VÀO ĐỜI ĐỂ VỀ TRỜI

VÀO ĐỜI ĐỂ VỀ TRỜI

Trầm Thiên Thu

Ai cũng muốn “về trời”, nhưng không phải ai cũng thật lòng muốn “vào đời.”  Phải thực sự can đảm mới đủ sức dấn thân vào đời, vì trách nhiệm nhiều mà đau khổ cũng chẳng ít.  Nhưng phải VÀO ĐỜI rồi mới có thể VỀ TRỜI với Đức Giêsu Kitô.  Chính Ngài cũng đã vào đời và chịu nhiều đau khổ, thậm chí còn phải chết trên Thập Giá.

Là những người đi theo Ngài, chúng ta cũng không thể đi lối tắt hoặc đường khác mà về trời.  Chắc chắn như thế!  Thật vậy, trước khi Chúa Giêsu về trời, Ngài bảo chúng ta phải vào đời: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16:15).  Tuy nhiên, chúng ta không lẻ loi hoặc đơn độc, vì Ngài hứa chắc: “Thầy sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28:20).  Hơn nữa, chính Đấng Bảo Trợ là Thần Chân Lý sẽ dạy chúng ta những điều phải làm (x. Ga 14:26).  Cứ an tâm mà vào đời!

Trước khi về trời, Chúa Giêsu đã dạy bảo các Tông Đồ mà Ngài đã tuyển chọn nhờ Thánh Thần.  Ngài còn dùng nhiều cách để chứng tỏ cho các ông thấy là Ngài vẫn sống sau khi đã chịu khổ hình.  Một hôm, đang khi dùng bữa với các Tông Đồ, Đức Giêsu truyền cho các ông không được rời khỏi Giêrusalem, nhưng phải ở lại mà chờ đợi điều Chúa Cha đã hứa, điều mà họ đã nghe Ngài nói tới, đó là: “Ông Gioan làm phép rửa bằng nước, còn họ sẽ chịu phép rửa trong Thánh Thần” (Cv 1:5).

Đã có những người “vô tư” hỏi Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, có phải bây giờ là lúc Thầy khôi phục vương quốc Ít-ra-en không?” Nhưng Ngài đáp: “Anh em không cần biết thời giờ và kỳ hạn Chúa Cha đã toàn quyền sắp đặt, nhưng anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari và cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1:7-8).  Thời đó, người ta cứ tưởng Chúa Giêsu là một chính trị gia có thể đảo chính để cướp chính quyền mà khôi phục quốc gia Ít-ra-en.  Nhưng ai cũng lầm, vì có lần Ngài đã xác định trước mặt tổng trấn Phi-la-tô: “Nước tôi không thuộc về thế gian này” (Ga 18:36).

Sau 40 ngày sống lại, Chúa Giêsu căn dặn xong, Ngài được cất lên ngay trước mặt các tông đồ, và rồi có đám mây quyện lấy Ngài, khiến họ không còn thấy Người nữa.  Đang lúc các ông còn đăm đăm ngước lên trời, nhìn theo phía Ngài đi, bỗng có hai người đàn ông mặc áo trắng đứng bên cạnh và nói: “Hỡi những người Galilê, sao còn đứng nhìn lên trời?  Đức Giêsu, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời” (Cv 1:11).

Lên trời là một hiện tượng vô cùng lạ, các ông ngạc nhiên là điều tất yếu.  Lên trời ở đây là “về trời” chứ không phải lên trời du lịch một thời gian, cũng chẳng phải như Chú Cuội bám gốc đa bay lên cung trăng, hoặc như Táo quân cưỡi cá chép bay lên trời.  Đó chỉ là huyền thoại.  Lại càng không phải như các phi hành gia bay lên cung trăng bằng phi thuyền.  Đó chỉ là dạng lên trời không chính thức, họ lên trời nhưng không thể sống được nếu không có bình dưỡng khí.  Phải trở lại đất cho nhanh, kẻo hết dưỡng khí là chết.  Thật vậy, Chúa Giêsu đã xác định với ông Ni-cô-đê-mô: “Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống” (Ga 3:13).

Chúa Giêsu lên trời là sự kiện vô cùng kỳ lạ.  Các ông đã từng ngơ ngẩn khi thấy Thầy Giêsu bị người ta giết chết, tưởng thế là hết, nào ngờ Thầy phục sinh.  Hạnh phúc tràn ngập.  Nay các ông lại càng ngơ ngẩn hơn vì Thầy đi rồi, còn lâu Thầy mới trở lại, tiếc hùi hụi, nhớ ngẩn ngơ, nhưng chắc chắn các ông phải vào đời.  Và mỗi chúng ta ngày nay cũng vậy, ai cũng phải vào đời để hy vọng và mong chờ ngày về trời.

Cuộc chia tay nào cũng có phần lưu luyến, thường buồn hơn vui, nhưng khi Chúa Giêsu chia tay lại không buồn vời vợi mà lại tràn đầy niềm hy vọng.  Ngài về trời là dấu chỉ cho biết chắc chắn chúng ta cũng được về trời.  Vậy là vui chứ không buồn.  Tác giả Thánh Vịnh mời gọi: “Vỗ tay đi nào, muôn dân hỡi!  Mừng Thiên Chúa, hãy cất tiếng hò reo!  Vì Đức Chúa là Đấng Tối Cao, Đấng khả uý, là Vua Cả thống trị khắp địa cầu” (Tv 47:2-3).

Chúa Giêsu thăng thiên, Ngài về trời, nơi Ngài đã xuất phát, chúng ta vui mừng khôn tả, tác giả Thánh Vịnh mô tả là “rộn rã tiếng hò reo, vang dội tiếng tù và, đàn ca kính mừng Ngài.”  Nhưng cuộc sống đôi khi không êm đềm như thảm lụa, nên chúng ta luôn phải tiếp tục động viên nhau: “Thiên Chúa là Vua toàn cõi địa cầu, hãy dâng Người khúc đàn ca tuyệt mỹ.  Thiên Chúa là Vua thống trị chư dân, Thiên Chúa ngự trên toà uy linh cao cả” (Tv 47:8-9).

Trước khi về trời, Chúa Giêsu nói với các môn đệ: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16:15).  Đó không chỉ là lời căn dặn, là lời người ra đi, mà còn là mệnh lệnh – tức là điều phải thực hiện bằng mọi giá.  Ngài vừa hứa hẹn vừa cảnh báo: “Ai tin và chịu phép rửa sẽ được cứu độ; còn ai không tin sẽ bị kết án” (Mc 16:16).  Đó là hệ lụy tất yếu chứ không là sự hù dọa.

Đức tin rất quan trọng, tạo nên sức mạnh vô song, tạo nên điều kỳ diệu ngoài sức tưởng tượng của loài người.  Thật vậy, Chúa Giêsu đã xác nhận: “Đây là những dấu lạ sẽ đi theo những ai có lòng tin: nhân danh Thầy, họ sẽ trừ được quỷ, sẽ nói được những tiếng mới lạ.  Họ sẽ cầm được rắn, và dù có uống nhằm thuốc độc cũng chẳng sao.  Và nếu họ đặt tay trên những người bệnh thì những người này sẽ được mạnh khoẻ” (Mc 16:17-18).  Thực tế cũng đã và đang có những người làm được như vậy, đó là tặng phẩm mà Thiên Chúa trao cho ai thì người đó phải biết sử dụng hợp lý.  Ai cũng có một tặng phẩm, người được tặng phẩm này, kẻ được tặng phẩm khác, có người được hai hoặc ba tặng phẩm, cũng như kẻ được một nén, ba nén, năm nén, nhưng dù nhiều hay ít cũng chỉ là để làm sáng danh Thiên Chúa, chứ không phải để cậy mình hoặc nhắm tư lợi nào đó.

Thánh sử Mác-cô cho biết: “Nói xong, Chúa Giêsu được đưa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa.  Còn các Tông Đồ ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng” (Mc 16:19-20).  Rõ ràng, Chúa Giêsu về trời rồi thì các ông đã vào đời, làm chứng về Đức Giêsu Kitô “ba-trong-một”, với ba sự kiện: Chịu chết trên Thập Giá, phục sinh và lên trời.

Vào đời như thế nào?  Thánh Phaolô cho biết về phong cách vào đời: “Chúng ta có những đặc sủng khác nhau, tuỳ theo ân sủng Thiên Chúa ban cho mỗi người.  Được ơn làm ngôn sứ thì phải nói sao cho phù hợp với đức tin.  Được ơn phục vụ thì phải phục vụ.  Ai dạy bảo thì cứ dạy bảo.  Ai khuyên răn thì cứ khuyên răn.  Ai phân phát thì phải chân thành.  Ai chủ toạ thì phải có nhiệt tâm.  Ai làm việc bác ái thì vui vẻ mà làm” (Rm 12:6-8).  Mỗi người mỗi việc, mỗi người mỗi hoàn cảnh và trình độ khác nhau, mỗi người là một các chi thể khác nhau nhưng vẫn chung một Nhiệm Thể Đức Kitô.  Tất cả các chi thể phải đồng tâm nhất trí, cùng hợp lại để phát triển Nhiệm Thể Thánh.

Thánh Phaolô nói thêm về phong cách vào đời: “Lòng bác ái không được giả hình giả bộ.  Anh em hãy gớm ghét điều dữ, tha thiết với điều lành; thương mến nhau với tình huynh đệ, coi người khác trọng hơn mình; nhiệt thành, không trễ nải; lấy tinh thần sốt sắng mà phục vụ Chúa.  Hãy vui mừng vì có niềm hy vọng, cứ kiên nhẫn lúc gặp gian truân, và chuyên cần cầu nguyện.  Hãy chia sẻ với những người trong dân thánh đang lâm cảnh thiếu thốn, và ân cần tiếp đãi khách đến nhà” (Rm 12:9-13).  Được vậy thì thật hạnh phúc cho chúng ta, và Thiên Chúa cũng vui mừng vì Ngài được tôn vinh nơi chính mỗi người chúng ta.

Lạy Thiên Chúa, xin giúp chúng con biết “ái mộ những sự trên trời” bằng cách sống nhân bản, nên hoàn thiện hàng ngày, chứng tỏ sự sống dồi dào của Đức Kitô qua việc thể hiện lòng thương xót với mọi người, nhất là đối với những người hèn mọn.  Xin Đức Maria và Đức Thánh Giuse hướng dẫn chúng con biết đi đúng lối về trời và đưa chúng con đến đích thật.  Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ chúng con. Amen.

Trầm Thiên Thu

Không quốc giáo, không giáo điều

Không  quốc giáo,  không giáo điều

( No State Religion, No State Dogma)

Đoàn Thanh Liêm

Năm 1975, sau khi chiến thắng được miền Nam rồi, thì giới lãnh đạo cộng sản tại Hanoi bèn công khai đổi tên “Đảng Lao Động” thành ra “Đảng Cộng sản”, tờ tạp chí “Học Tập” là cơ quan nghiên cứu và lý luận cuả Đảng Lao Động cũng đổi tên thành tạp chí “Cộng sản” luôn. Và cả đến cái “Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam” (National Liberation Front NLF) cũng được cho giải tán, dẹp bỏ mất tiêu luôn. Đó là chuyện nội bộ cuả đảng cộng sản, họ có quyền quyết định thay đổi tên tuổi cuả riêng họ, chúng ta không phải là người trong đảng cộng sản, thì cũng chẳng nên thắc mắc  gì về cái chuyện riêng tư đó trong tổ chức cuả riêng họ.

Nhưng mà, vẫn theo chuyện “thưà thắng xông lên”, họ đã cả gan đổi cả cái tên, cái danh xưng cuả quốc gia thành ra nhà nước “Cộng hoà Xã hội Chủ nghiã Việt nam” (Socialist Republic of Vietnam SRV), thì đó là điều mọi người công dân Việt nam chúng ta đều có quyền bất đồng, có quyền dị nghị. Vì rõ ràng là đảng cộng sản đã quá ư lộng quyền. Họ vẫn xưng mình là “đày tớ cuả nhân dân”, ấy thế mà họ dám ngang nhiên qua mặt “các chủ nhân ông, tức là toàn thể nhân dân”, mà thay đổi cả cái danh xưng cuả đất nước Việt nam thành ra là một quốc gia nằm dưới trướng cuả cái giáo điều “xã hội chủ nghiã”, với nền” độc tài chuyên chính vô sản”, với chủ trương “đấu tranh giai cấp, hận thù giai cấp”, “dân chủ tập trung” v.v…Đó là cái điều mà không bao giờ chúng ta lại có thể chấp nhận được.

Ở bên Pháp vào năm 1981, lần đầu tiên có lãnh tụ Đảng Xã hội là Francois Mitterand được bàu làm Tổng Thống, thì Giáo sư Raymond Aron có viết một bài báo gây chấn động trên báo Figaro, ông vìết thật đanh thép rằng  : “ Nước Pháp là nước Pháp, hay là Cộng Hoà Pháp quốc, chứ không có thêm một tĩnh từ nào khác” (Nguyên văn : La France, c’est la France ou la République Francaise, sans adjectifs! ) Tức là vị giáo sư lừng danh này muốn cảnh cáo cả phe tả phái và đảng Xã hội rằng : “Không được đem bất kỳ cái chủ thuyết nào mà gán vào danh xưng nước Pháp.” Lập trường này cũng có thể đem áp dụng cho nước Việt nam chúng ta, mà cho tới năm 2010 này vẫn còn bị đảng cộng sản gắn cho “cái đuôi con chồn xã hội chủ nghiã”!

Đầu năm 1990, sau khi chế độ cộng sản xụp đổ ở Đông Âu, thì tôi có viết một bản văn nhan đề là : “Năm Điểm Thoả Thuận Căn Bản” được coi như cái “guideline” cho việc soạn thảo bản Hiến pháp sau này. Bản văn được bắt đầu như sau :

Điểm 1 – Quốc gia Việt nam không công nhận một tôn giáo nào làm quốc giáo.

Quốc gia cũng không áp đặt một chủ thuyết nào làm giáo điều chính thức cuả Dân tộc.

Nhằm tôn trọng và bảo vệ Tự do Tín ngưỡng, Nhà nước không can thiệp vào chuyện nội bộ cuả các tổ chức tôn giáo.

(Toàn văn Bản “Năm Điểm” này sẽ được ghi trong Phần Phụ Lục đính kèm bài viết này).

Vì bản văn này, mà tôi bị công an bắt giam giữ vào tháng Tư 1990 và trong phiên xử vào ngày 14 Tháng Năm 1992, Toà án tại Saigon đã xử phạt tôi 12 năm tù giam về tội “Tuyên truyền chống chủ nghiã xã hội”. Và sau đó, họ đưa tôi đi “thi hành án” tại trại giam Z30D ở Rừng Lá thuộc huyện Hàm Tân Phan Thiết.

Năm 1996, nhờ sự vận động can thiệp cuả nhiều tổ chức nhân quyền quốc tế như Amnesty International, Human Rights Watch, cũng như cuả nhiều Dân biểu, Nghị sĩ và các nhân vật văn hoá xã hội, và nhất là cuả chánh quyền Mỹ, mà tôi đã được trả tự do bằng cách công an chở tôi từ nhà tù Hàm Tân ra thẳng phi trường Tân Sơn Nhất, để cùng với gia đình qua định cư bên nước Mỹ. Đại khái vắn tắt cuả vụ án cuả tôi là như vậy.

Trong 10 năm nay, tôi để thời giờ nghiên cứu tìm hiểu về sự “Chuyển hoá Dân chủ” (Democratic Transition) tại các nước cựu cộng sản ở Đông Âu và cả ở nước Nga. Và tôi đã tìm ra được nhiều điều lý thú, khả dĩ có thể rút kinh nghiệm cho việc xây dựng tương lai đất nước và dân tộc Việt nam chúng ta. Để cho ngắn gọn, tôi chỉ xin trích dẫn một số điều khoản căn bản trong bản Hiến pháp, mới được ban hành trong thập niên 1990 và sau này, cuả một số nước cựu công sản, mà có liên hệ trực tiếp đến quan điểm cuả tôi như đã ghi nơi điều 1 Bản văn “Năm Điểm” đã trưng dẫn ở trên.

A/ Không có Quốc giáo (No State Church).

1-      Điều 40 khoản 2 Hiến Pháp nước Estonia : “Không có quốc giáo” (There is no State Church).

2-      Điều 14 khoản 1 Hiến Pháp nước Nga : “Không một Tôn giáo nào được thiết lập như một quốc giáo, hay như một tôn giáo bắt buộc (No Religion shall be established as a State or Obligatory One).

B/ Không có Ý thức hệ Nhà nước (No State Ideology)

1-      Điều 13 khoản 2 Hiến Pháp nước Nga : “ Không có một Ý thức hệ nào được thiết lập như là Ý thức hệ Nhà nước, hoặc như môt ý thức hệ bắt buộc (No Ideology may be established as a State or Obligatory One).

2-      Điều 5 khoản 2 Hiến Pháp nước Moldova : “Không có Ý thức hệ nào được công bố là Ý thức hệ chính thức cuả Nhà nước (No Ideology may be pronounced as an official ideology of the State).

3-      Điều 12 khoản b Hiến Pháp nước Uzbekistan : “ Không một Ý thức hệ nào mà được ban cấp quy chế cuả Ý thức hệ Nhà nước” (No Ideology shall be granted the status of State Ideology).

4-       Điều 11 khoản 2 Hiến Pháp nước Bulgaria : “Không có Ý thức hệ nào mà được công bố hay xác nhận là Ý thức hệ của Nhà nước”-  (No Ideology shall be proclaimed or affirmed as an Ideology of the State).

Mấy trích dẫn ghi trên thiết nghĩ cũng đã đủ để đánh giá được sự đồng lòng dứt khoát của người dân tại những quốc gia cựu cộng sản ở Âu châu trong việc loại bỏ căn bệnh giáo điều do đảng cộng sản trước đây đã áp đặt tại khu vực này.

Người viết xin để bạn đọc tuỳ nghi phân tích và lượng định về sự thay đổi này trong các quốc gia cựu cộng sản ở Đông Âu và nhất là ở nước Nga. Và rồi đối chiếu với tình trạng ở Việt nam hiện nay./

Baltimore Maryland, Tháng Năm 2010

Đoàn Thanh Liêm

Phụ   Lục

Năm Điểm Thoả Thuận Căn Bản

Điểm 1 – Quốc gia Việt nam không công nhận một Tôn giáo nào làm Quốc giáo.

Quốc gia cũng không áp đặt một chủ thuyết nào làm giáo điều chính thức cuả dân tộc.

Nhằm tôn trọng và bảo vệ Tự do Tín ngưỡng, Nhà nước không can thiệp vào chuyện nội bộ cuả các tổ chức tôn giáo.

Điểm 2 – Dân tộc Việt nam gồm nhiều sắc tộc có truyền thống văn hoá lịch sử khác nhau. Như vậy nền tảng cuả xã hội Việt nam phải được đặt trên cơ sở đa chủng tộc, đa văn hoá.

Điểm 3 – Phát huy truyền thống nhân bản và nhân ái cuả dân tộc, hệ thống chính trị và luật pháp Việt nam phải được xây dựng theo những nguyên tắc đã được ghi rõ trong Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền.

Điểm 4 – Về phương diện kinh tế, vai trò cuả nhà nước là làm trọng tài để bảo đảm công bằng xã hội và trật tự xã hội. Như vậy, nhà nước không thể vừa đứng làm trọng tài, mà lại vưà là một bên đương sự trong các hoạt động kinh doanh làm ăn được (vưà thổi còi, lại vưà đá bóng).

Hệ luận cuả nguyên tắc này là : Hệ thống quốc doanh hiện nay sẽ được giảm bớt tới mức tối thiểu.

Điểm 5 – Thể hiện tinh thần hoà giải hoà hợp dân tộc, quốc gia sẽ ban hành lệnh khoan hồng đại xá đối với mọi vi phạm do cá nhân hay do tập thể gây ra.Nghiêm cấm mọi sự tuỳ tiện báo ân, báo oán.

Mọi khiếu nại đòi bồi thường thiệt hại sẽ được xử lý theo đúng thủ tục luật pháp./

Làm tại Saigon Tháng Hai 1990.

Đoàn Thanh Liêm

Ý hướng Xây Đời Mới

Ý  hướng  Xây  Đời  Mới

Trong Chương Trình Phát Triển Quận 6, 7, 8 Saigon (1965 – 1971)

Hồi tưởng của Đoàn Thanh Liêm

*     *     *

Vào khỏang tháng 6 năm 1965, một số thanh niên chúng tôi đang ở lứa tuổi 25 – 30 cùng hội họp bàn thảo với nhau liên tục trong nhiều ngày và cuối cùng chúng tôi đã đúc kết cuộc thảo luận thành một tài liệu lấy tên là Dự Án về một chương trình họat động xã hội, tài liệu này dài chừng 30 trang có nhan đề là :

“Phong Trào Xây Đời Mới

Chương Trình Phát triển Quận 8 Saigon”

Bản Dự Án này liền được đệ trình lên văn phòng của vị Chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung ương (tức là Thủ tướng Chính phủ) lúc đó do Tướng Nguyễn Cao Kỳ đảm trách.

Sau khi xem xét ít lâu, Tướng Kỳ đồng ý chấp thuận trên nguyên tắc mấy đề nghị của chúng tôi và chỉ thị cho Bô Thanh niên và Tòa Đô chính Saigon cùng đứng ra bảo trợ cho công việc thực hiện Chương Trình Phát Triển này.

Thế là vào khỏang trung tuần tháng 8 năm 1965 đó, anh em thiện nguyện chúng tôi bắt đầu cùng “xuất quân” xuống quận 8 là một địa phương tương đối nghèo túng và kém mở mang nhất tại Saigon thời ấy.

Sau một năm họat động, chương trình này đã mở rộng phạm vị họat động sang hai quận lân cận là quận 6 và quận 7. Và trong suốt 6 năm hăng say họat động (1965 – 1971), chương trình đã thực hiện được một số công trình xây dựng cụ thể đem lại sự thay đổi cải tiến rõ rệt trong nếp sống vật chất và tinh thần của người dân trong cả ba quận ở về phía Tây Nam thành phố Saigon.

Trong mấy năm gần đây, tôi đã có dịp tường thuật chi tiết về chương trình xây dựng này trong nhiều bài viết, nên trong bài này tôi khỏi cần nhắc lại những điều đã ghi ra trước đây nữa. Mà tôi chỉ xin nhắc lại cho rõ hơn về cái ý hướng tích cực góp phần vào công cuộc xây dựng Đời Sống Mới của lớp thanh niên thiện nguyện chúng tôi vào cái thời kỳ đất nước mình còn đang sôi động với cuộc chiến tranh tàn khốc cách nay đã gần 50 năm. Xin thật ngắn gọn trong vài mục như sau :

I – Không phải “Phong trào Xây Đời Mới” – mà là “Kế Hoạch Xây Đời Mới”

Mặc dầu như đã ghi ở trên, bản Dự Án đệ trình lên văn phòng Thủ tướng có viết rõ là “Phong trào Xây Đời Mới” như là một tổ chức thực hiện “Chương trình Phát triển Quận 8” – thì đến khi tra tay vào giai đọan hành động cụ thể tại địa phương, anh em chúng tôi lại không bao giờ nhắc đến danh xưng “Phong trào Xây Đời Mới” nữa.

Lý do là vì các anh em trong ban điều hành cho rằng danh xưng “Phong trào Xây Đời Mới” này dễ gây hiểu lầm nơi nhiều người coi như đây là một thứ tổ chức chính trị – chứ không phải là một chương trình thuần túy họat động xã hội nữa. Vì thế mà mọi họat động của nhóm anh em thiện nguyện chúng tôi – ngay kể từ lúc khởi đầu vào tháng 8 năm 1965 – thì đều được đặt trong khuôn khổ của một chương trình phát triển cộng đồng tại địa phương quận 8 mà thôi. Và chỉ sau một thời gian ngắn, qua những việc làm cụ thể có ích lợi rõ rệt cho đồng bào địa phương, thì chương trình đã bắt đầu tạo ra được sự tin tưởng của số đông người dân – để rồi từ đó mà tiến lên thêm bước nữa với những công tác có quy mô lớn lao rộng rãi hơn mãi.

Vì thế mà qua năm 1966, khi được phép mở rộng phạm vi họat động sang các quận 6 và 7, thì cơ cấu tổ chức cũng phải được nới rộng ra. Cụ thể là, ngòai Chương trình Phát triển Quận 8 rồi, thì lại có thêm hai đơn vị nữa, đó là : Chương trình Phát triển Quận 6 và Chương trình Phát triển Quận 7. Và ở trên cả ba Chương trình này là một cơ quan để phối hợp điều khiển – được anh em cho khai sinh dưới cái tên chính thức là: “Kế Hoạch Xây Đời Mới”.

Qua danh hiệu Kế hoạch Xây Đời Mới này, ta có thể thấy ngay được cái ý hướng Xây Đời Mới vẫn được duy trì như từ lúc ban đầu. Tức là mọi họat động nhằm cải thiện về gia cư, chỉnh trang các ngõ hẻm, đặt hệ thống thóat nước cho đến việc mở mang thêm trường học, tổ chức các lớp dậy nghề, chăm sóc về y tế vệ sinh công cộng v.v…- thì tất cả những công tác đó đều nhằm mục tiêu duy nhất là : Góp phần xây dựng cuộc sống mới tại địa phương sao cho mỗi ngày một thêm tốt đẹp, thoải mái tươi vui hơn mà thôi.

II – Vai trò làm “chất men, chất xúc tác” nhằm khơi động quần chúng tham gia vào công cuộc xây dựng ở địa phương.

Vì chủ trương theo đuổi công cuộc phát triển lâu bền tại hạ tầng cơ sở ở địa phương (at the grassroots), nên anh em chúng tôi phải kiên trì bám sát địa bàn họat động qua những cuộc tiếp súc tham khảo thường ngày với các vị thân hào nhân sĩ là những nhân vật có uy tín đối với đồng bào trong khu vực. Các vị này thường là giới giáo chức, giới tu sĩ của các tôn giáo, giới công tư chức đã về hưu và cả giới tiểu thương tiểu chủ của các cơ sở kinh doanh nhỏ v.v… Qua những cuộc tham khảo bàn luận với quý vị tôn trưởng như vậy, chúng tôi lần hồi mới đề ra được những công tác có ích lợi cụ thể thiết thực  để mời gọi bà con trong cộng đồng cùng ra tay chung sức với nhau – người góp công, kẻ góp của – mà thực hiện cho có kết quả tốt đẹp, đem lại sự cải tiến cho môi trường sinh họat của địa phương sở tại.

Làm việc sát cánh với bà con trong các xóm hẻm trong thời gian lâu dài, chúng tôi nhận ra được là nơi đâu, lúc nào thì cũng đều có những người có tấm lòng tốt luôn quan tâm đến việc giúp đỡ những người kém may mắn hơn mình – cũng như lưu tâm đến sự an vui của tập thể dân chúng ở địa phương nơi gia đình mình cùng sinh sống. Những người có thiện chí như thế chính là những nhân tố thiết yếu cho sự thay đổi của xã hội (essential agent for social change). Họ khôn ngoan tìm cách khuyến dụ lôi kéo thêm những bà con khác cùng tham gia vào công việc đem lại ích lợi chung cho cả tập thể cộng đồng. Và chỉ khi nào mà số đông bà con ở địa phương cảm nhận được cái nhu cầu cần phải cải thiện xã hội như thế nào đó (felt need), thì chính khối quần chúng nhân dân đông đảo đó họ mới hăng hái đem hết công sức ra mà thực hiện những công việc có ích lợi chung cho tòan thể cộng đồng.

Như vậy, vai trò chính yếu của mỗi thanh niên thiện nguyện chúng tôi là làm chất men, chất xúc tác (catalyst) được vùi trong môi trường quần chúng nhân dân – nhằm khơi động mọi người ý thức được cái nhu cầu cải tiến xã hội – và rồi tiếp theo là họ sẽ nhập cuộc tham gia vào công việc xây dựng cộng đồng cho thêm phần tốt đẹp hơn. Một anh bạn khi đến thăm và thấy công chuyện chúng tôi làm ở quận 8, thì anh đã phát biểu như thế này: “Các bạn đích thực là những người đang khơi động công trình phát triển cộng đồng ở địa phương này đấy” (nguyên văn tiếng Pháp :  Animateurs de développement communautaire).

Nói khác đi, điều chúng tôi thực hiện lúc đó, thì chính là khai mở ra cái quá trình gây lên men, gây ý thức và vận động quần chúng dấn thân tham gia vào công cuộc phát triển tòan diện ngay tại địa phương sở tại (mass fermentation, mass conscientisation, mass mobilization).

Linh mục Bernard Pineau có lần nói với tôi như sau : “ Luật sư Trần Văn Tuyên trong dịp gặp gỡ gần đây, có trao đổi với tôi về chuyện công tác xã hội các em đang làm ở Quận 8 – thì cả hai chúng tôi đều coi đó là một việc làm thật sự có ích. Rõ ràng đây là một thứ “micro-réalisation” (nguyên văn) rất thích hợp trong hòan cảnh chiến tranh hiện nay…”

III – Một số công trình xây dựng điển hình với giá trị lâu bền.

Trong những năm tháng họat động hăng say nhiệt thành sát cánh với bà con tại địa phương các quận 6,7 và 8 Saigon thời ấy, chương trình đã thực hiện được hàng mấy trăm những công trình xây dựng lớn nhỏ trong các lãnh vực chỉnh trang tái thiết gia cư, cải thiện hạ tầng cơ sở nơi các khu ổ chuột (slum areas), mở mang thêm trường học, tổ chức các lớp dậy nghề v.v… Anh chị em thiện nguyện viên phải chia nhau đến tham dự các phiên họp của ủy ban công tác nơi các xóm hẻm – hầu hết là hội họp vào ban đêm hay các ngày nghỉ thứ bảy, chủ nhật – vì chỉ lúc đó bà con mới có thời gian rảnh rỗi để tham gia sinh họat cộng đồng, sau khi đã làm xong công việc buôn bán hay ở sở làm.

Xin đơn cử một số công trình xây dựng điển hình mà hiện vẫn còn có giá trị thiết thực ở địa phương như sau.

1 – Trường Trung học Lương Văn Can khởi sự từ năm 1966 tại Quận 8.

Trường này được thành lập do sự vận động của số đông thân hào nhân sĩ trong quận 8 và được Bộ Giáo dục chấp thuận cho họat động với điều kiện địa phương phải lo xây dựng sao cho đày đủ cơ sở vật chất và trang bị bàn ghế cho các lớp học – trong khi Bộ cử giáo sư về lo việc giảng dậy. Như thế, đây là một thứ trường công lập để học sinh khỏi phải đóng học phí – nhờ vậy mà con em các gia đình nghèo túng ở địa phương mới có cơ hội học tiếp lên bậc trung học.

Vì thế mà ban đầu, trường có tên là “Trung học Cộng đồng Quận 8” – đây là lọai trường trung học đầu tiên ở miền Nam mà do người dân địa phương đứng ra xây dựng và thành lập, rồi được Bộ Giáo dục chấp thuận và cử thày giáo đến chăm lo phụ trách việc dậy dỗ. Sau này, trường đổi tên là “Trung học Lương Văn Can” và hiện vẫn còn họat động cho đến ngày nay. Và sau 47 năm họat động, thì tính ra đã có đến hàng vạn học sinh đã hòan tất chương trình học tập tại cơ sở này, và nhiều cựu học sinh Lương Văn Can nay đã trở thành ông nội, bà ngọai với tuổi đời trên dưới 60 nữa rồi.

2 – Cây cầu “Phát Triển” ngang qua rạch Ụ Cây, sau chợ Xóm Củi.

Rạch Ụ Cây là một con rạch nhỏ bề ngang chừng 40 mét, ngăn cách khu vực Xóm Đầm thuộc phường Hưng Phú với phường Xóm Củi là nơi thị tứ sầm uất nhất ở quận 8. Hằng ngày, có đến hàng ngàn người dân ở Xóm Đầm phải băng qua con rạch này để đến mua bán ở chợ Xóm Củi và học sinh thì qua học tại trường Tiểu học Xóm Củi. Mà họ phải trả tiền cho người chủ con đò nổi trên con rạch – chủ đò mỗi năm phải đấu thầu nơi Sở Tài chính của đô thành Saigon để được độc quyền khai thác dịch vụ chuyên chở ngang qua con rạch. Có gia đình vì nhu cầu mua bán ở chợ và con cái đi học, thì phải trả rất nhiều tiền cho việc đi qua con đò nổi này. Vì thế mà bà con bày tỏ sự mong ước có được một cây cầu bác ngang qua con rạch để vừa đi lại cho an tòan, thuận tiện, mà cũng vừa đỡ tốn tiền nữa.

Về phương diện kỹ thuật, việc xây cất một cây cầu nho nhỏ với bề rộng cỡ 2 mét và chiều dài chừng 50 – 60 mét, thì tương đối không phải là chuyện quá khó khăn. Nhưng cái khó là làm sao vận động để chánh quyền tại Tòa Đô chánh chấp thuận cho xây dựng cây cầu đó – và như vậy thì phải bãi bỏ chuyện đấu thầu – khiến cho ngân sách hàng năm của nhà nước mất đi một khỏan thu nhập đáng kể. Đó là chưa kể sự chống đối rất mạnh mẽ quyết liệt của người chủ con đò – vì họ không muốn mất đi một số lợi khá lớn cho cả gia đình, nói gì đến quyền lợi của giới có chức có quyền mà vẫn được người chủ con đò mua chuộc lấy lòng bằng đủ thứ lọai quà cáp này nọ.

Nhưng vì cần phải bảo vệ quyền lợi chính đáng của số đông bà con lao động như vậy, nên chương trình chúng tôi đã phát động một chiến dịch vận động rất mạnh mẽ rộng lớn để giới chức chính quyền thể theo nguyện vọng của đồng bào mà chấp thuận việc xây dựng cây cầu này. Và kết cục chính quyền đã đồng ý và dự án xây dựng cây cầu được thực hiện trong một thời gian thật ngắn. Và đó là căn nguyên của công trình được mang tên là Cầu Phát Triển như nhiều bà con tại khu Xóm Đầm ngày nay vẫn còn nhớ đến vậy.

3 – Khu tái thiết 1,200 căn nhà tại phường Cầu Tre Bình Thới, quận 6.

Trong vụ tấn công xâm nhập vào thành phố của quân đội cộng sản hồi Tết Mậu Thân năm 1968, thì có đến mấy chục ngàn căn nhà tại 3 quận 6,7, 8 bị phá hủy. Vì thế mà chương trình phát triển chúng tôi phải ưu tiên dồn mọi cố gắng vào công cuộc tái thiết thật quy mô mà được dàn trải ra đến trên 20 khu chỉnh trang tái thiết – do các gia đình nạn nhân cùng hợp nhau thành lập thành các Ban Tái thiết cho từng khu vực để điều hành công việc xây dựng thật khó khăn mệt nhọc này.

Khu tái thiết lớn nhất nằm trong địa hạt phường Cầu Tre thuộc quận 6, giáp ranh với quận Tân Bình Gia Định, phía sau ngôi chùa cổ Giác Viên, thì có đến trên 1,200 đơn vị gia cư. Cái khó trong việc này là khu vực đó không bị tàn phá bình địa, mà vẫn còn lại nhiều căn nhà còn nguyên vẹn hay chị bị hư hại nhẹ – thế nhưng vì cần phải mở rộng đường xá cho ngay ngắn tại khu tái thiết rộng lớn này, thì cần phải hy sinh đập bỏ hết số căn nhà đó đi, để mà xây dựng lại thành những lô nhà theo họa đồ chỉnh trang hòan tòan mới. Việc này, nếu chính các chủ nhân không tự nguyện cho đập bỏ, thì chương trình chúng tôi cũng không có phương cách nào mà bó buộc cưỡng ép họ được. Do đó mà chúng tôi chỉ có thể gợi ý cho Ban Tái thiết trong khu ráng tìm cách thuyết phục các vị chủ nhân đó thỏa thuận cho phá bỏ căn nhà của mình đi – với điều kiện họ được quyền ưu tiên chọn căn nhà ở lô mặt tiền hay căn bìa.

Và kết cục, sau chừng vài năm khu tái thiết Cầu Tre Bình Thới này đã được hòan tất tốt đẹp như ta còn có thể thấy ngày nay vậy.

*     *     *

Bài viết đã dài rồi, tôi chỉ xin ghi tóm tắt thêm một vài chi tiết thật ngắn gọn như sau :

*  Trong lòng khối quần chúng nhân dân, thì bất kỳ ở đâu, lúc nào cũng đều có sẵn một tiềm năng thật quý báu dồi dào phong phú – để có thể sử dụng vào công cuộc xây dựng và cải tiến xã hội về mọi mặt tại mỗi địa phương. Như vậy, vấn đề là người cán bộ xây dựng xã hội phải tìm ra đúng cái phương pháp để khơi động khai thác được cái kho tàng năng lựợng vô biên đó. Có làm được như vậy, thì mới mong phát huy được cái sức mạnh tổng hợp của quần chúng hầu thực hiện được những công trình có quy mô rộng lớn.

*  Chương trình phát triển ở các quận 6,7,8 Saigon mới chỉ là một thí điểm trong thời gian ngắn ngủi có 6 năm đó (1965 – 1971) – mà lại giữa cái thời chiến tranh ác liệt – thì cũng chỉ mới gặt hái được một số thành quả tương đối còn khiêm tốn hạn chế mà thôi.

* Tuy nhiên, chương trình này cũng đã có thể coi như là một chứng minh cho cái phương thức vận động quần chúng phấn khởi hăng hái tham gia nhập cuộc vào những dự án phát triển cụ thể thiết thực ở mỗi địa phương. Điểm đáng ghi nhớ tại đây là ở chỗ chương trình đã tìm cách đáp ứng đúng với nguyện vọng sâu xa cuả quần chúng là được sống an vui trong một xã hội trong đó phẩm giá của mỗi con người đều được tôn trọng đúng mức.

*  Cụ thể là cái ý hướng “Xây dựng Đời Sống Mới” đã được thể hiện thông qua nhiều công trình xây dựng cải tiến thiết thực – ngay tại nơi những xóm hẻm khuất nẻo nghèo túng, trong các khu nhà ổ chuột của tầng lớp người dân lao động cần cù lương hảo.

Và đây cũng là một minh họa cho vai trò của các đơn vị thuộc khu vực Xã hội Dân sự trong công cuộc xây dựng một cuộc sống tươi vui tốt đẹp cho chính khối quần chúng nơi những khu vực kém may mắn trong xã hội chúng ta vậy (the most underpriviledged areas)./

Costa Mesa California, trung tuần tháng Bảy năm 2013

Đoàn Thanh Liêm

Phụ   Lục

Vào giữa năm 1990, lúc tôi bị giam giữ tại trại B34 trong khu Tổng Nha Cảnh Sát cũ ở Saigon, thì nhân kỷ niệm năm thứ 25 ngày khởi sự của Chương trình Phát triển Quận 8 (1965 – 1990), tôi có làm mấy câu thơ để tặng các bạn cùng làm việc chung với nhau tại Chương trình này trong khuôn khổ của Kế Hoạch Xây Đời Mới (1965 – 1971).

Bài thơ gồm có 4 câu như sau đây. Xin được ghi lại để đính kèm bài viết có nhan đề “Ý hướng Xây Đời Mới trong Chương trình Phát triển Quận 6,7,8 Saigon (1965 – 1971)

Tặng các bạn Xây Đời Mới

Quận Tám năm xưa cùng Phát Triển

Ngày đêm lặn lội – vai sánh vai

Đời Mới ước mơ thời trai trẻ

Vẫn còn tươi nét – chẳng phôi phai.

Trại B34 Saigon

Tháng 8 năm 1990

Đoàn Thanh liêm

Mâu thuẫn phe nhóm trước Đại hội Đảng 12 lại bùng phát?

Mâu thuẫn phe nhóm trước Đại hội Đảng 12 lại bùng phát?

Anh Vũ, thông tín viên RFA
2015-05-11

05112015-conflict-betwn-factions.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Binh lính canh gác trước quốc hội (minh họa)

Binh lính canh gác trước quốc hội (minh họa)

AFP

Hội nghị TW11 vừa kết thúc, nhưng phát biểu bế mạc hội nghị của  Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định về điều kiện của Ủy viên Ban Chấp hành TW, đã khiến dư luận cho rằng đó là chỉ dấu chứng tỏ một lần nữa mâu thuẫn phe cánh trong nội bộ lãnh đạo Đảng CSVN lại bùng phát trở lại.

Các chuyên gia phân tích chính trị nói gì về việc này?

Thông điệp phía sau bài diễn văn bế mạc

Sau 4 ngày làm việc, Hội nghị Ban Chấp hành trung ương Đảng CSVN lần thứ 11 – Khóa XI, với nội dung chủ yếu là bàn về công tác nhân sự, để chuẩn bị cho Đại hội Đảng CSVN lần thứ XII đã kết thúc.

Đáng chú ý, phát biểu bế mạc Hội nghị TW 11, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định “Kiên quyết không để lọt vào BCH TƯ những người có biểu hiện không kiên định đường lối, quan điểm của Đảng, có biểu hiện cơ hội chính trị, nói và làm trái Cương lĩnh, đường lối, nguyên tắc của Đảng, cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, phe cánh, lợi ích nhóm và mị dân”.

Điều này đã khiến cho dư luận cho rằng, ông Tổng BT muốn chuyển đi một thông điệp tới một nhân vật lãnh đạo cao cấp nào đó trong Đảng.

Theo VNN online, Tổng BT Nguyễn Phú Trọng cũng thừa nhận đây là việc “vô cùng khó khăn”. Từ xưa đến nay, bất kỳ đại hội nào công tác chuẩn bị nhân sự cũng có ý kiến này ý kiến khác. Thậm chí toàn dân bàn nhân sự, trong chưa bàn nhưng dư luận đã có rất nhiều phương án, không chỉ chúng ta quan tâm mà các nước bạn cũng quan tâm.

Nói về tình hình nội bộ Đảng CSVN trong thời gian vừa qua và khả năng có thể sau Đại hội Đảng lần thứ 12, từ Canada LS. Vũ Đức Khanh một chuyên gia về chính trị quốc tế cho biết đánh giá của ông. Ông nói:

“Cái đặc biệt trong vấn đề nội bộ của Đảng CSVN là từ sau Đại hội XI cho thấy rằng Đảng đã không kiểm soát được tình hình, mà Chính phủ đang kiểm soát tình hình. Cho nên tôi thấy từ các nỗ lực của Đảng đã dẫn tới tình trạng Đảng đã hoàn toàn thua bên phía Chính phủ. Cho nên vì những đấu đá đó đã dẫn tới việc sau các Hội nghị TW 10 và 11 chúng ta đã thấy ông Nguyễn Tấn Dũng đã ngày càng mạnh mẽ hơn. Vì vậy tôi nghĩ rằng cái vai trò của ông Dũng sau Đại hội 12 này sẽ là vai trò quyết định, có thể ông Dũng sẽ thay ông Trọng để đảm trách chức vụ Tổng BT. ”

Vì những đấu đá đó đã dẫn tới việc sau các Hội nghị TW 10 và 11 chúng ta đã thấy ông Nguyễn Tấn Dũng đã ngày càng mạnh mẽ hơn. Vì vậy tôi nghĩ rằng cái vai trò của ông Dũng sau Đại hội 12 này sẽ là vai trò quyết định, có thể ông Dũng sẽ thay ông Trọng

LS. Vũ Đức Khanh

Việc mâu thuẫn nội bộ trong các đảng hay các tổ chức chính trị là điều hoàn toàn bình thường, không phải chỉ có trong nội bộ Đảng CSVN. TS. Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện phản biện IDS nhận định:

Từ trái sang: TBT Nguyễn Phú Trọng, Cựu TBT Nông Đức Mạnh và TT Nguyễn Tấn Dũng tại cuộc diễn binh mừng ngày 30 tháng 4 ở TPHCM.

Từ trái (hàng đầu) TT Nguyễn Tấn Dũng, Tổng BT Nguyễn Phú Trọng, và chủ tịch Trương Tần San

“Tôi thì không nghĩ rằng việc phân thành phe bảo thủ hay phe cải cách, rồi phe thân TQ hoặc phe cải cách là một cái khuôn khổ hợp lý để phân tích tình hình chính trị VN. Bởi đôi khi nó không phản ảnh đúng thực chất. Tuy nhiên cái việc có các phe phái thì tôi đã nói là nó luôn luôn có, kể cả việc nó gầm ghè với nhau hay thỏa hiệp thì nó là việc thường xảy ra trong Đảng CSVN hay trong các tổ chức chính trị. Ở nơi nào nó cũng thế.”

Trả lời câu hỏi, ông có đánh giá gì về phát biểu bế mạc Hội nghị TW11 của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng?

Từ Đà lạt, TS. Hà Sĩ Phu một nhân vật bất đồng chính kiến nhận định:

“Qua cái lời ông (Nguyễn Phú) Trọng về tiêu chuẩn rất nhiều cái người ta có cảm giác động chạm, có vẻ như nhằm chặn đường vào trung ương của ông  Nguyễn Tấn Dũng. Như về tuổi, về quan hệ và những việc ai cũng biết  nếu mà lôi ra thì sẽ động chạm đến Nguyễn Tấn Dũng.”

Trận chiến giữa phe nhóm

Đó là chỉ dấu cho thấy, trận chiến quyền lực giữa các phe nhóm trong nội bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng CSVN một lần nữa đã bùng phát trở lại. LS. Vũ Đức Khanh khẳng định:

“Chúng ta thấy trong bài diễn văn kết thúc Hội nghị TW11 ngày 7/5 vừa qua của ông Nguyễn Phú Trọng có nói về tiêu chuẩn của Ủy viên TW. Nếu đi vào phần nói về vấn đề đạo đức và điều hành thì thấy rõ diễn văn đó đang nhắm vào một người, đó là ông Nguyễn Tấn Dũng. Tôi nghĩ rằng đó là vấn đề dễ hiểu, bởi vì Đảng đã không kiểm soát được tình hình, mà thực sự Chính phủ đang kiểm soát tình hình. Cho dù những tiêu chuẩn đó có nhắm vào ông Dũng cũng sẽ không giải quyết được điều gì, vì đó là xu thế của thời đại.”

Trong bài viết “TBT Trọng đặt ‘tiêu chuẩn’ nhân sự, chặn đà thâu tóm của thủ tướng Dũng” trên trang Dân làm báo, tác giả Hoàng Trần đã nhận định rằng: “Người ta dễ dàng nhận ra sự ám chỉ này dành cho thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Thậm chí, TBT Nguyễn Phú Trọng còn công khai chỉ rõ hơn những điều được gọi là “khuyết điểm” của ông Nguyễn Tấn Dũng thông qua tuyên bố này. Do vậy, diễn biến hội nghị cho thấy kế hoạch củng cố quyền lực của ông Nguyễn Tấn Dũng có nguy cơ bị phá hoại bởi cuộc chiến phe phái do TBT Nguyễn Phú Trọng cầm đầu.”

Nhớ lại lời phát biểu của ông Nguyễn Tấn Dũng ngày 30/4, cái mà người ta gọi là diễn văn chửi Mỹ, nhưng vái Tàu thì nó khác hẳn những lời nói đẹp đẽ của ông Dũng nói trước đây. Người ta bảo kiểu này có lẽ là có những áp lực, nếu ông ấy không nói theo quan điểm chính thống thì có khi ông ấy nguy

TS. Hà Sĩ Phu

Khi được hỏi, ông có nhận định gì diễn biến chính trị trong nội bộ Đảng CSVN từ nay đến trước đại hội Đảng lần thứ 12, vào đầu năm 2016?

Thời gian gần đây đã có một số chỉ dấu cho thấy ông Nguyễn Tấn Dũng đã chịu một sức ép đáng kể. TS. Hà Sĩ Phu ghi nhận:

“Người ta nhớ lại lời phát biểu của ông Nguyễn Tấn Dũng ngày 30/4, cái mà người ta gọi là diễn văn chửi Mỹ, nhưng vái Tàu thì nó khác hẳn những lời nói đẹp đẽ của ông Dũng nói trước đây. Người ta bảo kiểu này  có lẽ là có những áp lực, nếu ông ấy không nói theo quan điểm chính thống thì có khi ông ấy nguy. Vậy như thế chắc là lần này ông Nguyễn Tấn Dũng không đạt được mong muốn để trở thành Tổng Bí thư.”

TS. Nguyễn Quang A cho chúng tôi biết đánh giá của ông, ông nói:

“Tất nhiên những người suy đoán như vậy thì người ta có lý của người ta, Nhưng mà tôi nghĩ những cái tiêu chuẩn mà ông Nguyễn Phú Trọng nêu ra thì là những cái tiêu chuẩn chung chung mà trước kia người ta cũng nêu như vậy, nó cũng không phải là một cái gì đặc sắc cho lắm. Cũng có thể có người nghĩ cái đó nhằm ám chỉ đến người này người kia thì cái đó cũng rất có thể, nhưng chưa chắc đã phải như vậy. Song tất nhiên trong cái việc này từ trước đến nay nó luôn luôn có các cuộc đấu tranh trong nội bộ, thì những lời ám chỉ ấy cũng rất có thể là như vậy.”

Tất cả những vấn đề dư luận đang nói đến chỉ là sự đồn đoán, để đánh giá chính xác tình hình chính trị VN là điều hoàn toàn không đơn giản. LS. Vũ Đức Khanh khẳng định:

“Cái vấn đề chính theo tôi nghĩ, ở VN hiện tại chúng ta không thể nói được ai là người quyết định được vận mạng của đất nước. Vì có thể cái cơ quan quyết định cái đó chưa chắc là Bộ Chính trị, mà là một thế lực nào đó đang điều hành vấn đề đó còn nằm trong bóng tối.”.

Cần phải nhắc lại,  Tổng BT Nguyễn Phú Trọng trong lúc đọc bài diễn văn bế mạc Hội nghị TW4 – Khóa XI (tháng 10/2012), đã không cầm được nước mắt khi Ban Chấp hành TW không thông qua nghị quyết kỷ luật đồng chí X – Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng do Bộ Chính trị đề nghị. Đây được coi là sự thất bại trong nước cờ nhằm hạ bệ Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng của phe cánh Tổng BT Nguyễn Phú Trọng.

Chuyện một thuyền nhân Việt mất con

Chuyện một thuyền nhân Việt mất con

Trần Nhật Phong Gửi tới BBC từ Quận Cam, California

Ông Tăng Bảo Can nói ông vẫn hy vọng sẽ tìm được lại con gái mình

Vượt biên và tới được Hoa Kỳ vào năm 1985, suốt hàng chục năm nay ông Tăng Bảo Can, hiện đang sống ở nam California, vẫn đi tìm đứa con gái bị hải tặc Thái Lan bắt đi trong hành trình lênh đênh trên biển khơi.

Cô con gái 14 tuổi của ông bị đem đi mất ngày 26/10/1984, khi con tàu chở gia đình ông cùng nhiều người khác đã tới được hải phận quốc tế.

“Đó là chuyến đi rất đau thương. Nó khiến cho tôi khóc bao phen, mà đến giờ mỗi khi có ai hỏi tới là nó vô tình gợi lại vết thương như dao khứa mỗi ngày, mỗi đêm.”

“Tôi là đàn ông, phải cố chịu đựng nỗi ám ảnh [mất con] để tranh đấu mà sống, nhưng vợ tôi bị trầm cảm cho tới tận ngày hôm nay,” ông Can nói.

Trong hành trình kéo dài năm ngày, tàu của ông đã bị cướp ba lần, và tai họa mất con xảy ra khi hải tặc nhảy lên tàu vào lần thứ tư.

“Trên chuyến tàu có bốn cô gái, hai cô 17 tuổi, hai cô 14 tuổi, trong đó có con gái tôi.”

“Khi lên tàu, chúng xô hết thanh niên ra, trong đó có con gái tôi. Tôi cố gắng ôm giữ cháu, và những lời cuối cùng cháu nói với tôi là ‘Ba đừng bỏ con, ba ơi cứu con’, vợ tôi khi còn nằm trong khoang thuyền, không biết chuyện gì đang xảy ra ở ngoài.”

“Hải tặc bắt con gái tôi cởi bỏ quần áo, mà tôi nghĩ là để chúng tìm vàng, nhẫn giấu trong người. Con gái tôi đã chống cự lại.”

Cách đây khoảng ba năm, hội thiện nguyện East Asia Missing Children Foundation được thành lập nhằm tìm kiếm những đứa trẻ bị thất lạc trong hành trình vượt biên

“Có lẽ bởi vậy nên chúng đẩy con gái tôi sang chiếc tàu của chúng. Đó là những giây phút quá hãi hùng, khi mà tôi phải chứng kiến cảnh đứa con gái yêu thương bị cướp khỏi vòng tay và ngoái lại cầu cứu.”

“Không có một chút khí giới trong tay, nhưng sự sống hay chết đối với tôi khi đó không còn quan trọng. Tôi bất chấp nỗi sợ, cố giành con gái lại từ tay một tên cướp biển có lẽ khoảng 20 tuổi, rồi bị một tên cầm giáo đâm sau lưng khiến tôi bất tỉnh.”

“Con gái tôi rất can đảm, cháu không khóc mà ngoái nhìn tôi. Tôi nhớ giọt lệ lăn tròn trên mặt cháu. Hình ảnh đó ám ảnh tôi suốt ba chục năm nay.”

Ông Can cho biết ông cùng một số người khác từng qua Thái Lan để tìm kiếm, và đã có hai gia đình may mắn tìm được con cũng bị cướp biển Thái Lan bắt đi từ khi mới được vài tháng tuổi.

Cách đây ba năm, ông Can thành lập hội South East Asia Missing Children Foundation – Hội những đứa trẻ Đông Nam Á bị mất tích, với hy vọng chưa bao giờ nguôi ngoai là mình và những người cùng cảnh ngộ sẽ tìm thấy được những đứa con đã bị thất lạc.

“Phép lạ cũng sẽ đến cho con gái tôi, đến cho gần 100 gia đình có con thất lạc [tham gia Hội]. Tôi không được hỗ trợ nhiều, nhưng tôi sẽ cố gắng đi làm thật nhiều để có tiền cho hội từ thiện này của chúng tôi,” ông Can nói.

Bài diễn văn của ông Trọng nhiều hàm ý’

Bài diễn văn của ông Trọng nhiều hàm ý’

Nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đang đấu đá để tranh quyền lãnh đạo?

Một nhà quan sát từ trong nước cho rằng bài diễn văn bế mạc hội nghị trung ương lần thứ 11 hôm 7/5 của ông Trọng nêu ra một loạt các tiêu chuẩn để được vào Ban Chấp hành Trung ương khóa tới là ‘có nhiều hàm ý’.

Hội nghị trung ương 11 đã bàn bạc về các tiêu chí lựa chọn những người vào ban lãnh đạo tối cao của Đảng trong khóa tới.

Nhiều tiêu chí

Trong diễn văn bế mạc, ông Trọng đã nêu một loạt các ‘khuyết điểm’ mà theo ông Đảng ‘kiên quyết không để lọt vào Ban Chấp hành trung ương’, trong đó có: cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, xu nịnh, chạy chọt, vận động cá nhân, tư tưởng cục bộ, phe cánh, lợi ích nhóm, không dám đấu tranh bảo vệ lẽ phải, mị dân, chuyên quyền, độc đoán, trù dập người thẳng thắn đấu tranh, để xảy ra tình trạng mất đoàn kết nội bộ nghiêm trọng, tham nhũng, tiêu cực lớn ở địa phương, đơn vị, không chịu nghiên cứu học hỏi, bảo thủ, trì trệ, làm việc kém hiệu quả, kê khai tài sản không trung thực, có biểu hiện giàu nhanh, nhiều nhà, nhiều đất, nhiều tài sản khác mà không giải trình rõ được nguồn gốc, bản thân và vợ, chồng, con có lối sống thiếu gương mẫu, lợi dụng chức quyền để thu lợi bất chính…

Trao đổi với BBC, Tiến sỹ Phạm Chí Dũng, một nhà quan sát chính trị từ Tp HCM, nhận định rằng ông Trọng đề cập đến tiêu chí ‘không tham vọng quyền lực’ là ‘muốn đề cập đến người vì tham vọng quyền lực mà gom góp cho cá nhân mình’.

“Tham vọng quyền lực thật ra không xấu nếu nó có thể giúp giải quyết những vấn đề cho nhân dân,” ông Dũng giải thích, “Còn tham vọng quyền lực để củng cố địa vị độc tôn cho mình để gom góp lợi ích cho cá nhân, gia đình mình thì điều đó hoàn toàn xấu.”

“Ở Việt Nam bây giờ có quá nhiều nhóm lợi ích.”

” Sắp tới còn có chuyến đi của ông Trọng đến Hoa Kỳ và nếu như ông Trọng được Tổng thống Barack Obama tiếp và thậm chí tiếp đón trọng thị thì lúc đó uy tín của ông Trọng và uy tín của người được ông Trọng đề cử (cho vị trí tổng bí thư) sẽ được nâng lên đáng kể.

Tiến sỹ Phạm Chí Dũng “

“Đối với nhiều người dân đánh giá Đảng Cộng sản chỉ là nhóm lợi ích mà thôi chứ không phải cái gì mang tính chất ý thức hệ như hồi xưa,” ông nói thêm.

Hàm ý nữa mà ông Trọng muốn đề cập tới là ‘cuộc tranh giành đấu đá nội bộ trong Đảng’, theo ông Dũng.

“Những người phe này không chấp nhận những người phe kia tham vọng quyền lực trong khi những người phe này cũng có tham vọng quyền lực,” ông nói.

Không còn giằng co?

Theo nhận định của ông Dũng thì bài diễn văn này cho thấy cuộc đấu đá nội bộ trong Đảng ‘không còn ở thế tương quan giằng co lực lượng như giữa năm trước nữa’.

“Dường như sau diễn văn kỷ niệm ngày 30/4 của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, sau Hội nghị trung ương 11 thì vấn đề tương quan lực lượng khó mà giằng co được nữa mà bên Đảng đang chiếm ưu thế,” ông Dũng nói.

“Theo nhiều người quen của tôi làm trong Nhà nước thì hiếm khi nào họ chứng kiến bài diễn văn nêu ra những từ ngữ như cơ hội, xu nịnh, mị dân của Tổng bí thư Đảng Cộng sản rõ đến như vậy,” ông nói thêm, “Điều đó làm cho người ta có cảm giác ông Trọng nếu không phải ở thế thượng phong thì cũng là đang chiếm ưu thế trong nội bộ Đảng.”

“Sắp tới còn có chuyến đi của ông Trọng đến Hoa Kỳ và nếu như ông Trọng được Tổng thống Barack Obama tiếp và thậm chí tiếp đón trọng thị thì lúc đó uy tín của ông Trọng và uy tín của người được ông Trọng đề cử (cho vị trí tổng bí thư) sẽ được nâng lên đáng kể,” ông Dũng nói.

NGÀY XƯA ÁO TÍM

NGÀY XƯA ÁO TÍM

Về đâu áo tím ngày xưa
Xa xôi khuất nẻo nắng mưa đợi chờ
Áo bay hồn nhớ như mơ
Áo xa màu tím ngẩn ngơ nhớ về
Trăng treo rụng xuống hương thề
Mây bay lờ lửng quên đề vần thơ
Chia chi lối cũ đôi bờ
Dòng sông uốn khúc bơ vơ liễu buồn
Lục bình xuôi ngược lên nguồn
Con đò xa bến bỏ luôn mái chèo
Sáo ơi sáo chớ mè nheo
Quên lồng một thuở trăng treo vẫn chờ
Đường xưa khách lỡ cung hờ
Âm vang lạc phách thẫn thờ đắng cay…

Liverpool.11-5-2015
Song Như

YÊU NHƯ THẦY YÊU

YÊU NHƯ THẦY YÊU

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

( Ga 15, 9-17)

Chúa nhật thứ VI Phục Sinh, Phụng vụ Giáo hội mời gọi chúng ta nhớ lại lệnh Chúa Giêsu truyền trước khi về Trời. Quả thật : nếu chúng ta muốn về Trời với Chúa như lời hứa “Thầy đi dọn chỗ cho các con” (Ga 14, 2), người kitô hữu cần phải vâng theo lệnh Chúa truyền là “các con hãy yêu mến nhau” (Ga 15, 12).

Tôi tự hỏi, phải chăng con người dùng những tình cảm tự nhiên để yêu như bạn bè yêu nhau, cha mẹ yêu thương con cái, đồng lớp đồng niên mến thương nhau, hay hai người nam nữ yêu nhau là chưa đủ hay là khác với tình yêu Chúa Giêsu đã yêu chúng ta sao mà Đức Giêsu còn dạy chúng ta phải : Yêu như Thầy đã yêu ?

Vậy, “yêu như Thầy đã yêu” là yêu như thế nào, có gì mới mẻ chăng ? Xem ra chữ “như” có chất chứa hy sinh khi yêu, có nét mới mẻ và đáng sợ, vì chính chữ này làm nên nét đặc trưng của Kitô giáo. Thánh Augustinô viết : khi nói “yêu như Thầy đã yêu mến các con” là Chúa Giêsu nói đến tình yêu thí mạng : “Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người thí mạng sống vì bạn hữu mình” (Ga 14, 13). Quả thật, chết vì bạn hữu là hành vi lớn nhất của tình yêu. Chúa Giêsu nói với các môn đệ : “Các con là bạn hữu” (Ga 14, 14). Chúa đã yêu các môn đệ nói riêng và con người nói chung bằng tình yêu thí mạng. Nay Người đòi buộc các môn đệ, cụ thể là chúng ta phải yêu nhau như Chúa yêu. Tình yêu mà Chúa Giêsu yêu chúng ta phát xuất từ Chúa Cha : “Như Cha đã yêu Thầy, Thầy cũng yêu các con” (Ga 14, 9). Như vậy là có một nguồn suối tình yêu chảy tràn từ Chúa Cha đến Đức Giêsu, và tiếp tục chảy tràn xuống các môn đệ, dòng suối ấy không ngừng chảy trên chúng ta, nếu chúng ta giữ lại, tình yêu đó sẽ trở nên ao tù nhơ nhớp, nên chúng ta phải yêu thương nhau như Chúa đã yêu thương chúng ta. Vậy đâu là bằng chứng để chứng tỏ chúng ta yêu Chúa ? Chúa Giêsu cho chúng ta câu trả lời, “Nếu các con tuân lệnh Thầy truyền, các con sẽ ở trong tình yêu của Thầy, cũng như Thầy đã giữ lệnh truyền của Cha Thầy, nên Thầy ở lại trong tình yêu của Người” (Ga 15, 10). Yêu như Thầy yêu là thế đấy.

Thánh Augustinô nói tiếp : “Yêu như Thầy đã yêu các con“, khác với lòng mến tự nhiêu thuần túy. Thánh Gioan Tông Đồ viết : “Thiên Chúa là Tình Yêu… hễ ai thương yêu, thì đã sinh bởi Thiên Chúa… Còn ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa” (1 Ga 4, 7 – 8). Gioan quả quyết : “Thiên Chúa đã thương yêu chúng ta trước, và đã sai Con Một Người đến hy sinh, đền thay vì tội lỗi chúng ta” (1 Ga 4, 10).

Chúng ta thấy, cuộc sống cần tình yêu, nhân loại cần tình yêu, mỗi người sống trong cuộc đời này đều cần tình yêu và rất cần tình yêu. Có thể nói, tình yêu là lẽ sống, là niềm hạnh phúc, là sự bình an của tất cả mọi người không trừ ai. Nên có bao nhiêu tiểu thuyết là có bấy nhiêu chuyện tình. Có bao nhiều phim truyện, tiểu phẩm, bài hát là bấy nhiêu cách diễn tả tình yêu. Người ta khai thác tình yêu trên mọi lĩnh vực : thơ ca, hò vè, quảng cáo.v.v…

Sống ở trên đời có trăm bẩy loại tình yêu, tôi xin tạm liệt kê. Chúng ta tự hỏi, tại sao cha mẹ lại yêu con cái và con cái lại yêu cha mẹ? Thưa là vì ông bà ấy là người sinh ra chúng, chúng là con của ông bà đó. Đây là tình yêu huyết tộc.

Ngày nay phú quí sinh lễ nghĩa, đó đây chúng ta gặp những buổi hội ngộ đồng niên, đồng lớp, đồng ngũ, đó là thứ tình đồng niên, bạn bè cùng lớp cùng tuổi mến thương nhau.

Một loại tình yêu lấn át mọi thứ tình yêu, khi nói đến người ta nghĩ ngay đến nó, nhất là những người trẻ, đó là tình yêu nam nữ. Đây là tình yêu đơn phương, vì con người yêu nhau. Tình yêu đôi lứa, tình yêu bạn bè, tình yêu đồng đội, tình yêu của anh chị em một nhà… tình yêu của cha mẹ với con cái. Tất cả những tình yêu đó đều cao đẹp, đều phù hợp ý Chúa.

Một thứ tình yêu cao thượng mà Chúa dạy chúng ta là tình yêu vì Chúa. Kinh Kính Mến chúng ta vẫn đọc : “…vì Chúa thì con thương yêu người ta như mình con vậy“.  Như thế, tình yêu của chúng ta không còn giới hạn bởi huyết tộc, bạn bè quen biết, mà mở rộng tới hết mọi người, tôi yêu họ vì Chúa yêu tôi và truyền dạy tôi.

Chúng ta vẫn thường nghe nói: “gia đình là Giáo hội thu nhỏ”, thế nên, gia đình cũng phải mang lấy những đặc tính mà Chúa Giêsu muốn là: “yêu thương và hợp nhất, thực thi lời Chúa, cử hành phụng vụ và loan truyền tin mừng”.

Gia đình kia có một cô con gái, tính tình đào hoa, phóng khoáng. Sau lần tiếp bạn ngày đầu năm, mẹ cô nói với cô :  Này con, con yêu ai thì yêu, lấy anh nào thì lấy một thôi, chứ tết này mẹ thấy nhiều anh quá, bố mẹ chẳng biết anh nào là rể tương lai nữa. Cô trả lời : ồ, bố mẹ hay thật, Chúa chẳng dạy chúng ta là yêu hết mọi người sao ?

Chuyện khác : Có một chàng thanh niên, gõ cửa một nhà dòng để xin vào tu. Cha bề trên nhìn chàng, khẽ mỉm cười và hỏi:

Thế con đã yêu ai chưa? Chàng thanh niên đỏ mặt, ấp úng trả lời: Dạ thưa cha, chưa ạ.

Cha bề trên lại mỉn cười và bảo: Thế thì con hãy về, học yêu thương trước, rồi mới tới tu học sau.

Yêu thương là điều Chúa dạy, hơn nữa đó là lệnh truyền của Chúa : “Thầy truyền cho các con” ( Ga 14, 12 ), vì thế không ai có quyền từ chối yêu thương, càng không có quyền thù nghịch anh chị em mình. Có yêu nhau thật lòng, người ta mới có thể sống cho nhau, chết vì nhau. Thử tưởng tượng, một thế giới không có tình yêu, không ai yêu ai, thì thế giới sẽ kinh khủng biết chừng nào. Bởi đi tới đâu, ta cũng chỉ thấy thù hận, bạo động, diệt chủng… Hãy yêu thương, hãy trao tặng cho nhau tình yêu thật lòng để cuộc đời đáng yêu và đáng sống. Tình yêu sẽ làm cho cả người đang yêu lẫn người được yêu bình an và hạnh phúc. Hãy yêu thương nhau như Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta.

Xin Thiên Chúa Ba Ngôi, nguồn suối tình yêu liên kết chúng con nên một trong tình yêu Chúa.

Amen.

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Khi Con Người Kêu Cầu, THIÊN CHÚA Đáp Lời!

Khi Con Người Kêu Cầu, THIÊN CHÚA Đáp Lời!

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

Tôi học cách thức sống với Đức Chúa GIÊSU KITÔ và thưa chuyện thường xuyên với Ngài

Tôi (Rémi người Pháp) chào đời năm 1961 trong một gia đình có 3 con trai. Tôi là trai út. Cuộc sống gia đình không có gì khác lạ ngoại trừ tính tình thân phụ tôi rất khe khắt. Tôi nhớ rất rõ biến cố ngày rước lễ lần đầu. Mấy ngày tĩnh tâm trước đó như đưa tuổi thơ tôi vào cõi bồng lai. Tôi tưởng rồi mình sẽ giữ mãi tâm tình sốt sắng của những ngày ấy. Thế nhưng, Đức Tin của thời ngây thơ trong trắng sớm biến mất vì bị đè bẹp bởi những thú vui giả tạo của cuộc sống.

Bước vào tuổi dậy-thì tôi lăn xả vào những buổi họp đêm và các cuộc dạo chơi đây đó. Tôi muốn chứng tỏ cuộc sống tuổi trẻ tôi khác xa với cái thời ”cũ-rích” xa xưa của Song Thân. Tôi đi từ khám phá này sang khám phá kia cho đến một lúc, tôi cảm thấy chán ngấy vì nội tâm trống rỗng. Tôi thất vọng tự hỏi: ”Sống để làm gì?”. Đôi lúc tâm trí tôi xuất hiện hình ảnh ngày tôi chết. Tôi tưởng tượng cả đến ngày diễn ra đám táng của tôi nữa kìa! Tôi thầm nghĩ:

– Trước sau gì cũng phải chết! Vậy thì chết hôm nay hay chết ngày mai đâu có khác xa bao nhiêu? Đâu có cần phải ”giết” thời gian khi thời gian vẫn lạnh lùng trôi đi mà không gì ngăn cản được? Tôi có thể đợi chờ gì nơi cuộc sống đời này?

Về phương diện tình cảm lại càng thê thảm hơn. Tôi thay đổi bạn gái như thay áo. Và cứ mỗi lần thay bạn gái như thế để lại trong trái tim tôi một kinh nghiệm đắng cay chua xót. Tôi thất bại từ cuộc tình này sang cuộc tình kia. Cuối cùng rồi chỉ còn lại trong tôi sự ghê tởm và nỗi tuyệt vọng.

Để tránh cái nhìn phán đoán khe khắt của gia đình cũng như để cắt đứt với mọi ràng buộc khiến tôi cảm thấy mất tự do, tôi quyết định thay đổi chỗ ở.

Vào cùng thời kỳ này tôi gặp lại cô bạn gái của thời thơ ấu. Nàng sinh hoạt trong một cộng đoàn dành riêng cho người trẻ mang tên Giới Trẻ – Ánh Sáng. Cộng đoàn do Linh Mục Daniel-Ange điều khiển. Nơi nàng chiếu sáng niềm vui và hy vọng. Tôi gặp nàng thường xuyên. Mỗi lần gặp mặt nàng lòng tôi như bừng cháy khi nghe nàng nói về cuộc sống hiện tại của nàng. Tôi như muốn dẹp ngay mọi chuyện để bước theo nàng. Tôi tự nhủ:

– Thay vì ước ao chết mình có thể quyết định sống, ít ra là để phục vụ tha nhân ở một nơi nào đó, xét vì không tìm được lý do để sống cho chính mình ..

Nghề nghiệp đưa tôi đi du lịch nhiều nơi trên thế giới. Một ngày trong một chuyến công tác, THIÊN CHÚA Quan Phòng dẫn đưa tôi gặp một nhóm của Giới Trẻ – Ánh Sáng. Tôi ở lại với Nhóm trong vòng 4 ngày. Vào buổi tối cuối cùng cả nhóm cầu nguyện cách riêng cho tôi. Vào chính lúc ấy, tôi cảm nghiệm sâu xa Tình Yêu THIÊN CHÚA tràn ngập người tôi.

Tiếp tục chuyến đi công tác, tôi quyết định mua một cuốn Kinh Thánh và dành ra mỗi ngày một tiếng đồng hồ để cầu nguyện. Mỗi buổi sáng trước khi bắt đầu công việc tôi tìm một nhà thờ gần nhất để tham dự Thánh Lễ. Cơn khủng hoảng tâm linh của tôi giờ đây chỉ còn là bóng mờ kỷ niệm ..

Tôi học cách thức sống với Đức Chúa GIÊSU KITÔ và thưa chuyện thường xuyên với Ngài. Dần dần Chúa chiếm chỗ đứng trong mọi khoảnh khắc cuộc đời tôi. Ngài ngự trong lòng tôi và trở thành Bạn Thân dấu ái thường trú nơi tôi. Mỗi ngày tôi càng cảm thấy ước ao sống một mình với Đức Chúa GIÊSU KITÔ và dâng hiến cuộc đời tôi cho Ngài. Tôi thực sự sống kinh nghiệm một cuộc hoán cải trở về với Tình Yêu THIÊN CHÚA.

Từ đó Đức Tin của tôi tiếp tục lớn mạnh và trưởng thành. Tôi vô cùng tri ân THIÊN CHÚA đã soi sáng dẫn dắt cho tôi. Tôi gặp Suzan và chúng tôi thành hôn. Chúng tôi không con cái nên đã nhận nuôi một bé gái xinh đẹp mỹ miều tên Anne.

Tôi muốn xác quyết rằng, đối với THIÊN CHÚA không gì là không thể làm được. Không một ngõ cụt nào mà Lòng Thương Xót Ngài không thể xuyên qua. Không một thống khổ tuyệt vọng nào mà Ngài lại không thể ngự xuống. Ngài đến tìm kiếm chúng ta ngay nơi chúng ta đang sống dưới bất cứ hoàn cảnh đau thương nào. THIÊN CHÚA quả thật lớn lao gấp trăm ngàn lần con tim bé nhỏ của chúng ta. Khi con người kêu cầu, THIÊN CHÚA đáp lời. Nếu chúng ta sẵn sàng lắng nghe và tiếp nhận Ngài, tức khắc Ngài đổi mới con người thấp hèn của chúng ta.

… ”Hãy tìm THIÊN CHÚA khi Người còn cho gặp, kêu cầu Người lúc Người ở kề bên. Kẻ gian ác, hãy bỏ đường lối mình đang theo, người bất lương, hãy bỏ tư tưởng mình đang có mà trở về với THIÊN CHÚA – và Người sẽ xót thương – về với THIÊN CHÚA chúng ta, vì Người sẽ rộng lòng tha thứ. Thật vậy, tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các con, và đường lối của các con không phải là đường lối của Ta. Trời cao hơn đất chừng nào thì đường lối của Ta cũng cao hơn tư tưởng của các con chừng ấy. Cũng như mưa với tuyết sa xuống từ trời không trở về trời nếu chưa thấm xuống đất, chưa làm cho đất phì nhiêu và đâm chồi nẩy lộc, cho kẻ gieo có hạt giống, cho người đói có bánh ăn, thì Lời Ta cũng vậy, một khi xuất phát từ miệng Ta, sẽ không trở về với Ta nếu chưa đạt kết quả, chưa thực hiện ý muốn của Ta, chưa chu toàn sứ mạng Ta trao phó” (Isaia 55,6-11).

(”Il a changé ma vie! Dieu je L’ai rencontré”, Tome II, Éditions de l’Emmanuel, 2001, trang 112-116)

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

Sự thật

Sự thật

Blog RFA

tuankhanh

Thủ tướng Đức, bà Angela Merkel trình bày một sự thật về chuyện bà sẽ không tham dự lễ diễu binh tại Nga nhằm kỷ niệm 70 năm chiến thắng Phát-xít Đức. Lý do không phải là một vấn đề mặc cảm từ kẻ thua cuộc, mà nước Đức muốn bày tỏ thái độ không ủng hộ hình thái Phát-xít mới đang xuất phát từ nước Nga, qua sự kiện Ucraina và Crimea. Thế nhưng sau lễ kỷ niệm một ngày, ngày 10 tháng 5, bà Angela Merkel sẽ đến đặt vòng hoa tại Mộ Chiến sĩ Vô danh ở Nga.

Nước Đức cũng như nhiều quốc gia khác như Mỹ, Anh, Pháp, Ba Lan… đã từ chối không tham dự lễ diễu binh ở Nga, mặc dù chiến thắng Phát-xít Đức không riêng về nước Nga. Mỗi quốc gia đều kỷ niệm ngày lịch sử này bằng các cách khác nhau trong hòa bình và mơ ước đến tương lai, và không có diễu binh. Đối với họ, có thể dùng xe tăng và hình tượng chiến thắng, giải phóng… sẽ trở nên thô bỉ và kiêu ngạo khi nhắc về nỗi đau của đồng loại.

Lịch sử đã mở ra nhiều góc cạnh của sự thật, cho dù sự thật đó được rao giảng, bị cưỡng ép như thế nào đi nữa. Sự thật là lối đi mà số phận dân tộc nào may mắn mới qua suốt được trên con đường đó, để lớn khôn qua thời gian. Nếu không, dối trá sẽ làm mù lòa dân tộc và đẩy quốc gia vào tăm tối.

Sự thật, dẫu đến muộn, cũng giúp cho tôi và những người cùng thế hệ con người xã hội chủ nghĩa nhìn thấy nước Nga không quá vĩ đại như từng được nhồi nhét. Nước Nga có công lớn trong Đệ nhị Thế chiến, nhưng nước Nga cũng lạnh lùng thảm sát hàng chục ngàn sĩ quan Ba Lan ở Katyr. Nhà độc tài Stalin đã nuôi dưỡng đội quân của mình, trở thành một chế độ thực dân mới xã hội chủ nghĩa, bằng việc cho phép hãm hiếp, cướp bóc và áp đặt đời sống chính trị với nhiều quốc gia Châu Âu.

Nhờ sự thật, tôi cũng nhận ra rằng chung quanh mình vô số kẻ nói dối như một bản năng. Nói dối dù chỉ để làm tươi hồng thêm màu sắc giả tạo đã có. Ngày 9 tháng 5, kỷ niệm 70 chiến thắng Phát-xít Đức, trên trang của VOV có bài chính luận, khẳng định rằng chiến thắng của người Nga là “tiền đề vững chắc để làm nên một Điện Biên lừng lẫy 5 châu chấn động địa cầu, làm nên đại thắng mùa xuân năm 1975 và đang tiến hành thắng lợi công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế thành công như ngày nay”. Nhiều năm trước, nếu không có sự thật, có thể tôi và các bạn đã tin những dòng chữ đanh thép và kêu vang này là trí tuệ, là sự thật.

Nước Nhật, một trong những quốc gia phe Trục bị lên án, cũng đã nhìn lại Đệ nhị Thế Chiến bằng sự thật lịch sử. Phát biểu nhân dịp này, hoàng thái tử Naruhito nói rằng xin đất nước và dân tộc Nhật bản hãy cùng nhau “nhìn lại quá khứ một cách khiêm tốn nhất”. Nhìn lại khiêm tốn, để thấy rõ công và tội hiển hiện trong lịch sử.

Nếu được nhìn đủ công – tội như vậy, mới hiểu vì sao với hơn 20 triệu người đã chết trong Đệ nhị Thế chiến nhưng chính quyền Liên Xô vẫn bị căm ghét ở Châu Âu, khi lạm dụng chiến thắng và cai trị. Cũng như chúng ta cũng phải tự hỏi vì sao người dân Campuchia vẫn có nhiều người căm ghét Việt Nam, dù đã giải phóng cho họ năm 1979.

Sự thật lịch sử cho thấy Liên Xô đã dùng xe tăng nghiền nát người đòi tự do ở Hungary vào 1956, thảm sát ở Tiệp Khắc vào năm 1968. Sự thật cho thấy Cuba và Triều Tiên không phải là thiên đường, các lãnh tụ cộng sản ở Đông Âu hay Châu Mỹ chỉ là những tên độc tài hoang tưởng. Những sự thật đơn giản ấy, nhiều năm sau khi tôi và thế hệ mình lớn lên, vật vã và chấp nhận nhiều rủi ro, mới có thể tìm thấy. Thế hệ tôi, và trước nữa, chỉ biết tin tuyệt đối “Đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thuỵ Sĩ, trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ”, như bài thơ giễu nhại của Việt Phương từ năm 1969.

Sự thật không ăn được, nhưng ý thức về sự thật giúp con người ngay khi ăn, cũng khác các loài động vật khác. Sự thật giúp con người bừng tỉnh khi biết rằng 16 tấn vàng của chế độ VNCH không bị tẩu tán đi, mà được chế độ mới góp chung với gần 25 tấn vàng đánh tư sản miền Nam đợt 1, để đưa sang nước Cộng sản anh em. Sự thật cho biết ông điệp viên Phạm Xuân Ẩn được cài vào chính quyền của ông Ngô Đình Diệm, nhưng sau năm 1975 bị đưa đi Trung Cộng để tẩy não vì nghi ngờ đã có cảm tình với cách kiểm soát đất nước của chế độ VNCH.

Sự thật không dùng để báo thù, mà chỉ dùng để nhận biết và yêu thương tương lai của chính mình, của nhân loại. Nền văn minh thật què quặt nếu thiếu đi sự thật.

Cũng như bà Angela Merkel đến đặt hoa ở Mộ Chiến sĩ Vô Danh, bất kỳ ai biết đến Đệ nhị Thế Chiến sẽ không thể không kính trọng những người lính – bất kỳ của quốc gia nào – đã hy sinh để giành lại tự do cho tổ quốc, thế giới. Và nếu có đứng giữa một nghĩa trang đồ sộ qua chiến tranh, chắc chắn bạn sẽ dậy lên một lòng trắc ẩn về những số phận đã bị lạm dụng để phục vụ cho mưu đồ của kẻ khác. Dĩ nhiên, khi bạn là một người đã có diễm phúc để hiểu biết về sự thật.

———————————–

Chú thích ảnh: Đài tưởng niệm Hồng quân Liên Xô ở Praha (Tiệp Khắc cũ) bị dân chúng sơn hồng và ghi lời xin lỗi về sự kiện đàn áp năm 1968.

Kiều hối

Kiều hối

Blog RFA

Nguyễn Vũ Bình

Kiều hối theo định nghĩa là số tiền của người dân một quốc gia đi làm ăn bên ngoài biên giới mang, gửi về đất nước mình. Đối với Việt Nam, đây là một số lượng tiền, ngoại tệ khá lớn, hàng năm trên dưới 10 tỷ đô-la. Theo số liệu thống kê năm 2014, lượng kiều hối về Việt Nam đạt mức 12 tỷ đô-la. Việc xác định ý nghĩa của kiều hối và những vấn đề liên quan cũng giúp hiểu thêm về nên kinh tế Việt nam hiện nay.

Với một lượng tiền trên dưới 10 tỷ đô-la một năm chuyển vào nền kinh tế, mà không cần một yêu cầu, điều kiện nào được các chuyên gia đánh giá rất cao vai trò của lượng kiều hối này. Nhà nước Việt Nam, nhận thức được tầm quan trọng của kiều hối nên đã có một chính sách kiều hối vô cùng thông thoáng và cầu thị. Số lượng không hạn chế với người gửi, mang ngoại tệ về nước. Không yêu cầu chuyển đổi ngoại tệ khi nhận tiền…Về cơ cấu kiều hối được sử dụng, theo phân tích chung nhất, trên 60% số tiền kiều hối được sử dụng vào đầu tư, mua nhà đất, gửi tiết kiệm, mở công ty. Số còn lại, gần 40% giành cho tích lũy và tiêu dùng.

Vai trò của kiều hối trong trường hợp nền kinh tế Việt nam rất đặc biệt và vô cùng quan trọng. Nền kinh tế Việt Nam, tuy bên ngoài và tuyên truyền là nền kinh tế thị trường nhưng thực chất không phải như vậy. Nó không đi theo nguyên lý của nền kinh tế thị trường, đó là sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Ở Việt nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân chính là yếu tố quan trọng để nói, nền kinh tế Việt Nam không theo nguyên lý kinh tế thị trường. Cơ chế thị trường quyết định các yếu tố của quá trình sản xuất cũng không được áp dụng ở Việt Nam. Những mặt hàng thiết yếu như điện, nước, xăng dầu đều do nhà nước quy định về giá cả. Điều quan trọng nhất liên quan tới vấn đề kiều hối, đó là việc nhà nước Việt Nam quyết định việc in tiền hoàn toàn không theo nguyên tắc nào của nền kinh tế thị trường.

Đối với các quốc gia đi theo nền kinh tế thị trường, việc in và phát hành tiền phải tuân thủ các nguyên tắc nghiêm ngặt về lượng tiền lưu thông trong nền kinh tế. Có hai yếu tố liên quan hữu cơ với số lượng tiền phát hành đưa vào lưu thông. Đó là lượng hàng hóa sản xuất ra và số lượng ngoại tệ đang lưu hành. Ví dụ, nền kinh tế Việt Nam một năm sản xuất được 100 đơn vị hàng hóa, hiện có 50 đơn vị ngoại tệ, thì số tiền phát hành đưa vào lưu thông là 500 đơn vị. Như vậy, tỷ lệ (100 hàng hóa – 50 ngoại tệ – 500 nội tệ) sẽ là tỷ lệ để phát hành tiền đưa vào lưu thông. Đây là nguyên tắc bắt buộc, là kỷ luật sắt trong một nền kinh tế thị trường vì nếu vi phạm nguyên tắc này sẽ xảy ra tình trạng lạm phát, hoặc biến động về tỷ giá dẫn tới méo mó trong toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh, và có thể dẫn tới những đảo lộn lớn cho toàn bộ nền kinh tế. Chính vì vậy mà các nước giám sát và kiểm soát vấn đề này cực kỳ chặt chẽ. Nhưng tại Việt Nam, có thể nói, từ ngày khai sinh ra nhà nước cộng sản Việt Nam, việc in và phát hành tiền là bí mật quốc gia. Nếu như việc in, phát hành tiền tuân thủ các nguyên tắc thì không ai cần giữ bí mật cả. Trên thực tế, việc in tiền ở Việt Nam hoàn toàn tùy tiện, in liên tục và không có một giới hạn nào cả. Chúng ta đều biết, tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam trung bình từ 20-50% và kéo dài hàng mấy chục năm, có những giai đoạn còn lạm phát phi mã. Trong khi ở các nước, lạm phát trung bình và lành mạnh khoảng từ 5-7%/năm.

Nếu như trước đổi mới, hoặc trước hội nhập quy mô của nền kinh tế còn khiêm tốn và ảnh hưởng của lạm phát (tức là việc in tiền vô tội vạ) còn chưa rõ và sức tàn phá còn chưa lớn. Nhưng khi đã hội nhập, quy mô nền kinh tế đã lớn, nhất là mối quan hệ làm ăn, đối tác với các nền kinh tế trên thế giới thì lạm phát sẽ là nỗi kinh hoàng của nền kinh tế. Tuy nhiên, nếu tìm hiểu kỹ, chúng ta thấy, việc in tiền và phát hành tiền của nhà nước Việt Nam vẫn được thực hiện như cũ, có nghĩa là phát hành theo yêu cầu chính trị, khi cần sẽ in tiền ra. Điều kỳ lạ là với một nền kinh tế khủng hoảng từ năm 2008, nền sản xuất bị bóp nghẹt bởi muôn vàn quy định và hàng hóa giá rẻ từ Trung Quốc, mỗi năm có hàng chục ngàn doanh nghiệp phá sản vậy mà lượng tiền in ra và phát hành với số lượng cực lớn mà Việt Nam không bị siêu lạm phát, mặc dù tỷ lệ lạm phát đã rất cao. Đồng thời tỷ giá hối đoái cũng không hề tăng đột biến.

Câu trả lời cho việc nền kinh tế không bị siêu lạm phát, trong khi lượng hàng hóa sản xuất ở Việt Nam hoàn toàn không tương xứng với lượng tiền in ra là Việt Nam ở sát cạnh Trung Quốc, hàng năm nhập khẩu số lượng cực lớn hàng giá rẻ, chất lượng thấp, theo cả đường chính ngạch và tiểu ngạch. Theo số liệu công bố năm 2014 vừa qua, thì Việt nam công bố nhập của Trung Quốc 43,9 tỷ đô-la. Nhưng phía Trung Quốc lại công bố con số xuất khẩu sang Việt nam là 63,8 tỷ đô-la. Như vậy, lượng hàng hóa nhập khẩu cực lớn, giá rẻ chất lượng thấp đã tiêu diệt nền kinh tế Việt Nam nhưng lại giúp nhà cầm quyền Việt Nam in tiền vô tội vạ mà không bị siêu lạm phát. Điều này cũng phản ánh sự lệ thuộc của nền kinh tế Việt Nam vào nền kinh tế Trung Quốc là rất lớn. Nhưng sự lệ thuộc này còn ít người nói tới.

Về câu hỏi, lượng tiền in ra và phát hành rất lớn của nhà nước Việt Nam nhưng lại không có đột biến trong tỷ giá hối đoái chúng ta tìm thấy câu trả lời trong vấn đề kiều hối, cùng với lượng ngoại tệ từ đầu tư nước ngoài FDI, từ viện trợ phát triển ODA. Đó chính là ý nghĩa lớn nhất của kiều hối đối với nền kinh tế Việt Nam. Một lượng tiền trên dưới 10 tỷ đô-la trong những năm gần đây giúp nhà nước Việt Nam in ra một số lượng tương đương lớn hơn để sử dụng và đưa vào lưu thông. Có những ý kiến cho rằng, cần kêu gọi ngăn nguồn kiều hối, đồng bào không gửi tiền về Việt Nam nữa. Tôi cho rằng việc này không thực hiện được và có lẽ không cần thiết. Chúng ta biết rằng, nhà nước Việt Nam hiện nay, toàn quyền khai thác khoáng sản và tài nguyên thiên nhiên để bán, in tiền vô tội vạ, thu thuế, phí cao nhất Đông Nam Á…tức là không còn lợi thế gì người ta không khai thác, không tận dụng vậy mà với mức chi tiêu hiện nay, tham nhũng, lãng phí đến mức độ số nợ đang gấp đôi GDP hoàn toàn không có khả năng thanh toán, trong khi nền kinh tế làm ra không đủ chi tiêu trong hiện tại. Chính vì vậy chúng ta không cần phải kêu gọi, vận động một việc rất nhỏ (và khó thực hiện được) so với tình trạng đại suy thoái và khủng hoảng của Việt Nam hiện nay./.

Mother’s Day và ước mơ Được Làm Mẹ

Mother’s Day và ước mơ Được Làm Mẹ

Nguoi-viet.com

Ngọc Lan/Người Việt

WESTMINSTER, California (NV) – Hôm nay Ngày Lễ Mẹ. Từ hai ngày trước, chị N.H, chủ nhân một tiệm bánh Pháp ở Houston, đã phải thức suốt đêm ngoài tiệm, để làm kịp những chiếc bánh đẹp mắt nhất cho những đứa con đến mua về tặng cho các bà mẹ.

“Tôi chúc họ Happy Mother’s Day. Họ cũng chúc lại tôi như thế. Nhưng họ đâu biết, trong tôi tràn ngập một nỗi bùi ngùi. Tôi là một phụ nữ. Tôi là một người vợ. Tôi cũng muốn làm một người mẹ. Nhưng có lẽ cả đời này tôi sẽ không bao giờ nghe được hai tiếng gọi ‘Mẹ ơi’.” Giọng người phụ nữ như lạc vào chốn nào.

Khao khát đó của chị N.H, cũng như của bao người phụ nữ đang hiếm muộn hay từng trải qua thời gian đau khổ trước khi được ôm trong tay một đứa con của chính mình, càng trở nên tha thiết vô cùng ở thời khắc này.

Mặc cảm ‘không có con’

Đài Trang, y tá làm việc ở Kaiser, cùng hai con có được do thụ tinh trong ống nghiệm:

“Có con có sự lo, có sự cực, nhưng niềm vui con cái mang lại không có tiền bạc nào mua được hết.” (Hình: Đài Trang cung cấp)

Mặc dù đã hơn 13 năm buông xuôi hành trình đi tìm cho mình một đứa con, vậy mà đến thời điểm này, cảm giác “đau đớn, thiếu thốn” của người đàn bà chưa một lần được làm mẹ trong chị N.H vẫn như nguyên vẹn.

Lập gia đình năm 38 tuổi với một người mà chị chọn lựa thật kỹ để “người ấy có thể không là một người chồng tốt nhưng chắc chắn sẽ là một người cha tốt,” nhưng chị N.H lại không thể ngờ đường con cái của mình lại quá gian nan.

“Tôi lập gia đình là vì tôi muốn có con. Ngay từ lúc mới lớn, tôi đã muốn có con. Tôi muốn cho con mình tất cả những gì mình từng thiếu thốn trong đời.” Ước mơ giản dị tưởng chừng như sẽ là một tất nhiên với bất kỳ người phụ nữ nào, lại bỗng trở nên quá tầm tay với đối với chị N.H.

Năm năm liên tiếp sau khi lập gia đình là 5 năm chị N.H như bị chìm trong sự khủng hoảng bởi nỗi khao khát có một đứa con không thành hiện thực. Để rồi khi chấp nhận đầu hàng, từ năm 2002, đến giờ, chị vẫn ngậm ngùi “Tôi chưa từng nghĩ sanh con để sau này nó nuôi mình, mà sanh con là để được thương yêu, chăm sóc nó, để cho nó tất cả những gì mình thiếu thốn thuở nhỏ, và để được thấy mình là đàn bà, là người mẹ. Nhưng tôi không có được. Buồn lắm.”

Khác với chị N.H, Kiều Oanh lập gia đình năm 2002, khi cô 28 tuổi, và có bầu ngay lập tức. Tuy nhiên, thời gian đó vừa muốn đeo đuổi tiếp chương trình học cao học, vừa gặp khó khăn trong công việc nên Oanh chọn giải pháp không sanh con, bởi “tôi nghĩ mình còn trẻ chờ vài ba năm nữa ổn định rồi sanh cũng không sao.”

Tuy nhiên, đến lúc sẵn sàng cho việc có thêm một thành viên mới trong gia đình thì “không thấy gì hết.” Chờ đợi hoài không có bầu, Oanh đi bác sĩ thì biết mình bị “tắt vòi trứng.”

Sau sáu tháng chữa trị, Oanh đón nhận tin vui. Nhưng. Cuộc đời luôn có những chữ “nhưng” nghiệt ngã. Oanh bị thai ngoài tử cung. Kết thúc một tháng nằm bệnh viện với hai lần giải phẫu, hai tuần tiêm hóa chất, Oanh trở về nhà, chờ đợi.

Dẫu vậy, cảm giác có một sinh linh mới tượng hình trong cơ thể mình đã không quay trở lại với Kiều Oanh.

“Gia đình chồng mong tôi có con, nhưng mà họ cũng không tỏ ý trách móc gì, trừ ba chồng tôi. Ông nói thẳng hoặc là tôi ly dị để chồng tôi đi lấy vợ khác, hoặc tôi phải để chồng có con bên ngoài.” Oanh kể.

Với chị Khanh Charles, đang làm việc như một chuyên viên thẩm mỹ ở Orange County, thì việc mong muốn có một đứa con ở tuổi 47-48 là “để thể hiện tình cảm trân quý những gì mà người chồng sau đã lo lắng cho mấy mẹ con tôi suốt những năm qua. Tôi muốn ảnh vui, muốn mẹ ảnh vui.”

Vẫn là một suy nghĩ đầy tính nhân bản của một người phụ nữ. Không chỉ cảm kích những ân tình mà người chồng sau mang lại cho mình, chị Khanh còn nhìn thấy cả nỗi khao khát con của người chồng đã ngoài 50, và nỗi mong đợi cháu của bà nội đã bước gần đến tuổi 90.

“Chồng tôi chỉ có hai mẹ con, ba ảnh mất khi ảnh lên hai tuổi, mẹ ảnh ở vậy nuôi ảnh ăn học. Năm 75 hai mẹ con đi sang đây, đến giờ vẫn không hề có một ruột rà thân thích nào hết. Cho nên việc trông ngóng có một thế hệ thứ ba trong gia đình ảnh lại là một áp lực rất lớn với tôi.” Chị Khanh tâm sự.

Những tưởng đã trải qua ba lần sanh nở tự nhiên với người chồng trước, thì cũng không gặp bất kỳ trở ngại nào ở lần này. Thế nhưng, chữ “không ngờ” có chừa một ai. Chị Khanh cũng mất năm năm đeo đuổi với bao nỗi lo chất chồng để đạt được ước mơ sanh cho chồng sau một đứa con.

Còn Đài Trang, một y tá đang làm việc ở Kaiser, đã gần như rơi vào cơn trầm cảm khi phát hiện ra mình bị chứng bệnh đa nang buồng trứng (PCOS – Polycystic Ovary Syndrome) trong quá trình đi tìm hiểu lý do vì sao mình lại không thể có bầu.

Bởi lẽ, với căn bệnh đó, ngoài chuyện không thể thụ thai bình thường, nó còn là nguyên nhân dẫn đến bệnh tiểu đường, ung thư, các tai biến… trong khi “từ nhỏ tới lớn, lúc nào trong đầu tôi cũng nghĩ mình sẽ là mẹ của ba đứa con. Mà chưa bao giờ trong đầu nghĩ đó sẽ là con ruột hay con nuôi, chỉ biết là có ba đứa.”

Sau thời gian khủng hoảng với việc lên cân, từ cô gái mảnh khảnh 90 pounds, chỉ trong hai năm, Trang nặng hơn 140 pounds, và đau khổ, khóc lóc, tự nhốt mình trong chính mình, không muốn trò chuyện với bất kỳ ai, Trang bắt đầu đối diện với sự thật:“Bệnh mình, mình không chữa thì ai giúp mình?”

Trang bắt đầu hành trình đi tìm cho mình những đứa con trong giấc mơ ngày nào…

Chị Khanh Charles cùng chồng và con gái Kiera Khanh Nguyễn:

“Tôi và ông xã quá khổ mới có Kiera nên đứa con này thực sự là vô giá.” (Hình: Khanh Charles cung cấp)

Tìm con’ – đoạn trường ai có qua cầu mới hay

Biết mình không thể có con bình thường, nhiều người khuyên Trang tìm con nuôi.

“Tôi cũng sẵn sàng cho chuyện tìm con nuôi nhưng đồng thời vẫn muốn được sanh con, muốn có một đứa con mang dòng máu của chính mình.” Trang giãi bày.

Tuy nhiên, với chứng bệnh đa nang buồng trứng, Trang chỉ còn một chọn lựa duy nhất để có con, đó là thụ tinh trong ống nghiệm (In Vitro Fertilization – IVF).

Với phụ nữ hiếm muộn hay gặp khó khăn trong việc mang thai, ngoài việc cần phải có tiền để có con bằng cách này hay cách khác, thì sức ép tinh thần mang lại từ nỗi lo, sự khắc khoải, buồn phiền lại nặng nề hơn bao giờ hết. Đài Trang không là ngoại lệ.

Dành dụm, chắt chiu để có đủ số tiền làm IVF lần thứ nhất. Thất bại. Lần thứ hai. Lại thất bại.

“Mỗi lần làm đau lắm, nhất là khi bác sĩ đưa dụng cụ vào lấy trứng ra rất là đau. Đau nhưng ba ngày sau mình phải khỏe để bác sĩ đặt bọc trứng đã bơm tinh trùng vào. Không khỏe cũng phải khỏe, nếu mình nghĩ cơ thể mình yếu thì làm sao có bầu được.” Trang nói về ý chí làm mọi cách để có con.

Đó là chưa kể có lúc cơ thể quá nhạy cảm với những “vật lạ” từ ngoài đưa vào, cô còn bị sưng, bị phù phải vào bệnh viện. Nhưng vì nỗi khao khát có con, cô bất chấp hết. Chỉ biết “mỗi lần không thành công, thai không đậu là mỗi lần buồn, khóc quá trời.”

Nhưng sau cùng, Trang được đền bồi cho tất cả những gì mình cố gắng. Dù rằng “hai tuần sau khi biết là thai đậu, thì cũng là lúc bắt đầu ói mửa như điên. Trong suốt thời gian mang bầu cho đến khi sanh được đứa con đầu tiên, tôi phải nghỉ làm hẳn, vì ói kinh khủng lắm, từ lúc có bầu cho đến gần tháng thứ bảy. Vừa ngưng ói ba tuần thì sanh non.”

“Nhưng có con rồi thì mình thấy tất cả những gì mình trải qua đều là xứng đáng hết, tất cả đều không còn quan trọng gì nữa hết.” Trang nói bằng giọng mãn nguyện sau quá trình gần 5 năm mới có được mụn con đầu.

Tương tự như Đài Trang là trường hợp chị Khanh Charles. “Không một ai trong gia đình tôi lẫn bạn bè tán thành việc tôi mang thai sanh con ở tuổi 47-48, ngoại trừ chồng tôi, lúc đó ảnh 53 tuổi.”

Sau năm năm làm đủ mọi cách, “ai chỉ gì làm đó nhưng đều thất bại”, chị Khanh chọn phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm, dù bác sĩ nói cơ hội thành công ở những người lớn tuổi như chị chỉ từ 15 đến 20%. “Vừa làm vừa cầu nguyện và may mắn sao ngay trong lần đầu tiên là được luôn.”

Biết tin thai đậu, là suốt 3-4 tháng liền chị Khanh chỉ nằm một chỗ, chích thuốc liên tục. Bên cạnh nỗi lo của một người lớn tuổi mang thai, người mẹ này lại bị hiện tượng “thai bám cổ tử cung”, nguy cơ sẩy thai rất dễ dàng. Nỗi lo chồng chất nỗi lo.

Không chỉ vậy, trong “quyết định sống còn” này, chị Khanh lại từ chối hết mọi cuộc xét nghiệm để xem bào thai có bị các dị tật hay bệnh hiểm nghèo gì không.

Chị bảo, “Nếu xét nghiệm mà biết nó bị hội chứng ‘Down’ thì sao? Bỏ à? Tôi không nghĩ vậy. Vả lại, tôi tin rằng không một ai trong gia đình mình bị thì sẽ không có chuyện gì xảy ra.” Người mẹ mang tâm trạng lo lắng triền miên đó cho đến ngày cô con gái chào đời, “làm thay đổi hết cuộc đời” chị.

Dẫu gian nan, mòn mỏi, và số tiền bỏ ra không nhỏ nhưng sau cùng Đài Trang hay chị Khanh Charles đều đã có thể được ôm ấp, được chăm sóc, được yêu thương đứa con của mình. Trong khi niềm hạnh phúc đó với Kiều Oanh hay chị N.H vẫn đang ở xa tầm tay với.

Khao khát được nghe một lần “Mẹ ơi”

Kiều Oanh chọn cách thích nghi với cuộc sống không con, “về già mình sẽ vào viện dưỡng lão.”

Trong hình, Kiều Oanh và đứa cháu cô nuôi nấng như con. (Hình: Kiều Oanh cung cấp)

Kiều Oanh, hai năm sau khi chữa trị thai ngoài tử cung, vẫn không mang bầu. Cô tích cóp tiền làm thụ tinh trong ống nghiệm. Thất bại lần đầu. Hai năm sau, lại chắt mót với sự phụ giúp thêm của gia đình, cô làm lần thứ hai. Vẫn thất bại.

“Tôi rất buồn vì miệng lưỡi thế gian. Họ chỉ biết gặp mình và hỏi ‘sao không đẻ con đi’ mà không hiểu được tâm trạng mình là gì.” Oanh tâm sự.

Không có đủ tài chánh để tiếp tục theo đuổi ước vọng này, Oanh chỉ biết chọn cách thích nghi với cuộc sống không con, “về già mình sẽ vào viện dưỡng lão,” dù rằng “Tôi nghĩ được làm mẹ là một cảm giác tuyệt vời, và tôi vẫn luôn mong muốn điều đó.” Oanh ray rứt.

Chị N.H thì truân chuyên hơn trong hành trình đi tìm giọng nói của trẻ thơ.

Biết rằng trứng mình không đủ khỏe để làm thụ tinh trong ống nghiệm, chị N.H tâm sự với em gái ruột của mình, để xin trứng vì “dù sao đó cũng là dòng máu chị em mình.” Người em đồng ý cho trứng để bơm tinh trùng của chồng chị N.H vào, sau đó sẽ đưa vào cơ thể chị N.H. Chị N.H sẽ là người mang thai.

Mọi sự chuẩn bị đâu vào đó thì, đùng một cái, “bên gia đình chồng cô em gái không đồng ý, ông Cha ở nhà thờ cũng cho rằng làm như vậy là vi phạm quy tắc một vợ một chồng.”

Khát vọng được làm mẹ đưa chị N.H đi đến một quyết định táo bạo: đăng báo tìm người cho trứng!

Chị kể, “Chỉ có duy nhất một cô gọi điện thoại lại cho tôi. Cổ đồng ý cho, dĩ nhiên, tôi sẽ có tiền bồi dưỡng cho cổ.”

Thế nhưng. Lại là “nhưng.”

“Lý do để tôi không thể nhận trứng của cô gái đó là vì cổ cho biết đã từng cho người khác trứng của cổ rồi.” Chị nói.

“Như vậy, làm sao biết được sau này, con tôi và con của ai đó cũng mang trứng của cổ lớn lên, gặp nhau, yêu nhau, thì đó có phải là anh/chị em cùng mẹ lấy nhau không?” Suy nghĩ đó khiến chị N.H rùng mình, và từ chối cơ hội có thể được làm mẹ.

Vẫn chưa bỏ cuộc. Chị N.H về Việt Nam tìm kiếm sự giúp đỡ. Chị cũng tìm được một cô gái ở quê đồng ý cho trứng và mang thai giúp chị, bởi “sau bao nhiêu lần điều trị bướu, trong người tôi có quá nhiều ‘tì vết’ nên thai không thể nào bám được.” Chồng chị N.H, một người đàn ông gốc Pháp, dù cũng quá mệt mỏi với hành trình tìm con cho vợ, nhưng vẫn theo chị về Sài Gòn để gặp bác sĩ trong hy vọng phương pháp thụ thai trong ống nghiệm sẽ thành công khi có người cho trứng và mang thai giúp.

Mọi việc sẵn sàng, thì, chị N.H đụng phải những rắc rối về thủ tục pháp lý. Làm sao chứng minh được đứa bé đó là con của mình, mình là cha mẹ nó, để mang nó ra khỏi Việt Nam rồi nhập cảnh vào Mỹ?

Thế là, thêm một lần bỏ cuộc.

Trở lại Mỹ, chị N.H chỉ còn biết bám vào cơ hội cuối cùng: tìm xin con nuôi.

Chị N.H đã thức suốt đêm ngoài tiệm để làm kịp những chiếc bánh đẹp mắt nhất nhân ngày Lễ Mẹ,

“nhưng có lẽ cả đời này tôi sẽ không bao giờ nghe được hai tiếng gọi ‘Mẹ ơi’.” (Hình: N.H cung cấp)

“Đứng ngoài nhìn vào thấy gì cũng dễ, nhưng bước chân vào mới thấy cam go ra sao. Xin con nuôi ở Mỹ không dễ dàng một chút nào hết. Chi phí để xin một đứa con nuôi ở đây nhiều kinh khủng. Ngoài việc họ kiểm tra lý lịch ‘cả 3 đời’ của cả hai vợ chồng, họ còn xem thu nhập có đủ không, nhà cửa ra làm sao, bắt buộc phải có phòng riêng cho đứa bé… Nhiêu khê lắm! Tôi thấy mình không đáp ứng đủ các điều kiện để xin con nuôi ở Mỹ nên đành phải từ bỏ.” Chị N.H nói bằng giọng không thể buồn hơn.

Sau 6 năm kiên trì đeo đuổi đủ mọi cách, đến năm 2002, chị N.H chấp nhận bỏ cuộc.

“Thấy nhà người ta có con cái, tôi thích lắm, nhưng cũng buồn lắm.” Chị nén tiếng thở dài.

Thiêng chức làm Mẹ – không gì đánh đổi

May mắn có được đứa con như mơ ước, giọng chị Khanh dường như vẫn còn rạng rỡ nỗi hân hoan, “Tôi và ông xã quá khổ mới có nó nên đứa con này thực sự là vô giá. Bé Kiera ra đời làm thay đổi hết cuộc đời tôi. Khó khăn qua đi, mẹ chồng cũng vui với mình, chồng cũng thương mình hơn, tất cả vì đứa con này.”

Đài Trang thì kể, “Có con thật là cực nhưng mình có niềm vui khác. Mỗi ngày thức dậy chỉ muốn thấy con, đi làm cực khổ về chỉ muốn chơi với con thôi. Tôi đi làm y tá, làm thêm được biết bao nhiêu tiền, nhưng tôi không quan tâm, hết giờ tôi chỉ muốn về nhà gặp con mình mà thôi. Có con có sự lo, có sự cực, nhưng niềm vui con cái mang lại không có tiền bạc nào mua được hết.”

“Lúc trước buồn, tôi có thể đi shopping mua cái bóp L.V, vui được một ngày, một tuần, hai tuần, nhưng mà có con niềm vui đó không thể diễn tả được. Nó thiêng liêng lắm. Như con gái tôi được 2 tuổi, nó biết mình yếu, nên đi đâu nó cũng lấy cái nón cho mình, nắm tay mình, sự ân cần quan tâm đó không có tiền bạc nào mua được hết. Những điều đó sẽ làm mình nhớ cả đời, chứ mua cái bóp mình có nhớ cả đời đâu.” Giọng người mẹ đong đầy hạnh phúc.

Sau khi có được đứa con trai thứ nhất, Trang đã có thêm đứa con gái thứ hai. Và hiện tại, cô lại chuẩn bị thụ tinh trong ống nghiệm lần ba cho trọn vẹn giấc mơ có ba đứa con ngày nào.

Riêng với chị N.H và Kiều Oanh, điều họ nuối tiếc nhất khi không thực hiện được thiêng chức của người mẹ là ở chỗ: không có người kế thừa lại những di sản mà họ muốn trao.

“Di sản không phải là tài sản vật chất. Mà đó là những gì tốt đẹp nhất mình chắt chiu muốn để lại cho con mình, nếu có.” Oanh giải thích.

“Với những gì mình đã trải nghiệm, mình mong muốn có con để bù đắp, để cho nó những gì mình từng mơ ước, từng thiếu thốn. Nhưng mình muốn mà trời không muốn, biết làm sao đây.” Nỗi niềm của người phụ nữ đang chuẩn bị bắt tay làm tiếp những chiếc bánh thật đẹp cho khách hàng nhân ngày Lễ Mẹ, nghe thênh thang trong đêm…

Liên lạc tác giả: ngoclan@nguoi-viet.com