Tranh Giành Quyền Lực, Trăm Dâu Đổ Xuống Đầu Tằm

Tranh Giành Quyền Lực, Trăm Dâu Đổ Xuống Đầu Tằm

Nguoi-viet.com

Người Buôn Gió
Người Buôn Gió, tác giả các câu chuyện “Đại vệ chí dị” đang ở Đức Quốc. Ông được một thành phố nước này mời sang ở một thời gian để có chỗ yên tĩnh viết văn. Thỉnh thoảng ông vẫn viết trên trang facebook những cảm nghĩ của ông về các vấn đề thời sự tại Việt Nam. Bài dưới đây là một.

Chính trường Việt Nam ngày trở nên khốc liệt khi sát đến ngày thành lập lực lượng quân đội Việt Nam.

Sĩ quan cao cấp quân đội CSVN dự đại hội đánh dấu 70 năm thành lập tại Trung Tâm Hội Nghị Quốc Gia ở Hà Nội ngày 20/12/2014. (Hình: HOANG DINH NAM/AFP/Getty Images)

Ông Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng trong vai trò quân uỷ trung ương đã có một bài phát biểu nhấn mạnh việc quân đội phải do Đảng tức cá nhân ông kiểm soát. Trong bài phát biểu của mình ông có chút chia sẻ quyền lực với vai trò chủ tịch nước của ông Trương Tấn Sang.

Cùng ngày hôm đó, ông Trương Tấn Sang phong hàm thượng tướng cho 3 trong 4 tướng chuyên trách việc vai trò lãnh đạo của Đảng trong quân đội.

Cũng trong bài phát biểu của mình, ông Nguyễn Phú Trọng lại một lần nữa đem thế lực thù địch chống phá chế độ ra làm biện minh cho việc Đảng vì sao phải chỉ huy chắc được quân đội. Một cách biện minh cũ mèm hết từ năm này sang năm khác.

Hành động và phát ngôn của ông Tổng Bí Thư và Chủ Tịch Nước nổi bật trong ngày 19/12/2014 đã khiến vai trò của Chính phủ do ông Nguyễn Tấn Dũng bị lu mờ. Cảm giác như ông Dũng không được chia sẻ quyền lực điều hành quân đội.

Từ Thái Lan trở về, ngay hôm sau tức ngày 20/12/2014 ông Nguyễn Tấn Dũng chủ trì tổng kết kết quả năm 2014 của Bộ Công An. Cũng trong một chiêu bài tương tự như ông Nguyễn Phú Trọng, ông Dũng mang hình ảnh các “tổ chức chính trị đối lập trong nước” để che đậy sự kiểm soát Bộ Công An của mình.

http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/212928/khong-de-hinh-thanh-to-chuc-chinh-tri-doi-lap-trong-nuoc.html

Trở lại về những cái gọi là Thế Lực Thù Địch (TLTD) và Tổ Chức Chính Trị Đối Lập (TCCTĐL) mà các lãnh đạo hàng đầu vẫn chăm chăm đối phó là những tổ chức thế nào, liệu các tổ chức này có nguy hiểm, ghê gớm đến mức độ như các vị lãnh đạo nói hay không?

Chúng ta thử nhìn xem một tổ chức được Bộ Công An phá cách đây vài năm, một tổ chức mà báo chí vẽ ra thật ghê gớm và đáng sợ. Tổ chức đó gồm những ai. Đó là Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long, Nguyễn Tiến Trung. Không cần phải đến tận nhà, gặp tận mặt những con người “ghê gớm tưởng như có lực lật trời, nghiêng đất”‘ này.

Chỉ cần chúng ta theo dõi họ trên Facebook hay Internet thì thấy ngay những thư sinh trói gà không chặt. Tìm mỏi mắt không thấy những “âm mưu toan tính” nào trong những dòng trạng thái hay bài viết của họ. Cùng lắm chỉ dăm ba câu bóng gió hoặc vài lời chỉ trích ngắn ngủi. Những con người ấy chúng ta có thể cảm nhận bằng mắt, bằng tai luôn để xem họ “nguy hại” thế nào cho an ninh đất nước.

Một tổ chức nữa cũng được Bộ Công An phối hợp với các bộ khác bắt gọn, đó là Hội Đồng Công Án Bia Sơn ở Phú Yên chỉ rặt mấy ông già, đang xây dựng khu sinh thái trên núi, có chút thuốc nổ để phá đá. Thứ thuốc nổ có thể thấy bất cứ nơi nào tại Việt Nam gần những mỏ đá hay những nơi cần phá đá.

Thế mà mấy ông già đó được vẽ thành một tổ chức đang xây dựng căn cứ quân sự nhằm dùng vũ lực chiếm chính quyền. Chuyện quá hoang đường nhưng báo chí Việt Nam vẫn vẽ được cho khối người tin.

Rồi một đám đủ loại người tự phát biểu tình chống Trung Quốc, ngay đến cả cái lý do cao cả là chống ngoại xâm, chỉ biểu tình chứ không phải làm gì khác. Kéo dài mãi cũng chỉ loanh quanh vài trăm người. Bị bắt bớ, đánh đập vài lần là tan cuộc.

Thử nhìn xem Diễn Đàn Xã Hội Dân Sự, Hội Nhà Báo Độc Lập, Con Đường Việt Nam….liệu làm được cái gì để lật đổ chế độ này. Dăm ba bài viết trên mạng bị ngăn tường lửa hay ddos là liêu xiêu. Vài cái bản kiến nghị thu thập chữ ký, giơ ảnh ngồi trong nhà phản đối rồi đưa lên mạng thì bao giờ lông chân chế độ này rụng.

Đây không phải là hạ thấp các tổ chức này, nhưng phải khẳng định cách đấu tranh ôn hoà, mục tiêu cải cách, cải thiện chế độ với phương pháp hoà bình, dùng ngôn luận của họ được đăng tải trên vài trang mạng thì làm sao có thể biến thành một Thế Lực Thù Địch hay Tổ Chức Chính Trị Đối Lập để tiếm quyền thay đổi chế độ. Liệu sự tuyên truyền của những tổ chức này đến bao giờ lan toả được trong dân chúng, thúc đẩy dân chúng hành động.

Trong khi dân chúng thì đi hôi bia ở một xe tai nạn, mà chả cần ai kêu gọi. Trong khi chỉ cần một cửa hàng bán đồ ăn miễn phí ngay lập tức cuốn hút hàng nghìn bạn trẻ đạp lên nhau để chen vào bốc thức ăn, một ngôi sao ca nhạc thốt một lời có hàng nghìn chia sẻ, mấy chục nghìn người like hưởng ứng. Chưa kể một đại gia hứng lên tuyên bố miễn phí vé khu du lịch là cả chục ngàn người chen nhau tắc đường để được đến vui chơi.

Chỉ cần một cô gái cởi áo ngực đưa hình ảnh lên mạng là thu hút gấp vài trăm đến vài nghìn lần những lời kêu gọi cải cách này nọ của các tổ chức xã hội tự phát đưa ra. Chả cần đến bộ máy tuyên truyền 700 tờ báo, mấy chục ngàn tuyên truyền viên, dư luận viên, cộng tác dư luận viên, mặt trận, tổ dân phố, hội phụ nữ, cựu chiến binh…ra tay.

Nhìn thực sự thì các Tổ Chức Chính Trị Đối Lập, Thế Lực Thù Địch mà các ông lãnh đạo vẽ không ghê gớm như thế, cũng chả thù hận chồng chất nào để biến đất nước này thành đám nồi da xáo thịt. Với mục đích muốn dùng tiếng nói để cải thiện cách cư xử bất công, băng hoại đạo đức, tham nhũng, nêu cao tinh thần trách nhiệm với dân tộc và lòng yêu nước qua những biện pháp ôn hoà dùng ngôn luận. Các tổ chức mà chúng ta đang thấy không bao giờ phải gọi là Thế Lực Thù Địch, Tổ Chức Chính Trị Đối Lập về bản chất mục đích cũng như hành động lẫn thực lực của họ.

Gọi như thế là vu cáo, là xuyên tạc, là lừa bịp.

Gọi như thế là giống bọn thầy mo bịa ra ma xó, bọn thầy cúng bịa ra vong về, bọn thầy pháp bịa ra quỷ hòng để reo rắc sợ hãi, qua đó chế ngự tính phản kháng khoa học của con người. Bọn buôn thần bán thánh này tự cho mình là được trời đất ban cho quyền giúp dân đối phó với ma quỷ, rồi nhờ sự sợ hãi của nhân dân mà chúng bắt cung phụng, lễ nạp, dâng hiện vật. Chưa đủ chúng còn tạo ra những tay chân để phục vụ mưu đồ của chúng bằng thủ đoạn tuyên truyền ma quỷ, hay quy ai là ma quỷ dùng vũ lực trừng phạt.

Vấn đề là ở nước ta bọn thầy mo, thầy pháp, thầy cúng quá nhiều. Cho nên càng ngày càng phải vẽ ra thêm những ma quỷ, vong hồn. Càng ngày càng phải tạo thêm nhiều tay sai để tranh giành, đề phòng nhau. Liên miên bao nhiêu năm từ lúc sơ khai đến thời đại thông tin hiện đại hoá mà ma, quỷ vẫn hiện hình khắp nơi, lễ bái, cầu cúng làn tràn khắp nơi, quanh năm suốt tháng.

Chúng ta thử nhìn có bao nhiêu lực lượng bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ này. Ai đếm nhanh tổng số các cục an ninh trong bộ Công An, các ban tuyên huấn, vụ tuyên giáo, tổng cục trong quân đội, cục, vụ, phòng, ban trong Đảng….? Hằng hà đa số công khai và cả không công khai các cơ quan, tổ chức trang bị vũ khí, thiết bị hiện đại, ngân sách và nhân lực dồi dào để làm việc đó.

Khi mà lính lác đông, vũ khí dư thừa mà không có địch, sẽ e ngại dẫn biến. Thế là vẽ ra các thế lực thù địch, biến mấy thằng thư sinh trói gà không chặt, mấy con đàn bà một nách hai ba đứa con, mấy ông già sắp chết lụ khụ thành thế lực thù địch, thành tổ chức chính trị đối lập….để vừa hợp thức hoá chuyện xây dựng lực lượng bảo vệ, vừa cho các lực lượng này có việc để làm.

Đến lúc sắp đại hội bầu bán, thanh trừng nhau thì ông nào ông nấy dùng chiêu bài TLTD cả TCCTĐL để nắm quyền điều khiển các tổ chức vũ trang, gây sức ép cho nhau. Thế mới có chuyện Cảnh sát cơ động đi bắt ngân hàng, an ninh đi bắt vũ trường, khách sạn. Bọn băng nhóm hình sự dưới mác công ty lại do an ninh kinh tế bắt chứ chẳng phải cảnh sát kinh tế hay hình sự. Đấy là thanh trừng tay chân của nhau, tiện quản lý lực lượng thì sai lực lượng đó đi.

Lúc ngang cơ tranh nhau kiểm soát đi bắt người đã đành, lúc thế yếu hơn, cũng quay ra đi bắt người để lập công. Thế là mạnh thì cũng bắt người, yếu cũng đi bắt người. Không có người bắt thì vẽ ra mà bắt.
Vì vậy mới có Thế Lực Thù Địch, Tổ Chức Chính Trị Đối Lập Chống Đối. Mới có vô số tổng cục, cục, vụ, ban, ngành…vũ trang, thiết bị.

Trăm dâu lại đổ xuống đầu tằm.

Đm nguy hiểm chống phá như thằng Người Buôn Gió cũng đéo chống nổi bao lâu nữa, không cần xử lý thì dăm ba tháng nữa cũng phải đi quyét tuyết, rửa bát dành tiền để về có chút vốn làm ăn. Lực đâu ra mà chống nổi mãi. Ai mà bỏ tiền nuôi cho nó mãi để hàng ngày căng đầu viết bài chống phá.

Đêm Havana & Ngày Hà Nội

Đêm Havana & Ngày Hà Nội

RFA

S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến

Có nơi nào trên trái đất này

Mật độ đắng cay như ở đây?

Chín người – mười cuộc đời rạn vỡ.

Bị ruồng bỏ và bị lưu đầy…

Có nơi nào trên trái đất này

Mật độ yêu thương như ở đây?

Mỗi tấc đất có một người qùi gối

Dâng trái tim và nước mắt

Cho nỗi đau của cả loài người …

Phùng Quán

Tôi chưa bao giờ đến Hà Nội, và cũng chưa bao giờ cảm thấy có chút xíu nào hào hứng khi nghĩ đến chuyện phiêu lưu tới một nơi xa xôi, lôi thôi và tai tiếng (tùm lum) như thế. Đã thế, đường thì xa, vé tầu thì mắc, thủ tục thì lôi thôi rườm rà, và lỡ mà kẹt luôn thì… chết mẹ!

Tôi sinh trưởng ở miền Nam, nghĩ và nghe sao là nói vậy. Và cứ như vậy mà nói, chắc chắn, sẽ làm mích lòng cả đống người. Tôi biết vậy nhưng không thể nào nói khác vì những điều mà tôi được nghe kể về Hà Nội (thường) không có gì là đàng hoàng hay tử tế –  đại loại như:

“Lời ăn tiếng nói lễ độ cũng khó gặp, chứ đừng nói gì đến văn vẻ… Một cô gái có thể nói oang oang giữa chợ:

– Nó rủ tao đi nhưng tao đ… đi.

– Sáng nay mẹ mày qua xin lửa bố tao, bố tao đ… cho…”

“Một cái gì đó đã phá vỡ lòng tin của con người rằng xã hội luôn luôn cố gắng đem lại sự tốt đẹp cho mình, và chính mình phải có bổn phận phải gìn giữ các công trình xã hội để mình và mọi người cùng hưởng. Người ta thẳng tay cắt dây điện để bán lấy chút tiền, có thể đốt hết một kho hàng hoá để phi tang cho một vật ăn cắp không đáng là bao… con người đối xử với xã hội thô bạo như vậy chỉ vì xã hội đã đối xử với họ tệ quá (Phạm Xuân Đài. Hà Nội trong mắt tôi. Thế Kỷ: Hoa Kỳ 1994, 32-33).

Trời đất, đó là chuyện nhỏ và chuyện cũ (rích) rồi – từ hồi thế kỷ trước lận – bới móc ra làm chi nữa, cha nội ? Thì rành rành là chuyện bây giờ, thế kỷ XXI đây nè, Hà Nội vẫn cứ y chang như hồi đó – chớ có khác (mẹ) gì đâu:

“Những đứa bé trai và gái bưng thức ăn cho khách vẫn là những đứa bé đã được mô tả trong tiểu thuyết Nam Cao hay Trương Tửu cách đây năm sáu thập niên, còm cõi, nhọc nhằn, cơ cực, chỉ biết cúi đầu vâng dạ và sống quen với lo âu, sợ hãi….”

“Những anh chị phu hồ vẫn làm việc bằng những cung cách từ nửa thế kỷ trước. Họ chuyền tay nhau mọi thứ vật liệu. Cát, đá và sạn đựng trong những cái rổ, đà gỗ vác trên vai. Một ngày dầm mưa hay đổ mồ hôi như thế của một người phu hồ trị giá một đô la và một bữa ăn trưa thanh đạm. Hơn một phần tư thế kỷ thực hiện ‘chủ nghĩa xã hội ưu việt’ trong nước, hơn một phần tư thế kỷ kêu gào tự do và nhân quyền của khối người việt lưu vong hải ngoại, chẳng có chút ánh sáng nào rọi vào những góc đời phiền muộn tối tăm này” (Bùi Bích Hà, “Nhìn lại quê hương,” Thế Kỷ 21, Sep. 2003:63-65).

Phạm Xuân Đài và Bùi Bích Hà, nói nào ngay, không phải là người Hà Nội. Họ là dân bá vơ, tha phương cầu thực, cù bơ cù bất, ở tận California hay đâu đâu đó. Cả hai chỉ tạt ngang, ghé chơi Hà Nội năm ba ngày hay vài ba tuần lễ gì thôi. Biết (khỉ mốc) gì đâu mà nói hành nói tỏi (nghe thấy ghét) dữ vậy chớ?

Nguyễn Huy Thiệp thì khác à nha. Ông ta là niềm hãnh diện của Hà Nội (nói riêng) và của cả nước Việt (nói chung). Ổng có dư thẩm quyền và thừa tư cách để nói về thủ đô “mến yêu của ta.”. Trong tác phẩm Tuổi hai mươi yêu dấu, nhà văn  đã mượn lời một nhân vật để tuyên bố như sau:

“Thời của tôi đang sống là thời chó má. Tin tôi đi, một trăm phần trăm là như thế đấy.”

Ý, trời đất, quỉ thần, thiên địa ơi! Giữa Thời đại Hồ Chí Minh (quang vinh), và trong lòng thủ đô Hà Nội – nơi mà cách đây chưa lâu người ta vẫn còn phải nhai rón rén khi ăn – mà thằng chả nói năng ồn ào, lạng quạng và bạt mạng (quá cỡ) như vậy thì kể như là… hết thuốc!

Và Hà Nội không phải là nơi duy nhất hết thuốc (chữa) như thế trên thế giới này. Tôi nghe kể là ở thủ đô của Cuba – một nước anh em xã hội chủ nghĩa – tình trạng cũng bết bát, và bệ rạc không kém:

“Ở La Havanne vài ngày dần dần bạn hiểu cái khang trang, sầm uất ở những nơi có du khách chỉ là bộ mặt bên ngoài che không nổi một xã hội lở lói, mệt mỏi… Cuba có hai thế giới, thế giới tưng bừng náo nhiệt của du khách, của những người có tiền xanh, bên cạnh thế giới mệt nhoài của dân địa phương. Sau 50 năm cách mạng, cái mơ của đa số dân Cuba là vượt biển qua Miami hay có bà con thỉnh thoảng gởi về một cái ngân phiếu” (Trần Công Sung,” Cuba Sí, Cuba No,” Thế Kỷ 21, Dec. 2003:78).

Đó cũng là cái ước mơ thê thảm, vượt quá tầm tay, của rất nhiều người dân Việt – bây giờ! Trong quá khứ, Cuba và Việt Nam cũng có rất nhiều điểm (bất hạnh) tương tự như nhau. Hai quốc gia này đều có thời gian dài là thuộc địa, và cả hai đều đã tin tưởng rằng sẽ giành lại được độc lập và tự do bằng con đường… cách mạng! Chung cuộc, cả hai đều sống dở (và chết dở) trong lòng cách mạng!

Ví von mà nói thì Havana và Hà Nội như hai cô bé lọ lem, song sinh, trong một gia đình khánh tận. Cả hai cùng có chung ước mơ là lấy được một tấm chồng đàng hoàng, lương thiện nhưng (chả may) đều phải lòng đúng đồ phải gió, và đã trao duyên lầm… tướng cướp! Và quí vị tướng cướp này đang làm cái công việc mà họ mệnh danh giữ hoà bình cho thế giới – nếu trích theo nguyên văn lời của ông Nguyễn Minh Triết, nguyên chủ tịch nước Việt Nam:

Có người ví von, Việt Nam – Cuba như là trời đất sinh ra. Một anh ở phía Đông, một anh ở phía Tây. Chúng ta thay nhau canh giữ hòa bình cho thế giới! Cuba thức thì Việt Nam ngủ, Việt Nam gác thì Cuba nghỉ…”

Havana, tuy thế, vẫn còn “có phước” hơn Hà Nội. Bi kịch của La Havanne chỉ xẩy ra vào lúc có mặt trời – theo lời của Trần Công Sung:

“Đêm xuống, dân Cuba quên cái cực nhọc ban ngày, đổ ra đường nhộn nhịp… Quên dollars, quên cách mạng, quên những bài diễn văn dài tám giờ, quên embargo, người ta đàn hát nhẩy múa náo nhiệt. Không phải chỉ ở những khu du khách, ngay cả ở những khu bình dân, đen tối, trong những tiệm cà phê rẻ tiền…, đâu đâu cũng có tiếng nhạc, giọng hát…”

Nói cách khác là ban đêm thì dù Việt Nam có gác hay không, Cuba vẫn nghỉ.

Cho nó khoẻ!

Vẫn theo như nhận xét của Trần Công Sung thì ở Havana “có một cái gọi là cái hồn (“âme”). Cái hồn này đang nâng đỡ cho mọi người sống qua những ngày tháng cơ cực, đắng cay của thời mạt kiếp. Tôi còn tin rằng nó cũng sẽ giúp cho dân tộc Cuba hồi sinh chóng vánh, sau khi họ chôn xong cái Chủ nghĩa Xã hội (đang muốn “chuyển qua từ trần”) ở đất nước này.

Hà Nội (dường như) không có một cái hồn như thế để chuẩn bị hồi sinh, dù CNXH cũng chỉ còn sống thoi thóp ở nơi này. Tôi chưa bao giờ nghe ai nói đến có một đêm nào đó (dù chỉ một đêm thôi) người dân Hà Nội đã đổ ra đường, đàn hát, nhẩy múa nhộn nhịp, một cách hồn nhiên và vô tư như vậy cả.

Tình trạng của Hà Nội có vẻ tuyệt vọng hơn, theo như nhận xét của nhà văn Bùi Bích Hà – qua bài báo thượng dẫn: “Người ta chỉ cần một hai thập niên để vực dậy một nền kinh tế sa sút nhưng để xây dựng lại niềm tin cho cả dân tộc, cụ thể như dân tộc tôi, nay chỉ còn cầu phép lạ gieo xuống thưở đất hoang hoá này những hạt giống mới để bắt đầu lại.”

Cách đây không lâu – trên diễn đàn talawas – khi được hỏi “phải hình dung thế nào về văn hiến Thăng Long,” giáo sư Nguyễn Huệ Chi đã (rơm rớm nước mắt, tôi đoán thế) kể lại rằng: “Gần đây có một vị viện sĩ định nghĩa văn hiến là văn học để hiến dâng cho Đảng.”

Thiệt, nghe mà… hết hồn luôn! Havana là một thành phố non trẻ, mới có mặt từ đầu thế kỷ thứ XVI mà khí phách và hồn phách vẫn còn lai láng qua từng bước chân nhún nhẩy của người dân – dù nơi đây công an (chắc) không ít hơn Hà Nội. Không lẽ mảnh đất ngàn năm văn vật, lừng lẫy cỡ như Thăng Long, mới đụng chuyện với cường quyền và bạo lực (có vài chục năm) mà đã “mất hồn mất vía” và “chết tiệt” hết thế sao?

Tôi không tin như vậy đâu. Và tôi cũng không chịu như vậy nữa. Đảng CSVN quả thực đã hớp được hồn của một mớ “viện sĩ” ở Bắc Hà nhưng những chú lính gác cửa của Bắc Kinh (hay còn có tên gọi mới, dễ thương hơn, là “những kẻ canh giữ cho hoà bình thế giới”) chưa bao giờ thực sự nhìn ra được cái hồn của đất Thăng Long, chớ đừng nói chi đến chuyện họ “đụng” được tới nó.

Do tình cờ, tôi có lần (may mắn) cảm thấy được cái hồn của Hà Nội trong một căn hộ nhỏ – ở ngõ Ánh Hồng, cạnh một nhà xí công cộng, luôn luôn ngập ngụa cứt đái – của một người đàn bà tên Sợi.

Chị Sợi có một mẹt hàng ở đầu ngõ, bầy bán các thứ linh tinh: ấm nước chè, gói thuốc lào, bao thuốc lá, lọ ô mai, gói bánh bích qui. Chị không có vốn nên hàng hoá lèo tèo, thảm hại.

Chị Sợi bán hàng không đủ thunhập để nuôi mình, và nuôi người mẹ bệnh đang nằm chờ chết nên – đôi lúc – buộc phải bán cả thân. Mẹt hàng, cũng như thân xác “xuống cấp” của người đàn bà đã quá thời xuân sắc này, chỉ hấp dẫn được một loại khách hàng duy nhất: đám ăn mày.

“Trong số những người chồng hờ ấy, chị đặc biệt yêu quý một anh ăn mày trẻ, còn ít tuổi hơn chị. Anh ta đến với chị không như người đến với gái làng chơi.

Anh đã kể cho chị nghe chuyện chân anh. Còn chị kể cho anh chuyện mẹ chị. Khi bị ngã gẫy xương hông, nằm liệt, ba năm đầu cụ hát. Ba năm sau cụ chửi. Và một năm nay cụ yên lặng. Mỗi khi có khách lên gác lửng cùng chị, cụ nhắm mắt giả cách ngủ.

Anh thương chị. Chị thương anh. Chính anh đã mượn cưa, bào ở đâu về cưa, bào, đo, cắt mộng mấy tấm gỗ cốp pha, ráp thành cái áo quan cho cụ. Và cũng chính anh, dù què một chân cũng đã bắc ghế trèo lên, xây thêm hai hàng gạch quanh tường bao cho nó cao thêm, chắn bớt cái hơi nhà xí tạt vào.

Người thứ hai chị Sợi yêu quý là một phụ nữ. Một bà già. Bà cụ Mít. Đó là một bà già thấp bé, lại còng, mặt chằng chịt vết nhăn, chẳng biết bao nhiêu tuổi nữa. Chính bà Mít cũng không biết mình bao nhiêu tuổi…

Bà ở vùng Hà Nam, Phong Cốc. Anh con trai duy nhất của bà a dua với bọn xấu trong làng đi ăn trộm lợn. Án xử hai năm. Trong tù bị bọn đầu gấu đánh chết. Người con dâu bỏ đi lấy chồng, để lại cho bà hai đứa cháu gái, đứa chín tuổi, đứa bảy tuổi.

– Bây giờ một đứa lên tám, một đứa lên mười rồi cô ạ. Vài năm nữa, chúng nó lớn khôn là tôi không lo gì nữa. Tôi có chết cũng không ân hận.

Một lần bà Mít đến, nắm lấy bàn tay chị:

Em ơi. Chị nhờ em một cái này được không.

Bà ngập ngừng. Chị Sợi không hiểu chuyện gì. Nhưng rõ ràng là một việc hệ trọng, rất hệ trọng đối với bà.

– Giúp chị với em nhé. Chị tin ở em.

Thì ra bà muốn gửi chị tiền. Tiền là vàng, là cuộc sống của hai đứa cháu côi cút của bà ở quê. Chúng còn bé lắm. Chúng mồ côi, chúng mong bà. Chúng cần tiền của bà. Bà phải nuôi chúng. Chúng chưa thể tự kiếm sống được, chưa thể tự lo liệu được. Để nhiều tiền trong người, bà sợ. Suốt ngày đi bộ rạc cẳng mà đêm cứ ngủ chập chờn. Nên nghe chừng thấy nằng nặng hầu bao, bà phải mang tiền về quê.

……

Mùa rét bao giờ cũng là thời gian gay go của chị. Hàng họ ế ẩm. Khách đến nhà cũng ít. Bù lại với đám ăn mày, mùa rét là mùa cưới xin, mùa bốc mả. Trong khi hiếu, hỷ, người ta rộng rãi với ăn mày. Bà cụ Mít vẫn thỉnh thoảng tới chỗ chị để cho chị hòn xôi, miếng thịt. Bà kêu rét và gửi chị thêm một ít tiền. Chị bảo bà đã gửi bốn lần tiền rồi sao không mang về cho các cháu kẻo chúng nó mong, đã lâu rồi bà chưa về nhưng bà Mít nói:

– Tôi cố thêm ít ngày nữa. Rồi về ở với chúng nó một thời gian. Ngoài giêng tôi mới ra. Bà cháu xa nhau lâu quá rồi. Lại còn phải cố mua cho mỗi đứa một bộ quần áo mới mặc Tết.

Nhưng cả tháng sau bà Mít vẫn không quay lại. Chị Sợi biết rằng có chuyện chẳng lành nhưng vẫn hy vọng được thấy dáng người nhỏ còng còng của bà trong tấm ni-lông vá víu chống gậy, khoác bị bước tới. Chị chưa chờ ai đến như vậy. Lo lắng. Hy vọng. Tuyệt vọng. Chắc chắn bà Mít đã chết ở đâu rồi!

Chị Sợi kiểm lại số tiền bà Mít gửi một lần nữa. Rồi gấp những tờ giấy xi-măng, những túi ni-lông. Cho tất cả vào một cái túi xách. Bây giờ chị không chờ bà Mít nữa. Chị chờ anh què đến. Chị bảo anh:

– Bà Mít chết thật rồi. Anh phải giúp em. Ở đây trông nom, cơm nước, rửa ráy cho mẹ em vài ngày. Em phải đi đây.

– Em biết quê bà ở đâu mà tìm?

– Cứ về Hà Nam, Phong Cốc hỏi. Thế nào cũng ra. Hỏi dân. Hỏi tòa án.

Phải đem chỗ tiền này về cho hai đứa trẻ mồ côi. Phải thực hiện nguyện ước của bà cụ, kể cả việc mua hai bộ quần áo mới cho chúng nó…”

Chị Sợi, anh què – cũng như bà Mít – cho đến lúc chết vẫn chưa có đêm nào ôm đàn ngồi hát, hay đổ ra đường nhẩy nhót nhộn nhịp, như những người dân ở Havana. Ngày cũng như đêm họ sống ẩn nhẫn, thầm lặng trong những con hẻm hôi thối luôn ngập ngụa phân người giữa lòng Hà Nội.

Chính ở những nơi tăm tối này, họ đã giấu kín được nguyên vẹn cái hồn của cả một dân tộc qua từng nhịp thở và nhịp đập của tim. Và tôi cũng cảm được cái hồn lai láng (như thế) khi viết những dòng chữ này, dù nơi tôi đang sống cách xa Việt Nam hơn nửa vòng quả đất.

Sau khi đọc xong “Truyện không tên,” tôi đã viết thư cảm ơn tác giả vì đã mở cho tôi thấy cái hồn của dân tộc Việt. Nhà văn Bùi Ngọc Tấn nói rằng ông không viết truyện mà chỉ kể lại chuyện đời của chị Sợi, theo như lời chính chị tâm sự – thế thôi.

Tiến sĩ Nguyễn Quang A và đoàn đại biểu Diễn đàn XHDS viếng cố nhà văn Bùi Ngọc Tấn. Ảnh và chú thích: http://danquyenvn.blogspot.

Bùi Ngọc Tấn đã ra người thiên cổ nhưng chị Sợi, anh Què vẫn còn đang sống tại Hà Nội. Nơi đây, không phải lúc nào ra ngõ cũng gặp anh hùng hay gặp một ông (hoặc một bà) tiến sĩ. Đôi khi, chúng ta vẫn gặp được những mảnh hồn của mảnh đất này nhưng không có cơ duyên để nhận biết thôi.

Tổng thống Mỹ cám ơn Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã giúp Mỹ và Cuba bình thường hóa quan hệ

Tổng thống Mỹ cám ơn Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã giúp Mỹ và Cuba bình thường hóa quan hệ

Dongten.net

10603583_1589041321326421_8493729717557828970_n

Trong bài diễn văn trên truyền hình hôm qua, thứ tư ngày 17/12/2014, tổng thống Mỹ Barack Obama đã lên tiếng ca ngợi và cám ơn những nỗ lực của Đức Giáo Hoàng Phanxicô trong việc tìm kiếm giải pháp tiến tới bình thường hóa quan hệ giữa Mỹ và Cuba.

Ông Obama cho biết Đức Giáo hoàng đã gửi thư riêng cho hai nhà lãnh đạo Mỹ và Cuba, qua đó hối thúc 2 nhà lãnh đạo tìm kiếm giải pháp trả tự do cho Alan Gross, một công dân Mỹ bị Cuba cầm tù.

“Đức Thánh Cha Phanxicô đã gửi một lời kêu gọi cá nhân đến tôi và chủ tịch Cuba Raul Castro để hối thúc chúng tôi giải quyết trường hợp của Alan,” Ông Obama cho biết.

Cuối bài diễn văn, ông Obama đã gửi lời cám ơn Đức Phanxicô vì gương sống của ngài.

“Đặc biệt, tôi muốn cảm ơn Đức Thánh Cha Phanxicô vì đời sống đạo đức của ngài cho chúng ta thấy rằng chúng ta phải dấn thân cho một thế giới nên là chứ không phải đơn thuần bằng lòng với một thế giới như hiện tại.”

Trong một động thái tương tự, ông Raul Castro, chủ tịch Cuba phát biểu trên truyền hình đã ngỏ lời cám ơn Đức Giáo Hoàng Phanxicô về sự kiện mang tính lịch sử khi Cuba và Mỹ bình thường hóa quan hệ.

Chỉnh Trần, S.J.

Biên dịch

Lịch sử những ca khúc Giáng Sinh nổi tiếng thế giới

Lịch sử những ca khúc Giáng Sinh nổi tiếng thế giới

http://baomai.blogspot.com/

Chỉ còn ít ngày nữa là mùa Giáng Sinh, một trong những ngày lễ hội mang tính tôn giáo lớn nhất hành tinh sắp sửa về. Và trong chương trình âm nhạc kỳ này, chúng tôi xin được cùng quí vị một lần nữa điểm lại sự ra đời của những ca khúc Giáng Sinh bất hủ tiêu biểu.

Silent Night

http://baomai.blogspot.com/

Silent Night, đây được xem là một trong những thánh ca lâu đời nhất, do một cha xứ người Áo viết năm 1817. Xác định sự ra đời của ca khúc này là cả một sự tranh cãi kéo dài… mãi cho đến năm 1995, khi người ta tìm được bản chép tay của bài nhạc thì tác giả mới chính thức được công nhận, đó là linh mục nghèo mang tên Joseph Morh với phần soạn nhạc của một thầy giáo trường làng Franz Gruber.

http://baomai.blogspot.com/

Hơn 40 năm sau đó, 1895 ca khúc này được linh mục John Young dịch sang tiếng Anh và bài hát nhanh chóng đến với công chúng, nhất là trong kỳ Đệ Nhất Thế Chiến, quân đội của cả 2 bờ chiến tuyến Anh và Đức đều có thể hát được theo 2 ngôn ngữ riêng.

http://baomai.blogspot.com/

Người ta nói rằng, những giai điệu thiêng liêng, trong trẻo ngân vang như tiếng thở đêm đã phần nào xoa dịu nỗi đau thể xác của binh lính khi đó… Giờ đây, gần 200 năm sau, Silent Night đã được dịch ra hơn 140 thứ tiếng và bản gốc đã được tổ chức UNESCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2011.

httpv://www.youtube.com/watch?v=xRQzyAPfsIg

The First Noel

http://baomai.blogspot.com/

Cùng với Silent Night, bản The First Noel cũng thường được vang lên báo hiệu mùa Giáng Sinh đã về. Các nguồn tài liệu nói về sự ra đời bài hát này rất khác nhau, có nơi nói rằng bài hát này ra đời ở Pháp bởi có chữ Noel, nhưng có tài liệu khác lại cho rằng bài hát bắt nguồn từ xứ Cornwall của nước Anh.

http://baomai.blogspot.com/

Có thể nói The First Noel là một trong những bản nhạc Giáng Sinh ra đời sớm nhất, nó xuất hiện từ thế kỷ 16, thế nhưng đến nay nó không hề bị quên lãng. Bài hát ca ngợi sự tinh túy của lễ Giáng Sinh, là hồi chuông hân hoan loan báo tin vui ngày Chúa giáng trần, ca khúc mang chất dân ca… Lúc đâu người ta cho rằng bài hát có tên The First O Well hay The First Nowell, bài hát gần đây được trình bày thành công qua tiếng hát của nhóm Celtic Woman của Ireland.

httpv://www.youtube.com/watch?v=mawwURNqPC0

O Holy night

http://baomai.blogspot.com/

Cùng với chất nhạc nhẹ nhàng, ngân vang rung lên hòa nhịp với tiếng chuông ngân đổ dồn đêm Giáng Sinh, người ta không thể không nhắc tới O Holy Night.

Ca khúc này khởi nguồn từ nước Pháp, theo lời yêu cầu của một linh mục không tên tuổi, do một thi sĩ viết và một người Do Thái phổ nhạc… lần đầu tiên ca khúc được cất lên là vào năm 1847, đây là một trong những bản thánh ca được thu âm và trình diễn nhiều nhất trong lịch sử âm nhạc với hàng trăm triệu đĩa hát do nhiều tên tuổi lẫy lừng trình bày.

http://baomai.blogspot.com/

Một trong những người đã trình bày rất thành công là Celine Dion, cô đã đáp ứng được độ khó và yêu cầu khắt khe về âm nhạc, nhạc cảm để đưa O Holy Night – Đêm Thánh Vô Cùng trở thành một dấu son trong sự nghiệp biểu diễn.

httpv://www.youtube.com/watch?v=q5n6X9sUznI

Jingle Bells

http://baomai.blogspot.com/

Khác với chất nhạc thánh ca trầm buồn, nhiều bản nhạc viết về Giáng Sinh nổi tiếng khác lại mang không khí vui tươi của lễ hội lớn nhất hành tinh. Trong số những bài hát vui nhộn này, Jingle Bells – Tiếng Chuông Ngân không thể bỏ qua.

http://baomai.blogspot.com/

Jingle Bells do nhạc sĩ James Lord Pierpont sáng tác năm 1857, rất nhiều bản cover với nhiều thể loại khác nhau đã xuất hiện như jazz, rock, pop… nhưng rõ ràng giai điệu nguyên thủy vui tươi vang ngân của tiếng chuông, thúc giục người người hãy hòa mình vào thiên nhiên, trời đất đón một mùa giáng sinh an lành vẫn được yêu mến hơn cả. Trong Jingle Bells người ta thấy được trọn vẹn bức tranh của ngày lễ Giáng Sinh với ông già Noel cưỡi xe tuần lộc, màu trắng của tuyết, màu xanh của thông, màu đỏ của ông già Noel và hơn hết là tiếng chuông ngân vang đổ dồn từ những giáo đường.

httpv://www.youtube.com/watch?v=p07T4dlw2cc

Joy to the World

http://baomai.blogspot.com/

Cùng để ngợi ca Chúa hài đồng, Joy To The World – Phước Cho Nhân Loại cũng là một trong những ca khúc Giáng Sinh nổi tiếng khác mà được rất nhiều người mến mộ. Nội dung bài hát là thông điệp chuyển tải niềm vui và tinh yêu thế chỗ cho những tội lỗi và đau buồn.

http://baomai.blogspot.com/

Dựa trên ý tưởng từ Kinh Thánh, lời của ca khúc do Issac Watts viết nên và phần âm nhạc được Lowell Mason đưa vào. Người ta nói rằng bài hát lần đầu được thu âm là năm 1954 và đĩa ghi âm nổi tiếng của Joy To The World là bản hòa tấu dưới sự điều khiển của Percy Faith và đến hôm nay thì Joy To The World vẫn luôn thuộc top đứng đầu trong những bảng xếp hạng về nhạc Giáng Sinh hay nhất.

httpv://www.youtube.com/watch?v=O5hj518Iugk

Từ Anh chị Thụ Mai gởi

THẬT KỲ LẠ !

THẬT KỲ LẠ !

Bản dịch của Gs. Trần Duy Nhiên

1. Thật kỳ lạ: Tờ giấy bạc năm chục nghìn sao có vẻ rất lớn khi dâng tặng cho Nhà Thờ, mà sao lại nhỏ thế khi mình đi mua sắm ?

2. Thật kỳ lạ: Hai giờ trong Nhà Thờ sao có vẻ dài lê thê, mà sao lại ngắn đến thế khi xem một tập phim truyền hình ?

3. Thật kỳ lạ: Mình không thể tìm ra một lời để nói khi cầu nguyện, mà không biết lời đâu lại sẵn thế khi tán gẫu với bạn bè ?

4. Thật kỳ lạ: Đọc một chương Kinh Thánh sao mà quá khó khăn, mà đọc 100 trang tiểu thuyết tình cảm hay kiếm hiệp thì sao lại dễ đến thế ?

5. Thật kỳ lạ: Sao ai ai cũng muốn ngồi hàng đầu khi nghe ca nhạc, mà lại làm đủ mọi cách để ngồi hàng cuối trong Nhà Thờ ?

6. Thật kỳ lạ: Sao chúng ta cần phải biết một việc làm cho Giáo Hội 2, 3 tuần trước đó để rồi còn xếp lịch, mà lại sắp xếp ổn thoả các việc khác vào giờ phút cuối cùng ?

7. Thật kỳ lạ: Học về Chúa để chia sẻ cho anh chị em sao quá khó khăn, mà học hiểu rồi truyền miệng những chuyện tầm phào sao lại dễ dàng đến thế ?

8. Thật kỳ lạ: Sao mình có thể tin mọi thứ mà báo chí nêu ra, mà lại thắc mắc hoài nghi mãi về những lời Kinh Thánh ?

9. Thật kỳ lạ: Sao ai ai cũng muốn có một chỗ trên Thiên Đàng, mà lại không muốn tin, không muốn làm hay nói điều gì để được lên đấy ?

10. Thật kỳ lạ: Sao khi mình gửi chuyện cười bằng E-mail thì tin rằng người ta chuyển ngay, nhưng khi sắp gửi một bức thư nói về Chúa thì mình lại đắn đo suy nghĩ trước khi đem chia sẻ ?

Thật là kỳ lạ phải không nào ? Giờ đây bạn đã đọc lá thư này xong, thì bạn hãy chuyển đến cho một người bạn, một thân nhân hay một người nào đó không ưa bạn. Nếu bạn quên hoặc không muốn làm như vậy, thì chẳng những bạn mất cơ hội được Chúa chúc lành, mà bạn còn làm mất cơ hội của những người có thể đang cần đến Chúa trong đời họ.

KHUYẾT DANH,

Bản dịch của Gs. Trần Duy Nhiên

NHỮNG NGƯỜI ĐẠO SĨ

NHỮNG NGƯỜI ĐẠO SĨ

A – NGƯỜI ĐẠO SĨ THỨ NHẤT

Tôi tên là Gaspar, một trong ba người đạo sĩ đã đến dâng của lễ bên máng cỏ ở Bêlem.  Hai người bạn của tôi là Melchior và Balthazar.

Từ lâu rồi, tôi mãi ngắm nền trời sao, và hôm ấy, ngôi sao tôi chờ đợi xuất hiện.  Các bạn từng có hình ảnh về sao lạ ở Bêlem, nên các bạn hình dung đó là một ngôi sao khác thường, với một cái đuôi thật dài chỉa thẳng về hang đá.  Một ngôi sao mà không ai có thể nhận lầm được.

Xin thưa với các bạn, nếu các bạn nghĩ như thế thì các bạn lầm rồi đấy.  Ngôi sao ấy không khác với các ngôi sao bình thường đâu.  Tôi đã chờ đợi nó từ bao nhiêu năm trường mà khi xuất hiện, tôi vẫn còn do dự.  Tôi đã chỉ cho bao nhiêu người xung quanh, cho bà con họ hàng, cho thân bằng quyến thuộc.  Họ chỉ nhìn thoáng rồi thôi.  Họ bảo rằng giữa hằng hà sa số tinh tú trên trời thì ngôi sao ấy cũng chẳng có gì đặc biệt.  Không ai chịu lên đường với tôi, rốt cuộc tôi phải đi một mình.  Không ai muốn đặt niềm tin vào một vì sao, mà xét cho cùng, có thể chỉ là một ngôi sao như trăm ngàn ngôi sao khác.  Nhưng riêng tôi thì tôi phải ra đi, bởi vì tôi không thể đặt ngôi sao ấy đồng hàng với những ngôi sao bình thường được.

Khi gặp được Melchior và Balthazar, niềm phấn khởi của chúng tôi có gia tăng.  Nhưng dù sao cũng chỉ là ba người thức giấc bước đi trong đêm tối cố theo một ngôi sao, trong khi mọi người khác đang yên hàn trong giấc ngủ.  Càng đi chúng tôi càng mệt mỏi.  Khi thể chất mệt nhoài, thì tinh thần cũng sa sút, và những gì chúng tôi tin tưởng lúc khởi hành cũng dần dần nhạt phai.  Nhất là khi trên nền trời hiện ra nhiều vì sao mới, sáng sủa hơn, đẹp đẽ hơn, gần gũi hơn.

Thế nhưng chúng tôi cũng bám vào ngôi sao ban đầu, bám vào một cách cố chấp, vì chúng tôi đã tự hứa sẽ trung thành với ngôi sao đã thúc dục chúng tôi lên đường.

Rồi chuyện bi đát đã xảy ra: Ngôi sao của chúng tôi đã biến mất.  Bây giờ chúng tôi mới thực sự cô đơn.  Ba chúng tôi nhìn nhau không dám nói một lời.  Chúng tôi không tìm ra lời nào để khích lệ nhau.  Đức tin thúc dục chúng tôi đi tới, lý trí bảo rằng chúng tôi phải quay về.  Và chúng tôi im lặng đi bên nhau, cô đơn giữa những người cùng chí hướng.  Chúng tôi bước đi trong đêm tối, đêm tối trên trời, và đêm tối trong lòng.  Với tâm trạng đó, chúng tôi tiến về Giêrusalem.

Đến Giêrusalem, chúng tôi cảm thấy mình như rồ dại.  Chúng tôi chờ đợi một Giêrusalem tưng bừng mở hội đón chào đấng Messia, nhưng trái lại chúng tôi bắt gặp một Giêrusalem hờ hững.  Giêrusalem là nơi phát xuất Kinh thánh, là nơi của Lời hứa, vậy mà Giêrusalem chẳng hay biết gì cả.  Điều này chứng tỏ rằng chúng tôi đã sai lầm, chúng tôi đã bị một ngôi sao vớ vẩn nào đó đánh lừa. Nhưng dù sao, chúng tôi vẫn tiếp tục.  Chúng tôi sẽ đi ngược lại với mọi chứng cớ, vì chúng tôi là những người đã bị một vị sao trên trời cuốn hút; chúng tôi không thể lùi lại.  Chúng tôi sẽ là những người khôn ngoan nhất hoặc sẽ là những người rồ dai nhất.

Chúng tôi phải bước tới.  Đến gặp Hêrôđê.  À! thì ra cũng còn một người thức tỉnh.  Ông niềm nở đón tiếp chúng tôi, ông cho gọi các luật sĩ đến chỉ đường cho chúng tôi về Bêlem; ông mời chúng tôi trở lại báo tin cho ông biết để đi thờ lạy …

Mãi sau này chúng tôi mới biết được rằng vì quyền lợi mà ông thức tỉnh chứ không phải vì niềm tin.  Thì ra người ta dễ dàng thức tỉnh vì quyền lợi hơn là vì niềm tin.  Bởi thế mà Hài Nhi đã bị kết án tử hình trước khi chúng tôi đến thờ lạy.

Chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình về Bêlem như những người say, dân chúng Giêrusalem đang tựa cửa đứng nhìn.  Chúng tôi đã bao nhiêu đêm ngày lặn lội đến triều bái vị vua mới sinh.  Còn họ, họ không buồn ngưng cuộc sống bình thường lấy một ngày để đến Bêlem kiểm chứng.  Phải chăng họ đã chờ đợi quá lâu rồi nên bây giờ không còn tha thiết gì nữa?  Phải chăng niềm tin của chúng tôi chỉ là ảo tưởng?

Lúc đến Giêrusalem, chúng tôi đã đi ngược lại quan niệm của những người bàng quan.  Giờ này về Bêlem, chúng tôi đi ngược lại với quan niệm của những người được tuyển chọn.  Dưới mắt mọi người, chúng tôi là những kẻ bất bình thường, nếu không phải là những người khờ khạo.

Và này, ngôi sao lại xuất hiện, chúng tôi nhìn nhau mỉm cười mà nước mắt tuôn trào.  Không! Ngôi sao xuất hiện không phải để chỉ đường, vì chúng tôi đã biết đường về Bêlem.  Ngôi sao xuất hiện không phải để củng cố niềm tin, vì chúng tôi vẫn tin tưởng, tin tưởng một cách ngoan cố, tin tưởng ngay trong lúc ngỡ rằng mình nghi ngờ.  Ngôi sao xuất hiện như một bằng chứng tình yêu đáp lại tình yêu.

Chúng tôi đã đến Bêlem dâng lên hài Nhi những của lễ vật chất kèm với tấm lòng thành của mình.  Chúng tôi đã tìm được kho tàng quí giá nhất.  Đối diện với hài Nhi, chúng tôi hiểu rằng, khi ra đi, chúng tôi đã không có một của lễ nào xứng đáng để dâng lên Ngài.  Chúng tôi quả đã mang theo vàng, nhũ hương và mộc dược.  Nhưng những của lễ đó hoàn toàn không có giá trị nếu không kèm theo những đau khổ, những cực nhọc, những lo âu, những thử thách, những đêm tối trong lòng.

Nhờ vậy mà chúng tôi đuợc thấy ánh sáng trong đêm Bêlem này.  Bây giờ chúng tôi có thể ra về, chúng tôi trở về rón rén, im lặng vì chúng tôi đã tìm được kho tàng mà những vị vua chúa không thèm, một kho tàng mà họ ghét bỏ và muốn tiêu diệt.

Vâng, Hêrôđê đã ra lệnh cho binh sĩ chỉnh tề gươm giáo.  Chúng tôi không trở lại với Hêrôđê, chúng tôi đã thất hứa.  Các bạn không trách chúng tôi chứ?  Chúng tôi đành thất hứa với một ông vua, chứ làm sao chúng tôi có thể phản bội hài Nhi.

Tôi tin rằng các bạn thông cảm với chúng tôi, bởi vì hành trình của chúng tôi cũng chính là hành trình của các bạn ngày hôm nay.  Hành trình của những người hướng về một ngôi sao có khi đã tắt, và âm thầm tiến về Bêlem.

B – NGƯỜI ĐẠO SĨ THỨ TƯ

Có lẽ tôi cũng cần phải lên tiếng, bởi vì nếu hôm nay tôi im lặng, tôi sẽ là một tên vô ơn bạc nghĩa nhất trên đời. Tôi là một người đã đến bên hài nhi với hai bàn tay trắng và đã nhận tất cả nơi Giêsu.  Tôi là một trong muôn ngàn người đến với Giêsu, nhận lấy thật nhiều rồi ra đi lặng lẽ.  Tôi là người đạo sĩ thứ tư, người đạo sĩ đến sau cùng và Phúc âm không đề cập đến.  Cố nhiên tôi cũng đã chuẩn bị một lễ vật dâng lên hài Nhi, nhưng vì lơ đễnh tôi đã để rơi rớt.

Ngày tôi phát hiện vì sao lạ, tôi đã mở kho tàng mình và lấy ra ba viên ngọc quí nhất để làm của lễ tiến dâng.  Tôi đã chậm trễ dọc đường nên không tới kịp như ba vị trước.

Trên đường đi, tôi đã gặp một cụ già hấp hối, đói rét và bệnh tật nhưng không có ai chăm sóc. Tôi đã yếu lòng nên lấy ra một viên ngọc để nhờ người chăm sóc cụ già ấy.  Đó là lý do đầu tiên làm tôi chậm bước.  Ngày hôm sau, tôi lên đường một mình.  Khi qua một khu rừng thưa, tôi nghe có tiếng thét thất thanh, tôi đã dừng lạc đà rồi tò mò chạy đến.  Tôi thấy có mấy tên côn đồ muốn hành hung một phụ nữ.  Tôi không đủ sức đánh chúng, nên đành phải rút viên ngọc thứ hai mà mua lấy tự do cho người bất hạnh kia.  Thế là tôi chỉ còn một viên ngọc cuối cùng.  Tôi quyết sẽ không phung phí vì bất cứ một lý do gì nữa. Nhưng rồi tôi lại không giữ được lời tôi nguyện.

Khi đến gần Bêlem, bỗng thấy lửa rực trời.  Những người lính của Hêrôđê đang giết những trẻ em.  Gần một ngôi nhà bốc lửa, một tên lính nắm xốc ngược một hài nhi định lấy gươm mà đâm thâu, và dưới chân là người mẹ quì khóc gào không ra tiếng…  Tôi bỗng quên lời hứa với chính mình và đem viên ngọc thứ ba trao cho tên lính để nó trả đứa bé lại cho người mẹ khốn cùng.  Thế là hết, tôi chẳng còn gì nữa.  Tôi đã đi bao nhiêu đêm ngày đến đây mong triều bái vị vua mới sinh, thế mà tôi lại đến với hai bàn tay trắng.  Dù sao thì tôi cũng phải đến để xin lỗi Ngài.

Tôi cúi mặt bước vào hang đá.  Tôi nghẹn ngào khi thấy vàng ròng, nhũ hương và mộc dược của những người đi trước tôi.  Tôi không còn lòng dạ nào nói lên lời xin lỗi.  Tôi quì xuống cạnh máng cỏ, úp mặt vào lòng bàn tay, mặc cho dòng nuớc mắt tuôn trào.

Nhưng kìa, sao nước mắt tôi hôm nay ấm thế?…  Không, không phải là nước mắt, nhưng là đôi tay ấm áp của Chúa Hài Nhi đang nắm lấy tay tôi.  Chúa Hài Nhi không lộ vẻ trách móc, nhưng nhìn tôi âu yếm, trên môi nở một nụ cười.  Và tôi cảm thấy tràn đầy bình an.  Tôi chợt hiểu rằng, tôi là người duy nhất lãnh nhận tất cả nơi Hài Nhi, bởi vì tôi chẳng có gì để tiến dâng cả.  Tôi hiểu rằng nếu tôi đến bên hài nhi với ngọc ngà châu báu thì có thể tôi đã trở về không, bởi vì lòng tôi đầy ắp tự mãn nên không còn chỗ để chứa chất bình an của Ngài.  Nhưng tôi đã đến bên hài nhi với đôi bàn tay trắng, và cõi lòng trống không, vì thế tôi đã nhận được bình an tràn đầy.

Vì thế mà hôm nay tôi bắt buộc phải nói lên một lời cảm tạ. Tôi muốn nói với các bạn rằng nếu bạn còn một của cải vật chất hay tinh thần nào đó mà bạn dành cho Hài Nhi, thì hãy phân phát cho người khác; các bạn hãy đến bên Hài Nhi như tôi, đến với sự khó nghèo trong lòng và với hai bày tay trắng, thì rồi các bạn sẽ nhận được tất cả.

Trần Duy Nhiên – Trích Chia Sẻ Giáng Sinh

From: suyniemhangngay1-& Anh chị Thụ Mai gởi

Rồi đây, mây trên đồi vắng,

“Rồi đây, mây trên đồi vắng,”
Lang thang tìm phiến đá xưa rêu mòn
Rồi đây, mưa ru ngàn lá
Mây bay mờ xoá, rừng thông lắng buồn.”

(Phạm Mạnh Cương –

-Mắt Lệ Cho Người Tình)

(Kh 7: 3/2 Cor 2: 14-16)

Trần Ngọc Mười Hai

Mây trên đồi vắng, mà lại thấy “mắt lệ cho người tình”, ôi thôi điều này chỉ thấy có ở thi-ca, âm-nhạc, mà thôi. Mắt lệ cho người tình, có khi cũng hơi khác như các đấng bậc ở nhà Đạo cũng từng nói. Thế nhưng, người nghệ sĩ ở ngoài đời, lại vẫn nói bằng câu ca/tiếng hát rất tình như sau:

“Tình anh, như thông đầu núi
Trăng thanh chìm suối, tháng năm vời vợi
Tình em, như sương chiều xuống
Mênh mông đồi núi, mờ trong bóng đêm.

Biệt ly, hôn nhau lần cuối
Trông nhau lần cuối, giá băng tơ trời
Bài hát chia phôi ban đầu
Vắng tiếng kinh chiều cầu cho tình ái.

Biệt ly, hôn nhau lần nữa
Xa nhau lần nữa, nói sao cho vừa
Chỉ thấy ánh mắt u hoài
Nuối tiếc ân tình, trọn đời khó phai.”

(Phạm Mạnh Cương – bđd)

Nơi nhà Đạo, các đấng bậc có nói nhưng không hát và cũng chẳng ngâm, nên các ngài vẫn nói hoài nói mãi những tiếng/giọng như sau:

“Khi nghe trong Bài Đọc Thứ Nhất tiếng của vị Thiên Thần kêu vang vang cho 4 Thiên Thần được ban cho quyền hủy-hoại cả đất liền lẫn biển khơi rằng: “Đừng hủy-hoại đất-đai, biển-khơi hay cây-cối” (Khải Huyền 7:3), thì chúng ta nhớ đến câu nói không phải ở Sách Khải Huyền mà ở trong lòng của mọi người: con người có khả năng làm điều ấy hơn thiên thần nữa kìa. Chúng ta có thể tàn phá Trái Đất này còn giỏi hơn các Thiên Thần.

Đó, thực sự là những gì chúng ta đang làm. Đó, là những gì chúng ta đang thực-hiện, ở chỗ chúng ta đang hủy-hoại thiên-nhiên tạo-vật, chúng ta đang tàn-phá sự sống, chúng ta đang tàn-phá các nền văn-hóa, chúng ta đang tàn-phá các thứ giá-trị, chúng ta đang tiêu-diệt niềm hy-vọng.

Chúng ta cần đến sức mạnh của Chúa biết bao, để chúng ta được niêm-ấn bởi tình-yêu của Ngài và quyền-năng của Ngài trong việc ngưng lại cuộc đua hủy-diệt điên-cuồng này!

Việc hủy-diệt những gì Ngài đã ban cho chúng ta, những gì tuyệt-vời nhất Ngài đã làm cho chúng ta, để chúng ta canh-tác, duy-trì, sinh lợi… Khi tôi ở trong hậu-cung-thánh nhìn thấy các bức tranh vẽ 71 năm trước (vẽ cảnh dội bom hồi Thế Chiến Thứ II ở miền San Lorenzo là nơi nghĩa-trang này tọa-lạc), tôi nghĩ rằng:

“Đó thật trầm trọng, thật đau thương. Nhưng vẫn không thể nào sánh với những gì đang xẩy ra hiện nay. Con người chiếm-hữu hết mọi sự, tin mình là chúa tể, tin rằng mình là vua chúa.

Rồi chiến-tranh, các cuộc chiến-tranh tiếp-tục bùng nổ, thật sự không phải là để giúp gieo-vãi hạt giống sự sống mà là hủy-hoại. Nó là một thứ kỹ-nghệ hủy-diệt. Nó cũng là một guồng máy của sự sống để rồi không chỉnh-sửa được sự vật thì loại-bỏ chúng đi, ở chỗ chúng ta đang loại-bỏ trẻ em, chúng ta đang loại-bỏ người già, giới trẻ bị loại-bỏ bởi chẳng có công ăn việc làm…

Cuộc tàn-phá này là hậu-quả của một thứ văn-hóa phế-thải. Chúng ta loại bỏ con người.”

(X. Lời Giảng Lễ Các Thánh Nam Nữ của ĐGH Phanxicô 1/11/2014 ở Nghĩa Trang Verano Rôma)

Nghe thế rồi, mời bạn và mời tôi, ta nghe tiếp lời ca do nghệ sĩ hát thêm, như sau:


“Rồi đây, anh như ngàn gió

Phiêu du từ đó biết đâu hẹn hò.

Rồi đây, em phương trời cũ,

Quê hương tình ái còn vương mắt lệ.

Tình yêu mong manh là thế,

Xa xôi là thế xót xa tình buồn.

Tình yêu thương đau từ đấy,

Dư âm còn đấy lệ trong mắt ai.”

(Phạm Mạnh Cương – bđd)

Và đây, khi nghe câu hát: “Anh như ngàn gió, phiêu du từ đó”, nên anh và tôi hoặc ai đó, lại sẽ phiêu du vào đất miền thần-học, có những vấn-đề thời-sự cần suy-tư như sau:

“Mọi đổi thay trong văn-hoá/xã hội ở thời này là vấn-đề lớn, rất khó giải. Vấn-đề ở chỗ: rất nhiều người, hôm nay lại cho rằng: mình có niềm tin đích-thật và cũng có người nghĩ rằng: mình chẳng có theo “đạo” nào hết. Những người này chỉ muốn bảo: chẳng tôn-giáo nào ta được biết lại tỏ-bày kinh-nghiệm về niềm tin sâu-sắc của chính mình, cách phù-hợp.

Thế nên, trong thống-kê dân-số gửi đến nhà cứ 5 năm một lần, khi được hỏi bạn theo tôn-giáo nào, thì nhiều câu trả-lời lại đề: không gì hết. Điều này không có nghĩa là: họ không có niềm tin. Điều này cũng có nghĩa: phương-cách cổ xưa để diễn-tả và rao-truyền niềm tin nay không còn như xưa nữa.

Điều này thực sự nói về niềm tin và tôn-giáo và mối giây liên-hệ của hai thứ. Tin là nhận-thức rằng mọi hữu-thể đều hiện-hữu. Với người có niềm tin, thì việc này nói về quan-hệ riêng-tư giữa con người và Thiên-Chúa.

Và, đó là kinh-nghiệm. Tôn-giáo là tập-hợp các truyền-thống, tin-tưởng, huyền-nhiệm, nghi-thức, đạo-đức/chức-năng, vv. Từng nói lên ký-ức tập-thể của niềm tin sống động kéo dài mãi như thế. Tôn-giáo và niềm tin không cùng một thứ. Tôn-giáo là việc tỏ-bày kinh-nghiệm ngày càng sâu sắc và phong-phú hơn bất cứ sự bày-tỏ nào cũng thế. Tôn-giáo là một tỏ-bày và là bày-tỏ niềm tin. Cả hai thứ đi chung với nhau và thường thì trộn-lẫn vào nhau.

Khi niềm tin lên cao tại một số nơi hoặc ở một số nền văn-hoá, niềm tin ấy mặc lấy văn-hoá theo nghĩa những sự-thể rất đạo-giáo đang diễn ra ở nơi đó. Niềm tin ấy mang dáng dấp hình-hài của những thứ và những sự xảy ra tại nơi đó. Niềm tin ấy còn mặc lấy thứ ngôn-ngữ địa-phương.

Và, thời-gian trôi mau, niềm tin lại sẽ biến môi trường này trở-thành của chính mình. Nó trở thành chiếc xe chuyên-chở mọi kết quả đạt được đem đến nhiều nơi khác. Và đi như thế, tôn-giáo cũng mang theo niềm tin với mình, nữa. Chìa khoá chính cho tương-quan giữa niềm tin và tôn-giáo là nắm bắt được rằng: niềm tin là kinh-nghiệm, còn tôn-giáo là việc bày-tỏ kinh-nghiệm ấy ra ngoài.

Niềm tin mà không có tôn-giáo cưu-mang và tỏ-bày, sẽ thiếu nhiều hỗ-trợ, giùm giúp. Tôn-giáo mà lại không có niềm tin sâu-sắc đích-thực ở bên trong, lại sẽ chết dần trong nguồn nước…

Có hai vấn-đề ở đây: Niềm tin như kinh-nghiệm nội-tâm mà không có sự tỏ-bày nhờ vào tôn-giáo sẽ đi đến kết-cuộc như một thứ tôn-thờ chủ-nghĩa Narcisse. Và, tôn-giáo mà không niềm tin sâu-sắc nội-tại, thì cũng sẽ chìm đắm biến mất trong các tín-ngưỡng chính-trị đang vượt trội ở nền văn-hoá địa-phương, sở tại.

Vậy thì, Hội-thánh/Giáo-hội thực sự cống-hiến những gì? Câu trả lời sẽ là việc sẻ-san trong đối-thoại chuyện-trò về kinh-nghiệm tin-tưởng. Một san-sẻ được tôn-giáo giúp đỡ bằng việc tiếp-nhận và thông-cảm.

Bằng vào ý-nghĩa của sự-thể mong-mang đầy tính người như thế, Thiên-Chúa yêu-thích đi vào nền văn-hoá có niềm tin tôn-giáo và có thể, Ngài cũng khởi-sự cuộc chuyện trò/trao-đổi với mức độ cũng rất mới.”

(xem Lm Kevin O’Shea CSsR, Lời Chúa Sẻ San Chúa nhật Cung hiến Đền thờ Latêranô năm A 9/11/2014)

Xem như thế, thì: niềm tin, tôn-giáo và văn-hoá luôn tháp-tùng, gộp chung trong cuộc sống vui tươi đằm thắm rất chất-lượng. Thế đó là thần học đi Đạo và ở trong Đạo. Thần-Học về kinh-nghiệm có niềm tin tôn-giáo đầy chất văn-hoá về Thiên-Chúa-Là-Tình-Yêu ở ngoài đời lại cũng  khác. Khác, theo cung-cách thực-tiễn và thựa-hành như sau:

Ở một đất nước giàu có của Châu Âu, có một cô ca sĩ rất nổi tiếng. Tuy mới chỉ 30 tuổi nhưng danh tiếng cô đã vang dội khắp nơi, hơn nữa cô có một người chồng như ý và một gia đình hạnh phúc mỹ mãn. Một lần, sau khi tổ chức thành công một đêm diễn, cô ca sĩ cùng chồng và con trai bị đám đông người hâm hộ cuồng nhiệt bao quanh. Mọi người tranh nhau chuyện trò với cô. Những lời lẽ tán tụng khen ngợi tràn ngập cả sân khấu.


Có người khen cô tuổi nhỏ chí lớn, vừa tốt nghiệp đại học đã bước chân vào nhà hát tầm cỡ quốc gia và trở thành nữ ca sĩ trụ cột của nhà hát. Có người tán tụng rằng mới có 25 tuổi mà cô đã được lựa chọn là một trong 10 nữ ca sĩ có giọng háy opera xuất sắc nhất thế giới. Có người lại ngưỡng mộ cô có người chồng tuyệt vời, một cậu con trai kháu khỉnh, dễ thương.

Trong khi mọi người thi nhau bàn luận, cô ca sĩ này chỉ im lặng lắng nghe, không thể hiện thái độ gì. Khi mọi người nói xong cô chậm rãi nói: “Trước tiên, tôi cảm ơn những lời ngợi khen của mọi người dành cho tôi và những người trong gia đình tôi.

Tôi hy vọng có thể chia sẻ niềm vui này với mọi người. Nhưng các bạn chỉ nhìn thấy một số mặt trong cuộc sống của tôi còn một số mặt khác, các bạn vẫn chưa nhìn thấy. Cậu con trai của tôi mà mọi người khen là bé kháu khỉnh, đáng yêu, thật bất hạnh, nó là 1 đứa trẻ bị câm. Ngoài ra, nó còn có một người chị tâm thần và thường xuyên bị nhốt ở nhà.”

Mọi người đều ngơ ngác, sửng sốt nhìn nhau, dường như rất khó chấp nhận một sự thật như thế. Lúc này, cô ca sĩ mới điềm tĩnh nói với mọi người: “Tất cả những chuyện này nói lên điều gì? Có lẽ chúng nói lên một triết lý, đó là, Thượng đế rất công bằng, ngài không cho ai quá nhiều thứ bao giờ.”

Thượng đế rất công bằng, ngài không cho ai quá ít, cũng không cho ai quá nhiều. Vì thế, đừng nên chỉ nhìn thấy hoặc ngưỡng mộ những thứ người khác có, mà nên nghĩ và trân trọng những thứ bạn đang có, cho dù đó không phải là những vinh quang tột đỉnh.

Vậy nên, nếu ai hỏi bạn “Bạn có hạnh phúc không?” Bạn hãy trả lời rằng : ”Mình hạnh phúc. Hạnh phúc theo cách mình sống và những gì mình đang có trên đời này”. (sưu-tầm và trích dẫn truyện kể của một người ký tên là ST trên mạng vi-tính, rất phổ-biến)

Suy-tư về kinh-nghiệm sống trong cuộc đổi đời ngày hôm nay, có thể là như thế. Như thế, cũng nói lên đôi điều về sự-kiện thực-tế chưa có giải-đáp cho thế hệ của kẻ tin ở đầu thế-kỷ 21 hiện giờ.

Cuộc đổi-đời thế-kỷ, nay lại được đấng bậc ở trên cao có nhận-dịnh rất đặc-thù nhân buổi họp mặt của thành-viên trong Bộ Dòng Tu hôm 27/11/2014, hôm ấy Đức Phanxicô có nói:

“Đi từ đề tài “Rượu mới trong các bầu mới”, Đức Thánh Cha khẳng-định rằng:

Chúng ta đừng sợ từ-bỏ các bầu rượu cũ, nghĩa là cần đổi mới những thói quen và cơ-cấu trong đời sống Giáo Hội, cũng như trong đời sống thánh-hiến, mà chúng ta nhận thấy không còn tương-ứng với những gì Thiên-Chúa yêu-cầu chúng ta ngày nay, để mở rộng Nước Chúa trong trần-thế: đó là những cơ-cấu mang lại cho chúng ta một sự bảo-vệ giả-tạo và ảnh-hưởng tiêu-cực tới năng-động bác-ái: đó là những tập-quán làm cho chúng ta xa lìa đoàn chiên mà chúng ta được sai đến và ngăn-cản không cho chúng ta nghe tiếng của những người đang chờ đợi Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô”.

Đức Thánh Cha cũng nhắc đến những nhược-điểm có thể gặp thấy trong đời thánh-hiến ngày nay, như: sự kháng-cự của một số thành-phần chống lại sự thay-đổi, sự suy-giảm sức thu-hút, nhiều người bỏ tu, sự mong manh của một số hành-trình đào-tạo, những cơ-cực vất-vả vì thi-hành các công tác và thừa-tác-vụ làm thương-tổn đời sống thiêng-liêng, sự khó hội-nhập vào các môi-trường và thế-hệ khác, sự thiếu quân-bình trong thực-thi quyền-bính và sử-dụng của cải…”

(xem G. Trần Đức Anh, op dịch tin Vatican 27/11/2014, đăng trên www.chuacuuthe.com trang chính ngày 27/11/2014)

Cảm-thông với lời nhận-định của đấng chủ-quản Hội-thánh một cách rộng và đem vào đời, còn là cảm-thông rằng: thời nào, cũng có đổi-thay. Đổi và thay, cả trong niềm tin, văn-hoá và tôn-giáo. Thay và đổi, không có nghĩa ta đi dần vào sự chết hoặc vào cái-gọi-là “văn-hoá của sự chết”. Đổi-thay/thay-đổi là lý-lẽ cuộc sống rất năng-động. Có như thế, cuộc sống của mọi người mới đứng vững và khá hơn lên.

Vẫn cứ mong, mọi thay và đổi sẽ theo hướng tích cực, rất tốt đẹp, hơn bao giờ. Trong chiều-hướng đó, cũng nên đi vào vườn hoa Lời Chúa, có những nhủ khuyên như sau:

Tạ ơn Thiên Chúa,

Đấng hằng cho chúng tôi tham dự cuộc khải hoàn trong Đức Kitô,

tạ ơn Người là Đấng đã dùng chúng tôi

mà làm cho sự nhận biết Đức Kitô,

như hương thơm, lan toả khắp nơi.

Vì chúng tôi là hương thơm của Đức Kitô dâng kính Thiên Chúa,

toả ra giữa những người được cứu độ cũng như những kẻ bị hư mất.

Đối với những người bị hư mất,

chúng tôi là mùi tử khí đưa đến tử vong;

nhưng đối với những người được cứu độ,

chúng tôi lại là hương sự sống đưa đến sự sống.“

(2 Cor 2: 14-16)

Trong chiều hướng nhận-định về cuộc đời có đổi thay như thế, cũng lại mời bạn và mời tôi, ta cứ thế hiên-ngang cất bước và hát lên rằng:

Rồi đây, anh như ngàn gió

Phiêu du từ đó biết đâu hẹn hò.

Rồi đây, em phương trời cũ,

Quê hương tình ái còn vương mắt lệ.

Tình yêu mong manh là thế,

Xa xôi là thế xót xa tình buồn.

Tình yêu thương đau từ đấy,

Dư âm còn đấy lệ trong mắt ai.”

(Phạm Mạnh Cương – bđd)

Hát thế rồi, ta bồi thêm cho bài viết bằng một đoạn truyện kể ngăn ngắn để minh-hoạ cho những chuyện được đề-cập, hôm nay:

“Trong Dòng khắc-kỷ/khổ-tu nọ, các thày sống ở đây luôn luôn phải tịnh-khẩu để cầu nguyện trong thinh-lặng. Duy, chỉ được phát-biểu khi được phép, chí ít là không bao giờ được yêu-cầu có được điều gì để trau-dồi bản thân.

Trong bữa cơm thân-mật hôm ấy, một thày Dòng thấy trong tô cháo mình ăn có con chuột nhắt chết phỏng từ hồi nào. Gặp sự thể như thế, hỏi rằng thày phải làm gì bây giờ? Than-phiền ư? Đổ đi hay tiếc rẻ nuốt vào bụng, sau một ngày mệt nhừ vì lao-động công-ích. Bất chợt, thày Dòng ấy bèn ngồi im, nhắm tịt mắt và suy-nghĩ một hồi.

May quá, thày tìm ra được giải-đáp để có được bát cháo khác mà không lỗi luật Dòng. Thày bèn giơ tay xin phép nói, thấy thế Bề Trên hỏi:

-Thày A…, thày có điều gì muốn nói, thế?

-Dạ thưa Bề Trên, các thày ngồi quanh bàn con đây đều thiếu con chuột chết trong bát cháo…”

(tiếu-lâm chay/mặn kể  trên mạng…)

Thế đó, là văn-hoá thời xưa cũ. Thế đó, còn là tinh-thần tu-trì tu-đúc rất văn-minh, của một thời. Thời đại ít thấy đổi-thay nhưng mọi người vẫn sống văn-minh, văn-hoá sống cả kinh-nghiệm niềm tin tôn-giáo rất tốt đạo, đẹp đời. Ở muôn nơi.

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn nhớ ngày xưa cũ

Có văn hoá, văn minh

Của niềm tin tôn-giáo

Rất thời-thượng.

Làm êm ấm đôi ngày xuân trống trải

“Làm êm ấm đôi ngày xuân trống trải”
Tôi lắng đợi! Nhịp lòng tôi đứng lại!
Tôi cần tin! Tôi khao khát được nhầm!
Cho tôi mơ một ảo tưởng thâm trầm,
Và mặc kệ, nếu đó là dối trá!

(dẫn từ thơ Xuân Diệu)

Lc 2: 22-40

Mai Tá diễn dịch

Nhà thơ nay đà biết nói: ông cần tin. Và, ông cũng khao khát được nhầm lẫn, có ảo tưởng. Rất thâm trầm. Nhầm lẫn – ảo tưởng – thâm trầm, thế mà ông vẫn cần đến niềm tin. Dám hỏi nhà thơ, ông nay có tin, như tin vào tình yêu của Đức Chúa. Tin rất nhiều, hơn tình của đôi ta. Rất uyên ương. Không oan trái. Như trình thuật nay diễn giải.

Trình thuật hôm nay, diễn giải là diễn nghĩa và giải thích về thánh gia. Gia đình của Chúa tuy rất thánh nhưng vẫn giống mọi gia đình. Tức, có thăng có trầm. Có lúc vui buồn, nhiều trầm lắng. Lắm ưu tư. Ưu tư nhất, là khi Mẹ chứng kiến nỗi chết nhục hình của Con Mình, trên thập giá. Ưu tư không kém, như thánh cả Giu-se âm thầm suy tư về ý định của Thiên Chúa.

Là thành viên của Thánh Gia, Mẹ và thánh cả Giuse cũng đã hốt hoảng khi Con của Mẹ “biến mất” nơi Đền thánh, những 3 ngày. Sau buổi ấy, Con của Mẹ, nay thuộc về gia đình mới. Gia đình thế giới. Chí ít, của những người quyết noi theo phương cách Ngài hằng chỉ dẫn. Ngài chỉ dẫn bằng dụ ngôn, truyện kể. Bằng diễn giải, nhủ khuyên khi Ngài quả quyết: là mẹ và là anh chị, chỉ những người biết lắng nghe và làm theo ý của Cha. Là, những người trong đó, có cả Mẹ. Bởi, không ai nghe và giữ Lời Chúa, cho bằng Mẹ.

Trình thuật hôm nay, đích thực kể về việc dâng tiến Chúa nơi Đền thánh. Là người con lớn trong gia đình, Đức Giêsu cũng phải thi hành luật lệ của người Do Thái, tức: dâng tiến chính mình Ngài cho Đền Thờ cho Cha Ngài. Điều này, để biết rằng: cả cuộc đời Ngài còn là quà tặng từ Thiên Chúa. Rằng, Thiên Chúa là Đức Chúa của mọi cuộc sống, mọi sinh vật trong cõi đời. Người thiếu niên Giêsu, một khi thuộc về Thiên Chúa, lẽ đáng cũng phải theo nghi tiết mang tiền vàng, dâng Chúa Cha, nơi Đền thánh.

Và lần này, thiếu niên Giêsu lên Đền, lại được gặp các đấng thánh như cụ Simêôn và Anna đón tiếp vồn vã, thân mật. Và cụ ông Simêôn, tràn đầy Thánh Thần Chúa, giữ lời hứa ban xưa, nên đã nói:

“Muôn lạy Chúa, giờ đây theo như lời Ngài hứa, xin để tôi tớ Chúa được ra đi trong an bình. Vì chính mắt con nay được thấy ơn cứu độ Chúa dành sẵn cho muôn dân: Đây chính là nguồn sáng soi dọi cho dân ngoại. Ngài là vinh quang của Ít-ra-en con Dân Ngài.” (Lc 2: 29-32)

Nhưng sự thật, thì tất cả đều đã không là ánh sáng. Bởi, người thiếu niên đây sẽ “là duyên cớ cho nhiều người Ít-ra-en ngã xuống, hay trỗi dậy. Như thế, có nghĩa: Đức Chúa là cội nguồn của sự sống. Ngài chính là ơn cứu thoát cho muôn dân. Đồng thời, Ngài lại là cớ vấp phạm cho những người tự khiến mình đui mù, bằng những cản ngăn con đường Ngài đưa dẫn mọi người đến sự thật. Đến, tình yêu thương. Như cụ ông Simêôn, từng nói trước.

Với ngôn sứ Anna cũng thế. Nhìn thiếu niên Giê-su, oai phong dũng mãnh, bà cũng nói về Ngài thay cho hết mọi người lâu nay từng mong chờ ngày Ngài “giải cứu Giê-ru-sa-lem”. Có nhà thần học tu đức nọ, từng nói về cách thức thánh Luca viết sử, như sau:

“Thánh sử Luca, qua sắp xếp bố cục trình thuật Kinh Thánh, để nói lên rằng: cả nam lẫn nữ, ta đều có thể đứng thẳng người lên và đến gần bên Thiên Chúa. Là nam hay nữ, ta vẫn ngang đồng hưởng vinh quang và ân sủng của Thiên Chúa. Bởi cả hai, ta đều được phú ban, cùng một ân huệ. Nhận lãnh cùng một trọng trách.”

Trong bầu khí đầy tràn tình thương yêu và niềm hy vọng, thân phụ và thân mẫu Đức Chúa thời niên thiếu, đã về lại Nadarét với Con của Mẹ. Ở nơi đó, Ngài lớn lên trong khôn ngoan và tràn đầy ân sủng cùng tình thương yêu của Chúa Cha. Ở nơi Ngài, nền tảng vững bền cho công việc mai sau, được dựng xây. Điều này, chứng tỏ cho ta thấy: trải bao năm tháng, Đức Giê-su đã trưởng thành trong cung lòng đầy tình thương của thân phụ và thân mẫu, dẫu người phàm.

Và những gì là sự thật về Đức Giê-su, cũng là sự thật cho chúng ta. Nghĩa là, môi trường sống có gia đình yêu thương trân trọng, vẫn là môi trường quan yếu cho cuộc sống. Nhiều người có cảm tưởng, là: nhiều nơi trên thế giới, tại các nước được gọi là “đã phát triển”, đời sống gia đình đang ở vào tình cảnh khốn khó, có vấn đề. Nhưng ngược lại, những ai thường xuyên tiếp cận với giới trẻ hôm nay, đều thấy được tình hình của nhiều người trẻ, vẫn tương quan tốt, với gia đình.

Vấn đề là, các bậc cha mẹ nào kỳ vọng rằng con cái mình, chúng biết kính trọng, có hiếu đễ, dễ vâng lời cha mẹ, mà lại chẳng cần đòi hỏi gì nhiều về các xử sự của chúng, cho đúng cách? Trên thực tế, nhiều bậc cha mẹ ngày hôm nay lập ra các tiêu chuẩn gấp đôi, hy vọng rằng ít ra con cái mình cần thực thi chỉ một thôi, cũng mãn nguyện.

Thế nhưng, thực tế cuộc sống hôm nay, đòi hỏi nhiều nơi cha mẹ biết kềm chế rất nhiều, mới mong tạo gương mẫu cho các con. Kềm chế cãi vã, và tranh luận. Kềm chế, trong việc bỏ quá nhiều thì giờ để làm ăn thay vì gần gũi với con cái. Đôi khi, còn phải biết hy sinh thì giờ và tiền bạc, cố lắng nghe lập trường và ý kiến của con mình.

Một số người cha trong gia đình, còn có kinh nghiệm thương đau, như một ông bố vẫn muốn giáo dục con trai mình, cho nên người. Nhưng hễ ông bước vào phòng để nói chuyện với con, thì con ông lại bỏ đi chỗ khác, để khỏi nghe. Đến độ, bạn bè khuyên ông: hãy tìm cách cảm thông với ước muốn của con mình, hơn là bắt con mình làm theo ý muốn của riêng ông.

Ông bố cứ bảo: “Tôi cảm thông với tính tình của con tôi, lắm đấy chứ. Nhưng vấn đề ở đây, là: phận làm con, là phải biết tôn kính cha mẹ, biết trân trọng những gì chúng tôi làm cho chúng.” Bạn bè đành đề nghị một phương án khác:

“Nếu con ông không cởi mở/dễ bảo, thì hãy cứ cho đi là ông chưa cảm thông với con cái và có lẽ chưa bao giờ ông biết cảm thông, và cũng chưa từng muốn thử, và dự định sẽ thử. Nếu thế, hãy tìm cách, một lần nữa, biết cảm thông với chúng.” Nghe điều đó, người cha nọ, đã làm thử. Ông chịu khó lắng nghe con mình, một cách vô điều kiện. Thế rồi, cả hai cha con đã học hỏi lẫn nhau. Học nhiều bài học, hơn trước”.

Cuối cùng thì, cấu trúc gia đình của tín hữu Đức Kitô phải được thiết lập theo ánh sáng Tin Mừng, như một thị kiến của cuộc sống. Thế giới hôm nay, có quá nhiều áp lực từ xã hội. Đôi khi, ta cũng quá đeo bám vào truyền thống cứng ngắc, của người xưa. Có lẽ, cả Hội thánh nói chung, chứ không là từng gia đình riêng lẻ, cũng nên giải quyết vấn đề thông cảm không chỉ giữa các thế hệ thành viên trong gia đình mà thôi; mà là, cho toàn thể xã hội nữa.

Chẳng cần phải tranh cãi, phẩm chất của bất cứ xã hội nào cũng tuỳ thuộc vào chất lượng của cuộc sống gia đình. Xã hội hiện hữu vì gia đình. Gia đình cũng hiện hữu vì và cho xã hội. Trừ phi tương quan của hai phần này liên đới phụ thuộc vào nhau đều được biết đến, còn không thì thị kiến của Vương quốc Nước Trời, sẽ lại trở nên ngang trái, đối nghịch.

Cảm nghiệm điều đó, ta quyết duy trì niềm tin yêu, hăng say mà vui hát; hát rằng:

“Cùng đi lay Trường Sơn

Cùng đi xoay Hoành Sơn

Cùng đi biến rừng hoang ra lúa thơm

Vượt khơi ra đảo xa,

Lướt ngàn nước sang nhà

Ta đắp bồi cho Mẹ Cha.”

(Nguyễn Đức Quang – Về Với Mẹ Cha)

Cùng đi, đi để về với Mẹ, với Cha. Với gia đình, có Chúa Cha. Cũng vẫn là, lý tưởng của mọi người con. Con trong gia đình. Con Chúa. Con của Mẹ Hiền, có thánh gia. Chẳng cần “trông đợi”, chẳng mơ về “những ảo tưởng thâm trầm”, của cuộc sống.

Lm Frank Doyle sj

Mai Tá diễn dịch

Cảm Nghĩ Tuổi Già

Cảm Nghĩ Tuổi Già
” How a Man Ages ”
Curtis Pesman

Tất cả chúng ta người trước kẻ sau ai rồi cũng phải già. Làm sao tránh được! Ðã có “sinh” là có “lão”. Một giai đoạn tất yếu của cuộc sống. Nếu ngày đầu tiên mình sinh ra mà đã biết nghe, biết nói, nếu có ai bảo rằng mỗi ngày mình lớn lên là một ngày mình sẽ già đi, và tiến dần về cõi chết, chắc chắn là mình đã không tin.……
Nếu bỏ qua các giai đoạn chuyển tiếp từ tuổi 20 đến tuổi 60 mà chỉ so sánh một người đã quá 60 với thời anh mới 20 tuổi, thì theo Curtis Pesman, tác giả cuốn ” How a Man Ages ,” ta có thể ghi nhận những thay đổi như sau:
• Da mỏng hơn và chùng xuống, độ co giản của da càng ngày càng giảm sút, và qua nhiều năm tháng biểu lộ vui, buồn, sướng, khổ, những nét nhãn trên mặt đã hằn sâu và lớn.
• Tóc bạc, thưa, và nhẹ hơn, đường kính của tóc chỉ còn 86 microns (1 phần triệu của 1m) so với 101 microns hồi 20 tuổi.
• Hai tròng mắt bị co lại, mức độ ánh sáng vào đến võng mạc giảm đi, khó phân biệt được sự vật trong tối, do đó mà khi đọc cần phải có ánh sáng đủ.
• Tai không còn nghe được tiếng động trên tầm 10,000 hertz, như tiếng hót của chim, vì chức năng chuyển thể độ rung từ tai ngoài vào tai trong đã suy thoái.
• Men răng càng ngày càng mòn dần vì quá trình nhai, nghiến, trong khi đó lợi răng co rút lại làm lộ rõ khoảng trống giữa các chân răng.
• Xương mất dần calcium, trở nên xốp, dòn, dễ gãy, lớp sụn ở các đầu khớp không còn nguyên vẹn, chất nhờn giữa các khớp khô đi, sinh ra di chuyển chậm, khó khăn.
• Tim không còn bơm đủ máu ra khắp châu thân, một phần do cholesterol đóng dày trên thành động mạch nên tim phải hoạt động nhiều hơn mới bơm được máu đi.
• Các cơ bắp làm cho phổi hoạt ðộng bình thường suy yếu dần, độ co giản của lồng ngực yếu đi, làm cho lượng dưỡng khí hít vào chỉ còn bằng một nửa thời 20 tuổi.
• Trọng lượng của thận giảm từ 20% ðến 30%, sức lọc chất thải của thận chỉ bằng nửa hồi trẻ, và sức chứa của bọng đái cũng chỉ còn chừng một nửa (8 fluid ounces, khoảng non 230cl).
• Với năm tháng qua đi, khối não cũng rút nhỏ lại và giảm trọng luợng, hàng tỷ tế bào não bị mất đi, trí nhớ bị giảm sút……
Hôm nay ta còn sống, còn nói cười, còn nghĩ mình cứ sống mãi, sống hoài để tận hưởng những lạc thú của trần gian, để hơn thua, vênh váo, được mất với đời. Nhưng khi nhắm mắt rồi, cát bụi lại trở về với cát bụi.

Thánh Kinh nói:
Tính tuổi thọ trong ngoài bảy chục,
Mạnh giỏi chăng là được tám mươi,
Mà phần lớn chỉ là gian lao khốn khổ,
Cuộc đời thấm thoát chúng con đã khuất rồi .
(Tv 89, 10)

Nhưng Thánh Kinh cũng nói
“ Người công chính vươn lên tựa cây dừa tươi tốt, lớn mạnh như hương bá Li-băng được trồng nơi nhà Chúa, mơn mởn giữa khuôn viên đền thánh Chúa ta: già cỗi rồi vẫn sinh hoa kết quả, tràn đầy nhựa sống, cành lá xanh rờn, để loan truyền rằng: Chúa thực là ngay thẳng, là núi đá cho tôi ẩn náu, nơi Người chẳng có chút bất công ” (Tv 92,13-16).

Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cũng nói: “ Được sống đến tuổi già là một ân huệ. Không phải vì tất cả mọi người có thể sống đến tuổi này, nhưng vì trước hết, tuổi già cho chúng ta khả năng đánh giá quá khứ, được hiểu và sống mầu nhiệm Phục sinh một cách sâu xa hơn, và được trở nên kho tàng kinh nghiệm quý báu cho Giáo hội ”.

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

Giáo sư Châu: ‘Giam Bọ Lập tạo hình ảnh xấu’

Giáo sư Châu: ‘Giam Bọ Lập tạo hình ảnh xấu’

Bọ Lập và Giáo sư Ngô Bảo Châu

Giáo sư Ngô Bảo Châu cho rằng việc bắt giam ông Nguyễn Quang Lập tạo hình ảnh xấu về VN.

Giáo sư Ngô Bảo Châu và hai đồng nghiệp là các nhà khoa học Việt Nam từ Hoa Kỳ vừa gửi thư ngỏ cho chính quyền đề nghị cho nhà văn Nguyễn Quang Lập, tức blogger Bọ Lập chủ trang mạng Quê Choa, được ‘tại ngoại hầu tra’ vì lý do sức khỏe và cho rằng vụ bắt giữ này gây ‘hình ảnh xấu’ về Việt Nam trên trường quốc tế.

Bức thư ngỏ xuất hiện trên mạng hôm thứ Sáu gửi người nhận là Bộ trưởng Bộ Công an Trần Đại Quang, Viện trưởng Viện Kiếm sát Nhân dân Tối cao Nguyễn Hòa Bình và Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao Trương Hòa Bình do ba người đồng ký tên là các giáo sư Ngô Bảo Châu, Đàm Thanh Sơn và Vũ Hà Văn, viết:

“Chúng tôi được biết Cơ quan An ninh điều tra Công an TP.HCM đã bắt giữ ông Nguyễn Quang Lập, nhà văn, và đang tiến hành điều tra. Chúng tôi viết thư này đề nghị các quý cơ quan cho nhà văn Nguyễn Quang Lập được tại ngoại trong quá trình điều tra, vì những lý do sau:

“Qua các tác phẩm và bài viết của nhà văn Nguyễn Quang Lập mà chúng tôi đã đọc, chúng tôi cảm thấy rằng ông là một người có tâm với đất nước.

” Chúng tôi e rằng việc tạm giam ông Lập trong tình trạng sức khoẻ như vậy tạo ra một hình ảnh xấu về Việt Nam trên trường quốc tế

Ngô Bảo Châu, Đàm Thanh Sơn và Vũ Hà Văn”

Ông Nguyễn Quang Lập sức khoẻ yếu, bị liệt nửa người từ hơn 10 năm nay. Chúng tôi thấy việc tạm giam ông Lập không phản ánh đúng tính nhân đạo của hệ thống pháp luật và xã hội Việt Nam.

“Chúng tôi e rằng việc tạm giam ông Lập trong tình trạng sức khoẻ như vậy tạo ra một hình ảnh xấu về Việt Nam trên trường quốc tế.

“Chúng tôi tin rằng các cơ quan điều tra có đầy đủ các biện pháp ngăn chặn khác để việc ông Nguyễn Quang Lập tại ngoại không làm ảnh hưởng đến công tác điều tra.”

Và bức thư của ba nhà khoa học từ Mỹ kết luận:

“Vì những lý do trên, chúng tôi khẩn thiết đề nghị các quý cơ quan cho nhà văn Nguyễn Quang Lập được tại ngoại trong quá trình điều tra.”

‘Thả ngay lập tức’

” Nhà văn Nguyễn Quang Lập đã dấn thân vì sự tiến bộ của xã hội

Nhà báo Huy Đức, Tp HCM”

Hôm thứ Sáu, trên Facebook của mình, nhà báo Huy Đức cũng đưa tin về bức thư của ba nhà khoa học này và mô tả điều ông gọi là “Đêm qua, một đại biểu Quốc hội (chưa muốn nêu tên) cũng cho biết là ông đã gửi thư tới Bộ trưởng Công an Trần Đại Quang đề nghị thả các bloggers trong đó có nhà văn Nguyễn Quang Lập.”

Hôm 17/12, nhà báo này viết: “Từ khi nhà văn Nguyễn Quang Lập bị bắt, tôi đã ứng xử như một người bạn, thận trọng, kiên nhẫn, chỉ mong anh được tự do.

“Hôm nay, khi biết cơ quan Điều tra đã tống đạt tới anh quyết định khởi tố theo điều 88 của Bộ luật Hình sự với phê chuẩn tạm giam 4 tháng của VKS, tôi quyết định ký Yêu cầu trả tự do cho anh.

“Nhà văn Nguyễn Quang Lập đã dấn thân vì sự tiến bộ của xã hội, tôi không có quyền ứng xử như ở chốn riêng tư; tôi ký với tư cách một công dân chịu ơn những cống hiến của nhà văn Nguyễn Quang Lập cho đất nước.”

Mới đây, một thư kiến nghị ngỏ của quần chúng và nhiều nhân sỹ, trí thức, các nhà hoạt động văn hóa, xã hội trong và ngoài nước ở Việt Nam đã yêu cầu chính quyền thả tự do cho ông Lập ngay lập tức.

Tính cho tới ngày 19/12, theo thống kê đã có gần một nghìn chữ ký được thu thập dưới bức thư.

Ở Việt Nam thì nói phải ngó trước ngó sau, hỏi sao các vị tiến sĩ, giáo sư thật sự giỏi đều ra nước ngoài Độc giả Huy, BBC Vietnamse Facebook

Hôm 17/12, em trai ông, nhà văn Nguyễn Quang Vinh, viết trên Facebook cá nhân rằng đã có quyết định khởi tố anh trai ông theo điều 88 về tội Tuyên truyền chống Nhà nước.

Người bị kết tội theo điều 88 có thể nhận án tù từ ba đến 20 năm.

Giáo sư Ngô Bảo Châu đã từng gửi thư tới quốc hội Việt Nam để phản đối dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên và nói với BBC ông không nhận được hồi âm gì trong nhiều tháng sau khi gửi thư.

Trong vụ án Cù Huy Hà Vũ, Ngô Bảo Châu nói ông “vốn không đặc biệt hâm mộ” ông Cù Huy Hà Vũ, nhưng cho rằng ông Vũ là “ một con người không tầm thường“.

Giáo sư Châu cũng được chú ý nhiều khi từng chỉ trích chính quyền và tòa án rằng họ đã “cố tình làm mất thể diện quốc gia” khi “bắt ông Vũ vì hai bao cao su đã qua sử dụng”, xử “nửa công khai, nửa bí mật”, và “từ chối thực hiện thủ tục tố tụng”.

Sau vụ bình luận gây nhiều tranh cãi này, vào ngày 11 tháng 4, 2011, blog cá nhân của GS. Ngô Bảo Châu có tên Thích học toán tạm đóng cửa và đặt ở chế độ cá nhân, tuy sau đó một thời gian đã được mở lại.

Giáo sư từng nhận giải toán học Fields cũng từng bình luận về một số ý kiến “cứ thắc mắc về chuyện ông là lề trái hay lề phải.”

”Xin thưa, bám theo lề là việc của con cừu, không phải việc của con người tự do”, Giáo sư Châu bình luận.

NHẮN GỞI BẠN GIÀ

NHẮN GỞI BẠN GIÀ

Hởi các bạn già của tôi ơi!

Đừng có tủi thân, hoặc trách đời

Thời gian, năm, tháng, qua nhanh lắm

Hãy sống từng giây phút tuyệt vời.

Bao năm lăn lóc, cũng đủ rồi

Bôn ba thời vận, sống nổi trôi

Nhục vinh, sướng khổ, đều có cả

Giờ chỉ mình ta, với đất trời.

Cuộc đời là thế đó bạn ơi

Có trách, có than, cũng đã rồi

Chỉ gây mâu thuẫn, thêm buồn khổ

Chẳng ích lợi chi, lúc cuối đời.

Buông bỏ hết đi, cất làm gì

Để hồn thư thả, lúc ra đi

Tiền bạc, lo âu, giờ vô nghĩa

Hận thù, xung đột, chẳng ích chi.

Thời gian còn lại, có là bao

Hãy cố vui lên, chớ u sầu

Thực hiện những gì mình mơ ước

Để đừng hối tiếc, lúc lìa nhau.

Sức khoẻ, niềm vui, lúc tuổi già

Là liều thuốc bổ, chẳng gì qua

Tình thương, tha thứ là sức mạnh

Hạnh phúc, bình an, đến mọi nhà!

Chiếc lưỡi liềm rỉ sét

Chiếc lưỡi liềm rỉ sét

Nguoi-viet.com

Tạp ghi Huy Phương

“Ông lão dắt trâu đi bừa
Là con ông lão ngày xưa đi cày.”
(Trần Ngọc Thụ)

Biểu tượng của Đảng Cộng Sản Việt Nam hiện nay là lá cờ búa và liềm màu vàng trên nền đỏ, một biểu tượng cho liên minh công nhân và nông dân, được các tay tổ Cộng Sản Karl Marx, Engels bày ra trong thời Cách Mạng Nga năm 1917 để thu hút tầng lớp dân cày và công nhân.

(Hình minh họa: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)

Tại Việt Nam, người nông dân Việt Nam tự ngàn xưa đã phải “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” nghe lời dụ dỗ của Hồ Chí Minh, coi như đảng của giai cấp mình, “bỏ trâu cày theo tiếng loa vang” như lời giục giã của nhạc sĩ Cộng Sản Nguyễn Hữu Ba, một người đã được miền Nam trọng dụng dạy ở trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn. Sau này tên văn công Tôn Thất Lập cũng đã ăn cắp ý này mà viết: “Hát cho anh nông dân bỏ cày theo tiếng loa vang!”

Tôi sinh ra và lớn lên trong một làng nhỏ, nghèo của miền Trung, người giàu có năm mười mẫu ruộng, phần lớn nông dân là tiểu nông có khi chỉ có năm bảy sào đất, nhưng làm thuê, gặt mướn cũng no đủ sống qua ngày. Tuy chân lấm tay bùn, mỗi năm nông dân cũng có những ngày lễ Tết, hội Hè vui chơi, trong nhà quanh năm có thể thiếu gạo, nhưng cũng khoai sắn, ngô đậu đầy bồ.

Hẳn chúng ta còn nhớ đến tội ác “cải cách ruộng đất” ở vùng “giải phóng” Bắc Việt, cũng không quên chế độ hợp tác xã tại cả hai miền, khi nông dân bị “tình nguyện” giao trâu bò và các nông cụ chủ yếu như cày bừa, máy bơm nước cho hợp tác xã, để trở thành những người làm thuê cho đảng. Nông dân trở thành nô lệ được chấm công lao động, năm nào cũng thiếu điểm, đói ăn, phải vay mượn, và còng lưng nuôi “trâu đỏ,” (1) chủ nhiệm và ban quản trị của đoàn, đảng, lúc nhúc như bầy sâu bọ, ngồi mát ăn bát vàng trên mồ hôi, nước mắt của nông dân, “mỗi người làm việc bằng hai để cho chủ nhiệm mua đài, mua xe.”

Khi không còn tư hữu, “cha chung không ai khóc,” ai cũng làm lấy lệ thì sản xuất phải trì trệ, mà trong tình trạng ấy, Nguyễn Văn Tý, người nhạc sĩ những ngày đầu lãng mạn, viết nên “Dư Âm,” đã vì cơm áo, tem phiếu còn can đảm ca tụng sản xuất miền Bắc cường điệu với “Bài Ca Năm Tấn.”

Sau khi thống nhất, đặt cả nước dưới ách cai trị của mình, Cộng Sản đã ca tụng “liên minh công-nông tiên tiến, đưa đất nước ta vững bước vào thiên niên kỷ thứ ba trong sự lãnh đạo tài tình của đảng thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,” nhưng mô tả về chân dung người nông dân hiện nay, ông Lê Quốc Cường, chủ tịch Hội Nông Dân, cũng phải thú nhận, “Nông dân Việt Nam vẫn đứng đầu với năm cái nhất đó là: đông nhất, nghèo nhất, nhiều bức xúc nhất, hy sinh nhiều nhất và hưởng lợi từ đổi mới ít nhất.”

Theo Vụ Trưởng Vụ Kinh Tế Trần Hữu Hiệp thì, “Nói chung, thu nhập nông dân hiện rất thấp trong bối cảnh vật giá leo thang, mọi mặt hàng tiêu dùng đâu có hạ giá trong khi nông dân bán lúa bị hạ giá. Mà một phần cũng tại “ông hiệp hội” cứ ép giá khiến nông dân phải bán lúa rẻ, nên chịu khổ. Nông dân giờ ở đâu cũng đều khổ hết! Đời nào cũng khổ.” Ngày nay mức thu nhập của một nông dân ra sao? “Lợi nhuận của nông dân (nếu có) chia cho số nhân khẩu trong hộ còn thấp hơn mức thu nhập $1/người/ngày!”

Theo Ngân Hàng Thế Giới (WB), năm 2013, GDP bình quân đầu người của Việt Nam là $1,910; Lào $1,645; Cambodia $1,007; Miến Điện $900. Nếu theo ông Trần Hữu Hiệp thì bình quân thu nhập mỗi nông dân Việt Nam, mỗi năm chỉ có $365.

Như vậy, dưới thời Cộng Sản, số phận nông dân càng bi thảm hơn: “Vẫn không thoát khỏi bi kịch khốn khổ, buồn đau bởi nghèo đói và đủ thứ đè nén, lừa gạt,” như một “điềm báo” cho thân phận dân oan Đoàn Văn Vươn.” (TS. Nguyễn Lân Dũng, Dân Trí)

Nông dân ở Đơn Dương, Lâm Đồng, mang cà chua vừa hái đổ ra đường vì không có người mua. Ở Quảng Ngãi rau cải rẻ như bèo, nông dân phá đổ cho bò ăn hay cào đốt làm phân. Trong khi tình trạng này xảy ra nhiều nơi với đủ loại rau trái, thì Việt Nam, mỗi năm, chi khoảng $350 triệu để nhập cảng rau trái, $400 triệu để nhập cảng thủy sản của Trung Quốc. Trong khi gạo của nông dân Việt Nam bị ép giá, và xuất cảng ra ngoại quốc thì trong 11 tháng qua của năm 2014, Việt Nam đã bỏ ra $800 triệu để nhập cảng gạo của Trung Quốc!

Từ khi chế độ Cộng Sản rêu rao đổi mới với các dự án công nghiệp của nước ngoài, chính quyền tiếp tay với bọn “đục nước béo cò” dụ dỗ ép giá nông dân bán đất hay dùng bạo lực côn đồ cưỡng chế cướp đất nông dân “làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền,” biến nông dân thành những người dân oan “ăn bờ ngủ bụi.” Thực tế hiện nay, cái khổ lớn nhất của nông dân là họ bị mất đất đai.

Những nông dân có đất bán cho giới công nghiệp ngoại quốc, phút chốc trở thành đại gia, từ chân dính phèn trở thành những tay ăn chơi, đốt tiền trong chốc lát rồi trở lại phận đi làm thuê gặt mướn.

Có bao nhiêu nông dân bỏ thôn quê, ruộng vườn để lên thành phố làm thân ở đợ, bán cơ bắp, làm thuê từng ngày vì không có khả năng tài chánh để đi ra nước ngoài làm “lao động xuất khẩu.” Từ đất Bắc bao nhiêu nông dân đã bỏ vào Nam để “bỏ liềm cầm búa” hay chạy xe ôm, làm bảo vệ, không buồn nhìn lại kiếp nông dân. Con cái nông dân những miền lúa “nhất Đồng Nai, nhì hai huyện…” nổi tiếng một thời, bây giờ mơ ước đi lấy chồng ngoại, hay đi vào con đường “ngu-nghèo” cho đỡ tấm thân, không còn hãnh diện với hình ảnh cô thôn nữ chất phác, đầu đội khăn rằn, ôm bó lúa, cầm lưỡi liềm ngày trước.

Chị Hồ Thị Út Em, gia đình ở xã Ninh Thạnh Lợi, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu, không có đất ruộng, chồng đi làm thuê nuôi năm người gồm bố mẹ già, vợ và hai con trai. Chị làm nghề đi lượm ve chai, vì sơ suất không để ý đến con nên bé mới uống nhầm chai axít như báo chí trong nước vừa loan tin.

Đất nước ta, từ ngàn xưa, nông dân vẫn được coi là thành phần chất phác, đạo đức vì xa đô thị, văn minh, nhưng khốn khổ thay, dưới chế độ này, một con số thống kê kinh hoàng trong nước đưa ra là trong số hơn 185,000 người nghiện ma túy tám tháng đầu năm 2014, số người nghiện là nông dân chiếm tỉ lệ 49.57%. Nạn bán dâm ngày nay không còn ở các khu đèn đỏ thành phố mà lan xuống nông thôn, trong những bờ kinh, con rạch, trong những chiếc lều, võng, có mặt khắp nơi ở quán xá ven đường.

Có bao giờ chúng ta tưởng tượng ra cái xã hội nhầy nhụa, khốn cùng ngày nay ở nông thôn có nạn “đĩ đồng,” những cô gái nghèo bán thân, lê la qua những cánh đồng trong mùa gặt, để bán dâm cho nhóm thợ gặt. Đời sống của nông dân ngày nay ra sao, xin hãy đọc chỉ một chuyện “Cánh Đồng Bất Tận” của Nguyễn Ngọc Tư, một cuốn sách nổi tiếng. Trong khi chưa đọc Nguyễn Ngọc Tư thì cũng nên xem qua một bản văn của Tỉnh Ủy Cà Mâu (Cộng Sản) lên án nhà văn này: “’Cánh Đồng Bất Tận’ miêu tả cái xấu của xã hội nông thôn, để ám chỉ con người, bần cùng túng quẫn, không lối thoát, mà cuộc sống quá cùng cực, bí lối, chỉ biết đi làm gái, đổi thân xác lấy cuộc sống.” (từ trang 158 đến 161, từ trang 168 đến 190 và 203)

Vấn đề là cái xấu đó quả có thật. Hình ảnh chiếc lưỡi liềm đỏ của liên minh công nông trên lá cờ Cộng Sản hiện nay ở Việt Nam, chỉ là một loại bánh vẽ như hầu hết loại bánh vẽ đã đưa dân tộc chúng ta đến chỗ khốn cùng.


(1) “Trâu đen ăn cỏ, trâu đỏ ăn gà!”