồn)

(Lc 2: 21)

Nếu bạn và tôi, ta thử tưởng tượng một tình huống trong đó có đấng bậc anh-hùng nọ xuất thân là người Do-thái nay trở về thăm quê nhà vời vợi, bèn “ra đứng bờ ao trông cá, cá lặn trông sao, sao mờ”; thế rồi lại còn cất tiếng hát những câu lạ kỳ, như sau:

“Buồn trông chênh chếch sao Mai
Sao ơi, sao hỡi, nhớ ai sao mờ.
Đêm đêm tưởng giải Ngân Hà.
Ngôi sao Tinh Đẩu đã ba năm tròn.
Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn.
Tào Khê nước chảy vẫn còn trơ trơ.”

(Văn Phụng – bđd)

Đã “buồn trông chênh-chếch sao Mai”, lại thấy nhớ thứ gì đó, ông bèn ới gọi: “Sao ơi sao hỡi, nhớ ai sao mờ”, nhớ như thế không chỉ mỗi “Ngôi sao Tinh Đẩu” mà thôi, nhưng là nhớ rất nhiều thứ/nhiều chuyện hơn nữa. Nhớ cả chuyện “Tào Khê nước chảy, vẫn còn trơ trơ”, và những chuyện luật lệ căn bản để trở thành người Do-thái chánh hiệu, như nhận định của đấng bậc vị vọng là thày dạy, hôm nào khi giảng giải:

“Ngay từ đầu, thánh Phaolô đã được hai thánh tông đồ hàng đầu là Phêrô và Giacôbê đồng ý về nhiều chuyện; chí ít là chuyện không nên buộc các tân tòng vừa vào Đạo phải qua thủ tục ‘cắt bì’…

Có thể, thánh Giacôbê lúc đầu cũng chọn lập trường thứ hai, tức: người ngoài Đạo muốn trở lại, buộc phải qua thủ tục ‘cắt bì’ vì khi trước họ cũng đâu buộc phải chịu “cắt bì” khi sống chung với người Do-thái cho đến lúc cuối, trước khi vào Đạo…”

“Cả bên trong nội bộ Hội thánh ở Galát cũng như ngang qua các vị trước đây từng gia nhập đoàn/nhóm của thánh Giacôbê, khi đó đã thấy mọi người đều cổ võ lập-trường chủ-trương rằng: tân-tòng nào vừa hồi-hướng trở về, đều phải thông qua tục lệ “cắt bì”, như mọi người. Thế nên, chuyện dễ thấy nhất, là: sự việc ở đây đã đính kết với thói tục địa phương. Nhiều người hẳn sẽ hỏi: nếu ta cổ võ những chuyện như thế, thì tại sao ta lại có thể hội nhập với nền văn hoá sở tại được? Nhiều vị lâu nay từng gây khó khăn hoặc trực tiếp khuấy động ở nhiều vụ –tức các bạn đạo thuộc nhóm Giacôbê- đã đến Galát sau thời gian thánh Phaolô lưu lại nơi đây, lần chót. Họ được coi như tín hữu Đạo Chúa gốc Do-thái-giáo. Các vị chủ trương áp dụng luật Torah khá triệt để, và cả đến tục “cắt bì” cũng như luật ăn đồ cúng kiếng đối với người ngoại giáo vừa trở lại, nữa…”

Vấn đề đặt ra chẳng là chuyện thứ yếu, ít quan trọng. Nhiều vị –nếu không muốn nói là hầu hết- là thành viên của nhóm bạn đạo ở Galát trước đây kính sợ Chúa, tức những người ngoài Đạo nay trở thành dân con Thiên Chúa của Israel, nhưng lại không muốn thành người có gốc Do-thái-giáo vì họ chẳng ưa thích gì tục “cắt bì”, cũng vì thế. Họ là người được thanh tẩy là cốt để dấn thân vào với cộng đoàn dân con của Chúa nhưng lại không muốn chịu phép “cắt bì”, mỗi thế thôi. Hỏi rằng: như thế phải chăng họ vẫn là người ngoài Đạo? Họ có là con cháu Abraham cùng đấng thánh tổ phụ không? Họ có thực sự chung cùng một Giao ước lành thánh với Chúa chứ?” (Xem Lm Kevin O’Shea, Phaolô, Vị thánh của mọi thời, nxb Tôn giáo 2013, tr. 182-188).

Tiếp tục tưởng tượng người hùng Do-thái-giáo nói trên, giống bất kỳ tân-tòng nào vừa mới nhập Đạo Chúa, thời tiên-khởi cũng sẽ tự hỏi xem thói-tục “cắt bì” là gì, mà ghê gớm thế?

Giáo dân tân-tòng hôm nay, có thể sẽ không buộc phải như thế nữa. Nhưng, khi tiếp cận Kinh Sách của Đạo Chúa, hẳn cũng có những lần giáo dân của ta cứ tự hỏi mình/hỏi người những câu, giống dân con nhà Đạo ở Sydney, hỏi “ông” cha ở Tuần Báo The Catholic Weekly những câu tương-tự, như sau:

“Thưa cha,

Con nhớ: khi xưa phụng vụ Đạo mình cũng để ra một ngày đặc biệt như ngày Đầu Năm Dương Lịch để cử hành thánh lễ kính nhớ việc Chúa chịu phép “cắt bì”. Nay, ngày ấy được thay thế bằng lễ “Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa”, rất long trọng. Vậy hôm nay, con kính hỏi cha xem lý do tại sao Đạo Công giáo ta từng tổ chức thánh-lễ long trọng là thế, nay lại bỏ, như thể tức là Hội thánh của ta không còn muốn nhắc nhở gì chuyện ấy hết, sao?” (Câu hỏi của một người ở Sydney, biết rất ít về thần học và lịch sử Đạo).

Là thần dân đi Đạo mà lại nói “biết rất ít về thần học và lịch sử Đạo” nhưng nhớ nhiều về phụng vụ vào dạo trước, thì chỉ có thể là dân “ta ru” tức tu ra mà thôi. Nhưng, không sao. Tu ra hay tu vào, cũng vẫn là tu miễn đừng “tu hú” hoặc “tu huyền tù” ở thế giới tục trần, dần dần rời xa Đạo là được. Vậy thì, ta cứ thử nhín chút thì giờ mà xem đấng bậc vị vọng có trọng trách giải đáp thắc mắc của tuần báo trên giải quyết ra sao. Và, giải quyết là giảng giải và nhất quyết rằng:

“Đúng như anh/chị nói, khi xưa vào ngày Đầu Năm Dương Lịch, Hội thánh có thói quen cử hành Lễ Chúa Chịu Phép Cắt Bì. Đây là ngày giờ rất thích hợp cho sự kiện xảy ra cách đích thực. Bởi lẽ sự kiện ấy xảy ra đúng một tuần lễ sau khi Chúa sinh ra đời đúng theo luật của tất cả bé trai Do-thái đều phải làm thế và khi ấy bé sẽ được đặt tên như mọi người. Thánh-sử Luca mô tả việc ấy rất rõ như sau:

“Khi Hài Nhi được đủ tám ngày, nghĩa là đến lúc phải làm lễ cắt bì, người ta đặt tên cho Hài Nhi là Giê-su; đó là tên mà sứ thần đã đặt cho Người trước khi Người được thụ thai trong lòng mẹ.” (Lc 2: 21)

Việc Chúa chịu phép cắt bì có nguồn gốc và ý nghĩa tuợng-trưng cũng rất hay. Tục lệ này bắt nguồn từ thời tổ phụ Abraham, tức chung quan niên-đại 1900 trước Công nguyên. Sách Sáng Thế Ký có ghi lại sự kiện khi ấy Abraham đã 99 tuổi, được Chúa lập Giao-ước hứa với ông là sẽ cho ông sinh con đàn cháu đống và ban cho đất Canaan làm sở hữu đến mãn đời. Cùng lúc ấy, Ngài đổi tên ông từ Abram thành Abraham (x. Stký 17: 1-8). Ngài còn dạy ông rằng:

“Đây là giao ước của Ta mà các ngươi phải giữ, giao ước giữa Ta với các ngươi, với dòng dõi ngươi sau này: mọi đàn ông con trai của các ngươi sẽ phải chịu cắt bì.11 Các ngươi phải chịu cắt bì nơi bao quy đầu: đó sẽ là dấu hiệu giao ước giữa Ta với các ngươi.12 Sinh được tám ngày, mọi con trai của các ngươi sẽ phải chịu cắt bì, từ thế hệ này qua thế hệ khác, kể cả nô lệ sinh trong nhà, hay nô lệ các ngươi dùng bạc mà mua của bất cứ người ngoại bang nào không thuộc dòng dõi các ngươi.13 Buộc phải cắt bì nô lệ sinh trong nhà cũng như nô lệ mua bằng bạc. Giao ước của Ta ghi dấu trong xác thịt các ngươi, sẽ thành giao ước vĩnh cửu.” (x. Stký 17: 10-13)

Kể từ đó, coi như dấu hiệu của Giáo ước giữa Chúa và loài người, tất cả các bé trai đều phải đem “cắt bì” vào ngày thứ 8 sau khi sanh; và việc này trở thành khuôn khổ để đi vào Giáo ước giống như việc người Kitô-hữu hôm nay lĩnh-nhận ơn thanh tẩy, vậy. Đến thánh Phaolô cũng lấy làm kiêu-hãnh về tục-lệ này của dân Do-thái khi thánh-nhân bảo: tôi chịu cắt bì ngày thứ tám, thuộc dòng dõi Ít-ra-en, họ Ben-gia-min, là người Híp-ri, con của người Híp-ri; giữ luật thì đúng như một người Pha-ri-sêu”.(Phil 3: 5) Xem như thế, thì “cắt bì” làm cho người Do-thái khác với dân ngoại, tức những người chẳng bao giờ chịu tuân theo tục-lệ này hết.

Vì thế nên, việc Chúa chịu phép “cắt bì” chứng tỏ Ngài là người thật, được sinh ra từ người nữ thuộc giống giòng Do-thái là xứ sở Ngài hạ sinh để cứu vớt họ. Chúa tuyển chọn dân riêng của Ngài như sách Cựu ước đã chứng mình là để chuẩn bị con đường cho Con Một Ngài Nhập thể làm người là Đấng Mêsia đã được xức dầu ngõ hầu giải-thoát mọi người khỏi mọi tội lỗi họ mắc phạm và kiến tạo Giao ước mới với họ một cách dứt khoát.

Việc Chúa chịu phép cắt bì còn có giá trị tượng-trưng rất lớn. Đó là việc Ngài chấp-nhận đổ máu Ngài lần đầu tiên song song với việc tên lính hầu La Mã đã đâm thủng “nương long” Ngài khi Ngài kêu “khát nước” trên thập tự/khổ giá (x. Ga 19: 34). Việc này còn cho thấy trước giòng thanh-tẩy nhờ đó mọi Kitô-hữu cũng được chung phần đi vào với Giao ước của Chúa. Về việc này, thánh Phaolô còn viết thêm, như sau:

“Trong Người, anh em đã được chịu phép cắt bì, không phải phép cắt bì do tay người phàm, nhưng là phép cắt bì của Đức Ki-tô, có sức lột bỏ con người tội lỗi của anh em.12 Anh em đã cùng được mai táng với Đức Ki-tô khi chịu phép rửa, lại cùng được trỗi dậy với Người, vì tin vào quyền năng của Thiên Chúa, Đấng làm cho Người trỗi dậy từ cõi chết.(Col 2: 11-12)

Khi Chúa chịu phép cắt bì, Ngài được đặt tên bằng danh-tánh mà thần-sứ đã báo cho cả thánh Giuse (Mt 1: 2) lẫn Đức Mẹ nữa (Lc 1: 31). Danh-tánh Chúa Giêsu có nghĩa: Ngài là Đấng Cứu Thế, cho nên thần-sứ mới báo cho thánh cả Giuse rằng: Trẻ này sẽ được gọi là Giêsu, bởi “Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ”. (Mt 1: 21)

Lễ Chúa Chịu Phép Cắt Bì khi xưa được cử-hành vào ngày thứ 8 sau Giáng sinh, tức đúng nhất vào ngày 1 tháng Giêng Dương lịch, kể từ các thế kỷ đầu đời. Lễ Giáng Sinh lần đầu được mừng vào ngày 25 tháng Chạp sớm nhất vào thế kỷ thứ 4. Bởi lẽ, ngày 1 tháng Giêng là ngày đầu năm mới của Tây Lịch, nên Lễ mừng dành cho Kitô-hữu khi ấy đụng phải lễ hội của người ngoại giáo cũng mừng cùng một ngày, như người đời vẫn giữ tập-tục này cho đến hôm nay. Theo nghi-thức của người Gals thì Lễ Cắt bì khởi sự được cử hành từ thế kỷ thứ 6 và theo lịch của người sắc tộc Byzantin là vào thế kỷ thứ 8 và thứ 9. Từ thế kỷ thứ 7 ở Rôma, mọi người ở đây cũng có thói lệ mừng ngày Bát Nhật Giáng Sinh cũng vào dịp ấy.

Dù lễ này được gọi là Lễ Chúa Chịu Phép Cắt Bì, nhưng nội dung phụng vụ thánh lễ lại bao gồm nhiều điều nói đến Đức Mẹ. Cho đến năm 1960, lịch Công giáo La Mã vẫn có thói quen cử hành lễ Chúa Chịu Phép Cắt Bì vào ngày 1 tháng Giêng dương lịch và Bát Nhật Giáng Sinh trong cùng một ngày như thế. Sau lần duyệt xét lịch Đạo từ năm 1960, ngày 1 tháng Giêng được gọi một cách đơn giản là Lễ Bát Nhật Giáng Sinh, thôi. Nhưng cuối cùng thì, theo Lịch Công giáo La Mã ấn hành từ năm 1969, lễ này trở thành Lễ trọng gọi là Lễ Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, nhưng vẫn được qui chiếu làm Lễ Bát Nhật Giáng Sinh. Điều này phù hợp với sự việc ta cử hành mừng kính vai trò làm Mẹ Thiên Chúa của Đức Mẹ rơi vào đúng Bát Nhật Giáng Sinh, khi ta cử hành Sinh Nhật của Con Thiên Chúa làm người. Và thêm nữa, lễ mừng Tên thánh của Chúa Giêsu được cử hành vào ngày 3 tháng Giêng mỗi năm, như sự thường.” (xem Lm John Flader, The Circumcision of Christ, Question Time, The Catholic Weekly 29/12/2013)

Xem thế thì, “Cắt Bì” hay cắt “da qui đầu” theo cổ lệ của người đi đạo Do-thái-giáo, là như thế. Như thế, tức như thể: mỗi khi gia-nhập nhóm hội/đoàn thể nào đó ở xã-hội, người người đều thấy người gia-nhập buộc phải tuân theo một số qui-định hoặc qui-luật nào đó, cho thuận lợi. Thuận lợi càng nhiều, thì xã-hội ấy/đạo-giáo ấy càng có cơ phát-triển và nổi tiếng.

Tuy nhiên, càng nhiều luật-lệ hoặc càng bó buộc nhiều vào qui-định này khác, thì đạo ấy/xã-hội nọ lại sẽ có cơ bị nhiều người có lập-trường hoặc quyết-tâm đối chọi, rồi từ từ cũng sẽ từ-bỏ hoặc lơ là cả luật-lệ hoặc tục-lệ, giống như thế.

Tương tự như thế, vừa qua, toà thánh La Mã lại đã đề cao cảnh-giác một số tục-lệ được nhiều người ở trời Tây “đổ xô” hoặc rủ rê nhau tìm đến với lý lẽ để duy trì lòng tin/yêu hoặc “lòng đạo” xưa nay vẫn có. Lời cảnh-báo, có ghi rõ như sau:

“Bộ trưởng Thánh Bộ Tín Lý đã cảnh-báo người Công-giáo Hoa-Kỳ về việc các vị này hay tham dự các lễ lạy mừng kính điều mà nhiều người cho rằng Đức Mẹ cũng đã hiện ra ở Medjugorje, xứ Bosnia-Herzegovina.

Đức Tổng Giám Mục Carlo Maria Vigano, sứ thần Toà thánh, có viết cho ngài Ronny Jenkins, Tổng Thư Ký Hội Đồng Giám mục Hoa Kỳ và nhắc nhở ông về chuyện Đức Mẹ hiện ra ở đây lâu nay vẫn chưa được Toà Thánh La Mã xác-chứng coi đó là việc đúng thực.

Sau đó, Đức Tổng Giám Mục Vigano có viết trong thư luân-lưu của ngài những điều như sau: “Hàng giáo sĩ cũng như giáo-dân của ta không được phép tham-dự bất cứ buổi họp mặt, hội-thảo, mừng kính công-khai nào có dụng đích khiến mọi người tin rằng việc Đức Mẹ hiện ra ở nơi đó, là sự việc được Hội thánh công nhận”. Thư nhắc nhở của Đức Tổng Giám Mục Vigano cũng được gửi đến Đức Tổng Giám Mục Gerhard Muller, Chủ Tịch Thánh bộ Tín Lý trong thư ghi rõ: “đến nay chưa có khả năng để cam kết rằng có sự việc Đức Mẹ hiện ra ở đây hoặc Mẹ có mặc-khải điều gì rất siêu nhiên”.

Cùng lúc Toà thánh La Mã nói rằng: các giáo-phận không được phép tổ chức bất cứ cuộc hành-hương nào đến Medjugorje, nhưng vẫn thêm rằng: người Công giáo vẫn có tự do đến thăm thị trấn này và/hoặc đến đó mà nguyện cầu và có điều nữa là: Giáo phận Mostar-Duvno và thủ phủ do các tu sĩ Dòng Phanxicô trông nom vẫn có bổn phận trông nom chăm sóc về mục vụ cho giáo dân ở đây.” (xem Bản tin có tựa đề: Don’t attend Medjudorje meetings, Vatican warns, The Catholic Weekly 17/11/2013 tr. 4)

Hôm nay, bần đạo cũng có dịp “ra đứng bờ ao” nào đó, nhưng không là ao nhà, mà là ao người mãi tận xứ Ba-Tư cứ suy-tư rất ư là vô tư-lự rất nhiều giờ về câu nói của cụ hướng-dẫn-viên du lịch người Iran đã nói trong lúc diễn-giải lịch-sử của đất nước từng được gọi là “ngàn đêm lẻ xứ Ba-Tư” rằng: phụng-vụ trong Đạo Công-giáo ta cũng đã vay mượn một số tập tục của đạo thờ thần lửa khi xưa gọi la Zoroastrian…”

Tiếc một điều, là vị ấy không đan-cử trường hợp nào làm chứng-cứ hỗ trợ lời khẳng định của mình. Nay, khi ra đứng bờ ao của xứ lạ quê người, bần đạo lại cũng nhớ có lần bậc thày dạy Kinh thánh từng nói Khi xưa các bậc thánh-sử của Đạo mình khi viết Kinh-thánh cũng có đưa một vài tập tục dân gian ở đời vào bài viết của mình. Và sau này, Hội thánh dùng đó đưa vào Cựu Ước và một số vào Tân-ước. Lại rất tiếc, hôm ấy cha giáo Kinh thánh Nguyễn Thế Thuấn không nói rõ đọan ấy là đọan nào.

Nay suy nghĩ nhiều bên bờ ao, hôm nào, bần đạo đây lại quay về bài ca trên mà hát thêm:

“Đêm qua ra đứng bờ ao

Trông cá, cá lặn trông sao, sao mờ

Buồn trông con nhện giăng tơ

Nhện ơi, nhện hỡi, nhện chờ mối ai

Buồn trông chênh chếch sao Mai

Sao ơi, sao hỡi nhớ ai sao mờ.”

(Văn Phụng – bđd)

“Trông cá, cá lặn; trông sao, sao mờ” chắc chắn không phải là và cũng không giống như câu nói của ai đó vẫn cứ bảo mình “trông gà hóa quốc”. Hôm nay đây, bần đạo cũng đã trông và thấy, một bài thơ rất “mờ mờ” của ai đó, có giòng chữ như sau:

“Còn gặp nhau thì hãy cứ vui.

Chuyện đời như nước chảy hoa trôi.

Lợi danh như bong mây chìm nổi.

Chỉ có tình thương để lại đời.

Còn gặp nhau thì hãy cứ thương.

Tình người muôn thuở vẫn còn còn vương.

Chắt chiu một chút tình thương ấy.

Gửi khắp muôn phương vạn nẻo đường…”

(x. thơ Tôn Nữ Hỷ Khương tìm gặp trên điện thư và trang mạng, ở đâu đó)

Bần đạo nhớ: bài thơ trên cứ ghi thêm các câu có những vận như: “hãy cứ chơi”, “hãy cứ cười”, “hãy cứ chào”, “hãy cứ say” và “hãy cứ đi” … để rồi người luận thơ kết luận bằng một ý nghĩ vẫn cứ bảo: “Khi vui, luôn có nhau trong tình tri kỷ. Lúc buồn, cũng có nhau trong tình thương ái tương thân, nói với nhau những lời yêu thương dịu ngọt, cho nhau những nụ cười, những niềm vui, những ngọt bùi, để khi theo quy luật tự-nhiên, luật vô thường, mọi vật đều có thể mất đi, thì “chỉ có Tình Thương để lại đời”… (người luận thơ ký tên: GS TS Trần Văn Khê)

Trong giòng chảy suy tư giống như thế, bần đạo lại bắt gặp câu truyện của ai đó có nhan đề “Họa và Phúc” do bạn bè gửi đến, như sau:

“Có một vị quốc vương, khi ra ngoài đi săn không may bị đứt một ngón tay, mới hỏi vị đại-thần thân-cận nên làm thế nào? Đại-thần nói với giọng lạc-quan nhẹ nhõm: Đây là việc tốt! Quốc vương nghe vậy giận lắm, trách ông hí-hửng khi thấy người khác gặp nạn, vì thế ra lệnh nhốt ông vào đại lao.

Một năm sau, quốc vương lại ra ngoài đi săn, bị thổ-dân bắt sống, trói vào đàn tế, chuẩn bị tế thần. Thấy phù-thủy đột nhiên phát hiện quốc vương khuyết mất một ngón tay, cho rằng đây là vật tế-thần không hoàn chỉnh, bèn thả quốc-vương ra, thay vào đó lấy viên đại-thần tùy-tùng làm vật hiến-tế.

Trong niềm vui thoát nạn, quốc vương nghĩ tới viên đại thần vui vẻ từng nói rằng: mất ngón tay là việc tốt, liền ra lệnh thả ông, và xin lỗi vì đã vô cớ bắt ông chịu nạn một năm trong ngục tối. Vị đại thần này vẫn lạc quan nói: “Cái họa một năm ngồi tù cũng là việc tốt, nếu như tôi không ngồi tù, thì thử nghĩ vị đại thần theo người đi săn mà bị lên đàn hiến tế kia sẽ là ai?

Bởi vậy, việc tốt chưa chắc đã tốt hòan tòan, việc xấu cũng chưa chắc xấu hoàn toàn. Mọi việc trên đời đều có thể trở thành tốt xấu. Người bi quan mãi mãi nghĩ đến mình chỉ còn một triệu đồng mà buồn lo; người lạc quan vẫn cảm thấy hạnh phúc vì mình vẫn còn mười ngàn đồng…”

Họa là gốc của Phúc. Phúc là gốc của Họa. Họa-Phúc luân chuyển và tương sinh. Sự biến đổi ấy không thể nhìn thấy được, chỉ thấy cái kết quả của nó. Hai điều Họa-Phúc cứ xoay vần với nhau, khó biết được, nên khi được Phúc thì không nên quá vui mừng mà quên đề phòng cái Họa sẽ đến, khi gặp điều Họa thì cũng không nên quá buồn rầu đau khổ mà tổn hại tinh-thần. Việc đời, hết may tới rủi, hết rủi tới may, nên cần giữ sự thản nhiên trước những biến đổi thăng trầm, trong cuộc sống…” (trích bài viết của một người không ký tên, trên mạng về “Họa & Phúc”)

Bần đạo đây, nay trích dẫn đôi điều ở trên là để phiếm khi gặp vấn đề này khác, như: “cắt bì”, “tri kỷ”, “họa-phúc” xuất hiện ở bài thơ, bài báo lẫn câu nhạc đây đó giúp mình có được những suy nghĩ cho riêng mình. Rồi từ đó, hiên ngang sống đời còn lại để cùng với bạn đạo khác thực hiện một vài động-tác gọi là “tái rao giảng Phúc Âm” theo cương vị của mọi người như đề nghị của Đức đương kim Giáo Hòang mới đây từng đề xuất.

Nghĩ thế rồi, bần đạo bắt chước người nghệ sĩ trên, dù có hát như sau, nhưng không buồn:

“Đêm qua ra đứng bờ ao,

Trông cá,cá lặn; trông sao, sao buồn.

Buồn trông con nhện giăng tơ,

Nhện ơi, nhện hỡi, nhện chờ mối ai.”

(Văn Phụng – bđd)

Những mong rằng: mối nhện ấy không là mối tơ vương của nhện buồn, nhưng lại là mối nhện rất thân thương của tình thương yêu trầm lắng, vẫn cứ giăng.

Trần Ngọc Mười Hai

Dám học hỏi nhiều điều

Từ chú nhện giăng tơ

Lẫn mạng lưới tình thương

Vẫn đang chờ.

Suy tư Tin Mừng Chúa nhật thứ 5 mùa thường niên năm A 09.02.2014

“Hoa cười nguyệt rọi, cửa lồng gương,”

Lạ cảnh buồn thêm, nỗi vấn vương.”

(dẫn nhập từ thơ Hàn Mặc Tử)

Mt 5 13-16

Với nhà thơ, nay cứ vấn vương một nỗi như hoa cười, nguyệt rọi, cửa lồng gương. Với nhà Đạo, xưa cũng vương vấn nhiều tình đầy hạnh phúc rất “8 mối”, được thánh-sử diễn tả ở trình-thuật.

Trình-thuật về “phúc hạnh 8 mối” hay “Hiến Chương Nước Trời”, thật ra không là lời Chúa đã nói thế, mà chỉ là lối hành văn đặc-biệt mà thánh Mát-thêu đã diễn-tả và như đường lối sáng-tác kiểu Do thái, vào thời đó. Văn-chương thời đó cốt đưa ra cho người đọc hiểu theo kiểu “bánh mì xắt lát nhiều lớp, xếp bắt chéo”. Lát đầu song song với lát cuối và lát thứ hai song song với lát áp chót, cứ thế diễn tả cách thoải mái, ý nhị. Rõ ràng là, cung cách viết lách theo kiểu này cứ xếp lớp chòng chéo nhau, chuyển thông-điệp thật rất đẹp.

Trình thuật, nay thánh Mát-thêu diễn-tả ở đoạn đầu, vào lúc Chúa cất bước lên đồi cao có chúng dân cứ thế kéo nhau đi theo; và đoạn cuối trình-thuật, lại mô-tả Chúa xuống đồi, cũng có chúng dân đi theo Ngài, rất lũ lượt. Các đoạn tiếp theo sau, thánh-sử đề-cập đến 9 mối phúc hạnh. Và, đoạn chót nhắc nhở những 3 lời rất cảnh-báo: các “lát bánh” mô-tả ở giữa bài, bàn việc thực-thi luật Torah và chuyện các ngôn-sứ thời buổi trước theo cung-cách cũng diễn-tả theo cách “tượng thanh tượng hình”, giống như thế.

Trọng tâm trình-thuật, nay thánh-sử cốt bàn về luật chính-yếu ở thời đó, như: cấm giết người, chớ ngoại tình hoặc đừng ly dị, cùng một số hành-xử khác như: thề độc, hoặc trừng phạt cùng đòi hỏi phải yêu thương cả đến kẻ thù mình, nữa. Điều này tương-xứng với yêu-cầu ở phần cuối của điều luật, là: làm cách nào xử lý tiền bạc/tài sản cho tốt đẹp và làm sao liên-hệ mật-thiết với bà con họ hàng, chốn thôn làng.

Phần giữa trình-thuật, tác-giả Mát-thêu càng đi dần vào cốt-lõi của “Hiến Chương Nước Trời”, tức: bàn về bổn-phận phải bố thí, nguyện cầu và kiêng khem. Điều, làm cho trình-thuật thánh Mát-thêu khác với thánh Luca và/hoặc các thánh-sử khác, là tác giả Mát-thêu lại đã chêm vào bản-văn mình viết “Kinh Lạy Cha” Chúa truyền-dạy như trọng-tâm mọi động-tác nguyện cầu nội-tâm; và đặc biệt là quyết-tâm tha-thứ hết mọi người.

Có thể nói, toàn-bộ công việc cải-tân luật Torah do Đức-Chúa-là-Môsê-Mới trên núi thánh, là nội-dung chính được nhắm đến trong “Kinh Lạy Cha”. Nội dung kinh này, tỏ cho thấy quan-hệ huyền-nhiệm Cha-Con rất tốt đẹp của Thiên-Chúa. Sự việc này, tăng dần với bổn phận tiên-quyết của người biết “cảm kích” quà tặng khó lường, do Cha ban. Lời kinh tập trung vào tương-quan xã-hội cũng như nhu-cầu tha-thứ hết mọi người; đồng thời, chấp-nhận sự thứ-tha của người khác. Tất cả, đã trở-thành điều quan-trọng đối với hành-xử căn bản là chúc-tụng/ngợi ca và cảm tạ Chúa phú ban món quà quí già, làm con Ngài.

Vào Mùa Chay, Hội-thánh thiết-lập nghi-thức “Khai-tâm Lòng đạo” là cốt tăng-cường ý-nghĩa quà tặng Chúa ban như nhiệm-tích thánh-thiêng đưa vào cử-hành ở Lễ Vọng Phục Sinh. Sở dĩ “Kinh Lạy Cha” đặt vào phụng-vụ của buổi ấy, là để chuẩn-bị cho những ai chấp-thuận “khai tâm lòng đạo” biết nhận ra quà của Chúa rất quí giá. Hiến Chương Nước Trời ở trình-thuật thánh Mát-thêu diễn tả giúp ta hiểu được sự việc canh-cải gồm tóm ý-nghĩa và kinh-nghiệm quí giá của quà tặng, còn nhiều hơn.

Đàng khác, tư-duy ý-nghĩa của “8 mối phúc-hạnh” nơi Hiến Chương Nước Trời, còn là suy-tư về toàn-bộ ý nghĩa rút ra từ nơi đó. Đây, là ý-nghĩa Lề-luật mà người Do-thái từng tuân-thủ rất nhiều năm ta có thói quen gọi là “Luật Torah”.

Cụm từ “Torah” ta nghe biết cũng nhiều, thật ra, là phần đầu của Kinh Thánh Do-thái và là Sách Cựu Ước dành cho mọi Kitô-hữu, tức gồm các sách: Sáng Thế, Xuất Hành, Lê-vi, Dân Số vá Đệ Nhị Luật. Các bậc thức-giả vẫn gọi đó là Sách Ngũ Thư, tức đầu đuôi 5 cuốn Kinh Sách do Môsê lập. Các điều-luật ghi ở Ngũ Thư được viết trên “chỉ cảo” duy-nhất, tức: văn-bản chính-thức được thiết-lập ngay từ đầu. Đây là Sách Thánh “tiên khởi” của Do-Thái-giáo lẫn Đạo Chúa. Người Do-thái trân-trọng Sách này với tất cả niềm vui như trọn vẹn tài sản của riêng mình.

Cụm-từ “Torah” được mọi người hiểu theo nghĩa “lề-luật của Do-thái”. Quả là, sách Ngũ Thư bao gồm rất nhiều điều-khoản, chẳng hạn như: 10 điều răn-dạy, tuyển-tập luật-pháp và một số qui-định đặc-biệt dành riêng cho người Do-thái mà thôi như: tục cắt bì, thừa kế, vv… gồm tóm nhiều truyện kể, ghi ở trong đó. Lâu nay, ta vẫn gọi đó là: “Lề-luật Do-thái”, nhưng đó không là văn-bản được chuyển-vận từ sách ghi rõ luật Torah cho người Do-thái, như đa số nhiều người vẫn hiểu thế mỗi khi nói đến Ngũ Thư, tức: sách đề-cập mỗi luật và luật, thôi.

Thật ra thì, “Torah” chỉ có nghĩa như: chỉ-thị hoặc giáo-huấn mà người Do-thái muốn mọi người chú tâm như qui-định do cha ông để lại và là luật-lệ do cha mẹ đề ra, tựa Châm ngôn 18 ở Cựu Ước. Giáo huấn rút từ Luật Torah, mang nhiều ý-nghĩa hơn các điều-luật cần được áp-dụng cách triệt-để. Đó là chỉ-dẫn giúp ta học cách quan-hệ với Chúa, và đi vào thế giới của Ngài. Có điều hay, là: ngay phần đầu Luật Torah là sách Sáng Thế Ký, lại không thấy bất cứ điều-khoản nào nói về luật-pháp mà chỉ là truyện kể, thế thôi.

“Torah” tiếng Hipri xuất tự cụm-từ Hy Lạp “nomos”, diễn tả quan-hệ ta có với Chúa, nhưng không là điều mọi người ưa thích. Chính Luther, là người đầu tiên trong Đạo đã trích-dịch cụm-từ ấy thành “điều luật” và đưa vào văn-bản Kinh-thánh cùng nền thần-học chính-mạch. Nói chung, ông muốn nói lên phản-ứng của người đi Đạo đối với hệ-thống luật-lệ rất chi tiết mà ông thấy đầy nơi cuộc sống của người Công-giáo, vào thời ấy.

Kinh thánh Do thái, ở sách cuối như: Ezra, Nêhêmiah, Ký sự 1 và 2 lại thấy có câu “Torah của Đức Chúa” như mặc-khải thánh-thiêng do Môsê điều-nghiên suy-tư. Cứ thế, “Torah” trở-thành Luật truyền-khẩu do Chúa nói cho ta biết, rồi dần dà, ta coi đó như luật viết thành văn. Tuy nhiên, bản-văn Torah viết bằng chữ, tự nó không đứng vững, nhưng được bao- bọc bằng các khoản luật truyền-khẩu, có diễn giải.

Nói chung thì, “Torah” là đường-lối giúp ta sống đúng cách; đúng phong-tục/luật-lệ của người Do-thái từ trước đến nay. Tầm-suy nguồn-gốc tiếng Do-thái, người đọc thấy: tiếng ấy có nghĩa như “Mũi tên bắn” đánh thẳng vào mục tiêu, rất trúng đích. Như, Thánh vịnh 119 có đoạn viết rất rõ:

“Luật pháp Ngài, lạy Chúa, con yêu chuộng dường bao, suốt ngày cứ suy đi gẫm lại! Mệnh lệnh Chúa làm con khôn hơn địch thủ, vì con hằng ấp ủ mệnh lệnh đó trong lòng “(Tv 119: 97-98)

Cũng tựa hồ sự việc người Công giáo lâu nay cất-giữ Mình Chúa ở “Nhà Tạm” thế nào, thì người Do-thái khi xưa cũng lưu-trữ Luật Torah trong “Khám” ở hội-đường, hệt như thế.

Với thánh Mát-thêu, “Torah-Mới” không là văn-bản giảng về Lề-luật hoặc Tin Mừng viết thành sách, cũng chẳng là bộ sưu-tập gồm mọi ký-ức truyền-tụng qua cửa miệng, cũng chẳng là truyền-thuyết hoặc truyện kể rất “đáng nể”, nhưng là chính Chúa bằng xương bằng thịt, được ban cho ta.

Thánh Mát-thêu ưa gọi Tin Mừng mình viết như “Sáng Thế Ký” mới của Đạo. Thật ra thì, Sáng Thế Ký ở Kinh-Sách là văn-bản cuối thêm vào Luật Torah theo cách hiểu này khác, đây lại là thành-tựu của bộ luật được người Do-thái xưa nay trân trọng. Đó cũng là truyện kể về cách sống của nhân loại, trong đó có phần khai-thác rất lan man, tản mạn nguy không kém. Thêm vào đó, là: đoản-văn ngẫu-hứng về tự-do và lý-sự gồm một số truyện xung-khắc nam/nữ, và/hoặc nền tảng gia-đình, tương lai nhân-loại; có sự chết, có nét đẹp và các anh-hùng-ca cùng truyện cám dỗ, có công bằng chính trực của giao ước và lề-luật, nữa.

Nói cho cùng, đây là văn-bản/truyện kể của con người về giai-đoạn chuyển từ di-sản tổ-tiên và lòng sùng-kính rất Đạo vào tình huống hy-vọng. Sáng Thế Ký có đoạn nói rõ: Đức Chúa là Đấng Tạo Thành Trời Đất, Ngài để mọi sự cứ thế xảy ra và biến mọi hỗn-độn thành trật-tự. Con người, đặc biệt là nữ-giới, lại được Tạo-hóa chăm-nom đặc-biệt và được ở chốn rất cao của cuộc sống, cũng rất thánh. Nói cho cùng, Sáng Thế Ký còn là truyện tình-tứ rất triệt-để và tích-cực.

Thánh Mát-thêu từng nắm rõ điều đó, nên đã tuyển-chọn các truyện kể tiêu-biểu và còn tiến xa hơn. Mở đầu Tin Mừng mình, tác-giả Mát-thêu đã sử-dụng những câu như: “Sách Cội Nguồn” về gia phả của Đức Giêsu như sau…” Rõ ràng là, với thánh Mát-thêu, Đức Giêsu là “Torah-Mới và Chung Cuộc”, tức: ý-nghĩa mới-mẻ và kết-cuộc của một Khởi-Đầu Mới” của nhân-loại khi Ngài chấp-nhận thân-phận làm Con Thiên Chúa-là-Cha-và-là-Tình-Yêu, rất thực.

Cùng một cảm-nghiệm với thánh-sử như thế, cũng nên ngâm tiếp lời thơ trên, mà rằng:

“Hoa cười nguyệt rọi, cửa lồng gương;

Lạ cảnh buồn thêm nỗi vấn vương.

Tha thướt liễu in hồ gợn bong,

Hững hờ mai thoảng, gió đưa hương.”

(Hàn Mặc Tử – Bài Cửa Sổ Đêm Khuya)

Đêm khuya cửa sổ, mở ra chân trời mới. Chân trời của Chúa, vẫn là 8 mối hoặc 10 mối rất phúc thật, nơi đời thực của mọi người.

Lm Kevin O’Shea CSsR

Mai Tá lược dịch

CON PHẢI LÀM GÌ?

CON PHẢI LÀM GÌ?

Bài sách Công vụ Tông đồ hôm nay kể về một cuộc gặp gỡ lạ lùng giữa Đức Giêsu Nadarét với anh Saun, kẻ đang bách hại các Kitô hữu.  Chính Ngài muốn gặp anh trên con đường anh đang đi.  Dưới mắt Saun, Kitô hữu là những kẻ bỏ đạo Do Thái chính thống, để chạy theo một tà phái của ông Giêsu nào đó mà họ tin là đã phục sinh.  Trong tư cách là một người Pharisêu nhiệt thành và nghiêm túc (c. 3), Sa-un thấy mình có bổn phận phải trừng trị những kẻ phản đạo, bằng cách bắt bớ, xiềng xích, tống ngục, thậm chí thủ tiêu (cc. 4-5).

Chính lúc đang say sưa đến gần thành Đamát thì anh bị quật ngã.  Cuộc gặp gỡ bắt đầu, đời anh từ nay giở sang một trang mới.  Khi anh đang tự tin và hiên ngang tiến bước, thì ánh sáng chói lòa từ trời làm anh ngã quỵ (c. 7).  Khi Saun nghĩ mình là người sáng mắt, thì ngay giữa trưa, anh trở nên mù lòa (c. 11).  Khi anh định chỉ đạo cho những kẻ lầm đường lạc lối, thì bây giờ anh lại cần một người cầm tay dắt đi (c. 11).  Cuộc đối thoại bắt đầu giữa anh với người mà anh chỉ nghe tiếng nói.

Ngài âu yếm gọi tên anh hai lần và tự giới thiệu:  “Saun, Saun, tại sao ngươi bắt bớ Ta?  Ta là Giêsu Nadarét mà ngươi đang bắt bớ” (c. 8).  Bắt bớ các Kitô hữu là bắt bớ chính Đức Giêsu.  Đức Giêsu và các Kitô hữu là một.  Bài học đầu tiên này Saun sẽ chẳng thể nào quên.

“Lạy Chúa, con phải làm gì?” (c. 10).  Lần đầu tiên Saun gọi người mà anh không hề tin là Chúa.  Khi tuyên xưng Đức Giêsu Nadarét là Chúa, anh lập tức phó thác cho Ngài, để Ngài chỉ bảo điều mình phải làm.  Nhưng Chúa Giêsu phục sinh đã không nói gì.  Ngài trao anh cho ông Khanania, một người chưa phải là Kitô hữu.  Chính ông này cho mắt anh thấy lại và cho anh biết anh được chọn để làm chứng nhân cho Ngài trước mặt mọi người.

Đa-mát là nơi Đức Giêsu tỏ mình cho Saun, cũng được gọi là Phaolô, là nơi ông nghe tiếng gọi trở nên tông đồ cho dân Ngoại, và cũng là nơi khởi đầu cho cuộc hoán cải tận căn của ông.  Chính mặc khải của Đấng phục sinh dẫn đến ơn gọi và hoán cải.  Từ nay cuộc đời của Phaolô đi sang một hướng mới.  Giêsu đã trở nên trung tâm của đời ông. “Tôi coi tất cả như đồ bỏ, để chiếm được Đức Kitô” (Ph 3, 8).  Biến cố trên đường đi Đamát đã chia đời ông làm hai. “Tôi chỉ chú ý đến một điều, là quên đi chặng đường đã qua, để lao mình về phía trước” (Ph 3, 13).

Chúng ta cũng có những kinh nghiệm như Phaolô: ngã ngựa, mù lòa, nghe và gặp Đức Kitô, rồi hoán cải.  Như Phaolô, mong chúng ta để cho Đức Kitô Giêsu chiếm lấy mình, và trở nên người tông đồ nhiệt thành cho thế giới.

Lm Nguyễn Cao Siêu

***********************************

Xin hãy dẫn dắt con

đi từ cõi chết đến sự sống,

từ lầm lạc đến chân lý.

Xin hãy dẫn dắt con

đi từ thất vọng đến hy vọng,

từ sợ hãi đến tín thác.

Xin hãy dẫn dắt con

đi từ ghen ghét đến yêu thương,

từ chiến tranh đến hòa bình.

Xin hãy đổ đầy bình an

trong trái tim chúng con,

trong thế giới chúng con,

trong vũ trụ chúng con.

(Mẹ Têrêxa Calcutta)

From: ThiênKim & Nguyễn Kim Bằng

Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi…

Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi…

Song Chi

Ngay sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc chưa được bao lâu, khi “phe thắng cuộc” còn đang ngây ngất trong “hào quang chiến thắng” và thế giới còn đang nhìn vào đảng cộng sản Việt Nam với ít nhiều khâm phục thì người dân, chủ yếu là từ miền Nam, bắt đầu ồ ạt bỏ nước ra đi…

Mặt trái của tấm huy chương lộ ra dần dần theo những thông tin, hình ảnh về những thuyền nhân bị hãm hiếp, bị cướp bóc tàn nhẫn hay vĩnh viễn nằm lại dưới lòng biển sâu trong quá trình trốn chạy đi tìm bến bờ tự do, được đăng tải rộng rãi…

Cô Phạm Thị Trúc quê huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang, lấy chồng Nam Hàn chết bất thường tại nhà chồng ở Busan hồi tháng Tư, 2013.
Một trong những cuộc di dân lớn nhất trong thế kỷ XX bắt đầu và kéo dài nhiều năm sau đó.
Ðiều đáng nói là cho mãi đến bây giờ, gần 40 năm sau, người Việt vẫn đang tiếp tục tìm đường ra đi, bằng cách này cách khác.
Người nghèo thì chủ yếu đi bằng con đường bán sức lao động, dưới danh nghĩa đi lao động hợp tác, còn gọi là “xuất khẩu lao động” – một trong những khái niệm mới có dưới chế độ ưu việt của đảng ta.
Cách làm này đã đem lại cho nhà nước Việt Nam một món ngoại tệ không nhỏ hàng năm, cộng với số tiền của kiều bào gửi về, khiến Việt Nam mấy năm gần đây liên tục lọt vào danh sách các quốc gia có lượng kiều hối cao trên thế giới. Thực chất, đây là nạn buôn người một cách công khai và Việt Nam cũng đã bị nhiều tổ chức nhân quyền trên thế giới cảnh báo về điều này.
Người viết bài này đã từng tiếp xúc, trò chuyện với nhiều người đi xuất khẩu lao động tại một số quốc gia ở Ðông Âu như Ðức, Tiệp Khắc, Ba Lan… Hầu hết đều phải cầm cố ruộng vườn nhà cửa, vay nợ ngân hàng để có tiền đóng cho các công ty môi giới lao động. Vì vậy khi sang đến nơi họ phải “cày” ngày “cày” đêm, ăn uống sinh hoạt hết sức tằn tiện, vừa dành tiền trả nợ, nuôi gia đình, tiết kiệm mong để dành được chút vốn sau này về nước làm ăn.
Dù làm việc vất vả, sống eo hẹp nhưng vẫn còn là… may mắn. Cực khổ, rủi ro hơn nhiều là những người đi sang nước khác bằng hộ chiếu du lịch rồi ở lại làm lao động “chui”.
Chẳng hạn, có rất nhiều người đi du lịch sang Nga rồi nhờ đường dây đưa sang Ðức sang Tiệp, đi đường bộ, đường rừng. Biết bao nhiêu hiểm nguy bất trắc rình rập, còn với phụ nữ thì khó mà thoát khỏi nạn bị cưỡng hiếp dọc đường, không phải chỉ một lần.
Vì không có giấy tờ, họ chỉ có thể làm việc cho những người chủ Việt, bị bóc lột nặng nề trong những điều kiện vô cùng tồi tệ mà không kêu cứu được ai.
Ðôi khi chúng ta lại đọc thấy tin tức như một xưởng may ở Nga bị cháy (tháng 9 năm 2012), nhiều công nhân Việt Nam bị chết, hóa ra đó là một xưởng may hoạt động bất hợp pháp và các công nhân có thể đã bị đưa đi xuất khẩu lao động “chui”. Hay “một người Việt ở Nga bị bắt vì sử dụng 700 lao động Việt như nô lệ” (Vietinfo). “Cảnh báo rủi ro lao động Việt Nam đi làm việc chui ở Philippines” (Báo mới), “Góc khuất về người lao động Việt Nam ở Angola” (VOV)…
Ngay các nước Bắc Âu như Na Uy, Ðan Mạch, Thụy Ðiển… bây giờ cũng có nhiều người đi du lịch rồi ở lại. Nhiều cặp vợ chồng bỏ lại con nhỏ cho ông bà nội ngoại nuôi, biền biệt làm ăn cả chục năm chưa về nước là chuyện bình thường!
Liều lĩnh hơn nữa, mới đây báo chí Việt Nam đưa tin nhiều người đi du lịch theo tour rồi bỏ trốn, chấp nhận vứt luôn cả hộ chiếu, sống hoàn toàn không giấy tờ trên nước người. (“Khắp nơi cảnh giác du khách Việt: xuất ngoại rồi bỏ trốn,” VietNamNet.)
Tất cả cũng chỉ vì quê hương không còn là “chùm khế ngọt” nên con người phải tha hương nhọc nhằn kiếm sống.
Nhiều cô gái trẻ ở nông thôn, đặc biệt là vùng đồng bằng sông Cửu Long thì chọn con đường đổi đời bằng những cuộc hôn nhân thông qua các tổ chức môi giới, với những người chồng đến từ Ðài Loan, Hàn Quốc.
Những cuộc hôn nhân vội vàng chớp nhoáng, lệch pha, mà bản thân các cô gái và gia đình chỉ nhận được một món tiền rẻ mạt, đa phần không tìm được hạnh phúc. Thậm chí kết thúc bằng cái chết.
Từ chuyện một cô dâu Việt mới bước qua tuổi 20 chưa lâu (sinh năm 1993) bị người chồng Hàn Quốc bóp cổ đến chết mới đây, báo Dân Trí có bài “Sự sỉ nhục nhìn từ những cô dâu Việt bị giết.”
Bởi đây không phải là lần đầu tiên, các bậc cha mẹ khi tiễn con gái đi lấy chồng xa cứ nghĩ là đời con mình sẽ sung sướng vì được lấy chồng “ngoại”, chẳng bao lâu sau đã phải đón con về trong những bình tro cốt giá lạnh. Những cái chết tức tưởi, bị đánh, bị đâm, hay quẫn trí quá mà nhảy lầu tự sát ôm theo con…
Vậy mà theo bài báo: “Phụ nữ lấy chồng Hàn Quốc, Ðài Loan bị đánh đập, hành hạ, bị giết, nhưng tỉ lệ thấp hơn và ít rủi ro hơn lấy chồng Trung Quốc…
Cuối năm 2013, ba cô dâu Việt Nam là Tô Thị Hà, Trịnh Thị Hoa, Mai Thị Sư được điều trị tại Bệnh viện thần kinh thành phố Phúc Châu, tỉnh Kiến Phúc – Trung Quốc. Cả ba người đều là nạn nhân của lấy chồng Trung Quốc, bị đày đọa nhiều năm cho đến khi thân tàn thì đuổi khỏi nhà… Có nhiều trường hợp bị đẩy vào động mại dâm, bị khai thác như súc vật cho đến khi bệnh tật, bị chết hoặc điên dại.”
Ðó là chưa kể đến những cô gái Việt bán phấn buôn hương trong những địa điểm ăn chơi cho đến những ổ chứa gái rẻ tiền trên đất Thái Lan, Philippines, Cambodia, Malaysia…
Nếu như các cô gái nông thôn ở phía Nam hoặc các tỉnh sát biên giới phía Bắc thường lấy chồng Ðài, Hàn, Trung qua con đường môi giới thì các cô gái ở các thành phố lớn, có ăn học, có nhan sắc, nhất là có chút tiếng tăm nếu hoạt động trong giới showbiz Việt như người mẫu, ca sĩ, diễn viên… lại có xu hướng lấy chồng ngoại quốc hoặc Việt kiều từ Mỹ và các nước phương Tây.
Nói vậy không có nghĩa là mọi cuộc hôn nhân có yếu tố “ngoại” đều tính toán, vẫn có những cuộc hôn nhân xuất phát từ tình yêu, do cả hai đều có cơ hội và thời gian chọn lựa hơn. Nhưng với một tỷ lệ không nhỏ và ngày càng tăng những cuộc hôn nhân như vậy trong giới showbiz vẫn khiến người ta tự hỏi phải chăng cái quốc tịch của các đức ông chồng (và cả các cô vợ) là một ưu điểm lớn?
Những người gia đình trung lưu, khá giả thì đầu tư cho con cái đi du học tự túc rồi tìm cách ở lại. Trước kia cha mẹ thường cho con đi học sau khi tốt nghiệp phổ thông, nhưng càng ngày người ta càng cho con đi sớm hơn, từ khi mới lớp 9, 10, 11. Riêng ở Hoa Kỳ, hiện tại “Việt Nam đứng thứ 8 về số du học sinh ở Mỹ” với hơn 16,000 sinh viên tại các trường đại học và cao đẳng trên toàn nước này” (Việt Nam Express).
Nhưng không phải cuộc đầu tư cho con đi học nào cũng thành công, nếu không có sự chuẩn bị tốt về ngoại ngữ, kiến thức, một nền tảng giáo dục tốt từ gia đình và một mục đích rõ ràng. Những cô cậu học sinh, sinh viên hoặc theo không nổi, học là phụ chơi là chính, sau này về nước chỗ làm đã có cha mẹ “dọn” sẵn, điều này dễ thấy với dạng con ông cháu cha. Hoặc dễ chệch hướng, sa ngã.
Ðám quan chức và những kẻ thủ lợi nhiều nhờ chế độ này, miệng thì chửi bới Mỹ và các nước “tư bản giãy chết” nhưng hỏi ra đều đã tính đường “hạ cánh an toàn” cả. Phần lớn đều có con cái, nhà cửa, cơ sở kinh doanh ở Mỹ hay một nước phương Tây, có trương mục trong các ngân hàng uy tín nhất thế giới. Ðám này sướng từ trong nước đến khi ra nước ngoài vẫn tiếp tục nhàn nhã nhờ vào những đồng tiền mà chúng tham nhũng, ăn cướp từ nhân dân.
Và vẫn chưa hết, cảnh vượt biên bằng đường biển, đường bộ… Úc là một trong những điểm đến được nhắm tới trong những năm gần đây của thuyền nhân Việt và các nước khác. Nhưng với chính sách mới cứng rắn của chính phủ Úc, người Việt vượt biển sẽ không bao giờ được định cư ở Úc mà nếu được xét là người tỵ nạn thực sự, họ cũng chỉ được định cư tại đảo Papua New Guinea mà thôi.
Ðất nước như một con tàu lớn đang chìm dần trong khi những người cầm lái thì vẫn tiếp tục mù quáng, chưa tỉnh thức, buộc lòng nhân dân, mạnh ai nấy phải tìm cách nhảy ra khỏi con tàu đắm vậy.
Như câu hát của nhạc sĩ họ Trịnh: “Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi…” (bài “Một cõi đi về”). Có lẽ chỉ đến khi chế độ này sụp đổ và thay đổi theo hướng tự do dân chủ, mới hết cảnh người Việt bỏ nước ra đi, hết những bi kịch đầy máu và nước mắt đằng sau những cuộc trốn chạy khỏi thiên đường XHCN Việt Nam

từ Lâm Kim Trọng

Đổi mới là mệnh lệnh cuộc sống

Đổi mới là mệnh lệnh cuộc sống

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2014-01-31

RFA

000_Hkg9412950-305.jpg

Bán hoa đào Tết ở Hà Nội hôm 27/1/2014

AFP photo

Trong dịp năm mới Giáp Ngọ 2014, TS Lê Đăng Doanh chuyên gia kinh tế độc lập ở Hà Nội qua Đài Á Châu Tự Do đã gởi lời chúc đến người dân và cộng đồng doanh nghiệp tại Việt Nam.

“Tôi xin chúc và cầu mong người dân Việt Nam và các doanh nghiệp sẽ có thể thực hiện các quyền tự do kinh doanh, các quyền tự do dân chủ của mình như trong Hiến pháp để thúc đẩy nền kinh tế, thúc đẩy đất nước phát triển lên. Trong giai đoạn sắp tới đây nền kinh tế Việt Nam sẽ phải hội nhập đứng trước những cơ hội và những thách thức hết sức to lớn và cũng gay gắt.”

Nhiều “bệnh” nặng

Ngày 29/1/2014, trên báo Saigon Tiếp Thị Online, TS Lê Đăng Doanh, có bài viết “Đâu là thách thức lớn nhất trên đường phát triển?” Chuyên gia kinh tế này từng là thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn Khải, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương và sau này là thành viên Viện Nghiên cứu phát triển IDS đã tự giải thể, khi chính phủ dùng biện pháp hành chánh để cản trở tính cách độc lập của tổ chức này.

Theo TS Lê Đăng Doanh, câu hỏi nhiều người đặt ra trong những giờ phút suy tư trầm lắng của mùa xuân là “Phải làm gì để đưa đất nước thoát khỏi cuộc khủng hoảng và trì trệ kéo dài này.”

TS Lê Đăng Doanh nhận định sau hơn 20 năm đổi mới với một số thành công đầy hứng khởi, ngày nay nhìn thẳng vào đời sống kinh tế-xã hội, ai cũng thấy lo âu cho tương lai đất nước. Theo lời ông, hiện nay thể chế đã trở thành nút thắt cổ chai quan trọng nhất phải vượt qua nếu nền kinh tế muốn tiếp tục tiến lên. Không cải cách thể chế, Việt Nam không chỉ bế tắc trong “bẫy thu nhập trung bình” mà còn phải đối mặt với những xung đột xã hội ngày càng tăng.

Vẫn theo TS Lê Đăng Doanh nền kinh tế đang phải đối mặt với nhiều bệnh nặng: nợ xấu ngân hàng, khủng hoảng bất động sản, doanh nghiệp nhà nước nợ lên đến 1,3 triệu tỷ đồng, nợ công tăng quá nhanh, số lớn doanh nghiệp tư nhân phá sản, đóng cửa, số còn lại chỉ kinh doanh cầm chừng hay đình đốn.

Trong bài viết TS Lê Đăng Doanh còn đề cập tới lũ lụt tàn phá miền Trung, nhân dân chịu thiệt hại lớn không chỉ là thiên tai mà có phần quan trọng là “nhân tai”: phá rừng, làm thủy điện thiếu tính toán đến môi sinh và an toàn của người dân vùng hạ lưu.

TS Lê Đăng Doanh nhấn mạnh trong bài viết của ông trên SGTT Online:  Tại Việt Nam tệ nạn tham nhũng, tiêu cực lớn nhỏ đều khắp, lãng phí chia chác rất phổ biến. Bộ máy hành chính cồng kềnh, tốn kém mà không hiệu quả, việc bổ nhiệm nhân sự hoàn toàn không minh bạch, không qua sự giám sát, xét duyệt của cơ quan dân cử, có quá nhiều cán bộ kém năng lực. Lợi ích nhóm chi phối không ít quyết định và chính sách, cơ chế “xin-cho” lại thịnh hành và thay thế quyền tự do kinh doanh, cạnh tranh theo pháp luật.

Tôi nghĩ rằng, công cuộc cải cách doanh nghiệp nhà nước cũng đòi hỏi những những quyết định, những biện pháp mạnh mẽ hơn để đưa những biện pháp đó vào thực tế.
– TS Lê Đăng Doanh

Đối với câu hỏi “Phải làm gì để đưa đất nước thoát khỏi cuộc khủng hoảng và trì trệ kéo dài”, TS Lê Đăng Doanh đưa ra câu trả lời là cần cải cách thực chất về thể chế. Trong đó thực hiện công khai minh bạch theo các chuẩn mực quốc tế về chi tiêu ngân sách, cũng như trong các hoạt động khác của chính quyền. Vị chuyên gia nhấn mạnh rằng, phải luật hóa vai trò giám sát của báo chí, tổ chức quần chúng đối với bộ máy nhà nước, luật hóa quyền tiếp cận thông tin của người dân. Pháp luật phải bảo vệ người tố cáo tham nhũng, tiêu cực, thực hiện được điều gọi là  làm cho công chức “không dám tham nhũng, không thể tham nhũng và không cần tham nhũng.”

TS Lê Đăng Doanh cũng kêu gọi xóa bỏ những “vùng cấm”, đặc quyền đặc lợi, hạn chế sự lộng hành của các nhóm lợi ích bất chính. Ông cho là, những cải cách đó không có gì mới, nhiều nước đã áp dụng và họ đã xây dựng được nền kinh tế phồn vinh, xã hội công bằng, thịnh vượng, văn minh.

Phần kết trong bài viết trên SGTT Online, TS Lê Đăng Doanh hàm ý một tối hậu thư cho Đảng và Nhà nước: “Đổi mới vì đó là mệnh lệnh cuộc sống, sự thôi thúc của người dân trong mùa xuân trên đất nước Việt Nam này.”

TS Lê Đăng Doanh được ghi nhận như một nhân vật tích cực ủng hộ quan điểm đổi mới thể chế kinh tế-chính trị trong thông điệp đầu năm  2014 của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Đáp câu hỏi của Nam Nguyên là đã một tháng trôi qua, chuyên gia có nhận thấy một tín hiệu nào về việc chính quyền thực hiện những lời hứa hẹn của Thủ tướng. TS Lê Đăng Doanh đáp lời:

“Thủ tướng có triệu tập một số nhà kinh tế trong nhóm tư vấn kinh tế tài chính của Thủ tướng và cũng đã yêu cầu xây dựng một kế hoạch thực hiện cái thông điệp đó. Trong cuộc họp của chính phủ vừa qua, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam có trình bày một dự thảo kế hoạch về nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam, của các doanh nghiệp Việt Nam. Cho đến nay các nỗ lực ấy chủ yếu mới chỉ dừng lại ở các dự thảo và chương trình hành động. Còn về các công việc thực tiễn thì chính phủ tập trung vào việc lo Tết cho dân và cung cấp gạo cho những người nghèo, cũng như bảo đảm cho người công nhân ở Hà Nội và TP. HCM được về quê ăn Tết. Tôi nghĩ rằng đấy là các nỗ lực ban đầu của chính phủ và nhằm tập trung vào cái Tết Giáp Ngọ này.”

Dân mất niềm tin

000_Hkg9412954-250.jpg

Một phụ nữ bán trái cây rong ở Hà Nội đang đếm tiền hôm 27/1/2014. AFP photo

Câu chuyện đổi mới thể chế cả kinh tế lẫn chính trị không phải là chủ trương mới nhưng trước kia nói nhiều hơn làm, bây giờ được tái vận động mạnh mẽ, người dân hoài nghi vì đã mất niềm tin. Vậy những việc cần làm ngay của nhà nước sẽ là gì. Nam Nguyên nêu câu hỏi này và được TS Lê Đăng Doanh trả lời:

“Hiện nay về mặt Đảng, ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có nỗ lực thúc đẩy chống tham nhũng bằng các biện pháp như yêu cầu phải kê khai tài sản và có chỉ thị yêu cầu phải công khai việc kê khai tài sản đó ở mức độ cao hơn so với trước đây. Ông Tổng Bí thư cũng sử dụng Ban Nội chính để thúc đẩy quá trình điều tra chống tham nhũng và đưa ra một số vụ án như Vinalines với Dương Chí Dũng và em là Dương Tự Trọng.

Còn về phía Chính phủ thì trong chương trình hành động cũng có đề ra một số biện pháp, nhưng trong cuộc thảo luận về thực hiện thông điệp 2014 thì một số nhà trí thức mong muốn có những biện pháp ngay trước mắt mạnh mẽ hơn và cụ thể hơn. Thí dụ như xem xét trả tự do một số người bị giam giữ mà thực sự không có hành động gì chống đối ngoài việc phát biểu ý kiến một cách thẳng thắn. Bên cạnh đó bãi bỏ một số quyết định ban hành trước đây mà ngày nay thấy không thích hợp. Thí dụ như Quyết định 97 dẫn đến việc Viện Nghiên cứu Phát triển IDS đã phải tự giải thể…v..v.. Những ý kiến đó cho tới nay chưa thấy được thực hiện.”

Bước vào Năm mới Giáp Ngọ, người dân Việt Nam có thể hy vọng gì khi cách đây không lâu các chuyên gia đã liệt kê những khăn rất lớn đang tồn tại của nền kinh tế. TS Lê Đăng Doanh nhận định:

“Tình hình của Tết Giáp Ngọ này phản ánh rất rõ sức mua giảm, rồi hoa đào cành đào quất ở Hà Nội ế và ê hề ra cả. Tôi thấy có những người bán phải vứt cành đào đi vì họ thấy sức mua giảm, giá giảm đến mức nếu họ ở lại Hà Nội thêm nữa thì cũng không có đủ tiền để tiếp tục kinh doanh. Đấy là thể hiện rất rõ sức mua giảm sút của người dân.

Tôi nghĩ trong thời gian sắp tới cần phải có những biện pháp mạnh mẽ về việc thực hiện công khai minh bạch về việc kê khai tài sản, về việc sử dụng một cách có hiệu quả và công khai ngân sách nhà nước; hạn chế tối đa việc lạm dụng ngân sách nhà nước vào việc tư thí dụ dùng xe công đi ăn cưới hay đi lễ hội…mới đây báo chí có nêu lên cảnh dùng xe công đi lên tận Sơn La để chở đào rừng về Hà Nội. Tất cả những biểu hiện đó cần phải được sớm chấm dứt và đưa ra xử lý.

Tôi nghĩ rằng, công cuộc cải cách doanh nghiệp nhà nước cũng đòi hỏi những những quyết định, những biện pháp mạnh mẽ hơn để đưa những biện pháp đó vào thực tế. Nếu thực hiện được các biện pháp đó thì tôi hy vọng nền kinh tế Việt Nam có thể vươt qua những khó khăn. Nếu không thực hiện được những biện pháp cải cách mạnh mẽ thì tình hình ngân hàng, tình hình nợ xấu, sự trì trệ trong bất động sản cũng như tình hình sử dụng ngân sách nhà nước một cách lãng phí trong đầu tư công có thể sẽ lại tiếp tục làm cho nền kinh tế Việt Nam trì trệ. Đây là điều rất cần tránh.”

Trong thời gian sắp tới cần phải có những biện pháp mạnh mẽ về việc thực hiện công khai minh bạch về việc sử dụng một cách có hiệu quả và công khai ngân sách nhà nước
– TS Lê Đăng Doanh

Nếu TS Lê Đăng Doanh cho là “Đổi mới là mệnh lệnh cuộc sống, sự thôi thúc của người dân trong mùa xuân trên đất nước Việt Nam”, vậy thời gian cần thiết để nhà nước Việt Nam thực hiện tối hậu thư của nhân dân sẽ như thế nào. TS Phạm Chí Dũng, một nhà nghiên cứu chính sách ở TP.HCM, người vừa từ bỏ đảng Cộng sản nói với chúng tôi là sẽ có một độ trễ nhất định. Ông nói:

“Nếu vấn đề cải cách kinh tế hay là xóa độc quyền có thể thực hiện ngay trong năm 2014 với một độ trễ khoảng từ 8 tháng tới một năm, thì nhân quyền phải cần ít nhất 2 năm để người ta quen dần với khái niệm mới và quen dần với cách ứng xử mới, cách ứng xử có văn hóa hơn. Chứ không phải giống như là cách ứng xử  tôi gọi là một nền văn hóa đấm đá nhân quyền mà ngay cả những ngày đầu năm mới 2014 vẫn xảy ra.”

Sau khi thống nhất đất nước vào năm 1976,  Nhà nước Việt Nam cai trị đất nước theo chính sách lỗi thời của Đảng Cộng sản dẫn tới bế tắc toàn diện, lạm phát cao nhất lên tới mức 800% trong những năm 1980. “Đổi mới hay là chết” trở thành khẩu hiệu để tới đầu những năm 1990 Việt Năm bước vào một mùa xuân đổi mới.

Ngày nay đất nước đang lâm vào khủng hoảng và trì trệ kéo dài, nhu cầu cải cách kinh tế chính trị một lần nữa được đặt ra, điều mà TS Lê Đăng Doanh gọi là : “Đổi mới – đó là mệnh lệnh của cuộc sống, là sự thôi thúc của người dân trong mùa xuân trên đất nước Việt Nam này.”

 

Câu chuyện đầu xuân: Văn hóa Việt trong vận khí suy vong

Câu chuyện đầu xuân: Văn hóa Việt trong vận khí suy vong

Thụy My

RFI

Đầu năm, khi đất trời vào xuân, cũng là dịp để suy ngẫm lại những vấn đề về văn hóa. RFI đã phỏng vấn tiến sĩ Phạm Chí Dũng, cũng là một nhà văn đồng thời còn là người có nhiều bài viết phê bình về văn học nghệ thuật.

 

Tiến sĩ Phạm Chí Dũng

 

01/02/2014

 

Nghe (11:37)

 

 

 

RFI : Thân chào tiến sĩ Phạm Chí Dũng, rất vui được tiếp chuyện anh nhân dịp xuân về. Trước hết anh có thể cho biết cảm xúc của anh trong bầu không khí đầu năm mới ?

Rất khó tả, nhưng rõ rệt nhất là thiếu hẳn hương sắc mùa xuân. Làm sao có thể vui nổi khi đây là cái Tết thứ ba liên tiếp tôi chứng kiến cảnh tượng hàng vài chục ngàn công nhân ở các khu công nghiệp, khu chế xuất không có đủ tiền mua vé tàu xe về quê ăn Tết. Với họ, đang xảy ra một nét văn hóa rất mới, có thể gọi là “văn hóa tết cấm trại”. Tức phỏng theo một điều lệnh trong quân đội, công nhân ở nguyên trong khu nhà trọ mà không dám bước ra đường vì chẳng có tiền. Mà như vậy thì còn gì là tết?

Không khí đường phố cũng uể oải và bải hoải. Chỉ sát Tết người dân mới có chút tiền để mua sắm, nhưng ở nhiều tụ điểm mai và đào vẫn ế chỏng chơ. Khách hàng đã và đang quay lưng với thị trường như một dạng văn hóa phủ nhận trong kinh doanh.

Đã đến lúc người dân không thể mặc định sắc màu của nền văn hóa dân tộc như những báo cáo tô hồng của chính phủ về nền kinh tế hay những nghị quyết của đảng về đường lối kiên định đi lên chủ nghĩa xã hội đến hết thế kỷ 21. Hiện tại được dẫn dắt bởi quá khứ, và tương lai lại được quyết định bởi những gì trong hiện tại.

Quá khứ đó, chúng ta thấy cái gì? Năm 2013 chứng kiến những trận hôi của vĩ đại chưa từng thấy ở một số địa phương, cuộc tranh cướp bánh sushi trong một nhà hàng ngay tại thủ đô, cho dù không thể cho rằng tất cả những người tranh giành đều đói khát và đất nước cũng chưa đến thời đói kém…

Những hiện tượng xã hội đó đang góp phần triệt tiêu nhanh chóng khẩu hiệu của đảng “xây dựng nền văn hóa tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc”. Tương tự, điều lạ lùng là trong mấy năm gần đây, chẳng mấy cơ quan tuyên giáo và dân vận còn nhắc tới khẩu hiệu này. Vì sao vậy? Đơn giản là thực tiễn đã trở nên tồi tệ đến mức giới chức đảng lẫn chính quyền không thể cứ mãi tự ru ngủ mình và mị dân xã hội bằng những lý lẽ một chiều đã bị thực tế bào mòn đến tận chân gốc. Dù luôn bị ăn sâu tâm lý thành tích, ít nhất họ cũng phải tự rung động một nỗi xấu hổ tối thiểu nào đó chứ!

RFI : Những giá trị truyền thống của ông cha như « Giấy rách phải giữ lấy lề », « Một câu nhịn chín câu lành »…dường như đã bị thay bằng sự vô cảm, tâm lý mạnh được yếu thua. Ngày nào đọc báo cũng đều thấy những tin được gọi là « cướp, hiếp, giết », người ta sẵn sàng chà đạp lên nhau, thậm chí mạng người có thể bị mất đi vì những lý do rất nhỏ nhặt. Thưa anh, phải chăng đạo đức xã hội đang rơi xuống tận đáy ?

Khi xảy ra cái chết ở thẩm mỹ viện Cát Tường tại Hà Nội vào năm 2013, một quan chức cao cấp ngành y tế đã phải thốt lên rằng đạo đức và y đức đã xuống đến đáy. Nhưng tôi cho là tất cả vẫn chưa phải tồi tệ nhất. Cái tồi nhất nằm ở phía trước, ở thì tương lai đầy sương mù và dưới vực thẳm, mà chế độ này và phần lớn dân chúng vẫn chưa hình dung hết.

Phía trước ấy là một cuộc tha hóa vĩ đại của toàn bộ nền văn hóa. Tuân theo quy luật vật chất quyết định ý thức, kinh tế quyết định văn hóa và bất kỳ khi nào nền kinh tế lao vào hố sâu khủng hoảng, đời sống sẽ trở nên thiếu thốn và đói kém đến mức một bộ phận dân chúng sẵn sàng giết nhau để sinh nhai.

Lịch sử đã chứng minh hết sức cận kề ở một quốc gia đông dân nhất thế giới, chính là Trung Quốc trong thời Cách mạng văn hóa những năm 60 của thế kỷ trước. Khi đó có đến 30 triệu người bị chết không chỉ bởi vô số cuộc thanh trừng, mà còn bởi đất nước này đã rơi vào thảm trạng đói kém đến mức tại một số nơi người dân đã phải ăn nhau để cầm hơi. Đó chính là điều tồi tệ phi nhân tính nhất, mà một nền văn hóa suy đồi đến tận cùng có thể mang lại.

Năm 2013 đã trở nên một đặc tả khá kinh khủng, trên bức tranh khốn quẫn của nền văn hóa đang lao dốc và còn chưa tìm thấy đáy ở Việt Nam. Cùng với cái gọi là nền văn hóa tham nhũng chưa từng thấy ở đất nước này, khắp nơi trong xã hội đã diễn ra cảnh cha con giết nhau, vợ chồng giết nhau, thầy đánh trò và trò giết thầy, nạn cướp của và hiếp dâm nổi lên khắp nơi. Cường hào ác bá cũng hoàn hành tàn lộng và bất chấp đạo lý. Nhưng nghịch lý ghê gớm là kinh tế càng suy thoái, người giàu lại càng giàu. Không biết bao nhiêu quan chức đã ních đầy túi và chỉ còn chờ chực cơ hội biến khỏi tổ quốc nếu xảy ra động loạn…

Rồi một điều tất yếu phải xảy ra là khi luật pháp không còn là mái nhà che chở cho người dân, chính nhân dân đã phải làm thay luật pháp. Nạn tự xử đối với những kẻ trộm chó mèo diễn ra ở Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, … Ở Bắc Giang, khi vài người dân bị công an khởi tố bắt giam vì đánh chết cẩu tặc, đã có đến 800 người dân khác đồng ký tên vào một bản tuyên bố cùng nhận tội. Đó là cái gì? Một loại văn hóa phản kháng của người dân đang phát tiết ngay trong lòng chế độ “của dân, do dân và vì dân”.

Tố chất văn hóa phản kháng đó đã dẫn đến làn sóng chống người thi hành công vụ lan rộng một cách đầy tự phát và bạo lực ở nhiều nơi. Không hiếm cảnh thanh niên đi đường và những người dân “săn sóc” một cách đặc biệt đến hành vi của cảnh sát giao thông, bởi lực lượng cảnh sát bị xem là đối tượng tham nhũng nhất quốc gia này càng ngày càng mang ý nghĩa như một mồi lửa châm ngòi cho các cuộc xung đột tự phát và rất khó kềm chế.

RFI : Thưa anh đầu năm thường nói chuyện vui, nhưng bức tranh thực tế xã hội lại quá xám. Những cách hành xử của con người thường từ nền giáo dục mà người đó được hấp thụ. Vậy thì theo anh trách nhiệm của ngành giáo dục đối với nền văn hóa như thế nào ?

Đóng góp không nhỏ vào sự xuống cấp của nền văn hóa là thực trạng lầy lội và ô nhiễm nặng mùi của ngành giáo dục vẫn chưa hề được cải tạo. Tiên đề “Tiên học lễ, hậu học văn” từ ngàn đời nay đã từ lâu bị phần lớn trường học biến thành thảm trạng mà chúng ta nên nhận thức lại là “Tiên học phí, hậu học thêm”. Có lẽ mệnh đề này mới nói lên tất cả cái thực trạng quay quắt đến mức khốn cùng của môi trường giáo dục đào tạo và giới quan chức điều hành ngày nay.

Không khác gì thị trường bất động sản, vài năm gần đây người ta đã phải dùng đến cụm từ “bong bóng đại học” cho sự bùng nổ bội cung của hàng trăm trường đại học tư thục và dân lập từ Bắc chí Nam. Nhưng ngược lại với đà tăng tiến theo cấp số nhân về số lượng các trường đại học, cao đẳng và chương trình “đào tạo 20.000 tiến sĩ’ của nguyên Bộ trưởng Giáo dục Nguyễn Thiện Nhân và đời Bộ trưởng kế vị, chất lượng đào tạo còn lâu mới làm nên một nền văn hóa xứng tầm với Thái Lan. Ít nhất là về tỉ lệ công trình nghiên cứu được công bố trên đầu các tiến sĩ, cùng bài luận văn tả cảnh các cô giáo bỏ nghề và học sinh vùng cao phải bắt chuột ăn thay cơm.

Tình trạng xuống cấp toàn diện của giáo dục và văn hóa cũng khiến cho hiện tượng không có tác phẩm hay trong văn học nghệ thuật trong suốt nhiều năm qua trở nên rất dễ lý giải trong đời sống văn nghệ Việt Nam. Bất chấp các cuộc thi và trao giải thưởng đều đặn hàng năm của các hội đoàn văn học và nghệ thuật nhà nước, vẫn không có lấy vài ba tác phẩm trong lĩnh vực văn học, sân khấu, mỹ thuật, điện ảnh, âm nhạc… ghi dấu ấn cho một tinh thần hồi tâm thành khẩn.

Hầu như tất cả đều nhàn nhạt, nhòa nhạt và luôn đi sau hiện tồn nhức nhối của xã hội ít ra vài thập kỷ. Nhiều nhà văn và nhà viết kịch đủ lòng tự trọng không còn cầm nổi bút, bởi tâm trạng chán chường và thất vọng quá giới hạn cho phép. Chỉ còn một số người viết vì cơm áo gạo tiền, hoặc làm cái gọi là “sáng tạo” vì các đơn đặt hàng và giải thưởng từ Nhà nước. Không thể nói khác hơn, văn học nghệ thuật quốc doanh từ lâu nay đã mang trên mình thiên chức văn hóa cộng sinh.

RFI : Khái niệm « văn hóa cộng sinh » mà anh vừa đề cập, có lẽ không thể loại trừ giới quan chức, vì những lề thói đã ăn sâu vào họ ?

Văn hóa gia đình, văn hóa trường học và văn hóa cộng đồng là ba rường cột của một nền văn hóa. Nhưng một khi cả ba trụ cột ấy đều bị xâm hại một cách trầm kha, thì không còn gì có thể cứu vãn nổi một nền văn hóa chính trị. Nhất là khi nền văn hóa chính trị ấy lại bị ruỗng mục bởi thói vô cảm, vô trách nhiệm và quá đậm đặc tố chất lợi ích nhóm của giới quan chức.

Vì thế, chúng ta có thể coi văn hóa quan chức là thành tố thứ tư gây xâm hại đối với nền văn hóa Việt Nam đương đại, nhưng đặc biệt hơn cả lại là nhân tố cộng sinh ưu tú nhất. Giới quan chức đổ cho 70% doanh nghiệp chủ động đưa hối lộ, nhưng làm sao có thể lý giải sự mâu thuẫn không thể chấp nhận được, giữa tỉ lệ “chỉ có 1% công chức yếu kém” như báo cáo của chính quyền, với con số ít nhất 30% công chức “chủ động nhận hối lộ” trong những kết quả khảo sát về tham nhũng?

Một cuộc khủng hoảng văn hóa đang tăng tiến với gia tốc ngày càng gấp rút. Cuộc khủng hoảng ấy lại biến diễn sang cuộc khủng hoảng niềm tin của người dân đối với xã hội, của công dân đối với đất nước và cuối cùng là của người dân đối với chế độ. Những cuộc điều tra xã hội học đã cho thấy niềm tin của giới trẻ vào đảng và chế độ sa sút khủng khiếp, và trong giới trẻ giờ đây không còn cái gọi là lý tưởng nữa. Nếu có được một cuộc khảo sát độc lập, người ta tin chắc rằng chỉ còn không đầy 10% trong số lớp trẻ tin vào việc “nền văn hóa xã hội chủ nghĩa” có thể tôn tạo cho nền văn hóa dân tộc.

Ngược lại, một chủ nghĩa văn hóa phủ nhận đang hình thành và phát triển rất ghê gớm trong một số khá đông lớp trẻ ở Việt Nam.

RFI : Về « chủ nghĩa văn hóa phủ nhận » như anh nói, theo anh lớp trẻ đang phủ nhận những giá trị gì ?

Phủ nhận những giá trị tinh thần, phủ nhận những giá trị truyền thống, và phủ nhận với chính những thế hệ đi trước. Hiện tượng đó làm chúng ta nhớ lại thế hệ mất mát, nảy sinh ở châu Âu trong vài thập kỷ sau cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai. Cũng là suy thoái kinh tế trầm kha, cũng là cái nhìn về một tương lai mơ hồ, cũng là tâm trạng đầy bất an và dễ nổi loạn.

Nhưng ở Việt Nam, điều nguy hiểm hơn nhiều là cái tương lai như thế còn trở nên vô định bởi một nền chính trị hủ hóa, cố chấp và luôn có nguy cơ gây nên hiệu ứng hạ cánh cứng. Từ đó sẽ sinh đẻ vô số hậu quả trầm luân cho đời sống người dân, đặc biệt là dân nghèo.

Hơn bao giờ hết, đặc thù văn hóa Việt Nam được quyết định bởi nội lực nền kinh tế và kế sinh tồn của mỗi công dân. Trong giai đoạn “cất cánh” từ thời mở cửa kinh tế những năm 1990, chủ nghĩa kiếm tiền và đầu cơ thượng hạng đã phủ trùm lên cả xã hội, để sau đó vào thời kỳ suy thoái từ năm 2008 đến nay, điều được coi là “văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc” cũng bị suy mòn theo lý lịch không mấy trong sáng của đồng tiền.

Phía trước, màu đen khó che giấu của của nền kinh tế đang chờ đón một khoảng trống chân không văn hóa, nơi mà hố sâu bất bình đẳng xã hội sẽ sâu thẳm hơn bao giờ hết. Tâm lý chà đạp lẫn nhau sẽ thổi bùng lên ngọn lửa tranh đấu cực kỳ tàn khốc giữa các giai tầng và trong chính từng giai cấp, để cuối cùng bản thân nền văn hóa bị giẫm đạp đến kiệt sức.

Không thể lạc quan về nền văn hóa Việt trong năm 2014 và cả những năm sau đó, tôi cho rằng sự biến mất của một nền chính trị đương thời còn dễ được chấp nhận hơn rất nhiều, so với những mất mát của một nền văn hóa dân tộc mà người dân nước Việt có thể phải mất đến nửa thế kỷ để phục hồi nó.

Rất nhiều người như tôi vẫn ngày đêm dồn dập thổn thức trong lòng một câu hỏi đích đáng: Ai và những tác nhân nào đã khiến cho nền văn hóa dân tộc suy đồi và suy vong ghê gớm đến thế? Kẻ nào phải chịu trách nhiệm lịch sử về hậu quả lịch sử quá đau đớn ấy?

RFI : Xin chân thành cảm ơn tiến sĩ Phạm Chí Dũng đã dành thì giờ để tâm tình với thính giả RFI Việt ngữ trong những ngày đầu năm về những suy tư liên quan đến nền văn hóa Việt.

 

Nữ sinh Việt và con đường tới Đại học Harvard

Nữ sinh Việt và con đường tới Đại học Harvard

Tường Vân trong ngày tốt nghiệp trung học.

Tường Vân trong ngày tốt nghiệp trung học.

VOA Tiếng Việt

29.01.2014

Lê Tường Vân đã từ chối 6 trường đại học hàng đầu của Mỹ để tới theo học tại ngôi trường lâu đời nhất Hoa Kỳ.

Vân cho biết, ngoài Harvard, cô còn nộp đơn vào 6 trường hàng đầu khác của Mỹ như Princeton, Yale hay Stanford, và cô được nhận vào học tất cả các trường này với học bổng toàn phần.

Sau đó, cô cân nhắc giữa Princeton và Harvard, và sau khi tới thăm hai nơi này, cô quyết định chọn đại học từng đạo tạo 8 tổng thống Mỹ.

Lý giải về lựa chọn của mình, cô gái tuổi đôi mươi nói rằng cô chọn Harvard vì môi trường học vấn, và đặc biệt, Boston, nơi đại học này tọa lạc, là thành phố khá thân thiện với sinh viên cũng như có nhiều cơ hội thực tập và làm việc.

” Nhưng có một bài học tôi rút ra được khi học ở Harvard, đó là không so sánh mình với người khác, và luôn nghĩ về điều mình có thể đạt được, về con đường riêng của mình, những mục tiêu riêng của mình để hướng tới nhưng đồng thời cũng phải hiểu rõ bản thân mình, những hạn chế của mình để khắc phục. Ta không nên so sánh vì luôn luôn có những người tài giỏi hơn mình.

Lê Ngọc Tường Vân nói.”

Vân kể với VOA Việt Ngữ về một bài học sau khi kết thúc kỳ đầu tiên tại Harvard: “Không chỉ riêng tôi, mà mọi người ở Harvard đều luôn hết sức bận rộn. Trong năm đầu tiên, đôi khi tôi cũng cảm thấy căng thẳng lắm vì xung quanh mình toàn những bạn có thành tích học tập đáng nể. Tôi cũng cảm thấy bị áp lực phải cố gắng nhiều hơn nữa. Mọi người ở đây ai cũng vậy”.

Cô nói tiếp: “Nhưng có một bài học tôi rút ra được khi học ở Harvard, đó là không so sánh mình với người khác, và luôn nghĩ về điều mình có thể đạt được, về con đường riêng của mình, những mục tiêu riêng của mình để hướng tới nhưng đồng thời cũng phải hiểu rõ bản thân mình, những hạn chế của mình để khắc phục. Ta không nên so sánh vì luôn luôn có những người tài giỏi hơn mình”.

Cô gái nhỏ bé tới Mỹ du học cùng với anh trai sau khi học xong lớp 6 tại TP Huế.

Vượt qua những khó khăn ban đầu về ngôn ngữ, suốt những năm học cấp hai và cấp ba, Vân đã giành được nhiều giải thưởng, trong đó có bằng khen của Tổng thống Hoa Kỳ về thành tích học tập xuất sắc.

Ngoài việc học, Tường Vân cũng tham gia một loạt các hoạt động xã hội, thiện nguyện. Vừa qua, cô đã tới Trung Quốc để giúp đỡ trẻ em tại một trại trẻ mồ côi trong hai tuần nhân dịp nghỉ đông ở Harvard.

Khi được hỏi nếu có cơ hội đưa ra lời khuyên với những học sinh Việt Nam muốn nộp đơn vào các trường đại học nổi tiếng nước Mỹ như Harvard, Vân nói: “Hãy tận dụng mọi cơ hội mà bạn có. Học vấn là điều quan trọng nhất nhưng các hoạt động ngoại khóa cũng là cơ hội học tập rất tốt mà ta cần phải nắm bắt. Khi tôi học trung học, tôi học được nhiều từ các hoạt động động ngoại khóa hơn là các giờ học trên lớp. Các kỹ năng thực tế, kỹ năng lãnh đạo là những thứ rất quan trọng cho công việc trong tương lai”.

” Tôi nghĩ nhiều học sinh Việt Nam học rất giỏi, tôi không bao giờ nghi ngờ về điều đó. Điều bất lợi đối với học sinh Việt Nam là họ không tích cực tham gia vào các hoạt động ngoại khóa và các hoạt động vì cộng đồng. Tôi nghĩ đó là những yếu tố rất quan trọng khi các trường đại học xét hồ sơ xin học của các ứng viên.

Lê Ngọc Tường Vân nói thêm.”

Cô nói thêm: “Tôi nghĩ nhiều học sinh Việt Nam học rất giỏi, tôi không bao giờ nghi ngờ về điều đó. Điều bất lợi đối với học sinh Việt Nam là họ không tích cực tham gia vào các hoạt động ngoại khóa và các hoạt động vì cộng đồng. Tôi nghĩ đó là những yếu tố rất quan trọng khi các trường đại học xét hồ sơ xin học của các ứng viên”.

Ngoài việc học ở lớp, khi còn học cấp hai và cấp ba, Vân còn tham gia các cuộc thi khác nhau về toán cũng như viết luận, và đã giành nhiều giải thưởng.

Hiện cha mẹ của cô vẫn ở Việt Nam, và khi được hỏi về khả năng trở về nước làm việc, cô nói: “Tôi không hoàn toàn chắc chắn là tôi sẽ trở về Việt Nam sau khi học xong hay không, nhưng đó hoàn toàn là một khả năng. Tôi dự tính sẽ tới làm việc ở châu Á, có thể là Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc hay Việt Nam. Tôi muốn làm việc cho các tổ chức hay các công ty của Mỹ có chi nhánh tại Việt Nam”.

Truyền thông ở Việt Nam đã đưa tin về thành tích học tập của Tường Vân, và có tờ báo còn coi cô là một trong những người ‘làm rạng danh đất Việt’.

Website của nhiều đoàn thanh niên ở Việt Nam coi cô gái này là một tấm gương cho các đoàn viên khác.

Trang web của đoàn thanh niên tỉnh Quảng Ngãi viết rằng Vân là một trong các ‘trí tuệ Việt đấm chuông xứ người’ và đã ‘khẳng định thương hiệu Việt’.

Đảng vinh quang, tài tình: Thứ tôn giáo xuống cấp

Đảng vinh quang, tài tình: Thứ tôn giáo xuống cấp

Fri, 01/31/2014  nguyenhuuvinh

RFA

Ngày đầu xuân Nhâm Ngọ, trên mọi nẻo đường đất nước, nhan nhản đâu đâu ta cũng gặp câu khẩu hiệu: “Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm”. Đọc   qua, người ta cứ ngỡ rằng Đảng ta” được ca tụng tận mây xanh, vinh quang thật và vĩ đại thật!

Nhưng, thực chất, ngẫm kỹ thì câu khẩu hiệu này là phản động.

Nhất là nhìn vào cuộc sống người dân qua tết này, không khí tết đã cho thấy đó là sự mỉa mai.

Còn nhìn vào thực tế tấm lòng người dân người ta thấy đó là sự hài hước.

Lấp liếm và phản động

Điều lệ Đảng CSVN ghi như sau: “Mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản…” Chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định khi thế giới tiến đến Chủ nghĩa Cộng sản thì lúc đó “của cải tuôn ra dào dạt, mọi người làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu” (Theo Chủ nghĩa Mác – Lênin). Khi đó xã hội hoàn thiện không còn đảng phái, giai cấp, thậm chí nhà nước cũng tiêu vong.

Vậy thì khi đến CNCS – hẳn nhiên không còn giai cấp, đảng phái và nhà nước cũng phải bị triệt tiêu. Vì thế, câu khẩu hiệu “Đảng Cộng sản Việt Nam muôn năm” chính là câu khẩu hiệu phản động nhất, đứng trên quan điểm CN Mác – Lênin.

Vậy mà luôn luôn mọi nơi, mọi lúc, hễ có điều kiện là câu khẩu hiệu nói trên được bưng ra mời chào. Phải chăng, thói nói một đằng làm một nẻo cũng bắt đầu nhiễm từ câu khẩu hiệu này trở đi?

Vinh quang, tài tình!

Chỉ mới mấy chục năm, chưa dài lắm, mà “Đảng ta” đã tự bộc lộ một sự èo uột, một sắc thái xám xịt thiếu sức sống. Đặc biệt với sự tụt dốc thê thảm về đạo đức, bản chất của đảng được bộc lộ ra ngoài hoàn toàn “khách quan, biện chứng” dù đã cố tình che giấu bằng mọi cách, kể cả che giấu bằng nhà tù và… súng.

Điều đó không phải do “thế lực thù địch” hoặc kẻ thù của đảng nói ra, nó được chính các cán bộ lãnh đạo đảng tự thú nhận bằng cách này hay cách khác. Qua từng thời kỳ, qua chính những phát biểu của lãnh đạo đảng và người dân nói về Đảng, điều không thể không nhận thấy rõ ràng bản chất của Đảng ngày càng lộ rõ và vì vậy người dân càng xa lánh, đảng mất thiêng.

Ngay từ Cương lĩnh đầu tiên của Đảng  tháng 10/1930 đã ghi: “Đảng phải chuẩn bị cho quần chúng về “con đường võ trang bạo động” và “phải tuân theo khuôn phép nhà binh” đánh đổ chính phủ địch nhân, giành chính quyền”. Như vậy, đường lối của Đảng ngay từ đầu đã khẳng định con đường bạo lực và “cướp chính quyền”. Và việc đó đã xảy ra năm 1945, Đảng đã cướp được chính quyền về tay mình.

Dường như, khi men chiến thắng đang rừng rực trong mình, Đảng không hề giấu diếm bản chất của mình qua việc sử dụng các ngôn từ để biểu thị bản chất, mục đích của hành động. Trong các sách vở, tài liệu, Đảng ngang nhiên tuyên truyền việc “Cướp chính quyền” về tay mình bằng võ trang bạo động.

Thế rồi khi cầm quyền, Đảng tha hồ tung hô, được tung hô và tự tung hô cũng như buộc tất cả phải tung hô sự vinh quang, về đạo đức, về sự tuyệt vời của Đảng.

Nào là “…phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân loại, nắm vững quy luật khách quan, xu thế thời đại và thực tiễn của đất nước để đề ra Cương lĩnh chính trị, đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân” (Điều lệ Đảng).

Rồi thì “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. (Hồ Chí Minh)

Những cái mà Đảng tự nhận là “sai lầm” thực chất là hàng loạt tội ác, nhưng chỉ cần “nhận lỗi” thế là xong, Đảng lại tiếp tục vĩ đại, tiếp tục là đạo đức, văn minh. Về việc “nhận lỗi”, chúng tôi đã có bài viết “Khi người Cộng sản nhận lỗi” để đề cập đến vấn đề đó.

Biệt tài đổ lỗi của “đảng ta” luôn được phát huy trong mọi hoàn cảnh, điều kiện. Ngay từ xưa, người dân Việt Nam đã có lý khi đúc kết kinh nghiệm tuyên truyền của Đảng như sau: “Mất mùa là bởi thiên tai. Được mùa là bởi thiên tài Đảng ta”. Có lẽ chừng đó đã nói lên bản chất tranh công, đổ lỗi và không dám chịu trách nhiệm của “đảng ta”. Nhưng, điều đó cũng không cứu vãn nổi sự tụt dốc thảm hại về sự tín nhiệm vào đảng.

Như vậy, một đảng được vũ trang bằng lý thuyết vô thần, bạo lực, thực thi bằng dối trá, liệu đó có là sự vinh quang?

Một điều thường xuyên được nhai đi nhai lại là “Công lao của đảng lãnh đạo đất nước đứng lên chống thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ”(?) Thử xem?

Hẳn nhiên, khi đất nước chúng ta đánh đuổi thực dân, không chỉ có một Đảng CS, ở đó còn có các đảng phái khác. Dù nhiều người cho rằng, Đảng Dân Chủ và Đảng Xã Hội là hai con bài do Đảng CS giật dây lãnh đạo. Cũng rất có thể xảy ra trong thực tế. Tuy nhiên, về danh chính ngôn thuận, Đảng CS chưa dám đủ bản lĩnh thừa nhận việc hai cái đảng cá cảnh kia chỉ để làm những gì Đảng CS điều khiển. Ngay cả cái tên Đảng CS, khi đó đảng còn chưa dám danh chính, ngôn thuận.

Còn, cái gọi là “Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước” liệu có đúng là cuộc chiến cứu nước hay không khi mà chính Lê Duẩn nói rằng: “Ta đánh Mỹ là đánh cả cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc”.

Vậy có gì là vinh quang, khi đảng đã tự nguyện trở thành người lính đánh thuê cho các ohe phái cộng sản khác nhau trên thế giới?

Nhận diện sự vinh quang, tài tình

Đi từ miền Bắc về miền Trung Tết này, không ai không thấy được một điều nổi bật: Không khí đón tết, mừng xuân năm nay quả thật trầm lắng và u uất. Hàng loạt các doanh nghiệp báo tử. Nơi nơi, câu cửa miệng của mọi người dân là làm ăn khó khăn, nạn thất nghiệp trầm trọng, nặng nề. Đời sống kinh tế của đất nước được thể hiện trên gương mặt hốt hoảng, ngơ ngác của những người tiêu dùng. Giá cả tăng chóng mặt, bất chấp đời sống người dân ra sao.

Suốt dọc chiều dài đất nước, điều người dân cầm chắc là sẽ tăng lên đều đều nhịp bước hoặc phi mã bất chấp quy luật và ý muốn, đó không phải là chất lượng cuộc sống người dân, mà đó là giá cả, là tai nạn, là trộm cướp… Đồng hành với chính sách cướp đoạt đất đai, một số lượng dân oan cứ tăng không ngừng và ngày càng đông đúc.

Một cái Tết đến không nằm trong sự háo hức, mong đợi của người dân Việt Nam. Nó chỉ nằm trong những miệng lưỡi ngợi ca đầy tính chất mị dân ồn ào, trống rỗng.

Tất cả những điều đó, đã dội những gáo nước lạnh ngắt và bẩn thỉu vào sự “sáng suốt và tài tình”.

Thế nhưng, dường như để trêu ngươi mọi người dân cho đến lúc nhận đủ sự chán chường của họ, những khẩu hiệu vẫn cứ nhan nhản khắp mọi nẻo đường trong những ngày đón xuân.

Tôn giáo tự hoại, Đảng xuống cấp!

Người ta cho rằng: Chủ Nghĩa Mác – Lenin cũng là một thứ tôn giáo, ở đó có đầy đủ Giáo lý, Giáo sỹ, Giáo phẩm và các tín hữu… Mặc dù trên cơ sở lý thuyết, thứ tôn giáo này không tin vào thần thánh, tâm linh, thứ mà nó đưa lên vừa là tôn thờ, vừa là phương tiện đó là Bạo lực và dối trá. Các cơ sở Đảng cộng sản, cũng chính là các cơ sở tôn giáo của giáo phái do Mác – Lênin sáng lập này.

Điều khác biệt các giáo phái và các tôn giáo khác là thứ tôn giáo này được lan truyền bằng súng đạn và máu. Mục đích là tiêu diệt hoàn toàn các giáo phái, các tín ngưỡng khác để cả hành tinh chỉ duy nhất một tôn giáo Mác – Lenin. Đó là con đường nhuốm đầy máu nhân loại mỗi nơi nó đi qua. Tín đồ của thứ tôn giáo này, là những tín đồ bắt buộc, họ không được có một lựa chọn nào khác ngoài sự phục tùng thứ tôn giáo này.

Thế nhưng, thay vì tồn tại hàng ngàn năm như các tôn giáo chân chính khác, thứ tôn giáo của máu và súng này đã nhanh chóng lụi tàn trên thế giới. Kể từ khi hình thành cho đến ngày sụp đổ ngay tại nơi sinh ra nó chỉ hơn 70 năm. Trên thế giới, chỉ còn lại vài ba chiếc vòi bạch tuộc của nó tự biến dạng để tồn tại một cách lỳ lợm mà nói theo cách của “Đảng ta” – một bộ phận của thứ tôn giáo này – là “vận dụng sáng tạo vào hoành cảnh thực tế”.

Cũng theo quy luật đào thải đó, “Đảng ta” dần dần bộc lộ những điểm yếu chết người mà không thể nào khắc phục: Độc trị dẫn đến độc tài và xã hội tha hóa dẫn đến suy vong.

Hà Nội, ngày 31/1/2014

J.B Nguyễn Hữu Vinh

 

Những lời chúc Tết hay nhất ý nghĩa nhất

Những lời chúc Tết hay nhất ý nghĩa nhất

Đong cho đầy hạnh phúc. Gói cho trọn lộc tài.

Giữ cho mãi an khang. Thắt cho chặt phú quý.

Cùng chúc nhau như ý. Hứng cho tròn an khang.

Chúc năm mới bình an. Cả nhà đều sung túc.

Công thức nấu món ăn ngày Tết :

1. Lấy 12 tháng trong năm đem rửa sạch mùi cay đắng, ghen tị, thù oán …rồi để ráo nước
2. Tuần tự cắt mỗi tháng ra 28, 30 hay 31 phần.
3. Trộn đều với: – Một chút tin yêu – Một chút kiên nhẫn – Một chút can đảm – Một chút cố gắng
– Một chút hy vọng – Một chút chung thủy
4. Ướp thêm gia vị: lạc quan, tự tin và hài hước
5. Ðem ngâm một lát trong dung dịch “Những điều tâm niệm của mình”
6. Vớt ra, xay nhỏ, đổ tất cả vào “Nồi yêu thương” và nấu với lửa “Vui mừng”
7. Ðem ra ăn với “Nụ cười” trong chén “Bao dung”

và sẽ có

MỘT NĂM MỚI ÐẦY YÊU THƯƠNG VÀ HẠNH PHÚC .

S.T.

từ Nguyễn Kim Bằng gởi

Đối thoại trong chương trình cứu độ

Đối thoại trong chương trình cứu độ

chuacuuthe.com

images (2)

VRNs (30.01.2014) – Sài Gòn-

Nhân loại có kinh nghiệm về một cuộc “đối thoại” với loài ranh ma xảo quyệt, một cuộc nói chuyện không chỉ vô ích nhưng còn mang theo hệ lụy cả nhân loại phải chết, chỉ vì một phía nói chuyện không tôn trọng sự thật và đầy mưu mô xảo quyệt (Stk.3, 1–7). Trong bóng tối của sự chết đè nặng trên nhân loại, Thiên Chúa thực hiện chương trình cứu độ để giải thoát con người ra khỏi sự chết muôn đời.

Nếu “người đàn bà” năm xưa đã ngây thơ, chân thật và thiếu khôn ngoan thì Thiên Chúa lại tuyển lựa được một “người đàn bà” khác là “Tòa khôn ngoan“ của nhân loại, Bà đã đối thoại với Thiên Chúa để chấp nhận cho Thiên Chúa thực hiện chương trình cứu độ nhân loại qua sự dâng hiến chính cuộc đời của Bà.

“Bà Elisabét có thai được sáu tháng, thì Thiên Chúa sai sứ thần Gáprien đến một thành miền Galilê, gọi là Nadarét, gặp một trinh nữ đã đính hôn với một người tên là Giuse, thuộc nhà Ðavít. Trinh nữ ấy tên là Maria.

Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói: “Mừng vui lên, hỡi Ðấng đầy ân sủng, Ðức Chúa ở cùng bà. Nghe lời ấy, bà rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì.

Sứ thần liền nói: “Thưa bà Maria, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa. Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Ðấng Tối Cao. Ðức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Ðavít, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Giacóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận.”

Bà Maria thưa với sứ thần: “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng!”

Sứ thần đáp: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Ðấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, người con sinh ra sẽ là thánh, và được gọi là Con Thiên Chúa.  Kìa bà Êlisabét, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai: bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng. Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được.

Bấy giờ bà Maria nói: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói”. Rồi sứ thần từ biệt ra đi.”

(Lc. 1, 26 – 38)

Cuộc đối thoại giữa Đức Maria và Sứ thần của Thiên Chúa đã diễn ra trong tình trạng thật tuyệt mỹ, kết quả của cuộc đối thoại là chương trình cứu độ của Thiên Chúa được thực hiện, mang lại ơn cứu thoát cho cả nhân loại.

Chúng ta nhận thấy: Cả hai, phía Thiên Chúa và phía Đức Maria,

–      Cả hai đếu có sự thật, sự thật về thân phận con người và sự thật về tình thương và quyền năng của Thiên Chúa. Đức Maria không ngần ngại bộc bạch về giới hạn của con người, Thiên Chúa không ngần ngại đoan quyết về quyền năng và tình thương của Ngài.

–         Cả hai đều tôn trọng sự thật và tôn trọng tư do lẫn nhau. Thiên Chúa ngỏ lời và Đức Maria hoàn toàn tự do quyết định.

–         Trong đối thoại, cả hai đều nói sự thật, không một chút lọc lừa, không gian manh xảo quyệt, không sắp đặt gài bẫy, không đầy đưa phỉnh phờ.

Trong đối thoại cả hai đều hướng về sự thiện, đều nhắm đến sự tốt lành và hạnh phúc cho nhân loại, “vì các linh hồn”.

–         Trong đối thoại cả hai đều rất khiêm tốn, Thiên Chúa thật khiêm tốn nhẹ nhàng ngỏ lời, Đức Maria thật khiêm tốn bày tỏ, và cuối cùng để Chúa thực hiện theo ý Chúa.

Năm mới mở ra một giai đoạn mới, chúng ta sẽ vẫn tiếp tục đối thoại với con người, đối thoại với người nghèo, đối thoại với xã hội, đối thoại với các tôn giáo bạn, đối thoại các nên văn hóa mới, … Sẽ không có kết quả của sự loan truyền đức tin nếu không có cung cách đối thoại như cuôc đối thoại của Đức Maria với Sứ thần của Thiên Chúa. Người Kitô hữu cần phải tỉnh táo. Kinh Thánh ngoài gía trị là chính lời của Thiên Chúa, Kinh Thánh còn là một bản đúc kết kinh nghiệm của nhân loại về lịch sử của nhân loại. Nhân loại đã có kinh nghiệm, bài học về kinh nghiệm không phải là bài học tầm thường, người khôn ngoan hãy trân trọng học hỏi.

Lm. Vĩnh Sang, dcct.

30 Tết (30/01/2014)

THẦY KHÔNG BẢO LÀ BẢY LẦN NHƯNG LÀ BẢY MƯƠI LẦN BẢY!

THẦY KHÔNG BẢO LÀ BẢY LẦN NHƯNG LÀ BẢY MƯƠI LẦN BẢY!

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

… Trong thông điệp ”Ánh Sáng Đức Tin – Lumen Fidei” Đức Thánh Cha Phanxicô viết: ”Sự hiểu biết Đức Tin thật sự nẩy sinh khi chúng ta nhận được Tình Yêu khôn lường của THIÊN CHÚA làm biến đổi nội tâm chúng ta và trao ban cho chúng ta đôi mắt mới để nhìn rõ thực tại”.

Tình Yêu vô biên của THIÊN CHÚA được biểu lộ qua trăm phương nghìn cách. Chỉ xin nhấn mạnh một khía cạnh nhân hậu lân tuất qua bí tích Giải Tội hay cũng gọi là Bí Tích Hòa Giải. Sau đây là chứng từ của bà Micheline Valay tín hữu Công Giáo người Pháp.

Tôi đang ở tại Trung Tâm Thánh Mẫu Lộ Đức nơi nhà nguyện Giải Tội. Ngay lối vào đã đặt sẵn các tờ giấy giúp cầu nguyện, suy tư và xét mình. Rồi đến các băng ghế ngồi và sau đó là rải rác rất nhiều tòa giải tội có Linh Mục ngồi sẵn đợi các hối nhân đến xưng thú mọi lỗi lầm. Tôi bước vào nhà nguyện với chút xúc động hồi hộp, gần như đi thụt lùi, muốn quay trở ra. Nhưng tôi đã lấy hẹn, đã quyết định ra đi gặp gỡ CHA trên Trời của tôi rồi mà! Không lẽ bây giờ tôi lại đổi ý, trốn tránh và lui gót! Không thể được! Tôi biết rõ tại sao mình đặt chân đến đây mà! Tôi mang đến đây tất cả những gì ngăn cản tôi sống thực sự, sống chân thành, ngăn cản tôi hít thở không khí trong lành, nhưng lại khó nói với một người nào đó. Sau cùng thì tôi nhất định bước vào nhà nguyện. Tôi vẫn còn hồi hộp và lo âu tự hỏi:
– Mình sẽ gặp vị Linh Mục nào đây?

Bỗng đôi mắt tôi bắt gặp một cái nhìn ưu ái và một nụ cười khoan dung.

Tôi mạnh dạn tiến đến ngồi trước mặt Cha giải tội, y như thể để bắt đầu một cuộc trao đổi đàm thoại thân tình. Bỗng chốc tất cả trở nên thật dễ dàng và tự nhiên. Tôi tiếp nhận tràn đầy sự tiếp đón nồng hậu của vị Linh Mục đang lẳng lặng nghe tôi giải bày mọi tội lỗi. Đúng thật là tôi đang bước vào thế giới Tình Yêu của THIÊN CHÚA là CHA Nhân Hậu. Tôi nói hết. Tôi để thoát ra khỏi tôi tất cả những gì đầu độc tôi, ám ảnh tôi, làm tôi trở nên chai cứng, những gì làm tôi xa cách tình yêu, những gì ngăn cản tôi yêu mến THIÊN CHÚA, yêu thương tha nhân và yêu thương chính tôi. Tôi cảm thấy mình được tiếp đón, được chấp nhận và được yêu thương với trọn con người của tôi gồm các khuyết điểm cũng như ưu điểm. Tôi tìm lại sự tin tưởng và sự chắc chắn rằng tôi không cô đơn. Nhưng nhất là tôi tin tưởng vững chắc rằng, ngay cả khi tôi lại sa ngã phạm tội, tôi vẫn có thể đứng thẳng lên, vẫn có thể ngẩng cao đầu ngước nhìn Trời Cao nơi có THIÊN CHÚA Tình Yêu ngự trị.

Chúng tôi cùng nhau đàm thoại trao đổi lâu thật lâu y như giữa hai người bạn thân. Sau đó vị Linh Mục giơ tay ban phép lành trao ơn xóa tội. Sau khi lãnh bí tích giải tội, tiếp nhận ơn xá giải, tôi cảm thấy vô cùng nhẹ nhàng và cảm nhận một niềm vui bao la. Tôi cảm thấy y như mình được trẻ lại, thật yêu đời yêu sống và yêu tha nhân.

Sau lần xưng tội ấy, tôi muốn nói lớn với mọi người rằng:
– Bạn hãy ra đi gặp Linh Mục và xưng thú tội lỗi. Tôi xin đoan chắc với bạn là bạn sẽ không hối tiếc đâu! Hoàn toàn không!

Liên quan đến bí tích Giải Tội của Giáo Hội Công Giáo, xin trích dẫn một câu chuyện như sau.

Một vị rabbi do thái lão thành thường nói với các tín hữu rằng: mỗi người chúng ta được nối liền với THIÊN CHÚA bằng một sợi dây dài. Và cứ mỗi lần chúng ta phạm một lỗi thì sợi dây bị đứt. Thế nhưng khi chúng ta hối tiếc ăn năn về lỗi lầm đã phạm thì THIÊN CHÚA lại thắt một nút nối lại sợi dây bị đứt. Thành ra, sợi dây lại ngắn hơn trước. Và cũng như thế thì tội nhân lại tiến đến gần THIÊN CHÚA hơn!

Cứ như thế, mỗi lần một lỗi lầm được ăn năn thống hối thì có thêm nút trên sợi dây được thắt lại, và chúng ta dần dần được tiến lại gần THIÊN CHÚA.

Cuối cùng, mỗi một tội lỗi của chúng ta lại trở thành một dịp làm rút ngắn sợi dây nối liền với THIÊN CHÚA và khiến chúng ta tiến nhanh đến gần con tim của THIÊN CHÚA.

Đúng thật rằng: Tất cả là hồng ân! Ngay cả tội lỗi!

… Bấy giờ, ông Phêrô đến gần Đức Chúa GIÊSU mà hỏi rằng: ”Thưa Thầy, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy lần? Có phải bảy lần không?” Đức Chúa GIÊSU đáp: ”Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy” .. Bấy giờ, tôn chủ cho đòi y đến và bảo: ”Tên đầy tớ ác độc kia, ta đã tha hết số nợ ấy cho ngươi, vì ngươi đã van xin ta, thì đến lượt ngươi, ngươi không phải thương xót đồng bạn, như chính ta đã thương xót ngươi sao?” Rồi tôn chủ nổi cơn thịnh nộ, trao y cho lính hành hạ, cho đến ngày y trả hết nợ cho ông. Ấy vậy, Cha của Thầy ở trên Trời cũng sẽ đối xử với anh em như thế, nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình” (Mátthêu 18,21-22 / 32-35).

(”Catho 47”, Bulletin de L’Église Catholique en Lot-et-Garonne, No 86, Novembre 2013, trang VIII-IX)

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

Tâm Linh Cây Cỏ & Con Người

Tâm Linh Cây Cỏ & Con Người

Nguyễn Mộng Khôi

Giữa thập niên sáu mươi, nhà Bác học Cleve Backster chế ra máy Dò Nói Dối, người Mỹ gọi là Lie Detector hay Polygraph, máy này có thể phát hiện những thay đổi về mạch đập, những bất thường của nhịp thở ..v..v… mà Backster cho rằng do tinh thần căng thẳng, không giữ được bình tĩnh khi người bị thẩm vấn có những điều uẩn khúc, những chuyện muốn dấu diếm. Cơ quan Trung Ương Tình Báo( CIA) dùng Lie Detector để điều tra những nghi can. Họ thấy máy này đem lại kết quả tốt nên năm 1986 Backster được CIA mời ra cộng tác và sau đó được cử làm Giám Ðốc Trường Huấn Luyện Dò Nói Dối và Sở Nghiên Cứu Backster (Polygragh Instruction School and The Backster Research Foundation) ở San Diego California. Từ đó, tên tuổi Ông được nhiều người biết đến, nhưng Ông chỉ thật sự nổi danh và được các khoa học gia thế giới cảm phục khi ông tình cờ tìm ra thảo mộc có tâm linh hay là cây cỏ có khả năng biết được ý định của con người.

Một buổi sáng được nghỉ, Ông ngồi ngắm những chậu hoa, những chậu cây trong nhà, như một nhân duyên, Ông chú ý đến một cây có lá to và dày như lá đa trong một chậu cảnh, đã một tuần không được tưới nước, đất khô, thân cây cũng khô. Ông bổng nẩy ra ý định:

– Thử cắm hai đầu dây của một điện kế(galvanometer) cực nhậy vào cái lá rồi tưới nước vào gốc cây.

Nước dần dần lên thân và lá, nhưng cây kim điện kế vẫn đứng im. Rồi một ý nghỉ khác đến với Ông:

– Hay là thử đốt chiếc lá này xem sao? Ông chỉ mới có ý nghĩ đốt chiếc lá tức thì kim điện kế bỗng nhẩy lên như bị điện dật. Ông tự hỏi, chẳng lẽ Ông nhìn lầm? Chẳng lẽ lá cây đọc được tư tưởng của Ông mà biểu lộ phản ứng sợ hãi hay sao?

Nghĩ như vậy Ông làm thử lần thứ hai. Tay cầm hộp quẹt như sắp sửa đốt chiếc lá, nhưng Backster tự nhủ sẽ không đốt; thì điện kế cũng không nhúc nhích.

Lần thứ ba ông nhất định sẽ đốt chiếc lá. Lúc đó trong phòng lặng gió kim điện kế đột nhiên nhẩy mạnh.

Nhìn chiếc lá bị đốt một phần Backster thấy sung sướng trong lòng vì sự tình cờ mà biết được linh tính lá cây. Sự khám phá này làm Ông thích thú hơn là phát minh ra máy Dò Nói Dối hồi ba thập niên trước. Ông muốn công bố ngay cho mọi người biết. Nhưng Ông kịp ngừng lại, thái độ đúng của nhà khoa học là phải thử nghiệm đầy đủ, khách quan để không đưa tới kết luận sai lầm, thiên kiến và chủ quan… rồi, Ông định phát triển, nghiên cứu sang nhiều loài thảo mộc khác. Có tới 25 loại cây cỏ được nghiên cứu gồm nhiều loại lá, loại quả và loại củ.

Sau những cuộc nghiên cứu thận trọng của Ông và  các cộng sự viên. Ông chính thức công bố rằng:

– Cây cỏ có trực giác tâm linh

Chúng không có mắt, tai, mũi, miệng; không có óc; không có thần kinh hệ… thì cái biết của chúng hẳn phải khác với cái biết của con người. Con người có giác quan nhưng không có trực giác tâm linh như chúng. Dù một bác sĩ tâm lý giỏi cũng không biết được ý định của một kẻ điên khùng sắp đốt nhà mình. Suy nghĩ như vậy làm cho Backster phấn khởi Ông mở rộng cơ sở nghiên cứu và càng khám phá ra những điều mới lạ. Từng mảnh lá tách rời cũng phản ứng như nêu ở trên và người ta gọi là Phản Ứng Backster. Nhà Sinh thực vật(biologist) Ingo Swann, theo dõi cuộc nghiên cứu của Backster và viết trong quyển The Real Story(chuyện có thật). Quyển sách được phát hành ngày 15-11-1998 trong đó có đoạn:

– Sự nghiên cứu(của Backster) khởi đầu chỉ là một khám phá hầu như tình cờ vào năm 1996 là thực vật có khả năng nhận thức và tự động đáp ứng những xúc cảm mạnh thuận theo ý chí con người … những cây cỏ của bạn, biết là bạn đang nghĩ gì.(His research started with the 1996 almost accidental rediscovery that plants are sentient and respond to the spontaneous emotions and strongly express intentions of relevant humans… Your plants know what you are thinking).

Phản ứng Backster còn đi sâu xa hơn và cho biết thêm là cây cỏ phản ứng không phải trước những mối nguy do con người tạo ra, mà cả những bất trắc, không tạo ra bằng ý định. Một con chó bất thần bước vào phòng, một người vốn ghét cây cỏ đi tới cũng làm điện kế nhẩy. Những cử động của một con nhện tiến đến, cũng gây phản ứng cho cây. Ông Backster đã làm thí nghiệm và chứng minh những điều đó trước các sinh viên trường Ðại Học Yale(Hoa Kỳ) trong trường hợp trên, một khi có người tới đuổi nhện và ngay trước khi nhện chạy đi kim điện kế đã hạ xuống. Y như là trước khi nhện chạy thì cái quyết định rút lui của nó đã được cây tiếp nhận. Cây đã thấy hết nguy hiểm và không phản ứng nữa.

Một cuộc thí nghiệm khác chứng minh rằng khi sống cạnh nhau, cây để ý canh chừng nhau sợ bị quấy rầy nhưng khi có một động vật tới gần, mối nguy gần hơn cây cỏ quay sang canh chừng động vật.

Những điều còn làm cho chúng ta kinh ngạc là cây có trí nhớ và tình cảm. Chúng nhận biết những kẻ chuyên phá hoại hoặc những người hay chăm sóc chúng. Ông Charles A. Lewis trong quyển Ý Nghĩa Của Cây Cỏ Trong Ðời Sống Chúng Ta(The Meaning of Plants in our Lives) viết:

– Sự say mê nghiên cứu về những liên kết giữa cây cỏ với tâm trí con người mà những tương tác làm tăng thêm hạnh phúc ở ngoại cảnh và môi trường có tác động đến đời sống con người(Fascinating research can lead to enhanced well-being and an appreciation of the environment).

Một gia đình an vui, hạnh phúc, cây cỏ trong nhà cũng tươi tốt. Khi người chăm sóc cây cối, cái tương tác tâm linh giữa Cây và Người làm cho cả hai đều khỏe mạnh hơn. Ðó là lý do tại sao những cây mọc gần nhà thường tốt hơn những cây mọc xa. Vậy chúng ta hãy nâng niu, trân trọng từng cọng cây chiếc lá. Hãy dành một chút thì giờ để chăm sóc cây cỏ và vườn tươi(lawn and garden) sức khỏe chúng ta có thể nhờ đó mà tốt hơn. Ngược lại những người thường xuyên chặt phá cây cối thường gặp điều kém may mắn hay nhuốm bịnh là vì khi cây bị xâm phạm, phản ứng tâm linh yếu ớt của cây đánh vào thủ phạm. Mỗi lần một ít, lâu dần người đốn cây sẽ bị bệnh nặng. Có thể  người xưa sống an vui, hạnh phúc vì cái thú Ðiền Viên chăng?

Các nhà sinh thực học thế giới rất hứng thú đang theo dõi công cuộc nghiên cứu của Backster, hiện đã có 7000 nhà bác học yêu cầu Ông thông báo cho biết kết quả nghiên cứu kèm theo các tài liệu khoa học. Những máy móc tối tân hơn được Ông thâu nhận, nhất là những máy ghi các nhịp luồng điện. Và cuộc nghiên cứu được tiến hành với kế hoạch tinh vi, được ghi chép đầy đủ. Các tài liệu được thu thập và xếp loại cẩn thận.

Nếu Backster chứng nghiệm được Tâm Linh Cây Cỏ thì kỹ sư Kirlian đã chụp được hào quang của chúng. Kirlian, tên đầy đủ là Semyon Davidovich Kirlian(1900-1980) sinh tại tỉnh Krasnoda, xứ Amenia nước Nga. Năm 1939 Ông cùng vợ là Valentina đã phát minh ra máy Chụp Hào Quang gọi là Kirlian Electrophotographic Camera(gọi tắt là máy Kirlian). Ông bà này đã áp dụng từ trường của điện vào thuật chụp hình của sinh thực vật (Bio Electrography ). Một tấm ảnh chụp chiếc lá của máy Kirlian hiện ra như một thế giới điểm sáng. Chung quanh nó là hào quang(Corona ). Những tia lửa nhỏ màu ngọc lam, màu da cam, phát ra từ trung tâm và đi xa theo những kinh xác định. Không phải chỉ lá mới có hào quang. Cây càng lớn, càng già, hào quang càng rực rở và Trường Sinh Lực( bio field) càng mạnh. Trường Sinh Lực (TSL) chính là sức mạnh vô hình của thảo mộc. Có những tiều phu vừa đốn xong một đại thụ bỗng lăn đùng ra chết. Có thể người này đã chặt phải một linh mộc có TSL quá mạnh.

Trong tín ngưỡng nhân gian ta, có tục thờ cây đa. Bên gốc đa già, thường có một cái miếu nhỏ, đặt bát hương, những chiếc bình vôi, để hương khói cho Thần Linh. Do kinh nghiệm của cha ông truyền lại thì cây lớn có Thần lớn. cây nhỏ có Thần nhỏ:

– Thần cây đa, ma cây gạo.

Trong kho tàng văn chương bình dân, ta còn thấy những câu tục ngữ xưa, có ý răn đe, những người chặt cây, phá rừng. Ðó là nghề nguy hiểm nhất:

Nhất phá sơn lâm, nhì đâm hà bá.

Nhờ sự khám phá về năng lực sinh học và hào quang của thảo mộc. Một số khoa học gia người Nga thực nghiệm rằng, rau cỏ (vegetable) nào có hào quang càng sáng thì càng nhiều bổ dưỡng ẩm thực. Họ nói:

– Hào quang của rau cỏ giảm bớt khi bị nấu chín. Những tấm hình Kirlian cho thấy rau sống có hào quang chói sáng hơn rau luộc. (A Kirlian photogragh of a raw vegetable shows a brighter and more defined corona than a cooked one).

Nhiều bác sĩ Tây Phương gần đây cũng đồng ý và viết thành sách. Họ khuyên chúng ta nên dùng thực phẩm tươi. Một tờ báo ở Thụy sĩ ca ngợi bác sĩ Bircher Benner:

– Bác sĩ Bircher Benner, người đổi mới những bữa ăn điểm tâm không nấu chín thức ăn trong dưỡng đường của ông ở Thụy sĩ. Ông khuyên rằng thức ăn tươi luôn dùng trước bữa ăn đã nấu nướng, Ông tin chắc thức ăn tươi làm kích thích hoạt động điện của tế bào, vì vậy tăng cường sinh lực cũng như toàn bộ tiêu hóa được tốt hơn( DR. Bircher Benner innovator of Swiss Muesli for use in his clinic in Switzerland, advised that raw food always be taken first, before cooked meal. He believed that raw food stimulate the electrical activity of cells thereby enhancing the vitality as well as improving the rohole digestive process)

Ðộng vật cũng có trường sinh lực và tác động mạnh mẽ tới con người. Trong tạp chí y khoa Health Care số 2-2000 có ghi những điều đáng chú ý giữa con người và vật nuôi làm cảnh(Pet) như sau:

Những người yêu thích súc vật và nuôi làm cảnh trong nhà như: Chó, mèo, chim, cá, gà ..v..v.. thường có sức khỏe tốt hơn và sống lâu hơn. Những bệnh nhân bị áp huyết cao, bệnh đau tim, bệnh trầm cảm(depression) cũng lợi lạc hơn những người không nuôi một động vật nào. Các cuộc thử nghiệm của một số bác sĩ Tâm Bệnh Lý (Psychologist) Mỹ và Úc cho biết số người bị tắc mạch máu đã giảm đi hai lần và số người có chất mỡ (cholesterol) cao trong máu sẽ giảm đi nếu chủ nhà có nuôi vài con pets

Nhóm khoa học gia thuộc viện đại học U. S. C Tiểu Bang California còn đi xa hơn trong lãnh vực nầy. Họ bảo bệnh Alzheimer dường như phục hồi trí nhớ và cả đến nạn nhân của tử thần AIDS cảm thấy lạc quan và tỏ ra yêu đời hơn khi họ được làm chủ một con vật mà họ ưa thích.

– Con người cũng có Trường Tâm Linh, Trường Sinh Lực như thực vật và động vật. Kirlian đã chụp hình bàn tay và ngón tay đều có hào quang, giống như hào quang của chiếc lá. Hào quang nấy bước đầu cho biết về tình trạng sức khỏe của các sinh vật rồi tới tâm trạng của các sinh vật đó. Khi sức khoẻ hoặc tâm trạng thay đổi thì hào quang đó đổi thay theo. Nhiều bác sĩ người Nga khẳng định và viết trong sách Y Học của họ …

Trong quá khứ, hình chụp Kirlian được dùng vào nhiều mục liên quan tới diện mạo, thần sắc của sức khỏe và tâm/ sinh lý. Hình ảnh thật rỏ ràng trong sự tiên đoán những hiện trạng bệnh tật như nhiều hình thức Ung Thư, những bệnh về Bướu, Phong thấp, Xưng khớp Xương, bệnh Thần Kinh, bệnh Suy Nhược v..v… Họ tin chắc hình chụp Kirlian có thể tiên đoán những bệnh từ lúc khởi đầu ngay trước khi có những triệu chứng phát hiện nó là một dụng cụ rất ích lợi để đoán trước bệnh(… Kirlian photograghy has been used in the past for a variety of purpose relating to psycho/physiological aspects of health. It has been clearly shown to be effective in diagnosing conditions such as the various forms of cancer, Cystic, fibrosis, Rheumatoid, Arthritis, Schizophrenia, Depression and Others. It is believed that Kirlian photography can predict the onset of disease prior to symptoms showing, making it a useful tool in early diagnosis)

Một số thống kê mới đây cho thấy rằng, người độc thân mau chết hơn người có gia đình. Ban đầu các nhà y học đánh giá là do vấn đề sinh hoạt tình dục. Nhưng ngay cả những người độc thân có quan hệ tình dục ngoài hôn nhân cũng vẫn chết sớm. Người ta lại cho rằng khi có gia đình ổn định, con người được chăm sóc tốt hơn nên sức khỏe cải thiện hơn. Thật ra đó chỉ là lý do phụ, lý do chính là tình thương yêu chân thật của vợ chồng đã tạo ra Năng Lực Tâm Linh( hay TSL) làm cho khoẻ hơn.

Những huyệt đạo (sensitive points of body) trong khoa châm cứu (Acupuncture) Ðông y hình như có liên quan đến vùng Không Gian Tâm Linh của con người. Ðến ngày nay Tây y đã công nhận huyệt đạo là có thật. Khi châm cái kim hoặc kích thích vào một huyệt đạo thì nó có tác dụng lên cơ thể. Ðiển hình nhất là Châm (punctuare) gây Tê (numb) trong giải phẩụ Y học Tây Phương phải dùng thuốc tê để làm tê liệt các thần kinh rồi mới mổ xẻ. Các nhà châm cứu Ðông Y chỉ việc châm một số huyệt vào phần cơ thể là họ có thể giải phẩu bình thường. Các tác dụng cụ thể của huyệt đạo buộc các Bác Sĩ Tây Y phải công nhận là có huyệt đạo. Nhưng nó nằm ở đâu thì không ai thấy. Các Bác Sĩ Tây y lấy dao mổ ra, họ không thấy gì ở trong và cũng không thấy một sự liên hệ của Huyệt Ðạo đó với các thần kinh chung quanh, Huyệt Ðạo Hoàn Toàn Không nhưng mà tác dụng của nó thì Có Thật và các huyệt đó nối nhau thành một hệ thống huyệt đạo (Ðường của những huyệt). Trong cơ thể con người có nhiều đường. Ðường Kinh Nhâm đi từ môi dưới xuống trước hậu môn. Ðường Ðốc Kinh đi từ hậu môn tới đỉnh đầu rồi đi về phía môi trên. Còn có Ðường Kinh khác như là Túc Thái Dương, Bàng Quang Kinh.. v..v… những hệ thống kinh Huyệt này chứng tỏ một cách chắc chắn rằng Cơ Thể Nầy Ngoài Cấu Trúc vật Chất, Còn Có Một Cấu Trúc Tâm Linh Vô Hình rất là thật mà qua các Huyệt mình mới hiểu được nó.

Qua những sự nghiên cứu của Backster, Swann, Lewis, Kirlians… chúng ta rút ra một hệ luận, không gian tâm linh tuy vô hình nhưng có tác dụng. Những ý nghĩ thầm kín của chúng ta vẫn lặng lẽ tạo nghiệp. Ðối với những người hiểu luật Nghiệp Báo, hiểu rỏ sức ảnh hưởng của Tư Tưởng và môi trường chung, họ sẽ giữ tâm hồn để không bị nhiễm bẩn bởi các dòng tư tưởng ác trong không gian, đồng thời họ chân thành cầu nguyện cho mọi người đều tốt đẹp, họ thường rải tâm từ bi đến muôn loài, từ con người, con thú đến tận cây cỏ lá hoa.

Nguyễn Mộng Khôi