PEW: Quốc gia cộng sản Việt Nam chuộng chủ nghĩa tư bản hơn Mỹ

PEW: Quốc gia cộng sản Việt Nam chuộng chủ nghĩa tư bản hơn Mỹ

13.03.2015

Hầu hết người Việt Nam hiện nay ủng hộ chủ nghĩa tư bản, theo kết quả khảo sát của Trung tâm Nghiên cứu Pew.

Global Post ngày 13/3 dẫn kết quả cuộc nghiên cứu thực hiện cuối năm ngoái về các vấn đề kinh tế tại gần 45 quốc gia cho thấy Việt Nam là một trong những quốc gia thân tư bản nhất trên thế giới, với  95% người Việt trong nước yêu chuộng chủ nghĩa tư bản.

Không một nước nào trong số các quốc gia được khảo sát vượt quá tỷ lệ 90%.

Ngay cả Hoa Kỳ, nơi khái niệm xã hội chủ nghĩa có thể được dùng như một sự sỉ nhục, chỉ 70% số người được hỏi đồng ý rằng kinh tế thị trường tự do là mô hình kinh tế tốt nhất.

Tuy nhiên, tại Việt Nam, nơi mà đảng cộng sản cầm quyền từng buộc hàng triệu người tham gia các nông trường tập thể, hầu hết mọi người được hỏi lại tán đồng với quan điểm này.

Sự ủng hộ chủ nghĩa tư bản của Việt Nam, theo bài phân tích, là đáng ngạc nhiên khi nhìn lại lịch sử cận đại của nước này. Việt Nam được biết đến nhiều từ cuộc chiến của Mỹ tìm cách đánh bại chủ nghĩa cộng sản và đặt chủ nghĩa tư bản thân Tây phương tại Việt Nam.

Chiến tranh Việt Nam kết thúc cách đây 4 thập niên đã cướp đi 2 triệu mạng sống và biến các thành phố ở Việt Nam thành các đống đổ vụn bốc khói.

Hoa Kỳ đã rải bom tại khu vực này nhiều hơn số bom đã sử dụng trong thời Đệ Nhị Thế chiến để ngăn chủ nghĩa cộng sản do Liên Xô hậu thuẫn lan tràn khắp Châu Á, nhưng phe cộng sản đã chiến thắng trong cuộc chiến này.

Tuy nhiên, theo thời gian, học thuyết chủ nghĩa về lao động tập thể và nhà nước thống lĩnh kinh tế hoàn toàn của những người cộng sản đã tàn lụi đến nỗi hầu như tất cả người Việt, trong đó có cả những đảng viên cộng sản, giờ đây đi theo lý tưởng chủ xướng bởi cựu thù của họ.

Cuộc khảo sát cũng đo lường kỳ vọng của người dân cho tương lai, yếu tố chủ yếu của cái gọi là ‘giấc mơ Mỹ.’

Ở lĩnh vực này cũng thế, Việt Nam cũng qua mặt Mỹ, với 94% người Việt được hỏi cho biết họ tin con em họ hôm nay sẽ khá hơn cha mẹ chúng rất nhiều.

Tại Hoa Kỳ, cứ 10 người được khảo sát thì chỉ có 3 người tin rằng tương lai con cái họ sẽ vượt trội cha mẹ chúng.

Nguồn: Global Post/ Pew Research

22 CÂU NÓI CÓ THỂ THAY ĐỔI CUỘC ĐỜI BẠN

22 CÂU NÓI CÓ THỂ THAY ĐỔI CUỘC ĐỜI BẠN

1. Tiền xu luôn gây ra tiếng động … nhưng tiền giấy lại luôn im lặng. Vì thế khi giá trị của bạn tăng lên, hãy giữ cho mình luôn khiêm tốn và nói ít đi!.

2. Càng nói ít, càng nghe được nhiều. – Alexander Solshenitsen

3. Khi người khác hỏi những điều mà bạn không muốn trả lời, xin hãy cười và nói “tại sao bạn lại muốn biết điều đó?”.

4. Không ai cần đến một nụ cười nhiều như người không thể cho đi nụ cười.

5. Thành công lớn nhất là đứng dậy sau mỗi lần bị vấp ngã!.

6. Rất nhiều người không dám nói lên những gì họ muốn. Đó là lý do tại sao họ không có được chúng. – Madonna

7. Khi trưởng thành, tôi ngày càng ít quan tâm đến những gì mọi người nói. Tôi chỉ xem những gì họ làm được. – Andrew Carnegie

8. Kiên trì làm việc tốt sẽ mang lại nhiều thứ. Như mặt trời có thể làm tan băng, lòng tốt có thể làm bốc hơi sự hiểu lầm, hoài nghi và thù địch. – Albert Schweitzer

9. Cuộc sống giống như một cuốn sách. Một vài chương khá buồn, một số chương hạnh phúc và một số chương rất thú vị. Nhưng nếu bạn chưa bao giờ lật thử một trang bạn sẽ không bao giờ biết được những gì ở chương tiếp theo!.

10. Bạn có thể kết bạn được nhiều hơn trong vòng hai tháng bằng cách quan tâm đến người khác hơn là hai năm cố gắng bắt người khác quan tâm đến bạn. – Dale Carnegie

11. Tình bạn là một tâm hồn trú ngụ trong hai cơ thể. – Aristotle.

12. Tôi tiến bộ bằng cách ở cạnh với những người tốt đẹp hơn mình và lắng nghe họ. Và tôi giả sử rằng mọi người đều tốt đẹp hơn tôi ở một mặt nào đó. – Henry J. Kaiser

13. Tranh cãi với một kẻ ngốc sẽ chứng minh rằng có hai kẻ ngốc.
– Doris M. Smith

14. Những người làm việc cùng bạn phản ánh chính thái độ của bạn – Beatrice Vincent

15. Đừng quá khắt khe với chính mình. Thậm chí những sai lầm cũng có nghĩa là bạn đang cố gắng!.

16. Không có hành động tử tế nào, dù nhỏ, lại bị xem là lãng phí.
– Aesop

17. Bất luận lúc nào khi bạn nghe điện thoại, khi nhấc điện thoại lên xin bạn hãy cười lên, vì đối phương sẽ cảm nhận được nụ cười của bạn!.

18. Cuộc sống vốn không công bằng, hãy tập quen dần với điều đó!
– Bill Gates

19. Lưỡi không xương nhưng đủ cứng để làm vỡ nát một trái tim … vì thế hãy cẩn thận với ngôn từ của bạn!.

20. Đừng bao giờ cố giải thích con người bạn với bất cứ ai. Vì những người tin bạn không cần điều đó còn những người không thích bạn sẽ không tin lời bạn đâu!.

21. Nhu cầu cơ bản nhất của con người là nhu cầu thấu hiểu và được thấu hiểu. – Ralph Nichols

22. Hãy ghi nhớ 3 điều: CỐ GẮNG, KIÊN ĐỊNH, TIN TƯỞNG

CỐ GẮNG cho một tương lai tốt hơn

KIÊN ĐỊNH với công việc

TIN TƯỞNG vào bản thân

Và thành công sẽ thuộc về bạn.

Sự thay đổi trong cán cân quyền lực tại Việt Nam

Sự thay đổi trong cán cân quyền lực tại Việt Nam


Nguyễn Hưng Quốc

Mới đây, trên tờ East Asia Forum ngày 5 tháng 3, Lê Hồng Hiệp, chuyên viên nghiên cứu tại Institute of Southeast Asia Studies, có một bài viết khá hay về sự thay đổi trong cán cân quyền lực trong hệ thống chính trị tại Việt Nam.

Theo Lê Hồng Hiệp, trước đây, quyền lực chính trị tại Việt Nam chủ yếu nằm trong tay một cá nhân (Hồ Chí Minh và/hoặc Lê Duẩn), sau, chuyển sang Bộ Chính trị (dưới thời các Tổng Bí thư từ Trường Chinh đến Nông Đức Mạnh), và gần đây, chuyển sang Ban Chấp hành Trung ương đảng.

Có mấy bằng chứng cho thấy sự thay đổi này: Một, vào tháng 10, 2012, khi Bộ Chính trị định kỷ luật Nguyễn Tấn Dũng vì những thất bại của ông trong lãnh vực kinh tế, Ban Chấp hành Trung ương đã bác bỏ, cuối cùng, Nguyễn Tấn Dũng được xem là vô tội. Hai, vào tháng 3, 2013, khi Nguyễn Phú Trọng đề cử Nguyễn Bá Thanh và Vương Đình Huệ vào Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương đã lại bác bỏ và, thay vào đó, bầu hai người khác, Nguyễn Thiện Nhân và Nguyễn Thị Kim Ngân. Và ba, vào tháng 1, 2015, lần đầu tiên Ban Chấp hành Trung ương đã bỏ phiếu tín nhiệm các uỷ viên trong Bộ Chính trị. Kết quả cuộc bầu cử, cho đến nay, vẫn không được công bố chính thức, tuy nhiên, theo trang blog Chân dung Quyền lực, ở đó, Nguyễn Tấn Dũng được nhiều phiếu tín nhiệm cao nhất (152 phiếu), trên Trương Tấn Sang (149 phiếu), và cao hơn hẳn Nguyễn Phú Trọng, đứng hạng thứ 8, với 135 phiếu.

Với các sự kiện ấy, Lê Hồng Hiệp cho rằng, nếu xem cấu trúc quyền lực trong hệ thống chính trị tại Việt Nam như một hình tam giác thì ở trên cùng là Ban Chấp hành Trung ương, dưới một chút là Bộ Chính trị, và dưới nữa là Tổng Bí thư. Cấu trúc này không thể hiện xu hướng dân chủ tại Việt Nam, bởi vì, thay đổi theo cách nào, mọi quyền lực cũng đều nằm trong tay đảng Cộng sản. Tuy nhiên, nó thể hiện được cán cân quyền lực trong nội bộ đảng. Điều này đã có nhiều người nhận ra: trong lịch đảng Cộng sản và chính quyền Việt Nam, chưa có Tổng Bí thư nào bất lực như Nguyễn Phú Trọng, đồng thời cũng chưa có một Thủ tướng nào có nhiều quyền lực như Nguyễn Tấn Dũng.

Có thể nói, sự thay đổi đột biến trong cán cân quyền lực của Ban Chấp hành Trung ương gắn liền với sự lớn mạnh trong vai trò Thủ tướng của Nguyễn Tấn Dũng. Ảnh hưởng của Nguyễn Tấn Dũng đối với Ban Chấp hành Trung ương lớn hơn hẳn các ảnh hưởng của Nguyễn Phú Trọng hoặc Trương Tấn Sang. Có hai lý do chính. Thứ nhất, hầu hết các thành viên trong Ban Chấp hành Trung ương là các cán bộ lãnh đạo địa phương hoặc trong guồng máy hành chính trung ương: ở cả hai nơi, quyền bổ nhiệm cũng như quyền phân phối ngân sách đều chủ yếu nằm trong tay Nguyễn Tấn Dũng. Thứ hai, Nguyễn Tấn Dũng cũng có quan hệ chặt chẽ với cả Bộ Quốc phòng lẫn Bộ Công an, nơi trước đây ông từng lãnh đạo, mà hai bộ này chiếm đến 15 phần trăm tổng số uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương đảng.

Với ảnh hưởng to lớn trên Ban chấp hành Trung ương như vậy, khả năng Nguyễn Tấn Dũng trở thành Tổng Bí thư trong kỳ đại hội đảng vào năm 2016 tới không phải là xa vời hay bất khả. Nếu Nguyễn Tấn Dũng trở thành Tổng Bí thư, một trong những phó Thủ tướng của Nguyễn Tấn Dũng hiện nay sẽ lên làm Thủ tướng. Lúc ấy, cán cân quyền lực, theo tôi, lại quay ngược lại thời trước: Tổng Bí thư sẽ có quyền lực cao nhất. Tuy nhiên, dù cao đến mấy, quyền lực của Tổng Bí thư cũng sẽ không cao bằng Hồ Chí Minh hay Lê Duẫn thời trước vì họ phải lệ thuộc vào sự ủng hộ của mấy trăm người trong Ban Chấp hành Trung ương đảng. Nhưng dù sao lúc ấy Tổng Bí thư cũng sẽ có quyền lực hơn hẳn Nguyễn Phú Trọng hiện nay.

Vấn đề là: những sự thay đổi về cán cân quyền lực cũng như cấu trúc quyền lực như vậy có lợi hay có hại cho đất nước?

Câu trả lời, theo tôi, là vừa lợi vừa hại.

Hại, trước hết, vì quyền lực của đảng trên quyền lực của Thủ tướng, tức trên bộ máy hành chánh, càng lớn, xu hướng độc tài càng có nguy cơ phát triển mạnh. Đó là những gì đã xảy ra và đã kéo dài trong nhiều thập niên dưới quyền của Lê Duẩn, ở đó, các thủ tướng, kể cả Phạm Văn Đồng, đều là những con rối trong tay Tổng Bí thư và Bộ Chính trị, chứ không có một quyền lực gì cả.

Hại nữa vì nó tiếp tục duy trì thế đứng của đảng như một thứ siêu quyền lực, đứng trên và đứng ngoài luật pháp, ở đó, mọi ước mơ thay đổi và dân chủ hoá đều dễ dàng bị dập tắt.

Tuy nhiên, khi quyền lực nằm hẳn trong tay một người, và nếu người đó có óc cấp tiến, có ý muốn thay đổi theo hướng dân chủ hoá thì ý muốn ấy rất dễ biến thành hiện thực. Nó khác với tình trạng hiện nay khi quyền lực bị phân tán, người này chỉ đứng trên người kia một chút, làm bất cứ điều gì người ta cũng phải nhân nhượng và thoả hiệp với nhau, cuối cùng, không có một chính sách tiến bộ hay mạnh mẽ nào có thể thực hiện được cả.

Theo tôi, ở Việt Nam hiện nay, có hai điều cần nhất: Một là dân chủ hoá; và hai là, một nhà lãnh đạo thực sự mạnh. Không có nhà lãnh đạo mạnh, sẽ không có gì thay đổi cả.

Tuy nhiên, như đã nói, đất nước chỉ thực sự thay đổi theo chiều hướng tốt hơn, nếu, và chỉ nếu, nhà lãnh đạo mạnh ấy cũng đồng thời là một người sáng suốt, có quyết tâm xây dựng đất nước và theo đuổi làn sóng dân chủ hoá. Liệu Nguyễn Tấn Dũng có phải là một người như thế?

HUYỀN NHIỆM

HUYỀN NHIỆM

Khi ánh bình minh bừng thức dậy
Hừng đông hồng ửng phía chân mây
Cây xanh trở giấc thay màu lá
Chim hót líu lo cất cánh bay

Hương thơm thoang thoảng ở đâu đây
Vườn hoa còn đẫm lớp sương mai
Khoan thai thở hít căng buồng phổi
Thoải mái tâm hồn, khoan khoái thay

Ai đã cho ta bầu khí thở
Cho đời ta đẹp với hương thơ
Cho tình say đắm trong huyền diệu
Cho trái tim yêu chẳng bến bờ

Ai đã treo trăng vàng lửng lơ
Ban mai lấp lánh ánh sao mờ
Ngân hà từng dãy dòng sông trắng
Vũ trụ xa xôi cực ngẩn ngơ

Thái dương dần rộng ánh hào quang
Ngọn gió miên man thổi nhẹ nhàng
Ánh sáng chan hoà tia nắng mới
Cuộc sống thăng hoa đến rỡ ràng

Sự sống thăng hoa tới rộn ràng
Ráng chiều bảng lảng áng mây đan
Hoàng hôn buông bóng đang dần xuống
Mái ấm lên đèn, cơm nóng rang !

Đình Duy Phương

Tấm Gương Sự Thật

Tấm Gương Sự Thật

Theo câu chuyện cổ tích của người Tây Phương về Cô Bạch Tuyết và Bẩy Chú Lùn thì “Sự Thật” chiếu sáng và nói qua một tấm gương.

Khi Hoàng-hậu, người kế mẫu của Bạch Tuyết nhìn vào tấm gương sự thật ấy để hỏi về mình, bà được trả lời như sau: “Thưa hoàng hậu, hoàng hậu là người đẹp nhất hiện nay”.

Mà quả thật, so sánh với những người đàn bà đương thời, bà ta là người đẹp nhất.

Nhưng công chúa Bạch Tuyết mỗi ngày một lớn và trở nên xinh đẹp.  Da trắng như tuyết, môi đỏ như máu, tóc đen như mun: ba màu sắc ấy kết hợp một cách hài hòa để mỗi ngày một gia tăng vẻ đẹp cho cô bé, dù chỉ mới lên 7 tuổi.  Ai cũng nhận thấy rằng cô đã vượt xa người kế mẫu về sắc đẹp.

Một hôm, hoàng hậu kế mẫu hỏi ý kiến của chiếc gương Sự Thật một lần nữa.

Lần này, tấm gương đã trả lời: “Thưa hoàng hậu, quả thực hoàng hậu là người xinh đẹp ít ai sánh bằng.  Nhưng hiện nay, công chúa Bạch Tuyết đã đẹp hơn hoàng hậu bội phần.  Ðây là điều mà không ai chối cãi được, Bẩy Chú Lùn đã xác định điều đó”.

Người kế mẫu không muốn chấp nhận Sự Thật ấy.

Bà không thể nào chấp nhận một đứa con riêng của chồng được quyền đẹp hơn Bà.  Sự ganh ghét đã bắt đầu gặm nhấm tâm hồn bà để rồi bà chỉ còn có mỗi một ý nghĩ trong đầu: đó là loại bỏ người đối thủ tí hon của bà.  Bà sai người cho thuốc độc vào một trái táo rồi mang đến cho Bạch Tuyết.  Cô bé bị ngộ độc và đã đi vào cõi chết, nhưng vẫn giữ nguyên nét đẹp trên gương mặt.  Một hoàng tử đã say mê nhìn khuôn mặt bất động ấy.  Chàng đã đặt trên môi Bạch Tuyết một chiếc hôn.  Trái táo độc rớt khỏi môi và Bạch Tuyết đã được hồi sinh.  Người hoàng hậu kế mẫu nghe điều đó.  Sự oán hận và ganh tức đã dồn lên khiến cho người đàn bà chết tốt.

Tấm gương Sự Thật của chúng ta chính là Ðức Kitô.

Philatô đã có lần hỏi Chúa Giêsu: Sự Thật là gì? Chúa Giêsu đã không trả lời cho câu hỏi ấy.

Nhưng chắc chắn những môn đệ của Chúa Giêsu đã có lần nghe Ngài tuyên bố: “Ta là Ðường, là Sự Thật, và là Sự Sống”.  Họ là những người có thể trả lời cho câu hỏi ấy.

Chúa Giêsu không chỉ là Sự Thật một cách trừu tượng, một cách trống rỗng, mà là Sự Thật của con người, đối với con người.

Cũng chính Philatô, sau khi đã ra lệnh đánh đòn Chúa Giêsu, đã đưa Người ra trước dân chúng và tuyên bố: “Này là Người”.  Này là người, này là con người, hay đúng hơn là sự thật về con người.  Chúa Giêsu đã để lộ tất cả con người của ngài qua những vết thương trên thân thể.

Phải chăng con người chỉ để lộ nhân tính và tất cả những nét cao quý nhất của mình qua những lằn roi, qua những vết thương đau vì yêu thương, vì phục vụ?

Chúa Giêsu là tấm gương Sự Thật của con người.  Chỉ qua Ðức Kitô, chúng ta mới có thể nhận diện được con người đích thực của chúng ta.

Nhìn vào Ðức Kitô, tội lỗi và những bất toàn của chúng ta sẽ hiện ra, nhưng… hình ảnh cao quý được Thiên Chúa in trên mỗi người chúng ta cũng được tỏ lộ.

Đức Ông Phêrô Nguyễn Văn Tài

Tính đảng và bạo lực

Tính đảng và bạo lực

Kính Hòa, phóng viên RFA
2015-03-09

Tính đảng và bạo lực

Nhung-man-ruot-duoi-o-le-hoi-cuop-phet_600.jpg

Khai mạc lễ hội cướp Phết Hiền Quan (Tam Nông, Phú Thọ)

Courtesy of tuoitre.vn

Your browser does not support the audio element.

Một tâm linh bạo lực

Bạo lực, và… bạo lực!

Đó là hai từ tràn ngập báo chí trong những ngày Ra Giêng xuân Ất Mùi. Người ta đếm được có cả ngàn trường hợp nhập viện vì bạo lực. Người ta đánh nhau vì giành nhau những điều tưởng tượng ở các lễ hội. Bạo lực trộn lẫn với mê tính dị đoan như được nhân lên nhiều lần bằng những lời bình nhẹ như không của các quan chức, rằng đấy là văn hóa! Blogger Viêt Từ Sài Gòn mô tả những khung cảnh hỗn độn đó trong một đoạn văn súc tích sau đây

Lễ hội tâm linh do nhà nước khởi xướng càng nhiều thì con người càng trởi nên máu lạnh, tham lam, sẵn sàng đánh đập nhau, vác dao chém nhau chỉ vì một miếng giẻ rách gọi là “ấn” trong lễ hội Đền Gióng, lễ hội đến Trần… Mọi sự giằng xé, giành giật, đánh cướp được diễn ra công khai, tàn bạo ngay trước mặt cái điều gọi là thần linh.

Đây không phải là lần đầu mà câu chuyện gọi là Tâm linh trong xã hội Việt Nam đương đại đã được nói đến. Nhưng dường như mùa xuân Ất Mùi này nó đã vượt qua cái ngưỡng chịu đựng của nhiều người.

Khi quan sát các lễ hội năm nay cây bút Nguyễn Đình Bổn viết rằng Thấy dân Hà Nội nói riêng và dân Việt nói chung không muốn lao động, học tập, đấu tranh để tự nắm lấy được số phận của mình, mà thích bỏ vài trăm mua mâm lễ để giải được hạn của số phận hơn !

Blogger Nguyễn Hữu Vinh viết liền hai kỳ phóng sự mang tựa đề Lễ Hội, Tín Ngưỡng và chuyện bát nháo thời Sản mạt, trong đó ông rút ra hai điều. Điều đầu tiên là các đền chùa khắp nơi trên cả nước đã trở thành một nơi làm ăn kinh doanh, và sự kinh doanh đó đang rất khấm khá.

Điều thứ hai ông rút ra là để trả lời cho câu hỏi rằng tại sao, đảng cộng sản vốn cho mình là vô thần lại để cho không khí gọi là tâm linh bát nháo ấy tràn lan đến như vậy? Nguyễn Hữu Vinh trả lời rằng đó là một Liên minh tiêu diệt. Trong liên minh này những người cộng sản dùng mê tín dị đoan, tín ngưỡng tôn giáo để xóa đi khoảng trống lòng tin trong xã hội Việt Nam đương đại, sau bao nhiêu năm của việc tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản. Và mục đích của việc lấp khoảng trống này là để mở ra một giai đoạn mới cho các lễ hội, các đình đền, các chủa chiền cũng như nhà thờ (nếu có thể “quản lý”) được tha hồ mở “hội”, miễn lôi kéo được quần chúng, ru ngủ được người dân xa rời các sự quan tâm đến những vấn đề cốt lõi của cuộc sống như Tự do tín ngưỡng, quyền con người, lãnh thổ đất đai, chế độ độc tài toàn trị, đời sống bấp bênh và xã hội nhũng lạm nặng nề bất ổn.

Ông kết luận rằng Khi một xã hội được xây dựng bằng bạo lực và lừa dối, thì mọi biến tướng của lễ, hội, tín ngưỡng theo hướng đó chỉ là sự sa đọa, suy đồi về văn hóa mà thôi.

Từ hải ngoại, Giáo sư Nguyễn Hưng Quốc gọi cái cảnh mà Viêt Từ Sài gòn mô tả bên trên là một thứ Văn hóa bạo động. Theo ông thì có hai nguyên nhân chính dẫn đến việc hình thành nó. Đó là không có thói quen giải quyết các xung đột bằng cách thương lượng với nhau. Điều thứ hai là chẳng ai còn tin luật pháp sẽ làm tròn trách nhiệm phân xử xã hội của mình nữa.

Chỉ có một nguyên nhân

“Tính đảng” là từ mà blogger Tưởng Năng Tiến dùng trong bài viết mới trong tuần lễ đầy lễ hội và bạo lực này. Ông đau buồn trước cái thứ hạng về sự tử tế của Việt nam đang đi xuống. Ông cho rằng sự tử tế kém cỏi của người Việt chính là trách nhiệm của đám tiểu tâm, ti tiện, bạc ác của đám côn đồ đang lãnh đạo đất nước này, chứ không phải của những lương dân đất Việt.

Những lương dân đó nhà khoa học Tô Văn Trường cho là đã bị quên lãng khi mới đây một cán bộ cao cấp nào đó viết trên báo chí chính thống của đảng rằng trong các văn kiện của họ, chữ nhân dân nên viết hoa. Nhà khoa học nhìn thấy đó là một sự mỉa mai và hốt hoảng của những người tự xưng mình là đại diện của nhân dân!

Nhung-man-ruot-duoi-o-le-hoi-cuop-phet_400.jpg

Rượt đuổi để cướp phết tại lễ hội.

Tuy vậy Tưởng Năng Tiến thì lại cho rằng cái nhân dân đó phải tự hỏi là tại sao lại cam chịu những người không lương thiện hoành hành trên quê hương đất nước mình trong từng ấy thời gian mà chẳng có phản kháng nào đáng kể!

Không biết là vô tình hay hữu ý mà ngày 27 tháng 2- 2015, Hội đồng lý luận TW của đảng cộng sản tổ chức Hội thảo khoa học “Định hướng xây dựng giá trị con người, giá trị văn hóa Việt Nam trong giai đoạn mới.”

Tiến sĩ Nguyễn Đình Cống gọi đây là một cuộc hội thảo Đèn Cù. Ý ông muốn nói rằng nó chẳng đi tới đâu vì chỉ mới động đến phần nổi của tảng băng, đánh tráo khái niệm giữa nguyên nhân và hậu quả. Đèn Cù cũng là tên một tác phẩm của nhà văn Trần Đĩnh, người từng chấp bút viết tiểu sử cho ông Hồ Chí Minh. Trong Đèn Cù Trần Đĩnh mô tả số phận con người trong chế độ cộng sản.

Ông Nguyễn Đình Cống vốn xuất thân từ một gia đình cách mạng cộng sản. Gần đây ông có nhiều bài viết nói rằng chủ nghĩa Mác Le Nin mà đảng cộng sản lấy làm ý thức hệ của mình là một tư tưởng sai lầm. Ông đã nhận được nhiều câu hỏi, thậm chí chất vấn về hành động đó. Ông viết một bài dài trên blog Bauxite Việt nam, trong đó ông giải thích nguyên nhân vì sao ông có những phê phán như vậy. Còn trong bài Hội thảo Đèn Cù mà ông viết trong cùng một tuần lễ thì ông đưa ra cái nguyên nhân ý thức hệ của những thói hư tật xấu trong xã hội hiện nay như sau:

Để làm chiến tranh cách mạng (đặc biệt là chiến tranh du kích) cần khuyến khích bạo lực, mưu mô để tiêu diệt kẻ thù. Trong đấu tranh giai cấp quá đề cao lòng thù hận và tranh đoạt vật chất mà nhẹ về đạo lý bao dung. Chuyên chính vô sản thực thi sự toàn trị, tạo ra giai cấp mới đặc quyền đặc lợi, tham nhũng, mua bán quan chức. Sự tuyên truyền về một xã hội tốt đẹp không tưởng buộc phải dùng thủ đoạn dối trá, lừa bịp. Tất cả những thứ đó và nhiều thứ khác nữa từ Chủ nghĩa Mác Lênin đã không làm giảm nhẹ hoặc ngăn chặn thói hư tật xấu của nền văn hóa mà còn làm nặng thêm.

Một câu chuyện khác thoạt đầu tưởng đâu chẳng có liên quan gì đến đảng cộng sản xảy ra trong tuần qua. Đó là chuyện cô người mẫu Trang Trần bị công an bắt giam với lý do là cô đã chửi bới công an. Trong sự việc đó cô lại chửi luôn đảng cộng sản.

Dư luận dấy lên làm hai luồng. Một bênh vực cho cô Trang, cho là những dồn nén vì một xã hội lộn xộn làm cho có có hành động sai quấy như thế. Bên kia thì cho là cô đáng bị bỏ tù. Những người có quan tâm đến luật pháp thì mổ xẻ đến tính hợp pháp hay không của sự bắt bớ, mức độ phạm tội tới đâu của cô Trang, v.v…  Tranh luận  dường như không thấy lối ra như lời Luật gia Trịnh Hữu Long nhận xét

Vậy nên nói gì thì nói, câu chuyện cuối cùng vẫn quay về với cái vòng kim cô chính trị mà Việt Nam đang đeo trên đầu. Có cố tình lảng tránh đến đâu, viện dẫn kiến thức bác học nào và biện minh bằng tinh thần bác ái cao đến đâu đi chăng nữa, câu trả lời cuối cùng chỉ có một. Loại bỏ Đảng ra khỏi các tranh luận pháp luật chỉ thể hiện hoặc là đánh giá không đúng mức vai trò của Đảng trong đời sống pháp luật, hoặc là cố tình lảng tránh. Tôi không hứng thú với những tranh cãi lặt vặt về luật thực định lắm, vì đó không phải cái cần nói.

Nhà báo, blogger Đoan Trang thì viết rằng Nói đến luật pháp, đến cái gọi là “nhà nước pháp quyền” ở Việt Nam mà lại không nói đến vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản thì khác nào tảng lờ một  “con voi trong phòng khách”.

Một blogger viết trên trang Tu Zo bài so sánh nước Việt nam đầu thế kỷ 21 này với nước Việt nam thời truyện Kiều của Nguyễn Du. Tác giả thấy rằng những nhân vật Thúy Kiều, Từ Hải, Hồ Tôn Hiến, Thúc Sinh,… vẫn còn rất sống động trong xã hội Việt nam với tất cả dị tật lẫn số phận bi kịch của họ. Tác giả nhớ tới lời văn hào Nguyễn Du trước khi mất viết trong nước mắt rằng không biết ba thế kỷ sau ông có ai còn khóc ông hay không!

Tác giả kết luận:

Câu chuyện đoạn trường của ông về nàng Kiều như một thứ tiên tri định mệnh đeo đuổi đám con cháu ông làm cạn khô nước mắt vì cái vận mệnh nổi trôi dai dẵng

Nhưng đồng thời tác giả cũng hy vọng về một ngày mới, khi người Việt nam thay đổi, thay đổi nhiều thứ để có được. Chúng tôi xin mượn hy vọng đó để kết thúc bài điểm blog hôm nay.

Một ngày khác, một ngày mới không giống hôm nay và ngày hôm qua, ngày mà con cháu ông sẽ tưởng nhớ tới ông bằng những cành hoa và nụ cười thay cho giọt nước mắt và những nén nhang tàn !

TÌNH NGHĨA CỦA ĐÔI CHIM NHẠN

TÌNH NGHĨA CỦA ĐÔI CHIM NHẠN

***

Một con chim nhạn bay lượn thấp là đà ngang qua đường phố

bị một chiếc xe đụng phải. Nàng chim mái nầy bị thương nặng và đang chờ chết.

Chàng chim trống sà xuống mang theo thức ăn và tận tình lo lắng.

Chàng bay đi rồi trở lại mang thêm thức ăn cho nàng, nhưng nàng đã nằm bất động.

Chàng cố lung lay gọi nàng …. một hành động hiếm thấy từ loài chim nhạn.

Khi nhận ra rằng nàng đã ra đi, vĩnh viễn không bao giờ trở lại,

chàng khóc rống thảm thiết bi thương.

Tiếng khóc vang vang của loài chim nhỏ bé, nhưng nỗi bi ai xé lòng không kém một sinh vật nào. Đứng cạnh xác nàng, chàng buồn thảm và tan nát cả cõi lòng … biết đến bao giờ?

động vật thì chả có đầu óc và cũng chẳng có cảm xúc nào ….?

Hàng triệu người khắp Mỹ, Âu, Á đã không cầm được nước mắt khi nhìn thấy những bức ảnh nầy.

Người chụp bán những bức ảnh nầy cho một tờ báo nổi tiếng bên Pháp. Ngay ngày hôm đó số báo được bán sạch. Người muốn tìm xem ảnh phải lên các website.

Hồi ký Dương Văn Ba: Những Ngã Rẽ – Chương 6

Hồi ký Dương Văn Ba: Những Ngã Rẽ – Chương 6

Viet-studies

Chương 6  NHỮNG CHUYỆN KHÓ QUÊN…

Chuyện mấy ông Tỉnh Trưởng Bạc Liêu và giai thoại “muốn vào phòng tôi xin hãy đạp cửa”

Thời kỳ 1967 đến 1971, Bạc Liêu có 2 ông tỉnh trưởng.

Ông Lâm Chánh Ngôn, Trung tá, quê ở Vĩnh Long. Ông làm Tỉnh trưởng Bạc Liêu từ cuối năm 1966 đến đầu năm 1970. Ông này để râu ngạnh trê, thích đá gà mê uống rượu. Dĩ nhiên rượu ấy phải là Martell hoặc Cognac. Ông rất sợ vợ; có người kháo nhau chức Tỉnh trưởng của ông do bà xã (Alice) mua từ chỗ Trung tướng Đặng Văn Quang, tư lệnh vùng 4, sau này có lúc làm cố vấn an ninh quốc gia cho Nguyễn Văn Thiệu. Thậm chí dư luận trong các giới chức có cỡ còn đồn rằng bà Alice là tình nhân của Đặng Văn Quang. Đồn đại không biết trúng trật nhưng Đặng Văn Quang rất thân với bà Alice, Quang nhận con gái của Alice làm con nuôi. Chuyện lẹo tẹo tình ái giữa các ông lớn bà lớn chế độ cũ là thường, người ta nói nghe đến nhàm cái lỗ tai. Ví dụ Tổng thống Thiệu, người có rất nhiều bồ, một trong những cô bồ của ông ta là Helen, vợ Đại tá Hoàng Đức Ninh, Tỉnh trưởng Bạc Liêu. Giữa Nguyễn Văn Thiệu – Hoàng Đức Ninh – Hoàng Đức Nhã có mối họ hàng rất gần (họ là anh em cùng mẹ khác cha). Do đó, Hoàng Đức Ninh tha hồ tung hoành sách nhiễu dân lành.

Tỉnh trưởng Lâm Chánh Ngôn, xuất thân từ một gia đình gia giáo ở Vĩnh Long cho nên thời kỳ làm Tỉnh trưởng của ông ta không đến nỗi dữ dằn, độc ác. Chỉ có một chuyện nhắc để cho vui giữa ông Ngôn và Dương Văn Ba, trong một cuộc nhậu nhân dịp Tết năm 1969 hai bên suýt đánh lộn với nhau. Ngày đó Phó Tỉnh trưởng Hành chính Bạc Liêu (xin lỗi quên mất tên) tổ chức ăn tết tại Dinh Phó Tỉnh trưởng. Quan quyền, chức sắc có cỡ trong tỉnh đều có mặt. Lâm Chánh Ngôn uống rượu say rủ Dương Văn Ba cụng ly. Nhưng để chứng tỏ là bề trên, ông ta cố tình đưa ly đụng ngay giữa trán của ông Ba. Tuổi trẻ máu nóng và cũng đã ngà ngà rượu, ông Ba đánh một thoi vào bụng ông Ngôn (cũng là nhẹ thôi để khỏi mất mặt). Tỉnh trưởng Ngôn nổi nóng, chửi bới và đòi bắn Dương Văn Ba tại chỗ. Chánh án Xuân, Quận trưởng Thới, Tiểu Khu phó Xính can ngăn giải hoà. Tiệc tan, Lâm Chánh Ngôn chiều hôm sau mời ông Ba lại nhà chơi, cười khà khà lại tiếp tục uống rượu. Thực ra giữa tôi và Lâm Chánh Ngôn không có đụng chạm nào sâu sắc. Một số thường dân bị bắt bớ oan ức, tôi can thiệp và bảo lãnh, ông ta đều thả ra. Quan hệ giữa một dân biểu với tay Tỉnh trưởng trong thời kỳ đó, dư luận trong tỉnh rất chú ý. Tay Ngôn có phần nào nể vì tôi, ông biết rõ giữa tôi và em của ông có tình bạn khá thân, cùng hoạt động cho Hội Liên Trường (Hội Cựu Ái hữu Học sinh các trường Pétrus Ký, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Thanh Giản, Gia Long – những trường lớn nhất của miền Nam. Hội này làm công tác xã hội cấp học bổng cho nhiều học sinh giỏi, con nhà nghèo. Họ đã xây được một trụ sơ lớn ở góc đường Hùng Vương và Trần Phú, quận 5). Trước mặt đông đảo quan khách, tôi vẫn phải giữ ý với ông ta. Phải nói Lâm Chánh Ngôn là tay hay uống rượu, mà uống rượu nhiều thì không phải là người có lòng dạ hiểm độc, tiểu nhân. Một tay tỉnh trưởng muốn hại một dân biểu đối lập, muốn làm mất mặt một người, quá dễ. Chỉ cần sai mấy tên sĩ quan “tà lọt” cho uống vài chai whisky, biểu bắn ai nó cũng bắn, đừng nói chi tới chuyện “đánh cho bể mặt ngoài đường”. Lâm Chánh Ngôn không làm việc đó với tôi.

Bạc Liêu là một tỉnh mua bán trù phú. Có rất nhiều tay “xì thẩu”, muốn làm giàu thêm nữa, chỉ cần bợ đỡ tỉnh trưởng, sẽ có thêm nhiều đặc quyền đặc lợi.

Thời kỳ ông Ngôn làm Tỉnh trưởng Bạc Liêu là do sự đỡ đầu của Tướng Đặng Văn Quang. Nhưng Tướng Quang làm sao mạnh bằng Thiệu, cho nên Hoàng Đức Ninh thời kỳ đó đang làm Quận Trưởng quận Thạnh Trị đã tạo dư luận râm ran trong giới em út là “tao sẽ về làm Tỉnh trưởng Bạc Liêu thay thế thằng Ngôn”. Dân Bạc Liêu đã biết việc đó 6 tháng trước khi anh ta về, vì gốc của anh ta là gốc bự số 1. Tỉnh Bạc Liêu dĩ nhiên béo bở hơn quận Thạnh Trị (Phú Lộc). Hoàng Đức Ninh không giành ghế tỉnh trưởng Sóc Trăng của Đại tá Quách Huỳnh Hà vì Đại tá Hà có nhiều thời gian làm thư ký riêng cho Thiệu. Ninh nhắm ghế tỉnh trưởng Bạc Liêu, “món ăn” ở Bạc Liêu béo bở không thua Sóc Trăng. Helen, vợ của Ninh, là người vận động chức đó cho chồng. Đầu năm 1970, Hoàng Đức Ninh chính thức về Bạc Liêu thay thế Lâm Chánh Ngôn.

Lúc Trung tá Ninh làm Quận trưởng Thạnh Trị (Phú Lộc) có nhiều chuyện kể cười ra nước mắt.

Chuyện thứ nhất là chuyện “Đại đội heo”

“Đại đội heo” là một đại đội địa phương quân dưới quyền trực tiếp chỉ huy của Trung tá Ninh, quận trưởng. Biệt tài của đại đội này trước khi đi hành quân, tên nào tên nấy cũng được uống rượu cho say. Vào các vùng xôi đậu tha hồ vét của, tha hồ bắt heo: heo lớn, heo bé, đực cái đều bắt tuốt. Mỗi lần đại đội hành quân đi về, chiến lợi phẩm là 50-70 con heo của dân.

Thành tích lẫy lừng của Đại đội heo là hể gặp người tình nghi Việt cộng là “sát”. Chưa hết, vẻ vang hơn, đại đội này được tha hồ hãm hiếp đàn bà con gái. Nhỏ cũng hiếp, già lão cũng hiếp, không tha. Đại đội heo là đại đội hung thần ác qủy đối với dân các vùng trong ở Thạnh Trị Sóc Trăng. Một ông Hội Đồng tỉnh ở Bạc Liêu tên Đỗ Khắc Tường, máu còn trẻ và nóng, chơi “gan” lên tiếng tố cáo đại đội heo trên nhật báo Tin Sáng thời đó (chính tôi cho đăng các tin tức này).

Tên Đại đội trưởng Đại đội heo, đọc tin đó trên báo, đang nằm dưỡng bệnh tại bệnh viện Trương Bá Hân – Sóc Trăng, lập tức bỏ bệnh viện về, tính kế hoạch “sát” Đỗ Khắc Tường. Một người bà con ở Phú Lộc biết tin vội vã cấp báo cho Nghị viên Hội đồng tỉnh Đỗ Khắc Tường, ông này lúc đó sợ quá, bỏ lên Sài Gòn “trốn “ gần 2 tháng. (Khi hăng tiết, tố cáo tùm lum trên báo. Lúc hay tin đại đội trưởng Đại đội heo sắp “hỏi thăm sức khoẻ” . Tam thập lục kế, dĩ đào vi thượng).

Trời cao có mắt, khoảng 2 tháng sau, tên đại úy Đại đội trưởng Đại đội heo trong một cuộc hành quân càn quét, đạp nhằm mìn cụt cả hai giò. Người bà con ở Phú Lộc lại thông báo tin vui, Đỗ Khắc Tường trở về Bạc Liêu. Bà má và vợ của ông mừng quá cúng heo quay tạ lễ trời phật đã cứu chồng thoát nạn.

Chuyện một xe gạo và chuyện hãy đạp cửa phòng tôi

Hoàng Đức Ninh ăn hối lộ rất công khai, dạn dĩ. Ông ta thường nói thẳng điều mình muốn.

Một lần đi thực tế tra xét tình hình các nhà máy xay lúa trong quận Thạnh Trị, cứ vào mỗi nhà máy, kêu chủ lại, ông ta nói thẳng: “Quân đội đổ mồ hôi và lấy tính mạng bảo vệ cho các ông bà chủ được an toàn làm ăn, khỏi bị Việt cộng phá phách thu thuế. Đổi lại mấy người nên làm nghĩa vụ đóng góp cho chi khu. Hai tháng một lần, mỗi nhà máy đóng góp cho chi khu một xe gạo 7 tấn”.

Thạnh Trị có hàng chục nhà máy xay lúa dọc theo Quốc lộ 4 và kể cả ở xã Ông Kho. Cứ 2 tháng, Hoàng Đức Ninh thu được từ các nhà máy xay lúa hàng chục xe gạo. Mỗi xe trị giá 6-7 lạng vàng, tính ra Quận trưởng Ninh mỗi tháng kiếm được trung bình cở 50 lạng vàng từ ngành chà gạo. Có một ông chủ nhà máy, không biết vô tình hay cố ý dở hơi “chơi xỏ” Hoàng Đức Ninh bằng cách chở thẳng một xe gạo 7 tấn đến ngay chi khu Thạnh Trị báo là giao nộp cho Quận trưởng. Ninh nổi giận đùng đùng, gọi tay chủ nhà máy khù khờ vào văn phòng quát: “Mày chơi khăm tao hả?! Tao nói một xe gạo, tức là bọn mày phải đem gạo đi bán mang tiền hoặc vàng đem nộp cho tao. Mày mau đem gạo về đem vàng trở lại. Bằng không tao đóng cửa nhà máy mày lập tức.

Đó là chuyện thật 100%. Giống như chuyện bạc chẵn bạc lẻ. Một Hoa thương hàng tháng phải nộp cho Ninh 1 triệu đồng (do ăn chia quota). Có lần anh chủ tiệm xi măng mang 1 triệu đồng gồm giấy lẻ một đồng, năm đồng, vào văn phòng Tỉnh trưởng nộp. Ninh chửi thề: “Đ..M mày đem tiền lẻ chỗ đâu tao cất. Mau mau đi đổi lại cho tao”. Ông Hoa kiều nộp tiền cho Ninh đến nay vẫn còn sống ở chợ Bạc Liêu, đã hơn 60 tuổi.

Dân buôn bán ở Bạc Liêu còn kể cho nhau nghe giai thoại: “Muốn vào phòng tôi xin cứ đạp cửa” ngụ ý:  Thương buôn nào cần làm việc với Tỉnh trưởng, phải mang theo quà cáp. Thông thường quà là các khánh bằng vàng y, mỗi cái 1-2 lạng vàng. Ai đi tay không vào, Ninh không tiếp, cho đứng ngoài chờ. Những thương gia có máu mặt biết Ninh rất thích vàng Kim Thành, có việc gì cần xin, cứ mang 2-3 thẻ vàng vào, mọi việc xong xuôi. Vào phòng của Ninh không cần lấy tay gõ cửa, chỉ cần lấy chân đạp. Cửa phòng bị đạp, chứng tỏ khách có mang qùa biếu trên tay. Ninh vui vẻ tiếp đón. Người nào dùng tay gõ cửa, Ninh không tiếp. Giai thoại “gõ cửa, đạp cửa” tưởng như chuyện tiếu lâm. Tính cách của Ninh rất ngang tàng, y chẳng sợ ai, kể cả Đặng Văn Quang ở Vùng 4, vì anh của y là Thiệu đang ngồi ở trên ghế vàng Dinh Độc lập.

Hoàng Đức Ninh giỏi đánh hơi thời cuộc. Làm Tỉnh trưởng Bạc Liêu đến năm 1973, Ninh xin Thiệu cho về làm Tư lịnh Đặc khu 44 gồm 3 tỉnh Châu Đốc, Long Xuyên, Cao Lãnh. Thiệu lúc ấy thăng chức cho cậu em lên hàm Chuẩn tướng (người ta đồn vợ của Ninh là Helen, lai đầm khá đẹp từng là bồ nhí của Nguyễn Văn Thiệu). Ở Đặc khu 44 thành tích của Hoàng Đức Ninh là cho các tay em bán nhiều xe súng đạn cho dân buôn lậu biên giới, để họ tiếp tế cho Việt cộng. Ninh cũng vơ vét tiền đút lót của các tay trùm buôn lậu biên giới Việt Nam – Campuchia. Thời kỳ này Ninh thường sử dụng máy bay trực thăng của Đặc khu 44 lên Sài Gòn ăn chơi. Mối tình lâm ly của Chuẩn tướng Ninh với cô đào hát cải lương nổi tiếng, cả Sài Gòn ai cũng biết. Vì mê tiền và quyền lực của Ninh mà cô đào dễ thương phải phụ rẫy hậu vệ Tam Lang của Đội tuyển Sài Gòn. Chuẩn tướng Ninh có nhiều tiền đã đạt được tất cả những gì anh ta muốn. Đầu năm 1974, đánh hơi trước được thời cuộc, Ninh xin Thiệu đi làm Tuỳ viên Quân sự tại Bonn (Tây Đức).

Hoàng Đức Ninh, anh của Hoàng Đức Nhã, có nhiều nợ máu, nợ tiền với nhân dân Vùng 4. Thời anh ta làm Tỉnh trưởng Bạc Liêu, dựa vào thế lực của Ninh, nhiều sĩ quan cấp dưới phạm nhiều tội ác tày trời với nhân dân vùng xôi đậu. Điển hình Thiếu tá địa phương quân Nguyễn Văn Sỹ, gốc là trung uý Phòng Nhì Tiểu khu Bạc Liêu, khi vào Phước Long làm quận trưởng Sỹ đã sát hại nhiều thường dân vô tội. Vào ruồng bố ở xã Vĩnh Hưng, một xã xôi đậu hạng nặng, Sỹ cho bắt đàn bà con gái ở truồng như nhộng đi ngoài đường biểu diễn. Sỹ còn bắt các ông sư lấy gióng gánh khiêng các phụ nữ trần truồng đi khắp xã, như khiêng heo. Cùng một thành tích và cùng một đòn ngón như Nguyễn Văn Sỹ cũng vào thời đó, dưới quyền Hoàng Đức Ninh, còn có Thiếu tá Mã Thành Nghĩa, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Địa phương quân 414. Thành tích của Nghĩa mỗi lần trước khi hành quân, cho lính được nhậu say bí tỉ, vào xã Vĩnh Hưng, xã Phước Long, tha hồ hãm hiếp đàn bà con gái.

Ngày 30 tháng 4-1975, biết thế nào cũng phải đền tội, Thiếu tá Mã Thành Nghĩa đã tự sát bằng súng Rulô. Còn Nguyễn Văn Sỹ có quá nhiều nợ máu, UBND Cách Mạng quận Phước Long đã lập Toà án, đem Sỹ xử bắn. Kết thúc cuộc đời gian ác của hai thanh niên hễ uống rượu vào là muốn thấy máu của đồng bào.

Đại đội trưởng Đại đội heo, Thiếu tá Sỹ quận trưởng Phước Long, Thiếu tá Nghĩa tiểu đoàn trưởng 411, là những đàn em điển hình sự tàn ác của Hoàng Đức Ninh. Chúng đã dám tàn ác, do có Ninh che chở. Lịch sử của dân Bạc Liêu có thể quên nhiều thứ, nhưng dân Phước Long, Thạnh Trị không thể nào quên chuyện của Ninh và đàn em tàn ác vào một thời kỳ hỗn mang, coi mạng người rẻ hơn mạng cầm thú, nhân danh chiến tranh.

Giai thoại về Hoàng Đức Ninh giống như một cuốn tiểu thuyết ly kỳ, rùng rợn. Chỉ nhắc lại một vài sự vụ để nói rằng lịch sử có thể tha thứ nhiều điều, lòng thù hận có thể nguôi đi theo thời gian, nhưng những con cháu sinh ra sau 1975 cần được biết về những nỗi thống khổ mà cha ông chú bác của họ đã phải trải qua trong thời kỳ chiến tranh giành độc lập. Chiến tuyến có thể xóa mờ nhưng tội ác ngàn đời vẫn phải ghi chép là tội ác. Tội ác không phải tràn lan. Tội ác giống như dòng nước bẩn đổ xuống thung lũng ma quái. Ánh sáng văn minh phải có thời gian mới soi rọi, xua tan những hắc khí của một thời ma quỷ lộng hành.

Nghe nói Tướng Nguyễn Cao Kỳ đang vận động xin sớm trở về Việt Nam, kể cả gặp Ngô Công Đức tại Hoa kỳ, nhờ ông Đức vận động. Thực tế, Nguyễn Cao Kỳ đã được chính phủ ở Hà Nội cho phép về Việt Nam trong dịp tết năm 2004. Người ta không thể quên Tướng Kỳ năm 1965 đã đích thân lái máy bay dội bom miền Bắc cùng chuyến với Phạm Phú Quốc. Phạm Phú Quốc tử nạn vì máy bay bị bắn rơi. Còn Tướng Kỳ an toàn trở về. Ông ta chỉ làm màn trình diễn một lần. Khoảng cuối tháng 4-1975, trước cảnh di tản ồ ạt của dân, kể cả sĩ quan, tướng lãnh VNCH, Nguyễn Cao Kỳ đã từng tuyên bố một câu với đài BBC: “Tôi còn cái quần đùi cũng ở lại Việt Nam đánh nhau với cộng sản”. Kỳ cũng đã từng xin gặp Đại tướng Dương Văn Minh đề xuất hợp tác với Tướng Minh một giải pháp quân sự. Cũng đừng quên rằng dưới thời Nguyễn Cao Kỳ làm Thủ Tướng, đã có một Chuẩn Tướng Nguyễn Ngọc Loan, Tổng Giám Đốc Cảnh sát Quốc gia, ngông nghênh gấp mấy lần Chuẩn tướng Hoàng Đức Ninh. Người ta không thể nào quên tấm ảnh trên báo Newsweek. Nguyễn Ngọc Loan kề súng lục ngay vào màng tang một người tù Việt cộng và bóp cò. Đó là một tấm ảnh thuộc vào loại hy hữu của thế kỷ thứ 20, làm cả thế giới chấn động. Nguyễn Ngọc Loan không thể là một Loan ngông nghênh (điên điên, luôn luôn mặc áo nhà binh cụt tay, bỏ ra ngoài, chân đi dép cao su Thái) nếu không có Nguyễn Cao Kỳ. Hoàng Đức Ninh không thể là Ninh tàn ác, vô đạo nếu không có ông anh Nguyễn Văn Thiệu.

Nguyễn Ngọc Loan đã chết tại Mỹ khoảng cuối năm 2001, trước đó ông ta là chủ một nhà hàng ăn ở bang Virginia. Ông ta bị các chủ nhà hàng ăn khác trong tiểu Bang Virginia phản đối không cho tham gia vào nghịêp đoàn các chủ nhà hàng ăn uống vì tội “sát nhân”. Nguyễn Ngọc Loan đã vận động ký giả chụp bức ảnh “giết người” của ông ta, để ký giả này lên tiếng, “tôi chỉ chụp ảnh ông ta vì lý do nghề nghiệp, tôi không kết tội ông ta giết người, vì lúc đó là thời chiến tranh, bắn chết một người cộng sản, ông ta chỉ làm nhiệm vụ của một người lính. Cũng như tôi, tôi chụp ảnh ông ta, là tôi làm nhiệm vụ của một nhà báo. Tôi không có ý kiến khắt khe buộc tội ông ta”. Mặc dù được lời bào chữa của tác giả chụp bức ảnh, Nguyễn Ngọc Loan cũng không thuyết phục được giới chủ nhà hàng ăn bên Mỹ. (Tưởng cũng nên nhắc lại trong cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân, Nguyễn Ngọc Loan lúc chỉ huy trận đánh trong Chợ Lớn, đã từng bị quân giải phóng bắn què giò).

Nay mai Hoàng Đức Ninh, Hoàng Đức Nhã có thể lại nhờ người vận động xin được về nước, giống như Nguyễn Cao Kỳ đã từng làm (ông ta đã được về ). Lịch sử có còn là lịch sử hay không?

Đức Chúa có thể tha thứ mọi điều, kể cả đối với Luxiphe.

Nhưng một số dân Bạc Liêu, Cà Mau khó quên và khó tha thứ những vết bẩn đầy máu của thời kỳ Hoàng Đức Ninh.

Noi Gương Chúa Giêsu Sống Chứng Tá Tin Mừng

Noi Gương Chúa Giêsu Sống Chứng Tá Tin Mừng

Chuacuuthe.com

VRNs (09.03.2015) -Sài Gòn- Kể từ khi khởi sự sứ vụ cách công khai, ngoài việc giảng dạy ra, Chúa Giêsu đã dùng quyền năng của Ngài để thực hiện nhiều dấu lạ như xua trừ ma quỷ, cho kẻ què đi được, cho kẻ điếc được nghe, người mù được thấy, thậm chí cho kẻ chết sống lại. Thiết nghĩ, nếu phải chọn một câu ngắn nhất để nói về những việc Chúa đã thực hiện, có lẽ tôi sẽ chọn câu Lời Chúa trong sách Tông Đồ Công Vụ: “Đi đến đâu, Chúa Giêsu thi ân giáng phúc đến đó” (Cv 10, 38).

Hẳn là Chúa Giêsu trở quê quán của Ngài cũng là để ‘thi ân giáng phúc’ cho những người đồng hương. Điều đáng tiếc là, mặc dù những người đồng hương của Chúa Giêsu rất thán phục về những lời hay ý đẹp của Ngài, nhưng họ đã để cho thái độ tự mãn của họ cản trở tâm hồn và cái nhìn của họ, khiến không chịu mở tâm hồn ra để đón nhận ân phúc từ Thiên Chúa, và không nhận ra Chúa Giêsu là Đấng Thiên Sai.

Những người đồng hương đã tự mãn vì họ nghĩ rằng, họ đã biết rõ gốc gác của Chúa Giêsu (x. Lc 4, 22). Vì lẽ đó, Chúa Giêsu đã không ngần ngại nói với họ của Ngài rằng: “Tôi bảo thật các ông: không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương của mình.” (Lc 4, 24).

Hẳn là Chúa Giêsu thừa biết rằng, câu nói này của Ngài sẽ gây phản cảm và làm chạm tự ái thính giả đồng hương của ngài, Ngài có thể tránh và dùng những lời ngọt tai để lấy lòng họ. Thế nhưng, Chúa Giêsu đã nói thẳng cho họ biết, để họ loại bỏ thái độ tự mãn.

Ở điểm này, chúng ta nhận thấy hành động của Chúa Giêsu là một hành động mang tính ngôn sứ. Ngài nỗ lực rao truyền Chân lý, sẳn sàng chịu ngược đãi, bách hại. Đúng như nhân gian thường nói: “Thuốc đắng giả tật, sự thật mất lòng.” Thay vì thức tỉnh trước lời dạy của Chúa Giêsu mà sửa đổi, những người đồng hương của Chúa Giêsu đã tiếp tục để cho tính “rừng rú” của họ nổi lên, họ dốc tâm hại Chúa Giêsu, nhưng ‘giờ của Ngài’ chưa đến.

Hành động của những người đồng hương với Chúa Giêsu cho thấy được mối nguy hiểm của việc hành động theo cảm tính. Nếu ta chỉ thích nghe những điều làm ta vui tai, chỉ thích làm những điều đem lại sự thỏa mãn hay ích lợi cho bản thân, mà bất chấp những điều ta nghe hay những việc ta làm có phù hợp với chân lý, với những điều Chúa dạy, như thế ta chưa sống xứng với phẩm giá của mình, mà chỉ sống theo bản năng.

Thái độ tự mãn là một thứ định kiến làm cho ta tưởng rằng mình biết rõ một vấn đề hay một lĩnh vực nào đó, khiến ta không còn nỗ lực hay hứng thú để khám phá và nhận chân ra giá trị của một thực tại nào đó.

Trong tương quan với tha nhân, thái độ tự mãn cũng cản trở ta trong việc khám phá những vẽ đẹp tiềm ẩn, những khía cạnh tích cực nơi tha nhân. Đồng thời, thái độ tự mãn có thể tạo nên định kiến tiêu cực trong cái nhìn của ta về tha nhân.

Trong cuộc sống, đôi khi ta dễ bị cám dỗ chỉ dựa vào vật chất như là tiêu chuẩn để đánh giá người khác, chỉ dừng lại ở cái nhìn hời hợt bên ngoài như cách trang điểm, quần áo, diện mạo, điện thoại, xe, dẫn đến việc trọng vọng những người giàu có, mà coi khinh những người nghèo khó. Rốt cuộc, không thấy hết vẽ đẹp trong tâm hồn của người nghèo khó, và không nhận ra sự hiện hiện của Thiên Chúa nơi họ.

Lạy Chúa, xin giúp con loại bỏ những cái nhìn tiêu cực đối với tha nhân, và giúp con nhìn thấy sự hiện diện của Chúa trong anh chị em để con yêu thương, tôn trọng và tích cực giúp đỡ những anh chị em nghèo khổ xung quanh chúng con. Xin Chúa cũng giúp con biết noi gương Chúa can đảm trong việc loan báo và làm chứng cho Tin Mừng.

Vominh

Học giả học giếc

Học giả học giếc

Nguoi-viet.com

Bùi Bảo Trúc

Mấy hôm đầu năm, ở trong nước, không ít người đã ồn hẳn lên về mấy bức ảnh chụp một người đàn ông có tuổi ôm hôn một phụ nữ trẻ khi cô cùng với gia đình đến thăm người đàn ông này tại nhà riêng của ông ta nhân dịp Tết.


Ông Vũ Khiêu và câu đối tặng cô hoa hậu. (Hình: Vietnamnet.vn)

Người đàn ông ấy mới đây đã qua được sinh nhật thứ 100, và được gọi là một học giả nghiên cứu về văn hóa Việt Nam. Ông cũng đã từng nắm giữ một vài chức vụ khá quan trọng khác. Chuyện thăm viếng một người như ông của một phụ nữ trẻ là một việc làm đẹp, nhất là khi cô còn rất trẻ, lại có một cuộc sống sôi động rất ít liên quan đến văn hóa: Cô là một hoa hậu mới đăng quang của Việt Nam.

Chuyện trở nên ồn ào khi nhiều ý kiến cho rằng việc ông ta ôm hôn người phụ nữ trẻ đến thăm ông là một việc không nên làm, vì việc đó không thích hợp với phong tục và tập quán của người Việt, nhất là ở cái tuổi của ông. Ông có thể cầm lấy tay cô gái, nói vài ba câu cám ơn, mừng tuổi cô là đủ. Không cần phải ôm lấy cô để hôn lên má như trong ảnh.

Đâu phải cứ thấy Hồ Chí Minh hôn môi mấy cháu nhi đồng rồi chàng cũng thừa thắng xông lên ôm hôn hoa hậu cho bõ những ngày cơ cực đâu.

Nhưng thực ra chuyện ôm hôn người phụ nữ trẻ đến chúc Tết mình cũng chỉ là một chuyện có thể bỏ qua được. Cháu ra đến ngoài cửa, lấy khăn chùi mạnh mấy cái thì hết cái hôn ấy ngay chứ gì. Xong một chuyện.

Chuyện thứ hai là học giả tặng cho cô hoa hậu một đôi câu đối (?) do chính chàng viết tay trên giấy đỏ để cả hai cùng ký tên vào cho … tình.

Trí như bạch tuyết tâm như ngọc
Vân tưởng y thường hoa tưởng dung

Hai câu rõ ràng là bằng chữ Hán nhưng chàng viết bằng chữ quốc ngữ với cách viết để người đọc sẽ nghĩ đó là hai câu đối. Nhưng hai câu chàng tặng cô hoa hậu không phải là hai câu đối vì chúng hoàn toàn không đối nhau: TRÍ không thể đối với VÂN. BẠCH TUYẾT không đối với Y THƯỜNG. TÂM là tiếng bằng không thể đối với HOA cùng là tiếng bằng. NGỌC không thể đối với DUNG vì ý không đối.

Câu trên nghĩa là đầu óc (cô hoa hậu) thì trong trắng như tuyết, quả tim thì như ngọc. Câu dưới là thấy mây thì nghĩ là xiêm áo và nhìn hoa thì ngỡ là dung nhan của nàng.

Nhưng câu “Vân tưởng y thường hoa tưởng dung” không phải là sáng tác của chàng. Chàng vồ của Lý Bạch (*). Đó là câu đầu của bài Thanh Bình Điệu gồm 3 đoạn mà Lý Bạch viết theo đơn đặt hàng của Đường Minh Hoàng để phổ thành ca khúc hát lên khi Đường Minh Hoàng và Dương Quí Phi thưởng hoa trong cung.

Chàng, giáo sư học giả Vũ Khiêu, thấy hay quá bèn chôm luôn viết cho thành hai câu tặng người đẹp. Nham nhở hết chỗ nói.

Nếu không biết tặng cô gái trẻ cái gì thì cứ đem cả bài Thanh Bình Điệu ra đọc cho cháu nghe, rồi cà kê giảng cho cháu, khen cháu như Lý Bạch ca Dương Quí Phi cũng đã là đủ. Nhưng chàng sốt ruột quá, không biết thơ phú để làm vài câu tặng hoa hậu, bèn lôi ngay thơ Lý Bạch ra chép cạnh câu “Trí như bạch tuyết tâm như ngọc” (không biết chàng mượn của ai) cho thành hai câu viết lằng nhằng giả bộ như thư pháp cho cháu phục lăn chiêng. Chàng viết láo lếu thế nào khiến cho chữ NHƯ đọc như chữ NGƯI.

Rồi chàng ký tên ở dưới và bảo cháu hoa hậu cùng ký tên ngay cạnh. Không hề có cái hoa thị kèm theo vài ba chữ chú thích nói mượn tạm một câu của Lý Bạch.

Thối không để đâu cho hết thối.

Không biết chàng học hành ấm ớ như thế nào nhưng khoe là tốt nghiệp (?) tú tài ở Hải Phòng rồi lên Hà Nội làm cu ly trong nhà thương của Pháp năm 1935. Ai cũng biết hồi ấy mà có cái bằng tú tài thì không ai đi làm lao công trong bệnh viện bao giờ. Chỉ có thứ phét lác thiếu cơ sở mới khai bố láo như thế. Rồi chàng theo cách mạng, lên rừng làm giáo sư và học giả nên mới có thứ chữ nghĩa chôm chỉa đem lòe cháu hoa hậu như khi cháu đến thăm chàng.

Chuyện thuổng thơ văn người khác thì chàng đã làm vài ba lần trước rồi chứ chuyện chôm thơ Lý Bạch nhận là của mình không phải là lần đầu. Người ta kể rằng chàng đã vồ hai câu trong đình làng An Trì thờ Ngô Quyền ở Hải Phòng có từ đầu thế kỷ thứ XIX:

Vạn cổ càn khôn hưng tái tạo
Cửu vân nhật nguyệt ánh trùng quang

Và đem nguyên văn hai câu ấy về dâng (!) lên nhà thờ tổ họ Vũ của chàng ở Mộ Trạch, Hải Dương. Chàng nhận là của chàng cho … tiện.

Nụ hôn gây “chấn động” dư luận. (Hình: Vietnamnet.vn)

Chao ôi, một giáo sư, học giả mà làm ăn như vậy hay sao. Có đạo thơ thì cũng nên chịu khó kiếm bài thơ nào ít ai biết trong mấy ngàn bài thơ Đường chứ sao lại ăn cắp ngay một câu con nít cũng biết là của Lý Bạch mà tặng hoa hậu bao giờ.

Thật là ngu hết chỗ nói. Hay là học giả ở Việt Nam thì phải như thế đấy!

Đó là chưa kể chuyện chàng từng đề nghị dùng hoa mào gà để làm biểu tượng cho nước Việt Nam. Rất may là cái đề nghị ngớ ngẩn đó của chàng đã không được hưởng ứng.

Sao lại có cái thứ học giả ngu xuẩn đến như vậy chứ !

(*)

Thanh Bình Điệu

I

Vân tưởng y thường hoa tưởng dung
Xuân phong phất hạm lộ hoa nùng
Nhược phi Quần Ngọc sơn đầu kiến
Hội hướng Dao Đài nguyệt hạ phùng

II

Nhất chi hồng điểm lộ ngưng hương
Vân vũ Vu Sơn uổng đoạn trường
Tá vấn Hán cung thùy đắc tự?
Khả liên Phi Yến ỷ tân trang

III

Danh hoa khuynh quốc lưỡng tương hoa
Trường đắc quân vương đới tiếu khan
Giải thích xuân phong vô hạn hận
Trầm Hương đình bắc ỷ lan can

Ngô Tất Tố dịch:

I

Thoáng bóng mây hoa nhớ bóng hồng
Gió xuân dìu dặt giọt sương trong
Ví chăng non Ngọc không nhìn thấy
Dưới nguyệt đài Dao thử ngóng trông

II

Hương đông móc đượm một cành hồng
Non Giáp mây mưa những cực lòng
Ướm hỏi Hán cung ai mảng tượng?
Điểm tô nàng Yến tốn bao công

III

Sắc nước hương trời khéo sánh đôi
Quân vương nhìn ngắm những tươi cười
Sầu xuân man mác tan đầu gió
Cửa bắc đình Trầm đứng lả lơi

Nạn đói nhân tạo ở Ukraine và tội ác diệt chủng của Stalin

Nạn đói nhân tạo ở Ukraine và tội ác diệt chủng của Stalin

nguyenthituhuy

RFA

Vào thời điểm Stalin chết, ở Việt Nam có vô số sáng tác khóc thương và xiển dương nhân vật này do các văn nhân thi sĩ cộng sản chủ nghĩa viết, trong số đó nhiều câu đã trở thành “bất hủ”, vì chúng điển hình cho loại hình văn học nô dịch, điển hình cho mức độ tụng ca và dối trá thượng thặng, đặc sản của chế độ toàn trị, một hình thái chính trị chưa từng có trong lịch sử trước thế kỷ XX. Người ta vẫn sẽ còn nhắc đến những câu như: “Yêu biết mấy nghe con tập nói / Tiếng đầu lòng con gọi Stalin” (Tố Hữu). “Đồng chí Stalin đã mất / Thế giới không cha nặng tiếng thở dài” (Chế Lan Viên)

Tôi muốn dùng đoạn thơ dưới đây của Xuân Diệu trong bài “Thương tiếc Đại nguyên soái Stalin”, câu thơ in đậm là do tôi nhấn mạnh, để dẫn vào một chủ đề mà tôi sẽ trình bày trong bài này:

Từ bao lâu yêu Người tận tủy xương
Tiếng khóc đây là tất cả can trường
Thấy Người thật là bát cơm miếng bánh
Người gắn với chúng con trong vận mệnh (Xuân Diệu)

Mấy chữ “bát cơm miếng bánh”, mà Xuân Diệu sử dụng như một thủ pháp để nhằm ca ngợi Stalin đem lại cuộc sống no ấm cho người dân, mới thật là một sự mỉa mai đối với sự thật: Stalin bị nhân loại kết án phạm tội diệt chủng, là kẻ đã gây ra cái chết của mấy triệu người dân Ukraine trong một nạn đói được gọi là “nạn đói nhân tạo”, nạn đói được tổ chức, nghĩa là nạn đói do Stalin cố tình tạo ra, trong khoảng thời gian 1932-1933. Theo ước tính của các sử gia, có khoảng từ 2.6 đến 5 triệu người đã bị buộc phải chết trong cuộc đại thảm sát đó, họ bị buộc phải chết đói.

Vì thế, cho dù khái niệm “toàn trị” gây tranh cãi trong giới nghiên cứu khoa học xã hội, nhưng về cơ bản người ta thống nhất trong nhận định rằng Stalin và Hitler là hai lãnh tụ toàn trị, hai kẻ gây nên tội ác diệt chủng, tội ác chống lại nhân loại, và những tội ác của hai lãnh tụ toàn trị này được thực hiện gần như trong cùng một thời điểm, thời điểm đại chiến thế giới lần thứ hai.

Hai tác giả Borys Martchenko và Okexa Woropay, trong cuốn Nạn đói – Nạn diệt chủng ở Ukraine 1932-1933 (La famine – Génocide en Ukraine 1932-1933, Publications de l’Est européen, Paris, 1983), đã mô tả cách thức tổ chức nạn đói. Họ cho biết rằng từ năm 1930, Stalin đã hoàn tất việc tập thể hóa toàn bộ tài sản nông nghiệp của nông dân ở Ukraine, toàn bộ nền xuất bản độc lập bị hủy bỏ, nhiều triệu người bị bắt trên khắp Ukraine.

Đầu 1932, chính phủ Stalin đề ra mức khổng lồ về lương thực phải giao nộp cho chính phủ, vượt quá mức thu hoạch của nông dân trong thực tế. Mùa đông 1931-1932, chính phủ trưng thu toàn bộ ngũ cốc cũng như những sản phẩm khác. Và như vậy, dĩ nhiên, người dân không còn gì để ăn. Từ mùa xuân năm 1932, nạn đói bắt đầu lan rộng, và đến hè số người chết càng ngày càng tăng lên.

Mùa thu năm đó, chính phủ ra một đạo luật nhằm cấm những người dân đói không được sử dụng ngũ cốc. Nghĩa là nạn đói được luật hóa một cách chính thức, người dân sẽ phải chết cho đúng luật. Tôi trích một đoạn trong cuốn sách của Borys Martchenko và Okexa Woropay:

“Một cuốn sách xuất bản chính thức viết về đạo luật này như sau: “Luật về bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, ban hành ngày 7 tháng 8 năm 1932, đã góp phần rất lớn trong việc củng cố chế độ nông trường tập thể. Theo quy định của luật này, các tài sản của nông trường tập thể được xếp vào hàng tài sản của Nhà nước. Tài sản của nông trường tập thể, cũng như tài sản của Nhà nước, không ai được phép xâm phạm’”( La famine – Génocide en Ukraine 1932-1933, tr.27)

Và để bảo vệ “tài sản nhà nước”, những đội quân canh gác có trang bị vũ khí được thành lập, họ bắn chết không thương xót bất kỳ dám “ăn trộm” lương thực do mình làm ra nhưng mình lại không có quyền sở hữu. Nếu trẻ con ăn trộm thì bố mẹ sẽ bị kết tội. Quả là luật pháp của Stalin không để một kẽ hở nào cho người dân Ukraine được sống. Stalin đã giết người “theo quy định của luật pháp”.

Các tác giả của cuốn sách cho biết, chính phủ Stalin biết rằng cả nông dân lẫn chính quyền địa phương sẽ không giao nộp lương thực trong khi mà nhân dân đang chết đói, vì thế đã sử dụng biện pháp trưng thu cưỡng chế để thực hiện theo đúng chỉ tiêu kế hoạch mà nhà nước đề ra. Bất chấp việc lãnh đạo địa phương yêu cầu Moscou giảm kế hoạch, những đội trưng thu cưỡng chế được Nhà nước cử đến vét sạch tất cả.

“Một nhân chứng của vụ án Kravtchenko kể lại: “Năm 1932, chế độ Xô-viết ra lệnh cho tất cả các nông dân phải giao nộp đến tận hạt lúa mì cuối cùng [ở đây có cái gì giống với khẩu hiệu của Đức quốc xã về việc tiêu diệt dân Do Thái cho đến tận người cuối cùng, về cơ bản đấy đều là những cách thức hủy diệt con người –NTTH]. Sau khi nông dân đã giao hết lúa mì, những người cộng sản và bọn kẻ trộm vào trong làng, lấy đi tất cả những gì còn lại, dưa bắp cải, mỡ lá, và tiêu hủy hết. Họ đã tạo ra một nạn đói nhân tạo trong những năm 1932-1933” (La famine – Génocide en Ukraine 1932-1933, tr.27)

Dĩ nhiên, những người nông dân tìm cách trốn khỏi Ukraine để tự cứu mình. Nhưng chính phủ cho dựng các rào chắn khắp nơi và đuổi nông dân quay trở lại làng, nơi họ không còn gì để ăn. Những làng đói hoàn toàn bị cô lập, không y tế, không giáo dục, trẻ em không có trường học, người ốm không được chăm sóc. Hàng triệu người đã bị bỏ đói cho đến chết.

Tôi chỉ giới thiệu lại một vài chi tiết về việc Stalin đã giết người, giết hàng loạt, bằng cách bỏ đói.

Và giết nông dân chỉ là một giai đoạn trong tiến trình xây dựng quyền lực toàn trị của Stalin. Ông ta còn tiến hành nhiều cuộc thanh trừng với số lượng lớn, giết công nhân, viên chức, một nửa số nhân viên hành chính trong các lĩnh vực khác nhau bị giết, 50% đảng viên của đảng cộng sản bị thanh trừng.

Stalin, con người với tội ác chồng chất khiến cả nhân loại phải kinh hoàng, lại được ca tụng hết lời và được yêu thương tột bậc bởi các thi sĩ mà chế độ Việt Nam đương thời xếp hàng đầu:

Từ bao lâu yêu Người tận tủy xương
Tiếng khóc đây là tất cả can trường
Thấy Người thật là bát cơm miếng bánh
Người gắn với chúng con trong vận mệnh (Xuân Diệu)

Chữ nghĩa là gì, đối với những người làm văn chương và những người viết nói chung?

Paris, 7/3/2015

Nguyễn Thị Từ Huy

Đảng bức tử văn hóa, không ai khác.

Đảng bức tử văn hóa, không ai khác.

canhco

RFA

Cộng đồng mạng và ai quan tâm đến những lễ hội hay sự kiện từ đầu năm tới giờ không khỏi băn khoăn với câu hỏi, tại sao người dân tôi hôm nay lại như thế này?

Không ít ý kiến cho rằng do quản lý yếu kém, do dân trí thấp và do chạy theo lợi nhuận nên kéo theo sự xuống cấp của lễ hội. Nhìn chung dù lý do gì thì cái hại tiềm ẩn ngày một lan rộng sẽ đến một ngày nào đó khiến cả nước sẽ bơi trong một chiếc ao khổng lồ ô nhiễm văn hóa. Ao chứ không phải là sông vì sông thì còn chảy ra biển, được tái tạo lại sinh khí, nhưng bơi lội trong ao thì chỉ tự mình ăn lấy mình, gậm nhấm thành quả do mình tạo ra và tiêu hóa rồi bài tiết nó.

Không một phép lạ nào có thể cứu những sinh vật đang chết lâm sàng trong chiếc ao tù văn hóa ấy, nơi mà tự thân mỗi cá nhân bơi uể oải tìm kiếm chút thực phẩm văn hóa chưa bị ô nhiễm ngày càng hiếm hoi và đang mất hẳn.

Văn hóa nếu không là thực phẩm cho người nghèo thì chí ít nó cũng là sức sống tinh thần nuôi dưỡng tâm tính của tầng lớp dân chúng thấp kém nhất qua các lễ hội dân gian. Văn hóa bị tổn thương chính là khởi đầu của ý thức cộng đồng đang bị xâm hại. Tới một lúc nào đó khi phản ứng cộng đồng tê liệt thì thành phần bần nông sẽ là vùng đất hoang hóa sơ khai dễ dàng nảy sinh nhanh chóng bất cứ một hủ tục nào mà trước đây loài người nỗ lực tiêu diệt chúng.

Văn hóa giống như tất cả các chủ thể khác, luôn đi kèm và dính liền với chính trị, nói gọn lại là chính thể của một nhà nước. Văn hóa Việt Nam từ khi Đảng cầm quyền đến nay gần một thế kỷ, đã tạo nên một khuôn mặt mới, khó thể nói là tốt hơn hay xấu hơn nhưng cái đáng nói là nó có kết quả không thể chối cãi: Đảng đã rất thành công trong công tác biến văn hóa thành công cụ phục vụ cho đảng và mọi hoạt động văn hóa đều do đảng định hướng, điều hành và chỉ đạo.

Chỉ cần nhìn qua các hoạt động mang tính văn hóa đều thấy nơi nào được tổ chức trọng thể, đông người nơi ấy không thể thiếu vắng các khuôn mặt cộm cán trong chính quyền tham dự từ cắt băng khánh thành cho tới đọc diễn văn khai mạc. Người dân không để ý tới vì đối với họ chờ thêm năm mười phút nghe bài đọc ngớ ngẩn của một chủ tịch cũng đáng với cuộc vui mà họ chờ đợi. Cái tác hại không phải ở bài diễn văn mà sự thả lỏng những hành vi nháp nhúa đang làm băng hoại văn hóa.

Đầu năm là văn hóa cung đình của ông Nông Đức Mạnh.

Hàng ngàn bài viết phê phán chiếc ngai vua của ông cựu TBT xem ra không đáng cho nhà nước để ý. Guồng máy đảng đang chạy tối đa lo bảo vệ chính mình hơn là lên tiếng về cung cách xa hoa của một ông vua tập thể. Sự im lặng ấy cho thấy giai cấp giữa người dân và vua chúa không thể san bằng như nguyên tắc chống phong kiến mà nó được công khai tuyên truyền.

Nhà nước im lặng xem như không biết. Một mảnh vỡ văn hóa về cung cách sống rơi ra có gì đáng nói?

Một ông Vũ Khiêu đại diện cho nền văn hóa tiếm đoạt đang được chính quyền đỡ đầu không thể nói là bình thường. Những huy hiệu cao quý, bằng khen tráng lệ, hay huân chương hoành tráng ông Khiêu nhận được từ các lãnh đạo cao nhất của Đảng cho thấy Đảng đang lái chiếc xe kiến thức Việt Nam vào đầm lầy ngu dốt. Những câu thơ trộm đạo, những hành vi nhố nhăng cộng với thành tích bất hảo của ông ta được nhà nước sùng bái cho thấy trình độ của hệ thống đã cán mức chịu đựng của người dân có học.

Văn hóa trộm đạo ấy khi được vinh danh cũng là lúc người dân cùng nhau bịt mặt biến thành cướp biển trước mắt nước ngoài, đặc biệt là phương Bắc nơi bị ông Khiêu thẳng tay ẳm trọn thơ phú quý giá của họ.

Một cá nhân thì gọi là trộm có văn hóa, còn một tập thể thì chế độ có từ riêng ấn tượng hơn: cướp có văn hóa!

Người phát biểu câu ấy là đại diện của Đảng Cộng sản Việt Nam, ông Phó trưởng ban Tuyên giáo Hà Nội Phan Đăng Long.

Khi cho rằng hàng ngàn người chen lấn để cướp cho bằng được lộc thánh là cướp có văn hóa, Đảng đã khuyến khích mọi thành phần xã hội hãy tham gia cướp bóc trong tất cả các lễ hội (Dĩ nhiên không ngoài phạm vi lễ hội) thì ngay bản chất cái lễ hội được khoác chiếc áo văn hóa ấy đã có thêm phạm trù cướp bóc. Giống như ông Vũ Khiêu và ông Nông Đức Mạnh, có gì khác nhau?

Đảng không những làm ngơ, im lặng trước các câu hỏi có liên quan đến việc trộm cắp hay ăn cướp văn hóa công khai, mà còn âm thầm khuyến khích một cách rất tự giác, những văn hóa âm tính mang nặng hủ tục từ Tàu. Nhà nước đã lập hẳn ra những cơ quan nghiên cứu về bói toán mang danh phong thủy và đổ tiền vào đấy không thương tiếc để cơ quan này tuyên truyền cho những điều mà người dân ngu đang cùng với quan chức mỗi năm chờ có dịp thi hành chuyện cướp bóc.

Các cơ quan bói toán ấy hiên ngang tư vấn cho người dân cách đúng nhất khi may mắn xin, hay giật được ấn về nhà. Ông Nguyễn Mạnh Linh, Trưởng phòng Phong thủy Kiến trúc Viện quy Hoạch và Kiến trúc đô thị chỉ dẫn người dân: “Nếu muốn sử dụng hiệu quả hơn theo phong thủy, tùy theo mục đích sử dụng mà dán ở các vị trí khác nhau, như năm 2015 để tăng tài lộc thì dán ấn ở chính Bắc”.

Hướng chính Bắc nếu tính từ Hà Nội sẽ đâm thẳng sang Trung Quốc, nơi mà câu chuyện phong thủy được nâng lên hàng quốc sách.

Định hướng văn hóa không phải chỉ trong lễ hội mà ngay cả những hoạt động văn hóa khác mang tính quốc tế Đảng cũng không hề quên.

Cách đây hai ngày báo Dân Trí chạy tít: “Trong phần thi trang phục dân tộc tại cuộc thi Nam vương toàn cầu 2015, thí sinh của Việt Nam đã gây ấn tượng với bạn bè quốc tế khi mang đến trang phục bộ đội.”

Ai là người định hướng cho thí sinh Nguyễn Văn Sơn mặc áo quần bộ đội ngoài những người trong đảng? Cậu thanh niên ấy có muốn mặc bộ quân phục nghèo nàn, không ít thì nhiều đã nhuộm máu ấy trình diện trước mặt báo chí quốc tế hay không là câu hỏi không khó trả lời.

Câu hỏi đặt ra quần áo bộ đội có thể được xem là trang phục dân tộc hay không?

Không khó để nói rằng trang phục dân tộc không dính gì tới quần áo quân đội, vật cốt giúp người lính dấu mình trước kẻ thù, ngược lại hoàn toàn với trang phục dân tộc, vốn tôn vinh tính thẩm mỹ, văn hóa ăn mặc và nhất là lòng yêu chuộng hòa bình của bất cứ quốc gia nào.

Lấy chiến tranh đi thi biểu tượng hòa bình và hữu nghị chỉ có Đảng mới dám làm, bất kể cái nhìn rẻ rúng của cộng đồng quốc tế.

Đúng như báo Dân Trí đã xỏ xiên, “đây là một hành động gây ấn tượng với bạn bè thế giới”. Cái văn hóa bị nhuộm đỏ ấy của Việt Nam làm sao họ không ấn tượng cho được vì chính nó đã làm cho cuộc thi nhơ nhuốc?