HẠT GIỐNG ĐỨC TIN

HẠT GIỐNG ĐỨC TIN

Tác giả: Lm. Vĩnh Sang, DCCT

 

Hôm nay gần cuối Mùa Chay Thánh, tôi lại có dịp chia sẻ với mọi người về một trải nghiệm về việc Loan Báo Tin Mừng nơi những vùng cao, vùng sâu, vùng xa.

Chuyến đi về Bắc lần này dẫn tôi lên đến tận miền Tây Bắc, nơi trong quá khứ tôi nhận thức được qua những tác phẩm văn chương của nhóm Tự Lực Văn Đoàn, những lời nhạc “tiền chiến” về một chiến trường thu hút những chàng trai hào hùng ra đi giữ nước, “từ nơi chiền trường Tây Bắc đó…”, địa chỉ của những lần thả hồn mơ màng về một vùng trời đầy thơ văn lãng mạn.

Sau này khi bước vào con đường phục vụ Giáo Hội, tôi lại có dịp lên miền Tây Bắc, và chuyến đi nào cũng để lại trong tôi niềm thao thức băn khoăn, một miền đồi núi trùng điệp, những căn nhà sàn chỏng trơ nghèo nàn, những ruộng ngô bậc thang làm chẳng đủ ăn, những người Kitô hữu ít ỏi tha thiết mong muốn có Linh Mục, có Nhà Thờ, những phiên giải tội chớp nhoáng, những Thánh Lễ dâng phải có người canh phòng từ xa để kịp báo động khi nhà cầm quyền địa phương có thể bất ngờ ập đến làm khó dễ, …và những chuyến mục vụ vội vàng căng thẳng như vậy trôi qua thật nhanh.

Hôm nay tôi trở lại một góc nhỏ của miền Tây Bắc núi đồi trùng trùng điệp điệp, mênh mông rừng rậm, dầy đặc mây trời, đường quanh co lượn khúc theo từng vách núi, sông hiền hòa lững lờ trôi theo từng hẻm hóc thấp cao. Vuông đất nhỏ bên vệ đường chông chênh bờ vực đã mọc lên một ngôi Thánh Đường nhỏ, ngôi Thánh Đường lặng lẽ mềm mại như mây trời, vách gỗ tuềnh toàng nhiều khe hở, mái lá úp chụp lên đầu như nấm rơm. Vị Giám Mục Giáo Phận đến thăm gọi đó là Nhà Thờ có máy lạnh đa chiều, ấy là vì gió núi mang về những cơn gió mát lạnh, thổi tự do vào bên trong Nhà Thờ theo nhiều ngõ ngách khác nhau.

Quỳ trong ngôi Nhà Thờ kỳ lạ độc đáo này cho tôi một cảm giác lâng lâng khó tả, sự im lặng lạ lùng của miền “đồng rừng” khác hẳn miền “đồng ruộng” dưới xuôi, tiếng chim hót líu lo như đang hợp giọng bài ca tán tụng Chúa, bình an và thanh thoát. Niềm an nhiên và hạnh ngộ chẳng thể tìm được nơi đô hội chen chúc sa hoa.

Một trong các vấn đề hiện nay về nghệ thuật ở thành phố Sàigòn đó là không gian kiến trúc, hầu hết các tượng đài không mang đủ tính nghệ thuật, nếu có thì lại không có mộtt không gian tương hợp để thể hiện trọn vẹn tính nghệ thuật, nếu có cả hai thì lại đang đứng trước nguy cơ quy hoạch không gian bị phá vỡ vì sự bùng nổ đô thị. Trước khi dựng ngôi Nhà Thờ mái lá vách gỗ miền Tây Bắc nêu trên, người anh em Linh Mục trẻ phụ trách đã cho dựng ngay tượng Đức Mẹ, bức tượng đường nét dáng dấp không sắc cạnh lắm, thế nhưng không gian thì tuyệt vời, màu áo khác lạ với màu truyền thống nhưng lại là màu của núi rừng, của dân tộc bản địa ( người Nùng, người Tày, người H’Mông… ). Màu xanh lam nổi lên mạnh mẽ giữa nền xanh của rừng cây, một ấn tượng gây thu hút hết sức tinh tế.

Thánh Lễ chúng tôi dâng với một cộng đồng bé nhỏ, niềm thao thức về công cuộc loan báo Tin Mừng lại nổi lên mạnh mẽ trong tôi. Bao nhiêu năm rồi, những người dân hiền hòa chất phác lặng lẽ sống Đức Tin, có những lúc tưởng như tuyệt vọng, sự hiện diện của Linh Mục như thổi thêm hồn vào sức sống, nhưng con người tự nguyện phục vụ ấy vẫn còn nhỏ bé quá, cả một miền rộng lớn mênh mông, thấm gì sức ngược xuôi tất bật của một Tu Sĩ trẻ nhiều tâm huyết…

Cầu xin cho có thêm các Thừa Sai quảng đại, khôn ngoan, nhiệt thành chấp nhận hy sinh, dám liều mình vì Tin Mừng, vì các linh hồn, dám dấn thân, dám đi qua các thách đố của thời cuộc. Mảnh đất quá màu mỡ, đang khát khao hạt giống Đức Tin…

Lm. VĨNH SANG, DCCT, Chúa Nhật 6.4.2014

Suy nghĩ về chuyện sống, chết

Suy nghĩ về chuyện sống, chết

Trm Thiên Thu

2-11-2013

Nói đến sự chết, người ta cho là “xui”, nghĩa là người ta sợ. Nhưng có ai trường sinh bất tử? Có chăng chỉ là trong truyện cổ tích thần thoại. Cũng có người cho là bi quan hoặc yếm thế khi nói đến sự chết. Thực ra nó có chiều kích tích cực giúp chúng ta sống tốt hơn, như Chúa Giêsu truyền: “Hãy hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng toàn thiện”.

Thường thì khi con người biết suy tư nhiều về cuộc đời là lúc người ta không còn trẻ, nghĩa là đã bắt đầu sang bên kia con-dốc-cuộc-đời: Có người 1 giờ chiều, có người 3 giờ chiều, có người 5 giờ chiều… Nhưng có những người lại biết nghĩ đến cái chết từ rất sớm, có thể từ 7 hoặc 8 giờ sáng. Tôi nghĩ người đó có một đặc ân để hướng thiện!

Khoa học tiến bộ, hầu như người ta khả dĩ làm được mọi thứ, nhưng người ta vẫn không thể nào tạo được sự sống và ngăn chặn được lưỡi hái tử thần. Người ta không “bó tay” mà cũng như “bó tay”, vì cứ phát hiện thuốc chữa bệnh này thì lại phát sinh bệnh khác, có chữa được bệnh nan y cũng chỉ là kéo dài sự sống thêm một thời gian, rồi cũng… chết. Các khoa học gia mới khám phá được vệ tinh này thì lại chợt phát hiện còn những “lỗ đen” xa trái đất hàng triệu năm ánh sáng. Chắc chắn con người phải “bó tay”. Và cứ câu hỏi này chồng chất lên câu hỏi khác… Dự báo có bão tố sắp tới mà không làm gì được, chạy trước cũng không kịp. Vậy mà người ta vẫn muốn khoe mẽ, muốn làm ngơ Thượng Đế, muốn loại bỏ Tạo Hoá, thậm chí là không muốn tin có Thiên Chúa!

Mỗi người có một nhãn quan riêng. Mỗi người có một lối suy tư riêng. Mỗi người có cách cảm nhận riêng. Muôn người muôn vẻ, nhưng tất cả vẫn là suy tư về thân phận con người, nhất là cái chết, tại sao không ai tránh khỏi?

Đời người dài, ngắn, sang, hèn

Trăm năm gom đủ một lần đưa tang!

Với cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn: “Hạt bụi nào hoá kiếp thân tôi, để một mai tôi về làm cát bụi? Ôi cát bụi mệt nhoài! Tiếng động nào gõ nhịp không nguôi! Bao nhiêu năm làm kiếp con người, chợt một chiều tóc tráng như vôi. Lá úa trên cao rụng đầy, cho trăm năm vào chết một ngày” (Cát Bụi). Con người luôn trăn trở về thân phận – dù là người có niềm tin tôn giáo, người không có niềm tin tôn giáo, hoặc người vô thần.

Và lúc khác, NS họ Trịnh lại suy tư: “Im lặng của đêm, tôi đã lắng nghe, im lặng của ngày, tôi đã lắng nghe, im lặng của đời, tôi đã lắng nghe. Tôi đã lắng nghe trái tim lạc loài, bao đêm đã qua, im lặng mặt người, tôi đã lắng nghe im lặng của tôi” (Im Lặng Thở Dài). Chắc hẳn ai cũng đã từng hơn một lần gục đầu ăn năn, suy tư, và muốn tìm ra ẩn số cuộc đời mình.
Suy đi nghĩ lại, tính tới tính lui, phân tích đủ kiểu, áp dụng mọi khoa học, nhưng vẫn không thể có đáp án thoả mãn. Có những điều tưởng đơn giản mà lại nhiêu khê, và có những điều tưởng phức tạp mà lại đơn giản. Chuyện kể thế này:

Một chiếc xe tải chở hàng, tài xế không để ý nên bị kẹt dưới gầm cầu. Xe chạy tới không được mà lùi cũng không xong. Rất nhiều người đứng chung quanh trố mắt nhìn, bàn tán, chỉ trỏ, các xe phía sau phải dừng lại vì kẹt. Kỹ sư, cảnh sát và chủ hãng xe đều đến. Người thì bàn là đào đường cho thấp xuống, người khác lại tính cắt bớt mui xe… Cách nào cũng không ổn, mà tình trạng kẹt xe càng lúc càng tăng, xe nối đuôi nhau như rồng rắn vậy.

Lúc ấy, có một cậu bé chen vào, nói lớn với tài xế: “Bác tài, cháu chỉ cho bác một cách, bác xì bớt hơi mấy bánh xe đi, xe sẽ thấp xuống và có thể qua được”. Ðám đông cười ồ lên. Còn những chuyên viên thì khó chịu, vì trẻ con mà tài lanh, dám dạy khôn người lớn. Bác tài cũng thế, nhưng cũng đành phải thử xem sao, và kết quả hơn cả tuyệt vời!

Cuộc đời chúng ta cũng vậy. Đừng để sự đời chi phối mình thái quá. Hãy tìm cách “xì” bớt hơi bon chen, đua đòi, kiêu ngạo, ghen ghét, đố kỵ, thù hận, tranh giành, ích kỷ, tham lam, phe cánh, xét đoán, bất mãn, chống đối, chua ngoa, nóng giận… để có thể thoát ra khỏi “đường hầm cuộc đời”. Cậu bé kia có cách giải quyết đơn giản, hợp lý và hiệu quả vì em đơn sơ và thật thà, không nghĩ cong queo hoặc cao xa như người lớn. Biết “xì hơi” cuộc sống là chúng ta đang hoàn thiện từng ngày, biết “chết” dần mỗi ngày vậy.

Cụ thi hào danh nhân văn hoá Nguyễn Du có cách kết luận: “Trăm năm một nấm cỏ khâu xanh rì” (Truyện Kiều). Nhắm mắt xuôi tay rồi thì ai cũng như ai: Trắng tay. Vậy mà người ta vẫn tranh giành nhau chi li. Khó hiểu quá! Có làm đám tang lớn, dùng áo quan đắt tiền, vòng hoa để chật nhà, dàn kèn tây hoành tráng… chẳng qua là đẹp mặt người sống chứ người chết chẳng được lợi gì: Sống thì chẳng cho ăn, chết làm văn tế ruồi!

Còn nhạc sĩ Vũ Thành An (nay là phó tế vĩnh viễn) lại băn khoăn trong một ca khúc Bài Không Tên: “Triệu người quen có mấy người thân, khi lìa trần có mấy người đưa”. Nghĩa tử là nghĩa tận. Thế nhưng trong đám tang thiên tài âm nhạc Wolfgang Mozart (27-1-/1756 – 4-12-1791) chỉ có vài người và một con chó đi tiễn đưa!
Chó chết là hết chuyện. Con người chết thì không thể hết chuyện: Cọp chết để da, người ta chết để tiếng. Chữ “tiếng” ở đây có hai nghĩa: Tiếng tốt hay tiếng xấu. Khi ta sinh ra, người cười mà ta khóc, vậy hãy sống sao để khi ta chết, người khóc mà ta cười. Đáng quan ngại là Thiên Chúa cho chúng ta hoàn toàn tự do. Vì thế, việc chọn lựa cách sống rất quan trọng: “Ai làm điều lành thì sẽ sống lại để được sống, ai làm điều dữ sẽ sống lại để bị kết án” (Ga 5,29). Tuy nhiên, chính sự thật sẽ giải thoát chúng ta (x. Ga 8,32).

Mình chết có được người khác nhớ đến hay không là do cách sống của mình. Người ta nhớ mình hay không là “quyền” của người ta. Nhưng chính chúng ta có bổn phẩn phải nhớ đến người đã khuất, vì “quên người đã chết là làm cho họ chết thêm một lần nữa”. Nhớ đến họ để cầu nguyện cho họ, vì họ là tổ tiên, ông bà, cha mẹ, anh chị em, họ hàng, bạn bè, thầy cô, ân nhân, người quen… Mà dù họ là ai, dù mình không quen biết, chúng ta vẫn có bổn phận với họ trong tình liên đới và hiệp thông Kitô giáo trong Chúa. Muốn người khác nhớ đến mình thì mình đừng quên người khác: “Những gì anh em muốn người ta làm cho mình thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta” (Mt 7,12). Vả lại, với đức tin Công giáo thì “chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời” (Thánh Phanxicô Assisi), và giáo lý Công giáo đã dạy: “Tôi trông đợi kẻ chết sống lại và sự sống đời sau” (Kinh Tin Kính).

Tác giả Anon viết: “Tôi tin rằng chúng ta được sinh ra để chết, chết để có thể sống trọn vẹn hơn. Tôi tin rằng được sinh ra để chết, chết mỗi ngày một phần ích kỷ, một phần tự phụ, một phần tội lỗi”. Một lối suy tư tuyệt vời! Quả thật, chúng ta đang sống nghĩa là chúng ta đang chết, khi chúng ta chết là lúc chúng ta bắt đầu sống. Một nghịch-lý-thuận. Đó là loại triết lý “hiện sinh” mà chỉ người có niềm tin Kitô giáo mới khả dĩ hiểu.

Hạ tuần tháng 10-2011, cư dân mạng xôn xao về vụ một em bé 2 tuổi ở Trung Quốc bị xe cán nát 2 chân, người đi đường thấy mà làm ngơ, một chiếc xe tải khác chạy tới không tránh và lại tiếp tục cán lên chân em bé tội nghiệp kia, người qua kẻ lại vần hoàn toàn vô cảm. Mãi sau mới có một phụ nữ bế em vào lề đường. Thế nhưng em bé này vừa qua đời ngày 21-10-2011. Có thể Chúa cho em từ giã cõi đời này quá sớm cũng là kết thúc tốt đẹp đối với em, nhưng sự vô tình nhẫn tâm của những người lớn sẽ là “vết chàm” của xã hội loài người ngày nay, coi con người không bằng con thú!

Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi! (Lc 5, 8), nhưng đừng bỏ mặc con trong cơn khốn khó. Con muốn thân thưa: “Lạy Chúa, này con đây, con xin đến để thực thi ý Ngài” (Dt 10,7.9). Nguyện xin Thiên Chúa nhân từ ân xá cho các linh hồn nơi luyện hình được sớm hưởng Tôn Nhan Chúa muôn đời. Amen.

Trầm Thiên Thu

 

Chân phước Gioan Phaolô II: Cầu nguyện là nhiệm vụ hàng đầu của Giáo hoàng

Chân phước Gioan Phaolô II: Cầu nguyện là nhiệm vụ hàng đầu của Giáo hoàng

chuacuuthe.com

VRNs (06.04.2014) – CAN, EWTN News – ĐHY Giovanni Battista Re, cộng sự viên thân tín của Chân phước Gioan Phaolô II, cho biết vị chân phước sắp lên hàng hiển thánh này luôn xác tín: “nhiệm vụ trên hết của một Giáo hoàng là cầu nguyện cho Giáo Hội và cho toàn thế giới”.

1404060

ĐHY nói: “Thật ngạc nhiên khi Ngài có thể đi vào sự thinh lặng để cầu nguyện ngay sau những cuộc tiếp kiến với đám đông khổng lồ. Khi ngài cầu nguyện, ngài có thể tập trung tư tưởng cao độ, và  trước bất kỳ quyết định lớn nào, ngài cũng cầu nguyện lâu giờ.”

ĐHY Giovanni làm việc tại Phủ Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh khi ĐHY Karol Wojtyla được bầu làm Giáo hoàng năm 1978. Ngài được ĐTC Gioan Phaolô II tấn phong Giám mục năm 1987 và tháng 12 năm 2000, ngài được chỉ định làm Bộ trưởng Bộ Giám mục kiêm chủ tịch Ủy ban Giáo hoàng về Mỹ Latinh.

“Lý do tôi có vinh dự làm việc cho Đức Gioan Phaolô II là như này: Ngày đó, Ngài soạn bài giảng và các bài huấn dụ bằng tiếng Balan. Một nhóm dịch thuật sẽ dịch những tài liệu này sang tiếng Ý. Cuối cùng, họ đưa cho tôi để duyệt lần cuối và phải đảm bảo không có sai sót nào trong cách diễn đạt bằng tiếng Ý.”

ĐHY nhắc lại kỷ niệm: “Bài huấn dụ đầu tiên tôi được phân nhiệm vụ biên tập lại là bài mà ĐTC nói trước công chúng tại quảng trường Thánh Phêrô, trong đó Ngài nói: ‘Đừng sợ! Hãy mở rộng các cánh cửa cho Chúa Kitô’”.

ĐHY nhận định Đức Gioan Phaolô là “con người vĩ đại” trong nhiều khía cạnh.

“Ngài là một con người vĩ đại vì những tư tưởng sâu sắc, khả năng nói nhiều ngôn ngữ, tài diễn thuyết trước công chúng. Do có lợi thế là ngài ở ngôi Giáo hoàng với thời gian tương đối dài, nên chúng ta hiểu được nhiều về con người ngài. Ngài quả là một vị thánh vĩ đại, vừa là con người của cầu nguyện đồng thời là con người của hành động.”

ĐHY đang mong đợi lễ phong hiển thánh cho hai vị Giáo hoàng Gioan Phaolô II và Gioan XXIII ngày 27/4 tới đây.

Được biết, dịp phong thánh này trùng với ngày lễ Kính Lòng Thương Xót.

Jos. Trung

 

Kẻ nói dối

Kẻ nói dối

chuacuuthe.com

VRNs (05.04.2014) – Đức Giêsu đã làm rất nhiều phép lạ nhưng phép lạ cho người chết sống lại là một trong những phép lạ khiến người ta khâm phục hơn cả. Nếu được phép lạ cho sống trường sinh, có lẽ ai cũng xin nhận. Chẳng ai muốn chết bao giờ. Cái chết mà một số người trong nhân loại này ước muốn cũng chỉ là để được sống một lối sống khác hơn, không còn đau khổ và tuyệt vọng!.

Ai có thể sống mãi? Ai có thể sống đời đời và không bao giờ phải chết nếu không phải là Thiên Chúa. Chỉ có Đấng toàn quyền trên sự sống cái chết của con người mới có thể làm cho con người được sống hay phải chết.

Chết theo cách hiểu thông thường của nhân loại cũng chính là từ biệt lối sống trần gian, tưởng chừng như cái chết ấy là mất mát tất cả, nhưng sự thật không phải thế. Đó chỉ là cửa ngõ để dẫn đến một lối sống khác, lối sống mà Đức Giêsu đã đến và khai mở cho nhân loại – sự sống trường sinh vĩnh cửu.

Làm thế nào để có thể sống mãi mà không chết? Làm thế nào để có được sự sống vĩnh cửu trường sinh? “Ai tin vào Thầy thì dù đã chết cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết.” (Ga 11, 25), lời Đức Giêsu tuyên bố chính là chìa khóa mở toang cánh cửa dẫn đưa nhân loại đến với sự sống bất diệt.

Lối sống và cái chết mà Đức Giêsu đề cập đến chính là cuộc sống đời sau, sự sống Thần linh, không phải lối sống trần thế mà nhân loại thủ đắc. Trớ trêu thay, con người xem chừng lại không ưa chuộng lối sống này. Họ thích được sống mãi, cái kiếp sống nay còn mai mất, ăn uống hưởng thụ và tranh chấp quyền lực, địa vị… Cuộc sống bất diệt mà Đức Giêsu hứa hẹn đã không còn là niềm khao khát và ao ước của nhân loại nữa rồi. Người ta muốn sống mãi không phải để hạnh phúc cùng Thiên Chúa nhưng là cho họ được hạnh phúc bởi cơm áo gạo tiền, danh vọng quyền lực…

Nhân loại đã đi sai con đường Thiên Chúa muốn, đã xa rời mục đích của Đấng Thần linh. Ngài tạo dựng nhân loại, tác tạo thế giới cho con người hưởng dùng để được hạnh phúc và qui phục Đấng tác tạo nên mình. Con người lại lạm dụng tự do Thiên Chúa ban để sống cho mình, thỏa mãn tham vọng bản thân. Cái chết chính là án phạt cho sự phản bội bất tuân đó.

Sự chết và sự sống lại của Đức Giêsu đã cứu chuộc tội lỗi nhân loại, trao cho họ quyền được làm Con Thiên Chúa và thông dự vào sự sống Ba Ngôi. Ngài đã cứu nhân loại bằng chính mạng sống và giá máu của mình, phục sinh con người khỏi ách nô lệ của tội lỗi và phục hồi địa vị làm con Thiên Chúa. Thế nhưng Thiên Chúa càng lôi kéo con người về với sự sống thần linh vĩnh cửu bao nhiêu thì họ lại càng xa rời bấy nhiêu. Hơn bao giờ hết, người ta luôn mong mỏi, khát khao được phục sinh, được sống lại, sống mãi nhưng không phải vì lối sống ấy mà lại là cuộc sống tạm bợ thế trần đầy tội lỗi và bất trắc này.

Lạy Chúa, nếu nói không sợ chết, con chỉ là kẻ nói dối. Thế nhưng, có lẽ cái chết đời đời còn đáng sợ hơn rất nhiều. Con thèm khát sống mãi lắm chứ, sống trường sinh bất tử, nhưng dường như không phải cuộc sống của Chúa, mà chỉ là khát thèm cái lối sống tạm bợ, nay còn mai mất của thế gian. Vậy xem ra con là kẻ nói dối mất rồi. Xin giúp con biết buông bỏ mọi tham vọng đang cưu mang, để mà biết sống cho lối sống bất diệt. Nếu cả thế giới này đang sống chỉ một mình con chết, nhưng là chết để được sống mãi ngày sau, xin giúp con cũng biết cam lòng…

M. Hoàng Thị Thùy Trang.

 

Giáo dục VN: cố sửa hay trở về gốc?

Giáo dục VN: cố sửa hay trở về gốc?

Nguyễn Quang Duy

Gửi tới BBC từ Úc

Thứ tư, 2 tháng 4, 2014

Trước tình trạng khủng hoảng giáo dục, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản VN, ông Nguyễn Phú Trọng từng hỏi “Chúng ta đã ba lần cải cách giáo dục, vì sao lần này không đặt vấn đề cải cách mà là đổi mới căn bản, toàn diện?”

Rồi ông Trọng đặt câu hỏi tại Bộ Giáo dục và Đào tạo từ hồi tháng 8/2012: “Việt Nam đã có triết lý về giáo dục chưa, hay là người học ở Anh về bảo phải như thế này, người học ở Mỹ bảo thế kia.”.

Cho đến nay, công tác ‘cải cách’ vẫn không có gì tiến triển và câu trả lời ngắn gọn là trước đây tại miền Nam nền giáo dục đã dựa trên ba triết lý căn bản: dân tộc, khai phóng và nhân bản.

Cũng cần biết trong năm học tới 2014-15 nước Mỹ sẽ bước vào một cuộc cải cách giáo dục quan trọng nhất từ trước đến nay.

Họ sẽ áp dụng phương cách giảng dạy và học tập mới, trở lại căn bản lấy nhân bản và khai phóng làm triết lý giáo dục.

Triết lý giáo dục Miền Nam

Năm 1958, một Đại hội Giáo dục quy tụ phụ huynh, thân hào nhân sĩ, học giả, đại diện quân đội, chính quyền, các tổ chức quần chúng và cơ quan văn hóa giáo dục đã được tổ chức tại Sài Gòn nhằm đề ra một triết lý giáo dục cho miền Nam.

Đại hội đồng thuận chọn ba nguyên tắc dân tộc, khai phóng và nhân bản làm căn bản.

Đến thời Đệ Nhị Cộng Hòa, năm 1964, một Đại Hội khác lại được tổ chức tại Sài Gòn nhằm xem xét lại triết lý nói trên. Kết quả Đại Hội tiếp tục nhìn nhận ba nguyên tắc.

Sau đó ba nguyên tắc đã được Quốc Hội Lập Hiến đưa vào Điều 11.1 Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa 1967:

“Văn hóa giáo dục phải được đặt vào hàng quốc sách trên căn bản dân tộc, khoa học và nhân bản.”

Theo nguyên tắc, nền giáo dục dân tộc chủ trương tôn trọng, bảo tồn và phát huy những bản sắn và giá trị tốt đẹp của dân tộc.

“Miền Nam coi trọng giáo dục nhân bản chủ trương lấy con người làm gốc, lấy cuộc sống của con người làm căn bản, không xem con người như một phương tiện hay công cụ “

Dân tộc tính trong văn hóa cần phải được các thế hệ biết đến, bảo tồn và phát huy, để không bị mất đi hay tan biến trong những nền văn hóa khác.

Nền giáo dục khai phóng chủ trương lấy tinh thần dân tộc làm gốc nhưng mở rộng tiếp nhận văn hóa văn minh nhân lọai.

Sẵn sàng tiếp nhận những kiến thức khoa học kỹ thuật tân tiến trên thế giới, tiếp nhận tinh thần dân chủ, phát triển xã hội, giá trị văn hóa nhân loại để góp phần hiện đại hóa quốc gia, làm cho xã hội tiến bộ để tiếp cận với văn minh thế giới.

Còn giáo dục nhân bản chủ trương lấy con người làm gốc, lấy cuộc sống của con người làm căn bản, không xem con người như một phương tiện hay công cụ phục vụ cho mục tiêu của bất cứ cá nhân, đảng hay tổ chức nào.

Triết lý nhân bản chấp nhận sự khác biệt giữa các cá nhân, nhưng không chấp nhận việc sử dụng khác biệt đó để đánh giá con người, cũng không chấp nhận kỳ thị hay phân biệt giàu nghèo, địa phương, tôn giáo, chủng tộc, chính kiến. Mọi người đều có giá trị như nhau và đều có quyền được hưởng những cơ hội bình đẳng về giáo dục.

Mục tiêu giáo dục Miền Nam

Từ triết lý căn bản chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã đề ra ba mục tiêu cho giáo dục như sau:

Giáo dục hướng vào việc phát triển toàn diện mỗi cá nhân theo bản tính và quy luật phát triển tự nhiên cả về thể chất lẫn tâm lý của mỗi người. Nhân cách và khả năng riêng của học sinh phải được lưu ý đúng mức, cung cấp cho học sinh đầy đủ thông tin và dữ kiện để học sinh tự phán đoán và lựa chọn. Không che giấu thông tin hay chỉ cung cấp những thông tin chọn lọc thiếu trung thực theo một chủ trương, một định hướng định sẵn.

Giáo dục giúp học sinh hiểu biết hoàn cảnh xã hội, môi trường sống và phương cách sống của người dân; hiểu biết lịch sử nước nhà, yêu thương xứ sở mình, biết tinh thần tranh đấu chống ngoại xâm bảo vệ tổ quốc; biết nét đẹp của quê hương xứ sở, những phẩm hạnh truyền thống của dân tộc; những phong tục tập quán có giá trị của quốc gia; tạo cho học sinh có tinh thần tự tin, tự lực, và tự lập.

Giáo dục giúp học sinh tổ chức những nhóm làm việc độc lập qua đó phát triển tinh thần cộng đồng và ý thức tập thể; phát triển óc phán đoán với tinh thần trách nhiệm và kỷ luật; tính tò mò và tinh thần khoa học; qua đó học sinh phát triển khả năng tiếp nhận những giá trị văn hóa văn minh của nhân loại.

Giáo dục giúp học sinh biết nét đẹp của quê hương xứ sở, những phẩm hạnh truyền thống của dân tộc

Nền giáo dục miền Nam không phải là một nền giáo dục thực dụng hướng nghiệp.

Mà dựa trên tinh thần khai phóng và nhân bản để đào tạo những con người biết suy nghĩ độc lập và có khả năng cần thiết để có thể tham gia vào sinh họat xã hội với tư cách là một con người tự do và tự lập.

Nó giúp cho học sinh biết rõ bản sắc dân tộc nhưng giải phóng họ thóat khỏi những trói buộc của tinh thần nô lệ do những định kiến, những suy nghĩ hay những phương cách giải quyết vấn đề có sẵn không còn phù hợp với hòan cảnh và thời đại.

Nói chung giáo dục miền Nam giúp học sinh năng lực cơ bản và tổng quát để khi cần có khả năng tham gia vào các sinh họat xã hội trong mọi tình huống và mọi ngành nghề.

Cải cách giáo dục ở Hoa Kỳ

Tác giả Hà Giang trong bài viết tháng 3/2014 trên báo Người Việt ở California viết:

“Tiêu chuẩn giảng dạy mới cho từng lớp được đặt ra với mục đích tối hậu là đào tạo được một lớp trẻ có khả năng suy luận sắc bén, nắm vững được các khái niệm tổng quát, biết cách diễn đạt và giải thích quyết định hay lựa chọn của mình, vì đây là vốn liếng cần có để chuẩn bị cho đại học, hay trở thành một nhân viên giàu khả năng.”

Trả lời phỏng vấn báo Người Việt, bà Sandra Gephart, hiệu trưởng trường trung học Arleta High School, giải thích:

“Sự thay đổi này đòi hỏi chúng tôi từ giờ sẽ không còn dạy học sinh những điều phải học thuộc lòng, học sinh sẽ không được chỉ hiểu qua loa một vấn đề, một bài học, mà phải hiểu một cách thấu đáo, và áp dụng những khái niệm mình đang học vào đời sống thực tiễn.”

“Các em sẽ được đào tạo để suy nghĩ như một nhà toán học thay vì chỉ biết làm toán”

David Nguyễn”

Ông David Nguyễn, giáo viên Toán thuộc ABC Unified School District được trích lời nói:

“Chúng tôi phải dạy các học sinh cách biết nhận định, phân tích, tạo ra giả thuyết, và tự mình kiểm chứng những giả thuyết đó. Các em sẽ được đào tạo để suy nghĩ như một nhà toán học thay vì chỉ biết làm toán, để phát triển nhận thức nhạy bén nhằm phân tích những vấn đề mà sẽ phải đối diện trong thế kỷ 21.”

Thời đại đã thay đổi, nước Mỹ đang mất dần khả năng thu hút nhân tài từ khắp nơi trên thế giới.

Trọng tinh thần thực dụng và muốn tiếp tục giữ địa vị cường quốc số một trên thế giới người Mỹ đã quay lại với căn bản giáo dục khai phóng và nhân bản.

Trở về căn bản

Việt Nam Cộng Hòa là một quốc gia vừa thu hồi độc lập, nghèo, lại chiến tranh, nên nền giáo dục tại miền Nam khó có thể so sánh được với nền giáo dục tại Mỹ và các quốc gia Tây Phương.

Nhưng chính nhờ được đào tạo căn bản nên sau 30/4 năm 1975 ngay thế hệ đầu tiên nhiều người Việt đã nhanh chóng xây dựng được sự nghiệp vững chắc trên đất Mỹ hay tại các quốc gia họ định cư.

Cũng nhờ được giáo dục lấy dân tộc làm gốc, đa số người Việt cũng luôn hướng về đất nước vận động cho nhân quyền tự do và dân chủ. Họ cũng ước mong một ngày không xa sẽ mang những kiến thức tân tiến và thực tiễn về phụng sự dân tộc.

Từ kết quả của nền giáo dục miền Nam và trong tình trạng khủng hoảng xã hội hiện nay, Việt Nam cần quay lại với triết lý giáo dục lấy dân tộc, khai phóng và nhân bản làm căn bản, để từng bước thoát khỏi khủng hoảng, đưa đất nước đi lên hòa nhập cùng văn minh nhân loại.

BÀI THƯƠNG KHÓ THEO THÁNH MATTHÊU

BÀI THƯƠNG KHÓ THEO THÁNH MATTHÊU

Linh Mục Giuse Nguyễn Công Đoan, S.J.

1. Nhận xét mở đầu.

1/ Trong Phụng Vụ Tuần Thánh hiện nay, ngày chúa nhật Lễ Lá, chúng ta đọc Bài Thương Khó theo Thánh Matthêu (năm A); thánh Mac-cô (năm B); thánh Luca (năm C). Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh thì năm nào cũng đọc Bài Thương Khó theo Thánh Gioan.

Cũng là một phần trong các sách Tin Mừng, nhưng người đọc không công bố theo công thức hàng ngày: “Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô…”, cũng không chào chúc : “Chúa ở cùng anh chị em”, mà xướng : “Cuộc Thương Khó Đức Giêsu Kitô theo thánh…” Công thức phụng vụ này nhiều khi làm chúng ta quên rằng Cuộc Thương Khó cũng là Tin Mừng, và cùng với Tin Mừng Chúa Phục sinh làm thành cốt lõi của Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô.

2/ Lời rao giảng đầu tiên của các Tông Đồ là công bố mầu nhiệm Chúa Giêsu chết và phục sinh. Trong các sách Tin Mừng, Chúa Giêsu loan báo cái chết và sự phục sinh của Chúa như hai thì của một biến cố duy nhất mà chúng ta gọi là “mầu nhiệm Vượt Qua”, Chúa Giêsu vượt qua cái chết để vào cõi sống và dắt chúng ta theo. Thời Trung Cổ, người ta thường vẽ Chúa Giêsu Phục Sinh bước ra khỏi mồ, một tay dắt ông Adong, một tay dắt bà Evà; hoặc một tay cầm thánh giá, một tay dắt ông Adong.

3/ Điều này giúp hiểu tại sao các sách Tin Mừng kể về cái chết của Chúa Giêsu với nhiều chi tiết diễn tả những đau đớn, nhục nhã nhưng không cay đắng, giận dữ, oán hận, trái lại rất điềm tĩnh, tế nhị và tinh vi nêu lên những nét mà những người xét xử, hành hạ, sỉ nhục Chúa Giêsu tưởng mình thắng thế, nhưng lại vô tình làm theo những gì đã được báo trước trong Kinh Thánh. Chính yếu tố “hợp như lời Thánh Kinh” này giúp ta nhìn ra ý nghĩa thật của cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu.

4/ Trong các sách Tin Mừng, trình thuật Cuộc Thương Khó và Phục Sinh của Chúa Giêsu nằm ở cuối sách, nhưng trong quá trình loan báo Tin Mừng thì đây là điểm khởi đầu. Những người nghe lời công bố Tin Mừng và tin nhận Đức Giêsu Nadarét là Đấng Kitô, là Con Thiên Chúa thì thống hối và chịu phép Rửa. Họ họp với các môn đệ thành cộng đoàn tín hữu đầu tiên “chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh,  và  cầu nguyện không ngừng” (Cv 2,42). Ở giai đoạn “giảng dạy” này các Tông Đồ mới đưa người tín hữu ngược dòng, tìm hiểu những lời giáo huấn và những việc Chúa Giêsu đã làm trước đó, dưới ánh sáng của biến cố chết và Phục sinh là biến cố làm cho người ta nhận ra Chúa Giêsu là Đấng Kitô, là Con Thiên Chúa, là Đấng Cứu Độ trần gian. Sách Tin Mừng thu tập các yếu tố đã khai triển trong quá trình giảng dạy này và trình bày “mạch lạc” (x. Lc 1,1-4), nghĩa là giúp cho người đọc thấy được cuộc sống, hành động và lời rao giảng của Chúa và cuộc Thương Khó cùng sự phục sinh của Chúa ăn khớp với nhau như thế nào.

5/ Vì thế trình thuật Cuộc Thương Khó và Phục sinh trong mỗi sách Tin Mừng cũng có những tính cách riêng và phải đọc trong mạch văn của mỗi sách Tin Mừng mới hiểu được; lý do là mỗi sách Tin Mừng có môt cách nhìn riêng về Chúa Giêsu, cách nhìn này chi phối sự lựa chọn tư liệu, thứ tự và cách thức trình bày, ăn khớp với nhau từ đầu đến cuối. Điều rất quan trọng là đừng “xào chung” bốn bài Thương Khó với nhau hay bài Thương Khó trong sách Tin Mừng này với các yếu tố trong toàn bộ sách Tin Mừng khác, vì sẽ tự gây những thắc mắc khó khăn. Xin minh họa bằng một thí dụ : trong sách Tin Mừng Mt 5,39 và Lc 6,29, Chúa Giêsu bảo: “Ai vả anh má bên này thì hãy giơ cả má bên kia nữa!”, nhưng trong sách Tin Mừng Gioan 18,22-23, khi tên thuộc hạ của Thượng Tế vả vào mặt Chúa để  trấn áp thì Chúa không đưa má bên kia mà lại hỏi anh ta: “Nếu tôi nói sai, anh chứng minh xem sai ở chỗ nào; còn nếu tôi nói phải, sao anh lại đánh tôi”. Nếu xào chung thì hóa ra Chúa không thực hành lời Chúa dạy môn đệ à? Trong MtLc, Chúa dạy về thái độ không trả thù và hóa giải bạo lực: suốt cuộc Thương Khó Chúa im lặng chấp nhận mọi sự hành hạ sỉ nhục, “để lại tấm gương cho chúng ta” như thánh Phêrô nói (x. I Pr 3,21-23);  còn trong TM Gioan, Chúa Giêsu  phải  “làm chứng cho sự thật” nên Chúa không cho phép ai dùng bạo lực trấn áp sự thật.

2. Những yếu tố giúp hiểu bài Thương Khó theo thánh Matthêu.

1/ “Ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ”

2/ “Em-ma-nu-en, Chúa ở cùng chúng ta

3/ “Người đã mang lấy các tật nguyền của ta và gánh lấy các bệnh hoạn của ta” (8,17).

4/ “Người đưa công lý đến toàn thắng và muôn dân đặt niềm hy vọng nơi danh Người” (12,17-21).

5/ “Khi Đức Giêsu giảng dạy tất cả những điều ấy xong…”

6/ “Đây là máu Thầy, Máu Giao ước, đổ ra cho muôn người được tha tội

7/ Ba lần Chúa Giêsu báo trước.

Như đã nói ở trên, quá trình khai triển sự hiểu biết về mầu nhiệm Chúa Giêsu Kitô đi từ mầu nhiệm Khổ Nạn – Phục sinh ngược lên, nhưng khi viết sách Phúc Âm thì lại đi xuôi từ đầu cuộc sống của Chúa Giêsu.

1-2/ Giêsu – Em-ma-nu-en: Truyền thống rao giảng Tin Mừng trong đó sách Tin Mừng Matthêu được viết ra, đã ngược lên tới thời thơ ấu của Chúa Giêsu, cho thấy Tin Mừng ơn cứu độ không chỉ bắt đầu từ lúc Chúa Giêsu chịu phép rửa (x. Cv 1,21-22), nhưng ngay từ khi thành thai trong lòng Đức Mẹ Đồng Trinh Maria (Tin Mừng thời thơ ấu), Người đã là Đấng Kitô, “Đấng Cứu dân mình khỏi tội lỗi của họ”. Tin Mừng thời thơ ấu theo thánh Matthêu cho thấy toàn thể mầu nhiệm Chúa Giêsu là sự thực hiện lời Thiên Chúa hứa cho tổ phụ Ap-ra-ham và Đavit. Chúa Giêsu vừa là điểm tới của lời hứa ban dòng dõi theo huyết nhục, vừa là khởi đầu mới để lời hứa được thực hiện qua một dòng dõi mới, không phải do huyết nhục nhưng do Thánh Thần. Khi sinh làm người, Chúa Giêsu đã là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” để thiết lập Giao Ước Mới, nhưng khi đã chết và phục sinh để nhận mọi quyền trên trời dưới đất, thì Chúa là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế” và muôn dân được vào trong Giao Ước bằng Máu của Chúa, nhờ chịu phép rửa và tuân giữ mọi điều Chúa truyền dạy.

3/ Người tôi tớ đau khổ: Chết và phục sinh là cách Chúa cứu dân mình khỏi tội lỗi của họ. Tại sao lại như vậy? Sách Tin Mừng Mt dẫn chúng ta vào mầu nhiệm này bằng cách vạch cho thấy đó là kế hoạch của Thiên Chúa đã được các ngôn sứ loan báo. Ngay sau bài giảng trên núi (công bố Luật của Giao Ước Mới, chúng ta sẽ trở lại điểm này), Chúa Giêsu bắt đầu chữa lành bệnh tật, vốn được coi là hậu quả của tội lỗi, Mt lý giải bằng cách cho thấy đó là ứng nghiệm lời loan báo về người tôi tớ đau khổ trong sách Isaia 53,4: “Người đã mang lấy các bệnh hoạn tật nguyền của ta”.

Bài ca “người tôi tớ đau khổ” (Is 52,13 – 53,12) được cả bốn sách tin Mừng vận dụng để giải nghĩa cái chết và sự  phục sinh của Chúa, mỗi sách vận dụng một cách khác nhau; Mt trích dẫn rõ ràng ở đây để cho thấy rằng khi chữa lành bệnh tật thì không phải Chúa xua trừ nó, nhưng là mang lấy vào thân mình. Mc theo phong cách khác trong nghệ thuật kể chuyện, không trích dẫn, nhưng kể rằng sau khi đưa tay chạm vào người phong cùi để cho người ấy được lành thì Chúa Giêsu không thể công khai vào thành nào được mà ở lại nơi hoang vắng (thế chỗ người phong cùi!) (Mc 1,45 và Is 53,3). Bài ca này còn chứa nhiều yếu tố khác sẽ được ứng nghiệm trong mầu nhiệm Chúa Giêsu chết và Phục Sinh. Lc dùng như một sơ đồ để viết trình thuật cuộc Thương Khó.

4/ Người tôi tớ hiền lành: Sau bài giảng về cung cách và số phận của ngươi được sai đi loan báo Tin Mừng (Mt 10), trong đó Chúa Giêsu đã nói đến sự bách hại và điều kiện để làm môn đệ, Mt tiếp tục kể việc Chúa Giêsu đi rao giảng, chữa lành và khi bị chống đối thì Chúa lánh đi và cấm người ta không được tiết lộ Người là ai. Để lý giải thái độ này của Chúa, Mt 12,16-21 trưng dẫn bài ca thứ nhất về người tôi tớ của Thiên Chúa trong Is 42,1-7. Hiền lành, khiêm nhượng, thinh lặng là cung cách của người tôi tớ “không yếu hèn, không chịu phục cho đến khi thiết lập công lý trên địa cầu”. Chúa Giêsu mời gọi “Hãy mang lấy ách của tôi và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái, gánh tôi nhẹ nhàng” (Mt 11,29-30). Cung cách hiền lành, khiêm nhường và thinh lặng sẽ thể hiện tuyệt vời trong cuộc Thương Khó, qua đó Chúa Giêsu sẽ thực hiện sứ mạng Thiên Chúa trao như được diễn tả trong bài ca: “Ta đã gọi ngươi vì muốn làm sáng tỏ Đức Công Chính của Ta. Ta đã nắm tay ngươi, giữ gìn ngươi và đặt làm giao ước với dân, làm ánh sáng chiếu soi muôn nước, để mở mắt cho những ai mù lòa, đưa ra khỏi tù những người bị giam giữ, dẫn ra khỏi ngục những kẻ ngồi trong chốn tối tăm” (Is 42,6-7). Mt sẽ cho thấy khi chết là lúc Chúa Giêsu đi vào phá ngục tù của cõi chết mà đưa những người bị giam giữ trong đó ra khỏi tù.

5-6/ Tin Mừng thời thơ ấu của Mt đã có nhiều ám chỉ, so sánh với chuyện Môsê và dân It-ra-en trong sách Xuất Hành. Cấu trúc phần thân của sách Mt gom lời giảng dạy của Chúa Giêsu thành 5 bài giảng, khiến chúng ta không thể không nghĩ tới Ngũ Thư (5 cuốn sách đầu của Cựu Ước) được coi là Luật Giao Ước do Môsê ghi chép. Bài giảng đầu tiên là bài giảng trên núi, trong đó Mt trình bày Chúa Giêsu như là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” để mở miệng dạy dỗ chúng ta: “Thấy đám đông dân chúng, Đức Giêsu lên núi. Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần bên. Người mở miệng dạy họ rằng…” (bản dịch CGKPV 1999 – đáng tiếc là lần tái bản năm 2008, nhóm “CGKPV” đã bỏ cách dịch này vốn theo sát bản Hy Lạp, làm mất đi một khía cạnh quan trọng của sự tương phản với cảnh trên núi Xinai như thấy sau đây).

Quang cảnh và cách Thiên Chúa nói trong sách Xuất Hành 19-20 thật là khác:

Ông Môsê đưa dân ra khỏi trại để nghênh đón Thiên Chúa; họ đứng dưới chân núi. Cả núi Xinai nghi ngút khói, vì Đức Chúa ngự trong đám lửa mà xuống; khói bốc lên như khói lò lửa và cả núi rung chuyển mạnh… Ông Môsê nói và Thiên Chúa trả lời trong tiếng sấm” (Xh 19,17-18).

Kết quả là: “Khi nghe tiếng sấm sét, tiếng tù và, khi thấy ánh lửa và núi bốc khói, toàn dân sợ hãi run rẩy và đứng xa xa. Họ nói với ông Môsê: “Xin chính ông nói với chúng tôi, chúng tôi mới dám nghe; nhưng xin Thiên Chúa đừng nói với chúng tôi, kẻo chúng tôi chết mất” (Xh 20,18-19).

Lời truyền dạy của Chúa Giêsu là Luật của Giáo Ước Mới. Trong bài giảng này Chúa Giêsu không bãi bỏ luật Môsê nhưng làm cho nó nên trọn vẹn.  Luật Giao Ước Mới được ghi trong lòng, trong tim nên phải tuân giữ tận đáy lòng, phải thực hành với cả tấm lòng chứ không phải chỉ bề ngoài (x. Gr 31,33-34 và Ed 36,25-27).

Mỗi bài giảng đều kết thúc với một câu chuyển tiếp giống nhau:

khi Đức Giêsu giảng dạy những điều ấy xong, đám đông dân chúng sửng sốt” (7,26);

khi Đức Giêsu ra chỉ thị cho mười hai môn đệ xong, Người rời chỗ đó” (11,1);

khi Đức Giêsu kể các dụ ngôn ấy xong, Người đi khỏi nơi đó” (13,53);

khi Đức Giêsu giảng dạy những điều ấy xong, Người rời khỏi miền Galilê” (19,1);

khi Đức Giêsu giảng dạy TẤT CẢ những điều ấy xong, Người bảo các môn đệ của Người rằng: “Anh em biết còn hai ngày nữa là  đến lễ Vượt Qua, và Con Người sắp bị nộp để chịu đóng đinh vào thập giá” (26,1).

Sau bài giảng trên núi, câu chuyển tiếp nêu phản ứng của dân chúng, cấu trúc tương tự trong sách Xuất Hành, nhưng nội dung khác hẳn:  “Khi nghe tiếng sấm sét, tiếng tù và, khi thấy ánh lửa và núi bốc khói, toàn dân sợ hãi run rẩy và đứng xa xa. Họ nói với ông Môsê: “Xin chính ông nói với chúng tôi, chúng tôi mới dám nghe; nhưng xin Thiên Chúa đừng nói với chúng tôi, kẻo chúng tôi chết mất” (Xh 20,18-19). Còn khi nghe Đức Giêsu thì “đám đông dân chúng sửng sốt về lời giảng dạy của Người, vì Người giảng dạy như một Đấng có uy quyền, chứ không như các kinh sư của họ” (Mt 7,28-29).  Dân ở núi Xinai nghe sấm sét thì sợ, xin Môsê nói, đừng để Thiên Chúa nói. Kinh sư giảng dạy Luật Môsê, chỉ lặp lại những gì đã nghe chứ không dám nói điều gì mới. Chúa Giêsu giảng dạy như một Đấng có uy quyền, hơn cả Môsê, vì Người là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” để “ngồi trên núi và mở miệng” rao truyền Luật Giao Ước Mới.

Sau bài giảng 2, 3, 4 câu chuyển tiếp nêu sự di chuyển trong không gian: rời chỗ đó, đi khỏi nơi đó, rời khỏi miền Galilê (bản dịch ở đây sát với bản Hy Lạp).

Sau bài giảng thứ năm, câu chuyển tiếp có thêm một yếu tố: TẤT CẢ, và không nêu di chuyển trong không gian, nhưng loan báo biến cố sắp xảy ra: “hai ngày nữa là lễ Vượt Qua và Con Người sắp bị nộp để chịu đóng đinh vào thập giá.” Điều Chúa đã báo trước 3 lần, bây giờ sắp xảy ra: hai ngày nữa.

Câu chuyển tiếp này gợi lại lời ở cuối sách Đệ Nhị Luật: “khi ông Môsê đã nói xong tất cả những lời ấy với toàn thể It-ra-en, thì ông bảo họ…” (32,45).

Nhưng lời Chúa Giêsu bảo môn đệ “hai ngày nữa là lễ Vượt Qua và Con Người sắp bị nộp để chịu đóng đinh vào thập giá” lại gợi nhớ việc lập Giao Ước trong Xh 24,1-8:

Thiên Chúa phán với ông Môsê: “Hãy lên với Đức Chúa…

Ông Môse xuống thuật lại cho dân mọi lời của Đức Chúa và mọi điều luật…

Ông Môsê chép lại mọi lời Đức Chúa…

Sáng hôm sau ông Môsê dạy sớm…Ông Môsê sai các thanh niên trong dân It-ra-en dâng những lễ toàn thiêu, và ngả bò làm hy lễ kỳ an tế Đức Chúa. Ông Môsê lấy một nửa phần máu đổ vào những cái chậu, còn nửa kia thì rảy lên bàn thờ.

Ông lấy cuốn sách Giao Ước đọc cho dân nghe. Họ thưa: “Tất cả những gì Đức Chúa đã phán, chúng tôi sẽ thi hành và tuân theo.” Bấy giờ, ông Môsê lấy máu rẩy lên dân và nói: “Đây là máu giao ước Đức Chúa đã lập với anh em, dựa trên những lời này”.

Trình tự diễn biến sau đó đối chiếu sát đoạn sách Xuất Hành:

Ngày thứ nhất trong tuần Bánh Không Men, các môn đệ đến thưa với Đức Giêsu: “Thầy muốn chúng con dọn cho Thầy ăn lễ Vượt Qua ở đâu?

Chiều đến, Đức Giêsu vào bàn tiệc với mười hai môn đệ… Rồi Người cầm lấy chén rượu… “Đây là Máu Thầy, Máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người được tha tội…”

Trong sách Xuất Hành, theo lời Thiên Chúa truyền, ông Môsê lên với Đức Chúa trên núi và “xuống thuật lại cho dân mọi lời của Đức Chúa”.

Trong Tin Mừng Mt 24,1-26,1 chúng ta gặp lại Chúa Giêsu trên núi, lần này thì núi có tên:

Chúa Giêsu ngồi trên núi Ôliu, các môn đệ tới gặp riêng Người và thưa: “Xin Thầy nói cho chúng con biết…”

Kết thúc: “khi Đức Giêsu giảng dạy TẤT CẢ những điều ấy xong, Người bảo các môn đệ của Người rằng: “Anh em biết còn hai ngày nữa là đến lễ Vượt Qua, và Con Người sắp bị nộp để chịu đóng đinh vào thập giá”

Khi Chúa Giêsu đổ máu mình ra và chết trên thánh giá, chính là lúc Chúa lập Giao ước bằng Máu của Chúa. Mặc dù trong bản văn Mt Chúa Giêsu chỉ nói Giao Ước, không có chữ “Mới” như trong bản văn Lc, nhưng đây là Giao Ước bằng Máu của Chúa chứ không phải bằng máu  các con vật như ở núi Xinai, và máu này lại đem ơn tha tội nữa, nên đương nhiên là Giao Ước Mới.

7/ Đến đây còn phải chú ý tới một điều trong thân sách Tin Mừng Mt, đó là ba lần Chúa Giêsu báo trước cuộc Thương Khó và Phục Sinh. Mặc dù trong bài giảng về thân phận người được sai đi loan báo Tin Mừng Chúa Giêsu đã nói đến điều kiện để theo Chúa, trong đó có sự bách hại và sự từ bỏ gia đình, Chúa vẫn chưa nói đến thập giá. Chỉ sau khi thánh Phêrô tuyên xưng “Thầy là Đấng Kitô Con Thiên Chúa hằng sống”, Chúa mới bắt đầu nói đến viêc Chúa phải lên Giêrusalem và bị giết chết và ngày thứ ba sống lại. Sau đó Chúa nói đến điều kiện để theo Chúa là “từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo”. Như vậy cuộc Thương Khó là con đường Chúa phải đi qua mới nhận được quyền năng của Đấng Kitô Con Thiên Chúa hằng sống. Sau khi Phục Sinh Chúa mới tuyên bố “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất… Thầy ở với anh em mọi ngày cho đến tận thế” (28,20).

Chết và phục sinh là cuộc tấn phong của Đức Kitô, là sự hiển linh trọn vẹn của “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”.

3. Chúa Giêsu tự ý đón nhận cuộc Thương Khó.

Cuộc thương khó không phải là một bất ngờ với Chúa Giêsu, vì Chúa đã báo trước ba lần, và khi  kết thúc hoạt động rao giảng, Chúa báo rõ: “Còn hai ngày nữa…” (26,1).

Phe lãnh đạo họp nhau âm mưu thủ tiêu Chúa Giêsu cho gọn lẹ, không để dân chúng can thiệp. Trong khi ấy Chúa Giêsu dùng bữa tại nhà một người từng bị phong cùi và đón nhận chai dầu thơm quí giá do một người phụ nữ trút lên đầu Chúa, coi như chuẩn bị mai táng Chúa.

Đavit được Sa-mu-en đổ nguyên một sừng dầu lên đầu để xức dầu cho ông làm vua (I Sm 16,1-13). Chúa Giêsu cũng sắp nhận mọi quyền trên trời dưới đất qua cái chết và phục sinh, nên Chúa chấp nhận được xức dầu.

Người ta nhân danh người nghèo để coi đó là phí phạm, thì Chúa nhận mình là một người nghèo đặc biệt “không có mãi đâu”.  Nghĩa tử là nghĩa tận, chỉ có thể mai táng Chúa một lần thôi. Người nghèo thì người ta luôn có bên cạnh. Cử chỉ của người phu nữ này đuợc gằn liền với Tin Mừng về cuộc khổ nạn và phục sinh của Chúa: “Tin Mừng này được loan báo ở đâu trong thiên hạ, thì người ta cũng sẽ kể lại việc cô vừa làm mà nhớ tới cô”. Trước khi Chúa lập bí tích Thánh Thể để chúng ta làm mà nhớ tới Chúa thì Chúa đã bảo “kể lại việc này mà nhớ tới cô”. Mt không cho chúng ta biết tên người phụ nữ này, chúng ta chỉ nhớ đến “người phụ nữ đã đổ dầu thơm lên đầu Chúa Giêsu để chuẩn bị mai táng”. Đứng trước cái chết của Chúa thì người ta chỉ có thể làm một điều: yêu mến và biết ơn. Người phụ nữ không tên này là khung hình để trống cho mỗi người ghép hình của mình vô.

Đối ngược với hình ảnh người phụ nữ yêu mến và quảng đại, Mt tả Giuđa, một người trong nhóm Mười Hai là những người thân tín nhất của Chúa, như một kẻ tham tiền đi bán Thầy.

Trong khi người ta âm mưu giết Chúa và một người trong nhóm 12 tiếp tay cho họ, thì Chúa Giêsu sai môn đệ đi dọn ăn lễ Vượt Qua. Trong bữa ăn này Chúa cho nhóm 12 biết là một người trong các ông sẽ nộp Chúa, rồi Chúa lập bí tích Thánh Thể như bí tích của Giao Ước Mới. Người ta mưu giết Chúa nhưng Chúa dùng bàn tay sát nhân của họ để hoàn thành sứ mạng của Chúa.

Chúa lại ra núi Ô-liu để chính thức đi vào cuộc khổ nạn từ chính nơi Chúa đã báo: hai ngày nữa! Chúa cũng chấp nhận cả sự phũ phàng là đêm nay đàn chiên của Chúa sẽ tan tác: nhóm 12 sẽ bỏ Chúa và Phêrô, người đã tuyên xưng “Thầy là Đấng Kitô Con Thiên Chúa Hằng Sống” sẽ chối Chúa nhanh hơn gà gáy. Chúa chấp nhận tất cả và Chúa báo cho họ biết là Chúa sẽ trỗi dậy và về Galilê trước họ. Hẹn gặp lại ở Galilê, nơi Ngài và các môn đệ đã bắt đầu, để lại bắt đầu.

Chúa đi vào cầu nguyện để thưa “VÂNG” với Chúa Cha. Một mình đối diện với Chúa Cha thì Chúa Giêsu không dấu nỗi buồn rầu xao xuyến: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được”. Nhóm 12 đã bỏ Chúa từ lúc này rồi. Ba người thân tín nhất cũng bỏ Chúa một mình, không thức nổi với Chúa. Ba lần cầu nguyện, Chúa chỉ làm một việc là nộp mình để thi hành ý muốn của Cha. Chúa đã chiến thắng nỗi “buồn đến chết được” để ra đón cái chết: “Đứng dậy, ta đi nào! Kìa kẻ nộp Thầy đã tới!”

Chúa Giêsu đã chiến thắng trong cầu nguyện rồi nên giờ đây Chúa hoàn toàn làm chủ tình hình: Chúa ra đón kẻ phản nộp và những kẻ đến bắt Chúa. Chúa vạch cho Giuđa thấy ông ta đang làm gì, Chúa ra lệnh cho môn đệ không dùng bạo lực, hãy để cho kế hoạch của Thiên Chúa thể hiện.

Chúa vạch trần sự ám muội của những kẻ đến bắt Chúa và cho thấy mọi toan tình của họ không qua khỏi kế hoạch của Thiên Chúa mà các ngôn sứ đã loan báo.

4. Phi pháp.

Luật Rôma cũng như luật Môsê đều không chấp nhận bắt người ban đêm trừ khi là bắt quả tang trôm cướp. Vì thế Chúa Giêsu bảo bọn thủ lãnh và sai nha đến bắt Chúa: “Tôi là một tên cướp sao mà các ông đem gươm giáo gậy gộc đến bắt tôi…” Rồi Chúa cho biết đó là “để ứng nghiệm lời chép trong sách các ngôn sứ.” Bài ca “người tôi tớ đau khổ” đã nói “Người bị liệt vào hàng tội nhân” (Is 53,12).

Không có luật pháp nào cho phép xét xử ban đêm, thế nhưng kinh sư và kỳ mục đã tụ họp sẵn tại nhà thương tế Cai-pha chờ sai nha giải Chúa Giêsu tới. Họ họp nhau không phải để xét xử, nhưng là “tìm lời chứng gian buộc tội Đức Giêsu để lên án tử hình”. Hôm trước họ đã họp nhau “bàn tính dùng mưu bắt Đức Giêsu” (26,4), bây giờ bắt được rồi thì phải tính bước tiếp theo:  “tìm lời chứng gian”. Họ thất bại thê thảm: “Nhưng họ không tìm ra, mặc dầu có nhiều kẻ đã đứng ra làm chứng gian”. Chúa Giêsu là Đấng Công Chính, trong sáng đến nỗi tìm chứng gian cũng không nổi!

Đến lúc Thượng Tế Cai-pha chứng tỏ bản lãnh của ông: tìm chứng gian không được thì ông phải dựa vào sự thật để kết án tử hình: “nhân danh Thiên Chúa hằng sống, tôi truyền cho ông phải nói cho chúng tôi biết: ông có phải là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa không?” Chúa Giêsu vẫn thinh lặng khi người ta tìm chứng gian. Bây giờ Thượng Tế đòi biết sự thật nhân danh Thiên Chúa hằng sống. Sự thật ấy chính ông ta phát biểu, trùng với lời tuyên xưng của thánh Phêrô lúc ở Galilê. Chúa Giêsu xác nhận lời ông nói và còn giải thích thêm bằng lời trong sách Da-ni-en 7,13. Thượng Tế hùng hồn minh họa lời phán xét bằng cử chỉ xé áo: “Hắn nói phạm thượng! Chúng ta cần gì nhân chứng nữa? Đấy, quý vị vừa nghe hắn nói phạm thượng, quý vị nghĩ sao?”

Họ liền đáp: nó đáng chết!” Thượng tế thành công một trăm phần trăm! Họ hả hê đắc thắng. Chúa Giêsu tiếp tục im lặng, mặc cho họ đấm đánh, khạc nhổ vào mặt và chế diễu. Người tôi tớ bị ngược đãi của bài ca thứ ba Is 50,4-9 đang ở trước mắt chúng ta: “Tôi đã đưa lưng cho người ta đánh đòn, đưa má cho người ta giật râu. Tôi đã không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ”.

5. Phêrô khóc lóc thảm thiết.

Phêrô đã thề thốt quyết liệt: “Dầu có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy. Tất cả các môn đệ cũng đều nói như vậy” (26,35). Nhưng khi Chúa Giêsu đã tự nộp mình thì “bấy giờ tất cả các môn đệ bỏ Người mà chạy trốn hết” (26,56).

Có một người tỏ ra lì hơn: “Ông Phêrô theo Người xa xa, đến tận dinh thượng tế. Ông vào bên trong ngồi với đám thuộc hạ, xem kết cuộc ra sao?”

Kết cuộc là thế này đây: đang khi trong đại sảnh, thượng tế dùng đến thủ đoạn cuối cùng để yêu cầu Chúa Giêsu xác nhận điều ông Phêrô đã tuyên xưng khi còn ở Galilê: “Lúc ấy ông Phêrô ngồi ngoài sân. Một người tớ gái đến bên ông và nói: “Cả bác nữa, bác cũng đã ở với ông Giêsu, người Galilê!” Ông liền chối trước mặt mọi người: “Tôi không biết cô muốn nói gì!”

Chuyện lặp lại nguyên văn với một người tớ gái khác. Lần thứ ba thì không phải một tớ gái mà là cả bọn đứng đó nhao nhao lên: “Đúng là bác cũng thuộc nhóm họ. Cứ nghe giọng nói của bác là biết ngay”.  Bị bắt thóp, hết đường chối, ông Phêrô cũng dùng biện pháp cuối cùng, đối xứng với thượng tế ở trong kia: “Bấy giờ ông liền thốt lên những lời độc địa và thề rằng: “Tôi không biết người ấy”.

Nhưng có một lời mạnh hơn lời thề độc địa của ông: “Lúc đó gà liền gáy. Ông sực nhớ lời Đức Giêsu đã nói: “Gà chưa kịp gáy thì anh đã chối Thầy đến ba lần”.

Tim ông tan chảy khi nhớ lại lời ấy: “Ông ra ngòai khóc lóc thảm thiết”.

6. Giuđa không biết khóc.

Cuộc họp ban đêm kết thúc với lời hô hoán: “Nó đáng chết!”. Nhưng chuyện không đơn giản, vì muốn giết được Chúa Giêsu phải qua tay tổng trấn Rôma là Philatô. “Trời vừa sáng, tất cả các thượng tế và kỳ mục trong dân bàn kế hại Đức Giêsu để giết được Người. Rồi họ trói Người lại và điệu đi nộp cho tổng trân Philatô”.

Phêrô theo vào trong sân để xem kết cuộc ra sao. Kết cuộc là ông chối Chúa ba lần trước khi gà gáy, rồi nhờ tiếng gà gáy ông nhớ lại lời Chúa Giêsu và “ra ngoài khóc lóc thảm thiết”.

Mt không cho biết Giuđa ở đâu trong đêm ấy.

Đến khi “họ trói Chúa Giêsu lại và điệu đi nộp cho cho tổng trấn Philatô” thì Mt cho chúng ta gặp lại Giuđa: “Bấy giờ Giuđa, kẻ đã nộp Người, thấy Người bị kết án thì hối hận”.

Làm sao bây giờ?

Giuđa không nhớ lại lời nào của Chúa, nhưng nhớ lại lời những kẻ đã ngả giá với ông và quay lại gặp họ: “Hắn đem ba mươi đồng bạc trả lại cho các thượng tế và kỳ mục mà nói: “Tôi đã phạm tội nộp máu người vô tội”.

Thật phũ phàng. Họ đâu phải là bạn hữu của Giuđa. Tiền trao cháo múc. Chúa Giêsu đã vào tay họ, tiền đã trao tay Giuđa: “Can gì đến chúng tôi. Mặc kệ anh.”

Đất sụp dưới chân Giuđa. Không còn ai, không còn gì trên mặt đất niú ông lại.

Giuđa bỗng thấy mình lơ lửng giữa trời và đất. Ông chọn ở lại trong tư thế này.

Sợi giây vĩnh viễn không bao giờ cho tiếng khóc bật lên từ cổ họng ông được nữa.

7. Philatô và máu người vô tội.

Các tổng trấn Rôma cai trị xứ Giuđa từ khi A-khê-la-ô con của Hêrôđê Cả bị phát lưu (năm 6 sau CGS), chẳng có vị nào yêu thương cái dân bị trị này. Họ chỉ đua nhau tàn ác và bóc lột. Philatô sau này cũng sẽ bị phát lưu vì quá tàn bạo.

Hôm nay lãnh đạo dân Giuđa lại tỏ ra phục quyền, dẫn một người đến xin ông Philatô xử. Philatô chỉ hỏi Chúa một câu: “Ông có phải là vua dân Do Thái không?” Chúa cũng chỉ trả lời một lần. Câu trả lời của Chúa nghe bí ẩn : “Chính ngài nói đó”.

Những kẻ tố cáo thì um sùm. Chúa Giêsu chỉ im lặng. “Tổng trấn Philatô rất đỗi kinh ngạc”. “Thật vậy, ông thừa biết vì ghen tị mà họ nộp Người.”

Bà vợ làm cho ông thêm lúng túng với lời nhắn: “Ông đừng nhúng tay vào vụ xử người công chính này, vì hôm nay, tôi chiêm bao thấy mình phải khổ nhiều vì ông ấy”.

Philatô phải đối diện với những kẻ đòi giết. Làm sao né vụ này đây. Philatô đề nghị tráo con bài:

Tráo mạng Giêsu, người vô tội bằng mạng “một người tù khét tiếng tên là Ba-ra-ba”. Philatô tính sai nước cờ. Ba-ra-ba là người của họ! Họ xúi dân (đám đông có mặt đó) hô “Ba-ra-ba!”. Philatô ra mặt bênh người vô tội: “Thế ông ấy đã làm điều gì gian ác?” Nhưng họ chỉ muốn giết, không cần lý do gì cả: “Đóng đinh nó vào thập giá”.

Ông Philatô thấy đã chẳng đươc ích gì mà còn thêm náo động, nên lấy nước rửa tay trước mặt đám đông mà nói: ”Ta vô can trong vụ đổ máu người này. Mặc các ngươi liệu lấy”.

Các thượng tế và kinh sư cùng đám đông hùa theo họ hiểu rất rõ cử chỉ của Philatô, và họ chấp nhận: “Máu hắn cứ đổ trên đầu chúng tôi và con cháu chúng tôi.” Philatô nhượng bộ hoàn toàn: “Bấy giờ ông thả Ba-ra-ba cho họ, còn Đức Giêsu thì ông truyền đánh đòn, rồi trao nộp Người để Người chịu đóng đinh vào thập giá.”

Có những điều nghịch lý cần nghiền ngẫm ở đây.

Các thượng tế và kinh sư phủi tay với Giuđa: “Can gì đến chúng tôi. Mặc kệ anh

Philatô rửa tay trước mặt họ: “Ta vô can trong vụ đổ máu người này. Mặc các ngươi liệu lấy

Câu hỏi của ông chứng tỏ ông biết và nhìn nhận Chúa Giêsu vô tội và đám đông hiểu ông muốn nói gì. Khi định đoạt về số tiền Giuđa quăng trả lại, các thượng tế và kinh sư biết đó là “giá máu”. Nhưng trong phút quyết liệt này họ nhận trách nhiệm: “Máu hắn cứ đổ trên đầu chúng tôi và con cháu chúng tôi”.

Họ không biết là máu Chúa Giêsu là “máu Giao ước đổ ra cho muôn người được tha tội”.

Cái vô lý là tất cả: Giuđa, Philatô, các thượng tế và kinh sư, đều nhìn nhận Chúa Giêsu vô tội nhưng vẫn bắt Chúa phải chết.

Giuđa nhìn nhận: “Tôi đã phạm tội nộp máu người vô tội

Philatô với “bàn tay sạch” trao Chúa Giêsu để chịu đánh đòn. [Đánh đòn là để cho mau chết trên thập giá]. “Rồi ông trao nộp Chúa Giêsu để Người chịu đóng đinh vào thập giá”.

Mt kể vắn tắt như thể lính đánh đòn rồi điệu đi đóng đinh không qua trước mặt Philatô nữa, nhưng câu tóm tắt vừa nêu lại cho thấy là hai hồi khác nhau và đều có sự chỉ đạo của Philatô: “Ông truyền đánh đòn rồi trao nộp để Người chịu đóng đinh vào thập giá.

Lính của tổng trấn thực hiện việc đổ máu.

Đấng vô tội thì im lặng như con chiên bị đem đi làm thịt, “Người chẳng hề mở miệng

Lính đem Chúa Giêsu đi đánh đòn, chế diễu dựa trên câu hỏi đầu tiên họ đã nghe từ miệng Philatô: “Ông có phải là vua dân Do Thái không?”

Chế diễu chán… chúng điệu Người đi đóng đinh vào thập giá”.

Thế là Giuđa nộp máu người vô tội, Philatô cũng nộp máu người vô tội.

Các thượng tế và đám đông hứng máu người vô tội cho mình và cho con cháu.

Mt 27,25 viết: “toàn dân đáp lại: Máu hắn cứ đổ trên đầu chúng tôi và con cháu chúng tôi”.  Trong lịch sử, người Kitô hữu thường hiểu rằng dân Do Thái bị tan tác vì đã đổ máu Chúa Giêsu. Nhưng Sách Thánh không cho phép giải thích như vậy, bởi vì Máu Chúa Giêsu là máu ban ơn tha tội như chính Chúa tuyên bố khi lập bí tích Thánh Thể. Thư gởi tín hữu Hip-ri cũng nói: “Anh em đã tới cùng vị trung gian Giao Ước Mới là Đức Giêsu và được Máu của Người rảy xuống, máu đó kêu lên còn mạnh hơn cả máu A-ben” (Hr 12,24). Máu A-ben kêu lên xin Thiên Chúa xét xử, còn máu Chúa Giêsu “mạnh hơn” vì đem lại ơn tha tội và đưa vào Giao Ước mới.

Ông Philatô thấy đã chẳng được ích gì mà còn thêm náo động” (27,25)

Cái “ích” mà Philatô tìm là cái gì? Ông muốn tha Chúa Giêsu hay muốn dân để cho ông yên? Nếu ông muốn tha “người công chính” vì “ông thừa biết vì ghen tị mà họ nộp Người” thì đề nghị của ông là sai lầm lớn. Nếu ông muốn bênh vực công lý thì ông chỉ có một đường là thi hành trách nhiệm và chấp nhận hậu quả. Ông cứ việc tuyên bố tha Chúa Giêsu vì không có lý do gì để buộc tội. Nhưng cái “ích” mà ông tìm là được yên thân! Khi quyết định “trao nộp Người để chịu đóng đinh vào thập giá” thì ông cũng đi vào cái vòng di chuyển của họ: “vì ghen tị mà họ nộp Người” cho ông và gào xin “đóng đinh nó vào thập giá”, đến lượt ông thì vì muốn yên thân “ông trao nộp Người để chịu đóng đinh vào thập giá” như họ xin.

Tất cả những điều nghịch lý, những cái biết và không biết Mt gợi cho người đọc trình thuật cuộc Thương Khó này tới đây đã cho thấy là những gì ngôn sứ Isaia mô tả trong bài ca “người tôi tớ đau khổ” (52,13 – 53,12) được thực hiện rất sát. Bài ca này làm rõ nghĩa cái chết có vẻ vô nghĩa của Chúa Giêsu. Đến đây có thể tạm ngừng để nghiền ngẫm bài ca của Isaia một lần trước khi đọc tiếp bài Thương Khó.

8. Chúa Giêsu trên thập giá.

Lính điệu Chúa Giêsu đi đóng đinh vào thập giá. Đang đi ra, chúng gặp một người Ky-rê-nê, tên là Si-môn, chúng bắt ông vác thập giá của Người”.

Mt không nói tại sao lại như vậy và chúng ta cũng đừng “chia trí” đi hỏi tại sao. Hãy nhìn hình ảnh Si-môn vác thập giá và để cho những lời khác trong sách Tin Mừng vang vọng trong tâm trí để hiểu Mt muốn truyền đạt điều gì.

Chúa Giêsu đã tuyên bố điều kiện để theo Chúa là vác thập giá. Những người đã theo Chúa bấy lâu nay đều đã bỏ chạy. Si-môn Phêrô, người thề thốt hùng hồn quyết liệt nhất thì đã chối Chúa nhanh hơn gà gáy và bây giờ đang ngồi đâu đó khóc lóc thảm thiết. Lính gặp một người trùng tên Simôn, chỉ có điều ông là người Kyrênê, bên kia Địa Trung Hải… tình cờ đi ngang bị lính gặp và bắt vác thập giá của Chúa.

Thập giá của Chúa?! Thật ra thì cả trình thuật đã cho thấy rõ là Chúa vô tội, mọi người trong cuộc đều nhận ra là Chúa vô tội. Vậy thì thập giá này là của ai? Của mỗi người chúng ta là kẻ có tội đấy. Chúa vác là để cho chúng ta có thể vác mà đi đàng sau Chúa. Vác thập giá một mình và đi một mình thì chẳng có nghĩa gì cả. Simôn vác thập giá là hình tượng người môn đệ đúng nghĩa Mt khắc họa cho chúng ta đấy.

Chúng cho Người uống rượu pha mật đắng (Tv 69,22) đến đây Mt kể những chi tiết gợi nhớ các thánh vịnh về người công chính bị bách hại: 69; 38; 22 và 18. Các thánh vịnh là lời kinh quen thuộc của các tín hữu, nên chỉ cần nêu lên những từ ngữ quen thuộc trong đó là người nghe liên kết được liền và thấy rõ Chúa Giêsu đang chịu số phận của người công chính bị bách hai. Lời sách Thánh ứng nghiệm đến từng chi tiêt.

Đóng đinh Người vào thập giá xong… Mt không nói đến hình dạng cây thập giá cũng không nói đến những chi tiết khác, chúng ta cũng đừng “chia trí”, cư theo sát những gì được kể cho chúng ta. Chúng đem áo Người ra bắt thăm. Rồi chúng ngồi đó mà canh giữ Người” (Tv 22,18-19).

“Người này là Giêsu, vua dân Do Thái”. Đó là bản án viết treo trên thập giá phía trên đầu Người. Thế là Philatô chiếu tướng ngược! Philatô đã hỏi Chúa Giêsu “Ông có phải là vua dân Do Thái không”; dĩ nhiên là ông nghe qua những kẻ nộp Chúa Giêsu cho ông.  Phe lãnh đạo và đám đông nhất định đòi đóng đinh người vô tội, mặc dù Philatô nuốn tha. Bị áp lực phải đổ máu người vô tội thì Philatô biến thành công trạng của mình, bằng cách viết bản án như thế. Ông có thể báo cáo thành tích là đã đóng đinh được vua dân Do Thái, mọi người đều có thể làm chứng cho ông! Chuyện sẽ đến tai Hoàng đế ở Rôma và Philatô sẽ được ghi công.

Một bất ngờ nữa trước mắt chúng ta: “Cùng bị đóng đinh với Người, có hai tên cướp, một tên bên phải, mỗt tên bên trái”. Điều Chúa Giêsu chất vấn những kẻ đến bắt Chúa thì bây giờ họ trả lời: họ đặt Chúa giữa hai tên cướp, coi như Chúa là tướng cướp. Hợp như lời Kinh Thánh: “Người bị liệt vào hàng tội nhân” (Is 53,12).

Kẻ qua người lại đều nhục mạ người”. Dậu đổ bìm leo. Những cám dỗ của Xatan trong hoang địa bây giờ trở thành khúc khải hoàn với một giàn hợp xướng nhiều bè: kẻ qua người lại, thượng tế và kinh sư, hai tên cùng bị đóng đinh. Điệp khúc là một biến tấu của câu “Nếu hắn là Con Thiên Chúa”. Nỗi đau xé lồng ngực Chúa Giêsu trên thập giá vì không chỉ Người, mà chính Chúa Cha bị nhục mạ, thách đố.

Âu cũng vì Ngài mà con bị người đời thóa mạ, chịu nhuốc nhơ phủ lấp mặt mày…

Lời thóa mạ làm tim này tan vỡ, con héo hắt rã rời,

Nỗi sầu riêng mong người chia sớt, luống công chờ không được một ai,

đợi người an ủi đôi lời, trông mãi trông hoài mà chẳng thấy đâu

Thay vì đồ ăn chúng trao mật đắng, con khát nước lại cho uống giấm chua”

(Tv 69,8.21-22) .

9. Thiên Chúa trả lời

“Từ giờ thứ sáu, bóng tối bao phủ cả mặt đất, mãi đến giờ thứ chín”

Lời mô tả này gợi cho chúng ta hình ảnh cuộc hiển linh của Thiên Chúa để phán xét:  “Ta sẽ truyền cho mặt trời lặn giữa trưa, và khiến cho mặt đất tối sầm giữa lúc ngày đang sáng” (Amốt 8,9)  và cũng là để cứu độ. Khi đưa dân Chúa ra khỏi Ai Cập, “Chúa giăng mây làm màn che phủ họ” (Tv 105,39; x.Xh 14,19).

Khi Thiên Chúa xuống trên núi Xinai để ban truyền Luật Giao Ước thì “Núi bốc lửa cao đến tận trời, trong bóng tói mây đen mù mịt. Đức Chúa phán với anh em từ trong đám lửa, anh em nghe thấy tiếng nói nhưng không thấy hình bóng nào, chỉ có tiếng thôi” (Đnl 4,11-12).

Cả ba khung cảnh này đều có thể giúp chúng ta hiểu về bóng tối giữa trưa. Thiên Chúa đến phán xét và cứu Con của Người đồng thời xác lập Giao Uớc bằng Máu của Chúa Giêsu. Thiên Chúa trả lời những kẻ thách đố: “Hắn cậy vào Thiên Chúa thì bây giờ Thiên Chúa đến cứu hắn đi, nếu quả thật Người thương hắn! Vì hắn đã nói: Ta là con Thiên Chúa”. Chính Thiên Chúa đã nói với Chúa Giêsu ở bờ sông Giođan và với các môn đệ ở trên núi.  Thiên Chúa hiển linh, lấy bóng tối che cho Con trong cuộc Vượt Qua này. Thánh vịnh 18 (17) diễn tả cảnh người công chính tin tưởng vào Chúa và kêu cầu khi “sóng tử thần dồn dập chung quanh…” thì:

Chúa nghiêng trời ngự xuống, chân đạp lớp mây mù, ngự trên thần hộ giá, trên cánh gió lượn bay: Chúa dùng bóng tối làm màn bao phủ, lấy mây đen nghịt làm trướng che thân…”(câu10-12)

Trong quang cảnh hiển linh ấy, Mt cho chúng ta nghe lời cầu nguyện của Chúa Giêsu qua thánh vịnh 22(21), là thánh vịnh diễn tả rất sát hình ảnh Chúa Giêsu bị treo trên thập giá. Lời cầu nguyện cũng bị xuyên tạc để chế diễu. Có kẻ đưa giấm lên cho Chúa uống: ứng nghiệm thánh vịnh 69,22. Thánh vịnh 18 vừa kể trên : “Lúc ngặt nghèo tôi kêu cầu Chúa… Từ Thánh Điện Người đã nghe tiếng tôi cầu cứu” (câu 7).

Đức Giêsu lại kêu lên một tiếng lớn rồi trút hơi” (dịch sát bản Hy Lạp). Tiếng thét này gợi lên tiếng của Thiên Chúa phán xét và tiếng của Con Thiên Chúa đã nát tan kiệt sức. Cha Con gặp nhau trong một tiếng thét chung, làm nên nét bi hùng nhất:

Khi Thiên Chúa hiển linh để bênh vực Đấng Ngài đã xức dầu: “Nổi trận lôi đình Ngài quát nạt”( Tv 2,5); “Chúa nổi sấm vang trời, Đấng Tối Cao lớn tiếng”( Tv 18,14).

Tv 38,9: “Bị suy nhược, nát tan kiệt sức, Tim thét gào thì miệng phải rống lên”.

10. Khai mở một kỷ nguyên mới

“Bỗng bức màn trướng trong Đền Thờ xé ra làm hai từ trên xuống dưới.”. Bức màn trướng trong Đền Thờ tức là bức màn ngăn nơi Cực Thánh, mỗi năm thượng tế qua bức màn này vào phía trong nơi Cực Thánh một lần ngày lễ xá tội (Xh 26,31-34; 36,35-36 và Levi,16). Thư Hip-ri, chương 9 diễn tả ý nghĩa của cái chết hiến tế của Chúa Giêsu: Nơi Cực Thánh trong Đền Thờ chỉ là hình bóng: “Thánh Thần tỏ cho biết là lối vào thánh điện chưa được mở bao lâu lều thứ nhất vẫn còn đó” (Hr 9,8). “Đức Kitô đi qua một cái lều lớn hơn và hoàn hảo hơn… Máu của Đức Kitô còn thanh tẩy lương tâm chúng ta… để chúng tra phụng thờ Thiên Chúa hằng sống. Đó là máu của Đấng đã tự hiến tế, làm lễ vật vô tì tích cho Thiên Chúa, nhờ Thần Khí hằng hữu thúc đẩy. Bởi vậy Người là trung gian của một Giao Ước Mới” (Hr 9,11-15).

“Đất rung đá vỡ, mồ mả bật tung, và xác của nhiều vị thánh đã an nghỉ được trỗi dậy”. Khi Thiên Chúa ngự xuống trên núi Xinai thì “cả núi rung chuyển mạnh” (Xh 19,18).  Khi Thiên Chúa xuất hiện để bênh vực người công chính: “Trái đất bỗng ầm ầm rung chuyển, chân núi đồi chấn động lung lay và Chúa nổi lôi đình” (Tv 18,8).

Bóng tối và động đất là dấu hiệu hiển linh của Thiên Chúa. Với cái chết của Chúa Giêsu, Thiên Chúa đã hiển linh để khai mở một ỷ nguyên mới, trong đó Thiên Chúa thật sự “ở với chúng ta”, không còn bức màn ngăn cách.

Cuộc hiển linh này là cuộc chiến thắng cả trong cõi chết: Chúa Giêsu đi vào cõi chết, tiêu diệt cả quyền lực của cái chết vốn ngự trị từ khi tội lỗi vào được thế giới loài người.

Mt sử dụng một ngôn ngữ hình ảnh và âm thanh rất hiện đại để gợi cho chúng ta cảnh Chúa Giêsu đi vào cõi chết và chiến thắng.

Chúng ta hãy mường tượng một cuốn phim, trong đó vị anh hùng phải tiêu diệt cho được một kẻ thù hung dữ vốn ẩn núp rất kỹ. Cuối cùng trên màn hình chúng ta thấy vị anh hùng một mình một súng thận trọng từng bước tiến về một ngôi nhà trong rừng sâu mà ta chỉ đoán được vì có một đốm lửa phía trước… rồi ta bỗng nghe tiếng súng nổ, lửa chớp qua khung cửa sổ vừa bật tung… rồi im lặng … vị anh hùng với họng súng còn bốc khói đứng giữa mấy cái xác chết, trong một góc, mấy ngượi bị bắt làm con tin đang ngóc đầu lên, vừa mừng vừa sợ.

“Thấy động đất và các sự việc xảy ra, viên đại đội trưởng và những người cùng ông canh giữ Đức Giêsu đều rất sợ hãi và nói: “Quả thật ông này là Con Thiên Chúa”. Những người ngoại đạo nhận ra ý nghĩa của các dấu hiệu. Mt 8, 5-13 đã kể chuyện một viên đại đội trưởng đến xin Chúa chữa một tên đầy tớ của ông và được Chúa khen: “Tôi không thấy một người nào trong dân It-ra-en có lòng tin như thế” và Chúa tuyên bố: “Từ phương Đông phương Tây, nhiều người sẽ đến dự tiệc cùng Ap-ra-ham, I-xa-ac và Gia-cop trong Nước Trời”. Lời ấy đã thành sự thật ngay lúc này. Họ đã nhận ra sự hiển linh của Thiên Chúa. Họ là những người đầu tiên nhận ra vị anh hùng đến giải cứu.

“Ở đó, có nhiều phụ nữ đứng nhìn từ đàng xa. Các bà này đã đi theo Đức Giêsu từ Galilê để phục vụ Người…” Nhìn hình ảnh này, chúng ta lại chợt hỏi, các bà đứng đây, tuy đứng nhìn từ đàng xa, còn những người môn đệ thân tín thì đâu hết rồi! Mt cho chúng ta thấy nốt quang cảnh người “tội nhân lâm cơn cùng khốn” mô tả trong thánh vịnh 38,12: “Con bị tai ương, người thân kẻ nghĩa chẳng tới gần, bà con ruột thịt cũng đứng xa”. Chúa Giêsu vô tội nhưng đã bị liệt vào hàng tội nhân và chịu tất cả thân phận của một tội nhân, “nhưng thực ra Người đã mang lấy tội muôn người” (Is 53,12).

Chiều đến, có một nguời giàu sang đến…”. Mt tiếp tục gợi cho chúng ta hình ảnh người tôi tớ đau khổ, bị liệt vào hàng tội nhân, chết giữa các tội nhân nhưng lại có phần mộ với người giàu có (Is 53,9). Ông Giô-xép người Arimathê, là người giàu sang mà cũng là môn đệ Đức Giêsu, lần đầu tiên xuất hiện trong sách Tin Mừng. Ông xin được xác Đức Giêsu, “lấy tấm vải gai sạch mà liệm và đặt vào ngôi mộ mới ông đã đục sẵn trong núi đá, dành cho ông.”

Thế là thập giá của Chúa thì ông Simôn vác nhưng Chúa chịu đóng đinh trên đó, còn mộ của ông Giô-xép thì chính ông lai đặt xác Chúa Giêsu vào đó, “lăn tảng đá lấp cửa mộ, rồi ra về. Thế là trọn vẹn: người đã chết và chịu mai táng vì đã mang lấy tội lỗi của chúng ta.

Một lần nữa Mt kéo chúng ta chú ý tới hai người phụ nữ cùng mang tên Maria, hai bà ngồi lại đó, quay mặt vào mộ. Hình ảnh chuyển tiếp sang cảnh tiếp theo.

Ta hãy tạm ghi nhận tên các nhân vật: Giô-xép và Maria. Mở đầu sách tin Mừng, Mt đã kể trong gia phả:  “ông Gia-cóp sinh ông Giuse, chồng của bà Maria, do bà mà Đức Giêsu sinh ra, gọi là Kitô”. Trong phần đầu gia phả có tên ông Giacop.  Ông Giacop cũng có một người con tên là Giuse, người đã bị bán sang Ai Cập, nhưng lại cứu được cả gia đình khỏi chết đói bằng cách đưa cả gia đình sang Ai Cập. Ông Giuse mới cũng có nhiệm vụ cứu “hài nhi và mẹ người” khỏi tay Herođê bằng cách trốn sang Ai Cập.

Khi Chúa Giêsu chết thì laị có một ông Giuse cứu xác Chúa khỏi bị quăng vào hố tập thể, mai táng đàng hoàng trong ngôi mộ của ông, có hai bà cùng tên Maria ngồi quay vào mộ.

Trong truyện Môsê thì Môsê được đặt trong thúng, thả giữa đám sậy trên sông Nin, có “người chị (tên là Maria) đứng đàng xa để xem cho biết cái gì sẽ xảy ra…” (Xh 2,1-5).

Cùng với hai bà ta hãy chờ xem cái gì sẽ xảy ra!

11. Chuyện bịp bợm cuối cùng, hồi một.

Giết được Chúa Giêsu rồi mà phe thượng tế và kinh sư vẫn chưa chịu ngồi yên. Họ đến xin Philatô cho niêm phong và đặt lính canh mộ. Họ gọi Chúa Giêsu là “tên bịp bợm” và họ cũng biết lời Chúa báo trước là “sau ba ngày Ta sẽ trỗi dậy”, họ sợ môn đệ “đến lấy trộm xác rồi phao trong dân là hắn đã từ cõi chết trỗi dậy. Và như thế chuyện bịp bợm cuối cùng này sẽ còn tệ hại hơn chuyện trước”.

Lối châm biếm của Mt thật là thú vị. Chúa bị bắt thì môn đệ chạy trốn hết, còn ai mà đến lấy trộm xác! Có một ông môn đệ “chui” bỗng dưng xuất hiện thì lại để đi xin xác mà chôn. Niêm phong và đặt lính canh để làm gì?  Để làm chứng là Chúa đã sống lại thật à?!

Hãy chờ xem ai là kẻ bịp bợm, đâu là chuyện bịp bợm truớc và đâu là chuyện bịp bợm cuối cùng?

12. Tin Mừng chiến thắng

Khi ngày thứ nhât trong tuần sắp bắt đầu”, ta lại thấy hai bà trùng tên Maria hôm trước ngồi quay vào mộ bây giờ đi ra mộ.

“Bỗng đất rung chuyển dữ dội; thiên sứ của Chúa từ trời xuống, đến lăn tảng đá ra, rồi ngồi lên trên, diện mạo Người như ánh chớp, và y phục trắng như tuyết”.

Đất lại rung chuyển dữ dội như khi Chúa Giêsu trút hơi. Lần này thì không thấy đá vỡ, nhưng có sứ thần của Chúa từ trời xuống lăn tảng đá lấp cửa mồ ra, rồi ngồi lên trên. Mt cho biết ngay nhân vật này là sứ thần của Chúa từ trời xuống, diện mạo như ánh chớp, áo trắng như tuyết, so với lúc Chúa Giêsu hiển dung: “dung nhan Người chói lọi như mặt trời và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng” thì thua xa. Vậy thì đúng là thiên sứ chứ không phải là chính Chúa Giêsu phục sinh. Sau khi Chúa Giêsu chiến thắng Xa-tan trong hoang địa thì “có các thiên sứ đến hầu hạ Người”, hôm nay Chúa Giêsu đã chiến thắng tử thần, vào trong vinh quang, thi thiên sứ đến với diện mạo như ánh chớp để long trọng mở cửa mồ và ngồi lên trên. Hình ảnh rõ ràng diễn tả sự chiến thắng, như trong đô vật, người chiến thắng ngồi lên trên kẻ thua. Hình ảnh gợi lên thánh vịnh 110,1: “Bên hữu Cha đây Con lên ngự trị, để rồi bao địch thù, Cha sẽ đặt làm bệ dưới chân con.”

Tình thế đảo ngược: “Thấy Người, lính canh sợ hãi run rẩy và ra như chết” (dịch sát).

Còn các bà thì được thiên sứ cho biết là “phe ta” và cho biết cái gì đã xảy ra trong ngôi mộ mà hôm trước các bà đã ngồi nhìn: “Phần các bà, các bà đừng sợ! Tôi biết các bà tìm Đức Giêsu, Đấng chịu đóng đinh. Người không có ở đây, vì Người đã trỗi dậy như Người đã nói. Các bà đến mà xem chỗ Người đã nằm, rồi mau về nói với môn đệ Người như thế này: Người đã trỗi dậy từ cõi chết, và Người đi đến Galilê trước các ông. Ở đó, các ông sẽ được thấy Người. Đấy, tôi xin nói cho các bà hay.

Thế là chuyện mà mấy ông thượng tế và Pharisêu lo sợ thì đã xảy ra, nhưng không phải như họ tuởng tuợng: Người không còn trong mộ. Đất sợ rung chuyển mạnh, lính sợ run lẩy bẩy, ra như chết; Thiên sứ từ trời xuống phục vụ: mở cửa, tiếp khách, trả lời, mời các bà vô nơi Người đã nằm mà kiểm chứng, truyền đạt mệnh lệnh. Mọi sự đúng như lời Chúa đã báo trước. Ngay trên đường ra núi Ô-liu, khi Chúa Giêsu báo trước việc các môn đệ tan tác thì Chúa đã bảo “sau khi trỗi dậy Thầy sẽ đến Galilê trước anh em.

Các bà vội vã rời khỏi mồ, vừa sợ hãi, vừa rất đỗi vui mừng, chạy về báo tin cho các môn đệ Đức Giêsu”. Đi báo Tin mừng thì lòng đầy vui mừng, phải vội vã chứ làm sao mà đi chậm được!

Nhưng Chúa Giêsu cũng nóng ruột không chờ được. Chúa đón gặp các bà, cho các bà niềm vui được thấy, được ôm lấy chân Chúa và được nghe chính Chúa truyền lại điều thiên sứ nói.

13. Chuyện bịp bợm cuối cùng, hồi cuối.

Trong khi các bà rất đỗi vui mừng chạy đi báo tin, được Chúa đón gặp, cho niềm vui trọn vẹn và xác nhận sứ mạng của các bà là đi báo tin cho các môn đệ, thì bọn lính canh cũng hoàn hồn, lo lắng chạy về báo cáo cho những người đã trao nhiệm vụ cho họ “biết mọi việc đã xảy ra”. Lại một phen lúng túng hơn nữa. Họ họp, bàn và có giải pháp: tiền! lại tiền! Công quỹ thiếu gì tiền! Người Việt nam thế kỷ 21 cũng nói: “Tiền nhà nước tiêu như nước”. Hôm trước họ cho Giuđa ba chục đồng bạc để nộp Chúa cho họ, hôm nay “họ cho lính một số bạc lớn, và bảo: “Các anh hãy nói như thế này: “Ban đêm đang lúc chúng tôi ngủ, các môn đệ của hắn đã đến lấy trộm xác”. Nếu sự việc này đến tai tổng trấn, chính chúng tôi sẽ dàn xếp với ông ấy và lo cho các anh được vô sự”.

Thế là vừa có tiền vừa được nhà cầm quyền che chở!

Thực tế hai ngàn năm trước lại phản ánh đúng bài vè trào phúng của người Việt Nam thế kỷ hai muơi mốt, khai triển câu châm ngôn “có tiền mua tiên cũng được”:

Ôi đồng tiền, là tiên là phật, là sức bật của con người, là tiếng cười của tuổi trẻ, là sức khỏe của người già, là cái đà của danh vọng, là cái lọng để che thân, là cán cân của công lý. Ôi đồng tiền: hết ý”.

Lính đã nhận số bạc và làm theo lời họ dạy. Câu chuyện này được phổ biến giữa người Do Thái cho đến ngày nay”.

Chỉ cần có một giọt trí khôn cũng đủ để biết thắc mắc: “Sao bọn lính có nhiệm vụ canh gác mà lại ngủ? Ngủ thì làm sao biết là môn đệ đến lấy trộm xác? Sao lính không hoàn thành nhiệm vụ mà không bị phạt? Sau này trong sách Công Vụ (ch.12,1-19), một toán lính 16 người canh ngục giữ ông Phêrô. Ban đêm thiên thần vào ngục giải cứu ông Phêrô. Đến sáng cửa ngục vẫn đóng, lính vẫn gác nghiêm chỉnh chứ không ngủ, nhưng không thấy ông Phêrô đâu! Cả 16 người đã bị vua Agrippa truyền xử tử.

Nhưng chuyện cho tiền bọn lính để ra quán rượu tung tin, cũng làm trọn thêm lời thánh vịnh:

Bọn ngồi lê đôi mách cứ gièm pha,

Quân rượu chè cũng đặt vè châm chọc” (Tv 69,13)

Thế là bằng một lối châm biếm thâm thúy, Mt vạch cho thấy ai là kẻ bịp bợm, đâu là sự bịp bợm cuối cùng. thượng tế và kỳ mục là giới lãnh đạo, có nhiệm vụ dạy dỗ dân, đã thành thầy dậy sự dối trá.

14. Gia phả tiếp tục với những người rao giảng sự thật.

Mt tiếp tục kể chuyện mười một môn đệ sau khi nhận được tin nhắn của Chúa Giêsu: “Về Galilê gặp lại”. Tin nhắn vắn gọn được tiết lộ cho chúng ta không nói rõ điểm hẹn. Nhưng các môn đệ biết điểm hẹn:  “các ông đến ngọn núi Đức Giêsu đã truyền”.

Trong truyện tổ phụ Ap-ra-ham, Thiên Chúa truyền cho ông: “Hãy đem con một yêu dấu của ngươi là I-xa-ac, hãy đi  đến xứ Mô-ri-gia mà dâng nó làm lễ toàn thiêu ở đấy, trên một ngọn núi Ta sẽ chỉ cho” (St 22,3). Trong cuộc tế lễ này Thiên Chúa đã liệu một con cừu để thế cho I-xa-ac, rồi Thiên Chúa phán với ông Ap-ra-ham: “Ta lấy chính Danh Ta mà thề: bởi vì ngươi đã làm điều đó, đã không tiếc con của ngươi, con một của ngươi, nên Ta sẽ thi ân giáng phúc cho ngươi, sẽ làm cho dòng dõi ngươi nên đông, nên nhiều như sao trên bầu trời, như cát ngoài bãi biển…” (22,16-17).

Hôm nay Con thiên Chúa, sau khi dâng mình làm hy lễ, chỉ thị cho các môn đệ về xứ Galilê, đến ngọn núi Chúa đã truyền. Hai ngọn núi này liên hệ gì với nhau? Cả hai đều không có tên, nhưng trước là ngọn núi Thiên Chúa truyền cho Ap-ra-ham, sau là ngọn núi Chúa Giêsu đã truyền cho các môn đệ.

Tới nơi các ông gặp thấy Chúa đang chờ, “các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi”. Chúa cũng chẳng cần sửa dạy thêm, nhưng:  “Chúa đến gần, nói với các ông”. Hôm Chúa lên núi để giảng (núi ấy cũng không có tên!) thì “Chúa ngồi xuống, các môn đệ tới gần, Chúa mở miệng dạy”, hôm nay thì “các ông bái lạy, Chúa đến gần, nói với các ông”.

Hôm nay Chúa không dạy các ông nữa mà truyền cho các ông đi dạy. Hồi sai các ông đi thực tập, Chúa bảo “không được đến với dân ngoại”, nhưng hôm nay vì Chúa đã được (Chúa Cha) trao mọi quyền trên trời dưới đất, nên Chúa sai các ông đi “làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ… và dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em”.

Còn Chúa làm gì? “Này đây, Thầy ở với anh em mọi ngày cho đến tận thế.

Chúa Giêsu là Thiên Chúa ở cùng chúng ta, Chúa đã nhận mọi quyền trên trời duới đất và ở với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế. Bọn lính được sai đi tung tin dối trá thì có tiền và có nhà cầm quyền bảo trợ. “Lính đã nhận số bạc và làm theo lời họ dạy”. Các môn đệ đuợc sai đi làm cho muôn dân trở thành môn đệ và dạy họ tuân giữ mọi điều Chúa đã truyền thì không có tiền, không được nhà cầm quyền bảo trợ, nhưng có “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”, Đấng đã nhận mọi quyền trên trời dưới đất trực tiếp ở với họ mọi ngày cho đến tận thế.

Hai ngọn núi.

Trên ngọn núi Thiên Chúa truyền cho Ap-ra-ham đem con lên tế lễ, Thiên Chúa hứa ban cho ông dòng dõi đông đúc và nhờ dòng dõi ông muôn dân sẽ được chúc phúc (22,16-18)

Trên ngọn núi Chúa Giêsu truyền cho các môn đệ lời Thiên Chúa hứa cho Ap-ra-ham được thực hiện. Chúa Giêsu vừa là dòng dõi Ap-ra-ham vừa là Con Thiên Chúa, đã đầu thai bởi quyền năng Thánh Thần và là Thiên Chúa ở cùng chúng ta, đứng trên núi này để sai nhóm Mười Một đi làm cho muôn dân thành môn đệ, bằng cách làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần và dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Người đã truyền cho các ông.

Thế là gia phả từ Ap-ra-ham tới Chúa Giêsu không ngừng lại nhưng tiếp tục và mở rộng đến mọi dân tộc nhờ quyền năng Thánh Thần, mọi dân tộc thành dòng dõi Ap-ra-ham nhờ phép rửa và giáo huấn của Chúa Giêsu.

Hai người phụ nữ cùng mang tên Maria.

Từ chương thứ hai, Mt đã gợi cho chúng ta đối chiếu với chuyện Môsê và dân It-ra-en bên Ai-cập trong sách Xuất Hành.

Pharaô ra lệnh cho hai bà đỡ phải trông chừng khi đỡ cho các bà mẹ Hip-ri, thấy con trai thì giết, thấy con gái thì cho sống. Hai bà kính sợ Chúa nên không làm theo lệnh vua. Vua hỏi thì cac bà nói là các bà mẹ Hip-ri khỏe lắm, bà đỡ chưa tới kịp thì họ đã sanh rồi. Hai bà trùng tên Maria, đi ra mộ, tới nơi thì mộ đã mở toang rồi và thiên sứ đón ở cửa báo tin: Người không còn ở đây vì Người đã trỗi dạy rồi. Cửa mồ đã mở, sự sống mới đã ra khỏi mồ rồi.

Khi Môsê bị bỏ trong đám sậy ở sông Nin, thì người chị tên là Maria đứng xa xa trông chừng xem chuyện gì sẽ xảy ra. Hai bà cùng tên Maria đã đứng xa xa nhìn xem khi Chúa Giêsu bị thả trong dòng nước của đau khổ và cái chết, rồi hai bà ngồi nhìn vào mộ. Khi thấy công chúa đã vớt em lên thì Maria chạy lại hỏi: bà có muốn con tìm cho bà một người mẹ để nuôi em bé này không. Công chúa đồng ý. Maria chạy về gọi mẹ ra… Hai bà Maria đi ra mộ để xem lại (Mt không nói là hai bà đem thuốc thơm để ưóp xác), được tin Chúa đã trỗi dậy, vội vã chạy về báo tin cho môn đệ.

Nghệ thuật kể chuyện của Mt ở phần này đạt tới đỉnh cao: không lý giải, nhưng gợi những hình ảnh để cho chúng ta chiêm ngắm và nghiền ngẫm mà cảm nếm ý nghĩa của những điều xảy ra, từ lúc Chúa đi vào cuộc Thương Khó cho đến lúc Chúa gặp lại các môn đệ trên núi, vì ngôn ngữ loài nguời không thể diễn tả hết được.

Giêrusalem, Mùa Chay 2014

Linh Mục Giuse Nguyễn Công Đoan, S.J.

ncongdoansj@gmail.com

Tác giả: Lm. Ng Công Đoan, SJ

(Giám đốc Giáo Hoàng Học Viện Thánh Kinh Gierusalem)

Cây bút chì ba phân

Cây bút chì ba phân

Vào mùa xuân năm 2000, tôi đi Los Angeles tham dự Đại Hội Giáo Dục Tôn Giáo.

Người cháu nội của ngài Mahatma Gandhi là một diễn giả. Tôi đã học được từ vị đó một bài học về bất bạo động mà tôi không bao giờ quên được.  Diễn giả minh hoạ bài học đó bằng một cây bút chì ba phân, nhỏ tí xíu.  Diễn giả đã trình bày đại khái như sau:

“Ngày kia tôi đi học về và tôi cầm cây bút chì trong tay.  Tôi quyết đoán cây bút chì đó quá cùn nhụt, không còn dùng được.  Vì vậy tôi ném đi.  Rồi tôi xin ông nội tôi một cây bút chì khác.  Tôi chắc chắn là ông sẽ cho tôi một cây bút chì khác còn mới tinh khôi.  Nhưng thay vì cho tôi một cây bút chì khác, ông đã hỏi tôi một số câu hỏi…

Ông muốn biết cây bút chì đã bị cùn nhụt như thế nào; tại sao tôi ném đi; tôi đã ném ở đâu?

Tôi không thể hiểu tại sao ông nội tôi đã hỏi tôi một số câu hỏi rối rít như thế về cây bút chì đã cùn nhụt.  Rồi ông bảo tôi đi ra ngoài kiếm cho bằng được.

Tôi thưa: ‘Nội ơi, xin Nội đừng bắt con kiếm tìm như thế trong đêm tối.’

Ông bảo: ‘Con sẽ kiếm được.  Và đây là cây đèn pin.’

Tôi đã phải mất nhiều giờ để tìm kiếm và cuối cùng, sau khi kiếm được, tôi đã đưa cho ông nội tôi.

Ông bảo tôi ngồi xuống và nói: ‘Giờ đây, Nội sẽ dạy con hai bài học quan trọng :

Bài học thứ nhất là ngay cả khi làm một việc đơn giản như cây bút chì, người ta đã sử dụng nhiều tài nguyên thiên nhiên trên thế giới.  Khi chúng ta ném những đồ dùng đó đi là chúng ta đang liệng đi những tài nguyên thiên nhiên trên thế giới và đó là một sự bạo hành đối với thiên nhiên.

Bài học thứ hai là trong xã hội sung túc hiện nay, chúng ta tiêu thụ quá ư thừa thãi những tài nguyên trên thế giới và chúng ta tước đoạt những tài nguyên thiên nhiên của những người khác ở đâu đó.  Họ phải sống trong sự nghèo đói.  Đó là sự bạo hành đối với nhân loại.

Linh Mục Vincent Travers, OP

From: ThiênKim & Nguyễn Kim Bằng gởi

=========================

Câu chuyện trên nhắc tôi về một lời nói của Mẹ Têrêsa Calcutta: “Hãy làm việc nhỏ với trái tim vĩ đại.” Và… xin mời quý vị xem một việc nhỏ trong video clip dưới đây:

httpv://www.youtube.com/watch?v=Hzgzim5m7oU

The Power of Words

Từ chuyện Nhật tố thói xấu Việt, xem lại “Tự phán”

Từ chuyện Nhật tố thói xấu Việt, xem lại “Tự phán”

Suy nghĩ về câu chuyện thời sự “tiếp viên Việt Nam bị tố mang đồ ăn cắp ở Nhật”, tiến sĩ Đoàn Lê Giang (ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM) viết: Trong tác phẩm “Tự phán”, Phan Bội Châu từng tỏ ra rất thán phục một người kéo xe ở Tokyo đã không tham lam, tìm cách trả đồ mà ông bỏ quên. “100 năm trước người Nhật đã không ăn cắp mà xây dựng nên một nước Nhật giàu mạnh. 100 năm sau người Việt Nam vẫn chưa hết được thói ăn cắp”.

Đã qua hơn thế kỷ, những câu chuyện “soi mình” và góc nhìn “tự phê phán” với khát vọng về một dân tộc văn minh, không còn bị xấu mặt ở nước ngoài vẫn còn thời sự. Dưới đây là bài viết “tinh thần phê phán của Phan Bội Châu trong Việt Nam quốc sử khảo”.

Phan Bội Châu, tiếp viên, ăn cắp, người Nhật
Sách của Phan Bội Châu

Trong Tự  phán ( Phan Bội Châu niên biểu ) có đoạn kể lúc mới đến Nhật (1905), Phan Bội Châu gặp một người phu xe Nhật tốt bụng. Người này thấy Phan là dân ngoại quốc, lần đầu đến xứ người, đang lạ nước lạ cái, thì hết sức giúp đỡ, vui vẻ  chở tới nơi đã định, tìm hộ người cần gặp, lại chỉ lấy giá xe đúng mức như mọi đám khác.

Nói về người, nhưng Phan không quên nói về mình.

Một nét tâm lý của chính Phan có liên quan trong dịp này được ông  ghi nhận:Trong lúc chờ người phu xe lo việc, ông rất băn khoăn. Người phu ấy chạy xuôi chạy ngược suốt từ 2 giờ tới 5 giờ. Tốn công quá !

Và ông liên hệ tới cách sống bon chen vô cảm của những người phu xe trong nước.Sau những vụ này tương tự, họ ăn vạ bắt chẹt đủ đường.

Ông nghĩ bụng,  “sợ nó cũng một nết như phu xe nước mình thì e cũng khốn nạn với vấn đề đòi tiền”.

Cách xử sự của người phu xe Nhật khiến Phan đi từ ngạc nhiên đến thán phục, ông tự  nhủ “Than ôi ! Trí thức trình độ dân nước ta  xem với tên phu xe Nhật bản,chẳng dám chết thẹn lắm hay sao !” (1)

Đọc xong đoạn này, nhiều người hẳn  giật mình.

Lâu nay nói tới Phan Bội Châu, ta nghĩ ngay tới một ngọn cờ vẫy gọi lôi cuốn  quốc dân hành động chống Pháp. Con người ông là của những sự việc hoành tráng. Nói như Phan Châu Trinh, ông “thích dùng quyền thuật, dám làm, nói lớn lối “.  (2)

Gắn liền với tên tuổi ông là những lời hô hào thuyết phục kêu gọi khích lệ.Theo logic thông thường, ta đoán cái chuyện thói hư tật xấu của dân Việt là một khái niệm xa lạ với Phan. Có biết thì ông cũng bỏ qua để  khỏi cản trở công việc!

Hóa ra chúng ta  nhầm.

Đọc lại tập Cao đẳng quốc dân (1928) tìm thấy trong đó những đoạn hết sức thống thiết.

Chứng bệnh hay giả dối là chứng bệnh chung của người nước ta mà ở trong lại có một chứng đặc biệt là chứng ái quốc giả …

Nào đám truy điệu,nào tiệc hoan nghênh, nào là kỷ niệm anh hùng, nào là sùng bái chí sĩ, chuông dồn trống giục, nam hát bắc hò, xem ở trong một đám lúc nhúc lao nhao, cũng đã có mấy phần người biết quyền nước đã mất thì tính mạng không còn, hồn nước có về thì giang sơn mới sống.

Nếu những tấm lòng ái quốc đó mà thật thà chắc chắn thì giống Tiên Rồng chẳng hạnh phúc lắm sao?

Nhưng tội tình thay, khốn khổ thay, người ưu thời mẫn thế chẳng bao nhiêu mà người rao danh thì đầy đường đầy ngõ.

Giọt nước mắt khóc nước vẫn ngày đêm chan chứa mà xem cho kỹ thì rặt nước mắt gừng;

tiếng chuông trống kêu hồn vẫn trong ngoài gióng giả mà nghe cho tới nơi thì rặt là chuông trò trống hội;

ngoài miệng thì ái quốc mà trong bụng vẫn là kim khánh mề đay;

trước mặt người thì ái quốc mà đến lúc đêm khuya thanh vắng thì tính toán những chuyện chó săn chim mồi.

Cha ôi! trời ôi! ái quốc gì? ái quốc thế ư? Đeo mặt nạ ái quốc để phỉnh chúng lừa đời, một mặt thời mua chuốc lấy tiếng chí sĩ chân nhân, một mặt thì ôm chặt lấy lốt ông tham bà đốc.(3)

Lúc này, tác giả đã về Huế an trí  nên việc những đoạn trên xuất hiện dưới ngòi bút của Phan là dễ hiểu. Ông già bến Ngự thôi không còn là một nhà hoạt động sôi nổi mà trở lại vai trò một  người trí thức. Và trong tâm trí của chúng ta, nó có vẻ là một cái gì lạc  điệu, không phải một Phan Bội Châu chúng ta hằng nghĩ.

Quay trở lại những cuốn như Việt nam quốc sử khảo(1908) thì thấy thật ra cách nhìn cách suy nghĩ có tính cách phê phán đã đến với Phan ngay trong lúc hoạt động ở Nhật. Không thấy phương diện này trong tư tưởng Phan Bội Châu tức là làm nghèo ông đi rất nhiều.

Tinh thần chính trực “ nhìn thẳng vào sự thật”

Chương thứ năm trong Việt Nam quốc sử khảo mang tên Sự thịnh suy của dân quyền và dân trí của nước ta.

Tiết thứ tư của chương bàn kỹ về dân trí mà Phan khái quát chung  bằng một từ “đáng thương“

(…) Vì vậy, giờ đây tôi xin kể những điều tai nghe mắt thấy để quốc dân cùng biết:

Hay nghi kỵ lẫn nhau, không làm nên việc gì cả, đó là điều rất ngu thứ nhất.

Tôn sùng những điều xa hoa vô ích, bỏ bễ những sự nghiệp đáng làm, đó là điều rất ngu thứ hai.

Chỉ biết lợi mình mà không biết hợp quần, đó là điều rất ngu thứ ba.

Thương tiếc của riêng, không tưởng đến việc ích chung, đó là điều rất ngu thứ tư.

Biết có thân mình nhà mình mà không biết có nước, đó là điều rất ngu thứ năm.

Dân được cường thịnh là nhờ có sự nghiệp công ích. Nay những việc đó, người nước ta đều không thể làm được.Hỏi vì sao không làm được, thì nói là vì không có tiền của. Sở dĩ không có tiền của là vì đã tiêu phí vào những việc vô ích xa hoa rồi. “ (5)

Nhìn chung cả tiết này, có thể thấy  thói hư tật xấu  mà Phan  nêu ra chưa phải toàn diện. Trong phạm vi 15 trang ( Tr 222- 235) của một cuốn sách 140 trang (163- 305), ông chỉ tập trung vào những thói xấu có hại cho công cuộc vậnđộng cách mạng. Đó là cách sống rời rẽ  sự nghi kỵ lẫn nhau, người nào cũng chỉ biết lợi riêng, không ai tin ai, không ai đoàn kết ai.

Phan Bội Châu, tiếp viên, ăn cắp, người Nhật
Phan Bội Châu, người khởi xướng phong trào Đông du, sang Nhật học những năm đầu thế kỷ 20

Tuy nhiên, trên đà suy nghĩ tự phán ông đã nhìn rộng ra để nói rằng xã hội ta chưa được tổ chức lại một cách hợp lý, cũng như trong sự vụ lợi, ông thấy rõ chúng ta còn dừng lại ở một tầm nhìn tầm nghĩ hạn hẹp, không sử dụng hết năng lực làm người của mình.

Một thói xấu cũng được Phan sớm để ý tới là  sự xa hoa. Tại sao ? Để hiểu điều này phải trở lại với hoàn cảnh của Phan lúc đó : Không có thực lực, khôngcó  tiền của.

Đọc Tự phán thấy ở Nhật có lúc các ông phải đi ăn mày. Trong khi đó thì trong nước nhiều người không biết dùng của cải vật chất vào việcgì.

Trong một văn bản được viết chủ yếu để tuyên truyền ông không quên nói cả chuyện hôn nhân, chuyện tang ma.

Nhìn vào những đám cưới phiền phức,  ông thấy ở đó chúng ta bị những lề tục tự phát trói buộc, rồi cứ bày đàn mà theo nhau “ nhà giàu thì hao phí tiền của, nhà nghèo thì phải cầm bán ruộng đất sản nghiệp” “làm một việc hao tổn vô vị,thật quái gở thay’’.

Hoặc nhìn vào những đám tang trong lúc người trong cuộc đau đớn thì chung quanh ăn uống linh đình, ông bảo “sao mà  nhẫn tâm thế, sao mà ngu ngốc thế”.

Đến như cái việc mà cho đến đầu thế kỷ XXI  này, dân ta vẫn coi là một cái gì thiêng liêng, không ai dám mang ra bàn, Phan Bội Châu cũng đề cập tới theo cách riêng của mình.

Đó là câu chuyện đua nhau làm cỗ thật to gọi là thờ cúng tổ tiên.

Ông thấy ở cách làm đó một sự phô trương giả tạo. Cái lý của tác giả rất cụ thể

“ Chưa một ai chết rồi mà còn có thể ăn thịt uống rượu được… Bày biện cỗ bàn, giết thịt bò dê gà lợn để  mời hàng xóm  họ hàng khách khứa  đến ăn uống no say mới thôi, như thế có phải là mượn tiếng người chết  để làm sướng mồm người sống hay  không ?

Thật là nhẫn tâm quá.

Huống chi  lúc cha mẹ đang sống, một chén cơm một bát canh cũng không cho ăn ; đến khi chết rồi thì lạilàm lễ tam sinh  tốn kém hàng vạn để báo hiếu ? Sao lại lừa dối người quáđến thế?

Tấm lòng và tầm vóc suy nghĩ

Cũng như khi hô hào kêu gọi, — khi nhắc lại  những thói xấu nói trên, Phan Bội Châu  có cái giọng rất thống thiết.

Ông dùng đến những chữ rất nặng, những chữ mà người khác nói ra sẽ lập tức bị buộc tội là khinh rẻ dân tộc chẳng hạn như ngu, ngu muội ( lắp lại tới 7 lần ).

Nhiều đoạn sau khi kể thói xấu, lại thường kết bằng một câu hỏi “ Sao mà ngu thế ?” “thật là ngu quá không thể hiểu được”.

Nên nhớ những đoạn đang nói ở đây là trích ra từ trong một cuốn sử.Chúng ta biết rằng nền sử học ở  ta đầu thế kỷ XX ít về số lượng mà đơn sơ về quanniệm,  do đó chất lượng non yếu kém cỏi, không đáp ứng được nhu cầu tự nhận thức của dân tộc.

So với cả trước cả sau, trong cái vẻ còn luộm thuộm vụn vặt, Việt nam quốc sử khảo đã mở ra một quan niệm mới về cách viết sử.

Phải có cả sử phong tục tập quán. Phải sớm viết sử về tâm lý người dân thường. Phải có cả lịch sử sự giao lưu và tiếp nhận  của ta với nước ngoài . Từ nhữngviệc Phan Bội Châu đã làm, người ta có thể rút ra những phương hướng làm sử như vậy.

Về việc sử dụng chuẩn mực khi phê phán, có đến mấy lần khi nêu ra thói hư tật xấu của người mình, Phan Bội Châu dùng đến những chữ như “quái gở thay “ “hoặc đặt câu hỏi “đạo làm người có nên như thế không? “.

Tức là khi xét thói hư tật xấu, ông xuất phát từ những nguyên lý nhân bản nói chung.

Tiêu chuẩn để ông xem xét  rồi từ đó bảo cái này tốt cái kia xấu không phải là những tiêu chuẩn riêng của Việt Nam mà là những chuẩn mực chung của nhân loại.

Với cách suy nghĩ như thế, phải nói Phan Bội Châu đã đạt tới cốt cách của một  nhà trí thức theo nghĩa hiện đại.

Mang so sánh dân mình với dân xứ khác là một điều  nhiều người ngần ngại,  vì rất dễ rơi vào dung tục thô thiển .

Nhưng  Phan Bội Châu đã làm và làm một cách thuyết phục.

Sau khi kể khá kỹ ở Nhật người ta tiến hành tang ma hiếu hỷ đơn giản mà chân thành ra sao, ông quay lại phê phán lễ nghi cổ hủ của người mình.

Vấn đề không chỉ là Phan Bội Châu có một quan niệm thông thoáng đối với các vấn đề đời sống.

Mà dường như ông còn muốn nói người ta không được phép sống theo thói quen, cứ xưa làm sao nay làm vậy rồi bảo rằng như thế mới là tự tôn tự trọng, là có bản sắc riêng.

Trong khi không viện dẫn tính độc đáo để biện hộ cho cách sống phiền phức mang nặng hình thức của dân mình, ông giả thiết rằng tất cả các vấn đề của đời sống có thể làm khác như cái cách mà chúng ta vẫn làm.

Và trước tiên cách sống trình độ sống của cộng đồng luôn luôn phải được xem xét khảo sát đánh giá lại.

Có thế mới có cơ thoát khỏi những tình thế bế tắc mà chúng ta thường xuyên phải đối mặt

Theo Vương Trí Nhàn (Văn hóa Nghệ An)

THÁNH PATRICK CHO NGƯỜI CHẾT SỐNG LẠI (2)

THÁNH PATRICK CHO NGƯỜI CHT SNG LI (2)

Nguồn: Spiritdaily.net

Thánh Patrick trong thời gian làm việc khoảng 20-30 năm, ngài là một “con người sắt”, một vị giám mục thực hành kỷ luật của một tu viện ở trong phần đất ngoại giáo. Ngài rửa tội cho hàng ngàn người dù là hoàng tử hay công chúa, có những công chúa trở nên nữ tu trinh trắng. Ngài biến đổi những kẻ thờ ngẫu tượng, thờ thần mặt trời và những thần ô uế để trở thành các tín hữu. Ngài xây dựng nhiều nhà thờ, đào tạo các linh mục để chăm sóc phần hồn cho mọi người. Đó là những công tác vĩ đại của một nhà truyền giáo đại tài.

Thánh Patrick gặt hái nhiều thành quả đặc biệt trong lịch sử. Ngài làm cho nhiều người được sống lại ít nhất là 33 người. Đó là phép lạ lớn lao.

Một ngày kia, Thánh Patrick đến một nơi gọi là Fearta. Bên sườn đồi có hai người phụ nữ được chôn cất ở đó. Thánh Patrick ra lệnh cho người ta đào đất lên, rồi trong Danh Thánh Chúa Giêsu ngài cho phép họ sống lại. Cả hai người đã trở lại đạo Công giáo và tuyên xưng Chúa Kitô là Chúa thật.

Cùng hai người phụ nữ, cả những người đứng xem cũng xin rửa tội. Hồ sơ ghi lại rằng thánh Patrick chẳng những cho họ sống lại mà còn cứu sống họ khỏi hai cái chết, một cái chết bình thường và một cái chết vĩnh cửu. Khi ngài làm phép lạ này thì ngài làm cho nhiều người khác sống lại phần tâm linh mà xin trở lại đạo.

Khi Thánh Patrick đến vùng Dublina thì ngài tiên tri rằng ngôi làng nhỏ này một ngày kia sẽ trở thành vĩ đại. Ngài làm cho có một suối nước vọt lên.

Ở một làng bên cạnh có một vị hoàng tử nhỏ là con của một vị vua vừa chết. Tin buồn ấy làm cho người chị của hoàng tử đang tắm trong một dòng sông mà vì buồn quá mà chết đuối. Xác của công chúa được tìm thấy bên bờ sông và được đem về đặt bên cạnh xác hoàng tử em. Hai ngôi mộ được chuẩn bị để đón xác chết theo như phong tục ngoài đời.

Trong lúc mọi người đau buồn vì hai cái chết thì người ta đồn rằng thánh Patrick cứu sống được những người chết. Thế là vị vua tên Alphimus, hứa rằng ngài, các hoàng thân quốc thích và toàn thành phố sẽ rửa tội vào đức tin mới nếu như hai người con của vua được cứu sống.

Thánh Patrick nhìn thấy đó là cơ hội để tìm được các linh hồn cho Chúa nên ngài đã cho hai người con của vua sống lại. Bằng cách cứu sống vị hoàng tử và công chúa, ngài đã cứu được linh hồn của hàng ngàn người khỏi bóng tôi của tà đạo và ngẫu tượng. Ngài cứu được xác họ mà còn ban cho họ cuộc sống vĩnh cửu nữa.

Sau khi vị hoàng tử và công chúa được sống lại thì các nhà thờ được xây dựng và họ mời thánh Patrick làm quan thầy của các thành phố. Rồi Thánh Patrick trở thành Tổng giám mục của vùng Ardmachia. Vì công chúa Dublina được sống lại nên thành phố ấy lấy tên là Dublin.

Trong nước Neyll, một vị vua tên Echu cho phép thánh Patrick nhận con gái cưng của vua là Cynnia làm một nữ tu, dù cho vua than van là sẽ không có con nối giòng dõi. Vị vua xin thánh Patrick là từ đó trở đi, không được bắt vua rửa tội nhưng phải xin cho vua được lên thiên đàng. Thánh Patrick đồng ý và đặt vấn đề ấy trong tay Chúa.

Sau đó một thời gian thì vua Echu hấp hối. Ông gửi một người thông tin đến gặp Thánh Patrick để xin ngài cho ông được rửa tội và để được lên thiên đàng. Vua nói với những người chung quanh là không được đốt xác ông ta cho đến khi thánh Patrick đến. Lúc đó thánh Patrick đang ở trong tu viện Saballum, cách dó hai ngày đường. Ngài biết tin vua sắp chết vì Chúa Thánh Thần báo cho ngài hay tin trước khi có người báo tin. Thánh liền đi tìm vị vua và khi đến nơi thì vua Echu đã chết. Thánh Patrick cho vua Echu sống lại, dạy ông giáo lý và rửa tội cho ông. Vị thánh xin vua Echu hãy kể lại những gì mà vua thấy ở hỏa ngục. Ông bèn kể rằng ở hỏa ngục có nhiều nỗi thống khổ và sự đau đớn cho người độc ác.

Vì thế những lời kể của vua trở nên tài liệu giảng thuyết cho các tín hữu. Vua Echu kể lại nhiều câu chuyện tuyệt vời là khi ông đến thiên đàng thì ông nhìn thấy tòa nhà mà thánh Patrick hứa ban cho vua. Tuy nhiên vị vua không thể vào nhà được vì ông chưa được rửa tội.

Thế rồi thánh Patrick hỏi vua Echu nếu vua muốn sống lâu hơn nữa ở thế giới này hay là đi về nơi đã được chuẩn bị cho ông ở trên thiên đàng. Vị vua trả lời rằng tất cả thế giới này chỉ là những làn khói trống rỗng so với những niềm vui thiên đàng. Thế rồi sau khi rước Mình Thánh Chúa thì vua ngủ và về với Thiên Chúa.

Rồi có một vị hoàng tử ở vùng Humestia được rửa tội. Về sau, vị hoàng tử này tỏ ra không tin về sự phục sinh. Sau khi thánh Patrick trích ra nhiều đoạn trong Thánh Kinh, vị hoàng tử nói rằng nếu như vị thánh Patrick có thể làm cho ông nội của ông ta đã chết nhiều ngày mà được sống lại thì ông ta sẽ tin về sự phục sinh mà thánh Patrick rao giảng.

Thánh Patrick đến ngôi mộ của người ông của hoàng tử và với cây gậy, ngài ra lệnh cho ngôi mộ được mở ra, rồi ngài câù nguyện. Một người đàn ông cao lớn ở trong mộ bước ra. Ông ta kể lại những sự thống khổ trong hỏa ngục rồi ông được rửa tội. Ông được rước Chúa Giêsu Thánh Thể và trở lại ngôi mộ cũ và ngủ yên trong Chúa. Sau biến cố ấy, tất cả những ai được chứng kiến hiện tượng sống lại đó thì đều tin tưởng tuyệt đối vào sự Phục Sinh.

Có một trường hợp là một nhóm người ghét Thánh Patrick và vu cáo cho thánh và những người đi chung với vị thánh là phạm tội ăn cắp, rồi kết án cho ngài và bắt họ phải chết.

Thánh Patrick liền làm cho một người chết ở mộ gần bên được sống lại và làm chứng cho ngài về sự thật của trường hợp này. Người chết sống lại và làm chứng sự thật vô tội của thánh Patrick và nhóm đồng hành, và đồng thời tố cáo tội vu khống của lũ người kia. Rồi người chết được sống lại đã chỉ cho mọi người biết nơi mà những món đồ được dấu kín. Từ đó những người kết án và muốn cho thánh Patrick phải chết thì đều được ơn hoán cải và xin rửa tội.

Khi Chúa cho các vị thánh đi truyền giáo và rao giảng về Phúc Âm thì Chúa luôn ban cho các ngài quyền năng giảng dạy, làm phép lạ và chữa lành. Tạ ơn Chúa!

Kim  Hà
19/3/2014

 

Theo Bước Chân Mẹ

Theo Bước Chân Mẹ

Tìm chân Chúa mãi chẳng ra

Nhìn chân Mẹ thế tà tà bước theo!

Một bà đã có 10 đứa con lại thêm cái bầu đã 6 tháng. Đời sống thanh bần trong một thành phố đông đúc, hàng ngày rất mệt nhọc vì bận rộn với những công việc thường nhật. Vào một hôm trời nóng nực, bà rất bực bội vì đứa con trai nhỏ 5 tuổi tên Tuân, cứ lẩn quẩn ngay bên. Bất cứ bà đi đâu hoặc làm gì nó cũng theo sát ngay sau lưng.

Bà kể lại, mỗi khi tôi ngừng tay và quay ra để làm việc khác là tôi dẫm lên chân nó. Đã ba bốn lần, tôi cố kiên nhẫn và bảo Tuân ra vườn hoặc vào trong phòng chơi để chơi. Tôi giận la:

– Sao con không ra ngoài vườn để chơi với các xích đu hoặc trượt cầu mà cứ quanh quẩn sau lưng mẹ khiến mẹ dẫm lên chân con có khổ không?

– Tuân chỉ mỉm cười ngây thơ nói, con không muốn ra ngoài, con thích ở đây với má cơ. Rồi Tuân tiếp tục theo sau tôi.

Lần thứ năm tôi dẫm lên chân Tuân, tôi đã hết kiên nhẫn nổi nên giận dữ la Tuân:

– Con hãy đi ra ngay ngoài chơi với các bạn hoặc các anh chị em con được không! Tuân ngước nhìn tôi với nét mặt sợ sệt, buồn rầu như tiếc nuối rồi cúi mặt bẽn lẽn lui ra. Nhìn con với lòng trắc ẩn, tôi vội gọi Tuân trở lại và qùy xuống nhẹ nhàng ôm và hỏi Tuân:

– Tại sao con cứ theo sau má như thế, để má dẫm lên chân làm con đau, má buồn và tội nghiệp cho con không? Tuân nhìn lên tôi với đôi mắt long lanh đầy yêu thương trừu mến nói:

– Má ơi! Má có biết không, thày giáo của con dậy con rằng hãy tìm kiếm Chúa Giê-su để bước theo chân Chúa, nhưng con không tìm thấy vết chân Ngài nên con mới tìm bước theo vết chân của má.

Tôi vội ôm và siết chặt lấy Tuân trong hai cánh tay tôi. Những giọt nước mắt khiêm tốn ăn năn đã trào ra từ tim tôi. Lời cầu nguyện chân thành đã phát xuất từ đáy lòng tôi để đa tạ ơn Thiên Chúa về cử chỉ thật ngây thơ nhắc tôi nhớ đến lời Chúa: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.(Mc 8,34) Một cử chỉ đẹp tuyệt vời của đứa trẻ mới 5 tuổi thức tỉnh lòng tôi. Nhắc tôi nhớ lại lời Chúa Giêsu nói với bà Mát-Ta: “Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi, Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị lấy đi.” (Lc 10,42)

– Lạy Chúa Giêsu yêu dấu, con ước ao được chiếm lấy Ngài và chỉ một mình Ngài để bước chân của con thành bước chân của Ngài để con của con bước theo!

Hoài Việt Nguyễn Vĩnh Tường

From: ngocnga_12 & Anh chị Thụ Mai gởi

 

BÊN KỶ NIỆM XƯA

BÊN KỶ NIỆM XƯA

Tác giả: Lm. Vĩnh Sang, DCCT

Trong mấy ngày vừa qua, tôi có dịp đi dự Lễ đặt viên đá xây dựng môt ngôi Nhà Thờ nhỏ vùng cao nguyên, ngôi Nhà Thờ của một cộng đoàn người anh chị em dân tộc K’Hor. Qua vài dòng lịch sử, cộng đoàn này đã được hình thành từ năm 1954, khi đường đi vào vùng đồi núi này chưa có, các Thừa Sai DCCT Canada đã phải đi nhờ trực thăng của quân đội Sàigòn lúc bấy giờ, đến nơi đây, ở lại với anh em dân tộc, loan báo Tin Mừng, khi ấy di chuyển quanh vùng phải dùng ngựa. Một cây Thánh Giá đã được cắm ở đỉnh đồi R’Lơm, một ngọn đồi bên sườn dòng suối Đạ Đờng ( suối lớn ) để làm nơi tụ họp thờ phượng Chúa mỗi Chúa Nhật. Dần dần cộng đoàn đông đảo lên, năm 1964, cha già Antoine Lapointe  đã dựng một ngôi Nhà Nguyện nhỏ bằng gỗ, các kèo cột bằng gỗ, mái tôn. Một cái chuông nhỏ treo ngay trước cửa Nhà Thờ, tiếng chuông king koong ngân theo các ngọn gió của núi rừng réo gọi con cái ngài đến, bọn trẻ con tròn xoe con mắt nghếch tai nghe tiếng chuông rung.

cha già Antoine Lapointe

( Ảnh chụp ngôi mộ cha Antoine Lapointe, DCCT, ngay bên cạnh Nhà Thờ R’Lơm ).

Ngày người ta trả lại ngôi Nhà Thờ cho Giáo Hội, ngày ngôi Nhà Thờ được mở cửa lại, ván sàn đã mục nát, ngôi nhà hôi hám lâu ngày không có bóng người, dơi chuột lấy làm nơi sinh sống, ngậm ngùi anh chị em dân tộc kéo đến sửa sang lại, làm sạch sẽ lại, trang hoàng lại để thờ phượng Chúa. Hơn 15 năm nữa đi qua, Chúa ban cho cộng đoàn ngày một đông đảo, không chỉ ở tại chỗ, anh chị em ở các nơi khác, xa hàng chục cây số cũng về nương tựa bóng Nhà Thờ này. Con số tín hữu tại chỗ vượt 2.000, con số tại Phi Tô, một làng cách 7 cây số cũng vượt 2.000. Cần phải sửa Nhà Thờ lại để đáp ứng phần nào nhu cầu.

Giữ nguyên hình ảnh ngôi Nhà Thờ cũ. Anh em Tu Sĩ đang phục vụ tại Giáo Sở này muốn giữ nguyên lại hình dáng ngôi Nhà Thờ cũ, một hình dáng đơn sơ mộc mạc, dong dỏng cao như những đồi những núi, mầu gỗ thô ráp như những bàn tay lao động giữa núi rừng. Anh em muốn giữ lại hình dáng ngôi Nhà Thờ cũ như giữ lại hình dáng của một tiến trình lịch sử cộng đoàn, những thế hệ đi qua đã in dấu ngôi Nhà Thờ này, sóng gió như chính ngôi Nhà Thờ này đã đi qua. Giữ lại hình dáng ngôi Nhà Thờ này cũng một phần vì lý do tài chính, khó có thể kiếm tiền để xây dựng những hình dáng sang trọng cầu kỳ hơn, Nhà Thờ sang thì các bàn ghế thiết bị cũng phải trọng, Nhà Thờ mộc mạc thì nội thất cũng mộc mạc như vậy thôi. Hơn nữa còn nhiều Giáo Sở chưa có Nhà Thờ, có những Giáo Sở vẫn còn phải mượn nhà dân để dâng Lễ.

( Ảnh chụp cha Sylvère Drouin, DCCT, và anh em dân tộc ở Fyan ).

Trong bài giảng Thánh Lễ, Đức Giám Mục nhắc mọi người “sẽ khó coi nếu Nhà Thờ sang trọng mọc lên giữa những ngôi nhà nghèo nàn của cộng đoàn chúng ta”. Điều mà vị Giám Mục theo đuổi ấy là xây dựng ngôi nhà tinh thần thờ phượng Thiên Chúa trước khi xây dựng ngôi nhà thờ phượng bằng gạch bằng đá.

Lễ khởi công đã xong, chia tay anh em về lại Sàigòn, một câu hỏi lớn vẫn luẩn quẩn trong tôi, câu hỏi của anh em hỏi nhau: “Làm sao kiếm đủ tiền để xây cho xong Nhà Thờ đây ?” Tôi cứ nhớ trong đầu hình ảnh cái chiếu trải ra ở giữa nhà, mấy chị em dân tộc ngồi vuốt từng đồng tiền xếp lại để đếm, tôi nhìn thấy toàn tiền lẻ phơi ra lạc lõng với diện tích của chiếc chiếu trải rộng. Xin phó thác cho Chúa mà thôi !

Lm. VĨNH SANG, DCCT, thứ bảy 22.3.2014

Năm mươi năm trôi qua, có những năm tháng ngôi Nhà Nguyện bị đóng cửa, 15 năm những người tin vào Chúa đi ngang ngôi Nhà Nguyện này lặng lẽ cúi đầu, không có ánh đèn đỏ quen thuộc chầu Chúa, không còn tiếng chuông kinh koong nghe lạ tai mỗi sáng mỗi chiều, cánh cửa Nhà Thờ khép lại nghe lòng thấy đìu hiu, Khoảng sân nhỏ bên ngôi Giáo Đường hoang vắng. Ngôi mộ của cha già Lapointe vẫn nơi đó, đã có lần người ta đào mộ ngài định lấy cắp xương vì nghĩ có thể giả làm hài cốt lính Mỹ, nhưng vẫn là một sự lạ lùng, sáng ra con cái đi qua thấy ngôi mộ bị đào xới nhưng chưa chạm được đến nắp quan tài, kẻ có ý không ngay lành đã bỏ đi từ bao giờ bỏ lại ngôi mộ ngổn ngang đất cát. Ông cụ nằm đó, canh giữ bao nhiêu năm nay ngôi Nhà Thờ bé nhỏ, canh giữ niềm tin cho con cái mình. Không có đèn chầu nhưng vẫn có… người chầu !

Tác giả: Lm. Vĩnh Sang, DCCT

NGỌN ĐÈN ĐỨC TIN

NGỌN ĐÈN ĐỨC TIN

TGM Ngô Quang Kiệt

Ta nhìn thấy được là nhờ có ánh sáng.  Đôi mắt là ánh sáng của thân thể.  Nếu mắt hư hỏng, thì dù bên ngoài trời có sáng trưng, ta vẫn không thấy gì hết. Người bị hư mắt sống hoàn toàn trong đêm tối.

Có nhiều thứ đêm tối.  Cũng như có nhiều loại mắt.

Có thứ đêm tối u mê dốt nát.  Ánh sáng văn hoá có đó.  Sách vở chữ nghĩa có đó.  Nhưng ta không đọc được.  Vì ta mù chữ. Trí tuệ ta thiếu đôi mắt.  Nên ta chìm trong đêm tối u mê.

Có thứ đêm tối phàm phu. Thiên nhiên có biết bao cảnh đẹp.  Nhìn cảnh hoàng hôn, bình minh, người họa sĩ có thể xúc cảm vẽ nên những bức tranh tuyệt tác.  Ta không cảm được vẻ đẹp của đất trời vì ta không có cặp mắt họa sĩ.  Nghe chim ca, nhìn lá rụng, thi sĩ có thể viết nên những vần thơ.  Còn ta, ta không nghe được sứ điệp của chim, không cảm được nỗi buồn của lá, vì ta không có tâm hồn, ánh mắt nhạy cảm của nhà thơ.

Có thứ đêm tối đức tin. Cuộc sống thần linh có đó.  Thiên Chúa hiện hữu đó.  Nhưng ta không thấy được nếu ta không có đức tin.

Đức tin là ánh sáng soi rọi vào thế giới vô hình, cho ta thấy được những điều mà người không tin không thấy.  Đức tin là ngọn đèn soi cho ta bước đi trên con đường tiến về cuộc sống vĩnh cửu.  Ngọn đèn ấy chỉ đủ sáng cho ta bước từng bước nhỏ.  Trong khi bầu trời vẫn tối đen để ta phải phó thác tin yêu.

Tin là một thái độ dấn thân.  Người mù đi ra giếng Silôê rửa theo lời dạy của Chúa Giêsu vì anh tin.  Anh có thể nghi ngờ: Rửa nước giếng có gì tốt đâu?  Nhưng anh đã đi vì anh tin lời Chúa.  Tin rồi anh không ngồi lì một chỗ nhưng dấn thân, lên đường và hành động theo lời Chúa dạy.

  • Tin là một hành trình ngày càng gian khổ.  Đức tin cần phải có thử thách.  Thử thách như những bài học ngày càng cao, càng khó bắt người tin phải có thái độ lựa chọn ngày càng dứt khoát hơn.  Ta hãy dõi theo hành trình của anh thanh niên bị mù.

Thoạt tiên, việc dẫn thân của anh khá dễ dàng.  Anh chỉ việc đi ra giếng Silôê rửa bùn đất mà Chúa Giêsu đã đắp lên mắt anh.  Kế đó anh phải đối phó với một tình hình phức tạp hơn:  Người ta nghi ngờ anh.  Người ta tò mò xoi mói anh.  Nhưng anh đã vững vàng vượt qua thử thách đó.  Anh dõng dạc tuyên bố:  Chính tôi là người mù đã ăn xin tại cổng thành.

Tình hình phức tạp hơn khi gia đình anh tỏ ra thờ ơ lãnh đạm.  Anh khá đau lòng và cảm thấy cô đơn.  Anh được sáng mắt.  Anh có niềm tin.  Đó là một biến cố quan trọng thay đổi toàn bộ đời anh. Thế mà những người thân thiết nhất là cha mẹ, anh chị em trong gia đình vẫn thờ ơ, lãnh đạm.  Để vững niềm tin vào Chúa, anh đành chấp nhận hành trình đơn độc.  Vì tin Chúa anh đành cam chịu sự thờ ơ lãnh đạm của những người thân.  Trung thành với niềm tin đã làm trái tim anh rướm máu.

Sự căng thẳng lên đến cực điểm khi anh phải đối đầu với quyền lực tôn giáo.  Họ mạt sát anh là sinh ra trong tội lỗi.  Họ tố cáo Chúa Giêsu đã lỗi phạm luật nghỉ ngày Sabbat.  Và sau cùng, họ khai trừ anh khỏi hội đường.  Đây là hình phạt nặng nề nhục nhã nhất đối với người Do Thái.  Bị gia đình từ bỏ.  Giờ đây lại bị xã hội chối từ.  Anh trở thành người cô đơn nhất.  Đây là thử thách lớn lao nhất. Nhưng anh vẫn vững vàng vượt qua.  Lựa chọn của anh giờ đây là dứt khoát.  Mất tất cả chỉ để trung tín với niềm tin của mình.

Đúng lúc đau đớn nhất Chúa Giêsu lại xuất hiện.  Như để khen thưởng cho đức tin kiên vững của anh.  Chúa Giêsu tỏ cho anh biết Người là Đấng Cứu Thế, là Con Thiên Chúa.  Lập tức anh quỳ sấp mặt xuống thờ lạy Người.  Hành trình niềm tin gian khổ thế là chấm dứt.  Anh đã gặp được Chúa Kitô.

Như thế niềm tin tăng dần theo với thử thách.  Thử thách càng cao, đức tin càng mạnh.  Thoạt tiên, anh coi Chúa Giêsu chỉ là một con người, một người nào đó trong muôn vạn người: “Một người tên là Giêsu đã xức bùn vào mắt tôi”.  Những câu hỏi của đám đông, những tra vấn của Pharisêu khiến anh suy nghĩ sâu xa hơn và anh nhận rằng: “Ngài thật là vị tiên tri”.  Khó khăn bắt bớ của giới chức tôn giáo thời đó lại khiến anh khẳng định: “Người từ Thiên Chúa mà đến”.  Và sau cùng anh đã nhận Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa.

Đức tin giống như hạt ngọc bị lớp đất bụi che phủ.  Những khó khăn thử thách giống như chiếc dũa, dũa sạch bụi đá.  Càng dũa nhiều, ngọc càng sáng.  Đức tin giống như ngọn đèn.  Thử thách gian khổ là dầu.  Càng có nhiều dầu gian khổ, đèn đức tin càng toả sáng, càng toả nóng.

Hành trình đức tin của anh thanh niên mù chính là khuôn mẫu cho hành trình đức tin của mỗi người chúng ta.  Anh thanh niên mù đã chiến đấu với những bóng tối vây phủ đức tin của anh.  Anh đã kiên trì và đã chiến thắng.  Anh đã ra khỏi tối tăm, gặp được Chúa Kitô nguồn ánh sáng.  Đời anh từ nay tràn ngập ánh sáng niềm tin.  Còn tôi, tôi đã chiến đấu thế nào với những thế lực bóng tối đe dọa đức tin của tôi?  Những bóng tối nghi kỵ, những bóng tối thù hận, những bóng tối độc ác, những bóng tối tự mãn kiêu căng, những bóng tối dục vọng tội lỗi.  Tôi có can đảm chiến đấu để phá tan những bóng tối đó không?

Anh thanh niên mù đã giữ ngọn đèn đức tin khỏi mọi bão gió, lại còn đổ dầu đầy bình, giữ cho đèn cháy sáng cho đến khi gặp Chúa Kitô.  Ngày Rửa Tội, Chúa đã trao cho tôi ngọn đèn đức tin.  Biết bao ngọn gió đã thổi ngang đời tôi, muốn dập tắt ngọn đèn đức tin của tôi.  Liệu tôi có giữ được ngọn đèn đức tin cháy sáng cho đến ngày ra gặp mặt Chúa?

Mùa Chay chính là cơ hội cho tôi khêu ngọn đèn đức tin cho sáng, đổ dầu đầy bình cho ngọn đèn đức tin cháy mãi.  Dầu, đó là sự ăn chay, cầu nguyện, là thống hối, là hoà giải, là chia sẻ cho người túng thiếu.  Xin Chúa Kitô là ánh sáng trần gian dẫn con đi suốt hành trình đức tin để con thoát mọi bóng tối, đến gặp Người là ánh sáng tinh tuyền, ánh sáng vĩnh cửu.

TGM Ngô Quang Kiệt

From: ThiênKim & chị Nguyễn Kim Bằng gởi