Loa & Pháo Hoa

Loa & Pháo Hoa

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

RFA

Buồn tất cả. Chỉ cái loa là vui!

Nguyễn Chí Thiện

Tôi vừa đọc xong một bài viết hơi buồn: “Gửi Tiết Kiệm Một Chỉ Vàng Nhận Lại Một Ổ Bánh Mì Thịt”. Xin tóm lược:

Vì gia đình có ba thân nhân là liệt sĩ nên năm 1983 ông Nguyễn Vĩnh Rượu nhận được 90 đồng tiền chính sách, hỗ trợ. Ông mang số tiền này gửi vào qũy tiết kiệm, loại không kỳ hạn và có lời.

Ba mươi hai năm sau, vào ngày 31 tháng 3 năm 2015, gia đình ông Rượu mang sổ tiết kiệm đến Ngân hàng VietinBank và nhận lại được hơn 20.000 đồng. Tính luôn “cả lãi lẫn gốc không đủ một cuốc xe ôm,” theo như nguyên văn trong bài báo của ký giả Tấn Tài:

“Trao đổi với Pháp Luật TP.HCM, ông Võ Minh, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Đà Nẵng, cho biết thời gian qua cũng có một số người đưa sổ tiết kiệm ‘tuổi đời’ 20-30 năm đến rút tiền và ngân hàng vẫn giải quyết cho khách hàng bình thường. ‘Phần lớn số tiền trong các sổ tiết kiệm rất nhỏ, qua lần đổi tiền lại càng nhỏ hơn. Ngân hàng Nhà nước đã dồn toàn bộ số tiền này qua một tài khoản riêng để giải quyết khi khách hàng đến nhận tiền’ –  ông Minh cho biết.

Chúng tôi đặt câu hỏi: Có hợp lý không khi vào thời điểm mở sổ, số tiền người dân gửi có giá trị khá lớn nhưng tới giờ nhận cả lãi lẫn gốc không đủ một cuốc xe ôm. Ông Minh cho rằng đây không phải là Nhà nước o ép người dân mà là do giá trị đồng tiền bị sụt giảm. Ngân hàng Nhà nước đã có hướng dẫn rất rõ ràng về việc chi trả này.”

Sổ tiết kiệm của ông Rượu giờ chỉ còn giá trị làm “kỷ niệm”. Ảnh và chú thích: T.TÀI

Thiệt là “rõ ràng” hết biết luôn! Vậy mà tác giả bài viết thượng dẫn vẫn cẩn thận chụp lại phóng ảnh sổ tiết kiệm của ông Nguyễn Vĩnh Rượu, do Ngân Hàng Nhà Nước cấp, cùng với lời chú thích rằng nó chỉ còn giá trị để làm … “kỷ niệm.”

Tất nhiên, đây là một kỷ niệm (rất) buồn của người dân với nhà nước Việt Nam

Tuy thế, theo VTV:

“Vào 21h hôm nay (28/3), những màn pháo hoa rực rỡ đã thắp sáng bầu trời Đà Nẵng chào mừng kỷ niệm 40 năm Ngày giải phóng Thành phố.

Chương trình bắn pháo hoa kéo dài 15 phút với 100 giàn pháo, trong đó có 2.000 quả pháo tầm thấp. Đây là lần đầu tiên chương trình bắn pháo hoa nhân các dịp lễ, tết tại Đà Nẵng không chỉ ‘dồn’ hết về dọc hai bờ sông Hàn ở khu vực trung tâm Thành phố như những năm trước đây, mà còn diễn ra ở các vùng xa để phục vụ người dân. Những điểm bắn pháo hoa tại Đà Nẵng lần này gồm: trên cầu Nguyễn Văn Trỗi; sân vận động quận Ngũ Hành Sơn; trước trụ sở UBND quận Liên Chiểu và trước trụ sở Ủy ban MTTQ huyện Hòa Vang. Nhờ đó, không chỉ người dân và du khách tại Đà Nẵng mà cả người dân Quảng Nam và các khu vực lân cận cũng nô nức đón xem pháo hoa.

Thời tiết vào đêm diễn ra pháo hoa tương đối quang tạnh, thuận lợi để người dân mãn nhãn với những màn pháo hoa đầy màu sắc, cùng hòa vào không khí vui tươi phấn khởi mừng kỷ niệm Ngày giải phóng thành phố.”

Chiêm ngưỡng những tràng pháo hoa nổ rợp trời. Ảnh & chú thích: Lao Động

Trong số hàng ngàn người dân Đà Nẵng “hòa vào không khí vui tươi phấn khởi mừng kỷ niệm Ngày giải phóng thành phố” và “chiêm ngưỡng những tràng pháo hoa nổ rợp trời,” tôi e không có những người thân trong gia đình ông Nguyễn Vĩnh Rượu. Không lẽ họ lại “tươi vui phấn khởi” sau một cuộc chiến tương tàn, với vài ba thân nhân đã trở thành liệt sĩ mà (chung cuộc) “chiến lợi phẩm” chỉ là … một ổ bánh mì kẹp thịt?

Theo VNEXPRESS thì Đà Nẵng/Quảng Nam “là địa phương có nhiều bà mẹ Việt Nam anh hùng nhất với 11.234 người.” Tính rẻ ra thì địa phương này, ít nhất, cũng phải có 11.234 gia đình liệt sĩ. Liệu có bao nhiêu người trong số những gia đình này vừa tươi vui phấn khởi,” vừa gặm bánh mì kẹp (thịt) vừa  … “chiêm ngưỡng những tràng pháo hoa nổ rợp trời” để “mừng kỷ niệm Ngày giải phóng thành phố” của mình?

Hẳn không mấy ai vô tâm đến thế.

Tuy thế, trước đó hai ngày, cũng theo VTV:

“Đúng 21h ngày 26/3, bầu trời thành phố Huế đã rực sáng với những màn pháo hoa đầy màu sắc. Khoảng 1.000 quả pháo được bắn tầm cao, kéo dài suốt 15 phút, thu hút sự chú ý của hàng nghìn người dân và du khách.

Đây là một trong chuỗi các hoạt động ý nghĩa được tổ chức, nhằm tạo không khí rộn ràng, vui tươi cho người dân cố đô nhân kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng Thừa Thiên Huế.”

Thành phố Huế lung linh trong sắc pháo hoa. Ảnh và chú thích: Tạp Chí Sông Hương

Trong “không khí rộn ràng, vui tươi cho người dân cố đô nhân kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng Thừa Thiên Huế” và trong số “hàng nghìn người dân và du khách” ngắm nhìn “thành phố Huế lung linh trong sắc pháo hoa” (chắc) cũng không có mấy thân nhân liệt sĩ, cũng như thân nhân của những gia đình nạn nhân đã bị qúi vị liệt sĩ trói tay rồi đập chết (mấy mươi năm trước) đâu.

Về “số liệu về các hố chôn tập thể” trong vụ “Thảm Sát Huế Tết Mậu Thân,” Wikipedia: ghi nhận như sau:

“Trong những tháng và những năm tiếp theo sau Trận Mậu Thân tại Huế, bắt đầu từ ngày 31 tháng 1 năm 1968, và kéo dài tổng cộng 26 ngày, hàng chục ngôi mộ tập thể được phát hiện trong và xung quanh Huế. Nạn nhân bao gồm phụ nữ, nam giới, trẻ em và trẻ sơ sinh. Số liệu từ các nguồn khác nhau có sự không thống nhất.

Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đưa ra danh sách 4.062 nạn nhân được xác định là đã bị bắt cóc hoặc bị giết. Theo các báo cáo của Việt Nam Cộng Hòa, nhiều thi thể được tìm thấy ở tư thế bị trói buộc, bị tra tấn và đôi khi bị chôn sống.

Theo báo cáo tổng kết của Douglas Pike, lúc bấy giờ là nhân viên Cục Tâm lý chiến của cơ quan thông tin Hoa Kỳ, năm 1970:

‘Câu chuyện (về Huế) chưa chấm dứt. Nếu ước đoán của giới chức Huế được coi như gần đúng, khoảng 2.000 người vẫn còn mất tích. Tổng kết về người chết và mất tích như sau:

  • Tổng số dân sự tử vong: 7.600 – chết lẫn mất tích
  • Chiến trường: – 1.900 bị thương vì chiến cuộc; 944 thường dân chết vì chiến cuộc
  • Nạn nhân của những vụ giết tập thể:

1.173 – số tử thi tìm trong đợt đầu sau cuộc chiến, 1968

809 – số tử thi tìm trong đợt nhì, kể cả tìm thấy ở đụn cát, tháng 37 năm 1969

428 – số tử thi tìm trong đợt thứ ba, trong khe Đá Mài (khu Nam Hoa) – tháng 9 năm 1969

300 – số tử thi tìm trong đợt thứ tư, khu Phu Thu, tháng 11 năm 1969

100 – số tử thi tìm thấy các nơi trong năm 1969

1.946 – mất tích (tính đến năm 1970)’

Theo soạn giả Matthew White ghi lại trong Atrocities: The 100 Deadliest Episodes in Human History (Tàn khốc: 100 sự kiện tử vong cực cao trong lịch sử nhân loại) thì vụ thảm sát ở Huế năm 1968 được ông trích dẫn từ các nguồn khác nhau cho rằng “đã có 2.800 người bị giết và 3.000 người mất tích do Việt Cộng thực hiện”.

Theo Gareth Porter, một học giả Mỹ, các ước lượng ban đầu của Bộ Di dân và An sinh Xã hội Việt Nam Cộng hòa, số dân thường thiệt mạng do giao tranh và bom pháo là 3.776, trên tổng số dân thường bị thương, chết hoặc mất tích là 6.700 người, chứ không phải các con số 944 và 7.600 do Tiểu đoàn Chiến tranh Chính trị số 10 của Quân lực Việt Nam Cộng hòa đưa ra. (Các con số 944 và 7.600 này đã được Pike Douglas dùng trong thống kê của mình.)”

Ảnh: http://i.ytimg.com/vi/1CaSTPIRP0o/maxresdefault.jpg

Vẫn theo Wikipedia:

Thảm sát tại Huế Tết Mậu Thân (tiếng Anh: Hue massacre) là tên gọi một sự kiện trong Chiến tranh Việt Nam khi phát hiện nhiều ngôi mộ tập thể chôn tử thi trong chiến trận Huế. Việc phát hiện hố chôn xảy ra khi Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam mở cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân và đóng ở Huế một tháng, sau đó bị triệt thoái trước sự phản công của Quân lực Việt Nam Cộng hòaQuân đội Hoa Kỳ.[

Cho đến nay, tài liệu từ cả phía Việt Nam và Mỹ vẫn quy trách nhiệm cho nhau về nguyên nhân và tính xác thực của sự kiện này. Trong khi đó, các nhóm phản chiến và nhiều học giả phương Tây khẳng định rằng số lượng và hoàn cảnh của những người bị giết đã bị khuếch đại và ngụy tạo để phục vụ mục đích tuyên truyền trong chiến tranh. Nguồn từ phía quân Giải phóng thì ghi nhận họ đã chôn nhiều thường dân chết do hỏa lực hạng nặng của Mỹ cùng với binh sĩ tử trận của chính họ.”

Tôi tạm thời “chưa” bận tâm (lắm) về chuyện “trách nhiệm” của phe nào trong vụ thảm sát hàng chục ngàn người trong vụ Mậu Thân. Tôi chỉ (trộm) nghĩ rằng tại một vùng đất đã xẩy ra một trong “100 sự kiện tử vong cực cao trong lịch sử nhân loại” thì chính quyền địa phương, hàng năm, nên tổ chức một buổi lễ tưởng niệm những nạn nhân – bất kể bên nào.

Không làm được như vậy, đã đành, mà còn thực hiện “những màn pháo hoa đầy màu sắc … nhằm tạo không khí rộn ràng, vui tươi cho người dân cố đô nhân kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng Thừa Thiên Huế” thì e đây là một chuyện (rất) thất nhân tâm – nếu chưa muốn nói là ngu xuẩn – nhất là khi ngân qũi quốc gia (phần lớn) nếu không đến từ kiều hối, từ tiền viện trợ, tiền bán rừng, bán khoáng sản thô hay tiền vay mượn của nước ngoài.

Công du Bắc Kinh, Việt Nam được gì?

Công du Bắc Kinh, Việt Nam được gì?

Mặc Lâm, biên tập viên RFA, Bangkok
2015-04-14

04142015-what-vn-got-th-cn-visi.mp3

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (trái) Tổng thư ký Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, trao đổi cùng ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng thư ký Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, tại Bắc Kinh, Trung Quốc, ngày 07 tháng tư, năm 2015

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (trái) Tổng thư ký Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, trao đổi cùng ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng thư ký Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, tại Bắc Kinh, Trung Quốc, ngày 07 tháng tư, năm 2015

AFP

Your browser does not support the audio element.

Chuyến đi Bắc Kinh của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và phái đoàn đã kết thúc bằng các bài viết ca tụng sự hợp tác của hai nước từ các kênh chính thức của Trung Quốc, tuy nhiên trên hệ thống truyền thông dòng chính của Việt Nam hầu như không có bài viết quan trọng nào ca ngợi những gì mà phái đoàn đạt được, nhất là về vấn đề Biển Đông. Mặc Lâm ghi nhận ý kiến từ các chuyên gia, trí thức trong và ngoài nước về sự kiện kiện này.

Lo nhiều hơn vui

Trước khi chính thức sang Hoa Kỳ nhân dịp kỷ niệm 20 năm bang giao Hoa kỳ Việt Nam, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã dẫn một phái đoàn hùng hậu sang Bắc Kinh. Đây là lần thứ sáu ông Trọng sang Trung Quốc nhưng có lẽ đây là lần ông được tiếp đón hết sức trọng thể với nghi thức ngoại giao dành cho một nguyên thủ quốc gia mà Bắc Kinh ưu ái dành cho ông. Những nghi thức lễ tân đặc biệt đã cho thấy thái độ xoay chuyển đầy ý nghĩa của lãnh đạo Trung Quốc đối với Việt Nam.

Người ta còn nhớ chỉ vài tháng trước đây khi Trung Quốc mang giàn khoan HD-891 vào khu vực đặc quyền kinh tế của Việt Nam ông Trọng từng yêu cầu nói chuyện với ông Tập Cận Bình nhưng không được đáp ứng. Lần này, sự hào phóng của Trung Quốc được truyền thông nước này hết lời tâng bốc cho thấy cục diện đã khác. Phải chăng Trung Quốc muốn lôi kéo Việt Nam trở lại quỹ đạo của họ trước khi bị Hoa Kỳ kéo ra khỏi vòng quay mà hơn nửa thế kỷ qua Đảng Cộng sản Việt Nam không cách nào thoát ra được?

Tuy nhiên, căn cứ trên những gì mà truyền thông Trung Quốc đưa ra trong 4 ngày công du Bắc Kinh của TBT Nguyễn phú Trọng, trí thức Việt Nam tỏ ra thất vọng và lo lắng nhiều hơn trước. Theo Tân Hoa Xã cho biết hai nước đã đồng ý trên nguyên tắc hoạt động của “Nhóm bàn bạc về hợp tác cùng phát triển trên biển” các lĩnh vực ít nhạy cảm, tích cực thúc đẩy hợp tác cùng phát triển tại vùng biển Vịnh Bắc Bộ, sớm khởi động khảo sát chung tại vùng biển này trong năm 2015.

” Đây là chỉ dấu cho thấy sự hợp tác để cùng khai thác, một đặc điểm hợp tác mà Trung Quốc luôn nắm cán đối với Việt Nam trong nhiều thập niên qua bởi sự lệ thuộc quá sâu vào hệ thống chính trị cũng như nguồn vốn, khoa học kỹ thuật của Việt Nam cách nhau quá xa so với Trung Quốc.”

Đài phát thanh CRI của TQ cũng bình luận về con đường tơ lụa trên biển và cho rằng quan hệ Trung-Việt chiếm vị trí quan trọng trong bố cục lớn về ngoại giao xung quanh của Trung Quốc trên nguyên tắc cùng thương lượng, cùng xây dựng, cùng chia sẻ. Nhận xét về vấn đề này PGS TS Hoàng Ngọc Giao cho biết:

-Về câu chuyện “con đường tơ lụa trên biển” thì tôi thấy tham gia vào con đường tơ lụa trên biển của họ cũng lại là cái trò dùng kinh tế để che đậy các mưu đồ về chiến lược, về quân sự, địa chính trị. Một mặt thì họ xây đảo, mặt khác họ tung tiền ra gạ các nước trong khu vực làm con đường tơ lụa trên biển, họ bỏ ra mấy chục tỷ đô la thế nhưng mà nếu đứng từ lợi ích dân tộc để phân tích thì ta được lợi gì trong “con đường tơ lụa”? trong khi vấn đề chủ quyền biển đảo của chúng ta vẫn đang dần dần bị họ gậm nhấm. Họ đang gậm nhấm, họ xây cả một đảo Gạc Ma, rồi đảo Chữ Thập đảo Gaven…họ làm cả căn cứ quân sự lớn trên đấy. Không phải mai mốt nữa mà rõ ràng hiện nay sự hiện diện đấy nó không chỉ là xâm chiếm mấy cái đảo mà nó án ngữ toàn bộ đường ra Biển Đông của mình.

Bộ Ngoại giao Việt Nam cho biết vào ngày 08 tháng 5 là các tàu Trung Quốc bảo vệ giàn khoan 981 đặt sâu trong vùng biển thuộc chủ quyền  của Việt Nam đã sử dụng vòi rồng để tấn công các tàu tuần tra Việt Nam và liên tục đâm chúng, làm bị thương sáu người.

Bộ Ngoại giao Việt Nam cho biết vào ngày 08 tháng 5 là các tàu Trung Quốc bảo vệ giàn khoan 981 đặt sâu trong vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam đã sử dụng vòi rồng để tấn công các tàu tuần tra Việt Nam và liên tục đâm chúng, làm bị thương sáu người.

Mai mốt tàu thuyền ngư dân của mình sẽ ảnh hưởng. Trước khi họ chưa có sự hiện diện thường xuyên ở đấy thì họ đã cấm đánh bắt cá, họ làm khó ngư dân mình, họ cướp tàu, họ đánh đắm tàu mình…khi mà họ có sự hiện diện thường xuyên thì toàn bộ vùng đo làm sao còn nơi sinh sống cho ngư dân? Đấy là chưa kể nếu họ lập vùng thông báo bay kiềm soát về hàng không nữa thì như vậy vể mặt địa chính trị. An ninh mà nói thì đó là một đe dọa thực sự rất lớn đối với chủ quyền biển đảo của chúng ta.

” Họ đang gậm nhấm, họ xây cả một đảo Gạc Ma, rồi đảo Chữ Thập đảo Gaven…họ làm cả căn cứ quân sự lớn trên đấy. Không phải mai mốt nữa mà rõ ràng hiện nay sự hiện diện đấy nó không chỉ là xâm chiếm mấy cái đảo mà nó án ngữ toàn bộ đường ra Biển Đông của mình

PGS TS Hoàng Ngọc Giao”

Bên cạnh những thỏa thuận thúc đẩy đầu tư mà Việt Nam khẩn khoản đề nghị, Trung Quốc cho biết sẵn sàng đưa những tập đoàn kinh tế hàng đầu của nước này sang Việt Nam trong đó có tập đoàn sản xuất thiết bị viễn thông Huawei. Theo dõi vụ này GS Nguyễn Văn Tuấn từ Sydney đưa ra mối quan tâm của ông:

-Tập đoàn Hoa Vi (Huawei) là một tập đoàn chính phủ Trung Quốc được xem là có những thương vụ không rõ ràng. Chính phủ Úc, Canada và theo tôi biết cả chính phủ Mỹ cũng vậy đã tẩy chay tập đoàn này không cho họ đầu tư cơ sở vật chất ví nó có thể đe dọa an ninh đất nước của họ. Thế nhưng ở Việt Nam chúng ta thì tình hình rất khác, chúng ta chào đón công ty đó có vẻ rất nồng nhiệt và theo thực tế như tôi biết thì công ty này đã tứng làm ăn với Việt Nam trong quá khứ, rất nhiều bộ phận viễn thông, trang thiết bị viễn thông cũng nhập từ Hoa Vi cả…thành ra tất cả những cái đó nó làm cho mình quan tâm đến an ninh của Việt Nam

Trí thức trong nước đặc biệt quan tâm tới cụm từ “nhận thức chung” mà Thông cáo chung đã nêu lên. Bàn về vấn đề này, GS Nguyễn Ngọc Trân nguyên đại biểu Quốc Hội cho biết nhận xét của ông:

-Cái nhận thức chung là hai bên cùng thức hiện chứ không phải nhận thức chung thì chỉ một mình Việt Nam thực hiện mà Trung Quốc cũng phải thực hiện nữa. Như ông Thủ tướng có trả lời các đại biểu quốc hội ở Kiên Giang tại kỳ họp thứ 7 của Quốc hội vừa rồi là “mình hợp tác vừa đấu tranh với Trung Quốc buộc họ cũng phải thực hiện theo những điều ước mà luật pháp quốc tế vá Công ước về Luật biển năm 1982 có DOC và COC.

Công trình xây dựng của Trung Quốc trên Đá Gạc Ma, ảnh chụp từ vệ tinh ngày 15/11/2014.

Công trình xây dựng của Trung Quốc trên Đá Gạc Ma, ảnh chụp từ vệ tinh ngày 15/11/2014.

Chuyến thăm vừa rồi của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng là một hoạt động đối ngoại của mình nó không phải là toàn bộ hoạt động đối ngoại của mình trong vấn đề Biển Đông mình phải vửa hợp tác vừa đấu tranh. Đấu tranh trên cơ sở nào. Đấu tranh không có nghĩa chỉ đối đầu mà thôi còn có vấn đề hợp tác, vấn đề nhận thức chung nhưng mà không đủ, còn phải có luật pháp quốc tế, phải có Công ước luật biển mà đây chính là cơ sở đề mình cùng với những nước khác có cùng quyền lợi chung trên Biển Đông.

Riêng PGS TS Hoàng Ngọc Giao thì đặt câu hỏi:

-Nhận thức chung hay còn gọi là nhận thức chung của lãnh đạo, thế bây giờ nhân dân chả biết nhận thức chung của lãnh đạo cao cấp là gì? chả thấy công bố gì cả. Hai bên nhận thức chung với nhau như thế nào thì đây cũng là một dấu hỏi lớn.

Hành động coi thường của Trung Quốc

Mặc dù nói lời ngon ngọt với Việt Nam như vậy nhưng khi phái đoàn của TBT Nguyễn Phú Trọng đang trên đường về nước thì Trung Quốc công khai vén bức màn xây dựng các căn cứ quân sự trên đảo Vành Khăn nơi họ chiếm của Việt Nam trước đây. GS Nguyễn Văn Tuấn nhận xét:

” Thái độ của Trung Quốc rõ ràng chơi với mình không đẹp. Trong khi họ đón ông Tổng bí thư có thể nói là rất trọng hậu thế nhưng khi đoàn của ông Tổng bí thư chưa về tới Việt Nam thì họ đã xây dựng nhiều công trình ở đảo Vành Khăn như chúng ta đã biết

GS Nguyễn Văn Tuấn”

-Thái độ của Trung Quốc rõ ràng chơi với mình không đẹp. Trong khi họ đón ông Tổng bí thư có thể nói là rất trọng hậu thế nhưng khi đoàn của ông Tổng bí thư chưa về tới Việt Nam thì họ đã xây dựng nhiều công trình ở đảo Vành Khăn như chúng ta đã biết. Khi được hỏi tại sao họ làm như vậy thì họ trả lời rất ngênh ngang tuyên bố đó là đảo của họ nên họ muốn làm gì thì làm! Thực ra những đảo đó họ đã cướp từ Việt Nam, nếu dùng chữ “cướp” thì có lẽ cũng không quá đáng.

Cái cách mà họ nói như vậy tôi thấy điều thứ nhất, nều nói nhẹ một chút thì nó rất bất lịch sự với đoàn của Việt Nam. Nếu nói nặng hơn một chút thì tôi nghĩ rằng thì đó là thái độ xem thường mình. Tôi rất ngạc nhiên phía Việt Nam không thấy ai lên tiếng trên báo chí, công luận nên tôi rất ngạc nhiên. Tôi nghĩ mình nên có thái độ song phẳng và bình đẳng hơn ví tất cả các việc làm của họ thì phía Việt Nam đều im lặng, thậm chí không dám nhắc đến, ai cũng bức xúc nhưng nhà nước cứ giữ im lặng thì thái độ và hành vi này làm cho Trung Quốc họ lấn tới.

Tất nhiên khi nói cứng rắn bình đẳng không có nghĩa là mình đòi hỏi họ phải làm tất cả những chuyện mình muốn nhưng ít ra mình cũng phải lên tiếng để cho họ thấy rằng mình có chủ quyền và phải tôn trọng mình chứ không thể lấn lướt tới hoài như vậy được

Từng là Vụ trưởng của Ban biên giới chính phủ có lẽ PGS TS Hoàng Ngọc Giao không lạ gì sự trở mặt của Trung Quốc trong khi tranh chấp với Việt Nam, ông cho biết:

-Đây là một chiến thuật của Trung Quốc trong quan hệ với Việt Nam họ vừa xoa lại vừa lấn tới, họ vừa xoa vừa đánh mình. Có hai ý mà tôi thây không ổn, ông Tập Cận Bình ông ấy nói rằng hai bên phải có cách tiếp cận mới, có ý tưởng mới cho cái quan hệ Việt Trung. Chúng ta thấy gì? Quan hệ Việt Trung cho đến nay họ xâm lấn biển đảo của mình, họ gây nhiều chuyện với mình, với ngư dân mình thế mà bây giờ lại kêu gọi cách tiếp cận mới, ý tưởng mới. Có nghĩa những cái gì đã xảy ra thì không đề cập lại. Đó là chiến thuật mà nói rõ hơn là một âm mưu theo cái kiều vừa đấm vừa xoa, dường như phớt lờ đi chuyện tồn tại. Họ dùng cái từ “kiểm soát tranh chấp ở trên biển”. Thế nào là kiểm soát? Cùng nhau kiểm soát là thế nào? Phải giải quyết chứ?

Phải chăng cùng nhau kiểm soát là giữ nguyên cái hiện trạng này đừng để chuyện tranh chấp này được giải quyết, còn họ thì cứ có lợi. Theo tôi điều này không ổn.

Giới chuyên gia về vấn đề Biển Đông lo ngại rằng những gói kinh tế mà Trung Quốc đem ra nhử Việt Nam sẽ làm cho một số lãnh đạo tin rằng lần này họ có thiện chí hơn trước, tuy nhiên so với những gì mà Việt Nam mang về từ Bắc Kinh thì không ai có thể lạc quan, vì kinh nghiệm quá nhiều vào những gì mà Trung Quốc đã từng làm trong vấn đề Biển Đông.

Bạn sẽ dạy con trẻ thế nào về sự thật và lịch sử Việt Nam?

Bạn sẽ dạy con trẻ thế nào về sự thật và lịch sử Việt Nam?

– Tin nổi bật, Blog Thành Viên

VRNs (14.4.2015) – Sài Gòn  – Cấp 1, cấp 2, cấp 3 tôi là một trong số những đứa học trò cưng của môn sử bởi vì tôi luôn “thuộc làu” những bài học lịch sử bằng tất cả tình yêu quê hương, yêu đất nước VN hào hùng với những trang sử đầy ắp chiến công, chiến thắng. Chỉ có điều hơi khó khăn khi phải thuộc nằm lòng những con số chính xác: Quân ta đã bắn chết bao nhiêu tên địch, bắn rơi bao nhiếu chiếc máy bay, thu gom được bao nhiêu loại vũ khí…Khổ lắm, với tôi những con số cứ rối loạn, rối tung cả lên nhưng không thuộc lòng là không được nếu muốn bài thi đạt điểm cao tuyệt đối…

Rồi lịch sử trong những trang sách giáo khoa đã nuôi dưỡng trong tôi sự thù hận, tôi hận bọn Mỹ, bọn Ngụy ghê ghớm. Tuổi thơ đầy ắp những dấu hỏi sao bọn Mỹ, bọn Ngụy lại ác đến thế? Khi phải đọc và thuộc lòng những đoạn mô tả hình phạt tra tấn khủng khiếp bọn Mỹ Ngụy dành cho các chiến sĩ cách mạng là hầu như tôi đều sợ đến mức nổi da gà, rùng mình và ám ảnh mãi với những hình ảnh khủng khiếp…Chúng khiến cho tâm hồn tôi, tuổi thơ tôi nhuốm đầy máu bạo lực, sự sợ hãi và cả sự hận thù sâu sắc…

Một bài toán dạy con trẻ tính bạo lực. Ảnh FB Bạch Cúc

Một bài toán dạy con trẻ tính bạo lực. Ảnh FB Bạch Cúc

Rồi tôi yêu Hồ Chủ Tịch, yêu tha thiết vì Bác giỏi quá. Tôi không hiểu sao Bác có thể nói được 29 thứ tiếng…Đêm đêm tôi nằm mơ thấy Bác, tôi thuộc lòng những “Câu chuyện kể về Bác Hồ” với niềm tự hào và vinh dự ngất ngưởng khi được chọn đi thi kể chuyện về Bác…
Khoảng cấp 3, tôi nhớ mãi một cuộc tranh luận ngắn giữa ba mẹ và người chị ruột của tôi. Chị ấy là giáo viên dạy sử, trong bữa cơm gia đình chị ấy dõng dạc tuyên bố đất nước Việt Nam thật thanh bình, không có chiến tranh, không có khủng bố và nói chung các nước trên Thế Giới đầy ắp sự bất an, chỉ có Việt Nam là số một an toàn và hòa bình… Tôi nhớ rõ ràng cảm giác nghẹn sững sờ của cha mẹ tôi, ông bà cố nói một vài câu phản biện lại điều đó nhưng trước cử chỉ hùng hồn và sự khẳng định mạnh mẽ của chị, ông bà đành chốt câu cuối thế này: Cha mẹ sống qua hai chế độ, cha mẹ biết và hiểu rõ nhất chế độ nào tốt, chế độ nào không tốt. Chỉ có điều có nói bây giờ con cũng không chịu tiếp nhận, có lẽ rồi trong tương lai con sẽ nhận ra sự thật và sẽ hiểu…Có điều gì đó băn khoăn, hoài nghi trong lòng tôi, có những dấu hỏi to dần, to dần và chưa có lời giải đáp…

Thằng nhỏ con tôi đi nhà trẻ về ngêu ngao bài hát ” Ai yêu Bác Hồ Chí Minh bằng các em nhi đồng”, rồi đêm đó nó nằm mơ thấy Bác y như mẹ ngày xưa. Sáng sớm nó hồ hởi nói với tôi với một giọng vô cùng hạnh phúc là mẹ ơi con mơ thấy Bác Hồ, con yêu Bác Hồ lắm…Trong lòng tôi bỗng quặn lên một nỗi niềm khó tả, nó như giọt nước tràn ly khiến tôi hét lên một câu vô nghĩa và nói một điều chẳng hay ho gì với thằng nhỏ, rồi những ngày sau đó, con tôi luôn nắm áo tôi và hỏi, mẹ ơi mẹ nói Bác Hồ như vậy nghĩa là sao?…

Bạn sẽ dạy cho con bạn, cho trẻ nhỏ về lịch sử Việt Nam thế nào đây? Bạn sẽ nói sự thật hay nói theo những điều dối trá theo sách vở mà bao năm qua nó đã hủy hoại nhận thức của bạn, và kế tiếp là hủy hoại thế hệ con của bạn? Bạn dạy thế nào? Dạy bằng cách nào khi ở trường con bạn vẫn phải học và trả bài thuộc làu làu theo giáo trình lịch sử? Bạn làm ngơ hay cố gắng giải thích? Con bạn sẽ tin bạn hay tin cô giáo, tin nhà trường vì sự sợ hãi và áp lực của việc học tập?…
Bạn có muốn những thế hệ tiếp theo sẽ là những con cừu y chang bạn? Bạn có muốn con bạn khi bắt đầu trưởng thành, khi tới thời điểm nhận ra chân lý và sự thật thì đồng thời cũng là lúc cảm thấy vô cùng tức giận, thấy hụt hẫng và hoàn toàn mất niềm tin? Tôi từng cảm thấy buồn giận cha mẹ mình, tôi tự hỏi sao cha mẹ không dạy tôi sự thật mà cha mẹ là người biết rõ nhất. Sao cha mẹ không chia sẻ sớm với tôi về lịch sử đất nước này, dân tộc này và định hướng cho tôi tự tìm hiểu, tự so sánh và tự tìm ra chân lý bằng tư duy của chính mình. Tôi đã bị bịt mắt quá lâu trong một đường hầm đen tối để rồi tôi hoang mang, hụt hẫng, đau đớn khi phải lần mò từng bước, lần mò tìm lại từng chút ánh sáng của sự thật để trở thành như ngày nay, tôi thật sự tiếc vì đã mất quá nhiều thời gian…

Bạn hãy dạy cho con trẻ, những thế hệ sau bạn biết tôn trọng sự thật và chân lý…Đừng chần chừ, đừng ngại ngần, đừng sợ hãi khi nhắc đến sự thật bởi sự thật là chân lý. Dù bạn có cố né tránh hay che đậy sự thật thì sự thật vẫn vây quanh bạn, tác động đến bạn và nhắc nhớ cho bạn biết rằng, bạn đã hèn nhát với chính bản thân mình và đang rất tàn nhẫn với các thế hệ mai sau…
Muốn đất nước thay đổi bạn phải thay đổi, điều thay đổi dễ dàng nhất là hãy dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, chấp nhận nó và đồng hành giúp con bạn, giúp những người trẻ tiếp nhận sự thật càng sớm càng tốt. Nếu tất cả các bậc làm cha làm mẹ trên toàn nước Việt Nam này can đảm nói sự thật với con mình và giúp con quay lưng với dối trá thì tôi tin rằng đất nước này sẽ sớm thay đổi, thật thế!

FB Bạch Cúc

Gió mới cho ngày 30/4

Gió mới cho ngày 30/4

Đỗ Kỳ Đăng Gửi cho BBC từ thành phố Seattle, Hoa Kỳ

2015 đánh dấu 40 năm kết thúc cuộc chiến Việt Nam

Chiến tranh Việt Nam (1954-1975) là cuộc chiến huynh đệ tương tàn.

Theo tôi, ước mơ cho một cuộc sống tốt đẹp và một tương lai tươi sáng của người Việt Nam khắp ba miền đã bị lợi dụng bởi những chính trị gia với những con bài chủ nghĩa xã hội hay tự do dân chủ. Khởi đầu từ những ước muốn được thay đổi, người dân Việt đã chọn những con đường khác nhau để đi tới ước mơ đó. Nhưng những ước mơ đã bị đánh cắp. Những tương lai hứa hẹn đã được thay thế bằng những nỗi đau, những mất mát, những hận thù truyền đi nhiều thế hệ, những kỳ thị và phân biệt tồn tại qua hai thế kỷ.

Tôi là một du học sinh Việt Nam chưa đầy 18 tuổi, sinh ra trong một nước Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa bởi một gia đình Việt Nam Cộng Hòa. Tôi có những người ông đứng cả hai bên chuyến tiến trong cuộc nội chiến đó. Tôi cũng có những người bà trở thành góa phụ, một mình chèo chống nuôi nấng các con. Tôi có những người bạn có bố làm công an cho chính quyền hiện tại. Tôi cũng có những người bạn có bố vượt biên và bị bắt bỏ tù.

“Đừng thay nhau giành lấy cây búa để tự làm đau mình, hãy cùng nhau tìm cách làm sao cho tương lai Việt Nam được huy hoàng.”

Ngày 30 tháng 4, tôi nên có cảm tưởng gì đây?

Ai đúng, ai sai, ai gây ra cuộc chiến, v.v. là chuyện của lịch sử. Mà lịch sử thì luôn có tranh cãi, và tranh cãi được tạo ra bởi con người. Khi người ta vẫn khư khư ôm lấy niềm tin của mình một cách tuyệt đối như một tâm linh tính ngưỡng, cuộc tranh cãi sẽ không có hồi kết. Cuộc nội chiến hai mươi năm có thể trở thành một cuộc khẩu chiến một ngàn năm. Cuối cùng chúng ta, những người Việt Nam, sẽ được gì? Nên nhớ rằng khi chúng ta lỡ tay dùng tay cầm búa đánh vào ngón tay cầm đinh thay vì cây đinh, cái tay cầm búa sẽ buông búa ra và xoa vào cái tay cầm đinh chứ tay cầm đinh không giật cây búa lại để trả thù. Đừng thay nhau giành lấy cây búa để tự làm đau mình, hãy cùng nhau tìm cách làm sao cho tương lai Việt Nam được huy hoàng.

Câu hỏi cấp thiết nhất mà chúng ta cần giải đáp là làm gì để phát triển Việt Nam thành một con hổ của châu Á và giải quyết hằng hà các vấn đề chướng tai gai mắt mà chúng ta đã nghe đi nghe lại đến phát chán từ báo đài.

Cải cách tư duy thế hệ trẻ bằng những cách làm khác?

Giới trẻ Việt Nam là chìa khóa. Giới trẻ là mục tiêu. Đa số giới trẻ không quan tâm chính trị, họ không quan tâm tự do dân chủ, không quan tâm Đảng và nhà nước, không quan tâm quyền bầu cử, không quan tâm kinh tế vĩ mô.

Giới trẻ thích thời trang, thích xem hài, thích chân dài, v.v. Vì sao? Chính trị quá chán. Chính trị là việc của những ông già thích nói, nói, nói và nói. Nói liên miên, nói chuyện trên trời dưới đất, chuyện đâu đâu, chuyện không liên quan gì tới giới trẻ cả! Nói chuyện chính trị kiểu Đảng và nhà nước thì ai cũng đã nghe đầy tai rồi. Nói chuyện kiểu khác thì nhiều bạn trẻ coi là phản động, rồi tạo ra một mớ lùm xùm chửi nhau inh ỏi trên Internet.

” Muốn đánh thức giới trẻ khỏi cảnh thờ ơ chính trị phải làm đúng cách. Thứ nhất là tin chính trị phải thiết thực. Thứ hai là phải vui và hấp dẫn. Thứ ba là càng súc tích cáng tốt. Thứ tư là phải khách quan và trung lập.”

Điều mà giới trẻ quan tâm là việc làm. Việc làm gắn liền với giáo dục và kinh tế. Nếu những vấn đề về việc làm cho nhiều đối tượng từ sinh viên đại học cho tới công nhân trẻ sẽ giúp họ quan tâm hơn về hệ thống giáo dục và nền kinh tế.

Muốn đánh thức giới trẻ khỏi cảnh thờ ơ chính trị phải làm đúng cách. Thứ nhất là tin chính trị phải thiết thực. Thứ hai là phải vui và hấp dẫn. Thứ ba là càng súc tích cáng tốt. Thứ tư là phải khách quan và trung lập.

Một điều nữa là vấn đề ăn uống, sức khỏe của Việt Nam. Đây là điều báo chí lề phải có thể làm được để giúp thay đổi tình hình. Nếu các vị cứ tiếp tục đăng và nhấn mạnh tính trầm trọng của những vấn đề về ăn uống, thực phẩm với thuốc trừ sâu quá nhiều, v.v. cùng với những lời bình luận là chính phủ thiếu những cơ quan khách quan, hiệu quả, và những luật bảo vệ người tiêu dùng như những nước khác. Giới trẻ sẽ lên tiếng và chính phủ phải hành động.

Một điều quan trọng không kém để phát triển giới trẻ là phải cải cách tư duy của họ, cho họ tiếp cận thông tin, kiến thức nhiều nguồn, và phải có hệ thống thư viện hiệu quả toàn quốc.

Phải tạo cho người Việt Nam có tư duy phê phán, phải biết sử dụng nhiều nguồn để tìm hiểu, xác minh thông tinh chứ không thể mãi nghe theo một chiều và tin ngay vào nó được. Khi nghe thông tin thì họ phải thắc mắc về nguồn thông tin, số liệu được thống kê bởi ai, khảo sát bao nhiêu người. Khi đọc một bài bình luận thì họ phải thắc mắc tác giả là ai, có trình độ chuyên môn, hiểu biết tới cỡ nào, khách quan cỡ nào.

Các nhà yêu nước nên tài trợ các khóa huấn luyện tư duy này. Các nhà dịch thuật hãy dịch những sách kinh doanh, kinh tế, khoa học, công nghệ, lối sống, tư duy từ những tác giả phương Tây càng nhiều càng tốt. Các trang báo lớn hãy tạo một mục giới thiệu sách như các tờ New York Times, Wall Street Journal, Guardian vẫn thường làm. Hãy sử dụng diễn viên, ca sĩ, danh hài để giới thiệu và bình luận sơ bộ về sách. Chúng ta cần có hệ thống thư viện toàn quốc với sách hay, sách mới cập nhật. Có thể thực hiện một thư viện trực tuyến với ebook để tiết kiệm chi phí.

Có như vậy mới truyền cảm hứng và điều kiện công bằng cho mọi người trẻ Việt Nam có thể tiếp xúc với các nguồn tri thức khác nhau để khám phá và theo đuổi đam mê của mình khắp các ngành nghề từ khoa học-kỹ thuật tới công nghệ, truyền thông, hay kinh doanh nghệ thuật.

Có như vậy thì Việt Nam mới phát triển để trở thành một nơi đáng sống, một đất nước đáng tự hào và xứng với tiềm năng của mình.

Chuyện ngày 30 tháng 4 chúng ta có thể quay lại bàn sau cũng đâu có muộn!

Giấc mơ 40 năm chưa thành

Giấc mơ 40 năm chưa thành

Tidoo Nguyễn Gửi cho BBC từ Sài Gòn

Nhiều người miền Nam lên tàu chạy trốn vào cuối cuộc chiến năm 1975

40 năm đánh dấu sự kiện quân đội Bắc Việt chiếm lĩnh và cắm cờ trên nóc Dinh Độc Lập, và cũng là 40 năm đánh dấu ngày tôi ra đời trong ngày đầu tiên của chế độ mới.

Nền giáo dục của chế độ mới dạy tôi rằng ngày 30 tháng 4 là ngày “Thống nhất đất nước”, “Ngày giải phóng miền Nam” bằng chiến thắng vẻ vang. Nhưng khi lớn lên tôi nhận thức được rằng mình phải tìm hiểu sự thật về sự kiện ngày 30 tháng 4.

Mãi cho đến đầu thế kỷ 21 tôi mới tiếp cận được với internet và tìm hiểu sự thật lịch sử qua những tài liệu bằng tiếng Anh trên những trang web nước ngoài, qua những đoạn phim tài liệu về những ngày cuối cùng của Sài Gòn được đăng tải trên Youtube. Và gần đây nhất là được xem bộ phim tài liệu đầy đủ mang tên “Last days in Vietnam”.

Vào ngày 3 tháng 4 năm 1975, khi chiến tranh đã đến hồi hỗn loạn, tổng thống Mỹ Gerald Ford tuyên bố tất cả trẻ em mồ côi Việt Nam ngay lập tức sơ tán bằng máy bay ra khỏi Sài Gòn. Ước tính có 3.000 trẻ em, bao gồm 150 trẻ sống sót trên máy bay C-5 bị rơi, đã được sơ tán ra khỏi miền Nam Việt Nam vào khoảng ngày 3 tháng 4 cho đến 26 tháng 4 năm 1975. Cuộc sơ tán đó là chiến dịch không vận trẻ em Việt Nam hay còn gọi là Operation Babylift.

Tôi đã tham gia vào những cộng đồng “Operation Babylift” trên Facebook, đọc những câu chuyện của những đứa trẻ ấy, và tìm hiểu những thông tin liên quan đến chiến dịch không vận trẻ em Việt Nam trên báo mạng. Qua đó tôi đã biết được những đứa trẻ nàyđã và vẫn tiếp tục dằn dặt với những câu hỏi : “Tại sao tôi là con nuôi?”, “Tại sao bố mẹ đẻ bỏ rơi tôi?”, “Tại sao tôi là người Châu Á duy nhất trong khi các thành viên trong gia đình là da trắng?” Cũng không ngoại trừ trường hợp có người trong số đó muốn đánh đổi tất cả để trở thành người da trắng.

Mỉa mai thay, tôi đã từng mơ ước rằng mình là một trong những đứa trẻ của chiến dịch không vận trẻ em Việt Nam, được đưa ra khỏi đất nước Việt Nam để làm con nuôi cho gia đình ở nước ngoài trong chiến dịch đó. Nếu được như vậy thì cuộc đời của tôi đã không phải chịu đựng nhiều cơn đói khát, đau đớn trong quá khứ và đầy lo âu ở hiện tại.

Những năm đầu đời của tôi cũng là những năm tháng đất nước bị “ngăn sông cấm chợ”.

Thời đấy tôi không mong ước gì hơn ngoài việc được ăn no. Bữa ăn mà tôi mơ ước chỉ cần có cơm và muối ớt. Thế nhưng cơm và muối ớt là những bữa ăn vô cùng hiếm hoi trong gia đình tôi. Hàng ngày, chúng tôi hái những quả mít non, quả chuối xanh, cắt những mụt măng sau nhà hay đi lượm mót từng hạt mít mà người ta bỏ đi để đem về luộc lên ăn. Chúng tôi ăn cả vỏ khoai mì, cây chuối non để sống. Những hôm “nguồn tài nguyên” cạn kiệt, chúng tôi không có gì để ăn đành nhịn đói ngủ qua đêm.

Cái mặc thì cũng không kém phần khó khăn như cái ăn. Quần áo cũ đứa lớn mặc không còn vừa thì đứa nhỏ hơn sử dụng lại. Tôi là con trai mà phải mặc quần áo của chị tôi. Vì vậy tôi thường là tâm điểm bị đem ra làm trò cười khi đến lớp học trong bộ quần áo của con gái. Chúng tôi không nhận được bất cứ sự trợ giúp nào từ chính phủ.

Tôi không còn mơ ước được sống ở nước ngoài mà mong ước đất nước Việt Nam có sự thay đổi lớn để lấy đi những nỗi lo của tôi và trả lại một xã hội có trật tự như miền Nam Việt Nam nói chung và như Sài Gòn nói riêng của những ngày tháng cũ.

Năm 1978, mẹ tôi chết trong nghèo khó vì không có tiền chữa bệnh, bỏ lại 6 đứa con, 3 gái và 3 trai. Tôi là con trai út trong nhà. Chúng tôi sống cùng người cha đẻ. Tuy nhiên, không phải người bố đẻ nào cũng thương con. Ông ta thường xuyên đánh đập và hành hạ tôi mà không cần lý do gì. Cho đến khi tôi 18 tuổi , thoát khỏi ngôi nhà để đến Sài Gòn sống thì mới tránh được những cơn đòn thừa sống thiếu chết của ông. Chính phủ không có bất cứ tổ chức nào để bảo vệ trẻ em bị ngược đãi.

Đất nước mở cửa đã hơn 25 năm, tôi đã đi làm cho những công ty nước ngoài. Ước mơ được ăn no của tôi đã thành hiện thực và không còn chịu đựng những cơn đau thể xác từ việc ngược đãi của người cha đẻ. Tuy nhiên, đêm đêm những cơn ác mộng vẫn ập về với hình ảnh bị hành hạ, bị đói khát. Và những nỗi lo về cuộc đời vẫn còn đó. Nếu chẳng may tôi thất nghiệp thì sẽ không có trợ cấp của chính phủ. Tôi chỉ có thể nhận được bảo hiểm thất nghiệp và trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần vì tiền bảo hiểm đã bị trừ vào lương hàng tháng. Tuy nhiên, hiện nay bảo hiểm xã hội đang có nguy cơ vỡ quỹ, dẫn đến điều khoản vô lý của Luật bảo hiểm xã hội mới là không trả trợ cấp bảo hiểm một lần!

Ngoài ra, tôi đang đối đầu với những căng thẳng trong môi trường sống đang bị đe dọa, giao thông càng ngày càng hỗn độn, tệ nạn xã hội tràn lan, cướp giật hoành hành v.v.

Mặc dù vậy, tôi không còn mơ ước được sống ở nước ngoài mà mong ước đất nước Việt Nam có sự thay đổi lớn để lấy đi những nỗi lo của tôi và trả lại một xã hội có trật tự như miền Nam Việt Nam nói chung và như Sài Gòn nói riêng của những ngày tháng cũ.

40 năm đã đi qua, 40 năm nhìn lại với những ước mơ của tôi đã thay đổi theo thời gian. Tôi chỉ có một ước mơ hiện tại rất đơn giản mà đáng lẽ ra cuộc sống của một con người phải có. Chẳng lẽ cả đời này tôi không đạt được ước mơ ấy hay sao?

KINH NGHIỆM GẶP CHÚA

KINH NGHIỆM GẶP CHÚA

Đông Khê

Tôi không viết “Tiểu Sử”, vì tiểu sử của tôi không có gì đáng nói.  Tôi chỉ viết Lời Tâm Sự.

Tuổi mới lớn: NỖI BUỒN THỨ NHẤT:

“Một ngày đưa Mẹ vào Bệnh Viện
“Nghe người ta nói: “Mẹ cô điên”
“Mẹ ơi, nhát búa đập vào đầu
“Mẹ biết lòng con bao đớn đau

NỖI BUỒN THỨ HAI:

“Đám cưới Heo quay với Rượu vàng
“Nhà trai trổi nhạc đón dâu sang
“Bao nhiêu long trọng và Nghi Lễ
“Mà một cuộc đời phải nát tan

Vợ chồng tôi có 3 con.  Năm tôi 36 tuổi, chồng tôi bỏ nhà theo vợ bé bằng nửa tuổi tôi.

Tôi không có đạo.  Là con gái út của một gia đình nho phong, tôi ngơ ngác nhận ra rằng bằng cấp không làm nên đạo đức, vì chồng tôi đậu Cử Nhân Văn Khoa và Luật Khoa.

Tôi choáng váng: đất trời sụp đổ?  Nhưng:

“Thà không tri giác như cây cỏ
“Lỡ có tâm hồn với nước non

Tôi vận dụng tất cả ý chí để đương đầu với hoàn cảnh.  Tôi luôn luôn nhớ tôi là cây cột duy nhất của nhà nầy, là Xương Sống của gia đình.  Ba con chỉ có tôi là nơi nương tựa. Tôi tâm niệm phải nuôi con nên người.  Chúng phải no cơm ấm áo, học hành thành đạt.  Tôi không nhìn thấy tôi ở đâu cả, tôi chỉ thấy ba cuộc đời ấu thơ trước mắt và trong tim mình.

“Anh làm xô lệch gối chăn xưa.
“Tôi tiếc đời tôi phấn hương thừa,
“Một mình, tôi nuôi đàn con dại
“Lầm lũi bước đi tháng, năm dài.
“Nước mắt chảy vào trong,
“không để mình sầu mộng,
“tôi nuốt hết đơn côi.
“Tránh nhìn cả gương soi
“tôi chối bỏ nhan sắc mình còn đó

Đi làm, săn sóc con, mỗi ngày tôi chỉ “thở” khi ngồi trên Cyclo đến sở và về.  Người cô phụ nhìn thời gian trôi qua, năm nầy rồi năm khác, từng năm, lại từng năm.

“Thế gian vẫn lắm nẻo mòn
“Đường qua phố vắng vẫn còn đọng mưa

NỖI BUỒN THỨ BA:

Con gái chết, 7 tuổi, sau 3 ngày mắc bệnh sốt xuất huyết.  Mặc dầu cháu ở với mẹ, (ba cháu đã bỏ mẹ con tôi từ năm năm qua) trong giờ hấp hối, 4:00 AM, cháu quay mặt qua bên phải hỏi, “Ba đâu?” và quay bên trái, “Ba đâu?”  Lòng tôi đau như muối xát.  (Chú thích: Tình huyết nhục thiêng liêng dường ấy, xin đừng phá thai!)  Cháu trút hơi thở cuối cùng trên tay tôi, 4:05 AM, chỉ có hai mẹ con trong bệnh viện.  Chính đau thương nầy, sau này, với Ơn Chúa, đã thúc đẩy tôi đi làm thiện nguyện để xoa dịu đau thương của người khác.

“Thương con trong huyệt lạnh
“Nhớ con dưới mồ sâu
“Con ơi, sầu tử biệt
“Bao giờ còn thấy nhau?

Tôi khóc ngất:

“Khi đặt con nằm lòng đất lạnh
“Mẹ muốn thét lên đến tận trời!

Những ngày Việt Nam khói lửa, tôi không dám ngủ riêng, tối nào cũng kéo tấm nệm mỏng nằm ngủ dưới đất cạnh giường hai con, đề phòng nếu có bom đạn thì mẹ con sống cùng sống, chết cùng chết theo nhau.

Một thân vò võ, vừa làm mẹ, vừa làm cha, mỗi ngày, tôi cắm cụi sống với bổn phận, trách nhiệm, công việc.  Phải thú nhận tôi bám vào đó mà sống, không dám buông lơi, sợ mình sực nhớ đến nỗi cô đơn của đời cô phụ.

Nỗi khó khăn nhất của người thiếu phụ tóc hãy còn xanh, phải một mình đảm nhận trọng trách nuôi các con không phải là đời sống vật chất, mà là đời sống tinh thần.  Thiên nan vạn nan, con đường dài hiu quạnh.  Nhưng không phải là không vượt qua được.  Khi có một Lý Tưởng cao hơn sự mưu ích cho riêng mình, con người có thể quên mình.  Vì sao?  Vì Thượng Đế không bao giờ bỏ quên con người.  Giữa vũ trụ, vẫn có một sức thiêng làm đòn bật, giúp con người vượt thắng hoàn cảnh, dù đen tối đến đâu.  Chứng cớ là có một ngày đời sống tâm linh của tôi bắt đầu.

GIÂY PHÚT TRÙNG PHÙNG

Quá bận bịu với nhiệm vụ nuôi con, với đau thương chất ngất tháng ngày, tôi không nhận ra Thiên Chúa, mặc dù Ngài luôn luôn có mặt.  Không biết nguyện cầu, tôi không hiểu rằng Ngài vẫn có chương trình giải thoát cho mỗi thương đau thế trần.

Không bao giờ bỏ kẻ khổ đau, Thiên Chúa tìm mọi cách mời gọi tôi đón nhận Ngài để Ngài bước vào đời tôi, giúp tôi thoát khổ.  Trong dịp cùng hai con đi nghỉ mát – thật ra là đi tìm quên – tôi nằm trên thảm cỏ nhìn thác nước rơi trong bóng đêm.  Từ ánh đèn dưới chân thác, những luồng nước phun lên cao, với nhiều màu sắc khác nhau.  Một gợi ý từ đâu hiện ra trong trí tôi: Như mỗi luồng nước có một vẻ đẹp riêng, một màu sắc riêng, tôi có thể dùng tình cảm, tâm trí, năng lực của mình để phục vụ một Lý Tưởng khác:  Đổi Tình Yêu ra Tình Nhân Loại, lấy Tình Thương làm Hạnh Phúc .

Tôi không đủ sức, cũng không đủ lời để mô tả giờ phút ấy!  Giờ phút gặp gỡ Đấng Tạo Dựng nên mình, Người đã dùng chính hơi thở của Ngài để chuyền cho tôi sức sống!  Màn mây như thấp xuống.  Tôi nghe toàn thân mình mất trọng lượng, trở thành nhẹ tênh.  Không một tiếngđộng, không một bóng hình, mà tôi biết chắc một thân thương gần gũi đang bao trùm tâm hồn tôi, che phủ tôi.  Ràn rụa nước mắt, tôi ngước nhìn trời xanh.  Bầu trời im vắng, như chính tôi không thốt nên lời.

Khổ Đau càng nặng, thì Lòng Biết Ơn lại càng sâu.
Như người vừa tỉnh cơn mê, tôi bàng hoàng thổn thức:

“Tình Cha sâu lắng, mênh mông quá
Con lặng cúi đầu, nước mắt dâng.”

Tôi quyết định rửa tội để theo Người đã yêu tôi, đã chết cho tôi, đồng hành với tôi trong vui buồn cuộc sống.

Linh Mục đổ nước trên đầu tôi, và đọc những lời kinh.  Tôi không biết kinh gì, vì tôi đang bận đọc “Lời Kinh” của lòng mình: “Cha ơi, hôm nay, con mang trong mình Dấu Ấn của Cha.  Cha ơi, con sẽ là con Cha mãi mãi.” Ngẩng đầu lên, tôi mỉm cười một mình, giọt nước mắt rơi xuống bàn tay.

“Lạc loài từ độ năm nao
“Tìm về với Chúa trăng sao sáng ngời
“Biển ơi, biển có bồi hồi
“Có nghe rộng mở một Trời Yêu Thương?

Hết rồi, những năm tháng “chết lịm hồn, vì thiếu vắng Đức Tin.”

“Tình Cha như phép Nhiệm Mầu
“Như hoa nở muộn trên đầu mái hiên,
“Tình Cha là chiếc đ
ũa tiên
“Mang con trở lại với niềm an vui

Biệt tài của Thiên Chúa là đổi Nguy thành An, biến Họa thành Phúc.

Chồng tôi vẫn biền biệt, con gái đã qua đời, nhưng đời tôi có một ý nghĩa mới: tôi sống trong Tình Yêu Thiên Chúa, một Tình Yêu bất diệt, không đổi thay.  Một Tình Yêu sống động mỗi ngày. Ngài lắng nghe, dịu dàng, tha thiết, cảm thông và tha thứ, che chở và phù trợ, an ủi và đỡ nâng.  Lòng tôi ấm áp.

Tôi vẫn nhớ con gái mỗi ngày nhưng tôi tin con đang ở bên Chúa, và Mẹ con tôi sẽ gặp lại nhau, sau này.

Tôi vui và hay khôi hài.  Biết ơn Ngài quá đỗi, tôi muốn làm một cái gì cho Cha mình.

“Bởi lẽ Phúc Âm là Ngọn Nến
“Lửa hồng xin đốt ở trong con

Từ khi về hưu, và con cái trưởng thành, tôi ở một mình, đi làm thiện nguyện.  Lửa hồng của Tình Yêu Thiên Chúa dùng tôi như chiếc thuyền nan bé nhỏ chuyên chở Tình Thương của Ngài đến những người khổ đau, người bệnh hoạn nơi Bệnh Viện, tù nhân nơi Khám Đường, những kẻ Khốn Khó nơi xóm nghèo.  Tôi say sưa với công việc này vì qua họ, tôi thấy Chúa, Thiên Chúa của lòng tôi, và tôi thấy tôi ngày trước, bơ vơ, cô đơn, thèm khát tình thương, một Tình Thương, không phải lời Ân Ái.

Đức Kitô là ai?

Bây giờ, các Bạn đã thấy Đức Kitô là ai, đối với tôi.

Ngài là Tình Yêu, là Lẽ Sống, là tất cả của lòng tôi trìu mến, gắn bó, tin yêu.

Tuy nhiên, yêu Thầy thiết tha là thế – vì rất dễ hiểu: không có Thầy, chắc chắn tôi không tài nào sống nổi đời mình, tôi vẫn nhiều vấp phạm.  Từ ngày theo chân các sơ Têrêsa, tôi hiểu Bác Ái không biên giới.  Tôi cũng nhận ra rằng những tội tôi phạm thường là tội thiếu lòng Bác Ái.  Vì thiếu lòng Bác Ái, đời sống tôi chưa đẹp lòng Chúa như tôi ao ước.

Một trong các điều luật của Hội “Giáo Dân Thừa Sai Bác Ái” (Lay Missionary of Charity, thành lập bởi Mẹ Teresa Calcutta) mà tôi theo là Cầu Nguyện với sách: “Giờ Kinh Phụng Vụ”.

Lần đầu mở sách GIỜ KINH PHỤNG VỤ tôi chỉ thấy chán nản.  Dài quá.  Kinh sáng, kinh trưa, kinh chiều.  Thánh Vịnh, Kinh Sách, Lời Chúa, Đáp Ca, Thánh Ca, thôi thì đủ thứ.  Tôi nghĩ thầm: “Thứ nào cũng tương tợ nhau, viết gì mà lắm thế.”  Tôi ngồi đếm có ngày 14 trang luôn.  Tính làm biếng trong tôi nổi dậy và tôi thấy ngại ngùng.

Nhưng tôi hiểu đọc Thánh Vịnh là cùng cầu nguyện với Giáo Hội, nên tôi ráng thử.  Tôi đọc chút chút xem sao.  Mỗi sáng đi lễ, tôi nói với Chúa: “Xin Chúa cho con siêng năng đọc Giờ Kinh Phụng Vụ, sao con ngán quá.”

Từ từ, tôi đọc nhiều lên và dần dần bị lôi cuốn.  Càng đọc, tôi càng yêu thích lối cầu nguyện sâu xa này.  Tôi ham mê, thích thú đọc, có khi còn tiếc sao đã đến trang cuối rồi.  Đọc Thánh Vịnh, con người gần gũiThiên Chúa, vì Thiên Chúa hiện diện trong các mẫu chuyện sống động, vì Thánh Vịnh mô tả tâm trạng con người trong đời sống thực tế.

Những lời ca ngợi Thiên Chúa toàn năng và nhân từ, lời than vãn phận mình, lời tha thiết ăn năn, lời thành khẩn xin ơn, tất cả là hình ảnh thiết thực của cuộc sống hôm nay, ngay trong đời này. Chẵng những người đọc cảm thấy chính mình trong đó, mà còn cảm thấy Chúa đang lắng nghe, đang nói với mình từng lời.

Tôi quên mất ngày xưa, dân Do Thái cầu nguyện với những Thánh Vịnh này, tôi chỉ còn thấy chính tôi với Thiên Chúa mặt đối mặt, qua những lời Thánh Vịnh than vãn và ngợi khen.

Đặc biệt nhất là Thánh Vịnh rất có ích: Khi buồn khổ, bối rối, Thánh Vịnh 51 giúp lòng tôi lắng dịu.  Ngày bão Katrina, tôi đọc Thánh Vịnh 29 và tìm lại được Bình An.  Có những câu tôi thuộc lòng, vì chúng là chính tiếng nói của lòng tôi: “Muôn ngàn đời, Chúa vẫn trọn Tình Thương.”  Không ai ngờ được Thánh Vịnh có mặt từ ba ngàn năm trước, mà giờ đây đọc lên nghe như chính tâm can mình thốt ra bằng lời: “Ngày con kêu cứu, Chúa đã thương đáp lại, đã gia tăng nghị lực cho tâm hồn.”

Có hai câu mà tôi đắc ý nhất: “Xin bác ái là mưa sa tưới gội, cho lòng con hoa thắm nở bình an.”  Tôi mê hai câu này vì, như trên đã nói, tội tôi phạm thường là vì thiếu bác ái, nên tôi coi hai câu này là phương thuốc chữa bệnh cho mình.

Cứ thế, tôi đi vào đi ra, làm việc gì cũng nhẩm đi nhẩm lại hai câu này suốt ngày.

Lạy Chúa, con tạ ơn Ngài, – dù bác ái trong con, vẫn chưa phải là đủ – nhưng vì Tình Yêu Chúa bao dung, Ngài đã bù đắp, và cho con Bình An.

Đông Khê

Định nghĩa lòng thương xót

Định nghĩa lòng thương xót

– Tin nổi bật, Bài Giảng

VRNs (12.04.2015) – Đồng Nai – Hôm nay lễ lòng thương xót Chúa. Thiết tưởng chúng ta cần hiểu lòng thương xót nghĩa là gì? Thương xót nghĩa là sự biểu lộ lòng xót xa đồng cảm với những hoàn cảnh khó khăn. Lòng thương xót đối với Chúa còn là sự khao khát muốn làm vơi đi những nỗi đau khổ đó. Như vậy, lòng thương xót của Chúa là sự biểu lộ tình thương trước những hoàn cảnh khó khăn của dân Chúa.

Lòng thương xót của Chúa không như con người. Vì con người thương xót nhưng có chọn lựa, có tính toán. Cùng hoàn cảnh nhưng chúng ta thương người này và có thể ghét người kia. Thế nhưng, lòng thương xót của Chúa thì trải rộng cho mọi người. Không toan tính. Không chọn lựa. Ngài yêu thương con người bất kể tình trạng luân lý của họ. Bởi vi, Chúa vẫn yêu thương chúng ta ngay khi chúng ta còn là tội nhân.

Thế nên, lòng thương xót của con người chúng ta thì giới hạn. Chúng ta có thể xót thương kẻ cơ hàn. Xót thương những người già yếu, bệnh tật bị bỏ rơi. Xót thương những trẻ nhỏ bị lạm dụng, bị bóc lột nơi cha mẹ hay người nuôi dưỡng. Và chắc chắn  chúng ta sẽ chẳng bao giờ xót  thương những phường tội lỗi như: trộm cắp, mại dâm, hay tham ô. Chúng ta thường không thương xót họ mà có khi còn nguyền rủa họ.

Lòng thương xót Chúa thì không giới hạn. Ngài yêu thương mà không cần nhìn xem họ là ai? Ngài chỉ bận tâm đến nhu cầu của con người và ra tay nâng đỡ. Thánh Kinh bảo rằng: Nếu Chúa chấp tội nào ai rỗi được. Thế nhưng, Chúa đã không chấp tội con người, Ngài cũng không giáng phạt theo như tội ta đã phạm. Lòng thương xót của Chúa trải rộng trên con người. Trên người lành cũng như người dữ. Ngài luôn biểu lộ lòng thương xót cho bất cứ ai đến với Ngài. Lòng thương xót ấy không dừng lại ở nơi kẻ yêu Ngài mà còn dành cho cả kẻ ghét Ngài, xỉ nhục và kết án Ngài. Chính trong đau thương khổ nhục mà Ngài vẫn xót thương những kẻ đang hành hạ Ngài khi Ngài cầu nguyện cùng Cha: Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm.

Có lẽ với bản tính con người, chúng ta sẽ thù hận kẻ giết hại chúng ta một cách oan uổng. Có lẽ chúng ta cũng kinh tởm kẻ vô ơn, phản bội với chúng ta. Thế mà, Chúa Giê-su dường như không còn nhớ đến tội lỗi của con dân thành Giê-ru-sa-lem. Ngài đã tha thứ cho kẻ làm nhục Ngài. Ngài cũng tha thứ cho những môn đệ đã bỏ Ngài trong tuần thương khó.

Vâng, khi Chúa sống lại Ngài không tìm ai để trách móc, kêu oan. Và dường như Ngài cũng không bận tâm đến lỗi lầm của các môn sinh. Ngài đã trao bình an cho các môn sinh mỗi khi hiện ra với họ. Ngài biết trong lòng các ông còn một nỗi buồn vì phản bội, vì bỏ rơi Thầy trong gian nguy. Ngài biết sau khi Chúa sống lại lòng các tông đồ còn rối bời hoang mang lo sợ, bất an vì mặc cảm tội lỗi, mặc cảm phản bội Thầy. Chúa đã biết điều đó nên đã đi bước trước để ban bình an cho các ông.

Sứ điệp lễ lòng Chúa thương xót là sứ điệp của yêu thương. Thiên Chúa vẫn tiếp tục xót thương dân Người. Lòng thương xót của Chúa không bị tội lỗi của con người cản trở mà vẫn đong đầy cho những ai đến với Ngài. Lòng thương xót Chúa vẫn xoa dịu những ai đang bất an vì tội lỗi. Lòng thương ấy vẫn đang chữa lành cho những ai đang đau khổ bệnh tật tâm hồn hay thể xác. Lòng thương xót ấy vẫn là căn tính của Thiên Chúa rất yêu thương và xót thương dân Người.

Ước gì mỗi người chúng ta biết tín thác vào lòng thương xót Chúa cho dẫu chúng ta còn mang đầy những vết thương của yếu đuối lỗi lầm. Hãy để cho lòng thương xót Chúa chữa lành những tật nguyền của chúng ta. Ước gì khi chúng ta đã hưởng nếm lòng thương xót vô bờ của Chúa thì cũng biết trao ban lòng thương xót ấy cho anh em. Xin Chúa ban cho chúng ta cũng có một tấm lòng bao dung để gạt qua những thành kiến , những đố kỵ, ghen tương mà đón nhận nhau trong yêu thương chia sẻ. Xin Chúa giúp chúng ta cũng trở thành một chứng nhân cho lòng thương xót của Chúa bằng tình yêu hiến dâng phục vụ tha nhân. Amen

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

Khu Vườn Mộ và Mồ Thánh: đâu mới là nơi Đức Giêsu sống lại?

Khu Vườn Mộ và Mồ Thánh: đâu mới là nơi Đức Giêsu sống lại?

– Tin nổi bật, Tin Công Giáo Thế Giới

150412_khumothanh

VRNs (12.04.2015) – Sài gòn – CBN giới thiệu, hàng triệu Kitô hữu trên thế giới đã tổ chức mừng Phục Sinh, Chúa Giêsu Kitô sống lại vào Chúa Nhật 5 tháng 4. Ở Jerusalem, hàng ngàn Kitô hữu hành hương đã viếng thăm Khu Vườn Mộ (The Garden Tomb) mà nhiều người cho rằng đó chính là khu vườn của Joseph Arimathea nơi đã chôn cất Đức Giêsu Kitô và sau đó ngài đã phục sinh.

Tuy nhiên, một số người tin rằng Nhà thờ Mồ Thánh ở Jerusalem mới là nơi thật sự diễn ra cuộc tử nạn và phục sinh, không phải ở Khu Vườn Mộ. Hoàng Thái hậu Helena của Constantine đã giúp xây dựng đền thờ này vào năm 326 A.D (sau Công nguyên).

Richard Meryon, giám đốc Khu Vườn Mộ giải thích rằng ‘Những gì chúng tôi có ở đây nơi Khu Vườn này là một sự diễn tả hoàn hảo của Kinh Thánh trong đoạn cuối của 4 sách Tin Mừng”. Ngày nay, cứ mỗi năm có khoảng gần một phần tư trong một triệu người du lịch đến Jerusalem ghé thăm Khu Vườn Mộ này.

Nói với CBN News, Steve Bridge người hướng dẫn của khu vực cho biết, họ đã xây dựng mảnh đất giống như những bằng chứng địa lý được nói đến trong Kinh Thánh. Bridge hướng dẫn viên nói, “Đức Giêsu đã bị đóng đinh ngoài tường thành thành phố nơi được gọi là Golgotha. Và chính tại nơi ngài bị đóng đinh là khu vườn thuộc về một người đàn ông khá giả có tên là Joshep Arimathea”.

Theo ông Bridge, những nghiên cứu khảo cổ đã là những chứng cứ chủ chốt ủng hộ tuyên bố này của đền thờ, nhưng chứng cứ của Khu Vườn Mộ cũng có thể thuyết phục. Trong sách Tin Mừng của thánh Gioan có viết “…nơi mà Đức Giêsu bị đóng đinh có một thửa vườn…” (Ga 19, 41), ông nói, nếu bạn có một khu vườn thì phải cần rất nhiều nước, điều này sẽ còn cần hơn nữa đối với khu vực khô hạn Trung Đông này.

Khu Vườn Mộ chứa một trong các hồ nước lâu đời nhất và lớn nhất ở Jerusalem. Nó được khoảng 2.000 năm tuổi và giữ khoảng 200.000 gallon nước.

Vì vậy, theo Bridge ngôi mộ họ có ở đây là một điển hình của một ngôi mộ đá lăn của người Do Thái, ở thế kỷ đầu tiên. Nó có niên đại ít nhất 2.000 năm”.

Khu Vườn Mộ hay Nhà Thờ Mồ Thánh đều là nơi Chúa Giêsu Phục Sinh, những Kitô hữu hành hương đến đây và mang theo họ sự khẳng định về niềm tin. Và với Mùa Phục Sinh này Khu Vườn Mộ cũng muốn nhấn mạnh đến việc con người phục sinh chứ không phải nơi chốn. Hiện tại Khu Vườn đang thuộc quyền quản lý của Hiệp hội Khu Vườn Mộ (Jerusalem) thuộc Anh giáo.

Pv. VRNs

Lời nguyện trôi theo mái tóc dài

“Lời nguyện trôi theo mái tóc dài,”

Cầu cho hoa lá thoát phàm thai.

Hồn lên vầng trán mây kềm toả,

Hình tượng nào đây? Thể xác ai?”

(Dẫn từ thơ Đinh Hùng)

Mai Tá lược dịch

Nhiều lúc, người đọc sách thánh đã cắt ngắn truyện Tin Mừng một cách quá sớm, để rồi không định ra được ý-tứ của người viết nói thế nào? Về ai? Có ý gì?

Trình thuật hôm nay ta nghe được, lại là chương cuối của Tin Mừng Luca với 4 trích đoạn kể lại việc tông đồ Chúa đạt niềm tin về sự Sống lại. Ở hai đoạn đầu, Maria Magđala và Phêrô, đã đến mộ phần Đức Kitô, phát hiện ra Ngài đã trỗi dậy từ cõi chết.

Ở đoạn trích thứ 3 -“Đoạn Đường Emmaus”- Luca lại nói đến trường hợp Đức Kitô hiện ra với các đồ đệ đang tụ họp. Ở đây, trình thuật kết thúc ngay câu 48, khi Đức Kitô dặn các tông đồ phải trở nên chứng nhân cho việc Ngài sống lại. Trong khi đó, nếu đưa thêm hai câu tiếp, ta sẽ thấy: Đức Kitô nhắn nhủ các môn đệ hãy ra đi loan truyền Tình yêu cứu độ cho thế giới, bên ngoài.

Sở dĩ, Hội thánh kết thúc trình thuật hơi sớm là vì không muốn gộp chung báo trước việc Đức Kitô Thăng Thiên, tức Ngài về với “Cha” đang mong. Và làm thế, người đọc Tin Mừng thấy kết cục hơi đột ngột, không thông như giòng chảy ngọt ngào như toàn bộ chương cuối. Truyện kể “Đoạn Đường Emmaus” phản ánh điều mà mỗi người chúng ta vẫn thường làm trong buổi Tiệc thánh, mỗi Chúa Nhật.

Thật thế, nếu đưa câu 49 và 50 của chương 24 vào chung với đọan Tin Mừng hôm nay, ta sẽ nhận ra tình huống tương tự khi Ngài mới sống lại. Đặc biệt, các động từ trong truyện cho thấy Đức Kitô như  hiện diện với đồ đệ đang tụ họp vào mỗi buổi dự tiệc. Ngài trao ban chính mình Ngài cho các đồ đệ để mọi người nhận ra Ngài, ôm Ngài vào lòng.

Trong khuôn khổ buổi tiệc, Đức Kitô vẫn cùng ăn cùng uống với các đồ đệ. Ngài vẫn dạy mọi người hiểu thêm ý nghĩa thánh kinh; và, Ngài uỷ nhiệm mọi người hãy ra đi loan báo Tin Mừng Yêu thương cứu độ, coi đây như sứ mệnh cao cả gửi đến mỗi người.

Tiệc Phục sinh ban đầu đem lại kết quả cho mọi người cũng hệt như tiệc của lòng mến mỗi Chúa nhật. Chúng ta tụ tập đông đủ, ở đây và lúc này, là để tưởng nhớ; và, một lần nữa, chuyển biến sự kiện quan trọng này thành sứ mệnh sống còn. Đây là lý do Hội thánh luôn đề cập đến con số 40 ngày Chay tịnh, từ Lễ Tro đến lễ Vọng Phục sinh.

Thật ra, con số 40 ngày –(hoặc 45 nếu tính cho đúng)—có rơi đúng hôm nay hay sau ngày Đại lễ, thì mỗi Chúa nhật đều là ngày để ta trỗi dậy mà Sống lại và nhớ bài sai ra đi rao truyền Tình thương cứu độ của Đức Chúa. Và, điều này hợp với ý định của Hội thánh.

Cũng tựa như tiệc Phục sinh ban đầu có Chúa hiện diện, mỗi Chúa nhật đều là ngày Phục sinh ta cũng có Đức Kitô mời đến tham dự Tiệc rượu Lòng Mến.

Tham dự Tiệc Thánh, ta tiếp tục được hướng dẫn hiểu rõ thánh kinh. Tiếp tục sống tinh thần Tin Mừng trong cuộc sống đời thường. Có sống thương yêu đùm bọc theo tinh thần của Tin Mừng, ta mới tiếp tục có Chúa hiện diện. Ngài hiện diện với các thánh tông đồ, ngày Phục sinh. Ngài cũng còn hiện diện với chúng ta.

Và, Ngài vẫn thương yêu, đùm bọc mọi cộng đoàn kẻ tin, lớn nhỏ. Đặc biệt hơn, Ngài vừa chủ toạ vừa đồng bàn với ta trong tiệc lòng mến, mỗi khi ta ngồi lại với nhau, tụ họp và tưởng niệm. Ngài dặn dò, khích lệ ta vui vẻ ra đi loan truyền tình Thương yêu cứu độ. Ra đi, với niềm hăng say, quả cảm. Ra đi, với quyết tâm thực hiện tình thương yêu trong đời sống thường nhật.

Để giúp ta thành công, hãy vui nhận sứ mệnh này như món quà cao quý Đức Kitô trao cho ta qua các môn đồ, ngay từ đầu. Đó là: sự an bình và vui sống với người đời trần thế như chứng nhân của Tình yêu cứu độ. Có lẽ, đôi lúc ta cũng cần đến óc sáng tạo để cho sứ mệnh cao trọng này thêm sinh khí. Có sáng tạo và thêm sinh khí, ta mới vui sống, phấn khởi thực hiện điều Ngài giao phó trong xã hội đương đại đầy nhiễu nhương, ác cảm. Câu truyện của vị cao niên dưới đây sẽ minh hoạ cho óc sáng tạo, phấn khởi:

Chiều hôm ấy, vị cao niên nọ quyết định ở nhà để vui hưởng sự yên tĩnh. Nhà cụ ở, nằm sát cạnh trường học, nên thường xảy ra nhiều chuyện ồn ào, bất ưng. Chiều chiều, cứ thấy có 3 người trẻ lảng vảng, đập gõ inh ỏi vào các thùng tôn đựng rác. Không ai khuyên bảo, can ngăn bọn trẻ bỏ cái trò tinh quái, khó chịu ấy.

Vị cao niên nhà ta bèn nảy ra một ý kiến. Cụ gọi bọn trẻ đến và bảo: “Này, bác có ý kiến này: các cháu xem có làm được không, nhé. Nếu chiều nào các cháu cũng đến đây, lấy gậy đập mạnh vào các thùng rác cho thật to, để mọi người thưởng thức được loại nhạc Tếch-nô. Gõ xong, hết giờ, đến đây bác tặng cho mỗi đứa một chục đô. Các cháu nghĩ sao? Bọn trẻ nhận lời, chẳng bỏ lỡ cơ hội. Tiếng gõ đập của chúng càng lúc càng đinh tai, nhức óc.

Vị cao niên cứ để bọn trẻ gõ cho đến lúc trời nhá nhem mới gọi đến, bảo: “Tiếc quá, hôm nay bác đi lãnh mà tiền cấp dưỡng chưa vào sổ. Thôi, các cháu cầm đỡ mỗi đứa 25 cents, bác đưa thêm sau”. Tên đầu xỏ, tức giận trả lời: “Bộ, ông tưởng tụi tôi bỏ bao nhiêu thì giờ làm chuyện này để được có 25 cents thôi sao? Đúng, ông thuộc loại dở khùng dở điên. Này, ông cúi xuống mà nhặt lấy 75 cents đi, bọn này không thèm thứ tiền ấy đâu.

Và, ngày mai đừng có mong bọn này trở lại gõ tiếp đâu nhé…” Thế là vị cao niên thắng lớn. Ông tìm được sự yên tĩnh cần có, để an hưởng tuổi già.

Hôm nay, Đức Kitô cũng dạy ta hãy ra đi làm việc gì hữu ích cho mọi người. Đem tình yêu hài hòa đến với mọi người. Hãy sáng tạo đổi mới cách thực hiện, hầu mọi người hưởng an bình, vui sống. Vui, vì được nghe lời Chúa. An bình, vì đã có Tin Mừng Chúa bảo bọc.

Đó là sứ mệnh gửi đến mọi người. Cầu mong sao, ta sẽ khôn ngoan để biết cách tạo hạnh phúc và hoà bình, đến muôn người. Những người đang sống quanh ta. Bây giờ và mai hậu.

Trong tâm tình cảm-nghiệm ý-tứ của người viết truyện Tin Mừng, có lẽ cũng nên ngâm thêm lời thi-ca vẫn ca tụng một gặp gở nào đó, ở đời người:

“Còn mảnh hồn thương dạt bến nào?

Vành môi vực thẳm máu dâng cao.

Mùa trăng thủy thảo hoa đầy gối,

Ánh mắt không lời đọng biển sao.

(Đinh Hùng – Giọt Máu Sao Trời)

Mảnh hồn hay vành môi thương dạt bến nào” đi nữa, vẫn cứ là những “ánh mắt không lời” còn đọng ở biển sao cuộc đời người nhiều luyến tiếc. Tiếc rằng, sao Người không ở lại với ta cho thoả lòng cảm kích rất biết ơn. Ơn trời biển, nhờ đó mới nhận ra rằng Người vẫn ở với ta, hết mọi ngày cuộc đời, của con người.

Lm Richard Leonard sj –

Mai Tá lược dịch

Đôi khi ta muốn thoát ly,

“Đôi khi ta muốn thoát ly,
Đi thật xa khỏi khung trời này,
Lên rừng làm bạn vui với hươu nai
Đôi khi ta muốn thoát ly,
Đi thật xa khỏi cuộc đời này,
Xa lìa chuyện ganh đua với chê bai”.

(Lê Hựu Hà – Đôi khi Ta Muốn Khóc)

(Mt 5: 46-47)

Trần Ngọc Mười Hai

Có nhiều lúc ngồi buồn nghĩ rất nhiều thứ chuyện. Chuyện vui cũng có. Chuyện buồn còn nhiều hơn. Buồn vui cuộc đời, là chuyện thường ngày ở huyện nhà, trọn đời người. Một trong các chuyện buồn chán ấy, lại đã thấy, ở câu hát bên dưới hôm nay:

“Đôi khi ta muốn khóc khi thấy
Con người không biết thương đồng loại
Con người thường khoe khoang rất khôn ngoan
Đôi khi ta muốn khóc,
Khi thấy nhân loại tranh miếng ăn từng ngày,
Vui lòng chịu luồn cúi dưới chân ai.”

(Lê Hựu Hà – bđd)

Nói gì thì nói. Hát gì thì hát. Nếu nghệ sĩ mình chỉ hát những điệu buồn dân-gian của cuộc đời, thật cũng chán. Cũng may là, trong cái chán của bài hát, ngoài ý lời ra, còn giòng chảy tiết-điệu làm người nghe nhạc bản đáng chán nào đó cũng bớt được những tâm tình chán nản đến quên đời. Quên cả những ngày đời mà người hát cứ phải giáp mặt, chạy đâu thoát.

Đó còn là ý/lời của câu hát tiếp theo sau:

“Trong mơ ta luôn khát khao,
Một thế giới yên vui đầy dẫy tình người.
Với bao con tim chân thành và nhân ái.
Trong mơ ta luôn khát khao,
Câu nói thương yêu không một chút lọc lừa
Để ta nghe thương cuộc đời hơn nữa.
Để ta nghe thương con người nhiều hơn xưa.

Đôi khi ta thấy chán chê,
Khi tình thương đã không tồn tại,
Nhân tình tựa như gió thoảng mây bay
Đôi khi ta thấy xót xa,
Khi nhìn anh chiến binh mù loà
Nghe cuộc đời khoe khoang với ba hoa
(Lê Hựu Hà – bđd)

Thế mới biết, hết chán rồi lại ngán. Chán ngán đến mê mệt. Chán đến độ buồn đời rồi chán sống. Thế đó là cuộc đời. Thế nhưng, lại có những buồn/chán đến độ rất nản, khiần nhiều người lại tìm thấy ở đâu đó có giòng chảy khiến người và mình, bớt đi nỗi buồn/chán phát khiếp. Đó, còn là tâm trạng của người nghệ sĩ cứ hát mãi câu sau làm đoạn kết cho bài ca rất đáng chán như:

“Trong mơ ta luôn khát khao một thế giới yên vui
Nghe cuộc đởi khoe khoang với ba hoa
Mai đây ta sẽ bỏ đi, đi thật xa khỏi khung trời này
Lên rừng làm bạn thân với hươu nai
Mai đây ta sẽ bỏ đi, đi thật xa khỏi cuộc đời này
Xa lìa chuyện ganh đua với chê bai
La là là la lá lá la la………..”

(Lê Hựu Hà – bđd)

Thôi thì, đề nghị bạn/đề nghị tôi, ta nghe câu truyện kể ở đoạn tiếp trước khi đi vào những chuyện thần sầu rất đáng chán, như chuyện triết-thần nhà Đạo mình. Kể những truyện là kể như sau:

Một người không rõ về vận mệnh, đem thắc mắc của mình đi bái kiến vị thiền sư nọ
-Thầy nói xem trên đời này có vận mệnh không?
-Có.
– Nhưng, vận mệnh của con ở đâu?
Vị thiền sư kêu anh ta xoè tay trái ra, chỉ anh ta xem và nói:
-Con thấy rõ chưa? Đường này là đường tình cảm, đường này là đường sự nghiệp, còn đường kia là đường sinh-mệnh.
Sau đó, vị thiền sư kêu anh ta từ từ nắm tay lại, cho thật chặt. Thiền sư hỏi:

-Con nói xem, những đường đó nằm ở đâu rồi?
Anh ta mơ hồ bảo:
-Trong tay con này.
-Con hiểu vận mệnh của con ở đâu rồi chứ?
Anh ta mỉm cười nhận ra, thì ra vận mệnh nằm trong tay mình.”
(trích truyện do bạn bè gửi)

Có thể là, bạn và tôi, ta chẳng tin chuyện “vận mệnh” với “số phận” như các bạn đạo thuộc tôn-giáo khác vẫn lấy đó làm lý-tưởng sống. Cũng có thể, tôi và bạn lại suy-nghĩ rất “lung” về đời người và người đời, nhiều lúc thấy đầu óc không mang mặc một tư-tưởng nào hết.

Cũng có thể, tôi và bạn, ta từng đa nghi hết tất cả. Và không còn tin vào những chuyện cao-siêu/nhiệm-mầu, rất khác lạ. Khác và lạ, là ở chỗ: cứ nghe mãi mà tai mình vẫn không thấy quen. Và cũng có thể, là tai tôi và tai bạn, nay có vấn-đề cần chỉnh-sửa để ta có thể nghe đủ mọi chuyện và mọi thứ. Cả những thứ lâu rày mình chẳng thích nghe.

Và đây, là một trong những thứ, mà bày tôi đây thường chẳng muốn nghe bao giờ hết. Đó, là truyện kể rất tinh mơ nhưng lại cũng xưa/cũ như bao giờ, vì cái ông có tên gọi là “Vũ Như Cẫn” rất quen thuộc ở đâu đó, trong đời thường. Tỉ như câu truyện kể rất khó nghe sau đây:

“Tôi đã tìm một người thầy thông thái và đạo hạnh xin chỉ bảo:

-Vì sao những người lương thiện như con lại thường xuyên cảm thấy khổ, mà những người độc ác lại cứ sống tốt như vậy?

Thầy thông-thái hiền hòa nhìn tôi rồi trả lời:

-Nếu một người trong lòng cảm thấy khổ, điều đó nói lên rằng trong tâm người này có tồn tại một điều ác tương-ứng. Nếu một người trong nội-tâm không có điều ác nào, như vậy, người này sẽ không có cảm-giác thống-khổ. Vì thế, căn cứ theo đạo-lý này, con thường cảm thấy khổ, nghĩa là nội-tâm của con vẫn tồn-tại điều ác, con không phải là người lương-thiện thật sự. Và, những người con cho rằng là người ác, lại chưa hẳn là người thật sự ác.

Một người có thể vui vẻ mà sống, ít nhất nói rõ người này không phải là người ác thật sự.

Có cảm-giác như bị xúc-phạm, tôi không phục, liền nói:

-Con sao có thể là người ác được? Gần đây, tâm con rất lương-thiện mà!

Thầy trả lời:

-Nội-tâm không ác thì không cảm thấy khổ, con đã cảm thấy khổ, nghĩa là trong tâm con đang tồn-tại điều ác. Con hãy nói về nỗi khổ của con, ta sẽ nói cho con biết, điều ác nào đang tồn-tại trong con.

Tôi nói:

-Nỗi khổ của con thì rất nhiều! Có khi cảm thấy tiền lương thu nhập rất thấp, nhà ở cũng không đủ rộng, thường xuyên có “cảm giác thua thiệt” bởi vậy trong tâm con thường cảm thấy không thoải-mái, cũng hy-vọng mau chóng có thể cải-biến tình-trạng này; trong xã-hội, không ít người căn-bản không có văn-hóa gì, lại có thể lưng quấn bạc triệu, con không phục; một trí-thức văn-hóa như con, mỗi tháng lại chỉ có một chút thu-nhập, thật sự là không công-bằng; người thân nhiều lúc không nghe lời khuyên của con, con cảm thấy không thoải-mái…

Cứ như vậy, lần lượt tôi kể hết với thầy những nỗi thống-khổ của mình.

Thầy gật đầu, mỉm cười, một nụ cười rất nhân-từ, đôn-hậu, người từ-tốn nói với tôi:

-Thu-nhập hiện-tại của con đã đủ nuôi sống chính con và gia-đình. Con còn có cả phòng ốc để ở, căn-bản là đã không phải lưu-lạc nơi đầu đường xó chợ, chỉ là diện-tích hơi nhỏ một chút, con hoàn-toàn có thể không phải chịu những khổ-tâm ấy.

-Nhưng, bởi vì nội-tâm con có lòng tham đối với tiền tài và của cải, cho nên mới cảm thấy khổ. Loại lòng tham này là ác tâm, nếu con có thể vứt bỏ ác tâm ấy, con sẽ không vì những điều đó mà cảm thấy khổ nữa.

Trong xã-hội có nhiều người thiếu văn-hóa nhưng lại phát tài, rồi con lại cảm thấy không phục, đây chính là tâm đố-kị. Tâm đố-kị cũng là một loại ác tâm. Con tự cho mình là có văn-hóa, nên cần phải có thu-nhập cao, đây chính là tâm ngạo-mạn. Tâm ngạo-mạn cũng là ác tâm. Cho rằng có văn-hóa thì phải có thu-nhập cao, đây chính là tâm ngu si; bởi vì văn-hóa không phải là căn-nguyên của sự giàu có, kiếp trước làm việc thiện mới là nguyên-nhân cho sự giàu có của kiếp này. Tâm ngu si cũng là ác tâm!

Người thân không nghe lời khuyên của con, con cảm thấy không thoải mái, đây là không rộng lượng. Dẫu là người thân của con, nhưng họ vẫn có tư-tưởng và quan-điểm của riêng mình, tại sao lại cưỡng cầu tư-tưởng và quan-điểm của họ bắt phải giống như con? Không rộng-lượng sẽ dẫn đến hẹp hòi. Tâm hẹp-hòi cũng là ác tâm.

Sư phụ tiếp tục mỉm cười:

-Lòng tham, tâm đố-kỵ, ngạo-mạn, ngu-si, hẹp-hòi, đều là những ác tâm. Bởi vì nội-tâm của con chứa đựng những ác tâm ấy, nên những thống-khổ mới tồn-tại trong con. Nếu con có thể loại-trừ những ác tâm đó, những thống-khổ kia sẽ tan thành mây khói.”

Con đem niềm vui và thỏa-mãn của mình đặt lên tiền thu-nhập và của cải, con hãy nghĩ lại xem, căn-bản con sẽ không chết đói và chết cóng; những người giàu có kia, thật ra cũng chỉ là không chết đói và chết cóng. Con đã nhận ra chưa, con có hạnh-phúc hay không, không dựa trên sự giàu có bên ngoài, mà dựa trên thái-độ sống của con mới là quyết-định. Nắm chắc từng giây phút của cuộc đời, sống với thái-độ lạc-quan, hòa-ái, cần cù để thay thế lòng tham, tính đố kỵ và ích kỷ; nội tâm của con sẽ dần chuyển hóa, dần thay đổi để thanh thản và bình an hơn.

-Trong xã hội, nhiều người không có văn hóa nhưng lại giàu có, con hãy nên vì họ mà vui vẻ, nên cầu chúc họ càng giàu có hơn, càng có nhiều niềm vui hơn mới đúng. Người khác đạt được, phải vui như người đó chính là con; người khác mất đi, đừng cười trên nỗi đau của họ. Người như vậy mới được coi là người lương thiện! Còn con, giờ thấy người khác giàu con lại thiếu vui, đây chính là tâm đố kị. Tâm đố kị chính là một loại tâm rất không tốt, phải kiên quyết tiêu trừ!”

-Con cho rằng, con có chỗ hơn người, tự cho là giỏi. Đây chính là tâm ngạo mạn. Có câu nói rằng: “Ngạo mạn cao sơn, bất sinh đức thủy” (nghĩa là: ngọn núi cao mà ngạo mạn, sẽ không tạo nên loại nước tốt) người khi đã sinh lòng ngạo mạn, thì đối với thiếu sót của bản thân sẽ như có mắt mà không tròng, vì vậy, không thể nhìn thấy bản thân có bao nhiêu ác tâm, sao có thể thay đổi để tốt hơn. Cho nên, người ngạo mạn sẽ tự mình đóng cửa chặn đứng sự tiến bộ của mình. Ngoài ra, người ngạo mạn sẽ thường cảm thấy mất mát, dần dần sẽ chuyển thành tự ti. Một người chỉ có thể nuôi dưỡng lòng khiêm tốn, luôn bảo trì tâm thái hòa ái từ bi, nội tâm mới có thể cảm thấy tròn đầy và an vui.

-Kiếp trước làm việc thiện mới chính là nguyên nhân cho sự giàu có ở kiếp này, (trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu). Mà người thường không hiểu được nhân quả, trồng dưa lại muốn được đậu, trồng đậu lại muốn được dưa, đây là thể hiện của sự ngu muội. Chỉ có người chăm học Phật Pháp, mới có được trí huệ chân chính, mới thật sự hiểu được nhân quả, quy luật tuần hoàn của vạn vật trong vũ trụ, nội tâm mới có thể minh tỏ thấu triệt. Để từ đó, biết làm thế nào lựa chọn tư tưởng, hành vi và lời nói của mình cho phù hợp. Người như vậy, mới có thể theo ánh sáng hướng đến ánh sáng, từ yên vui hướng đến yên vui.”

-Bầu trời có thể bao dung hết thảy, nên rộng lớn vô biên, ung dung tự tại; mặt đất có thể chịu đựng hết thảy, nên tràn đầy sự sống, vạn vật đâm chồi! Một người sống trong thế giới này, không nên tùy tiện xem thường hành vi và lời nói của người khác. Dẫu là người thân, cũng không nên mang tâm cưỡng cầu, cần phải tùy duyên tự tại! Vĩnh viễn dùng tâm lương thiện giúp đỡ người khác, nhưng không nên cưỡng cầu điều gì.

-Nếu tâm một người có thể rộng lớn như bầu trời mà bao dung vạn vật, người đó sao có thể khổ đây?

Vị thầy khả kính nói xong những điều này, tiếp tục nhìn tôi với ánh mắt đầy nhân từ và bao dung độ lượng. Ngồi im lặng hồi lâu… xưa nay tôi vẫn cho mình là một người rất lương thiện, mãi đến lúc này, phải! chỉ đến lúc này, tôi mới biết được trong tôi còn có một con người rất xấu xa, rất độc ác! Bởi vì nội tâm của tôi chứa những điều ác, nên tôi mới cảm thấy nhiều đau khổ đến thế. Nếu nội tâm của tôi không ác, sao tôi có thể khổ chứ ?

-Xin cảm tạ thầy, nếu không được người khai thị dạy bảo, con vĩnh viễn sẽ không biết có một người xấu xa như vậy đang tồn tại trong con!” (Theo VNE)

Suy cho cùng, thì cuộc đời người cũng có lắm chuyện khiến người đời cần suy nghĩ cho chín trước khi có quyết-định làm điều gì gây ảnh hưởng cho toàn-bộ cuộc sống của mình.

Nói khác đi, đời người bao giờ cũng có triết-lý của nó. Tin hay không tin. Chấp-nhận triết lý ấy hay không, vẫn là việc của mỗi người, từng giai-đoạn. Cũng có thể hôm nay, bạn và tôi không thấy có gì cần suy nghĩ hoặc đổi thay đời mình chú gì hết. Thế nhưng, triết-lý cuộc cuộc đời vẫn có đó, như một số vị từng nhận-định như sau:

Có những khoảnh-khắc cuộc đời khiến bạn nhớ người ta thật nhiều, đến nỗi bạn chỉ muốn chạy đến và ôm họ thật chặt. Hãy cho người đó biết bạn đã có suy nghĩ như thế!

Trao cho ai đó cả con tim mình không bao giờ là một sự đảm bảo rằng họ cũng yêu bạn, đừng chờ đợi điều ngược lại. Hãy để tình yêu lớn dần trong tim họ, nhưng nếu điều đó không xảy ra thì hãy hài lòng vì ít ra nó cũng đã lớn lên trong bạn.

Tương lai tươi sáng thường dựa trên quá khứ đã quên lãng, bạn không thể sống thanh thản nếu bạn không vứt bỏ mọi nỗi buồn đã qua.

Một điều đáng buồn trong cuộc sống là khi bạn gặp một người có nghĩa đối với bạn,để rồi cuối cùng nhận ra rằng họ sinh ra không phải để cho bạn và chỉ có thể để họ đi ….

Nhưng khi một cánh cửa đóng lại, một cánh cửa khác lại mở ra. Ðiều bạn cần làm là thôi không chờ đợi nơi cánh cửa đã đóng, hãy tìm một cánh cửa khác đang mở ra cho mình.

Đừng quên hy vọng, sự hy vọng cho bạn sức mạnh để tồn tại ngay khi bạn đang bị bỏ rơi.

Đừng để những khó khăn đánh gục bạn, hãy kiên nhẫn rồi bạn sẽ vượt qua.

Đừng chờ đợi những gì bạn muốn mà hãy đi tìm kiếm chúng.

Hãy mỉm cười trong cuộc sống. Nụ cười của bạn mang lại hạnh phúc cho người xung quanh và do đó cũng mang lại hạnh phúc cho chính bạn.

Đừng bao giờ nói không còn yêu nữa nếu nước mắt của người kia vẫn có thể giữ chân bạn.

Ðừng khóc vì mọi việc đã qua, hãy cười vì mọi việc đang chờ phía trước.

Đừng chạy theo vẻ bề ngoài hào nhoáng, nó có thể phai nhạt theo thời gian.

Đừng chạy theo tiền bạc, một ngày kia nó cũng sẽ mất đi.

Hãy chạy theo người nào đó có thể làm bạn luôn mỉm cười bởi vì chỉ có nụ cười xua tan màn đêm u tối trong bạn.

Hãy luôn đặt mình vào vị trí người khác, nếu điều đó làm tổn thương bạn thì nó cũng sẽ tổn thương người khác.

Người hạnh phúc nhất không cần phải có mọi thứ tốt nhất, họ chỉ là người làm cho mọi việc, mọi chuyện đều diễn ra theo ý họ.

Hạnh phúc thường đánh lừa những ai khóc lóc, những ai bị tổn thương, những ai đã tìm kiếm và đã thử. Nhưng nhờ vậy, họ mới biết được giá trị của những người chung quanh họ.

Tình yêu bắt đầu bằng nụ cười, lớn lên bằng nụ hôn và thường kết thúc bằng nước mắt.

Khi sinh ra, bạn khóc còn người xung quanh lại cứ cười. Hãy sống sao để khi bạn qua đời, mọi người khóc còn bạn, bạn lại cứ cười.

Hãy giữ những vật dù nhỏ nhất của bạn thân mình; bởi, biết đâu sau này nó sẽ là kỷ-niệm của bạn mình.

Hãy nói những lời yêu thưong nhất đến người mà bạn yêu thương ….

Bạn chưa cần đến 3 giây để nói “I love you”, chưa đến 3 phút để giải thích câu nói ấy, chưa đến 3 ngày để cảm nhận được ý nghĩa của nó, nhưng để chứng minh câu nói đơn giản ấy thì cả cuộc đời vẫn là chưa đủ.

Cũng vậy: Chỉ cần thời gian một phút thì bạn đã có thể cảm thấy thích một người. Một giờ để mà thương một người. Một ngày để mà yêu một người. Nhưng mà bạn sẽ mất cả đời để quên một người.

Không ai đáng giá bằng những giọt nước mắt của bạn. Và những người đáng giá sẽ không bao giờ làm bạn khóc.

Chỉ khi bạn thật sự mong muốn ai đó được hạnh phúc, thậm chí hạnh phúc đó không phải dành cho bạn, bạn mới hiểu rằng bạn đã yêu người đó thật sự mất rồi.

Có một sự thật là bạn sẽ không biết bạn có gì cho đến khi đánh mất nó, nhưng cũng có một sự thật khác là bạn cũng sẽ không biết mình đang tìm kiếm cái gì cho đến khi có nó.

Hãy làm những gì bạn muốn làm, mơ những gì bạn muốn mơ , tới đâu bạn muốn tới, trở thành những gì bạn muốn, bởi bạn chỉ có một cuộc sống và một cơ hội để làm tất cả những gì bạn muốn.

Hãy Gạt Những Âu Lo Cuộc Sống !

Yêu là mạo hiểm vì có thể bị từ chối. Nhưng không mạo hiểm thì đã là thất bại rồi vì trong cuộc sống điều nguy hiểm nhất là không thử thách điều gì .

Tình yêu là con dao. Nó đâm nát con tim hay có khi nó khắc sâu vào tim ta những vết khắc diệu kỳ và sẽ theo ta đến cuối đời.

Người ta vá áo bằng kim, còn bạn sẽ vá con tim bằng gì?

Tình yêu là một món quà – mà chỉ có thể đâm chồi nảy lộc khi được trao tặng đi.

Thế đó, là lập-trường/quan-điểm của người đời, trong đời. Thế còn, lập-trường của đấng bậc thày dạy nơi nhà Đạo thì sao? Để trả lời, đề nghị bạn/đề nghị tôi, ta đọc thêm một lần nữa, ý-kiến của bậc thày dạy bần đạo ở Úc vẫn còn dạy-dỗ những điều về tình thương yêu cứu-độ chan-chứa nơi Đức Giêsu Kitô là bậc thày tối-cao của mọi người, trong Đạo.

Và đây là đôi ba ý chính rất sâu-sắc ở bài viết hôm nào mà bần đạo được hấp-thụ trong một buổi học hỏi về thần-học cao-siêu về Tình Thương cứu-độ, rất như sau:

“Nếu có ai hỏi: “Tình thương-yêu thật ra có nghĩa gì?” “Sự Công-chính từ đâu đến?”

thì câu trả lời, hẳn sẽ bao-gồm cả tình Thương-yêu thần-thánh, tức: sự Công-chính thánh-thiêng của Thiên-Chúa. Thành thử, ta nên dừng lại một chút, trước khi đặt mình vào với dữ-kiện của Kinh Sách và Thánh-truyền, để rồi sẽ suy thêm về Chúa với câu hỏi đặt ra từ bao giờ:

“Thiên-Chúa, Ngài là Đấng nào?”

“Ngài yêu-thương ta đến mức độ nào?”

“Ngài có công-bằng chính-trực đích-thực không?”

Vấn-đề đây, lại đề ra một số phương-án để ta theo, tức: những phương-án tương-tự như ở Kinh-Thánh, tâm-lý-học và kinh-tế/tài chánh của nhiều người….

Quan-điểm mà quý vị đây đưa ra, lại mang ý-niệm về sự công-chính vốn duy-trì quan-hệ giữa Thiên-Chúa và loài người; nhưng đúng thực lại là: giữa Đức Giêsu và dân con từng phạm lỗi ở trong Đạo. Thật ra thì, đây không là sự công-minh/chính-trực theo kiểu người phàm, như ta hiểu.

Từ nơi đây, ta cần nhận-chân ra rằng: Thiên-Chúa, với tư-cách là Chúa, Ngài chẳng cần sự gì hết. Nhận-định này, đã kéo theo hệ-quả là: không gì khả dĩ thúc-ép từ bên trong hoặc đè nặng lên Chúa, để Ngài làm bất cứ điều gì đặc-biệt, hòng cứu-chuộc ta ra khỏi trạng-huống những lỗi và tội. Chúa có tự-do làm bất cứ thứ gì Ngài muốn, như tạo-dựng hoặc cứu-chuộc mọi sự. Ngài hành-xử theo cách rất “hào-phóng”. Hào-phóng đây, có nghĩa: tạo lợi-ích cho mọi người. Hào-phóng -ngay chính từ-vựng này từng diễn-tả- đã liên-kết mọi sự tốt-lành mà bên tiếng La-tinh, thiên-hạ có thói quen gọi đó là “Bonitas”, tức: Sự Tốt-lành của Chúa, ở tầm-kích rất siêu-phàm.

Bản-chất của Chúa, lại có nghĩa: Ngài rất “tốt lành và siêu-việt”, nên từ phần thâm-sâu của từ-vựng, tính “hào-phóng” của Chúa, ta không thể cắt-nghĩa bằng ngôn-từ mà người phàm thường sử-dụng được. Bởi, đó là bí-nhiệm của Chúa và về Chúa. Là, thứ gì đó mà loài người, thật ra, không thể nắm bắt được điều gì thuộc về Chúa.

Từ-vựng “hào-phóng” -dù là ngôn-từ thuần-tuý của con người- vẫn có thể nối-kết với các dự-phóng đưa về phía trước, hầu đưa ta đến được với nó. Thành ra, ta bảo là: Chúa tự đặt Ngài vào vị-thế đầy hào-phóng, tức Ngài khấng-mang điều gì đó ngay nơi bản-chất của Ngài, để Ngài hành-xử một cách hào-phóng, tốt lành. Thiên-Chúa nối-kết một cách công-minh với chính Ngài, để mọi sự được ra như thế. Điều đó, ta gọi là sự Công-chính, tức bản-chất rất công-minh của Đức Chúa. Bởi, theo nghĩa thâm-sâu nơi bản-chất Ngài, Chúa có khuynh-hướng làm thế, nên sở dĩ Ngài mang tính hào-phóng là do bởi chính sự hào-phóng của Ngài, mà ra. Ở đây, tiếng La-tinh thường diễn-tả rất rõ bằng thành-ngữ “bonum diffusivum suis”, tức: từ-vựng mang cùng một ý-niệm.” (x. Lm Kevin O’Shea CSsR, Ơn Cứ Chuộc Nơi Ngài Chan Chứa, nxb Hồng Đức 2015, chương 4 phàn 3)

Tựu- trung, câu chuyện về tình thương-yêu của Thiên-Chúa đối với con người, lại dọi về đoạn Kinh Sách qua đó bậc thánh hiền từng diễn-tả bằng nhửng lời vàng như sau:

“Nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình,

thì anh em nào có công chi?

Ngay cả những người thu thuế

cũng chẳng làm như thế sao?

Nếu anh em chỉ chào hỏi anh em mình thôi,

thì anh em có làm gì lạ thường đâu?

Ngay cả người ngoại cũng chẳng làm như thế sao?

Vậy anh em hãy nên hoàn thiện,

như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện.”

(Mt 5: 46-47)

Xem thế thì, mấu chốt quan-trọng tạo hạnh-phúc của cuộc đời là chính là “nên toàn-thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng toàn-thiện”. Xem thế thì, trở nên hoàn-thiện như Cha trên trời là Tình-yêu, tức bậc con cái phải có lòng yêu-thương hết mọi người. Có thế mới nên hoàn thiện như Cha mình. Xem thế thì, hẳn bạn và tôi, ta cứ hiên-ngang hát lên cả những bài tưởng-chừng-như-buồn, hoặc sầu não, vẫn không sao. Quyết thế rồi, nay mời bạn và tôi, ta cất tiếng, hát rằng:

“Trong mơ ta luôn khát khao

Một thế giới yên vui đầy dẫy tình người

Với bao con tim chân thành và nhân ái

Trong mơ ta luôn khát khao

Câu nói thương yêu không một chút lọc lừa

Để ta nghe thương cuộc đời hơn nữa

Để ta nghe thương con người nhiều hơn xưa.” (Lê Hựu Hà – bđd)

Hát thế rồi, hẳn bạn và tôi, ta sẽ thấy không buồn/phiền nữa. Nhưng vẫn dũng-cảm ra đi mà phổ-biến những gì mình học được từ đấng thánh-hiền, để cuộc đời mình sẽ tươi vui, rất mãn- đời.

Trần Ngọc Mười Hai

Đã quyết tâm như thế

Và sẽ quyết như thế, đến cuối đời.

Lãnh đạo CSVN không phải là người Việt

Lãnh đạo CSVN không phải là người Việt

FB Trần Trung Đạo

09-04-2015

Tháng 5 năm ngoái, khi Trung Cộng đưa giàn khoan HD-981 đến sát bờ biển Việt Nam, lãnh đạo CSVN phản đối. Không chỉ phản đối riêng tại Việt Nam mà họ còn xúi giục du học sinh VN tại các nước mang cờ CS biểu tình chống Trung Cộng.

Nhiều người nghĩ rằng CSVN phản đối vì Trung Cộng xâm phạm lãnh hải Việt Nam.

Không phải. Trung Cộng xâm phạm lãnh hải Việt Nam hàng trăm lần trước đó nhưng CSVN im lặng. CSVN phản đối chỉ vì lãnh đạo Trung Cộng đã làm nhục lãnh đạo CSVN một cách công khai, lộ liễu trước dư luận Việt Nam và quốc tế, vượt qua giới hạn của những thỏa thuận ngầm giữa hai đảng. Trung Cộng rút giàn khoan và sóng gió tạm ngưng.

Trong bài “Để thắng được Trung Cộng” viết ngày 18 tháng 5, 2014, khi sự kiện HDD-981 còn nóng bỏng, tôi có viết:

“Rồi mai đây, sau trận đánh ghen HD-981 này, lãnh đạo CSVN lại lên đường sang Bắc Kinh triều cống, lại 16 chữ vàng, lại ca ngợi tình đồng chí, nghĩa anh em thắm thiết. Cơn hờn giận giữa hai đảng CS theo thời gian có thể sẽ nguôi ngoai nhưng trên các vùng biên giới, trong lòng biển Việt Nam, máu của ngư dân Việt Nam, của người lính biển Việt Nam sẽ không ngừng chảy. Dân tộc Việt Nam lại bị đảng dắt đi vòng vòng trong ngõ cụt tối tăm như đã và đang đi suốt 39 năm qua.”

Thực tế đang diễn ra đúng như vậy. Tuần này, TBT Nguyễn Phú Trọng dẫn một phái đoàn đông đảo sang triều cống Trung Cộng và lập lại lời thề trung thành với đảng mẹ.

Nhưng không phải hôm nay thôi, mà từ 1990 (Hội nghị Thành Đô), 1958 (Công hàm Phạm Văn Đồng), 1954 (Hội nghị Geneva), 1950 (Trung Cộng là nước đầu tiên công nhận VNDCCH), 1946 (Liên Xô và Trung Cộng tổ chức huấn luyện cán bộ CSVN), và nhục nhã nhất, vào ngày 30-1-1950, Hồ Chí Minh, sau khi đi bộ 17 ngày, đến chính thức triều cống Trung Cộng và tháng Tư năm đó y cũng đã dâng cho Trung Cộng bốn yêu cầu trong đó có yêu cầu Trung Cộng gởi cố vấn quân sự sang Việt Nam.

Từ phái đoàn cố vấn chính trị đầu tiên do La Quý Ba cầm đầu cho đến 1973 có đến 320 ngàn quân Trung Cộng tham chiến tại Việt Nam dưới nhiều hình thức.

Quan hệ giữa Trung Cộng và CSVN được Chu Ân Lai ví như “cùng chung máu thịt”.

Máu thịt đây dĩ nhiên không phải là máu thịt của 74 anh hùng Hải Quân VNCH bảo vệ Hoàng Sa, không phải là máu thịt của 64 thanh niên Việt Nam bị thảm sát ở Trường Sa, không phải là máu thịt của hàng ngàn ngư dân Việt Nam đã chết dưới tay hải quân Trung Cộng suốt mấy chục năm qua, không phải là máu thịt của ba ngàn thanh niên Việt Nam bị thiêu xác ở Lão Sơn, không phải là máu thịt của nhiều chục ngàn thanh niên Việt Nam đã chết trong chiến tranh biên giới 1979, và không phải là máu thịt của một phần mười dân tộc Việt khắp ba miền đã chết vì tham vọng CS hóa Việt Nam của đảng CSVN và CS Quốc Tế.

“Cáo chết ba năm quay đầu về núi” nhưng lãnh đạo CSVN thì không. Lãnh đạo CSVN sẽ quay đầu về Trung Nam Hải, Bắc Kinh, vì chúng không phải là người Việt.

‘Không nên gọi 30/4 là ngày giải phóng’

‘Không nên gọi 30/4 là ngày giải phóng’

Nam Phong Gửi tới BBC từ Huế

  • 11 tháng 4 2015

Tôi sinh ra và lớn lên sau ngày 30/04. Trong khi phần lớn đất nước chìm trong khó khăn, hết cuộc chiến này đến cuộc chiến khác, trong khi phần lớn người dân thiếu ăn, thiếu mặc, đói khổ trong giai đoạn 1980-1990, thì tôi đã sống một cuộc sống đầy đủ và sung túc, vì ông bà tôi là những đảng viên cao cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Ông tôi là một người chân thành và có niềm tin sâu sắc với lý tưởng cộng sản. Ông có một người chị ở phía bên kia, và sau này di tản sang Mỹ. Ông không bao giờ liên lạc với bà, và đó là nỗi ân hận lớn nhất trong những ngày cuối đời của ông.

Là một ‘hạt giống đỏ” tôi lớn lên với niềm tin chân thành về những gì được dạy dỗ, về lý tưởng cộng sản với hình mẫu Pavel Korchagin – Hình mẫu chuẩn mực cho mọi thiếu niên lớn lên dưới mái trường XHCN khi đó.

40 năm rồi, bên chiến thắng vẫn ăn mừng, vẫn diễu binh, vẫn pháo hoa…bên kia vẫn là ngày quốc hận, ngày mất nước..vết thương dân tộc vẩn rỉ máu.

Vì vậy, sự kiện 30/04 đối với tôi và các bạn tôi khi đó là một cái gì đó rất đẹp, rất anh hùng, cũng rất vẻ vang. Với thế hệ chúng tôi, Việt Nam đã đánh bại siêu cường số 1 thế giới làm “chấn động năm châu. rung chuyển địa cầu”.

Nhưng sau sự kiện bức tường Berlin, mẹ tôi trở về Việt Nam (vì là con của cán bộ cao cấp, mẹ tôi và các bác, cậu của tôi đều lần lượt học ở Đông Đức, Liên Xô, Bungari…).

Với những gì đã được chứng kiến ở nước Đức và Đông Âu, mẹ tôi không tán đồng quan điểm với ông tôi. Mẹ tôi từng kể với tôi rằng, những người bạn Đức của bà nói rằng ”Mỹ là những người bạn tốt, cả thế giới muốn chơi với nó mà người Việt Nam mày lại đuổi nó đi.”

Bà kể cho tôi về những người Đức cộng sản và không cộng sản khi thống nhất đất nước đã ôm hôn nhau như thế nào. Bà kể về những người lính biên phòng Đông Đức đã tự sát chứ nhất định không bắn vào những người phía Đông muốn chạy sang phái Tây như thế nào.

Đó là bước ngoặt trong suy nghĩ của tôi! Mỹ mà tốt à? Tại sao người ở phía Đông lại chạy sang phía Tây chứ không phải ngược lại? Thế giới của tôi bắt đầu có nhiều màu sắc hơn, không còn chỉ có hai màu, cộng sản và phản động nữa.

Những ngày tháng cuối cùng của chiến tranh chỉ là giao tranh giữa những người Việt (Trong ảnh là lính VNCH trong trận Xuân Lộc)

Tôi bắt đầu tìm đọc những tác phẩm viết về ngày 30/04/1975. Đọc những tác phẩm bị coi là “phản động” ở Việt Nam. Các tác phẩm của Dương Thu Hương, Trần Độ, Vũ Thư Hiên, Nguyễn Gia Kiểng…

Thông tin từ những tác phẩm này đã khiến tôi mở to mắt. Ngày 30/04 làm gì còn người lĩnh Mỹ nào ở Sài Gòn. Vậy sao còn gọi là kháng chiến chống Mỹ? Sao có thể gọi là “giải phóng”?

Và tôi khóc thương cho số phận dân tộc Việt. Khóc thương cho hàng triệu người Việt ở cả hai phía đã ngã xuống trong cuộc chiến “huynh đệ tương tàn”. Khóc thương cho cả triệu người Việt vĩnh viễn nằm lại gữa biển khơi.

Một ngày nào đó, 30/04 trở thành ngày thống nhất, một ngày lễ cho cả dân tộc. Tổ quốc treo cờ rủ quốc tang cho những người đã ngã xuống ở cả hai phía.

Và tôi khóc thương cho lòng yêu nước nhiệt tình nhưng ngây thơ của người Việt đã bị các cường quốc lợi dụng. Đất nước trở thành bãi chiến trường. Người Việt trở thành sỹ tốt xung phong. Việt Nam thành bàn cờ, nhưng người chơi là người Nga, người Trung Quốc và người Mỹ không phải là người Việt. Một bên chiến đấu để “giải phóng” và “nhuộm đỏ thế giới”. Một bên chiến đấu để bảo vệ “thế giới tự do”.

“Đại thắng mùa xuân” và “giải phóng miền Nam”. Đât nước thành một đống đổ nát, hoang tàn. Trường Sơn thành một nghĩa trang khổng lồ.

Những người mẹ mất con. Khăn trắng trên đầu trẻ thơ. Và một hết thương hằn sâu trong lòng dân tộc. 40 năm rồi, bên chiến thắng vẫn ăn mừng, vẫn diễu binh, vẫn pháo hoa…bên kia vẫn là ngày quốc hận, ngày mất nước… vết thương dân tộc vẩn rỉ máu.

Một ngày nào đó, 30/04 trở thành ngày thống nhất, một ngày lễ cho cả dân tộc. Tổ quốc treo cờ rủ quốc tang cho những người đã ngã xuống ở cả hai phía.

Một tượng đài nhỏ thôi, giản dị thôi nhưng tinh xảo. Và một nghĩa trang của những người lính ở cả hai phía cho thế hệ trẻ có thể tỏ lòng thành kính cho những người đã ngã xuống vì dân tộc. Hy vọng là như thế!

Còn thống nhất lãnh thổ mà không thống nhất được lòng người thì có ích gì? Nhất là khi phương Bắc, kẻ thù truyền kiếp đang trỗi dậy. Bài học mất nước của Hồ Quý Ly còn đó.