Lay Chúa, cứu vớt kẻ lạc đường …

Lay Chúa, cứu vớt kẻ lạc đường …

Chuacuuthe.com

VRNs (31.05.2014) – Sài Gòn – Tôi tin là trong đời Linh Mục, mình được Chúa ban cho có “cái duyên gặp gỡ” khá đặc biệt, đó là được gặp rất nhiều người Tân Tòng từ vô thần mà trở nên tín hữu, từ đảng viên mà thành con cái Thiên Chúa. Thoạt tiên không để ý, cứ nghĩ như chuyện tình cờ ngẫu nhiên, nhưng rồi khi mọi sự đã diễn ra, tạm gọi là xong xuôi đầu đuôi trọn vẹn, nhìn lại tất cả, tôi ngỡ ngàng buột miệng ồ lên một tiếng vui nhè nhẹ nhàng trong lòng: đúng là có cái duyên !

Bản thân tôi cuộc đời đến hôm nay vừa tròn 55 tuổi, sinh ra và lớn lên trong miền Nam trước biến cố 75, chẳng có dính líu gì đến Đảng CS, gọn một tiếng, tôi không thích, ghét nữa là khác, mà đúng hơn, phải nói là… sợ ! Ghét là ghét cái chủ thuyết CS ấy, và sợ là sợ cái lý lẽ “cứu cánh biện minh cho phương tiện” chắp vá vay mượn của Machiavelli, không từ một trò độc ác tàn bạo nào mà không làm để đạt cho bằng được mục đích của họ. Vậy chứ với con người đảng viên chung chung, tôi chỉ thấy ghê ghê, ngại ngại, cũng thấy tội tội họ nữa, vì hầu hết đã bị chiêu dụ cuốn hút vào với Đảng CS trong những cơn xoáy lịch sử kinh khủng của đất nước tôi trong hơn 80 năm vừa qua.

Ấy thế mà rồi, trong khoảng mấy mươi năm trở lại đây, khi tôi buộc phải sống chung với những người theo CS, phải chịu lấy cái ách của chế độ CS, tôi đã gặp gỡ được khá nhiều người CS trong những hoàn cảnh hết sức đặc biệt, đặc biệt đến nỗi tôi phải gọi đó là có “cái duyên” với họ.

Trong bài viết này, tôi chọn kể lại 3 trong số rất nhiều “cái duyên gặp gỡ” như thế…

Chuyện thứ nhất:

Tôi còn nhớ một kỷ niệm thật xúc động năm 2001. Dạo ấy, sau khi tôi chịu chức Linh Mục âm thầm từ năm 1998 ở trong Nam, gia đình anh chị ruột mãi sau mới biết, còn dòng họ nội ngoại tuyệt nhiên không có chuyện “vinh quy bái tổ” với lại tiệc tùng liên hoan chi cả, tôi xin Bề Trên cho về phục vụ Giáo Phận Bắc Ninh là quê nội tổ xa xưa của mình. Một lần có dịp xuôi từ Bắc Giang về Hà Nội, tôi cố gắng dò tìm cho ra những người họ hàng nội ngoại còn sót lại. Cuối cùng tôi gặp được anh Q. của tôi.

Anh Q. 72 tuổi, là con trai út của bác Cả, còn tôi lúc ấy 42 tuổi, là con trai út của ông Ba. Bước qua cổng ngôi biệt thự tương đối là “oách” giữa lòng thủ đô Hà Nội nhà dân san sát chen chúc, tôi ngờ ngợ anh Q. phải là một cán bộ “oách” tương xứng. Anh em gặp nhau lần đầu, chỉ mấy lời xác định tông chi trong họ là một già một trẻ cách nhau 30 năm, ôm chầm lấy nhau. Anh Q. tỏ ra ân hận, kể chuyện xưa, lúc anh mới 16 tuổi đã thoát ly gia đình năm 45 để theo Việt Minh, làm một chú vệ quốc quân. Ông nội chúng tôi biết được, vốn dĩ đã ghê sợ người CS với chủ trương Tam Vô ( vô tôn giáo, vô gia đình, vô tổ quốc ), đã bắt bác Cả phải đi lôi cổ anh con trai ham vui về, nện cho một trận gãy đôi cả cây phất trần. Vậy mà chứng nào tật nấy, anh Q. tôi lại bỏ nhà ra đi cho đến năm 54, nghe tin ông nội mất đã mấy năm, mới dám lò dò về thăm nhà dù lúc ấy đã là một anh… CA coi trời bằng vung !

Đến một lúc câu chuyện thân tình, anh Q. khóc nấc lên, nắm lấy bàn tay chú em họ nhỏ hơn đến 30 tuổi, nói một hơi trong nghẹn ngào:

“Giêsu Ma lạy Chúa tôi, đâu có bao giờ anh nghĩ trong họ tộc nhà mình lại có được một Linh Mục như em. Cuộc đời anh, anh thề với em, anh tuy là CA nhưng anh chưa hề làm chuyện gì sai với lương tâm. Em xem, anh bỏ Đạo theo Đảng, Đảng bố trí cho lấy vợ cũng đảng viên CA, nhưng lý lịch anh suốt đời vẫn cứ bị xếp hạng hai, họ không tin anh nên anh chỉ được làm chân CA bàn giấy… Giêsu Ma, lạy Chúa tôi, đấy, lâu lắm rồi bây giờ gặp em, anh mới dám gọi “Giêsu Ma”. Của đáng tội, biết đâu đấy em nhỉ, nhờ vậy mà anh không có dịp phạm tội ác chăng ? Anh hứa với em, em thông cảm cho anh, em là Linh Mục, em xin Chúa tha thứ cho anh. Bây giờ anh về hưu rồi, chỉ vài năm nữa thôi, sau khi mấy đứa con anh nó ổn định kinh tế chính trị cả rồi, không ngại trù giập gì nữa, anh xin trở lại với Chúa, em giúp anh nhé…”

Thật tiếc là tôi đã không còn có dịp gặp lại anh Q. Tối hôm ấy, bà chị dâu họ của tôi, vợ đảng viên CA của anh Q., khi biết tôi là “cố đạo” đã thay đổi hẳn thái độ, anh em tôi trò chuyện với nhau chỉ được khoảng nửa giờ mà bà ấy cứ đảo qua lượn lại, đuổi khéo tôi bằng cách thúc ông chồng uống thuốc rồi còn phải đi nghỉ.

Tôi ôm ông anh già khọm tội nghiệp lần cuối rồi ra về. Âu cũng là “cái duyên gặp gỡ”, vâng, một lần “gặp” duy nhất nhưng chắc là cũng “gỡ” được khá nhiều những nút rối dày vò ân hận trong tâm hồn một đảng viên CS trót lạc đường.

Chuyện thứ nhì:

Năm 2006, khi vừa phôi thai Mục Vụ Bảo Vệ Sự Sống của DCCT, Nhóm BVSS Sàigòn được thành lập với hơn mười chị em, trong số này có cô T. Cô T là người miền Nam, vì tế nhị tôi chưa bao giờ hỏi cô đầu đuôi chuyện vợ chồng cô đã theo Đảng như thế nào, chỉ biết cô tìm đến với Nhóm BVSS trong nước mắt của sám hối vì đã một lần phải theo chính sách Nhà Nước mà trót phá thai.

Gần như những chuyển biến trong tâm hồn cô T. xảy ra cùng một lúc và rất nhanh, rất mạnh. Cô T. được người quen rủ đi dự các buổi cầu nguyện với Thánh Kinh tại DCCT. Phần tôi thì lại thường được mấy anh chị đứng đầu nhóm này mời dâng Thánh Lễ cho họ vào buổi tối sau những buổi học hỏi và cầu nguyện. Nhiều lần trong các bài giảng, xoay đi xoay lại với nội dung bài Tin Mừng một hồi, thế nào tôi cũng đề cập đến thảm họa nạo phá thai tại Việt Nam, đặc biệt kinh khủng tại Hà Nội và Sàigòn.

Tôi tha thiết ngỏ lời xin anh chị em hiệp ý cầu nguyện, rồi cụ thể hơn, xin họ hãy là những “chiến sĩ BVSS” được Chúa Thánh Thần sử dụng trong một cuộc chiến không cân sức, giữa một bên là cả một lý thuyết sống vô thần, một chính sách kế hoạch hóa gia đình được hậu thuẫn bởi luật Nhà Nước cho tự do phá thai, và một bên là những người dân bình thường, với “vũ khí” trên tay chỉ là tràng chuỗi Mai Khôi, nỗ lực sống theo nền văn minh Tình Thương và văn hóa Sự Sống mà Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô 2 đã kêu gọi.

Cô T. và chắc nhiều người khác nữa, cuối cùng đã được Chúa Thánh Thần tác động. Họ trải qua một nỗi xót xa dữ dội khi nhận ra trong quá khứ họ đã bị Nhà Nước CS lừa dối tinh vi xảo quyệt suốt mấy chục năm liền. Chính cô T. và nhiều người phụ nữ khác đã kể tất cả cho anh em Linh Mục chúng tôi sự thật phũ phàng, họ đã ngu ngơ dại dột tin vào những lời tuyên truyền khéo léo, rằng phôi thai mới hình thành mấy tuần chỉ là… cục thịt, chỉ là giọt máu, loại bỏ đi thì chẳng có tội vạ gì mà sợ, ngược lại còn là có công với chính sách dân số, được thưởng, được khen vì biết “dừng lại ở hai con”. Hành vi giết người, giết chính con mình được che đậy dưới các mỹ từ “hút điều hòa kinh nguyệt”, “kế hoạch hóa dân số”… Mỉa mai là Trung Tâm Bảo Vệ Bà Mẹ và Trẻ Em lại là nơi phá thai đạt thành tích cao nhất !

Cuối cùng thì cô T. đến xin tôi cho cô được… xưng tội. Cô nói cô không phải là người Công Giáo nhưng thật sự sám hối vì đã trót phá thai. Tôi phải thuyết phục một hồi cô T. mới hiểu ra để bắt đầu xin học đạo để theo Chúa. Ngày cô được tôi đổ nước cũng là ngày cô chính thức trả thẻ Đảng.

Từ nay, trong việc BVSS, cô T. hăng hái và can đảm kỳ lạ. Luôn luôn cô tin là được chính Chúa Giêsu sai đi cứu một người sắp phá thai nào đó. Và thường thì cô chiến thắng vẻ vang. Dù vậy, cô vẫn khiêm tốn bảo đó là công của Mẹ Maria, Thánh Bổn Mạng kính yêu của cô, chứ đối với cô, chỉ là nỗ lực “đái công chuộc tội” mà thôi !

Khi đến chơi nhà dịp Tết, ông chồng của cô T. lúc ấy còn đang làm trong ngành du lịch, đã tự ý khất với tôi xin cho ông một thời gian nữa, ông cũng sẽ theo Chúa, ông bảo bây giờ bà xã cứ đi học Giáo Lý với cha thế nào thì về nhà thế nào cũng giảng lại cho ông, ông đã tin Chúa, nhưng xin chờ mấy năm nữa, về hưu, ông sẽ toàn tâm toàn ý theo đạo…

Chuyện thứ ba:

14053100

Một ngày đầu tháng 4 vừa qua, tôi được cha Thoại báo tin với một sự dè dặt chừng mực: nhạc sĩ Tô Hải muốn được rửa tội theo Chúa. Lễ An Táng thầy giáo Tân Tòng Phêrô Đinh Đăng Định vừa xong, dư âm về quang cảnh, bầu khí Thánh Lễ ở DCCT, và đặc biệt là bài giảng thấm thía của cha Nguyễn Thể Hiện, biết đâu tất cả những điều ấy làm cho cụ Tô Hải xúc động rồi nhất thời cụ nẩy ra ý xin theo đạo ?!? Anh em chúng tôi không dám võ đoán thêm, quyết định phải đến thăm tận nhà cụ, lắng nghe trực tiếp tâm sự và ước nguyện của cụ xem sao.

Thú thật là trước dịp này, tôi chỉ được nghe biết rất ít về cụ, một thoáng về cuốn “Hồi ký của một thằng hèn” gây chấn động dư luận trong và ngoài nước của cụ, thế thôi. Đi thang máy lên đến tầng 11, thoạt bước vào căn hộ chung cư của cụ, tự dưng tôi cảm thấy như bước vào nhà một người thân quen tin cậy nhau từ lâu. Cách tiếp đón của vợ chồng cụ thật niềm nở hồn hậu. Ngoài ra còn khá đông anh chị em thân hữu khác, đôi bên chào hỏi nhau ríu rít. Hóa ra được điện thoại của cha Thoại, gia đình cụ gọi người này người kia đến, cứ như là đón thượng khách !?!

Thế rồi ngay trong buổi sơ giao, tôi và cha Thoại đã thấy rõ Lòng Tin của cụ Tô Hải vào Chúa là chín chắn xác thực, không phải chuyện xúc động nhất thời, hời hợt bề ngoài. Chúng tôi có vội vàng lỡ hứa với cụ sẽ cử hành các Bí Tích gia nhập đạo cho cụ vào Thánh Lễ Xa Quê cầu nguyện cho Hòa Bình và Công Lý Chúa Nhật 27 tháng 4 tại DCCT. Cụ và mọi người mừng lắm… Đến khi về nhà bàn bạc với các Bề Trên mới thấy như vậy vội quá, cụ còn tương đối minh mẫn sáng suốt, sức có yếu, thở có khó, phải ngồi một chỗ, nhưng không phải là trường hợp nguy tử, rất cần có thêm thời gian giúp cụ những điểm căn bản của Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo.

Vậy là trong mấy tuần tiếp theo trong tháng 5, tôi tìm đến với cụ Tô Hải, lúc nào cũng rủ thêm mấy bạn trẻ Nhóm Fiat, có ý sẽ giúp cụ tiếp nhận những chân lý cốt yếu của Tin Mừng Chúa Giêsu. Tiếng là đến giúp Giáo Lý, nhưng của đáng tội, lần nào cũng vậy, tôi chỉ ngồi yên chăm chú lắng nghe, còn cụ thì thao thao bất tuyệt, lắm khi sặc nước bọt hoặc hụt hơi thở không kịp. Tôi thật sự tôn trọng với những giờ phút mở lòng bộc bạch chân thành của cụ, lịch sử đất nước như diễn lại với trận đánh Điện Biên Phủ tàn khốc năm 1954, với vụ án Nhân Văn Giai Phẩm bi thảm năm 1956, với bao nhiêu là máu và nước mắt, bất công và dối trá… Còn các bạn trẻ thì cứ tròn xoe mắt trước một chứng nhân lịch sử tự giới thiệu là quá… hèn vì “đã 62 năm sống trong lừa dối và đi lừa dối mọi người”, nhưng nay thì hết hèn, dứt khoát lột trần tất cả sự thật !

Thế rồi, như ơn Chúa soi sáng, đến đúng chỗ cần phải trình bày Giáo Lý Tin Mừng thì tôi tìm ngay được khoảng hở để nói chen vào. Một lần tôi nhẹ nhàng đề nghị cụ sáng tác một bài hát như ông đại úy Nguyễn Hữu Cầu đã sáng tác trong tù biệt giam bài “Khỏe re như con bò kéo xe”… Chỉ mới nghe có thế thôi mà cụ phản ứng nhanh và mạnh: “Nói thật với cha, điểm nào tôi cũng kính phục ông Cầu, chỉ có mỗi chuyện ông ấy bảo phải quên hết, tha thứ hết, không oán thù chi nữa, thì tôi dứt khoát không đồng ý ! Làm sao mà tha thứ được chứ, càng nghĩ càng giận, càng uất hận cái lũ tàn ác với nhân dân và phản bội tổ quốc chứ !”

Nói xong, cụ mệt vã ra, thở hổn hển và tay run lập cập. Tôi nhỏ nhẹ nói: “Cụ ơi, cụ theo Chúa Giêsu thì rồi cụ cũng sẽ sống, sẽ cư xử như Ngài đấy. Ngài bị kẻ dữ nó đánh, nó chửi, nó vu khống, nó kết án chết oan uổng, vậy mà cụ biết không, Ngài thưa với Cha của Ngài: “Xin Cha tha cho họ vì họ không biết việc họ làm”. Thưa cụ, Chúa Giêsu kịch liệt lên án tội ác nhưng Ngài lại không bao giờ lên án tội nhân. Vậy mai này cụ theo Chúa Giêsu rồi, cụ vẫn là cụ lâu nay, can đảm, dõng dạc, mạnh mẽ lên án tội ác, nỗ lực sống điều thiện để cái ác dần dần bị đẩy lui và không thể làm hại con người nữa, nhưng chuyện hận thù thì cụ sẽ buông rơi tất cả, chỉ hát Kinh Hòa Bình của ông Thánh Phanxicô mà cụ yêu quý tự ý chọn làm Thánh Bổn Mạng, thậm chí cụ còn cầu nguyện cho chính những bọn ác biết cải tà quy chánh…”

Có lẽ cụ Tô Hải lần đầu tiên nghe được một luận chứng kỳ lạ như thế, cụ bâng khuâng thinh lặng một lúc, các nếp nhăn trên khuôn mặt vị lão trượng 88 tuổi đời như giãn ra, ánh mắt như rạng lên sau cặp kính dày cộm, rồi cụ sực tỉnh nhớ lại tinh thần của Nguyễn Trãi, cụ móm mém đọc chậm rãi: “Lấy chí nhân mà thay cường bạo, đem đại nghĩa để thắng hung tàn”. Mà đây, Tin Mừng của Chúa Giêsu còn cao trọng hơn đường lối của bậc anh hùng xưa trong việc trị quốc, bình thiên hạ. Nếu tôi không nhìn lầm, cụ đã khóc ! Và tôi tin đó là giọt nước mắt của Metanoia…

Chúa Nhật 25.5.2014 vừa qua, đúng giờ hẹn, cụ Tô Hải có mặt, ngồi trên xe lăn, quần áo màu nâu nhạt rất nhã, thắt cà vạt chỉnh tề, được người thân đẩy vào trước gian kính Mẹ Hằng Cứu Giúp trong Nhà Thờ. Tôi vắn tắt giới thiệu cụ trước cộng đoàn rồi đích thân chuẩn bị các nghi thức tiếp nhận cụ. Sau bài giảng, Bí Tích Thánh Tẩy và Bí Tích Thêm Sức được long trọng cử hành, cha Vũ Khởi Phụng là người đỡ đầu cho cụ. Có thể nhận thấy hai cụ già cách nhau gần một con giáp, một Linh Mục Mátthêu, một Tân Tòng Phanxicô, từ nay sẽ trở thành đôi bạn vong niên cùng giúp nhau “sinh hoa kết quả” trong Đức Tin như lời chia sẻ Tin Mừng của cha.

Cha Lê Quang Uy (bên trái) đang ử hành các Bí Tích gia nhập Kitô giáo cho ông Phanxicô Tô Đình Hải.

Cha Lê Quang Uy (bên trái) đang ử hành các Bí Tích gia nhập Kitô giáo cho ông Phanxicô Tô Đình Hải.

Thay lời kết

Ấy “cái duyên gặp gỡ” trong đời tôi là vậy. Với bài viết này, tôi chỉ kể được có ba, còn khá nhiều những anh chị em, những người đàn ông đàn bà, trẻ có già cũng có, từng là đảng viên lão thành hoặc cốt cán mà tôi đã được Chúa cho may mắn gặp gỡ, nghe họ tâm sự, rồi đóng góp phần nhỏ bé của mình để giúp họ “thoát thai vào đời”.

Vâng, bản thân họ đã được ơn thiêng lạ lùng để nhận ra họ đang “lạc đường” giữa bao cảnh huống nhiễu nhương của cuộc sống. Không ai khác, mà chính là Chúa Giêsu đã đến với họ bằng nhiều cách thế kỳ diệu và bất ngờ, giúp họ hạnh ngộ, khám phá một chân lý sâu xa: chính Ngài là Đường, rồi Ngài lại còn là Bạn Đường bước đi tay trong tay, ngay kề bên. Dù đang ở độ tuổi nào, không hề mất trí nhớ nhưng họ lại sẵn sàng quên hết quá khứ thương đau, lắm khi đầy tủi hận, để làm lại từ đầu, để chập chững đi lại từ đầu với niềm vui của một trẻ thơ an nhiên.

Đối với riêng cụ Phanxicô Tô Hải, cụ đã có đến hai lần đổi đời, lần đầu để không còn là “một thằng hèn”, và lần sau này để không còn là “một kẻ lạc đường”.

Cuối cùng, tôi xin chép lại lời bài ca cụ Tô Hải đã sáng tác dâng tặng Chúa Giêsu chỉ mấy ngày trước khi được Thánh Tầy…

LẠY CHÚA, CỨU VỚT KẺ LẠC ĐƯỜNG

Lạy Chúa Giêsu lòng lành bao la sáng mãi trên Trời,
Thương con, đây một kiếp người lạc lối giữa cõi thế mất hết niềm tin.
Giờ đây bên chân Chúa, con xin được nguyện cầu,
Quên đi hận thù, để cho bóng tối sẽ sớm được xua tan
Trên quê hương Việt Nam của chúng con…

Bài Thánh Ca vang vọng về nơi nơi có Chúa trên đời,
Mong sao qua một quãng đời tội lỗi, Chúa chứng giám tiếng hát niềm tin.
Lời ca dâng lên Chúa mang theo lời nguyện cầu,
Mong trong cuộc đời niềm tin nơi Chúa, cái ác phải tan đi
Trên quê hương Việt Nam của chúng con. Amen.

( Phanxicô Tô Hải, 20.5.2014 )

Lm. LÊ QUANG UY, DCCT
140531002

Shangri-La : Trung Quốc lên án Mỹ-Nhật khiêu khích (RFI)

Shangri-La : Trung Quốc lên án Mỹ-Nhật khiêu khích

Trưởng đoàn Trung Quốc tại Đối thoại Shangri-La, tướng Vương Quán Trung (Wang Guanzhong).

Trưởng đoàn Trung Quốc tại Đối thoại Shangri-La, tướng Vương Quán Trung (Wang Guanzhong).

AFP

Thanh Hà / Tú Anh

Phó tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc Vương Quán Trung (Wang Guanzhong) cực lực lên án bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ và thủ tướng Nhật Bản đã có lời lẽ « khiêu khích », khi hai nhân vật này tố cáo Bắc Kinh « gây bất ổn » trong vùng Biển Đông và Hoa Đông. Thực sự là Vương Quán Trung đã quên lời cam kết của Tập Cận Bình.

Tại Diễn đàn An ninh khu vực Đông Nam Á Shangri-La (Singapore), quy tụ hàng trăm nhân vật lãnh đạo chính trị, ngoại giao, quân sự và chuyên gia quốc tế, bộ trưởng quốc phòng Mỹ Chuck Hagel trong bài phát biểu ngày hôm qua 31/06 tuyên bố Hoa Kỳ không chấp nhận « thái độ gây bất ổn » của Trung Quốc và « sẽ không điềm nhiên tọa thị » nếu trật tự thế giới bị đe dọa. Hoa Kỳ « mạnh mẽ chống lại bất kỳ hành động đe dọa, cưỡng chế, uy hiếp bằng vũ lực để khẳng định yêu sách », bộ trưởng Quốc phòng Mỹ nhấn mạnh.

Trước đó, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe kêu gọi « mọi quốc gia phải tôn trọng luật pháp », khi nói về tình hình căng thẳng ở Biển Đông và Hoa Đông, một cách để gián tiếp để lên án Trung Quốc lấy sức mạnh đè người.

Hôm nay, trong phần phát biểu của phái đoàn Trung Quốc, trưởng đoàn Vương Quán Trung, Tham mưu phó quân đội Trung Quốc đáp trả một cách giận dữ :  « Hai ông Chuck Hagel và Shinzo Abe có những lời tuyên bố không thể chấp nhận được, là một hành động khiêu khích có phối hợp để thách thức Trung Quốc ».

CHA MẸ RẤT CẦN ĐƯỢC BIẾT CHỨNG BỆNH ADHD

CHA MẸ RẤT CẦN ĐƯỢC BIẾT CHỨNG BỆNH ADHD (Attention Deficit Hyperactive Disorder.)
Tuyết Mai

Tôi thiết nghĩ cái bệnh ADHD có rất nhiều người không ai được biết đến thế nên đã có rất nhiều người đã không được trị liệu và biết về căn bệnh này. Bệnh này được cho biết là có nhiều mức độ từ nhẹ cho đến nặng. Nhẹ nhất là không thể chú tâm trong việc học hành, không biết cách học, không kiên nhẫn, không ở yên được một chỗ và là những trẻ được liệt vào thành phần phá phách trong lớp học.

Còn nặng nữa là trong người luôn như có lửa đốt, như kim châm vào người, rất khó chịu khi phải ở trong lớp học lâu nên phải có thuốc uống để giúp cho cơ thể được bình tâm lại. Trong gia đình của chúng tôi Chúa ban cho có hai đứa con có chứng bệnh này mà đứa gái lớn nhất năm nay đã 25 tuổi rồi. Thời gian này là thời gian mà cháu nói là thời kỳ nặng nhất của cháu.

Cháu đang chờ cho bác sĩ gia đình xin phép vì thuốc rất mắc; một tháng thuốc mà giá có đến vài trăm đô-la. Cháu có người quen cho thuốc uống nhưng được khuyên là không nên uống vì liều lượng của mỗi người là mỗi khác. Phản ứng phụ của thuốc này có nguy cơ làm suy thận và hư thận nhưng người có bệnh thì cần phải uống thôi nếu không uống thì người bệnh sẽ không thể làm được việc gì theo ý muốn được.

Để có thể nhận diện được những người có chứng bệnh này thì họ rất thích chơi trò thể thao, bất cứ loại thể thao nào, ngay cả những trò chơi có tính cách rất mạo hiểm vì họ không thể ngồi yên trong nhà được. Sinh lực của họ dồi dào hơn người thường. Mong rằng sự chia sẻ của căn bệnh khó mà biết này có thể giúp cho cha mẹ, thầy cô nơi học đường thấy biết ngay rằng con trẻ cần có được sự để ý cách đặc biệt.

Thấy sao con cái hay học trò chúng thường phá phách, không chịu ngồi yên trong lớp học?. Ở bên Mỹ cho đến ngày hôm nay tại các trường học quý thầy quý cô mới bắt đầu học biết chứng bệnh ADHD này để biết cách dậy học trò nhỏ hay lớn của mình. Học để biết thông cảm cho chúng, giúp chúng học sao cho thích ứng với căn bệnh của chúng từ nhẹ cho đến nặng.

Như khi thi thì cho phép chúng được có nhiều thời giờ hơn, ngồi riêng rẽ một mình để không bị cảm thấy thúc hối. Nếu thấy chúng học trò khó ngồi yên trong lớp thì thầy cô hãy tìm cớ cho phép chúng ra khỏi lớp để sai chúng làm chuyện gì như lên văn phòng copy giấy, đến lớp nọ mượn đồ, v.v… thay vì để chúng ngồi trong lớp chúng sẽ quậy phá. Cho chúng thời gian nhiều hơn là học trò bình thường để nộp bài tập trong lớp cũng như đem về nhà làm. Sự thông cảm của cha mẹ và thầy cô sẽ giúp chúng học trò có bệnh sẽ có kết quả gần như sự mong muốn.

Thưa xin nhắc là những người có chứng bệnh này không phải là họ có bộ não học chậm đâu nhé mà Chúa lại ban cho họ có nhiều tài năng nổi trội hơn cả người bình thường nếu họ có được chữa trị đúng và thuốc men đầy đủ. Khi họ có được đúng thuốc uống thì họ là những học trò xuất sắc, luôn đứng hạng A, là những người rất thành công trong đời vì Thiên Chúa Người rất công bằng vô cùng.

Những người mang chứng bệnh ADHD này thường có tài hùng biện, rất giỏi nói và nhiều người chịu nghe. Xã giao rất là tự nhiên; có rất nhiều người yêu mến từ trẻ đến già. Phải nói những trẻ có bệnh này nếu không ai biết thì tất cả mọi người sẽ nghĩ rằng những trẻ này có đầu óc ngu xuẩn, sẽ không có cơ hội học tiếp và làm cho chúng càng tin rằng chúng ngu thật.

Con gái chúng tôi ở tuổi 25 mới xong được cái bằng Cử Nhân Luật nhưng cháu vẫn không chịu thua, cháu sẽ muốn học tiếp lên vì cháu biết có Chúa sẽ giúp cháu. Còn thằng con trai út của chúng tôi đang nghi rằng cháu cũng có cái bệnh ấy vì cháu học dở lắm suốt cả 4 năm trung học. Cháu nói lý do là vì cháu không chú tâm học, dễ buồn ngủ trong lớp, và chẳng cần học được hay không. Hầu hết tất cả thầy cô giáo phê trong học bạ là cháu không bao giờ nộp bài tập đầy đủ và đang có cơ hội bị điểm F.

Cái bệnh quái ác này chúng tôi cũng mới biết đây thôi, chính là nhờ do các cháu lớn chúng có học qua những khóa học trên đại học nên mới có cơ hội để tìm hiểu chứng bệnh này chứ bệnh này nó không thể hiện trên khuôn mặt hay trên thân thể để biết được. Nhìn các cháu thì rất bình thường không nói rằng xinh gái và điển trai; chúng tôi cứ nghĩ rằng sức học lực của các cháu quá yếu kém nhưng chúng tôi lại không có khả năng cho chúng đi học kèm thêm, đành chịu!.

Cả hai cháu chúng luôn nản học, chúng không có khả năng nghĩ sâu xa về tương lai chúng sẽ làm gì để nuôi miệng chúng nhưng làm cha mẹ già như chúng tôi thì chỉ biết ngày đêm chắp tay nguyện cầu. Luôn tin rằng Thiên Chúa Người đã thương yêu tác tạo ra chúng thì xin Chúa hãy ban cho chúng có được tương lai tốt đẹp. Trở thành người hữu ích, được hằng ngày dùng đủ và có Chúa ở cùng, trong trái tim to lớn luôn muốn giúp người giúp đời. Thiết nghĩ đó cũng là quá đủ vì ngoài Chúa ra đâu là hạnh phúc? Đâu là đường để chúng con bước đi?.

Y Tá của Chúa,
Tuyết Mai
05-27-14

Nước cờ hiểm của TQ với giàn khoan

Nước cờ hiểm của TQ với giàn khoan

Nguyễn Lễ

BBCVietnamese.com

Thứ năm, 29 tháng 5, 2014

Trung̣ Quốc định ngày rút giàn khoan là ngày 15/8

Các đợt xuống đường của người dân Việt Nam có thổi bay cái giàn khoan của Trung Quốc khỏi Biển Đông?

Câu trả lời, nhiều khả năng, là ‘Không’

Ít nhất những diễn biến trên thực địa cùng với những tuyên bố cứng rắn cho đến giờ cho thấy Trung Quốc quyết không lùi một bước.

Tôi không rành về khai thác dầu khí nhưng theo l‎ý mà suy thì chừng nào xong việc mới rút giàn khoan chứ làm sao biết được sẽ rút ngày nào?

Nhưng nếu Bắc Kinh không công bố trước thời hạn rút giàn khoan thì bất cứ lúc nào họ rút đi cũng sẽ bị cho là chịu thua sức ép của Việt Nam.

Đưa giàn khoan ra Biển Đông, Bắc Kinh muốn quyết tâm khẳng định với thế giới rằng vùng biển xung quanh đó thuộc chủ quyền của họ.

Nhưng tại sao họ lại ra tay vào lúc này? Giàn khoan Hải Dương 981 là cách mà họ thách thức cam kết ‘xoay trục’ mà Tổng thống Mỹ Barack Obama vừa khẳng định với các đồng minh.

Obama vừa mới lên tiếng Senkaku nằm trong phạm vi hiệp ước an ninh với Nhật và Manila cũng vừa k‎ý với Mỹ Hiệp ước tăng cường liên minh quân sự. Kiếm chuyện với Tokyo hay Manila khi Obama vừa rời đi thì quá ‘bựa’.

Để thách thức Mỹ nhưng vẫn tránh đối đầu trực diện, Bắc Kinh chọn mục tiêu mềm hơn là Hà Nội.

Nước cờ chắc ăn

Với lại khi có hành động mà Bắc Kinh biết rằng sẽ bị thách thức dữ dội thì họ phải chọn nước cờ chắc ăn nhất.

Họ không chọn vùng biển xung quanh các đảo mà họ đang nắm giữ ở Trường Sa hoặc một vị trí nào khác trong Biển Đông mà họ biết sẽ rủi ro hơn rất nhiều.

Quần đảo Hoàng Sa chỉ có tranh chấp với Việt Nam, trong khi Trung Quốc còn không thừa nhận là có tranh chấp và lâu nay vẫn cự tuyệt mọi đề xuất đàm phán của Hà Nội.

Về mặt thực tế, ‘Tây Sa’ đã nằm hoàn toàn trong tay Trung Quốc và cách nay không lâu họ còn gióng trống mở cờ thành lập thành phố ‘Tam Sa’ đóng trên quần đảo này.

Tổng thống Mỹ Obama vừa cam kết với các đồng minh châu Á về chính sách ‘xoay trục’

Về mặt pháp lý, họ có ‘bửu bối’ là công hàm Phạm Văn Đồng mà nếu Hà Nội có cãi lý thì họ sẽ dùng để đập lại.

Họ kiểm soát, họ không thừa nhận có tranh chấp, họ có bằng chứng Hà Nội ‘công nhận chủ quyền’, rõ ràng Bắc Kinh rất tự tin với ‘chủ quyền Tây Sa’ nên họ mới đưa giàn khoan ra đây.

Nếu Việt Nam có nói là giàn khoan nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của mình thì Trung Quốc sẽ cãi rằng giàn khoan này nằm cách ‘Tây Sa, lãnh thổ của họ’ chỉ 17 hải lý trong khi cách bờ biển Việt Nam đến 150 hải lý.

Trên thực tế đó là kịch bản mà báo chí và các quan chức Trung Quốc đã nói trong những ngày qua.

Một khi có bước đi liều lĩnh như thế chắc chắn Bắc Kinh đã tính toán hết mọi rủi ro mới dám thực hiện.

Nhìn vào động tĩnh của Trung Quốc trong những ngày qua thì sẽ thấy họ theo dõi chặt chẽ phản ứng của Việt Nam, của khối Asean và của Mỹ.

Ngay cả khi phản ứng chính thức của Mỹ chỉ dừng ở mức ‘quan ngại’ và chỉ trích Trung Quốc ‘gia tăng căng thẳng’ thì Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã phủ đầu với tuyên bố ở Thượng Hải rằng ‘các thế lực bên ngoài không được can thiệp’ và ‘chống lập liên minh quân sự nhằm vào bên thứ ba’.

Còn với Asean, mặc dù còn không nêu tên Trung Quốc mà chỉ bày tỏ ‘quan ngại’ nhưng Trung Quốc đã rất nhanh chóng lấy quan hệ chung để nhắc nhở Asean không được dính vào tranh chấp riêng và cảnh báo Hà Nội về việc ‘lôi kéo’ Asean.

Làm chủ tình hình

Phản ứng mạnh mẽ của Việt Nam chắc chắn cũng đã nằm trong dự liệu của Trung Quốc.

Các lãnh đạo Asean không muốn mất lòng Trung Quốc trên vấn đề Biển Đông

Mỹ can thiệp, Asean dính líu và Việt Nam ngả về phía Mỹ là ba nỗi sợ của Bắc Kinh khi đưa giàn khoan HD-981 ra Biển Đông.

Về phía Mỹ thì Bắc Kinh biết rõ vào lúc này Washington không thể làm được gì nhiều để giúp Hà Nội ngoài hỗ trợ tinh thần.

Về phía Asean thì Bắc Kinh biết rằng với tư cách là đối tác thương mại lớn nhất của khối, các nước Asean sẽ hết sức thận trọng để tránh làm tổn thương quan hệ với Trung Quốc.

Về phía Việt Nam, với quan hệ khắng khít giữa hai Đảng Cộng sản trong những năm qua, Bắc Kinh chắc hẳn nắm rõ suy nghĩ của Hà Nội.

Điều Bắc Kinh sợ nhất là Hà Nội ngả về phía Washington để họ thêm một mối họa ở phía Nam, nhưng một khi họ đã đưa giàn khoan ra thì có nghĩa họ tin rằng Hà Nội dù có bị o ép thế nào đi nữa thì cũng không tìm kiếm liên minh với Mỹ

Chỉ có điều với hành động này thì họ đã hủy hoại quan hệ với Việt Nam. Việt Nam sẽ không còn là ‘láng giềng thân thiện’ với Trung Quốc được nữa. Tuy nhiên, vì mục đích lớn ở Biển Đông, Bắc Kinh sẵn sàng hy sinh.

Trong cái mục đích lớn đó, đảo thì họ đã nắm được một phần nhưng đường lưỡi bò thì đây mới là bước đi quan trọng đầu tiên để hiện thực hóa.

Nếu như Trung Quốc lùi trước sức ép của Việt Nam thì trước mắt người dân trong nước chính quyền là hèn nhát không đủ sức bảo vệ chủ quyền, trước dư luận quốc tế lập luận chủ quyền của họ không vững và nhất là đường lưỡi bò mới tiến được một bước đã phải lùi thì sau này sẽ vô vàn khó khăn.

Biển Đông là cánh cửa để Trung Quốc bành trướng ra ngoài và là chìa khóa để làm bá chủ ở Đông Á nhất là khi họ đã bị chặn bởi các nước lớn khác ở các hướng bắc, đông và tây nam.

Trung Quốc đang muốn biến đường lưỡi bò trên bản đồ thành sự thật

Chậm mà chắc

Năm 1947, đường lưỡi bò lần đầu tiên xuất hiện trên bản đồ Trung Hoa.

Lúc đó, người Trung Quốc còn chưa có gì trên Biển Đông. Gần 70 năm sau, họ đã có ‘thành phố Tam Sa’ – tức là đã có chỗ đứng vững chắc để từ đó vươn ra Biển Đông.

Ai dám chắc sau 70 năm hoặc 100 năm nữa toàn bộ Biển Đông không trở thành ao nhà của Trung Quốc?

Từ chỗ không có gì đến có được như thế phải thấy tầm nhìn và sự khôn ngoan của Trung Quốc trên Biển Đông: họ xác định đó là công việc lâu dài, tiến dần từng bước một, tranh thủ thời cơ, sẵn sàng dùng vũ lực, sức mạnh đến đâu hiện thực chủ quyền đến đó.

Mặc dù có yêu sách đường chín đoạn từ rất lâu nhưng phải đến tận năm 2009 họ mới chính thức trình ra quốc tế. Chứng tỏ Bắc Kinh giỏi giấu mình chờ thời cơ đến mức nào.

Tuy nhiên điều này cũng cho thấy sự không trong sáng trong đòi hỏi chủ quyền của họ. Nếu có chủ quyền thật sự thì cần gì đợi thời cơ mới đưa ra?

Và cái cách mà họ vẽ đường chín đoạn trong tất cả các bản đồ của họ hiện nay, mặc dù chỉ là chủ quyền trên giấy, là nhằm in sâu vào tâm trí mọi người để rồi đến lúc ai cũng mặc nhiên thừa nhận ‘chủ quyền không thể chối cãi’ của Trung Quốc.

Họ cũng rất biết lợi dụng tình hình khi tranh thủ tối đa những lúc Việt Nam rối ren hay gặp tình hình quốc tế bất lợi để ra tay chiếm đảo.

Chính phủ Bắc Việt đã quá tin tưởng vào Trung Quốc?

Với một đất nước đã quen với ván cờ quyền lực và đấu tranh chính trị trong hàng ngàn năm thì Việt Nam không phải là đối thủ của họ trong cuộc đấu trí trên Biển Đông.

Họ có tầm nhìn cả trăm năm, có chiến lược thực hiện rõ ràng và nhất là luôn ở thế tấn công trong khi Việt Nam nằm ở thế bị động chống đỡ các bước đi của họ.

Trước phía nhiều mưu chước như Trung Quốc, Việt Nam chẳng khác nào một đứa trẻ ngây ngô liên tục bị gài bẫy.

Cái bẫy lớn nhất chính là công hàm năm 1958 công nhận Tuyên bố về lãnh hải của Trung Quốc mà trong Tuyên bố này có khẳng định chủ quyền đối với ‘Tây Sa’ và ‘Nam Sa’.

Bắc Việt lúc đó chỉ nghĩ đến cái lợi trước mắt là sự giúp đỡ của Trung Quốc chứ không lường được cái hại sau này trong khi Trung Quốc mưu tính chuyện lâu dài về sau.

Công luận quốc tế không cần biết ông Đồng suy nghĩ thế nào hay bối cảnh ra sao khi k‎y cái công hàm đó. Chỉ biết giấy trắng mực đen rành rành Việt Nam công nhận chủ quyền của Trung Quốc.

Việt Nam đang chứng kiến các cuộc biểu tình chống Trung Quốc lớn chưa từng thấy

Đành rằng ông Đồng không thể đem cho cái mà Chính phủ của ông không có, nhưng ông có thể thừa nhận quyền sở hữu của người khác đối với tài sản mà ông không có đó.

Và khi đã thừa nhận của người khác thì bây giờ sao lại nói ngược là của mình được?

Rõ ràng Việt Nam tin vào tình đồng chí còn Trung Quốc đã lợi dụng tình đồng chí đó.

Quan hệ quốc tế luôn dựa trên nền tảng lợi ích quốc gia – không có chỗ cho ‘tinh thần quốc tế vô sản trong sáng’. Bắc Kinh đã không đổ xương máu cho Hà Nội nếu không có lợi ích của mình trong đó.

Bắc Việt đã quá ngây thơ khi tin tưởng người đồng chí phương Bắc hơn đồng bào của mình ở miền Nam. Họ đã để ‎y thức hệ chi phối chính sách ngoại giao của mình.

Chính vì ý thức hệ mà khi Việt Nam hụt hẫng sau khi Liên Xô sụp đổ đã bất chấp những kinh nghiệm đau thương trong quá khứ lại tìm đến Trung Quốc làm chỗ dựa. Và đất nước lại bị đặt trước miệng cọp.

Cũng vì ý thức hệ mà Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng khi sang thăm Trung Quốc đã chấp nhận lời khuyên lấy ‘đại cục’ làm trọng, tức là đặt lên trên tranh chấp.

Khi đưa giàn khoan ra Biển Đông, Bắc Kinh có nghĩ đến ‘đại cục’ không?

Các lãnh đạo Trung Quốc tin rằng Việt Nam sẽ không thoát khỏi ‘đại cục’ với họ?

Rõ ràng ‘đại cục’ đó không phải để ràng buộc Bắc Kinh mà là để Bắc Kinh ràng buộc Hà Nội.

Thậm chí khi Bắc Kinh đã phá vỡ cam kết của lãnh đạo hai Đảng thì Thường Vạn Toàn vẫn tự tin nhắc nhở Phùng Quang Thanh về ‘đại cục’.

Và cho đến giờ cũng chính y thức hệ đã khiến Việt Nam mắc kẹt trong ‘đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, không liên minh với ai’

Mạnh như Nhật mà còn cần hiệp ước an ninh với Mỹ, có vũ khí hạt nhân như Anh, Pháp vẫn cần Mỹ đồng minh trong khối Nato.

Trong khi đó, Việt Nam hiện nay vừa nhỏ yếu vừa bị đe dọa nghiêm trọng thì cứ nói là ‘độc lập, tự chủ’ mà thực ra chỉ thiệt cho mình mà thôi.

Thử cho Mỹ vào Cam Ranh xem? Bắc Kinh không sợ mới lạ.

Mỹ rất muốn nhưng Việt Nam ‘độc lập, tự chủ’ không làm được.

Chính vì thế Việt Nam mất đi một lá bài lợi hại trong cuộc đối đầu vốn dĩ không cân sức.

Miền Đất Không Ai Chết

Miền Đất Không Ai Chết

Tác giả: Fr. Huynhquảng

Ngày xa xưa lắm có một anh nhà giàu tên là Plutôs. Anh có tất cả sự giàu sang phú quí trên dương thế, chỉ có điều là anh ngày càng yếu đi vì quá lo lắng là anh sẽ chết sớm trước khi hưởng dùng hết tài sản của mình. Anh đã tìm đến nhiều lương ý giỏi để tìm sự giúp đỡ, nhưng không ai có thể giúp anh giảm bớt đi sự lo lắng về cái chết của mình. Tất cả mọi lương y Plutôs gặp phải đều cho một lời khuyên như nhau: “Này Plutôs, không sớm thì muộn anh cũng chết, nhưng hãy đừng để cái chết đến sớm hơn bình thường vì sự lo lắng của anh.” Nghe như thế, Plutôs càng lo lắng thêm hơn. Anh không chấp nhận cuộc sống của mình bị giới hạn. Vì lẽ đó, anh nghĩ rằng nếu tìm được thần dược trường sinh thì anh sẽ vượt qua giới hạn của cái chết. Với tài sản có sẵn trong tay, anh quyết đi tìm thuốc trường sinh. Sau một thời gian lặn lội tìm kiếm, anh cũng nghe nói có vùng Đất Không Ai Chết, nếu ai sống ở đó sẽ vượt ra khỏi giới hạn của cái chết.

Plutôs thu xếp hết của cải và quyết đi tìm Miền Đất Không Ai Chết. Sau một thời gian kiếm tìm vất vả, anh đã tìm được Miền Đất Không Ai Chết. Người gác cổng là một ông lão trông như vị minh sư. Sau khi chào hỏi và được biết nguyện vọng của Plutôs. Ông lão cho biết, sau cánh cổng này sẽ là Miền Đất Không Ai Chết, trong đó người ta sẽ không bao giờ chết, nhưng những ai sống trong vùng đất này không có nghĩa là họ được tất cả những gì họ muốn, họ cũng sẽ gặp những giới hạn. Vì quá ham muốn cuộc sống trường sinh, Plutôs không cần để ý đến lời khuyên của ông lão; Plutôs chấp nhận bước qua cổng để vào Miền Đất Không Ai Chết.

Khi vào Miền Đất Không Ai Chết, Plutôs đã bắt tay vào việc xây dựng căn nhà của mình cho khang trang, tráng lệ. Thời gian thấm thoát trôi qua, Plutôs đã sống rất lâu, và như thế nối ám ảnh sợ chết cũng không còn. Dầu vậy, cuộc sống không chết của anh không mang lại hạnh phúc cho anh, nhưng lại tạo nên sự tẻ nhạt và đơn điệu. Plutôs từ từ cảm nghiệm rằng, nếu cuộc sống không thay đổi, không thăng trầm thì thật là tẻ nhật, đơn điệu, và buồn chán. Rồi một ngày kia, Plutôs chợt tự hỏi: “Một điều gì đó đáng lẽ phải xảy ra mà nó không bao giờ xảy ra, thì liệu rằng cuộc sống này có giá trị không? Và nếu nó thực sự không bao giờ xảy ra thì những giá trị mình đang sống có ý nghĩa gì?” Plutôs suy nghĩ tiếp, “Nếu hạnh phúc không bao giờ cạn, thì làm sao biết giá trị của hạnh phúc? Nếu tự do không có giới hạn, thì làm sao biết giá trị của tự do? Nếu đời sống tôi không bao giờ chết, thì đâu là giá trị của sự sống?” Những câu hỏi này như chìa khoá giúp anh tìm câu trả lời cho sự tẻ nhạt đơn điệu trong Miền Đất Không Ai Chết.

Plutôs đến tìm ông lão gác cổng và trút bầu tâm sự với sự buồn thảm âu lo. Ông lão hỏi lý do tại sao thì Plutôs cho biết, “Con cứ nghĩ là khi con không chết nữa, thì con sẽ mãi mãi hạnh phúc. Con sẽ không gặp bất cứ một giới hạn nào. Thế nhưng, sống trong Miền Đất Không Ai Chết này, con vẫn vị giới hạn, bằng chứng là con đã không cảm nghiệm được giá trị thật của hạnh phúc và tự do; con thấy cuộc đời đơn điệu không đẹp và thi vị như xưa.” Nghe xong, ông lão nhìn Plutôs và đưa cho Plutôs một mãnh giấy với câu hỏi: “Tôi thực sự khao khát điều gì?” “Con hãy suy nghĩ và quay trở lại đây gặp ta sau ba ngày” ông lão căn dặn.

Plutôs trở về đăm chiêu tìm câu trả lời cho chính mình trong suốt ba ngày. Cuối cùng, anh cũng tìm được câu trả lời ưng ý và thoã mãn cho anh  trước khi đi gặp ông lão, “Con muốn được tự do thật sự” Plutôs trả lời. Nghe như thế, ông lão nhìn Plutôs với vẻ trìu mến thân thương đáp, “Cuộc sống luôn có giới hạn, nhưng nhờ qui luật giới hạn này mà làm cho đời con thêm thi vị, hạnh phúc, và tự do.” Ông lão tiếp, “Để có được tự do thực sự, con không cần phải đến đây, nhưng hãy trở lại quê cũ và học chấp nhận giới hạn của con; con sẽ được tự do thực sự.”

* * *

Bạn thân mến, khi ta không chấp nhận giới hạn của chính mình, ta như bị những mũi tên bắn xé vào lòng ta và như cứ thúc giục ta tìm kiếm những điều gì đó rất mơ hồ, mông lung vượt quá tầm tay của mình. Sự tự do thật không phải như là một sự tích luỹ gom góp để rồi có, nhưng đó là sự thả lỏng và mở lòng để học chấp nhận.

Bởi đâu mà Plutôs lo lắng? Thưa bởi vì anh sợ chết sớm. Plutôs vì không chấp nhận giới hạn cái chết của phận người nên anh nghĩ là thuốc trường sinh sẽ giải quyết được vấn đề, tuy nhiên câu trả lời dành cho Plutôs không phải là thuốc trường sinh, nhưng là chấp nhận giới hạn của phận người. Bởi đâu ta lo lắng? Có phải vì ta không chấp nhận giới hạn của ta không? Vì bao lâu ta không chấp nhận giới hạn của ta, ta sẽ bị mất tự do vì bị thôi thúc kiếm tìm những điều vượt qua khỏi giới hạn của mình. Và khi đã vượt ra khỏi vòng giới hạn của mình, trong lòng ta lại tạo ra những luồng thúc đẩy mới để muốn làm chủ những cuộc phiêu lưu khắc khoải bất tật khác. Hãy dừng lại và chấp nhận giới hạn của mình, bạn ơi! Bạn sẽ được tự do.

Chúng ta cầu chúc cho nhau học chấp nhận giới hạn của chính mình và giới hạn của nhau, để nhờ đó mỗi ngày ta thêm khám phá rõ hơn quà tặng tự do mà chúng ta đang sở hữu. Nó không phải là sự gom góp thêm, nhưng là buông lỏng, thả rơi, để nó lộ ra.

Fr. Huynhquảng

THẦY Ở CÙNG ANH EM MỌI NGÀY

THẦY Ở CÙNG ANH EM MỌI NGÀY

Nếu trời là nơi Chúa ngự thì chẳng có gì gần ta bằng trời.  Trời ở quanh ta, trời ở trong ta…  Trời vượt xa đất muôn trùng, nhưng nếu đất trở thành nơi Chúa ngự thì đất cũng mang dáng dấp của trời.

Thiên Chúa không phải là Đấng chỉ thích ở trên trời.  Ngài thích con người, Ngài thương trái đất, nên Ngài đã sai Con Ngài làm người ở đời.

Đức Giêsu Con Thiên Chúa đã đặt chân lên trái đất.  Đất chẳng xa lạ gì với Ngài, vì nhờ Ngài mà nó được tạo dựng.

Đất đã bắt đầu thành trời từ khi Con Thiên Chúa đến dựng lều ở đó.  Đất vẫn luôn thuộc về trời vì Đức Giêsu luôn ở với ta cho đến tận thế.

Trời là mẫu mực của đất: Ý Cha phải được thể hiện dưới đất cũng như trên trời.  Chỗ nào vâng theo ý Cha, chỗ đó thành trời.

Trái tim của chúng ta cũng phải trở thành trời, phải đầy ắp yêu thương, đầy ắp Thiên Chúa.

Rốt cuộc, nhiệm vụ của người Kitô hữu là xây dựng trời cao ở ngay nơi đất thấp, là cho thấy rằng trời cao thật gần, chứ không phải là sản phẩm của hoang tưởng.

Trời cao đã gần bên, chỉ người Kitô hữu biết sống cho nhau chân tình, chia sẻ cho tha nhân tất cả những gì mình có, không bị mê hoặc bởi của cải lợi danh, không bị kéo ghì bởi những đam mê xác thịt, cũng không chùn bước trước cái chết, khổ đau.

Chúng ta phải làm chứng về thiên đàng có thực bằng cuộc sống vui tươi hạnh phúc ở đời này.

Hạnh phúc khi hy sinh, tự hiến, khi chịu thua thiệt, mất mát, lãng quên.

Hạnh phúc cả khi tưởng như không thể nào hạnh phúc được.  Hạnh phúc như thế gợi mở về hạnh phúc viên mãn đời sau.

Chúng ta không thể làm chứng về thiên đàng mai hậu bằng một cuộc sống ủ rủ, buồn phiền.

Thiên đàng mai sau chớm nở từ bây giờ.  Tôi chỉ được hạnh phúc sống đời sau bên Chúa, nếu tôi đã bắt đầu sống bên Chúa từ đời này.

Có một thiên đàng nho nhỏ ở trong tôi: “Ai yêu mến Thầy, Cha của Thầy và Thầy sẽ đến và dựng nhà nơi người ấy” (Ga 14, 24).

Tôi muốn xây những thiên đàng nho nhỏ ở quanh tôi, nơi gia đình, bè bạn; nơi phố chợ, học đường… mong có ngày cả trái đất này ngập tràn sự hiện diện của Thiên Chúa.

**********************************

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã yêu trái đất này, và đã sống trọn phận người ở đó.

Chúa đã nếm biết nỗi khổ đau và hạnh phúc, sự bị đát và cao cả của phận người.

Xin dạy chúng con biết đường lên trời, nhờ sống yêu thương đến hiến mạng cho anh em.

Khi ngước nhìn lên quê hương vĩnh cửu, chúng con thấy mình được thêm sức mạnh để xây dựng trái đất này, và chuẩn bị nó đón ngày Chúa trở lại.

Lạy Chúa Giêsu đang ngự bên hữu Thiên Chúa, xin cho những vất vả của cuộc sống ở đời không làm chúng con quên trời cao; và những vẻ đẹp của trần gian không ngăn bước chân con tiến về bên Chúa.

Ước gì qua cuộc sống hằng ngày của chúng con, mọi người thấy Nước Trời đang tỏ hiện.

Trích trong “Manna

From: ngocnga_12 & Anh chi Thu Mai goi

MÙA THU CHẾT…

MÙA THU CHẾT…

Em đi lịm chết nữa hồn,
Nữa kia còn lại vùi chôn nỗi buồn,
Trời mưa giọt ngắn chiều buông,
Tiếng chuông văng vẳng suối nguồn trong tim,
Mây mờ gió lặng im lìm,
Dáng xưa dần khuất cỏ dìm gót chân,
Nhớ người thờ thẩn bâng khuâng,
Mùa thu lá đổ bao lần sẽ quên,
Hay là chiếc bóng qua thềm,
Tương tư đốt cháy buồn thêm bốn mùa,
Thương sao ngọn cỏ gió lùa,
Duyên chưa se đặng đã thua mất rồi,
Bây giờ cách biệt muôn đời,
Nhớ sao là nhớ tình tôi với người…

Liverpool.28-5-2014.
Song Như.

CHỖ Ở CỦA TA

CHỖ Ở CỦA TA

Anh em đừng xao xuyến!  Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy.  Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em.  Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy sẽ trở lại và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó.” — Gioan 14:1-3

Bài đọc này của Phúc Âm Gioan thường được dùng ở đám tang để nói lên sự hy vọng của mỗi một người có một chỗ ở trong tình thương của Thiên Chúa khi nhắm mắt lìa trần vì đó là lời hứa của Đấng đã Phục Sinh, một chỗ ở được hứa hẹn vì công nghiệp của Ngôi Lời Nhập Thể.  Tuy nhiên, bài đọc này không chỉ dành cho người quá cố mà cho tất cả mọi người chúng ta.  Như vậy đối với chúng ta là những người còn sống, Thánh Sử Gioan muốn nhắc nhở gì qua bài đọc này và Con Một Thiên Chúa hứa hẹn gì với mỗi người chúng ta?  Hơn nữa, “chỗ ở” mà Chúa Giêsu nhắc đến là chỗ nào?  Nó có chiếm một phần nào trong không gian, và chúng ta có được chạm đến “chỗ ở” đó khi còn sống, hay nó là một nơi mơ hồ mà chúng ta chẳng bao giờ nghĩ đến và để mặc cho linh hồn chúng ta tự đi tìm lấy khi nó lìa trần?

Trước hết, là Kitô Hữu chúng ta được mời gọi tham dự vào sự Phục Sinh của Chúa Giêsu và sống niềm vui Phục Sinh trong tâm tình tin, cậy, và mến.  Chúng ta cũng đừng để tâm hồn ta xao xuyến nhưng hãy tin rằng chúng ta sẽ có một chỗ ở ngay khi còn sống.  Phải chăng “chỗ ở” mà Chúa Giêsu ám chỉ ở đây chính là tâm hồn của mỗi người.  Có lẽ đây là điều mà Thánh sử Gioan muốn nhắm tới và là điều Chúa Giêsu ao ước cho mỗi người chúng ta.  Chúng ta sẽ có một chỗ trong con tim của những người mà chúng ta gặp hàng ngày; cũng thế, trong con tim của chúng ta sẽ có chỗ cho những người chúng ta gặp trong cuộc sống.

Trong tâm tình sống mầu nhiệm Phục Sinh, tâm hồn chúng ta sẽ là chỗ nương tựa cho nhau, nơi chúng ta cùng nhau chia sẻ niềm vui và nỗi buồn của hành trình làm người, nơi mà chúng ta thật sự đón tiếp người thân cũng như kẻ qua đường với một con tim rộng mở và bao dung.  Chúng ta sẽ không nhìn họ với thành kiến riêng tư, với những hờn giận, với những  ý nghĩ so sánh và ích kỷ, với những thèm muốn nhục dục và sắc diện ngoại hình, hoặc với những ham muốn thoả mãn bản thân.  Nhưng trước tiên chúng ta sẽ biết dành một chỗ trong con tim của mình cho người chúng ta gặp và tôn trọng phẩm giá con người của họ.

Chúa Giêsu đã hứa là Ngài sẽ đi dọn chỗ cho chúng ta, và đúng vậy, qua mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể, Thiên Chúa Con sẽ đến và chính Ngài sẽ dọn sạch tâm hồn của mỗi người hầu chúng ta biết nhận ra hồng ân của Thiên Chúa nơi mỗi người.  Mặc dầu được dọn sạch tâm hồn của chúng ta là điều mà Chúa Giêsu hằng mong ước, Ngài cần sự hợp tác của chúng ta qua sự tự do lựa chọn của mỗi người.  Có lẽ câu hỏi cấp bách mà chúng ta nên tự hỏi chính mình đó là “Chúng ta có thật sự muốn cho tâm hồn chúng ta được sạch không?” (cf. Lc 5:12-13).

Chúng ta có muốn gạt đi thành kiến của mình để biết nhìn mọi sự như nó cần được nhìn không?  Chúng ta có muốn đón nhận bạn bè trong tâm tình tha thứ mặc dầu chúng ta chưa quên đi điều mà chúng ta chưa hài lòng không?  Chúng ta có muốn đón nhận hành trình thiêng liêng của con cái trong tâm tình tri ân hay còn muốn bám lấy thất vọng trong sự ích kỷ vì chọn lựa của chúng không như ta mong muốn? Chúng ta có muốn quên đi chính mình để đón nhận tài năng và vẻ đẹp của kẻ khác hay lòng chúng ta còn ham muốn những gì không thuộc về mình? Chúng ta muốn nhìn người khác trong hồng ân tạo dựng hay chúng ta còn muốn dùng họ để thoả mãn chính mình cho dù đó là những khao khát thầm kín bên trong?

Thật vậy, khi lòng chúng ta chưa sẵn sàng để được dọn sạch vì một lý do nào đó thì Chúa Giêsu luôn bên cạnh trông chờ ngày chúng ta cho ánh sáng Phục Sinh len vào hầu Ngài có thể dọn tâm hồn chúng ta.  Vì ngày nào chúng ta chưa muốn Đấng Phục Sinh giải phóng chính mình thì ngày đó chúng ta còn xiềng xích chúng ta và người khác vào những thành kiến, ganh tị, so sánh, dục vọng của mình, và tâm hồn chúng ta chẳng có chỗ cho người mà đang cần sự đón nhận đích thực của chúng ta.

Nguyện xin niềm vui và ánh sáng Phục Sinh len lỏi vào tâm hồn và giải thoát chúng ta hầu tâm hồn của chúng ta trở nên Đền Thờ của Thiên Chúa, nơi mà lời hứa của Chúa Giêsu trở thành hiện thực. Tâm hồn chúng ta sẽ là chỗ mà Thiên Chúa gặp gỡ người khác, là nơi hẹn hò giữa Chúa Giêsu và những ai khao khát được tìm thấy và ở bên Ngài. Amen!

Củ Khoai

From: ThiênKim & Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

SỰ SỐNG MỚI – HIỆN DIỆN MỚI

SỰ SỐNG MỚI – HIỆN DIỆN MỚI

TGM Ngô Quang Kiệt

Có lẽ nhiều người ngạc nhiên tự hỏi: sao trong bài Phúc Âm lễ Thăng Thiên hôm nay, chẳng thấy nói gì đến trời, đến bay lên?  Thắc mắc như vậy là hợp lý.  Ta vẫn quen gọi hôm nay là lễ Chúa Giêsu lên trời.  Và theo quan niệm bình dân, không gian chia làm ba tầng.  Tầng dưới đất là âm ty, địa ngục, dành cho người chết.  Tầng mặt đất mà ta đang sống là dương gian.  Và tầng trên mặt đất là trời.  Chúa Giêsu đã sống trên mặt đất, khi chết Người bị chôn trong lòng đất, đi vào cõi âm ty.  Sống lại, Người trở lại mặt đất.  Và hôm nay Người được đưa lên trời, bay lên đám mây, ngự bên hữu Chúa Cha.

Đó chỉ là một lối diễn tả bình dân.  Thực ra, trời đâu phải là một nơi chốn.  Con người có thân xác, bị giới hạn trong không gian, cần một nơi chốn để cư ngụ.  Thiên Chúa không bị giới hạn trong không gian thì đâu còn bên tả bên hữu gì nữa.

Vậy, tại sao ta nói Chúa Giêsu lên trời?  Lên trời ở đây có ý nghĩa gì?

Trời không phải là một nơi chốn, nhưng là một trạng thái, trong đó Ba Ngôi Thiên Chúa sống chan hoà yêu thương.  Sự sống của Thiên chúa không giống sự sống của cây cỏ.  Cũng không giống như sự sống của động vật hay loài người.  Đó là sự sống thần linh.  Sự sống vượt không gian, vượt thời gian, không còn bị lệ thuộc vào điều kiện vật chất.  Sự sống không còn bị hao hụt, giảm thiểu bởi đau đớn, bệnh tật, đói khát.  Đó là sự sống viên mãn tràn đầy.  Được tham dự vào sự sống ấy là một hạnh phúc vô song. Đó chính là thiên đường.  Lên trời hay lên thiên đàng như vậy không phải là thay đổi nơi chốn nhưng là thay đổi sự sống.  Đó là chuyển đổi sự sống hữu hạn của con người sang sự sống vô hạn của Thiên Chúa.  Đó là rời bỏ thế giới hữu hạn của loài người để bước vào thế giới vô hạn của Thiên Chúa.  Đức Giêsu lên trời có nghĩa là Đức Giêsu về với Thiên Chúa, sống với Thiên Chúa, sống cuộc sống Thiên Chúa.  Lên trời không phải lên theo chiều cao trong không gian vật lý.  Nhưng là lên theo cấp độ sự sống, là sống cao hơn, mạnh mẽ hơn, tràn đầy hơn.

Chính vì thế, Chúa Giêsu lên trời không phải giã từ thế giới, để đi vào xa vắng mịt mù.  Nhưng Người không đi vào một hiện hữu mới để hiện diện mãnh liệt hơn.  Không còn bị kềm chế trong không gian, giờ đây Người hiện diện ở khắp mọi nơi . Không còn bị lệ thuộc vào một thân xác, giờ đây Người có thể hiện diện dưới nhiều hình thức khác nhau.

Người ở đó trong những trang Sách Thánh đầy lời lẽ nhiệm mầu để dạy cho ta biết con đường về với Thiên Chúa. Người ở đó trong bí tích Thánh Thể huyền diệu để nuôi linh hồn ta, để kết hợp với ta, để giúp ta đủ sức mạnh đi hết con đường trần gian khổ.  Người ở đó trong những người anh em đồng tâm nhất trí cùng nhau dâng lời cầu nguyện lên Chúa Cha.  Người ở đó trong những anh em bé nhỏ nghèo hèn đang chờ chúng ta mở rộng trái tim, mở rộng vòng tay nhân ái.  Người ở đó trong những người hiến thân phục vụ anh em, trong những người hy sinh bản thân mình cho công bình, cho chân lý, cho một thế giới tươi đẹp hơn.  Người có mặt trên khắp mọi nơi nẻo đường, trong tất cả mọi cảnh ngộ của cuộc đời.  Người có mặt trong mọi thời gian đúng như Người đã hứa: “Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”.

Bây giờ thì chúng ta đã hiểu: Trời không phải là một nơi chốn xác định, là một không gian vật lý có thể cân đo đong đếm.  Nhưng trời là Thiên đàng, là chính sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi, là chính Thiên Chúa Ba Ngôi.

Bây giờ chúng ta đã hiểu lên trời không phải là bay bổng lên không gian.  Nhưng là chuyển đổi cấp độ sự sống, hay là bước vào sự sống siêu nhiên của Thiên Chúa.

Bây giờ thì chúng ta đã hiểu, lên trời không phải là vắng mặt, là xa vắng nhưng lại là một hiện diện vô cùng phong phú, vô cùng mãnh liệt, ở bên cạnh tất cả mọi người, ở mọi nơi và ở mọi thời.

Chúa Giêsu là người mở đường cho nhân loại.  Người tiến về một thế giới sự sống viên mãn, cao cả để cho ta thêm niềm tin tưởng rằng: vận mệnh của Người cũng sẽ là vận mệnh của ta.  Ta cũng sẽ được cùng Người bước vào sự sống thần linh vĩnh cửu, miễn là ta đi vào con đường của Người: con đường khiêm nhường phục vụ.  Miễn là ta vâng giữ lời Người truyền dạy: Hãy yêu tha nhân như chính bản thân mình.

Lạy Đức Giêsu, xin hãy nâng lòng con lên khao khát những sự trên trời.  Amen!

TGM Ngô Quang Kiệt

From: suyniemhangngay1 & Anh chị Thụ Mai gởi

HÃY GIỮ LẤY LỜI THẦY

HÃY GIỮ LẤY LỜI THẦY

Chúa Nhật VI Phục sinh A

Tác giả: Lm. Vinh Sơn, scj

 

Thánh Phanxicô Assisi có lòng mến Chúa và yêu người rất sâu xa. Một hôm, ngài gặp một người bạn, có lẽ anh đã gặp nhiều thử thách trong đời, vì thế anh chia sẻ với Phanxico  rằng anh không thể nào yêu mến Thiên Chúa được…

Đang khi hai người đi đường thì gặp một người hành khất vừa mù vừa què ngồi bên lề đường.

Ngài dừng lại hỏi người hành khất:

“Này anh, nếu tôi chữa cho anh thấy được và đi được thì anh có yêu mến tôi không?”.

Người hành khất trả lời:

“Dạ thưa ngài, không những tôi yêu mến ngài, mà tôi còn xin dâng hiến trọn phần còn lại của đời tôi để phục vụ ngài”.

Nghe câu trả lời của người hành khất, thánh Phanxicô quay sang nói với người bạn:

“Đấy anh thấy không, người hành khất này chỉ thấy được, đi được mà còn hứa với tôi như thế huống hồ là anh, anh không những được Chúa dựng nên với chân tay mắt mũi lành lặn, Ngài còn chịu chết để cứu chuộc anh nữa, đang khi đáng lý ra anh phải chết vì tội của anh, vậy mà anh lại không yêu mến Chúa sao?”.

Yêu Chúa, đó là bổn phận của mỗi người chúng ta với Đấng tạo dựng chúng ta giống hình ảnh Ngài, và đã yêu thương, hiến mạng sống của mình cho chúng ta, Thánh Phaolô đã nhấn mạnh: Chúa Giêsu yêu chúng ta trước đến nỗi Người đã chết cho chúng ta trong khi chúng ta còn là những người tội lỗi (x. Rm 5, 8). Một tình yêu vĩ đại, như Người đã tự hiến “Không ai có tình yêu cao trọng hơn tình yêu này, là hy sinh mạng sống vì bạn hữu của mình” (Ga 15, 13).

Những lời mời gọi yêu mến trong Tin mừng Gioan 14, 15-21 ghi nhận những tâm tình được trích từ diễn từ giã biệt các môn đệ của Chúa Giêsu với các môn đệ trước khi Người bị bắt và chịu chết (x. Ga 13, 31 – 16, 33). Có thể nói đó như là những lời di chúc của Chúa Giêsu cho các môn đệ -những người đặt niềm tin vào Ngài. Trong đoạn Tin Mừng Gioan 14, 15-21, chúng ta đã thấy Chúa Giêsu lặp lại đến năm lần từ “yêu mến”. Yêu mến trở thành mối quan hệ thân thiết, thẳm sâu giữa môn đệ và Thầy, Yêu mến đưa đến sự hoà nhập nên một với thầy: “Anh em ở trong Thầy và Thầy ở trong anh em” (Ga 14, 20). Một sự hiện diện đem lại sức sống dồi dào: “Vì Thầy sống và anh em cũng sẽ sống” (Ga 14,19) như Lời Người đã khẳng định mãnh liệt : Ngài đến để chúng ta sống và sống dồi dào hơn (x. Ga 10, 10). Hơn nữa Thầy sẽ mặc khải bí nhiệm nước Trời cùng sứ mạng của Thầy :“Thầy sẽ tỏ mình ra cho anh em thấy Thầy (Ga 14, 20 – 21).

Yêu là tuân giữ Lời của Thầy: Tình yêu không dừng lại ở cái nhìn thấy hay chỉ là tình cảm suông hoặc xúc động thuần túy như là một cảm xúc chỉ lưu lại ở trong trái tim. Tình yêu là nội lực và luôn thúc đẩy dẫn tới hành động. Tình yêu không có hành động là tình yêu không sức sống, là tình yêu lý thuyết, tình yêu chết… Hành động là bằng chứng của tình yêu đích thực như Thánh Grégoire le Grand đã khẳng định “Bằng chứng của tình yêu là chứng nhân qua những công trình. Không bao giờ tình yêu của Thiên Chúa cư ngụ trong nhàn rỗi. Khi tình yêu hiện hữu, tình yêu luôn làm những sự việc lớn lao”( homélie XXX).

Giữ các giới răn là chúng ta ở với Chúa và Chúa ở với ta, là lưu lại trong tình yêu của Chúa. Người theo Chúa Kitô làm thành đạo của tình yêu: yêu Chúa và yêu người. Tình yêu sẽ chắp cho chúng ta đôi cánh để bay lên cao.

Chúa Giêsu đã nói: “Ai yêu mến Thầy thì tuân giữ các giới răn của Thầy. Ai giữ các giới răn của Thầy mới là người yêu mến Thầy”. Gần nhất, và quan trọng nhất, giới răn mà Ngài mời gọi tuân giữ, theo văn mạch của Tin Mừng Gioan, Ngài vừa trao ban cho các môn đệ, và qua các ông cho tất cả chúng ta qua mọi thời đại : “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13, 34), và Ngài nhắc lại rất trang trọng (x. Ga 15, 12). Đức Kitô nhấn mạnh : “Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm nầy: là anh em có lòng yêu thương nhau” (Ga 13,35). Cho nên, yêu thương anh chị em và tất cả những người lân cận là người giữ giới răn Chúa và thật sự yêu mến Ngài. Mến Chúa dẫn đến yêu anh em, Thánh Gioan diễn giải nhân qủa sự yêu mến này rõ hơn nữa khi xác tín: “Nếu ai nói: “Tôi yêu mến Thiên Chúa” mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy” (1Ga 4,20).

Đức Giêsu khẳng định : “Ai giữ các giới răn của Thầy sẽ được Cha Thầy yêu mến. Cha và Thầy sẽ yêu mến người ấy và sẽ đến và ở trong người ấy” (Ga 14, 21). Chính sự yêu mến và giữ giới răn làm thành tương quan thẳm sâu giữa chúng ta với Chúa Giêsu: tình yêu gắn bó và tình yêu Thầy – trò cấu tạo nên tương quan với Chúa Cha trong chính Chúa Giêsu.

Tình yêu gắn bó và đồng hóa với Chúa Kitô và nên một với Chúa Cha trong Chúa  Thánh Thần. Chính Ngài là Đấng Bảo Trợ mà Chúa Giêsu hứa ban, đặt trong chúng ta tâm tình con thảo, sức sống tình yêu gắn bó mà Chúa Cha mong đợi nơi chúng ta – những người yêu mến Con Ngài và giữ lời của Ngài trở nên chính người con như thánh Phaolô nói: “ai được Thần khí Thiên Chúa hướng dẫn, đều là con cái Thiên Chúa” (Rm 8, 14)”.

Người con nhận lấy Thần Khí, để không phải trở nên nô lệ, bị sợ hãi ; nhưng mang tinh thần của Thần Khí (x. Rm 8, 15) mà Thánh Phaolô đã viết: “Hoa quả của Thần Khí là: bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hoà, tiết độ” (Gl 5, 22-23). Ngài còn khẳng định : “….Thần Khí làm cho anh em nên nghĩa tử, nhờ đó chúng ta được kêu lên: “Áp-ba! Cha ơi! “Chính Thần Khí chứng thực cho thần trí chúng ta rằng chúng ta là con cái Thiên Chúa” (Rm 8, 15b- 16).

Như vậy, với yêu mến Chúa Kitô, sống tương quan với thầy, qua thầy với cha, được trao Thần Khí, chúng ta trở nên con, thì đời sống vĩnh cửu đã bắt đầu. Cuộc sống ngừơi con  như lời khẳng định của hai tác giả M.E.Boismard và A. Lamouille : “ngay trên trần gian này đã tương đương với cuộc sống của Đấng Phục Sinh, đã thông phần với cuộc sống của chính Thiên Chúa, với cuộc sống của Chúa Ba Ngôi. cuộc sống họ là một sự hiệp thông, trong tình yêu, với từng ngôi Thiên Chúa đang ở trong họ.” (M.E.Boismard và A. Lamouille, “Tin Mừng thánh Gioan” Cerf, p.360). Đó là cuộc sống ngập tình yêu…

Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI khẳng định Tình yêu dẫn tới hạnh phúc và tự do: “Con người được giải thoát bởi tình yêu. Điều này đúng ngay cả đối với thế giới ngày nay. Khi một người cảm nghiệm được một tình yêu cao đẹp trong đời, đó là giây phút người ấy được ‘ giải thoát’, là giây phút đem đến một ý nghĩa mới cho cuộc đời… »

Xin cho chúng con, một tình yêu sắc son, theo lệnh truyền của Đức Kitô : yêu Chúa là tuân giữ Lời, là sống bằng con tim với đời, với anh em bằng một tình yêu sắc son và mãnh liệt như xác tín của thánh Phaolô : “Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu Chúa Kitô, phải chăng là gian truân, khắc khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo?”… Nhưng trong mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta… » (Rm 8, 35. 37).

Thật thế, tiếng thì thầm luôn vang vọng trong tâm:

Ngày đó người nói với riêng tôi,

Rằng thiếu tình-yêu thì vô-nghĩa,

Cuộc đời sẽ chỉ là một nhánh sông khô.

Những bước chân lữ-hành tuyệt-vọng.

Và, đời khao-khát nụ hoa tình đẹp nhất.

(Cát Biển – Ngày Đó Người Trao Tôi)

Thánh lễ online: http://tinvui.info/?language=vi&nv=news&op=Nghe-Truc-Tuyen/Nghe-Thanh-le-Chua-Nhat-VI-Phuc-Sinh-10800

Lm. Vinh Sơn scj

Phía Sau Ông Thủ Tướng Có Ai

Phía Sau Ông Thủ Tướng Có Ai

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

RFA

Không đánh đổi chủ quyền lấy ngoại giao viển vông.

T.T. Nguyễn Tấn Dũng

Khi Kim Dung gặp Ian Fleming cả hai đều hớn hở, tay bắt mặt mừng và hể hả mà rằng: “Chúng ta đã chia nhau độc giả của toàn thể thế giới”. Câu nói nghe tuy hơi cường điệu (và cũng có phần hợm hĩnh) nhưng sự hỉ hả của họ không phải là không có lý do. Số lượng sách in và số tiền tác quyền hậu hĩ dành cho hai tác giả này, chắc chắn, vượt rất xa rất nhiều những cây viết lừng lẫy cùng thời.

Ian Fleming đã qua đời vào năm 1964 nhưng điệp viên James Bond vẫn 007 sống mãi trong sự nghiệp của … giới làm phim và trong … lòng khán giả. Tương tự, nhiều nhân vật trong chuyện kiếm hiệp của Kim Dung sẽ tiếp tục là những “chiếc bóng đậm màu” trong tâm tư của vô số người Việt, kể cả giới lãnh đạo cộng sản hiện nay. Ngôn ngữ hàng ngày của họ (nghe) có “mùi” tiểu thuyết Kim Dung thấy rõ:

– Sau nửa tháng im lặng, ngày16 tháng 5 năm 2014: “Trong  cuộc gặp cử tri Sài Gòn … ông Sang nhìn nhận Việt Nam đang trong giai đoạn khó khăn, cần phải bình tĩnh, có bình tĩnh mới sáng suốt. Bên cạnh sự cương quyết phải hết sức kiên nhẫn, song không ‘thay đổi mục tiêu’ là bảo vệ chủ quyền quốc gia, đồng thời chăm lo phát triển kinh tế, nâng cao nội lực quốc gia.”

– Trước đó không lâu, T.T Nguyễn Tấn Dũng cũng kêu gọi “phải phát huy nội lực để tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài hay “phát huy nội lực để đồng bằng sông Cửu Long phát triển nhanh và bền vững.”

Và người vận dụng nội lục đều đều là TBT Nguyễn Phú Trọng:

– Hôm 11 tháng 7 năm 2013, ông khuyến cáo nhân dân Hải Phòng “cần phát huy nội lực để phát triển.”

– Qua ngày 21 tháng 8 năm 2013, ông chỉ thị nhân dân Bắc Giang cũng “phải phát huy nội lực địa phương để vươn lên phát triển, không thua kém các tỉnh bạn.”

– Bữa 18 tháng 3 năm 2014 vừa rồi, trong chuyến đi công tác miền Trung, TBT lại nhắc nhở giới công nhân địa phương “tiếp tục phát huy truyền thông thi đua lao động sản xuất và tích cực … phát huy nội lực.”

Người tiền nhiệm của Nguyễn Phú Trọng – bác Lê Khả Phiêu – cũng  hễ mở miệng ra là đòi … “phát huy nội lực” liền liền. Ông còn giải thích (một cách văn hoa) rằng đó là “sức mạnh văn hóa của dân tộc Việt Nam, đạo đức trí tuệ Việt Nam… để chúng ta vượt mọi khó khăn trong những thời điểm gian nguy nhất…” –  khi trả lời phỏng vấn của báo Sài Gòn Giải Phóng, số ra ngày 16 tháng 6 năm 2000.

Dù nghe có hơi kiếm hiệp, kêu gọi dân chúng “phát huy nội lực” – nói nào ngay – là chuyện phải làm khi hữu sự. Ðiều đáng phàn nàn là giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam rất hiếu sự nên đất nước “hữu sự hoài hoài. Kể từ khi giành được quyền bính đến nay, họ luôn luôn tìm mọi cách để đưa dân tộc này vào những hoàn cảnh “khó khăn” hay những “thời điểm gian nguy.” Nếu không phải đấu tố lẫn nhau cho đến chết thì người dân cũng bị nhà nước Việt Nam lôi kéo, lê lết hết từ trận chiến này qua trận chiến khác. Không tử thương thì cũng bị thương vô số kể.

Thôi tạm gác lại chuyện đã cũ đi, và chỉ nhìn lại vài những sự kiện nho nhỏ vừa mới xẩy ra –  trong thời gian cầm quyền của bộ ba Sang, Trọng, Dũng mà coi:

– Khi kêu gọi người dân Hải Phòng “cần phải phát huy nội lực để phát triển,” họ quên bẵng đi rằng sau vụ cầm tù anh em Đoàn Văn Vươn (cùng với chuyện thăng tướng của ông đại tá Đỗ Hữu Ca) người dân nơi đây đã gần tiêu ma nội lực, và đã mất ráo niềm tin vào chính quyền – từ địa phương tới trung ương – rồi.

– Nếu biết qua về mức sống khốn cùng ở Bắc Giang, chắc chắn, họ cũng sẽ không đủ mặt dầy mày dạn kêu gọi người dân miền núi “phát huy nội lực để vươn lên” đâu.

– Hãy nhìn qua hình ảnh một góc chợ ở địa phương này, qua ghi nhận của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư: “Người ta nói, đi qua một khu chợ sẽ biết đời sống của cư dân ở đó. Mình tin điều đó. Và nhìn món hàng bày trước mặt những người phụ nữ vùng cao, mình  hình dung được  nồi cơm, căn bếp, cuộc đời…

Ảnh: Nguyễn Ngọc Tư

Hình ảnh vài “bó củi co ro,” hay “nụm nịu hai ba nải chuối,” và “lèo tèo mấy bó rau xanh” – ở một phiên chợ ở Bắc Giang – chỉ khiến cho tôi muốn rơi nước mắt, và không thể nghĩ đến chuyện họ có thể “phát huy nội lực để vươn lên.”  Vươn lên gì nổi, mấy cha? Tôi cũng không tin rằng giới công nhân Việt Nam còn có nội lực để phát huy sau những ngày làm việc tăng ca (liên tục) mà đồng lương chưa chắc đã đủ mua một cái bánh kẹp thịt ở cửa tiệm McDonalds.

Vắt cạn kiệt sức dân, đẩy trăm họ tới mức khốn cùng rồi vẫn thản nhiên kêu gọi vận dụng “nội lực” của mọi người khi đất nước lâm nguy chắc (chắn) không phải là điều khôn ngoan, nếu chưa muốn nói là bất nhẫn. Bởi vậy, khác với nhà báo Huy Đức, tôi không “bảo đảm” là dân chúng sẽ đứng sau giới lãnh đạo Việt Nam trong tình cảnh hiện nay:

“Giàn khoan 981 xuất hiện trước thềm Hội nghị ASEAN ở Myanmar và Diễn đàn kinh tế Manila như một trái banh được đặt vào chân Thủ tướng khi ông đang ở gần khung thành nhất. Những tuyên bố đúng lúc, ngang tầm nguyên thủ, đã khiến ông trở thành một người hùng. Thưa Thủ tướng, ông đã cùng bước, cùng dùng một ngôn ngữ sục sôi với người dân Việt Nam. Ông đã đi một đoạn đường khá xa. Đừng quay lại vì phía sau là dân chúng.”

Huy Đức, có thể, vì may mắn chưa thấy quan tài nên chưa đổ lệ. Người Việt, thuộc những thế hệ trước ông (hẳn) không mấy ai lạc quan như vậy. Trong cuốn Hồi Ký Vi Đức Hồi, tác giả đã nhắc đi nhắc lại (đến chục lần) rằng  “Đảngluôn luôn nói một đằng,làm một nẻo.” Có gì bảo đảm là ông TT sẽ không tiếp tục cái “chiến thuật” cố hữu và vô liêm sỉ này của Đảng?

Tuyên bố đúng lúc, ngang tâm nguyên thủ (e) chưa đủ đâu. Dân Việt ở cả ba miền, cũng như miền ngược – hiện nay – đều đã thuộc nằm lòng: Đừng tin những gì cộng sản nói hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm. Yêu cầu ông Dũng thử làm vài việc trong tầm tay, và ngay trước mắt coi:

-Nếu không thể phóng thích tất cả những tù nhân lương tâm tức khắc, và cùng lúc, ít nhất hãy trả tự do cùng với lời xin lỗi cho hai người tù Nguyễn Văn Hải và Tạ Phong Tần. Họ không có tội gì ngoài tội thấy sớm hơn các ông cái thứ “ngoại viển vông” Hoa-Việt.

– Ngưng ngay cái chủ trương lớn (và ngu) của Đảng về chuyện khai thác bauxite Tây Nguyên.

– Trả lại quyền sở hữu ruộng đất cho nông dân, quyền tự do ngôn luận cho những người cầm bút, và quyền thành lập công đoàn cho công nhân. Đến đón Đỗ Thị Minh Hạnh, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đoàn Huy Chương tại cửa nhà tù để ôm xin họ tha lỗi. Cùng lúc, cũng phải công khai về chuyện “mất tích” của Lê Trí Tuệ (Phó Chủ Tịch Công Đoàn Độc Lập Việt Nam) người đã bị “bắt cóc” ở Cambodia vào từ hôm 16 tháng 5 năm 2007.

– Trả lại tài sản và quyền tự do tín ngưỡng cho tất cả những giáo hội và giáo phái.

– Xin làm hoà với người Việt nước ngoài bằng cách xin phép xây lại Bia Tưởng Niệm Thuyền Nhân ở Mã Lai và Nam Dương. Vứt cái Nghị Quyết rẻ tiền 36 vào thùng rác, đuổi việc những nhân viên ngoại giao lấc xấc và lấc cấc như Nguyễn Thanh Sơn đi cho thiên hạ đỡ bực mình.

– Nếu chưa có thể công bố thời điểm chính xác để huỷ bỏ điều bốn hiến pháp và tổ chức tổng tuyển cử tự do vào lúc này thì ít nhất cũng phải ngưng ngay cái cung cách cầm quyền như một đạo quân chiếm đóng như hiện nay, để người dân toàn quyền tự do làm những gì mà luật pháp không cấm, và trừng phạt nghiêm khắc mọi hành vi lộng quyền hay lạm quyền của viên chức các cấp.

Những điều trên trước sau gì cù̃ng phải được thực hiện ở Việt Nam thôi nhưng nếu không làm ngay hôm nay thì trước mặt ông T.T.  là kẻ thù, và sau lưng sẽ chả có ai đâu. Hai bên cũng không có bạn bè đồng minh nào ráo. Nhân loại văn minh tiến bộ giờ đây không ai muốn làm bạn với những kẻ độc ác, trí trá, giáo dở lươn lẹo, ngu (lâu) và ngoan cố. Hãy chứng tỏ thiện chí và nỗ lực muốn thoát cộng đi thì mới có hy vọng thoát Tầu. Nếu không là đi tầu suốt.

NGƯỜI ĐÀN ÔNG KHÁC THƯỜNG

NGƯỜI ĐÀN ÔNG KHÁC THƯỜNG

TRẦM THIÊN THU

(Đây là chuyện có thật do Richard D. Ryan viết lại và đăng trên báo Christian Reader Magazine. Bạn có thể liên lạc với Richard D. Ryan qua email: onevoice_47112@yahoo.com)

Một ngày bất thường trong tháng Năm. Mùa Xuân đã qua mà mọi thứ vẫn sống động qua màu sắc. Nhưng cái lạnh từ miền Bắc đã đưa cái lạnh của mùa Đông trở lại khu của người Ấn độ. Tôi ngồi với 2 người bạn trong một nhà hàng cổ ở một góc phố. Đồ ăn ngon và người ăn cũng ngon. Khi chúng tôi nói chuyện, bên ngoài kéo sự chú ý của tôi, ở bên kia đường. Một người đàn ông đang bước đi với vẻ nặng nhọc, rất buồn và thất vọng. Lòng tôi chùng xuống. Tôi nói bạn tôi nhìn, và tôi thấy những người khác cũng nhìn về phía đàn ông kia. Chúng tôi tiếp tục ăn nhưng hình ảnh người đàn ông kia cứ lởn vởn trong đầu tôi.

Ăn xong, ai về nhà nấy. Tôi cứ nhìn ra ngoài với hy vọng gặp lại đàn ông kia, nhưng không thấy. Tôi lo lắng. Trong tâm trí tôi luôn vang tiếng nói: “Đừng quay trở lại”. Với chút lưỡng lự, tôi quay lại. Tôi thấy anh ta đang ngồi trên bậc thềm một ngôi thánh đường. Tôi dừng lại, nửa muốn nói gì với anh ta, nửa muốn đi. Tôi xuống xe, lại gần anh ta và hỏi:

– Anh muốn gặp mục sư hả?

– Không hẳn vậy.

– Anh ngồi nghỉ hả? Hôm nay anh ăn gì chưa?

– Tôi ăn hồi sáng rồi.

– Anh ăn trưa với tôi nha? Anh có việc gì cần tôi giúp không?

– Không có việc gì.

– Tôi thường đi qua đây, nhưng tôi muốn mời ông ăn trưa.

Anh ta cười:

– Được.

Khi cùng ăn, tôi hỏi:

– Anh đi đâu vậy?

– Đi St. Louis.

– Anh từ đâu đến?

– À, từ khắp nơi, thường là từ Florida.

– Anh đã đi bộ bao lâu?

– Mười lăm năm.

Tôi biết mình đang gặp một ngườ khác thường. Chúng tôi ngồi đối diện nhau. Anh tên Daniel, có mái tóc dài và bộ râu được tỉa gọn gàng. Da rám nắng. Nhìn mặt khoảng gần 40 tuổi. Có vẻ già trước tuổi. Mắt đen và sáng. Ăn nói hoạt bát và rõ ràng. Anh ta nói:

– Chúa Giêsu là câu chuyện không kết thúc.

Câu chuyện của anh bắt đầu mở ra. Anh đã chọn lựa sai và lặp lại hậu quả. Mười bốn năm trước, trên bước đường lãng du, anh đã dừng lại trên một bãi biển ở Daytona. Anh và mấy người khác dựng căn lều với ít dụng cụ để cứu hộ những người tắm biển. Nhờ đó anh hiểu rõ cuộc đời mình hơn. Anh phó thác cuộc đời cho Chúa. Anh nói:

– Không gì giống nhau kể từ đó. Tôi cảm thấy Thiên Chúa bảo tôi cứ đi bộ, và tôi đi bộ hơn 14 năm rồi.

– Anh có nghĩ mình sẽ dừng chân không?

– Thi thoảng, khi tôi cảm thấy cần. Nhưng Thiên Chúa cho tôi ơn gọi này. Túi xách tôi có cuốn Kinh thánh. Tôi làm việc để có tiền sinh sống và mua Kinh thánh. Tôi tặng người khác khi Thánh Thần soi sáng.

Tôi ngồi lặng người và ngạc nhiên. Người bạn vô gia đình của tôi không hề vô gia đình. Anh đang có sứ vụ và sống theo cách mình đã chọn. Tôi hỏi:

– Điều đó như thế nào?

– Cái gì chứ?

– Vào thành phố với ba lô trên lưng và thể hiện dấu hiệu của anh thế nào?

– Ồ, mới đầu thấy mắc cở. gười ta nhìn và đàm tiếu. Có lần người ta ném cho tôi mẩu bánh mì ăn dở và tỏ vẻ khinh thường. Bị coi thường và tôi thấy Chúa dùng tôi để làm người ta tỉnh ngộ và thay đổi cuộc đời những người như tôi.

Cuộc đời tôi cũng đang thay đổi. Chúng tôi ăn xong. Ra đến cửa, anh nhìn tôi và nói:

– Hỡi người được Chúa Cha chúc phúc, hãy đến thừa hưởng vương quốc đã được chuẩn bị cho bạn. Vì khi Tôi đói, bạn đã cho ăn, khi Tôi khát, bạn đã cho uống, Tôi là khách lạ mà bạn đã đón tiếp.

 

Tôi thấy mình như ở trên đất thánh. Tôi hỏi:

– Anh có thể dùng lời Kinh thánh khác?

– Tôi đã đọc hết cuốn Kinh thánh 14 lần.

Anh mỉm cười. Tinh thần của anh tỏa sáng sự chân thật. Trên đường về, trời đổ mưa. Chúng tôi dừng lại nơi chúng tôi gặp nhau. Anh nói:

– Ông ký tên vào sách tôi được không? Tôi muốn giữ sứ điệp của những ngườ tôi đã gặp.

Tôi viết trong cuốn sổ của anh rằng việc anh tuân giữ ơn gọi của anh đã làm tôi xúc động. Tôi khuyến khích anh cứ vững mạnh. Tôi chia tay anh với câu Kinh thánh: “Ta biết những dự định của Ta dành cho ngươi, những dự định làm phong phú ngươi chứ không làm tổn hại người. Những dự định đó cho người tương lai và hy vọng” (Gr 29:11).

– Xin cảm ơn. Chúng ta sẽ gặp lại nhau như những người lạ, nhưng tôi yêu ông.

– Tôi hiểu. Tôi cũng yêu anh.

– Thiên Chúa tốt lành.

– Đúng. Ngài tốt lành.

– Hẹn gặp lại ở thành thánh Giêrusalem mới.

– Hẹn gặp lại.

Anh lại tiếp tục bộ hành. Chợt anh quay lại nói:

– Khi có điều gì làm ông nhớ đến tôi, hãy cầu nguyện cho tôi nhé!

– Tôi hứa. Xin Chúa chúc lành cho anh.

TRẦM THIÊN THU

(Lược dịch)