CON NGƯỜI – HÌNH ẢNH THIÊN CHÚA

CON NGƯỜI – HÌNH ẢNH THIÊN CHÚA

Trong Phật giáo có một câu chuyện nổi tiếng:

Có một người đàn ông cao ngạo chẳng biết sợ ai, luôn coi thường đạo lý. Nghe Đức Phật dạy rằng đừng bao giờ lấy ác báo ác và một ngày kia, hắn đến gặp Đức Phật và dự tính xem Phật có sống được điều Ngài giảng không.  Hắn bắt đầu tuôn ra đủ mọi lời thóa mạ Ngài và gọi Ngài là tên đần độn.  Trong khi hắn liên tục xổ ra đủ thứ lời lăng mạ thì Đức Phật vẫn kiên nhẫn lắng nghe.  Chờ hắn mỏi miệng không nói thêm lời nào nữa, Ngài mới lên tiếng: “Này con, nếu một người không chịu nhận món quà mà kẻ khác biếu cho thì món quà ấy sẽ đi về đâu?”  Gã cay cú đáp: “Thằng điên nào mà chẳng biết, dĩ nhiên là món ấy sẽ trở về lại với người đem cho.”  Đức Phật liền nói: “Hỡi con, con vừa tặng ta rất nhiều lời thóa mạ nhưng ta chẳng nhận đâu nhé.”  Gã kia câm miệng không thốt ra lời nào nữa.  Đoạn Đức Phật nói tiếp: “Kẻ nào lăng mạ một người thánh thiện thì cũng giống như hắn ta khạc nhổ lên trời.  Những thứ hắn khạc nhổ ra khôntg làm nhơ bẩn bầu trời, trái lại sẽ rơi xuống làm nhơ bẩn gương mặt của chính hắn.  Cũng thế kẻ nào thóa mạ một người nhân đức thì khác nào tung bụi ngược chiều gió, bụi sẽ chỉ bay vào mắt hắn mà thôi.” (Trích tuyển tập chuyện hay, Giấc mộng vàng trang 167)

Câu chuyện trên là một minh họa cho cuộc tranh luận nổi tiếng giữa các Pharisiêu, Luật sĩ và Chúa Giêsu qua bài Tin mừng hôm nay.

Nhóm Biệt phái bàn mưu để làm cho Đức Giêsu lỡ lời mắc bẫy.  Họ hợp tác với phe Hêrôđê để chất vấn Người về vấn đề nộp thuế.  Nhóm Biệt phái ghét cay ghét đắng người Rôma đang đô hộ Israel, còn phe Herôđê thì lại nịnh bợ các quan bảo hộ để được hưởng nhiều đặc quyền đặc lợi.  Dù không ưa nhau nhưng họ lại liên kết với nhau để chống lại Đức Giêsu. Một mình đối nghịch với Đức Giêsu trong lãnh vực tôn giáo, nhóm Biệt phái không làm được gì đến Người, họ muốn nhờ bàn tay chính quyền là phe Hêrôđê để gài bẫy Người trong vấn đề chính trị. “Chúng tôi có được nộp thuế cho Xêda hay không?”  Câu hỏi đặt Đức Giêsu trong tình thế tiến thoái lưỡng nan, bẫy gài sắc như con dao hai lưỡi.  Trả lời có cũng mắc bẫy, không có cũng mắc bẫy.  Nếu Đức Giêsu bảo không thì nhóm Hêrôđê tố cáo là không trung thành với Hoàng đế.  Còn nếu Người bảo có thì Người sẽ bị nhóm Pharisiêu tố cáo là không trung thành với dân tộc.  Hai đàng, đàng nào cũng trọng tội.  Trước gọng kềm đang siết chặt, Đức Giêsu rất bình tĩnh, rất tự chủ, không ngạo mạn khiêu khích nhưng cũng không khúm núm sợ sệt.  Người bảo họ đưa cho xem đồng tiền và hỏi: hình va danh hiệu này là của ai?  Khi được trả lời là “của Xêda” Đức Giêsu liền tuyên bố “thế thì của Xêda trả về Xêda; của Thiên Chúa trả về Thiên Chúa.”  Câu trả lời của Người làm cho 2 phe nhóm bẽ bàng hụt hẫng.  Đức Giêsu phân biệt đâu ra đó: của Hoàng đế hãy trả cho Hoàng đế, của Thiên Chúa hãy trả cho Thiên Chúa.  Đức Giêsu không dùng miệng lưỡi mình để kết án họ, nhưng bắt chính họ phải tự tuyên án cho mình như có lời chép rằng: Vì nhờ lời nói của anh mà anh sẽ được trắng án và cũng tại lời nói của anh mà anh sẽ bị kết án (Mt 12, 37).

Sứ mạng của Đức Giêsu khi đến trần gian là sứ mạng tôn giáo, là đưa nhân loại về với Thiên Chúa chứ không phải là chính trị.  Chính Người đã từ chối làm vua, làm Messia đánh đông dẹp bắc theo mong đợi của người Do Thái.  Câu trả lời của Đức Giêsu làm nổi bật chân lý ấy.  Với sứ mạng tôn giáo, Đức Giêsu nhắc cho họ nghĩa vụ phải trở về với Thiên Chúa, trả cho Thiên Chúa những gì là của Thiên Chúa.  Những kẻ chất vấn muốn nhìn Đức Giêsu dưới gốc độ chính trị thì Người làm cho những kẻ có lập trường chính trị phải thấy Người là con người tôn giáo.

Một cuộc đối thoại giữa thần quyền và thế quyền, giữa Thiên Chúa và Xêda.  Cũng như sau này trong cuộc đối thoại với Philatô, Đức Giêsu trịnh trọng tuyên bố: Nước tôi không thuộc về thế gian này.  Nếu nước tôi thuộc về thế gian này, thì thuộc hạ của tôi sẽ chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Do Thái, nhưng nước tôi không thuộc về thế gian này.  Qua lời tuyên bố này Đức Giêsu có vẻ như khẳng định vương quyền của mình, một vương quyền mà Philatô chưa có thể hiểu thấu.

Mối tranh chấp giữa thần quyền và thế quyền, giữa đạo và đời đã xảy ra từ thời Chúa Giêsu cũng như từ muôn thưở.  Đức Giêsu không muốn được coi như vị cứu tinh chính trị theo ý của người Do thái.  Người không đến để nắm lấy chính quyền, thống trị như một vị hoàng đế Xêda hay như vua Hêrôđê.  Trong thực tế Người phân biệt rõ thần quyền và thế quyền, tuy công nhận quyền hành chính trị như một điều tất nhiên nhưng Người tự đặt mình vào mức độ khác. Nước Trời mà Người đang rao giảng, đang thể hiện hoàn toàn khác biệt và không cạnh tranh với đế quốc của Xêda, vì Nước Trời là vương quốc trường tồn của Thiên Chúa dành cho tất cả, nơi đó không có áp chế, không có thống trị, chỉ có niềm vui, bình an và hạnh phúc miên trường.

Những gì của Xêda hãy trả cho Xêda.  Xêda là hiện thân cho một đế quốc hùng mạnh và giàu có của một thời lịch sử đã qua.  Xêda cũng còn là biểu tượng cho thế lực tiền bạc, tham vọng quyền bính và danh lợi dưới mọi hình thức trong xã hội ngày nay đối với mọi người.

Những gì của Thiên Chúa hãy trả cho Thiên Chúa.  Đức Giêsu đã khéo léo nhắc đến bổn phận của con người đối với Thiên Chúa.  Có cái gì ngoài Thiên Chúa mà lại không phải là thụ tạo của Ngài?  Phải trả cho Thiên Chúa những gì mang hình ảnh Ngài, những gì được khắc ghi tên Ngài trên đó.  Hình ảnh nổi bật nhất là con người (St 1, 26).  Toàn bộ con người mang dấu ấn Thiên Chúa và cả vũ trụ cũng tiềm tàng dấu ấn của Thiên Chúa.  Trả con người lại cho Thiên Chúa là dâng nó cho Ngài, là nhìn nhận chủ quyền của Ngài.  Trả vũ trụ trong lành cho Thiên Chúa cũng là trả lại cho con người món quà lớn lao mà Ngài đã trao tặng.

Mỗi người Kitô hữu luôn hãnh diện vì mang trong bản thân mình hình ảnh cao quý của Thiên Chúa và luôn sống phong cách của Ngài: quảng đại chia sẻ, yêu thương trao hiến, bao dung tha thứ, khiêm tốn phục vụ.  Được như thế, mỗi người chúng ta sẽ luôn làm cho hình ảnh Thiên Chúa ngày càng rõ nét trong cuộc đời mình.

LM Nguyễn Hữu An

KittyThiênKim & Nguyễn Kim Bằng gởi

Từ Nguyễn Văn Trỗi đến Nguyễn Văn Bé, kỹ thuật tuyên truyền “người thật chuyện giả” dưới chế độ CS

Từ Nguyễn Văn Trỗi đến Nguyễn Văn Bé, kỹ thuật tuyên truyền “người thật chuyện giả” dưới chế độ CS

Trần Trung Đạo (Danlambao) – Sau loạt bài về tẩy não, một số độc giả nêu thắc mắc chế độ độc tài nào độc ác nhất trong lịch sử loài người, Đức Quốc Xã hay Cộng Sản. Câu trả lời tùy thuộc vào người được hỏi là ai. Với người Do Thái câu trả lời sẽ là Hitler, lý do chỉ vì họ không muốn nhân loại lãng quên Holocaust, nhưng với phần lớn nhân loại, nhất là sau khi khối Liên Xô sụp đổ và nhiều tài liệu được công khai hóa, sẽ trả lời là Cộng Sản. Trước khi bàn đến kỹ thuật tuyên truyền “người thật chuyện giả”, người viết sẽ so sánh giữa tuyên truyền Đức Quốc Xã và chính sách tẩy não của CS.

Mặc dầu nhiều tài liệu chưa được bạch hóa hết vì vẫn còn năm quốc gia CS đang tồn tại, số lượng nạn nhân bị giết dưới các chế độ CS, 94 triệu theo ước lượng của Stéphane Courtois trong The Black Book of Communism hay 110 triệu theo kết toán của R.J. Rummel. Cả hai ước tính đều cao hơn The Holocaust nhiều lần. Cách giết người qua việc bỏ đói hàng triệu trẻ em tại Trung Cộng, Gulag tại Nga, bằng cuốc xẻng tại Campuchia, cải cách ruộng đất tại Việt Nam cũng tàn nhẫn và vô nhân không thua kém gì phương pháp lò thiêu sống của Hitler ở Auschwitz.

Lenin ít được đem ra so sánh với Hitler, Stalin hay Mao không phải y là người nhân đức nhưng chỉ vì chết sớm khi kế hoạch toàn trị Liên Xô chỉ mới bắt đầu. Nếu y sống lâu như Stalin rồi cũng không khác gì mà có thể còn độc ác hơn. Khi mới nắm quyền hành chính Lenin đã thiết lập ngay hai cơ quan phụ trách hai chức năng khủng bố và tẩy não.

Tên hung thần đầu tiên trong hệ thống khủng bố CS quốc tế là Felix Dzerzhinsky. Tên đồ tể khát máu này gốc Ba Lan nhưng là người thành lập cơ quan mật vụ Cheka khủng khiếp nhất tại Nga ngay sau khi cách mạng CS 1917. Sau khi một lãnh đạo tổ chức Cheka bị ám sát hụt tại St. Petersburg, Dzerzhinsky ra lệnh bắt 800 người và tất cả đều bị xử bắn không qua một phiên tòa nào. Chỉ trong vòng một tháng từ tháng Chín đến tháng Mười 1918, ước lượng đã có 10 ngàn đến 15 ngàn người bị giết. Danh từ “Khủng bố Đỏ” xuất hiện trong giai đoạn này.

Dzerzhinsky kiêm nhiệm hàng loạt chức vụ cấp bộ trưởng ngoài việc điều hành ngành an ninh Sô Viết. Y có năng khiếu về ngoại ngữ mặc dù học hành bị dang dở vì tham gia hoạt động CS. Dzerzhinsky bị tù nhiều lần trong đó có lần bị lưu đày tận vùng băng tuyết Siberia. Sau khi vượt thoát khỏi Siberia, Dzerzhinsky hoạt động cho đảng CS Đức. Là nhân vật nổi tiếng trong phong trào CS Đông Âu, sau 1917, Felix Dzerzhinsky thay vì hồi cư về Ba Lan đã quyết định ở lại Nga và được bầu vào đảng ủy CS thủ đô Moscow. Felix Dzerzhinsky chia sẻ quan điểm của Lenin về vai trò toàn trị của Soviet và là người đầu tiên nhận trọng trách thành lập cơ quan an ninh CS.

Thế nhưng, cánh tay khủng bố dù tàn bạo, sắc máu bao nhiêu cũng không thể giữ được chế độ tồn tại lâu dài. Tim óc của chế độ toàn trị chính là bộ phận tuyên truyền tẩy não. Tẩy não là một tiến trình xóa bỏ tận gốc rễ bằng nhiều cách các nhận thức cũ và trên đó xây dựng một hệ thống nhận thức mới. Cơ quan tuyên truyền Agitprop được Lenin thành lập và sau đó đổi tên thành Ban Tư Tưởng Trung Ương. Chỉ trong vòng hai năm, 1917 đến 1918, Agitprop đã phát hành 3600 mẫu bích chương tuyên truyền. Tại mọi cửa hàng, cửa sổ, đường phố, cơ quan, đâu cũng dán truyền đơn, bích chương, biểu ngữ tuyên truyền đập vào mắt, xoáy vào nhận thức người đọc. Nhiều đoàn xe lửa tuyên truyền chạy từ thành phố này sang thành phố khác phân phối truyền đơn, tổ chức những đêm văn nghệ tại những nơi xe lửa dừng.

Kỹ thuật tuyên truyền “người thật chuyện giả”

Trong xã hội CS, vô số “anh hùng” được dàn dựng, khác nhau về bố cục, tình tiết nhưng đều tuân theo một nguyên tắc: người thật chuyện giả. Một vài ví dụ điễn hình là Hướng Lôi Phong, Huang Jiguang, Wang Jinxi, Shi Chuanxiang của Trung Cộng, Pavlik Morozov, Alexey Stakhanov của Liên Xô và vô số người thật chuyện giả ở Việt Nam. Cái chết của Nguyễn Văn Trỗi là một ví dụ quen thuộc của kỹ thuật tuyên truyền “người thật chuyện giả”.

Tố Hữu viết về cái chết của Nguyễn Văn Trỗi trong bài thơ Hãy nhớ lấy lời tôi:

Anh thét to: “Ta có tội gì đây ?”

Chúng trói Anh vào cọc mấy vòng dây.

Mười họng súng. Một băng đen bịt mắt

Anh thét lên: “Chính Mỹ kia là giặc!”

Và tay Anh giật phắt mảnh băng đen

Anh muốn thiêu, bằng mắt, lũ đê hèn

Với cái chết. Anh muốn nhìn giáp mặt

Như ngọn lửa không bao giờ dập tắt!

….

Anh thét lên: Hãy nhớ lấy lời tôi:

Đả đảo đế quốc Mỹ!

Đả đảo Nguyễn Khánh!

Hồ Chí Minh muôn năm!

Hồ Chí Minh muôn năm!

Hồ Chí Minh muôn năm!

Phút giây thiêng, Anh gọi Bác ba lần!

Súng đã nổ. Mười viên đạn Mỹ

Anh gục xuống. Không, Anh thẳng dậy

Anh hãy còn hô: “Việt Nam muôn năm!”

Máu tim Anh nhuộm đỏ đất Anh nằm!

Một người bị trói cả hai tay vào “cọc mấy vòng dây” mà còn tay nào để “giật phắt mảnh băng đen”?

Ngay cả khi bị “Mười viên đạn” “gục xuống” làm sao còn “đứng thẳng dậy” để hô?

Những câu chuyện hoang đường chỉ có trong đầu cuồng tín bịnh hoạn của Tố Hữu mà trong tuổi về già đã thú nhận với Trần Đăng Khoa trong Chân Dung và đối thoại rằng chính y đã nhét vào mồm Nguyễn Văn Trỗi: “Tôi cho cả Nguyễn Văn Trỗi hô: Hồ Chí Minh muôn năm. Mà hô những ba lần kia”.

Bài thơ Hãy nhớ lấy lời tôi đầy nghịch lý, khinh thường hiểu biết của người đọc, phạm những lỗi lầm sơ đẳng, thế nhưng đã được đưa vào mọi sách giáo khoa. Những trò tuyên truyền bỉ ổi đó không phải chỉ trong thời chiến mà nửa thế kỷ sau khi nhân loại sống trong thời đại toàn cầu hóa 2014 này vẫn còn có những văn nô, bồi bút đem ra ca ngợi. Mấy tuần qua, nhan nhản trên các báo đảng, bài thơ buồn cười đó cũng được đem ra học tập giống như trong thập niên 1960 ở miền Bắc.

Một ví dụ khác về kỹ thuật tuyên truyền “người thật chuyện giả” là “anh hùng Nguyễn Văn Bé”. “Anh hùng” này đã làm cả hệ thống tuyên truyền của đảng hố to và có lẽ “liệt sĩ Nguyễn Văn Bé” là trường hợp duy nhất sau 1975 đảng gián tiếp thừa nhận chỉ là sản phẩm tuyên truyền.

Nguyễn Văn Bé là ai ?

Theo cả hai nguồn tài liệu, Việt Nam Cộng Hòa và CSVN, Nguyễn Văn Bé sinh năm 1946 tại quận Châu Thành tỉnh Mỹ Tho trong một gia đình nghèo. Y tham gia các hoạt động CS tại địa phương và chính thức trở thành đoàn viên Đoàn Thanh Niên Nhân Dân Cách Mạng trực thuộc đảng Nhân Dân Cách Mạng (tên gọi của đảng CS khi hoạt động tại miền Nam Việt Nam). Nguyễn Văn Bé gia nhập bộ đội CS ở tuổi 19 và được giao trách nhiệm tải súng đạn. Vào năm 1966, trận đụng độ giữa quân đội CS và quân Mỹ, Bé bị bắt cùng với số vũ khi mà y đang tải vào ngày 30 tháng 5, 1966 tại kinh Cả Bèo, xã Mỹ Quý, tỉnh Kiến Phong.

Đến điểm này hai bên, VNCH và CSVN, đều tường thuật gần giống nhau. Theo bộ máy tuyên truyền CS phát ra từ Hà Nội, “anh hùng Nguyễn Văn Bé” dù bị tra tấn chẳng những không khai một lời mà còn phát biểu những câu nói bất hủ “Tất cả hành động của Mỹ rồi cũng chẳng khác gì bong bóng của xà phòng sẽ bị nước sông cuốn đi”. Cuối cùng, Nguyễn Văn Bé bị đưa đến một trung tâm gần xã Mỹ An. Tại đây, Nguyễn Văn Bé, sau khi nháy mắt ra dấu cho người thợ cày đứng gần để chạy ra xa, đã nâng 10 kí lô mìn Claymore khỏi đầu, miệng hô lớn “Mặt trận Giải Phóng Miền Nam muôn năm, đả đảo đế quốc Mỹ” trước khi đập mạnh khối mìn vào thành một chiếc tăng M118. Khối mìn nỗ lớn và cả kho đạn bị nỗ lây. Cũng theo bản tin của đài phát thanh Hà Nội, “16 lính Mỹ và 10 lính ngụy” chết ngay tại chỗ, ngoài ra nhiều thương vong do đạn lạc gây ra sau đó. Tuy nhiên, một anh hùng như thế mà chỉ giết được “16 lính Mỹ và 10 lính ngụy” thì quá ít nên trong những bản tin sau đó con số lính Mỹ chết được tăng lên 96.

Tức khắc khi câu chuyện được đăng trên báo Nhân Dân ở miền Bắc và các báo bí mật ở miền Nam, các cơ quan tuyên truyền bắt đầu chỉ thị học tập noi gương “chủ nghĩa anh hùng cách mạng” của “Liệt sĩ Nguyễn Văn Bé”. “Sự hy sinh của anh không những được cả thế hệ thanh niên Việt Nam kính phục mà còn nhận được sự thán phục bởi tuổi trẻ toàn thế giới”.

Bàn tay Nguyễn Văn Bé dùng để đập khối bom được báo đảng gọi là “bàn tay thiên tài”. Nhiều vở kịch được dựng ngay để diễn lại “hành động anh hùng” của Nguyễn Văn Bé. Một bài báo đảng cho biết sức mạnh của bàn tay Nguyễn Văn Bé chắc chắn được thúc đẩy bởi một lực huyền bí vì “chẳng những giết ngay gần hàng trăm kẻ thù mà còn tạo nên một ảnh hưởng dây chuyền dẫn đến một phong trào làm theo anh hùng Nguyễn Văn Bé khắp cả nước”. Nói chung, hình ảnh Nguyễn Văn Bé như ngôi sao mầu nhiệm làm cả nước đều tin. Chủ nghĩa anh hùng cách mạng thôi thúc con người miền Bắc. Nhiều thanh niên đã gác hết chuyện học hành, gia đình để tình nguyện vào Nam chiến đấu theo gương “anh hùng Nguyễn Văn Bé”

Các cơ quan tuyên truyền địa phương tin chắc rằng Nguyễn Văn Bé đã chết.

Thật không may cho đảng, Nguyễn Văn Bé không chết. Anh đã đầu hàng, tình nguyện chiêu hồi và còn sống bình an. Các hình ảnh anh chụp với gia đình được báo chí phổ biến rộng rãi. Trên đài phát thanh, đoạn băng “Tôi là Nguyễn văn Bé, hãy còn sống đây…” được phát mỗi ngày khi bắt đầu chương trình. Nguyễn Văn Bé thật có đụng độ nhưng trận chiến chỉ kéo dài không đến 30 phút. Theo báo Time, anh ta chưa bao giờ bắn một viên đạn, thay vì trốn trong con kinh đào và bị nắm tóc kéo lên.

Để phản công trong trận chiến tuyên truyền, phía Việt-Mỹ đã in hơn 20 triệu truyền đơn, bảy triệu minh họa, 465 ngàn bích chương, 167 ngàn tấm hình Nguyễn Văn Bé, 10 ngàn bài hát và rất nhiều chương trình truyền thanh truyền hình nói về sự thật Nguyễn Văn Bé đã đầu hàng, hồi chánh và hiện sống bình an. Các cơ quan tâm lý chiến Việt Mỹ còn phỏng vấn cha mẹ Nguyễn Văn Bé và giúp đưa gia đình họ đến khu vực an toàn. Các cơ quan tuyên truyền của đảng CS phản ứng bằng cách tổ chức rầm rộ ngày kỷ niệm một năm “anh hùng Nguyễn Văn Bé hy sinh”. Các đài phát thanh, báo chí và cả báo chí Liên Xô cũng đăng bài thương tiếc “liệt sĩ Nguyễn Văn Bé”. Nhân dân miền Bắc lại tiếp tục tin rằng anh đã thật sự hy sinh.

Sau 1975, quả thật với một chiến công to lớn như vậy, Nguyễn Văn Bé không những chỉ có tên đường mà phải một tên phố, một công viên mang tên anh. Nhưng không, bởi vì sự giả dối như thế quả quá trâng tráo và trắng trợn. Câu chuyện ngụy tao Lê Văn Tám còn có thể im lặng vì thời gian quá xa nhưng Nguyễn Văn Bé vẫn còn mang tính thời sự, nhiều người trong thời đó còn sống, nhiều tác giả nhạc, văn, thơ còn chưa hết sượng sùng.

Tội ác của bồi bút và văn nô

Hiện nay hầu hết các “anh hùng xã hội chủ nghĩa” ở 15 nước cựu Liên Xô và các nước Đông Âu, một số bị chôn vùi trong tro bụi thời gian, một số chỉ còn xuất hiện trong các truyện tranh vui giải trí (comic book), riêng tại Việt Nam, không chỉ các thế hệ măng non mà cả thanh niên, sinh viên còn phải học, phải tin vào những mẩu chuyện hoang đường một cách đáng thương và tội nghiệp. Dĩ nhiên không phải tại các em những nạn nhân bất hạnh đã sinh ra và lớn lên trong xã hội lọc lừa. Ngoài chính phạm là đảng CS, tội ác này còn có sự a tòng của đám văn nô, bồi bút, những kẻ chỉ vì chút bổng lộc đảng ban cho mà chịu cúi đầu làm tôi mọi, tiếp tay với đảng làm băng hoại mọi giá trị đạo đức và tương lai dân tộc.

Người viết xin trích một số đoạn trong bài thơ Tản mạn về thơ và đồng nghiệp của nhà thơ Thái Bá Tân để kết luận cho bài viết này:

Đất nước cần thần tượng?

Dạ, có ngay, có ngay.

Cần anh hùng? Rất dễ.

Anh hùng thì có đầy.

Thế là Lê Văn Tám,

Nguyễn Văn Bé trung kiên,

Rồi nhà tù Phú Lợi,

Rồi kéo pháo Điện Biên…

Rồi báo cáo, tổng kết,

Rồi thi đua, phê bình,

Cái việc ai cũng biết

Là lừa người, lừa mình.

Trần Trung Đạo

danlambaovn.blogspot.com

______________________________________

Tham khảo:

1. Stéhane Courtois, Nicolas Werth, Jean-Louis Panné, Andrzej Paczkowski, Karel Bartosek, Jean-Louis Margolin The Black Book of Communism, Crimes, Terror, Reppression, Harvard University Press, 1999.

2. Mihai C. Bocarnea and Bramwell Osula: Edifying the New Man: Romanian Communist Leadership’s Mythopoeia. Regent University, International Journal of Leadership Studies. Vol. 3 Iss. 2, 2008, pp. 198-211.

3. Margaret Peacock. Broadcasting Benevolence: Images of the Child in American, Soviet and NLF Propaganda in Vietnam, 1964–1973. Project MUSE, 2010.

4. The Strange Case of the Vietnamese “Late Hero” Nguyen Van Be

(http://www.psywarrior.com/BeNguyen.html)

5. South Viet Nam: The Hero

(http://content.time.com/time/magazine/article/0,9171,836801,00.html

6. SGM Herbert A. Friedman THE USE OF MUSIC IN PSYCHOLOGICAL OPERATION

7. Sự thật về Nguyễn Văn Bé (http://vietnamsaigon75.blogspot.com/2013/07/liet-si-nguyen-van-be-hy-sinh-nam-1966.html)

8. Christoph Giebel. Imagined Ancestries of Vietnamese Communism: Ton Duc Thang and the Politics of History and Memory

9. Questioning of Lei Feng’s Frugality Leads to Detention,

(http://blogs.wsj.com/chinarealtime/2013/08/21/four-detained-for-questioning-lei-fengs-frugality/)

10. Thơ Thái Bá Tân Tản mạn về thơ và đồng nghiệp, Facebook

11. Trần Đăng Khoa Chân Dung và đối thoại, truyen.com

Cầu nguyện cho Nina Phạm và Amber Joy Vinson: một nghiã cử không biên giới

Cầu nguyện cho Nina Phạm và Amber Joy Vinson: một nghiã cử không biên giới

Trần Mạnh Trác

10/15/2014

(Theo tin CNA 15/10/2014) Những người Công Giáo ở Bắc Texas, không phân biệt chúng tộc, đang tổ chức cầu nguyện cho 2 cô y tá bị lây nhiễm vi khuẩn Ebola trong khi thi hành công vụ, cô Nina Phạm, 26 tuổi, người Việt Nam, và cô Amber Joy Vinson, 29 tuổi, người da màu gốc ở Ohio.

Cô Nina Phạm là một thiếu nữ con nhà mộ đạo ở giaó xứ Fatima, giáo phận Fort Worth, đã được tiếp xúc với một linh mục cuả giáo phận Dallas tại bệnh viện nơi cô đang được điều trị trong một khu vực cách ly.

“Thật là một nỗi buồn sâu sắc khi nhận được tin hai cô Nina Phạm và Amber Joy Vinson, làm y tá tại Dallas, đã bị lây nhiễm vi khuẩn Ebola trong lúc chăm sóc cho ông Thomas Eric Duncan,” là lời cuả Đức Giám Mục Kevin Farrell, địa phận Dallas. “Chúng tôi cầu nguyện cho họ chóng phục hồi, và hơn nữa cho gia đình cuả họ và những người thân yêu.”

Nina Phạm, y tá bệnh viện Presbyterian ở Dallas, đã bị nhiễm bệnh trong khi chăm sóc cho ông Thomas Duncan, người Liberia, từ khi ông được nhập viện cho đến khi ông qua đời ngày 8 Tháng Mười.

Cô Vinson, cũng từng chăm sóc cho ông Duncan, đã đến bệnh viện ngày 14 tháng 10 vừa qua để báo cáo rằng cô cũng có triệu chứng lây bệnh.

“Tình trạng lây nhiễm này nhắc nhở cho chúng ta rằng có nhiều y tá, bác sĩ, và chuyên gia y tế, với tấm lòng vị tha quảng đại, đã bỏ ra những thời gian dài vô tận để bảo vệ chúng ta và cộng đồng cuả chúng ta” Đức Giám Mục Farrell nói. “Đây là lúc mà cộng đồng chúng ta đáp trả với tinh thần từ bi bác ái và một thái độ bình tĩnh.”

Cô Nina Phạm, từ bệnh viện Dallas đã giao tiếp được với gia đình ở Fort Worth nhiều lần qua mạng lưới Skype (điện thoại trên mạng).

Cô cũng đã được tiếp xúc với một linh mục, theo lời bà giám đốc truyền thông cuả địa phận Dallas là Annette Gonzalez Taylor.

“Cha ấy không được phép vào trong khu vực cách ly, nhưng Ngài đã giao tiếp được với cô ấy”, bà nói thêm, “sức mạnh của lời cầu nguyện thì không có ranh giới.”

Trở về Địa Phận Fort Worth nơi gia đình cô Nina Phạm cư ngụ, Lm Jim Ngô Hoàng Khôi, dòng Đồng Công, chánh xứ Gx Fatima, đã dâng lễ hằng ngày cầu nguyện cho cô ấy.

Cha Khôi, dẫn lời cuả bà mẹ cô Nina, đã nói với tờ Dallas Morning News rằng cô Nina đang cảm thấy “rất thoải mái” và “đang được hỗ trợ rất nhiều.”

“Cô ấy biết rằng mọi người đang cầu nguyện cho cô ấy, đặc biệt là trong thời gian khó khăn này.”

Hôm thứ ba vừa qua cô Nina đã nhờ Bệnh viện Presbyterian viết một thông báo như sau: “Tôi đang cảm thấy khoẻ và xin cảm ơn tất cả mọi người về những lời chúc tốt đẹp và những lời cầu nguyện.”

“Tôi may mắn có được sự hỗ trợ của gia đình và bạn bè và tôi cảm thấy hạnh phúc khi được chăm sóc bởi một đội gồm các bác sĩ và y tá tốt nhất trên thế giới.”

Cô Nina đang được truyền máu cuả bác sĩ Kent Brantly, là một người đã sống sót qua cơn dịch Ebola, với hy vọng rằng máu đó chứa các kháng thể có thể giúp chống lại virus.

Trường Công Giáo Nolan Catholic High School ở Fort Worth, nơi cô Nina tốt nghiệp năm 2006, sẽ tổ chức một buổi cầu nguyện riêng cho cô vào ngày 16.

Trường hợp lây nhiễm cuả Nina Phạm và Amber Joy Vinson đã nêu ra một số lo ngại về việc có thể có nguy cơ truyền nhiễm trong Thánh Lễ hay ở những nơi công cộng khác.

Bà Taylor, giám đốc truyền thông cuả địa phận Dallas, nói rằng giáo phận Dallas đã ra thông cáo cho các linh mục là bắt đầu cử hành các việc phụng vụ theo nghi thức cuả Hội đồng Giám Mục Hoa Kỳ áp dụng trong mùa cảm cúm, nhưng bà nói thêm rằng sự việc này không chỉ là để đáp ứng với Ebola.

“Thông cáo đã được gửi ra để đáp ứng nhu cầu cuả đầu mùa cảm cúm và cuả cơn dịch enterovirus (D68) rất dễ lây lan, đang xảy ra ở Dallas và trên toàn quốc.”

“Những người có triệu chứng cảm cúm thì không nên đến tham dự thánh lễ”, Bà Taylor nói. “Không đi lễ khi có bệnh thì không có tội,” bà giải thích thêm.

Bà cũng lưu ý rằng đối với những nơi có cho rước Máu Thánh, thì người Công Giáo phải có trách nhiệm để quyết định rằng mình có nên rước Máu Thánh không. (vì việc dùng chung một chén thánh)

Đức Giám Mục Farrell ca ngợi các quan chức ở Dallas đã có phản ứng trước cơn dịch Ebola. Ngài tin tưởng rằng họ “sẽ thực hiện các bước cần thiết để chăm sóc cho các bệnh nhân và bảo vệ cộng đồng.”

Ông Pat Svacina, giám đốc truyền thông của Giáo phận Fort Worth, cho biết rằng giáo phận đã có nhiều chuyên gia y tế và nhân viên đang theo dõi mọi hướng dẫn mới nhất của CDC (Trung Tâm Phòng Ngừa Bệnh) về căn bệnh này và đang phân phối mọi thông tin đến các cán bộ gồm có y tá trường học và các vị mục tử. Điều này đã được thực hiện trước khi có tin cô Nina bị bệnh, ông nói, lưu ý rằng nơi cô Nina nhiễm bệnh không phải là ở trong khu vực Fort Worth. (Fort Worth là một thành phố cách Dallas 45 miles, 72 km)

“Giáo Phận Fort Worth và các giáo dân đang cầu nguyện cho các y tá đã bị ảnh hưởng vì dịch Ebola và cho gia đình cuả họ, cho tất cả thân nhân cuả họ và cho tất cả những người bị ảnh hưởng bởi nạn dịch Ebola này,” ông Svacina nói “Chúng tôi nguyện xin Chúa, Chúa Giêsu Kitô, ở với họ trong thời gian khó khăn này. ”

Ông nói thêm, “Đức Giám Mục Michael Olson đã yêu cầu mọi người Công Giáo cầu nguyện cho Nina và gia đình. Đồng thời Giáo phận cũng dâng lời cầu nguyện cho tất cả các bệnh nhân Ebola”.

Chuyện bây giờ mới kể

Chuyện bây giờ mới kể

Nguoi-viet.com
Tạp ghi Huy Phương


Có lẽ trong số khách đi xem cuốn phim tài liệu “Last Days in Vietnam” (Những ngày cuối cùng ở Việt Nam) tại rạp University 6 ở Irvine hôm 1 tháng 10 vừa qua, ba đứa cháu ngoại của tôi là những khán giả trẻ nhất.

Ngoại Trưởng Henry Kissinger và Tổng Thống Gerald Ford.

Mặc dù cuốn phim được giới phê bình Mỹ đánh giá rất cao, 96% trên Rotten Tomatoes, tôi vẫn có chút ngại ngần không muốn rủ bọn trẻ đi xem, sợ chúng chán với cuốn phim tài liệu kể về những sự kiện xảy ra lúc chúng chưa sinh ra đời. Tôi cũng không muốn chúng phải kinh nghiệm những khổ đau thế hệ trước đã trải qua dù là gián tiếp. Nhưng trong thâm tâm, tôi vẫn tha thiết muốn cho chúng hiểu được tại sao cha ông chúng đã có mặt trên đất nước Hoa Kỳ này và tại sao thế hệ tôi vẫn còn khắc khoải và lo nghĩ về những gì đang xảy ra nơi cố quốc.

Trong hơn một tiếng rưỡi đồng hồ, cuốn phim kể lại những nỗ lực tuyệt vọng và bi tráng của thủy quân lục chiến và nhân viên Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ nhằm di tản những công dân Việt Nam Cộng Hòa có khả năng bị trả thù khi quân đội Bắc Việt chiếm lấy miền Nam.

Cảnh tượng cả Mỹ lẫn Việt hốt hoảng chen lấn tìm đường di tản trước cuộc tiến quân của Bắc Việt trong những ngày cùng tháng tận của miền Nam đã làm người xem phim như sống lại những ngày tháng bi thảm đó, đau đớn như một lần nữa mất nước.

Ðạo diễn Rory Kennedy đã cố gắng xây dựng một đánh giá khá quân bình về trách nhiệm và đặc biệt là tư cách của những người Mỹ và Việt, ở cả vai trò quyết định hay nạn nhân của cuộc chiến. Tổng Thống Nixon cam kết sẽ trả đũa bất kỳ cuộc tấn công vi phạm hiệp định hòa bình nào của Cộng Sản Bắc Việt và bảo đảm tiếp tục chi viện cho Việt Nam Cộng Hòa để bảo vệ chế độ dân chủ của miền Nam. Nhưng những lời hứa trên văn bản này cũng chỉ là giấy lộn khi chế độ dân chủ tại Hoa Kỳ không chấp nhận một tổng thống như Nixon lạm quyền đi nghe lén đối thủ chính trị của mình.

Cảnh di tản tại Tòa Ðại Sứ Mỹ tại Sài Gòn.

Ðại Sứ Martin cứng đầu không chịu chuẩn bị kế hoạch di tản vì mãi hy vọng về một giải pháp chính trị cho miền Nam và cũng không muốn thông tin về di tản sẽ làm dân miền Nam hoảng loạn. Nhưng trong vài ngày cuối, ông Martin lại ra lệnh cho thủy quân lục chiến Mỹ cho phép mỗi chuyến bay rời tòa đại sứ ra Hạm Ðội 7 chỉ được chở một số ít nhân viên Mỹ còn lại là người Việt Nam để di tản được càng nhiều người Việt càng tốt. Chính ông Martin đã chỉ lên chuyến trực thăng kế cuối rời tòa đại sứ khi biết rằng đã tận lực, không thể làm gì hơn cho số người Việt còn kẹt lại.

Tổng Thống Henry Ford cũng đã không quay lưng lại với Việt Nam Cộng Hòa hoàn toàn khi vào ngày 10 tháng 4, 1975 đã đọc diễn văn trước Quốc Hội Mỹ về tình hình Việt Nam và yêu cầu Quốc Hội chấp thuận một ngân khoản 722 triệu đô la để viện trợ khẩn cấp cho miền Nam Việt Nam. Và Quốc Hội Mỹ, mà nhiều người Việt Nam tỵ nạn sau này đã đổ lỗi cho Ðảng Dân Chủ lúc đó đang chiếm đa số, đã không đồng ý cấp viện trợ theo yêu cầu của Ford. Không phải vì họ thiên tả hay chủ hòa nhưng vì cả nước Mỹ đã quá mỏi mệt với cuộc chiến; họ không tin vài trăm triệu đô có thể thay đổi tình thế khi trong hơn 15 năm Mỹ đã đổ hàng tỷ đô la và 58 nghìn mạng sống con dân của họ mà vẫn không đạt được kết quả.

Cuốn phim cũng phần nào giải thích vì sao dân miền Nam lại hoảng loạn chạy trốn Cộng Sản. Chỉ trong 15 phút đầu, cuốn phim đã kể lại vắn tắt vụ thảm sát tại Huế trong Tết Mậu Thân, khi hàng ngàn người dân cố đô vô tội bị trói tay từng chùm và dẫn đi mất tích, và sau đó là cảnh những thân nhân vật vã than khóc trước những nấm mồ tập thể và những thi hài bó trong mảnh poncho. Nỗi ghê sợ của vụ thảm sát Mậu Thân và sau này là biến cố trên “đại lộ kinh hoàng” vào mùa Hè 1972 đã khiến người dân miền Nam bất chấp mọi giá phải bỏ chạy càng xa Cộng Sản càng tốt. Nỗi ám ảnh đó đã khiến người chạy loạn trao cho người thân hay thậm chí người lạ những đứa con còn nhỏ của mình để mong chúng được đem đến vùng đất an toàn và tự do mà bố mẹ chúng đã chọn để sống.

Sự hy sinh trong chia ly đó đã bắt đầu từ 1954, đến 1972, 1975, cho đến suốt thập niên 80, người Việt vẫn tiếp tục ra đi, dấn thân vào mọi hiểm nguy chết chóc băng rừng vượt biển để tìm đến những đất nước mà họ tin có thể tiếp tục được sống trong tự do và nhân phẩm.

Khi ra khỏi rạp, cô cháu hỏi tôi, “Trong những giờ phút cuối cùng ấy, người ta chen chúc nhau để được ra đi, thì ông ngoại ở đâu?”

Tôi nói cho cháu rõ vào những “last days” ấy tôi phải ở lại với đơn vị cùng với những người lính của tôi. Không phải ai cũng có cơ hội ra đi, và đi được. Cũng như số phận một sĩ quan trong quân đội VNCH trong phim là Trung Úy Phạm Hữu Ðàm bị kẹt lại phải đi “học tập cải tạo“13 năm trong nhà tù Cộng Sản, tôi cũng ở lại với 7 năm tù từ Nam ra Bắc. Còn đứa cháu trai nhỏ nhất thì ôm tôi và nói, “Con cám ơn ông ngoại!”Tôi không hỏi xem cháu nó cám ơn tôi về điều chi! Nhưng tôi cám ơn chúng đã “chịu khó” nghe tôi bỏ cả buổi tối đi xem cuốn phim này.

Bích chương “Last Days in Vietnam.”

Ðể biết thế hệ cháu tôi nghĩ gì về những gì đã xảy ra cho thế hệ cha ông của chúng sau khi xem phim, tôi có một yêu cầu là tất cả đều phải viết cho tôi một vài dòng cảm tưởng. Dưới đây là “bài thu hoạch”(!) của chúng, lẽ cố nhiên bằng Anh ngữ, xin tạm dịch:

“Thật là một kinh nghiệm không tưởng tượng được khi ngồi và xem bộ phim này trong một rạp hát với các cá nhân và cựu quân nhân đã có mặt tại miền Nam Việt Nam vào thời điểm đó. Khi xem phim, tôi gần như có thể cảm thấy sự hoảng sợ mà tất cả người miền Nam đã trải qua khi họ cố gắng một cách tuyệt vọng để chạy trốn khi quân Bắc Việt đang tiến dần vào thành phố. Cuốn phim tài liệu này đã thực sự mở mắt cho tôi, một người Mỹ gốc Việt, để thấy rằng một sự kiện bi thảm như vậy đã xảy ra và để biết dù muốn hay không gia đình tôi đã phải sống qua tấn bi kịch này.” (HDP, 25 tuổi, 24 năm ở Mỹ)

“Cuốn phim ‘Những Ngày Cuối ở Việt Nam’ đã cho tôi biết về những ngày cuối cùng của cuộc chiến đã xảy ra như thế nào cho những người liên quan. Trước khi xem phim, tôi thực sự không biết những gì đã xảy ra trong những khoảnh khắc cuối cùng của cuộc chiến, nhưng bây giờ, tôi cảm thấy như tôi hiểu nó rõ ràng hơn. Ðiều khiến tôi cảm động là xúc cảm mạnh mẽ của ông tôi đối với những cảnh miêu tả trong phim. Việc ông tôi khóc khi xem cảnh hạ cờ Việt Nam trên những chiếc tàu hải quân Việt Nam tại vịnh Subic, cùng với cảnh mọi người hát quốc ca miền Nam Việt Nam đã giúp tôi hiểu sự quan trọng của cuộc chiến đối với những người liên quan. Thay vì chỉ là một phần của lịch sử mà tôi đã đọc trong các cuốn sách giáo khoa, cuộc chiến vẫn còn rất mới để còn có những ảnh hưởng đến ngày hôm nay. Tôi đã học được rằng ngay cả bây giờ, những ảnh hưởng của chiến tranh vẫn còn tồn tại và tác động đến cộng đồng Việt Nam, điều mà tôi đã không thực sự chú ý đến trước khi xem cuốn phim này.” (LKN, 19 tuổi, sinh ở Mỹ)

“Trước khi xem phim, tôi không biết thời điểm của những biến cố dẫn đến việc Việt Nam trở thành một quốc gia Cộng Sản. Tôi lớn lên chỉ biết rằng Ðảng Cộng Sản nắm quyền vào tháng 9 năm 1975; họ đã phá vỡ hiệp định hòa bình giữa miền Bắc và miền Nam, và miền Nam đã thua trận. Cuốn phim tài liệu rất có giá trị thông tin. Tôi đã biết được những thông tin mà trước đây tôi không thể tưởng tượng đã có ảnh hưởng đến cuộc chiến như thế nào, chẳng hạn như việc Cộng Sản đã thấy một cơ hội xuất hiện khi Nixon từ chức tổng thống! Bộ phim đã đào sâu các chi tiết như vậy, nhưng nó vẫn rất dễ hiểu. Tôi thậm chí đã khóc khi xem đoạn thuyền trưởng của một tàu hải quân Việt Nam đã phải hạ lá cờ quốc gia thua cuộc của mình để Cộng Sản khỏi nhìn thấy.” (HCP, 15 tuổi, sinh ở Mỹ)

Ðọc những dòng cảm tưởng của ba đứa cháu, tôi lấy lại niềm tin vào thế hệ trẻ lớn lên sau cuộc chiến và ở nước ngoài; chúng vẫn đủ tri thức và tấm lòng để hiểu những gì xảy ra cho quê hương và ông bà cha mẹ của chúng 40 năm trước. Có những điều tuổi trẻ cần quên, như lòng căm thù hay sự phản bội. Nhưng có những điều tuổi trẻ cần nhớ, như lý do chúng có mặt trên đất Mỹ này và nỗi khổ đau dân tộc của chúng vẫn đang gánh chịu trên quê hương Việt Nam. Tôi đã không đủ sức để kể một phần đời của mình cho chúng, thì thôi mượn cuốn phim của người để nói hộ những điều mình muốn nói với thế hệ mai sau.

Có những điều không nhớ thì sẽ không “lớn nổi thành người”…Việt Nam.

VN ‘xin lỗi’ Nhật vụ sân bay Long Thành

VN ‘xin lỗi’ Nhật vụ sân bay Long Thành

BBC

Đại sứ quán Nhật Bản cho biết Tokyo vẫn chưa có quyết định về vốn vay cho sân bay Long Thành

Thứ trưởng Bộ giao thông Vận tải Việt Nam gửi thư xin lỗi đến Đại sứ quán Nhật Bản sau khi Tokyo bác thông tin cho Hà Nội vay vốn xây sân bay Long Thành.

Trước đó, hôm 17/10, báo Tuổi Trẻ dẫn lời ông Phạm Quý Tiêu cho biết trong một buổi tọa đàm trực tuyến ngày 17/10 rằng “phía Nhật Bản quan tâm và sẽ dành khoảng 2 tỷ đôla cho dự án”.

Tuy nhiên, chiều 17/10, ông Hayashi Hiroyuki, Bí thư thứ nhất phụ trách về vốn vay tại Đại sứ quán Nhật Bản ở Hà Nội, nói với BBC thông tin do ông Tiêu đưa ra là “sai sự thật”.

“Chính phủ Nhật Bản chưa quyết định gì về khoản đầu tư nói trên và vì thế chưa hứa hẹn gì với phía Việt Nam về sân bay Long Thành”, ông cho biết.

Đài VOV ngày 18/10 dẫn lời ông Tiêu thừa nhận đã có “sự nhầm lẫn về thông tin” trong buổi tọa đàm về chủ đề “Dự án sân bay Long Thành: Cơ hội và thách thức”.

“Hiện phía Nhật Bản mới chỉ có cam kết tham gia hỗ trợ đầu tư phát triển dự án sân bay Long Thành nhưng chưa đưa ra số liệu cụ thể nào về số vốn vay để thực hiện dự án”, ông Tiêu được dẫn lời nói.

“Con số 2 tỷ đôla là cam kết của Tập đoàn ADPi (Pháp) sẽ cho Việt Nam vay theo hình thức thương mại.”

‘Do điều trị bệnh’

Chính phủ Nhật Bản chưa quyết định gì về khoản đầu tư nói trên và vì thế chưa hứa hẹn gì với phía Việt Nam về sân bay Long Thành

Ông Hayashi Hiroyuki, Bí thư thứ nhất phụ trách về vốn vay tại Đại sứ quán Nhật Bản

Trong thư gửi đến Đại sứ Nhật Bản Fudaka Hiroshi được các báo trong nước dẫn lại, Thứ trưởng Phạm Quý Tiêu nói ông đã “có nhầm lẫn khi đưa ra thông tin” về khoản vay 2 tỷ đôla.

“Tôi thành thật nhận lỗi về sự nhầm lẫn đáng tiếc này mà lý do tôi tự nhận thấy không có lời giải thích nào thực sự thỏa đáng”, thư có đoạn.

Ông Tiêu cũng “chia sẻ từ trái tim” nguyên nhân gây ra nhầm lẫn nói trên:

“Thời gian vừa qua, do tôi mới điều trị bệnh và đi làm lại, trong quá trình theo dõi chuẩn bị cho việc xin chủ trương xây dựng sân bay quốc tế Long Thành, do có thông tin về một số nguồn có khả năng hỗ trợ tín dụng cho dự án này, vì vậy dẫn tới việc trong khi trả lời phỏng vấn tôi có phát biểu nhầm lẫn nói trên.”

“Tôi thành thực xin lỗi Ngài Đại sứ và mong Ngài Đại sứ chuyển lời xin lỗi chân thành của cá nhân tôi với chính phủ và các cơ quan hữu quan của phía Nhật Bản”, thư viết.

Dự án sân bay Long Thành, với tổng vốn đầu tư khoảng 18 tỷ đôla, đang gây nhiều tranh cãi trong nước trong bối cảnh nợ công của Việt Nam đang chạm ngưỡng an toàn.

Giai đoạn một của dự án có tổng chi phí được truyền thông trong nước nói là 7,8 tỷ đôla, trong đó 50% vốn ODA và trái phiếu chính phủ, 50% còn lại là các nguồn vốn khác.

Vàng Bạc Trong Tro Bụi

Vàng Bạc Trong Tro Bụi

Đức Ông Phêrô Nguyễn Văn Tài

Trong kinh điển Phật giáo, có ghi lại câu chuyện ngụ ngôn như sau:
Có một người giàu có và tham lam nọ bỗng thấy tiền bạc của cải của mình biến thành tro bụi.  Người đó đau buồn đến độ không còn thiết gì đến ăn uống nữa.
Hay tin ông đau liệt, một người bạn tìm đến thăm.  Sau khi đã tìm ra nguyên nhân của căn bệnh, người bạn đã nói như sau:
“Anh đã không biết sử dụng của cải của anh.  Chính vì thế mà anh càng thu tích, thì của cải của anh càng trở thành tro bụi.  Xin anh hãy nghe lời khuyên sau đây của tôi: anh hãy đưa cả đống tro bụi vào hiệu buôn của anh.  Anh ngồi trên đó và rao bán cho mọi người”.
Người giàu có làm theo lời khuyên của người bạn.  Ông ngồi trên đống tro và rao hàng.  Có người hỏi tại sao ông bán tro, ông trả lời như sau:
“Ðây là tất cả tài sản của tôi”.
Một ngày kia, có một em bé gái mồ côi đi qua trước cửa hiệu.  Em nghèo nhưng trong lòng không hề vương vấn đối với của cải.  Thấy người giàu có ngồi trên đống tro, em bé mới nói:
“Thưa ngài, ngài không biết là ngài đang bán vàng và bạc đó sao?”.
Ngạc nhiên trước lời nói chân thành của em bé, người đàn ông mới thành khẩn van xin:
“Xin cháu hãy chỉ cho chú biết đâu là vàng, đâu là bạc trong đống tro này?”.
Ðứa bé đưa tay bốc lên một nắm tro.  Tức khắc vàng hiện lên trên đôi tay em trước sự ngạc nhiên của người giàu có.

Sự vật luôn có hai mặt.
Kẻ tham lam nhìn vào chỉ thấy tro bụi và những của cải chóng qua ở đời này, trái lại người có tâm hồn trong sạch sẽ nhìn thấy được những giá trị vĩnh cửu.
Kẻ bi quan nhìn vào sự vật sẽ chỉ nhìn thấy bóng tối, nhưng người lạc quan lại nhìn thấy ánh sáng và vẻ cao đẹp của sự vật.
“Hãy thử nghĩ đến những sự vật trên trời”: đó là lời khuyên vàng ngọc của Thánh Phaolô.
Tưởng nghĩ đến những sự trên trời không có nghĩa là sống trong thế giới của mơ mộng, ảo tưởng mà trái lại là sống tích cực trong thế giới này, sống bằng đôi mắt luôn tỉnh thức để nhìn ra chiều kích vĩnh cửu của cuộc sống, sống bằng tâm hồn trong sạch để nhận ra được những giá trị cao đẹp của cuộc sống.
“Ðầu đội trời nhưng chân đạp đất”: đó là thế đứng đích thực của con người.
Cắm rễ trong lòng cuộc sống này, nhưng vẫn luôn hướng nhìn về trời cao.
* Sống một cách trọn hảo trong từng phút giây của cuộc   sống.
* Sống với tất cả trân trọng từng sinh hoạt hằng ngày.
* Sống với cái thường nhật của tất cả tin yêu, cảm mến…

Ðó chính là cách sống của người có niềm tin.

Đức Ông Phêrô Nguyễn Văn Tài

Con Ốc, Cái Tăm & Cây Đũa

Con Ốc, Cái Tăm & Cây Đũa

RFA

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

Chúng ta đã sản xuất được ốv vít, phải khẳng định như thế.

Bộ Trưởng Vũ Huy Hoàng

Trong tiếng Việt “con ốc” với “con vít ” là một, nếu chúng đều nằm trong thùng đồ nghề sửa xe. Còn trên bàn ăn thì hai con tuyệt nhiên không có liên hệ gì (ráo) với nhau.

Sở dĩ có chuyện hơi rắc rối như vậy bởi con ốc có nguồn gốc từ phương Tây. Khi  mới đến Việt Nam, có người thấy mặt (liền) đặt tên nó là “con ốc” vì trông cũng hơi giông giống.

Nhưng ốc có nhiều loại (ốc biển, ốc núi, ốc khe, ốc ao, ốc suối, ốc vườn, ốc ruộng…) với hình dạng và tên gọi khác nhau: ốc dừa, ốc gạo, ốc hương, ốc lác, ốc leng, ốc ma, ốc nhồi, ốc vòi voi, ốc sên, ốc móng tay, ốc bươu vàng, ốc mỡ, ốc đỏ, ốc ngựa, ốc vú nàng, ốc bàn tay, ốc mặt trăng, ốc đụn, ốc tù, ốc trám, ốc bùn, ốc mượn hồn… Ngó bộ cũng lộn xộn dữ nên có kẻ (bèn) gọi nó là con vít – gần như cách phát âm chữ “vis” trong tiếng Pháp.

Tưởng như vậy là êm chuyện nhưng dân Việt Nam, ở vùng biển, không chịu vậy. Mấy chả nghe nói tới con vít là nghĩ ngay đến một loại rùa biển, mang khìa nước dừa để nhậu chơi, chớ không phải là … con ốc.

Do đó – có lúc, và tuỳ nơi – con ốc còn được gọi là con đanh vít, hay đinh vít. Cũng có khi, cho nó chắc ăn, người ta dùng danh từ kép: con ốc – vít.

Việt Báo.VN – số ra ngày 7 tháng 10 năm 2005 – có đăng một  một bản tin rất ngắn (và hơi buồn) về ốc:

Chúng Ta Chưa Tự Làm Ðược Cái Ðinh Vít”

“Mỗi năm kinh phí cho hoạt động NC&PT lên tới 200 triệu USD. Chúng ta cũng đã có trên 1,4 vạn tiến sĩ và 1,6 vạn thạc sĩ. Đây là niềm tự hào bởi con số này cao gấp gần năm lần so với Thái Lan và gần 6 lần so với Malaysia. Nhưng nhìn lại trên góc độ hiệu quả thì thật đáng buồn … dù có hàng chục luận án tiến sĩ về tôi thép và cơ khí nhưng trong nước vẫn chưa tự làm được con ốc cho xe máy, ô tô đạt tiêu chuẩn quốc tế (cứ vặn là trờn ren).”

Mười năm sau, hồi đầu tháng 10 năm nay, Bộ Trưởng Công Thương Vũ Huy Hoàng bất ngờ (và mạnh miệng) tuyên bố: “Chúng ta đã làm được ốc vít.” Thiệt là một thành quả vĩ đại chưa từng thấy.

Cả nước mừng muốn chết luôn! Biến cố lại xẩy ra đúng với dịp lễ mừng 60 năm “Giải Phóng Thủ Đô” nên Đảng và Nhà Nước cho bắn pháo bông ăn mừng quá trời quá đất.

Báo Dân Trí hớn hở loan tin: “Mặc dù 21h đêm nay (10/10), các điểm bắn pháo hoa của Hà Nội mới ‘khai hỏa’, nhưng ngay từ chập tối dòng người đã đổ về những điểm này. Cả biển người chờ đón giây phút hân hoan cùng màn pháo hoa trên bầu trời…”

Ai cũng vui như Tết, trừ blogger  Cánh Cò:

Câu nói xuất hiện vào năm 2014, sau hơn ba phần tư thế kỷ ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Gần 40 năm sau khi Sài gòn hoàn toàn giải phóng.

“Con ốc vít” ấy là một sự thật não nề xứng đáng đứng bên cạnh “con tự do” cũng ê chề không kém.

Cái mà cả hệ thống từng rêu rao là công nghiệp hóa, hiện đại hóa nay đã trần truồng nằm phơi trên các trang báo đảng lẫn báo dân. “Con ốc vít” trở thành best seller trên một thị trường được xem là phát triển ngoạn mục nhất nhì Đông Nam á.

“Con ốc vít” hiền lành, vô hại nay bỗng dưng bị lật lên lật xuống xem xét từng chi tiết. Mà lạ lắm, không thấy chi tiết nào đáng chú ý cả vì nó cũng như hàng tỷ con ốc trong guồng máy kinh tế này, nhưng khi một con trong cái đám hàng tỷ con ấy mang quốc tịch Việt Nam thì sự tự sướng lên tới mức ngất ngây như khuôn mặt ửng hồng của ông bộ trưởng.

Một con ốc vít không phải là tất cả nhưng cũng cho thấy cố gắng không ngừng của nhà nước, rất chú ý tới nền công nghiệp nước nhà.Chỉ có điều, người dân lại tưởng ông Bộ trưởng đánh lừa họ vì không lẽ sau bao nhiêu năm mà chế độ chỉ làm được một con ốc vít?

Coi: thằng chả khó tính dữ hông? Mấy năm trước thì than phiền: “Có trên 1,4 vạn tiến sĩ và 1,6 vạn thạc sĩ… có hàng chục luận án tiến sĩ về tôi thép và cơ khí nhưng trong nước vẫn chưa tự làm được con ốc cho xe máy, ô tô đạt tiêu chuẩn quốc tế (cứ vặn là trờn ren).” Nay thành tích đã đạt được thì lại buông thõng một câu, nghe mà phát chán: “Không lẽ sau bao nhiêu năm mà chế độ chỉ làm được một con ốc vít?”

Được thế thì đã phúc!

Tôi e là bác Cánh Cò còn chưa biết rằng mấy con ốc vít của Việt Nam được làm ra  chỉ để chưng chơi, cho vui mắt, chứ không có giá trị thị trường vì “chi phí năng xuất thấp” và “giá thành quá cao” – vẫn theo như (nguyên văn) lời của ông Bộ Trưởng Công Thương Vũ Huy Hoàng.

Sản xuất ra ốc vít mà gía mắc hơn mua thì mất công làm chi cho má nó khi. Hãy nghe lời khuyên của Tiến Sĩ Lê Đăng Doanh (trình bầy trước Bộ Chính Trị) từ năm 2009:

“Tại sao thằng Nhật Bản nó không làm máy bay? Không phải là công nghiệp của nó không làm được máy bay đâu. Mà bởi vì là nó làm cái máy ảnh kỹ thuật số nó lãi nhiều hơn. Chứ máy bay không có nhôm, không có thứ này khác, nó làm làm gì. Chứ không phải thằng Nhật Bản là thằng ngu, thằng khờ, đến mức nó không làm được máy bay. Nó làm được khối, nó làm được máy bay chiến đấu của nó khá ra phết chứ không phải là ít đâu. Thế nhưng mà những gì mà nó cho rằng không cạnh tranh được thì không làm, làm cái khác, thế thôi.

Cái khác là cái gì đây cà?

Cái đinh nhá? Đinh mà cứ đóng là vẹo ngay và giá thành lại cao hơn đinh nhập khẩu thì cũng hỏng bét.

Thôi thì đành quay về tay nghề (tiểu công nghệ) truyền thống của cha ông, không dây vào những “công nghiệp nặng” như chủ trương lớn của Đảng và Nhà Nước, như trước nữa.

Ta làm cái tăm và cái đũa vậy.

Tưởng vậy nhưng cũng không phải vậy.

Trên báo Hà Nội Mới, số ra ngày 15 tháng chín năm 2014, ông Cù Xuân Trường buồn bã cho hay:

Mỗi năm, Việt Nam phải nhập khẩu cả chục nghìn tấn đũa tre, tăm tre từ Trung Quốc. Với một đất nước “đâu đâu ta cũng có nứa tre làm bạn”, liệu đây có phải là câu chuyện bình thường? Phải chăng chiếc tăm, đôi đũa của nước ngoài được chế tạo bằng một loại “công nghệ” đặc biệt và có những “công năng” sử dụng vượt trội so với chiếc tăm, đôi đũa của ông bà ta để lại từ xa xưa?

Vì chính sách thuế chưa thực sự khuyến khích việc đầu tư sản xuất nên giá thành một gói tăm, đôi đũa của Việt Nam cao hơn của Trung Quốc? Vì các doanh nhân Việt Nam quen thói “làm ngay, ăn ngay”? Hay là vì rừng tre Việt Nam đã cạn kiệt đến mức không còn đủ nguyên liệu cho sản xuất?

Riêng về câu hỏi cuối thì trang VEF (Vietnam Economic Forum) đã có câu trả lời, từ lâu rồi:

“Hàng ngàn tấn tre nguyên liệu không kể non hay già đã được thương lái Trung Quốc tận thu tại các vùng trồng tre vào năm 2010, ông Nguyễn Văn Hà, Giám đốc Công ty Tăm tre Bình Minh (Hà Nội), cho biết. Doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm từ tre trong nước như tăm tre, đũa tre… khi ấy đã rơi vào tình cảnh đói nguyên liệu.

Cùng thời gian trên, báo Hải quan đưa tin, 1.118 tấn tăm tre được nhập qua các cảng vào Việt Nam, chủ yếu từ Trung Quốc, Đài Loan. Các doanh nghiệp trong nước lúc này lại đau đầu với một khó khăn khác: tìm đầu ra cho sản phẩm khi phải cạnh tranh khốc liệt với tăm tre nhập khẩu giá rẻ…

Đó là chưa kể, trồng tre cũng là trồng rừng, có tác dụng bảo vệ môi trường, khí hậu. Khai thác tre quá mức cũng không khác nào tàn phá rừng.

Đã đến lúc, các doanh nghiệp trong nước phải tìm cho mình hướng đi mới…”

Còn hướng (mẹ) nào nữa mà tìm?

Không làm được con ốc vít, không làm được cây tăm, cây đũa thì biết làm gì để sống?

Tiến sĩ Vũ Minh Khương, giảng viên Đại Học Quốc Gia Singapore.

Ảnh: eduvision.vn

Chuyện mưu sinh, kể ra, cũng không khó khăn chi lắm – ở Việt Nam – theo nhận định của tiến sĩ  Vũ Minh Khương:

“Ông cha chúng ta để lại cho chúng ta đất đai ở vị thế đẹp và nhiều tài nguyên quý giá. Thế giới lại thương cảm chúng ta đã trải qua những cuộc chiến tranh khốc liệt. Thế hệ chúng ta chỉ cần cho nhượng thuê đất trong các dự án đầu tư dễ dãi, bán tài nguyên, và vay nợ quốc tế cũng đủ sống xênh xang được 20-30 năm nữa. Ta nhượng đất của ông cha làm sân golf và dân ta sẽ không thể đói nhờ nghề nhặt bóng và đánh giày” Mỗi chúng ta, dù sao hãy cùng trả lời một câu hỏi day dứt: Dân tộc Việt Nam ta hôm nay có đủ lòng quả cảm “chặt cầu để tiến lên không?”

Chớ còn ảo tưởng gì nữa về cái “cầu XHCN” mà không chặt mẹ nó đi cho xong nợ!

Ebola Tới Mỹ!

Ebola Tới Mỹ!

Tác giả: Vũ Linh

…Tỷ lệ chết cực kỳ cao, tới 90% vì không có thuốc chữa…

Cuối cùng thì chuyện gì phải đến đã đến: dịch Ebola đã tới đất Mỹ. Tới Dallas!

Từ 6 tháng qua, dịch Ebola đã hoành hành như chưa từng thấy bên Tây Phi, tại 3 nước Guinéa, Sierra Leone, và Liberia. Đầu tháng Tám tổng cộng chưa tới 1.000 người mắc bệnh, vài chục người chết. Đầu tháng Mười, hơn 10.000 người đã mắc bệnh, và trên 3.500 người đã chết. Và những con số này leo thang vùn vụt mỗi ngày, bất kể hàng loạt biện pháp chữa trị, ngăn chặn. Chính quyền mấy nước này đang bù đầu chống đỡ, với sự giúp đỡ của cả thế giới.

Đây không phải lần đầu tiên Ebola tấn công. Trước đây đã có khá nhiều lần, đều là ở Phi Châu. Lần đầu Ebola được phát hiện là năm 1976, tại Congo, khi đó gọi là Zaire, ở Trung Phi. Lần cuối cùng là tại Uganda, láng giềng của Congo, năm 2012. Nhưng những vụ tấn công này đều mau chóng được ngăn chặn kịp thời, chỉ khiến vài chục hay cùng lắm vài trăm người chết. Từ ngày Ebola được khám phá ra gần 40 năm nay, có tổng cộng khoảng 2.000 người chết cho tới đầu năm nay. Lần này, Ebola đã khiến hơn 3.500 người chết và đã lan qua tới Mỹ và Âu Châu.

Có cả thẩy năm loại vi khuẩn Ebola, tất cả đều từ các giống khỉ truyền qua người, cũng như bệnh AIDS. Trong năm loại, có bốn xuất phát từ khỉ Phi Châu, và một xuất phát từ khỉ Phi Luật Tân. Cho đến nay, chưa ai chết vì Ebola từ Phi Luật Tân.

Người ta cũng chưa rõ tại sao Ebola thỉnh thoảng lại bộc phát như vậy, nhưng có nhiều lý do để tin bệnh này thường xẩy ra từ những bộ tộc hay ăn thịt khỉ, là món ăn rất bình thường trong những bộ lạc Phi Châu.

Ebola là một thứ bệnh dễ lây mà cho đến nay đã không có thuốc trị, cũng không có thuốc ngừa. Đại cương thì bệnh này lan truyền qua các chất lỏng trong người như nước tiểu, tinh dịch, máu, mồ hôi, và ngay cả nước bọt (nước miếng), qua quan hệ tình dục, hay sử dụng kim chích hay ngay cả dụng cụ nha khoa không khử trùng kỹ, hay nhiều cách thông thường khác. Nói nước bọt cũng có nghiã là ăn uống cùng ly cùng chén cùng đuã, hay ngay cả dính nước bọt của người đối thoại khi người này ho, hắt xì hơi, hay nói chuyện văng nước bọt. Nói tóm lại rất dễ lây.

Khi lây thì triệu chứng phải chờ một thời gian mới xuất hiện, sớm là một tuần, nhưng cũng có thể tới ba tuần, hay 21 ngày, mới phát bệnh. Thời gian đó là thời gian vi khuẩn bắt rễ vào cơ thể, rồi bắt đầu tấn công.

Triệu chứng cũng khó biết ngay, đại khái lúc đầu cũng như cảm cúm thường, nóng lạnh chút đỉnh, khô cổ, uể oải, mắt đỏ, sau đó nóng lạnh giống như bị sốt rét, rồi tức ngực, khó thở, khó nuốt. Chỉ sau khi bị nặng hơn thì sẽ ói mửa ra máu, tiêu chảy, liệt giường,… Khi đó thì lục phủ ngũ tạng gì đó, nhất là thận và gan, đều đã bị tàn phá nặng, coi như hết thuốc chữa rồi.

Tỷ lệ chết cực kỳ cao, tới 90% vì không có thuốc chữa. Gần đây, hai bác sĩ Mỹ bị lây bệnh bên Phi Châu, được chở về Trung Tâm Phòng Ngừa Bệnh –Center for Desease Control, CDC- tại Atlanta điều trị và đã khỏi. Nhưng đây là những cuộc điều trị theo kiểu thử nghiệm, cực kỳ tốn kém và khó khăn, chưa thể đại chúng hoá được. Một phóng viên bị Ebola từ Phi Châu đang được chữa trị tại Mỹ, chi phí vài tuần đã lên tới hơn nửa triệu đô, bảo hiểm không trả. Một vài bệnh viện cũng thử chữa trị bằng nhiều thuốc khác, có khi dùng cả thuốc trị bệnh AIDS, khi thành công, khi thất bại. Cuối cùng vẫn chưa có thuốc gì bảo đảm chữa trị hết.

Điều đáng biết là vi khuẩn Ebola khi ra khỏi môi trường trong con người, rất dễ bị tiêu diệt, bằng chlorine, hay ngay cả bằng sà bông và nước thường. Do đó, có cách phòng bệnh rất hữu hiệu là chịu khó rửa tay, rửa mặt bằng sà bông thường xuyên, nhất là sau khi chung đụng với người bị cảm cúm. Thực tế phương thức này có phần khiếm nhã, cần tế nhị và khéo léo.

Tóm lại, Ebola là một bệnh dịch cực kỳ nguy hiểm mà cả thế giới hiện nay vẫn đang lấn cấn tìm cách đối phó.

Tin “mừng” cho dân ở Mỹ, là cho đến nay, chỉ mới có đúng một người được xác nhận đã chết vì bệnh, tuy đã có khoảng một trăm người còn đang ở trong tình trạng theo dõi.

Người này là anh Thomas Duncan, công dân Liberia, nơi Ebola đang hoành hành, nhưng có thẻ xanh sinh sống ở Dallas. Anh ta gần đây ở bên Liberia với một cô đào. Anh lấy máy bay từ Liberia về Dallas. Một tuần sau khi về tới nhà, anh cảm thấy khó chịu trong người, nghi ngờ và tới bệnh viện Texas Health Presbyterian. Tại đây, bác sĩ khám sơ qua, chẩn bệnh là bị cúm, cho thuốc trụ sinh rồi cho về. Vài ngày sau, anh bị liệt giường, ói mửa, khiến gia đình phải kêu xe cứu thương chở khẩn cấp vào bệnh viên, và tại đây họ đã xác nhận anh đang trong tình trạng nguy kịch vì Ebola. Anh bị cô lập trong nhà thương và không may, đã qua đời sau mấy ngày mặc dù có tin bác sĩ đã thử nghiệm nhiều loại thuốc mới để chữa trị cho anh.

Câu chuyện anh Duncan đưa ra ánh sáng nhiều vấn đề lớn.

Ebola hoành hành từ nửa năm nay, báo Mỹ đăng tin rầm rộ, và Nhà Nước Obama khẳng định đã sẵn sàng đối phó, với đầy đủ các biện pháp đã được ban hành trước là ngăn chặn Ebola vào được nước Mỹ, sau là nếu vào được thì cũng đầy đủ cách ngăn chặn.

Tháng Tám, TT Obama tuyên bố rõ ràng tất cả những biện pháp cần thiết đã được ban hành để không một bệnh nhân Ebola nào có thể lên máy bay đến Mỹ (nguyên văn: “all the necessary steps had been taken so that someone with the virus doesn’t get on a plane for the United States”).

Vụ anh Duncan cho thấy Nhà Nước Mỹ chẳng có gì sẵn sàng hết. Với những phản ứng luộm thuộm, hoàn toàn bất lực.

Anh Duncan ở Liberia đã sống và có “quan hệ” với một cô gái điạ phương, có con với cô ta nữa. Cô này bị bệnh, chính anh Duncan là người đã đưa cô vào bệnh viện, và tại đây cô chết vì đã dính Ebola. Anh Duncan sau đó tỉnh bơ về Mỹ để làm đám cưới với người hôn thê Mỹ. Khi rời phi trường ở Liberia, anh phải làm tờ khai đã có liên hệ với người nào bị Ebola không thì anh ta khai “không có”, một sự nói láo trắng trợn vì anh biết rõ người con gái anh có quan hệ đã chết vì Ebola. Rồi khi về đến Dallas, anh về ở với hôn thê, con cái, qua lại với họ hàng, bạn bè như bình thường.

Mấy thư ký, y tá tại bệnh viện Texas Health Presbyterian biết rõ anh này là dân Liberia, vừa mới ở Liberia qua được mấy ngày, có ghi trên phiếu nhập viện. Vậy mà không ai nghĩ là anh có thể bị Ebola, chỉ cho vài viên thuốc trụ sinh rồi cho về. Ta có thể tưởng tượng với những tin tức về Ebola tràn lan trên cả nước, cùng với những lời trấn an của Nhà Nước Obama, thì Bộ Y Tế cũng đã phải có chỉ thị cho tất cả các bệnh viện hay bác sĩ, nên cảnh giác và có biện pháp đề phòng rõ ràng. Việc nhân viên bệnh viện này lơ là chứng tỏ đã không có chỉ thị cảnh giác gì của Bộ Y Tế, và họ chỉ là một nhóm chuyên viên hoặc cực kỳ vô trách nhiệm, hoặc hết sức u tối, không đọc báo hay coi TV, chẳng biết Ebola đang hoành hành tại Liberia. Có tin gia đình anh Duncan sẽ thưa nhà thương ra tòa.

Sau khi khám phá anh bị Ebola, hôn thê và gia đình được nhà chức trách yêu cầu đừng ra khỏi căn hộ họ đang ở cùng anh Duncan. Nhưng họ bất chấp lời yêu cầu, vẫn ra đường như thường, khiến nhà chức trách phải áp dụng biện pháp mạnh hơn, mới đầu cho lính gác cấm cửa, mãi bốn ngày sau mới chở họ đi cô lập một nơi khác, rồi cho tẩy rửa, khử trùng căn hộ.

Có bốn đứa trẻ sống cùng với anh Duncan. Tin tức báo chí không nói rõ liên hệ của chúng với anh Duncan. Chỉ biết mấy đứa trẻ này vẫn đi học bình thường, chung đụng với bạn bè cùng trường đến khi bị cô lập.

Nhà chức trách gửi nhân viên y tế đến thu hốt mùng mền, chăn gối, dụng cụ ăn uống tính mang đi thiêu hủy, để rồi khám phá ra họ không di chuyển mấy thứ này đi đâu được hết. Đây là những “vật liệu nguy hiểm”, gọi là “hazardous materials” mà mọi vận chuyển phải có giấy phép của Bộ Y Tế và Bộ Giao Thông. Và mấy Bộ không biết Ebola có đủ tiêu chuẩn để được định nghiã là “nguy hiểm” chưa nên chưa cấp giấy phép được. Ebola nguy hiểm gì cũng không qua được thủ tục hành chánh của công chức! Để rồi đồ đạc được bỏ bao plastic, niêm phong, cất trong một nhà xe sau căn hộ, chờ giấy phép.

Cách đối phó với trường hợp anh Duncan cho thấy một hình ảnh hết sức đáng lo ngại về khả năng ngăn chặn Ebola của chính quyền Obama, ở cấp liên bang cũng như địa phương. Dĩ nhiên đây là trường hợp đầu tiên nên không tránh được lúng túng, sơ xuất. Nhưng vấn đề là nguy cơ của Ebola đã được biết trước cả 6 tháng nay rồi, và Nhà Nước Obama luôn khẳng định đã sẵn sàng trong khi thực tế cho thấy chẳng sẵn sàng gì hết để đến nay, cả nước Mỹ lo sót vó.

Ông “vua xách động” mục sư Jesse Jackson, đã mau chóng bay xuống Dallas, tự phong là phát ngôn viên của gia đình anh Duncan, và nêu đủ loại câu hỏi, trong đó có tại sao lại không chịu chữa trị cho anh Duncan lần đầu khi anh vào nhà thương, tại sao có 5 người bị Ebola đang chữa tại Mỹ, mà chỉ có anh Duncan là chết? Tại vì anh là da đen? Thật ra, những người khác bị Ebola đã được chữa trị ngay từ đầu, trong khi anh Duncan đợi đến lúc ói mửa ra máu, gần chết, mới được nhập viện, làm sao chữa kịp? Cái lỗi là việc làm tắc trách của đám y tá và thư ký nhà thương, chẳng liên hệ gì đến chuyện kỳ thị da đen. Nhưng ngày nào nước Mỹ còn những tay xách động cuyên nghiệp như Jesse Jackson thì ngày đó xung đột trắng đen vẫn không giải quyết được.

Có nhiều người đã đề nghị cấm đi lại giữa Mỹ và những nước Phi Châu đang bị dịch Ebola hoành hành. Biện pháp này dĩ nhiên không thực tế. Trong thế giới “mặt bằng” hiện nay, mỗi ngày có cả chục triệu người ngồi máy bay đi từ xứ này qua xứ nọ, rồi từ xứ nọ qua xứ khác, ai biết ai đi từ đâu đến đâu? Như anh Duncan đi từ Liberia qua Bỉ, rồi từ Bỉ đi Hoa Thịnh Đốn, từ Hoa Thịnh Đốn đi Dallas. Làm sao cấm hàng triệu người này đi lại khi họ có cả triệu lý do chính đáng để đi lại? Nhất là khi họ chưa có triệu chứng hiển hiện nào.

Tại một vài phi trường Phi Châu và mới đây tại Mỹ, tất cả hành khách đều phải đi qua máy đo nhiệt độ, nếu cao, có thể bị giữ lại kiểm tra kỹ hơn, có khi phải bỏ chuyến bay, đưa đi thử máu. Nhưng đây cũng không phải là phương pháp thực tế và hiệu nghiệm. Trong cả triệu người đi máy bay mỗi ngày, thiếu gì người hơi nóng, cảm cúm chút đỉnh, làm sao có thể thử máu cả ngàn người được?

Cách tốt nhất ngăn ngừa bệnh này phát tác có lẽ là từ chính người bệnh. Những người này phải ý thức được mối nguy mình tạo ra cho người chung quanh. Ngay khi ta bị cảm cúm, tốt nhất là cẩn trọng, càng tránh xa những người thân càng sớm càng tốt. Hay nên mang khăn che mũi miệng, mà VN bây giờ gọi là “khẩu trang”, tránh ăn uống chung, tránh ra đường.

Khi đi máy bay, có thể bị ho hay hắt hơi trên máy bay nên đeo vào để tránh làm cho mấy người ngồi cạnh lo sợ. Hay ta ngồi cạnh người nào ho hoài thì cũng nên đeo vào cho chắc ăn. Muốn lịch sự thì xin lỗi người bên cạnh và cứ nhận là mình đang bị cảm.

Anh Duncan là một bệnh nhân thiếu tinh thần trách nhiệm rõ rệt, khai gian là đã không có liên hệ với người đã bị bệnh. Rồi sau đó, bình thàn về nhà sống với hôn thê và mấy đưá trẻ. Nếu họ bị nhiễm bệnh thì hoàn toàn là lỗi của anh Duncan.

Một chuyện thiếu ý thức khác khiến bệnh Ebola khó trị tại Phi Châu là thông thường, bệnh nhân bị nhốt, cô lập rất kỹ. Nhiều người không muốn như vậy, vì vẫn coi thường, muốn được tự do đi lại. Nhiều bệnh nhân bên Phi Châu đã trốn nhà thương, chạy về nhà. Tệ hơn nữa, rất nhiều dân Phi Châu còn mê tín, tin vào những cách chữa trị của các thầy pháp trong làng, nên vẫn sống như thường với gia đình, rồi chữa theo bùa phép, cỏ cây, do các thầy pháp chỉ dạy.

Nhưng lý do quan trọng nhất khiến bệnh phát tác mau lẹ có lẽ là việc các nhà chức trách Phi Châu, cũng như Âu Châu, Tổ Chức Y Tế Thế Giới (World Health Orgamization-WHO), và nhất là Mỹ, vì nhu cầu muốn tránh hoảng loạn trong dân chúng đã luôn luôn khẳng định Ebola không dễ lây, khiến người dân cũng lơ là, không đề cao cảnh giá lắm.

Khi hai bác sĩ Mỹ bị Ebola được mang về chữa trị tại Atlanta, Nhà Nước Obama trấn an không có gì đáng lo vì bệnh này tuy lây nhưng không dễ lây. Những lời trấn an này trở thành rỗng tuếch khi thiên hạ coi truyền hình thấy những người bệnh cũng như các nhân viên nhà thương đón tiếp những người bệnh, tất cả đều mặc quần áo bít bùng như phi hành gia đi Hoả Tinh. Nếu không dễ lây, sao phải làm vậy?

Rồi tin mới nhất, một bà y tá Tây ban Nha đã lây bệnh sau khi săn sóc hai giáo sĩ bị Ebola từ Phi Châu về, bất chấp những biện pháp phòng ngừa hết sức kỹ lưỡng. Có tin bà y tá bị lây vì lỡ dụi mắt bằng găng tay đã đụng vào người bệnh nhân. Như vậy sao có thể nói không dễ lây?

Chính quyền Obama quyết định đưa 3.000 quân nhân qua Phi Châu để tiếp ngăn chặn sự bành trướng của Ebola. Số quân nhân này phần lớn là quân y đi qua tiếp tay cho các y tá, bác sĩ, và công binh đi qua để tiếp xây nhà thương, trại cấm. Đây là cử chỉ thiện chí đáng hoan nghênh, nhưng nhìn vào cách xử lý chuyện anh Duncan và chuyện bà y tá Tây Ban Nha, người ta không khỏi thắc mắc Nhà Nước Obama đã có biện pháp chu đáo để bảo vệ mấy ngàn quân nhân này chưa, hay lại để yếu tố chính trị khỏa lấp chuyện an toàn của họ.

Câu chuyện thiếu sẵn sàng của Nhà Nước Obama cũng phơi bày ra một nguy cơ mới, nguy cơ khủng bố cuồng tín Hồi giáo sẽ xử dụng Ebola, hay bất cứ bệnh dịch nào khác, làm vũ khí mới tấn công Mỹ.

Ta có thể tưởng tượng sự cuồng tín, sẵn sàng thí mạng cùi của các tên khủng bố đang sống cuộc sống cơ cực, mơ được lên thiên đàng với 72 trinh nữ. Họ có thể chấp nhận cho cấy vi khuẩn đủ thứ bệnh nguy hiểm như Ebola, rồi qua Mỹ, phát tán bệnh này ra cho dân Mỹ. Ta đừng quên phải cần từ một đến ba tuần vi khuẩn Ebola mới xuất hiện và đưa ra triệu chứng, trước đó tuyệt nhiên không có triệu chứng gì cả. Tức là mấy tên khủng bố có khoảng thời gian tới ba tuần để vào Mỹ tung bệnh ra. Làm sao ngăn chặn tình trạng này? Nhất là khi len qua biên giới Mễ quá dễ dàng.

Trả lời một câu hỏi trên truyền hình, bộ trưởng An Ninh Quốc Gia đã nói một cách mơ hồ là chính quyền chưa thấy có triệu chứng gì là có tình trạng như vậy. Vấn đề không phải là “chưa thấy gì” mà là chính quyền đã nghĩ đến và có biện pháp đề phòng chưa, chứ đợi đến lúc “thấy gì” rồi thì chỉ sợ là quá muộn thôi.

Vấn đề Ebola không phải là chuyện nhỏ không đáng quan tâm. Tất cả tùy thuộc cách đối phó của Nhà Nước, cũng như ý thức cẩn trọng của mỗi người dân. Cách đối phó hết sức luộm thuộm của Nhà Nước Obama cho đến bây giờ không giúp trấn an ai hết. Công bằng mà nói, chẳng phải Nhà Nước Obama không, mà cả thế giới, kể cả WHO cũng luống cuống trước cơn dịch quá lớn này. Nếu có một điều có thể nói là “an ủi” chúng ta được, làm cho chúng ta yên tâm hơn, thì điều đó chính là chuyện chúng ta đang sống ở Mỹ, là nước có hệ thống y tế tốt nhất thế giới, và nếu có một nước nào có đủ phương tiện kỹ thuật y học, tài chánh và nhân sự để đối phó, thì đó chính là nước Mỹ.

Cẩn tắc vô áy náy, nhưng không mất tỉnh táo. Xứ Mỹ với hơn ba trăm triệu dân, chỉ mới có một người bị Ebola chết thôi. Xác xuất tử vong khó hơn trúng số một trăm triệu đô. (12-10-14)

Ghi chú: Tác giả không phải bác sĩ y khoa, chỉ viết theo tài liệu. Muốn biết rõ hơn về Ebola, quý độc giả cần hỏi bác sĩ.

Vũ Linh

PHẢI KHÔN NGOAN THẾ NÀO ĐỂ ĐƯỢC CỨU RỖI ?

PHẢI KHÔN NGOAN THẾ NÀO ĐỂ ĐƯỢC CỨU RỖI ?

Tác giả: Lm. PX. Ngô Tôn Huấn

Chúng ta đang sống trong một thế giới điên loạn vì vô thần, vô luân , tôn thờ vật chất, tiền bạc và mọi thú vui vô luân vô đạo. Những người cầm quyền cai trị , dù là tư bản hay cộng sản, thì cũng chỉ quan tâm đến quyền lợi và địa vị của họ, của phe nhóm họ,  chứ không hề chú tâm gì đến phúc lợi của người dân và quan tâm đúng mức đến trách nhiệm duy trì và bảo vệ  luân lý, đạo đức, là nền tảng tinh thần vững chắc  cho mọi xã hội con người, khác xa loài vật, chỉ sống với bản năng và không có ý thức gì về luân lý, đạo đức.

Con người có lương tâm và ý thức đạo đức, nhưng lương âm này đã bị băng hoại cùng với ý thức đạo đức nên quá nhiều người ở khắp nơi  đã và đang đi vào con đường tội ác như giệt chủng ( racial genocide), khủng bố ( terrorism) mà bọn Hồi giáo quá khích ( ISIS) đang bách hại rất dã man  những tín  đồ thiểu số theo KitôGiáo và ngay cả  những người Hồi giáo khác,  không thuộc phe đảng của chúng, như thực trạng đang diễn ra ở Irak, Syria . Nạn giết hại trẻ nữ ( infanticide), (vì chính sách một con cho mỗi gia đình) rất dã man và tội ác,  vẫn tiếp tục diễn ra cách hợp pháp ở Trung hoa cộng sản và Ấn Độ trước sự làm ngơ của cả thế giới văn minh !

Mặt khác, vì quá  ham mê  tiền bạc  và tôn thờ  vật chất,  nên bọn tư bản  đen và đỏ nói chung , và cách riêng tập đoàn tài phiệt ở Mỹ  đã dùng tiền bạc để mua chuộc  giới  lập pháp để làm ngơ cho bọn chúng thi hành những sách lược kinh tài gian xảo  để vơ vét của cải, làm giầu cho bọn họ, bất chấp những  khó khăn của đa số dân lao động, không có tiền để mua bảo hiểm sức khỏe và nhân thọ khi về già..Các bệnh viện tư ở Mỹ không  hề  chữa miễn phí hay giảm bệnh phí cho ai bao giờ. Chúng  hoạt động  vì mục đích kiếm tiền, làm giầu cho bọn kinh doanh tư bản  chứ không vì lợi ích và thương xót gì người bệnh tật.

Tệ hại hơn nữa, trên bình diện luân lý, đạo đức, chưa bao giờ con người ở khắp nơi lại làm những sự dữ ở mức ghê sợ như hiện nay : tệ trạng buôn người (human trafficking) – đặc biệt là buôn bán phụ nữ và trẻ em cho kỹ nghệ mãi dâm và ấu dâm (child prostitution)  rất  khốn nạn và tội lỗi  đang gia tăng  ở mức không thể  ngăn chặn được , khiến hàng triệu phụ nữ và trẻ em đang là nạn nhân rất đáng thương của bọn người đã mất hết lương tri và bản tính thiện, trong đó có một số cha mẹ đã bán con cái dưới tuổi thành niên cho bọn ma cô tú bà ở trong và ngoài Viêt Nam. Bọn người bất lương này, cùng với bọn đi tìm thú vui vô cùng khốn nạn – là thú  dâm ô và ấu dâm-  đang tạo hỏa ngục trần gian cho chính bọn chúng và cho các nạn nhân chẳng may sa vào hỏa ngục của bọn người đã mất hết lương tri này.

Chưa hết, ở nhiều nước có truyền thống Kitô giáo lâu đời  như Pháp, Anh, Đức, Ý, Tây Ban Nha, Canada  và Hoa kỳ, người ta đã cho tự do phá thai , li dị và hôn nhân đồng tình (same sex marriage) để đạp đổ mọi  nền tảng  và giá trị thiêng liêng của sự sống con người,  của truyền thống hôn nhân giữa người nam và người nữ  theo thánh ý của Thiên Chúa , Đấng đã tạo dựng con người có nam có nữ và truyền cho họ  sứ  mệnh  phải   sinh  sôi nẩy nở  thật nhiều, cho đầy mặt đất và thống trị mặt đất ( St 1 : 28)

Trước những thực  trạng  rất  đáng buồn  nói trên của thế giới vô thần  và tục hóa ngày nay, là người tín hữu Chúa Kitô, chúng ta phải sống khôn ngoan thế nào để cứu mình và cứu người khác thoát khỏi nọc độc  của “ văn hóa sự chết” đang bao trùm thế giới  hiện nay ?

Nói đến khôn ngoan, ta phải nghĩ ngay đến Vua Salomon con vua Đavid , trong thời Cựu Ước xưa, là người chỉ xin Chúa cho được thần trí  khôn ngoan  để cai trị dân , và  đã ca tụng ơn quí trọng  này như  sau:

“ Vậy tôi nguyện xin, và Thiên Chúa đã ban cho tôi sự hiểu biết

Tôi kêu cầu và thần khí Đức Khôn Ngoan đã đến với tôi

Đức Khôn Ngoan tôi đã quí trọng còn hơn cả vương  trượng, ngai vàng

đối với tôi,  trân châu bảo ngọc

chẳng sánh được với  Đức Khôn ngoan

Và vàng trên cả thế giới, so với Đức Khôn Ngoan

Cũng chỉ là cát bụi.

Và bạc, so với Đức Khôn Ngoan

Cũng chỉ là cát bụi. ( Kn 7: 7-9)

Nhà vua không xin Thiên Chúa cho ông được giầu sang, vinh hiển  mà  chỉ xin cho được  ơn hiểu biết và  khôn ngoan để cai trị một dân đông đúc “không đếm nổi”.  Thiên Chúa đã nhậm lời khẩn cầu của Vua Salômôn và phán bảo ông như sau:

Ta ban  cho ngươi một tâm hồn khôn ngoan minh mẫn, đến nỗi,

trước ngươi chẳng một ai sánh bằng , và sau ngươi, cũng chẳng  có ai bì kịp. ( 1 V 3: 12)

Với ơn khôn ngoan hiếm có trên đây, vua Sa lô môn đã trỗi vượt hơn “ tất cả mọi người Phương Đông và hơn tất cả sự khôn ngoan của Ai Cập.” ( Sđd  5: 10) khiến người khắp nơi kéo đến để được nghe những lời khôn ngoan của Vua.

Đức khôn ngoan đó chính là phương thế  mà Thiên Chúa dùng để  điều khiển vũ trụ và sự sống của con người trên trần thế này. Nghĩa là mọi trật tự trên trời dưới đất,  mọi sự sinh tồn  của vạn vật, từ loài người cho đến hoa lá cỏ cây và mọi loài động vật khác,  đều được  điều khiển  và quan phòng trong sự khôn ngoan tuyệt  đối của Thiên Chúa là Vua vũ trụ  là  Đấng Tạo Hóa toàn năng, thượng trí.

Cho nên, là tạo vật có lý trí và ý muốn tự do ( free will), con người – cách riêng người tín hữu Chúa Kitô-  được mong đợi sống sao cho phù hợp với sự khôn ngoan của Thiên Chúa để được hạnh phúc ngay  trong cuộc sống trên trần gian này , và nhất là được sống hạnh phúc vinh cửu với Chúa trên Nước Trời mai sau.

Nhưng muốn được khôn ngoan theo Chúa thì phải từ bỏ cái khôn ngoan của loài người.

Thí dụ cụ thể là trong Tin Mừng Thánh Matthêu, Chúa Giê su nói cho các môn đệ biết là Người sẽ phải chịu  nhiều đau khổ, bị phản bội, bị bắt bớ và bị giết  chết trên thập giá trước khi được sống lại vinh quang. Nghe thế, Phêrô, môn đệ  đã tuyên xứng Chúa là Đấng Kitô  trước đó, bèn kéo Chúa ra ngoài và thưa với Người rằng : “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp những chuyện ấy.”

Chúa đã trả  lời nghiêm khắc với Phêrô như sau: Xa tan, lui ra đằng sau Thầy. Anh cản lối Thầy ,vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa  mà là của loài người. ( Mt 16:  22-23; Mc 8: 31-33)

Phêrô can ngăn Chúa vì đã hành động đúng theo khôn ngoan của loài người. Với khôn ngoan này, không ai muốn chịu sự gì khốn khó như  bệnh tật, nghèo đói, bị khinh chê, lăng mạ  hay hành hung. Ai cũng muốn được giầu có, danh vọng  và khỏe mạnh, trẻ mãi không già. Chính vì thế mà con người ở khắp mọi nơi và mọi thời đại, đã và đang mải mê  đi tìm tiền của,  danh vọng và mọi thú vui theo  đòi hỏi của  bản năng, dù là trái với luân lý đạo đức. Nghĩa là phải khôn ngoan để thu được càng nhiều  lợi lãi  về tiền bạc, của cải , danh vọng  và vui thú càng tốt.

Cụ thể ở Mỹ, thời ông  Bill Clinton còn  làm tổng thống,  để gây quĩ cho ông, ông đã dùng cả tiểu xảo là đặt  giá  5000 đôla  (năm ngàn) cho ai muốn vào ngủ một đêm ở Nhà Trắng (White House = Dinh Thổng Thống), và 10000 ( mười ngàn) đô cho ai vừa ngủ đêm và ăn sáng với Tổng Thống ! vậy mà  có biết bao người đã hưởng ứng để mua  cái vui và danh hảo huyền này !

Chưa hết, khi công nương Diana của Nước Anh ( bị tai nạn xe hơi chết ở Paris năm 1997)  đến viếng Nữu Ước, có người đã bỏ ra cả 100,000 ( trăm ngàn) đô la để chỉ xin được ngồi gần công nương trong bữa tiệc thành phố khoản đãi  bà dịp này !.( theo tiết lộ của báo chí Mỹ) .

Đó là danh vọng và lợi lãi mà biết bao người sống với khôn ngoan của con người đang đi tìm ở khắp nơi trên thế giới xưa và nay.

Và với não trạng này, thì sự kiện Chúa Giêsu sinh ra trong hang lừa máng cỏ giữa mùa đông giá lạnh và chết trần trụi trên thập giá là điều ô nhục , là điên rồ và thất bại  theo khôn ngoan của loài người. Nhưng theo Thánh Phaolô dạy, thì “cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người.” ( 1 Cr  1 : 25)

Chính vì  Chúa Giê su  “điên rồ và dại dột” xét theo khôn  ngoan của con người, mà nhân loại được  tha tội  và cứu chuộc để có hy vọng  được sống hạnh phúc vĩnh cửu trên Nước Trời  mai sau.

Lại nữa , cũng chính vì không khôn ngoan theo kiểu của loài người, nên Chúa Giêsu Đấng vốn giầu sang phú quí, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh  em để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh  em được trở nên giầu có. Trên Thiên Quốc như Thánh Phaolô đã dạy. ( 2 Cr 8:9). Đây là sự khôn ngoan dành riêng cho các tông đồ lớn nhỏ của Chúa ngày nay trong Giaó Hội  phải noi gương bắt chước để đừng thi nhau đi tìm tiền ở khắp nơi, và lơ là trong sứ vụ thiêng liêng là rao giảng và làm chứng cho Tin Mừng Cứu Độ của Chúa Kitô, Đấng đã sống khó  nghèo  đến nỗi không có chỗ  tựa đầu, trong khi chim trời có tổ và con chồn có hang. ( Mt 8: 20)

Chưa hết, Mẹ Tê –rê- Xa ( nay là Chân Phước = Blessed) thành Calcutta  cũng đã chịu “ngu dại” theo khôn ngoan của con người để ôm lấy những người nghèo đói bệnh tật nằm vất vưởng ngoài đường phố để mang về săn sóc , thuốc men  và cho ăn uống trong Tu viện bác ái của Mẹ. Nhưng  sự  “dại khờ” của Mẹ đã chính phục được sự khâm phục  và yêu mến của biết bao người trên khắp thế giới,  và nhiều người  vô thần đã được ơn nhận biết Chúa qua gương  sống chứng nhân bác ái của Mẹ và các nữ tu của Mẹ

Trái nghịch với khôn ngoan  của Thiên Chúa  thể hiện nơi Chúa Kitô, Đức Mẹ . các Thánh, đặc biệt,  và cụ thể nơi  các anh hùng Tử Đạo, và  Mẹ Tê rê Xa…khôn ngoan của con người ở khắp nơi  là  say mê  đi tìm tiền của, danh vọng, tham ô hối lộ  và  ăn cắp của công để gửi tiền ra nước ngoài phong thân;  cũng như tìm     mọi cách để được sống lâu và trẻ mãi không già.   Cách riêng phụ nữ   đã và đang  thi nhau đi sửa sắc đẹp cho thân hình thêm  “hấp dẫn và quyến rũ” để làm giầu cho các viện thẩm mỹ ở trong và ngoài nước , mặc dù  có thể chuốc lấy tai họa cho mình. vì có  biết bao người đã chết và mang  bệnh ung thư  vì hậu quả sửa sắc đẹp .

Với những  người  sống theo khôn ngoan của thế gian để đi tìm tiền của, danh vọng và “sửa sắc đẹp” cho thân  xác có ngày phải chết  đi này,  xin  hãy mở tai  nghe lời khuyên dạy của Thánh Phao lô  sau đây:

“ Nếu trong anh  em có ai tự cho mình là khôn ngoan  theo thói đời, thì hãy trở nên như điên rồ  để được khôn ngoan thật. Vì sự khôn ngoan của đời này  là sự điên rồ trước mặt Thiên Chúa, như  có lời chép rằng : Chúa bắt được kẻ khôn ngoan bằng chính mưu gian của chúng. Lại có lời chép rằng : tư tưởng kẻ  khôn ngoan,  Chúa đều biết rõ : thật chỉ như cơn gió thoảng ngoài.” ( 1 Cr 3: 18-20).

Như vậy , nếu muốn  sống theo khôn ngoan của Thiên Chúa để được cứu rỗi và vui hưởng hạnh phúc Nước Trời, thì “ đừng lo tìm cho có gì để ăn có gì để uống  và đừng băn khoăn. Vì  tất cả những thứ đó, dân ngoại trên thế gian vẫn tìm kiếm; nhưng Cha của anh  em thừa biết anh  em cần những thứ đó, Vậy hãy lo tìm  Nước của Người , còn các thứ kia Người sẽ  thêm cho.” ( Lc 12: 29-31)..

Và cũng trong mục đích phải  tìm kiếm sự sang  giầu bền vững mãi mãi theo khôn ngoan của Thiên Chúa, mà  Chúa Giêsu đã  dạy các môn đệ xưa và tất cả chúng ta ngày nay là : “ hãy chiến đấu để qua được cửa hẹp mà vào, vì tôi nói cho anh  em biết:  có nhiều người sẽ tìm cách vào mà không thể  được.( Lc 13: 24).

Qua  cửa hẹp mà vào có nghĩa là đừng khôn ngoan theo người đời để đi tìm những của cải, danh vọng và vui thú chóng qua ở đời  này,  mà trái lại,    “hãy săm lấy những túi tiền chẳng bao giờ cũ rách, một kho tàng chẳng thể hao hụt ở trên trời, nơi trộm cắp không bén bảng, mối mọt cũng không đục phá.. ( Lc  12: 33)

Sắm những báu vật ở trên trời, thể hiện qua nỗ lực sống theo đường lối của Chúa để được cứu rỗi  chính  là sự  khôn ngoan mà người tín hữu chúng ta phải kiếm tìm trên hết mọi sự , vì nếu người nào được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống ( mất linh hồn) thì nào có có lợi  gì ? hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi mạng sống mình ? (Mt 16: 26; Mc  8: 36; Lc 9 : 25)

Thử hỏi : có ai được cả thế giới này làm lợi lãi đâu ?  Nhưng  dù có chiếm được mọi của cải , giầu sang  và vui thú  trên trần gian  này mà  cuối cùng mất linh hồn thì được ích gì ?

Đó là sự ngu ngốc của một phú hộ kia , ngây thơ sống với khôn ngoan của người đời  nên đã  cho xây nhà lớn để tích trữ  của cải lương thực   để “cứ ăn chơi cho đã” . Nhưng Chúa bảo ông ta : Đồ ngốc ! nội đêm nay , người ta sẽ  đòi lại  mạng  ngươi thì những gì ngươi sắm sẵn đó, sẽ về tay ai ?  Ấy kẻ nào thu tích của cải cho mình mà không lo làm giầu trước mặt Thiên Chúa thì số phận cũng như thế đó. ( Lc  12:  20-21)

Đó là sự khôn ngoan mà Thiên Chúa muốn cho chúng ta tìm kiếm để sống  niềm tin có Chúa, có  hạnh phúc  đời đời đã dọn sẵn cho những ai  yêu mến Chúa trên hết mọi sự  trong trần thế này . Nói thế  không có nghĩa là chúng ta không được phép tìm tiền  bạc  để chi dùng cho những nhu cầu chính đáng của thân xác như cơm ăn, áo mặc, nhà ở và phương tiện di chuyển, bảo hiểm sức khỏe cho mình và cho gia đình thân thuộc. Ngược lại, chúng ta phải cố gắng làm việc cách lương thiện  để có phương tiện thỏa mãn những nhu cầu chính đáng nói trên.

Nhưng trên hết,  phải  sống  và trân quí  cái khôn ngoan mà tác giả sách Châm Ngôn đã viết như sau:

Hạnh phúc thay, người được  trí  khôn ngoan

Cũng như người được tài phán đoán

Vì được khôn  ngoan thì  hơn được bạc

Được hưởng lợi ích của khôn ngoan thì hơn được vàng

Khôn ngoan quý hơn cả  trân châu

Không bảo vật nào của con so sánh nổi. ( Châm ngôn 3:  13-15)

Tóm lại, là người tín hữu Chúa Kitô sống trong một thế giới ngày một thêm tục hóa, phi nhân và vô luân hiện nay, chúng ta được mong đợi chê ghét cái khôn ngoan của người đời,  để đừng chậy theo  những lôi cuốn của thế gian  về danh lợi hư hèn, về tiền bạc phù vân  và nhất là  xa lánh , ghê tởm  thú vui vô luân vô đạo của bọn người đã mất hết lương tri  đang đi tìm thú vui “ấu dâm” rất khốn nạn và tội lỗi, khiến gây thương tật thể xác và trấn thương tinh thần  cho biết bao trẻ em đáng thương  bị bán làm vật mua vui rất  khốn nạn  cho bọn già trẻ, xồn xồn  đang  lao mình vào con đường hư mất đời đời này.

Phải sống cái khôn ngoan của Thiên Chúa để không những mưu ích  cho phần rỗi  của mình mà cũng để lôi kéo những người đang chạy theo khôn ngoan của con người  say mê tiền của, danh vọng và vui thú vô luân vô đạo trong khi  dửng dưng với người nghèo khó, người đau khổ là  nạn nhân của các chế độ tàn ác, bóc lột và bất công ở khắp nơi trên thế giới điên loạn hiện nay.

Lm Phanxicô xaviê  Ngô Tôn Huấn

Hiến kế diệt Chuột

Hiến kế diệt Chuột

Đập “bình” phải đập cái bình…phong!

(Tiếp lời nhà báo Phạm Chí Dũng) (1)

Hà Sĩ Phu

Lời phát biểu của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã dấy lên một cuộc hội luận về “Quan hệ giữa việc đánh chuột và bảo vệ chiếc bình quý”. Tôi lấy làm mừng vì chiếc bình quý này cũng chính là chiếc bình…phong mà chúng ta đã nhiều lần nhắc tới! Lời nói tận đáy lòng của ông Tổng bí thư đã dẫn chúng ta đến chỗ cần phải đến.

Nhiều bài tham luận khắp nơi, trong và ngoài nước gộp lại, đã làm sáng tỏ được 2 điều: thực tiễn nước ta hiện nay không có Bình nào là bình “quý” cả , vì Bình chẳng những là nơi ẩn nấp của Chuột mà còn là nơi sinh ra Chuột. Cuối cùng thì chính Bình còn tệ hại hơn Chuột, Bình mới là cái cần diệt trước rồi mới diệt được Chuột.

Tác giả Nguyễn Huy Canh (2) kết luận “Tham nhũng ở VN, nó được sinh ra từ chế độ đảng trị-toàn trị” (và chế độ này đang được đại diện bởi Bộ Chính trị mả Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng là người đứng đầu, giữ ổn định cho “cái bình quý” chính là giữ ổn định ghế cho bộ phận đầu não này thôi ! HSP). Nhà báo Phạm Chí Dũng cũng chính thức nêu câu hỏi “nhiều đảng viên cao cấp lão thành đã tranh luận công khai về việc chỉ cần “diệt chuột” hay nên “đập bình” để xóa đi làm lại tất cả”?. Và như để giải đáp luôn, phải đập bình làm lại từ gốc là duy nhất đúng, ông đã thách thức “Hãy chờ xem những người bên đảng có dám đứng thẳng để “đập bình diệt chuột” hay không”?

Đến đây, xin được nối tiếp câu chuyện bằng những suy nghĩ riêng mà bấy lâu nay tôi đã từng bước đề cập.

Muốn đánh “địch” phải nhận diện địch cho rõ (địch chẳng qua là yếu tố cản bước tiến của dân tộc thôi, không phải kẻ thù) . Ta vừa nói “địch” ở đây là cả Chuột lẫn Bình, nhưng Chuột là những ai, và Bình là những ai?

Không phải ngẫu nhiên mà cả Hồ Chí Minh và các hậu duệ như ông Nguyễn Phú Trọng đều đề cao danh ngôn “đánh chuột phải cẩn thận, kẻo vỡ cái bình quý”. Giữ BÌNH đây chính là giữ cho mình (3) (4). “Mình” ở đây không chỉ là các cá nhân rời rạc mà là toàn bộ cái hệ thống chính trị Mác-xít đã mắc “lỗi hệ thống”, hệ thống các vua tập thể mà các Tổng bí thư luôn là người đại diện cao nhất, tức cái hệ thống độc đảng toàn trị, lấy chủ nghĩa Mác-Lê và Hồ Chí Minh làm kim chi nam và làm chỗ dựa không gì thay thế được.

Nếu BÌNH đã là cả một hệ thống như vậy thì CHUỘT cũng là một hệ thống khổng lồ không kém. Đối với nhân dân Việt Nam hiện nay thì lũ CHUỘT tàn phá đất nước phải gồm cả 3 loại: tham nhũng, phát xít đàn áp dân và bọn bán nước cầu vinh, mà gộp chung lại là giặc NỘI XÂM. Như vậy thì một bộ phận không nhỏ của BÌNH cũng chính là CHUỘT rồi.

Quan hệ giữa tập đoàn BÌNH và tập đoàn CHUỘT rõ là quan hệ gắn bó tương sinh, tương dưỡng, bởi đã có định luật bất di bất dịch: Quyền lực tuyệt đối thì Tham nhũng tuyệt đối! Nói cái BÌNH đẻ ra CHUỘT là vì vậy.

BÌNH chẳng những che chở cho CHUỘT mà từng bộ phận cũng biến thành CHUỘT luôn (về cả hai mặt tham nhũng kinh tế và bán rẻ chủ quyền đất nước), ngược lại CHUỘT cũng phải nhẩy vào BÌNH chiếm lấy quyền cho chắc ăn. Cứ thế BÌNH và CHUỘT ngày càng hòa trộn, rất khó tách biệt, dẫu có giận nhau vì ăn chia không đều nhưng cuối cùng vẫn phải đứng chung trong một chiến hào, sau một cái BÌNH… PHONG chung là Mác-Lê và Hồ Chí Minh. Cái BÌNH PHONG ấy mới là cái BÌNH lớn nhất mà cả BÌNH và CHUỘT đều phải giữ cho kỳ được. BÌNH PHONG còn thì tất cả còn, BÌNH PHONG mất thì cả BÌNH lẫn CHUỘT cũng mất!.

Khi cả hai tập đoàn CHUỘT và BÌNH đều quá khổng lồ, lại dựa vào nhau thì sức mạnh nào có thể chống trực tiếp? Bao lâu nay đảng thì hô chống tham nhũng, những người dân chủ thì hô chống độc tài nhưng kết quả chưa được bao nhiêu chính là vì thế.

Nhưng “thiên bất dung gian”, người khổng lồ nào, nhất là khổng lồ gian dối, tất cũng có “gót chân Achilles”. Gót chân Achilles của tập những đoàn cướp ngày là bắt buộc phải có quyền tuyệt đối, có con dấu, dựa trên một danh nghĩa, một điểm tựa tiền định, như một tiền đề mặc nhiên không cần chứng minh, không cần và không được phép dựng phản đề. Đó chính là cái bàn thờ, là cái BÌNH PHONG Mác-Lê-Hồ, mà trong ba ngôi đó thì Mác và Lê đã lu mờ dần về vị trí thứ yếu. Cái gì mà đối phương cố sống cố chết giữ cho bằng được, như một thứ bất biến được sử dụng để ứng vạn biến thì đó chính là cái gót chân Achilles của họ. Rất dễ nhận ra gót chân Achilles ở đây là cái BÌNH PHONG đã được thần thánh hóa mà toàn dân phải quỳ lạy.

Vậy xin tiếp lời nhà báo TS Phạm Chí Dũng, muốn đập cả cái bình (vĩ đại) và diệt lũ chuột (khổng lồ)” không còn cách nào khác là phải làm đổ cho được cái BÌNH PHONG đang bao trùm và che chắn cho cả hai “kẻ địch” ấy. Cứ đổ cái BÌNH PHONG là cả CHUỘT lẫn BÌNH đều phải chường cái MẶT THẬT trước thanh thiên bạch nhật, cả hai sẽ mất hết nội lực, bài bản cướp ngày bị cháy vở ngay, hàng ngũ CHUỘT sẽ tan rã trong nháy mắt, sẽ chạy mất giép nếu không muốn đầu hàng trước SỰ THẬT mà trở về với nhân dân, làm ăn lương thiện! Chẳng tin cứ thử mà xem!

Khi cái BÌNH PHONG đã thành lá chắn vạn năng, thành pháo đài bất khả xâm phạm của cả BÌNH và CHUỘT thì trước mắt vì sự tồn vong của dân tộc, hãy cất cái BÌNH PHONG ấy đi, tạm xếp vào viện bảo tàng để hạ hồi phân giải, mặc dù tư liệu hiện nay kể cũng đã khá phong phú. Tất nhiên cả BÌNH và CHUỘT đều không chấp nhận từ bỏ nơi ẩn nấp này, sẽ tìm mọi cách giữ cho BÌNH…PHONG khỏi vỡ. Nhưng kỷ nguyên của thông tin và sự thật sẽ cho lẽ phải một sức mạnh hơn bom nguyên tử.

Cuối cùng, thái độ đối với cái BÌNH PHONG HCM ấy chính là thước đo cả TRÍ, cả TÂM và hiệu quả thực tế của bất cứ một phác đồ điều trị nào nếu muốn “lành mạnh hóa” xã hội để giải phóng nhân dân và đất nước vậy.

12-10-2014

H.S.P

Tác giả gửi BVN

(1) Phạm Chí Dũng- TỔNG BÍ THƯcó dám đập bình diệt chuột: http://www.ijavn.org/2014/10/tbt-trong-co-dam-ap-binh-diet-chuot.html

(2) Nguyễn Huy Canh- Ném chuột sợ vỡ bình, buồn thay Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng: http://www.ijavn.org/2014/10/nem-chuot-so-vo-binh-buon-thay-tong-bi.html

(3) Nguyễn Tiến Trung- Đánh chuột giữ bình hay gữ mình: http://danquyenvn.blogspot.nl/2014/10/anh-chuot-giu-binh-hay-giu-minh.html#more

(4) Cánh cò- Bình là ông mà chuột cũng ông: http://basam.info/2014/10/09/3022-binh-la-ong-ma-chuot-cung-ong/#more-134580

Nói cho sướng miệng

Nói cho sướng miệng

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2014-10-10

RFA

IMG0017-622.jpg

Diễn đàn Kinh tế Mùa thu tổ chức tại Ninh Bình ngày 27 tháng 9 năm 2014.

Courtesy Vneconomy

Kinh tế thị trường là tinh hoa của nhân loại?

“Kinh tế thị trường là tinh hoa của nhân loại và thể chế kinh tế của Việt Nam phải là thể chế kinh tế thị trường.” Đây là quan điểm của Bộ trưởng Kế hoạch Đầu tư Bùi Quang Vinh được báo điện tử Thời báo Kinh tế Việt Nam trích thuật, khi đưa tin về Diễn đàn Kinh tế Mùa thu tổ chức tại Ninh Bình vào cuối tháng 9/2014 vừa qua.

Theo Vneconomy.vn, tại Diễn đàn này ông Trương Đình Tuyển nguyên bộ trưởng Thương mại, cố vấn cao cấp của Chính phủ về đàm phán hội nhập quốc tế, một lần nữa đề cập đến nhu cầu xây dựng thể chế kinh tế thị trường hiện đại cho Việt Nam. Thể chế đó bao gồm ba trụ cột là thị trường, Nhà nước và xã hội dân sự.

Nhận định về những phát biểu đầy ấn tượng tại Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2014, TS Nguyễn Quang A nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển IDS, một tổ chức tư nhân ở Hà Nội đã tự giải thể khi chính phủ ra nghị định ngăn trở tính hoạt động độc lập của IDS, phát biểu:

“Tôi nghĩ những tiếng nói như thế đã được cất lên rất nhiều lần và được cất lên rất là may mắn, bây giờ không phải là những người như là tôi cách đây mười năm chẳng hạn. Mà bây giờ chính từ miệng những người đang gọi là cố vấn hoặc là để hoạch định chính sách cho những nhà lãnh đạo và như thế có nghĩa rằng thực sự họ là những người ảnh hưởng rất mạnh đến quyết định. Còn bản thân những người sử dụng các cố vấn, những người tư vấn như thế, họ có nghe hay không, vì lý do này hay lý do kia, thì lại là một chuyện khác. Tôi e rằng các ông ấy cũng nói như thế để cho nó sướng mồm và cũng là để làm cảnh mà thôi. Bởi vì nhìn những việc làm của những người có trách nhiệm trong khoảng 10 năm trở lại đây mà họ nắm quyền quyết định về kinh tế, thì tôi nghĩ rằng họ đã hủy hoại nền kinh tế này một cách rất là nhất quán và tôi khó có thể tin được đây là những tiếng nói sẽ được lắng nghe.”

” Những người sử dụng các cố vấn, những người tư vấn như thế, họ có nghe hay không, vì lý do này hay lý do kia, thì lại là một chuyện khác. Tôi e rằng các ông ấy cũng nói như thế để cho nó sướng mồm và cũng là để làm cảnh mà thôi.
-TS Nguyễn Quang A”

Trong giới khoa bảng của Việt Nam không phải ai cũng đồng ý kinh tế thị trường là tinh hoa nhân loại như quan điểm của Bộ trưởng Bùi Quang Vinh. Theo Vneconomy.vn, Phó Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Hồng Sơn, Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia Hà Nội) trình bày trước Diễn đàn với ý kiến khác biệt. Theo lời ông, kinh tế thị trường không phải là phương thuốc vạn năng để chữa tất cả các căn bệnh của nền kinh tế Việt Nam. Ông Sơn nhắc lại lịch sử kinh tế thế giới với sự thất bại của thị trường hay nhà nước hoặc cả hai bên đều thất bại như thời kỳ đại suy thoái 1929-1933,  trì trệ kinh tế 1980, khủng hoảng kinh tế Đông Á 1997 hay khủng hoảng tài chánh ở Hoa Kỳ 2008-2010.

Phó Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Hồng Sơn trình bày quan niệm của ông mà nhiều người cho rằng sẽ làm giới bảo thủ hài lòng, vì sẽ không có cải cách triệt để mà chỉ có điều chỉnh từng phần. Theo đó Việt Nam “cần có thể chế phù hợp cho hoạt động của nền kinh tế thị trường. Và thể chế này bao gồm các vấn đề liên quan đến sở hữu, đến luật cạnh tranh và độc quyền và sau hết là cơ chế giải quyết tranh chấp một loạt các thứ khác.”

Theo VnEconomy, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương Nguyễn Đình Cung không giấu được sự giận dữ khi trao đổi với PGSTS Nguyễn Hồng Sơn. Cựu Bộ trưởng Trương Đình Tuyển góp ý là chính vì thị trường và nhà nước đều có thể thất bại cho nên rất cần có sự hiện diện của xã hội dân sự.

Đáp câu hỏi của chúng tôi là Việt Nam vừa ban hành Hiến pháp 2013 (sửa đổi) nay để áp dụng kinh tế thị trường đúng nghĩa sẽ lại phải sửa Hiến pháp một lần nữa. Chuyên gia tài chánh Bùi Kiến Thành từ Hà Nội nhận định:

“Kinh tế Việt Nam là kinh tế nhiều thành phần vận hành theo kinh tế thị trường dưới sự quản lý của Nhà nước. Việc này từ thời 1985-1986 đó là bước đầu chập chững bước vào kinh tế thị trường, bây giờ các vị lãnh đạo đi cùng khắp thế giới qua bên Mỹ qua bên pháp gặp Tổng thống Pháp, Tổng thống Mỹ yêu cầu công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường…Có nghĩa là những tư duy cổ lỗ sỉ mấy chục năm trước dần dần phải tiêu pha đi thôi và nếu phải sửa đổi Hiến pháp để quyết liệt đi vào kinh tế thị trường, nếu cần đổi Hiến pháp thì phải đổi thôi cho đúng với thời đại, đó là lẽ tất nhiên. Tôi không thấy có gì trở ngại.”

0-b8680-400.jpg

Nguyên Bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế Mùa thu tổ chức tại Ninh Bình ngày 27 tháng 9 năm 2014. Courtesy Vneconomy.

Đối với quan điểm của nguyên Bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển về việc Việt Nam cần xây dựng thể chế kinh tế thị trường bao gồm ba trụ cột là thị trường, Nhà nước và xã hội dân sự. Chuyên gia Bùi Kiến Thành nhận định:

“Nếu chưa có thì sẽ phải có thôi, tương lai gần chưa có thì xa xa một chút cũng phải làm. Đó là lẽ tất nhiên, ông Tuyển nói rất đúng và lần lần chúng ta sẽ phải đi đến bước xa hơn nữa. Chẳng những là kinh tế với ba trụ cột ấy mà nhà nước pháp quyền cũng phải có ba trụ cột của nó, tức là Hành pháp Lập pháp và Tư pháp. Việc ấy lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam chưa có quán triệt được những nhu cầu của một nền dân chủ pháp trị và nền kinh tế thị trường thực sự. Rồi từ từ chúng ta sẽ phải đi đến thôi đó là lẽ tất yếu của một nền kinh tế thị trường và của một nhà nước pháp quyền. Bao giờ sẽ đi đến đích là còn tùy theo sự quán triệt hiểu biết và sự quyết tâm của các nhà lãnh đạo Việt Nam mà thôi.”

Xã hội dân sự

Theo những gì báo chí đưa lên mạng, Nhà nước Việt Nam chưa biểu lộ sự ủng hộ việc thiết lập xã hội dân sự một cách độc lập ở Việt Nam. Vneconomy.vn trích lời ông Trương Đình Tuyển cố vấn cao cấp của Chính phủ về đàm phán hội nhập quốc tế tại Diễn Đàn Kinh tế Mùa thu 2014. Theo lời ông, khi tham gia đàm phán gia nhập các hiệp định TPP và FTA “có một từ đang khiến các nhà đàm phán đau đầu tìm từ thay thế. Đó là sự tham gia của ‘xã hội dân sự’ vào hoạch định chính sách cũng như vào quá trình xử lý tranh chấp.” Ông Tuyển nhấn mạnh, nhà nước chúng ta không cho dùng từ “xã hội dân sự” trên các văn bản công khai nên các nhà đàm phán phải đau đầu.

Theo LS Trần Quốc Thuận, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội hiện cư trú ở Hà Nội, việc thiết lập các tổ chức xã hội dân sự cần được điều chỉnh bằng luật cơ bản là Luật Lập hội qui định trong Hiến pháp. Tuy vậy Quốc hội dưới sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước trì hoãn vấn đề này. Ông nói:

” Bây giờ có một số anh em đứng lên thực hiện mười mấy tổ chức xã hội dân sự nhưng tôi thấy còn mỏng lắm và cũng không có những gương mặt sáng giá.
-LS Trần Quốc Thuận “

“Bây giờ có một số anh em đứng lên thực hiện mười mấy tổ chức xã hội dân sự nhưng tôi thấy còn mỏng lắm và cũng không có những gương mặt sáng giá. Dĩ nhiên khởi xướng của anh em rất là đáng khuyến khích hoan nghêh nhưng mà để đảm bảo những tổ chức đó hoạt động chính là cơ sở pháp luật, nếu không có Luật Lập hội thì làm sao những tổ chức đó có cơ sở để phát triển được. Chính quyền muốn dẹp lúc nào thì dẹp.”

Theo trang mạng Infonet, tham luận của chuyên gia kinh tế TS Lê Đăng Doanh tại Diễn Đàn Kinh tế Mùa thu 2014 đã phác họa lên một bức tranh kinh tế Việt Nam đầy thách thức. Vấn đề nợ xấu, sự nhận diện cơ cấu nợ xấu, sở hữu chéo và xử lý nợ xấu qua Công ty mua bán nợ VAMC thực chất chưa khai thông nợ xấu. Ông Doanh nhận định “không có tiền tươi thóc thật “cục máu đông” nợ xấu vẫn còn cản trở quá trình lưu thông của tín dụng trong nền kinh tế. Theo kinh tế gia Lê Đăng Doanh tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước thời gian qua chủ yếu tập trung vào cổ phần hoá tuy nhiên tiến độ cổ phần hóa vẫn rất chậm chạp, tỷ lệ vốn huy động thấp. Ông Lê Đăng Doanh cho rằng bên cạnh tái cơ cấu khu vực kinh tế nhà nước, cần có đề án tái cơ cấu khu vực kinh tế dân doanh, động lực quan trọng của nền kinh tế và là khu vực tạo ra nhiều việc làm nhất cho xã hội. Khu vực này gặp khó khăn rất nhiều và không được nhà nước hỗ trợ, theo thống kê có tới 200.000 doanh nghiệp tuyên bố phá sản trong năm 2013.

Vẫn theo trang mạng Infonet, kinh tế gia Lê Đăng Doanh vạch ra hai nhược điểm trong tái cơ cấu nền kinh tế. Thứ nhất là vai trò của khoa học-công nghệ hầu như chưa được đề cập đến như một nhiệm vụ hàng đầu để thúc đẩy hiệu quả, năng lực cạnh tranh. Thứ hai là, tái cơ cấu nền kinh tế Việt nam chưa xét đến các yếu tố hội nhập quốc tế. Ông Doanh cho rằng Việt Nam đang hội nhập sâu rộng với thế giới, như chuẩn bị tham gia AEC Hội đồng kinh tế ASEAN và TPP Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương…Nền kinh tế và doanh nghiệp Việt Nam sẽ gặp những thách thức rất lớn như các yêu cầu về hợp tác, liên kết, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, hợp tác với các tập đoàn lớn của nước ngoài, đáp ứng các yêu cầu sở hữu trí tuệ, vệ sinh an toàn thực phẩm, đón nhận những thay đổi về thị trường lao động.

Kể từ Diễn đàn Kinh tế mùa Xuân 2012 tổ chức tại Đà Nẵng cho đến Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2014 ở Ninh Bình, các kinh tế gia, nhà hoạch định chính sách, chuyên gia đầu ngành của Chính phủ đã tham gia tổng cộng 6 lần Diễn đàn Kinh tế do Ủy ban Kinh tế Quốc hội phối hợp tổ chức cùng Viện Khoa học Xã hội Việt Nam và Phòng Thương mại Công nghiệp Việt Nam.

Nói theo ngôn ngữ dân gian kế đã được hiến rất nhiều nhưng sự lắng nghe, điều chỉnh cải cách của nhà nước thì chẳng được bao nhiêu. Chẳng lẽ lại đúng như lời TS Nguyễn Quang A: “Các ông ấy nói cho sướng miệng” còn lãnh đạo có lắng nghe hay không lại là một chuyện khác.

Người Việt ít cần ‘món ăn tinh thần’?

Người Việt ít cần ‘món ăn tinh thần’?

Trần Trọng Linh Gửi tới BBC từ Geneva, Thụy Sĩ

Văn hoá nghệ thuật nói chung luôn được coi là đỉnh cao của trí tuệ và văn minh nhân loại.

Mục đích của chính của nghệ thuật là giúp cho con người hướng tới những giá trị cao đẹp: Chân, thiện, mỹ.

Trong văn hoá đương đại ngày hôm nay nghệ thuật còn đưa đến cho chúng ta những không gian trải nghiệm thực tế và những định nghĩa nghệ thuật mới. Mục đích cuối cùng là đem đến những suy ngẫm, sẵn sàng đón nhận sự khác biệt và tự vấn chính bản thân.

Trong một khoảng thời gian quan sát và nghiên cứu tôi nhận thấy trong các bảo tàng nghệ thuật hay những nơi diễn ra các sự kiện văn hoá nghệ thuật: thơ ca, âm nhạc, biennale nghệ thuật đương đại, festival âm nhạc, múa… rất ít người Việt Nam có nhu cầu quan tâm đến văn hoá nghệ thuật.

‘Người Việt và nhu cầu văn hóa’

Vậy lý do ở đây là gì khi mà đối với những người phương tây thì văn hoá như một thứ nhu cầu không thể thiếu được hàng ngày đối với mỗi người?

Phần lớn người Việt không biết địa chỉ của bảo tàng quốc gia nằm ở đâu, hay bỏ ra 2 đô la mỗi năm để mua một đầu sách.

Phải chăng người Việt Nam ít có nhu cầu hưởng thụ đời sống văn hoá tinh thần hay có thể nói người Việt ít có nhu cầu tự vấn bản thân?

Việt Nam sau hơn hai thập niên mở cửa kinh tế cũng đã cải thiện đáng kể, thậm chí còn nổi hẳn lên một thế hệ người giàu.

Họ sẵn sàng bỏ ra cả triệu đô để được làm chủ một chiếc xe hơi hay bỏ ra cả vài chục ngàn đô để có một chiếc túi xách.

Còn đối với tầng lớp bình dân hay trung lưu, họ cũng sẵn sàng bỏ ra cả ngàn đô để có được một sản phẩm công nghệ đời mới nhất được.

Trong khi đó phần lớn người Việt không biết địa chỉ của bảo tàng quốc gia nằm ở đâu, hay bỏ ra 2 đô la mỗi năm để mua một đầu sách.

Ảnh hưởng từ văn hóa tuyên truyền?

Cũng không khó để lý giải những hiện tượng tâm lý trên.

Trong khi suốt một quá trình dài người Việt chịu một sự ảnh hưởng không nhỏ từ hậu quả chiến tranh và chủ nghĩa cộng sản, cái tôi cá nhân bị loại bỏ triệt để.

“Bầy cừu” ngoan ngoãn đón nhận tất cả những cái gì mà chủ nghĩa cộng sản “bú mớm” qua hệ thống truyền thông.

Những loại hình văn hoá dân gian truyền thống ẩn chứa những giá trị đạo đức cơ bản như Tuồng, Chèo, Cải Lương, Ca Trù, Chầu Văn… dần bị xoá sổ.

Bù vào những khoảng trống văn hoá thì đã có bộ máy truyền thông khổng lồ của chủ nghĩa cộng sản.

Những serie phim tài liệu được lặp lại liên tục trên các kênh truyền hình quốc gia, tung hô những vị lãnh tụ chính trị với quá khứ hào hùng được nhuộm đỏ bằng máu của người dân.

Để giảm áp lực “tẩy não” và “nhồi sọ” thì đã có những Game Show giải trí truyền hình được xen kẽ khéo léo vào nội dung chương trình phát sóng.

‘Tri thức, văn hóa và nhu cầu sinh tồn’

Tri thức và văn hoá là những thứ khó nắm bắt và cần phải có nhiều thời gian tích luỹ, hơn nữa tri thức cũng khó để đem ra cho mọi người thấy rằng “trí khôn của ta đây”.

Để khẳng định sự tồn tại của mình trước sự “im lặng” chết chóc của “bầy cừu”, họ chọn cách thể hiện đẳng cấp xã hội bằng cách trang trí lên mình những giá trị vật chất để phủ lấp cái thiếu thốn, tự ti và nghèo nàn tri thức của mình.

Sẽ chẳng có vấn đề gì khi mỗi người có quyền sử dụng đồng tiền theo ý thích của mỗi người và không ai có quyền phán xét họ.

Mâu thuẫn ở đây là khi phần lớn người Việt có mức thu nhập dưới 5 đô la một ngày thì sự “rũ bùn đứng dậy sáng loà” của một bộ phận nhỏ của tầng lớp mới giầu đã tạo nên một khoảng cách quá lớn về giàu nghèo.

Tri thức và văn hoá là những thứ khó nắm bắt và cần phải có nhiều thời gian tích luỹ

Mâu thuẫn phát sinh nhưng người Việt thiếu tri thức để xử lý tình huống hơn nữa những giá trị truyền thống cơ bản không còn được coi trọng.

Kết quả là mâu thuẫn được giải quyết bằng xung đột bạo lực giữa các tầng lớp xã hội.

Không thể loại bỏ một yếu tố rất lớn ảnh hưởng không nhỏ đến sự tiếp cận của người dân đối với văn hoá nghệ thuật, đó là áp lực tâm lý giải quyết nhu cầu sống tối thiểu hàng ngày luôn là mục đích được ưu tiên hàng đầu.

Sự ám ảnh tâm lý của chiến tranh, mối đe doạ chiến tranh rình rập của người anh em cộng sản phương bắc. Những áp lực tâm lý trên đẩy con người ta vào một vòng quay sinh tồn mang tính bản năng: Kiếm ăn và tồn tại.

Vai trò của giới trí thức

Đối với tầng lớp nghệ sỹ trí thức, vụ án “Nhân văn Giai phẩm” từ đầu năm 1955 và bị dập tắt tháng 06/1958 do ba nhà văn hoá trí thức lớn khởi xướng, Trần Dần, Lê Đạt và Hoàng Cầm, với đòi hỏi của họ là tự do sáng tác và tự do tư tưởng.

Từ sự khởi xướng này, với sự góp mặt của nhiều tầng lớp trí thức Việt Nam, tờ báo mang tên “Nhân văn” và các tập “Giai Phẩm” mang nội dung chính trị ngày càng rõ rệt.

“Những loại hình văn hoá dân gian truyền thống ẩn chứa những giá trị đạo đức cơ bản như Tuồng, Chèo, Cải Lương, Ca Trù, Chầu Văn… dần bị xoá sổ.”

Mục đích của những tri thức này là hướng đến một xã hội tự do dân chủ.

Nội dung này đáp ứng được nguyện vọng của quần chúng nhưng lại đánh vào tử huyệt của chế độ. Chính vì thế đảng cộng sản Việt Nam đã phát động một chiến dịch xóa sổ Nhân văn Giai phẩm.

Kết quả là những ai dính dáng đến Nhân văn Giai phẩm đều nhận được sự trừng phạt từ chế độ.

Thành phần chủ chốt thì bị tù đày, văn nghệ sỹ thì bị cải tạo lao động. Giáo sư trí thức thì bị cách chức, mất việc. Tất cả phải sống nốt phần đời còn lại trong đói nghèo im lặng và bị cách ly với XH.

Bài học kinh nghiệm xương máu này chính nỗi kinh hoàng sợ hãi cho nhiều thế hệ trí thức nghệ sỹ sau này.

Kết quả là các trí thức nghệ sỹ áp dụng chung một phương pháp “3 không”: Không nghe, không thấy và không làm.

“Những hệ luỵ của chủ nghĩa cộng sản thực chất chỉ là những bề nổi của một tảng băng, bên cạnh thói quen nhẫn nhịn và thụ động của một nền văn minh canh nông cùng ý thức và hệ tư tưởng vẫn còn mang đậm Nho Giáo”

Sau này cũng có một vài nghệ sỹ đề cập đến những vấn đề chính trị xã hội nhưng cũng chưa tạo ra được những ảnh hưởng lớn với XH; phần nhiều là những nghệ sỹ dùng câu chuyện chính trị để trang trí cho mình trước những con mắt của những người bảo trợ nghệ thuật đến từ các nước phương tây.

Những hệ luỵ của chủ nghĩa cộng sản thực chất chỉ là những bề nổi của một tảng băng, bên cạnh thói quen nhẫn nhịn và thụ động của một nền văn minh canh nông cùng ý thức và hệ tư tưởng vẫn còn mang đậm Nho Giáo.

Tất cả những nguyên nhân trên tạo ra một bức tranh ảm đạm của một xã hội thiếu tính nhân văn và thay vào đó là hình ảnh bạo lực, thù hằn và niềm tin giữa con người bị đổ vỡ.

Rõ ràng văn hoá nghệ thuật ở đây đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong bất cứ một xã hội nào.

Để thay đổi được ý thức hệ tư tưởng của cả một dân tộc là điều không tưởng nhưng chúng ta có thể bắt đầu từ mỗi cá nhân.

Chìa khoá tri thức, văn hoá nghệ thuật tôi cho rằng là một lời giải không tồi để mở cánh cửa đến với nền văn minh nhân loại.

Hãy bắt đầu từ ngày hôm nay nếu bạn không muốn cuộc đấu tranh thách thức những hiện trạng xã hội chuyền lại cho đời sau.

Đây là trách nhiệm của chính thế hệ chúng ta. Hỡi các bạn trẻ hãy vượt qua nỗi sợ hãi trong mỗi chúng ta, chỉ có những trái tim tuổi trẻ mới đủ lãng mạn và nhiệt huyết để mơ ước đến một xã hội tươi sáng hơn cho Việt Nam.