Yêu kẻ thù

Yêu kẻ thù

Vô vàn những người khác mà ta gọi là “kẻ thù” ta phải yêu thương họ.

Yêu kẻ thù

(Trích trong ‘Niềm Vui Chia Sẻ’)

Anh em hãy yêu thương kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em, như vậy anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt” (Mt 5,44-45). “Anh em hãy yêu thương kẻ thù mình”. Việc này thật đòi hỏi: Nó đảo lộn các suy nghĩ của ta và làm mọi người phải thay đổi hướng đi của đời mình! Bởi vì, đừng dấu diếm nữa, tất cả chúng ta đều có một vài kẻ thù… lớn hoặc nhỏ.

Kẻ thù đang ở đàng sau cánh cửa căn nhà bên cạnh, nơi người đàn bà đáng ghét đó mà tôi thường tìm cách tránh né mỗi làn bà ta sắp sửa cùng bước lên cầu thang.

Kẻ thù ở chính nơi người bà con mà cách đây ba chục năm đã đối xử bất công với cha tôi, vì thế tôi không còn chào hỏi nữa.

Kẻ thù ngồi ở bàn đàng sau trong lớp học và từ ngày nó tố cáo cho bạn tôi với thầy giáo, không bao giờ bạn nhìn mặt nó.

Kẻ thù là người bạn gái đó, vì cô ta đã bỏ bạn để đi với người khác.

Kẻ thù là người bán hàng đã đánh lừa bạn.

Cũng có người nhìn các linh mục và Giáo Hội như là thù địch.

Tất cả những người này và vô vàn những người khác mà ta gọi là “kẻ thù” ta phải yêu thương họ.

Phải yêu thương họ sao?

Thưa phải, phải yêu thương họ! Và đừng cho mình có thể làm được bằng cách thay đổi tình cảm oán ghét thành tình cảm nhân hậu hơn. Mà còn hơn nữa. Bạn hãy lắng nghe lời Đức Giêsu dạy:

“Anh em hãy yêu thương kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em, như vậy, anh em mới thực sự trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt”.

Bạn thấy không? Đức Giêsu muốn một tình thương thể hiện qua việc cầu nguyện và những hành động cụ thể. Ở nơi khác, Ngài cũng dạy: “Anh em hãy làm ơn cho kẻ oán ghét mình, chúc lành cho kẻ nguyền rủa mình, cầu cho kẻ nhục mạ mình” (Lc 6,27-28).

Ngài giải thích cho ta lý do tại sao Ngài truyền dạy như vậy, và chỉ cho ta mẫu gương là tình thương của Thiên Chúa, Cha Ngài; Ngài dạy ta làm như vậy cùng hành xử theo gương Chúa Cha. Điều đó có nghĩa là trên đời ta không còn cô đơn: ta có một người Cha và phải sống như Người. Không những thế, mà Thiên Chúa còn có quyền đòi ta làm như vậy, bởi vì khi ta còn là thù địch của Người, còn sống trong tội lỗi, Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước (x.2Ga 4,19), và sai Con của Người đến với ta, Đấng đã chết cách nhục nhã vì mỗi người chúng ta.

“Anh em hãy yêu thương kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em, như vậy anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt”.

Bài học ấy chú bé Jery người da đen đã học được ở Washington. Vì có trí thông minh, em đã được nhận vào một lớp đặc biệt gồm toàn thiếu niên da trắng. Nhưng trí thông minh không đủ để làm cho các bạn cùng lớp hiểu rằng em cũng bình đẳng như chúng. Màu da đen đã làm cho tất cả ghét bỏ em, đến độ ngày lễ Giáng Sinh các học sinh tặng quà cho nhau nhưng không thèm để ý tới Jery. Em bật khóc, điều này dễ hiểu! Nhưng khi về nhà em nghĩ đến Chúa Giêsu: “Hãy yêu thương kẻ thù của anh em”, và đồng ý với má, em mua quà vui vẻ tặng cho tất cả những “người anh em da trắng” của mình.

“Anh em hãy yêu thương kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em, như vậy anh em mới trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt”.

Ngày hôm đó Elizabeth, cô bé có đạo ở thành phố Florence (Italia) thật đau lòng, khi bước lên bậc thang vào nhà thờ dự lễ, vì cô nghe tiếng cười nhạo của một nhóm đồng lứa tuổi. Cho dù muốn chống lại, em mỉm cười và trong nhà thờ em cầu nguyện cho những thiếu niên ấy.

Khi đi ra, các thiếu niên chặn em lại và hỏi lý do tại sao em xử sự như vậy. Em trả lời, mình là người có đạo, nên phải thương yêu luôn luôn. Em nói lên điều đó với niềm xác tín mạnh mẽ.

Chứng ta của em Elizabeth đã được thưởng công: Chúa Nhật sau đó em thấy tất cả các thiếu niên ấy trong nhà thờ, rất chăm chú ở hàng ghế trên cùng. Các thiếu niên chấp nhận Lời Chúa như thế. Do đó các em là người lớn trước mặt Chúa.

Có lẽ ta cũng nên điều chỉnh lại một vài tình trạng, hơn nữa cũng vì ta sẽ được xét xử theo như cách ta xét đoán người khác. Thật vậy, chính ta là người trao vào tay Chúa cái thước mà Ngài phải dùng để đo tình yêu của chúng ta. Ta đã chẳng xin Chúa: “Xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con” đó sao? Vậy ta hãy yêu thương kẻ thù! Chỉ khi xử sự như vậy ta mới có thể sửa chữa lại sự chia rẽ, đạp đổ những hàng rào ngăn cách và xây dựng cộng đoàn huynh đệ.

Điều đó khó khăn sao? Nặng nề sao? Nó không để ta ngủ yên, ngay khi mới nghĩ đến sao? Hãy can đảm lên! Điều đó không phải là quá sức: một nỗ lực nhỏ từ phía ta, rồi 99 phần trăm Thiên Chúa sẽ làm, và… trong tâm hồn ta sẽ dâng trào niềm vui.

Vaodoi

Cốt lõi của tôn giáo

Cốt lõi của tôn giáo

Nhân một chuyến công du, vị Tổng Trấn sở tại dừng chân đảnh lễ Minh Sư.

Ông nói: “Thưa ngài, Việc Nước bề bộn không cho phép tôi có nhiều thì giờ luận bàn viển vông. Có thể nào ngài tóm gọn cốt lõi của tôn giáo trong một hai câu, cho một người quá bận rộn như tôi không?”

“Vì lợi ích của Thượng Quan, tôi xin tóm tắt điều cốt yếu đó trong một từ (kép)”

“Tuyệt vời! Và từ siêu việt đó là gì?”

Thinh-Lặng.”

“Và đường nào dẫn tới Thinh-Lặng?”

Chiêm-niệm.”

“Và xin cho phép tôi được hỏi chiêm-niệm là gì?”

Thinh-Lặng.”

Suy tư

Mỗi ngày, trước khi ngủ, cần 15 tới 30 phút thinh lặng để nhìn lại

Suốt một ngày quamối tương quan của tôi với Chúa hiện nay ra sao???

 

TUỔI GIÀ

TUỔI GIÀ

Tuổi già nhàn lắm, các cụ ơi!
Cầy cuốc, hôm nay dẹp hết rồi.
Rộng rãi thênh thang, nhà hai đứa,
Thoải mái ra vào, đôi ta thôi.

Tuổi già khỏe lắm, các cụ ơi!
Cái vòng lợi danh, rũ sạch rồi.
Giờ đây tóc bạc, ta hai đứa,
Sáng tối nắm tay đi bộ thôi.

Tuổi già vui lắm, các cụ ơi!
Con cái giờ đây lớn cả rồi.
Nhìn qua nhìn lại, mình hai đứa
Ngày tháng đôi ta cho nhau thôi.

Tuổi già thích lắm, các cụ ơi!
Cháu nội, cháu ngoại đến chơi rồi.
Ông bà ôm nựng, ôi yêu quá,
Nhìn cháu tung tăng, ta vui thôi.

Tuổi già sướng lắm, các cụ ơi!
Bệnh tật bao nhiêu cũng biết rồi.
Khoán giao tất cả cho thày thuốc,
Thanh thản, đôi ta rong chơi thôi.

Trương Ngọc Thạch

“CON LỪA” CỦA THIÊN CHÚA THÁNH GIOAN VIANNEY

“CON LỪA” CỦA THIÊN CHÚA  THÁNH GIOAN VIANNEY

LM Giuse Nguyễn Thành Long

“Thiên Chúa đã chọn những người không ra gì để làm vinh danh Ngài.”
Câu nói này rất đúng với trường hợp của thánh Gioan Vianney.
Nếu so sánh với thánh Augustinô, thánh Toma Aquinô, thánh Bonaventura, thánh Phanxicô Xaviê,…. thì trí thông minh của thánh Gioan Vianney cách biệt một trời một vực.  Người ta nói rằng chưa có vị thánh nào chậm hiểu và học hành kém cỏi như Gioan Vianney, đặc biệt là môn Latinh và Thần học, vốn là hai môn quan trọng cho chức vụ linh mục.   Kém đến nỗi Ban Giám Đốc Chủng Viện khuyên ngài nên hồi tục.   Mười bảy tuổi mới học xong tiểu học.  Tú tài phải thi đến 12 lần mới đậu.  Dưới mắt các vị giáo sư và các cha giáo khó tính, thì ngài thuộc diện “ngu lâu dốt bền khó đào tạo”.  Chẳng phải thế mà đã có lần, một giáo sư thừa lệnh Đức Giám Mục đến khảo hạch xem ngài có đủ khả năng học vấn tối thiểu để làm linh mục hay không.  Vị giáo sư hỏi câu nào ngài cũng không trả lời được.  Nổi nóng, vị giáo sư đập bàn nói: “Gioan Vianney, anh dốt đặc như một con lừa, thì giúp được gì cho Giáo hội”.  Ngài khiêm tốn trả lời:
“Thưa thầy, xưa Samson chỉ dùng một cái hàm của con lừa  mà đánh bại 3000 quân Philitinh.  Vậy với cả một con lừa này, lẽ nào Thiên Chúa không dùng được việc gì sao?”

Lời của ngài nói quả là không sai.  Thiên Chúa đã dùng con lừa đó, dùng con người kém cỏi đó và biến ngài thành vị thánh lừng danh, một vị thánh có thể nói được là đã ghi nhiều “kỷ lục Giuness” đặc biệt nhất trong lịch sử Giáo Hội.

– Kỷ lục thứ nhất: ngài là vị thánh có tài ngồi toà nhất.

Người ta nói không ngoa rằng trong lịch sử Giáo hội chưa từng có một vị linh mục nào có tài ngồi toà lâu giờ, giải tội cho nhiều người và làm ích cho linh hồn người ta nhiều như cha Gioan Vianney.  Ngài ngồi toà không biết mệt mỏi, ngồi tòa không bất kể giờ nào, sáng sớm, giữa trưa, cả lúc nửa đêm về.  Ngoài những giờ dâng lễ, cầu nguyện, đọc sách thiêng liêng và tiếp khách, người ta chỉ thấy ngài nơi toà giải tội.  Ngài say mê ngồi toà đến độ quên ăn, quên ngủ.  Cũng nhờ đó mà trong suốt thời gian ngài làm cha sở họ Ars, đã có đến hàng trăm ngàn linh hồn tội luỵ được ngài cứu giúp.

– Kỷ lục thứ hai: ngài là vị thánh giảng dạy có sức lôi cuốn nhất.

Thành phần đến nghe ngài giảng dạy thuộc đủ mọi hạng người, mọi địa phận, mọi quốc gia; các linh mục, giám mục và cả hồng y, … cũng bị thu hút đến thọ giáo với ngài.  Đến nỗi nhà nước phải mở một tuyến đường xe lửa đến giáo xứ của ngài và lập thêm một nhà ga riêng để phục vụ khách hành hương đến với ngài.  Một linh mục dốt thần học, một cha xứ dở triết học, lại quê mùa, vậy mà lại dạy tu đức, mục vụ cho những người trí thức và những bậc vị vọng trong Giáo Hội.  Chỉ có Thiên Chúa mới làm được chuyện phi thường này!

– Kỷ lục thứ ba: ngoài Đức Mẹ ra, ngài là vị thánh làm cho ma quỷ lo sợ nhất.

Ma quỷ lo sợ phải “thất nghiệp”. Đã có lần ma quỷ nói với nhau rằng trên thế gian này nếu có ba người như cha Gioan Vianney thì chúng thất nghiệp dài dài.  Chính vì vậy mà ma quỷ đã tìm đủ mọi cách để quấy phá ngài và những việc ngài làm.  Đêm đêm chúng làm ồn ào không cho ngài ngủ, có ngày ngài đang ở nhà thờ thì chúng đốt giường của ngài.  Ma quỷ còn lấy cả bùn đất bôi đen thánh giá trên toà giải tội của ngài.  Ma quỷ lo vì nhiều người đã “bỏ mặc” chúng đơn côi mà theo ngài.  Ma quỷ sợ vì ngài đã đem về với Chúa quá nhiều linh hồn tội lỗi mà lẽ ra đã thuộc về chúng.

Dĩ nhiên, có được những kỷ lục có một không hai như thế là nhờ đâu?  Trước hết là nhờ ơn Chúa.  Sau nữa là nhờ ngài có một ý chí hy sinh hãm mình nghiêm nhặt, một tinh thần cầu nguyện liên lỉ, và một lòng kính mến phép Thánh Thể và Mẹ Maria phi thường.  Đó là bí quyết thành công của ngài.

Trong ngày lễ mừng kính ngài hôm nay, một lần nữa, chúng ta hãy tạ ơn Thiên Chúa một cách đặc biệt vì Thiên Chúa đã ban cho Giáo Hội một vị thánh, một cha sở “trên cả tuyệt vời”.  Đồng thời chúng ta hãy xin Chúa qua lời cầu bầu của thánh Gioan Vianney ban cho các linh mục, nếu không được hoàn toàn giống như ngài thì cũng được một phần như ngài, đó là luôn nhiệt thành với sứ vụ và sẵn sàng hao mòn vì Chúa và vì các linh hồn. Amen.

LM Giuse Nguyễn Thành Long

CÓ HỎA NGỤC KHÔNG, VÀ Ở ĐÂU ?

CÓ HỎA NGỤC KHÔNG, VÀ Ở ĐÂU ?

Tác giả: Lm. PX. Ngô Tôn Huấn

Trích Đặc San Giáo Sĩ Việt Nam số 226

Trong niềm tin Kitô Giáo, căn cứ vào Kinh Thánh và Giáo lý của Giáo Hội thì chắc chắn phải có nơi gọi là hỏa ngục ( Hell) đối nghịch với nơi gọi là Thiên Đàng.

Nếu Thiên Đàng là nơi dành cho những ai , khi sống trên trần gian này, đã quyết tâm đi tìm Chúa và sống theo đường lối của Người, để xa lãnh mọi sự dữ, sự tội và bước đi theo Chúa Kitô, là : “Con đường là Sự thật và sự Sống”  ( Ga  14: 6) thì hỏa ngục phải là nơi dành cho những kẻ đã hoàn toàn khước từ Thiên Chúa để sống theo ý muốn của mình , và buông  mình theo  những quyến rũ của ma quỉ và thế gian để làm những sự dữ như giết người, cướp của , và dâm ô thác loạn  mà không hề biết ăn năn sám hối và từ bỏ nếp sống tội lỗi.

I- Thánh Kinh đã cho ta biết về nơi gọi là hỏa ngục như sau :

Khi ra vê, mọi người sẽ thấy xác những kẻ phản loạn chống lại Ta,vi giòi bọ  rúc tỉa, chúng sẽ không chết, lửa thiêu đốt chúng sẽ không tàn lụi. Chúng sẽ là đồ ghê tởm cho mọi người phàm. ( Ís 60:24)

Khi đến trần gian rao giảng Tin Mừng Cứu Độ, Chúa Giêsu cũng đã nói đến hỏa ngục và hình phạt ở nơi này như  sau:

Nếu mắt ngươi làm cớ cho ngươi sa ngã, thì móc nó đi; thà chột một mắt  mà được vào Nước Thiên Chúa còn hơn là có đủ hai mắt mà bị ném vào hỏa ngục, nơi  giòi bọ không hề chết, lửa không hề tắt.” ( Mc 9: 47-48)

Nơi khác, Chúa còn nói rõ hơn nữa :

anh  em đừng sợ những kẻ giết chết thân xác mà không giết được linh hồn.   Đúng hơn , anh  em hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hỏa ngục ( Mt 10: 28; Lc 11: 4-5)

 

II– Giáo lý của Giáo Hội về Hỏa ngục

Giáo lý của Giáo Hội nói rõ hỏa ngục  là “ nơi này dành cho những ai-  cho đến lúc chết- vẫn từ chối tin và trở lại. Đó là nơi cả hồn lẫn xác sẽ bị hư mất . Và danh từhỏa ngục “ được dùng để chỉ tình trạng ly khai chung cuộc khỏi mọi hiệp thông với Thiên Chúa và các Thánh ở trên Trời”, ( x. SGLGHCG số 633, 1033).

Vì thế, Giáo Hội luôn cảnh giác các tin hữu về thảm họa đáng sợ này để mong mọi người  ý thức rõ và quyết tâm sống đẹp lòng Chúa ở trần gian này hầu tránh hậu quả phải hư mất đời đời trong  nơi gọi là hỏa ngục. Cụ thể , giáo lý của Giáo Hội nói rõ thêm như sau:

“ linh hồn của những người chết trong tình trạng đang có tội trọng, sẽ lập tức xuống hỏa ngục, lửa vĩnh viễn.” ( x. SGLGHCG số 1035)

 

III- Hỏa ngục đang có ở đâu ngay trên trần gian này ?

Nhìn vào thực trạng sống của con người ở khắp nơi trong thế giới vô luân  tục hóa ngày nay, chúng ta có thể thấy rõ hỏa ngục đang  có mặt ở những nơi sau đây:

1- Buôn người, Mãi dâm và ấu dâm (prostitution & child prostitution):

Mãi dâm thì đã có từ khi có con người trên trần thế này.Nhưng buôn bán phụ nữ   cho nô lê tình dục  ( sexual slavery)   và  ấu dâm ( child prostitution) thì mới có trong thời đại vô luân  tục hóa ngày nay mà thôi.

Thật vậy, ở khắp nơi đang có   những kẻ đi tìm thú vui xác thit nơi các trẻ em còn thơ dại và nơi những phụ nữ bị lừa dối ,dụ dỗ  cho đi làm có lương ,  nhưng thực tế là để làm nô lệ tình dục  do bọn ma cô và tú bà khai thác để làm tiền trên thân sác và tinh thần đau khổ của các nạn nhân. . Đây là tội ác vô cùng khốn nạn đang xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới, kể cả ở  Hoa Kỳ.  Và Việt Nam, là một trong những nguồn cung cấp trẻ em  và phụ nữ  cho hoạt động đầy tội ác này.

Điều  buồn hơn nữa là  có những cha mẹ đã mất hết lương tri, và bản chất con người ( human nature) nên đã lạm dụng tình dục với chính con cái của mình. Tệ hại hơn nữa là có những người cha đã hiếp dâm con gái của mình mới 4-5-5-7  tuổi rồi bán chúng cho bọn buôn người đem đi bán lại cho bọn ma cô, tú bà đang hành nghề “ấu dâm” ở trong và ngoài nước;  theo như tin cho biết của một linh mục đang dấn thân lo cứu giúp các trẻ em nạn nhân này.

Như thế, tất cả cha mẹ liên hệ, bọn ma cô buôn người và các kẻ đi tìm thú vui vô cùng  khốn nạn và tội lỗi trên,  đều đang sống trong hỏa ngục do chính chúng  tạo ra  ngay ở trên trần gian này,  chứ không  cần phải đợi đến chết mới  được  xuống hỏa ngục để bị thiêu đốt đời đời. Tội lỗi của bọn này  thật ghê sợ vì không những chúng  tạo  hỏa ngục  cho chúng,  mà còn mang hỏa ngục  đó đến cho các nạn nhân đáng thương,  là những trẻ thơ còn trong trắng, nhưng đã bất hạnh sa vào cạm bẫy tội lỗi của chúng, khiến thể xác bị thương tật và tinh thần bị trấn thương nặng . Đây là tội ác chỉ có trong thời đại vô luân vô đạo hiên nay mà thôi. Và những kẻ đang làm sự dữ này  đã phỉ nhổ vào mọi niềm tin có  Thượng Đế, có Thiên Chúa là Đấng cực tốt cực lành, đầy yêu thương, nhưng chê ghét mọi tội lỗi và sự dữ.

Cho nên, chúng xứng đáng để nghe lời chúc dữ sau đây của  Chúa Giêsu :

Không thể không có những cớ làm cho người ta vấp ngã. Những khốn  cho kẻ làm cớ cho người ta vấp ngã. Thà buộc cối đá lớn vào cổ nó và xô xuống biển, còn lợi cho  nó hơn  là để nó làm cớ cho một trong những  kẻ  bé mọn này vấp ngã. ( Lc 17: 1-2)

Thánh Phaolô cũng lên án tội dâm ô và các tội khác như sau :

“ Những việc do tính xác thịt gây ra thì ai cũng rõ : đó là dâm bôn ô uế, phóng đãng …và những điều khác giống như vậy. Tôi báo trước cho mà biết, như tôi đã từng  bảo : những kẻ làm các điều đó sẽ không được thừa hưởng Nước Thiên Chúa.” ( Gl  5: 19-21)

Những  sự dữ mà bọn người nói trên đang làm là một  tội vô cùng lớn lao,  vì nó  đi ngược lại hoàn toàn  với  bản chất  thánh thiện , trọn tốt trọn lành của Thiên Chúa, và  chỉ thích hợp với bản chất của ma quỷ, tức  bè lũ Sa tăng, kẻ thù của Thiên Chúa, của  các Thánh, các Thiên Thần trên Trời mà thôi.

Thực tế đã cho biết là các đường dây buôn người, buôn bán phụ nữ và trẻ em đang hoạt động mạnh  ở trong và ngoài nước  để  cung cấp thú vui vô luân vô đạo cho bọn người đang bán linh hồn cho  ma quỉ  và  giữ chỗ trước trong hỏa ngục đời sau.

Tại sao lại có  những cha mẹ  đem bán con cái ( con gái) của mình cho bọn buôn người  nói trên ???.  Thật là điều đau buồn mà những ai còn chút lương tri phải rùng mình ghê sợ và lên án, vì đây  là  thảm trạng chưa từng thấy trong xã hội loài người từ xưa đên nay.Chỉ có loài thú vật mới không biết gì là liêm sỉ, vì không có lý trí và  lương tâm  nên chúng có thể ăn thịt nhau và làm tình lẫn lộn với nhau mà không hề biết xấu hổ.

Nhưng là con người , và là cha mẹ  mà đem bán cái cái cho bọn buôn người , nhất là lại  hãm hiếp con gái trước  khi bán chúng cho bọn bất lương, thì quả thật là điều ghê tởm không thể tưởng tượng  được, như đang xẩy ra trong hoàn cảnh của một xã hội phi luân, vô đạo hiện nay.Những  cha mẹ này cùng với bọn ma cô, tú bà  và những  kẻ đi tìm thú vui vô cùng khốn nạn kia quả thực  đang sống trong hỏa ngục trần gian do chúng tạo ra cho chúng  và nhẫn tâm  xô đẩy  biết bao trẻ em thơ dại,và phụ nữ bị lường gạt  vào cái hỏa ngục của bọn chúng. Do đó,  những vui thú  mà bọn người  man rợ  kia đi tìm  –  tức khách mua vui đủ mọi lớp tuổi,   cùng với  tiền bạc  mà  bọn  buôn người , bọn ma cô tú bà kiếm được nhờ  hoạt động  tội lỗi này,   đã giúp cho bọn chúng  có dư  điều kiện  để mua lò hỏa ngục tối tân   cho chúng được thiêu đốt  đời đời  mai sau.Chắc chắn như vậy

Nhưng tại sao lại có loại hỏa ngục  này ?

Phải chăng vì môi trường xã hội đã quá hư thối  không còn chất  luân lý, đạo đức nào như thực trạng  bên nhà , hoặc vì tự do quá trớn và luật pháp có nhiều khe hở như ở Hoa kỳ này,  đã làm phát sinh  những thảm họa như  nạn buôn người- hay nói đúng hơn, là buôn phụ nữ và trẻ em  bán cho bọn ma cô tú bà  hành nghề mãi dâm và ấu dâm ở rất  nhiều  nơi trên thế giới, đặc biệt là ở các nước Á  Châu, như  Trung cộng, Ấn Độ, Cambốt  Thai Lan, Lào, Sri Lanka,  Phi luật Tân,  Mã lai và Việt Nam ?

Theo thống kê  không chính thức thì có khoảng 31 triệu nạn nhân của nạn buôn người ( human traffickers ) buôn  bán trẻ em cho kỹ nghệ  nô lệ tình dục, mãi dâm  và ấu dâm  trên khắp thế giới hiện nay ! Đây là hỏa ngục mà bọn bất lương kia đang tạo ra cho các nạn  nhân đáng thương của chúng, đặc biệt là cho các trẻ em dưới tuổi thành niên.Tạo hỏa ngục cho các nạn nhân đó  là giữ chỗ trước cách chắc chắn cho bọn chúng được vào hỏa ngục để bị thiêu đốt sau này .

2- Nạn bất công, bóc lột và hà hiếp người thấp cổ bé miệng:

Thiên Chúa là sự công bằng, chính trực  tuyết đối, nên ai bất công, bóc lột  sức lao động  và tiền bạc  của người khác là xúc pham đến sự  công bằng của Chúa.

Thật vậy, chỉ vì  có những kẻ muốn vơ vét của cải cho đầy túi tham mà nạn bóc lột xảy ra trong chế độ cai trị hà khắc, bất công, vô nhân đạo  và  bạo tàn. Đây là thứ hỏa ngục khác đang tồn tại ở những nơi có bất công xã hội, vắng bóng luân lý và đạo đức, vì người cai trị cố bám lầy quyền bính để  kéo dài  sự đau khổ và bất công cho người dân  không may rơi vào ách thống trị  của tập đoàn  trộm cướ p, núp dưới danh nghĩa  cai trị  dân,  nhưng  thực chất chỉ để thỏa mãn tham vọng  quyền lực và vơ vét của cải , làm giầu cho bọn chúng  trên xương máu của người dân xấu số. Chúng  không có lương tri nên không hề quan tâm gì đến phúc lợi của người dân, cách riêng của người nghèo đói, nạn nhân của chế độ bóc lột và bất công như thực trạng đang phơi  bày ở nơi có hỏa ngục này.

3- khủng bố vì cuồng tin tôn giáo và tham vọng chính trị:

Thế giới đang sống trong đe dọa của khủng bố ( terrorism), vì bọn cuồng tín tôn giáo muốn độc tôn giáo phái của mình, nên tìm  mọi cách để triệt hạ tôn giáo khác bằng hành động khủng bố, bắt cóc, giết  người  và đốt phá cơ sở thờ phượng của các  tôn giáo khác. Đây là tai họa đang xảy   ra  cho các Kitô hữu ( Christians) thuộc các  Giáo hội Công Giáo Đông Phương, Chính Thống giáo và Tin Lành ở các nước Iraq, Iran, Ai Cập, Syria ,Lybia ,  Sudan…mà cộng đồng thế giới , đặc biệt là  Mỹ và Âu Châu, đang làm ngơ khiến cho các Kitô hữu thiểu số ở các nước có đông Hồi giáo nói trên  phải khốn khổ vì  bị bách hại bởi những kẻ cuồng tín muốn tiêu diệt KitôGiao( Christianity)  để độc quyền thống trị cả về tôn giáo lẫn chính trị. Đây là hỏa ngục mà bọn cuồng tín kia đang gây ra cho những người mà chúng coi là kẻ thù phải thanh toán,  để chúng được độc tôn truyền bá tôn giáo và tham vọng chính trị của chúng .Đây là hỏa ngục do chúng tạo ra cho người khác  , vì không một Thượng Đế nào-mà những kẻ cuồng tín kia muốn nhân danh-, lại  có thể chấp nhận được chủ trương bạo động để tiêu diệt các tôn giáo khác, như  bọn chúng đang làm và gây đau khổ cho biết bao nạn nhân từ mấy năm nay.

Sau hết, những kẻ đang cai trị độc ác , cha truyền con nối ở  một số  nơi trên thế giới, cũng tạo hỏa ngục cho chính người dân chẳng may sống dưới ách  cai trị  độc đoán và bất lương của chúng.  Bọn cai trị độc ác này cũng đang  mua trước cho  chúng  một chỗ an nghỉ đời đời trong chốn hỏa ngục , nếu chúng  không biết ăn năn sám hối kịp thời để từ bỏ con đường gian ác.

Tóm lại, trong thế giới tục hóa, vô luân  ngày nay, con người đã tạo hỏa ngục  ở nhiều nơi cho chính mình và cho người khác, chẳng may sa vào  vòng tay tội lỗi của họ. Dù họ có niềm tin hay không, nhưng cách sống của họ chắc chắn đã  vô tình  nói lên khát vọng muốn được thiêu đốt đời đời trong nơi gọi là hỏa ngục. Và chắc chắn phải có nơi này, vì tội ác của những kẻ đang làm những sự dữ nói trên sẽ dẫn đưa  chúng  cuối cùng phải dừng chân ở chốn này,  để được thiêu đốt cho xứng với những sự dữ mà chúng  đang làm, đang tạo hỏa ngục cho người khác – đặc biệt là cho các trẻ  em  nạn nhân của thú  “ấu dâm”vô cùng khốn nạn, cũng như cho  các   nạn nhân  của  bọn cuồng tín tôn giáo và độc tài chính trị.

Chúng ta cùng  tha thiết cầu nguyện để xin Chúa sớm phá tan  những sự dữ nói trên,  hầu cho  con người ở khắp nơi được sống trong lành mạnh,  an bình, tự do và nhân ái  để phát huy  mọi giá trị tinh thần và đạo đức, xứng đáng với nhân phẩm và phù hợp với  niềm tin có Thiên Chúa  hayThượng Đế,  là  Đấng tối cao chê ghét mọi tội lỗi và sự dữ do ma quỷ xúi dục và con ngưởi mất lương tri  đang tích cực cộng tác  ở khắp nơi trên thế giới  phi nhân và phi luân  này.

Lm Phanxicô Xaviê  Ngô Tôn Huấn.

Tác hại của tuyên truyền

Tác hại của tuyên truyền

GS Nguyễn Văn Tuấn

04-08-2014

Theo cách hiểu thông thường, tuyên truyền là truyền bá những thông tin lệch lạc để quảng bá một mục tiêu chính trị hay một quan điểm. Theo cách hiểu này tôi thấy ở VN có nhiều hiểu lầm hay lệch lạc về các sự kiện lịch sử chỉ vì những sản phẩm của tuyên truyền.

Năm nay kỉ niệm đúng 50 năm ngày 3 tàu hải quân VN đụng độ với tàu khu trục Maddox của Mĩ (2/8/1964). Báo chí VN mô tả trận đánh đó như là một “chiến thắng giòn giã” của hải quân VN (1) vì đã đuổi được tàu Maddox. Nhưng tôi nghĩ đây là một sản phẩm tiêu biểu của tuyên truyền, và nó sẽ làm lệch lạc sự thật lịch sử.

Trong thực tế, cuộc đụng độ không tương xứng đó làm cho 3 tàu của VN đều bị hư hỏng, 4 thuỷ thủ bị tử vong, 6 người bị thương. Còn tàu của Mĩ chẳng hề hấn gì; họ thậm chí phản công gây nhiều tổn hại cho VN. Tàu Maddox cũng chẳng “chạy trốn” mà nó còn quay lại với một tàu khác cùng máy bay oanh kích và gây tổn thất khá lớn trên đất liền. Đã 50 năm rồi, chẳng có gì phải giấu diếm, nên nói thật cho công chúng biết. Không nói thì họ (cũng như tôi đây) vẫn có thể tìm trên mạng để đọc và biết.

Trong quá khứ, tuyên truyền đã làm sai lệch lịch sử. Một trong những sản phẩm tuyệt vời của tuyên truyền là nhân vật Lê Văn Tám. Đó là một cậu bé được hư cấu hoàn toàn, mà tác giả của nó là Trần Huy Liệu (2), lúc đó (1946) là Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền và Cổ động của VNDCCH. Ông Liệu sáng tác ra một thiếu niên 18 tuổi tên Lê Văn Tám, vì căm thù giặc Pháp, đã tự tẩm xăng vào người và chạy vào đốt kho xăng giặc Pháp ở Thị Nghè vào ngày 1/1/1946. Người sáng tác câu chuyện Lê Văn Tám cho biết Tám chạy 50 mét để vào đến kho xăng. Nhưng người sáng tác có vẻ hơi cường điệu. Làm sao một đứa bé 10 tuổi, với sức nóng dữ dội của xăng, có thể chạy đến 50 mét? Nhưng sau này chúng ta biết rằng đó chỉ là hư cấu, chứ không có nhân vật Lê Văn Tám. Tác giả của nó thú nhận một cách chống chế: “Bây giờ vì nhiệm vụ tuyên truyền nên tôi viết tài liệu này, sau này khi đất nước yên ổn, các anh là nhà sử học, các anh nên nói lại giùm tôi, lỡ khi đó tôi không còn nữa.” Ấy vậy mà Lê Văn Tám đã đi vào lịch sử, vào sách giáo khoa, có tên công viên và đường phố. Mặc cho tác giả trần tình, rất nhiều người vẫn không tin rằng Lê Văn Tám là nhân vật hư cấu!

Tuyên truyền có thể gieo căm thù cho cả một cộng đồng. Ngày xưa ở miền Bắc VN, tôi đoán người ta tuyên truyền nói xấu về chế độ miền Nam VN dữ lắm. Bộ máy tuyên truyền ngoài đó đã thành công gieo được vào đầu óc của người dân thường rằng chế độ Mĩ Nguỵ rất ác ôn; lính Nguỵ chỉ đánh thuê, rất ác ôn đến nỗi họ ăn gan uống máu người; sĩ quan và quan chức Nguỵ sống phè phỡn, bê tha, truỵ lạc, trong khi đó thì người dân đói khổ đến nỗi không có chén để ăn cháo. Có lẽ người dân ngoài Bắc tưởng là thật, nên có lí do để vào Nam giải phóng cho dân miền Nam. Có lẽ tin là quân Nguỵ ác ôn, nên mới có tình trạng khi tù cải tạo từ miền Nam bị áp tải ra ngoài Bắc bị dân chúng quăng đá ném gạch và chửi rủa thậm tệ. Có vài người chết vì đòn thù này. Không biết bao nhiêu là đạo diễn (như thời Cải cách ruộng đất) và bao nhiêu là căm thù thực sự, nhưng hệ quả của tuyên truyền quả là ghê gớm.

Cũng vì tuyên truyền mà đến nay người dân VN vẫn tin rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh là danh nhân văn hoá thế giới do UNESCO công nhận. Sự thật thì UNESCO không có văn bản nào công nhận ông hay bất cứ ai là “danh nhân văn hoá thế giới” (3). Vậy mà báo chí và giới lãnh đạo vẫn cứ dùng cụm từ “danh nhân văn hoá thế giới”. Có lẽ họ đã bị nhập tâm cái sản phẩm tuyên truyền đó và nói như là một quán tính.

Còn rất nhiều tác hại của tuyên truyền mà rất khó liệt kê hết ở đây. Có những câu nói gần như đi vào tâm tưởng của người dân mà khi nói ra họ cũng không để ý đến tính hợp lí của nó. Trước đây, có người phàn nàn về câu “Mừng đảng, mừng xuân, mừng đất nước” người ta mới giật mình thấy có cái gì không đúng. Hay như từ một bài ca “đảng đã cho ta mùa xuân” đi vào câu khẩu hiệu mà chẳng ai để ý mùa xuân là kết tinh của đất trời hội tụ chứ có ai cho đâu. Tương tự, câu “Nước CHXNCN Việt Nam muôn năm” nếu nghĩ kĩ cũng khó có thể vì trên thế gian này chẳng có cái gì tồn tại vĩnh viễn cả. Các hoàng đế Tàu ngày xưa cũng thích “vạn tuế” mà có ai đạt được đâu. Những sản phẩm tuyên truyền đó nó được gieo vào tâm trí của nhiều thế hệ để rồi theo thời gian nó trở thành một loạt sự thật giả tạo.

Có thể nói không ngoa rằng VN là một xứ sở của tuyên truyền. Bật tivi, mở radio, đọc báo, tất cả đều có bóng dáng và cái air của tuyên truyền, đặc biệt là các bản tin và bài viết liên quan đến chính trị, xã hội, sử, văn học. Đó là chưa kể đến những pano nền đỏ chữ vàng xuất hiện trên khắp đường phố từ nông thôn đến thành thị, từ lộ nhỏ đến đường cao tốc đều mang nội dung tuyên truyền. Cái gì cũng tuyên truyền, từ chính trị, đóng thuế đến có con đều tuyên truyền. Tuyên truyền hàng phút, hàng giờ, hàng ngày, và ở bất cứ nơi nào. Thử tưởng tượng, người dân phải bị “exposed” (phơi nhiễm) với cường độ tuyên truyền như thế thì trước sau gì cũng bị nhiễm. Tổ sư về tuyên truyền của Đức Quốc Xã là Joseph Goebbels từng nói rằng một lời nói dối nếu được lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ trở thành chân lí. Điều này rất đúng với VN.

—–

(1) http://danviet.vn/xa-hoi/50-nam-ngay-hai-quan-thang-tran-dau-dam-quyet-dam-danh-465658.html

(2) Ông Trần Huy Liệu được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ nhận ấn kiếm của Vua Bảo Đại vào năm 1945. Bảo Đại mô tả ông Liệu như là “Một người gầy gò trông rất thảm hại, đeo kính đen để giấu cặp mắt lé”.
http://www.viet-studies.info/kinhte/BaoDai_HCM_DL.htm

(3) http://unesdoc.unesco.org/images/0007/000769/076995E.pdf
Records of the General Conference Twenty-fourth Session Paris, 20 October to 20 November 1987 (xem trang 135)

An Phong – Ngọn Gió Lành

An Phong – Ngọn Gió Lành

Chuacuuthe.com

image001

VRNs (02.08.2014) – Khi đặt thanh gươm hiệp sĩ của mình dưới bàn thờ “Đức Bà chuộc kẻ làm tôi”, Thánh An Phong đã quyết định con đường dấn thân của mình theo một khúc quanh mới, thuộc về Chúa hoàn toàn để thuộc về người nghèo, người bị bỏ rơi hơn cả.

Từ giã pháp đình, An Phong cũng từ giã giấc mơ đấu tranh giành lấy công bằng cho người nghèo bằng con đường luật pháp. Bỏ thanh gươm, An Phong từ chối can thiệp vào xã hội bằng quyền lực. Nhận lấy chiếc áo Giáo Sĩ, An Phong chọn con đường Tin Mừng.

Chẳng phải khi trở thành Linh Mục hoặc khi thiết lập DCCT vào năm 1732 thì An Phong mới có cảm thức về người nghèo, về sự áp bức và về sự công bằng, nhưng ngay khi còn đang đeo đuổi con đường luật học, An Phong đã đưa ra những quyết tâm thuộc về người nghèo, thuộc về công lý và công bằng. Quyết tâm không cãi trắng ra đen, chọn lựa người nghèo mà bênh vực, đó là những quyết tâm của luật sư An Phong nơi pháp đình của vương quốc Napoli.

“Hỡi thế gian, ta đã biết mi”, trên đường rời bỏ pháp đình, An Phong kinh nghiệm được sự giới hạn của con người. Luật pháp có công minh cách mấy cũng không đủ sức thắng sự dữ. Cái mỉa mai là luật pháp được biên soạn và ban hành bởi những kẻ cầm quyền thì làm sao lại có thể đứng về phía người nghèo, người bị áp bức được ? An Phong chọn Tin Mừng là “bộ luật” được biên soạn và ban hành bởi người nghèo cùng cực. An Phong nhận ra Thiên Chúa hóa thân nơi người nghèo, nên “bộ luật” này là bộ luật của người nghèo, người đau khổ, người hèn mọn. “Điều gì các ngươi làm cho người bé mọn nhất đó là làm cho chính Ta” ( Mt 25 ).

Chọn người nghèo, người bị bỏ rơi hơn cả, An Phong dấn thân thuộc trọn vẹn về người nghèo, đồng thân đồng phận với người nghèo, hòa mình sống kiếp nghèo. Bỏ giới thượng lưu, An Phong bỏ phong cách quý tộc, chọn lấy nếp sống giản dị, lối cư xử đơn sơ, mộc mạc. Cấm anh em mình ăn nói hoa mỹ, cấm anh em mình đem kiến thức lòe bịp thiên hạ, An Phong chia sẻ với anh em cách ăn nói bình dị, chữ nghĩa bình dị, “hãy nói sao cho người bình dân hiểu”. ( Ảnh chụp Đền kính Thánh An Phong tại đường Merulana ở Roma, ngay bên cạnh là Nhà Dòng Mẹ ).

image003

Bỏ pháp đình, An Phong không hề bỏ kiến thức luật học, nhưng chọn Tin Mừng, An Phong phả hồn Tin Mừng vào luật học, viết ra bộ Thần Học Luân Lý. An Phong sử dụng kiến thúc luật học của mình để đứng về phía người nghèo, người bị áp bức. Thời ấy, luật đạo luật đời gần như một, lắm mối liên kết chằng chịt đạo đời rối ren mật thiết. Không chấp nhận quan niệm mục vụ khắt khe cầm buộc, An Phong lên tiếng nói cho người nghèo, người bị bỏ rơi, những hối nhân đáng thương hại, tiếng nói mạnh mẽ không chỉ ngoài xã hội nhưng còn ngay giữa lòng Nhà Thờ. An Phong trả lại trách nhiệm cho lương tâm, cho tình thương, cho sự tha thứ.

An Phong trăn trở và kiên trì cho đến trọn đời, kinh nghiệm nỗi cô đơn trên con đường phục vụ người nghèo, người bị bỏ rơi, An Phong đã cam kết đi đến cùng cho dù chỉ còn một mình. Nỗi cô đơn ấy đã đeo bám An Phong cho đến hết cuộc đời, và An Phong cũng trung tín với lời cam kết cho đến hết hơi thở cuối cùng.

Có rất nhiều luồng gió thổi đến làm rung chuyển thời cuộc, biến hóa nhân sinh, thay cũ đổi mới. An Phong vẫn làm gió, nhưng khi chọn Tin Mừng, ngọn gió của An Phong là gió lành, ngọn gió lành không phá hủy, không tiêu diệt, không tàn phá, nhưng xây dựng, làm mát lòng người, làm phát sinh sự sống và làm cho sự sống thêm dồi dào.

Con cái An Phong có là ngọn gió lành không ?

Lm. VĨNH SANG, DCCT,

Lễ Thánh An Phong 2014

 

Người Việt tỵ nạn và món nợ thương binh VNCH

Người Việt tỵ nạn và món nợ thương binh VNCH
July 27, 2014

Nguoi-viet.com

Tạp ghi Huy Phương

(Nhân Ðại Nhạc Hội “Cám Ơn anh, Người Thương Binh VNCH” kỳ 8 sắp tổ chức vào ngày Chủ Nhật, 3 Tháng Tám, tại sân vận động trường Bolsa Grande, Garden Grove, Nam California).

Ở đây chúng tôi không hề muốn nhắc lại những điều ân nghĩa mà ai cũng ý thức được, có thể làm phiền lòng một đôi người, trong khi với lòng hảo tâm, từ bi hoặc bác ái, hầu hết đồng bào hải ngoại đã làm rất nhiều việc giúp đỡ thiện nguyện cho những người kém may mắn hơn mình hiện đang sống ở quê nhà. Hiện nay ở hải ngoại có rất nhiều tổ chức thường trực quyên góp tiền để đem về giúp Việt Nam. Từ chuyện nhỏ như mổ mắt vá môi, chuyện người cùi, bệnh tật hay già yếu, chuyện chén cơm cho người già, bát cháo giúp người đau ốm, cho đến những chuyện khá quy mô “đỡ tay” cho nhà nước cộng sản như xây trường, làm đường, phát học bổng… Không làm thì không ngồi yên trước thảm cảnh nghèo đói, bệnh tật của bà con ruột thịt, mà làm cũng thấy nhiều điều phi lý. Trong khi ngoài nước, chúng ta gom góp từng chục bạc, thì ở trong nước hàng triệu đô la chui vào túi tham nhũng, đục khoét, với những trò cá độ, tẩu tán tài sản hay với lối ăn chơi huy hoắc từ các thành phố lớn cho đến cả nông thôn của các cán bộ, đảng viên cộng sản.


Một phụ nữ an ủi một thương binh VNCH tại phi trường Phú Bài, trong lúc chờ máy bay đưa về bệnh viện Ðà Nẵng hồi Tháng Tư, 1972. (Hình minh họa: Ennio Iacobucci/AFP/Getty Images)

Ở trong địa hạt nào, đường lối của cộng sản cũng tán thưởng và giúp đỡ những tổ chức này, vì chúng ta đã làm những việc “đỡ tay đỡ chân” cho chính quyền để họ còn rảnh tay lo nhiều việc, trong đó còn lo việc đàn áp quần chúng đòi hỏi tự do, công lý. Cũng có những đoàn cứu trợ phải qua chính quyền, nhưng cũng có những đoàn cứu trợ được thong thả đi sâu vào các nơi hẻo lánh xa xôi, xoa dịu được nỗi đói nghèo thì quần chúng càng ngày càng bớt bất mãn. Duy chỉ có một vùng cấm địa mà cộng sản vẫn canh chừng là địa hạt các thương phế binh VNCH của chúng ta. Mỗi khi có một tổ chức đứng ra tụ tập anh em thương binh để phát quà, khi vui thì công an lơ là cho gặp gỡ, khi nghi ngờ, cảnh giác thì “ngăn đường cấm chợ.”

Chúng ta không thể nào đem tiền về tập họp các thương binh VNCH lại và công khai phát tiền cho họ, ngoại trừ dưới danh nghĩa cứu trợ chung chung, trong đó có những người thương tật của cả hai bên như chúng ta vẫn thường thấy trên màn ảnh truyền hình.

Bây giờ đã gần 40 năm qua, chúng ta cũng không oán ghét gì những thương binh cụt què của hàng ngũ cộng sản trước kia, vì họ cũng là nạn nhân của sự lừa bịp chính trị, hy sinh cho kết quả của lầm than dân tộc và chỉ xây dựng cơ đồ cho một nhóm thiểu số cầm quyền. Nếu chúng ta có khả năng giúp đỡ được cho họ thì chính nghĩa của người quốc gia còn tỏ sáng, rạng ngời, tuy vậy “lực bất tòng tâm,” hải ngoại không thể giúp hết cho cả nước Việt Nam, và cũng còn một chỗ, để cho, chính những người đã hy sinh cho chế độ ấy thấy rõ bộ mặt thật của chế độ cộng sản độc ác và bất nhân.

Trong cuộc chiến giữ miền Nam Việt Nam, chúng ta ước tính có đến 350,000 chiến sĩ hy sinh, số thương binh phải gấp con số tử vong sáu lần. Qua thời gian, kẻ còn người mất, có người trở lại đời sống bình thường, người lành lặn trở lại, người đã qua đời hay ly tán, tha hương, số thương binh không có khả năng làm việc mưu sinh tại quê nhà, ít nhất phải là con số trên trăm nghìn. Chúng ta lại có 3 triệu người Việt ở hải ngoại hay gần một triệu đơn vị gia đình, ước tính có 500,000 gia đình đi ra từ miền Nam, chúng ta thừa sức bảo trợ cho một trăm nghìn thương binh VNCH ở Việt Nam.

Mỗi năm chúng ta đi du lịch, tiêu pha vào các dịp lễ Tết, quà cáp cho bạn bè, con cháu, làm việc phước thiện, mỗi gia đình tiêu pha, con số ít khiêm nhường phải lên đến con số nghìn (đô la). Xin quý vị rủ lòng thương mỗi gia đình “bảo trợ” cho một thương binh, như anh em bà con, nhà thờ, nhà chùa, cơ quan thiện nguyện đã từng bảo trợ cho chúng ta đến đây và sinh tồn trên mảnh đất này, con cái chúng ta được học hành, sống no ấm, hạnh phúc.
Mỗi năm chúng ta chỉ cần giúp từ $100 đến $200 với khả năng của người bảo trợ và tùy những khó khăn của người thương binh. Các gia đình bảo trợ sẽ có một gia đình để thăm viếng, thăm hỏi và giúp đỡ và thương binh sẽ có một nơi nương tựa, đặt niềm tin vào cuối cuộc đời của họ. Việc bảo trợ này không bị ràng buộc với bất cứ một sự cam kết nào, mà chỉ do tấm lòng thương yêu tự nguyện của chúng ta.

Chúng ta có thể chọn một thương binh ở gần địa phương có bà con, gia đình của chúng ta trú ngụ để có thể xác tín về sự nghèo đói, sinh hoạt hay hoàn cảnh của người thương binh này, cũng như theo những thương tật đặc biệt mà chúng ta muốn lưu tâm giúp đỡ. Nếu có dịp đi Việt Nam, chúng ta có thể thăm viếng, quan sát đời sống của gia đình thương binh này để tạo thêm tình thương và tin cậy, như vậy việc giúp đỡ của chúng ta trở nên có nhiều ý nghĩa hơn.

Hội HO Cứu Trợ TPB-QP/VNCH tại Nam California hiện nay đang giữ hàng chục nghìn hồ sơ có hình ảnh thương tật và giấy tờ chứng minh để trao cho gia đình quý vị. Trong hoàn cảnh hiện nay, thương binh chỉ được nhận một gia đình bảo trợ, nhưng một gia đình có thể bảo trợ cho hai hay ba hồ sơ thương binh tùy theo khả năng và tấm lòng của mình. Ngoài ra các anh chị em làm việc chung trong mỗi “đơn vị” như xưởng may, tiệm nail hay hãng xưởng cũng có thể chung nhau mỗi năm, một người $5, $10… một cách dễ dàng để bảo trợ cho một thương binh, chúng ta chia sẻ với nhau niềm vui bác ái ấy, đó hạnh phúc khi ban một ân huệ, hay một niềm vui cho người khốn khó, khổ đau hơn mình.

Hiện nay, Hội HO Cứu Trợ TPB-QP/VNCH cho biết rất ít hồ sơ thương binh được nhận bảo trợ, vì nhận bảo trợ có trách nhiệm và khó khăn, mất thời giờ hơn là gửi đến các cơ quan giúp thương binh một hay hai trăm đồng bạc. Trước hết chúng tôi mạn phép kêu gọi mỗi thành viên thiện nguyện đang làm việc giúp cho hội, chúng ta mỗi người bảo trợ cho một hồ sơ thương binh, cho đến lúc họ qua đời, nếu chúng ta qua đời, hy vọng con cái chúng ta sẽ tiếp tục công việc ấy. Bằng một tấm lòng nghĩ về người lính năm xưa, những gia đình của chúng ta, lớn hay nhỏ, sẽ bắt đầu bảo trợ cho một vài hồ sơ thương binh, dù chỉ là một hạt muối bỏ biển, trong một đại dương nghèo đói, khổ đau của Việt Nam và nhất là các thương binh VNCH bất hạnh của chúng ta.

Ðừng đánh giá sai thiện chí của tuổi trẻ mà chúng ta không dám vận động lớp tuổi này. Nhạc sĩ Trúc Hồ, tổng giám đốc đài truyền hình SBTN kiêm giám đốc nghệ thuật Trung Tâm Asia, người đã tích cực đem lại thành quả của 7 lần tổ chức Ðại Nhạc Hội “Cám Ơn Anh, Người Thương Binh VNCH” với số thu gần $4 triệu chỉ vì muốn làm “một viên thuốc giảm đau cho nỗi thống khổ của thương binh VNCH.” Cũng như anh Lý Vĩnh Phong, từng là chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam Nam California, cho rằng, “Tuổi trẻ Việt Nam không bao giờ quên cái gì của các thương phế binh VNCH ‘đã mất’ để cho người Việt hải ngoại chúng ta có những ‘cái được’ hôm nay.”

Có những việc làm minh bạch công khai và cần thiết như những lần đài SBTN, Hội HO Cứu Trợ TPB-QP/VNCH, các hội đoàn cựu quân nhân Nam và Bắc California đứng ra tổ chức các buổi đại nhạc hội ngoài trời để gây quỹ giúp thương binh, vẫn bị đánh phá, xuyên tạc. Xin những người có tấm lòng vững tin vì hiện nay có bao nhiêu thương binh VNCH đang còn hướng về quý vị, ý nghĩa hơn những đồng đô la nhân ái, chính là chúng ta đã gửi cho anh em thương binh những niềm tin.

Dù trong hoàn cảnh thất trận, “tan đàn xẻ nghé,” nhiệm vụ không hoàn thành, người lính VNCH vẫn hãnh diện là người lính chiến đấu cho tổ quốc, mà mỗi người dân miền Nam phải ghi nhớ, trong khi cả nước bắt đầu nhận ra chân dung đích thực của những anh hùng.

 

Tham nhũng, bệnh ung thư của chế độ

Tham nhũng, bệnh ung thư của chế độ

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2014-08-02

namnguyen08022014.mp3

026_c0023257ts-305.jpg

Ảnh minh họa nạn hối lộ, tham nhũng

AFP photo

Tham nhũng được ví như loại bệnh nan y ở Việt Nam, gần đây các nhà lãnh đạo cao cấp của Việt Nam đã không còn né tránh vấn đề này và có sự nhìn nhận trực diện.

“Giặc nội xâm”

Lâu nay nhiều người tự hỏi, với mức lương quá thấp cán bộ công chức làm thế nào trang trải cuộc sống. Thế nhưng trên thực tế những thành phần này vẫn sống khỏe, tài sản tích góp từ các bổng lộc khác ngoài lương mới là phần quan trọng của sự nghiệp làm cán bộ công chức.

Hồi đầu tháng 7/2014 vừa qua, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói với cử tri Hà Nội rằng tham nhũng chính là “giặc nội xâm” của đất nước. Theo lời ông Tổng Bí thư, nạn tham nhũng liên quan đến người có chức có quyền, đến lợi ích nhóm đã tồn tại và ăn sâu trong guồng máy nên không thể giải quyết dễ dàng.

Người đứng đầu đảng Cộng sản nói cần có thời gian để triệt phá tham nhũng. Nhưng người dân tự hỏi sẽ còn cần bao nhiêu thời gian nữa, trong khi đảng Cộng sản đã thực tế nắm chính quyền và độc quyền cai trị một đất nước thống nhất gần 40 năm qua.

Nhà giáo Đỗ Việt Khoa, được biết tới như một nhà hoạt động chống tiêu cực trong thi cử và giáo dục từ Hà Nội phát biểu:

” Chuyện công khai tài sản của quan chức có từ mười mấy năm nay họ còn chưa thực hiện được thì còn đợi đến bao giờ nữa.
-Thầy Đỗ Việt Khoa”

“Chuyện công khai tài sản của quan chức có từ mười mấy năm nay họ còn chưa thực hiện được thì còn đợi đến bao giờ nữa. Là một người dân thường chúng tôi bao giờ cũng mong muốn mọi việc của đất nước phải được công khai minh bạch, giám sát được mọi quyền lực của cơ quan nhà nước, ngăn chặn và xử lý được nạn tham nhũng tiêu cực.”

Tham nhũng ở Việt Nam muôn hình vạn trạng, từ phụ phí cho công an khu vực hay viên chức ở phường, lót tay cảnh sát giao thông cho đến lại quả phần trăm của những dự án trị giá hàng trăm triệu đến hàng tỷ đô la. Tham nhũng dẫn đến oan sai trong vấn đề thu hồi đất từng là tiền đề của khiếu kiện đông người, của hàng chục ngàn vụ án mỗi năm.

Câu chuyện tham nhũng trong xây dựng cơ bản, rút ruột công trình là thứ mà người dân dễ cảm thấy mình là nạn nhân, vì họ là người đóng thuế. Trước đây các ngành các cấp có liên quan thường chống lưng cho nhau vì tất cả cùng có bổng lộc, có ăn chia. Âm vang của những PMU 18 vẫn còn đây hay mới nhất là vụ ăn hối lộ của ngành đường sắt liên quan tới dự án do Nhật Bản tài trợ.

000_DV272185-250.jpg

Bà Lê Hiền Đức, một khuôn mặt tham gia chống tham nhũng có tiếng lâu nay tại Việt Nam. AFP photo

Một thí dụ điển hình về tham nhũng rút ruột công trình là vấn đề nhiều xa lộ mới xây dựng ở Việt Nam chỉ trong thời gian ngắn là bị lún, bị lằn bánh xe. Thí dụ quốc lộ 5 Hà Nội-Hải Phòng hay đại lộ Đông Tây ở TP.HCM. Ban ngành có trách nhiệm đổ lỗi cho xe chở quá tải làm đường lún và đề nghị giảm tải. Nhưng các chuyên gia đã chứng minh rằng, cũng những xe tải đó lưu thông trên xa lộ Biên Hòa hay xa lộ Đại Hàn do chế độ cũ xây dựng cách đây hơn 40 năm mà đường không bị lún. Nhưng khi các xe tải này đi vào Đại lộ Đông Tây mới hoàn thành chưa lâu mà lại lún lên lún xuống.

TS kinh tế Phạm Chí Dũng, Chủ tịch Hội nhà báo độc lập từ TP.HCM nhận định:

“Trong xây dựng cơ bản không chỉ là giao thông mà còn các công trình hạ tầng và nhà cửa kiến trúc… cách đây 20 năm tỷ lệ tham nhũng thất thoát ở trong lãnh vực xây dựng cơ bản được báo cáo ở mức còn khiêm tốn là 10%. Nhưng sau đó các số liệu dần dần được công bố và do báo chí phát hiện từ người dân cung cấp cho thấy tỷ lệ này lên tới 30% và đã được một số đại biểu qua một số kỳ họp quốc hội xác nhận. Tuy nhiên 30% vẫn được coi là tỷ lệ bình thường, thậm chí có những công trình tỷ lệ thất thoát lên tới 50%. Trong một số vụ án gần đây không thể tưởng tượng nổi, có lẽ Việt Nam trở thành một nước vô địch về nâng khống giá, có một doanh nghiệp đã nâng khống giá lên 1.300 lần, tức là mua một mà quyết toán là 1.300. Điều đó cho thấy khi vấn đề đã thành bản chất thì rất khó thay đổi và không biết làm sao để thay đổi.”

Rút ruột để có khoản chi

“Trong một số vụ án gần đây không thể tưởng tượng nổi, có lẽ Việt Nam trở thành một nước vô địch về nâng khống giá, có một doanh nghiệp đã nâng khống giá lên 1.300 lần.
-TS Phạm Chí Dũng”

Cũng hiếm có quan chức nào như Bộ trưởng Giao thông Vận tải Đinh La Thăng chẳng ngại vạch áo cho người xem lưng. Theo báo Dân Trí điện tử bản tin trên mạng ngày 28/7/2014,  khi đi thực tế tại dự án nâng cấp Quốc lộ 1 đoạn qua Bình Định, Bộ trưởng Đinh La Thăng nói với các giới chức ban ngành về tình trạng chậm tiến độ thi công xin trích một đoạn: “Nếu thực sự là công khai minh bạch thì ký duyệt được ngay, đằng này các ông còn thích lượn rồi lại bày trò giảm cái này tăng cái kia thì phải như thế nào, có khi còn phải ăn chia xong mới ký…” Bộ trưởng Thăng còn vạch rõ thủ đoạn của tư vấn giám sát “vòi tiền” rồi mới ký nghiệm thu công trình. Phê phán đơn vị tư vấn giám sát Bộ trưởng Thăng nói: Nhà thầu làm đến đâu phải giám sát chất lượng cho họ, xong thì phải ký thanh toán! Các ông là hay ‘đánh võng’ lắm đấy, thậm chí còn mặc cả với nhà thầu về khối lượng để ký trước rồi tính lãi suất, khi có thay đổi biện pháp thi công thì ngồi tính toán ăn chia với nhau xong mới ký…”

Có lẽ vì phải hối lộ dày dặc nên các nhà thầu phải rút ruột công trình để có khoản chi. Hoặc bỏ thầu thấp để được tham gia dự án nên để có lời phải rút ruột, và đã rút ruột thì chất lượng công trình không bảo đảm và đương nhiên phải hối lộ để được nghiệm thu. Cả hai hình thái xem ra đều có lý.

Dù rằng tham nhũng xảy ra ở khắp nơi trên thế giới, nhưng tham nhũng ở Việt Nam có thể ví là bệnh ung thư không có thuốc chữa. Các chuyên gia phản biện cho rằng, chưa thể có giải pháp hiệu quả để phòng chống tham nhũng ở Việt Nam một khi  đất nước chưa có nền dân chủ đích thực.

Những Người Viết Láo & Những Người Viết Báo

Những Người Viết Láo & Những Người Viết Báo

RFA

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

Bây giờ các anh phải sống theo cách khác cái lũ già hèn nhát chúng tôi, phải học chia một véc-bờ khác : Tôi đếch sợ anh, anh đếch sợ tôi, chúng ta đếch sợ chúng nó…

Nguyễn Tuân

Tôi giao thiệp hơi (quá) rộng. Trong số mấy triệu người Việt tị nạn đang sống rải rác khắp nơi trên thế giới, tôi quen biết dám chừng hơn nửa. Còn với qúi đồng hương hay đồng bào (ở quê nhà) chắc cũng khoảng một phần mười, nghĩa là cỡ đâu mười triệu – bất kể thành phần xã hội, giới tính, sắc tộc, tôn giáo, hay chính kiến … – anh Tiêu Dao Bảo Cự và chị Phạm Thị Bạch Yến là hai trong (vô số) những người này.

Người trông xa, ma trông gần. Bạn bè, tất nhiên, cũng không nên thân cận quá. Bởi vậy, khi nghe tin anh Bảo Cự và chị Bạch Yến sẽ ghé Mỹ (chơi) độ … nửa năm, tôi “hết hồn hết vía” và “băn khoăn” cả buổi!

Hoa Kỳ không phải là nơi để chơi. Ghé qua sáu ngày e thiếu nhưng ở tới sáu tháng thì sợ là dư. Tôi thực sự lúng túng không biết làm gì khoảng thời gian (dài đến một trăm tám chục ngày) khách ở California.

May mà cả anh Tiêu Dao Bảo Cự lẫn chị Bạch Yến (chắc) đều tuổi Ngọ nên rất “chịu” đi. Trong tập bút ký Gặp Gỡ Trên Đất Mỹ, ông cho biết hai người đã “phiêu lưu” qua mười hai tiểu bang và Washington D.C.

Xin xem qua một đoạn văn tác giả viết về Viện Bảo Tàng Báo chí (Newseum) nơi mà hầu như mọi du khách đến thủ đô nước Mỹ cũng đều đã dừng chân:

“Có một bức tường tưởng niệm các nhà báo trên thế giới đã hi sinh trong khi làm nhiệm vụ, được coi như những anh hùng của nền dân chủ, với tên tuổi và hình ảnh dày đặc từ gần dưới nền lên cho đến tận trần nhà. Nhiều câu nói về sự cao quý của nhà báo và nghề báo ghi trên các bức tường được chọn lọc cẩn thận, đáng suy ngẫm.

Tôi thích nhất các câu: ‘The free press is the cornerstone of democracy,’ ‘Free press, at its best, reveals the truth’ và điều xác tín của Rod Dreher, nhà bình luận báo chí: ‘There are three kinds of people who run toward disaster, not away: cops, firemen and reporters.’ Dĩ nhiên đây phải là báo chí và nhà báo chân chính. Trong thế giới hiện nay, cũng không hiếm các báo chí và nhà báo đi ngược lại thiên chức cao quý của mình…”

Nhà báo là một trong ba loại người chạy đến nơi xảy ra tai

họa chứ không chạy đi. Ảnh và chú thích: TDBC.

Chả hiểu sao cứ mỗi khi nghe nói đến danh xưng “nhà báo chân chính” và “thiên chức cao qúi” của họ là tôi lại nghĩ ngay đến “cung cách tác nghiệp” của những người làm báo ở xứ sở của mình, cùng với một tiếng thở dài – cố nén!

Chớ có người làm báo nào ở Việt Nam chạy đến nơi xẩy ra tai họa không vậy, Trời? Sao không: trong vụ cưỡng chế đất đai ở Văn Giang, hai nhà báo của chúng ta đã có ngay mặt tại hiện trường – và bị công an đánh cho bầm dập, đánh cho tơi tả,  “đánh cho chết mẹ mày đi” – dù họ chỉ đến “với tinh thần ủng hộ chủ trương của tỉnh,” và cho công tác “tuyên truyền có định hướng” của nhà nước, chứ không phải để lên tiếng bênh vực cho  những nông dân đang bị đẩy vào bước đường cùng.

Biếm họa: Babui

Toa rập với cường quyền để áp bức lương dân không phải là “sở trường” duy nhất của những người làm báo ở Việt Nam. Họ còn sẵn sàng đánh bóng hay nói theo bất cứ chủ trương hoặc chính sách nào của Nhà Nước – kể cả những chủ trương ngu xuẩn nhất – bằng những lời lẽ hoàn toàn dối trá và trơ trẽn:

Do được hưởng lợi trực tiếp hoặc gián tiếp mà từ hôm đến Đắk Nông, hỏi bất cứ người dân nào người ta đều ủng hộ các dự án về bô-xít, chắc chắn nó sẽ làm thay đổi hẳn bộ mặt tỉnh Đắk Nông trong tương lai.

Từ nhà già làng Điểu Sơn, chúng tôi sang nhà ông Điểu Lônh (Lôi). Nhờ có tiền đền bù đất mấy trăm triệu, ông xây cho con gái, con rể ngôi nhà khang trang lát gạch men bóng lộn, xa lông, tủ chè, ti-vi, quạt điện… làm chúng tôi ngỡ mình đang ngồi ở thành phố chứ không phải là một bon hẻo lánh của người H’Mông. (Nguyễn Hữu Nhàn.  Bô-xít Tây Nguyên, Thấy Gì Ghi Nấy).

Làm sao mà “thấy” một buôn làng của người H’Mông ở Đắc Nông được mà “ghi” đại vậy, cha nội? Ông Nguyễn Hữu Nhàn, tuy thế, chưa trơ tráo bằng ông bạn đồng nghiệp Lã Thanh Tùng:

Bauxit của chúng ta khai thác dễ đến nỗi, chỉ cần gạt lớp đất mặt đi (khoảng 0,9 mét) là đến ngay vỉa quặng dày đến 4 mét. Theo các chuyên gia, trữ lượng bauxit của Việt Nam có thể khai thác hàng trăm năm, đem lại lợi nhuận hàng chục tỷ USD… (“Bô-xít Và Những Điều Khác”, Văn nghệ số 44, phát hành ngày 31 tháng 10 năm 2009).

Thiệt là quá đã, và… quá đáng nhưng vẫn chưa đáng tởm bằng cái thói ngậm máu (hay ngậm cứt) phun người của những người làm báo ở xứ sở của tôi:

– Thích Quảng Độ móc nối các tổ chức cực đoan lưu vong ở hải ngoại để dùng “oán trả ơn” bằng cách thông tin vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền, không cho tự do tôn giáo. (Sài Gòn Giải Phóng, ngày 28 tháng 8 năm 2007).

– Ông Thích Quảng Độ, người đứng đầu tổ chức không được các tăng ni, phật tử ở Việt Nam công nhận, là “Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất”, chẳng hiểu căn cứ vào đâu mà cho rằng việc khai thác bôxít sẽ dẫn đến “nguy cơ huỷ hoại màu xanh Tây Nguyên và đời sống của người Việt cũng như hàng chục dân tộc ít người”. Tiếp theo, ông ta “khẩn cấp báo động công luận thế giới về đại nạn sinh thái Tây Nguyên Quả là không thể hiểu nổi, một vị tu hành đến chức Hoà thượng mà lại làm những việc phản dân hại nước đến vậy. (Công An Nhân Dân, ngày 18 tháng 4 năm 2009).

Rồi sau khi người “người đứng đầu tổ chức không được các tăng ni, phật tử ở Việt Nam công nhận” được đề cử nhận giải Nobel Hoà Bình thì Ban Tuyên Giáo Trung Ương hốt hoảng cho ra ngay một bức công điện (khẩn và mật) nguyên con như thế này đây:

Công điện chỉ đạo đối phó với tình huống Hòa thượng Thích Quảng Độ được trao giải

Nobel Hòabình do ông Nguyễn Thế Kỷ ký ngày 9 tháng 10 năm 2008. Ảnh và chú thich: RFA

Ông Vụ Trưởng Báo Chí hùng hổ lên án là một vị tu sĩ (tay không tấc sắt) là “phản dân, hại nước, đi ngược lại ước nguyện hoà bình, hạnh phúc, tiến bộ của nhân dân Việt Nam…” nhưng trước chuyện lãnh hải bị xâm phạm, và hành vi khiêu khích trắng trợn của ngoại nhân thì ngôn ngữ cũng như thái độ của ông Nguyễn Thế Kỷ lại hoàn toàn khác hẳn:“Sao đã có chủ trương chỉ nói là tàu Trung Quốc lỡ làm đứt cáp thôi, mà có một số báo lại đưa là nó cố tình cắt cáp, để gây ra kích động nhân dân biểu tình.”

Chủ trương của nhà nước không chỉ hèn hạ mà còn bất nhất, cứ sáng đúng, chiều sai, đến trưa lại đúng. Và đây là nét chung của bất cứ chế độ cộng sản nào, theo nhận xét của George Orwell:

“Nhà thờ ở châu Âu thời Trung cổ buộc bạn vào một tín số điều, nhưng ít nhất nó cũng cho phép bạn giữ những tín điều ấy từ lúc lọt lòng cho đến lúc chết. Nó không bao giờ bảo bạn thứ Hai phải tin một điều, thứ Ba lại phải tin vào một điều hoàn toàn khác. Tình hình cũng tương tự như vậy đối với các tín đồ Công giáo, đạo Hindu, đạo Phật, đạo Hồi ngày nay. Chế độ toàn trị hoàn toàn ngược lại. Đặc trưng của nhà nước toàn trị là tuy nó kiểm soát tư tưởng, nhưng nó lại không xác dịnh dứt khoát tư tưởng ấy là gì. Nó đưa ra một số tín điều không được tranh cãi, nhưng các tín điều ấy lại thay đổi hàng ngày. Chế độ cần tín điều vì cần các thần dân phục tùng một cách tuyệt đối, nhưng nó không thể không thay đổi theo các nhu cầu của tầng lớp nắm quyền.”

Tại sao cái loại nhà nước toàn trị có thể “đưa ra một số tín điều không được tranh cãi … nhưng lại thay đổi hàng ngày” mà những người cầm viết vẫn “chịu phục tùng một cách tuyệt đối” như vậy?

Xin thưa, giản dị, chỉ vì họ … sợ!

Nỗi sợ hãi này đã ám ảnh Nguyễn Tuân cho đến lúc cuối đời:“ Bây giờ các anh phải sống theo cách khác cái lũ già hèn nhát chúng tôi, phải học chia một véc-bờ khác : Tôi đếch sợ anh, anh đếch sợ tôi, chúng ta đếch sợ chúng nó…”

Tuy muộn màng, cuối cùng, ước nguyện của ông đã trở thành hiện thực. Ngày 3 tháng 3 năm 2014, thay mặt sáu mươi bạn đồng nghiệp nhà văn Nguyên Ngọc tuyên bố thành lập Văn Đoàn Độc Lập Việt Nam. Bốn tháng sau, BBC đi tin:

“Hội Nhà báo Độc lập, một tổ chức dân sự mới, vừa tuyên bố thành lập hôm thứ Sáu 4/7… Mục đích của Hội Nhà báo Độc lập được tuyên bố trước hết là: ‘Phản ánh trung thực và sâu sắc những vấn đề nóng bỏng của xã hội và đất nước; Phản biện đối với những chính sách bất hợp lý của nhà nước liên quan đến quản lý xã hội và tự do báo chí và Tổ chức trao đổi, đối thoại với các cấp chính quyền về tự do báo chí và quản lý xã hội khi có điều kiện, đồng thuận với những chính sách, giải pháp hợp lòng dân và có lợi cho đất nước’.

Tổ chức này cũng cam kết ‘Lên tiếng và có hành động cần thiết để bảo vệ những người làm báo vì tiến bộ xã hội, nhưng bị sách nhiễu, bắt bớ, tù đày, khủng bố… Đấu tranh yêu cầu Nhà nước Việt Nam hủy bỏ những điều luật mơ hồ của Bộ Luật Hình sự được dùng để áp chế tự do báo chí như Điều 258, 88…”

Nguồn ảnh:anhbasam.wordpress

Theo dư luận chung thì sự có mặt của Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam là một đáp ứng can đảm và cần thiết trước thời cuộc hay tình thế. Với riêng tôi, đây còn là một đáp ứng tình cảm đã (bị) mất mát từ lâu. Mối hảo cảm mà một người dân miền Nam như tôi vẫn dành cho giới người cầm viết cho đến … tháng 4 năm 1975!

Tôi không dám kỳ vọng gì nhiều vào những hoạt động của hội, trong tương lai gần, vì biết rằng phần lớn hội viên đang phải sống trong vòng vây của một bầy lang sói. Nhưng chỉ cần đọc Tuyên Bố Đầu Tiên Của Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam Về Việc 6 Ngư Dân Việt Nam Bi Trung Quốc Giam Cầm cũng đủ khiến cho một độc giả bình thường như tôi cảm thấy vô cùng an ủi và ấm lòng khi nhận ra một điều vô cùng giản dị: các anh các chị “đếch sợ chúng nó” nữa.

 

THỬ NGHĨ XEM…

THỬ NGHĨ XEM…

Trích EPHATA 621

Khi con chim còn sống, nó ăn kiến. Khi chim chết, kiến ăn nó. Thời gian và hoàn cảnh có thể thay đổi bất cứ lúc nào. Vì vậy, đừng nhục mạ, đừng làm khổ bất cứ ai trong đời sống này. Bạn có thế đầy quyền lực ngày hôm nay, nhưng đừng quên rằng thời gian còn nhiều quyền lực hơn bạn. Một cây có thể làm được hàng triệu que diêm, nhưng một que diêm cũng có thể thiêu hủy được hàng triệu cây. Hãy là người tốt và làm những điều tốt.

Thử nghĩ mà xem, Thượng Đế cấu tạo cơ thể con người một cách rất hợp lý. Nhưng sao chúng ta lại không sử dụng nó theo đúng ý của Ngài ?

Ngài đặt hai mắt chúng ta ở đằng trước, vì Ngài muốn chúng ta luôn hướng tới phía trước, chứ không phải để chúng ta cứ ngoái nhìn về những sự việc ở phía sau.

Ngài đặt hai tai chúng ta ở hai bên là để chúng ta nghe từ hai phía, cả lời khen lẫn tiếng chê, chứ không phải để chúng ta chỉ nghe từ một phía hoặc chỉ để nghe những lời tâng bốc êm tai.

Ngài tạo cho chúng ta chỉ một cái miệng và một cái lưỡi mềm mại, vì Ngài muốn chúng ta nói ít nghe nhiều và chỉ nói những lời khôn ngoan, chứ không phải để chúng ta nói nhiều hơn nghe và nói những lời sâu hiểm làm tổn thương người khác.

Ngài đặt bộ não chúng ta trong một hộp sọ vững chãi, vì Ngài muốn chúng ta nên tích lũy tri thức, những thứ chẳng ai có thể lấy đi, chứ không phải chỉ chăm lo tích lũy những của cải bên ngoài, những thứ dễ dàng bị mất mát.

Ngài đặt trái tim chúng ta nằm trong lồng ngực, vì Ngài muốn những tình cảm yêu thương giữa những con người phải được xuất phát và lưu giữ tận nơi sâu thẳm trong cõi lòng, chứ không phải ở một nơi hời hợt bên ngoài.

KHUYẾT DANH, từ quehuongngaymai.com

 

Đảng hãy mau thoát khỏi nghịch cảnh “hồn Trương Ba da Hàng thịt”!

Đảng hãy mau thoát khỏi nghịch cảnh “hồn Trương Ba da Hàng thịt”!

Mạc Văn Trang

Câu chuyện dân gian Hồn Trương Ba da Hàng thịt chỉ dài hơn một trang sách in và có mấy nhân vật rất giản dị, nhưng với tính nhạy cảm thời đại và tài năng siêu việt, Lưu Quang Vũ đã biến thành vở kịch tầm cỡ nhân loại.

Tình cảnh Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi ra đời tới nay, giữa lý luận và hành động cũng chẳng khác nào tình cảnh “Hồn Trương Ba da Hàng thịt”, hay “Hồn Các Mác, xác Bần nông”! Có điều khác là “hồn” của Trương Ba hay của Các Mác (Karl Marx) vào cái xác Đảng Cộng sản Việt Nam thì nó bị cái thân xác Bần nông làm lộn tùng phèo, bát nháo, chỉ còn là những khẩu hiểu, những ước muốn viển vông, huyễn hoặc; mà “hồn” ông Trương Ba hay “hồn” Các Mác thật cũng chẳng hiểu nổi cái mớ bòng bong trong đầu Đảng Cộng sản Việt Nam – thân xác Bần nông, nó là cái quỷ quái gì!

Ngay từ năm 1930 khi Đảng Cộng sản Việt Nam mới thành lập, chả biết cái “hồn” lý luận “Đấu tranh giai cấp” của ông Mác cao siêu thế nào mà vào cái “xác phàm” Đảng Cộng sản Việt Nam lại thành ra “Trí, Phú, Địa, Hào – đào tận gốc, trốc tận rễ”! Rồi đến cải cách ruộng đất “long trời lở đất” khiến hàng vạn người chết tức tưởi, vì cái mồm tố điêu, cái tay quen cướp của, giết người!

Khẩu hiệu “Người cày có ruộng”, ước mơ ngàn đời của người bần, cố nông vừa có, chưa kịp sướng, thì Đảng thu gom luôn ruộng đất vào hợp tác xã… cho trắng tay! Kết thúc hơn 20 năm cao trào hợp tác hóa nông nghiệp, thắng lợi của “Đấu tranh giữa hai con đường” là “Cái đêm hôm ấy đêm gì?” khủng khiếp. Hợp tác xã tan vỡ, Đảng phải “Đổi mới”, “cởi trói”, chia ruộng cho nông dân để khuyến khích nông nghiệp phát triển. Nhờ đó Việt Nam không còn phải “vác rá đi xin bo bo và ngô cho súc vật” về ăn, mà còn xuất khẩu gạo nhất nhì châu Á… Thế rồi đùng cái, Đảng lại “thu hồi đất”, cưỡng chế khắp nơi, để trao đất cho các “tư bản mới nổi” và nông dân “thi đua” khiếu kiện thấu trời!?…

Cái lý luận “Làm chủ tập thể”, “Sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa”, “Toàn dân bàn việc nước, sắp xếp lại giang sơn”… thành ra là nhập tỉnh, huyện, xã tùm lum, sau mươi năm tranh giành, đấu đá mệt nhoài, lại ăn mừng “Tái lập” tỉnh, huyện, xã “vũ như cẫn”! Nhưng cơ mà… nhập cũng vớ bẫm, tách càng bẫm hơn, nên “cái thân xác” khỏe re, càng hăng hái tư duy “lý luận mới”… “Làm chủ thiên nhiên” thì “về cơ bản đã chặt phá xong rừng”, bô-xit, than, vàng, ti-tan đến cát, đá… cũng bị các loại “tặc” đào bới tung tóe, tan hoang; hầu hết các dòng sông bị chặt khúc ra làm thủy điện vô tội vạ; hầu hết ao hồ, sông suối bị ô nhiễm, bị “bức tử”! “Làm chủ xã hội” thì cả xã hội như chợ trời, đầy “con phe”, kẻ cắp, ma cô… “Làm chủ bản thân” thì càng “phê, tự phê” thì “bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên” thành “bầy sâu” lúc nhúc càng nhiều thêm! “Chủ nghĩa tập thể” lại biến thành những phe nhóm lợi ích phá nát đất nước và kỷ cương xã hội, tạo nên lối sống cá nhân tham lam vị kỷ trắng trợn chưa từng thấy trên đất nước này.

Cái lý luận về “Bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa, tiến thẳng lên xây dựng chủ nghĩa xã hội – giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản – bằng tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng”… hóa ra lại là sau khi phá nát nền kinh tế – xã hội thì tái lập chế độ tư bản sơ khai ở Việt Nam; các quan chức cùng với những nhóm lợi ích của họ trở thành tầng lớp “tư bản đỏ”, còn nông dân, công nhân, ngư dân, diêm dân… là tầng lớp bị bóc lột tàn tệ. Nhóm người bị tha hóa, lưu manh hóa ngày càng gia tăng, hệt như F. Engels mô tả trong “Tình cảnh giai cấp công nhân Anh” (năm 1844).

Cái mồm leo lẻo “Học tập làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, “Không có gì quý hơn độc lập tự do” thì kéo nhau đến Hội nghị Thành Đô (1990) xin làm đồ đệ cho đại ca Trung Cộng. Mồm nói “Đạo đức là gốc”, nhưng quan chức suy thoái đạo đức tuột dốc không phanh! Mồm nói “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư” nhưng quan chức đua nhau ăn cắp, ăn cướp, xây nhà lầu, sắm xe hơi, ăn chơi theo kiểu các ông hoàng, bà chúa… Của công bòn rút từ mồ hôi, nước mắt của dân thì chi tiêu như phá, thất thoát hàng trăm tỉ, nghìn tỉ, chẳng coi ra gì! Ông Cụ nói: “Quân đội trung với nước…” thì nó bẻ queo thành: “Quân đội trung với Đảng…” (?), “Công an nhân dân” thành “Công an chỉ biết còn Đảng còn mình”. Tòa án Nhân dân thì xử dân như kẻ thù, xử quan chức phạm tội như người trong nhà đóng cửa bảo nhau. “Đảng ta là đạo đức là văn minh…” thì “bộ phận không nhỏ” ngày càng to, biến thành “bầy sâu” lúc nhúc mê tín, dị đoan, dắt nhau “dò đá qua sông”, đi vào ngõ cụt! Cụ bảo “Chính phủ không làm được việc thì dân đuổi đi”, nhưng nó cứ trơ ỳ ra bảo “Đảng phân công”, “Đảng quy hoạch” nên không thể từ chức! Cụ bảo: “Dân chủ là cho dân mở miệng ra” thì nó còng tay, bịt miệng ai dám “mở miệng” phê phán những sai lầm, tội lỗi của nó! Cụ bảo “Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”, nó cứ làm ngược lại!… Thế mà quanh năm suốt tháng cứ phát động, chăng đầy pa-nô, khẩu hiệu rồi sơ kết, tổng kết, nêu gương… học tập, làm theo Hồ Chí Minh!

Mồm xoen xoét: “Phải phát triển nhanh và bền vững” mà làm đường giao thông đắt gấp 3-4 lần của Mỹ, vừa khánh thành đã lún sụt; đường ống dẫn nước từ sông Đà về Hà Nội hơn một năm vỡ 9 lần, khiến bao người dân khốn đốn trong mùa hè; các công trình “Nghìn năm Thăng Long” thì mới mấy năm đã sập sệ. Biết bao nhiêu công trình ào ạt xây kém chất lượng, tranh thủ rút ruột ăn chia, nay mai hư hỏng hàng loạt, con cháu tha hồ “phá đi làm lại” và trả nợ còng lưng!… Tâm lý nhiệm kỳ chộp giựt, “bóc ngắn cắn dài”, “cái gì cũng ăn”, “ăn không biết chán”, cốt “làm giàu cho con em nhóm ta, kệ cha con em chúng nó” phơi bày ra trên mọi lĩnh vực của đời sống, trước mắt bàn dân thiên hạ một cách trơ trẽn, sống sượng, lố bịch… Phát triển bền vững là những gì làm ngày hôm nay sẽ để lại cho muôn đời con cháu được hưởng phúc, hưởng lộc và không làm ảnh hưởng đến sự phát triển của các thế hệ mai sau. Thế mà môi trường bị hủy hoại, các công trình xuống cấp từng ngày, nợ chồng chất và “vấn đề chủ quyền đời ta không giải quyết được thì đời con, đời cháu, chắt ta tiếp tục giải quyết”!

Mồm lẻo lẻo ta khác tư bản ở chỗ “Nền kinh tế của ta là nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự quản lý của nhà nước”, nhưng chẳng ai chỉ ra “cái định hướng xã hội chủ nghĩa” nó tròn méo ra sao! Lại láu cá ở chỗ, cứ cái gì “suy thoái”, “tệ nạn”, “thoái hóa, biến chất”, tóm lại là tất cả cái gì xấu xa của chế độ là đổ tại “mặt trái của cơ chế thị trường” (?). Nhưng lạ hơn nữa là, đã biết cái “mặt trái” của nó đen đúa, bẩn thỉu như thế, mà các nhà lãnh đạo đến nước tư bản nào cũng khẩn khoản xin công nhận cho Việt Nam có cái “cơ chế thị trường đầy đủ”.

Lý luận “Ba dòng thác cách mạng của thời đại…” thì dòng thác chủ đạo “cách mạng xã hội chủ nghĩa” tan rã rồi. Mấy “nước anh em cùng ý thức hệ” thì Triều Tiên vừa cha truyền con nối kiểu vua chúa, vừa như Chí Phèo, thoát chết đói nhờ viện trợ lương thực, nhưng chỉ thích dọa đánh nhau; Cuba cũng đang “giành nhiều thắng lợi” bằng cách “cập nhật mô hình kinh tế” (rón rén theo kiểu tư bản) để xóa đói giảm nghèo; ông anh Trung Cộng xây dựng chủ nghĩa xã hội theo màu sắc Đại Hán bá quyền, ban cho Việt Nam “4 tốt” + “16 chữ vàng” để Đảng Cộng sản Việt Nam ngoan ngoãn thần phục, nhưng trước sự phẫn nộ của nhân dân, ông Thủ tướng phải nói “Quyết không đánh đổi chủ quyền thiêng liêng lấy cái thứ hữu nghị viển vông”… Thì ra suốt bao nhiêu năm nay toàn ra sức bảo vệ, gìn giữ trân trọng, ôm hôn cái thứ hữu nghị viển vông với Trung Cộng, còn thực tế lại là “sống trong vòng tay của bầy yêu quái”!

Cái nhãn “Đảng Cộng sản”, “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” là phấn đấu cho lý tưởng “Cộng sản chủ nghĩa trên phạm vi toàn thế giới”, mà “mục tiêu của giai đoạn đầu là Chủ nghĩa xã hội” mới lãng mạn, mịt mùng làm sao! Còn trong thực tế thì dân bảo: “Chúng nó ăn như Rồng cuốn, nói như Rồng leo, làm như Mèo mửa!”. Trở lại với Đảng (của những người) lao động và nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, rồi theo con đường dân chủ để sống cho tử tế, chân thật với nhân dân…

Tóm lại, hồn vía Đảng ta toàn mung lung huyễn hoặc, trong khi hành động thì theo kiểu Hành vi chủ nghĩa: Thấy Kích thích thì Phản ứng (S – R). Kích thích là “phong bì”, “chỉ thị” – phản ứng là ký đại, vơ đầy túi tham; là cưỡng chế, đàn áp không cần nghĩ đến hậu họa!

Chỉ có thoát ra khỏi nghịch cảnh “Hồn Trương Ba, da Hàng thịt”, “Hồn Các Mác, xác Bần nông” mới thoát được “ngôn – hành bất nhất”, mới trở thành người BÌNH THƯỜNG để có suy nghĩ đúng đắn và nhất quán với hành động. Không “phi thường, vĩ đại, vô địch, quang vinh, muôn năm nữa”! Chỉ mong nó BÌNH THƯỜNG thôi! BÌNH THƯỜNG mới hòa đồng được với nhân dân, mới không trở thành “đứa con hoang đàng” giữa lòng dân tộc!

Hà Nội, 30/7/2014

M. V. T.